PHẠM PHAN LANG: Thầy Tư. Tác Phẩm Việt Ngữ và Anh Ngữ

Thầy Tư

Vào đêm Giao Thừa Tết Âm Lịch năm 1952, khi tôi vừa tròn hai tuổi, tôi suýt chút nữa thì không qua khỏi. Dĩ nhiên, tôi không nhớ rõ lắm về chuyện đó, nhưng Mẹ đã kể đi kể lại nhiều lần đến mức tôi có cảm giác như mình đã chứng kiến tất cả.

Lúc đó, tôi bị bệnh sởi rất nặng. Các thầy thuốc Trung Hoa kê đủ loại thuốc, nhưng tình trạng của tôi chẳng cải thiện chút nào, càng ngày càng tệ hơn. Tuyệt vọng, ba mẹ tôi đành đưa tôi đi gặp các bác sĩ Tây y. Vị bác sĩ cuối cùng, vào đúng ngày trước Tết Nguyên Đán, khuyên ba mẹ tôi đưa tôi về nhà vì “không còn hy vọng gì nữa.” Ý của ông rõ ràng là tôi sắp chết.

Hồi đó, các nhà tang lễ chưa phổ biến, nên tục lệ là giữ thi hài ở nhà để người thân, bạn bè và hàng xóm đến viếng. Nhưng Tết là dịp mọi hoạt động phải ngừng lại trong sáu ngày, nên Ba phải vội vã lo sắm một cái hòm cho tôi trước khi các cửa hàng đóng cửa. Tệ hơn nữa, có lẽ không có gì xui xẻo hơn là có một người chết trong nhà ngay dịp Tết.

Tôi hầu như bất tỉnh và quá nhỏ để hiểu được chuyện gì đang xảy ra, nhưng rõ ràng là ba mẹ tôi đang đối diện với một tình huống kinh khủng, khi vừa phải lo cho tôi, vừa phải lo tránh đại họa xui xẻo trong dịp năm mới.

Và rồi, một phép màu đã bắt đầu…

Một người bạn của gia đình đến thăm. Người này nói với Ma rằng có một ông thầy pháp tên Thầy Tư sống ở một làng quê cách nhà khoảng mười dặm. Có thể ông ấy sẽ cứu được tôi, vì tiếng tăm của ông đã vang xa. Không chần chừ, Mẹ bọc tôi lại và ngay lập tức đưa tôi đến chỗ ông. Ba phải ở nhà lo cho hai anh trai tôi và làm lễ mời tổ tiên về ăn Tết trên bàn thờ.

Khi chúng tôi đến, đã khoảng 6 giờ tối đêm Giao Thừa. Sau khi khám cho tôi, Thầy Tư bắt đầu “trị liệu” ngay. Ông viết vài chữ Hán trên một tờ giấy trắng đặc biệt, đặt lên người tôi, rồi bắt đầu đọc kinh cầu nguyện để trừ tà ma đang ám tôi. Sau đó, ông đốt tờ giấy, bỏ tro vào nước mưa mà ông đã hứng sẵn và cho tôi uống. Nếu tôi còn tỉnh táo, chắc chắn tôi sẽ khóc thét lên vì sợ!

Tiếp theo, ông sai người giúp việc hái một nhánh cây dâu trong vườn. Với nhánh cây nhỏ đó, ông gõ nhẹ lên toàn bộ cơ thể tôi, như thể đánh đuổi con ma quỷ đang bám lấy tôi. Sau cùng, ông dùng một cây bút nhọn đặc biệt, chấm vào mực xăm và xăm một dấu chữ thập ngay giữa trán tôi.

Ông còn làm cho tôi một cái vòng cổ, dây làm bằng những sợi chỉ màu được xoắn chặt, và mặt vòng là một miếng vải vuông khoảng hai inch. Miếng vải thực ra là một chiếc túi nhỏ chứa “vật thiêng” bên trong để trừ tà. Tôi không bao giờ biết bên trong đó có gì vì nếu mở ra sẽ phá hủy nó. Thầy dặn Ma rằng tôi phải đeo vòng này suốt, trừ khi tắm, lúc đó phải để nó ở nơi sạch sẽ. Ông cũng khuyên không nên cho tôi đi dưới dây phơi quần áo, vì theo ông, đó là thứ dơ bẩn có thể chứa khăn vệ sinh của phụ nữ. Thầy còn cảnh báo rằng dấu thập trên trán tôi phải được giữ mãi mãi, không được xóa, vì làm vậy có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Sau tất cả, Thầy bảo Mẹ đưa tôi về. Vì không thấy có dấu hiệu thay đổi nào nên Mẹ do dự, nhưng Thầy trấn an: “Đừng lo, cô bé sẽ ổn thôi.” Mẹ vẫn không tin, nài nỉ được ở lại đến khi tôi tỉnh dậy, nhưng Thầy nói: “Tôi chắc chắn cô bé sẽ khỏi. Nếu không, nếu cô bé chết, bà cứ việc mang xác đến quăng giữa nhà tôi vào đúng ngày Tết.” Nghe đến thế, Mẹ chẳng còn làm gì được ngoài việc mang tôi về và chờ đợi.

Và vào đúng nửa đêm Giao Thừa, tôi tỉnh dậy, ngồi dậy, đứng lên, cười tươi như thể chưa từng bị bệnh. Ba mẹ tôi, cả gia đình và hàng xóm đều kinh ngạc và vui mừng. Sáng sớm hôm sau, Mẹ quyết định đưa tôi trở lại nhà Thầy để cảm ơn. Mẹ kể rằng tôi lúc đó nói khá rõ ràng dù mới hai tuổi, và dù chẳng biết Thầy đã làm gì, khi vừa thấy ông, tôi chạy đến và nói: “Thầy của con!”

Từ đó trở đi, năm nào Mẹ cũng đưa tôi đến gặp Thầy Tư vào dịp Tết để lấy vòng cổ thay thế. Điều này kéo dài cho đến khi tôi kết hôn, chín năm sau khi nhận chiếc vòng cuối cùng. Sau khi tôi không còn đeo vòng chỉ màu, Mẹ tặng tôi sợi dây chuyền vàng có mặt Quan Âm bằng ngọc, mà tôi đeo trong nhiều năm cho đến khi bị mất khi trốn khỏi quê hương vào ngày 29/4/1975 sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản.

Những chuyến đi thăm Thầy Tư luôn đầy ắp tiếng cười và niềm vui. Tôi được tha hồ chạy nhảy trong khu vườn rộng lớn, leo trèo cây xoài, cây ổi, chơi đùa với lũ trẻ khác, mà nhiều đứa cũng từng được Thầy cứu sống. Nhà Thầy lúc nào cũng có đầy đồ ăn ngon, quà biếu từ những người mẹ biết ơn như Mẹ.

Dĩ nhiên, tôi ghét cái vòng cổ và hình xăm trên trán mà Thầy đã làm cho tôi. Chúng xấu xí và khiến tôi khác biệt, đến mức bạn bè thường trêu chọc. Đến giờ, tôi vẫn còn giữ hình xăm đó—dấu ấn của sự sống. Hồi nhỏ, tôi thường để mái che đi, còn giờ thì dùng phấn che lại, nhưng dấu đó vẫn sẽ luôn ở đó.

Thật không may, Mẹ không hoàn toàn từ bỏ các thầy thuốc Bấc. Họ có thể chế ra những loại thuốc nước khó uống nhất trên đời. Mỗi khi tôi có triệu chứng bệnh, Mẹ lại vội vã đun sẵn những thứ thuốc Bắc kinh khủng đó. Dù tôi có chống cự thế nào, Ba và các anh trai thường phải giữ tay chân tôi để Mẹ đổ thuốc vào miệng. Đổi lại, tôi thường được dỗ dành bằng kẹo hoặc chuối để ngưng khóc.

Giờ đây, tôi hiểu tại sao Mẹ lại lo lắng cho sức khỏe của tôi đến vậy, mặc dù từ lúc hai tuổi, tôi ít khi bị bệnh. Tuy nhiên, nỗi ám ảnh về thuốc vẫn đeo bám tôi đến tận bây giờ, đặc biệt là thuốc nước. Tôi thà chịu đau đầu cả đêm còn hơn là uống thuốc, vì chỉ cần nhớ đến hương vị là đủ khiến tôi lạnh sống lưng.

Mẹ đã qua đời hơn 17 năm, và nỗi nhớ Mẹ trong tôi vẫn không nguôi ngoai.

Phạm Phan Lang
23/11/2020

==========

Tiếng Anh

The Shaman

On Lunar New Year’s Eve in 1952, at the tender age of two, I almost didn’t make it. Of course, I don’t remember much of the ordeal, but Me retold the story so many times that it feels like I was there for every moment.

I had a severe case of the measles. The Chinese doctors prescribed medicines, but nothing worked. In fact, I just got worse and worse. My desperate parents then turned to Western doctors. The last one, on the day before Lunar New Year, advised my parents to take me home because there was nothing more that could be done. To him, it was clear—I was going to die.

In those days, funeral parlors weren’t common, and the tradition was to keep the body at home so family, friends, and neighbors could come and pay their respects. But there was a catch: Lunar New Year celebrations shut everything down for six days. Ba had to rush to get a coffin for me before everything closed, as the mere thought of having a dead body in the house during the New Year was seen as the worst omen imaginable.

I was mostly comatose and blissfully unaware of all the chaos swirling around me. But my parents? They were facing the prospect of not only losing a child but also bringing catastrophic bad luck to the family during the most important holiday of the year.

Then, just as hope seemed to be fading, a miracle knocked at our door.

A family friend paid us a visit. This friend told Mẹ about a shaman, called Thầy Tư, who lived about ten miles away in a small country village. The Shaman had a reputation for healing people, and maybe, just maybe, he could help me. Without a second thought, Mẹ bundled me up and off we went, leaving Ba behind to tend to my two older brothers and perform the ritual to invite our ancestors to the family altar for the New Year.

When we arrived at the Shaman’s home, it was about 6 PM on Lunar New Year’s Eve. The moment he saw me, he sprang into action. He scribbled Chinese characters on a piece of special white paper, laid it over my body, and began chanting prayers to drive away the bad spirit that had possessed me. Then, as if things couldn’t get any stranger, he burned the paper, mixed the ashes into a cup of rainwater, and made me drink the concoction. If I’d been conscious, I probably would have protested!

Next, he fetched a small branch from a berry tree in his yard and gently “beat” my body with it, as if driving out whatever evil was clinging to me. He capped off the session by tattooing a cross in the middle of my forehead using a sharp, pen-like tool dipped in ink. And then, as a parting gift, he made me a necklace. It was a colorful, twisted thread necklace with a two-inch square pouch attached. The pouch contained “mystical” ingredients I wasn’t allowed to peek at, but it was designed to ward off evil spirits.

Mẹ was instructed that I had to wear the necklace at all times—except during baths—until I turned ten. Oh, and I wasn’t allowed to walk under clotheslines because, according to the Shaman, they were considered impure. The cross tattoo, he warned, must never be removed; doing so would risk my life.

Despite all this, there was no immediate change in my condition. Me was understandably skeptical and wanted to stay until something—anything—happened. But the Shaman, calm as ever, reassured her: “Don’t worry, she will be alright.” Seeing Me’s lingering doubt, he added, “If she isn’t cured and dies, feel free to bring her dead body back and throw it into the middle of my home on New Year’s Day.”

With no other option, Me brought me home and waited.

And just as the clock struck midnight, I woke up. Not only that—I sat up, stood up, smiled, and acted as if I hadn’t been sick a day in my life. It was a miracle! My parents, family, and neighbors were all amazed. The next morning, Me rushed me back to the Shaman, not out of fear this time, but to thank him. Me told me that even though I was only two years old, I ran up to him, hugged his legs, and declared, “You are my dear Master!”

For years after that, Me would take me to visit Thầy Tư every Lunar New Year to receive a replacement necklace. This continued until the year I got married, nine years after I had worn the last necklace. By then, I had outgrown the thread necklaces, and Me gave me a beautiful gold necklace with a jade Quan Yin pendant. Sadly, I lost that necklace when I fled my homeland on April 29, 1975, during the fall of South Vietnam.

I still remember those yearly visits fondly. While Me would chat with the Shaman, I’d run wild on his enormous property, climbing mango and guava trees, splashing in the stream, and playing with the other children—many of whom had also been “saved” by this mystical man. His house was always filled with delicious food, gifts from grateful mothers like Me.

Of course, I despised that ugly thread necklace and the cross tattoo on my forehead. They made me stand out in all the wrong ways, and my friends never missed an opportunity to tease me. Even today, the tattoo remains—my little life mark. The survivor’s badge. As a child, I’d try to hide it under my bangs. Now, I cover it with makeup, but it’s always there.

Sadly, Me never completely abandoned her faith in Chinese medicine. From that point on, at the first sign of illness, she would rush to prepare those awful, bitter concoctions. No matter how much I resisted, my father and brothers would hold me down while Me poured the revolting liquid down my throat. Usually, I got candies or bananas afterward to stop me from crying too much, but the trauma stuck.

I now understand why Me was so protective of my health, though fortunately, I rarely got sick again after that. However, her overzealousness gave me a lifelong phobia of taking liquid medicine. To this day, I’d rather endure a headache all night than take anything for it, simply because the taste brings back too many memories.

Me has been gone for over seventeen years now, and I miss her more than words can say.

Pham Phan Lang
11/23/2020




GIAO CHỈ SAN JOSE -Tiễn Biệt Người Góa Phụ Trung Kiên: Madame HỒ NGỌC CẨN

 – Giao Chỉ

Các Niên Trưởng Đồng Đế cho biết Bà Hồ Ngọc Cẩn , nhũ danh Nguyễn Thị Cảnh vừa ra đi sáng hôm nay 30 / O8/ 2024 tại Stevenson Ranch , Nam California Hoa Kỳ . Nguyện Cầu Linh Hồn Bà sớm về nước Trời hưởng Nhan Thánh Chúa và bình an trong chốn Thiên Đàng . Amen !
 
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn – Người vợ lính ở Thủ Đức
 
Mùa xuân năm 1959 . Họ đạo Thủ Đức có đám cưới nhà quê . Cô dâu Nguyễn Thị Cảnh mỗi tuần giúp lễ và công tác thiện nguyện cho nhà Thờ . Chú rể là anh Trung sĩ huấn luyện viên của trường bộ binh Thủ Đức .
 
Cha làm phép hôn phối . Họ Đạo tham dự và chúc mừng . Bên nhà gái theo đạo từ thuở xa xưa . Bên nhà trai cũng là gia đình Thiên Chúa Giáo . Cô gái quê ở Thủ Đức , 18 tuổi còn ở với mẹ . Cậu trai 20 tuổi xa nhà từ lâu . Cha cậu là Hạ sĩ quan , gửi con vào Thiếu sinh quân Gia Định từ lúc 13 tuổi . Khi trưởng thành , anh Thiếu sinh quân nhập ngũ . Đi lính năm 1956 . Mấy năm sau đeo lon Trung sĩ .
 
Quê anh ở Rạch Giá , làng Vĩnh Thanh Long , sau này là vùng Chương Thiện . Ngày đám cưới , ông già từ quê lên đại diện nhà trai . Đứng trước bàn thờ , Cha xứ hỏi rằng anh Quân nhân này có nhận cô gái làm vợ không . Chú rể đáp thưa có . Cha hỏi cô gái có nhận anh Trung sĩ này làm chồng , no đói có nhau , gian khổ có nhau ? Cô gái Thủ Đức vui mừng thưa có . Anh Trung sĩ Rạch Giá phục vụ trường bộ binh , đi lễ nhà thờ gặp cô gái xóm đạo Thủ Đức nên kết nghĩa vợ chồng . Cô gái thề trước nhà Chúa , có cả họ Đạo chứng kiến .
 
Cô đã giữ trọn đời làm vợ người lính . Từ vợ Trung sĩ trại gia binh cho đến phu nhân Đại tá trong dinh Tỉnh trưởng . Cô theo chồng đi khắp 4 phương suốt 16 năm chinh chiến , để rồi 30 tháng 4 năm 1975 trở thành vợ người tử tội .
 
Cô đem con trở về Thủ Đức lánh nạn chờ ngày chồng bị xử bắn . Dù thăng cấp , dù thắng hay bại , dù sống hay chết , chồng cô vẫn là người anh hùng . Cô mãi mãi vẫn là người vợ lính . Anh lính đầu đời chinh phu của cô , lúc lấy nhau đeo lon Trung sĩ và khi ra đi đeo lon Đại tá . Thủy chung cô vẫn sống đời vợ lính . Chồng của cô là Đại tá Hồ Ngọc Cẩn .
 
Hiện nay cô vợ lính gốc Thủ Đức , sau khi tìm đường vượt biên , đem con trai duy nhứt qua Bidong , Mã Lai rồi vào Mỹ sống ở Nam Cali . Cô may thuê , bán quán nuôi con . Con trai lập gia đình có 2 cháu . Người vợ lính năm xưa từ 1975 đến nay , ở vậy thờ chồng , đã trở thành bà nội ở chung một nhà với con cháu . Suốt đời vẫn nghèo , nghèo từ Trung sĩ mà nghèo lên Đại tá . Nghèo từ Thủ Đức mà nghèo qua Chương Thiện . Nghèo từ Việt Nam mà đem theo cái nghèo qua Mỹ . Bởi vì suốt đời chỉ là người vợ lính .
 
Một đời chinh chiến . Chuyện người chồng.
 
Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938 . Xuất thân Thiếu sinh quân Gia Định , rồi nhập ngũ và lên cấp Trung sĩ , huấn luyện viên vũ khí tại trường Bộ binh . Sau khi lập gia đình có 1 con thì anh Trung sĩ tìm cách tiến thân , xin vào học lớp Sĩ quan đặc biệt tại Đồng Đế . Từ anh sinh viên sĩ quan Đồng Đế 1960 cho đến 15 năm sau , Hồ Ngọc Cẩn trở thành Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Chương Thiện , hầu hết cấp bậc đều lên tại mặt trận . Ông đã từng mang mầu áo của Biệt động quân và các sư đoàn Bộ binh . Huy chương và chiến công nhiều vô kể .
 
Suốt một đời chinh chiến từ Trung đội trưởng lên đến Trung đoàn trưởng , Hồ ngọc Cẩn tung hoành khắp Hậu giang và Tiền giang . Năm 1972 ông Thiệu cho lệnh toàn thể sư đoàn 21 từ miền Tây lên tiếp tay cho quân đoàn III , giải tỏa An Lộc . Lại cho lệnh tăng cường thêm 1 Trung đoàn của Sư đoàn 9 . Tư lệnh quân khu , ông Trưởng ( Trung Tướng Ngô Quang Trưởng) nói với ông Lạc (Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc) sư đoàn 9 đưa 1 Trung đoàn nào coi cho được .
 
Trung tá Hồ ngọc Cẩn dẫn Trung đoàn 15 lên đường . Trung đoàn ông Cẩn phối hợp cùng nhẩy dù đánh dọc đường 13 tiến vào An Lộc . Anh Đại úy đại đội trưởng của Trung đoàn , suốt mấy tuần giằng co với địch trước phòng tuyến của Tướng Hưng , Tư lệnh An Lộc , nhưng chưa vào được . Lính hai bên chết đều chôn tại chỗ . Thiết vận xa M113 của ta còn phải lui lại phía sau . Chỉ có bộ binh của Trung đoàn 15 nằm chịu trận ở tiền tuyến . Anh sĩ quan kể lại, chợt thấy có một M113 của ta gầm gừ đi tới .
 
A , tay này ngon .
Chợt thấy một ông xếp từ thiết vận xa bước ra , phóng tới phòng tuyến của đại đội . Nhìn ra ông Trung đoàn trưởng Hồ Ngọc Cẩn . Ông quan sát trận địa rồi hô quân tiến vào . Cùng với tiền đạo của Nhẩy dù , Trung đoàn 15 bắt tay với lính phòng thủ An Lộc . Sau khi Bình Long trở thành Bình Long Anh Dũng , ông Thiệu hứa cho mỗi người lên 1 cấp .
 
Trung tá Hồ Ngọc Cẩn ngoài 30 tuổi đeo lon Đại tá , trở về trong vinh quang tại bản doanh Sa Đéc . Rồi ông được đưa về làm Tiểu khu trưởng Chương Thiện . Vùng đất này là sinh quán của ông ngày xưa . Cho đến 30 tháng 4-1975 Sài Gòn đã đầu hàng , nhưng Chương Thiện chưa nhận được lệnh Cần Thơ , nên Chương Thiện chưa chịu hàng .

 
Chiều 29 sang 30 tháng 4 , Tiểu khu trưởng vẫn còn bay trực thăng chỉ huy . Khi radio Sài Gòn tiếp vận về tin buông súng , các đơn vị bên ta rã ngũ . Lính tráng từ Tiểu khu và dinh Tỉnh trưởng tan hàng , Đại tá Tiểu khu trưởng Hồ Ngọc Cẩn bị lính cộng sản vây quanh khi còn ngồi trên xe Jeep với vũ khí , quân phục cấp bậc đầy đủ . Câu chuyện về giờ phút cuối cùng của người chồng , đã được người vợ kể lại cho chúng tôi . Thực là một kỷ niệm hết sức bi thảm .
 
Giây phút cuối của Chương Thiện,
 
Bà Cẩn với âm hưởng của miền quê Thủ Đức kể lại qua điện thoại . Cô Cảnh nói rằng suốt cuộc đời chưa ai hỏi thăm người thiếu phụ Thủ Đức về một thời để yêu và một thời để chết . Bà nói :
 
“ Kể lại cho bác rõ , những ngày cuối cùng nhà em vẫn hành quân . Đánh nhau ngay trong Tiểu khu . Anh Cẩn vẫn còn bay hành quân . Nhà bị pháo kích . Tuy gọi là dinh Tỉnh trưởng nhưng cũng chỉ là ngôi nhà thường . Chiều 30 tháng 4 mẹ con em theo các chú lính chạy ra ngoài . Đi lẫn vào dân . Ở Chương Thiện không ai biết em là vợ Tỉnh trưởng . Ai cũng tưởng là vợ lính . Từ xa ngó lại mẹ con em thấy anh Cẩn bị chúng bắt giải đi . Bà con kéo mẹ con em tìm đường chạy về Cần Thơ . Chú lính nói rằng bà không đem con chạy đi chúng nó bắt thì khổ . Em dẫn thằng con nhỏ chạy bộ . Mẹ con vừa đi vừa khóc . Hình ảnh cuối cùng thằng con hơn 10 tuổi nhìn thấy bố ngồi trên xe Jeep , Việt cộng cầm súng vây quanh . Bước xuống xe , anh không chống cự , không dùng dằng , không nói năng . Đưa mắt nhìn về phía dân ở xa , giơ tay phất nhẹ . Như một dấu hiệu mơ hồ cho vợ con . Chạy đi . Đó là hình ảnh cuối cùng đã gần 40 năm qua .
 
Từ đó đến nay mẹ con không bao giờ gặp lại . Thân nhân bên anh Cẩn , mẹ và các chị giữ không cho em và con trai ra mặt . Sợ bị bắt . Được tin anh ra tòa nhận án tử hình . Rồi tin anh bị xử bắn . Thời gian anh bị giam , gia đình bên anh có đi tiếp tế nhưng không thấy mặt . Chỉ giao tiếp tế cho công an rồi về . Hôm anh bị bắn ở sân vận động Cần Thơ , gia đình cũng không ai được báo tin riêng , nhưng tất cả dân Tây Đô đều biết . Mỗi nhà được loan báo gửi một người đi coi . Bà chị họ đi xem thằng em bị bắn . Chị kể lại là không khí im lặng . Từ xa , nhìn qua nước mắt và nín thở . Chị thấy chú Cẩn mặc quần áo thường dân tỏ ý không cần bịt mắt . Nhưng bọn cộng sản vẫn bịt mắt . Bác hỏi em , bà chị có kể lại rõ ràng ngày xử bắn 14 tháng 8 năm 1975 .
 
Mỗi lần nói đến là chị em lại khóc , nên cũng không có gì mà kể lại . Chúng bịt miệng , bịt mắt nên anh Cẩn đâu có nói năng gì . Suốt cuộc đời đi đánh nhau anh vẫn lầm lì như vậy . Vẫn lầm lì chịu bị bắt , không giơ tay đầu hàng , không khai báo , không nói năng gì cho đến chết . Anh làm Trung đội trưởng , Đại đội trưởng , Tiểu đoàn trưởng , Trung đoàn trưởng rồi đến Tiểu khu trưởng . Báo chí , anh em nói gì thì nói , anh Cẩn chả nói gì hết . Bác hỏi em là mồ mả ra sao . Em và con về nhà mẹ ở Thủ Đức . Gia đình không cho em ra mặt . Bà chị và mẹ anh Cẩn đi xin xác không được . Chúng đem chôn ở phía sau Trung tâm nhập ngũ Cần Thơ . Mấy năm sau mới xin được đem về Rạch Giá .
 
Rồi đến khi khu này bị giải tỏa , nên lại hỏa thiêu đem tro cốt về nhà ông chú bên Long Xuyên . Ngày nay , em nói để bác mừng là sau khi vượt biên qua Mỹ em đã đưa di hài anh Cẩn qua bên này . Anh Cẩn bây giờ cũng đoàn tụ bên Mỹ với gia đình . “
 
“ Cô đi năm nào ”, tôi hỏi bà Cẩn .
“ Mẹ con em ở Thủ Đức ba năm sau 1975 . Đến 1978 thì vượt biên qua Pulo Bidong . Ở trại 8 tháng thì bà con bảo trợ qua Mỹ . Qua bên này mình chả biết ai , không ai biết mình . Cũng như bao nhiêu thuyền nhơn , mẹ con ở với nhau . Em đi làm nghề may , rồi đi bán quán cho tiệm Mỹ . Bây giờ cháu trai duy nhứt của anh Cẩn đã có gia đình sinh được 2 con .”
 
Chuyện đời người vợ lính thời chinh chiến với kết thúc bi thảm và anh hùng , tôi nghe kể lại thấy lòng xót xa lắng đọng .Tôi bèn quay qua hỏi chị Cẩn sang đề tài khác . “ Nãy giờ nói toàn chuyện buồn , cô nhớ lại xem suốt đời từ đám cưới cho tới năm 1975 , cô có những kỷ niệm nào vui không .”
 
Bà Cẩn ngừng lại suy nghĩ .
“ Em thấy năm nào tháng nào cũng vậy thôi . Toàn lo việc nhà , nội trợ nuôi con . Anh Cẩn đi đâu thì mẹ con cũng đi theo . Từ Trại gia binh đến cư xá Sĩ quan . Chúng em không có nhà riêng , không có xe hơi , không có xe gắn máy . Từ Sa Đéc , Trung đoàn 15 qua đến Tiểu khu Chương Thiện , toàn là ở trại lính ”.
 
Tôi hỏi tiếp :
“ Cô có đi dự tiệc tùng , mừng lên lon , thăng cấp , dạ hội gì không ?”.
“ Không , em chả có đi đâu . Ở Chương Thiện em cũng không đi chợ . Dân chúng cũng không biết em là ai . Mua bán gì em về Cần Thơ , đông người , cũng chả ai biết em là ai . Em cũng không có nhà cửa nên cũng không mua sắm đồ đạc . Lương nhà binh cũng chẳng có là bao . Em cũng không ăn diện nên chẳng có nhiều quần áo .
 
Năm 1972 ở An Lộc về , anh Cẩn mang lon Đại tá , không biết nghĩ sao anh nói với em , vợ chồng chụp được một tấm hình kỷ niệm . Đây là tấm hình gần như duy nhứt . Xin bác dùng tấm hình này của nhà em mà để lên tấm bia lịch sử ”.
 
Tôi nói rằng , tấm hình của cô và anh Cẩn rõ ràng và đẹp lắm . Hoàng Mộng Thu có đưa cho tôi xem . Chúng tôi sẽ dùng hình này . Nhưng tôi vẫn gặng hỏi : “ Thế bao nhiêu lần anh thăng cấp cô có dự lễ gắn lon không ?”.
 
” Em đâu có biết . Chỉ thấy anh Cẩn đi về đeo lon mới rồi cười cười . Cũng có thể gọi là những giây phút hạnh phúc của đời nhà binh ”.
“ Thế cô chú ở Thủ Đức có khi nào đi chơi Vũng Tàu tắm biển không ?”.
Bà Cẩn thật thà nói rằng :
“ Khi anh Cẩn học ở Đồng Đế thì em và con có ra thăm Nha Trang nên thấy biển . Còn chưa bao giờ được đi với anh Cẩn ra Vũng Tàu . Sau này đến khi vượt biên thì mẹ con em mới thấy biển Vũng Tàu…”
 
Trong số một triệu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa , dường như Sĩ quan , anh nào cũng có 1 lần đi với vợ con hay người yêu trên bãi biển Vũng Tàu . Chỉ có hàng binh sĩ , chỉ những người lính là chưa có dịp . Hồ Ngọc Cẩn ở Rạch Giá suốt đời chưa đem vợ đi Vũng Tàu . Vì vậy chị Cẩn suốt đời vẫn chỉ là vợ lính .
 
Trong quân đội , dù là Tướng tá hay Sĩ quan , anh nào mà chả có thời làm lính . Sau đó mới làm quan . Chỉ riêng cô Nguyễn thị Cảnh , hiền thê Đại tá Hồ Ngọc Cẩn là người đóng vai vợ lính suốt đời . Những ngày vui nhất của chị là thời gian được làm vợ anh Trung sĩ hiền lành của trường bộ binh Thủ Đức .
Ngày đó đã xa rồi hơn nửa thế kỷ , ở bên kia địa cầu , trên ngọn đồi Tăng Nhơn Phú , có vợ chồng anh lính trẻ mỗi sáng Chúa nhựt cầm tay nhau để đi lễ nhà thờ .
 
Giao Chỉ 




CHÙM THƠ NHỚ CHỊ – CAO MỴ NHÂN

CHỊ TÔI – BUỒN     

CAO MỴ NHÂN

(Tặng Chị, tên giống tên tôi, khác dấu

trên chữ My : Chị Cao Mỹ Nhân)  

Trong một vòng ôm

Vô cùng thương nhớ

Chim gọi hoàng hôn

Mang vào quá khứ

*

Chị ơi, chị ơi

Mùa thu đang về

Lá bay đầy trời

Chị đừng đi nhél

*

Vòng ôm của em

Không ấm thân buồn

Chị bảo lạnh thêm

Giá buốt tâm hồn

*

Chị ngó hư vô

Những làn mây mờ

Vầng trăng bơ vơ

Thầm lặng mong chờ

*

Chị giơ tay chào

Ai đâu trước mặt

Chúa đợi trên cao

Đôi dòng nước mắt …

CAO MỴ NHÂN

  29 – 8 – 2024

-0-

CÔ ĐỘC HÀNH.    CAO MỴ NHÂN

A Di Đa  A Di Đa

Chị nằm đợi đi thật xa

Một mình trong khu Hospice

” …Near The End of Life…”

*

Chung cuộc hay là kết thúc

A Di Đa  A Di Đa

Hình như chị còn thao thức

Lời kinh tán Phật hoan ca

*

Niềm đau chập chờn, khủng khiếp

Nỗi buồn day dứt miên man

Cơn mê hoang liêu đồng thiếp

Chị khắp rời khỏi thế gian

*

Em không ở lại Hospice

Sợ lắm chị ơi cạn tình

Chị không có ai con cháu

Không ai mong chị hồi sinh

*

Bởi vì chị không…tất cả

Đã cuối hành trình cuộc đời

Lệ rơi …lệ rơi lã chã

Chị về cõi phúc xa khơi…

*

 CAO MỴ NHÂN

  • – 8 – 2024

-0-

NGƯỜI CHỜ.    CAO MỴ NHÂN

*

Người chờ ta gởi trái tim

Về xa tít tắp, nhận chìm yêu thương

Ta đang đi kiếm thiên đường

Giữ tim trong nỗi đoạn trường nhớ nhung

*

Người chờ ta chốn mông lung

Hào quang tình tự bập bùng lửa thiêng

Ta quên ta giữa cõi thiền

Cùng người, thổ lộ ưu phiền đã lâu

*

Người chờ ta ở muôn sau

Sao còn hẹn mãi bên nhau kiếp này

Người rằng vẫn mở vòng tay

Cho ta buông nhẹ thân gầy vào thơ

*

Chao ôi, năm tháng đợi chờ 

Cuộc tình như thể cơn mơ kéo dài

Ta đang mộng mị u hoài

Huyễn hư ma ảnh suốt đời bâng khuâng…

    CAO MỴ NHÂN

  31 – 8 – 2024




PHẠM PHAN LANG – English & Vietnamese. Buổi Trình Chiếu Phim My South Vietnam Của Nhà Văn, Đạo Diễn Chu Lynh: Vietnam Film Club, Westminster, Nam Cali, 1/9/2024

       Hôm Chủ Nhật vừa qua, 1/9/2024, PL đã đi dự Buổi Trình Chiếu Phim My South Vietnam được Vietnam Film Club tổ chức tại Lavender (OC Entertainment), Westminster, CA lúc 2 giiờ chiều.

       Trước buổi trình chiếu phim khoảng 2 tuần, BTC đã ra Thông Báo yêu cầu mọi người ngừng ghi danh tham dự vì sức chứa của nhà hàng Lavender  chỉ giới hạn không quá 400 người mà số người ghi danh trực tiếp với BTC lúc đó đã lên đến 400.

        Chương trình, điều khiển bởi các MCs Cao Minh Hưng, Thụy Vy và Thụy Lan, được bắt đầu khá đúng giờ với đầy kín đồng hương tham dự, có vài em trẻ tuổi vào sau chọn ngồi dưới đất gần khán đài.  Trong số những thượng khách  tham dự gồm có Đại Biểu Văn Phòng Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn, Dân Biểu Hạ Viện Tiểu Bang CA Tạ Đức Trí, Thị Trưởng Westminster Nguyễn Mạnh Chí, Nhạc Sĩ/GS Lê Văn Khoa và một số thân hào nhân sĩ khác…

        Chương trình được bắt đầu với Nghi Thức Chào Quốc Kỳ/Quốc Ca/Phút Mặc Niệm, các Dân Biểu Trao Bằng Tưởng Thưởng, Ns Lê Văn Khoa, Cô Thụy Vy  và nhà văn Phạm Gia Đại phát biểu cảm tưởng, Đạo diễn Chu Lynh Giới Thiệu phim My South Vietnam và sách Mảnh Da Vàng, phần Văn Nghệ do Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ trình diễn, cô Cao Xuân Thanh Ngọc phát biểu cảm tưởng về sách Mảnh Da Vàng, Giải Lao với thức ăn nhẹ, chiếu phim My South Vietnam và cuối cùng là phần Mạn Đàm và Chụp Hình Lưu Niệm.

        Phim My South Vietnam được thực hiện trong hai năm rưỡi gồm 12 tậ̣p, mỗi tập dài khoảng 30-50 phút nhưng trong buổi chiếu phim với thời gian hạn hẹp, phim được rút gọn khéo léo trong 66 phút, đủ để mọi người nhận thấy Vietnam Film Club đã tái hiện một cách chân thực những nổ lực xây dựng và phát triễn miền Nam Việt Nam trong khoảng 20 năm từ 1955 đến 1975.  Bộ phim không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mà còn là một tài liệu lịch sử quý giá, một lời nhắc nhở sâu sắc cho thế hệ trẻ về những giá trị cao đẹp mà ông cha chúng ta đã giữ gìn và bảo vệ.

       PL đã xem phim My South Vietnam với tâm trạng đầy xúc động và tin rằng bộ phim này cũng đã chạm đến trái tim của mỗi người tham dự trong khán phòng vì nó gợi lại những ký ức và cảm xúc sâu kín về một thời kỳ đầy thử thách nhưng cũng rất tự hào của miền Nam Viêt Nam.

      Một lần nữa, PL chân thành cám ơn anh đạo diễn Chu Lynh và Vietnam Film Club đã dành trọn tâm huyết thực hiện bộ phim lịch sử giá trị này và mong rằng phim sẽ được đón nhận nồng nhiệt khắp nơi với tất cả tình cảm và sự trân trọng.

      Xin mời xem hình ảnh ghi lại  Buổi Trình Chiếu Phim My South Vietnam:

https://photos.app.goo.gl/mbMr7HbZ7yn8vqGo9

      Kính chúc sức khỏe và an vui.

Thân kính,

Pham Phan Lang

Last Sunday, September 1, 2024, I attended the screening of the film My South Vietnam, organized by the Vietnam Film Club at Lavender (OC Entertainment), Westminster, CA at 2:00 PM.

About two weeks before the screening, the organizers announced that they had stopped accepting registrations because the Lavender venue could accommodate no more than 400 people, and the number of direct registrations with the organizers had already reached that limit.

The program, managed by MCs Cao Minh Hung, Thuy Vy, and Thuy Lan, started almost on time with a full house of attendees, including some young people who arrived later and chose to sit on the floor near the stage. Among the distinguished guests were representatives from the Office of State Senator Janet Nguyen, California State Assemblyman Ta Duc Tri, Westminster Mayor Nguyen Manh Chi, musician and professor Le Van Khoa, and several other prominent figures.

The event began with the Flag Salute, National Anthem, and a Moment of Silence, followed by the presentation of awards by the Assemblymen. There were remarks from musician Le Van Khoa, Ms. Thuy Vy, and author Pham Gia Dai, as well as the introduction of the film My South Vietnam and the book Mảnh Da Vàng by director Chu Lynh. The artistic performance was delivered by the Tinh Nghe Si Club, and Ms. Cao Xuan Thanh Ngoc shared her thoughts on the book Mảnh Da Vàng. The program continued with a light meal break, the screening of My South Vietnam, and concluded with a discussion and photo session.

The film My South Vietnam, which was produced over two and a half years, consists of 12 episodes, each lasting about 30-50 minutes. However, due to time constraints, the film was skillfully condensed into 66 minutes for this screening, just enough for everyone to appreciate how the Vietnam Film Club vividly recreated the efforts to build and develop South Vietnam during the 20 years from 1955 to 1975. The film is not only a work of art but also a valuable historical document, a profound reminder to the younger generation of the noble values that our ancestors preserved and protected.

I watched My South Vietnam with a heart full of emotion and believe that the film touched the hearts of everyone present in the room, as it evoked deep memories and emotions about a challenging yet profoundly proud period in South Vietnam’s history.

Once again, I sincerely thank director Chu Lynh and the Vietnam Film Club for dedicating their efforts to creating this valuable historical film and hope that it will be warmly received everywhere with all the affection and respect it deserves.

Please take a look at the photos from the My South Vietnam film screening.

Link to photos: https://photos.app.goo.gl/mbMr7HbZ7yn8vqGo9

Wishing you good health and happiness.

Sincerely,

Pham Phan Lang

—————–

Bài viết thêm                                      Phim My South Vietnam

Phim My South Vietnam là bộ phim tài liệu đề cập đến những lãnh vực xã hội của của miền Nam trước 1975 cùng với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Việt Nam Cộng Hòa.

Bộ phim gồm 12 tập, trong đó có 6 tập bên dưới đã được phổ biện trên YouTube.

1.  Part 1 – Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa

2.  Part 2 – Văn Hóa Giáo Dục VNCH

3.  Part 3 – Truyền Thông và Báo Chí VNCH

4.  Part 4 – Nền Y Tế  VNCH

5.  Part 5 – Phụ Nữ VNCH

6.  Part 6 – Nền Thể Thao VNCH

https://www.youtube.com/watch?v=lpNY5c2_8Ys&t=79s

     6 tập phim còn lại từ Part 7 – 12 sẽ được lần lượt phổ biến trên YT.  

    Xin chờ đón xem.

Trân trọng,

PPLang

Attachments area




TÌM VỀ CỘI NGUỒN – KIỀU MỸ DUYÊN

TÌM VỀ CỘI NGUỒN

KIỀU MỸ DUYÊN




SA CHI LỆ – MỸ HÂN KÍNH MỜI CHIA SẺ THIÊN KÝ SỰ HÀNH TRÌNH TỊ NẠN CON ĐƯỜNG SINH TỬ TẬP 15-HÀ NGỌC




TRẦN NGẪU HỒ – Nguồn Gốc Của Vũ Trụ Trong Giải Thích Vĩ Mô & Vi Mô

Nguồn Gốc Của Vũ Trụ Trong Giải Thích Vĩ Mô & Vi Mô 

Trần Ngẫu Hồ 

Bắt đầu từ những năm 1995 – 2000 khi mạng internet còn đang phôi pha, phó tổng thống Al Gore, thuộc đảng Dân Chủ, lúc đó đã tiên đoán: “Rồi đây mạng internet sẽ thành World Wide Web (WWW), nhân loại sẽ nối kết được với nhau trên khắp thế giới, nhờ đó mà kinh tế toàn cầu sẽ tăng gấp bội, các quốc gia, con người sẽ gần gũi, nối kết với nhau dễ dàng với mọi hình thức”. 

Bây giờ, là năm thứ 24 của thế kỷ thứ 21, chuyện bùng nổ kinh tế và sự nối kết giữa con người với nhau đã thành sự thật và ngày càng nới rộng. Những siêu máy tính, với những trí tuệ thông minh, với những kỹ thuật mới đã tạo được những robot siêu thông minh, có thể đảm nhiệm nhiều lãnh vực của xã hội đời thuờng, robot thầy giáo, robot y tá, bác sĩ, robot giúp việc vv…rồi cũng sẽ xuất hiện cùng khắp. Con người ở khắp các nơi trên thế giới, có thể nhìn thấy mặt nhau, chỉ bằng vài động tác click… click, tiện lợi vô song. 

Trong lãnh vực vật lý, Lý Thuyết Dây (LTD) cũng đang dần hoàn thiện trọn vẹn, dẫn đến sự liên kết 4 tương tác: Tương Tác Mạnh, Tương Tác Yếu, Tương Tác Điện Từ, và Tuơng Tác Hấp Dẫn. Cũng sẽ nối kết được với nhau. Và như vậy sự hiểu các thế giới trong sóng hạ âm (dưới < 18 hz) sẽ dễ dàng. Nói như vậy, có nghĩa là KHHĐ có thể chứng minh các cõi giới khác chung quanh chúng ta. Thế giới khác mà LTD gọi là các chiều không gian, khác không gian 3 chiều của chúng ta 

Trong hiện tại LTD đã giải thích và chứng minh, ngoài thế giới 3 chiều của chúng ta, còn có 10 chiều không gian khác, tức 10 thế giới cùng với chúng ta, cùng với 1 chiều thời gian, dựa vào chiều quay của các thiên thể, trọng trường và những yếu tố riêng, mà đã tạo ra các hạt cơ bản riêng, những nguyên tử riêng, rồi từ đó tạo ra những sinh vật, chúng sinh, cơ cấu riêng của từng thế giới khác nhau. 

Thí dụ, mặt trăng có chiều quay riêng, cũng là 3 chiều, nhưng là 3 chiều theo dạng lò xo tròn, nên chiều của mặt trăng khác chiều trái đất của chúng ta. Khám phá này sẽ tạo ra chiều không gian thứ 5, do đó mặt trăng có đời sống, thế giới riêng. Như chúng ta đang nhìn thấy rõ ràng hình ảnh của mặt trăng, nhưng lại chẳng thấy sinh hoạt, vật thể, chúng sinh nào trên mặt trăng, chuyện này được Khoa Học Phi Hữu giải thích như sau: 

Chiều quay lò xo tròn của mặt trăng, đã tạo ra chiều không gian thứ năm riêng cho mặt trăng. Bây giờ chiều không gian thứ 5 đó, thí dụ đang là trong một vòng quay tròn thật nhanh (Chỉ là thí dụ nhé).  Và chúng ta, loài người đang ở chiều không gian thứ 3, chỉ thấy một vệt loang loáng trước mắt, mà không thể nhìn thấy gì trong đó cả. Chúng ta cũng không thể nhập vào vòng quay đó, vì chúng ta sẽ bị văng ra ngay. 

Nhưng nếu chúng ta lên một cái vòng quay lớn hơn vòng quay của mặt trăng, và quay cùng chiều, với mặt trăng, đến khi khi tốc độ của chúng ta đuổi kịp và bằng tốc độ của vòng quay với chiều không gian mặt trăng, thì tất cả thế giới, sinh vật, sinh hoạt của mặt trăng hiện rõ trước mắt chúng ta, và chúng ta có thể bước từ vòng quay của chúng ta, sang vòng quay của mặt trăng một cách dễ dàng. Nếu tốc độ của chúng ta quay khác đi hay thụt xuống một nấc, mọi cảnh vật trên mặt trăng lại biến mất ngay trước mắt chúng ta. 

Những thí dụ trên, giải thích vì sao khi khác chiều không gian, chúng ta không thể nhìn thấy và thể nhập vào những chiều không gian khác đó. Tất cả những chiều không gian 5, 6, 7, 8…26… hoặc tới chiều n+1 đối với chúng ta đều như thế cả. Nếu Lý Thuyết Dây của Khoa Học Hiện Đại (KHHĐ) còn khó hiểu, thì 5 Lý Thuyết Mới của Khoa Học Phi Hữu, giải thích những thắc mắc này một cách trọn vẹn. 

Trong 5 lý thuyết mới gồm: Khoa Học Phi Hữu, Đồ Hình Liên Thông, Xa lộ Thiền Định, Tân Trường Thống Nhất và Tân Triết Học. thì 3 lý thuyết trong 5 lý thuyết mới (NLTM) là Đồ Hình Liên Thông (ĐHLT: Connecting Diagrams) Xa Lộ Thiền Định (XLTĐ: HighWay Of Meditation) Tân Trường Thống Nhất (TTTN: New General Field), góp phần làm sáng tỏ những thế giới xung quanh chúng ta. 

Bằng cách nào, chúng ta làm sáng tỏ những thế giới xung quanh chúng ta? Thưa, bằng cách nâng chiều của chúng ta, muốn nâng chiều của chúng ta, chúng ta phải nhập vào XLTĐ, mà muốn nhập vào XLTĐ thì chúng ta phải thường xuyên trong thiền định. Mà muốn thường xuyên trong thiền định, chúng ta phải: “Ngoài lìa các cảnh duyên, trong bặt nghĩ tưởng, tâm như tường vách, thì ấy là thiền định: Lời Lục Tổ Huệ Năng” Thường xuyên trong cảnh giới này thì ấy là đại định. Xuất nhập trong đại định là ra, vào trong XLTĐ.

 Xa Lộ Thiền Định là cụm từ mới, để cụ thể hóa và hình tượng hóa những hình thức thiền, đưa tới sự liên kết các chiều không gian khác, xin xem Đồ Hình Liên Thông (ĐHLT), qua hình minh họa và sự giải thích của ĐHLT, XLTĐ, TTTN phối hợp với Lý Thuyết Dây sẽ giải thích cùng với sự thể nhập được vào các chiều không gian khác chung quanh chúng ta. XLTĐ là sự nhập vào thiền sâu, khi xuất, khi nhập được dễ dàng thì gọi là trong XLTĐ. 

Xin hãy xem XLTĐ như một thế giới thiền định, cũng là cách nâng chiều thực tế và đơn giản để thể nhập vào các chiều không gian khác, xin hãy xem những chiều không gian khác như những lối vào, lối ra, bắt nguồn từ Xa Lộ Thiền Định, những chiều. 5. 6, 7, 8, 9 cũng là những lối vào, lối ra (Exit  5, 6, 7, 8, 9…) trên XLTĐ. 

Sự cụ thể hoá các cách thiền thành một hình tượng là Xa Lộ Thiền Định (XLTĐ) là để nối kết với các chiều không gian khác và cũng để dễ dàng giải thích sự nối kết đó, và như vậy XLTĐ liên hệ mật thiết với Khoa Học Hiện Đại (KHHĐ), nói cách khác thiền đạo có liên hệ tuyến tính với KHHĐ, là ngành Khoa Học Thiền Định. Thiền tông nêu một sự giải thích, một giá trị và liên kết khác như: Thiền là Đạo, Đạo là Tâm (Tâm rỗng lặng trong thiền), Tâm là Phật (Phật là sự rốt ráo sau cùng, thấu triệt toàn thể và cũng là vĩnh cửu). Tất cả đều có sự liên hệ. 

Trạng thái trong XLTĐ là không có thời gian trôi trong đó, không có độ dầy của vật chất, mà chỉ có năng lượng (tức sự hiện hữu còn gọi là Ngã) và những lạc thọ, tức những dây lạc (tức những bliss strings). Với những giá trị này, chúng ta có thể thể nhập vào bất cứ chiều không gian nào, khi chúng ta ở sâu trong định. Bài trước chúng ta đã nhắc tới Thiền Ni Satomi Myodo, với 2 lần vào định sâu để thể nhập vào thế giới cõi âm và nói chuyện được vói những hồn ma trong đó.

 Chưa bao giờ thế giới lại gần gũi nhau đến thế, với những chiều không gian, với Lý Thuyết Dây, Đồ Hinh Liên Thông và Xa Lộ Thiền Định, qua sự thống nhất giữa Tâm và Thức của từng con người. Xin đính kèm ĐHLT và clip youtube 

#316 Thông Não Lý Thuyết Dây – Đi Tìm Bản Chất Của Vũ Trụ! | Vũ Trụ #53 #316 Thông Não Lý Thuyết Dây – Đi Tìm Bản Chất Của Vũ Trụ! | Vũ Trụ #53

#316 Thông Não Lý Thuyết Dây – Đi Tìm Bản Chất Của Vũ Trụ! | Vũ Trụ #53

.

ĐỒ HÌNH LIÊN THÔNG:

Inline image

Nguồn gốc của vũ trụ trong trạng thái vĩ mô và vi mô: 

Vĩ mô của vũ trụ hữu vi, bắt đầu bằng vụ nổ lớn rồi lan tỏa, gọi là Big Bang (BB), ngày nay BB đã đuợc xác định, chứng minh rõ rệt với bằng chứng qua những bức xạ nền của vũ trụ để lại, sự giải thích và sự chứng minh của Khoa Học Hiện Đại (KHHĐ) về BB, cho thấy BB là một thực tế, khởi đầu bằng một dị điểm vô cùng nặng, vô cùng nóng. Nhưng câu hỏi sự nổ và lan tỏa của BB, đến từ đâu và trên khung cảnh nào? Là những tra vấn này, cho tới nay vẫn còn đang bị bỏ ngỏ. 

Từ những năm 1981 Lý Thuyết Dây(LTD) đã tìm ra cái nhỏ nhiệm nhất của vật chất, trong đó có con người, đã bắt đầu bằng những dây (Gọi là String theory), có nghĩa là nếu truớc kia, trong tận cùng nhỏ nhiệm của của tất cả vật chất, và DNA của con người, là những hạt nguyên tử, những hạt khác nữa, nhưng nay trong những hạt đó là những sự quẫy lộn của những dây vô cùng nhỏ, xin tóm tắt sự giải thích của lý thuyết dây: 

<Trích>… “Có thể nói không ngoa, việc nghiên cứu bản chất của vũ trụ, nó nằm trong bản chất DNA của con người rồi, bạn cứ nhìn bọn con nít là biết, chúng có xu hướng là luôn muốn tháo tung mọi thứ, và thường là không lắp lại được, hoặc là nếu lắp lại được, cơ mà, lại thừa vài con ốc. Khám phá bản chất vũ trụ thực chất chính là tìm ra thứ nhỏ nhất, đã tạo ra vũ trụ, hãy bắt đầu với một quả cam, hoặc bạn thích thứ gì đó kích thích hơn, hãy bắt đầu bằng một quả bưởi, thậm chí, hoặc một quả dưa hấu. 

Để biết, quả dưa hấu được tạo ra bởi cái gì? Bạn chỉ cần không ngừng zoom vào nó, và đến một lúc nào đó, bạn sẽ nhìn thấy các nguyên tử, nguyên tử là một từ có nguồn gốc là atoms, trong tiếng Hy Lạp cổ đại, có nghĩa là không thể cắt nhỏ, không thể chia nhỏ được nữa, nó được xử dụng lần đầu, bởi triết gia Hy Lạp cổ đại Dymocritoc, vào khoảng năm 400 trước công nguyên. Dymocritoc cho rằng, vạn vật trong vũ trụ đều có cấu tạo bằng nguyên tử, một loại hạt quá nhỏ để có thể nhìn thấy bằng mắt thường. 

Thế nhưng, mãi đến năm 1981, con người lần đầu tiên mới được diện kiến các nguyên tử, nhờ sự ra đời kính hiển vi điện tử, một loại kính hiển vi có thể chụp các bề mặt ở cấp độ điện tử, cơ mà, chúng ta đều biết rằng nguyên tử thì có thể được cắt nhỏ, và chúng được cấu thành electron và các hạt nhân nguyên tử, mà hạt nhân nguyên tử gồm một nắm hạt hạ nguyên tử gồm protron và neutron, tiếp tục zoom vào protron và neutron, ta sẽ thấy chúng được cấu thành từ 2 hạt cơ bản là up quark mang điện tích dương và down quark mang điện tích âm, hạt quark là hạt cơ bản, vì chúng là giới hạn nhỏ nhất mà con người có thể zoom vào ở thời điểm hiện tại. 

Nói cách khác, hạt quark cùng với electron và một tá các loại hạt cơ bản khác mà con người đã tìm ra trong vài thập kỷ qua, chính là những thứ nhỏ nhất, cấu thành vạn vật trong vũ trụ, Cơ mà, không phải ai cũng nghĩ như vậy, một nhóm các nhà khoa học đã cùng nghiên cứu và phát triển một cơ sở lý thuyết có tên là lý thuyết dây (String theory) nhằm giải thích bản chất của vũ trụ. 

Lý thuyết dây giả thuyết rằng protron, electron, quark và tất cả các hạt cơ bản khác, chưa phải là những thứ nhỏ nhất và không thể chia nhỏ được, cơ học hiện đại cho rằng, nếu bạn phóng to một electron, một protron một quark lên bạn sẽ không nhìn thấy gì ở bên trong cả, vì chúng chính là những thứ nhỏ nhất, không thể chia được nữa. Lý thuyết dây lại cho rằng nếu phóng to những hạt cơ bản lên, bất cứ loại nào bạn cũng sẽ đều nhìn thấy một loại năng lượng nhỏ, dạng như một dây đàn ghi ta, đàn violon, đàn bầu, đàn cò, đang rung động, đang nhẩy múa với một tần số nhất định. 

Và nếu như các tần số, rung động khác nhau, của mỗi sợi dây đàn, tạo ra một nốt nhạc khác nhau, tần số của các dây năng lượng, tạo ra các hạt cơ bản khác nhau, với khối lượng, năng lượng và hành vi khác nhau. Nói cách khác, lý thuyết dây giả thuyết rằng, vũ trụ và vạn vật trong vũ trụ là tổng hòa vô vàn các sợi dây năng lượng rung động ở các tần số khác nhau, tớ là một số các sợi dây rung động, bạn là một số các sợi dây rung động, trái đất là một mả các sợi dây năng lượng đang rung động, không hơn không kém. 

Và vì giải thích được bản chất tồn tại của vạn vật trong vũ trụ, và bản thân vũ trụ, thông qua rung động của một đối tượng duy nhất là những sợi dây, lý thuyết dây được kỳ vọng là lý thuyết thống nhất đại diện cho toàn bộ vũ trụ. Nói đi, thì cũng phải nói lại, lý thuyết dây không tồn tại. Và nhấn mạnh, lý thuyết dây không tồn tại trong một vũ trụ chỉ 3 chiều không gian và 1 chiều thời gian, như những gì mà tớ và bạn đang cảm nhận. 

Nó cũng không tồn tại trong một vũ trụ 4, 5, 6, 7 chiều không gian, thay vào đó nó cần tới 10 chiều không gian và 1 chiều thời gian để tồn tại, vì vậy các nhà vật lý, đứng sau lý thuyết dây, có niềm tin mạnh mẽ rằng vũ trụ của chúng ta, thực sự có 10 chiều không gian và 1 chiều thời gian, tuy nhiên, 7 chiều còn thiếu là bởi chúng quá nhỏ để nhìn thấy, cảm nhận và thậm chí là đo đạc bởi những thiết bị tinh vi nhất của con người ở thời điểm hiện tại. 

Tin vui là, họ đang tìm cách, để kiểm tra sự tồn tại của chúng và thiết bị dùng để test 7 chiều không gian còn thiếu và sự tồn tại của chúng có lẽ không còn quá xa với khán giả yêu sách khoa học, chính là máy gia tốc hạt lớn (Large Hardon Collider viết tắt là LHC, của tổ chức hạt nhân Châu Âu CERN) Siêu thiết bị này được đặt trong một đường hầm hình tròn, chu vi gần 27Km, nằm giữa độ sâu từ 50 đến 175m, dưới biên giới Pháp, Thụy Sĩ. 

Bằng cách cho các hạt protron bay dọc đường hầm với vận tốc lên tới 0, 999. 999. 990 so với vận tốc ánh sáng, tức là chỉ chậm hơn giới hạn của vũ trụ 3,1 mét/ giây hay 11km/giờ. Các nhà khoa học kỳ vọng là sẽ tạo ra sự va chạm mạnh tới mức, là nó sẽ bắn ra vài mảnh vỡ protron, từ không gian 3 chiều của chúng ta, vào các chiều không gian còn lại, các nhà khoa học, sau đó đo tổng năng lượng trước và sau vụ va chạm, nếu năng lượng sau va chạm, nhỏ hơn năng lượng trước va chạm, chứng tỏ đã có một lượng nhất định năng lượng chui qua các chiều không gian khác, và rằng lý thuyết dây đã được củng cố một cách mạnh mẽ về mặt khoa học, và đáng tiếc là ngày đó vẫn chưa đến, tóm lại, con người ở thời điểm hiện tại, có thể vẫn chưa hiểu rõ về sự tồn tại của mình. Tuy nhiên có một điều chắc chắn rằng chúng ta sẽ không ngừng tò mò. <Hếttrích> 

Như vậy, sự giới hạn của KHHĐ ở 2 đầu, một đầu là vĩ mô với thuyết vụ nổ lớn, lan tỏa. Một đầu là vi mô là những dây cực nhỏ đang chuyển động không ngừng. Gọi là giới hạn vì KHHĐ không trả lời đươc trước BB thì vũ trụ ở trang thái nào, cái gì đã tạo ra BB. Và ở đầu vi mô kia là những dây (Strings) từ đâu mà phát sinh, và làm bằng chất liệu gì? 

Nhưng những bế tắc này, sẽ được giải thích ngọn ngành bởi Khoa Học Phi Hữu với Đồ Hình Liên Thông, Xa Lộ Thiền Định và Tân Trường Thống Nhất như sau đây. 

Những bài trước, đã cho chúng ta đã biết, ngài Stephen Hawking đã từng tuyên bố: “Trước Big Bang (BB) là không có gì cả”. Từ đó cho tới nay, Khoa Học Hiện Đại đã dựa theo lời tuyên bố đó để cho rằng trước Big Bang là KHÔNG. Và mọi người, Khoa Học Gia (KHG) hay không phải KHG đều BIẾT trước BB là KHÔNG, mà đã là KHÔNG thì không ai cần thắc mắc cái KHÔNG này từ đâu mà ra?  Và ai đã làm ra cái KHÔNG đó? 

Sự BIẾT KHÔNG của trước BB là chính do TÂM của chúng ta, BIẾT là TÂM và TÂM là BIẾT, TÂM và BIẾT là một, đều ở trong TÂM của mọi người. Biết và Tâm sẽ nhập thành 1 Đại Lượng. 

Và muốn nhìn thấy cái KHÔNG trước BB, chúng ta phải vào TÂM KHÔNG của chúng ta, cách vào TÂM KHÔNG chính là THIỀN ĐỊNH, vì khi trong THIỀN ĐỊNH thì tâm của chúng ta không có biến đổi gì trong đó cả, nhưng chúng ta vẫn BIẾT. Khi nhập vào THIỀN ĐỊNH sự thấy cái KHÔNG như thế nào, thì cái tướng dạng của vũ trụ trước BB là như thế đó. Nó sẽ là cái KHÔNG, không ngằn mé bao la. Và tất cả chúng ta đều có thể thực hiện TÂM KHÔNG này, để có thể thể nhập vào nó. 

Bằng những sự chỉ dẫn căn bản của các phương pháp THIỀN, của các tông phái của Phật Giáo, tất cả chúng ta đều có thể thực tập và thể nhập TÂM KHÔNG rồi vào THIỀN ĐỊNH, vào thường xuyên và quen thuộc, xuất nhập trong THIỀN ĐỊNH, thì là ta đã quen thuộc vào trong Xa Lộ Thiền Định (XLTĐ). 

Qua sự giải thích này, chúng ta tư duy rằng, trước Big Bang vũ trụ ở thể TÂM KHÔNG (Còn gọi là Vô), tướng dạng của nó là một ĐẠI ĐỊNH. Có thể thấu hiểu và thực hiện bởi từng con người chúng ta. 

Vũ trụ ở thể TÂM KHÔNG này có 4 giá trị thực tế là: THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH. Thường là mãi mãi như vậy, không bao giờ thay đổi, là trạng thái luôn luôn ở trong THIỀN. LẠC còn gọi là ĐẠI LẠC là trạng thái lúc nào cũng sung sướng, hạnh phúc trong thanh nhẹ, ví như TÂM đang nghe một bản đại hòa tấu với những cung bậc tuyệt hay. NGÃ là sự hiện hữu, nhưng không chạy theo, không biến đổi theo bất cứ điều gì cả, còn gọi là NGÃ VÔ SANH. TỊNH là sự bình lặng với lòng yêu thương tất cả, còn gọi là Đại Bi. 

Bốn giá trị này của vũ trụ thể TÂM KHÔNG, thì 3 giá trị là thường, ngã và tịnh đã cân bằng, riêng Đại Lạc có sự chuyển đổi cung bậc hầu tạo ra sự thoải mái cho LẠC, sự thay đổi này khiến tạo ra nhiều cung (dây) lạc, những dây lạc này thải ra từ đại lạc trong vũ trụ thể KHÔNG (Vô), tìm chặp vào nhau, những cung lạc cao tìm tới những cung thấp, những cung vui tìm chặp vào cung trầm, đó là những tiến trình tự nhiên, do sự khác nhau của bản chất. 

Tợ như 2 viên nước đá, khi cho vô 1 ly nước nóng, nhiệt lượng vùng ngoại biên tan nhanh hơn bình thường, khiến nhiệt lượng ở trung tâm chạy nhanh ra ngoài để  bù đắp nhiệt lượng mất đi, tạo sự chênh lệch nhiệt ở vùng ngoại biên, nên chúng hút chặt vào nhau, 2 cung lạc trong vũ trụ thể không tìm chặp vào nhau do sự khác biệt, cũng chặp vào nhau như vậy, nhưng ở vũ trụ thể không, những hằng số vũ trụ chưa thành lập, nên chúng sụp đổ vào trong, sự sụp đổ này, gọi là sự sụp đổ nhỏ (Small Crunch) 

Từ sự sụp đổ này, chúng quyến rũ những sự sụp đổ của những cặp lạc khác xung quanh, để đi tới sự sụp đổ lớn hơn, khi tới chân trời biến cố, vì những yếu tố: Càng lúc càng quyến rũ những sự sụp đổ khác xung quanh do ái lực, chúng cũng không thể thoát ra ngoài, càng lúc càng gần tới một dị điểm. Khi càng lúc càng gần một dị điểm, để đi tới một sự sụp đổ lớn, chúng sẽ trở thành là Big Bang lan tỏa, như thực tế giải thích của Khoa Học Hiện Đại.

Thời gian bắt đầu từ sự biến đổi từ Big Crunch sang Big Bang, như vậy biến đổi và thời gian sẽ nhập thành một đại lượng “Biến Đổi & Thời Gian”, là một hỗn hợp thực tế, có tuổi đời già là 13, 7 tỷ năm. Nhưng với một Tâm Thiền thì thời gian đó chỉ là ảo ảnh, vì trong Thiền sẽ không có thời gian nào trôi đi cả. 

Hai Dây (cung) Lạc thoát ra từ Vũ Trụ Thể Tâm Không, tìm chặp vào nhau vì sự khác biệt và cô đơn, có phải là một nhận định tùy tiện, hư cấu không? Thưa không, đó là nhận định dựa trên sự kiện thực tế. Hai con người ngày nay, tìm chặp vào nhau (vì nhu cầu yêu đương, làm tình với nhau) rồi sụp đổ vào trong trước tiên (small crunch), kế tiếp trong tiến trình tiến tới bùng nổ khoái cảm xuất tinh đạt kích ngất (Big Bang), cũng chỉ là lặp lại phiên bản đầu tiên, khi 2 cung lạc chặp vào nhau ở Vũ Trụ Thể Tâm, từ lúc khởi đầu để thành Vũ Trụ biến đổi, sinh diệt Big Bang mà thôi. Không có sự liên kết nào rõ ràng hơn thế nữa? 

Vã lại, Khoa Học Hiện Đại cũng đã có nhận định tương tự, có điều là Khoa Học không đẩy nhận định đi tới rốt ráo, sau cùng mà thôi. 

Heisenberg: Werner Heisenberg won the 1932 Nobel Price in physics đã tuyên bố: 

“Thế Giới giống như một chuỗi phức tạp sự kiện, trong đó những mối liên hệ sự kiện đan xen vào nhau, chúng chập lên nhau và kết hợp với nhau, qua đó quyết định nền tảng tổng thể”]. 

Những Dây Lạc có đầy trong từng con người, đã thôi thúc con người tim đến nhau, rồi chặp vào nhau, đúng như sự nhận xét của Khoa Học Hiện Đại và sự kết luận của Khoa Học Phi Hữu. Nếu không có sự chặp vào nhau, thì không có thế giới, cũng như không có Big Crunch thì không có Big Bang, đó là một thực tế. 

Thưc tế này, dắt tới kết luận thực tế khác: Thế giới và con người ngày nay, thúc đẩy thế giới tiếp tục đi tới bằng tình yêu và dục lạc, thì ở giai đoạn Vũ Trụ khởi đầu cũng bắt đầu bằng 2 dây (cung) Lạc chặp vào nhau, chung quy cũng vì khuynh hướng dục và ái lực (tình yêu) mà thôi. Kết luận trước Big Bang là một Big Crunch là một thực tế. Và Big Crunch chính là Vũ Trụ Phi Hữu. Như vậy Vũ Trụ Vô, Vũ Trụ Phi Hữu, Vũ Trụ Hữu Vi và các Thế Giới khác trong đó đã được giải thích rõ. 

Như vậy, vĩ mô của vũ trụ là Big Bang, đã được hình thành từ những vi mô là những dây lạc thoát ra từ Đại Lạc của vũ trụ thể TÂM với 4 giá trị là THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH, những dây lạc chính là những LẠC THỌ đã có mặt ở mọi nơi, tất cả mọi vật chất, con người, sinh vật và các hạt nhỏ nhiệm cùa các hành tinh, thiên thể và ở cả trong XLTĐ. Trong XLTĐ chúng cũng chính là những lạc thọ. Khoa Học Hiện Đại với Lý Thuyết Dây cho rằng: (Diễn giải thêm từ tác giả) 

<Trích và sửa đổi một tiểu đoạn>…“Nói cách khác, lý thuyết dây giả thuyết rằng, vũ trụ và vạn vật trong vũ trụ là tổng hòa vô vàn các sợi dây năng lượng rung động ở các tần số khác nhau, con người và vạn vật là một số các sợi dây rung động, vật chất là một số các sợi dây rung động, trái đất là một mả các sợi dây năng lượng đang rung động, tất cả các thiên thể trong vũ trụ cũng là những sợi dây đang rung động, không hơn không kém, các thiên thể sẽ không có những sợi dây đang rung động, nếu chúng không tạo bởi các hạt…” <Hếttrích> 

Từ năm 2016 trang 122 của Tuyên Ngôn Về Thể Trạng Vũ Trụ Tiền Big Bang (TNVTTVTTBB) & Năm Lý Thuyết Mới (NLTM) đã viết: Tóm lại, sự thành lập vũ trụ Big Bang theo lập trình như sau: 

…Vũ Trụ Đại Định, thể Tâm gồm thường, Lạc, Ngã, Tịnh với Đại Lạc đào thải những cung bậc cũ ra è Hai Cung Lạc (các dây theo lối gọi mới) chặp vào nhau, co cụm, xẩy ra è Ái lực tạo ra từ 2 cung Lạc quyến rũ những sự co cụm khác tạo raè Big Crunch, khi tới chân trời biến cố, sẽ tạo ra vô cùng nặng, vô cùng nóng è Big Bang nổ bùng, lan tỏa, sinh è … 

Đối với Lý Thuyết Dây, thì con người và vạn vật là tổng hòa những sợi dây năng lượng luôn luôn nhẩy múa với tần số khác nhau, rồi tạo ra những hạt cơ bản khác nhau. Trong khi TNVTTVTTBB kết luận Vũ Trụ thể Tâm Không đầy rẫy những cung (Dây Lạc) lạc trầm bổng, đã đào thải khỏi Đại Lạc vì sự thay đổi cung bậc của chính Đại Lạc. Những Dây đang quẫy lộn, quay cuồng trong vạn vật chính là những Lạc Thọ, là 1 trong 4 giá trị của Vũ Trụ Thể Tâm 

Khi hành giả trong trạng thái thiền định miên mật, thì hành giả trong Xa Lộ Thiền Định, sẽ cảm nhận những Lạc Thọ, tức những dây Lạc (Bliss String). Như vậy Bliss String (Dây Lạc) ở khắp mọi nơi, chúng ở trong Vũ Trụ Thể Tâm Không, trong Xa Lộ Thiền Định (Tức siêu chiều, chiều chung kết), trong vạn vật, trong mỗi con người (Chúng ta sẽ thấy rõ, cảm thọ Lạc này khi trong thiền định), trong các hạt, và trong các chiều không gian khác. 

Kết luận: Dây Lạc (Bliss String) hay còn gọi là Lý Thuyết Dây chính là thành phần cơ bản, nối kết giữa Khoa Học Hiện Đại và Khoa Học Phi Hữu (Có thiền định, là có Lạc Thọ) Tức những Dây Lạc (Bliss Strings), những Lạc Thọ cũng chính là cuốn sổ thông hành để chúng ta có thể câu thông với các chiều không gian khác, còn gọi là các thế giới khác, các cõi giới khác, qua các exit 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6… hay exit (n+1), bằng Xa Lộ Thiền Định tức các cách thiền căn bản đã được chỉ dẫn từ các giảng sư Phật Giáo. 

Tới đây, chúng ta đã thấy, tất cả những bí ẩn của Vũ Trụ Vô, Phi Hữu, Hữu đã được giải thích trọn vẹn và rõ ràng. Tuy là tóm tắt, nhưng thật sự câu trả lời cho nguồn gốc của Vũ Trụ, và những liên hệ tuyến tính của chúng cũng chỉ đơn giản như thế thôi. Tôi gọi tư duy này là những tư duy phi hữu, lý thuyết từ phi hữu, lý thuyết này cần hợp tác với một tư duy toán học để biến nó thành sự giải thích thực tế và khoa học. Từ sự giải thích cơ bản như sau: 

Tạm đặt vũ trụ nguyên thủy là Y, vũ trụ hiện hữu là Y’. Big Bang là X, tạo thành bởi những sự sụp đổ nhỏ là Small Crunch, gọi là x, nhiều x tụ tập với nhau, để thành Big Crunch, nên chúng ta viết X = x n+1thời gian tbắt đầu vào giữa lúc chuyển đổi từ Big Crunch sang Big Bang (BB), sau đó BB liên tục trương nở, nên xin gợi ý bằng công thức như sau:  Y = Y’ (x n+1 + t+ X n+1). 

Mong có một cao nhân nào giỏi toán, giải thích, triển khai công thức này chi tiết, xin cám ơn. 

Để hiểu thêm về Vũ Trụ Vô, và về sự thành lập nên Vũ Trụ Phi Hữu, Vũ Trụ Big Bang hay Vũ Trụ Hữu Vi chi tiết hơn, tác giả xin hân hạnh giới thiệu Tuyên Ngôn Về Thể Trạng Vũ Trụ Tiền Big Bang (Bản 2) hiện đang có mặt trên Amazon.com. 

Xin cám ơn và xin chào đoàn kết cùng các đọc giả của Diễn Đàn Thật Nghĩa.




SƯƠNG LAM: MỘT CÕI THIỀN NHÀN -Tâm Tình Của Người Con Trong Ngày Vu Lan

Tâm Tình Của Người Con Trong Ngày Vu Lan

Vulanmiabaohieu.jpg

Đây là bài số bảy trăm hai mươi lăm (725) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ Oregon Thời Báo.   

 Nhân Mùa Vu Lan năm nay, để mở đầu cho bài tâm tình hôm nay, mời Bạn xem youtube  Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát do anh Tiến TS  ở Thụy Sĩ thực hiện để tặng người viết.

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ tát – Tiến TS,

Xin cảm ơn anh Tiến TS, người bạn văn nghệ tài hoa và có lòng tốt với bạn hữu, dù ở phương trời xa xôi vẫn có tâm thành hướng về chư Phật và bạn hữu nhân dịp Lễ Vu Lan.

 Đã bao lần tôi nghe bài hát Bông Hồng Cài Áo mỗi độ Vu Lan về là đã bao lần tôi lại thấy rưng rưng xúc động với lời nhạc êm ả, trữ tình đầy tình thương yêu trìu mến của Thầy Nhất Hạnh và nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ:

“Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho anh
Và một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười

Ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm….

 Mẹ, Mẹ là dòng suối dịu hiền
Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối

Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời ”

 Khi nhận được đoá hoa hồng màu đỏ hay màu hồng cài trên ve áo bạn hãy vui sướng đi:

VuLanMuaHieuHanh 2021.jpg

“Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh, thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi.”

Hình như khi còn trẻ, chúng ta không biết hay chưa biết thương yêu cha mẹ vì chúng ta còn bận lo những chuyện khác mà ta cho rằng đó là quan trọng đối với chúng ta hơn như học hành, yêu đương, rong chơi với bè bạn, theo đuổi lý tưởng hay sự nghiệp v…v…

Bởi thế có đôi lúc ta đã:
“Có đôi lúc ta quên nhìn trán Mẹ
Còn bao nhớ thương dù ta lớn khôn rồi

Có đôi lúc ta quên thời gian qua
Đường ta càng xa, vòng tay Mẹ ngắn lại”

Năm nay tôi lại nghẹn ngào khi xem 2 youtube về Mẹ được phổ nhạc chỉ mấy vần thơ ngắn ngủi cũng đủ nói lên niềm thương nhớ mẹ hiền của tác giả  BS Đỗ Hồng Ngọc và nhà thơ Đỗ Trung Quân.

 Mời bạn cùng  cảm thông tâm sự của 2 tác giả này nhé.

1-BÔNG HỒNG CHO MẸ – Nhạc Võ Tá Hân – Thơ Đỗ Hồng Ngọc – Ca sĩ Diệu Hiền

Con cài bông hoa trắng
Dành cho mẹ đóa hồng
Mẹ nhớ gài lên ngực 

Ngoại chờ bên kia sông

(Bông hồng cho Mẹ, 2012, Đỗ Hồng Ngọc) 

2- MẸ TA TRẢ NHỚ VỀ KHÔNG | LÊ VỸ

Là sáng tác của Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh (3T) phổ thơ Đỗ Trung Quân. Lê Vỹ trình bày.2019

Ngày xưa chào mẹ, ta đi

Mẹ ta thì khóc, ta đi thì cười

Mười năm rồi lại thêm mười

Ta về thì khóc, mẹ cười lạ không

Ông ai thế? Tôi chào ông

Mẹ ta trí nhớ về mênh mông rồi

Ông có gặp thằng con tôi hao hao…

Tôi nhớ… Nó …người …như ông.

Mẹ ta trả nhớ về không Trả trăm năm lại bụi hồng…

 rồi…

 đi…

anh-me-gia-ngong-con.jpg

Mừng cho bạn nhận được cánh hoa màu hồng cài trên ve áo và cầu nguyện cho cha mẹ hiện tiền biết quy ngưỡng Tam Bảo, thân an trí lạc, phước huệ song tu.

Cũng xin được chia sẻ nỗi buồn đau của những người đã không còn cơ hội để nói lên những lời yêu thương hay tạ tội này vì cha mẹ đã qua đời

“Nay mất mẹ, bây giờ tôi mới hiểu
Thế nào là tình mẫu tử thiêng liêng
Ngôn từ nào định nghĩa chữ Mẹ hiền:
Là Đức Mẹ, là Quan Âm, thị hiện”

(Thơ Sương Lam)

 Xin  mượn lời của thi sĩ Đỗ Trung Quân nói lên lời tâm tình của người con nhân ngày Vu Lan  và cầu nguyện cho mọi người con trong trần thế hãy kính yêu Cha Mẹ khi còn tại thế để:

“Con sẽ không đợi một ngày kia,   
Khi Mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc  
Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ?  
Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt  
Chạy điên cuồng qua tuổi Mẹ già nua … “

Và bạn sẽ đau buồn khi nhận trên tay cánh hoa hồng màu trắng:

 Ôi! Buồn lắm!  Hoa hồng màu trắng đó!

Trên áo tôi! Tôi mất Mẹ lẫn Cha

Mùa Vu Lan khi nghe đến bài ca

Bông Hồng Cài Áo! Lệ nhòa đôi mắt!

(Trích trong bài thơ Màu Hoa Hồng Cài Áo của Sương Lam)

Xin cầu nguyện cho Cha Mẹ đã quá vãng sớm siêu thoát nơi miền lạc cảnh.

ViLamMuaHieuhanh DiaTangBotat.jpg

 Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát

Chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé. 

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam

(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 725-ORTB 1156-8-21-24)

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam




TRẦN CÔNG – LÃO MÃ SƠN: Hồi Ức Đời Tôi

Hồi Ức Đời Tôi

Gối chiếc chăn đơn nhiều đêm khó ngủ

Nhìn bóng đêm gẫm lại cuộc đời tôi

Một cuộc đời đã gặp nhiều phong vũ

Rời bỏ quê hương đất khách nổi trôi.

*

Khi còn trong nước như trên Mỹ quốc

Tôi đã từng lang bạt khắp đó đây

Đôi giày giang hồ mòn gần hết gót

Chiếc áo phong sương sờn cả đôi vai.

*

Đời tôi lắm cảnh thăng trầm vinh nhục.

Đã từng ngồi tù, có lúc làm quan

Đã có một thời nhà cao cửa rộng

Cuộc đổi đời làm sự nghiệp tiêu tan!

*

Cuối đời trắng tay, thành kẻ không nhà

Phải nương thân trên gác trọ Nhà Già

Cho đến ngày từ giã cõi trần gian

Rồi, thân cát bụi sẽ trở về cát bụi.

*

Hoa Đô (Lockwood House) 2024

Trần Công/Lão Mã Sơn




CA KHÚC Nhớ Anh | Thơ: Phạm Phan Lang | Nhạc: Thái Phạm | Ca sĩ: Diệu Hiền

Ca khúc:  Nhớ Anh
Thơ:  PhamPhanLang
Nhạc:  Thái Phạm
Ca sĩ:  Diệu Hiền
Hòa âm:  Quang Đạt
Video:  Thái Pham thực hiên với hình ảnh PL, vườn nhà, núi Ko’OLau và Vịnh Kaneohe trước mặt nhà PL ở Hawaii.

Nhớ anh

Đêm qua anh không viết
Em thấy giận anh rồi
Cả ngày nay mong ngóng
Về đọc thư anh thôi

Nhớ vòng tay âu yếm
Nhớ tia mắt nồng nàn
Nhớ nụ cười trìu mến
Nhớ anh nhớ miên man

Ngày mai anh phải viết
Thư dài hơn gấp đôi
Nếu không em sẽ giận
Sẽ hờn anh chết thôi….

PhamPhan Lang




KIỀU MỸ DUYÊN -THI SĨ CHINH NGUYÊN RA MẮT SÁCH RẤT THÀNH CÔNG.




GS/TS MAI THANH TRUYẾT – Trả Lại Thiên Nhiên Cho Thiên Nhiên! & Bài Chuyển Dịch Từ YouTube Của Andrew Millison.




KIỀU MỸ DUYÊN: ĐẠI LỄ VU LAN Ở CHÙA PHỔ ĐÀ




THÁI NỮ LAN SƯU TẦM: NHỮNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI SÁCH CŨ SÀI GÒN

NHỮNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI SÁCH CŨ SÀI GÒN

Sách vở, báo chí miền Nam trở thành món ăn tinh thần là do công sức của các nhà văn, nhà phê bình, giáo sư đến các học giả.
Điều hiển nhiên là thế.
Nhưng sức bật, sự tác động để phổ biến những văn hoá phẩm ấy là nhờ vào một số  lớn nhà xuất bản có công với Văn Học.
Họ là những nhà xuất bản như
Trình Bày, Nam Sơn, Nguyễn Đình Vượng, Văn Hoá Á Châu, Diên Hồng, Xưa nay, Khai Trí, Lá Bối, An Tiêm. Những nhà xuất bản này đã đóng góp vào việc xuất bản 200 triệu cuốn sách trong 20 năm.
Con số thật không nhỏ.

1.- Ông Khai Trí :

Chẳng mấy ai biết tên thật của ông, thành ra thương hiệu nhà sách KT,
62 Lê Lợi được đồng hoá vào tên ông. Thật ra tên ông là Nguyễn Hùng Trương, với hai tay trắng làm nên sự nghiệp.
Ông vừa là một doanh gia,
vừa là người làm văn hóa.
Ông biên soạn khoảng 15 cuốn sách như Thơ tình Việt Nam và thế giới chọn lọc, Chánh tả cho người miền Nam…
và chủ trương tuần báo Thiếu Nhi cùng với Nhật Tiến.

Sau 1975 , nhà sách KT là nạn nhân của nạn hôi của, đốt phá.
Sách vở tung toé khắp nơi từ trong nhà sách ra ngoài đường.
Tôi đã chính mắt chứng kiến cảnh ấy trong nỗi bất lực, bất lực của một người tự xếp hàng vào người thua cuộc.
Tôi không biết lúc bấy giờ ông Khai Trí đứng ở đâu.
Đứng ở đâu thì cũng cùng tâm cảnh đau xót đó thôi.
Khi đã chứng kiến cảnh này rồi thì đừng bảo tôi có thể nghĩ hay cho những người mới đến.
Họ không hiểu được điều đó vì quá hăng say trong men chiến thắng hay họ chưa bao giờ biết nghĩ tới người dân muốn gì, nghĩ gì.
Tiếp theo đó là hai kho sách lớn cũng bị trưng thâu. Hằng vài trăm ngàn cuốn sách ra khỏi kho, rồi biến mất dạng.

 Ông trắng tay sau bao nhiêu năm tốn công gây dựng.

 Sau này, ông ở Mỹ về VN một lần nữa, mang theo hy vọng làm được một chút gì cho đất nước.
Ông đã mang về 2000 đầu sách để tiếp tục làm Văn hoá.
Sách bị tịch thâu với lý do :
in trước 75.
Theo Nguyễn Thụy Long,
phần lớn sách bị tịch thâu là các loại sách Học Làm Người, báo chí quý hiếm trước 1954, như bộ Loa rất nổi tiếng.
Sách ông mang về ai cũng biết là sách về giáo dục, sách hiền, sách tốt cả.
Mà dại gì ông mang sách dữ,
mà làm gì kiếm ra đâu được sách dữ. Nó chỉ có một cái tội :
Tội đã in trước 1975.
Trước 75 là xấu,
vi phạm luật.
Sau 75 là tốt.
Ông đau lòng vì sách,
ôm đơn đi kiện.
Kết cục chẳng đi đến đâu.

Trước khi ông mất,
người ta đã không quên đặt tên ông cho một con phố nhỏ.
Đúng như ông thày TQ nhận xét :
Hôm qua nó giết mình,
hôm sau nó mang vòng hoa đến phúng điếu.

Ông ra đi lúc 5h15 ngày 11/3,
linh cữu hiện quàn tại nhà riêng
 (237 Điện Biên Phủ, quận 3, TP HCM), lễ động quan lúc 6h ngày 14/3,
hỏa táng tại Bình Dương.
Nguyện vọng của gia đình là gửi tiền phúng điếu vào quỹ từ thiện thành phố.

Cụ Toan Ánh, năm nay 91 tuổi,
trong bữa đưa đám ma ông Khai Trí than thở:
tại sao mình sống lâu như thế,
ông Khai Trí mới có 80 tuổi.

2- Nhà Lá Bối :

nhà Lá Bối do nguyên Đại đức Từ Mẫn, tên thật là Võ Thắng Tiết trông nom.  Sau ông hoàn tục.
Ông là người có lòng, để việc phụng sự văn học nghệ thuật lên trên tiền bạc. 
Từ Mẫn đã giúp các nhà văn có nơi xuất bản những đầu sách có giá trị và người đọc có cơ hội đọc những cuốn sách trang nhã, chăm sóc từng chút trong việc trình bầy ấn loát và cả đến nội dung sách.
Tất cả sách của Nhất Hạnh đều từ đây mà ra.
Nếu không có Lá Bối,
những
Chiến tranh và Hoà Bình,
Chiến Quốc Sách,
Sử Ký Tư Mã Thiên,
Kiếp người của Sommerset Maugham, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay

Lối thoát cuối cùng của V. Georghiu sẽ nằm ở đâu?
Nếu không có Lá Bối,
nhiều sách chắc gì đã có cơ hội ra mắt bạn đọc.
Nhất là bộ Chiến tranh và Hoà Bình của Léon Tolstoi.
Sách in tốn vài ba triệu thời bấy giờ, bao giờ lấy lại vốn.
Sau này, ở Hải ngoại, ông tiếp tục làm công tác văn học với nhà xuất bản Văn Nghệ.
Nếu cần một vinh danh gì cho 20 năm Văn học dịch nói riêng và Văn học nói chung, có cần nên nhắc đến Võ Thắng Tiết không?
Kẻ lót đường cho Văn học miền Nam

3.- An Tiêm
Thanh Tuệ.

 Tôi chỉ xin trích dẫn ba bài viết lúc mà Thanh Tuệ nằm xuống để thấy được rằng nhà xuất bản An Tiêm với Thanh Tuệ có lòng với văn chương như thế nào.

 * Thái Kim Lan về Thanh Tuệ:

Hình như dưới tay anh tác phẩm được in nào cũng mang một chút lòng trân trọng của anh như thế đối với tác giả và độc giả, một nét cười bao dung mời gọi, vừa cảm khái liên tài vừa khuyến khích thúc dục, một nhịp nối uyển chuyển tài hoa giữa giãi bày tâm sự và tìm kiếm tri âm trong chữ nghĩa và tri thức, giữa người và người…
An Tiêm đã khai phá, mở cửa khu vườn văn học của các nghệ sĩ trẻ miền nam trong khung cảnh sôi động của thập niên 60…

* Tiếc Văn Chương, thương chữ nghĩa, Trần Thị Lai Hồng.

Biết là vô thường, nhưng vẫn không khỏi tiếc thương.
Tôi tiếc thương người An Tiêm Thanh Tuệ hiền hòa đã đành,
mà  nỗi tiếc Thương Văn Chương chữ nghĩa còn trĩu quá nặng.

 Thôi từ nay, còn ai khổ công lặn lội tìm tòi đãi lọc để phổ biến văn chương như đã từng với Tuệ Sĩ, Bùi giáng,
Sao Trên Rừng, Nguyễn Đức Sơn.
Thôi từ nay còn ai trân quý nâng niu bảo trọng chữ nghĩa như đã từng với Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột,
Mười Hai con Mắt.. Đêm Nguyệt Động, Cái chuồng khỉ và còn nhiều,
rất nhiều công lao với văn học đã, đang và chưa thực hiện được.

* Với nhà văn Lê Thị Huệ:

 Rồi bỗng nhiên nghe tin Ông chết. Đặng Ngọc Loan hôm trước rủ đi uống cà phê với Ông một lần,
gọi điện thoại nói với tôi:
Tin gì kỳ cục.
Sao người vậy mà chết nghe kỳ cục quá.

4.- Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, Sàigòn.

Có lẽ phải nói đây là một ông Khai Trí thứ hai.
Trong một dịp đi dự một buổi phát giải thường, do cái TTNCBTVPHVHDT. Viết tắt thế để quý vị khỏi mất thời giờ với cái Trung Tâm đó.
Tôi có gặp anh Võ Thành Tân,
Tổng giám đốc nhà sách Thành Nghĩa và nhất là  anh Vũ Quang Trình,
trợ lý TGĐ trong bữa ăn trưa đó.
Gốc gác các anh đều là dân Quảng Nam, Quảng ngãi mà người dân gọi đùa là:
Cộng Hoà Xã Hội chủ nghĩa Việt Nam Quảng Nam, Đà Nẵng.
Gọi như thế để  thấy cái dân ngoài đó đi theo đảng nhà nước tận tình.
Nay sau 30 tháng tư, Họ,
những người dân miền ấy có mặt khắp nơi, nhất là trong ngành báo chí,
xuất bản.
Các báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên v.v. đều có người của họ.
Chẳng hạn báo
Thanh Niên có Nguyễn Công Khế,
Tuổi Trẻ có Hùng Sơn Phước,
Công An thành phố Trần Trữ Lang,
Sài gòn time có Võ như Lanh,
Kinh tế VN có Cung Văn, Nhất Ánh..

Võ Thành Tân, sau 75 đang còn học Văn Khoa.
Với cái vốn liếng ấy đâm ra hữu dụng, anh làm nghề mua bán sách cũ.
Biết sách nào quý, biết sách nào giá trị là sở trường của một người mua bán sách cũ.
Có tý vốn rồi, anh mua lại một cái ki ốt bán sách lẻ ở đường An Dương Vương. Kịp đến thời mở cửa, 1986..
Theo lời anh Trình, các anh liên kết với các nxb của nhà nước để in sách.
Họ đứng tên, cho giấy phép rồi họ mặc cho mình muốn làm gì thì làm.
Một cuốn sách mới đầu ít vốn in 1000 cuốn thăm dò. Bán chạy thì in lại,
bán tiếp.
Một năm mới đầu xuất bản 4, 5 đầu sách, rồi cứ thế tăng dần.
Đến năm 2004 thì đã cho xuất bản đến 3000 đầu sách đủ loại.
2005 tăng lên 3500 đầu sách một năm.

Nay thì các anh trở thành tỉ tỉ phú trong ngành xuất bản.
Ngoài ra, các anh còn mở ra hàng trăm cửa hàng bán sách với hàng ngàn nhân viên. Hỏi sao có nhiều nhân viên như thế. Trả lời là để trông chừng những khách hàng ăn trộm đồ trong tiệm sách.

 Có những tiệm sách lớn có đến 40 chục ngàn đầu sách đủ loại.
Làm gì  còn có những Thanh Tuệ, những Từ mẫn nữa.
Làm gì còn có Lá Bối, An Tiêm,
Nam Sơn nữa.
Làm gì còn có *Loan mắt Nhung*  nữa.

Thôi chào vĩnh biệt sách cũ Sàigòn. Chào những đứa con tinh thần sinh trước 1975 còn sót lại.
NVL

Nguyễn Văn Lục

Nguồn fb Xuyên Sơn




GIAO CHỈ SAN JOSE – Tháng Bảy 1954: 70 Năm Sau, Từ Khi Đất Nước Chia Đôi.

Tháng Bảy 1954: 70 năm sau, từ khi đất nước chia đôi

Giao Chỉ San Jose

1 GC.jpg
2 GC.jpg

(Viết cho bằng hữu tháng tư 1954. Chúng tôi 300 thanh niên trình diện trại Ngọc Hà động viên vào Đà Lạt cùng hát bài ca Hà Nội ơi, năm 20 tuổi chưa từng biết yêu. Sau 21 năm chinh chiến, tháng tư 75 khóa Cương Quyết hát tiếp. Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay theo mây chiều. 

Ngày nay, tháng 7-2024 vào nursing home thăm bạn cùng khóa. Ba anh bạn đại tá lữ đoàn trưởng mũ xanh mũ đỏ cùng đại đội võ bị ra đánh trận Quảng Trị chỉ còn Ngô Văn Định. Ghé lại bên tai nghe Định hỏi nhỏ:  

– Bên ngoài còn mấy thằng?  

– Còn liên lạc được 4 thằng. Ngoài 90 cả rồi. Tôi báo cáo. Thằng Luyện mới đến thăm. 

– Định nói. Luyện nhảy Bắc 21 năm biệt giam mà còn sống. Hay thật. 

– Tôi nói. Bạn yên tâm. Ngoài này còn thằng nào chơi thằng đó. 

– OK, bạn còn sống lo cho anh em.)

***************

Ngày 20 tháng 7 năm 2014 ghi dấu 60 năm hiệp định Geneve chia đôi đất nước, chúng tôi tổ chức kỷ niệm đêm giã từ Hà Nội. Có các chiến binh Việt Nam trong quân đội Mỹ về tham dự. Ca sĩ Ý Lan trình diễn những bài ca quê hương. Chúng tôi có dịp nhắc lại kỷ niệm từ ngày rất xa, khi còn là thiếu niên trong thời kháng chiến đứng sau cột đình làng Bình Hải, huyện Yên Mô nghe cô Thái Thanh rất nhỏ bé hát bài ca cho chương trình Bình Dân Học vụ. Lời ca thánh thót của thời thơ ấu mà vẫn còn nghe vang vọng tuổi hoa niên. Ai về chợ huyện Thanh Vân, hỏi thăm cô Tú đánh vần được chưa,,,?.Trải qua biết bao dâu bể. Ngày nay vẫn còn may mắn ngồi nghe con gái của cô Thái hát rằng: Quê hương tôi, có con sông đào xinh xắn.

Hôm nay, ngồi đọc lại bài viết cũ về chuyện còn sông Bến Hải đã trở thành câu chuyện 70 năm.

Tuổi cao niên già thêm 10 năm, nhưng lịch sử đất nước chia đôi trên căn bản vẫn không thay đổi. Xin soạn lại gửi đến bằng hữu độc giả như sau.

Viết cho ngày 20 tháng 7-1954

Đất nước bị chia cắt 54 quả thực là thảm họa, nhưng thống nhất 75 là còn khốn nạn hơn. Để hoàn thành công cuộc gọi là “Giải phóng miền Nam”, Việt Cộng đang phải trả nợ bằng cả núi sông. Vì câu chuyện thời sự hôm nay, chúng ta cùng nhớ lại chuyện hôm qua. 70 năm trước cũng vào ngày tháng này, người Việt di cư lần thứ nhất.

Tháng 7 năm 2024 có gợi nhớ cho người Việt tỵ nạn chúng ta một chút kỷ niệm nào không? Cách đây 70 năm vào tháng 7 năm 1954, Hiệp Định Genève chia đôi đất nước. Hôm nay, từ hơn nửa thế kỷ và một đại dương xa cách, xin có đôi lời ghi lại. Trước hết là một số sử liệu, nhắc lại một lần vào cuối cuộc đời.
Tháng 9-1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh, Thế chiến thứ II chấm dứt chính thức trên mặt trận Thái Bình Dương. Hồ Chí Minh lãnh đạo đảng cộng sản tuyên bố Việt Nam độc lập. Người Pháp trở lại Đông Dương.
Ngày 19 tháng 12-1946, toàn quốc kháng chiến. Vào những ngày của mùa Thu khói lửa năm xưa, tất cả thanh niên Việt Nam đều đứng lên đáp lời sông núi. Phạm Duy đã viết lời ca như sau: Một mùa Thu năm qua, cách mạng tiến ra đất Việt, cùng ngàn vạn thanh niên vung gươm phá xiềng. Bài ca này miền Nam đã dùng mở đầu cho cuốn phim Chúng tôi muốn sống. Vào những ngày đầu kháng chiến tôi mới hơn 14 tuổi. Tuổi măng non thơ dại và hào hứng biết chừng nào. Vào thời gian này, không ai biết gì về Quốc Cộng. Người ta nói rằng: Khi cách mạng mùa Thu, anh 20 tuổi, anh không theo kháng chiến, anh không phải là người yêu nước. Và tôi là cậu bé con của trường Cửa Bắc, Nam Định tản cư về Yên Mô, Ninh Bình cũng bắt đầu bài học yêu nước nồng nàn.

Sau này mới học được những danh ngôn thần diệu khác. Khi chủ nghĩa cộng sản ra đời, anh 20 tuổi, không theo cộng sản, anh không có trái tim. Hai mươi năm sau, anh chưa bỏ cộng sản. Anh không có khối óc.

Hà Nội và Nam Định tản cư, sinh viên học sinh gia nhập tự vệ thành mang dấu hiệu sao vàng tham dự vào trung đoàn thủ đô. Trong Nam các thanh niên tiền phong Sài Gòn cầm gậy tầm vông hợp đoàn chống Pháp.

Cho đến ngày nay, tất cả các vị cao niên 80 tuổi trở lên chắc hẳn còn nhớ về mùa Thu khói lửa năm xưa của thời kỳ 1946. Rồi tiêu thổ kháng chiến, rồi tản cư, rồi về Tề, còn nhớ biết bao nhiêu ngôn ngữ đặc thù của cả một thời thơ ấu.

Ba năm sau, tháng 3-1949, vua Bảo Đại từ Hương Cảng trở về. Bình minh của phe quốc gia mới bắt đầu nở hoa cay đắng trong vòng tay của quân đội Liên Hiệp Pháp.

1950: Cuộc chiến vẫn tiếp tục trên toàn thể đất nước cho đến năm 1950. Một năm nhiều dữ kiện. Tháng giêng, Trung Cộng công nhận cộng sản Việt Nam. Tháng 2, Hoa Kỳ công nhận Việt Nam Quốc Gia. Tháng 3, Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp tại Đông Dương. Tháng 6, toán cố vấn Mỹ đầu tiên đến Việt Nam.

Rồi đến năm 1954 định mệnh. Tháng 5-1954, Điện Biên Phủ thất thủ, trong số binh sĩ tham chiến có phân nửa là lính quốc gia Việt Nam cùng chịu chung phần số hy sinh và thân phận tù binh.Trong số này có trung úy mũ đỏ Phạm văn Phú. Hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc. Tháng 6-1954, ông Ngô Đình Diệm từ Mỹ về nước nhận chức thủ tướng. Tháng 7-1954, Geneva quyết định chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17, trên con sông Bến Hải giữa nhịp cầu Hiền Lương. Và cái ngày định mệnh của cả dân tộc là ngày 20 tháng 7-1954. Anh, Pháp, Tàu v.v… ký vào hiệp ước cùng với phía cộng sản Việt Nam. Hoa Kỳ và Việt Nam quốc gia không ký. Thủ tướng Pháp đương thời hứa với quốc dân là hiệp định phải ký xong nội ngày 20 tháng 7-1954. Họp bàn đến nửa đêm chưa xong. Đồng hồ phòng nghị hội cho đứng chết lúc 12 giờ khuya. Tiếp tục họp đến sáng hôm sau. Ký xong rồi cho đồng hồ chạy lại. Ngoại trưởng Việt Nam là cụ Trần Văn Đỗ khóc vì đất nước chia đôi ngay tại hội nghị. Lê Duẩn chỉ huy cộng sản tại miền Nam, đang trên đường ra Bắc chợt nghe tin đình chiến bèn quay trở lại để tiếp tục lãnh đạo công cuộc giải phóng về sau. Từ Hà Nội một số sĩ quan Quốc Gia Việt Nam cùng sĩ quan Pháp tham dự hội nghị Trung Giá để quy định việc đình chiến. Các đơn vị Pháp và tiểu đoàn khinh quân Việt Nam âm thầm rút khỏi Bùi Chu, Phát Diệm, Thanh Hóa, Nam Định để lại sự hoảng loạn đau thương cho nhiều giáo khu Việt Nam tự trị.
Tại miền Bắc, Pháp và phe quốc gia có thời hạn tập trung 80 ngày tại Hà Nội, 100 ngày ở Hải Dương và 300 ngày tại Hải Phòng. Tại miền Nam, bộ đội tập kết tại Hàm Tân 80 ngày, Bình Định 100 ngày và Cà Mau 300 ngày.
Ngày nay bao nhiêu người trong chúng ta còn nhớ đến thời kỳ tập kết ở miền Nam và di cư của miền Bắc. Bộ đội miền Nam trước khi ra đi đã phát động chiến dịch gài người ở lại nằm vùng và phong trào lập gia đình ồ ạt để hẹn ngày trở lại hai năm sau hiệp thương và tuyển cử. Trung úy Giao Chỉ tham dự hành quân Tự Do tiếp thu Cà Mau thấy người cộng sản tập kết chào nhau với bàn tay xòe hai ngón hẹn gặp lại sau hai năm, kèm theo khẩu hiệu: Ra đi là chiến thắng, ở lại là vinh quang. Kháng chiến miền Nam ra Bắc để lại những người đàn bà mang bầu trong thôn xóm và súng đạn chôn sau vườn.
Trong khi đó ở miền Bắc cộng sản cố sức cản đường không cho lính quốc gia di tản và ngăn chặn cuộc di cư vĩ đại từ tháng 8-1954. Nhưng phe Quốc Gia vẫn có đủ một triệu người ra đi. Trung úy Vũ Đức Nghiêm, tốt nghiệp khóa 1 Nam Định đã di cư vào Nam cùng đơn vị và gia đình lúc ông hơn 20 tuổi. Từ Phát Diệm, ông đi cùng Tiểu đoàn Khinh quân 711 về Hải Dương rồi rút về miền Nam. Đại úy Lê Kim Ngô di tản trường Công Binh từ Bắc vào Nha Trang và tham dự hành quân tiếp thu Bình Định. Cả hai ông Vũ Đức Nghiêm và Lê Kim Ngô về sau đều có dịp trở về đất Bắc trong lao tù cộng sản trước khi HO qua định cư tại Hoa Kỳ.
Cũng trong đợt di cư theo gia đình công giáo, thanh niên Phạm Huấn 17 tuổi còn nhớ mãi về Hà Nội của tuổi hoa niên. Sau khi ký hiệp ước Paris, thiếu tá VNCH Phạm Huấn có dịp trở về trong phái đoàn chính thức để viết nên tác phẩm “Một ngày tại Hà Nội” vào năm 1973. Sau đó ông Phạm Huấn lại một lần nữa từ biệt Sài Gòn năm 1975. Ngày 7 tháng 7-2004, tôi và đại tá thiết giáp Hà Mai Việt vào thăm Phạm Huấn tại Nursing Home của bác sĩ Ngãi ở khu Tully, San Jose. Sinh năm 1937, người thiếu niên Hà Nội trở thành sĩ quan trẻ trung của Sài Gòn vẫn còn là vị cao niên trẻ nhất của Nursing Home. “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm.” Phạm Huấn nói rằng nếu có ngày các ông lấy lại được Sài Gòn thì tôi cũng sẽ chơi một chuyến xe lăn về quê cũ. Ông qua đời tại San Jose và chưa một lần trở lại Việt Nam. Nhưng từ tháng 7-1954 cho đến tháng 7-2019 ngày tháng cũng xa rồi mà mộng ước cũng xa rồi. Phạm Huấn và nhà thơ Hoàng Anh Tuấn đều lần lượt ra đi từ San Jose bỏ cả mưa Sài gòn lẫn mưa Hà Nội. 

Cuối tháng 5-2014, Hà Mai Việt trở lại San Jose ra mắt tác phẩm Cội rễ cuộc chiến Việt Nam, khởi sự từ miền Bắc. Chẳng biết còn ai nhớ được nguồn cơn.

Năm 1954, có cô bé 16 tuổi lên máy bay một mình đi theo gia đình người bạn để vào Nam tìm tự do. Mồ côi mẹ, cha ở lại đi tìm con trai rồi kẹt luôn. Cô bé tên là Nguyễn Thị Chinh và sau này chuyến đi đã đem đến cho miền Nam một đệ nhất minh tinh gọi là Kiều Chinh. Chuyến đi của Kiều Chinh 1954 từ biệt Hà Nội đầy nước mắt chia ly trong tình phụ tử. Năm 1975, Kiều Chinh lại một lần nữa từ biệt Sài Gòn trong một chuyến bay trắc trở vòng thế giới giữa lúc thủ đô miền Nam hấp hối.

Và cũng vào năm 1954, một cô bé 9 tuổi Nguyễn Thị Lệ Mai xuống tàu di cư vào Nam. Sau này cô trở thành ca sĩ tiêu biểu của cuộc chiến lầm than, một đời lưu vong trong một kiếp trầm luân. Tên của người ca sĩ 50 năm hát rong trên khắp địa cầu là Khánh Ly. Năm vừa qua cô về hát lần đầu trên sân khấu Hà Nội. Trải qua 50 năm là biểu tượng chống Cộng bằng ca từ hải ngoại, ngày nay cô đứng hát tình ca cho những khán giả chưa từng quen biết nhưng hết mực yêu thương.
Và cùng với Vũ Đức Nghiêm, Lê Kim Ngô, Phạm Huấn, Kiều Chinh, Lệ Mai còn có Bùi Đức Lạc cũng là thành phần Bắc Kỳ di cư đến tạm trú ở khu Phú Thọ Lều để đến 75 thì trở thành người di tản mang màu áo pháo binh Dù.
Năm 1972 trong nước mắt Hạ Lào, Bùi Đức Lạc nghe Khánh Ly nức nở, đã nói rằng trận liệt mất đường về không phải vì Mỹ bỏ mà tại vì nhạc Trịnh Công Sơn.
Một người khác gốc Phát Diệm đã sớm trở thành dân di cư Hố Nai rồi chuyển qua vượt biên với một vợ 9 con tiếp tục bình tĩnh làm báo hàng ngày tại San Jose. Đó là Ký Còm – Vũ Bình Nghi. Tại sao miền Bắc lại di cư tị nạn? Tại sao miền Nam lại di tản vượt biên? Truyền thống của dân Việt là muôn đời sống với lũy tre xanh, với mồ mả tổ tiên, với làng xóm. Vạn bất đắc dĩ phải ra đi mang tiếng tha hương cầu thực nhưng rồi vài năm lại trở về. Quốc văn giáo khoa thư thuở nhỏ đã ghi rằng chỉ có chốn quê hương là đẹp hơn cả.
Trung úy Phan Lạc Tuyên khi tham dự hành quân tiếp thu tại Bình Định đã viết nên bài nhạc bất hủ. Anh về qua xóm nhỏ, em chờ dưới bóng dừa. Nắng chiều lên mái tóc, tình quê hương đơn sơ. Nhưng chính tại miền quê đơn sơ ở Bồng Sơn này suốt 20 năm chưa bao giờ yên tiếng súng.
Khi người cộng sản nổi dậy với một cuộc chiến toàn diện khốc liệt và quá độ đã triệt tiêu hoàn toàn mọi sự hòa giải trong tình tự dân tộc. Đầu tiên là các dân thành thị, trí thức, tiểu tư sản và tôn giáo phải bỏ Kháng Chiến về thành. Tiếp theo là bỏ miền Bắc di cư vào miền Nam.
Năm 1954, người Bắc vào Nam đã đánh thức con rồng Sài Gòn tỉnh giấc. Qua những khác biệt ban đầu rồi chuyển đến thời gian hòa hợp. Miền Nam bắt đầu khởi sắc từ ẩm thực đến văn chương báo chí. Từ văn nghệ đến kinh doanh. Và sự hòa hợp không hề có biên giới.
Đại úy Lê Công Danh, gốc công tử Cần Thơ đứng đón di cư ở bến nhà Rồng đã bế luôn cô Bắc Kỳ nho nhỏ tóc demi garcon về làm áp trại phu nhân.
Trung úy công binh Nghiêm Kế, dân chơi Hà Nội phải lên tận Biên Hòa xứ Bưởi cưới cô Bé về làm chính thất, sống 20 năm ở các trại gia binh với 8 đứa con lần lượt ra đời.
Trung úy Giao Chỉ đi chiến dịch Đinh Tiên Hoàng phải xuống tận Rạch Giá để rước về người đẹp xứ Kiên Giang. Sau hơn 60 năm tình cũ, chàng mới nhận ra rằng không phải chỉ Đà Lạt mới có hồ than thở, mà ở miền Hậu Giang cũng có khá nhiều.
Những ông sĩ quan trẻ Bắc Kỳ xấp ngửa vào Sài Gòn đều đem về mỗi ông một cái hồ than thở. Qua đến Hoa Kỳ nàng vẫn còn than thở qua Cell Phone…

Sau những đoạn trường 1954, thì tiếp đến câu chuyện tình Bắc duyên Nam trên mọi lãnh vực. Tất cả cùng nhau xây dựng xong 2 nền Cộng Hòa với một đạo quân đẹp đẽ biết chừng nào.
Cho đến năm 1975 và rồi đến tận ngày nay là 2024, người Việt vẫn tiếp tục bỏ nước ra đi. Từ di tản đến vượt biên, vượt biển, đoàn tụ, HO, con lai.
Tại sao chúng ta lại rời bỏ quê hương?
Một lần đi là một lần vĩnh biệt.
Một lần đi là hết lối quay về.

Năm 1954, khi ra đi dân Bắc Kỳ di cư ít có hy vọng trở về chốn cũ. Bài ca Hướng về Hà Nội được hát nỉ non suốt ngày đêm trên Radio. Cho đến khi chính phủ sốt ruột phải ra lệnh cấm. Những cánh bưu thiếp liên lạc Bắc Nam rời rạc được một vài tháng rồi cắt đứt sau hai năm xa cách.
Qua thập niên 60, Hà Nội mở đường dây Ông Cụ, đưa cán bộ vào Nam xây dựng hạ tầng cơ sở và dựng nên cuộc chiến mà ngày nay chính cựu đảng viên cộng sản Dương Thu Hương cũng nhận xét là một cuộc chiến sai lầm, hy sinh quá nhiều sinh mạng và tiềm lực của cả hai miền đất nước.

Hôm nay, nhân dịp ghi dấu 65 năm cuộc hiệp định Genève chia đôi đất nước, chúng ta cùng suy ngẫm về dòng sinh mệnh đã đưa đẩy người Việt lưu vong. Sẽ không thể có được câu trả lời coi như là chân lý cho một vấn nạn lịch sử.
Trong cuộc sống hàng ngày, biết bao nhiêu là điều bí ẩn không hề có đáp số. Tại sao có người hạnh phúc và có người đau khổ? Tại sao có người bị hy sinh và có người tồn tại? Tại sao có người thành công và có người thất bại? Những ngày tháng lịch sử như 20 tháng 7, như 30 tháng 4 chỉ là những dấu ấn trong dòng sinh mệnh của một dân tộc, của một cộng đồng. Đó là ngày của cay đắng nở hoa.
Mới đây các quốc gia văn minh nhất của nhân loại Tây phương kể cả Nga, Đức, Anh, Pháp, Canada, Úc, Mỹ và nhiều nước khác cùng dự lễ kỷ niệm 70 năm đổ bộ Normandie. Bây giờ chúng ta cũng là công dân của một xứ sở văn minh là Hoa Kỳ, hãy cùng nhau nhớ về ngày lịch sử 20 tháng 7 của 70 năm về trước, ghi dấu lịch sử là một cách hành xử của con người văn minh.
Một lần nữa xin nhắc lại 20 tháng 7-1954, 70 năm về trước hiệp định Genève chia đôi đất nước. Một triệu người miền Bắc di cư vào Nam. Tại sao người Việt lại rời bỏ quê hương? Câu hỏi đó dành cho quý vị.
Tiếp theo từ 30 tháng 4-1975 cho đến nay, trên hai triệu người Việt lần lượt ra đi. Tại sao người Việt lại rời bỏ quê hương? Câu hỏi đó cũng dành cho quý vị.
Tại sao quý vị lại ra đi?
Tại sao lại trở về? Tại sao lại không trở về? Trở về quê hương. Câu hỏi cho cả đời người. Câu hỏi cho cả một thế hệ. Điều này có đúng với người Việt lưu vong hay không?
Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã viết:
Quê hương, mỗi người có một
Như là chỉ một mẹ thôi…

Điều này có đúng với người Việt lưu vong hay không?
Hay là như Vũ Hoàng Chương đã than thở:
Chúng ta là đám người đầu thai nhầm thế kỷ
Quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh.
Có thực sự đau thương như vậy không?
Chúng ta ra đi đem theo quê hương, hay là chúng ta ra đi bỏ lại quê hương? Với con đường an cư lạc nghiệp ở xứ này, phải chăng chúng ta đang sống hạnh phúc với quê hương mới?
Giáo sư Elie Wiesel, người Mỹ gốc Do Thái sinh trưởng ở Romania, nạn nhân của nạn diệt chủng Holocaust được cứu sống lúc 16 tuổi. Nhập tịch Hoa Kỳ năm 1963. Đoạt giải Nobel về Hòa Bình năm 1986, Ông đã nói rằng: Nơi nào tôi sống có tự do và hạnh phúc, nơi đó chính là quê hương.

Nhưng ađã nói rằng chống Cộng không phải là chống cả quê hương. Dù quê hương cũ hay mới. Giao Chỉ.

 20 tháng bảy năm 2014 tôi tổ chức 60 năm đêm giã từ Hà Nội có nhạc sĩ Vũ đức Nghiêm và nhiều bạn Hà Nội tham dự. Năm 2019 tôi tổ chức 65 năm ngày Nhớ về Hà Nội. Các bạn Hà Nội chẳng còn bao nhiêu người. Thay vì nhớ thương thành phố cũ ban đêm thứ bảy, chúng tôi tổ chức 11 giờ trưa ngày chủ nhật 21 tháng 7 năm 2019 tại nhà hàng Phú Lâm. Không phải chỉ dành riêng cho dân Bắc Kỳ di cư chẳng còn bao nhiêu. Xin mời bằng hữu Trung Nam Bắc một nhà cùng đến với nhau cả thế hệ thứ hai và thứ ba. Nếu ngày quốc hận 30 tháng tư năm 75 còn nhiều thương đau thì ngày quốc hận 20 tháng 7 năm 54 chỉ còn là những kỷ niệm êm đềm của tình Bắc duyên Nam.. Cùng ôn lại chuyện cũ giữa thế kỷ 20 đem qua thế kỷ 21. Chương trình hết sức đơn giản. Nhưng vô cùng ý nghĩa và chan hòa tình cảm. Chúng ta cùng ôn lại những câu trả lời muôn thuở trên đất Hoa Kỳ. Người Việt là ai, tại sao lại đến đây và đã đến vào thời gian nào. Trên báo San Jose Mercury News tuần qua đăng hình hai ông Nhật già danh tiếng của Hoa Kỳ gặp nhau cũng nhắc lại chuyện hai cậu bé cùng gia đình bị giam vào trại tập trung thời kỳ đệ nhị thế chiến. Về sau một ông trở thành thị trưởng San Jose rồi lên bộ trưởng giao thông thời tổng thống Bush. Một ông trở thành dân biểu liên bang. Để trả lời cho tuổi trẻ của thế hệ tương lai, cả hai ông Nhật đều nói rằng. Làm gì thì làm các bạn phải luôn luôn biết mình là ai? Như vậy là sau bao nhiêu năm tung hoành trên chính trường Hoa Kỳ, lúc về già ông bộ trưởng Mineta và ông dân biểu Honda mới chợt nhớ mình là Nhật Bản. Với 70 năm nhớ về cuộc di cư 1954. Với 49 năm nhớ về cuộc đổi đời 1975. Chúng ta dù đã trở thành người Mỹ nhưng luôn luôn phải nhớ mình thực sự là ai.   

Giao Chỉ San Jose

Bài này viết tặng nhà tôi, cô nữ sinh Kiên Giang có đủ can đảm đi theo anh trung úy Bắc Kỳ đồn trú tại Cà Mau và trên khắp chiến trường miền Đông và miền Tây Nam Bộ. 

Thế giới biết bao người mà sao anh chỉ thấy có mình em. Bà già 87 tuổi còn thắp hương tháng Tư 

và nhỏ lệ tháng 7.

001.bmp

Hãy đem đình làng Đình Bảng Hà Nội đến cạnh Việt Museum tại San Jose USA

4 GC.jpg

Trung úy Bắc Kỳ di cư gặp cô học sinh Kiên Giang,nay đã thành phụ nữ thắp hương cho tháng Tư và nhỏ lệ khóc tháng 7 di cư

5 GC.jpg

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




Nam Bắc Cali Lại Kết Hợp Tổ Chức Cho Buổi Ra Mắt Sách 4 Tác Phẩm của Nhà Văn, Nhà Thơ Chinh Nguyên – LÊ VĂN HẢI.

Tin Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật Độc Đáo: Văn Thơ Lạc Việt (Bắc Cali) Lại “Mang Chuông Đi Đánh Xứ Người!” Xuôi Về “Nắng Ấm Miền Nam!

thiep moi chinh nguyen.png

*Một Lần Nữa, Nam Bắc Cali Lại Kết Hợp Tổ Chức Cho Buổi Ra Mắt Sách 4 Tác Phẩm của Nhà Văn, Nhà Thơ Chinh Nguyên. Lúc 1 giờ chiều Thứ Bảy, ngày 10 tháng 8 năm 2024, (Tuần tới) Tại Thư Viện Việt Nam, 10872 Westminster, Carden Grover, CA 92843

 bvguygygguiguiguiguiuh.jpg

*Nhiều lần Cơ Sở Thi Văn Lạc Việt đã cộng tác với Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian, Nam Cali, trong những Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật Ra Mắt Sách, rất là thành công. Năm ngoái, tại Bắc Cali cho Ký Giả Chiến Trường Kiều Mỹ Duyên, KQ Phan Đình Minh…giờ VTLV thì xuôi Nam! Hy vọng lại có buổi RMS thành công mỹ mãn, nhiều điều ý nghĩa, thú vị!

nknnkonkonknknk.png

*Chuyện gì thì không biết, nhưng chuyện ý nghĩa, thì chắc chắn100%! Vì tất cả số tiền bán sách, sẽ được chuyển về hở trợ thuốc men, cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý, (Hình ảnh một vị Lãnh Đạo Tông Giáo, bền bỉ đấu tranh cho Tự Do Tôn Giáo, Dân Chủ) trải qua 4 lần trong ngục tù CS, nay đã có tuổi, mang nhiều bịnh tật, cần nhiều phương tiện chữa trị.

Mới quảng bá mục đích này, mà các Thân Hữu, Độc Giả, Nam Bắc Cali, hứa mua sách ủng hộ, trong buổi RMS, đã trên…3 ngàn đô la! thật là khích lệ hứng thú cho BTC.

*Trong mục đích: “Tiếng Việt còn, Nước Việt còn!” Kính mong Quý Vị bớt chút thời giờ tham dự. Có phụ diễn văn nghệ, nhiều giọng ca đặc sắc, thức ăn nhẹ, giải khát, Vào Cửa Tự Do!

nmknionioninmipmimkpmm.png

Cơ Sở Thi Văn Lạc Việt San Jose và Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian Nam Cali Kính Mời.

Nhân đây, xin mời đọc thêm, lời giới thiệu BRMS của Nữ Ký Giả Chiến Trường Kiều Mỹ Duyên và Bài giới thiệu chút về Văn Thơ Lạc Việt của Minh Thúy Thành Nội.

KÍNH GIỚI THIỆU NHÀ VĂN CHINH NGUYÊN RA MẮT SÁCH

(KIỀU MỸ DUYÊN)

 uhuhhy89hhy8hiohiijjiopojp.jpg

-Chinh Nguyên là một tác giả đa tài, ông viết văn, làm thơ và viết báo. Dù ở lãnh vực nào, tác giả Chinh Nguyên đều có năng lực thiên phú. Thơ Chinh Nguyên được các nhạc sĩ Luynh Phương, Hoàng Khiêm, Khôi Nguyên, Phan Ni Tấn phổ nhạc.

Nỗi niềm của tác giả Chinh Nguyên nơi xứ lạ vẫn dõi về quê nhà:

“Ba mấy năm trời nơi xứ lạ

Tóc mầu tuyết trắng điểm sương pha

Tơ lòng vẫn rối tình như bão

Nghiêng ngả đôi vai nợ nghiệp nhà.”

“Quê hương hỡi! Biển sâu ngăn cách trở

Sao lòng người sâu thẳm lắm nghiệt oan

Đẩy tôi đi mỗi ngày thêm xa mãi

Cho mẹ buồn đêm trắng tủi khóc than.”

(Niềm riêng- Chinh Nguyên)

 uhhhhiohiohiij.jpg

RA MẮT SÁCH

Tác giả CHINH NGUYÊN

Thứ bảy, ngày 10 tháng 8/2024

Từ 1pm đến 4pm

Tại Thư Viện Việt Nam, 10872 Westminster Ave, Suites 214 & 215, Garden Grove, CA 92843

Tác giả Chinh Nguyên sẽ đặc biệt giới thiệu về 4 quyển sách song ngữ:

1/ Thorn In the Heart: Xuất bản 2019. Truyện dài 12 chương nói về cuộc sống không có ngày mai của thanh niên Việt Nam trong chiến tranh.

2/ Please Come In. “VÀO ĐI”: Truyện dài song ngữ- xuất bản 2023: Một sự thức tỉnh già trẻ từ nhà tù Cộng Sản

3/ ANTI-AUTHORITARIAN HANDBOOK (CẨM NANG CHỐNG ĐỘC TÀI): Truyện ngắn song ngữ- Xuất bản 2023 với 8 chủ đề dùng làm kim chỉ nam chống Cộng Sản

 4/ My Life: Truyện dài 19 chương – Xuất bản năm 2024: Kể về cuộc đời thật của nhà thơ Đông Anh- Nguyễn Đình Tạo (1954- 2013).

Tất cả tiền bán sách và ủng hộ của quý đồng hương sẽ được chuyển về hỗ trợ thuốc men cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý (linh mục xứ An Truyền, thành phố Huế). Linh mục Nguyễn Văn Lý đã trải qua 4 lần bị giam cầm trong lao tù Cộng Sản.

Linh mục Nguyễn Văn Lý được phóng thích từ nhà tù về Tòa Tổng Giám mục Huế ngày 20/5/2016. Ảnh: Website Tòa Tổng Giám Mục Huế.

Linh mục Nguyễn Văn Lý từng được đề cử nhận Giải Nobel Hòa Bình năm 2013 và Giải Nhân quyền Sakharov năm 2010 vì tinh thần bất khuất tranh đấu cho nhân quyền, bất chấp sự đàn áp thường xuyên từ nhà chức trách. Trong suốt gần 20 năm, linh mục Nguyễn Văn Lý bị cầm tù hoặc bị quản chế tại gia vì các hoạt động kiên định tranh đấu đòi tự do dân chủ cho người dân Việt Nam

Linh mục Lý được nhiều người biết đến qua các bài viết kêu gọi tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, đa đảng tại Việt Nam, qua các cuộc tuyệt thực trong trại giam, qua tinh thần tranh đấu kiên định, và đặc biệt là qua bức ảnh ông bị bịt miệng trước tòa hồi năm 2007.

Linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng trước tòa năm 2007

Vài hàng về tác giả CHINH NGUYÊN

Tên thật: Nguyễn Trung Chính

Bút danh: Chinh Nguyên, bút danh khác Hà Nguyên Trung (trước năm 1975)

Sinh ngày 13 tháng 10 năm 1943

Quê quán Thành Lập, Hà Đông Bắc Việt

– 1950-1954: Theo gia đình trốn Cộng Sản vào Hà Nội.

– 1954-1958: Di cư vào Nam sống tại Nha Trang và Ban Mê Thuột.

– 1958-1967: Học tại trung học Ban Mê Thuột, Dòng La San Nha Trang, đại học Văn Khoa Sài Gòn

– 1968-1975: Phục vụ trong quân chủng Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Cộng tác nguyệt san Lý Tưởng Không Quân, Báo Đức Mẹ (Linh Mục Chân Tín)

– 1975: Tị nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ, nghề nghiệp kỹ sư kiểm tra kỹ thuật (F/A characterization test Engineering).

Về hưu sau hơn 28 năm làm cho IBM.

– Chủ tịch cơ sở Văn Thơ Lạc Việt, Chủ Nhiệm website văn thơ Lạc Việt.

– Cộng tác với Ý Dân Nam California và Denver Colorado, Tuyển tập văn học nghệ thuật, Văn Đàn Đồng Tâm, Điện báo Đất Quê, Thời Nay Online và diễn đàn Network.

Các tác phẩm của CHINH NGUYÊN: thơ LỜI TÌNH BUỒN, tuyển tập truyện ngắn MẸ TÔI, tuyển tập truyện ngắn NỢ EM MỘT ĐỜI, thơ ĐÔI MẮT BIỂN, DÒNG THƠ KỶ NIỆM, tuyển tập thơ BƠ VƠ, tuyển tập thơ KHẮC KHOẢI, thơ NỖI ĐAU DÀI, Thorn In The Heart, Cẩm Nang Đấu Tranh, Please Come In, My Life, v.v.

 nhiojiojopjopjopjko.jpg

Mời quý đồng hương, bạn bè, thân hữu gần xa, đến tham dự buổi ra mắt sách của tác giả Chinh Nguyên, một đời tranh đấu vì lý tưởng chống Cộng Sản. Với mục đích thiện nguyện, giúp linh mục Nguyễn Văn Lý, mong quý độc giả yêu thơ, yêu văn của tác giả Chinh Nguyên chung tay, góp sức để tác giả thực hiện được ước nguyện của mình.

hiouhhhohohiohii.jpg

Chúc buổi ra mắt sách của tác giả Chinh Nguyên sẽ thành công tốt đẹp và được quý đồng hương tham dự đông đủ và đem về những quyển sách có giá trị và nhân văn.

Buổi ra mắt sách của tác giả CHINH NGUYÊN vào thứ bảy, ngày 10 tháng 8/2024, từ 1pm đến 4pm. Có phụ diễn văn nghệ đặc sắc và giải khát, thức ăn nhẹ, vào cửa tự do. Xin liên lạc ban tổ chức: Trần Mạnh Chi (310- 628- 7499) và Thụy Lan (626- 371- 6843).

 Orange County, 2/7/2024

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)

Vài Cảm Nghĩ Về Cơ Sở “Văn Thơ Lạc Việt”

(MINH THÚY)46451747_2724368247788932_4015448603878227968_n.jpg

-Tôi gia nhập làm hội viên của Văn Thơ Lạc Việt từ cuối năm 2016.

Được biết Văn Thơ Lạc Việt thành lập năm 1992 do các nhà văn, thi sĩ: Hoàng Anh Tuấn, Hà Thượng Nhân, Dương Huệ Anh, Thượng Quân và Chu Toàn Chung. Ban cố vấn gồm có: nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, nhà văn Vũ Văn Lộc, Bình luận Gia Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà thơ Ngô đình Chương và nữ sĩ Trùng Quang.

ghguiuhhuhhuhiohio.jpg

Có bốn thời gian thay đổi chức vụ chủ tịch, bao gồm:

•Nhà văn Dương Huệ Anh 1992_ 2000 (Tổng Thư Ký: Thi sĩ Song Linh).

•Nhà thơ Đông Anh 2001_ 2008 (Tổng thư ký: Chinh Nguyên)

•Nhà văn Chinh Nguyên 2009_ 2019 (Tổng thư ký: văn thi sĩ Thanh Xuân)

•Nhà báo Lê văn Hải 2020 (Tổng thư ký: VTS Thanh Xuân)

Khi tôi bắt đầu tham gia thì nhà thơ Chinh Nguyên là Chủ tịch của cơ sở Thơ Văn Lạc Việt. Thời điểm này có tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng (phó ban ngoại vụ), nhà báo Lê văn Hải (phó ban nội vụ), thầy Phạm Thái (lo kỹ thuật phụ trách mục in ấn sách), nhà thơ Lê Tuấn (trưởng ban Media) quay phim làm video, anh Đom Đóm phụ thêm phần chụp hình, nhà thơ Mạc Phương Đình hổ trợ gom hình, quay phim làm phóng sự, anh có trang nhà Mây Bốn Phương cũng như Suối Nguồn Tươi Trẻ giới thiệu thơ văn thêm rộng rãi. Cô Thanh Xuân (tổng thư ký) bàn góp ý tưởng rất hay nhằm tạo sự thân mật trong hội, tổ chức sinh nhật mỗi quý (3 tháng) cho hội viên. Chị Thuý Nga trưởng ban văn nghệ tìm kiếm ca sĩ địa phương giúp phần ca nhạc trong các buổi ra mắt sách hoặc các buổi họp mặt sinh nhật. Anh Hoàng Thưởng lo phần nghi lễ chào cờ Việt Mỹ và tưởng niệm, chưa kể đến cô Tina thường đi vận động tài chánh từ những mạnh thường quân có cơ sở thương mại.image.png

Kể về anh Nguyễn Hồng Dũng là người tài giỏi, thường hướng dẫn chương trình với lối ăn nói khéo léo tài tình, anh ăn chay trường tâm Phật, ý Phật nên từng lời nói luôn hoà nhã, hiền hoà đầy thiền đạo, bên cạnh đó cô MC Hạnh Thảo tươi đẹp duyên dáng phụ phần giới thiệu.

Hội trưởng Chính Nguyên có nét mặt rất hiền hậu luôn sáng tạo những điều tốt đẹp cho hội viên, cũng như sốt sắng giới thiệu các tác phẩm của văn nhân thi hữu…Làm sao quên được những đêm mùa đông lạnh lẽo, anh Chinh Nguyên đã nhờ Thầy Thái mở lớp dạy Computer cho hội viên, lúc mượn địa điểm nơi này, khi mượn nơi khác. Trời giá lạnh bên ngoài, tuy thầy Thái đi dạy nhiều nơi mệt nhọc, đến giờ cơm tối cũng chưa về nhà, vẫn cố gắng đến chỉ vẽ hướng dẫn cách làm sách và in ấn. Anh Chinh Nguyên luôn có mặt kèm nụ cười thân thiện khuyến khích hội viên. Sau buổi học (9 giờ PM) anh CN mời thầy Thái đi dùng cơm tối vì lo lắng bao tử Thầy đang gào đói, thầy Thái xua tay và cả hai cùng cười trong niềm hân hoan ngầm rằng đã làm điều bổ ích cho đời. Thời gian sau anh Chinh Nguyên đích thân sang sửa lớp học tại nhà, kể thêm nhà thơ Lê Tuấn cũng đem tài năng làm video, quay phim của mình muốn truyền đạt cho hội viên kèm sau giờ học của thầy Thái.

 Cựu Hội Trưởng Chinh Nguyên và phu nhân

Những buổi hội họp, anh Thái NC và chị Thanh (phu nhân hội trưởng Chinh Nguyên) nhận nhiệm vụ đi đưa đón các bậc tiền bối đến dự như bác Trường Giang, bác Dương Huệ Anh, bác Diệu Tần nay đã lớn tuổi. Đối với tôi đây là những người góp công với tấm lòng đầy nhân hậu đáng quý, và cảm kích hơn nữa là hội trưởng Chinh Nguyên luôn quý trọng “ôn cố tri tân” những bậc trưởng bối đi trước.

Tôi thầm phục thêm tài tổ chức của hội trưởng Chinh Nguyên, ngoài các ban còn có ban xã hội do chị Lê Diễm làm trưởng, rất tình nghĩa đẹp mắt khi thấy ban điều hành gởi vòng hoa cũng như thăm đám nhà Quàn, hay quà bánh trái cây thăm người bệnh lớn tuổi.

Chưa hết… anh Chinh Nguyên còn tìm kiếm xã giao với đài VNA (Vietnamese America Tivi) được đài cho free nửa tiếng vào thứ ba, thứ bảy lúc 9 giờ tối (channel Nam Cali 57.3, Las Vegas 26.9 và San Jose 16.10), mục đích đưa những hình ảnh sinh hoạt của Văn Thơ Lạc Việt, hoặc những buổi phỏng vấn tác giả & tác phẩm thơ văn đến quý độc giả, mọi điều thật may mắn và hữu ích đối với VTLV.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng, Tân Hội Trưởng Lê Văn Hải, cựu Hội Trưởng Chinh Nguyên nhận bằng khen từ Dân Biểu Tiểu Bang David Corteseimage.png

Đầu năm 2021 nhà báo Lê văn Hải (phó ban nội vụ) theo sự bầu bán lên nhận trách nhiệm làm hội trưởng cơ sở Văn Thơ Lạc Việt, vì anh Chinh Nguyên trải qua cơn bệnh không thể điều hành tiếp, dù anh đã lái con thuyền gần 10 năm, nhưng không vì vậy anh lui vào bóng tối, mà anh còn cố vấn cũng như giúp đỡ nhiều mặt sau lưng hội trưởng mới.

Biết anh Hải từ lâu trong cộng đồng tỵ nạn tại miền thung lũng hoa vàng, qua những lần anh tổ chức ngày Thương Phế Binh và ngày Lễ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6, cũng như tổ chức phát quà, phát thức ăn mỗi tuần hai lần cho homeless. Tâm anh rất rộng rãi và tình cảm đầy ắp, anh làm ra tiền nhưng muốn cả làng đều hưởng ké, nên mỗi quý sinh nhật (3 tháng) tổ chức cho hội viên, anh bao thầu đãi nhà hàng, cùng quà cáp tặng thành viên có ngày sinh nhật. Mùa Lễ Giáng Sinh anh làm ông già Noel đứng phát quà và chơi sổ xố. Lúc ra mắt sách anh vẫn muốn tiếp tục đãi nhà hàng nhưng các anh chị cản ngăn thì anh lại tổ chức tại quán cà phê Lover bao nước uống và bánh ngọt. Mùa hè vừa qua anh thấy nhớ hội viên vì Covid ngăn cản đã lâu gần một năm rưỡi, nên muốn họp mặt và đã đãi tiệc trịnh trọng như tiệc cưới tại nhà hàng Phú Lâm.

QUÂN TỬ

(Trân kính tặng vị Mạnh Thường Quân ẩn danh của Văn Thơ Lạc Việt)

Thung Lũng Hoa Vàng, chốn địa linh

Cali Miền Bắc, đất ân tình

VĂN THƠ hải ngoại phò thăng tiến

LẠC VIỆT nhà Nam giúp trưởng sinh

Quân tử hùng tâm bừng rỡ rỡ

Hiền tài tráng chí tỏa minh minh

Thi ân danh nặc, rời khen tụng

Làm nghĩa không tên, né hiển vinh

Phương Hoa

Họa

Văn Thơ Lạc Việt

Hoa vàng thung lũng đẹp huyền linh

Buổi tiệc trao nhau đậm nghĩa tình

Lạc Việt ra công gìn sống tốt

Thi đàn cố sức giữ tồn sinh

Văn chương khỏa bút tràn mây rực

Điệu phú đua ngòi ngập ánh minh

Hai chín năm tròn mùa kỷ niệm

Người hùng hổ trở chẳng cầu vinh

Minh Thuý Thành Nội

Nghĩ nghĩa cử hào phóng rộng rãi của anh Hải làm tôi nhớ thêm nhiều chuyện… Có đêm đi dự tiệc chay tại nhà hàng Phú Lâm do Chùa Thiên Trúc tổ chức gây quỹ, ngồi bàn trong tôi thấy anh đội chiếc mũ lụp xụp đứng nơi quầy, tưởng anh cũng dự tiệc chung, ai dè tôi phải về sớm nhà anh Chinh Nguyên dự họp thì thấy một giàn thức ăn bày trên bàn, mới hiểu anh lo dùm bao tử của hội viên. Chưa hết, một lần trong màn cuối buổi lễ QLVNCH lúc người tham dự còn ở lại đông, anh Hải nhảy lên his đài mời bà con đến phở Bằng dùng trưa free. Kể thêm chuyện Cộng Đồng…tuy anh Hải yêu cầu giấu tên, nhưng rồi ai ai cũng biết anh là “mạnh thường quân” luôn ủng hộ nhiều hội đoàn hay những nhóm hoạt động thiện nguyện hoặc việc ý nghĩa như thời gian vừa qua.

Tánh tình anh rất khiêm nhường và hoà nhã, đôi khi có tiếng chày tiếng bấc từ đâu đem đến nhưng anh luôn im lặng không muốn hơn thua ai, ngoại trừ nhắc đến Việt Cộng mới nghe anh phát âm hơi mạnh.

Thời gian anh Chinh Nguyên làm hội trưởng và anh Hải hội phó, cơ sở VTLV đã cho ra đời mỗi năm một tuyển tập thơ văn gồm:

•Tuyển Tập “Đoàn Kết Và Xây Dựng” (năm 2017)

•Tuyển Tập “Bảo Tồn Việt Tộc” (năm 2018)

•Tuyển Tập “Văn Thơ Lạc Việt” chủ đề “Áo Dài” (năm 2019)

•Tuyển Tập “Quê Hương Và Nỗi Nhớ” (năm 2020)image.png 

Gồm bài vở từ những nhà thơ nhà văn tiền bối nổi tiếng cũng như các thân hữu, hội viên của cơ sở Thi Đàn tham gia đóng góp thành tâm thành ý liên tục. Hơn nữa là công lao của ban điều hành tiếp tay góp ý và năng nổ hoạt động cũng như sự hy sinh công sức, hổ trợ về mặt tài chánh để đạt thành quả tốt đẹp.

Điều đặc biệt khi anh Hải lên làm hội trưởng thì cô Tracy Trần giữ chức vụ thủ quỹ, và được sự trợ duyên lớn là thầy Thái làm trưởng Ban Biên Tập cùng chị Phương Hoa làm Phó Ban Biên Tập. Thầy Thái hiền lành ít nói chỉ bày tỏ chân tình qua công việc. Chị Phương Hoa tài năng xuất chúng, thơ một kho và văn một núi, đã từng đoạt nhiều giải nhất từ Văn Thơ Lạc Việt và Việt Báo mục “Viết Về Nước Mỹ”. Đối với người càng già trí óc chất xám càng giảm, nhưng chị Phương Hoa càng lớn tuổi càng thông minh sáng láng, đó là phước báu trời cho dễ mấy ai có được. Thầy trò hợp lực nhanh chóng kêu gọi bạn bè hội viên đóng góp bài vở về chủ đề Xuân, cố công đêm ngày trong thời gian ngắn cho ra đời Đặc San Xuân Tân Sửu 2021 được in bìa và trình bày rất mỹ thuật cùng nội dung phong phú.image.png

Thầy Phạm Thái và Văn Thi Sĩ Phương Hoa

Giữa năm theo gợi ý thầy Tuấn về đề tài Thiền, ban Biên Tập cũng như Ban Điều Hành và hội viên, nhất là hội trưởng Lê Văn Hải đã ủng hộ hết mình về tài chánh, cổ võ tinh thần mọi người đóng góp bài vở. Anh theo đạo Công Giáo nhưng rất tôn kính về đề tài này …Khi cuộc sống đang gặp nạn Covid hoành hành khắp thế gian, bao nhiêu tai họa đổ ập xuống loài người, mọi sinh hoạt gần như ngưng hoạt động, tâm tư con người đầy lo âu rối loạn, thì đề tài về “Thiền” như dòng suối mát cho ta được ngâm mình dịu vợi theo những áng thơ, những câu văn xoa dịu tinh thần biết bao nhiêu, há chẳng phải là điều lợi lạc hay sao?!!!

Cho nên tuyển tập “Sống Với Tâm Nhàn” được thành hình ra mắt chiều Chủ Nhật ngày 26 tháng 9 năm 2021 tại quán Cà phê Lovers nằm trên đường Aborn thuộc thành phố San Jose, được nhiều văn nhân thi sĩ đóng góp bài vở. Điều biết ơn sâu sắc là nhờ thầy Thái, thầy Tuấn, chị Phương Hoa đã ngày đêm gom bài vở từ mọi nơi, edit và trang trí hình ảnh trang nhã trông thật mát mắt và phẩm lượng đầy giá trị.image.png

Tại đây tôi tìm được thật nhiều niềm vui, được trao đổi thơ văn, được đọc những bài giá trị mở mang kiến thức và học hỏi thêm về thi phú từ các tiền bối. Cuộc sống nơi xứ người trong những ngày tháng lo toan cơm áo gạo tiền, giờ tìm được ngôi nhà đầy ánh nắng ấm áp che chở, những tâm hồn đồng điệu về thi phú cũng như chung chí hướng chống Cộng và giữ gìn nâng niu chữ quốc ngữ thân yêu. Một cơ sở văn học bảo tồn tiếng Việt trên xứ người nhưng đồng thời cũng là một mái ấm tình thương mà các hội viên được đối xử thân tình như trong gia đình.

Có Những Niềm Vui

Có những niềm vui mát mộng đời

Lan vào tim mạch khó nhoà vơi

Ân tình một sớm tràn chim hót

Vạt nắng thu phai đẹp cuối trời

*

Có những niềm vui dệt nụ hồng

Hương lùa gió quyện thả mênh mông

Hạt nhân hạnh phúc đường hoa nở

Kết nối yêu thương nghĩa phủ lồng

*

Có những niềm vui thật nhẹ nhàng

Như cung nhạc trỗi dậy đàn vang

Chung lòng gắn bó câu đoàn kết

Hợp sức tài văn bút phú tràn

*

Có những niềm vui chứa ảnh hình

Sách, quà sổ số thật xinh xinh

Màu Lan sắc thắm nồng chan chứa

Hội ngộ tương giao quý mến tình

*

Có những niềm vui trọn vẹn đầy

Văn Thơ Lạc Việt lắm trò, Thầy

Cùng nhau sát cánh gìn ngôn ngữ

Tiếng mẹ quê mình quyết bảo xây

Minh Thuý Thành Nội

***

LẠC VIỆT VĂN THƠ

(Góp vui cùng MT)

LẠC VIỆT VĂN THƠ giúp đẹp đời

Cho dù năm tháng thể nào vơi

Trời thu man mác tình ngan ngát

Họp mặt niềm vui rực đất trời

*

LẠC VIỆT VĂN THƠ đẹp sắc hồng

Ảnh hình ghi nắng trải mông mông

Nâng ly ta chúc lời thân ái

Chào đón PHAN LANG gió quyện lồng

*

LẠC VIỆT VĂN THƠ bước nhịp nhàng

Thi văn nhạc họa tiếng lành vang

Bốn mùa muôn sắc hoa đua nở

Năm tháng niềm vui tỏa ngập tràn

*

LẠC VIỆT VĂN THƠ chốn điển hình

Kỳ hoa dị thảo ngập vườn xinh

Cùng nhau vun bón luôn tươi thắm

Huynh đệ đối nhau rất trọn tình

*

LẠC VIỆT VĂN THƠ hợp đủ đầy

Thi nhân, văn sĩ, đến cô, thầy

Bảo tồn Quốc Ngữ dân Hồng Lạc

Hải ngoại tình người kết nối xây.

Phương Hoa

 image.png

Từ trái: Anh Chinh Nguyên, chị Thuý Nga (trưởng Ban văn nghệ), nhà thơ Mạc Phương Đình, cô Tina (Vận động Tài Chánh), anh Hồng Dũng và anh Hải.

 image.png

Từ trái Cựu Chủ Tịch Chinh Nguyên và Phu Nhân, Cô Tổng Thư Ký Thành Xuân và Phu Quân, cô MC Hạnh Thảo và Cô Tuyết Nhung (nhiếp ảnh gia)

Xuân Hạ Thu Đông lần lượt đi qua theo bước thời gian, phút rộn ràng buổi ra mắt sách, phút hân hoan lãnh quà sinh nhật, những buổi chung hưởng niềm vui dự lễ kỷ niệm 28 năm thành lập Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, những năm dự buổi phát giải thưởng sáng tác thi văn tràn hãnh diện, cảm giác luôn đọng mãi, lâng lâng niềm an ủi của đứa con xa quê hương, mồ côi cha mẹ, nhưng tìm được bóng mát nương tựa đầy ấm áp nơi tha phương, tôi chỉ biết nói lời chân thành

Cám ơn Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt

Hội Viên

Minh Thuý Thành Nội




THIÊN KÝ SỰ HÀNH TRÌNH TỊ NẠN CON ĐƯỜNG SINH TỬ TẬP 12 – Sa Chi Lệ.

CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG SỐNG SÓT NHỜ PHÉP LẠ- CON ĐƯỜNG SINH TỬ TẬP 12-HÀ NGỌC




KIỀU MỸ DUYÊN: ĐẠI NHẠC HỘI VINH DANH QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ TÔN VINH CHỮ QUỐC NGỮ




Như Ninh NGUYỄN HỒNG DŨNG: Thăng Hoa Cuộc Đời Kỳ 62, 63, 64, 65.

Thăng Hoa Cuộc Đời

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Kỳ 62  Nguyễn Huệ Lên Ngôi Hoàng Đế

Khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ khởi binh từ Quy Nhơn ra Thăng Long tiêu trừ chúa Trịnh ngang qua vùng núi Nghệ an, Hà tĩnh nghe đại danh của một nhân vật đặc biệt đang ẩn cư trên núi Thiên nhẫn sau khi từ quan, người đó lại là một trung thần đầy đức độ từng can gián chúa Trịnh không được tiếm ngôi vua Lê, một nhân vật thuộc dòng dõi vọng tộc, con cháu Lưu Quận Công nhưng sớm liễu đạo muốn xa lánh mùi trần tục lụy. Người đó chính là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp; vì thế mà Nguyễn Huệ rất cảm kích muốn thân hành tới nơi am thất để cầu hiền, thỉnh ý bậc thức giả đem tài trí hộ quốc an dân.

Lần thứ nhất khi đoàn binh đi vòng qua chân núi Thiên Nhẫn, Nguyễn Huệ cho dừng quân và thân hành theo mép rừng tiến về thiền thất nơi có những hàng liễu quanh năm rũ lá chơ vơ. Sau khi diện kiến và tâm sự những trăn trở của nước non, Nguyễn Huệ tha thiết mời tiên sinh hợp tác. Dù quý trọng sự nghiệp hưng binh của Bắc Bình Vương nhưng La Sơn nhất định từ chối vì tự cho là mình chính là thần tử của nhà Lê. Dù vậy khi nhìn tướng pháp của Nguyễn Huệ, trong lòng La Sơn phu tử đã thấy khác lạ của một bậc xuất chúng, với đặc điểm nổi trội nhất là tóc quăn, tiếng nói sang sảng như chuông ngân, cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối là những thân tướng hiếm hoi của bậc phi phàm.                                                                                                              

Lần thứ nhì khi rút quân về lại Phú Xuân thì Nguyễn Huệ cũng thân hành lên vấn an tiên sinh tại thảo lư vào buổi xế chiều. Đôi bên tương đắc kể cho nhau nghe những ưu tư về tiền đồ dân tộc, và rồi Nguyễn Huệ cũng mong được La Sơn phu tử hợp tác cho viên ngọc minh châu được dịp bừng sáng nhưng cũng bị sự khước từ.

-Đã hai lần diện kiến đối ẩm mà tiên sinh nhất mực chối từ việc khẩn khoản này, phải chăng ngài cho chúng tôi bình dân không đủ khả năng mưu đồ quốc gia đại nghiệp, dẹp loạn yên dân? Nguyễn Huệ khiêm cung hỏi.

La Sơn phu tử chậm chạp đáp:

-Bỉ nhân đâu lẽ nhận thức sai lầm đến thế. Xưa kia Lưu Bang Hán Cao tổ là người bình dân, Lưu Huyền Đức là người thợ giày, Bình Định vương Lê Lợi là nông dân áo vải đất Lam sơn mà đem lại thái bình cho trăm họ thì ngày nay tài đức và độ lượng của đại vương cũng sáng chói một phương. Ngặt nổi hiện thời bỉ nhân vốn thờ vua Lê nên đạo làm người khiến không đi hai hàng một lượt.

Ngậm ngùi chia tay vì không vời được Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân giúp nuớc, Nguyễn Huệ cầm tay La Sơn phu tử ân cần chúc phúc, uớc mong có duyên tao ngộ để cùng nhau đem tài trí hưng bang tế thế, giải cứu sơn hà. Nắng chiều vàng nhạt xuyên qua tàng lá đưa từng sợi tà dương in thành mảng cô liêu trên suốt dặm đường. Tiên sinh cũng cảm nhận được cái chí khai thiên phá thạch của con người nông dân áo vải này, nhưng cung cách nhà Nho vốn tôi trung chẳng thờ hai chúa, vì vậy mà dù tâm phục tới đâu cũng khó cho La Sơn phu tử, con nguời của cửa Khổng sân Trình dễ gì lay động được tâm can một khi người đã quyết.

*

Đại quân Tây Sơn đầy khí thế với một lòng quyết bảo vệ non sông, nhân dân nghe tin đoàn hùng binh tiến ra Bắc tiêu diệt bè lũ xâm lăng, bán nước nên ai nấy đều tự nguyện đóng góp lương thực, thuốc men và khuyến khích trai làng tòng quân giết giặc.

Tờ mờ sáng đầu tháng chạp năm Mậu Thân, đại binh đóng quân ở núi Bàn Sơn để lập kế hoạch hành quân thì bỗng nhiên có một lão ông  trông hình thái tiên phong đạo cốt chống gậy đòi gặp cho được Bắc Bình Vương.

Nghe quân báo, Nguyễn Huệ biết có hiền tài giúp sức nên vội vã y áo chỉnh tề bước ra nghênh tiếp. Ai ngờ, vừa thoáng thấy tiên sinh, vương vui mừng quên cả giữ lễ nên tiến gần cầm tay lão trượng, hoan hỷ cất lời chào mừng:

-Ối chà, thế nào ta cũng ghé thăm tiên sinh khi ngang qua Nghệ Tĩnh, ai ngờ chưa đến Thiên Nhẫn mà người tri kỷ đã chống gậy đến đây, hay quá! hay quá! 

Nét mặt còn dính bụi đường, La Sơn phu tử đáp lễ bằng sự nghiêm trang, chậm rãi:

-Hai lần trước, sở dĩ tôi từ khước lời Ngài vì vua Lê còn đó. Nay Lê Chiêu Thống rước voi về giày mả tổ là hành động của tên phản quốc thì bỉ nhân nhất định theo ngài để hưng quốc an dân, giúp ngài tiêu trừ giặc Mãn Thanh, đem an lạc cho cơ đồ dân Việt.

Nguyễn Huệ quá đỗi vui mừng liền mời tiên sinh ngồi vào ghế quân sư chẳng khác nào Lưu Bị đời hậu Hán mời được Khổng Minh Gia Cát Lượng (Gia Cát Lượng (181234) là quân sư, đại thần của nước Thục thời hậu Hán. Ông là một chính trị gia, nhà quân sự, học giả. Ong đã tạo ra các chiến thuật như: Bát trận đồ, Liên nỏ, Mộc ngưu lưu mã, chế ra đèn trời [Khổng Minh đăng] và món bánh bao. Gia Cát Lượng được biết tới nhiều qua tác phẩm Tam Quốc Diễn Nghĩa). Tiếp đó, La Sơn phu tử bày mưu:

-Cổ nhân có nói: “sư xuất vô danh, sự cố bất thành” nghĩa là xuất quân không có chính danh nên đại sự không thành; nay đại vương thân hành ra đất Bắc để đánh giặc Mãn Thanh cứu nước, vì thế để muôn dân quy về một mối thì đại vương phải hành động như một Hoàng đế danh chánh ngôn thuận, nhất hô bá ứng thì trăm họ mới hết lòng phò tá mà cùng nhau đuổi giặc, trừ nguy.

Mùa đông, sáng sớm và ban đêm đều có sương mù mờ mịt, mưa nhè nhẹ nhưng dai dẳng suốt ngày, cái lạnh pha chút ẩm thấp làm cho người ta thích tìm sự bình an, ấm áp nghỉ ngơi; nhưng ngày Mười hai Tháng Chạp năm Mậu Thân thì khác hẳn, vì đại sự cứu nguy dân tộc khỏi nạn xâm lăng, Nguyễn Huệ cho lập đàn ở núi Bàn Sơn tế cáo trời đất lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung thống lĩnh tất cả thủy bộ đại binh tiến nhanh ra Bắc.

Kế hoạch của quân sư đưa ra là đại binh phải “hành quân thần tốc” để kịp thời gian không cho địch trở tay. La Phu tử nghe báo cáo quân địch lên đến hai mươi vạn hùng hậu thì liền tâu với vua rằng:                                                                    -Đại  quân của Hoàng đế kéo từ Phú Xuân ra đây chưa đủ túc số để chống lại Mãn Thanh, giờ này về lại đàng trong chiêu binh thì mất đi thời gian tính, vậy ngay tức khắc xin Hoàng đế tuyển mộ trai tráng ở đất Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh vì nơi đây anh hùng hảo hớn cũng nhiều mà đất thượng võ xưa nay từng nổi tiếng. Thuở vua Trần đánh quân Nguyên Mông đã mộ binh chốn này nên có câu “hoan diễn do tồn thập vạn binh” (Năm 1285  Hưng Đạo Vương vâng mệnh điều quân dân các lộ Hải Đông, Vân Trà để đánh quân Nguyên. Người theo rất đông. Vua khen qua câu thơ: Cối kê cựu sự quân tu ký, Hoan Diễn do tồn thập vạn binh là Cối Kê chuyện cũ người nên nhớ, Hoan Diễn  còn kia chục vạn quân)  là vậy.                                       

             Nghe vậy, vua Quang Trung truyền ba quân nghỉ ngơi nửa tháng tại Nghệ An để tuyển mộ thêm binh sĩ và đúc bánh đa làm lương khô chuẩn bị chuyển quân. Khi trai tráng trong các xứ tuyển mộ khá dồi dào, La Sơn phu tử trình bày thêm chiến lược và chiến thuật hành quân như sau:

-Hai mươi vạn quân Thanh kéo sang nước ta quá dễ dàng, chúng đang kiêu căng, khinh địch và ngạo mạng, doanh trại chưa thiết lập xong, phong thủy đông giá trở trời cũng tác động đến cơ thể từng tên giặc. Vậy chiến lược và chiến thuật của ta là tốc chiến quyết tốc thắng. 

Binh thư đã dạy: “Dĩ dật đãi lao giả thắng” ( Lấy khỏe để thắng mệt),  do thế mà ta phải “công kỳ vô bị, xuất kỳ bất ý giả tất thắng” (Tấn công kẻ thù lúc chúng không phòng bị, hành động khi chúng không ngờ tới). Xưa nay chiến lược đánh phủ đầu cần phải “tiên phát giả chế nhân, hậu phát giả chế ư nhân” (Trước ra tay đánh gục kẻ thù. Sau đột nhập được vào trong thì có thể kiến cơ hành sự tiến hành đại kế).

Vua Quang Trung gật đầu cho là chí lý, bèn hỏi tiên sinh cách nào nhanh nhất để tiến quân ra Thăng Long thành.

La Sơn phu tử ngẫm nghĩ giây lát rồi chậm rãi đáp:       

-Tâu hoàng đế, theo dự liệu của giặc Mãn Thanh và bọn bán nước cầu vinh thì ít nhất đầu tháng Hai quân ta mới đến đất Bắc, hãy tạo bất ngờ cho chúng chẳng kịp trở tay, chỉ có chạy thật mau không ngừng nghỉ, hai người khiêng một thay đổi hàng giờ mà bảo đảm tốc độ liên hoàn không dừng lại.

Tuyệt vời! vua Quang Trung lần nữa gật đầu tán thưởng, liền đó Ngài cho binh lính chia mỗi tổ thành ba người, lấy tre bện thành những chiếc võng để hai người khiêng một đặng giảm đi sự mệt nhọc mà liên tục tiến quân ra Thăng Long.

Riêng tượng binh và kỵ binh thì vua Quang Trung phái nữ tướng Bùi Thị Xuân điều động một trăm thớt voi, hai trăm con chiến mã theo đường núi tiến ra Bắc suốt ngày đêm không nghỉ, bảo đảm rằng nữ tướng Bùi Thị Xuân cùng tượng binh đến được phía nam thành Thăng Long trước vài ngày đón chờ bộ binh đặng hợp lực cùng nhau phá thành.

Khí thế toàn dân đang chờ đợi một minh quân lãnh đạo non sông, vua Quang Trung bèn ban huấn dụ cho bá gia bá tánh cùng hưởng ứng chống ngoại xâm, đồng thời nhờ thế mà mộ được hơn mười vạn trai tráng tòng quân; cờ Tây Sơn phất phới hiên ngang theo đại lộ đến đèo Ba Dọi núi Tam Điệp là địa điểm giữa tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình thì gặp Đại tư đồ Ngô Văn Sở và Vũ Văn Nhậm cung đón.

Nh́n thấy nét lo âu trên khuôn mặt của các vị đại thần, vua Quang Trung bước tới khen Vũ Văn Nhậm là người đầy mưu trí, bảo tồn được tính mạng của binh sĩ, phải nhịn để tránh sức mạnh ban đầu của chúng, chỉnh đốn hàng ngũ rút về nơi hiểm yếu, trong thì nâng lòng quân kích thích, ngoài thì khiến lũ giặc kiêu căng. Nhân gần đến ngày nguyên đán năm Kỷ Dậu, hoàng đế cho quân binh ăn tết trước, căn dặn binh sĩ cùng bá quan rằng:

-“Chúng nó sang phen nầy là mua lấy cái chết đấy thôi, ta ra đi chuyến nầy, thân coi việc quân, đánh giữ đã có định mẹo rồi, đuổi quân giặc về Tàu chẳng qua mười ngày là xong việc”.

 Đoạn, ngài xoay qua phía Vũ Văn Nhậm và các quan văn, tướng võ vua nói tiếp.

-Chúng là nước lớn gấp mười lần nước ta, sau khi thua, thế nào cũng xấu hổ mà tìm cách báo thù, như thế thì đánh nhau mãi mãi không thôi, dân chúng lầm than ta đâu nỡ thế. Vậy đánh xong trận nầy ta phải cậy tài của tiên sinh Ngô Thời Nhậm dùng ngòi bút để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mười năm nữa nước Việt trở nên phú cường rồi, thì ta không cần phải kiêng dè chúng nó nữa!”

Nói xong, vua Quang Trung bố trí chiến thuật, chia quân ra làm năm đạo như sau:

– Đạo quân thứ nhất do đô đốc Nguyễn Văn Tuyết thống lĩnh thủy quân với ba trăm chiến thuyền đi cánh hữu tiến vào sông Lục đầu đánh tan quân Lê Chiêu Thống đóng tại Hải Dương và hỗ trợ cho bộ binh đánh thẳng vào phía đông thành Thăng Long.

– Đạo quân thứ hai do đô đốc Nguyễn Văn Lộc dẫn bộ binh phía hữu tiếp ứng đội quân thứ nhất kiêm thống lĩnh hai trăm chiến thuyền vào sông Lục Nam rẽ ngược lên Phượng nhãn, Long giang qua Yên thế chận đường rút lui của giặc để thu khí giới, quân lương và giữ hướng bắc không cho địch tiếp tế.

-Đạo quân thứ ba do Đô đốc Nguyễn Văn Bảo chỉ huy đội tượng binh và kỵ binh hỗ trợ cho đạo quân chủ lực đánh thốc vào hướng tây nam đồn Ngọc Hồi, kế đó tiến binh theo đường Sơn Minh đánh bọc hậu dứt điểm đồn Ngọc Hồi tại làng Đại Áng , huyện Thanh Trì.

-Đạo quân thứ tư do Đô Đốc Nguyễn Khắc Long chỉ đạo theo cánh tả trực chỉ hướng tây bắc qua Chương Đắc đánh thẳng vào quân Điền Châu của Sầm Nghi Đống đang đóng tại gò Đống Đa mở đường tấn công Thăng Long thành.

– Đạo quân thứ năm là chủ lực quân do chính vua Quang Trung điều khiển có Đại tư mã Ngô Văn Sở và Nội hầu Phan Văn Lân làm tiên phong đánh hướng nam thành Thăng Long là mặt phòng thủ chính yếu của quân Mãn Thanh.

Sau khi phân bố các đạo quân xong, vua Quang Trung truyền hịch xuất binh:

“Quân Thanh kéo sang xâm lấn, các ngươi đã nghe tin ấy chăng? Trong vòng trời đất chia theo phận sao Dực, Chẩn; nam bắc vẫn riêng một non sông. Người nước Bắc không phải nòi giống ta thì tất phải khác dạ. Từ đời Hán về sau họ cướp đất đai ta, tịch thu cá thịt, vơ vét của cải, nông nổi ấy không sao chịu được; người nước Nam quyết nghĩ cách đánh đuổi chúng đi.

Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ vì không chịu bó tay ngồi nhìn quân xâm lăng tàn bạo nên phải thuận lòng người, dấy nghĩa quân đánh thắng rồi đuổi chúng về. Sau khi đó thì nam, bắc rõ lại phân ranh, bờ cõi yên ổn, vận nước lâu dài, nên từ nhà Đinh tới nay chúng ta không phải chịu cái khổ Bắc thuộc; việc chung muôn dân có lợi lộc, được thua chuyện cũ rành rành ra đó.

Nay nhà Thanh không coi gương Tống, Nguyên, Minh lại âm mưu chiếm nước Nam ta đặt làm quận huyện, vậy ta phải vùng lên mà khử trừ đi!”

Ba quân tuớng sĩ đồng thanh hô vang lừng:

-Quyết chiến! Quyết chiến.

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

========

Thăng Hoa Cuộc Đời

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Kỳ 63 Chiến Thắng Đống Đa

Vua Quang Trung hạ lịnh xuất binh vào đêm trừ tịch, nổi trống, đốt lửa khí thế hào hùng, tiến binh ào ạt. Lợi thế của tổ ba người thì kẻ nằm trên võng đọc to khẩu quyết võ công cho hai anh khiêng học theo khỏi mệt, nhờ thế mà chặng đường hành quân, các tân binh hiểu được các thế võ công cần thiết vừa thủ cho mình mà cũng có công năng diệt được quân Thanh mau chóng. Thấy khí thế hừng hừng rực cháy, vua Quang Trung phủ dụ quân sĩ rằng: “ngày mùng Bảy tết Kỷ Dậu chúng ta sẽ vào thành Thăng Long ăn tết.”

Sau ba ngày đêm theo đường bộ đến Giản thủy, quân Tây Sơn gặp quân lính của Lê Chiêu Thống và tiền binh Mãn Thanh đóng tại đồn Gián Khẩu cản trở, quân Tây Sơn thần tốc, táo bạo đánh một trận tan vỡ và đích thân vua Quang Trung gióng trống cho ba quân đuổi theo đến huyện Phú Xuyên thì bắt sống hết thảy chẳng sót một tên. Do đó, không có quân địch nào khả thể chạy về báo cho Mãn Thanh đang đóng ở Hà Hồi và Ngọc Hồi biết được.

Nửa đêm ngày mùng Ba tết năm Kỷ Dậu, quân Tây Sơn vây kín đồn Hà Hồi rồi dùng chiến thuật phủ dụ, dùng loa kêu gọi giặc Thanh đầu hàng. Vì tiếng hò la pha lẫn tiếng trống trận, phèn la làm cho địch quân khiếp đảm phải mở cửa thành xin hàng, giao tất cả quân lương, vũ khí khiến ngày xuân nở hoa tại Hà Hồi không rơi một giọt máu.

Giờ Dần ngày mùng Năm, quân Tây Sơn đã tiến đến Ngọc Hồi thì bị quân Thanh bắn súng đại bát như mưa. Sau khi bao vây bốn hướng, vua Quang Trung duyệt xét tình hình chiến sự bèn sai ba người lính làm một tấm ván có bện thêm rơm rạ và nước tránh lửa rồi xung phong tiến vào theo sau là hai chục người cầm binh khí, giắt dao nhọn tiến theo. Thân hành vua Quang Trung lên bành voi, cho đánh trống thúc chiến liên hồi khiến ba quân hăng máu ào ạt như thát lũ tiến đến cửa đồn rồi ngả ván tràn vào xáp chiến. Quân Mãn Thanh tan vỡ, đạp lên nhau chạy trốn, xác nằm ngổn ngang, máu chảy lênh láng; đến giờ ngọ thì quân Tây Sơn chiếm được Ngọc Hồi.

Theo kế hoạch đã định, đô đốc Nguyễn Khắc Long đánh úp vào Khương Thượng ở đồn Đống Đa tiêu diệt đội quân của tri phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống khiến viên tri phủ nầy không biết làm sao hơn là phải treo cổ tự tử.

Đề đốc Hứa Thế Hanh, tiên phong Trương Sĩ Long, tả dực Thường Duy Thăng và một số tướng Mãn Thanh bị chém chết ngay tại doanh trại hoặc tự sát tại các đồn khi quân Tây Sơn bao bọc tứ phương.

Điều trớ trêu vô cùng tủi nhục là khi hay  tin Tôn Sĩ Nghị đem binh vào Thăng Long,  thì ở Nam hà  Nguyễn Phúc Ánh mừng rỡ vô cùng liền cho tướng Phạm Văn Trọng và Lâm Đề mang thư sang triều đình Mãn Thanh tỏ lòng hoan nghênh thần phục, lại đem năm mươi vạn cân gạo giúp quân Thanh lưu trú Bắc hà, nhưng hởi ôi! thuyền ra đến cửa biển thì bị bão tố hoành hành làm đắm toàn bộ giấc mộng nô lệ của Nguyễn Phúc Ánh.

Trong khi đó, cung thành Thăng Long đèn hoa rực rỡ, Tôn Sĩ Nghị đang uống rượu thưởng xuân với đào non gái đẹp, ngày đêm bắt kỹ nữ múa hát âm vang, rượu bồ đào mỹ tửu hâm nóng hết bầu nọ, hủ kia và trâu bò cứ xẻ thịt nướng lên làm đại yến; Lê Chiêu Thống thì ra sức trả thù như trường hợp của Hoàng đệ Lê Duy Lưu và phò mã Dương Hành bị chặt chân quăng giữa chợ vì có liên hệ đến Tây Sơn. Từ các đời tiên đế chưa có một mùa xuân nào ô nhục, điêu tàn mà hương khói các đền đài cũng âm u lạnh lẽo.

Đêm mùng Năm tết Kỷ Dậu, ánh trăng lưỡi liềm nhỏ xíu không đủ tỏa ánh sáng huyền hoặc xuống nhân gian, nhưng chị Hằng vẫn lờ mờ chiếu rọi đủ đưa bước chân đoàn nghĩa quân Tây Sơn tiến đúng lộ trình để vây hãm kinh thành.

Nửa đêm hôm đó Tổng đốc lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị vẫn còn ngà ngà say, vị nồng của rượu, vị mặn của thực phẩm cùng với men tình choáng váng đã khiến cho thần trí của bổn quan xâm lược quay cuồng; hung tin báo về đồn Hà Hồi thất thủ, đồn Ngọc Hồi bị đại quân Tây Sơn tàn sát, Sầm Nghi Đống treo cổ tự tử, Hứa Thế Hanh và các tùy tướng bị giết không còn manh giáp khiến Tôn Sĩ Nghị khiếp đảm tinh thần, tay chân run rẩy, đại tiểu tiện bầy nhầy, không kịp thắng yên cương, chẳng còn giờ mặc giáp bào, bỏ quên cả ấn tín và mật chỉ của vua Càn Long, ôm lưng ngựa cùng vài tên kỵ sĩ chạy thoát thân qua sông Hồng Hà.

Quân Mãn Thanh nghe tin chủ soái bỏ trốn bèn vội vã tranh nhau vượt cầu phao bắc ngang hai bên bờ sông Hồng, quá tải nên cầu bị sập đổ, khiến hàng ngàn quân Thanh sụp xuống dòng nước đang cuồn cuộn trôi, số bị chết đuối, số còn lại bị bắt tính không kể xiết.

Hai đạo quân Vân Nam, Quí Châu của Mãn Thanh đóng tại Sơn Tây nghe hung tin về chủ soái Tôn Sĩ Nghị tháo chạy, các đại tướng đều tử trận nên vội vàng rút quân tháo lui. Không dễ dàng như vậy, Vua Quang Trung đã cho Đô đốc Nguyễn Văn Lộc phục kích hai bên đường rút binh, khi hai đạo quân xâm luợc hớt hãi tháo lui thì bị Tây Sơn đón đánh một trận tơi bời hoa lá làm cho hàng chục ngàn tên xâm lược đưa tay đầu thú, số còn lại lén núp trên rừng rồi mò về biên giới mà vẫn chưa hết sợ. Riêng Tôn Sĩ Nghị trốn chạy tới Quảng Tây mà vẫn còn hồn phi phách tán, chưa biết quân Tây Sơn tài tình ra sao và dùng lối thần tốc thế nào đánh một trận kinh thiên động địa như vậy?

Lê Chiêu Thống cũng bám sát Tôn Sĩ Nghị chạy theo về Tàu rồi phải sống cuộc đời ô nhục vì triều đình Mãn Thanh buộc phải ăn mặc theo phong tục Bắc phương, bị khinh rẻ vì nhu nhược và ngu muội nên ôm nỗi thống khổ nhục nhã mà băng hà ở Quế Lâm vào trung tuần tháng Mười năm Quí Sửu (1793) hưởng dương 28 tuổi.

Áo bào của vua Quang Trung đen cháy vì thuốc đạn, giày vớ đều bị rách tươm và cổ họng đắng chát bởi gào thét thúc ba quân hăng say tiến chiếm mục tiêu; các đại tướng Tây Sơn đang kiểm xem binh sĩ, băng bó nghĩa quân, thu hoạch chiến công chuẩn bị tập hợp toàn quân tiến vào nội thành Thăng Long  kịp chính Ngọ ngày mùng Năm tết Kỷ Dậu đặng mở tiệc khao quân, ca khúc khải hoàn, phủ dụ toàn quân ăn mừng tết chiến thắng.

Dân chúng Hà thành vui mừng không kể xiết, đặt bàn hương án cung kính đón chào; từ ngày Lê Chiêu Thống rước giặc vào nhà thì dân lành đau nhói, cầu trời khẩn Phật ngày đêm cho có một Phù Đổng Thiên Vương xuất hiện. Giấc mơ đó đã thành hiện thực đang xảy ra với bao niềm hân hoan, ái mộ.

Đoàn quân vừa ngang qua cung điện Kính Thiên, những cành đào đỏ chói vẫn vô tình hé nhụy như chứng kiến cuộc rút chạy nhục nhã của vua Lê cùng bọn tùy tùng đuổi theo vó ngựa của kẻ xâm lăng, vua Quang Trung rút gươm chặt đứt một nhánh đào ươm nụ thật đẹp giao cho đô đốc Nguyễn Văn Tuyết cấp tốc mang về thành Phú Xuân trao tận tay Ngọc Hân công chúa để báo tin thắng trận huy hoàng.

Ngọc Hân công chúa nhận được cành đào còn chưa nở lộc đươm xuân liền reo mừng báo tin cùng bá quan trong thành niềm tự hào cảm động vô biên. Tin chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa loan truyền mau lẹ làm cho bá tánh Đại Việt cảm kích và hoan hỷ như chưa từng có niềm vui nào sánh bằng.

Dân chúng đất Thăng Long trở lại cảnh thanh bình, không còn một tên xâm lược cũng như bè lũ bán nước của Lê Chiêu Thống lẩn quẩn đâu đây. Trời đang độ ngày xuân nhưng tiết lạnh vẫn còn nhức nhối, binh sĩ hai bên thương tật khá nhiều mà gò Đống đa thì xương quân lính Mãn Thanh chất cao như núi, vua Quang Trung nghẹn ngào cho cuộc chiến xâm lăng bèn truyền lịnh sai quan Thị Lễ lo tổ chức đàn tràng kỳ siêu bạt độ các vong linh chết trận vừa rồi. Tiếng trống trầm hùng cùng hồi chuông gọi hồn dân tộc vang vọng cả bầu trời mới vừa giải phóng, nghi thức tế cáo chiêu hồn được tổ chức hết sức trang nghiêm dưới trướng điện Kính Thiên vào giờ Ngọ ngày mùng Năm, đích thân vua Quang Trung đọc bài văn tế để an ủi linh hồn của bao chiến sĩ vì chủ soái của mình mà hy sinh trận mạc, lời văn đầy cảm khái, ý đạo tràn nghĩa tình khiến lòng thành của bao quan quân sĩ tứ ngập niềm cảm xúc, bi ai.

Hoàng đế Quang Trung rảo bước trên những con đường đất đỏ Thăng Long không còn thâm u trầm mặc như xưa, nhà vua cảm nhận được sinh khí nhộn nhịp ngựa xe, chân người, và cây cối hữu tình dù bây giờ chỉ là khoảnh khắc lặng thinh. Không gian bao la và cao rộng mà tổ tiên Đại Việt đã đổ biết bao máu xương gầy dựng cơ nghiệp này. Niềm biết ơn dâng lên ngùn ngụt vì trong từng ngọn cỏ, cành cây, giọt nước sương mai hay âm ba vang động đều mang dáng dấp của bao triều đại đi qua mà sự lao tâm khổ nhọc của tiền nhân để phấn đấu từng phút giây gìn giữ quê hương là một chiến tích hào hùng in đậm nét trong mỗi hạt bụi, cành hoa. Vua Quang Trung đang nghĩ đến Lê triều đôi ba trăm năm rồi thương cho thân phận một vị vua chỉ vì quyền lợi cá nhân hay gia đình nhỏ nhặt mà quên đi cái di hại ngàn đời của dân tộc lớn lao.          

Hoàng đế không ung dung bước vào Thăng Long như Lê Chiêu Thống mà phải hy sinh hàng vạn binh hùng tướng mạnh mới tự tại rảo bước chung quanh, quả thật một chiến công nào cũng xây trên xương máu hàng vạn lương dân, hành xử không khéo là mối nguy cho sơn hà xã tắc.

Hoàng đế còn đang thả hồn về nguồn cội các vua Hùng mở nước thì phía sau nghe tiếng hò hét của quân binh đang tuốt kiếm dẫn đoàn tù binh Mãn Thanh về nơi tập kết; nhìn vào đôi mắt thâm quầng và gương mặt lấm lét, khiếp sợ của đám quân xâm lăng trong những bộ áo quần lem luốt, vua Quang Trung chỉ thị cho đội cận vệ phải đối xử tử tế, xuất kho lấy áo quần tươm tất cho mặc, nhà bếp nấu cơm cho đám tàn quân ăn uống no đủ đặng chờ ngày dùng làm “địch vận” thả về cố quốc. Nhân đó vua cho loan truyền những lời phủ dụ đến các tầng lớp nhân dân để bớt sự hoang mang, đồng thời kêu gọi những binh sĩ Mãn Thanh còn trốn tránh đó đây nhớ mau mau ra hàng để được hưởng khoan hồng mà triều đình nước Nam sẽ đưa xuống thuyền hồi quy bổn quốc.                                                   

Lịnh truyền đã xong và quân Tây Sơn phục mệnh thi hành, nhà vua bước vào thư phòng, nhìn trên bàn giấy có vô số mật thư, ấn soái của Tôn Sĩ Nghị và một tờ mật dụ của vua Càn Long nhà Thanh viết cho Tôn Sĩ Nghị như sau:

“Nghe lời tâu của khanh, trẩm cho phép đem binh mã ra cửa ải nhưng phải từ từ đừng vội vã; trước phải truyền hịch ra oai, rồi cho các quan nhà Lê về nước để chiêu tập lực lượng và tìm ra Duy Kỳ đương đầu với Nguyễn Huệ. Theo dõi họ chọi nhau mà đoán chừng những phương cách để đối phó.

Nếu dân Nam còn mến vua Lê thì Nguyễn Huệ ắt phải thua và lui binh, bấy giờ cho Duy Kỳ tiến quân đuổi bắt còn khanh thì kéo quân theo sau hỗ trợ, thế là không khó nhọc mà lại sớm thành công.

Nhược bằng nước Nam nửa theo phe nầy, nửa vọng phía kia thì Nguyễn Huệ chắc không chịu lui thì Khanh nên đưa thư chỉ bảo họa phúc để xem Huệ xoay trở thế nào?

Khi nào thủy quân của ta từ Phúc Kiến và lưỡng Quảng kéo ra biển khơi, Khanh cứ đánh lấy Thuận hoá, Quảng ngãi trước rồi thúc quân tiến lên khiến Nguyễn Huệ thọ địch ở cả sau lưng lẫn trước bụng ắt phải đầu hàng. Lúc đó ta cứ nuôi sống cả hai; từ Thuận hóa vào nam thì cắt chia cho Huệ, còn từ Nghệ an ra Bắc thì chia cho Lê tự tôn. Ta đóng đại binh ở giữa, cai quản cả hai rồi sẽ tính kế về sau.”

Đọc xong tờ mật dụ, vua Quang Trung mỉm cười rồi quay sang Ngô Thời Nhiệm nói rằng:

 “-Trẫm xem tờ chiếu Càn Long chẳng qua lấy cớ để chiếm nước ta. Nay đã bị đánh tan một trận tất phải xấu hổ, chẳng chịu yên thân. Trẫm nghĩ giá như hai nước cứ đánh nhau thì chỉ khổ cho muôn dân; vậy khanh nên dùng lời nói khéo để khiến cho can qua hết nạn binh đao. Việc nầy không có tay khanh thì chắc khó thành!”

Ngô Thời Nhiệm dâng kế nên dùng lối địch vận bằng cách trả tù binh Mãn Thanh về nước để gây uy thế cho Đại Việt và làm nhụt chí những quân sĩ muốn qua xâm lăng Đại Việt.

Do đó, vua Quang Trung liền cho tập hợp các hàng binh của Mãn Thanh và phủ dụ rằng:

“Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị của các ngươi, tài đong đấu rá, nghề mọn thêu may, không biết phép chủ yếu trong việc dùng binh, vô cớ đem ba mươi vạn quân ra ngoài quan ải, vượt núi, leo đèo, chui sâu hiểm địa, xô dân vô tội đưa các ngươi vào mũi tên, ngọn giáo, thảy đều là tội tên Tổng đốc của các ngươi. Trẫm một phen cờ lệnh vẫy lên, quét sạch lũ ngươi như quét đàn kiến, lũ ngươi thua tan, chết hại hàng vạn; những kẻ bị bắt tại trận buộc thế bức bách phải hàng; lẽ ra chiếu quân luật phải đem chém cả để răn đe phường bạo ngược. Thể đức hiếu sinh của trời đất, ta bao dung che chở, tha chết cho các ngươi!”

Bọn hàng binh này là khối lượng nhân chứng lớn để khi về nước sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực hoặc chủ hòa một khi binh Thanh có ý phục thù.

Vua Quang Trung đã đoán ý không sai tí nào, khi hay tin Tôn Sĩ Nghị bỏ cả ấn tín chạy về đến Quảng Tây và toàn bộ đại binh tan rã, các đại tướng phần thì chết, phần thì tự sát nên vua Càn Long nổi giận lôi đình vì thua trận một cách nhục nhã, bèn cử ngay Phúc Khang An làm Lưỡng Quảng Tổng Ðốc, định đem 500 ngàn quân vào Đại Việt đánh trả thù. 

Phúc Khang An nghe bọn tàn binh về tâu lại rằng uy vũ vua Quang Trung như vầng nhật nguyệt, chỉ huy ba quân như lấy trứng trong áo, giọng nói như sư tử hống, võ nghệ siêu quần quả là bậc anh hùng kiệt liệt.

Hoảng sợ uy danh của vua Quang Trung, lại nghe tàn binh diễn tả làm Phúc Khang An sợ hãi vô cùng, lòng không muốn cử binh trả thù rửa nhục nên tìm cách can ngăn Càn Long bải binh. Phúc Khang An qua đến Quảng Tây nghe tiếng quân Nam thế mạnh, nên sợ và có ý muốn hòa, bèn sai người đưa thư sang nói việc lợi hại và bảo phải làm biểu tạ tội để cho yên việc binh đao.

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

============

Thăng Hoa Cuộc Đời

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Kỳ 64 Giả Vương Lừa Được Càn Long  

Dân tộc Đại Việt có một nền văn hóa từ thuở vua Hùng, trải qua nhiều triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến đời hậu Lê này là một tổng hợp về văn học và nghệ thuật được thoát thai từ dòng tri thức bao gồm cả phong tục, tập quán, đạo đức, pháp luật, tín ngưỡng và thói quen do công sức của từng cá nhân thu đạt được trong đời sống hàng ngày và lan dần ra xã hội. Nền văn hóa Việt tộc có một chiều sâu đủ chứng minh được rằng đất nước này có một lịch sử lâu đời, không phải chỉ quanh quẩn trong một dãi đất có một biên cương hình chữ S mà nó còn lan rộng và ảnh hưởng đến cả các dân tộc láng giềng như Chân Lạp, Chiêm Thành và Tàu nữa. Nền văn hóa này được kết tinh trong một chuỗi dài lịch sử biến động, phát triển tuần tự theo thời gian và diễn biến không ngừng…Chính nền văn hóa đó đã khiến vua Quang Trung không dùng cái kiêu hãnh của kẻ chiến thắng mà sử dụng sự khiêm cung, hòa ái cốt tạo nên chốn thái bình, an lạc cho muôn dân. Vua Quang Trung ý thức rõ từng nỗi đau của binh sĩ đến nỗi nhục của vua Càn Long bèn sai Ngô Thời Nhậm thảo bức thư như bản án hạch tội Tôn Sĩ Nghị quá tàn ác với dân Nam và vuốt cái giận sỉ nhục của nước lớn mà hình ảnh Càn Long bị chế diễu như quân cướp nước xâm lăng tiểu quốc. Ngô Thời Nhậm vốn là bậc thức giả đất Bắc hà không cần đắng đo liền mài mực, đốt lò hương trầm thơm ngát rồi chấp bút viết một mạch như sau:

“…Những mong Sĩ Nghị nghĩ lại, họa may có thể lấy ngọc lụa thay nạn can qua, xoay binh xa làm hội xiêm áo. Không ngờ Sĩ Nghị nhắm mắt tiến binh nhưng vừa xảy ra giao tranh đã tan hàng rã ngũ, xô đè lẫn nhau mà chết. Binh đao là chuyện bất đắc dĩ của thánh nhân…những chuyện phạm đến cương thường, Tôn Sĩ Nghị không tâu rõ từng việc một. Hắn che lấp tai mắt nhà vua đến nổi làm cho sự việc rối ren đến thế!”.

Ngoài những bức thư vừa hùng tráng, vừa trách móc, vừa nói cái đức của thánh nhân kết hợp với vận dụng bá quan trong triều đình Mãn Thanh can ngăn Càn Long bỏ ý định tiến binh; đồng thời Phúc Khang An cũng không dám động binh nên viết sớ tâu trình lên vua Càn Long để bãi chiến:

“Nam Bắc bớt được nạn can qua, rõ là phúc lớn cho sinh linh và cũng là vận may cho kẻ biên thần.”

Rồi các quan Mãn Thanh đúc kết lịch sử tiền nhân nên quả quyết “-Từ xưa đến giờ, Trung Quốc chưa bao giờ đắc chí ở cõi nam phương. Chính các triều đại Tống, Nguyên, Minh rút cuộc cũng đều thua hỏng, gương ấy không xa, hãy còn trờ trờ ra đó nên dù Phúc Khang An có đem vài muôn binh sang Đại Việt cũng dễ tan tành manh giáp.”

Vua Càn Long nghe xong, lòng cũng rã rời, không ngờ đất Nam kia có kẻ siêu phàm nhập thánh đến như vậy? lại nữa, các quan nghị bàn nên hòa tốt hơn là chiến nên vua Càn Long đi đến quyết định bãi binh, lá cờ “Cửu Tỉnh Binh Mã” được hủy bỏ và Tôn Sĩ Nghị bị giáng chức làm thường dân.

Sau khi dùng lối ngoại giao tuyệt kỹ để giảm tối đa khả năng đem binh qua Đại Việt, kết quả triều đình Mãn Thanh phải ngậm đắng, ôm hận chua cay trong mộng ước thôn tính phương nam.

Mọi việc tạm ổn, vua Quang Trung giao lại đất Bắc hà cho Tư đồ Ngô Văn Sở, Phạm Văn Lân cử cắt việc binh và Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích lo chu toàn ngoại giao với phương bắc đặng giữ bờ cõi khỏi nạn can qua.

*

Từ ngàn năm nay nước Đại Việt dù có chiến thắng oanh liệt những đội quân hùng hậu bắc phương thì vẫn giữ cách khiêm tốn để cho người Tàu khỏi động lòng tham mà đem binh tràn qua biên ải. Các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đến hậu Lê thảy đều coi Trung Hoa như một cơn ác mộng, nhưng cũng ép mình cho khỏi xảy đao binh bằng cách xin phong vương và triều cống đặng Đại Việt được quốc thái dân an.

Phát xuất từ ý niệm tích cực ấy nên vua Quang Trung chợt nghĩ đến chuyện bá tánh Đại Việt gánh chịu nạn đao binh triền miên, bèn tìm cách cho quốc gia thịnh trị khỏi nạn can qua nên sai Ngô Thời Nhậm làm ngoại giao để Thanh triều công nhận vua Quang Trung là Hoàng đế nước Đại Việt.

Trước hết, Ngô Thời Nhậm quan hệ mật thiết với Phúc Khang An đang làm Tổng đốc lưỡng Quảng và dùng vị tướng Tàu này cho mục đích hóa giải mộng báo thù của vua Càn Long, đồng thời tìm cách cho bọn Lê Chiêu Thống cùng đám tùy tùng bỏ đi mộng khôi phục ngai vàng Lê triều. Nguyễn Quang Hiển là cháu của vua Quang Trung đại diện nước Nam bàn chuyện hơn thiệt với Phúc Khang An về việc phong vương cho vua Quang Trung. Khang An viện các lý lẽ hiện thực để chứng minh rằng nước Nam là đất của người Nam, phương bắc không nên đụng đến làm chi; cuối cùng vua Càn Long phải nuốt giận mà thuận cho vua Quang Trung làm An Nam quốc vương, nhưng để giữ cái thể diện nhục nhã trong trận xâm lược vừa rồi, vua nhà Thanh đưa ra hai điều kiện:

Thứ nhất là lập đền thờ Đề đốc Hứa Thế Hanh tại nước Đại Việt để thờ cúng.

Thứ hai là vua Quang Trung phải thân hành sang triều cống để được phong vương vào năm tới nhân dịp bát tuần khánh thọ của vua Càn Long.

Dĩ nhiên nước Đại Việt phải tạm chấp nhận nhưng Ngô Thời Nhậm lại dùng mưu buộc Càn Long phải phong vương cho vua Quang Trung trước khi ngài qua chúc thọ bát tuần của thánh hoàng.

“Quốc trưởng Quang Trung chưa được nhận phong mà sang năm cùng với Quốc trưởng các nước khác nhất tề cùng vào chúc mừng đại Hoàng đế thì không khỏi bất tiện.”

           Lời lẽ như vậy thì không cách nào chối từ nên vua Càn Long chịu lếp vế ban chỉ dụ phong vương cho Quang Trung hoàng đế rồi tự tay viết bảy chữ trong chiếc áo cẩm bào để dâng tặng ngài. Chiếc áo cẩm bào thật đẹp với dòng chữ “Xa tâm triết trục, đa điền thử” (Trục xe bị gãy, ngoài ruộng nhiều chuột đồng). Vua Càn Long đặc phái hai vị đại thần mang tờ sắc đến nước Nam tuyên phong.

Vua Quang Trung thật lòng không cần vương tước của Thanh triều làm gì nhưng cốt để yên dân nên bèn cho con thứ là Nguyễn Quang Thùy ra Thăng Long nhận sắc phong vương.

Tinh thần độc lâp, khí khái, kiêu hãnh của vua Quang Trung đã làm cho thần dân Đại Việt hãnh diện, bá quan văn võ kính nể tôn phò. Các quan triều đình có nhắc đến chuyện lập đền thờ Hứa Thế Hanh cho có chuyện rồi cũng lờ chuyện đó, vì Hứa tướng quân là kẻ xâm lăng Đại Việt không xứng đáng thờ phượng tại đất Nam.

Đến mùa xuân năm Canh tuất là dịp bát tuần khánh thọ vua Càn Long, các Quốc trưởng được Thanh triều phong vương đều đến Trung Quốc để làm lễ chúc thọ.

Lẽ ra vua Quang Trung phải thân chính đến tận triều đình Mãn Thanh theo nghi thức khánh chúc trường thọ nhưng ngài lại khước từ vì sĩ diện Đại Việt bèn dùng kế “du long chuyển phượng” (trộm rồng thay phượng, ý là thay đổi đối tượng) thực hiện việc ngoại giao nầy.

Ngô Thời Nhậm ra sức tìm được một người có gương mặt đoan chính hao hao giống vua Quang Trung tên là Phạm Công Trị, cháu phía ngoại gọi Quang Trung bằng cậu. Sau khi huấn luyện nghi thức triều gia khá thuần thục, Phạm Công Trị thân hành cùng đoàn tùy tùng trên một trăm người gồm Hoàng tử Nguyễn Quang Thùy, Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn và một đoàn nhạc vũ công biểu diễn mười tiết mục độc đáo làm quà chúc thọ Càn Long theo phong tục dân Nam. Ngoài ra, phái đoàn còn mang theo hai thớt voi, một số quý vật và hải sản hiếm hoi để làm vui lòng Càn Long đặng kéo dài thời gian không cho ý nguyện phục thù của đám  con cháu Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống xía vào trong những kỳ luyện binh rèn kiếm.

Sở dĩ hai thớt voi được mang đi triều cống là chủ ý của vua Quang Trung muốn phái đoàn vừa đi chậm rãi theo voi, vừa vẽ các mục tiêu, bản đồ, đồn trại của hai tỉnh giáp giới nước Đại Việt để sau này tiến hành công cuộc Bắc phạt một khi cơ hội  chín muồi trong khoảng vài năm sắp đến.

Giả vương Phạm Công Trị được Phan Huy Ích soạn thảo văn thư thác danh Quang Trung gởi về cho thế tử Quang Toản căn dặn việc nước. Chính những văn từ không niêm theo lệ nhà Thanh đọc trước này đã làm cho Càn Long cùng triều đình Mãn Thanh khâm phục vô cùng.

Sự kính nể của triều đình Mãn Thanh khiến vua Càn Long tưởng lầm rằng Quang Thùy là con trưởng nên sắc phong Thế tử và tặng hà bào  hương khí là loại đồ thơm gói ướp hương cùng lụa là gấm vóc thượng hạng. Khi giả vương cho biết là Quang Thùy chỉ là thứ nam, Thái tử Nguyễn Quang Toản mới là trưởng bối nên Càn Long thêm một phen tặng ngọc quý và phong cho Quang Toản là “An Nam Quốc Vương Thế tử”.

Tài danh Phan Huy Ích dùng văn thơ đối đáp với Càn Long thật tuyệt vời, chữ viết như rồng bay mà ý tứ cao xa đầy huyền vi thâm diệu; do đó mà chuyến đi chúc thọ đạt được sự chí thành khiến Hoàng đế Thanh triều hứng chí tự tay rót rượu mời các quan Đại Việt cùng uống, bắt đội nhạc công Trung Quốc ăn mặc theo lối Đại Việt và học ngôn ngữ Việt để làm hài lòng phái bộ quan Nam, vì mến mộ như vậy nên vua Mãn Thanh ban tặng bao quà cáp để ghi nhớ cuộc tao phùng với người mộ điệu, thật là xưa nay chưa có một cuộc chúc thọ nào hưng phấn, trọng vọng, trí thức cho Càn Long bằng phái bộ Đại Việt đầy thông minh, tinh xảo.

Dù phái đoàn giả vương đã làm cho triều đình Mãn Thanh nể phục nhưng vua Quang Trung vẫn điềm nhiên toạ thị ở tại thành Phú Xuân đương kim hành xử của một vị Hoàng đế mưu lược, lập Ngọc Hân công chúa làm Bắc Cung Hoàng hậu, phong Quang Toản làm thái tử, lấy thành Nghệ An là nơi quê hương tổ phụ đặt làm kinh đô đại điện hay còn gọi là Phượng Hoàng Trung Đô vì ở giữa Thăng Long và Bắc thành, ngày đêm lo việc củng cố lực lượng, mở mang học thuật văn hóa, dùng chữ Nôm làm quốc ngữ, sắp đặt lại xã hội đương thời, khuyến khích chăn nuôi, canh nông trồng trọt và nhất là chiêu hiền đãi sĩ để chọn anh tài đứng ra giúp đời, giúp nước. Vua Quang Trung không mệt mỏi trong công tác tập luyện quân binh chuẩn bị một ngày tốt đẹp đem đại quân tràn qua biên giới phía bắc đặng tấn công lưỡng Quảng hầu sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt lớn hơn, rộng hơn.

Đương lúc Quang Trung Hoàng đế lo việc mở rộng đất nước, khuyến khích canh tác cho trù phú, khai dụng học thật văn chương đến mọi giai tầng xã hội thì tại phía nam, Nguyễn Phúc Ánh đem binh tấn công Gia Định thành để lập lại triều nghi cơ ngơi nhà chúa.

Số là sau khi vụ việc bất hòa giữa hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ kéo dài mấy tháng đi đến xung khắc kịch liệt ở Quy Nhơn,  nhưng rồi cũng đã được giải quyết xong, Chính Bình Vương phải trở lại Phú Xuân trấn giữ và không có cơ hội vào nam vì thế kẹt bởi Trung Ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc án ngữ ở giữa.

Nguyễn Lữ là Đông Định Vương giữ đất Gia Định cùng với quan Thái phó Phạm Văn Tham ổn định nội trị, kiến thiết ngoại thành. Khi Nguyễn Ánh mộ được binh mã kéo về đánh thành Gia Định thì thế lực vô cùng hùng mạnh bởi sự trợ lực từ ngoại bang với vũ khí tinh xảo, Nguyễn Lữ phải lui về Lạng Phụ đất Biên Hòa trấn thủ để cho Thái phó Phạm Văn Tham cố thủ giữ thành.

Nguyễn Phúc Ánh bèn dùng kế ly gián, giả bức thư của Hoàng đế Nguyễn Nhạc truyền lệnh cho Nguyễn Lữ phải tìm cách sát hại Phạm Văn Tham. Thơ lại đến tay Thái phó nên Phạm văn Tham kinh hãi liền kéo quân ra Lạng Phụ để giải bày lý lẽ thiệt hơn.

Nguyễn Lữ vốn ngại Nguyễn Phúc Ánh vì nhiều mưu mô lại được Linh mục Tây là Bá Đa Lộc ngày đêm giúp sức, liệu bề thắng không xong mà thấy Thái phó kéo quân binh có cờ trắng dẫn đầu tiến về phía mình, Đông Định Vương tưởng là Thái phó họ Phạm đã đầu hàng với Nguyễn Phúc Ánh, đem quân chống lại Tây Sơn nên Nguyễn Lữ vội bỏ thành Biên Hòa, xuống thuyền căng buồm chạy về Quy Nhơn. 

Thuở thiếu thời Nguyễn Lữ theo anh là Nguyễn Huệ thụ giáo với võ sư Nguyễn Văn Hiến, nhưng Nguyễn Lữ thể trạng mỏng manh nên được thầy Hiến chân truyền cho môn Miên quyền. Nhân dịp quan sát dân chúng thường đá gà giải trí nên Nguyễn Lữ đã nghiền ngẫm và sáng tạo ra Hùng Kê quyền từ gốc Miên quyền (Yếu có thể đánh mạnh, Thấp có thể đánh cao, Nhỏ có thể đánh lớn, Ít có thể đánh nhiều), một bài võ áp dụng việc đá gà như lấy yếu có thể đánh mạnh, lấy thấp có thể đánh cao, lấy nhỏ có thể đánh lớn và lấy ít có thể đánh nhiều, chủ yếu sử dụng cho phù hợp với thể tạng cũng như vừa vặn với thân hình bé nhỏ của người Việt.

           Ngay sau khi sáng tạo Hùng Kê quyền lập tức được các nghĩa quân Tây Sơn tập luyện và ứng dụng rộng rãi bởi tính hiệu năng  của  nó. Vào trận, trường quyền như giông như bão liên tục phủ xuống nhưng Hùng Kê quyền vẫn cứ ung dung xuyên qua xuyên lại tựa chú gà con lanh lẹ trước một chàng gà tồ to lớn hung dữ nhưng chậm chạp, để rồi khi đối thủ lộ sơ hở thì chỉ cần một chiêu của Hùng Kê quyền đá gục đối phương.

Đông Định vương Nguyễn Lữ xuống thuyền trở lại Quy Nhơn giữa mùa Vu Lan năm Đinh Mùi (1787) để chịu tội cùng anh, rồi lên ngựa trở về Kiên Mỹ thăm lại cố hương. Qua tiết Trung thu năm ấy, hai anh em Tây Sơn vương cúng giỗ tiên hiền rồi chia tay nhau, Hoàng đế Nguyễn Nhạc theo nghiệp bá để bành trướng thế lực đất Quy Nhơn, riêng Nguyễn Lữ một thân một ngựa ra đi nơi mây ngàn hạc nội, rồi mười năm sau đó một dịp tình cờ chuyển quân ngang qua đèo Hải Vân, Nguyễn Văn Dũng gặp được một thiền sư chống gậy trúc khoang thai du hành trên đỉnh non cao hao hao giống Đông Định Vương thuở nào; quân binh thừa hưởng bài võ Hùng Kê quyền truyền thụ từ vị tổ sư Nguyễn Lữ như di sản quý giá giúp Tây Sơn bao phen chiến thắng ngoại xâm cùng nhau nghiêng mình kính cẩn tiễn chân vị thiền sư bước vào chốn thanh tịnh chân như, rũ bỏ chuyện tranh bá đồ vương, hơn thua, được mất.

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

=Thăng Hoa Cuộc Đời

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

K 65  Đại Mng Ly li Lưỡng Qung

Thái phó Phạm Văn Tham vào thành Biên Hòa thì vở lẽ mình bị xí gạt liền quay ngược, kéo binh đánh thốc vào bản doanh Nguyễn Phúc Ánh, dù mấy lần đại thắng nhưng không đủ quân lương, phần thì Đông Định Vương hồi quy bổn địa nên không đủ sức giữ lại Gia Định thành. Hơn nữa Nguyễn Phúc Ánh lại được nhiều tướng Tàu ra giúp đỡ, vì vậy đất Gia Định không bao lâu lại lọt vào tay Nguyễn Phúc Ánh, vương bèn lo chỉnh đốn lại thuế khoá, khuyến khích nông nghiệp, lập ra luật pháp rồi chuẩn bị binh mã tiến đánh Tây Sơn.

Thành Quy Nhơn tức Hoàng Đế thành do Trung Ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc cai quản cũng chỉ lấy việc thủ thành làm căn bản. Sau những chuyện bất hòa giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ được giải quyết xong thì đất Quy Nhơn đã không còn là nơi quy tụ nhân tài mà các anh hùng kiệt hiệt thì hầu hết đến với vua Quang Trung, hoặc vào Nam hợp tác với Nguyễn Phúc Ánh.

Nhạc càng ngày càng già và không có nhiều sáng kiến sửa đổi về phương diện quân binh, hành chánh, kinh tế, quốc phòng…trái lại hay có tính nhỏ nhen, tị hiềm cá nhân nên tự cô lập bản thân và triều thần. Sự cố thủ để hưởng nhàn tại thành Quy Nhơn đã giúp cho Nguyễn Phúc Ánh đem quân tấn công mấy lần khiến cho Đông Định Vương phải chạy về Hoàng Đế thành mà Nguyễn Nhạc cũng không tìm cách liệu bề chống đỡ.

Vua Quang Trung biết sự lợi hại ở Nam hà và Nguyễn Phúc Ánh đã khôn khéo lợi dụng ngoại bang để giành lại ngai vàng nên Vua đang chuẩn bị kế hoạch hợp tác ngoại giao với Lào và Chân Lạp để khỏi bị Nguyễn Phúc Ánh liên kết chống lại Đại Việt, mặc khác Vua còn cho chuyển quân bằng đường thủy từ Phú Xuân bọc ra cửa bể tiến vào Sài Gòn, Biên Hòa giúp Đông Định Vương chống lại Nguyễn Phúc Ánh, sự cấu kết giữa các nước phương tây với kỷ thuật khoa học ngoại bang mưu giúp Nguyễn Phúc Ánh lấy lại ngai vàng hòng trao đổi một phần lãnh thổ hoặc tự do truyền đạo Ki Tô khiến ngoại lai xả thân bằng mọi cách để đối chọi với Tây Sơn. 

Chính những nỗi khắc khoải ưu tư cho cơ đồ Đại Việt, vua Quang Trung quyết ra sức tổ chức một đội quân hùng mạnh không những để đối phó với Nguyễn Phúc Ánh đàng trong, mà còn huấn luyện binh mã thật tinh nhuệ để tiến binh đánh chiếm Quảng Đông, Quảng Tây làm nền tảng độc lập, hùng cường, bất cần những sự phong vương định tuớc của triều đình Mãn Thanh, hẳn nhiên chính Đại Việt sẽ ngang hàng với các cường quốc lâng bang trong đó có Trung Hoa.

Vua Quang Trung đặc biệt chú trọng đến vấn đề tổ chức binh đội để dễ luyện tập, kiểm soát và sử dụng đúng chức năng từng toán, từng tổ. Ngài chia quân đội ra làm nhiều đạo quân như tiền hậu quân, tả quân, hữu quân, trung quân. Mỗi đạo quân gồm nhiều cơ, mỗi cơ chia làm nhiều đội với hàng ngũ chỉnh tề, kỷ luật hết sức nghiêm túc trong khi tập luyện hoặc xuất binh đánh giặc cũng vậy.

Vua Quang Trung đốc thúc các tướng luyện tập binh đội theo kinh nghiệm thực tiển dựa trên các trận đánh với Nguyễn Phúc Ánh hoặc với Mãn Thanh trong trận Đống Đa để lấy sở trường của từng đạo quân. Lối đánh thần tốc trong các trận địa mà chính vua Quang Trung chỉ huy đã áp dụng đều thành công và chiến thắng vinh quang.

Lối đánh theo pháp thủy quân được luyện tập cho những đạo quân chính quy nên tạo được uy thế cho vua Quang Trung mỗi lần xuất binh. Đặc biệt những lần kéo quân vào Nam hà diệt Nguyễn vương, vua Quang Trung đều dùng thủy binh tấn công một cách chớp nhoáng; vang dội chiến công đó khiến các nước lâng bang e ngại và kiêng nể uy danh vua và triều thần nước Đại Việt.

Lối đánh du kích cũng được vua Quang Trung nghiên cứu kỹ luỡng và tận dụng trong các địa thế hiểm hóc như trận tuyến Rạch Gầm, Xoài Mút, Đống Đa…nên đội quân đặc nhiệm này được huấn luyện xuất quỷ nhập thần về lối dàn dựng cách phục binh du kích đã góp phần không nhỏ trong sự chiến thuật đẩy lùi ngoại xâm, đem độc lập thật sụ cho non sông.

Ngoài ra tượng binh và kỵ binh là những đội hình được huấn luyện gay go, kiên nhẫn và linh hoạt nên đại sự hoàn thành và vinh quang vô cùng to lớn cho Quang Trung Hoàng đế đã là kết quả của những khổ nhọc tập luyện không ngừng dù mưa to gió lớn. Linh hồn của các đội kỵ và tượng binh chính là  nữ tướng Bùi Thị Xuân, vị nữ tướng kiệt hiệt hùng anh đã dày công uốn nắn hàng trăm thớt voi và hàng vạn quân binh trong công tác chiến đấu phá công thành không mệt mỏi.

Pháp luật nghiêm minh trong quân ngũ đã giúp cho vua Quang Trung thành công to lớn trong bất cứ trận đánh nào, Việc quân lương lại là bộ phận tối cần thiết được vua Quang Trung luôn nhắc nhở như là sự quyết định của thắng bại trong chiến đấu, do đó, hỏa lực Tây Sơn được dồn vào đạo quân công phá các kho lương của địch để làm hậu thuẩn khi các đạo quân khác tấn công phá thành. Về khí cụ quân nhu, vũ khí đều do sự sáng kiến tân trang bởi các loại cổ truyền như gươm, đao, giáo, mác đến những cổ súng đại bát thần công và các loại thuốc súng tự chế hoặc tịch thu từ ngoại bang đang ủng hộ cho Nguyễn Phúc Ánh.

Thật ra, hỏa lực, vũ khí của Nguyễn Phúc Ánh hơn hẳn quân đội Tây Sơn nhờ sự giúp đỡ của Pháp, nhưng những lần xáp chiến thì quân Nguyễn vương đều thua chạy bởi sự khéo léo dụng binh của chư tướng soái Tây Sơn đầy can trường và tinh thần độc lập vì chính nghĩa của nhân dân hơn là sở cậy ngoại bang.

Mưu lược lỗi lạc và tính toán đúng chiến thuật của vua Quang Trung là yếu tố quyết định trong tất cả các trận chiến dẫn đến thành công lớn, một phần do các tướng chỉ huy Tây Sơn luyện tập võ nghệ phi thường, huấn luyện binh mã suốt những thời gian không chiến tranh, trau dồi tính kiên nhẫn, gan dạ cho ba quân tướng sĩ dưới điều kiện thời tiết khắc nghiệt và phong thủy của núi rừng ngăn trở từ Hoành Sơn chạy vào Quy Nhơn; phần còn lại và quan trọng hơn tất cả là yếu tố lòng dân qua sự vận chuyển lương thực trong nhiều trận đánh đã được toàn dân ủng hộ. Điểm son chói lòa của Nguyễn Huệ không chỉ là chuyện quân sự điều binh đánh giặc mà còn vận dụng khả năng chính trị, tâm lý và đạo đức để toàn dân tham gia đại cuộc.

Trong khoảng thời gian rất ngắn từ khi lên ngôi Hoàng đế, vua Quang Trung đã thiết lập được một xã hội trật tự, thống nhất và phú cường mà trước kia vốn là một xã hội thiếu tôn ti, ỷ lại, lợi dụng quyền uy của một nhóm người bất lương để buôn dân bán nước.

Ngai vàng mục nát của các trào vua Lê là cái cớ của bao nhiêu đám sứ quân trương cờ phù Lê mà hại dân hại nước. Đàng ngoài thì chúa Trịnh nắm toàn bộ quyền bính trong tay, thậm chí có quyền phế vua hay bức tử Hoàng đế; còn đàng trong các chúa Nguyễn cũng lợi dụng chiêu bài phò Lê mà kéo dài cuộc chiến trên mấy trăm năm. Các nhóm “sứ quân” khác cũng y như thế mà hùng bá một cõi khiến giang sơn đất tổ bao phen chấn động binh đao.

Vua Quang Trung lên ngôi Hoàng đế có nghĩa là cái ngai vàng Lê triều kia đã phải thu bóng để thời gian lặng lẽ trôi đi, vì chính nó là mấu chốt của sự cục bộ, tham lam, ngu ngốc và ích kỷ.

Nét nghệ thuật dưới sự lèo lái của vua Quang Trung là một thời kỳ vàng son cho văn học độc lập, vua Quang Trung bắt buộc toàn dân học chữ Nôm, một thứ chữ riêng của người Đại Việt, Các áng văn, thơ, thi, phú, sắc phong đến việc thi cử, học hành, quan kiện đều lấy chữ Nôm làm gốc.

Những bài hịch kể tội quân xâm lăng hoặc kêu gọi toàn dân tham gia đánh giặc là những áng văn Nôm biểu lộ ý chí bất khuất, độc lập của dân tộc Đại Việt, cũng trong quãng thời gian ngắn ngủi, đại đế Quang Trung đã đốc thúc xây dựng những công trình văn hóa khác như Phượng Hoàng, Trung Đô ở Nghệ An để biểu lộ sức sáng tạo thật sự của triều đại Tây Sơn. Sự kiện tập trung các đền miếu chùa chiền trong làng thành những tu viện lớn trong quận huyện cũng là sự cố gắng cải cách tôn giáo có ý nghĩa, để kiến tạo một xã hội lấy tín ngưỡng hướng thiện làm chỉ nam đạo đức nhân bản, không bị mê tín tà linh và lệ thuộc lối suy tư từ phương bắc là biểu trưng nét độc đáo thuần khiết của Đại Việt dưới triều đại Tây Sơn qua hình thái tôn giáo trong lòng dân tộc.

Đại đế Quang Trung xuất thân từ vị anh hùng áo vải đất Tây Sơn, tay trắng lập nên sự nghiệp lẫy lừng, đánh tan hai đầu quân xâm lược…tất cả công lao ấy là do sự tài tình trong nghệ thuật lãnh đạo anh minh vì mục đích tối hậu cho tổ quốc. Nhưng phần chính yếu là vua biết lấy nền tảng dân tộc làm trụ cột cho cuộc đấu tranh; do đó, vua Quang Trung lãnh đạo toàn dân chống ngoại xâm điển hình qua trận Xoài Mút đuổi Xiêm La và trận Đống Đa tiêu diệt Mãn Thanh, cả hai sự chiến thắng oanh liệt này quyết định vận mạng tồn vong của quốc gia do toàn dân quyết tâm chiến đấu và định hình sự độc lập bất khả phân.

Để đưa nước nhà đến chỗ hùng cường và trọn vẹn lãnh thổ không những về phía nam mà hướng bắc cũng cần phải phát triển. Do đó kế hoạch Bắc phạt đã xuất hiện rất sớm trong đầu vị anh hùng áo vải Tây Sơn từ khi vua Lê còn đang chễm chệ trên ngai vàng mục nát.

Trải qua bao triều đại thịnh suy giữa một giải giang sơn cẩm tú, nước Đại Việt luôn là mục tiêu mà nước Tàu thường xuyên đem binh đánh chiếm, những chứng tích lịch sử rành rành rằng triều đại các vương tộc thường thường thủ thế để giữ nước, bảo vệ chủ quyền hơn là phản công qua tận đất Trung Hoa hạch tội, ngoại trừ anh hùng Lý Thường Kiệt đời Lý đã làm cho nhà Tống thất điên bát đảo khi Ngài đem binh tấn chiếm các tỉnh phía nam Trung Hoa. Với tinh thần đó, vua Quang Trung không muốn Đại Việt bị xem thường do bởi thành kiến từ những triều đại trước kia mà Bắc phương thường đem binh lấn áp, ngay từ những buổi giao thời vua chịu tạm thời chấp nhận cho Càn Long phong vương để thăm dò lực lượng đối phương, kéo dài thời gian nghiên cứu địa hình và củng cố binh lực, khi yếu tố phục thù đầy đủ và lòng dân đã bao phen ủng hộ thì vua Quang Trung quyết định đánh chiếm lưỡng Quảng đặng mở mang bờ cõi.

Bá quan văn võ thấy vị Hoàng đế của mình có sáng kiến uy vũ đại nghiệp cho dân tộc nên hết lòng phò tá, bộ Lại xem xét số dân đinh đích thực để trong ba người dân chọn lấy một người lính, với cách vận dụng phép nhập ngũ thế này thì quân binh Tây Sơn đã lên đến mấy muôn chiến sĩ.

Triều đình cấp phát loại thẻ chứng minh thư tục gọi là “Thiên Hạ Đại Tín”(một loại căn cước với lý lịch rõ ràng ) ghi rõ tên tuổi, quê quán từng người để dễ kiểm soát một cách chính xác hầu chọn lựa dân quân luyện tập võ nghệ cho kế hoạch đánh Tàu. Các đạo quân được tuyển thì ngày đêm rèn luyện kiếm cung, người nông dân lo canh tác lúa gạo lương thực, kẻ già yếu ở nhà thì vót cung tên, tầm vông, cọc nhọn; ai nấy đều nao nức chuẩn bị cho một cuộc Bắc tiến hầu tỏa ánh sáng kiêu hùng làm rạng rỡ quốc dân Đại Việt.

Kế sách chuẩn bị trước khi chính thức tuyên chiến, vua Quang Trung khuyến dụ các doanh gia bành trướng thị trường đến Quảng Tây, Lạng Sơn rồi cho dân Đại Việt qua đường biên giới vào sâu nội địa nước Tàu buôn bán, hành nghề. Khi vua Quang Trung viết thư nhờ Phúc Khang An chuyển biểu đòi lại bảy châu trong đất lưỡng Quảng, buộc vua Càn Long phải chấp nhận lời biểu ghi rõ: “Chỉ vì phần đất cõi nam đang làm phên dậu, bốn bề giáp ranh với vùng đất mà sử sách đã minh định” đến một bước kế tiếp là “xin đất lưỡng Quảng làm kinh đô nước Nam”, cả hai đề nghị trên đều được Thanh triều chuẩn y thuận chấp.

Để thăm dò thêm sự phản ứng của vua Càn Long nhà Thanh, Hoàng đế Quang Trung đặc cử Tướng quân Võ Văn Dũng đi sứ cầu hôn công chúa đương triều để tìm hiểu ý nghĩ vua Mãn Thanh đồng thời đòi lại những đất đai đã mất dưới đời Lê Mạc, bãi việc cống người vàng là một quốc hận đáng kể cho dân Việt từ đời vua Lê Lợi…không ngờ sứ đoàn của Đại Việt đến kinh đô Trường An đã được vua Càn Long ân cần tiếp đãi trọng hậu và thuận y đề nghị hôn nhân chọn ngày lành gả công chúa Thanh triều cho An Nam Quốc vương đồng thời cắt đất Quảng Tây để làm kinh đô Đại Việt như sự đề nghị của Hoàng đế nước Nam.=========




GIAO CHỈ SAN JOSE: July 1954: 70 years later – since the country was divided

July 1954: 70 years later,

since the country was divided

Giao Chi San Jose

1 GC.jpg
2 GC.jpg

(Written to friends in April 1954. We, 300 young men, presented ourselves at Ngoc Ha camp to mobilize and go to Da Lat to sing the song ” Oh Hanoi”. At the age of 20, we had never known love. After 21 years of fighting, in April 1975, the course Cuong Quyet continued singing . How many beautiful dreams, melted into smoke, flew away with the afternoon clouds.  

Today, July 2024, I went to the nursing home to visit my classmates. The three colonels, the green and red beret brigade commanders, and the military company that went to fight in Quang Tri were all gone, only Ngo Van Dinh remained. I leaned over to listen to Dinh ask small:

– How many guys are outside?

– Still in contact with 4 guys. All over 90. I report. Luyen just came to visit.

– I was going to say. Practicing Northern Jump for 21 years in solitary confinement and still alive. Amazing.

– I said. Don’t worry. There’s someone out there who’ll play with you.

– OK, you live to take care of your brothers.)

***************

July 20, 2014 marked the 60th anniversary of the Geneva Accords that divided the country. We celebrated the farewell night to Hanoi. Vietnamese soldiers from the US Army attended. Singer Ý Lan performed. songs of the homeland. We had the opportunity to recall memories from a very long time ago, when we were teenagers during the resistance war, standing behind the pillar of the communal house of Binh Hai village, Yen Mo district, listening to the very small Thai Thanh sing songs for Popular Education Program. The melodious lyrics of childhood still echo in youth. Anyone who goes to Thanh Van district market, ask Ms. Tu if she can spell yet,,,?. Through so many ups and downs Today, I am still fortunate to sit and listen to Ms. Thai’s daughter sing: My homeland has a beautiful canal.

Today, I sat down to re-read an old article about the Ben Hai River, which has become a 70-year-old story.

The old age has increased by 10 years, but the history of the country divided in two fundamentally remains unchanged. I would like to re-edit and send to my readers as follows.

Written for July 20, 1954

The country being divided in 1954 was indeed a disaster, but the unification in 1975 was even more miserable. To complete the so-called “Liberation of the South”, the Viet Cong had to pay off their debt with mountains and rivers. Because of the story Today’s news, let’s remember yesterday’s story. 70 years ago, on this day, the Vietnamese people migrated for the first time.

Does July 2024 remind us Vietnamese refugees of any memories? Seventy years ago, in July 1954, the Geneva Accords divided the country in two. Today, more than half a century and a great Far away, I would like to write a few words. First of all, some historical data, mentioned once at the end of my life.
In September 1945, Japan surrendered to the Allies, and World War II officially ended on the Pacific front. Ho Chi Minh led the Communist Party to declare Vietnam’s independence. The French returned to Indochina.
On December 19, 1946, the whole country was at war. In the days of the fiery Autumn of the past, all Vietnamese youth stood up to answer the call of the country. Pham Duy wrote the following lyrics : An Autumn of the year past, the revolution marched to Vietnam, with thousands of young people brandishing swords to break their chains. The South used this song to open the film We Want to Live. In the early days of the resistance, I was just over 14 years old. The age of bamboo shoots How naive and enthusiastic. At this time, no one knew anything about the Nationalists. People said: When the Autumn Revolution happened, he was 20 years old, he did not join the resistance, he was not a lover And I was a boy from Cua Bac school, Nam Dinh evacuated to Yen Mo, Ninh Binh also began the lesson of passionate patriotism.

Later I learned other magical quotes. When communism was born, he was 20 years old, if he did not follow communism, he had no heart. Twenty years later, he has not abandoned communism. He has no mass. brain.

Hanoi and Nam Dinh evacuated, students joined the self-defense force with the yellow star insignia and joined the capital regiment. In the South, Saigon’s young pioneers held bamboo sticks and joined forces to fight the French.

To this day, all the seniors 80 years old and above must still remember the fiery Autumn of 1946. Then the scorched earth resistance, then the evacuation, then the return to Qi, how many memories do they have? the distinctive language of an entire childhood.

Three years later, in March 1949, King Bao Dai returned from Hong Kong. The dawn of the new nationalist faction began to bloom bitterly in the arms of the French Union army.

1950: The war continued throughout the country until 1950. A year of many events. January, Communist China recognized communist Vietnam. February, the United States recognized the State of Vietnam. March, The United States began to aid France in Indochina. In June, the first group of American advisors arrived in Vietnam.

Then came the fateful year of 1954. In May 1954, Dien Bien Phu fell, and half of the soldiers who participated in the battle were Vietnamese national soldiers who shared the same fate of sacrifice and the fate of prisoners of war. Among them were Lieutenant Pham Van Phu. The Geneva Conference on Indochina opened. In June 1954, Ngo Dinh Diem returned from the United States to take office as prime minister. In July 1954, Geneva decided to divide the country at the parallel 17, on the Ben Hai River between the Hien Luong Bridge. And the fateful day of the entire nation was July 20, 1954. England, France, China, etc. signed the treaty with the Vietnamese communist side. The United States Ky and the national Vietnam did not sign. The then French Prime Minister promised the nation that the agreement must be signed by July 20, 1954. The meeting was held until midnight and it was not finished. The clock in the conference room stopped at 12. late hour The meeting continued until the next morning. After signing, the clock was restarted. The Vietnamese Foreign Minister, Mr. Tran Van Do, cried because the country was divided right at the conference. Le Duan, the communist commander in the South, was on his way. When he heard the news of the ceasefire in the North, he returned to continue leading the liberation effort. From Hanoi, a number of National Vietnamese officers and French officers attended the Trung Gia conference to decide on the ceasefire. . French units and Vietnamese light infantry battalions quietly withdrew from Bui Chu, Phat Diem, Thanh Hoa, and Nam Dinh, leaving behind painful panic in many autonomous Vietnamese dioceses.
In the North, the French and the nationalists were given a time limit of 80 days to gather in Hanoi, 100 days in Hai Duong and 300 days in Hai Phong. In the South, troops were gathered in Ham Tan for 80 days and Binh Dinh for 100 days. and Ca Mau 300 days.
Today, how many of us still remember the period of regrouping in the South and the migration of the North? Before leaving, the Southern army launched a campaign to plant people to stay behind and establish families. en masse to make an appointment to return two years after the negotiations and elections. Lieutenant Giao Chi participated in the Freedom Operation to Take Over Ca Mau and saw the communists gather to greet each other with two fingers spread out, promising to meet again after two years. , with the slogan: Leaving is victory, staying is glory. The Southern resistance to the North left pregnant women in the village and guns and ammunition buried in the backyard.
Meanwhile, in the North, the communists tried their best to block the nationalist troops from evacuating and to stop the great migration from August 1954. But the Nationalists still had enough one million people to leave. Lieutenant Vu Duc Nghiem , graduated from class 1 of Nam Dinh, migrated to the South with his unit and family when he was over 20 years old. From Phat Diem, he went with the 711th Light Infantry Battalion to Hai Duong and then withdrew to the South. Captain Le Kim Ngo evacuated the Engineering School from the North to Nha Trang and participated in the operation to take over Binh Dinh. Both Vu Duc Nghiem and Le Kim Ngo later had the opportunity to return to the North in communist prisons before the HO came to settle down. residing in the United States.
Also during the migration with his Catholic family, 17-year-old Pham Huan still remembers the Hanoi of his youth. After signing the Paris Agreement, Major of the Republic of Vietnam Pham Huan had the opportunity to return in an official delegation to wrote the work “One Day in Hanoi” in 1973. After that, Mr. Pham Huan once again said goodbye to Saigon in 1975. On July 7, 2004, Colonel Ha Mai Viet and I visited Pham Coach at Dr. Ngai’s Nursing Home in the Tully area of San Jose. Born in 1937, the Hanoi teenager who became a young officer in Saigon is still the youngest senior at the Nursing Home. “Eyes wide open, sending dreams across the border, at night I dream of Hanoi, Kieu’s fragrant figure.” Pham Huan said that if one day you take back Saigon, I will also take a wheelchair trip back to my hometown. He passed away in San Jose and never once back to Vietnam. But from July 1954 to July 2019, the days and months are long gone and the dream is far away. Pham Huan and poet Hoang Anh Tuan both left San Jose, leaving both the rain of Saigon and the rain of Hanoi.

At the end of May 2014, Ha Mai Viet returned to San Jose to launch his work The Roots of the Vietnam War, which began in the North. I wonder if anyone still remembers the origin.

In 1954, a 16-year-old girl boarded a plane alone with her friend’s family to go to the South to seek freedom. Her mother was orphaned, her father stayed behind to look for his son and then got stuck. The girl’s name was Nguyen Thi Chinh and later This trip brought to the South a first star named Kieu Chinh. Kieu Chinh’s trip in 1954 to say goodbye to Hanoi was filled with tears of fatherly separation. In 1975, Kieu Chinh once again said goodbye to her father. Saigon on a troubled flight around the world as the southern capital was dying.

And also in 1954, a 9-year-old girl Nguyen Thi Le Mai boarded a ship to migrate to the South. Later, she became a typical singer of the miserable war, a life of exile in a miserable life. The name of the person Singer Khanh Ly has been busking all over the world for 50 years. Last year she returned to sing for the first time on the Hanoi stage. After 50 years of being an anti-communist symbol with overseas lyrics, today she stands and sings love songs. for the audience who have never met but love very much.
And along with Vu Duc Nghiem, Le Kim Ngo, Pham Huan, Kieu Chinh, Le Mai, there was also Bui Duc Lac , a member of the Northern migration who temporarily resided in Phu Tho Leu area and by 1975 became an evacuee. color of the artillery uniform of the Airborne.
In 1972, in tears in Laos, Bui Duc Lac heard Khanh Ly sobbing and said that the loss of the way home was not because the US abandoned her but because of Trinh Cong Son’s music.
Another person from Phat Diem who soon became a Ho Nai immigrant then crossed the border with a wife and nine children and continued to calmly work as a daily journalist in San Jose. That was Ky Com – Vu Binh Nghi. Why did the North Why did the South migrate and flee across the border? The tradition of the Vietnamese people is to live forever with green bamboo hedges, with ancestral graves, with villages. Having to leave without any other choice is a shameful act. I went to the countryside to make a living but then returned after a few years. My childhood national literature textbook stated that only my hometown is the most beautiful place.
Lieutenant Phan Lac Tuyen, while participating in the reception operation in Binh Dinh, wrote an immortal song. I came back through the small hamlet, you waited under the coconut trees. The afternoon sun on my hair, the simple love of my homeland. But it was precisely at This simple countryside in Bong Son has never been quiet for 20 years.
When the communists rose up with a fierce and excessive total war, they completely destroyed all reconciliation in national sentiment. First, the urban people, intellectuals, petty bourgeoisie and religious people had to Abandon the Resistance and return to the city. Next, leave the North and migrate to the South.
In 1954, the Northerners came to the South and awakened the Saigon dragon. After the initial differences, they moved to a time of harmony. The South began to flourish from cuisine to literature and journalism. From literature to business. And harmony knows no borders.
Captain Le Cong Danh, a Can Tho nobleman, stood at Nha Rong wharf to welcome migrants and took the petite Northern girl with demi-garcon hair to be his wife.
Engineer Lieutenant Nghiem Ke, a playboy from Hanoi, had to go all the way to Bien Hoa, Buoi region, to marry Be and make her his main wife. He lived for 20 years in military camps with 8 children born one after another.
Lieutenant Giao Chi, who went to the Dinh Tien Hoang campaign, had to go all the way to Rach Gia to bring home a beauty from Kien Giang. After more than 60 years of old love, he realized that it was not only Da Lat that had Than Tho Lake, but also in the North. Hau Giang also has quite a few.
The young Northern officers who went to Saigon each brought back a lake of complaints. When she arrived in the United States, she was still complaining through her cell phone…

After the tragic 1954, the story of North-South love continued in all fields. Together, they built two Republics with a beautiful army.
Until 1975 and then until today, 2024, Vietnamese people continued to leave the country. From evacuation to border crossing, sea crossing, reunification, HO, mixed-race.
Why do we leave our homeland?
One go is one goodbye.
Once gone, there is no turning back.

In 1954, when the Northern migrants left, they had little hope of returning to their old place. The song “Towards Hanoi” was sung day and night on the radio. Until the impatient government had to issue a ban. The wings North-South communication postcards were intermittent for a few months and then cut off after two years of separation.
During the 1960s, Hanoi opened the Ong Cu line, sending cadres to the South to build infrastructure and create a war that even former communist party member Duong Thu Huong today considers to be a wrong war. , sacrificing too many lives and potential of both sides of the country.

Today, on the occasion of the 65th anniversary of the Geneva Accords that divided the country, let us reflect on the life that has led the Vietnamese into exile. There will be no answer that can be considered the truth for a historical problem
In everyday life, there are so many mysteries that have no answers. Why are some people happy and some people miserable? Why are some people sacrificed and some people survive? Why are some people successful? and who fails? Historical dates like July 20th, April 30th are just marks in the life of a nation, of a community. Those are the days of bitterness blossoming.
Recently the most civilized nations of the Western world including Russia, Germany, England, France, Canada, Australia, America and many others attended the 70th anniversary of the Normandy landings. Now we are also citizens. Citizens of a civilized country like the United States, let’s remember the historic day of July 20th 70 years ago, marking history is a way of behaving of civilized people.
Once again, let me remind you that July 20, 1954, 70 years ago, the Geneva Accords divided the country in two. One million people from the North migrated to the South. Why did the Vietnamese leave their homeland? That question is for you. taste.
Since April 30, 1975, over two million Vietnamese have left their homeland. Why did the Vietnamese leave their homeland? That question is also for you.
Why are you leaving?
Why return? Why not return? Return to the homeland. A question for a lifetime. A question for a generation. Is this true for Vietnamese exiles?
Poet Do Trung Quan wrote:
Homeland, each person has one
Like just one mother…

Is this true for Vietnamese exiles?
Or as Vu Hoang Chuong lamented:
We are the people who were born in the wrong century.
Homeland abandoned, race despised.
Is it really that painful?
Do we take our homeland with us when we leave, or do we leave it behind? With the path of settling down and making a living in this land, are we living happily in our new homeland?
Professor Elie Wiesel, a Romanian-born Jewish American, Holocaust survivor who was saved at age 16. Naturalized as a US citizen in 1963. Winner of the Nobel Peace Prize in 1986. He said: Wherever I live with freedom and happiness, that is my home.

But who said that anti-Communism is not anti-the whole homeland. Whether old or new homeland. Giao Chi.

On July 20, 2014, I organized the 60th anniversary of farewell night to Hanoi with the participation of musician Vu Duc Nghiem and many friends from Hanoi. In 2019, I organized the 65th anniversary of Remembering Hanoi. There are not many friends from Hanoi left. people. Instead of missing the old city on Saturday night, we organized 11:00 am on Sunday, July 21, 2019 at Phu Lam restaurant. Not only for the Northern migrants who are not many left . I would like to invite friends from the Central, South and North to come together, both the second and third generations. If the national day of hatred on April 30, 1975 is still full of pain, then the national day of hatred on July 20, 1954 is only a memory. peaceful memories of North-South love.. Let’s review old stories from the mid-20th century to the 21st century. The program is very simple. But extremely meaningful and full of emotions. Let’s review the eternal answers in the United States. Who are the Vietnamese, why did they come here and when did they come? Last week’s San Jose Mercury News published pictures of two famous old Japanese men. of the United States also recalled the story of two boys and their families being imprisoned in a concentration camp during World War II. One later became mayor of San Jose and then Secretary of Transportation under President Bush. He became a federal representative. In response to the youth of the future generation, both Japanese men said: Whatever you do, you must always know who you are. So after so many years of dominating the American political arena, when they were old, Minister Mineta and Congressman Honda suddenly remembered that they were Japanese. With 70 years of remembering the 1954 migration. With 49 years of remembering the life-changing event of 1975. We, though Became an American but always remember who you really are.

Giao Chi San Jose

This article is dedicated to my wife, a female student from Kien Giang who had the courage to follow a Northern lieutenant stationed in Ca Mau and throughout the battlefields of the Eastern and Western regions of the South.

There are so many people in the world, but why do I only see you? The 87-year-old woman still burns incense in April and

 sheds tears in July.

001.bmp

Bring Dinh Bang communal house in Hanoi to the Viet Museum in San Jose USA

4 GC.jpg

Lieutenant of Northern Vietnam migrated and met a student in Kien Giang,Now she has become a woman, burning incense for April and shedding tears for July migration.

5 GC.jpg

Giao Chi San Jose. Giaochi12@gmail.com (408) 316 8393




LÊ TUẤN – THƠ ANH NGỮ: We Grow Old Together

We Grow Old Together

Let’s grow old together

The shadow of time is tearing the face into pieces

No longer young, do not complain about your fate

Just go with the flow of human life.

Let’s grow old together

Unstable legs, swollen and painful knees

Hands trembling, holding hands and walking

Until the end of life still hope for the future.

LT

The poem is quite long, please read on.

in Bloghspot page life poetry attached

Let’s Grow Old

https://cuocsongthica.blogspot.com/2024/07/chung-ta-cung-gia-i-nhe.html




LÊ XUÂN NHUẬN – THƠ SONG NGỮ DƯỚI GIÀN HOA GIẤY TÍM