MỪNG LỄ LAO ĐỘNG HOA KỲ: Lê Văn Hải & THƠ Phương Hoa
Cuối Tuần Này: Mừng Lễ Lao Động Hoa Kỳ (Labor Day)
Ý nghĩa ngày Lễ: Chỉ có Lao động, lao động, lao động! Với bàn tay lem luốc, công việc cực nhọc, vầng trán thấm mồ hôi. Mới biến thế giới này tốt đẹp hơn! Không còn cách nào khác!
Danh Ngôn Vinh Danh Lao Động:
-Tôi chưa bao giờ vô tình làm điều gì, cũng như không phát minh nào của tôi đến từ sự vô tình cả. Chúng đến từ những vất vả, kết quả của lao động! (Thomas Edison)
-Ý tưởng phải được tạo thành qua khối óc và bàn tay cần cù lao động của những người tốt và can đảm. Không thì tất cả cũng chẳng hơn là những giấc mơ. (Ralph Waldo)
-Người lao động là người hạnh phúc nhất. Chính những kẻ nhàn rỗi, lười biếng, mới là người khốn khổ! (Benjamin Franklin)
-Anh phải lao động không mệt mỏi và táo bạo, nếu anh thực sự muốn sống hạnh phúc và có ý nghĩa! (Vincent Van Gogh)
-Thế giới đang tiến về phía trước, không phải bởi những cú đẩy mạnh mẽ của những anh hùng, những thần thánh. Mà bởi tổng hợp những cú đẩy yếu ớt của những người lao động lương thiện. Chúng trở thành sức mạnh vô song! (Helen Kell)
-Người lao động chăm chỉ, không bao giờ tuyệt vọng, bởi họ tin tưởng rằng, tất cả điều tốt đẹp đạt được, tất cả bằng sự chăm chỉ lao động!
Mừng Lễ Lao Động
Ngày lễ này, được mừng vào thứ Hai đầu tiên, của tháng 9 mỗi năm. Năm nay, vào Thứ Hai, ngày 6/9/2021.
Đây là một trong những ngày lễ lớn quốc gia, mọi người dân được hưởng một cuối tuần dài vui vẻ, để nghỉ ngơi, vui chơi với bạn bè và người thân.
Lễ Lao Động là ngày dành riêng để tôn vinh và ghi nhận sự đóng góp quan trọng Lực Lượng Lao Động, cho xã hội và kinh tế, đóng góp vào sự phát triển phồn thịnh của đất nước Hoa Kỳ, một trong những quốc gia giầu có nhất thế giới.
Ý tưởng có ngày lễ này, do từ một người thợ máy, tên Marguire Matthew, người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan, cũng là một đoàn viên trong trong Nghiệp đoàn lao động. Ông muốn những công nhân phải có một ngày được vinh danh và nghỉ ngơi, như nước láng giềng Canada đã thực hiện, và tranh đấu để có một ngày như thế tại Mỹ.
Lễ lao động đầu tiên được tổ chức vào năm 1882, nhưng đến năm 1884 mới thành ngày lễ chính thức.
Trong ngày lễ này, các hiệp hội công nhân, các nghiệp đoàn, thường tổ chức những buổi diễn hành lớn, hòa nhạc, bắn pháo bông, sự kiện thể thao, nhằm tôn vinh các lực lượng lao động đủ mọi ngành nghề của đất nước.
-Không chính thức, nhưng hầu hết người Mỹ dùng ngày này, để đánh dấu sự chấm dứt của Mùa Hè, để bước qua Mùa Thu.
-Sinh viên, học sinh bắt đầu mùa tựu trường.
-Mùa Football bắt đầu! (NFL thường chơi trận banh đầu tiên vào thứ Năm, sau ngày lễ.)
– Đây cũng là dịp đánh dấu ngày mua sắm hàng hóa, quà bánh, vật dụng sửa soạn cho những ngày lễ lớn cuối năm. Thương vụ thu nhập chỉ thua ngày Black Friday (Lễ Tạ Ơn)
-Dịp cuối cùng để thực hiện các sinh hoạt ngoài trời, như cắm trại, ra biển, picnic, nướng barbecue, giã từ những ngày nắng ấm, trước khi trời trở lạnh.
Lời Chúc Mừng
Kính chúc Quý Vị, Gia Đình vả Người Thân: Một ngày lễ Lao Động Vui Vẻ, Hạnh Phúc, Khỏe Mạnh, An Vui và đạt mọi điều ước muốn trong cuộc sống.
Lê Văn Hải
THƠ Song Ngữ Anh + Việt: NGĂN TỦ CŨ – LÊ MAI & THANH THANH
NGĂN TỦ CŨ
Ngăn tủ cũ
mười năm về sắp lại
xương lá bồ-đề nhuộm tím rơi ra
sách vở ướp
tháng năm dài, tuổi dại
sống một thời thơ mộng
bướm hoa xa
những lưu-bút ngày xanh đầy bụi phủ
lật từng trang chữ chứa-chan xưa
bâng-khuâng điểm
bạn còn, bạn mất
có người xa vắng…
đã về chưa?
nghe như vẳng tiếng cười vang đâu đó
áo trắng tung-tăng từng buổi tựu trường
góc quán nhỏ ly chè xanh tuổi nhỏ
chéo áo dài ai buộc dính… yêu thương
ôi kỷ-niệm
mang-mang đầy nỗi nhớ
chất-ngất lòng
ngăn tủ của ta ơi!
mười năm nữa
và sau mười năm nữa
tóc bạc đầu
thương nhớ mãi khôn nguôi…
LÊ MAI
THE OLD SHELF
The old shelf
After ten years I came back to rearrange.
From the books and notebooks range
Fell out the veins of violet-dyed fig tree leaves:
VTLV CHÀO MỪNG Nhạc Sĩ TỪ NGUYÊN – Phương Hoa & Ca Khúc GÓC THU BUỒN -Từ Nguyên
Lê Văn Hải
Chúc Mừng VTLV
Có Tin Vui…Dồn Dập!
Lê văn Hải
THƠ Song Ngữ Pháp & Việt: TÌNH MẸ – GS Đỗ Quang Vinh
CHÚ THÍCH
1- René Armand François Prudhomme (16/3/1839 – 6/9/1907), thường gọi là Sully Prudhomme, Là nhà thơ Pháp sinh tại Paris, mồ côi cha lúc lên hai tuổi, giỏi toán, say mê ngôn ngữ và thơ Pháp. Năm 1881, ông được bầu vào ghế 24 của Viện hàn lâm Pháp . Ngày 10/12/1901, ông là người đầu tiên nhận giải Nobel văn học Ông đã dùng tiền giải thưởng Nobel lập ra một giải thưởng dành cho các nhà thơ trẻ nước Pháp.
2- Nàng Đa-nét : Thần thoại Hy lạp kể về các nàng Danaïde, còn gọi là Danaides hay Danaids, chuyện kể rất dài dòng, ở đây chỉ xin tóm tắt đại ý.
Egyptos và Danaos là hai anh em sinh đôi. Egyptos cai trị đất Ai Cập, sinh được 50 con trai. Danaos cai trị đất Lybie, sinh được 50 con gái. Hai anh em bất hoà. Egyptos muốn Danaos phải sáp nhập vào vương quốc Lybie và cưỡng bức Danaos phải gả con trai cho các con gái của mình. Danaos khước từ. Chiến tranh xảy ra, cha con các nàng Danaides chạy trốn, lênh đênh trên biển, được nữ thần Athena giúp đỡ chỉ lối dẫn đường. Sau đó ít lâu họ mang lễ vật, cầm cành olive, biểu hiệu của sự cầu xin che chở, đến xin nương náu tại đất Argolide ở Hy Lạp vốn là quê hương của họ. Nào ngờ, bị hùng binh của vua Pélasge cai quản đất Argolide xông đến. Vua Argolide cho đại quân ra trấn giữ, thấy ông vua già cùng các nàng thiếu nữ cầm cành olive tỏ vẻ hiếu hoà xin che chở. Lại nghe các nàng viện dẫn đến tổ phụ Zeus uy quyền hùng mạnh nhất để xin đừng xua đuổi cha con họ và đừng giao nộp các nàng cho những người con trai của Egyptos. Khó nghĩ, vua bèn đưa ra giải pháp: một mặt khuyên các nàng vào thành Argos lập bàn thờ xin thần linh che chở, một mặt vua triệu tập hội nghị thỉnh ý các thần dân có cả cáng nàng tham dự. Hội nghị chấp nhận lời cầu xin của cha con các nàng Danaide. Vừa hay, sứ giả của Egyptos tới, toan bắt các nàng và nói lời láo xược. Vua Pélasge nổi giận trục xuất tên sứ giả. Chiến tranh lại xảy ra . Vua Pélasge phải bỏ thành chạy lên phía Bắc. Dân Argos bầu Danaos làm vua thay thế Pélasge và chấp thuận gả 50 nàng Danaides cho 50 con trai của Egyptos. Tiệc tan, nghe trong phòng các nàng có tiếng rên quằn quại, thì ra, các nàng đã vâng lệnh vua cha Danaos giết chồng, vì họ đã làm cha con họ phải long đong. Nhưng chỉ có một nàng tên là Hypermnestre bất tuân lệnh cha đã không giết chàng Lyncée chồng mình, vì cảm thấy tàn nhẫn và vì thực sự nàng đã quá yêu chồng mình. Hai vợ chồng này bị vua cha tống giam vào ngục tối, bị kết án tử hình. Vừa hay, nữ thần Aphrodite xuất hiện, thấu hiểu trái tim yêu đương của họ, nên bênh vực cãi cho hai vợ chồng này được tha bổng, các thần trên thiên đình cũng tán thành cho họ con cháu đầy đàn, dòng dõi là những bậc anh hùng vĩ đại. Chính người anh hùng Héracles của Hy Lạp là con dòng cháu giống của cặp vợ chồng Lyncée và nàng Danaide tên Hermestre.
49 nàng kia đã giết chồng đáng lẽ bị trừng phạt, nhưng Nữ Thần tổ phụ Zeus lệnh cho các thần tẩy trừ ô uế của tội ác, còn việc lo gả chồng cho họ, thi mở hội thi đấu lấy thưởng. Còn tội ác vẫn không quên được, nên khi chết đi, các nàng này phải chịu hình phạt đội chiếc vò đi kín nước đổ vào thùng lớn đáy có hàng trăm lỗ, và phải đổ cho đầy. Dĩ nhiên đó là công dã tràng. Ngày nay trong văn học thế giới có tục ngữ “Le tonneau des Danaïdes” & “ Remplir le tonneau des Danaïdes” là để chỉ việc làm vô ích luống công.
3- Người dịch bình luận
Đem bao nhiêu so sánh, tác giả vẫn không thể cạn lời đề cao Tình Mẹ vô song (sans maître, sans rival):
“Tình Mẹ lẽo đẽo theo ta,
Biển đời chướng ngại như là sóng xô,
Nhấp nhô chìm nổi dật dờ,
Nông sâu vùi dập bến bờ dội ra,
Một tay Mẹ dắt vượt qua,
Không người hỗ trợ, thật là vô song!
(Pour nous suivre il monte ou s’abîme,
À nos revers toujours égal,
Ou si profond ou si sublime
Que, sans maître, il est sans rival.)
Cuối cùng, kết thúc bài thơ, tác giả phải đem tình yêu đôi lứa của một nàng hoa khôi Đanét còn lại, một người yêu chung thuỷ, vượt thắng mọi trở lực cản ngăn, biết rằng bất tuân lệnh vua cha là trọng tội, nàng đã không giết chồng, không hẳn vì từ tâm trước việc làm tàn nhẫn bất nhân, mà là vì tình yêu mãnh liệt, đến mức các thần đều phải khuất phục, một tình yêu ăm ắp đổ tràn đầy độc bình trong khi 49 nàng kia luống công đổ sao cho đầy thùng thủng đáy!!
“Nhưng nàng nghiêng chiếc độc bình
Đổ đầy ăm ắp tràn tình yêu thương.”
Vả chăng cũng chính từ tâm ấy đưa đẩy đến tình yêu này. Chính lòng Khoan Dung Từ Tâm ấy đã là cội rễ của chủ nghĩa Anh Hùng coi thường mọi Trở Lực áp đảo, từ hai đối cực tương khắc ấy đã phát sinh Tình Mẹ. Cho nên nói đến Mẹ là nói Mẹ Hiền, Từ Mẫu. Nước mắt vẫn chảy xuôi, văn hoá nào cũng một tư tưởng ấy, loài vật còn thế huống chi con người. Lòng Mẹ hy sinh, cao cả khôn lường là thế. Tình Mẹ mênh mông như trời biển là vậy. Cho nên ngay vào bài thơ tác giả đã nhận định:
“Lòng từ ái hợp cùng lòng can đảm
Vì yêu thương mà dám hy sinh
Mẹ không thiết cả thân mình
Tình Mẹ cao cả mông mênh biển trời
Chỉ cần tha thiết một lời,
Một lời nhỏ nhẹ, tức thời: “Mẹ đây!”
Từ đâu Mẹ đã đến đây?
Nơi nào thiếu Mẹ, ai hay được nào?”
(Fait d’héroïsme et de clémence,
Présent toujours au moindre appel,
Qui de nous peut dire où commence,
Où finit l’amour maternel?)
Đỗ Quang Vinh
ĐỖ DUNG: Những Ngày Xa Xưa Ấy…. & Bài THƠ Tặng: “KHUNG TRỜI KỶ NIỆM” của Hoàng Mai Nhất
NHỮNG NGÀY XA XƯA ẤY
Cầm quyển lưu bút trong tay, giở hộp hình cũ, nhìn lại những khuôn mặt thân thương, những dòng chữ quen thuộc…Lòng tôi thấy bâng khuâng với bao kỷ niệm của thời xa xưa. Nhớ ơi là nhớ!
Những cánh hoa sao xoay tít trên không, bầu trời xanh thẳm cao vút của con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm như đang hiện ra trước mắt tôi, những khuôn mặt ngây thơ của một bầy chim non chập chững, ngơ ngác bước vào cổng trường Trưng Vương năm đệ thất, những cô bé còn e lệ, thẹn thùng với thày cô mới, bạn mới, còn lúng túng, ngượng ngập, vướng vít với vạt áo dài… Năm ấy chúng tôi được sự dạy dỗ rất kỹ của bà Kỷ, bà Tuyết, Cô Trinh, cô Hồng Diệp…Giờ ra chơi chúng tôi vẫn còn nhảy dây, nhảy lò cò, chơi đánh chuyền, chơi trồng nụ trồng hoa và hay nhặt những cánh hoa sao ném tung lên để nhìn chúng xoay tít, xoay tít, những tia nắng xuyên qua kẽ lá trên cao thành những vệt nắng dài…
Năm đệ ngũ chúng tôi lập ra Họ Nhà Tí gồm bảy Tí Cô Nương. Đứng đầu là Tí Bố Vũ Thị Thanh cao lêu nghêu, dí dỏm. Tí Lớn Đỗ Dung, hỗn danh Dung Lu vì có da, có thịt nhất bọn. Tí Nhỡ Chi Nga, “ngon như cục mỡ, sạch như quyển vở”, mặt lúc nào cũng khinh mạn. Tí Con Mộng Diệp dịu dàng. Tí Ti Hồng Trinh ướt át hay khóc. Tí Tẹo Cẩm Tú nghịch ngợm. Tí Cu Kim Anh, khểnh răng cửa hay pha trò. Họ Nhà Tí làm thơ, ăn quà, nghịch ngợm, phá phách nhưng cũng chăm chỉ học hành. Tuổi mười ba, tuổi của mộng mơ, chúng tôi bắt đầu yêu cô giáo, mỗi đứa trồng cây si một cô và ca tụng, bênh vực triệt để thần tượng của mình. Đứa nào đụng chạm đến “người yêu” là sẽ biết nhau ngay!
Nàng của tôi là cô Xuân Sanh, môn chính cô dạy là Pháp Văn nhưng vì trường thiếu giáo sư nên cô dạy chúng tôi môn Địa Lý. Ngày đầu tiên cô bước vào lớp tôi đã choáng váng, ngất ngây, có một cái gì đó như nhập vào hồn. Tôi yêu giọng Huế nũng nịu, dáng vẻ dịu dàng, thanh thoát như một búp Ngọc Lan. Mỗi lần cô nói “Có phải không nạ!” là cô lại nhìn tôi. Có một hôm chả hiểu sao cả buổi cô chẳng nhìn tôi. Tôi tủi thân quá, cúi xuống gầm bàn làm thơ:
Xuân Sanh, Xuân Sanh
Người tôi đang yêu quý
Người tôi đang ước mơ
Cô giáo nhỏ ngây thơ
Như con chim thờ ơ
Không nhìn tôi không nói
Tôi cảm thấy bơ vơ!
Vì yêu cô tôi làm thơ, vì yêu cô tôi chăm đi tập vũ cầu, chăm đi tập thể dục thẩm mỹ với cô Vĩnh ở sân Phan Đình Phùng và mỗi chủ nhật lại chịu khó đi họp Hướng Đạo vì nhà cô ở Phan Đình Phùng, ngay trước cửa sân vận động.
Nhà cô toàn đàn bà, bà mạ, bà dì, ngũ long công chúa, Xuân Sanh, Hồng Vân, Thanh Vân, Túy Vân và Bạch Vân. Tôi yêu cô nên yêu cả gia đình cô, tôi cũng gọi các em cô bằng tên ở nhà, chị B, chị C, Chuột, Nhỏ. Đến nhà cô tôi tìm được những phút giây êm đềm. Có những hôm tôi ngồi hàng giờ nhìn cô ngồi trên đi văng may áo dài. Thế rồi ngày cô lên xe hoa tôi đã khóc, đã để đầu trần đi trong mưa. Cảm giác mất mát thật đớn đau. Tôi gậm nhấm thú đau thương (!)
Những ngày thơ ấu thật lãng mạn và cái lãng mạn thật là hồn nhiên.
Hồng Trinh mảnh mai, tóc dài mướt như lụa, cặp mắt to đen láy, thật thông minh nhưng hay ướt.
Tí Ti…
Sao đời lắm sầu bi
Cười lên cho vui chứ
Lau nước mắt lẹ đi…
Chi Nga làm thơ hay hơn, người lớn hơn, tôi còn nhớ vài câu:
…….
Gục mặt xuống bàn mắt ướt luôn
Nhưng sao tôi hỏi em không nói
Có phải vì tôi lệ ngọc tuôn……
Chúng tôi làm nhiều thơ lắm, tôi có một quyển sổ con ghi lại những vần thơ sầu, thơ tếu, thơ con cóc của tuổi mười ba nhưng quyển sổ nhỏ quá, lại dọn nhà bao phen nên thất lạc, thật tiếc!
Năm đệ tứ tôi được miễn tập thể thao vì lý do sức khỏe (bà bác sĩ nói là tim to (!)) Oái oăm thay tôi lại là lực sĩ chủ lực của trường! Đội vũ cầu chúng tôi tập rất đều đặn, ngày nghỉ lại đem vợt đến sân Phan Đình Phùng hoặc đến nhà Hồng Trinh ở Lý Trần Quán tập tiếp. Ngày đi thi đấu giải liên trường, khi đấu đôi Trinh cặp với Tú còn tôi đứng với Hảo. Hai đứa đánh rất ăn ý, Hảo là vua bỏ nhỏ còn tôi có cú đập rất tới, ngay sau khi giao cầu, Hảo thủ nửa sân trên, tôi bao nửa sân dưới. Khi đấu đơn, qua vòng bán kết, vào chung kết tôi bị hạ bởi Lam Thảo của Nguyễn Bá Tòng, cô nàng vừa đẹp vừa dễ thương. Tôi chạy thi tiếp sức với Lệ Tâm và Thu Hà. Bố tôi cứ cười mãi và nói:” Người thì lùn, chạy lạch bạch mà cũng là lực sĩ điền kinh!”. Còn nữa, cô Hiền còn cử tôi đi thi ném tạ, cả năm chẳng tập, chỉ dượt có vài tuần mà tôi ném rất khá, nhưng ở nhà thì nhất mẹ nhì con, ra sân đấu tôi đụng ngay Phạm Thị Thục Nữ của trường Thiên Phước, nàng ta to, cao và khỏe như con beo, nàng phá kỷ lục năm đó và chắc chắn về sau không ai phá nổi kỷ lục của nàng.
Đến ngày kỷ niệm Hai Bà, trường cử Bích Loan, Lưu Mỹ và tôi… đi thi văn chương phụ nữ . Để sửa soạn, chiều nào Bích Loan cũng đến đón tôi đi đến các tòa báo và thư viện để nghiên cứu tài liệu. Năm đó dinh Độc Lập bị oanh tạc nên chúng tôi không được vào dinh Tổng thống để lãnh quà. Phần thưởng và giấy chứng nhận được gửi thẳng về trường.
Hè năm đệ nhị, Hoa Tâm đến nhà xin phép cho tôi đi dự trại hè học sinh sinh viên toàn quốc ở Đà Lạt. Dân Trưng vương có Phương Trà, Minh Châu, Ngô Thị Ngân, Lan Trân, Lệ Hà, Hoa Tâm và tôi. Chúng tôi có một tuần lễ thật vui. Ban ngày sinh hoạt ngoài trời, làm công tác xã hội, xây một cây cầu và đắp một con đường cho dân địa phương. Buổi tối sinh hoạt văn nghệ hoặc hội thảo với các thày Minh Châu, Thiện Minh, Thiên Hoa.
Qua năm đệ nhất, chúng tôi đã bắt đầu có những nỗi buồn vu vơ, cảm giác sắp phải xa trường, xa bạn. Tâm trạng chúng tôi lúc đó đầy mâu thuẫn. Khi thì ngồi lặng bên nhau, buồn muốn khóc. Lúc lại xúm nhau đùa giỡn, nghịch ngợm, trêu chọc bạn bè, phá phách thầy cô. Chúng tôi như muốn níu kéo, giữ lại một cái gì. Chúng tôi lập Đảng, lúc thì gọi là Đảng Loạn Ngôn, lúc thì cho là Đảng Vô Ý Thức còn cô Ninh gọi chúng tôi là Đảng Nhộn. Đảng chúng tôi gồm Đảng Trưởng Mai Oanh, nhỏ nhắn, xinh xắn, hàm răng khểnh rất có duyên, phát ngôn thoải mái. Đảng Phó Cẩm Tú bò khô, ngang tàng. Đảng viên có đại bác học Dương Thị Mai, tức Giang Mai, chuyên môn phát minh những khí cụ tối tân để bảo vệ hòa bình, phi công Trần Thị Ngọc to con, nhiệm vụ vác bom đi oanh tạc, thày dùi Vũ Thị Lệ trông hiền như Ma Sơ, chuyên viên nghịch ngầm, anh hùng dân tộc Dung Lu bạo gan, bạo phổi, chả sợ thằng tây đen nào, được Tú gọi là Má, Lệ gọi là Tía còn em Tú Khanh nhất định gọi là Chồng. Ngoài sáu đứa trong đảng, chúng tôi cũng chơi thân với những bạn khác trong lớp như Hảo, Chinh, Liễu, Ngọc Anh, Tú Khanh,Hoa Tâm, Năm, Kim Liên, Vượng, Vân, Thể… Bọn chúng nó không nghịch và không có gan nên không vào đảng, chỉ cười hùa.
Nghĩ lại thấy thời tuổi trẻ thật vui, đôi khi tàn ác, cứ giờ toán thày Giảng là bắc cái ghế đẩu nhỏ để lên bục rồi cười rúc rich. Giờ thày Tẩm nhiều chuyện vui nhất, vì thế mà chúng tôi dễ thuộc bài hơn vì mỗi bài học lại có chuyện bên lề để nhớ. Chẳng hạn như hôm thày vẽ về bộ máy tuần hoàn, quả tim thật đẹp với những đông mạch, tĩnh mạch chằng chịt. Có đứa kêu lên:
– Phấn của Thày vẽ con gà chắc là đẹp lắm!
– ???
– Thưa thày, con gà chân vàng, thày…
Chả là hôm ấy thày đi giày “jaune”, diện với áo xanh ve, quần màu nâu.
Giờ Triết, hôm thày Lộc giảng về ý thức và vô ý thức, có đứa nghịch gắn vào thắt lưng thày một cái đuôi chồn, thày không biết cứ đi qua, đi lại với cái đuôi ve vẩy ở đàng sau. Cả bọn cố ôm bụng, bậm môi lại mà nuốt tiếng cười. Chợt một giọng nói cất lên:
– Thầy đúng là “vĩ nhân”!
Thế là một tràng cười vỡ tung, không đứa nào nhịn được, cười nghiêng, cười ngả…
Thầy thật hiền, khi biết lý do chỉ cười xòa:
– Các chị nghịch quá!
Nhờ bài giảng của thầy nên ngay ngày hôm sau, khi thầy Tẩm tặng cho lớp câu “Vô ý thức” Dung ta bèn đứng lên vặn vẹo thầy. Đúng là ngựa non háo đá!
Đảng chúng tôi nghịch vậy đó nhưng không bị thầy cô ghét vì chúng tôi vừa nghịch, vừa chơi, vừa học giỏi (sic!) lại vừa hoạt động. Hôm bầu ban đại diên toàn trường chúng tôi chiếm ngay ba ghế, Dương Mai ban học tập, Cẩm Tú ban thể thao còn tôi ban báo chí.
Gần ngày thi lục cá nguyệt chúng tôi phải bảo nhau ngưng chương trình nghịch ngợm để lo học. Cứ nước đến chân mới nhảy nên lần nào cũng phải chạy nước rút, học bở hơi tai, học xanh cả mặt, học héo cả người. Thấy học mệt quá lại bảo nhau từ nay phải học cho đàng hoàng. Thi xong thì chứng nào tật nấy. Đến lúc gần thi đệ nhị lục cá nguyệt lại vắt giò lên cổ, mỗi đứa phải chui vào một xó để nhai vạn vật, tụng Lý Hóa, nuốt Luận Lý, Đạo Đức, Tâm Lý…Chúng tôi hối hận quá, hứa với nhau sẽ chăm chỉ học hành và cái điệp khúc ấy, cứ hối hận rồi hứa hẹn, hứa hẹn để rồi lại hối hận theo chúng tôi cả thời kỳ học đại học.
Trưng Vương Đỗ Dung
Hè năm ấy, sau hơn một tháng cấm cung, nín thở để học thi, kết quả chúng tôi cùng thi đổ và cùng lên đại học nhưng phân tán mỗi đứa một phân khoa, Lệ, Ngọc vào Sư Phạm, Mai đi Luật, Oanh Văn Khoa, Tú học Nông Lâm Súc còn tôi cắp sách vào trường Dược. Rồi lần lượt từng đứa, từng đứa lên xe hoa để bước vào cuộc sống mới, bận bịu với công việc làm, với chồng, với con… Mỗi đứa một định mệnh, mỗi đứa một cuộc đời.
Các thầy cô kính yêu, hôm nay, những đứa học trò nhỏ bé, nghịch ngợm ngày xưa đã gần bẩy mươi. Đã có dâu, có rể, có cháu nội ngoại… Các thầy cô có người đã ra đi vĩnh viễn (thầy Giảng, thầy Lộc), các thầy cô còn ở nơi nào trên quả địa cầu này, nếu vô tình đọc được những dòng chữ này thì xin thầy cô hãy nhận nơi đây tấm lòng biết ơn và ngàn lời tạ lỗi!
Đỗ Dung
NẾU CÓ MỘT NGÀY….Kiều Mỹ Duyên
NẾU CÓ MỘT NGÀY ...
KIỀU MỸ DUYÊN
Kiều Mỹ Duyên cầu nguyện hàng ngày, cầu xin bình an và hạnh phúc.
Tôi là người mộ đạo, tôi cầu nguyện hàng ngày cho những người thân của tôi vừa mới ra đi hoặc đang nằm trong viện dưỡng lão hay ở nhà. Tôi cầu nguyện nếu có một ngày đẹp trời trong tuần lễ, tôi không nghe người quen tôi ra đi không trở lại, ra đi vĩnh viễn. Tôi rất thích nghe tin vui, đám cưới, tôi thích nghe tiếng cười hơn tiếng khóc, tôi thích nhìn những gương mặt hiền từ, giọng nói tao nhã, tôi không thích người này đả kích người kia. Tôi không thích nhìn thấy hình ảnh của người tị nạn, những đứa trẻ mồ côi cõng em của mình đi tị nạn trong lúc cha mẹ của em đã chết trên đường tị nạn. Tôi thích đồng bào tôi có nhà để ở, sống hạnh phúc trong ngôi nhà của mình. Buổi chiều đi làm về, ánh đèn trong nhà bật sáng để đón chủ nhà trở về sau một ngày làm việc mệt nhọc.
Tôi thích nghe và nhìn thấy người già, người trẻ hát líu lo. Tôi còn nhớ trong một chuyến đi hội thảo ở Jamaica, trong một buổi tiếp tân ngoài trời, trong một nông trại rộng mênh mông, một ông lão khoảng 90 tuổi vừa bưng một khay thịt nướng đến mời khách, ông vừa đi vừa hát một bản nhạc vui tươi. Khuôn mặt của ông rạng rỡ, mỗi lần ông nhảy múa thì khay thịt nướng trên tay ông nhảy múa theo điệu nhạc mà ông đang hát.
Đời sống ở núi rừng sao mà dễ thương quá. Nông trại gần 50 mẫu tây, cây cối xanh mướt, những con nai vàng đang gặm cỏ, ngơ ngác nhìn du khách đến thăm nông trại. Người dân ở nông trại sống với thiên nhiên, người nào cũng vui vẻ, hồn nhiên. Nông trại dưới chân núi, trước mắt là dòng sông xanh mướt, nhiều du thuyền lướt trên dòng sông, du khách đưa tay chào thân thiện người ở trên bờ. Những cô gái dáng người rất đẹp, ăn mặc theo thời cổ ở Âu Châu, cưỡi ngựa đi trong nông trại, các cô xuống ngựa nhẹ nhàng như các hiệp sĩ thời xa xưa.
Tôi mơ ước có một ngày mọi người ca hát, nhảy múa vui tươi, không thù hằn, không đả kích lẫn nhau. Tôi mơ ước người yêu thiên nhiên, yêu tiếng chim hót líu lo trên cành cây, và tiếng cười của con suối. Tôi mơ ước có một ngày nhà nhà không đóng cửa, thái bình như thời vua Nghiêu, vua Thuấn, tiền rớt ngoài đường không ai thèm lượm.
Tôi mơ ước có một ngày người yêu người, yêu thiên nhiên, tôi mơ ước có một ngày mọi người yêu cây cỏ, yêu thú hoang trong rừng. Tôi mơ ước có một ngày không có thợ săn săn mồi trên rừng xanh núi thẳm. Tôi mơ ước có một ngày không có một quốc gia nào chế ra bom nguyên tử để giết người, không có nước nào sản xuất khí giới, bán khí giới để giết người. Tôi mơ ước có một ngày những người ở các quốc gia giàu mạnh giúp cho những quốc gia đang phát triển về giáo dục, xã hội, y tế, kinh tế, v.v. Tất cả những đứa trẻ được ăn no, mặc ấm và đến trường học như những đứa trẻ của các quốc gia tân tiến.
Tôi ước có một ngày những người già không phải vào viện dưỡng lão mà được sống vui vẻ, hạnh phúc ở nhà với con cháu.
Tôi ước có một ngày những người già bệnh hoạn không phải vào viện dưỡng lão mà được sống vui vẻ ở nhà với con cháu cho đến khi nhắm mắt lìa đời một cách thanh thản. Đến rồi đi, hành trình sống ở trần gian đầy đủ lắm rồi, không có gì để hối tiếc, làm xong bổn phận của con người rồi ra đi một cách bình yên.
Tôi mơ ước mọi thứ đều đẹp như ở Thiên Đàng hay Cõi Niết Bàn, ở một nơi chốn không có chiến tranh, không có người giết người một cách dã man. Chắc quý đồng hương ngạc nhiên lắm, tại sao những người bán khí giới để người giết người, tiền vào như nước rồi đi làm việc thiện, có lẽ để giảm bớt tội của mình?
Ngày xưa chúng tôi đi cắm trại trong rừng không sợ thú dữ ăn thịt, bây giờ ở ngay trong thành phố, ra đường phải mang khẩu trang vì sợ vi trùng, vào tiệm ăn, ngồi trong xe, ở nhà cũng phải mang khẩu trang vì sợ chết.
Chúng ta từ khi sinh ra còn nằm trong nôi đã nghe mẹ hát những bài ca dao tuyệt vời, trẻ con vào đời với tiếng hát ngọt ngào đầy tình thương bao la của người mẹ, những đứa trẻ lớn lên được thương yêu bằng tiếng hát của người mẹ, tiếng hát ngọt ngào đi vào trái tim của trẻ thơ. Uống sữa mẹ, nghe tiếng hát của mẹ, lớn lên đứa trẻ yêu đời, yêu người mà sống, đời đẹp quá người ơi!
Con lớn lên từ lời ru thương yêu của mẹ.
Tiếng hát ngọt ngào của mẹ đi vào trái tim con.
Tôi đã đến các buôn Thượng, người thiểu số sống rất giản dị, đói thì ăn, khát thì uống, khoai, chim rừng, nước suối, cưỡi ngựa, bắn chim, tắm dưới suối, đời sống bình thản, sống với thiên nhiên, chết với thiên nhiên, đi ngủ theo mặt trời đi ngủ. Những đứa trẻ sinh ra không đi học, thật thà như ông bà cha mẹ, không nói chuyện văn hoa lá cành nhưng họ thật lòng, tiếp khách từ xa đến với trái tim ấm áp của mình.
Tôi mơ ước có một ngày tôi trở về nhà, sống trong khu vườn rộng mênh mông của cha mẹ để lại với các cháu của tôi còn đang ở Việt Nam.
Nếu có một ngày hoa nở rực trời, người người đều yêu thương nhau, giúp đỡ lẫn nhau, một ngày nắng ấm, một ngày không có thù hằn, một ngày chỉ có tiếng cười giòn tan, một ngày với tiếng chim hót líu lo trong rừng cây xanh mướt, một ngày không lo âu, gạo đầy lu, nhà nhà đều hưởng thái bình.
Kiều Mỹ Duyên yêu tiếng chim hót líu lo trong rừng cây xanh mướt.
Cầu mong một ngày không lo âu, nhà nhà đều hưởng thái bình.
Mong lắm thay, tình đầy tim, tiền đầy túi, những đứa trẻ được đến trường học, những cụ già được chăm sóc tận tình và sống hạnh phúc với con cháu của mình.
Nếu có một ngày người nào cũng khỏe mạnh, sống lâu trên 100 tuổi như những Hướng Đạo Sinh, lưng vẫn thẳng, mắt vẫn sáng, quây quần xung quanh là trẻ thơ ca hát.
Nếu có một ngày mọi người đầu óc sáng suốt, ra đường khỏi cần máy chỉ đường, đi đâu thì đến đó, người người dùng đầu óc của mình nhiều hơn là máy móc. Nếu có một ngày trẻ con không chăm chú vào máy vi tính để rồi đeo kính cận thị thật nặng, hoặc phải đi mổ mắt vì máy vi tính hay đài truyền hình làm hại mắt của trẻ thơ. Nếu có một ngày người già, người trẻ suốt ngày không ngồi trước máy vi tính giờ này đến giờ khác thì không ai bị cao mỡ, cao đường hay cao máu. Người nào cũng tập thể dục, thể thao, học Pháp Luân Công, Hoàn Nhiên Khí Công, Hoàng Hạc Khí Công, thái cực quyền, v.v. Người nào cũng tập thể thao thể dục hàng ngày cho nên không bệnh tật, an vui tự tại, ăn uống điều độ không sợ mập, không sợ bệnh. Tôi mơ ước một ngày không có người giết người, không có những người có bầu rồi phá thai. Sẽ có một ngày người thương người, người già, người trẻ, những đứa trẻ chưa ra đời cũng được thương yêu.
Sẽ có một ngày không có quốc gia nào có Cảnh Sát, không có quân đội, không có nhà tù, vì không có tội phạm. Khi đó sẽ không cần mua khí giới, xe tăng, thiết giáp để phòng thủ cho quốc gia mình.
Tôi mơ ước có một ngày ngủ không cần đóng cửa vì không có quốc gia nào có trộm cắp viếng nhà. Sẽ có một ngày có nhiều chùa, nhiều nhà thờ, nhiều cơ sở từ thiện mà không có nhà tù.
Kiều Mỹ Duyên mơ ước thế giới hòa bình, các quốc gia đều có Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo.
Tôi mơ ước thế giới hòa bình không có quốc gia có người tranh đấu cho có Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo vì không có độc tài, không có đàn áp, không có người giết người thì đâu cần đến khí giới, súng đạn?
Ôi, giấc mơ của tôi sao tuyệt đẹp, không biết giấc mơ này có thực hiện được ở trần gian hay giấc mơ tuyệt vời đó chỉ có trên Trời, hay trong giấc ngủ nhiều mộng mơ?
Ôi, mộng và thực khác nhau xa lắm, nhưng mơ thì vẫn mơ. Mơ cho đời đẹp, mơ cho cuộc sống thêm thi vị, cũng như tôi đã từng viết rằng thần tượng của tôi là người, thần tượng của tôi không phải ngồi trên bàn thờ. Nhiều độc giả hỏi tôi vậy thì thần tượng của tác giả là ai, ở đâu mà nhìn tôi khóc, nghe tiếng tôi cười? Hay nhất là im lặng, im lặng hơn ngàn lời nói.
Mộng và thực không cùng với nhau. Thôi thì cứ mơ ước cho cuộc đời thăng hoa?