GIAO CHỈ San Jose: Tổng Thống Hoa Kỳ và Tỵ Nạn Việt Nam

Tổng thống Hoa Kỳ và tỵ nạn Việt Nam

·         Giao Chỉ San Jose

·          

Nhân ngày quốc lễ President’s Day xin ghi lại mối liên hệ Hoa Kỳ Việt Nam từ tổng thống thứ 34 vào năm 1953

 Vài nét về cộng đồng Việt tại Mỹ qua 11 đời tổng thống.

Trước năm 1975 kiều dân Việt tại Mỹ chỉ có 15 ngàn. Cuộc di tản tháng 4-75 đem vào Mỹ 150 ngàn và sau đây là con số mỗi kỳ kiểm kể từng thập niên. 1980 có 250 ngàn,1990 có 600 ngàn, năm 2000 có 1 triệu và 100 ngàn. Năm 2010 có 1 triệu và 700 ngàn. Năm sau cùng hiện nay 2020 có 2 triệu và 200 ngàn. Con số này chưa được là 1% dân số Hoa Kỳ nhưng lại là một thành phần rất quan trọng so với dân số tại Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Tìm hiểu thêm với một vài chi tiết so sánh với dân Mỹ cũng có nhiều điều lý thú. Lợi tức trung bình của một gia đình Việt có 20 ngàn 1 năm với nhân khấu là 3.8 gần 4 người một nhà. Gia đình Mỹ tính chung có 26 ngàn 1 năm với 3.2 tức là hơn 3 người trong 1 nhà. Người Việt chưa tốt nghiệp trung học là 26% người Mỹ là 15%. Nói chung trình độ học thức người Việt thấp, nhưng tuổi trẻ Việt Nam tốt nghiệp đại học lên đến19% trong khi Mỹ chỉ có 17%. Tuổi trung bình của Mỹ là 36 nhưng Việt Nam có 34.  Thành phần cao niên của Hoa Kỳ trên 70 tuổi lên đến 6% trong khi Việt Nam chỉ có 3%. Nước Mỹ hiện có 1 triệu 100 ngàn dân ở lậu. Trong số này Việt Nam cũng có 160 ngàn dân lậu. Các con số thống kê này cho chúng ta nhiều điều đáng lưu ý.

Tổng kết về các tổng thống Hoa Kỳ                                                  Hơn nửa thế kỷ vừa qua 9 vị tổng thống Mỹ, từ Eisenhower đến Obama đều là ân nhân của người Việt và di dân gốc Việt. Trong chiến tranh với 58 ngàn chiến binh Hoa Kỳ hy sinh và 300 ngàn thương binh, các vị tổng thống đều quyết tâm nhưng không vượt qua đươc hoàn cảnh. Sau chiến tranh nước Mỹ đã thực sự chào đón tỵ nạn. Chúng ta không bao giờ quên được tấm lòng hào hiệp của người dân Hoa Kỳ.

Trải qua 5 đời tổng thống Hoa Kỳ thời hậu chiến dù là Cộng Hòa hay Dân Chủ di dân Việt Nam luôn luôn được chào đón và trở thành con số vào Mỹ cao nhất cuối thế kỷ 20.

 Chúng ta có thể quản ngại cho tương lai. Nhưng cũng ghi nhận sự vui mừng đã đạt được con số người Việt đáng kể tại Hoa Kỳ để làm thành một cộng đồng vững mạnh. Nếu Hoa Kỳ không tham dự vào Việt Nam từ 1954, dân Việt miền Nam không có được 2 thập niên tự do dân chủ. Nếu tổng thống, chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ không chủ trương bao dung với di dân, chúng ta không có mặt tại Mỹ. 

Giao Chỉ, San Jose

Sơ lược tổng quát34-Dwight_D._Eisenhower,_ .jpg35 -John_F._Kennedy, _portrait.jpg36_Lyndon_Johnson_3x4.jpg37-Richard_Nixon_ ait_(1).jpg38-Gerald_Ford_ _ .jpg

Eisenhower 34,CH     Kennedy 35 DC       Johnson 36 DC          Nixon 37 CH           Ford 38 CH   

Bắt đầu từ 1954 với tổng thống thứ 34 là ông Eisenhower, Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò trong lịch sử Hiệp Chủng Quốc. Vào cuối thập niên 50, trong chuyến đi Mỹ, chúng tôi thấy hình ảnh ông Eisenhower đón chào tổng thống Ngô Đình Diệm và ca ngợi vị nguyên thủ Việt Nam là vĩ nhân của Đông Nam Á. Chẳng bao lâu sau đó, vị tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ là ông Kennedy đã gián tiếp trách nhiệm về cuộc đảo chánh và việc hạ sát anh em ông Diệm năm 1963 tại Sài Gòn. Ông Kennedy tuy giải tỏa được một chế độ cản đường nhưng cũng rất ân hận về cái chết của ông Diệm. Cả hai ông Ngô Đình Diệm và Kennedy đều là Thiên Chúa Giáo. Nhưng niềm ân hận cũng không lâu, chỉ sau một thời gian ngắn đến lượt ông Kennedy bị ám sát chết tại Dallas, Texas. Cái chết của cả hai vị tổng thống vẫn còn nhiều bí ẩn cho đến ngày nay. Ông Johnson lên thay trong vai trò tổng thống thứ 36 với gánh nặng chiến tranh Việt Nam. Ông là người quyết tâm chiến thắng nhưng vẫn không thành công và để gánh nặng cho ông Nixon với chiêu bài Việt Nam hóa chiến tranh, rút quân về bằng mọi giá. Năm 1974, Nixon, vị tổng thống thứ 37 vì Watergate phải từ chức. Ông Gerald Ford thứ 38 lên thay, thể theo lòng dân và quốc hội, quay lưng cuộc chiến tranh Việt Nam. Từ nay đối với Hoa Kỳ, Việt Nam chỉ còn là vấn đề nhân đạo. Với 5 vị tổng thống can dự vào chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford, người Mỹ gọi đây là The War of the Presidents. Ý nói là cuộc chiến riêng tư của các vị tổng thống, không can dự gì vào nước Mỹ và dân Mỹ. Làn sóng chống chiến tranh của dân Mỹ dâng cao với các cuộc xuống đường hàng triệu người. Bây giờ sống tại đây chúng ta mới có thể hiểu được là lòng dân của Mỹ quốc thực sự ảnh hưởng đến chính quyền ra sao. Không cần đúng hay sai, không cần giữ lời cam kết. Đối với dân chúng Hoa Kỳ, lòng kiên nhẫn và sự chịu đựng, hy sinh có giới hạn. Đánh không xong thì rút, sống chết mặc bay. Từ các quan niệm đó, định mệnh đưa chúng ta đến Hoa Kỳ. Sau đây là phần chi tiết.

Người Mỹ tại Việt Nam

1) Eisenhower,34 Chính sách ngăn chặn (1953-1961)

Sau cuộc vây hãm kéo dài 56 ngày, đầu năm 1954, Pháp đã phải chịu thất bại tại Điện Biên Phủ. Kết quả là Hiệp định Geneve 1954 chia Việt Nam làm hai phần ở vĩ tuyến 17. Hoa Kỳ bác bỏ hiệp định Geneve và giúp đỡ một chính quyền quốc gia ở Nam Việt Nam vào tháng 6 năm 1954. Ngô Đình Diệm, một người Công giáo chống Cộng từng sống ở Mỹ, đã trở lại Việt Nam với vai trò thủ tướng và năm sau lên làm tổng thống của một nước miền Nam Việt Nam độc lập. Hiệp định Geneve trở thành bàn khai sinh của Việt nam Cộng Hòa.

Khi những binh lính Pháp cuối cùng ra đi vào tháng 3 năm 1956, Mỹ đã thay thế, và Nam Việt Nam trở thành tiền tuyến trong cuộc chiến nhằm ngăn chặn chủ nghĩa Cộng sản tại Đông Nam Á. Chính quyền Eisenhower đã phải gửi 200 triệu đôla viện trợ một năm và 675 cố vấn quân sự đầu tiên. Tổng thống Eisenhower vốn là anh hùng nước Mỹ sau đệ nhị thế chiến trải qua 2 nhiệm kỳ từ 1953 đến 1961. Ông đón tiếp long trọng tổng thống Việt Nam thăm Hoa Kỳ năm 1957 và ca tụng ông Diệm là vĩ nhân châu Á.

2) Kennedy, 35 vấn đề nan giải.(1961-1963)

Khi Kennedy trở thành tổng thống, ông thừa kế di sản Việt Nam từ Eisenhower. Nhưng điều thực sự lôi cuốn ông là cơ hội để thử nghiệm học thuyết chống chiến tranh du kích cùng với chiến lược quân sự đáp trả linh hoạt.

Đến năm 1961, cộng sản Bắc Việt đã thành lập tại miền Nam một phong trào nổi dậy với cái tên Mặt trận giải phóng dân tộc (NLF). Trong một buổi phỏng vấn của đài CBS, Kennedy đã nhận định rằng tùy thuộc vào người Nam Việt Nam mà “Cuộc chiến của họ” sẽ thắng hay bại. Trong khi đó tình hình miền Nam ngày càng xấu. Nông thôn mất an ninh, cường độ chiến tranh gia tăng. Tại thành thị dân chúng và Phật giáo chống chính phủ. Vào thời điểm đó, đã có khoảng 16.000 “cố vấn” Mỹ tại Việt Nam. Mất kiên nhẫn với ông Diệm, Kennedy cho Sài Gòn biết rằng Mỹ sẽ ủng hộ một cuộc đảo chính quân sự. Vào 1/11/1963, chính quyền Diệm bị lật đổ và tổng thống Việt Nam bị giết chết, một kết cục mà Kennedy đã không đoán trước được. Nhưng ông phải chịu trách nhiệm về cái chết của nhà lãnh đạo mà tổng thống Eisenhower gọi là vĩ nhân châu Á. Ba tuần sau, chính ông Kennedy cũng bị ám sát chết.

3) Lyndon Johnson, 36 Quyết tâm sa lầy, (1963-1969)

Giống như Kennedy nhận lãnh Việt Nam từ Eisenhower, Lyndon Johnson cũng thừa hưởng Việt Nam từ Kennedy. Tuy nhiên di sản mà Johnson nhận được phiền toái hơn, bởi đến lúc này một cuộc can thiệp qui mô lớn của Mỹ mới có thể ngăn chặn sự sụp đổ của Nam Việt Nam. Johnson thề trong buổi nhậm chức,“Tôi sẽ không để mất Việt Nam”, Sau đó chiến tranh Việt Nam thực sự nằm trong quyết tâm của ông. Trong mùa hè 1964, Johnson nhận được báo cáo về những tàu ngư lôi của Bắc Việt Nam đã tấn công khu trục Maddox. Trong cuộc tấn công đầu tiên, vào ngày 2 tháng 8, tổn thất chỉ giới hạn ở một lỗ đạn; cuộc tấn công thứ hai, vào ngày 4 tháng 8, sau đó được chứng minh là nhầm lẫn của radar. Điều đó không quan trọng. Trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia, dù có thực hay tưởng tượng, lời kêu gọi vũ trang của tổng thống khó có thể cưỡng lại. Trong cả Quốc hội, chỉ có hai thượng nghị sĩ bỏ phiếu chống. Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ đã ủy thác cho Johnson quyền được mở các chiến dịch ở Việt Nam. Với cuộc bầu cử năm 1964 đã gần sau lưng, Johnson bắt đầu một chương trình để người Mỹ trực tiếp đảm nhiệm cuộc chiến ở Việt Nam. Chến tranh leo thang, bắt đầu từ đầu năm 1965, bao gồm 2 hình thái: Gia tăng bộ binh Mỹ và đẩy mạnh đánh bom miền Bắc. Ngày 8/3/1965, những người lính thủy quân lục chiến đầu tiên đã đặt chân lên bờ biển Đà Nẵng, bề ngoài là để bảo vệ căn cứ không quân ở đây. Nhưng họ sớm phải chạm trán với kẻ thù. Năm 1966, hơn 380.000 lính Mỹ đã đóng quân ở Việt Nam; năm 1967, 485.000 quân; và 1968 là 536.000. Mỹ tiến hành chiến dịch có tên Rolling Thunder, leo thang đánh bom Bắc Việt Nam. Mục tiêu đặc biệt là Đường mòn Hồ Chí Minh, một mạng lưới tinh vi bao gồm đường mòn, cầu, và nơi trú ẩn trải dài từ Bắc Việt Nam qua Campuchia và Lào đến Nam Việt Nam. Đến năm 1968, một triệu tấn bom đã trút xuống Bắc Việt Nam.

Johnson có lí do để tự tin về người dân Mỹ. Sự đồng thuận rộng rãi vững vàng được hình thành từ những năm trước đó là điều kiện thuận lợi để Washington tiến hành cuộc chiến. Cả Đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đều chấp thuận cho Johnson leo thang chiến tranh ở Việt Nam, và điều tương tự đối với những cuộc khảo sát ý kiến công chúng trong năm 1965 và 1966. Nhưng sau đó quan điểm bắt đầu thay đổi.

Mỗi buổi tối người Mỹ lại thấy trên truyền hình cảnh tàn sát của cuộc chiến và những người Mỹ thương vong. Những phóng viên bắt đầu viết về một “Sự khủng hoảng lòng tin “

Nhưng kinh tế đặt ra cho Johnson nhiều vấn đề hơn. Chiến tranh Việt Nam tiêu tốn 27 tỉ đô-la vào năm 1967, đẩy thâm hụt ngân sách từ 9,8 tỉ đô-la lên 23 tỉ đô-la. Chi tiêu quân sự đã thúc tỉ lệ lạm phát lên cao. Chỉ trong mùa hè năm 1967, Johnson đã yêu cầu đánh thêm 10% thuế thu nhập. Cho đến lúc đó, vòng xoáy lạm phát sẽ gây họa cho nền kinh tế Mỹ trong suốt thập niên 1970 đang đến rất gần.

Phong trào phản chiến :Trong hoàn cảnh đó phong trào phản chiến bắt đầu hình thành. Hạt nhân của nó, cùng với những nhóm ủng hộ hòa bình lâu năm, là một thế hệ mới những nhà hoạt động hòa bình như SANE, nhóm đã biểu tình chống thử vũ khí hạt nhân vào những năm 1950. Phong trào phản chiến nhanh chóng có khả năng tạo ra những cuộc biểu tình lớn ở Washington, đem đến 20-30 ngàn người một lúc. Mặc dù bao gồm nhiều thành phần đa dạng, tất cả những người theo phong trào đều chia sẻ một mối hoài nghi về chính sách của Mỹ ở Việt Nam. Tổng thống Johnson năm 1965 đã hy vọng vào một chiến thắng chớp nhoáng ở Việt Nam, trước khi cái giá chính trị của việc leo thang đến hạn. Nhưng đã không có chiến thắng nhanh chóng. Các lực lượng của Bắc Việt Nam và Việt Cộng đồng loạt tấn công, chính quyền Nam Việt Nam mất đất, và thương vong của Mỹ tăng lên. Vào đầu năm 1968, tỉ lệ tử vong đã chạm đến mức vài trăm người một tuần. Johnson và các tướng lĩnh của ông vẫn khăng khăng cho rằng có “ánh sáng ở cuối đường hầm”. Thực tế trên chiến trường đã cho thấy điều ngược lại.

Vào 30/1/1968, Việt Cộng mở một cuộc tấn công lớn ở Nam Việt Nam. Thời điểm trùng với Tết, kỳ nghỉ đón năm mới của người Việt, cuộc tấn công đánh vào 36 thủ phủ của các tỉnh và 5 trong số 6 thành phố lớn, bao gồm Sài Gòn, nơi Việt Cộng đã gần như lọt vào Sứ quán Mỹ vốn được cho là không thể đánh chiếm được. Về mặt quân sự, cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân là một thất bại, với con số thương vong nặng nề của Việt Cộng. Nhưng về mặt tinh thần, hậu quả là rất lớn. Truyền hình đã đem đến tận nhà người Mỹ những hình ảnh gây sốc.

Đến cuối một bài phát biểu truyền hình vào ngày 31/3, Johnson đã làm cả nước sửng sốt khi tuyên bố ông sẽ không tái ứng cử. Ông cũng kêu gọi tạm ngưng một phần chiến dịch đánh bom và hứa sẽ dùng những tháng trong nhiệm kỳ còn lại để tìm kiếm hòa bình. Vào 10/5/1968, Hoa Kỳ và Bắc Việt Nam bắt đầu vòng đàm phán hòa bình sơ bộ tại Paris.
4) Cuộc chiến của Nixon 37 (1969-1974) Chiến lược Hòa hoãn.

Khái niệm thế giới hai phe, vốn đã trở nên lỗi thời từ thời của Lyndon Johnson, lại càng bị chối bỏ khi Richard Nixon sử dụng sách lược hòa hoãn. Nhưng khi đối diện với cuộc chiến ởViệt Nam, Nixon thừa hưởng di sản mà Johnson để lại. Từ bỏ Việt Nam, theo Nixon, sẽ hủy hoại “uy tín” của nước Mỹ và khiến cho cường quốc này có vẻ giống như một “Người khổng lồ chân đất sét”. Và cũng giống như Johnson, Nixon có những toan tính riêng cho bản thân mình. Ông không được phép trở thành vị tổng thống đầu tiên để thua một cuộc chiến. Nixon muốn hòa bình, nhưng phải là “Hòa bình trong danh dự”.

Để làm dịu chỉ trích trong nước, ông bắt đầu giao việc chiến đấu cho những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Với chính sách mới có tên “Việt Nam hóa chiến tranh”, số lượng lính Mỹ giảm xuống từ 543.000 năm 1968 xuống còn 334.000 năm 1971 và chỉ còn 24.000 vào đầu năm 1973. Tỉ lệ thương vong cũng như uy tín chính trị của họ cũng giảm theo. Nhưng cuộc giết chóc ở Việt Nam vẫn tiếp tục. Như lời đại sứ Mỹ tại Việt Nam, Ellsworth Bunker, đã nói một cách mỉa mai, đó chỉ là vấn đề thay đổi “Màu da của những xác chết”.

Vào tháng tư năm 1972, khi cuộc chiến trở nên khốc liệt, Nixon đã ra lệnh cho B-52 không kích miền Bắc Việt Nam. Một tháng sau đó, ông đồng ý cho gài mìn những bến cảng Bắc Việt, điều mà Johnson đã không bao giờ dám làm. Nixon có thể rảnh tay như thế là bởi, theo tinh thần hòa hoãn, Trung Quốc không còn đe dọa can thiệp nữa. Phía Nga, Brezhnev cũng làm ngơ khi chào đón Nixon vào tháng năm1972, thời điểm cao trào của những cuộc không kích B-52. Việt Cộng có thể cảm thấy bị cô lập, nhưng viện trợ từ Trung Quốc và Liên Xô vẫn tiếp tục đổ vào, và du kích Cộng sản vẫn tiếp tục chiến đấu.

Ở trong nước, cuộc chiến của Nixon đã trở thành gánh nặng. Chẳng những không suy giảm mà phong trào phản chiến ngày càng rầm rộ. Tháng 11 năm 1969, nửa triệu người đã biểu tình ở Washington. Ngày 30/4/1970, trong chiến dịch ném bom bí mật những tuyến đường vận chuyển khí giới của Việt Minh ở nước Campuchia trung lập, binh lính Mỹ đã xâm nhập để tiêu diệt những cơ sở địch ở đó. Khi tin tức về việc đổ bộ vào Campuchia được loan ra, những trường đại học Mỹ như nổ tung vì căm giận, và lần đầu tiên, có sinh viên bị chết. 4/5/1970, tại trường đại học Kent State ở Ohio, lực lượng cảnh vệ quốc gia đã nổ súng vào đoàn người biểu tình, giết chết bốn sinh viên và làm bị thương mười một người. Tại trường đại học Jackson State ở Mississippi, lực lượng cảnh vệ đã tấn công vào một ký túc xá, giết chết hai sinh viên da đen. Hơn 450 trường đại học đã đóng cửa để phản đối. Trên khắp đất nước, khóa học mùa xuân đã bị hủy bỏ.

Bất chấp tất cả, Nixon vẫn bền chí, phê phán kịch liệt những sinh viên biểu tình và tổ chức một cuộc biểu tình phản đối. Mũ bảo hộ lao động đã trở thành một biểu tượng yêu nước sau khi những công nhân xây dựng New York đánh bại những người biểu tình trong một cuộc biểu tình hòa bình vào tháng 5/1970. Dần dần, chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” khiến phong trào phản chiến đi xuống. Khi nhân lực trong quân đội cần được cắt giảm, chế độ quân dịch cũng bị cắt bớt, làm xẹp đi lòng nhiệt tình của nhiều sinh viên phản chiến. Cuối cùng, Nixon đã đẩy lui được những chỉ trích. Nhưng cái mà ông không đẩy lui được là công sản Bắc Việt Nam.

Khi cuộc bầu cử năm 1972 đang cận kề, Nixon đã gửi Henry Kissinger đến mở cuộc đối thoại hòa bình ở Paris. Ở đây Kissinger đã có một nhượng bộ quan trọng khi chấp nhận sự xuất hiện của binh lính Bắc Việt ở lại miền Nam. Với lời tuyên bố của Kissinger: “Hòa bình trong tầm tay”, Nixon đã có thêm số phiếu mà ông muốn, nhưng thỏa thuận đã bị phá bỏ bởi ông Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống Nam Việt Nam. Bởi vậy Nixon, trong cuộc đổ máu cuối cùng, đã ra lệnh hai tuần “Ném bom giáng sinh”, sự kiện tàn khốc nhất trong cả cuộc chiến. Kết quả 27/1/1973, hai bên thỏa thuận hòa bình Paris, tái thỏa thuận việc ngừng bắn đã  bàn tháng mười năm trước. Nixon hi vọng rằng với sự viện trợ ồ ạt của Mỹ, chính quyền Thiệu có thể tồn tại. Nhưng Quốc hội đã từ chối cho phép ném bom Campuchia sau 15/8/1973, và từ từ cắt viện trợ  Nam Việt Nam. Tiếp theo ông Nixon bị truất phế vì Watergate 1974. Tháng ba năm 1975, các lực lượng Bắc Việt Nam đã phát động cuộc tấn công và Sài Gòn thất thủ. Liệu kết thúc như vậy có đáng buồn không?. Đúng, dĩ nhiên, đối với những người bạn Việt Nam của Hoa Kỳ, những người đã mất đi việc làm và tài sản, phải mất nhiều năm trong những trại cải tạo, hoặc phải rời khỏi quê hương. Đúng, đối với nước láng giềng Campuchia, nơi bọn Khơme đỏ điên cuồng lên nắm quyền, tàn sát 1,7 triệu người và đưa đất nước gần như quay trở về thời kì đồ đá. Đối với nước Mỹ, đúng, bởi sự lãng phí sinh mạng (58.000 người chết, 300.000 người bị thương), 150 tỉ đô-la, những vết thương bên trong lâu lành, và sự tự tin bị đánh mất đối với những nhà lãnh đạo nước Hoa Kỳ.
Ghi chú. Các tài liệu về tổng thống Mỹ trong chiến tranh Việt Nam được lấy từ phần Việt Ngữ của tự điển điện toán Wikipedia
Nhận định riêng.
Điều thực sự quan trọng là, trước khi bỏ rơi Nam Việt Nam, các vị tổng thống Hoa Kỳ đã thực sự muốn hoàn thành sứ mạng bảo vệ Việt Nam.. Johnson quyết tâm chiến thắng. Nixon muốn có hòa bình trong danh dự. Nhưng họ không vượt qua được hoàn cảnh. Chính vì những lý do đó, người Mỹ đã mở vòng tay đón tỵ nạn Việt Nam trong hơn 40 năm qua. Đồng thời tìm cách trở lại Việt Nam để trực tiếp gặp người dân của nước cựu thù. Nước Mỹ tìm cách chinh phục lòng người, vận động đồng minh bằng vòng tay mở rộng thay vì B52 hay bom đạn chiến tranh..
Sau đây là giai đoạn hậu chiến với các chương trình di dân và hình thành cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Tổng thống Cộng Hòa 38 Ford. (1974-1977)
Trong phiên họp cuối cùng quốc hội Hoa Kỳ bàn về viện trợ cho miền Nam. Tổng thống Ford thông báo tài khóa 1973 đã dành cho VNCH 2 tỷ 8 trăm triệu. Tài khóa 1974 chỉ xin 700 triệu nhưng không được chấp thuận. Kịp đến đầu năm 1975 xin 300 triệu cũng bị từ chối. Quốc hội quyết định không cho 1 xu nhưng tuyên bố sẽ dành cho ngân khoản tối đa để đón người ty nạn. Ông Ford lên thay Nixon làm tổng thống thứ 38 chỉ còn công việc cuối dành cho VNCH là đến San Francisco đón đứa bé mồ côi Việt Nam chụp hình cho báo chí phổ biến. Với 3 năm sau cùng, vị tổng thống Cộng Hòa đã hoàn tất việc định cư cho 150 ngàn người di tản Việt đầu tiên đến Mỹ.39-JimmyCarter 2.jpg40- _President_Reagan_1981.jpg41-George_H._W._Bush_ ).jpg42-px-Bill_Clinton.jpg43- George-W-Bush.jpeg

 (Carter 39 DC)         (Reagan 40 CH)    (Bush Cha 41 CH)      (Clinton 42 DC)      (Bush Con 43 CH)

Tổng thống Dân Chủ 39, Jimmy Carter. (1977-1981)

Ngay khi chiến tranh chấm dứt, ông đã cử phái đoàn đến Hà Nội ngỏ ý muốn giúp kẻ thù cũ xây dựng đất nước. Việt Cộng đã ngạo mạn bỏ qua một cơ hội bằng vàng. Sau đó đã kéo lùi đất nước lại hơn 30 năm từ khi chiến thắng 75 đến 85 mới tỉnh ngộ. Trong một nhiệm kỳ ngắn ngủi 4 năm ông đã trở thành vị ân nhân số một mang danh hiệu tổng thống của thuyền nhân Việt Nam.Tại Hoa Kỳ, tổng thống Carter đã mở đầu chính sách ODP từ 1979 và cho lệnh vớt thuyền nhân trên biển Đông. Năm 1980 kiểm kê dân số lần đầu tiên dưới thời kỳ Carter người Việt đạt được trên 260 ngàn. Cũng trong triều đại Carter bộ luật về Ty Nạn được ban hành 1980 với danh hiệu Refugee Act.

Tổng thống Cộng Hòa 40, Reagan (1981-1989)

Không thể quên được hình ảnh tổng thống Reagan ký tài liệu mở đường cho chương trình nhận tù chính trị và gia đình định cư tại Mỹ và tiếp theo là chương trình con lai. Kiểm kê dân số 1990 với thời kỳ Reagan kết quả gia tăng và người Việt đạt được 600 ngàn. Trong số này có nhiều thuyền nhân từ các trại ty nạn Đông Nam Á.

Tổng Thống Cộng Hòa 41, Bush Cha (1989-1993)

Chương trình ODP, con lai và thuyền nhân tỵ nạn tiếp tục được nhận vào Hoa Kỳ. Có thể nói trong 4 năm ngắn ngủi của ông Bush Cha là giai đoạn thuyền nhân đến Mỹ nhiều nhất.

Tổng Thống Dân Chủ 42 Clinton. (1993-2001)

Thời kỳ 8 năm của ông Clinton con số ODP rất cao và số thuyền nhân xuống thấp vì các trại ty nạn đóng cửa năm 1995. Tuy nhiên tổng số dân ty nạn Việt Nam ghi lại trong kỳ kiểm kê 2000 đã lên gần gấp đôi là 1 triệu và 100 ngàn. Đặc biệt tổng thống Clinton đến thăm Việt Nam lần đầu tiên năm 2000 đã đem luồng gió tự do, dân chủ đến trực tiếp với dân Việt cả hai miền Nam Bắc. Một hiện tượng lịch sử có rất nhiều ý nghĩa.

Tổng Thống Cộng Hòa 43. Ông Bush Con (2001-2009)

Thuyền nhân không còn trực tiếp đến Mỹ nhưng các diện đoàn tụ, con lai và HO vẫn tiếp tục. Tổng thống Bush con cũng đến Việt Nam và đem lại rất nhiều ý nghĩa đặc biệt . Đồng thời kỳ kiểm kê dân số năm 2010 người Việt tại Mỹ gia tăng lên con số 1 triệu và 500 ngàn.44- Barack_Obama.jpg45-Donald_Trump_ .jpg46-Joe_Biden_ t.jpg

Obama 44 DC      Trump 45 CH          Biden 46 DC

Tổng thống Dân Chủ 44 ông Obama. (2009-2017)

Trải qua 8 năm cầm quyền, hồ sơ đoàn tụ ODP và nhiều hình thức khác vẫn tiếp diễn. Thêm vào đó người Việt qua Mỹ theo diện kết hôn gia tăng đáng kể . Tính đến cuối năm 2016 dân số gốc Việt tại Hoa Kỳ vào khoảng 1 triệu 800 ngàn người. Đạt được rất nhiều thành quả đáng kể. Thế hệ thứ hai và thứ ba Việt Nam trở thành dân cử, các tướng lãnh, các chuyên gia và các công dân Hoa Kỳ gốc Việt gương mẫu. Chuyến thăm viếng Việt Nam của tổng thống Obama được coi là một thành quả ngoại giao vô cùng khích lệ không phải đối với chính quyền mà là trực tiếp đối với dân chúng Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ.

 Tổng Thống Cộng Hòa 45 Trump (2017-2020)

Năm 2017 Hoa Kỳ có vị tổng thống mới. Một hiện tượng đặc biệt. Một đường lối khác biệt. Ông Trump có những suy nghĩ và hành động khác biệt hoàn toàn với tất cả các vị tổng thống tiền nhiệm dù Cộng Hòa hay Dân Chú Ông công khai bày tỏ ý kiến là việc Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam là một sai lầm. Với chủ trương hạn chế di dân thêm vào đó lại gặp nạn dịch Covid nên cộng động Việt Nam chia xẻ những khó khăn với nhân dân Hoa Kỳ trong vấn nạn chung của đất nước. Vị tổng thống 45 cũng không quan tâm đến đề tài nhân quyền nên các nhà đấu tranh tại Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn và thêm nhiều tù nhân của lương tâm bị tù đầy. Dưới triều đại của tổng thống Trump sự chia rẽ trầm trọng giữa 2 chính đảng Hoa Kỳ cũng đã tạo ảnh hưởng rất nhiều trong cộng đồng Việt Nam

Tổng thống Dân Chủ 46 Joe Biden. Ông mới lên nhận chức vụ được 1 năm chủ trương gần như hoàn toàn đối lập với đường lối của tổng thống Cộng Hòa tiền nhiệm. Trong hoàn cảnh rất khó khăn về kinh tế, lạm pháp và việc chia rẽ ngày càng trầm trọng giữa 2 chính đáng. Chưa có nhiều dữ kiện để nhận định cho tương lai.

 Vài nét về cộng đồng Việt tại Mỹ

Trước năm 1975 kiều dân Việt tại Mỹ chỉ có 15 ngàn. Cuộc di tản tháng 4-75 đem vào Mỹ 150 ngàn và sau đây là con số mỗi kỳ kiểm kể từng thập niên. 80 có 250 ngàn,90 có 600 ngàn, năm 2000 có 1 triệu và 100 ngàn. Năm 2010 có 1 triệu và 700 ngàn. Năm sau cùng hiện nay 2020 có 2 triệu và 200 ngàn. Con số này chưa được là 1% dân số Hoa Kỳ nhưng lại là một thành phần rất quan trọng so với dân số tại Việt Nam về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Tìm hiểu thêm với một vài chi tiết so sánh với dân Mỹ cũng có nhiều điều lý thú. Lợi tức trung bình của một gia đình Việt có 20 ngàn 1 năm với nhân khấu là 3.8 gần 4 người một nhà. Gia đình My tính chung có 26 ngàn 1 năm với 3.2 tức là hơn 3 người trong nhà.Người Việt không tốt nghiệp trung học là 26% người Mỹ là 15% nhưng tuổi trẻ Việt Nam tốt nghiệp đại học lên den19% trong khi Mỹ chỉ có 17%. Tuổi trung bình của Mỹ là 36 nhưng Việt Nam có 34.  Thành phần cao niên của Hoa Kỳ trên 70 tuổi lên đến 6% trong khi Việt Nam chỉ có 3%. Nước Mỹ hiện có 1 triệu 100 ngàn dân ở lậu. Việt Nam cũng có 160 ngàn dân lậu. Các con số thống kê này cho chúng ta nhiều điều đáng lưu ý.

Tổng kết về các tổng thống Hoa Kỳ                                                  Hơn nửa thế kỷ vừa qua 9 vị tổng thống Mỹ, từ Eisenhower đến Obama đều là ân nhân của người Việt và di dân gốc Việt. Trong chiến tranh với 58 ngàn chiến binh Hoa Kỳ hy sinh và 300 ngàn thương binh, các vị tổng thống đều quyết tâm nhưng không vượt qua đươc hoàn cảnh. Sau chiến tranh nước Mỹ đã thực sự chào đón tỵ nạn. Chúng ta không bao giờ quên được tấm lòng hào hiệp của người dân Hoa Kỳ.

Trải qua 5 đời tổng thống Hoa Kỳ thời hậu chiến dù là Cộng Hòa hay Dân Chủ di dân Việt Nam luôn luôn được chào đón và trở thành con số vào Mỹ cao nhất cuối thế kỷ 20.

 Chúng ta có thể quản ngại cho tương lai. Nhưng cũng ghi nhận sự vui mừng đã đạt được con số người Việt đáng kể tại Hoa Kỳ để làm thành một cộng đồng vững mạnh. Nếu Hoa Kỳ không tham dự vào Việt Nam từ 1954, dân Việt miền Nam không có được 2 thập niên tự do dân chủ. Nếu tổng thống, chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ không chủ trương bao dung với di dân, chúng ta không có mặt tại Mỹ. 
—

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




Biển Đời Biển Sóng Nhớ Mênh Mang | Thơ: Túy Hà || Diễn Ngâm: SA CHI LỆ

https://www.youtube.com/watch?v=VOg-JO5bNak



GS TS MAI THANH TRUYẾT: Câu chuyện Da Cam/Dioxin Thay Lời Kết




VĂN – ĐỒN ÔNG LỢI – Lê Xuân Nhuận

ÔNG ÐỒN LỢI

TÔI nói với Đại-Úy (sau này là Thiếu-Tá) Trương Công Ân, Chánh Sở Ðặc-Cảnh Tỉnh+Thị Thừa-Thiên+Huế, rằng anh khỏi cần tháp-tùng hoặc cử nhân-viên đi theo tôi. Tôi chỉ đi dạo chơi trên Đại-Lộ Trần Hưng Ðạo và quanh Chợ Ðông-Ba, để xem lại những nơi chốn cũ vốn đã ghi sâu trong tôi nhiều kỷ-niệm khôn quên trước ngày tôi bị đày đi khỏi Huế vào năm 1960.

Sau đó, cùng với Đại-Úy (sau này là Thiếu-Tá) Ngô Phi Đạm, Chánh Sở Tác-Vụ thuộc Ngành Đặc-Biệt Vùng I, ngồi trong chiếc xe Jeep sơn màu trắng-xám và mang bảng số ẩn-tế đậu dọc lề đường, tôi dùng máy vô-tuyến chỉ-huy công-tác của Đại-Úy Nguyễn Công Văn, Phó Sở Tác-Vụ, và Toán Ðặc-Nhiệm Vùng I, mà tôi đã phái đi riêng từ Ðà-Nẵng ra, đang kín-đáo làm việc ở bên kia Bờ Sông Gia-Hội và ở mé sau Chợ Ðông-Ba.

Vì các đối-tượng theo-dõi của chúng tôi có những liên-hệ mật-thiết với một số viên-chức hữu-trách ở đây, tôi không tiện giao cho địa-phương thi-hành nên phải đích-thân từ Ðà-Nẵng ra tận nơi hành-động với nhân-viên riêng của mình.

*

Dù là dân Huế hay là người ở xa mà đã có lần đến Huế, chắc là không ai không biết đến Đường Trần-Hưng-Ðạo và Chợ Ðông-Ba, nổi bật giữa trung-tâm thương-mại và kỹ-nghệ của cố-đô này.

Ðối với tôi, bây giờ cảnh-vật ở đây kém phần thân thương, vì bây giờ ở đây không còn có nữa một khuôn mặt quen thuộc, quen thuộc như người nhà của mọi người, mọi nhà, nhất là ở khu phố này, lần cuối cách đây chừng trên mươi năm.

Ðó là “ông Ðồn Lợi”.

*

Tháng 3 năm 1947, Đế-Quốc Pháp đem binh-lính viễn-chinh đến dẫm gót giày đinh xâm-lược lên đất Thần-Kinh, trong âm-mưu tái-chiếm cựu thuộc-địa Việt-Nam mà chúng đã khởi đầu tại Sài-Gòn từ tháng 9 năm 1945. Thực-dân đánh đuổi về đồng quê và lên rừng núi lực-lượng kháng-chiến mà Ðảng Cộng-Sản Việt-Nam đã cướp được quyền lãnh-đạo dưới lốt Mặt Trận Việt-Minh. Pháp dựng lên bộ máy kềm kẹp tại những thành+thị và khu-vực mà chúng đã chiếm-đóng được, thí-dụ:  Sở Liêm-Phóng Liên-Bang (Sûreté Fédérale), Ty Cảnh-Sát Pháp (Police Française), Toà Án Pháp (Tribunal Français), Lao-Xá Trung-Ương (Prison Centrale), v.v…

Các nhà ái-quốc không-Cộng-Sản bèn đứng ra thành-lập Chính-Quyền Quốc-Gia. Một mặt, họ đương-đầu với Mặt Trận Việt-Minh; một mặt, họ vừa hợp-tác với bạn đồng-minh để bình-định xứ-sở, vừa tranh-đấu với thù cố-cựu để giành lại chủ-quyền cho quốc-dân. Trong tình-hình đó, tại Miền Trung, Hội-Ðồng Chấp-Chánh Lâm-Thời Trung-Kỳ, mà trụ-sở được đặt tại Huế, đã tổ-chức các công-sở: ở cấp Phần thì có Nha An-Ninh Quốc-Gia, v.v…; ở cấp Tỉnh thì có Toà Hành-Chánh với các Ty, tỷ như Ty An-Ninh Quốc-Gia, Ty Cảnh-Sát Quốc-Gia, v.v… là những cơ-quan song-hành nhưng tranh-chấp với các bộ-phận tay-sai kể trên của ngoại-bang.

Huế là trung-tâm của toàn-quốc, đồng-thời là thủ-phủ cuả Miền Trung, cho nên khu phố cốt-lõi của Huế là nơi đầu tiên đón nhận sự hiện-diện của Chính-Quyền Quốc-Gia. Ðó là Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba, nằm ngay đầu Đường Trần-Hưng-Ðạo và sát hông ngôi chợ mà Ðồn này mang tên.

Ðặng Hữu Lợi là viên Trưởng Ðồn đầu tiên ở đây.

Lợi có một bộ mặt dài thòng như mặt ngựa, với cái vẻ tỉnh bơ như không nói gì mà lại nói rất nhiều, sâu-sắc và chua-cay, khiến nhiều người so sánh anh với vai hề nổi tiếng cuả màn-ảnh Pháp, Fernandel, mặc dù gã diễn-viên của nước ngoài thì cao to ngược hẳn với ông cò thấp gầy của nước mình. Nhưng, xen kẽ với phim-ảnh Pháp thì cũng có nhiều phim-ảnh Mỹ được chiếu thời bấy giờ, nên đã có không ít người cãi lại, bảo rằng trông Lợi giống thằng gầy trong cặp mập+gầy Laurel và Hardy của Hoa-Kỳ. Ðó là những lúc Lợi pha trò, nhộn và tếu vô cùng.

Lợi có một đặc-điểm khác nữa, là anh thường hay chồm nửa người trên về phiá cửa lớn cũng như cửa sổ, nghiêng đầu và hướng mắt ra xa, dù cho đang bàn-luận chuyện gì với ai, tạo cho người xung quanh cái cảm-tưởng là anh luôn luôn ngóng đợi một người nào. Vì là Trưởng Ðồn nên anh được gọi là “ông Ðồn”, và vì tên Lợi mà lại có dáng-bộ chờ-đợi nên bạn-bè tinh-nghịch đặt cho anh cái biệt-danh “ông Ðồn… Lợi”, với cái hàm-ý theo lối nói lái là “ông đợi… l…”. Chính anh cũng lấy làm thích-thú được mọi người dùng cái tên ấy để gọi mình.

Sau khi có Chính-Quyền Quốc-Gia, những người dân Huế, vốn đã bỏ chạy về miền nông-thôn lánh nạn sau đêm lịch-sử 19 tháng 12 năm 1946―quân và dân Việt-Nam bất-thần tấn-công các đồn/trại và tư-gia cuả Pháp để khởi đầu cuộc kháng-chiến toàn-quốc―nay lũ-lượt hồi-cư. Một số dân quê cũng rời ruộng đồng lên phố sinh sống để tránh tai-họa vì các cuộc giao-chiến ngày càng lan ra. Tuy thế, hàng ngày dân-chúng vẫn di-chuyển tấp-nập giữa Thành-Phố này với các Tỉnh khác và các Quận+Xã xung quanh; và bến xe chính cũng như bến đò chính thì ở sát chợ, cạnh Ðồn, nên “ông Ðồn Lợi” được hầu hết bà con khắp nơi trong Tỉnh và các Tỉnh khác quen mặt hoặc biết tên, trong lúc các Đồn-Trưởng Ðồn khác chỉ được nghe thấy trong Phường mình mà thôi.

Lợi nổi tiếng không phải chỉ do cái dáng-mạo buồn-cười ấy, mà còn nhờ ở thiện-chí bênh-vực bảo-vệ đồng-bào hiền-lương.

Nào là Sûreté Fédérale (Mật-Thám Pháp), nào là Commando (Biệt-Kích Pháp), nào là Partisan (thân-binh Pháp), cùng với binh-lính Pháp và cả thường-dân Pháp nữa, ngày nào cũng có không biết bao nhiêu vụ chúng cướp-bóc, đánh-đập, hãm-hiếp, bắt-bớ, và cả bắn/giết, người dân Việt-Nam. Lợi là một trong số những viên-chức Cảnh-Sát Quốc-Gia đầu tiên đứng ra can-thiệp chống kẻ bạo-tàn. Tất-nhiên, không phải lần nào người ngay-chính cũng thuyết-phục được kẻ gian-tà. Anh đã bị không ít trận đòn dã-man.

Đặc-biệt, đối với các phần-tử phạm-pháp bị bắt quả-tang, ngay cả Việt-Minh, Lợi cũng đòi cho họ được đối-xử đàng-hoàng.

Vào những ngày cuối tuần, cuối tháng, và sau mỗi cuộc hành-quân, hầu như tất cả lính Pháp đều đổ xô ra đường; mua sắm thì ít mà nhậu-nhẹt và kiếm gái thì nhiều. Người gốc Ma-Rốc, Xê-Nê-Gan, An-Jê-Ri, Tuy-Ni Zi, từ các thuộc-địa của Pháp ở Châu Phi, thì chỉ dạo phố và giải-trí bình-thường; thỉnh-thoảng mới có vài vụ lôi-thôi. Người gốc thiểu-số Ra-Ðê ở Cao-Nguyên Trung-Phần Việt-Nam thì chất-phác, không gây phiền-hà. Chỉ duy người Pháp chính-quốc và người gốc Ðức cảm-tử trong binh-chủng Lê-Dương là thường hay say-sưa đánh người. Ðặc-biệt vào Ngày Quốc-Khánh Pháp, 14 tháng 7 hàng năm, người lính Lê-Dương được xá mọi tội nên tha-hồ phá-phách, quỵt-giật, hành-hung người, và hiếp-dâm phụ-nữ Việt-Nam.

Vào những dịp ấy, hầu hết nhân-viên Cảnh-Sát Quốc-Gia khắp Thành-Phố Huế, ngoài giờ làm việc đều mặc giả thường-dân, đổ dồn về Đường Trần-Hưng-Ðạo, nấp sẵn trong các con hẻm dẫn ra Bờ Hồ, hoặc phiá trước hiên đình Chợ Ðông-Ba, hễ thấy có lính Lê-Dương hoặc lính Pháp giở trò áp-bức dân lành là ào ra nện cho chúng những trận nên thân. Xong xuôi, “ông Ðồn Lợi” mới dẫn nhân-viên trực Ðồn đến tiếp-ứng giải vây cho chúng và giúp phương-tiện chở chúng về trại giùm.

Thảng-hoặc có Prévôté (Hiến-Binh Pháp) xuất-hiện thì Lợi cho nhân-viên tuần đường đi trước để thông-tin. Trong trường-hợp đó, các toán hành-hiệp đành nhẫn-nhịn nhìn đồng-bào bị thiệt-thòi―vì Prévoté chỉ can ngăn chứ không bắt giữ kẻ phạm-pháp hoặc bồi-thường cho nạn-nhân―sau đó, họ mới bám theo bọn tội-phạm trên đường chúng trở về trại binh, và chận dọc đường mà trả thù.

Hồi đó, Ty Cảnh-Sát Huế là nơi cung-cấp Phái-Viên Hành-Chánh (về sau gọi là Quận-Trưởng) cho các Quận thuộc các Tỉnh, và các Cảnh-Sát-Trưởng cho các Thị-Xã, khắp Miền Trung.

Ðội Túc-Cầu Cảnh-Sát Huế nhiều lần đoạt giải vô-địch toàn-quốc.

Ban Kịch Thơ Cảnh-Sát Huế vượt trội các đoàn kịch-nghệ khác, tỷ như của Nha Thông-Tin, của Nha Cảnh-Sát Công-An, v.v… khắp Trung-Phần Việt-Nam.

Ðặng Ngọc Lựu, đạo-diễn, và tôi, tác-giả, luôn luôn để dành cho Lợi ít nhất là một vai kịch hài và một màn ngâm thơ tếu, trong mỗi đêm trình-diễn trước quảng-đại đồng-bào. Không-khí văn-nghệ cởi-mở ấy cũng là một dịp để “ông Ðồn Lợi” được người dân gần-gũi và thân-thương mình hơn.

Dần dần, các chính-khách Quốc-Gia giành thêm được nhiều bước nhượng-bộ cuả Pháp, và tiến tới nhất-trí mời Cựu-Hoàng Bảo Ðại về nước nắm chính-quyền trung-ương. Cùng với Hội-Ðồng An Dân Bắc-Việt và Chính-Phủ Cộng-Hoà Nam-Kỳ-Quốc Tự-Trị, Hội-Ðồng Chấp-Chánh Lâm-Thời Trung-Kỳ rút lui. Chính-phủ Quốc-Gia thành-hình. Các cơ-quan đơn-vị thuộc Pháp giải-thể lần lần. Nhiều phe phái thay phiên nhau lên cầm quyền trong từng địa-hạt và vào từng thời-kỳ. Nhưng “ông Ðồn Lợi” vẫn còn là Trưởng Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba. Các cấp chỉ-huy chưa độc-tài đến độ chỉ bổ-nhiệm vây cánh của mình vào mọi chức-vụ điều-khiển mọi cấp trong mọi ngành như sau này.

Ngày 07-5-1954, Pháp thất-trận ở Ðiện Biên Phủ.

Ngày 07-7 cùng năm, Ông Ngô-Ðình-Diệm chính-thức nhậm-chức Thủ-Tướng Chính-Phủ do Quốc-Trưởng Bảo Ðại bổ-nhiệm, hướng về Hoa-Kỳ.

Ngày 20 cùng tháng, Hiệp-Ðịnh Geneva ra đời, chia đôi đất nước, mở đường cho Mỹ đến và Pháp ra đi. Phản-ứng cuả Quân-Ðội Quốc-Gia, thân Pháp, là gây một cuộc khủng-hoảng chính-trị trầm-trọng trên toàn-quốc, xuất-phát từ Sài-Gòn và Huế. Nhưng Huế mới là trung-tâm thực-nghiệm, với hành-động chống-đối quyết-liệt và cụ-thể, vì Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu ở Huế đang có cơ-hội điều-động và sử-dụng một lực-lượng quân-sự lớn để vào tiếp-thu Tỉnh Quảng-Ngãi mà Việt-Minh vì phải tập-kết ra Bắc nên giao lại cho Chính-Quyền Quốc-Gia; và Huế là nơi tập-trung cuả gia-đình họ Ngô. Ngoài một số ít các nhà cách-mạng sáng suốt, còn thì những người có ưu-tư vì thời-cuộc tuy dè-dặt nhưng đều nôn-nao nghe ngóng dư-luận trong và ngoài nước để ước-đoán chiều hướng biến-đổi cuả tình-hình, hầu chọn thế đứng cho mình.

Giới Công-An Cảnh-Sát vốn biết tôi đã tiên-đoán thế nào Mỹ cũng nhảy vào Việt-Nam nên đã chú-tâm trau-dồi tiếng Anh từ nhiều năm trước đó, nay thấy tôi đã qua bên quân-ngũ, giữ mục thời-luận hằng ngày trên mặt báo và trên Ðài Phát-Thanh, tiếng nói chính-thức của Quân-Lực và Tư-Lệnh Quân-Khu, bèn tìm cách thăm dò ý-kiến tôi. Lợi là người được họ cậy nhờ, và tôi cũng cần có anh để liên-lạc với bạn-bè. Bên ngoài thì sự tiếp-xúc thường-xuyên giữa Lợi với tôi chỉ nhằm mục-đích văn-nghệ, vì tôi vẫn còn tiếp-tục sáng-tác cho Ban Kịch Thơ cuả Cảnh-Sát Huế và cho chính anh diễn-ngâm, nhưng bên trong thì qua anh tôi thuyết-phục mọi người hãy đón nhận Hoa-Kỳ, giàu-mạnh hơn, và hào-hiệp, chứ không như Pháp, để nước nhà dễ sớm vươn lên.

Ngô Ðình Diệm là người được Hoa-Kỳ chấp-nhận và ủng-hộ.

Trong cảnh tranh-tối tranh-sáng của những ngày tháng giao-thời ấy, Lợi là một trong số ít những ủng-hộ-viên và cổ-động-viên đắc-lực nhất nhưng cũng bất-vụ-lợi nhất mà tôi đã tranh-thủ được cho Thủ-Tướng họ Ngô. Trong một nước còn hậu-tiến, một lời phát-biểu của các viên-chức chỉ-huy Ngành Công-Lực, tỷ như “ông Ðồn Lợi”, có một ảnh-hưởng khá lớn trong dân-nhân.

Rồi cố-vấn Mỹ vào, viện-trợ Mỹ vào, và Diệm tất-nhiên vững chân.

Vở kịch thơ dã-sử “Gươm Chính-Nghiã” của tôi, dưới bút-danh Nguyệt Cầm, mà nội-dung có ngụ-ý đề-cao Ngô Ðình Diệm, được khán-giả nhiệt-liệt hoan-nghênh và yêu-cầu diễn lại nhiều lần. Các bài thơ trào-phúng của tôi, dưới bút-danh Tú Ngông, mà chủ-đề là “đả thực, bài phong, diệt cộng”, đúng theo chiêu-bài của Diệm, qua tài diễn-xuất của “ông Ðồn Lợi”, cũng được công-chúng tán-thưởng nồng-nàn.

*

Cuối năm 1956, mãn hạn động-viên, tôi về lại với Ty Cảnh-Sát Huế.

Cầm lại cây bút dân-sự, tôi tái-hoạt-động văn-nghệ tích-cực hơn xưa.

Riêng trong công-quyền, ngoài công-vụ hằng ngày, tôi vun-đắp thêm cho Ban Kịch Thơ, xuất-bản một tờ nội-san mang tên “Phục-Vụ”, phổ-biến đi khắp các Tỉnh và lên cả Trung-Ương. Qua tờ nội-san này, tôi đã hướng-dẫn và khuyến-khích “ông Ðồn Lợi”, dưới bút-danh Hữu Lợi, viết tùy-bút, truyện ngắn, và làm thơ. Tôi mở các lớp bổ-túc nghiệp-vụ chuyên-môn, dạy tiếng Anh, cho cảnh-nhân toàn Thành, đồng-thời thuyết-trình về những ý-nghiã cao-đẹp của chủ-nghiã Nhân Vị, nòng-cốt của học-thuyết Diệm, và phổ-biến tạp-chí “Thế-Giới Tự Do”, chiếu phim cuả Phòng Thông-Tin Hoa-Kỳ, cả cho đồng-bào trong khắp địa-phương. Lợi là một trong những anh em sốt-sắng nhất, ngoài giờ làm việc tham-gia phụ-lực tôi. Chúng tôi phục-vụ hăng say, đúng theo tinh-thần của cuộc “Cách-Mạng Quốc-Gia” mà Tổng-Thống Ngô Đình Diệm chủ-trương.

Tuy thế, vì không phải là tay+chân thân-tín, cũng không phải là cừu non, nên dù đem hết tâm-huyết ra để đóng góp, số đông, như Lợi và tôi, vẫn không được đãi-ngộ công bình. Trái lại, có một số phần-tử kém-cỏi nhiều mặt vẫn được tưởng-thưởng vượt quá lệ thường; thậm chí tùy-phái lao-công cũng được thăng cấp sĩ-quan, mỗi khi lễ-lạc lớ-quớ trong bộ đại-lễ-phục xuất-hiện trước quần-chúng làm trò cười cho mọi người. Có kẻ in thiệp báo tin chịu lễ rửa tội gửi khắp toàn Miền, cho cả các công-sở khác và những người không quen, như một thông-cáo chính-thức bảo-đảm cho nấc thang giá-trị mới và tiền-đồ công-danh sự-nghiệp của mình.

Qua những mẩu tùy-bút của Hữu-Lợi mà tôi không dám cho đăng, tôi thấy anh không còn chỉ là một cây cười vô-biên-giới, mà đã nghiêm-túc chọn một giới-tuyến cho chính mình. Ðiều quan-hệ hơn hết là anh đã dám giãi-bày, bằng giấy trắng mực đen, tâm-tình ẩn-ức của những tầng lớp thấp cổ bé miệng, công-nhiên gửi cho báo đăng, thách-thức các thế-lực thịnh-thời.

Lâu nay, Lợi đến với tôi tại văn-phòng, tại hội-đường, tại câu-lạc-bộ, là những nơi hầu như khi nào cũng có đồng-nghiệp lắng nghe chúng tôi. Từ nay, tôi đến với Lợi tại Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba, là nơi luôn luôn có quá nhiều giới người, mà lại có quá nhiều loại việc, nên không ai chú ý đến nội-dung câu chuyện của chúng tôi.

Lợi có thói quen uống cà-phê với thật nhiều đường, mà anh gọi là chè-phê. Bên ly chè-phê, “ông Ðồn Lợi” lắc đầu ngao-ngán kể thêm cho tôi biết mỗi lần vài ba sự việc mà tôi chưa hề nghe.

 Vẫn với thói quen chồm nửa người trên ra hướng cửa sổ, Lợi chỉ tay về phiá dãy phố buôn bán sầm-uất dọc lề bên kia Đại-Lộ Trần Hưng Ðạo, nơi đến đầu Cầu Gia-Hội thì giáp góc với Đường Huỳnh-Thúc-Kháng song-song với Đường Gia-Long. Anh nói:

– Hôm nọ là Bửu Bang chủ tiệm “Rồng Vàng”, hôm kia là Phan Văn Thí chủ hiệu “Đức Sinh”, hôm khác là nhà buôn Lý Lâm Thịnh, rồi Châu chủ hãng “Nam-Hưng”, rồi thầu-khoán Nguyễn Giáp, rồi thương-gia Phan Cho. (Chưa kể Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Đắc Phương đã bị giết chết rồi.) Ngày mai, ngày mốt, sẽ đến phiên ai đây?

Ðó là những người có máu mặt ở trong khu-vực trách-nhiệm của Lợi, đã lần-lượt bị bắt giam, bị tịch-biên tài-sản, hoặc ít nhất là bị vây hãm phạm-vi kinh doanh.

Trong lúc phong-trào bài-trừ tứ-đổ-tường dâng lên cao thì những tệ-đoan xã-hội khác, trầm-trọng và nguy-hại hơn, lại do chính một số các con-cưng của chế độ gây ra.

Một dược-sĩ đêm đêm giả làm tài-xế đạp xe-đạp xuống các bến, dưới Cầu Trường-Tiền, dọc bờ Sông Hương, o-mèo các cô giúp việc của những gia-đình khá-giả ở các dãy phố từ Cửa Thượng-Tứ xuống đường Hàng-Bè. Thường thì đến mười một giờ tối cửa tiệm mới đóng; đợi dọn-dẹp xong, chủ nhà đi ngủ, các cô mới mang áo quần xuống sông giặt-dịa, hoặc gánh cặp thùng nhiều chuyến đi lấy nước về đổ đầy hồ chứa để có đủ dùng cho ngày hôm sau. Ðó là thời-gian tự-do; ai muốn nghỉ sớm thì gắng làm nhanh, còn ai muốn đàn-đúm bạn-bè thì cứ rán mà thức khuya. Họ là con gái nhà quê, ít chữ nghiã, nhưng có nhan-sắc nên mới được các chủ-nhân ăn-nên làm-ra chọn mướn cho phù-hợp với cảnh thanh-lịch thị-thành. Thế là, thay vì phải mặc đồ lớn đi chầu-lụy cả một đại-gia-đình, vất-vả tốn kém suốt năm mà chưa chắc đã nắm được bàn tay của một cô gái Huế hộ-đối môn-đăng, viên dược-sĩ nhà-ta chỉ cần bỏ ra vài xu mua một gói đậu phụng rang, trổ tài ăn nói của kẻ học rộng biết nhiều ra mà chiêu-dụ, mỗi khi một con mồi, là cầm chắc trung-bình mỗi tuần phá được cuộc đời cuả ít nhất là một cô gái còn trinh. Lợi đã tình-cờ bắt gặp một cặp trai+gái đang ôm nhau trên bãi hoang, và nhận-diện ra gã đàn-ông chính là viên dược-sĩ kia; nhà trí-thức ấy đã tâm-tình riêng với “ông Ðồn Lợi” như trên. Rồi một hôm, được tin báo có kẻ bị tình-địch đâm ở bờ sông, Lợi cùng nhân-viên chạy đến thì không còn thấy người nào. Riêng Lợi lần theo thì gặp được nạn-nhân-mà-là-tội-nhân đang ôm vai lủi-thủi về nhà. Y năn-nỉ “ông Ðồn Lợi” đừng ghi lời báo-cáo “vô căn-cứ” nọ vào sổ trực đêm, vì sợ sáng sau trình sổ lên Ty thì Ty sẽ cho mở cuộc điều-tra, nhà tai-mắt sẽ mất mặt với mọi người. Cứ thế mà tên hiếu-dâm vô-lương kia gặp gió thuận chiều nên vẫn lên cao như diều.

Một giáo-sư đại-học bị Ðội Biệt-Ðộng của Ty bắt gặp “ngủ đò” cùng với vợ bạn trên sông Hương. Ở Huế, có cái thú thuê đò mà ngủ giữa lòng sông: vừa mát-mẻ nhờ không-khí trong lành, vừa thoải-mái vì không ngại bị ai quấy rầy, lại kín-đáo bởi sông thì tối mà đò không thắp đèn, và nhất là không đòi hỏi khách, như khi mướn phòng khách-sạn, phải khai tên người thuê. Do đó, đa-số trường-hợp ngủ đò đều là để ăn nằm với nhau. Trong cuộc “cách-mạng quốc-gia”, mọi người đều phải noi gương “đạo-đức của Ngô Tổng-Thống”, cho nên dù là vợ+chồng với nhau mà đi ngủ đò thì cũng bị xem là tội-lỗi rồi, huống-hồ họ là những ông nọ, bà kia. Rốt cuộc, nội-vụ đã được ém nhẹm, và “ông Ðồn Lợi” không thể ghi chép gì trong sổ trực đêm, mặc dù sự việc xảy ra trong hoạt-vực của mình…

*

Hôm ấy, Lợi nhắn các bạn đồng cảnh-ngộ là Trần Xuân Tự, Trần Vĩnh Thuận, Ưng Hạc, Nguyễn Thông, Nguyễn Duy Hát, Nguyễn Mầm, Đỗ Dzư, Tôn Thất Ninh, v.v… đến Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba để cùng gặp tôi. 

Không-khí có vẻ nghiêm-trọng khác thường. Khi tôi mới ngồi xuống ghế, Lợi đã hỏi ngay:

– Anh em muốn biết sự thật: anh đã có bao nhiêu “Д rồi ?

Tôi đã có nghe nhiều người kháo chuyện với nhau về cái thang “Д này. Dân-chúng truyền miệng với nhau:

     Một “Д mới đứng ngoài sân,

     Hai “Д mới được bước chân vô nhà;

     Ba “Д: con cháu ruột rà;

     Bốn “Д là chú, là cha trên đầu…

Nay Lợi nói ra, tôi muốn nhân dịp tìm hiểu rõ hơn, nên đáp chung-chung:

– Thì người nào trong chúng ta cũng đều có một “Д cả. Chúng ta là “đồng-Ðoàn” với nhau, tức đều có chân trong Ðoàn [“Công-Chức Cách-Mạng Quốc-Gia”].

Thuận tức “Thuận Xù” lắc đầu:

– “Ðoàn” thì nói làm gì? Nông-dân thì Ðoàn Nông-Dân Cách-Mạng Quốc-Gia, v.v… Một “Д thì chỉ là lính; hai “Д mới là sĩ-quan chứ!

Tôi cười:

– Thế thì tôi không phải là “sĩ-quan”!

Lợi đưa tay bắt tay tôi:

– Xin lỗi anh. Chúng tôi tưởng anh đã lên hai “Д rồi!

– Cho nên anh rủ các bạn đến đây để hài tội tôi chứ gì?

“Thuận Xù” kết-luận:

– Người như anh mà muốn kiếm thêm “Д thì chúng tôi còn biết trông nhờ vào ai!

Thật ra, không có một văn-bản nào quy-định như thế; nhưng cứ dựa vào sự việc xảy ra, người dân―đã từng sáng-tác tục-ngữ, phương-ngôn, ca-dao, hò, vè―đã hình-dung ra cái thang mới ấy, gồm có bốn cấp bậc “Д:

“Đ” thứ nhất là “đồng-Đoàn” như đã nói trên;

“Д thứ hai là “đồng-Ðảng”, tức đã vào Ðảng [“Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng”];

“Д thứ ba là “đồng-Ðạo”, tức đã theo Ðạo [Kitô-Giáo].

Nhưng nếu có “Д thứ tư thì mới lên đến tột-đỉnh quyền-lợi và uy danh: “đồng-Ðịa”, tức là cùng Ðịa-Phương, quê-quán [Quảng-Bình hay Thừa-Thiên] với gia-đình họ Ngô và các vệ-tinh.

Kết-nạp đảng-viên hay thu-nhận tín-đồ là một việc làm thông-thường; nhưng cậy thế cường-quyền và đơm mồi tục-lụy để đạt mục-đích là một việc trái với đạo-đức thông-thường.

Ðảng lãnh-đạo thì cứ lãnh-đạo, miễn sao đem lại hạnh-phúc cho mọi người thì tự-nhiên quần-chúng ủng-hộ và tham-gia. Tại sao ép buộc người ta theo mình, trở mặt với các chính-đảng khác, các tổ-chức ái-quốc kỳ-cựu khác, vốn có quá-khứ tranh-đấu vẻ-vang gắn liền với lịch-sử nước nhà; mà không thuận theo thì bị xem là phản-loạn, nghịch thù. Ðâu là quyền tự-do lựa chọn, kể cả quyền tự-do không nhập bọn với bất cứ một bọn nào.

Ðối với đa-số đồng-bào mà tinh-thần tam-giáo thấm-nhuần, sự dốt-nát và vụng-về của thiểu-số công-thần thao-túng chế-độ, trong vấn-đề này, để giúp cho tổng-giám-mục sớm lên hồng-y, bị xem là trắng-trợn xâm-phạm đời sống tâm-linh của người dân: dồn ép công-chức, quân-nhân, và cả thường-dân, từ bỏ tín-ngưỡng của mình để phải tuân-phục tín-điều của tập-đoàn cầm quyền, chà-đạp lên các giá-trị truyền-thống của nền triết-học Ðông-Phương vốn đã un đúc nên tinh-thần quốc-gia cho toàn-dân.

(Trước đây khi Pháp mới trở lại vào năm 1947, Cụ Trần-Văn-Lý, một nhân-sĩ Kitô-Giáo, đã làm Chủ-Tịch Hội Ðồng Chấp-Chánh Trung-Kỳ nhiều năm. Trong tình-trạng chiến-tranh, hiến-pháp không có, luật-lệ hỗn-tạp, tư-pháp một chiều, thì quyền-hành của Cụ Lý đối với người dân sâu rộng bội phần hơn so với Vua Bảo-Ðại ngày xưa; thế mà cụ có lợi-dụng cơ-hội để bắt ai theo đạo của mình đâu? Cho nên, đến năm 1967, mặc dù cụ không đắc-cử nhưng đã có biết bao nhiêu người tuy khác tín-ngưỡng với cụ song thâm-cảm đức-độ của cụ mà hy-sinh quyền-lợi tôn-giáo và đảng-phái của mình để dồn phiếu cho cụ mong cụ lên làm Nguyên-Thủ Quốc-Gia.)

Vấn-đề tế-nhị vô cùng, đâu phải dễ như chuyện “chớp thời-cơ”, “đốt giai-đoạn”, “thưà thắng xông lên” của cộng-sản độc-tài xem dân như dân ngu.

Cộng-sản củng-cố hệ-thống bằng thủ-đoạn phi-nhân; đằng này chống Cộng mà lại áp-dụng phương-sách và phương-tiện của quân thù…

Ðến nay thì chính bản-thân “ông Ðồn Lợi” đã bị đẩy vào chân tường. Dù anh có muốn nhắm mắt, ngậm miệng cho qua ngày, thì cũng vẫn không yên thân. Bộ-hạ của tập-đoàn chuyên-quyền đã đến móc nối “ông Ðồn Lợi”, cũng như các bạn kia, và tôi. Thuận theo thì danh-lợi hanh-thông. Trái lại, thì…

Bên ngoài thì một số các phần-tử cứng đầu, không chịu có hơn một “Д, mà thật-sự có khả-năng, vẫn được bổ-nhiệm vào các chức-vụ chỉ-huy cấp thấp, cấp trung.

Nhưng bên trong thì vì chỉ tuân phục một hệ-thống chính-quyền, chứ không chấp-nhận vai trò giật dây của các thế-lực đằng sau, nên họ bị kỳ-thị, bị ếm-trù, không được thăng-tiến dễ-dàng, và có thể bị hãm-hại bất-cứ lúc nào.

Lợi và các bạn tóm-lược tình-hình chung.

Họ không đòi hỏi tôi phải có thái-độ hay hành-động gì, nhưng kết-luận là họ đặt tin-tưởng vào tôi.

Xưa nay tôi vẫn tự mình chọn lấy đường đi của mình, tiền-phong bước những bước đầu, chứ không chịu quyền lãnh-đạo của ai.

Nhưng “ông Ðồn Lợi” và các bạn không lập thành một nhóm để lôi kéo tôi.

Dù sao, cùng với vô-số cá-nhân và tập-thể khác, họ là nguồn gốc của những đợt sóng cảm nghĩ tạo nên nền móng cho các phong-trào đột-khởi trong dân-gian.

Thế rồi biến-cố Ngày Lễ Hai Bà Trưng 3-3-1960 xảy ra*.

——-

         *Xem “Lãnh-Chúa Ngô Đình Cẩn” trang 215.

Lời phát-biểu công-khai của tôi tại Ty Cảnh-Sát Huế, rằng chế-độ có nhiều ung độc, đã có tác-dụng của một mồi lửa châm cháy ngòi thuốc súng nối liền vào quả mìn nhân-tâm.

Sau đó là Phong-Trào “Phật-Tử Tranh-Ðấu” đòi quyền bình-đẳng và chống đàn-áp tôn-giáo, được sự đồng lòng của quảng-đại quần-chúng, mà hăng-hái nhất là giới sinh-viên, và quyết-liệt nhất là giới quân-nhân.

Trong lúc bất-cứ một tu-sĩ Kitô-Giáo nào, nếu muốn, cũng có thể tiếp-xúc với Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm nhanh-chóng và dễ-dàng, thì Ðức Ðại-Lão Hoà-Thượng Thích Tịnh Khiết, là Hội-Chủ Tổng-Hội Phật-Giáo Việt-Nam, một tổ-chức quy-tụ trên chín mươi phần trăm dân-số trong nước, đang bị bệnh nặng ở Huế mà cũng rán sức vào tận Sài-Gòn để xin gặp Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, ước mong giải-quyết vấn-đề; thế nhưng Ngài phải chờ đợi nhiều ngày mà vẫn hoài-công.

Nhiều cao-tăng và Phật-Giáo-Ðồ theo nhau tự-thiêu từ Thủ-Ðô đến các Tỉnh Thành.

Cả thế-giới nhờ ngọn lửa Thích Quảng-Ðức mà thức tỉnh lương-tri.

Rồi cuộc Cách-Mạng 1-11-1963, rồi các biến-cố khác xảy ra.

Rồi “ông Ðồn Lợi” không còn làm Trưởng Ðồn Cảnh-Sát Ðông-Ba nữa.

Anh từ-giã Huế; rồi anh từ-giã cuộc đời, để lại tiếc thương cho những ai đã từng sinh sống trong khu-vực này, đã từng tán-thưởng những màn kịch vui và giọng ngâm thơ tếu của người Cảnh-Sát Văn-Nghệ mà không cảnh-sát văn-nghệ này.

*

Ðại-Úy Nguyễn Công Văn gọi máy báo-cáo đã bắt được một cơ-sở tiếp-tế nội-thành và một cán-bộ mậu-dịch từ miền quê lên, cùng hai tấn gạo được che giấu dưới những món hàng thông-thường, trong một chiếc ghe đang rời bến, để chở về tiếp-tế cho Việt Cộng ở mật-khu, đúng với tin-tức tình-báo cuả E6 chúng tôi.

Tiếng Văn vang lên từ máy vô-tuyến cắt đứt dòng hoài-niệm về người bạn cũ trong tôi.

Tôi ra lệnh chuyển-giao nội-vụ cho nhà chức-trách địa-phương, là người hiện nay thay thế “ông Ðồn Lợi” ở Cuộc―tên mới cuả Ðồn―Cảnh-Sát Ðông-Ba.

Bây giờ ở đây chỉ có một Trưởng Cuộc Cảnh-Sát Quốc-Gia kiêm-nhiệm đại-diện của Ngành Ðặc-Biệt, của tôi, tại cấp Phường này, chứ không còn có tên hề mặt-ngựa đã có một thời chọc cười tức-bụng chảy-nước-mắt cho cả mấy thế-hệ đồng-bào ở cố-đô…

*

Đại-Úy Nguyễn Công Văn đến với chúng tôi, báo-cáo tóm-tắt công-tác xong, tôi bảo mọi người lên xe rời Huế trở vào Đà-Nẵng.

Văn nói với Đạm, Chánh Sở Tác-Vụ, mà nhìn vào tôi:

− Qua đặc-nhiệm này, chắc ông Giám-Đốc muốn “dằn mặt” Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực ngoài này, chứ gì?

Tôi không trả lời, quay nhìn về Đạm.

Đạm phát-biểu:

− Mình là Cảnh-Sát Quốc-Gia, thì mình có bổn-phận và quyền-hạn phanh-phui mọi vụ phạm-pháp bất-cứ ở đâu. Nhưng mình là Cảnh-Sát Đặc-Biệt, thì việc-làm chính của mình là chính-trị chứ không phải là hình-sự, mặc dù mình cũng có thể nhúng tay vào các vụ hình-sự, vì mình là Hình-Cảnh-Lại cơ mà.

Nhưng mình có dòm-ngó gì đến các việc-làm khuất-tất của ai đâu.

Ngành Đặc-Biệt Khu thỉnh-thoảng mới hành-động phụ giúp Ngành Đặc-Biệt các Tỉnh/Thị thuộc Khu trong những trường-hợp đặc-biệt mà thôi, thế thì chỉ là việc-làm bình-thường, chứ có gì là “dằn mặt” ai đâu!

LÊ XUÂN NHUẬN  

Cảnh-Sát-HóaBiến-Loạn Miền Trung




TIN BUỒN: Tác Giả Tuyển Tập “Như Một Lời Chia Tay!” Nhà Văn Huy Phương Vừa Tạ Thế – Phân Ưu: LÊN VĂN HẢI – PHƯƠNG HOA – NGUYỄN HUY KHÔI – LIÊU XUYÊN – MINH THÚY – CAO MỴ NHÂN

THƠ HỌA Bài “THÀNH KÍNH TIỄN ĐƯA NHÀ VĂN HUY PHƯƠNG” Của Phương Hoa từ quý “Đường thi sĩ”:

LINH THI

Phụng bái hương hồn Nhà văn Huy Phương!

Xa rồi,… mà nghĩa chẳng hề xa

Bóng hạc ảo mờ nhẹ cánh sa!...

Lòng nặng ưu tư hồn Tổ Quốc

Dạ vương trắc ẩn đất Quê Nhà.

Thi ngôn thưởng…ngát hương huê diệu

Văn bút soi…ngời ánh nguyệt ngà…

Cốt cách đậm hồn trang,…hữu xạ

Ly từ!…lệ ngọc ấm sân ga!

                          27-20-2022

                   Nguyễn Huy Khôi

TIỄN HUY PHƯƠNG

Lòng buồn nghe bạn đã rời xa,

Lìa chốn văn chương giọt lệ sa.

Viết lách bao năm đành bỏ sách,

Dãi dẫu thân thế biệt quê nhà.

Tha hương đời phải lìa quân ngũ,

Đất khách lời nêu mộng ngọc ngà.

Đáng tiếc non sông còn thống khổ…

Huy Phương kìa hỡi… cuối sân ga!

 Liêu Xuyên

THƯƠNG TIẾC NHÀ VĂN

Tin buồn nghệ sĩ đã rời xa

Ngưỡng mộ bao người lặng lệ sa

Nắng đẹp mùa Xuân sao bỏ sách

Hoa xinh lá nụ lại buông nhà

Mầm chương thả nghĩa lời châu báu

Điệu phú vung tay ý ngọc ngà

Quý mến Huy Phương cầu tịnh độ

Văn Đàn Lạc Việt tiễn sân ga

               Minh Thuý Thành Nội

                  Tháng 2/26/2022

DÒNG THƠ TIỄN BIỆT

Xin Thay Lời kính điếu Nhà Văn HUY PHƯƠNG.

Chia tay từ buổi lưu vong xa               

Chốn bụi hồng xưa đổ lệ sa

Tình lính văn phong thường nổi sóng

Hồn quê thơ loạn vẫn thương nhà

Tạp ghi đầy ắp sầu tay trắng

Điểm báo tràn thêm  mỏi bút ngà

Lạc Việt đệ huynh chào chiến hữu

Đau buồn bái biệt cuối sân ga …

     Utah  27 – 2 – 2022

        CAO MỴ NHÂN

Kỷ Niệm Một Tấm Hình 

Biết ông bệnh đã lâu, nhưng khi nghe tin ông mất lòng thấy bồi hồi tiếc nuối một nhà văn, một nhân tài đã ra đi. Lục tấm hình năm nào ông lên San Jose ra mắt sách 2 tập “ Nước Non Ngàn Dặm “ và Quê Hương Khuất Bóng“, ông xã tôi nhìn tựa đề đã bị lôi cuốn liền, ông cũng có thì giờ nói chuyện về quê hương với chồng tôi , và tôi đã chớp tấm hình lưu niệm.

Hôm đó có chị Kim Thư ngâm bài thơ cũng như hát bài nhạc của ông, ngoài ra có ca sĩ Ngọc Lan là học trò cũ của ông phụ diễn phần văn nghệ.

Những bài viết ngắn của ông tôi thường đọc từ các diễn đàn văn thơ chuyển vòng, rất thích những bài ông viết tả những ngôi Chùa ngày xưa nơi quê nhà. Văn của ông để lại đời, còn ông đã ra đi giữa mùa Xuân đầy nắng ấm. Đôi dòng từ biệt. Cuộc gặp gỡ nay chỉ còn là kỷ niệm. 

Thành kính chia buồn cùng tang quyến. Nguyện cầu hương hồn ông sớm về cõi tịnh độ. 

Minh Thuý Thành Nội 

Tiễn Biệt Nhà Văn Huy Phương

Tiễn Biệt ông nằm mộ nghỉ ngơi

“Nước non ngàn dặm“ khóc tình đời

Văn chương suối chảy dài hàm tích 

Tác phẩm lời bay rộng tuyệt vời 

Cách trở sông nguồn mơ trọn vẹn 

Xa lìa lá cội mộng đầy vơi 

“Quê hương khuất bóng“ hoài say tưởng 

Mãn kiếp mong cầu ngủ thảnh thơi              

Minh Thuý Thành Nội                  

Tháng 2/26/2022

Tác Giả Tuyển Tập “Như Một Lời Chia Tay!” Nhà Văn Huy Phương, Đã Thực Sự Nói Lời Vĩnh Biệt Với Tất Cả Chúng Ta!

 *Nhà văn Huy Phương, cây viết có sức sáng tác bền bỉ, tên tuổi nổi nang, được biết nhất tại Hải ngoại.

*Giờ chia tay!

Nhà văn Huy Phương, tên thật là Lê Nghiêm Kính, pháp danh Thiện Bảo. Sinh năm 1937, tại Huế. Vừa qua đời lúc 4 giờ chiều Thứ Sáu, (ngày hôm qua) 25 Tháng 2, năm 2022. Hưởng thọ 86 tuổi. Tại nhà riêng ở thành phố Anaheim, Nam California.

Bà Phan Thị Điệp, hiền thê của nhà văn vừa mất, đã xác nhận và xin gởi lời thông báo đến với tất cả Quý đồng nghiệp, bạn bè, người thân xa gần.

*Hơn 2 năm trời chiến đấu với bịnh ung thư thực quản!

Một người bạn vừa thăm ông, vào những ngày gần cuối đời nhận xét: Vẫn với mái tóc rậm đặc, bạc trắng phau phau, nhà văn Huy Phương lộ nét cực kỳ yếu sức thấy rõ, vì sau gần hai năm ròng rã, chống chọi với căn bệnh ung thư thực quản quái ác. Người gầy khô, còn da bọc xương, mệt mỏi. Nhưng ở ông vẫn toát ra một thái độ an nhiên tự tại, sẵn sàng đón nhận tất cả, bình thản, kể cả cái chết!

Ông tâm sự: “Hồi Tháng Tám, 2020, một hôm đang ăn, tôi bị nghẹn cổ và khó chịu trong người, rồi bỗng dưng ói mửa thốc tháo thực phẩm ra ngoài. Đi soi bao tử, không thấy gì hết. Mừng lắm! Không ngờ sau đó, thì người ta phát giác ra là, tôi bị ung thư thực quản thời kỳ cuối!”

Từ cuối Tháng Ba, năm 2021, bịnh viện chê! không có thuốc chữa! Ông được chuyển sang quy chế “hospice tại gia” Ông đã rời bệnh viện, về tĩnh dưỡng cuối đời tại nhà, của người con gái út ở Anaheim.

*Những lời trăn trối cuối cùng

-Hỏi ông có điều gì trăn trối? Ông không trả lời, mà vói tay lấy tập thơ “Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già” của chính mình. Lật ra bài “Chúc Thư,” chỉ vào đoạn:

“Khi tôi chết ván hòm xin đậy nắp

Có vui chi nhìn người lính chết già

Hổ thẹn đã không tròn ơn nước

Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa!

Hãy quên tôi, người lính già lưu lạc!”

-Hỏi, có ước vọng gì sau khi chết? Ông tâm sự, còn có một trăn trở cho thế hệ tương lai, nghĩ mãi mà chưa làm được gì.

Điều ông muốn dặn dò là, thế hệ trẻ gốc Việt, là phải cố giữ gìn ngôn ngữ Việt. “Phải bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt. Đây là nhiệm vụ của người lớn chúng ta, những người Việt hải ngoại. Vì tiếng Việt trong nước, đã trở thành một ‘cái gì’ què cụt, rất dị hợm, đọc là muốn ói rồi!” Ông xác định: “Mất tiếng Việt là mất văn hóa Việt.” Không chú ý công tác văn hóa, văn học này, chỉ vài chục năm nữa, cả người trong nước, lẫn Hải ngoại, đều ngơ ngác hỏi “Việt Nam tôi đâu?”

*Niềm vui lớn nhất trong đời?

-Hỏi Ông có niềm vui nào lớn trong đời? Ông nói: “Trong lúc làm chương trình ‘Huynh Đệ Chi Binh,’ tình cờ tôi liên lạc được những người, có thông tin chính xác về hai ngôi mộ tập thể, có chôn xác rất nhiều Cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Việt Nam. Một tại ở Bình Dương, Sài Gòn và một ở Thuận An, Huế. Nhờ đó, tôi giúp được khá nhiều gia đình, để vợ tìm được chồng, để mẹ tìm được con, bà tìm được cháu. Họ viết thư cám ơn tôi tưng bừng! …khói lửa! Không ngờ đó là một hạnh phúc lớn nhất, đối với đời của tôi.”

*Chút tiểu sử Nhà Văn Huy Phương

Trước 75

Nhà văn Huy Phương, tên thật là Nguyễn Huy Phương, sinh ngày 4.10.1927. Quê gốc ở xã Nghi Lộc, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

Sinh trưởng trong một gia đình nho học đỗ đạt, Huy Phương được theo học từ nhỏ và đã học hết toàn ban tú tài (cũ trước 72)

Ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng ít lâu, trong phong trào Tổng khởi nghĩa ở Huế (1945).

Tốt nghiệp Khóa 16 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và Khóa Sĩ Quan Thông Tin Báo Chí tại Hoa Kỳ.

Biên tập viên báo chí đài Phát Thanh Quân Đội. Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến và Chỉnh Huấn, Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.

Ngòi viết Huy Phương là cây viết rất sớm. Năm 15 tuổi (1952), ông đã có thơ và tuỳ bút đăng trên Tuần Báo Ðời Mới tại Sàigòn, do Chủ Nhiệm là Ông Trần Văn Ân chủ trương.

Ra Hải ngoại

Ông qua đến Mỹ, từ năm 1990. Sau 7 năm tù cải tạo.

Đã cộng tác với báo Người Việt, Hệ Thống Saigon Nhỏ và Báo Trẻ, Thời Báo (Canada). Đài Phát thanh Việt Nam (Oklahoma) và Đài truyền hình SBTN tại Hoa Kỳ. Thằng Mõ (San Jose)

Ông sở trường, mà mọi người đọc quen thuộc với Ông, với thể loại tạp ghi. Viết về sinh hoạt, đời sống và tâm tình của người Việt trên đất Mỹ. Nhận xét sâu sắc, văn không bóng bẩy, nhưng rất hấp dẫn, chen chút dí dỏm.

Tác Phẩm:

– Mắt Đêm Dài (thơ) năm 1960

– Mây Trắng Đồn Xa (truyện) năm 1966

– Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già (thơ)

– Nước Mỹ Lạnh Lùng

– Đi Lấy Chồng Xa

– Ấm Lạnh Quê Người

– Hạnh Phúc Xót Xa

– Sóng Vỗ Bèo Trôi

– Nước Non Nghìn Dặm

– Quê Hương Khuất Bóng

– Quê Nhà – Quê Người

– Tuyển Tập 80 Huy Phương – Ga Cuối Đường Tàu

– Tuyển Tập Huy Phương “Như Một Lời Chia Tay”.

*Rất nhiều người không biết, Ông còn là một thi sĩ!

Huy Phương ngoài tài viết, còn làm Thơ! Thơ Ông mang nỗi niềm bâng khuâng mang mác, thao thức, trăn trở. Qua Thơ của Huy Phương, người đọc bỗng thấy trái tim mình còn sống! chưa chết! đang đập! Vì còn thấy tình cảm ấm áp nào đó, vẫn len lén chen vào trong tim.

Xin mời thưởng thức 2 bài thơ của Ông:

Dạ Thưa Thầy Thầy Còn Nhớ Em Không?

Quê Hương xưa từ những ngày chinh chiến

Thầy trò ta vội từ giã ngôi trường

Thầy từ đây đã rời xa bục giảng

Trò làm thân chiến sĩ của mười phương!

Rồi Thầy Trò cùng chung màu áo trận

Đời chiến binh ai ngỡ buổi tương phùng!

Từ thế nghiêm trò dơ tay chào kính:

“Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?”.

Gặp vận nước buổi rã rời tan nát

Thân tù đày nơi nước đục rừng thiêng

Bó nứa nặng trên đường qua suối cạn

“Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?”

Giờ lận đận ở quê người phiêu bạt

Tóc bạc phơ ngày tháng nặng lưng còng

Buổi hội ngộ nghe muốn trào nước mắt

“Dạ thưa Thầy còn nhớ em không?”

Sau đây một bài thơ “đặc trưng” Huế của Huy Phương, ai đọc mà không cảm động, ai đọc mà không nao nao trong lòng! Hướng về Quê Hương có Sông Hương Núi Ngự, đong đầy nước mắt.

Nhớ Huế

Mùa này nước Hương Giang có mặn

Muối đại dương có thấm vào sông?

Từ ngày anh đoạn tình bỏ Huế

Nguồn xa đã lạc mấy trăm dòng!

Mùa này Huế còn mưa tầm tã

Thương quê xưa vẫn nỗi đói nghèo

Anh ở nơi này vùng nắng ấm

Vẫn nhớ hoài đời Mẹ gieo neo.

Mùa này quê có còn bão lụt

Chén cơm em còn độn sắn khoai?

Trên tiệc rượu người con xa xứ

Men nồng nào lẫn nước mắt cay.

Mùa này Huế có còn phượng đỏ

Tiếng ve nào gọi nỗi buồn xa

Nơi này cả một trời hoa tím

Nhớ em xưa tiếng guốc học trò.

Mùa này Huế có còn áo trắng

Em hiện thân làm bướm tan trường

Thương ngày tháng một thời niên thiếu

Huế bây giờ – Huế đã mù sương!

Huế của tôi giờ đâu còn nữa

Cảnh vô hồn khuất nẻo người xưa

Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế

Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ…

Lời kết

Hầu như ai cũng đều công nhận, Huy Phương thuộc những cây bút nổi trội, có giá nhất hải ngoại. Được như thế, vì Ông có tâm huyết với nghề viết. Thêm đức tính cần mẫn, tận tụy, nghiêm túc, đầy trách nhiệm. Đặc biệt là luôn cố gắng tìm tòi để tự vượt lên chính mình, trong hoàn cảnh mới, tự đổi mới học hỏi, để có thể hòa nhập và đóng góp lớn cho nền văn học hải ngoại nói riêng và dân tộc Việt nói chung.

Ông được người đọc và đồng bào quý mến, qua hình ảnh một nhà văn, nhà báo, một chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã từng ở tù, dù bên thua trận chiến, mà vẫn hiên ngang, không làm mất danh dự của người Lính VNCH.

Ông mất đi, là một mất mát lớn đối với giới Văn Nghệ Sĩ, Truyền Thông, Báo Chí và Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại. Một cây bút nhiều thiện chí xây dựng, có trái tim thương yêu Việt Nam, hầu như không biết đả phá.

Người như Ông làm sao chết được! Hình bóng Ông, lời văn Ông, vẫn còn sống mãi trong các tác phẩm để lại, chưa kể trong tim với những người yêu mến, một nhân cách rất đáng ngưỡng mộ. Trong đó từ lâu đã… có tôi!

Anh Phương ơi, “Anh, Anh không chết đâu Anh!”

LVHải (tổng hợp)

TÂM TÌNH TIỄN ĐƯA NHÀ VĂN HUY PHƯƠNG CỦA THI SĨ HOÀNG MAI NHẤT, VTLV:

Nghe tin nhà Văn, nhà Báo Huy Phương vừa tạ thế, Hoàng Mai Nhất thật sự bất ngờ vì cứ nghi rằng sẽ có một dịp thuận lợi nào đó qua Nam Cali sẽ đến thăm anh. Thế mà…không ngờ:

                                                            NHỚ ANH

                                               “Thôi thế từ nay anh đã đi

                                                 Để lại trong tôi nỗi bùi ngùi                                                

                                                 Thương nhớ chỉ còn trên trang giấy

                                                 Đọc lại như thấy anh còn đây…”

                                                                                  Hoàng Mai Nhất

Tôi biết nhà Văn, nhà Báo Huy Phương cũng do một duyên may tình cờ. Số là thế này, vào một buổi chiều Chủ Nhật, 5/4/2009; nhà Văn, nhà Báo Huy Phương qua TP Seattle, TB WA để ra mắt tác phẩm “NHÌN XUỐNG CUỘC ĐỜI” của ông (nếu tôi nhớ không lầm thì do nhà thơ nữ Trần Mộng Tú và Thân Hữu tổ chức).

Tôi vội vàng đến tham dự. Khách đến dự khá dông, đặc biệt trong số này có một nhóm Nữ ôm những bó hoa; thì ra đó là những học tò ngày xưa của ông, mang hoa đến để kính tặng vị Thầy ngày xưa của mình (Bây giờ làm sao tìm lại được những hình ảnh đẹp trân quý như thế này khi “Đất Nước” mất vào tay bạo quyền csVN).

Khi ông lên nói đôi lời về những gì gởi gấm trong tác phẩm này. Tôi một tên cắc ké, chập chửng làm thơ với tính cách bất đắc dĩ; đã bồi hồi rung động viết vài câu thơ múa rìu qua mắt thợ, lại còn cả gan lên đọc tặng ông ngay lúc đó và đã in trong Thi tập đầu tay “CHÚT ĐỜI CÒN LẠI TRONG THƠ” của tôi ̣(ra mắt ngày 25/7/2021 ở TP Seattle, TB.WA).

* Viết tặng nhà Văn, nhà Báo Huy Phương tại buổi ra mắt sách “NHÌN XUỐNG CUỘC ĐỜI” ở TP. Seattle, TB. WA vào chiều Chủ Nhật 5/4/2009.

                           NHÌN XUỐNG CUỘC ĐỜI

                           Hoa nắng xôn xao chiều Chủ Nhật

                           Đồng hương, chiến hữu tụ về đây

                           Gặp gỡ Huy Phương…” đời nhìn xuống” *

                           Để lòng ấm lại mỗi mùa Đông

                           Xứ người trời lạnh _ mưa giăng mắc

                           Hoài bão một thời vẫn nặng mang

                           Quê hương còn dẫu trong tăm tối

                           Dân Chủ _ Tự Do sắp đến rồi

                           Cuộc đời nhìn xuống Huy Phương nhỉ

                           Nụ cười lại nở trên môi tươi

                                                           Hoàng Mai Nhất

* “đời nhìn xuống”: tên tác phẩm Tạp Ghi của tác giả Huy Phương, vừa mới ra mắt ở Seattle, WA.

Tất cả những điều viết nêu trên, thật sự không là gì hết, cái chính ở đây là sự ngưỡng mộ, kính phục mà tôi cần học hỏi nơi ông: “một nhân cách lớn, đầy đạo đức, không xem thường khinh dễ ai hết ”, cho dù đó là một Hậu Sinh không tiếng tăm, không hề quen biết.

Cho nên: khi về Cali rồi, ông vẫn gọi phone qua cảm ơn bài thơ tôi đã làm tặng ông lúc đó và xin lỗi vì bận quá nên không nói gì với tôi được hết.

Bây giờ nghe tin ông mất, lòng buồn vô hạn; biết nói gì hơn ngoài viết đôi dòng giải bày niềm tiếc thương, tưởng nhớ đến ông như một nén hương lòng kính tiễn đưa ông, cầu chúc Niên Trưởng Huy Phương Thiện Bảo mau sớm về cỏi Niết Bàn.  

 Hoàng Mai Nhất THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

(Viết tại TP. Seattle, TB Washington ngày 27/2/2022)       

          KÍNH TIỄN BIỆT

          (nhà Văn, nhà Báo Huy Phương)        

          Kính tiễn đưa,

          một vị thầy đáng kính trọng

          một nhà Báo, một nhà Văn

          một đàng anh, một Niên Trưởng

          dâng mãnh đời trọn tấm lòng

          dùng ngòi bút khơi mầm sống

          khuyên tuổi trẻ chớ quên nguồn

          cùng giữ gìn ngôn ngữ Việt:

          Dẫu rằng           Sóng Vỗ Bèo Trôi  *

          Trải thân           Ấm Lạnh Quê Người            

          Ra đi                 Nước Non Nghìn Dặm

          Sống cảnh         Quê Nhà – Quê Người

          Để rồi                Hạnh Phúc Xót Xa

          Khi mà              Quê Hương Khuất Bóng

          Giống như         Đi Lấy Chồng Xa

          Ở nơi                 Nước Mỹ Lạnh Lùng

          Đành thôi dõi    Mắt Đêm Dài

          Gởi về               Mây Trắng Đồn Xa

          Lá   Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già

          Cười vui            Cuộc Đời Nhìn Xuống

          Đi hết                Ga Cuối Đường Tàu

          Tựa                   Như Một Lời Chia Tay

        của một người viết “Tạp Ghi”

         nơi xứ người để lại

         cho cháu con mai này

         giữ gìn Văn Hóa Việt.

                                          Hoàng Mai Nhất

                         (Viết tại TP. Seattle, TB Washington ngày 27/2/2022)

*Những câu chữ in đậm là tên các tác phẩm của nhà Văn, nhà Báo Huy Phương đã sáng tác và xuất bản.

Được tin Thầy rời cõi tạm, tôi thật sự xúc động, cho dù biết “ngày ấy“ thế nào rồi cũng đến. Tôi không có dịp tiếp xúc nhiều với Thầy. Cho dù những buổi ra mắt sách của Thầy ở San Jose, tôi đều tham dự đầy đủ với vai trò một ca sĩ . Tôi hát những bài về quê hương và những bài nhạc phổ thơ của Thầy do nhạc sĩ Đào Nguyên biên soạn.
Tôi biết Thầy bằng trái tim ngưỡng mộ một Nhà Văn, một tên tuổi nồi tiếng. Một ngòi bút “tạp ghi” gần gũi, thân thương…
Thầy biết tôi dưới cái nhìn của một ca sĩ bình thường.
Thế nhưng vào một hôm, qua sự giới thiệu của một Huynh Trưởng gia đình Phật Tử, tôi đã được hân hạnh gặp Thầy. Duyên lành đang đến với tôi khi tôi chuẩn bị giới thiệu một cuốn sách có tựa là Dòng Chảy. Và Dòng Chảy đã biến tôi -một ca sĩ bình thường- thành một con người khác thường. Một Nhà Văn dưới mắt Thầy “… Tôn Nữ Áo Tím là một người kể chuyện tỉ tê, chừng mực, với văn phong trong sáng, cẩn trọng. Tác giả đi sát với tâm lý của nhân vật cùng giới tính, đã đưa chúng ta cùng với nhân vật đi khắp ba miền đất nước..” [Nguyên Phương]. Xin cám ơn Thầy.
Được tin Thầy bị ung thư, tôi bất ngờ và rất tiếc. Tôi liên lạc với các bạn trong nhóm Quốc Học Đồng Khánh, ns Đào Nguyên (cháu) để kiếm chứng thông tin. Tôi tâm nguyện nhứt định phải đến thăm Thầy một lần cuối. Thế rồi tôi đã được như ý.
Vẫn mái tóc trắng dày, đầy sức sống. Nhưng Thầy đã rất yếu trong bộ pyjama màu nâu lạt. Chiếc gậy trong tay, Thầy bước ra cẩn thận, chậm chạp. Ánh mắt vẫn sáng suốt. Thầy vẫn nhớ tôi. Thầy không nói chuyện được nhiều, chỉ Cô Điệp là vợ Thầy, giúp khi chúng tôi hỏi thăm về tình hình sức khỏe của Thầy. Tôi vốn ít nói, nhưng bỗng nhiên hôm đó tôi nói rất nhiều. Tôi muốn gợi nhớ cho Thầy về những lần lên San Jose giới thiệu sách. Thầy chỉ gật đầu không nói. Thầy mệt! Vâng, tôi thật xót xa khi nhìn Thầy đang chuẩn bị rời chuyến tàu chót của trạm ga cuối cùng. Thầy ơi!
Cho dù chưa một lần học với Thầy, nhưng tôi rất trân trọng con người ấy- một nhà văn-một nhà thơ- được nhiều người thương mến. Những lần giới thiệu sách ở San Jose- Bắc Cali, tôi chưa bao giờ bỏ qua. Lần giới thiệu tác phẩm “Ga Cuối Đường Tàu”, tôi man mác một nỗi buồn giấu kín. “Huy Phương ơi, xin ông đừng vội xuống tàu”, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa đã thốt lên như thế. Nhưng cuộc đời có cho phép ai rong ruổi mãi đâu. Có chuyến tàu nào không đến sân ga cuối cùng. Con tàu đưa Thầy đang kéo còi chuẩn bị  vào ga. Thầy đang sống với những khoảnh khắc đối diện với bờ vực tử-sinh. Thầy ơi! Một câu nói mọi người ai cũng biết “Khi ta sinh ra, mọi người cười, ta khóc. Khi ta ra đi, mọi người khóc, ta cười “. Vâng, mọi người sẽ nhỏ những giọt nước mắt thắp sáng một tên tuổi HUY PHƯƠNG-Lê Nghiêm Kính 
… “Khi tôi chết, ván hòm xin đậy nắp/ Có vui chi nhìn người lính chết già/ Hổ thẹn đã không tròn ơn nước/ Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa…..” [Chúc Thư-Huy Phương]
Bên cạnh cuộc đời của Thầy  không thể thiếu một bóng hồng rất đẹp. Cô  Phan Điệp. Một người vợ thật tươi vui, nhã nhặn. Cô  gọi Thầy là Anh Bính. Cô nói: “Khi viết văn, anh là Huy Phương. Trong khai sinh tên là Nghiêm Kính. Còn với Điệp, anh là anh Bính….” Rất dễ thương  
Bây giờ Thầy đã yên nghỉ. Thầy đã thật sự rời chúng ta. Một nén nhang, xin được góp lời cầu nguyện hương linh Thầy sớm về cõi Phật.
Vĩnh biệt Thầy, Huy Phương-Lê Nghiêm Kinh 

TÔI BIẾT THẾ NÀO ANH CŨNG VỀ … (Phan Nhật Nam)

Tôi biết thế nào anh cũng về…

Lần Huy Phương đi chuyến tàu cuối một mình..

25 Tháng 2, 2022 

Tôi biết thế nào anh cũng về (1)

Không bây chừ thì dăm bữa nữa

Cuộc đoạn trường nầy mấy ai lần lỡ   

Ga cuối đường tàu không phải chờ lâu (2)

Bước chậm rãi, dạng hình thấp thoáng

Nắng chiều hôm đỗ bóng xuống sân ga

Khô gió chướng thổi xòa tóc rối

Lạnh lùng thấm hiểu một-mình-ta

Hiểu lẻ tử/sinh- Hiểu kỳ còn/mất

Một lần “mất nước” tưởng nằm mơ

Đêm chợt thức.. áo tù đầm ươn ướt

Hóa ra ta bật khóc tự bao giờ?!

Sáng sớm điểm danh, tù xuất trại

Nhìn quẩn quanh chẳng biết ai với ai?

Người bạn kia nghe quen tiếng nói

Đói lạ lùng sạm mặt, tái màu da!

Chiều về nhìn bóng núi săm sắp

Hỏi rằng sống được đến ngày mai?

Đêm nằm nhóp nhép môi khô nhạt

Tưởng miếng cơm, nhớ bữa ngọt ngào  

Cố gõ lấy đầu như gỏ cửa (3)

Mà sao cửa đóng chặt then gài

Nhìn xuống giếng chợt thấy.. Ôi kinh hãi

Trắng phau phau bợt nhạt mái tóc mai   

Mười năm khổ thân tù xa xứ

Trở về phố cũ nhìn không ra

Thơ Hạ Tri Chương hóa không đủ

Đi về đâu? Nào “đồng bào ta”?

Nhà cũ không còn. Cửa đóng chặt

Hỏi, thưa không một tiếng trả lời

Muốn ngữa mặt kêu với trời khẩn cấp

Có hay không.. Một phận, nghiệp cho người?

Vợ rày rạn tả tơi vùng kinh tế mới

Con đâu rồi.. Thân gởi chốn biển khơi

Ôi bé bỏng một thời cha bế ẵm

Trôi về đâu lớp lớp sóng gào đau

Cắn chặt răng, cố nhập thân xứ lạ

Chắc nắm tay, lại khởi cuộc từ đầu

Chiều tan sở, tuổi gìà, xe đời cũ

Giữa giòng người nêm chặt.. Exit về đâu?

Anh cố viết như đã từng gắng sống

Viết những gì..  Và gắng sống..

Vì sao?

Đất Mỹ – Không khứng cho “Người Thất Trận” (4) 

Quê nhà nào – Chỉ Hạnh Phúc Xót Xa! (5) 

Vẽ hộ anh em một Chân Dung ngơ ngác (6)

Viết giùm chiến binh Bản Di Chúc đắng cay (7)

Còn được bao nhiêu Người Muôn Năm Cũ (8)

Đủ hơi tàn về họp mặt Tháng Tư? (9)

Thôi nhé Huy Phương..

Dẫu sao cũng còn một nơi mong trở lại

Ngôi trường xưa đầm thấm vọng Lời Thầy

Lớp học lắng im, bóng cây bàng mát rượi

Bên giòng Sông Đá rạn giọt Mồ Hôi (10)

Nơi trường ấy, Thầy dạy Người Tử Tế

Hãy Yêu Thương – Hãy Chân Thật trăm bề

Nên tôi biết…

Thế nào Anh cũng về chốn ấy,  

Trên chuyến tàu cuối cuộc nhớ Thầy Lê!

Ghi chú: 

#(1;3;4;5;6;7;8;9): Những đầu sách và bài viết của Huy Phương

#(3): Thơ Tô Thùy Yên 

#(10): Sông Thạch Hãn; Trường Nguyễn Hoàng, Quảng Trị – Nơi Huy Phương/Thầy Lê Nghiêm Kính dạy lớp học đầu đời trước khi nhập ngũ Khóa 16 Thủ Đức, 1964

Nhớ Ngày 25 Tháng 2, 2022

Cùng Ngày Mạ mất, Bà Phương Dung, (1922- 25 Tháng 2, 1961) 

Phan Nhật Nam




Ca Khúc Mới: NHỮNG NGĂN TIM -Thơ Mạc Phương Đình – Nhạc Sĩ Thái Phạm – CHÚC MỪNG – Lê Văn Hải – Lê Tuấn – Phương Hoa

Gửi tặng nhạc sĩ Thái Phạm và Nhà Thơ Mạc Phương Đình.

Video music Những Ngăn Tim, một ca khúc hay. Xin chúc mừng nhạc sĩ Thái Phạm. Những nhân tài của VTLV mỗi ngày một phong phú hơn. Xin chia sẻ trên diễn đàn Văn Học Nghệ Thuật. Xin trân trọng giới thiệu ca khúc mới nhất của nhạc sĩ Thái Phạm phổ thơ Mạc Phương Đình. Một giai điệu tha thiết chân tình.

Hoà âm Đỗ Hải, ca sĩ trình bày Quốc Duy.

Thực hiện Video Music Lê Tuấn. Hình ảnh 4 K.

Editor Lê Tuấn

Kính Tặng Quý Nghệ Sĩ chung tay trong Nhạc phẩm “Những Ngăn Tim”

Nhạc phẩm đã có sức lay động,…rung rinh Trái Tim!