Chùm THƠ Lê Tuấn: Bí Ẩn Đời Em – Đường Trần Có Gì?- Yêu Em.

Bí Ẩn Đời Em

Bí ẩn đời em, cũng sẽ tan biến
Như dòng sông, sáng sớm mù sương
Nắng vừa lên, trời âm u tan biến
Bí ẩn em đi nhón gót qua đường.

Bí ẩn tuổi thơ lén lút ăn vụng
Góc tối cạnh giường lục lạo lung tung
Cánh cửa phòng bí ẩn kêu cọt kẹt
Riêng tuổi thơ, biết cánh cửa lạ lùng.

Có những kỳ quan làm em nhớ mãi
Như quả bóng màu chỉ muốn bay cao
Có hai người yêu nhau nơi ấy
Làm say mê nghe lạ tiếng xôn xao.

Đôi trai gái chìm vào trong bí ẩn
Áp sát bên nhau khe khẽ thầm thì
Tay chạm tay loé lên luồng điện giật
Vội rụt rè, sức nóng hơn mọi khi.

Thế rồi tuổi dậy thì vụt lao đến
Áo cũ chưa thay, đã rách còn đâu
Như đôi đũa, hoá phép màu phù thuỷ
Bí ẩn đời em, tiên nữ muộn sầu.


Đời sống đơn sơ cũng cần bí ẩn
Ít hay nhiều vẫn còn ở bên ta
Bí ẩn lặng im, rụt rè nhút nhát
Như gót chân trần len lén đi xa.

Lê Tuấn

Đường Trần Có Gì?

Đường trần có gì lạ không em?
Có hoa cỏ dại, gió mưa chen
Có em bẽn lẽn bên thềm vắng
Một buổi chiều buông, mưa ướt mềm.

Đường trần có gì yêu không em?
Mảnh trăng bối rối, vội nhìn xem
Trần gian đã ngủ mê từ đó
Nhan sắc em, duyên dáng gợi thèm.

Trăm nhớ ngàn thương tưởng đã quên
Từ mùa thu trước lá đè lên
Tình như nụ hạt cây khô rụng
Như nước sông, tràn khắp mọi miền.

Cảm giác yêu đương đã chất đầy
Đường tình lấp ló cuối chân mây
Trần gian quán trọ sao yêu thế
Bẽn lẽn làm cho má đỏ hây.

Đường trần là những tháng năm trôi
Nụ hôn phảng phất ngọt bờ môi
Em còn luyến tiếc tình xưa cũ
Hãy đã quên rồi chỉ thế thôi.

Đường trần hai đứa trốn vào nhau
Hai trái tim yêu vò nát nhàu
Nếu biết ngắn, ta còn yêu tí nữa
Để mai sau tiếc nhớ tình đầu.

Trần gian nhắn gửi chuyện trên mây
Sương lạnh bờ vai ướt dáng gầy
Hai đứa ngẩn ngơ, đời ngắn quá
Lòng buồn xin cạn chén men say.

Lê Tuấn
Đường trần sao ngắn thế

YÊU EM

Yêu em từ những đường cong
Yêu em suối tóc môi hồng dễ thương
Yêu em, yêu cả con đường
Cánh đồng lúa chín mảnh vườn nhà em.

Yêu làn khói bếp chiều lên
Xám màu mái lá trước hiên nắng vàng
Yêu em duyên dáng nhẹ nhàng
Gương soi son phấn điểm trang má hồng.

Môi nào thơm ngát tình nồng
Tóc mây buộc dải đôi dòng nơ xanh
Đôi chim sẻ đậu trên cành
Nhởn nhơ tiếng hót một nhành đôi mươi.

Yêu em nhìn ngắm mây trời
Em về hoa nở, môi cười thêm duyên
Vai nghiêng suối tóc tơ huyền
Vươn bờ ngực nở trên miền gió xuân.

Hạt mưa rơi rụng tần ngần
Hoa thơm lan tỏa dưới chân điệu đàng
Vườn xuân nghiêng cánh bướm vàng
Cổng hoa hé mở trên ngàn tương tư.

Động thiên thai bóng thiền sư
Cõi hồn khép lại tâm hư vội tràn
Đèn khuya lửa hắt hiu vàng
Câu kinh vừa chạm đôi hàng lệ sa.

Lòng còn hoài niệm thương hoa
Câu thơ vướng áo đường tà nhẹ bay
Yêu em nắm lấy bàn tay
Trao nhau nồng ấm nhớ ngày xa xưa.

Yêu em tình vẫn đẩy đưa
Đong đầy nỗi nhớ, còn chừa mai sau
Yêu em chẳng ngại mưa mau
Cùng đưa nhau đến bên cầu hoa trôi.

Lê Tuấn
Bài thơ viết cho tình yêu    




THƠ: “HOA… VÀNG DẤU MƠ” – Phương Hoa

HOA… VÀNG DẤU MƠ

*

Từ em…

tỏa ánh

quang hồng

Xôn xao một cõi

bềnh bồng trong anh

Mi ngà vời vợi rèm xanh

Màu môi ửng thắm

cho cành

trúc nghiêng.

*

Từ em…

e ấp

thuyền quyên

Gió lung linh gợn

suối huyền tóc mây

Đất trời chao đảo quanh đây

Tim rơi mất nhịp

ngà say

cánh bằng.

*

Từ em…

nguyệt rạng

cung Hằng

Ước mơ dùng sợi

xích thằng buộc nhau

Yến oanh sải cánh ngàn sau

Trúc mai từ độ

pha màu

ngất ngây.

*

Từ em…

tay chạm

hồn này

Trái tim lữ thứ

vờn xoay ngút ngàn

Ngờ đâu chớp mắt bên đàng

Giáng tiên trở gót…

Hoa… vàng

dấu mơ.

*

Từ em…

điểm nhớ

vào thơ

Bâng khuâng mực tím

xô bờ sóng dâng

Thuyền anh chìm nổi hồng trần

Chờ mong cứu cánh

tình ngần

trao ai

*

Từ em…

toát vẻ

trang đài

Hồn hoang lạc lối

sương mai vẹt màn

Trăng khuya rải sáng bạt ngàn

Tâm tư trĩu nặng

muôn vàn

luyến thương…

Phương Hoa – MAR 22nd 2022

HOA HỒNG ÂN THƠ

*

Từ tài hoa mộng thẫn thờ

Nhịp tim đèn sách sao chờ trăng non

Tóc tiên hôn gió môi son

Gót sen hồng tưởng xuân còn ngây thơ…

*

MD.03/25/22 LuânTâm

Thân cảm tặng”HOA VÀNG DẤU MƠ”của TG.VTHS PHƯƠNG HOA




KIỀU MỸ DUYÊN: LẮNG NGHE LÀ MỘT YẾU TỐ ĐỂ THÀNH CÔNG




CAO MỴ NHÂN: Nỗi Nhớ Nhung Trong NGÀY SINH NHẬT: THƠ MÙA XUÂN CÒN NÁN LAỊ & CHÙM THƠ: Bềnh Bồng Nỗi Nhớ. Lời Thơ Chay. Đèo Hải Vân.

MÙA XUÂN CÒN NÁN LẠI.  –  CAO MỴ NHÂN

*

Lại một đêm thiếu ngủ

Em nằm đợi nhớ nhung

Chan hoà trên mặt gối

Những giọt lệ mông lung

*

Vùi đầu giữa gối chăn

Tưởng châu thân ấm áp

Hoá ra lòng bâng khuâng

Tiếc thương bao mất mát

*

Trăng rơi vào rét mướt

Hồn bất chợt chơi vơi

Em chờ nghe tiếng bước

Anh về từ xa xôi

*

Hai mươi lăm tháng ba

Mùa xuân còn nán lại

Bông hồng vàng kiêu sa

Mỗi năm thêm hoang dại

*

Anh nhìn em ái ngại

Thương xót cuộc tình buồn

Người yêu ơi huyễn mộng

Che kín cả  nụ hôn …

*

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

 25 – 3 – 2022

HAPPY BIRTHDAY NỮ SĨ CAO MỴ NHÂN

BỒNG BỀNH NỖI NHỚ .    CAO MỴ NHÂN

*

Với tay, chạm phải đoá quỳnh

Không gian bất chợt rùng mình trắng hoa

Phải người vừa chạm tim ta

Đã hoang liêu gọi thiết tha về gần 

*

Quỳnh rơi từng giọt lỡ lầm

Mỉm cười tình cũng phù vân như người

Bao nhiêu ngày tháng trên đời

Là bao nhiêu nỗi tuyệt vời mang đi 

*

Một năm hoa nở từ bi 

Một năm ta vẫn mê si ảo huyền

Một năm thắp nén hương nguyền

 Tái sinh theo một bóng thuyền lênh đênh 

*

Vô cùng vạt nắng mông mênh

Thôi em trả lại Bồng bềnh tình quân 

Bên bờ Suối Bạc mùa xuân

Vấn vương huyễn sự bâng khuâng kiếp này… 

*CAO MỴ NHÂN (HNPD)

*****************

LỜI THƠ CHAY.    CAO MỴ NHÂN 

*

Hẹn em ở Đa Minh

Suốt đêm nhà thờ thức

Đợi về Lễ Phục Sinh

Easter day Chúa nhật

*

Suốt tuần chay cô đơn

Lời kinh mang nỗi nhớ

Hồi chuông rơi van lơn

Lệ chan hoà sầu khổ

*

Bài thánh ca ru êm

Cả không gian rạng rỡ

Ánh lửa soi trái tim

Xoá tan cuộc tình lỡ

*

Từ hoang liêu nụ cười 

Anh trao em nở hoa

Niềm tin yêu tuyệt vời 

” Chúa ở cùng chúng ta …” 

*

       CAO MỴ NHÂN 

ĐÈO HẢI VÂN  3/ 1975.    CAO MỴ NHÂN

*

Câu chuyện 30 tháng 4

Nghe như nửa thực, nửa hư

Thực vì máu và nước mắt

Ngập tràn xác người tản cư

*

Chạy bộ trên đèo Hải Vân

Bộ hành xô xe xuống vực

Đoàn sau ào lên phía trước

Không kịp suy nghĩ, lần khân

*

Chạy lao vào nhau chết thảm

Già , trẻ , lớn , bé khóc la

Chạy từ Huế vô Đà Nẵng

Có người lại lộn trở ra

*

Đại tá tỉnh trưởng Thừa Thiên

Đậu trực thăng trên đỉnh núi

Thét gào trong máy truyền tin

Một ngày mấy lần lui tới

*

Ông cũng như người tị nạn

Không hiểu trung ương muốn gì

Chưa ai quan tâm thù hận

 Chỉ cần vượt thoát chốn ni

*

Chẳng ai muốn dừng, dù đêm

Không ăn không ngủ, đau rên

Cứ đi như khùng, như dại

Người ôm thây ma cuồng điên

*

Thế rồi cũng qua mọi sự

Rùng mình sợ hãi quẩn quanh

Chao ôi đâu là lịch sử

Chỉ toàn máu lệ hôi tanh

*

Hải Vân gió hú đêm sương

Chập chờn hồn ma tức tưởi

Cuối 3/75 đau thương

Người người tả tơi, rách rưới

*

Tôi trong ” phái đoàn cứu trợ “

Ấn vào tay họ chút quà

Hất ngang, họ đi như sợ

Cản đường, không để họ qua

*

Trở về Nam Ô chở nước

Đặt bên vệ đường ” tự do “

Đoàn người lênh đênh khốn khổ

Trừng trừng mắt ngó hư vô…

    CAO MỴ NHÂN




Đêm Sương Hà Nội CAO MỴ NHÂN

Đó là buổi cuối cùng bố tôi cho cả nhà đi Hà Nội thăm họ hàng và nhất là nhìn lại cái thành phố trước đó đã khắc sâu trong lòng ông khá nhiều kỷ niệm.

Bấy giờ (1954), ông đang làm phó giám đốc phi trường Cát Bi Hải Phòng nên thường đi Hà Nội chơi, tất nhiên cho cả nhà theo, vào những ngày Chủ Nhật.

Từ Hải Phòng về Hà Nội có 100km, chạy trên quốc lộ số 5 chỉ qua thành phố Hải Dương, ghé nhà chú ruột tôi ở số 1 phố Hàng Đồng rồi lên Hà Nội như chương trình đã định.

Bố tôi xuất thân từ trường Bưởi, sau đổi thành Chu Văn An, từng làm giám đốc sở máy đèn kiêm sở máy nước ở Sa Pa, nơi chị em tôi ra đời, để bây giờ các nhóm bạn văn nghệ cứ gọi đùa tôi là Mỵ Sa Pa.

Trở lại buổi cuối cùng về Hà Nội, sau đó xuống lại Hải Phòng rồi di cư vào Nam 25 – 9 – 1954 trên chiếc phi cơ nhỏ hai hay bốn cánh quạt, không biết có phải là DC3, DC4 dân sự không.

Chỉ hơn 10 năm sau, tôi đã bay như bươm bướm trên trời khi làm công tác xã hội trong Quân lực VNCH, qua những chuyến bay của nhiều loại phi cơ khác nhau như Cessna, trực thăng, HUIB, C46, C47, C119, C123, C130.

Thậm chí có khi còn phải quá giang L19, L20 đi thả truyền đơn trên vùng xôi đậu để được mau chóng về nhà khi đã xong công tác tiền đồn, lũ lụt, v.v..

Tôi muốn kể quý vị nghe về đêm sương Hà Nội.

Lẽ ra cái ấn tượng này chỉ có ở những quý vị vừa quá cố như nhà văn Mai Thảo hay thi sĩ Cao Tiêu tức cố đại tá Hoàng Ngọc Tiêu, nguyên cục trưởng Cục Tâm lý chiến Quân lực VNCH.

Tôi đoan chắc thế vì tôi không được thân nhà văn trưởng thượng Mai Thảo, nhưng trong văn chương ông có những đêm sương Hà Nội.

Còn thi sĩ đại tá Cao Tiêu là niên trưởng của tôi, đã từng cho tôi xem những bức hình ông hay ông bà chụp ở hồ Gươm Hà Nội.

Gia đình ông bà ở Hà Nội nên đêm sương Hà Nội trong ánh điện đường màu vàng thời Tây thuộc là một hình ảnh rõ nét, nhưng lại mơ hồ vì cái lạnh len vào thân áo lãng tử, giai nhân day dứt lắm.

Bố tôi chắc chắn trọng tuổi hơn nhị vị tên tuổi nêu trên, vì buổi âm thầm từ giã Hà Nội, bố tôi đã 44 tuổi. Số tuổi trung niên hào hoa, phong nhã, hẳn phải đẹp thế nào rồi.

Nhưng thời thượng bấy giờ không phải dấu ấn Mỹ với quần jean áo thun như ngày nay, mà vết tích Tây là bộ đồ vest sang trọng lúc nào cũng kèm cravat, đôi khi còn có áo gilet bên trong, mặc cho đứng thân áo, không hẳn cho ấm áp thôi đâu.

Buổi cuối cùng để lìa xa thành đô yêu dấu như trong bài hát của nhạc sĩ Vũ Thành, bố tôi để gia đình chơi với họ hàng rồi vội vã đi Khâm Thiên cầm trống chầu nghe hát ả đào.

Thế nên sau này khi gia đình đã di cư vô Nam, thủa ban cổ nhạc Bắc phần hát trên Đài phát thanh Sài Gòn với những nghệ sĩ Kim Bảng, Huệ Đăng, v.v. là giờ cao điểm của bố tôi để ông nhớ Bắc Kỳ quốc của ông.

Chúng tôi không được nghe nhạc dân ca đầu tiên ở miền Nam như Tình ca, Thuyền viễn xứ, v.v. của Phạm Duy.

Bấy giờ cả nhà chỉ có một cái radio, không phải như hiện nay ở nhà tôi từ con tới cháu mỗi người một Iphone, Ipad, kể cả tôi, sử dụng tiện lợi.

Thành ai trong nhà cũng có hai món chơi văn minh vừa nêu, mỗi người tha hồ chui vào phòng riêng thả hồn mơ mộng nghe thơ, nhạc theo sở thích của mình.

Nhất là tôi bây giờ còn mặc sức tung hoành coi và nghe HNPD.COM hay HNPD.NET, hầu mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây, để viết thơ tình muộn riêng cho anh… huyễn hoặc tâm tư tình cảm mình.

Chị gái tôi buổi từ giã Hà Nội còn vị thành niên, đứng ở Hồ Hoàn Kiếm, tên khác của Hồ Gươm, còn khóc theo một kỷ niệm bỏ lại.

Có lẽ trong nhà chỉ có tôi là giận bố vì vẫn chưa đưa đi ăn kem ở Bờ Hồ và khi ngồi trên xe traction về lại Hà Nội, tôi đã ngủ khò một mạch.

Qua cầu Thượng Lý cao vời, chợt nghe tiếng bố tôi nói:

Ơ hay, cái con Mỵ này, lúc nào đi xe cũng ngủ mới lạ.

Buổi cuối cùng ở Hà Nội theo như bố tôi diễn tả, ông nhớ nhất cái đêm sương, cũng chỉ để giữ lại trong lòng một kỷ niệm ướt át.

So ra với tôi hôm nay thì bố tôi khổ quá, ông không biết đẩy cái kỷ niệm, hay văn vẻ hơn là cái nỗi nhớ thương xa xót của ông đi đâu, vô một góc khuất nào trong tâm hồn chẳng hạn.

Thế nên bây giờ tôi chẳng cảm thấy ngại ngùng khi viết ra những bài thơ tình tưởng là khốn khổ, hoá rất êm đềm, huyễn ảo, huyền mơ.

Nhất là giữ được hình ảnh anh trong hàng chục tập thơ. Chu choa. Kể ra anh lại giận bây giờ. Anh sẽ lớn giọng: ai cho phép tự tung tự tán tình cảm rứa, mới là lạ lẫm.

Anh bảo ở miền anh, tức miền Trung mộng mơ, không cần cái đêm sương ẩm lạnh như Hà Nội của quý vị, với Huế đúng nghĩa phải kể đêm mưa.

Muốn rõ rệt hơn thì đêm mưa Huế. Có buồn bao nhiêu đi nữa vẫn là những đêm mưa xót dạ ở Hoàng thành…

Mà thôi đừng nói mưa Huế xót xa, day dứt chi nhiều, bởi nghe mưa Huế không thất tình vẫn cứ buồn thương, tuyệt vọng lắm nờ.

Rứa thôi ta bỏ Hà Nội, Huế đi, vô hẳn Sài Gòn để hưởng thụ những đêm say tuyệt hảo, say men bia rượu hay say đắm tình người.

Quả vậy, chỉ ở Sài Gòn mới dám sống thực, yêu hết lòng, cạn liệt tình thơ, vẫn còn nhiều điều kiện để yêu thương rồi chấm dứt, thường đùa là chết bỏ vậy đó.

Quê hương Việt Nam mỗi miền, mỗi thành phố có một sắc thái riêng như đêm sương Hà Nội, đêm mưa Huế, đêm say Sài Gòn.

Với tôi còn có những đêm khí núi hơi rừng mù mịt Sa Pa, thời Pháp còn ghi chú thêm nơi bản khai sinh tôi là xã Xuân Viên, làng Chapa, tỉnh Laokay.

Lý do Sa Pa là làng nghỉ mát của tất cả những ông Tây bà đầm tứ xứ trên đất nước Việt Nam, mỗi năm về an dưỡng.

Nói một cách khác, Sa Pa là làng nghỉ mát ở Đông Dương do Tây thành lập để an dưỡng người già và người bệnh thời Pháp chiếm cứ miền Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 vừa qua.

CAO MỴ NHÂN




BÁT BÚN RIÊU – (Không Biết Tác Giả)Nguyễn Tuyết Nhung Sưu Tầm

BÁT BÚN RIÊU

           Từ Auclair, theo đường Liên Tỉnh 53, ngược lên mạn Bắc là Salon Springs thì rẽ phải theo Hương Lộ “P” nhỏ hẹp ngoằn ngoèo lăn mình giữa những khu rừng phong ngút ngàn trùng điệp, tiếp tục thêm vào dăm vòng qua những lưng đồi thoai thoải dốc là tới thung lũng Nivagamond, Louisiana, trạm đặc khu của người da đỏ.

Trời vào Thu, rừng phong đã thay chiếc áo choàng màu hồng lựu. Hơn nửa giờ lái xe, không một bóng người ngoài tiếng gió thở dài, tiếng lá khô sào sạc, tiếng rừng cây trăn trở, không còn một âm thanh nào khác. Tôi cảm tưởng như lạc vào 1 hành tinh xa lạ không sinh vật. Đồi lại đồi liền liền tiếp nối nhau sau cùng tới Nivagamond. Nơi đây có Viện Dưỡng Lão Lakeview mà theo lịch trình thì mỗi năm tôi phải đến một lần để thanh tra y vụ.

Lần đầu tiên đến đây nên tôi không khỏi ngỡ ngàng tưởng dù hẻo lánh đến đâu ít ra cũng có xóm làng, một giáo đường nho nhỏ hay vài ngôi nhà be bé xinh xinh nhưng tuyệt đối không. Ngoài rừng phong đỏ lá chỉ có hồ nước trong veo xanh ngắt màu trời. Trung Tâm An Dưỡng Lakeview như tên gọi ẩn mình dưới tàng cây rợp bóng trên khu đất rộng.

 Quay lưng vô rừng thông nhìn ra mặt hồ phẳng lặng như gương, tôi ngẫm nghĩ, nơi đây có thể là điểm nghỉ ngơi lý tưởng cho những người quanh năm lao lực hoặc những ai muốn tìm sự quên lãng, còn chọn làm viện dưỡng lão thì hơi tàn nhẫn.

Tuổi già vốn đã cô đơn mà nơi đây lại hầu như tách biệt với thế giới bên ngoài. Trừ y tá, y công và vài chuyên viên dịch vụ thì chẳng còn ai, người nào cũng bận bù đầu, rảnh rỗi đâu mà tán gẫu với những người già. Nhất là sau buổi cơm chiều khi hoàng hôn buông xuống, ai nấy đều đã về nhà thì bóng đêm chắc phải thật dài.

        Vừa đẩy cửa bước vào tôi đã giật mình vì gặp một hàng 6 chiếc xe lăn đang dàn chào. Trên mỗi xe là 1 lão ông hoặc lão bà độ bảy, tám mươi, mái tóc bạc phơ, mắt hom hem sau làn mục kính. Có người trông còn sáng suốt, người thì như xác không hồn. Họ chăm chú nhìn tôi từ đầu đến chân như quan sát một quái nhân đến từ hành tinh khác. Có lẽ vì tôi là người Á Châu duy nhất tới đây chăng? Cô y tá hướng dẫn như đoán được cảm nghĩ của tôi bèn nhoẻn miệng cười:

– Ông ngạc nhiên lắm sao?

Tôi ngập ngừng:

– Bộ họ biết hôm nay tôi đến đây nên hiếu kỳ muốn trông thấy mặt tôi.

Cô y tá khẽ lắc đầu:

– Mỗi ngày đều như vậy, sáng nào họ cũng ngồi đó để mong chờ.

– Chờ thân nhân tới đón?

 – Dạ thưa không.

– Vậy hay là chờ bạn bè đến thăm?

Cô y tá phì cười pha trò:

– Ông nghĩ già ngần ấy tuổi mà còn hẹn bạn gái sao?

– Không, ý tôi là bạn thông thường đấy.

– Nếu những người bạn ấy chưa nằm xuống thì cũng đang ngồi xe lăn như họ tại một viện dưỡng lão nào đó thôi, rồi ngậm ngùi họ mong chờ những hình bóng không bao giờ đến, xa xôi trong ký ức.

Rồi cô khẽ thở dài:

– Tôi làm việc ở đây hơn 10 năm, đã chứng kiến nhiều hoạt cảnh, tháng nào cũng có người mới tới và cũng có người vĩnh viễn ra đi.

– Chắc ít nhiều, lòng cô cũng có phần nào xao xuyến, phải không cô?

– Thật tình mà nói lúc đầu thì có đấy, nhưng mà bây giờ tôi đã quen rồi.

– Tôi nghĩ là cô rất mẫn cảm?

– Chỉ là do tập luyện thôi chứ bằng không thì sẽ ngã quỵ đó ông!

Chúng tôi vào thang máy lên tầng trên, một cụ già chống gậy tập tễnh vô theo. Cô y tá nhìn ông ta và hỏi:

– Ông đi lên thang máy hay là đi xuống?

Cụ đáp như cái máy, giọng nói khò khè yếu ớt khó nghe:

– Đi.. đi xuống, rồi đi.. đi lên, rồi đi.. đi xuống , đi lên.

Tôi nhận thấy ông ta chẳng nhìn ai cả, ánh mắt không hồn đang hướng về phương trời vô định. Dường như quá quen thuộc với những hiện tượng này, cô y tá thản nhiên nói:

– Vậy thì xin ông bước ra chờ chuyến sau sẽ có người đi với, chúng tôi đang bận.

Cô bèn nắm tay dẫn ông cụ ra ngoài rồi lạnh lùng khép cửa. Tôi thắc mắc:  – Nếu ông ấy lại tiếp tục bấm nút thang máy thì sao cô?

– Chúng tôi đã lượng trước được điều ấy cho nên tất cả nút cắt điện trong viện đều gắn rất cao người già không thể với tới.

– À thì ra vậy!

Công tác xong trời cũng về chiều, tôi từ giã, cô y tá tiễn tôi ra cửa. Đoàn xe lăn vẫn còn dàn chào.

Chợt trông thấy trong góc tối 1 ông lão độ trên dưới 80 đang cô đơn ngồi bất động trên xe lăn như pho tượng cũ. Điểm khác biệt khiến tôi chú ý là ông ta không phải người da trắng và cũng không hoà nhập vào toán dàn chào. Da ông màu đồng nâu có nhiều vết nhăn đậm nét thời gian hằn trên mặt. Mái tóc bạc phơ rủ loà xoà trên trán, vóc người bé nhỏ, mắt hom hem trân trối nhìn tôi như muốn nói điều gì. Tôi đoán chừng ông là thổ dân da đỏ. Hiếu kỳ tôi hỏi cô y tá:

– Và vị dưỡng lão này cũng là người Indian hở cô? Tôi nghĩ đó là trách nhiệm của chính phủ liên bang chứ?

Cô ta ngạc nhiên:

– Ủa sao ông lại hỏi vậy?

Tôi trỏ ông lão ngồi xe lăn:

– Vậy không phải Indian là gì?

Cô y tá phì cười:

– Ông ta là người Á Đông đó ông ạ.

Tôi giật mình:

– Người Á Đông?

– Dạ phải, dường như là Việt Nam đó.

Thêm một lần kinh ngạc, tôi không ngờ nơi vùng đất hẻo lánh đìu hiu lạnh lẽo này cũng có người Việt cư trú. Tôi bèn hỏi dồn:

– Sao cô biết ông ta là người Việt.

– Dạ thưa ông hồ sơ có ghi đó ông ạ.

– Vậy thì ông ấy vào đây lâu chưa cô?

– Hơn 10 năm.

Rồi cô khẽ lắc đầu:

– Tội nghiệp, ông ta rất hiền lành dễ thương ai cũng quý mến cả. Nhưng hiềm chẳng nói được tiếng Anh cho nên suốt ngày cứ thui thủi một mình không có bạn.

– Vậy thân nhân ông ấy có thường xuyên tới thăm ông ấy không?

– Một lần cách đây lâu lắm, hẳn có uẩn khúc gì đây.

Không cam tâm làm ngơ trước người đồng hương đang gặp cảnh bẽ bàng nơi đất khách, tôi tự giới thiệu tôi cũng là người Việt Nam. Cô ta trố mắt:

– Ồ thế mà tôi cứ đinh ninh ông là người Trung Hoa.

Tôi cười:

– Trong mắt người Tây Phương, thì bất cứ ai da vàng cũng là người Tàu.

Cô ta pha trò:

– Cũng đâu phải lạ, nhiều anh Tàu nhan nhản khắp nơi. Ngay trong xóm da đỏ hẻo lánh tít mù trên miền Bắc cũng có. Lần nào qua đó tôi cũng ghé mua cơm chiên, chả giò vừa ngon vừa rẻ nhưng phải cái là…..

Tôi nhoẻn miệng cười:

– Mỡ dầu và bột ngọt hơi nhiều phải không cô?

Cô ta cười xoà:

– Phải nói là nhiều quá mới đúng. Khổ công tập thể dục cả tháng, ăn một bữa cơm Tàu là đâu vào đấy, có khi còn thặng dư là khác.

Tôi quay lại vấn đề:

– Tôi muốn tiếp xúc với ông lão người Việt để mà chào hỏi làm quen, có thể ông ấy cũng đang cần nói chuyện vì lâu lắm chưa có dịp.

Cô y tá mừng rỡ:

– Hay lắm, đó cũng là điều tôi mong muốn. Vùng này hẻo lánh quá nên không tìm ra người thông dịch, nhân tiện nhờ ông hỏi xem ông ấy có nhu cầu hay đề nghị gì hầu chúng tôi đáp ứng không?

– Vâng, tôi sẽ cố gắng làm điều đó cô.

Thấy tôi đi tới ông lão ngước lên, nhíu đôi mắt hom hem nhìn chầm chập, vừa ngạc nhiên vừa thoáng chút ngại ngùng. Tôi gật đầu chào:

– Dạ thưa chào cụ ạ.

Nét mặt rạng niềm vui, giọng nói run run vì xúc động:

– Dạ chào, chào thầy, thầy người Việt à?

Giọng ông hơi nặng và chân thật. Tôi thân mật nắm tay ông.

– Thưa cụ cháu cũng là người Việt như cụ đấy ạ.

Ông lại nghẹn ngào:

– Cảm ơn Thiên Chúa, cảm ơn Đức Mẹ Từ Bi đã cho tôi gặp được ông.

Tôi kéo ghế ngồi bên cạnh và bắt đầu trò chuyện.

– Thưa cụ, vì sao cụ cho là cuộc gặp gỡ hôm nay là do Thiên Chúa và Đức Mẹ sắp đặt.

– Tại đêm nào tôi cũng cầu nguyện ơn trên cho tôi gặp được người đồng hương.

– Có chuyện gì khẩn cấp không thưa cụ?

– Để được nói chuyện bằng tiếng Việt mình thôi.

Cụ thở dài:

– Lâu lắm rồi tôi chưa được nói hay là nghe tiếng mẹ đẻ.

Nhức trong tim, tôi bùi ngùi thương cảm, một ước mơ thật đơn giản mà sao quá xa vời. Chúng tôi bắt đầu trò chuyện. Ông kể:

“Tên tôi là Tỉnh, Nguyễn Văn Tỉnh, trước kia ở Bình Tuy, làm nghề biển, có thuyền đánh cá. Tuy không giàu, nhưng cuộc sống cũng sung túc. Tôi có vợ, 3 con trai, đứa lớn nhất còn sống thì giờ này cũng đã gần 50. Năm 75, Cộng Sản tràn vào, cả nước kéo nhau chạy nạn, sẵn phương tiện trong tay tôi chở vợ con vượt thoát, nhưng chẳng may là sau 3 ngày lênh đênh trên mặt biển thì gặp bão lớn tàu chìm. Tôi và đứa con út lên 6 được may mắn đã gặp tàu Mỹ nó vớt, còn vợ và 2 đứa con lớn thì mất tích thầy ạ. Sau đó thì tôi được bảo trợ về Louisiana, nơi đây có đông người đồng hương nên cũng đỡ buồn. Tôi bắt đầu tái tạo sự nghiệp, hùn hạp với bạn bè mua tàu đánh cá làm việc ngày đêm, trước là để vơi buồn, sau là tạo dựng tương lai cho thằng Út, giọt máu cuối cùng còn sót lại của tôi. Tôi ước mong thằng bé sẽ theo cha mà học nghề biển nhưng nó thì không muốn. Nó chỉ thích làm bác sĩ, kỹ sư ngồi nhà mát thôi chứ không chịu dãi nắng dầm mưa như bố, thế nên thầy biết không, vừa xong trung học là nó quyết chọn trường xa để mà tiếp tục theo đại học”.

Ông ngừng lại một chút để dằn cơn xúc động rồi ngậm ngùi kể tiếp:

“Tôi chỉ có mình nó, không thể sống xa con, nên quyết định là bán hết tài sản để mà dọn theo, bạn bè ai cũng ngăn cản thầy ạ, nhưng tôi quyết giữ lập trường, mang hết tiền dành dụm đến cái tiểu bang này mua 1 căn nhà nhỏ ở ngoại ô, còn chút ít thì gửi vào trong quỹ tiết kiệm lấy lời sống qua ngày. Hai cha con đùm bọc nhau, cuộc sống tuy chẳng sung túc nhưng chẳng nhẹ nhàng. Tuổi ngày một già thì sức khỏe càng yếu, năm ấy trời mưa đá, tôi bị ngã gẫy chân thầy ạ. Bác sĩ cho biết xương già thì không có lành được và phải vĩnh viễn ngồi trên xe lăn. Thằng Út ra trường có việc làm ở Nữu Ước.

Tự biết là khó có thể theo con và không muốn làm trở ngại bước tiến thân của nó nên tôi xin vào viện dưỡng lão. Tôi lên tiếng trước thầy ạ cho nó khỏi bị khó xử. Nó giúp tôi làm thủ tục và hứa là khi nào làm ăn yên ổn nó sẽ đón tôi về. Các viện dưỡng lão tương đối khá đều hết chỗ, may thay trong lúc đang bối rối thì có anh bạn học người da đỏ quen Út mách cho tôi nơi này. Thấy con tôi buồn tôi bèn an ủi nó: nơi nào cũng là quê người, cũng giống nhau thôi, thỉnh thoảng con về thăm bố là bố vui rồi. Thế là cả ngôi nhà lẫn tiền dành dụm phải trao hết cho viện dưỡng lão, dĩ nhiên là tôi được nhận.”

Ánh mắt xa xôi nhìn về phía chân trời đang có đàn chim chiều đang soải cánh ông chép miệng:

– Chà nhanh quá, mới đó đã 10 năm rồi.

– Thưa cụ, thời gian qua chắc là anh Út vẫn thường xuyên về thăm cụ chứ?

– Ừ, một năm thì nó cũng trở lại, nó khoe tôi hình cô gái Mỹ và nó nói, dâu tương lai của bố đó. Rồi thầy biết không, từ đó biệt tăm luôn.

– Cụ hoàn toàn không biết tin tức gì về anh ấy sao?

– Không, mà thật tình tôi cũng không muốn biết nữa.

– Tại sao, anh ấy là con trai duy nhất của cụ mà? Cháu sẽ giúp cụ tìm anh ấy nhé?

Ông lão rơm rớm nước mắt:

– Tôi sợ lắm, thầy ơi, thà biền biệt như thế mà tôi vẫn tin tưởng là nó đang sống tốt với vợ con ở một nơi nào đó trên quả đất còn hơn là biết tin buồn. Quả tình tôi không kham nổi.

Tôi nghẹn lời nói không được, lát sau qua cơn xúc động, tôi bèn hỏi:

– Giờ đây cụ có còn ước nguyện gì thì cụ cho cháu biết, cháu sẽ hết lòng giúp với tất cả khả năng của mình thưa cụ.

Ông lão thở dài:

– Già rồi còn được mấy năm trước mặt hở thầy?

Ánh mắt chợt linh động, ông nhìn tôi và chép miệng:

– À, mà tôi thèm một bát bún riêu quá.

Hai tuần sau vào ngày Chủ Nhật, tôi nhờ chị bạn thân nấu giùm 2 bát bún riêu cua, bún nước để riêng, có đầy đủ chanh, rau, nước mắm, ớt hiểm tươi còn đặc biệt có thêm lọ mắm ruốc thật ngon. Tôi cho tất cả vào túi xách đem vào viện dưỡng lão Lakeview. Mất hơn 4 giờ, sau cùng tôi đã tới. Như lần trước, ông vẫn ngồi trên xe lăn gần cửa sổ cuối phòng.

Bất ngờ trông thấy tôi ông mừng rỡ kêu lên:

– Ồ kìa thầy, thầy lại về đây công tác hở thầy?

Tôi chạy tới nắm tay ông:

– Dạ thưa lần này thì cháu chỉ đến đây thăm cụ và cháu có một món quà đặc biệt mang biếu cụ đây.

Lộ vẻ cảm động ông cụ nhoẻn cười đôi mắt nhăn nheo:

– Bày vẽ làm chi hở thầy, đến thăm tôi là quý rồi thầy ơi.

Tôi xin phép ban quản lý đưa cụ ra vườn vì thức ăn nặng mùi mắm ruốc nên tôi phải mang theo 1 lọ cồn nhỏ để đun nóng ngoài trời. Cụ chăm chú nhìn tôi bỏ bún ra tô, trộn rau ghém, nêm mắm ruốc, chan nước dùng nghi ngút bốc hơi, rắc chút tiêu thơm trên lớp gạch cua nổi vàng trên mặt. Nặn hai lát chanh tươi và sau cùng là ba trái ớt hiểm đỏ thơm nồng cay xé lưỡi. Không nén được thèm thuồng, chốc chốc cụ lại nuốt nước bọt. Tôi đặt tô bún riêu trước mặt và mời cụ cầm đũa. Cụ run giọng:

– Cám ơn thầy, không ngờ hôm nay tôi còn được ăn bát riêu cua. Mời thầy cùng ăn cho vui ạ.

– Cám ơn cụ, cháu đã ăn xong ở nhà, xin cụ dùng tự nhiên, bún riêu còn nhiều, hết tô này cháu sẽ hâm tô khác.

Cụ trịnh trọng húp từng muỗng xúp, gắp từng đũa bún, cắn từng miếng ớt cay ngon lành như chưa từng được ăn ngon, chốc chốc cụ dừng tay để lau mồ hôi và luôn miệng khen tấm tắc:

– Trời ơi, bún riêu ngon quá mà mắm ruốc thơm quá thầy ơi.

Tôi cảm động đặt tay lên vai cụ:

– Thưa nếu cụ bằng lòng nhận cháu làm con, cháu sẽ thay anh Út và thường xuyên thăm viếng cụ nhé.

Cụ sững sờ nhìn tôi thật lâu như không tin ở tai mình rồi hai dòng nước mắt từ từ lăn dài trên đôi má hóp:

– Trời ơi, sao tôi có được diễm phúc như vậy sao trời!

Tôi yêu cầu ban quản lý ghi tên tôi vào danh sách thân nhân, và dặn dò khi có chuyện cần thì cứ gọi. Năm sau, còn một ngày nữa là Tết, tôi đã chuẩn bị xong quà cáp có cả trà thơm, mứt ngọt dự định sáng hôm sau Mồng Một đầu năm sẽ mang lên Lakeview mừng tuổi cụ. Đang ngon giấc, chợt có chuông điện thoại, tôi nhấc ống nghe, bên kia đầu dây tiếng cô y tá trực của viện dưỡng lão Lakeview:

 – Dạ thưa hỏi, có phải ông là ông Trần không?

– Dạ vâng ạ, là chính tôi đây .

– Dạ thưa ông, cụ Tỉnh đau nặng.

– Tình trạng thế nào có nguy không cô?

– À, đang nằm phòng hồi sinh bệnh viện ở thành phố đó thưa ông.

– Cám ơn cô rất nhiều, ngày mai tôi sẽ đến cụ.

– À ông nên đi sớm hơn đi là vì sợ không còn dịp nữa. Tôi rụng rời, ngoài trời tuyết rơi càng lúc càng nhiều, trời trở lạnh, gió giật từng cơn, hoa tuyết bay

(Không biết tác giả)