• Tài liệu

    HỐ CHÔN NGƯỜI ÁM ẢNH

    Vũ Thư Hiên 

     ·

    Tác giả, cựu binh Trần Đức Thạch, 68 tuổi, vừa bị nhà cầm quyền bắt giam ngày 23 Tháng Tư, 2020, tại xã Diễn Tân, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An vì can tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền…” Khung hình phạt có thể từ 12 năm đến tử hình.

    Trước đây ông đã bị kết án tù hai lần vào các năm 2000 (án 15 năm sau giảm xuống còn 8 năm, tội “xâm phạm an ninh quốc gia”) và 2009 (án tù 3 năm, tội “Tuyên truyền chống nhà nước”). Ông viết blog và sau này có trang Facebook Trần Đức Thạch đăng tải những suy nghĩ của mình hoặc chia sẻ bài viết của những người khác về các vấn đề thời sự..

    Nhiều năm trước, ông cho phổ biến hồi ký “Hố Chôn Người Ám Ảnh” kể lại tội ác của CSVN đã giết hàng trăm người dân vô tội tại một ấp trong tỉnh Long Khánh ngay sau khi CSVN nhuộm đỏ được miền Nam Việt Nam ngày 30 Tháng Tư, 1975. Lúc đó, ông mới 23 tuổi, là “phân đội trưởng trinh sát, Tiểu Đoàn 8, Trung Đoàn 266, Sư Đoàn 341.” Hồi ký này được đăng tải lại trên nhiều trang mạng khác nhau như một tài liệu lịch sử tội ác của Cộng Sản đối với người dân Việt Nam.

    “Tháng Tư, 1975, đơn vị chúng tôi (Sư Đoàn 341 thường gọi là đoàn Sông Lam A) phối hợp với sư đoàn khác đánh vào căn cứ phòng ngự Xuân Lộc. Trận chiến quyết liệt kéo dài 12 ngày đêm. Tiểu Đoàn 8 chúng tôi do hành quân bị lạc nên được giao nhiệm vụ chốt chặn. Nhằm không cho các đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tiếp viện cũng như rút lui.

    Phải công nhận là Sư Đoàn 18 của phía đối phương họ đánh trả rất ngoan cường. Tôi tận mắt chứng kiến hai người lính Sư Đoàn 18 đã trả lời gọi đầu hàng của chúng tôi bằng những loạt súng AR15. Sau đó họ ôm nhau tự sát bằng một quả lựu đạn đặt kẹp giữa hai người. Một tiếng nổ nhoáng lửa, xác họ tung tóe giữa vườn cam sau ấp Bàu Cá. Hình ảnh bi hùng ấy đã gây ấn tượng mạnh cho tôi.

    Tinh thần của người lính đích thực là vậy. Vị tướng nào có những người lính như thế, dù bại trận cũng có quyền tự hào về họ. Họ đã thể hiện khí phách của người trai nơi chiến trận. Giả thiết nếu phía bên kia chiến thắng chắc chắn họ sẽ được truy tôn là những người anh hùng lưu danh muôn thủa. Nhưng vận nước đã đi theo một hướng khác. Họ đành phải chấp nhận tan vào cõi hư vô như hơn 50 thủy binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bỏ mình ngoài biển để bảo vệ Hoàng Sa.

    …Nghe tiếng súng nổ ran, tôi cắt rừng chạy đến nơi có tiếng súng. Đấy là ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai bây giờ. Ấp nằm giữa cánh rừng cao su cổ thụ. Đạn súng đại liên của các anh bộ đội cụ Hồ vãi ra như mưa. Là phân đội trưởng trinh sát, tôi dễ dàng nhận ra tiếng nổ từng loại vũ khí bằng kỹ năng nghiệp vụ. Chuyện gì thế này? Tôi căng mắt quan sát. Địch đâu chẳng thấy, chỉ thấy những người dân lành bị bắn đổ vật xuống như ngả rạ. Máu trào lai láng, tiếng kêu khóc như ri. Lợi dụng vật che đỡ, tôi ngược làn đạn tiến gần tới ổ súng đang khạc lửa.

    -Đừng bắn nữa! Tôi đây! Thạch trinh sát Tiểu Đoàn 8 đây!

    Nghe tiếng tôi, họng súng khạc thêm mấy viên đạn nữa mới chịu ngừng.

    Tôi quát:

    -Địch đâu mà các ông bắn dữ thế? Tý nữa thì thịt cả mình.

    Mấy ông lính trẻ tròn mắt nhìn tôi ngơ ngác. Họ trả lời tôi:

    -Anh ơi! Đây là lệnh…

    -Lệnh gì mà lệnh, các ông mù à? Toàn dân lành đang chết chất đống kia kìa!

    -Anh không biết đấy thôi. Cấp trên lệnh cho bọn em “giết lầm hơn bỏ sót.” Bọn em được phổ biến là dân ở đây ác ôn lắm!

    -Tôi mới từ đằng kia lại, không có địch đâu. Các ông không được bắn nữa để tôi kiểm tra tình hình thế nào. Có gì tôi chịu trách nhiệm!

    Thấy tôi cương quyết, đám lính trẻ nghe theo. Tôi quay lại phía hàng trăm người bị giết và bị thương. Họ chồng đống lên nhau máu me đầm đìa, máu chảy thành suối. Một cụ già bị bắn nát bàn tay đang vật vã kêu lên đau đớn. Tôi vực cụ vào bóng mát rồi dật cuốn băng cá nhân duy nhất bên mình băng tạm cho cụ. Lát sau tôi quay lại thì cụ đã tắt thở vì máu ra quá nhiều. Một chỗ thấy năm người con gái và năm người con trai bị bắn chết châu đầu vào nhau. Tôi hỏi người lính trẻ đi theo bên cạnh:

    -Ai bắn đấy?

    -Đại đội phó Hường đấy anh ạ!

    Ông Trần Đức Thạch mới bị bắt giam ngày 23 Tháng Tư, 2020, vì bị vu cho tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền….” (Hình: Facebook Trần Đức Thạch).

    Lại nữa, tôi ngó vào cửa một gia đình, cả nhà đang ăn cơm, anh bộ đội cụ Hồ nào đó đã thả vào mâm một quả lựu đạn, cả nhà chết rã rượi trong cảnh cơm lộn máu. Tôi bị sốc thực sự. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ “Đi dân nhớ, ở dân thương” mà thế này ư? Cứ bảo là Mỹ Ngụy ác ôn chứ hành động dã man này của chúng ta nên gọi là gì? Tâm trạng tôi lúc đó như có bão xoáy. Mặc dù vậy, tôi vẫn nhận ra ngay những việc cần làm. Tôi tập trung những người sống sót lại. Bảo chị em phụ nữ và trẻ con ra rừng tổ chức ăn uống nghỉ tạm. Cốt là không cho mọi người chứng kiến lâu cảnh rùng rợn này. Đàn ông từ 18 đến 45 tuổi có nhiệm vụ ra sau ấp đào cho tôi một cái hố. Trong ấp ai có xe ô tô, xe lam, máy cày phải huy động hết để chở người bị thương đi viện. Mọi người đồng thanh:

    -Xe thì có nhưng dọc đường sợ bị bộ đội giải phóng bắn lắm!

    -Không lo, có tôi đi cùng!

    Tôi giao cho Nghê, một du kích dẫn đường vừa có bố bị bộ đội cụ Hồ sát hại:

    -Việc lỡ như thế rồi, chú nén đau thương lại giúp anh. Thu hồi căn cước tư trang của những người đã chết sau này còn có việc cần đến.

    Thế là suốt chiều hôm đó, tôi lấy một miếng vải đỏ cột lên cánh tay trái. Lăm lăm khẩu AK ngồi trên chiếc xe dẫn đầu đoàn lần lượt chở hết người bị thương ra bệnh viện Suối Tre. Tối hôm ấy, tôi cho chuyển hết xác người bị chết ra cái hố đã đào. Không còn cách nào khác là phải chôn chung. Trưa ngày hôm sau người ta mới dám lấp. Đây là ngôi mộ tập thể mà trong hoàn cảnh ấy tôi buộc lòng phải xử lý như vậy.

    Trời nắng gắt, để bà con phơi thây mãi không được. Một nấm mồ chung hàng trăm người lẫn lộn, không hương khói, không gì hết. Tôi cho dọn vệ sinh sạch sẽ những chỗ mọi người bị tàn sát. Xong, mới dám cho đám phụ nữ và trẻ con ở ngoài rừng về. Tôi vượt mặt cả cấp trên để làm việc theo tiếng gọi lương tâm của mình bằng mọi nỗ lực có thể để cứu giúp đồng bào.

    Tưởng thế là tốt, sau này nghĩ lại mới thầy hành động của mình giống như sự phi tang tội ác cho những anh bộ đội cụ Hồ. Thú thật lúc ấy tôi vẫn còn một phần ngu tín. Cũng muốn bảo vệ danh dự cho đội quân lính cụ Hồ luôn luôn được ca ngợi là tốt đẹp. Tuy vậy tôi bắt đầu nghi ngờ “Tại sao người ta giết người la liệt rồi bỏ mặc. Chẳng lẽ họ mất hết nhân tính rồi sao?”

    Công việc xong tôi gặp Nghê để chia buồn. Tôi không tránh khỏi cảm giác tội lỗi. Nghê đã đưa xác bố về chôn tạm ở nhà bếp. Tội nghiệp Nghê quá. Lặn lội đi theo cách mạng, ngày Nghê dẫn bộ đội về giải phóng ấp lại là ngày bộ đội cụ Hồ giết chết bố Nghê. Nghê “mừng chưa kịp no” đã phải chịu thảm cảnh trớ trêu đau đớn. Nghê buồn rầu nói với tôi:

    -Hôm qua nghe lời anh. Em thu được hai nón đồng hồ, tư trang và căn cước của những người bị giết. Sau đó có một anh bộ đội bảo đưa cho anh ấy quản lý. Em giao lại hết cho anh ấy để lo việc chôn ba.

    -Em bị thằng cha nào đó lừa rồi. Thôi quên chuyện đó đi em ạ. Anh thành thật chia buồn với em. Chiến tranh thường mang đến những điều không may tột cùng đau đớn mà chúng ta không thể lường trước được. Anh cũng đang cảm thấy có lỗi trong chuyện này.

    ***

    …Đã mấy chục năm qua, khi hằng năm, khắp nơi tưng bừng kỷ niệm chiến thắng 30 Tháng Tư thì tôi lại bị ám ảnh nhớ về hàng trăm dân lành bị tàn sát ở ấp Tân Lập. Cái hố chôn người bây giờ ra sao? Người ta sẽ xử lý nó như thế nào hay để nguyên vậy? Tôi muốn được quay lại đó để thắp nén hương nói lời tạ tội. Vô hình trung việc làm tốt đẹp của tôi đã giúp cho người ta bưng bít tội ác.

    Không! Người dân ấp Tân Lập sẽ khắc vào xương tủy câu chuyện này. Nỗi đau đớn oan khiên lúc đấy chưa thể phải nhòa được. Còn những người tham gia cuộc tàn sát ấy nữa, có lẽ họ cũng vô cùng dằn vặt khi nhận những tấm huân chương do đảng và nhà nước trao tặng sau ngày chiến thắng. Ý nghĩ ấy giúp tôi dũng cảm kể lại câu chuyện bi thương này.

    Sau ngày CS chiếm miền Nam 30 Tháng Tư, 1975, tôi có chụp một kiểu ảnh đang cởi áo, lột sao dang dở. Tôi đem tặng cho một thằng bạn đồng hương chí cốt. Hắn run người, mặt tái mét:

    -Tao không dám nhận đâu, họ phát hiện ra tấm ảnh này quy cho phản động là chết cả lũ!.

    Bạn tôi sợ là đúng. Vì cậu ta là đảng viên. Nhưng điều bạn ấy không hiểu là tôi làm vậy vì cảm thấy hổ thẹn và nhục nhã cho anh bộ đội cụ hồ khi nghĩ tới vụ thảm sát ở ấp Tân Lập……

    Thời gian trôi. Tôi, từ một chàng lính trẻ măng ngày nào bây giờ đã là một ông già với mái đầu hoa râm đốm bạc. Vậy mà tôi chưa nói được câu chuyện lẽ ra phải nói. Đôi lúc tôi âm thầm kể lại cho một số bạn bè tin cậy. Nghe xong ai cũng khuyên “Nói ra làm gì, nguy hiểm lắm đấy.” Và quả thật, sống trong xã hội xã hội chủ nghĩa quái đản này, người ta quen thói bưng bít sự thật. Sự thật không có lợi cho đảng, cho nhà nước chớ dại mà nói ra, bị thủ tiêu hoặc vào tù là điều chắc”.

    Trần Đức Thạch là  cựu phân đội trưởng trinh sát Tiểu Đoàn 8, Trung Đoàn 266, Sư Đoàn 341, Quân Đoàn 4, QĐNDVN.

  • Văn

    CÕI ÂM

    https://www.facebook.com/vth.ntt

    1

    Tôi tốt nghiệp đại học tài chính đúng lúc kinh tế Pháp xuống dốc. Kiếm việc lúc bấy giờ khó ơi là khó, nhớ lại mà rùng mình. Đã tưởng một khi cầm được mảnh bằng trong tay ắt đời phải phơi phới lên hương, thế mà rốt cuộc lũ sinh viên vừa ra trường vẫn phải chạy đôn chạy đáo để xin một việc làm bất kỳ mà không được, khốn nạn là thế. Tôi nộp đơn vào ngành bưu điện là ngành tréo cẳng ngỗng nhất hạng đối với chuyên môn của mình vì chẳng còn đường nào khác. Những người trên thông thiên văn dưới thông địa lý bảo: đó chính là nơi duy nhất tôi có cơ may được nhận.
    Đơn gửi đi rồi, tôi dài cổ chờ. Một tháng. Rồi hai tháng. Đùng một cái, giữa tháng thứ ba, đang lui cui rửa chén ăn lương giờ cho một quán ăn Tàu, tôi nhận được giấy làm việc ở Sermages thuộc vùng Basse Normandie. Mừng khôn tả. Thiếu nỗi phát điên.
    Sermages là một thị trấn nghèo, với hơn trăm ngàn dân, bé tẹo và già lão, nhà cửa ọp ẹp. Ở ven đô còn sót lại một cổng đá hộc đầy hoa phong lữ, một cái hào sâu tối om dưới bóng những gốc tiêu huyền rậm rạp, một pháo đài đổ nát không biết từ thế kỷ nào… Một thị trấn thích hợp với những ông già chờ chết, nhưng không phải với tôi.
    Đồng nghiệp trong sở ăn vận chững chạc, nói năng điềm đạm, có điều rất chi hờ hững với thằng tôi lính mới cứ như thể tôi đã ở bên họ từ khươm mươi niên nào. Nói tóm lại, đó là dân Ăng Lê bên này biển Manche, những robots cổ cồn chính hiệu. Thôi thì đành tự thân vận động, được đến đâu hay đến đó, trời sinh voi trời sinh cỏ. Tôi lấy tạm một phòng hẹp gần sở, trả theo tuần, trong một nhà trọ tồi tàn, có rệp, được mỗn cái giá cũng phải chăng. Từ từ rồi sẽ kiếm cho mình một căn hộ, hoặc một ngôi nhà nhỏ, tôi tính thế. Đã đến lúc phải sống cho ra sống. Chẳng gì bây giờ mình cũng là một viên chức, dù là viên chức quèn. Sermages đâu phải nơi phồn hoa đô hội, giá nhà thuê không thể quá đắt. Vĩnh biệt những chambres de bonnes áp mái ở Paris, mùa hè như trong lò bánh mì, mùa đông tha hồ diện áo ấm trong nhà, nơi trú ngụ của bộ lạc sinh viên nghèo.
    Tìm nhà ở đây tưởng dễ, hoá không phải. Lang thang đến vẹt gót giày trong cái tỉnh lỵ bằng cái giạng đái, nói ngoa theo cách người xưa, thế mà hai tháng qua cái vèo vẫn chưa kiếm được chỗ nào ưng ý. Nhà ở cũng như đàn bà, người mình ưng thì không ưng mình, người ưng mình thì mình lại không ưng.
    May cho tôi gặp được Ngoạn.
    Ngoạn cho biết: ngoài anh và tôi ra, ở chốn đèo heo hút gió này không có một người Việt nào khác. Giúp tôi là nghĩa vụ người đến trước, anh vỗ vai tôi đồm độp, nói bằng giọng đàn anh che chở. Được ăn nhiều thịt hươu thịt vượn từ tấm bé trước khi vượt biên đến xứ này, tôi nghe vậy biết vậy, chứ chẳng mấy tin.
    Thấp, đen, cục mịch, với một sợi lông dài mọc ra từ một nốt ruồi trên má, Ngoạn giữ nguyên dáng dấp một ông phó cối vùng đồng bằng Bắc bộ ngày xưa, mặc dầu anh đã ở Pháp trên hai mươi năm. Ngoạn làm nghề sửa chữa vặt trong nhà, người Pháp gọi là plombier. Một thằng không bằng cấp, lại vợ đầm (tốn hơn vợ ta nhiều), hai con nhỏ (tốn hơn con ta nhiều), làm plombier là tốt nhất, anh bảo thế. Plombier là thợ đặt đường ống, theo nghĩa nguyên thuỷ, nhưng plombier làm tuốt tuột mọi việc linh tinh lang tang như mở khoá hóc, đặt hố xí, sửa chữa cửa rả, chạy dây điện ngầm…

    • Giờ công việc oải lắm, cậu ơi. Kinh tế mà đã xuống thì kiếm tiền bằng nghề chó nào cũng vất – Ngoạn tâm sự trong một quán cà phê, nơi mọi ghế ngoài vỉa hè đều xếp quay mặt ra đường, rất Paris – Cậu ngồi bàn giấy, trông thì bảnh, cơ mà chông chênh lắm… Mất việc lúc nào không biết. Ngay cả với nhân viên nhà nước.
      Tôi buồn rầu hình dung cái viễn cảnh ấy. Dễ như Ngoạn nói lắm.
    • Mất việc thì đi làm với tớ – thấy tôi thở dài, Ngoạn an ủi – Nghề tớ không sang, khó thì khó, vẫn còn có đồng ra đồng vào…
    • Anh Ngoạn ạ, gặp anh tôi thật may.
    • May cái con khỉ. Này, đừng gọi tớ là Ngoạn, phải gọi là Nô Ăng, theo cách bọn Tây gọi, chứ không thì đến con vợ tớ nó cũng không hiểu. Bọn Tây không phát âm được vần ng, chúng nó đổi béng cái tên của tớ thành Noan. Cho tiện. Được nghe cậu gọi tớ bằng tên cúng cơm, thấy đã con ráy.
      Tôi kể nông nỗi đi tìm nhà. Anh gật gù, suy nghĩ.
      Một tuần sau anh gọi điện cho tôi biết đã tìm được một căn nhà ngoại ô.
    • Mình xem mấy cái, ưng được cái này. Một đôi thì vừa xinh. Một mình thì quá rộng. Ở lâu được, không phải kiếm chỗ khác.
    • Nhà nhiều phòng?
    • To đùng.
    • Tôi chưa định lấy vợ. Nhà to thì tiền to, hãi lắm.
    • Đã biết là bao nhiêu mà rộn. Rẻ rề hà.
      Tôi chờ Ngoạn cho tôi biết tiền nhà, nhưng anh không vội nói ra.
      Anh miêu tả căn nhà, bảo:
    • Không sang, được cái rẻ.
      Anh xướng lên giá thuê. Tôi trợn mắt.
      Làm sao Ngoạn có thể tìm được ngôi nhà với giá hời đến thế?
    • Làm plombier chẳng khác gì làm anh cắt tóc, tha hồ nghe, đủ chuyện tào lao thiên tôn. – Ngoạn nhẩn nha giải thích – Chủ nhà nào cũng thế, cũng hay tâm sự vụn trong lúc ngó nghiêng mình làm việc. Nhất là các ông bà già. Mình nói có ông bạn cần nhà, thế là người nọ mách, người kia mách, chỉ còn có việc nhấc điện thoại mà hỏi. Giỏi gì đâu.
      Những ngôi nhà tôi đã xem cái nào cũng đắt, giá thuê nếu không gấp ba trung bình thì cũng gấp đôi. Tiếc nỗi, từ căn nhà ngoại ô này đi bộ đến sở tính ra mất gần một tiếng, gặp xe buýt thì cũng phải hai mươi phút. Xe buýt ở đây thưa, nửa giờ một chuyến, lại hay đỗ vặt.
      Nhà sẵn đồ đạc, nhiều nữa là khác. Đến nỗi Ngoạn định sẻ cho tôi một ít đồ dùng ở nhà anh, rốt cuộc chẳng phải mang đến thứ gì.
      Đưa cho tôi chìa khoá, ông già chủ nhà dặn:
    • Mọi thứ ở đây ông cứ việc dùng. Điều kiện duy nhất là đồ đạc trong nhà xin ông đâu để nguyên đó, đừng xê dịch. Nếu ông không chịu thì coi như vụ này không thành.
      Tôi chấp nhận điều kiện ấy ngay lập tức, như bất cứ người thuê nhà gặp giá rẻ nào. Thế này là tốt quá rồi, khỏi phải lang thang các siêu thị, rẽ vào các cửa hàng đồ cũ, tha lỉnh kỉnh trăm thứ bà rằn về nhà.

    2

    Thế mà rồi tôi quên bẵng lời hứa.
    Ở được vài hôm, thấy cái giường đặt ở vị trí đối diện lò sưởi là không phải lối, tôi quyết định dịch nó ra bên cửa sổ, vừa có nhiều khí trời, vừa nhiều ánh sáng, đi làm về có thể nằm ườn ra đọc sách mà không cần phải bật điện. Cái tivi cổ lỗ, thuộc thế hệ tivi màu đầu tiên, to như một tủ lạnh, cũng cần đẩy qua bên phải một chút, xoay lại vị trí để cái màn hình đã bạc phếch không bị phản quang do ánh sáng từ cửa sổ chiếu vào.
    Một đêm, chợt thức giấc, tôi thấy có bóng người ngồi thu lu trong chiếc ghế bành đặt bên lò sưởi. Nửa tỉnh nửa mê, tôi nhận ra đó là một người đàn ông đứng tuổi vận áo choàng đen, đội mũ phớt. Tôi nổi da gà. Tôi ở một mình, cửa đóng then cài, làm sao có người vào được?
    Trong ánh sáng mờ mờ của sao trời chiếu qua cửa sổ tôi thấy người đó không có vẻ một tên trộm. Trộm gì mà bình thản đến thế trong căn nhà nó đột nhập?
    Những gì tôi đọc được thì trong tình huống như thế này cách xử sự khôn ngoan nhất là vờ ngủ say. Người vờ ngủ say, cả trong nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, trong mọi mối quan hệ cá nhân cũng như quan hệ xã hội, người sống theo nguyên tắc ba không – không biết, không nghe, không thấy – bao giờ cũng tìm được lối thoát an toàn.
    Mắt hé mở, tôi nhìn thấy tên trộm yên vị một lúc lâu trong bóng tối. Ngồi chán, hắn đứng lên, đi đi lại lại, dáng suy nghĩ, đầu hơi cúi, bàn tay phải đưa lên gãi cằm. Rồi đến bên lò sưởi, hắn nhấc từng thứ trên đó lên mà ngắm nghía. Đầu tiên, hắn ngó nghiêng quan sát kỹ tượng cô vũ nữ pha lê với cánh tay trần bị gãy đã được gắn lại bằng keo trong, rồi đến cái bloc lịch bằng gỗ mà thời gian chết cứng với ngày tháng không đổi, thứ lịch không có năm nên không thể biết được nó dừng lại từ năm nào… Trên lò sưởi là cả một lô một lốc đồ không tên, không biết có tự bao giờ, không hiểu được dùng vào việc gì, tất cả chen chúc nhau trên một diện tích bé nhỏ. Cái nào cũng được tên trộm nhấc lên xem xét với vẻ trìu mến. Đáng ngạc nhiên là hắn không bỏ bất cứ thứ gì vào túi. Xem xong cái nào hắn lại nhẹ nhàng đặt vào chỗ cũ. Cái đáng giá nhất trong số những đồ vật ấy là cái ví của tôi, thì hắn thậm chí không thèm cầm lên.
    Sau đó tên trộm đi một vòng căn nhà. Rồi lặng lẽ nhìn về phía giường tôi bằng cái nhìn không mấy thiện cảm, tôi không nhìn rõ nhưng cảm thấy thế bởi điệu bộ lầm lì của hắn.

    • Hừ.
      Hắn phát ra một tiếng duy nhất kể từ lúc tôi thấy hắn.
      Thế rồi hắn bắt đầu cúi xuống. đẩy cái tivi trở lại chỗ cũ. Sau cái tivi là cái ghế bành. Công việc rõ ràng nặng nhọc, tôi nghe hắn thở phì phò. Xong cái ghế, hắn tiến về phía chỗ tôi nằm. Một bầu không khí lạnh lẽo trùm lên tôi, càng lúc càng lạnh hơn, cùng với bước chân nhẹ như bước chân mèo của hắn. Trong khi hắn cố gắng đẩy, tôi có cảm giác thân hình hắn phình to dần, to mãi, trùm lên cả cái giường đang nhích đi từng chút một. Trong bóng đêm dày đặc ở chỗ tôi nằm, cặp mắt hắn gắn chặt vào mặt tôi.
      Tôi hét lên, chồm dậy, giơ tay vớ công tắc đầu giường.
      Đèn bật sáng. Tên trộm biến mất. Tôi run rẩy, mãi mới xỏ chân được vào dép, nhìn quanh căn phòng trống rỗng. Thở hổn hển, người lạnh toát vì sợ, tôi quỳ xuống, ngó vào gầm giường. Chẳng có quái gì hết.
      Tôi đi sang phòng ăn, vào bếp, vào phòng ngủ vẫn để trống từ khi tôi dọn đến. Không có gì hết. Kiểm tra lại mọi khoá cửa thấy vẫn y nguyên.
      Tôi ngồi phịch xuống giường, toàn thân ướt đẫm mồ hôi lạnh.

    3

    Tôi không kể cho Ngoạn nghe chuyện xảy ra. Tôi ngượng. Khi người đàn ông sợ ma, thiên hạ sẽ nhìn hắn như con nít.
    Câu chuyện ban đêm tôi vừa kể không phải đến đấy là hết. Sau lần ấy là những lần khác.
    Bây giờ tôi đã biết đích xác tên trộm là ai – một hồn ma. Ma thật sự. Các nhà bác học đeo kính trắng trong các phòng thí nghiệm giải thích hiện tượng hồn ma theo đủ mọi cách, thậm chí với những sở cứ có vẻ khoa học, tôi đã đọc. Nhưng tôi là thằng thực tiễn – tôi thừa nhận cái tôi thấy, giải thích cách gì đối với tôi cũng bằng thừa.
    Khốn nạn cho tôi là ở chỗ, sau khi thừa nhận sự hiện hữu của con ma nọ, tôi chẳng biết phải làm gì nó? Đánh nhau với nó thì không được rồi – ai cũng biết ma chỉ là cái bóng. Chỉ còn nước bỏ ngôi nhà này mà đi? Để rồi bắt đầu lại, một lần nữa, cuộc lùng kiếm chỗ ở mới, rất mất thời giờ, nghĩ đến đã phát ớn?
    Hồn ma nọ còn hiện về vài lần nữa, lần nào cũng như lần nào, với những cử chỉ lặp lại. Hắn rõ ràng chẳng có ý làm khó cho tôi. Hắn lẳng lặng làm công việc hắn muốn làm, và chỉ có thế. Như tôi đã kể, hắn hiền lành cầm các đồ vật lên ngắm nghía, hì hục đẩy các đồ bị xê dịch về chỗ cũ, một cách bực dọc và hoàn toàn vô tích sự – hôm sau tôi vẫn thấy chúng ở nguyên chỗ. Hắn có vẻ một hồn ma đứng đắn. Mọi cử chỉ của hắn đều khoan thai, chững chạc.
    Thôi thì thây kệ, tôi nghĩ, mặc cho hắn làm cái việc hắn muốn. Xét cho cùng, sự hiện diện của hắn đâu có gây ra điều gì tệ hại cho tôi? Nếu hồn ma không đủ sức đẩy đồ vật thì hắn có thể làm được gì với tôi, một thằng người trên sáu chục kí lô?
    Có điều sau mấy lần quan sát hắn đánh vật với mấy thứ bị tôi dịch chuyển, tôi đâm ra ái ngại cho hắn. Hắn quá vất vả. Mà hoài công. Nếu là tôi, tôi sẽ vứt ngay cái công việc vô tích sự và mất sức ấy. Hì hục như thế để làm gì cơ chứ?
    Còn tôi, tại sao tôi không thể giúp hắn một chút? Gì thì gì, để hắn khốn khổ thế là không nên. Làm người phải có lương tâm. Nghĩ rồi, tôi làm liền, tức là đẩy trả lại mấy đồ vật về chỗ mà hắn muốn.
    Đêm đến, hồn ma nghiêng ngó ngắm nghía cái tivi, cái ghế bành, cái giường. Hắn phát hiện ra sự thay đổi vị trí. Hắn tỏ vẻ hài lòng. Thay vì kiểm lại những đồ vật trên lò sưởi, hắn đi bách bộ trong phòng. Trông dáng đi của hắn, nhẹ nhàng chứ không uể oải, hơi nhún nhẩy nữa là khác, tôi biết hắn vui. Hình như hắn còn huýt sáo miệng nữa.
    Cuối cùng, xoa hai tay vào nhau, hắn quyết định đi về phía tôi nằm.

    • Này ông bạn!
      Tôi nghe hắn dừng lại ở chân giường.
    • Đừng có giả vờ, tôi biết thừa…
    • Hừm, – tôi ọ ẹ – Tôi ngủ hay tôi thức mắc mớ gì tới ông?
    • Ông bạn này – hắn định đặt tay lên vai tôi, nhưng nghĩ sao, hắn rụt tay lại – Dậy đi!
    • Hừm – tôi lại nói.
      Lạ một cái là tôi không cảm thấy sợ như lần đầu thấy hắn. Nhìn vóc dáng hắn thì thấy hắn đã ở tuổi về già. Hắn có vẻ hiền lành, không phải là loại trẻ để có thể giở trò nghịch ngợm vô trách nhiệm.
    • Ông bạn tốt hơn là tôi nghĩ đấy.
    • Hừm – tôi đáp, vẫn nằm yên chỗ.
    • Này – hắn gọi tôi – nhà có cà phê không?
    • Cà phê hử? Có – tôi che miệng ngáp, vẫn giả giọng ngái ngủ.
    • Tuyệt! – hắn nói, lại xoa hai tay vào nhau, vẻ hài lòng.
    • Capuccino, được không? – tôi hỏi hắn một cách không nhiệt tình.
    • Capuccino? – hắn hỏi lại.
    • Có hộp capuccino hoà tan đấy. Ở trong tủ…
      Hắn nhún vai:
    • Capuccino hoà tan? Ồ, không, tôi không bao giờ xài loại ấy.
    • Tôi không có thứ nào khác.
    • Cả đời tôi chỉ uống expresso. Không dễ gì mà bỏ một thói quen lâu ngày như thế.
      Đúng là một hồn ma Pháp. Hồn ma Anh sẽ không đòi cà phê, mà trà sữa.
    • Ờ, thói quen là thứ không dễ bỏ – tôi lầu bầu – Nhưng đào đâu ra expresso bây giờ? Phải ra tận ga mới có một quán cà phê đêm, ông ơi. Mà là cà phê Thổ, loãng toẹt.
    • Đi uống cà phê vào giờ này ấy à? Có mà điên. Nhà có cà phê bột không?
    • Có. Tôi mới mua, hàng hạ giá. Pha kiểu Thổ ư?
      Hắn lắc đầu:
    • Không. Tôi không thích. Trong nhà có máy pha expresso, ông không biết à?
    • Không.
    • Có đấy. Để tôi chỉ cho ông bạn. Hoá ra ông là một thằng lười – hắn càu nhàu – Ở trong nhà ngần ấy thời gian mà không thèm biết có thứ gì, ở đâu…
    • Cái đó đúng, tôi vốn lười.
    • Dậy đi!
      Tôi uể oải ngồi dậy. Trong phòng tối om. Tôi sờ soạng tìm công tắc điện. Hồn ma giơ tay ngăn:
    • Đừng bật đèn. Tôi không thích ánh sáng. Thắp nến đi, nếu ông muốn. Ông biết nến ở đâu chứ?
    • Không.
      Hắn cười hí hí, hoặc tôi có cảm giác như thế. Tôi nghe thấy tiếng của tôi phát ra, chứ tiếng của hắn thì không. Tưởng chừng nghĩa của câu nói phát ra từ miệng hắn đi thẳng vào nhận thức của tôi, thứ lời nói không mảy may làm rung động không khí.
      Hắn dẫn tôi vào căn phòng nhỏ, thứ phòng chứa đồ, mà tôi chưa hề ngó tới vì sự ngổn ngang trăm thứ bà rằn trong đó. Hắn chỉ cho tôi chỗ để mấy hộp nến. Rồi hắn chỉ tiếp cho tôi lấy ra trong hộc một cái tủ xiêu vẹo, một cái máy pha cà phê Krups nằm bên dưới đủ thứ đồ tập tàng. Thứ máy cổ lỗ sĩ này chẳng còn ai dùng, áp suất hơi của nó quá thấp.
      Tôi vào bếp, bật ga, đun nước. Hắn uống cà phê, còn tôi sẽ uống trà đen. Uống cà phê lúc này có mà thức đến sáng.
      Hắn đứng gần tôi, ngay bên cạnh. Tôi rất muốn nhìn xem mặt hắn thế nào, mà ngại. Biết chỗ để nến rồi tôi cũng không muốn thắp lên là vì thế. Tôi sợ nhìn thấy một cái đầu lâu với hai hố mắt sâu hoắm như những hồn ma trong phim kinh dị của Mỹ. Những hồn ma Mỹ thường giống nhau, chắc hẳn do người Mỹ tiết kiệm, phim nọ dùng lẫn chế vật của phim kia. Một cái đầu lâu dưới vành mũ sùm sụp chắc hẳn rất gớm ghiếc. Hình như hắn dễ coi hơn, dưới vành mũ là một cái mặt chứ không phải một cái đầu lâu, tôi nhác thấy nó trong một thoáng, do vô tình, lúc chúng tôi đi song hàng.
      Hắn hài lòng thưởng thức ly expresso. Hắn uống chậm, từng hớp nhỏ. Với tư cách chủ nhà, tôi hài lòng thấy khách hài lòng. Chúng tôi ngồi cách nhau mấy bước, hắn – trong ghế bành, tôi – trên ghế tựa.
    • Ông bạn, e hèm, biết nói thế nào nhỉ, ừm…
    • Sao?
      Hắn gãi đầu:
    • Tức là, tôi muốn nói, ông là người, hì hì … kể ra… cũng được đấy!
    • Ông quá khen.
      Hồn ma gật gù:
    • Trước hết, tôi phải cảm ơn ông.
    • Ơn huệ gì!
    • Ơn chứ. Rốt cuộc, rồi ông đã chiều theo ý tôi trong việc trả lại mấy thứ nọ về chỗ cũ. Tính tôi thế: tôi không thể nào chịu được khi thấy đồ đạc bị di chuyển khỏi chỗ mà tôi đã chọn cho chúng.
    • Có thể đó là một tính tốt. Ít nhất thì nó cũng là một cái quyền mà người ngoài không nên xâm phạm.
      Hắn cười.
    • Tôi không nghĩ rằng ông làm việc tốt cho tôi nhờ lý trí mách bảo. Ông hiểu chứ? Hừm, biết nói thế nào nhỉ, ở ông ấy, trong việc làm tốt đối với tôi có sự dự phần của tấm lòng, nhờ vào khả năng biết cảm thông với tha nhân, hay nói cách khác, khả năng tìm ra cách hành xử phải đạo do biết đặt mình vào vị trí kẻ khác….
      Lời khen của hắn làm tôi bối rối. Tôi ngượng.
    • Đó chẳng qua là sự lui bước của tôi trước sự kiên trì đáng nể của ông thôi. Hoặc là sự thoả hiệp với tình thế bất khả kháng…
      Hắn nhún vai:
    • Ông khiêm tốn. Điều đó có lợi cho ông. Nhờ khả năng đáng quý ấy ông vượt qua được cảm giác sợ…
    • Tôi chưa hiểu ý ông.
    • Có gì mà không hiểu. Ông thú nhận đi, lần đầu ông thấy tôi ông đã sợ tôi, sợ muốn chết…
      Hắn dùng thời quá khứ khi nói rằng tôi đã sợ hắn. Quả thật bây giờ, không hiểu sao, cảm giác ấy không còn. Tự nhiên, tôi không thấy sợ hắn nữa.
      Nghĩ cũng lạ, thoạt đầu tôi còn hơi sợ một tí, giờ thì không sợ chút nào. Tôi lý luận: nếu không phải một vật thể, cái bóng ngồi trước mặt tôi kia chỉ là một khái niệm. Sợ một khái niệm là dở hơi. Ma, với tôi, và với rất nhiều người, chỉ là một khái niệm. Còn hơn thế, một khái niệm rất đỗi mù mờ.
    • Vâng, tôi đã sợ ông. – tôi gật đầu – Đúng thế. Nhưng khi thấy ông quá vất vả xử lý mối mâu thuẫn giữa hai ý muốn của tôi và của ông, thì tôi đâm ra ái ngại.
    • Hay thật!
    • Khi tôi ái ngại thì cảm giác sợ hãi biến dần. Rồi hết. Ở đời, ông ạ, xét cho cùng, có lắm cái đáng sợ hơn nhiều…
    • Chính xác – hắn gật gù.
    • Có thể còn có một nguyên do khác. Ông không biết chứ tôi đã từng sợ, sợ nhiều thứ, sợ bóng sợ gió, sợ tất cả, sợ lắm lắm.
    • Mon Dieu, Trời ạ.
    • Không phải mình tôi, cả thế hệ chúng tôi sợ, còn hơn thế, cả một giống nòi tôi sợ, ông hình dung nổi không: cả-một-giống-nòi? Không hả? Chúng tôi được huấn luyện từ tấm bé để mà sợ.
    • Có chuyện ấy à?
    • Kết cục là chúng tôi không phải chỉ sợ cái đáng sợ, chúng tôi còn sợ cả những cái chẳng có gì đáng sợ nữa. Trong ngôi nhà của mình, chúng tôi đi lại len lén. Trong thành phố của mình, trong nhà của mình chúng tôi nói chuyện với nhau bằng giọng thì thào, nhìn trước nhìn sau, chúng tôi theo dõi những câu nói của chính mình, lúc nào cũng e phạm phải điều gì cấm kỵ, và lo lắng nhỡ điều đó bị phát giác, bị bẩm báo…
    • Khiếp. Đến thế kia ư?
    • Hì hì, tôi biết mà, ông mù tịt về cái đó, ai không nếm trải nỗi sợ ấy người đó chắc chắn không hiểu nổi. Cả ông nữa, ông cũng không phải ngoại lệ, cho dù ông có là… – tôi định nói “cho dù ông có là ma”, nhưng kịp kìm lại – Tuy nhiên, cái gì cũng có giới hạn. Khi sợ quá nhiều và quá lâu, người ta ắt trở thành dạn dĩ, chẳng sớm thì muộn…
      Nhìn hơi nước lởn vởn trên miệng tách cà phê của hắn, tôi nhắc:
    • Ông uống đi kẻo nguội.
    • Tôi đang uống đây. – hắn nói và cúi xuống nhắp một ngụm – Phải thú thực với ông: khi thấy ông sợ tôi, tôi cũng khoái. Đến khi ông không sợ nữa, thì, ông biết không, tôi hơi buồn một chút. Con người ta bao giờ cũng khoái được thấy người khác sợ mình. Ông nói tiếp về cái sợ của ông đi.
      Hắn nói “con người ta” ngon lành, như thể hắn không phải là ma.
    • À, cái sợ… Nó khủng khiếp một cách âm thầm. Tức là, người ta sợ đấy, mà bề ngoài thì như không. Tôi biết có người chỉ nói hớ có một câu xét cho cùng là vô thưởng vô phạt, vậy mà anh ta sợ đến phát khùng, anh ta cứ đinh ninh rồi sẽ phải trả giá đắt cho câu nói ấy, anh ta dỏng tai nghe ngóng mọi phản ứng, cho đến khi biết chắc rằng chẳng ai nghe thấy nó hết…
    • Sợ là một xúc cảm tồi tệ. Tệ hơn bất cứ cảm xúc nào – hắn trầm ngâm – Nó hạ thấp con người.
    • Đúng thế. Điều khả dĩ có thể an ủi ta là kẻ bắt người sợ mình xét cho cùng lại chính là kẻ cũng sợ… một kẻ khác chẳng hạn. Thật vớ vẩn, phải không ông?
      Tôi triết lý vụn, rồi cười cái triết lý của mình. Hắn gật gù cười theo.
    • Ông có thể kể cho tôi nghe đôi điều về cái mà chúng tôi gọi là cõi âm của ông không? – cà phê kích thích tôi, hay là cái gì khác: nỗi buồn man mác chợt đến trong đêm, hay nỗi chán ngán một cái gì không biết và còn hơn thế, không hiểu – Với tôi, câu trả lời của ông hẳn sẽ rất thú vị.
    • Ông nói ông lười cả tò mò cơ mà.
    • Tôi vẫn lười, cả trong sự tò mò này. Nếu ông không muốn kể, tôi sẽ chẳng vật nài. Tôi không tò mò đến cùng. Tôi chỉ tò mò nhân tiện mà thôi.
      Hắn có vẻ suy nghĩ. Trong bóng tối tôi vẫn chưa thấy mặt hắn. Nửa trên bị vành mũ che khuất, còn nửa dưới thì lẫn vào màu đêm.
    • Chẳng có gì đặc biệt đâu ông ơi. – hắn nói sau một ngụm cà phê – Nó, cõi âm, chỉ là cái âm bản của sự sống mà ông biết. Các ông sống, còn chúng tôi sống lại cái sự sống đã qua. Những cư dân của cõi âm không bao giờ biết đến cái gọi là tương lai. Đối với chúng tôi tất cả đều là quá khứ. Chúng tôi sống trong cái khuôn của thời hiện tại-quá khứ nơi mỗi người.
    • Tại sao lại như thế?
      Hắn cười hích hích:
    • Tại sao, tại sao? Ông cứ như một đứa trẻ vậy.
    • Nhưng mà tại sao chứ?
    • Tại vì chúng tôi đã có tất cả những gì chúng tôi từng có, từ điểm khởi đầu cho tới chỗ kết thúc. Chúng tôi chỉ tồn tại bên trong biên cương của cái khoảng ấy mà thôi.
    • Thế thì chán quá nhỉ?
      Hắn có vẻ phật ý:
    • Không chán hơn nơi người sống đâu. Ông không gặp những người còn sống phây phây mà cuộc đời lại gắn chặt với quá khứ đến nỗi gỡ không ra à?
    • Ờ, cái đó quả có thật. Chẳng hạn như lão tổng thống quá cố của chúng tôi, những năm cuối đời lão ta chẳng biết làm gì khác ngoài việc vỗ ngực khoe những việc lão làm… Mà có tốt đẹp gì cho cam.
    • Tôi biết lão – hắn ngắt lời – Ở cõi âm chúng tôi di chuyển nhanh lắm, như chớp ấy, hoặc nói theo cách bây giờ, nhanh hơn ánh sáng, ông không tưởng tượng nổi đâu. Nhưng tôi không khoái chơi với lũ ngợm ấy. Tôi tởm. Có một thằng cha lúc nào cũng lảm nhảm “Bóp chết từ trong trứng! Cho tuốt vào nhà đá! Bắn bỏ!”, hắn la hét suốt. Khốn nạn, có hồn ma nào buồn nghe hắn đâu. Tuy nhiên, về một mặt nào đó, chúng tôi giống nhau, đáng chán là thế … Tuy chúng tôi không sống bằng quá khứ như hắn, nhưng tựu trung mọi hồn ma đều là những kẻ sống trong quá khứ…
    • Thế còn cháo lú? – tôi rụt rè hỏi – Chuyện đó thế nào?
    • Cháo lú? – hắn hỏi lại – À, tôi hiểu rồi. Ông muốn nói cái món súp miễn phí ở đầu đường vào cõi âm.
      Tôi ngạc nhiên:
    • Vào cõi âm cũng phải đi qua một cái ngưỡng, tựa hồ biên giới giữa các quốc gia sao?
      Hắn nhìn tôi, tủm tỉm:
    • Đại khái vậy. Nhưng cõi âm là một quốc gia đặc biệt, ở đấy không có bất cứ sự phân biệt nào trong mọi nhóm dân cư của nó, không màu da, không chủng tộc, không giàu nghèo, không có sự phân biệt giữa VIP và dân thường. Đi vào đó không phải trình hộ chiếu có visa…
    • Có phải ăn cháo lú xong thì linh hồn sẽ quên sạch mọi sự đời?
    • Không một thứ thuốc an thần nào có thể sánh với nó, cái cháo lú ấy – hắn nói với giọng pha chút khoe khoang – Ông tưởng chỉ ở cõi âm mới có cháo lú sao? Ở cõi dương cũng có đấy. Nó được trộn lẫn vào các bài báo, các làn sóng phát thanh, các chương trình truyền hình, các cuốn sách…
    • Ồ, cái đó thì tôi biết quá đi chứ!
    • Ở cõi dương cháo lú còn có một chút lừa mà người tỉnh táo biết được, ở cõi âm người ta không lừa ai. Ai chả biết rằng cuộc đời nào cũng vậy, chẳng nhiều vui thú, húp một đĩa cháo lú là sẽ quên sạch mọi ưu sầu. Nó chẳng qua là thứ cháo thí cho những linh hồn đau khổ. Chao ôi, ông không tưởng tượng nổi đâu. Các linh hồn xô đẩy, chen lấn, tranh nhau thứ cháo miễn phí ấy. Cảnh tượng phải nói là khủng khiếp. Thậm chí họ còn xô đẩy nhau để được nhận suất cháo phát chẩn, nhà bếp luôn tay múc không kịp…
    • Còn ông?
    • Không. Tôi không húp.
    • Tức là, không bắt buộc?
    • Đâu có. Bắt buộc chứ. Nó là cái lệ cho tất cả.
    • Nhưng bằng cách nào ông không…
    • Dương sao âm vậy, ông ơi, đã không muốn thì cũng có cách để tránh. Mấy anh chàng trông coi vụ phát chẩn cũng như những công chức, họ chắp tay sau lưng đứng nhìn, thỉnh thoảng la hét vài tiếng lấy lệ. Chỉ cần láu cá một chút, lăng xăng thay đổi chỗ xếp hàng, làm ra vẻ mình đã húp rồi… Bọn lãnh tụ, vua quan mà tôi nói ấy, sở dĩ còn nhớ quá khứ là vì chúng vẫn giữ nguyên thói trí trá khi còn sống.
    • Hay nhỉ? Tôi hiểu. Vì không ăn, ông nhớ được tất cả?
      Hắn gật. – Ờ… Tôi giả vờ húp vội húp vàng cho xong – im lặng một lát, hắn tiếp -Lừa lúc thiên hạ không để ý thì quay mặt đi mà nhổ ra.
    • Nhưng ông vừa nói: thứ cháo đó tốt. Nó có mục đích nhân đạo.
    • Ông nói “nhân đạo”? Những kẻ chế ra cháo lú, ở cõi dương cũng như ở cõi âm đều muốn mọi người nghĩ chúng nhân đạo, chúng làm tốt cho mọi người. Ông hãy hình dung một con người không nhớ gì hết, không còn phân biệt tốt xấu hay dở, không biết mình là ai…
    • Ờ nhỉ, thế thì chán thật.
    • Tôi không húp vì tôi còn mấy việc dang dở. Tính tôi thế, làm cái gì chưa xong thì trong lòng bứt rứt. Chẳng hạn như cái tượng vũ nữ ba lê này. Tôi rất thích nó. Đặt nó lên đĩa hát đang quay, trông nó sống lắm, cứ như nó đang múa thật. Một hôm tôi vô ý đánh rơi, làm nó gãy một tay. Tôi đã thử gắn lại bằng mọi thứ keo, chẳng cái nào cho hiệu quả ưng ý. Ông nhìn kỹ thì thấy cái tay gãy tôi gắn hơi lệch.
    • Ông muốn làm nốt những việc ấy?
    • Phải. Nhưng tôi nhầm.
    • Ông không gắn lại được?
      Hắn buồn bã thở dài:
    • Nhầm là nhầm thế này. Đã vào trong cõi âm rồi thì mọi việc trần thế là xong tuốt, chẳng còn cái gì làm tiếp, làm thêm, được nữa. Chỉ có thể nhớ lại thôi. Nhưng nhớ tuốt tuồn tuột quá khứ, cái gì cũng nhớ, thì ngán lắm. Những bước gian truân mình đã nếm trải nay lại trở về với nó lần nữa, rồi lần nữa, như một cuốn phim phải xem đi xem lại… Hay một cuộc tình đã xa, nay tự nhiên phải nhớ lại, chẳng cần ai nhắc cũng nhớ, với đầy đủ chi tiết, và hàng trăm lần y như nhau… Ối giời, mệt vô cùng. Người tình của mình thì đã húp sạch sành sanh đĩa súp lú, gặp mình, nàng ngơ ngác: “Ủa, ông là ai”?
      Một đêm khác, tôi hỏi hắn:
    • Ông bạn này, một con ma, xin lỗi, tôi muốn nói một linh hồn, có thể phù hộ cho một con người không?
    • Ông định lợi dụng tôi đấy hử? – hắn chặn ngang, cười hích hích – Ông định nhờ tôi cái gì đây? Một dãy số loto độc đắc? Một áp phe có lợi?
    • Không, ông hiểu nhầm rồi – tôi vội vã cải chính – Tôi không có ý ấy. Tôi chỉ tò mò thôi.
    • Ông tò mò hơi nhiều – hắn hấm hứ.
    • Chả là tôi muốn kiểm chứng điều thiên hạ tin – đành phải phân trần với hắn – Ông không thấy những người đến với Chúa, với Phật cùng mọi thứ thần thánh trong mọi thứ đền thờ không phải chỉ để tỏ lòng ngưỡng mộ, sùng kính hay sao? Ông không biết rằng họ đến đấy chỉ để mua bán sao? Họ mặc cả với tất tần tật các thứ đấng thiêng liêng: nếu tôi được hưởng ân huệ của các vị, tôi hứa sẽ cúng các vị cái này cái kia. Cái này hay cái kia ấy bao giờ cũng phải lớn tương xứng, hoặc nhiều hơn, so với ân huệ mà họ chờ đợi được hưởng… Ân huệ to thì vật hiến tế phải to.
    • Tôi biết chứ – hắn nhún vai – Nói đến cái lũ khốn nạn ấy làm gì!… Bậy! Bậy hết. Lũ ấy nghĩ về thần thánh của chúng, hệt như thần thánh là những chủ tiệm ở chợ trời, có thể mặc cả thoải mái.
    • Cũng có người nhờ cầu khẩn mà được đấy.
    • Đó là sự trùng hợp của những ngẫu nhiên. Người chết rồi, linh hồn, hay là ma, không trừ cả thần thánh, cũng y như tôi đây này, chẳng có sức lực gì hết, chẳng làm nổi cái gì hết. Ông thấy rồi đấy, chỉ đẩy một cái ghế dịch đi một li mà tôi cũng không làm nổi…
      Lời thú nhận của con ma thực thà na ná một dạng báng bổ.
    • Tôi hiểu rồi, vì thế ông chỉ còn cách ngắm nghía các đồ vật xưa cũ cho hết ngày, à quên, hết đêm, phải không?
    • Tôi còn biết làm cái gì khác hở ông bạn thân mến? – hắn nhún vai trước câu hỏi, theo hắn là dớ dẩn – Nó là cái nghiệp của tôi. Đồng thời, khốn nạn cho tôi, cũng lại là thú vui của tôi.
      Nghe giọng hắn thì biết hắn lại bực mình. Lý luận gì mà lăng nhăng, cù nhầy, chắc hắn nghĩ thế.
    • Ông không thấy những người sống cũng có cái thú vui ấy ư? – hắn nói tiếp, không phải hắn hỏi – Có một thằng cha ở gần đây này, tôi không quen hắn, nhưng tôi quen bố hắn. Hắn viết được độc một cuốn sách, đưa ra những ý tưởng điên rồ, lạ tai lạ mắt, bằng cách chửi khắp thiên hạ, gây ra được một sự ồn ào khá lớn ở những kẻ đần độn, hắn khoái lắm. Nói cho đúng, người khen thì ít, người chê thì nhiều. Thiên hạ bình phẩm thế nào hắn tuyệt nhiên không biết, không thèm biết. Thấy người ta chửi nhiều, hắn càng đinh ninh hắn là nhà tư tưởng lớn. Là nhà tư tưởng lớn thì tất nhiên không phải ai cũng hiểu. Thiên hạ càng chửi nhiều hắn càng thích. Hắn cần cái đó – càng bị chửi nhiều thì càng nổi tiếng, một thứ quảng cáo không công mà. Lâu không thấy có ai chửi thì hắn buồn xo. Cả ngày hắn bận bịu với việc cắt những dòng tán dương hắn trong những bức thư độc giả gửi cho hắn để dán vào một cuốn vở dày cộp, ký tên vào những cuốn sách, bìa cứng hẳn hoi, để gửi cho những người hắn có thể gửi mà không bị trả lại. Hoặc kỳ cạch gõ những lời giáo huấn cho những độc giả còn ngưỡng mộ hắn.
    • Hay nhỉ?
    • Đêm nào hắn cũng hí hoáy làm công việc đó, đến nỗi một ông bạn tôi nhầm, tưởng hắn cũng là ma như mình, mới hiện ra bắt quen. Chỉ đến khi thấy hắn hét lên, lăn đùng ra bất tỉnh nhân sự, ông bạn tôi mới biết hắn là người sống…
      Con ma cười ha hả, tay liên tục vỗ đùi, nhưng không thành tiếng.

    4

    Rốt cuộc rồi tôi cũng phải thú thật với Ngoạn về hồn ma nọ sau mấy lần anh nhận xét về sức khoẻ sa sút của tôi.

    • Sắc mặt cậu xấu lắm. Xanh, má hóp. Sao vậy?
    • Dạo này tôi kém ngủ.
    • Phải tìm ra nguyên nhân mà giải quyết.
      Chúng tôi đã trở thành thân tình hơn kể từ sau khi anh kiếm chỗ ở cho tôi. Mỗi khi có công việc nặng, cần người phụ, vào những ngày nghỉ cuối tuần anh gọi tôi giúp anh. Gọi là giúp chứ công việc xong anh thanh toán đàng hoàng. Anh hơn tuổi tôi, anh tự cho phép anh gọi tôi bằng “cậu”. Chị Jeanette, vợ anh, và hai cháu thì toa moa với tôi, như người trong nhà.
      Đúng là tôi có ít ngủ thật. Những buổi trò chuyện với hồn ma thường kéo dài. Chứ âm khí âm khiếc quái gì đâu. Ngủ ít thì má hóp. Không thể đổ lỗi cho hồn ma. Hắn đâu có đòi nói chuyện với tôi. Những hôm bận công việc ở sở, về đến nhà, tôi ăn xong là lăn ra ngủ, hắn cũng chẳng đánh thức. Nửa đêm tỉnh dậy, thấy hắn thì chúng tôi cũng chỉ chào nhau một tiếng như hai người láng giềng lịch sự. Tôi mới là kẻ chủ động gợi chuyện, trong khi hắn lại là kẻ kiệm lời. Những câu chuyện với hắn, mỗi khi có, đều thú vị.
      Nghe tôi kể, anh hỏi:
    • Hắn không làm gì cậu thật?
    • Không.
      Ngoạn mở to mắt.
    • Không doạ nạt?
      Tôi lắc.
    • Không.
    • Hắn có làm gì khác không?
      Câu hỏi làm tôi phải suy nghĩ. Hắn còn làm gì nữa nhỉ? Không, hắn chỉ chuyện vãn, thế thôi.
    • Hoàn toàn không!
    • Hoàn toàn không?
      Tôi lại lắc.
    • Vô lý.
      Ngoạn ra chiều suy nghĩ.
    • Cậu phải tìm một cái nhà khác – anh bảo – Ở đấy nguy hiểm. Âm dương cách biệt, người là người, ma là ma, ở lẫn với nhau không được.
    • Tôi nghĩ không cần thiết – tôi nói – Hắn chẳng làm gì hại tôi.
    • Cẩn tắc vô áy náy. Không sao, tôi lại tìm nhà cho cậu lần nữa.
      Anh quyết định ngủ lại nhà tôi một đêm xem hư thực ra sao.
      Nửa đêm, con ma đến, chẳng tỏ vẻ ngạc nhiên thấy có người lạ mặt ở trên giường tôi. Ngoạn nằm im thin thít.
      Sáng ngày ra anh bảo tôi:
    • Nói không biết cậu có tin không, hoá ra tôi đã gặp con ma này.
    • Bao giờ?
    • Lâu rồi. Dễ trên chục năm trước. Hồi mới lập gia đình, tụi tôi nghèo lắm. Đêm đến tôi luôn lượn lờ trong khu nhà giàu – họ thường vứt đồ cũ ra hè. Để kiếm cái dùng, vậy đấy. Có nhiều thứ người ta vứt không phải cũ hẳn, nhưng ở đây thế, cứ dọn đến nhà mới là người ta thay tất tật. Cũng có khi là đồ dùng của người vừa chết, thân nhân không muốn giữ lại, không phải họ tin nhảm, mà vì không thích để những nhìn thấy những đồ vật của người thân đã qua đời, nhiều thứ còn mới nguyên, mà có cũ đôi chút thì cũng còn tốt chán với mình. Đi nhặt mấy thứ đồ bỏ ấy không ai đi ban ngày, xấu hổ chết được…
    • Anh đã gặp con ma này trong những lần đi kiếm đồ Tây quăng?
    • Đúng hắn, với cái mũ phớt sùm sụp, với dáng dấp ấy, như đêm qua tôi thấy. Không lẫn được. Tôi không nghĩ hắn là ma.
    • Hồi đó hắn còn là người sống.
    • Có thể lắm.
    • Hắn chắc cũng đã nhận ra anh, nếu gặp?
    • Hừm, biết đâu đấy, chúng tôi chạm trán luôn, nhưng cố tránh không nhìn mặt nhau. Dân đi nhặt đồ đều thế. Họ không bao giờ chào nhau, gặp vài lần cũng cứ lờ đi, không coi nhau là đã quen… Thậm chí vớ được thứ đồ tốt một mình không khuân nổi cũng không dám nhờ nhau, cứ đứng canh đấy cho tới khi vắng người mới chạy đi tìm cabin điện thoại báo cho người nhà biết để ra khiêng cùng…
    • Anh có thấy hắn nhặt gì không?
    • Không. Hắn cứ lượn lờ quanh đám đồ bỏ, tôi chưa thấy hắn nhặt thứ gì. Con ma này phải trị mới được.

    5

    Con ma cũng nhận ra Ngoạn.
    Hắn bảo tôi, cười hì hì:

    • Ông Nô Ăng. Tôi biết ông ấy quá mà. Tôi giả vờ không nhận ra ông ấy thôi. Chúng tôi gặp nhau luôn. Tôi hồi ấy là một anh ký quèn ở sở hoả xa. Ông biết cái ga Sermages rồi. Gọi là ga cho nó oách, chứ ga ghiếc cái quái gì một khối bê tông xám xịt chỉ nhỉnh hơn trạm biến thế một chút. Ông Nô Ăng bạo gan đấy. Có điều ông kể cho ông ta nghe về tôi làm gì?
    • Có cần phải giữ bí mật về ông không?
      Hắn lắc đầu:
    • Không. Không cần. Tôi là cái có đấy mà không đấy. Nói cách khác, tôi là cái vừa hiện hữu vừa không hiện hữu. Nói về tôi hay không nói về tôi thì cũng thế mà thôi. Chỉ người sống mới có bí mật. Ở chỗ chúng tôi mọi linh hồn đều như cởi truồng trong một cái lồng kính, linh hồn này biết hết về linh hồn kia…
    • Chán quá nhỉ?!
      Hắn cười hích hích.
    • Nhưng các linh hồn thường chỉ biết về những gì linh hồn khác đã làm khi họ còn ở cõi dương… Và chỉ ở những linh hồn không húp hết đĩa cháo vô vị.
    • Ông bảo: các linh hồn chỉ lặp lại những gì họ làm khi còn sống?
    • Ý tôi là: linh hồn chỉ lặp lại thói quen. Những gì họ làm trong cõi âm các linh hồn có thể biết mà cũng có thể không biết, tựa như ở cõi dương vậy – người này không thể biết tất tần tật về người kia. Đôi khi linh hồn cũng làm một cái gì đó chứ, nhưng nó chỉ làm được cái ấy nếu như khi còn sống nó từng làm. Linh hồn, ông bạn ạ, chỉ là cái bóng mờ của quá khứ. Nó khoái lắm nếu có ai tưởng nó có khả năng hành động. May cho các ông, những người sống. Chứ không à? Cứ thử nghĩ mà xem, nếu những thằng đểu chết rồi vẫn tiếp tục đểu được với người sống, thì sao?
      Tôi hoàn toàn đồng ý với hắn:
    • May thật!
    • Ông không nên kể về tôi với ông Nô Ăng.
    • Ông đã nhắc tôi rồi.
    • Ông ấy là người tốt, nhưng ông ấy không vượt qua được định kiến: một con ma là một con ma. Ma là cái người ta không hiểu được. Khi không hiểu được thì người ta nghĩ nó xấu xa, nó không tốt.
    • Tôi không nghĩ ông bạn tôi tồi đến thế. Ông ấy chỉ lo cho tôi thôi…
    • Ông ấy hiểu lầm do không hiểu biết. Nhưng lại tưởng mình biết hết. Trong thực tế, cái ông ấy tưởng mình biết lại là cái hiểu lầm mượn của người khác…
    • Ông có những ý nghĩ hay đáo để.
      Hắn cười khà khà. Cảm giác là thế, chứ không có tiếng.
    • Ông khác, ông không có định kiến. Một ưu điểm đấy. Ông lại còn biết thông cảm nữa…
      Hắn nói tiếp, đượm chút buồn rầu:
      -… dù là thông cảm với một con ma…

    7

    Ngoạn nói anh sẽ mời một đội bắt ma thiện nguyện để tống con ma khỏi nhà tôi.
    Tôi phản đối kịch liệt.
    Tôi phản đối vì, xét cho cùng, con ma chẳng làm điều gì xấu cho tôi. Ngược lại, nó còn là một bạn chuyện thú vị. Hà cớ tôi lại xử xấu với nó? Nhưng Ngoạn khăng khăng: phải diệt nó. Đó là một người cứng đầu, đã nghĩ ra cái gì là phải làm cho bằng được.
    Đội bắt ma thiện nguyện tha các thứ đồ đạc lỉnh kỉnh của họ đến nhà tôi vào một chủ nhật. Họ lăng xăng đi lại, còn tôi thì ngồi yên trong ghế bành, nơi con ma thường ngồi, với bộ mặt nặng chịch. Ba người trong đội bắt ma – một mục sư về hưu, hai sinh viên trẻ gày nhẳng, cả ba đeo kính cận loại nặng. Với các máy móc đo từ trường, đo nhiệt độ, mọi cái đều là loại cực nhạy. Họ rà soát mọi ngóc ngách – gầm giường, gầm bàn, gầm ghế, gầm tủ, với vẻ mặt nghiêm trang của sứ giả nhà trời đi xuống địa ngục. Kim trên những mặt đồng hồ đặt giữa nhà lắc lư lờ đờ.

    • Con ma này ban ngày không ở đây. – ông mục sư trầm ngâm – Ta sẽ túm được nó ban đêm.
      Tôi giật mình. Đúng là tôi chỉ gặp con ma vào ban đêm.
      Đội bắt ma rất mẫn cán. Hôm sau cả ba lại đến cùng một lúc , lập tức bắt tay vào việc. Mấy người đàn ông đứng tuổi, mặt mũi nghiêm trang ngồi trầm ngâm trước những mặt đồng hồ, mắt dán chặt vào những cái kim. Tôi để mặc họ muốn làm gì thì làm.
      Đúng 12 giờ đêm, nhưng cái kim bắt đầu chuyển động, lúc đầu chậm, sau nhanh dần, rồi lắc loạn xạ. Ông mục sư phán:
    • Nó đến đấy.
      Trống ngực đánh thình thịch, tôi thầm lo cho ông bạn ma của tôi.
      Ngoạn ngồi bên tôi, theo dõi nét mặt tôi bằng cái nhìn dò xét.
      Nhưng khi ông mục sư giơ cao thánh giá đi về góc, theo kim chỉ của một cái máy đặt nằm, thì những cái kim đồng hồ lại lờ đờ trở về chỗ cũ. Ông mục sư lắc đầu:
    • Con ma này khôn phết.
    • Nó lẩn tài lắm. – anh sinh viên cao kều cúi xuống thì thào với anh bạn thấp hơn.
    • Khôn mấy thì khôn, rồi ta cũng sẽ tóm được nó. – mục sư nói to, giọng quả quyết.
      Đúng vào lúc ấy tôi nghe thấy giọng con ma bên tai:
    • Ông bạn ông tệ thật, ông ta dẫn mấy tay này đến đây làm gì cơ chứ?
    • Tôi xin lỗi, tôi đâu có muốn thế – tôi lẩm bẩm trả lời, cốt để Ngoạn khỏi nghe tiếng.
    • Ông có thấy ông Nô Ăng nhà ông là đa sự không?
      Tôi gật đầu.
    • Có điều họ chẳng làm gì được tôi đâu – con ma nói.
    • Thật không?
    • Ông đừng lo cho tôi.
    • Tôi vẫn lo đấy – tôi thì thào – Thật không sao chứ?
    • Thật. Không ai có thể bắt được cái không có.
      Tôi thở ra.
      Ngoạn ngờ vực nhìn vào mặt tôi. Anh kêu lên với ông mục sư đang cảnh giác nhìn quanh trong phòng:
    • Con ma đang ở đây này.
    • Đâu? Nó đâu?
      Ông mục sư quên bẵng mình là người bắt ma, nghĩa là mình phải thấy được con ma trước những người khác.
      Ngoạn chỉ vào tôi:
    • Nó ở bên ông bạn tôi đây này.
      Tôi cãi:
    • Tôi đây, chứ ma nào.
      Ba nhân vật bắt ma xô lại phía tôi. Họ quăng một cái lưới bằng sợi gai hôi hám lên người tôi. Ông mục sư đổ cả bình nước thánh lên đầu tôi. Hẳn ông ta nghĩ nước thánh với liều lượng càng lớn thì hiệu quả càng cao. Rốt cuộc tôi bị ướt như chuột lột, toàn thân bị trói chặt trong tấm lưới gai, còn con ma thì chẳng thấy đâu.

    8

    Sau cái lần bắt ma bất thành, đội bắt ma đi thẳng. Trong những trường hợp như thế bao giờ cũng có những lý do được đưa ra để bào chữa, kiểu như “trên chủ trương đúng, dưới thực hiện sai”; “trên bảo, dưới không nghe”, theo cách nói quen thuộc ở nước tôi.
    Con ma sau đó xuất hiện ít hơn, không phải vì sợ cái gì, mà vì hắn bận bịu chuyện gì đó. Cuối cùng rồi hắn cũng bật mí điều bí mật của hắn:

    • Ông có tin ở thuyết luân hồi không?
    • Tôi chẳng có bằng cớ gì để tin. Một expresso nhá?
    • Không, cảm ơn. Giờ tôi phải đi ngay.
    • Hồn ma cũng biết bận?
    • Không. Hồn ma không bao giờ bận. Nhưng nó cũng có việc phải làm. Ông có muốn đi chơi một lần với tôi không?
      Tôi ngần ngừ.
    • Ông sợ?
    • Không. Nhưng đi đâu?
    • Cứ đi với tôi. Ông sẽ không hối tiếc đâu.
      Chúng tôi đi.
      Về sau này, nhớ lại chuyến đi chơi ban đêm với ông bạn ma, tôi thấy ông ta chẳng hề có ý lừa tôi – chuyến đi thực thú vị.
      Dắt tôi vùn vụt đi qua biên giới hai cõi âm dương không có lính biên phòng mặt lạnh, không có cửa hải quan với những cái nhìn soi mói, qua chỗ các âm hồn bách tính tụ tập húp cháo lú, tây ta lẫn lộn, đen trắng không phân biệt, ông ta đưa tôi tới một thành phố lúc nhúc những hồn ma là hồn ma. Tôi không nhớ là ở đó có cửa hàng cửa hiệu gì không, nhưng tôi gặp khá nhiều hồn ma quen. Có người chết đã lâu, có người mới chết. Họ hoàn toàn không nhận ra tôi. Thậm chí viên cai ngục nổi tiếng ác độc thời tôi ở tù dưới quyền hắn còn nhoẻn cười thân thiện với tôi. Trong tay hắn vẫn có cây roi bằng da xoắn, cũng nổi tiếng không kém gì hắn. Cây roi da ấy, những người tù lưu niên kể, đã lập công xuất sắc – ít nhất đã có ba người tù chết vì nó. Nhưng hắn vẫn giữ nguyên dáng đi ngày trước, cái đầu hơi cúi, cặp mắt láo liên soi mói, cái roi trong tay đập đập vào cẳng chân, sẵn sàng vung lên để quất vào ai đó. Ở một chỗ khác, tôi gặp tên lừa đảo có hạng đã từng lừa không ít người, trong đó có tôi, bằng những lời đường mật về những món lãi kếch xù, nếu chung vốn với hắn. Hắn bị một ông quan mà hắn lừa bắn chết, nghe nói là chết oan, đúng vào lúc hắn mang tiền lãi đến nộp cho ông ta. Hắn cũng không nhận ra tôi, chực sán lại để rỉ tai tôi về một kế hoạch thu lợi cực lớn. Thấy tôi lờ, hắn cũng chẳng giận, lại sán đến người khác, xin lỗi, tôi muốn nói: một hồn ma khác.
      Ông bạn ma của tôi dẫn tôi tới một chỗ có mấy vị lãnh tụ mà tôi quen mặt nhờ những bức chân dung được treo trên tường mọi nhà ở quê tôi. Tôi đồ rằng những vị này cũng gian như ông bạn tôi, không chịu húp cháo lú, hoặc húp rất ít, vì thế họ mới có thể quần tam tụ ngũ bên nhau. Nhưng cái giống lãnh tụ nọ là để sống trong thế giới của những kẻ tuân phục, những kẻ rạp mình trước họ, chứ cả một đống lãnh tụ ở cùng một chỗ với nhau thì ngán lắm. Tất cả bọn họ đều ra lệnh cùng một lúc, mà không biết ra lệnh gì, ra lệnh cho ai, chẳng anh nào chịu nghe anh nào, kể cả anh lãnh tụ bị bắn chết cùng với bà vợ, ngực còn toác hoác vết đạn, vẫn tiếp tục vung tay về phía trước, trong dáng điệu của nhà hùng biện trước đám đông há hốc mồm nghe huấn thị.
    • Ê, anh kia, lại đây!
      Vị lãnh tụ quen thuộc của tôi ngồi ủ rũ trên một bệ đá hoa cương thời cổ La Mã, giữa một đám đông chính khách com lê com táo chỉnh tề lăng xăng đi lại. Ông vẫn trong bộ quần áo bình dân cố hữu, y như một lão nông. Hồi còn sống, ông nổi bật trong các chính khách quốc tế nhờ bộ quần áo này. Trong những cuộc họp long trọng ông là ngôi sao sáng. Tiên phong đạo cốt, ông đi những bước nhẹ nhàng trên trần thế, ban phát bên phải bên trái đủ thứ lộc lớn lộc bé, bằng hiện vật cũng như bằng khen, giấy khen. Bây giờ trông ông giống một anh nhà quê ra tỉnh. Trong đống lãnh tụ xênh xang, ông có một vị trí kém cỏi mà giờ đây người ta ưa dùng chữ khiêm tốn thay vào. Chợt nhận ra tôi là đồng hương, ông vồ lấy tôi, nắm tay tôi kéo lại gần để ân cần hỏi han về đời sống của nhân dân. Cứ như thể thiếu ông trên đời mọi người sẽ khốn khổ lắm, côi cút lắm. Không hiểu sao, lúc ấy tôi lại xúc động đến luống cuống, lễ phép chắp tay trả lời ông như một thần dân ngoan ngoãn. Tôi thưa rằng tôi xa nước lâu rồi, lại chưa về thăm nhà lần nào, tôi không thể báo cáo với ông điều gì.
      Ông bạn ma lập tức túm lấy tôi, lôi xềnh xệch đi chỗ khác:
    • Sao ông lại làm thế?
    • Làm thế là thế nào?
      Ông bạn ma cằn nhằn:
    • Thằng cha ấy là cái quái gì mà trước mặt hắn, nói ông tha lỗi, ông lại phải khúm núm? Ông không thấy rằng hắn chẳng hề quan tâm tới nhân dân nhân diếc gì hết sao? Hắn chẳng cần biết ông là ai, đang ở đâu, làm gì, hắn chỉ lặp lại một thói quen thâm căn cố đế mà thôi. Ố là là, ông này hay thật đấy! Rõ vớ vẩn.
      Tôi ngượng ngùng:
    • Hề hề, tôi cũng không ngờ những thói quen lại sống lâu đến thế.
    • Thế thì khi xuống đây ông đừng có theo gương tôi, nhớ mà húp hết khẩu phần cháo lú của mình. Xem ra nó có ích cho ông đấy.
      Giọng ông ta nửa giận dỗi, nửa khinh miệt.
      Ông ta còn dẫn tôi đi nhiều nơi, cho tôi thấy nhiều điều thú vị khác, viết ra phải một cuốn sách. Tôi thì lại không biết viết văn, tôi viết thì sẽ rất dây cà ra dây muống, toàn những “thì” “là” “mà”, làm khổ người đọc. Điều đáng tiếc là ông ta không đưa tôi đến nơi tôi có thể gặp những người thân trong gia đình. Ông ta bảo cái đó không phải mục đích của chuyến đi.
    • Ông nói đến thuyết luân hồi là có ý nghĩa gì? – trên đường về tôi hỏi ông ta.
    • Là tôi sẽ chia tay với ông, để sống một kiếp khác.
    • Tức là luân hồi là có thật?
      Ông ta nhún vai:
    • Tôi cũng không biết nữa. Tôi chỉ biết lần này tôi phải xực hết một khẩu phần cháo lú. Lầnnày khó mà tránh được. Nghe nói chẳng ai thoát. Tôi sẽ đi khỏi cõi này. Đi đâu, tôi không biết. Có lẽ là để sống kiếp khác. Ăn cháo lú rồi, tôi sẽ không biết ông là ai, người ta bảo vậy, ông cũng không thể nhận ra tôi…
    • Nhưng những vị Lạt Ma ở Tây Tạng đầu thai trong kiếp sau vẫn nhớ chuyện kiếp trước đấy thôi. Người ta thuật lại chuyện đó không phải một lần trong những cuốn sách đứng đắn.
    • Ồ, cái đó thì tôi chịu, thật thế hay không, tôi không biết. Có thể, đó là vì những vị Lạt Ma là những người đặc biệt. Những bậc chân tu. Những vị thánh. Tôi không dám nói họ có thể là những tay đại láu cá.
      Tôi tỉnh dậy trên giường. Vạt nắng sớm lọt qua cửa sổ chảy lênh láng trên sàn.
      Có nghĩa là suốt đêm qua tôi chẳng hề đi đâu. Nhưng cảm giác thực của cuộc du hành với ông bạn ma còn nguyên, hệt như trong sách của Bồ Tùng Linh.
      Khác ở chỗ hồn ma của Pháp không giống hồn ma của Tàu, nó chẳng làm hại gì tôi. Mà cũng có thể những hồn ma Tàu trong Liêu Trai đều là đàn bà, còn đây là một hồn ma đàn ông.
      Tôi thì lại không phải một tên đồng ái.

    8

    Từ đó tôi không bao giờ gặp lại ông bạn ma nữa. Chắc hẳn ông ta đã đầu thai vào một nhà nào đó và đang bĩnh ra tã.
    Tôi cũng hơi ân hận một tí. Chơi với nhau bằng ấy thời gian mà chẳng biết tên họ ông bạn là gì. Hình như ông ta mang cái họ rất phổ biến là Dupont mà tôi thấy được ghi trên một món đồ. Chiết tự ra, Dupont có nghĩa là từ chỗ cây cầu, ở nơi gần cầu. Dòng họ Dupont có từ những thế kỷ xa xưa, cũng như dòng họ Dubois với nghĩa từ khu rừng, ở miền rừng. Nước Pháp có vô số cầu, cầu qua sông, cầu qua suối, ai biết được những người thuộc dòng họ này đến từ cái cầu nào. Trên lò sưởi không có cái ảnh nào của ông ta, mà tôi thì vì sợ nên không dám nhìn vào mặt hồn ma, thế là chẳng biết mặt ngang mũi dọc ông bạn mình ra sao.
    Ngoạn rồi cũng ít đến tôi. Anh bận nhiều việc, tôi đồ thế.

    • Này, cậu phải cẩn thận mà giữ lấy chỗ làm – anh dặn tôi – Cái nghề khốn nạn của tôi vậy mà bây giờ thiên hạ cũng tranh nhau xông vào. Tôi phải liên tục hạ giá để giữ khách. May mà họ đã quen mình. Hai đứa con càng lớn càng phải chi nhiều, đủ thứ. Sống như thế này vất vả quá. Chết có khi còn sướng hơn…
      Những lời than thở về cuộc sống không thể gọi là chuyện giữa hai kẻ tha hương. Ở với bà vợ đầm lâu ngày, anh dường như không nhớ gì tới đất nước. Nó xa xôi.
    • Tôi bây giờ có muốn giúp cậu cũng chẳng được – anh nói.
      Tôi rất biết ơn Ngoạn đã giúp tôi nhiều khi còn chân ướt chân ráo đến Sermages, nhưng đúng là chúng tôi không biết nói gì với nhau nữa – chúng tôi không còn những đề tài chung để mà trò chuyện. Cũng phải thôi. Ngoạn là một con người bình thường đúng nghĩa, tức là người chẳng quan tâm tới cái gì khác ngoài cuộc sống hằng ngày của gia đình mình. Những vấn đề chính trị xa lạ với anh. Đối với Ngoạn thế giới nào cũng cũ, tức là thế giới nào cũng thế mà thôi cho một kiếp người với tất cả những lo toan tầm thường của nó. Còn tôi thì dù muốn dù không vẫn cứ vướng vào ba cái chuyện chính trị, như nhiều đồng hương đa sự.
      Khi nghe tôi nói chuyện về tình hình đất nước, hoặc tình hình thế giới, Ngoạn thường ngáp vặt, lúc đầu còn lịch sự giấu giếm, sau thì cố ý cho tôi biết mà chuyển sang chuyện khác. Khi không còn đề tài chung để nói chuyện, người ta rất dễ xa nhau. Có người nói anh dạo này hay ốm vặt, nhưng tôi cũng ngại gọi điện hỏi thăm. Tôi ngại những cuộc điện đàm theo phận sự.
      Một đêm tôi đi dự sinh nhật một bạn đồng nghiệp về, thấy ở bên đường gần nhà tôi người ta vứt lỏng chỏng đồ bỏ có nhiều thứ còn tốt, mới dừng lại xem. Ở đây người ta vứt đồ theo ngày, khu này thứ bảy, khu kia chủ nhật. Tôi chọn được một cây đèn bàn có chân bằng đồng, một thứ đồ cổ, kiểu cây đèn thần trong Nghìn Lẻ Một Đêm. Đã toan kẹp nó vào nách mang về, thì chợt thấy một dáng quen quen đang lúi húi gần đấy.
      Trong ánh đèn đường mờ mờ tôi nhận ra cái bóng ấy: Ngoạn. Dễ là anh lắm, với cái áo khoác tàng tàng, dáng đứng hơi gù. Nhưng tôi không dám chắc trăm phần trăm là anh. Thoáng bắt gặp ánh mắt của tôi, người ấy quay ngoắt.
      “Dân đi nhặt đồ đều thế. Do ngượng ngùng, họ không bao giờ chào nhau, gặp vài lần rồi cũng cứ lờ đi, không coi nhau là đã quen…”
      Ngoạn có lần nói với tôi như thế. Nhưng đó là những người gặp nhau lần này lần khác trong những chuyến đi nhặt đồ, chứ không phải là những người quen nhau như tôi với anh.
      Khi thấy tôi chăm chú nhìn, cái bóng càng lúng túng.
    • Anh Ngoạn hử? – tôi gọi khẽ.
      Cái bóng đứng sững khi nghe tiếng gọi. Nhưng không đáp lại, dù bằng một cái gật đầu.
    • Tôi đây mà – tôi nói.
      Cái bóng vẫn nín lặng.
      Tôi rùng mình vì một ý nghĩ chợt đến. Hay là, nói dại, Ngoạn không còn nữa, mà chưa ai kịp báo tin cho tôi? Anh đã trở thành một con ma. Như Dupont.
      Tôi dụi mắt để nhìn cho kỹ hơn. Chẳng lẽ tôi nhầm?
      Đến lúc ấy thì cái bóng mà tôi ngờ là Ngoạn liếc trộm tôi rất nhanh, rồi quầy quả bỏ đi. Nói nó lướt đi thì đúng hơn, bởi vì vừa thấy nó đấy đã chẳng thấy đâu. Nó tan biến. Trong màn đêm mờ mờ ánh đèn đường và khói sương.
      Ngày mai thể nào tôi cũng phải gọi điện cho Ngoạn. Không, tôi chắc mình nhìn nhầm. Cũng có thể không phải là Ngoạn. Dám thế lắm. Nếu là anh, chắc chắn anh sẽ gọi tôi. Chúng tôi đâu có phải là những người xa lạ đến nỗi phải tránh mặt nhau khi làm cái chuyện có vẻ đáng xấu hổ này. Rất có thể không phải Ngoạn. Nếu anh chết, chị Jeanette ắt đã gọi điện cho tôi – ít nhất thì vào lúc anh qua đời ắt chị phải nhớ rằng anh từ đâu đến và ở Sermages có một người cũng đến từ quê hương anh. Nhưng cũng có thể Jeanette đã quên không báo cho tôi biết trong cơn bối rối. Hoặc ngày mai chị mới báo. Hoặc chị không tìm ra sổ địa chỉ.
      Tôi xua đuổi ý nghĩ rằng Ngoạn đã chết. Nhưng ý nghĩ ấy cứ bám chặt lấy tôi. Sinh hữu hạn tử bất kỳ mà. Ai nói trước được? Anh xuất hiện trước mắt tôi lờ mờ như một bóng ma, nhất định không nhận tôi, nói với tôi một câu. Hoặc giả tôi nhầm, bóng ma ấy lại là Ngoạn thật, còn sống? Mừng rồi lại buồn – sao mà mình tệ thế, đến nỗi không phân biệt nổi người sống với hồn ma?
      Tôi bùi ngùi nhìn vào bóng đêm đã mất dấu bạn mình mà thở dài. Tôi hình dung ra anh trong cái cõi âm đáng ngán – hẳn từ nay anh sẽ phải sống, như cái ông Dupont nọ, quẩn quanh trong giới hạn chật hẹp của một kiếp người từ sinh tới tử, để rồi lặp lại trong suốt đời âm của mình những thói quen cố hữu của đời dương?
      Tôi cầm lấy cây đèn, không nhìn về phía cái bóng vừa biến mất, quay gót về nhà.

    2005

  • Du lịch,  Hình ảnh đẹp

    NGẮM ĐỊA DANH ĐẸP NHẤT THẾ GIỚI

     Mới đây , Big 7 Travel công bố 50 địa điểm đẹp nhất thế giới năm 2020 .

     Dựa trên bản khảo sát trên 1.5 triệu người dùng Pinterest , Instagram .

     Trong đó , hình ảnh Mù Cang Chải ( Yên Bái — Việt Nam ) được thứ 21

    – Đứng thứ 21 : Mù Cang Chải – Yên Bái — Việt Nam . Gồm 3 ảnh 

    – Đứng đầu danh sách 50 địa điểm là :

     Vườn quốc gia Torres del Paine — Chile .

     2 ảnh 

    – Đứng thứ 2 :

     Là quần đảo Faroe — Đan Mạch .

     2 ảnh .

    – Đứng thứ 3 :

     Là vườn quốc gia Grand Teton — Wyoming .

     2 ảnh .

    – Đứng thứ 4:

     Là sông Quế Giang — Trung quốc .

     2 ảnh .

    – Đứng thứ 5 :

     Là Hồ Bled — Slovenia .

     3 ảnh .

    – Đứng thứ 6 :

     Là rạn san hô Great Barrier — Úc .

    – Đứng thứ 7 :

     Là vườn quốc gia Banff — Canada .

    – Đứng thứ 8 :

     Là Palawan — Philippines .

    – Đứng thứ 9 :

     Là Cao nguyên Scotland .

    – Đứng thứ 10 :

     Là Kyoto — Nhật Bản .

    – Đứng thứ 11:

     Là Vách đá Moher — Ireland .

    – Đứng thứ 12 :

     Là khu Thánh địa Uluru — Úc .

    – Đứng thứ 13 :

     Là Lanterbrunnen — Thụy Sĩ .

    – Đứng thứ 14 :

     Là Hồ bơi nuóc nóng ở Pamukkale — Thổ Nhĩ Kỳ .

    – Đứng thứ 15 :

     Là thị trấn Sidi Bou Said — Tunisia .

    – Đứng thứ 16 :

     Là Thành phố Chefchaouen — Maroc .

    – Đứng thứ 17 :

     Là thành phố biển Positano — Ý .

    – Đứng thứ 18 :

     Là đảo Boracay — Philippines .

    – Đứng thứ 19 :

     Là Vườn quốc gia Fiordland — New Zealand .

    – Đứng thứ 20 :

     Là Thành phố Mostar của Bosnia và Herzegovina .

    – Đứng thứ 22 :

     Là Thành phố Marrakesh — Maroc .

    – Đứng thứ 23 :

     Là thành phố Matera — Ý .

    – Đứng thứ 24 :

     Là thủ đô Paris — Pháp .

    – Đứng thứ 25 :

     Là công viên địa chất Trương Dịch , tỉnh Cam Túc — Trung quốc .

  • Thơ

    Thần Linh

    Thần Linh

    Tế Luân

    Em là hiện thân của thần linh

    Để ta tụng niệm cõi vô hình

    Em ngồi đất nứt mọc hoa lạ

    Thơm ngát từng mây những cuộc tình.

    Trang giấy trắng vần thơ ẩn hiện

    Dòng mực đen thấm ướt đường viền

    Chỉ một chữ yêu còn hiện diện

    Một chữ thôi xóa những ưu phiền.

    Chim nhảy nhót mừng ngày huyền thoại

    Hoa ngát hương thơm ngát tầng mây

    Chỉ một lần hóa thành linh hiển

    Mối tình đầu nguyên thủy không phai.

    Tế Luân

    EM THẦN THOẠI

    (kính họa cùng thầy Lê Tuấn)

    Em ngồi sợi nắng thẹn lung linh

    Suối cũng ngừng reo rọi bóng hình

    Gió phủ quanh bờ vai diễm lệ

    Ngào thơm hương sắc lẫn hương tình

    Ta đắm say cuồng, mơ thoảng hiện

    Bờ môi bỏng mọng nét hồng viền

    Dáng hoa xuân thắm ngời nhân diện

    Chắp cánh cùng bay thoát cõi phiền

    Em như giấc mộng đơm thần thoại

    Lấp lánh hào quang vẹt áng mây

    Ta chốn trần gian lòng khắc khoải

    Lo tình muôn thuở sẽ tàn phai

    Phương Hoa – NOV 15th 2020

    Đêm Thần Tiên

    Thiên thần áo trắng đẹp huyền linh

    Thánh thiện vời cao một dáng hình

    Chỗ ấy em ngồi hoa nở rộ

    Trăng sao lấp lánh gợi mơ tình

    Vẫy bút say sưa nồng ý tưởng

    Tràn nghiên nét mực vẽ tranh viền

    Lâng lâng cảm giác vùng sương tỏa

    Thế tục lùi xa những não phiền

    Tiếng mộng ru hồn say nhịp bước

    Cung đàn lã lướt vọng trời mây

    Hương lùa tỏa ngát đêm trà nguyệt

    Giấc ảo tiên vời khó nhạt phai. 

    Minh Thuý Thành Nội

    Tháng 11/15/2020

  • Du lịch

    Thảm hoa tím ngợp trời

    Hình ảnh thảm hoa tím ở Tà Chì Nhù, VN trải dài bất tận , mênh mông , thơ mộng và hút mắt . Chẳng thua kém gì những cánh đồng hoa Oải Hương ở Pháp .

     Một loài hoa mọc ở Tây Bắc , mang sắc tím như lavender bạt ngàn ven những triền dốc trên đường lên đỉnh núi Phú Lương hay còn gọi là ” Tà Chì Nhù ” ( Trạm Tấu – Yên Bái ). Đây là ngọn núi cao thứ 7 của Việt Nam , có độ cao 2.979 m .

     Người dân tộc Mông gọi hoa tím này là ” Chi Pâu ” nghĩa là ” Không biết ” .

     Thực chất , hoa tím này có tên chính xác là Swertia hoặc Cỏ Mật Rồng hay Đại Tử Đương Dược ( nghĩa là Cây thảo dược có hạt lớn ) .  Là một Chi thuộc Họ Long Đởm Thảo Gentianaceae .

     Theo đó , loài hoa này được miêu tả lần đầu tiên vào năm 1883 . Là một loại thuốc dân gian truyền thống ở vùng Tây Tạng , Vân Nam và Quảng Châu – Trung quốc .

     Ở Việt Nam , họ Long Đởm mọc rất phổ biến ở khu vực núi cao phía Bắc . Là một họ thực vật có hoa chứa khoảng 99 Chi và khoảng 1.740 Loài .

     Đặc trưng nhận dạng là hoa của chúng có hình tia đối xứng và lưỡng tính với các đài hoa , cánh hoa liền và các nhị hoa trên tràng so le với tràng hoa .

     Được sử dụng trong y học cổ truyền và làm hương liệu .

    Vân Anh — Petrotimes

  • Du lịch

    NHỮNG BỨC ẢNH ĐẸP VỀ PHONG CẢNH NƯỚC ANH

     Vẻ đẹp miền quê lẫn đô thị của nước Anh , đều được ” bắt trọn ” trong cuộc thi ” Nhiếp ảnh Phong cảnh ” ( Landscape Photographer of the Year 2020 ).

    Tác phẩm ” Woolland Woods ” của Chris Frost chụp tại Dorset .

     Tác phẩm ” West Pier Starlings ” của Adrian Mills .

     Chụp tại khu nghĩ mát ven biển Brighton ở phía nam nước Anh .

     Một đàn Sáo Đen bay thành hình đám khói , rất độc đáo ngay phía trên bầu trời West Pier .

     Tác phẩm ” Mirkwood ” chụp tại Buckinghamshire của nhiếp ảnh gia Will Milner .

     Khung cảnh tuyệt đẹp nhìn từ trên cao ở cây cầu cạn Glenfinnan – Scotland của Chris Gorman .

     Anh chụp lúc chỉ còn 20 phút là hoàng hôn buông xuống và khung cảnh tuyết phủ quanh . Khiến nơi này trông như bước ra từ truyện cổ tích .

     Bức ảnh của Martin Birks chụp tại Lake District ( Quận Hồ ). Ở miền núi phía tây bắc nước Anh .

     Anh phải đợi vài tiếng đồng hồ , mới bắt được khoảnh khắc ánh sáng chiếu xuống đỉnh đồi Langdale .

     Tác phẩm đen trắng này có tên là ” Yesnaby Tree Wave ” do Raymond Besant chụp .

     Tác giả kể lại :

    — Bão biển đã qua nhưng những đợt sóng lớn vẫn đập vào các vách đá ở Yesnaby . Bờ biển ở phía tây Orkney – Scotland .

    — Và anh bị thu hút bởi khoảnh khắc ánh sáng chiếu lên những con sóng bọt tung trắng xóa đó .

     Bức ảnh ” Dawn at Fox Covert ” được Peter North chụp tại Royston , Hertfordshire .

     Anh phải dậy thật sớm để đi tới nơi . Nhưng bù lại , anh được tận mắt nhìn thấy cảnh tượng ánh mặt trời đầu tiên , chiếu rọi qua các tán cây rừng .

     Bức ảnh ” Sugarloaf ” do Drew Buckley chụp vào buổi sáng . Ngay khi bình minh đầu tiên xuyên qua màn mây dày , rọi xuống sườn phía nam núi Surgarlo . Ở Vườn quốc gia Brecon Beacons , xứ Wales .

     Bức ảnh ” Herringfleet Frosty Sunrise ” của David Andrews chụp ở làng Herringfleet tại Suffolk , miền đông nước Anh giáp Biển Bắc .

     Tác giả Steven Cole chụp lại khung cảnh hiếm thấy ở nhà máy điện Ratcliffe-on-Soar ( Nottinghamshire ) .

     Khi nơi này bị bao trùm bởi hơi nước , kết hợp với mặt hồ Sawley Cut . Phản chiếu hình ảnh đêm tĩnh lặng .

     Bức ảnh này còn được đặt tên là ” Cool Power ” .

  • Thơ

    KIẾP LẦM THAN


    Tôi sinh ra giữa núi rừng cao nguyên
    Nơi Ba mẹ lưu đày kinh tế mới
    Những tháng ngày sống trong miền đen tối
    Nên tôi hiểu thế nào là khổ đau !
    Những đứa trẻ ở nhà tự giữ nhau
    Cho Ba mẹ vào rừng kiếm mây bán
    Ba đi trầm, lúc trời còn chưa sáng
    Mẹ nấu cơm để đó , rồi đi sau !
    Chị ở nhà phải lo trước lo sau
    Cơm độn khoai lấy cho em lót dạ
    Bầy khỉ đói, vờn quanh nhà chị Cả
    Ôm đàn em co dúm lại với nhau !
    Rồi những lúc mẹ vắng nhà tôi đau
    Sốt rét rừng run từng cơn, tôi sốt
    Chiều tối sầm người tôi như lửa đốt
    Ba mẹ sao hôm nay vẫn chưa về !

    Mẹ đi rừng chẳng may mẹ bị té
    Gãy cánh tay Ba phải dắt đi băng
    Mẹ ở nhà chị em cứ lăng xăng
    Hôm nay vui được ở nhà với mẹ !
    Tôi nhõng nhẽo đòi quà mẹ khe khẽ
    Chờ Ba về mẹ sẽ dắt đi mua
    Đếm từng giờ, đợi từng phút,xót chua
    Ba đi rừng một mình rồi lạc lối !
    Trời mịt mù Ba lần trong đêm tối
    Suốt đêm thâu Ba cũng chẳng về nhà
    Đốt đuốt tìm trong muôn vạn xót xa
    Lo cho Ba tôi cũng không ngủ được.
    Rồi có lần Ba đi rừng trơn trượt
    Rớt từ trên đầu thác xuống hố sâu
    Họ khiên Ba trong chiếc võng đớn đau
    Tôi nhìn Ba mà trong lòng hoảng sợ !

    Tuổi thơ tôi lớn lên như thế đó !
    Trong rừng thiên nước độc bởi vì đâu ?
    Kiếp con người hay là kiếp ngựa trâu ?
    Kiếp lầm than miệt mài trong đêm tối .

    Theo FB

  • Tin tức

    Vợ chồng bác sĩ Đức gốc Thổ phát triển vaccine Covid-19

     Vợ chồng bác sĩ Đức gốc Thổ phát triển vaccine Covid-19

    Cặp đôi trong hình là vợ chồng bác sĩ Uğur Şahin và Özlem Türeci, những người chịu trách nhiệm cốt lõi trong việc phát triển vaccine Covid-19 thử nghiệm, hiệu quả 90% mà chúng ta mới biết hôm qua. Ông bà là các nhà khoa học gốc Thổ Nhĩ Kỳ nay sinh sống ở Đức. Ông 55 còn bà 53 tuổi.

    Şahin sinh ra ở Thổ Nhĩ Kỳ được lớn lên ở Đức, nơi cha mẹ ông là công nhân nhà máy Ford. Şahin tiếp tục được đào tạo như một bác sĩ, trước khi trở thành một giáo sư và nhà nghiên cứu chuyên về liệu pháp miễn dịch tại đại học Mainz. Khi làm việc tại các bệnh viện ở Cologne và Hamburg, ông đã gặp nhà miễn dịch học Özlem Türeci, con gái của một bác sĩ người Thổ Nhĩ Kỳ di cư đến Đức.

    Cặp đôi gắn bó với nhau vì đam mê nghiên cứu y học và ung thư –  họ mê tới nỗi vào ngày cưới vẫn ở phòng thí nghiệm. Sau đó họ làm ra thuốc trị ung thư mang tên Ganynmed. Và bán nó cho công ty dược phẩm đa quốc gia Nhật Bản Astellas vào năm 2016, với giá 1,4 tỷ usd. Năm 2008, họ lập ra N Biotech để tìm các giải pháp chữa trị ung thư, và có mở rộng ra cho 1 số loại bệnh khác. Quỹ của ông bà tỷ phú Bill Gates đã tài trợ 55 tr usd cho họ.

    Vào tháng Giêng, Giáo sư Sahin đã xem một bài báo khoa học về một đợt bùng phát coronavirus mới ở thành phố Vũ Hán, Trung Quốc. Nó khiến ông ngạc nhiên về và tìm hiểu việc làm sao để chuyển từ từ thuốc mRNA chống ung thư sang vaccine chống covid dựa trên mRNA.

    BioNTech nhanh chóng phân công khoảng 500 nhân viên để làm việc trên một số hợp chất có thể, và họ đã tìm được đối tác là công ty dược phẩm khổng lồ Pfizer của Mỹ và sự hỗ trợ từ nhà sản xuất dược phẩm Trung Quốc Fosun vào tháng Ba.

    Họ đã làm việc cật lực để có thể có kết quả tốt đẹp như loại vaccine đầu tiên đem lại hy vọng cho nhân loại. Ông bà hiện nay là tỷ phú, trong danh sách 100 người giàu nhất nước Đức. Công ty của họ vừa tăng trị giá lên 21 tỷ usd sau sự kiện thành công ban đầu của vaccine. Nhưng ai tiếp xúc với họ cũng luôn kính trọng và yêu quý ông bà vì tính tình khiêm nhường, giản dị và dễ thương.

    Ông bà chính là gương thành công của những người nhập cư Thổ Nhĩ Kỳ vào Đức. Và nhân loại mãi mãi biết ơn họ như những lương y từ mẫu, những người đã xuất hiện vào thời điểm khó khăn nhất của loài người, đem lại hy vọng chữa lành bệnh tật và góp phần chặn đứng nạn dịch thế kỷ.

    Theo FB

  • Tài liệu

    GRIGORI PERELMAN :Thiên tài từ chối giải thưởng toán học

    https://en.wikipedia.org/wiki/Grigori_Perelman

    Thiên tài từ chối giải thưởng toán học “Fields Medal” cùng triệu đô tiền thưởng G. Perelman.

    Thoạt nhìn, ai cũng sẽ nhầm lẫn người đàn ông này là một gã vô gia cư nào đó, với mái tóc bù xù, và quần áo xộc xệch. Nhưng thật ra, ông chính là Grigori Perelman, người được mệnh danh là thiên tài toán học, khi trở thành người duy nhất giải được bài toán hóc búa Poincaré trong 1 thế kỷ qua.Hai nhà báo Marc Nexon và Katia Swarovskaya của tờ Le Point (Pháp) từng tổ chức một chuyến đi dài ngày tới nước Nga, tìm người đàn ông được mệnh danh là thiên tài toán học Grigori Perelman. Khác với những gì người ta có thể tưởng tượng, Perelman sống trong một căn hộ 3 phòng ngủ 65m², tại một tòa chung cư đã cũ, và thậm chí còn không có thang máy. Ông từ chối mọi lời phỏng vấn của phóng viên, cũng như mọi giải thưởng danh giá, và danh tiếng mà mọi người muốn ông nhận.

    Mỗi khi có phóng viên tìm đến, ông chỉ trả lời ngắn gọn: “Tôi không trả lời phỏng vấn”. Và khi phóng viên cố nán lại để được trò chuyện với ông lâu hơn: “Nhưng anh vẫn mạnh khỏe chứ?”. Ông trả lời: “Vẫn khỏe, cám ơn và xin chào”. Sau đó, ông vội đóng nhanh cánh cửa lại trước khi phóng viên có cơ hội hỏi thêm câu nào khác nữa.

    Đam mê với toán học từ khi còn nhỏ

    Grigori Perelman, tên khai sinh đầy đủ là Grigori Yakovlevich Perelman, sinh vào 13/6/1966 tại Leningrad (nay là Saint Petersburg, Nga) trong một gia đình gốc Do Thái. Vào thời điểm mà Liên bang Xô Viết còn chưa sụp đổ, mẹ ông, bà Ludmila là giáo viên dạy toán cho một trường trung cấp kỹ thuật, còn cha là một kỹ sư điện.

    Năm 11 tuổi, Perelman đã tỏ ra vượt trội hơn những bạn đồng trang lứa về khả năng lý giải các môn khoa học, và chơi đàn violon. Ông ham học, và yêu thích việc học hơn bất cứ thứ gì trên đời. Có lần Perelman bị sốt cao 39,5 độ C, nhưng sau đó, ông đã lén đem cặp nhiệt kế nhúng vào nước đá để tiếp tục được đến trường.

    Năm 14 tuổi, Perelman vào học ở trường số 239 Leningrad (nay là Saint- Pétersbourg), lớp chuyên toán.

    Đến năm 1982, khi Perelman 16 tuổi, ông tiếp tục lọt vào danh sách 1 trong 6 thành viên thuộc đội tuyển Liên Xô tham dự cuộc thi Olympic toán quốc tế (IMO) lần thứ 23, tổ chức tại Budapest (Hungary), và giành được huy chương vàng với điểm số tuyệt đối 42/42.

    Tuy nhiên, mặc dù thông minh nhưng Perelman được nhiều người nhận xét là có tính cách khá lập dị. Ông hầu như không tha thiết bất cứ thứ gì ngoài việc học tập và nghiên cứu, những gì người khác muốn ông đều không muốn, thậm chí cũng không hề bận tâm đến.

    Ví dụ chuyện ăn mặc, có khi người ta thấy ông cài lệch mất một khuy áo, khi lại quên buộc dây giày, và không đi tất vào mùa đông.

    Có lúc ông đột nhiên để móng tay rất dài, tận 5cm, và khi có ai hỏi thì ông trả lời: “Giống như việc người ta vẫn để những củ hành mọc ở ban công đó thôi”.

    Evgueni Abakoumov, một người bạn từng đi trại hè với Perelman cho biết: “Đừng mất công rủ cậu ấy đi uống bia , bởi tâm trí cậu ấy luôn vẩn vơ ở một nơi nào đó rất xa”. “Thế đối với các cô gái thì sao?”, Evgueni trả lời: “Cậu ấy cũng không quan tâm”.

    Perelman sau đó được đặc cách vào học ở trường đại học tổng hợp quốc gia Leningrad (LGU), và nhận được học bổng toàn phần mang tên ‘Lênin’ để chuyển lên làm nghiên cứu sinh.

    Năm 1991, Perelman được trao giải thưởng của hội Toán học trẻ Leningrad về những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên môn, và cũng là giải thưởng duy nhất trong đời mà ông nhận.

    Năm 1996, Perelman tiếp tục được trao giải thưởng của hiệp hội Toán học châu Âu (EMS) cho các nhà toán học trẻ. Một giải thưởng mà nhiều người ao ước, vì sẽ bảo đảm cho người lĩnh giải được nhận vào làm tại các trường đại học danh giá nhất ở Mỹ và các nước châu Âu. Nhưng Grigori Perelman đã không chần chừ mà nhất quyết từ chối.

    Ông tốt nghiệp bằng phó tiến sĩ khoa Toán cơ của LGU, chuyên về lĩnh vực nghiên cứu hình dáng các vật thể trong không gian, và được nhận về công tác cho Phân nhánh Leningrad thuộc viện Toán học cao cấp Steklov (LOMI, hiện là PDMI) lừng danh.

    Người đầu tiên giải được giả thuyết Poincaré trong suốt 1 thế kỷ

    Trong các lĩnh vực, ông say mê nhất là với hình học. Ở tuổi 26, Perelman từng bay sang Mỹ, dành 3 năm để đọc một loạt bài giảng tại các trường đại học hàng đầu. Và từ đó giả thuyết Poincaré cũng bắt đầu ám ảnh tâm trí Perelman.

    (Giả thuyết Poincaré là công thức hình thể của vũ trụ, được nhà toán học người Pháp Jules Henri Poincaré (1854-1912) nêu ra vào năm 1904, là một trong những mệnh đề toán học hóc búa nhất suốt 1 thế kỷ qua chưa có lời giải đáp).

    Ông luôn tự giam mình trong nhà, và đắm chìm trong thế giới của mình, nghiên cứu và tìm tòi để giải quyết bài toán hóc búa ấy.

    Vào tháng 11/2002, ông đã bất ngờ công bố nghiên cứu dài 59 trang về giả thuyết Poincaré của mình lên mạng xã hội, không thông quá bất cứ tạp chí danh tiếng nào. Dường như, ông không hề quan tâm đến việc đặt bài nghiên cứu mình ở đâu, mà chỉ để thỏa mãn câu trả lời ấy cho riêng mình. Thời điểm ấy, công bố của ông đã trở thành một cú sốc lớn trên toàn thế giới.

    “Chúng tôi đã phải cần tới 6 tháng nghiền ngẫm để có thể hiểu được những lập luận trong phần đầu của bài nghiên cứu này”. Gérard Besson, thành viên trong nhóm nghiên cứu, được giao nhiệm vụ đọc và giải mã các kết quả của Perelman.

    Tuy nhiên, việc trở nên quá nổi tiếng, khiến ông không hề thoải mái, mà còn tỏ ra khó chịu và kỳ lạ khi nhiều người có thái độ đố kỵ với mình.

    “Anh ấy là như vậy. Perelman luôn nghĩ rằng các nhà toán học phải là một cái gì đó rất thuần khiết và trong sáng”. Serguei Roukchine, giáo viên cũ của Perelman, người điều hành một trong các câu lạc bộ toán học nổi tiếng nhất của Saint – Pétersbourg lý giải.

    Cũng từ đó, ông càng sống khép mình hơn, không cần đến bất kỳ người bạn nào. “Khi các thành viên của viện ngồi quanh bàn trò chuyện, uống nước chè và ăn bánh ngọt thì Perelman vẫn luôn nán lại ở góc phòng, trước màn hình máy vi tính”.

    Từ chối tất cả để quy ẩn

    Năm 2005, Perelman bất ngờ nộp đơn từ nhiệm cho Viện Steklov và tuyên bố rút khỏi cộng đồng toán học. Ông cũng yêu cầu hủy hết những thư từ liên lạc có liên quan đến mình.

    “Tôi không có bạn và tôi cũng đã tỉnh mộng”, Perelman tuyên bố với viện trưởng Serguei Kisliakov.

    Khi Kisliakov ngỏ lời mời Perelman quay trở lại viện bất cứ lúc nào anh muốn, ông đã cám ơn và nói rằng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra.

    Không màng đến danh tiếng, hay tiền bạc, những giải thưởng như nỗi ám ảnh đối với ông. Perelman liên tục phải từ chối chúng.

    Năm 2006, Liên minh Toán học Quốc tế (IMU) với trụ sở tại Berlin (Đức) quyết định trao huy chương Fields, phần thưởng cao quý vốn được mệnh danh là “giải Fields Medal Toán học” cho Perelman, nhưng ông thẳng thừng từ chối, mặc cho ban tổ chức có thuyết phục thế nào.

    Năm 2007, tạp chí học thuật hàng đầu Sience đã tôn vinh danh hiệu Breakthrough of the Year (Khám phá của năm) cho Perelman. Đây là lần đầu tiên trong hơn một thế kỷ tồn tại của mình, tạp chí Sience mới phong danh hiệu này cho lĩnh vực toán học.

    Đầu năm 2010, Viện Toán học Clay (CMI), một tổ chức phi lợi nhuận lừng danh có trụ sở ở thành phố Cambridge (Massachusetts, Mỹ), ra quyết định trao giải thưởng Thiên niên kỷ cho ông, vì đã chứng minh được Giả thuyết Poincaré kèm phần thưởng là 1 triệu USD.

    Biết tích cách của ông, nên họ thậm chí còn đến tận nhà để trao giải, nhưng cũng như mọi giải thưởng kia, ông đều không nhận, cũng không quan tâm đến.

    “Sau khi cân nhắc kỹ giữa việc nhận hay không nhận giải thưởng, tôi tuyên bố từ chối giải thưởng mà Quỹ Clay dự định trao cho tôi”, Perelman cho hay.

    Trong những lần hiếm hoi chia sẻ suy nghĩ của mình, ông khẳng định rằng: “Tôi không hứng thú với tiền bạc hay danh vọng. Tôi không muốn bị trưng bày như động vật trong sở thú. Tôi không phải là một anh hùng toán học. Đó là lý do tại sao tôi không muốn mọi người nhìn mình”.

    Năm 2011, Grigori Perelman lại một lần nữa, mất công phải từ chối trở thành viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga. Tuy đây chỉ là danh hiệu trong nước nhưng xét về giá trị vật chất thì nó còn lớn hơn tất cả những giải thưởng mà ông từng từ chối trước kia.

    “Anh ấy có một đòi hỏi rất cao về đạo đức và từ chối tất cả các dạng thương mại hóa những nghiên cứu khoa học”, Serguei Roukchine lý giải.

    Thậm chí, trong thời gian ở ẩn, vẫn còn rất nhiều các trường đại học như Princeton, Berkeley, MIT… những trường hàng đầu của Mỹ thường xuyên gửi lời mời tới Perelman, mong mỏi ông cùng cộng tác và định cư vĩnh viễn ở Mỹ. Nhưng Grigori Perelman kiên quyết từ chối tất cả.

    Không ai rõ hiện tại ông sống bằng cái gì, bởi gia đình ông chẳng có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương hưu của mẹ và khoảng tiền nhỏ mà Léna, cô em gái, hiện sống ở Thụy Điển thỉnh thoảng gửi về.

    Thậm chí ông cũng rất ít khi đi ra ngoài, và thường chỉ đi ra để mua sắm một cái gì đó. Hàng xóm xung quanh khu chung cư cũng không ai biết nhiều về ông, vì họ thường chỉ trả lời nhau trong một vài câu xã giao nho nhỏ. Thỉnh thoảng cánh nhà báo vẫn tìm đến ông, nhưng đều bị ông từ chối.

    Lý giải về việc không muốn nổi tiếng của mình, ông trả lời rằng: “Tôi đã có tất cả những gì mình muốn, nên không quan tâm đến tiền bạc hay danh vọng!”.

    “Perelman đã mơ ước chinh phục được đỉnh Everest trong toán và cậu ấy đã làm được điều đó. Giờ đây cậu ấy cảm thấy trống rỗng và muốn rằng mọi người để cậu ấy được yên”, Valery Ryzhik, cựu giáo viên môn toán của Perelman chia sẻ.

    Theo Internet