Khi em cất tiếng khóc chào đời Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười BS Đỗ Hồng Ngọc
Tôi bắt đầu thích, và rất thích những bài viết của BS Đỗ Hồng Ngọc, từ khi đọc bài viết này: … Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc hiện nay đang sống tại Sài Gòn VN. Ông cũng là nhà văn và nhà thơ kỳ cựu trước năm 1975 cho đến nay với bút hiệu là Đỗ Nghê. Ông viết rất dí dỏm, trong sáng, từ ái, và đầy tính nhân bản.
“ (ĐHN) …Bài thơ Thư cho bé sơ sinh tôi viết năm 1965, trong một đêm trực ở Bệnh viện Từ Dũ, sau một ca đỡ đẻ đầu tiên trong đời của một sinh viên y khoa thực tập. Hồi đó, phải học đến năm thứ ba y khoa chúng tôi mới được phép đỡ đẻ trên người. Mỗi sinh viên phải đỡ ít nhất 20 “ca” sanh thường, không bệnh lý. Tối tối, chúng tôi túc trực ở phòng nhận bệnh để “bắt ca”.
Một hôm, tôi bắt được ca “4 cm”, nghĩa là ca mà cổ tử cung đã nở gần trọn, sắp sanh. Tôi đưa sản phụ lên phòng sanh, thăm khám, làm vệ sinh các thứ, theo dõi cơn co tử cung, ghi chép cẩn thận vào hồ sơ bệnh án rồi ngồi bên trò chuyện cho sản phụ quên đau. Tôi nghĩ đến mẹ mình, đến những giọt mồ hôi của biết bao bà mẹ chờ sanh khác. Đến gần sáng thì cơn đau đã rột. “Lúng túng” một cách lành nghề, tôi cũng đã đỡ được ca đầu tiên mẹ tròn con vuông! Lòng lâng lâng tôi đẩy xe cho hai mẹ con về phòng, rồi viết bản “phúc trình”. Trời đã hửng sáng. Bên ngoài khung kính cửa phòng sanh, Sài Gòn tấp nập và hừng hực không khí ngột ngạt những ngày tháng này của năm 1965. Đột nhiên, một cảm xúc trào dâng, tôi viết liền một mạch ngay sau phần bệnh án một bài thơ nhỏ:
Thư cho bé sơ sinh
Khi em cất tiếng khóc chào đời Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc Trong cùng một cảnh ngộ nghe em Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu Nói là để ngừa đau mắt Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen Khi anh cắt rún cho em Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé Vì từ nay em đã phải cô đơn Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ Em là gái là trai anh chẳng quan tâm Nhưng khi em biết thẹn thùng Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm Khi tình yêu tìm đến Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em Em được dán nhãn hiệu từ giây phút đó Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa Một ngày đã thức giấc với vội vàng, với hoang mang, Với những danh từ đao to búa lớn Để bịp lừa để đổ máu đó em Thôi trân trọng chào em Mời em nhập cuộc Chúng mình cùng chung Số phận Con người… Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc, Bv Từ Dũ, 1965)
Nhà văn TÚY HỒNG đã ra đi vĩnh viễn
Nhà văn TÚY HỒNG đã ra đi vĩnh viễn ngày 19-7-2020 tại Hoa Kỳ. Hưởng thọ 82 tuổi.
Bà tên thật Nguyễn Thị Tuý Hồng, sinh ngày 12-10-1938 tại Chí Long, Phong Điền, Thừa Thiên – Huế. Viết văn từ năm 1962. Túy Hồng cùng: Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, và Trùng Dương là 5 nhà văn nữ nổi tiếng lẫy lừng của miền Nam VN trước 1975. Tác phẩm: “Những Sợi Sắc Không” của bà đoạt giải nhất văn chương toàn quốc VNCH 1970.
Thành kính phân ưu.
Đang tháo dỡ nhà thờ Bùi Chu
Đang tháo dỡ nhà thờ Bùi Chu
19/07/2020
Mái và sàn đá hoa của nhà thờ Bùi Chu đang được tháo dỡ. Câu chuyện ồn ào hơn một năm qua về ngôi thánh đường này có lẽ sẽ sớm khép lại với một cái kết buồn cho những người bảo vệ di sản và nhẹ nhõm cho những người nắm giữ số phận của nhà thờ.
Nhà thờ Bùi Chu được tháo dỡ phần mái và sàn nhà – Ảnh: TIẾN ĐẶNG
Sau hơn một năm trì hoãn và tìm các giải pháp khả thi để bảo vệ nhà thờ Bùi Chu (xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) bất thành, các linh mục thuộc Giáo phận Bùi Chu đã quyết định tiếp tục công việc hạ giải ngôi thánh đường hơn 100 tuổi này.
Những hình ảnh từ trang Facebook cá nhân của người phụ trách truyền thông nhà thờ Bùi Chu ngày 18-7 cho thấy nhà thờ Bùi Chu đang được gỡ mái và nền gạch đá hoa.
Dòng trạng thái kèm những hình ảnh hạ giải nhà thờ Bùi Chu của người này viết: “Nhà thờ chính tòa Giáo phận Bùi Chu chính thức hạ giải, xin mọi người cầu nguyện cho việc xây nhà thờ an toàn trong lòng Chúa thương xót…”.
Các giáo dân xung quanh nhà thờ Bùi Chu cũng xác nhận thông tin này với Tuổi Trẻ Online.
Chị Huyền cho biết mùa mưa bão sắp đến, các cha xứ và giáo dân lo ngại vấn đề an toàn trong nhà thờ xuống cấp nên cần tháo dỡ.
Phần hạ giải bàn thờ và di chuyển bàn ghế, nội thất hồi tháng 2, các linh mục chia phần việc cho các giáo xứ, giáo họ. Nhưng lần này công việc tháo dỡ phức tạp hơn nên được giao cho công ty xây dựng thi công.
Lây nay nhà thờ làm hàng rào tôn vây xung quanh nên chính các giáo dân cũng khó tiếp cận khuôn viên nhà thờ.
Hình ảnh sàn đá hoa của nhà thờ Bùi Chu được tháo dỡ ngày 18-7 – Ảnh: TIẾN ĐẶNG
Trả lời Tuổi Trẻ Online, đại diện công an xã Xuân Ngọc cho biết công việc chuẩn bị cho tháo dỡ nhà thờ Bùi Chu được tiến hành vào chiều 16-7, để ngày 17-7 chính thức thi công.
Hiện mái ngói và nền đá hoa của ngôi thánh đường này đang được tháo dỡ bởi nhân lực của công ty xây dựng chuyên về công việc tháo dỡ công trình.
Vị đại diện công an xã cho biết các linh mục đã có thông báo tới chính quyền địa phương về việc hạ giải nhà thờ từ năm 2019, nhưng do nhiều lý do khách quan, trong đó có lý do từ dịch COVID-19 nên việc hạ giải tạm hoãn đến thời điểm này.
Ông cũng cho biết người dân địa phương đều mong đợi có nhà thờ mới. Việc tháo dỡ nhà thờ do các linh mục, giáo dân quyết định làm theo đúng quy định của pháp luật.
Công nhân tháo dỡ mái của nhà thờ Bùi Chu – Ảnh: TIẾN ĐẶNG
Trước thông tin này, ông Martin Rama – người đã dấy lên một cuộc bàn luận về nhà thờ Bùi Chu trên truyền thông và có nhiều nỗ lực thảo luận với các cha xứ giáo phận Bùi Chu tìm giải pháp bảo tồn nhà thờ trong hơn một năm qua – chia sẻ ông rất buồn trước quyết định này của các vị linh mục vì trước đó ông vẫn hi vọng có thể cứu được ngôi nhà thờ tráng lệ và duy nhất của kiến trúc nhà thờ Baroque ở Việt Nam.
“Tôi có thể hiểu những gì đang xảy ra với nhà thờ Bùi Chu. Nhưng tôi vẫn cảm thấy nản lòng” – ông Martin Rama nói.
Ông chia sẻ thêm không chỉ Bùi Chu, nhiều nhà thờ cổ khác ở Việt Nam cũng đang gặp nguy hiểm bởi làn sóng phá cũ xây mới cần được chính quyền, các linh mục và người dân Việt Nam quan tâm giải cứu chúng. Và trong hành trình bảo vệ các nhà thờ cổ còn lại, Bùi Chu có lẽ sẽ luôn được nhớ đến như một vị tử đạo.
Đọc lại đời Nhất Linh
Đọc lại đời Nhất Linh
01/07/2020
Ngoài nội dung hồi ký đầy chất tư liệu, Nguyễn Tường Thiết còn khéo léo để bút pháp văn chương chuyển tải từ câu chuyện của một gia đình vượt thoát thành dữ liệu của hoàn cảnh đất nước.
Thiên hồi ký Nhất Linh, cha tôi vừa được ấn hành trong nước là dịp để công chúng được biết thêm một phần về cuộc đời của nhà văn lĩnh xướng Tự Lực Văn Đoàn và cũng là nhà hoạt động cách mạng Nguyễn Tường Tam từ cái nhìn của người con út Nguyễn Tường Thiết.
Chân dung Nhất Linh. Ảnh tư liệu
Cái chết của Nhất Linh vào ngày 7.7.1963 từng làm chấn động dư luận bấy giờ, gây ấn tượng mạnh cho nhiều người Sài Gòn cố cựu đến mức có nhận định cho rằng mãi đến năm 2001 với đám tang của Trịnh Công Sơn, Sài Gòn mới lại có một đám tang đông như đám tang Nhất Linh.
Trong cơn biến động của thời cuộc bấy giờ, với vị thế một nhà hoạt động cách mạng, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam tỏ rõ bản lĩnh của mình khi quyết định tự sát ngay trước ngày phải ra tòa để chịu nhận quy buộc “tội phản quốc”. Ông chủ động chuẩn bị cho cái chết của mình, tìm cách “qua mặt” hai người con trai, uống thuốc độc tự tử ngay tại nhà, để lại lời di bút đanh thép: “Đời tôi để lịch sử xử”.
Từ đó, biết bao giấy mực đã viết về Nguyễn Tường Tam với một bản lĩnh, một khí tiết kỳ đặc, cũng như ở Nhất Linh là những nét tài hoa độc đáo thâm thúy mà văn nghệ nước nhà không dễ gì gặp lại.
Nhất Linh, cha tôi có hai chương đầu được Nguyễn Tường Thiết – người con gần gũi và được Nhất Linh tin yêu hơn cả – tập trung nói về cha mình, từ chuyện ấn tượng đầu đời lúc lên mười mới lần đầu gặp bố, đến những biến động thời cuộc dẫn đến việc Nhất Linh vào Nam, rồi gắn bó cuộc đời với cao nguyên Đà Lạt, niềm đam mê lan rừng và thú vui thổi hắc tiêu tại ngôi nhà bên suối Đa Mê ở Finôm…
Ngoài nội dung hồi ký đầy chất tư liệu, Nguyễn Tường Thiết còn khéo léo để bút pháp văn chương chuyển tải từ câu chuyện của một gia đình vượt thoát thành dữ liệu của hoàn cảnh đất nước.
Và trong nhiều trang viết kể chuyện tìm lại cố hương, dấu vết dòng họ, gia đình, Nguyễn Tường Thiết chọn cách viết trộn lẫn suy tư hồi ức với ghi chép thực tại, vừa tạo độ tin cậy bởi thông qua thực tại đang miêu tả, ông như một người con, một độc giả đang tìm gặp lại những đất những người, nhìn lại ngôi nhà Hàng Bè, căn biệt thự trụ sở Tự Lực Văn Đoàn, khu phố chợ ở Cẩm Giàng… là chất liệu đã trở thành văn của Nhất Linh, vừa là hơi hướng của những người đồng chí một thời dấn thân góp sức cho nền văn nghệ mới của nước nhà.
Cùng tác giả “ngược về quá khứ”, người đọc nhiều phen phải dừng mắt mờ nhòe trước những bước ngoặt cuộc đời đau như thắt ngực. Chẳng hạn hình ảnh người con gái hai mươi tuổi là chị cả phải dắt díu bốn đứa em thơ lạc cả cha mẹ từ Hà Nội tản cư về Phát Diệm với hành trình biết bao trắc trở hiểm nguy. Câu chuyện ấy ám ảnh tác giả, treo trong trí ông hình ảnh một người chị thật phi thường, để rồi gần sáu mươi năm sau, trên chuyến tàu trở về quê nội, người chị bấy giờ chỉ còn là chiếc bình hài cốt bên cạnh hài cốt cha mẹ, cậu em út mới thì thầm nói được với chị mình một lời xin lỗi: I am so sorry!
Nhà văn Nhất Linh (giữa) đi dạo với các cháu. Ảnh tư liệu của bà Trương Kim Anh (Nguồn: Thanh Niên)
Không chỉ thế, Nguyễn Tường Thiết còn một nỗi ám ảnh nữa từ mẹ ông: bà Nhất Linh – bà Cẩm Lợi. Hóa ra, vào lúc năm chị em con ông Nhất Linh chạy loạn về Phát Diệm, thì vợ Nhất Linh cùng người con trai lớn lại lâm nạn ở một nơi khác. Ở đó, hai mẹ con chứng kiến những người thân của mình bị xích tay rồi sau đó bị thủ tiêu… Phải chi, tác giả viết nhiều hơn nữa về người mẹ quá ư độc đáo của mình.
Và phải chi, Nguyễn Tường Thiết viết luôn cả về sự hy sinh của những người phụ nữ trong các gia đình cự tộc như gia đình Nguyễn Tường. Bởi lịch sử cận hiện đại Việt Nam có thể còn được nhìn ở một cái trục đặc biệt: Sự xiêu tán, vỡ nát, mất đi của các gia đình cự tộc, từ những dòng họ danh giá đất Hà thành và nhiều nơi xứ bắc, đến những cố gắng níu giữ trong đoàn di cư vào Nam… Sự mất mát kinh khủng mà thi sĩ Vũ Hoàng Chương khi nhớ lại đã khóc bằng thơ: “Ôi thôi khoảnh khắc dâu thành bể/ Gươm báu rùa thiêng cũng đoạn trường”.
Nhưng ở Nhất Linh, cha tôi, tác giả góp phần trả lời một nan đề gay cấn, đó là: Với lời di ngôn “đời tôi để lịch sử xử”, nhưng rồi lịch sử đã… xử thế nào?”. Câu trả lời ấy, thật quý hóa, có thể tìm thấy ở câu chuyện ly kỳ khi những người con trong dòng họ Nguyễn Tường trở về Cẩm Giàng tìm lại mộ ông nội (Nguyễn Tường Nhu – thân sinh của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam); hay như câu chuyện trong ngày cuối tháng 4.1975 với gia đình Nguyễn Tường Thiết, trường hợp đứa con tên Thao của ông được đưa lên máy bay cùng với mẹ là “con dâu của Nguyễn Tường Tam”, cũng chính là một hồi âm của lịch sử trước tên tuổi nhà hoạt động cách mạng, nhà văn đáng kính đối với nhiều người.
Hơn 50 năm sau, đọc lại cuộc đời Nhất Linh lúc sắp đến ngày giỗ kỵ ông vào tháng 7, sực nghĩ ngay tại Sài Gòn nơi ông gắn bó từ năm 1951 khi đất nước còn chưa chia đôi cho đến lúc lìa đời, nay còn lại những gì làm di tích, kỷ niệm? Và những trang hồi ký của Nguyễn Tường Thiết lại mang đến những thông tin đầy tiếc nuối, chạnh lòng.
Đó là vào năm 2001, chính người con út của Nguyễn Tường Tam được người chị dâu nhà bác trao lại cho một gói tài liệu được xem là bảo vật, bao gồm: “Trọn bộ 11 quyển Văn Hóa Ngày Nay mà chú Tam tặng anh chị. Đây là những bức tranh do chính chú Tam vẽ. Đây là bản thảo viết dang dở. Đây là những tài liệu mà chú đã tín nhiệm giao cho chị giữ…“.
Hay như chi tiết ngôi chùa Giác Minh ở Gò Vấp từng tọa lạc ngôi mộ của Nhất Linh trong một thời gian dài, ngôi mộ do họa sĩ Nguyễn Gia Trí vẽ kiểu và kiến trúc, “mộ có cái bia phía trên cong lên bốn phía như một mái chùa”, ông Nguyễn Tường Thiết ghi trong hồi ký. Nhưng có lẽ, tác phẩm ấy của Nguyễn Gia Trí đã không còn.
Cũng may, còn có những trang hồi ký này như một đường dẫn để thế hệ hôm nay tìm lại với nhân vật một thời lừng lẫy: Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.
Tọa đàm ra mắt hồi ký Nhất Linh, cha tôi
Nhân dịp lần đầu tiên xuất bản ở Việt Nam, công ty Phanbook tổ chức buổi tọa đàm ra mắt hồi ký Nhất Linh, cha tôi của Nguyễn Tường Thiết với sự góp mặt của diễn giả – nhà nghiên cứu Nhật Chiêu.
Trong buổi ra mắt này, nhà văn Nguyễn Tường Thiết cũng sẽ có lời chào với độc giả Việt Nam. Ông cũng sẽ chia sẻ thêm thông tin về cuốn sách này, về người cha bí ẩn của mình…
Buổi tọa đàm sẽ diễn ra lúc 14h – 16h, ngày 4.7.2020 (Thứ Bảy), tại Cafe Thứ Bảy (Số 38, Võ Văn Tần, quận 3, TP.HCM).
Hôm nay: ngày, tháng, năm nào ?
Từ ngày Chị mất: đã bao lâu rồi ?
Mà em tưởng mới đây thôi!
Niềm đau tử-biệt khôn nguôi trong lòng!
Nỗi buồn biết lấy gì đong?
Chỉ còn nước mắt hai dòng, Chị ơi!
Nhớ ngày em mới tới nơi:
Cấp cao, chức lớn, mà vơi túi tiền!
Chị cho em một phép tiên:
Nuôi em ăn, để em yên một bề.
Mỗi ngày hai bữa đi, về:
Chị săn-sóc, Chị không nề nhọc thân.
Mẹ em thì đã từ-trần;
Chị: em không có; em cần Chị thương.
Con trai Chị: cách trùng dương;
Rể và em Chị: mỗi phương một người .
Tới lui: chỉ mình em thôi:
Mối tình Mẹ+Chị: Chị bồi cho em…
“Chú cần tẩm-bổ nhiều thêm;
Việc nhiều, đi sớm, thức đêm tổn người!
“Chú cần có lúc nghỉ-ngơi,
Thong-dong thân-xác, thảnh-thơi tâm-hồn!
“Chú cần tâm-sự trào tuôn,
Một mình kín tiếng: mười muôn hiểu lầm!
“Chú: người thiện-tính, thuần-tâm
Mà đời sao cứ… dập bầm, nổi trôi!
“Người ta “lên” đến đâu rồi
Vợ+con cũng hưởng những hồi sướng-sung!
“Thà rằng dốt-nát, điên-khùng…
Mà thôi! Nói mấy cho cùng, chú ơi!…”
Từ ngày em sinh ra đời,
Thương em, chỉ Chị là người hiểu em!
Lần đầu em mới được xem
Nỗi lòng em, được Chị đem họa hình!
Được người hiểu thấu lòng mình,
Tưởng như ẩn-ức tâm-tình nhẹ vơi …
Nhưng, môi em chưa kịp cười
Thì… thân em… đã… vội rơi … vào tù!
Ân Chị, em chưa đáp bù,
Thì Chị cũng đã nghìn thu viễn-hành!
Em viết mấy chữ chân-thành,
Chưa kịp gửi Chị, đã… đành… đốt đi!
Đời em cứ chậm như rì:
Đến thì trễ-trớt, mà đi: muộn-màng!
Dịp may như chuyến đò ngang:
Em ôm mộng lớn, kềnh-càng khó qua!
Đón mình: có mấy người ta ?
Đến đó có là… giờ thứ hăm lăm?…
Bây giờ Chị đã xa-xăm,
Em ôm mộng lớn mà nằm trong lao!
Mộng hồn gửi tới trăng sao,
Vẳng nghe lời Chị hôm nao, nhủ thầm:
Em: người thiện-tính, thuần-tâm!
Ai: người ngậm ngải, tìm trầm? — Chị ơi!