Tác giả Đinh Vũ Hoàng Nguyên là nhà thơ, vì thơ rất hay. Anh là họa sĩ chuyên nghiệp vì tốt nghiệp tại trường Đại học Mỹ Thuật Công nghiệp Hà Nội. Anh là một nhà văn: truyện ngắn của anh chứa đầy nụ cười và trăn trở. Cười vì văn chương anh dí dỏm một phần nhưng trăn trở vì phía sau những số phận nhân vật mà anh đem vào truyện như nét vẽ chân dung trọn vẹn tính người trong dòng chảy gập ghềnh của thời đại.
Người nghệ sĩ đa tài ít tuổi đó là Đinh Vũ Hoàng Nguyên. Giã từ bàn viết ở tuổi 37 (2012) khi tài năng chỉ mới bắt đầu nhưng đã báo hiệu một phong cách lạ, nhiều dấu ấn và luôn làm ngạc nhiên người đọc.)
…
CAO NHƯ ĐẢNG
“Tên của gã là Cao Như Đảng. Tên cúng cơm của gã là Cao Như Đảng. Trong lý lịch gã đề tên Cao Như Đảng. Tức là đích thị trên đời có thật một gã Cao Như Đảng.
Cao Như Đảng biệt tài làm thịt chó, thịt nhanh, nấu khéo, cả làng cả xóm biết tiếng. Ngay cả chó dại, chó chết ốm, chó bị trẹt xe…, gã mà đã nhúng tay pha thịt, ướp hấp, lúc dọn lên mâm vẫn ngon nhức.
Trong xóm nhà ai thịt chó cũng nhờ gã. Ủy ban xã khi nào tiếp khách hay liên hoan, cần thịt chó, lại gọi gã. Bản lĩnh ấy khiến gã với mấy vị trên Ủy ban thành thân tình. Dần dần người ta lấy luôn cái nghề của gã gắn vào tên, gọi gã là Đảng Chó. Gã nghe vậy cũng chẳng lấy gì làm phiền.
Một ngày, Cao Như Đảng mở quán thịt chó.
Hôm khai trương, gã mời cán bộ trong xã đến đánh chén. Rất vui. Nhưng đang dở bữa, thì bí thư xã phát hiện ra cái biển trước quán đề THỊT CHÓ ĐẢNG.
Ông bí thư gọi Cao Như Đảng đến, quắc mắt:
“Ông ghi thế này là chửi ai?”.
Cao Như Đảng nói:
“Thì dân vẫn gọi em là Đảng Chó, các bác trên xã cũng gọi em là Đảng Chó, thì giờ mở quán em làm biển thế cho tiện!”.
Bí thư bảo:
“Lời nói gió bay, nói mồm với nhau không có gì làm bằng, chứ ghi lên thế này thì mặt mũi đảng còn cái chó gì nữa?”. Gã đành “dạ dạ…”.
Cái biển sau, rút kinh nghiệm, Cao Như Đảng đề: ĐẢNG THỊT CHÓ.
Bí thư xã đến ăn, nhìn biển mới, gật gật gù gù bảo:
“Sửa thế này được, để cái giống ấy sau chữ đảng, cho đỡ bị hiểu lầm!”.
“Cả nhà nhà em toàn người ngoan và ngu, có biết gì mà phản động?”.
Ông bí thư hạ giọng, thầm thì:
“Nước mình là một đảng lãnh đạo, cấm có cái chuyện hai ba đảng, ông ghi thế này nhỡ ai hiểu là ông lập đảng đối lập, thì toi!”.
Cao Như Đảng bảo:
“Chả nhẽ thằng bán thịt chó và mấy thằng ăn thịt chó mà cũng bị thành đảng à?!”.
Bí thư bảo:
“Ai chả biết thế! Nhưng cái nước mình nó thế! Mà thôi, tốt nhất thời này cái gì đã đảng thì đừng chó, mà đã chó thì đừng đảng!”.
Gã đành “dạ dạ…”.
Sau bữa đấy, Cao Như Đảng lại thay biển mới, còn đề mỗi THỊT CHÓ.
Nhưng lắm lúc gã tấm tức: đến cái giống chó còn đi không đổi họ, ngồi không đổi tên, lúc biến thành thịt vẫn gọi là chó, chẳng nhẽ chỉ do nước này có độc cái đảng mà thành mình phải kị húy, phải kiêng cả tên cha sinh mẹ đẻ đặt cho, thì hóa chẳng bằng chó!
– Cựu học sinh Trung Học Trần Quý Cáp , Hội An . – Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Khoá 20 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam . – Chức vụ sau cùng : Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân . – Từ 1975 tới 1988 tù cải tạo ( 13 năm ) từ Nam ra Bắc . – Từ 1993 định cư tại Thành Phố Seattle , tiểu bang Washington , USA . – Năm 2003 tốt nghiệp University of Washington , cấp bằng BA Social Sciences & Communication . – Gia cảnh hiện nay : Một vợ , 4 con , 1 cháu Nội , 3 cháu Ngoại .
* * *
Một chiều cuối năm 1998 tôi vào Trường University of Washington ( UW ) để đón đứa con gái áp út tan giờ học . Tình cờ tôi nhìn thấy một ông già đứng chờ xe bên bến Bus . Có lẽ ông cụ lớn tuổi hơn tôi nhiều . Hỏi chuyện , tôi mới hay , ông cụ đã qua tuổi bảy mươi , ăn tiền hưu , và đang học môn Truyền Thông ( Communication ) năm Senior . Tôi chợt nghĩ , thời gian này mình cũng không bận lắm , tại sao không trở lại trường ? Ít ra cũng học thêm được vài điều hay . Thế là , hôm sau tôi nộp đơn xin trắc nghiệm trình độ Toán và Anh Văn để xếp lớp tại Shoreline Community College ( Shoreline CC ) .
So với các trường đại học cộng đồng quanh vùng , thì học phí của Shoreline CC tương đối nhẹ . Thật là , không có gì diễn tả nổi niềm vui sướng tột cùng của tôi buổi đầu được cắp cặp trở lại trường làm học trò . Ba mươi lăm năm sau khi rời ghế nhà trường ( 1963 ) để tình nguyện vào quân ngũ , tôi đâu ngờ còn có ngày được ngồi dưới lớp nghe lời thầy giáo giảng ? Xung quanh tôi là những người trẻ tuổi vừa qua bậc Trung Học . Tôi làm việc 10 tiếng đồng hồ 1 ngày , 4 ngày 1 tuần lễ . Ngày , ngày , vừa tan sở , tôi lại vội lái xe tới lớp . Từ ấy , tôi làm việc full time , đi học full time , bận bịu vô cùng . Học kỳ ( quater ) đầu tiên , tôi ghi danh một lớp Toán , và hai lớp Anh Văn , mỗi lớp 5 tín chỉ ( credit ) . Tôi miệt mài trong công việc suốt ngày , và chuyên cần trong học tập mỗi đêm . Vào mùa thi , tôi thức trắng hai , ba đêm là thường . Tôi ghi danh full time để thúc đít thằng con út . Thằng nhỏ sợ ông bố theo kịp , nên phải gắng chạy có cờ để thoát lên đại học 4 năm .
Một niên khoá trôi qua . Con đường học hành của tôi đang có vẻ rộng mở thênh thang , thì bỗng dưng lại quẹo vào một khúc quanh , chỉ vì mùa Fall 2000 tôi đã ghi danh lớp History 274 « US and Vietnam » .
Tôi « lấy » lớp Sử Ký này với mục đích tìm hiểu xem cuộc chiến tranh vừa qua đã được các sử gia Mỹ ghi chép lại như thế nào ? Từ đó , hy vọng biết được phần nào , nguyên nhân vì sao , giữa đường , Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam , vì sao chúng ta đã thua trận .
Người từ lâu độc quyền phụ trách lớp Sử 274 là thầy Dan . Trong thời gian dài cả chục năm qua , ông giáo kỳ cựu này đã đào tạo hàng ngàn môn sinh . Những học trò của ông sau khi chuyển tiếp lên trường đại học bốn năm , đã trở thành những Thạc Sĩ , Tiến Sĩ . Lâu lâu họ lại ghé về trường xưa , thăm ông thầy cũ .
Lớp « US and Vietnam » mùa Fall 2000 có chừng hơn hai chục học viên , trong đó da trắng chiếm đa số . Có 4 học trò gốc Châu Á , gồm 2 anh Tàu lục địa , một cậu bé H’Mong và tôi . Bạn đồng lớp với tôi còn nhỏ lắm . Họ trẻ hơn mấy đứa con tôi nhiều .
Tôi cứ tưởng rằng những tài liệu lịch sử mà các thầy giáo đem truyền bá , phải nằm trong chương trình đã kiểm duyệt và cho phép của Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ . Nhưng thực tế không phải vậy . Nền giáo dục của Mỹ đã đi vào tự trị từ lâu . Thầy giáo có toàn quyền lèo lái , hướng dẫn con thuyền học vấn chở học trò mình tới bất kỳ bến bờ nào mà thày đã chọn . Thầy giáo chỉ định sách giáo khoa nào thầy sẽ dạy để chúng tôi mua . Thầy phổ biến những tài liệu nào mà thầy ưng ý . Trong hai phần ba thời gian đầu của học kỳ Fall 2000 , mỗi khi nói tới phong trào Việt Minh , ông giáo sư dạy Sử không ngớt ca tụng HCM như một lãnh tụ tài ba , và vô cùng sáng suốt đã khôn khéo hướng dẫn dân tộc Việt Nam tới chiến thắng thoát ách đô hộ của Đế Quốc Pháp .
Thầy khẳng định rằng , chính phủ Hoa Kỳ là nguyên nhân cuộc chiến tranh Đông Dưong lần thứ hai ( 1954-1975 ) . Vì theo lời thầy , thì HCM đã năm lần gửi mật thư cho Tổng Thống Harry Truman để xin thần phục và hợp tác , nhưng Tổng Thống Harry Truman đã từ chối . Thầy cho rằng người Mỹ đã lầm lẫn trợ giúp quân Pháp trở lại tái chiếm Đông Dương trong khi cao trào dân chủ , đấu tranh giành độc lập đang lan tràn trên toàn thế giới , và chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời .
Chúng tôi đã được cho xem những đoạn phim cũ về trận Điện Biên Phủ , về Hiệp Định Geneve , và về cuộc di cư năm 1954 . Với những trận có âm vang quốc tế như Plei Me , Khe Sanh , Kontum , Bình Long , Long Khánh vân vân … chúng tôi chỉ được thấy những cảnh thương vong của quân đội Đồng Minh và Việt Nam Cộng Hoà . Trận Mậu Thân , chỉ là cảnh … nhà cháy , dân chạy loạn . Tất cả những « tư liệu » này đều có thực , nhưng thầy Dan chỉ trưng bày những phần có lợi cho Việt Cộng . Tôi chưa nghe được từ miệng thầy một lời nói tốt nào cho phía Việt Nam Cộng Hoà . Thầy mô tả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà như một đội quân kém cỏi về cả tổ chức lẫn khả năng tác chiến . Với thầy Dan , chiến tranh Việt Nam chỉ là một gánh nặng cho ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ , một sự phí phạm công quỹ . Đã có đôi lần tôi dơ tay nêu ý kiến bênh vực quân đội ta , chính quyền ta , thì ông chỉ cười , chỉ tay vào quyển Sử dày cộm : – Book said !
Cứ cái điệp khúc « Sách dạy ! » đó , ông thầy phản chiến đã lịch sự gián tiếp nhắc nhở cho tôi hay rằng , tôi là một học trò , còn ông là một vị giáo sư nói có sách , mách có chứng .
Thầy hùng hồn thuật lại những lần thầy tham gia biểu tình chống chiến tranh thời 1960s và nặng lời đả kích lệnh động viên ngày đó , đã đưa hàng trăm ngàn thanh niên Hoa Kỳ vào chỗ chết .
Kết quả hai lần khảo hạch giữa học kỳ ( Mid Term ) tôi đều lãnh điểm ( F ) bởi vì tôi chỉ làm trót lọt phần A , B , C khoanh , còn về bài tiểu luận ( essay ) thì tôi bị loại thẳng tay .
Cả hai bài đều lãnh điểm « không » ( 0 ) chỉ vì tôi đã viết không hợp ý ông thày . Ngặt một điều là , lớp History 274 này bị tính điểm đem lên trường đại học 4 năm . Bị đánh rớt lớp này thì giấc mơ chuyển tiếp lên University of Washington của tôi sẽ thành mây khói .
Tôi theo học lớp này đúng vào lúc nhà trường đang sôi sục với cuộc vận động bầu cử Tổng Thống . Ông thầy dạy Sử không phải là người độc nhất có ác cảm với chiến tranh , mà Tiểu Bang Washington tôi đang cư ngụ cũng là thành trì của Đảng Dân Chủ . Tâm sự này kiếm cả trường chắc cũng chẳng có ai thông cảm !
Thời gian này lòng tôi thật muộn phiền . Tôi tự trách rằng , mùa Fall 2000 có thiếu gì lớp tương đương với History 274 mà sao tôi lại nộp mạng vào cái lớp chết tiệt này ? Đúng là bỏ tiền ra ghi danh để ngồi nghe người ta chửi mình , chửi quân đội mình . Càng nghĩ tôi càng thấy tức ! Thằng con trai thấy ông bố rầu rầu bèn lân la hỏi chuyện . Khi hiểu nguồn cơn nỗi buồn của tôi , nó mới cho tôi hay , năm ngoái nó cũng ghi danh học lớp này , và đã bị một « vố » đau . Để thoát thân , từ bài thi thứ nhì nó phải viết theo ý ông giáo . Vất vả lắm nó mới kiếm được đủ điểm .
Sau ngày có kết quả khảo hạch kỳ thứ nhì , tôi bỏ công xuống thư viện nghiên cứu , sao chép những tài liệu sử liên quan tới chiến tranh Việt Nam . Tôi không màng đến vấn đề chuyển tiếp lên University of Washington nữa . Tôi chờ , nếu có cơ hội là tôi sẽ « choảng nhau » với ông giáo phản chiến này một trận , rồi muốn ra sao thì ra . Tôi lục lạo kệ sách loại chọn lọc ( preference ) và tìm được một quyển Sử Ký , trong đó , chứa đựng nhiều tài liệu ghi chép rõ ràng những thành quả mà Việt Nam Cộng Hoà đã thực hiện được . Trong số những tài liệu quý giá đó , có cả một bài đề cập tới đơn vị tôi , Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân . Tôi vui mừng và cẩn thận photo copy những gi thu nhận được để dùng làm bằng chứng khi cãi lý với ông giáo sư dạy Sử . Tôi cũng tận dụng thời gian rảnh cuối tuần để sắp xếp cho có thứ tự những điều cần tranh luận . Tôi ghi sẵn những câu phê bình , những câu chất vấn thẳng thắn với thầy Dan về cung cách giáo dục học trò của ông , và về những tài liệu mà ông đã dùng để trợ huấn . Buổi học áp chót của mùa Fall chúng tôi có một giờ đầu thi A , B , C khoanh . Sau đó thầy giáo phát đề bài làm ở nhà . Thời gian còn lại , thày sẽ giảng gợi ý cho bài tiểu luận . Bài tiểu luận sẽ phải giao nộp vào đầu giờ buổi học cuối cùng . Vừa nghe chuông giải lao , tôi tiến tới bàn ông giáo Sử . Dù trong bụng đã chuẩn bị sẵn một mớ ngôn từ đao to búa lớn cho một cuộc đấu khẩu sống mái , nhưng tôi vẫn dằn lòng , nhỏ nhẹ : – Thưa giáo sư . Xin giáo sư vui lòng cho phép tôi được trình bày với ông đôi điều liên quan tới sự giảng dạy của ông trong thời gian vừa qua . Tôi có thể làm phiền ông vài phút được không ? Thầy Dan niềm nở : – Dĩ nhiên là được . Ông có điều gì cần cứ nói . Thấy câu chuyện đã mở đầu trót lọt , tôi mạnh miệng :
– Thưa giáo sư , tôi là một người Việt Nam tỵ nạn . Tôi là một cựu sĩ quan của Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà . Tôi còn nhớ trong bài giảng đầu tiên , thầy có nhắc đi , nhắc lại rằng , phi vụ đầu tiên của pháo đài bay B 52 trên Cao Nguyên Việt Nam là vụ oanh tạc Thung Lũng Ia Drang . Thầy có biết không ? Cũng vào ngày hôm đó , tôi đang tập dượt lễ mãn khoá sĩ quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam . Và 10 năm sau , trước khi tàn cuộc chiến , vùng đất mà tôi chịu trách nhiệm trấn giữ cũng bao gổm cả cái Thung Lũng Ia Drang đó . Thầy chỉ biết tới những trận đụng độ đẫm máu trong thung lũng Ia Drang qua báo chí , truyền thanh , và truyền hình . Còn tôi là người đã lặn lội mười năm ở đó , đã nhiều lần bị thương đổ máu ở đó , đã rơi lệ vuốt mắt cho nhiều đồng đội nằm xuống ở đó . Trong số những người nằm xuống ấy , không thiếu những thanh niên Mỹ đồng trang lứa với thầy . Nơi đó chúng tôi chiến đấu quên mình từng ngày , vì nền độc lập của đất nước tôi , và vì quyền lợi của nước Mỹ . Thầy chưa từng khoác áo nhà binh , chưa một lần có mặt trên chiến trường . Suốt đời thầy không hiểu nổi thế nào là niềm kiêu hãnh của một người lính chiến , thế nào là lòng khát khao chiến thắng , thế nào là tình huynh đệ chi binh .
Suốt đời thầy không hiểu được vì sao hơn hai chục thương binh què quặt của một đơn vị Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà phải mở đường máu rút lui mà vẫn cưu mang theo ba người lính Mỹ , trong đó có hai người bị trọng thương ; và vì sao một đại tá Hoa Kỳ đã đưa thân che chở cho một thương binh Việt Nam để rồi ông bị mảnh đạn vỡ đầu . Mạng lưới truyền thông thiên Cộng khổng lồ của Hoa Kỳ đã tiếp tay với bộ máy tuyên truyền của Cộng Sản Quốc Tế cố tình xuyên tạc , bóp méo tất cả những c liên quan tới nguyên nhân , diễn tiến , và hậu quả của cuộc Chiến Tranh Việt Nam . Từ đó , tên Việt Cộng khát máu HCM đã được tô vẽ , đánh bóng thành một vị lãnh tụ đức độ anh minh .
Chính tên sát nhân này và đảng Cộng Sản Việt Nam đã giết oan không biết bao nhiêu đồng bào vô tội của tôi trong suốt thời gian ba mươi năm chiến tranh . Nằm trong số hàng trăm ngàn nạn nhân bị giết , tù đầy , thủ tiêu , cha tôi và chú tôi cũng bị chặt đầu trôi sông trong thời gian đó . Nếu chế độ Cộng Sản là tốt đẹp , thì đã không có một triệu dân miền Bắc di cư vào Nam sau Hiệp Định Geneve năm 1954 , và sẽ chẳng có những cuộc vượt biên bi thảm của hàng triệu thuyền nhân trên biển bỏ quê hương sau khi Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản năm 1975 . Thầy chỉ mới thấy hình bé gái Kim Phúc trần truồng , vừa khóc vừa chạy , thân mình phỏng cháy vì bom Napalm của quân Đồng Minh đánh lầm vào nhà dân , mà thầy đã thấy xót xa , cho rằng quân Đồng Minh tàn ác .
Nếu thầy ở vào vị trí của tôi , không hiểu thầy sẽ nghĩ sao ? Ngày 18/04/1974 , sau khi tái chiếm Căn Cứ Hoả Lực 711 , Pleiku , tôi đã tận mắt chứng kiến một cảnh dã man chưa từng thấy . Trong một căn hầm trú ẩn đầy ruồi nhặng , trên chiếc giường tre là cái xác trần truồng của một người vợ lính . Chị bị Việt Cộng lột hết quần áo , bị hãm hiếp , rồi bị đâm chết bởi nhiều nhát lưỡi lê , ruột gan lòi lòng thòng . Trên nền đất , máu đọng thành vũng . Trong góc hầm là xác đứa con trai hai tuổi của nạn nhân . Cháu bé bị trói hai tay , hai chân bằng dây dù và cũng bị hàng chục nhát lưỡi lê đâm vào bụng , vào ngực . Hai người này vừa theo chuyến xe tiếp tế của đơn vị lên thăm Chồng và Cha của họ được vài ngày . Họ đã không kịp chạy khi Việt Cộng tràn ngập căn cứ trưa 15/05/1974 . Câu chuyện vừa tới đây thì hết giờ giải lao , học trò trở lại lớp . Ông giáo vỗ vai tôi , – Ông cứ ngồi đây , ta sẽ tiếp tục .
Rồi ông lớn tiếng cho phép lớp nghỉ sớm , để học trò có thời gian chuẩn bị bài thi viết . Chờ cho người học trò sau cùng ra khỏi cửa , thầy Dan nói nhỏ với tôi : – Ông hãy tiếp tục câu chuyện của một nhân chứng sống . Tôi mong được nghe thêm .
Tôi không ngần ngại , tiếp lời :– Cám ơn Giáo Sư . Tôi chỉ nói những gì thấy tận mắt , nghe tận tai , và những gì xảy ra cho chính bản thân và gia đình tôi để thầy có một nhận định chính xác về cuộc chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng như thế nào đối với người dân Việt .
Tôi tâm sự với thầy Dan rằng , tôi là một học trò tốt nghiệp trung học vào đúng thời điểm đất nước lâm nguy nên tôi đã tình nguyện vào quân ngũ để cứu nước . Tôi tóm lược cuộc đời chinh chiến của mình cho ông giáo nghe . Tôi thấy thầy Dan đặc biệt lưu tâm tới những chiến dịch xảy ra trên Tây Nguyên , và ông có vẻ rất quen thuộc với những địa danh Ban Mê Thuột , Pleiku , Plei Me , Đức Cơ , Kontum . Nghe tôi nói ở Tây Nguyên chiến trận , chết chóc xảy ra hàng ngày , ông vội hỏi : – Mỗi lần ra trận , ông có sợ không ?
Tôi cứ tình thực trả lời :– Sợ chứ ! Vào chỗ chết , ai mà không sợ ? Nhưng tinh thần trách nhiệm đã làm cho tôi quên cái sợ . Thấy ông giáo sư có vẻ muốn nghe truyện chiến trường , muốn hiểu tâm tư người đi trận ra sao , tôi đã không ngần ngại thuật lại hoàn cảnh của tôi trong trận Dak Tô năm 1969 . Cuối trận này tôi đã phải mở khói đỏ yêu cầu máy bay đánh ngay trên đầu mình để cùng chết với quân thù . Vào giờ phút tuyệt vọng nhứt của trận đánh đó , tôi đã nghĩ gì , tôi cũng thổ lộ cho ông giáo biết . Ông giáo sư đã từng nghe nói tới cái tên « Đường Mòn HCM » nhưng chưa bao giờ ông ngờ rằng đó là cả một hệ thống đường giao thông chằng chịt che dấu dưới rừng già dọc Trường Sơn . Tôi đã chia sẻ với ông những cảm giác hồi hộp , căng thẳng của người có cái kinh nghiệm đi toán Viễn Thám săn tin dọc biên giới Việt Miên Lào từ Khâm Đức tới Bu Prang vào những năm 1972-1973 . Ông cũng rất hứng thú khi nghe tôi thuyết trình về kỹ thuật bắn xe tank mà Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã áp dụng trong trận Xuân Lộc Tháng Tư năm 1975 . Trận Xuân Lộc này ông có nghe qua , nhưng ông không ngờ , một trong những cấp chỉ huy trực tiếp của trận đánh lừng lẫy ấy đang ngồi trước mặt ông . Tôi không quên nói tới những lần dừng quân bên xóm làng quê nghèo nàn , nhận những bát nước chè xanh , những củ khoai luộc của đồng bào tôi đem ra mời mọc . Tình quân dân cá nước ấy đã là những liều thuốc bổ giúp tinh thần chúng tôi mạnh mẽ hơn khi đối mặt với quân thù . Tôi thuật lại cho thầy nghe , trong tình thế hoàn toàn tuyệt vọng , chúng tôi đã chiến đấu kiên cường như thế nào .
Và sau khi biết rằng chỉ trong vòng một tháng cuối cùng , chín mươi phần trăm của quân số hơn năm trăm người thuộc Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã chết vì tổ quốc , thì ông giáo đã giơ hai tay lên trời , lắc đầu thốt ra hai tiếng ,
Thầy Dan la lên : – Trời ơi ! Thầy Dan cũng muốn tìm hiểu xem , sau khi mất nước thì số phận của tôi và gần một triệu quân nhân , công chức chính quyền Việt Nam Cộng Hoà ra sao . Ông đã trố mắt ngạc nhiên khi biết ra rằng , từ sau Tháng Tư năm 1975 , khắp đất nước tôi , « Trại Cải Tạo » đã mọc lên như nấm . Cái tên « Re Education Camp » mà ông đã nghe qua , trên thực tế chỉ là những trại tù khổ sai . Những « học viên » trong các trại đó sống không khác gì những con vật , quằn quại với cái đói . Họ bị ép buộc làm việc tới kiệt lực . Tinh thần bị khủng bố , căng thẳng liên miên bởi những buổi ngồi đồng học tập , phê bình , bầu bán . Tôi thú thật với ông giáo rằng , trong thời gian đó , tôi chỉ nghĩ tới tự do ; làm sao để tìm lại được tự do , dù có chết cũng cam lòng . Ông giáo đã tỏ ra say mê theo dõi truyện hai lần tôi trốn trại thất bại , cùng những cực hình mà tôi phải gánh chịu . Tôi cũng không ngần ngại thuật lại hoàn cảnh của vợ tôi ngày đó , một nách bốn đứa con thơ dại , vất vả , tảo tần nuôi con , chờ chồng trong 13 năm tôi bị giam giữ , tù đầy .
Tôi cho ông giáo biết tôi là người sinh ra tại Miền Bắc Việt Nam . Tháng 07/1954 gia đình tôi đã cùng gần một triệu người khác di cư vào Nam để trốn lánh Cộng Sản . Tôi cặn kẽ phân tích cho thầy rõ , sau Hiệp Định Geneve năm đó , hai miền Nam , Bắc Việt Nam đã thành hai quốc gia , độc lập và có chủ quyền , có biên giới . Chính HCM và đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ trương , phát động và điên rồ theo đuổi một cuộc chiến tranh tiến chiếm Miền Nam . Quân đội và nhân dân Việt Nam Cộng Hoà chỉ làm nhiệm vụ tự vệ . Quân Mỹ và Đồng Minh vào Việt Nam là để phụ giúp chúng tôi chống lại một cuộc xâm lược từ phương Bắc .
Chúng tôi thất trận không phải vì chúng tôi kém khả năng , thiếu tinh thần chiến đấu , mà vì người Mỹ đã phản bội , nửa đường rút quân , cắt viện trợ . Từ khi người Mỹ rút lui , chúng tôi bị bó chân bó tay , bụng đói mà vẫn phải chiến đấu . Trong khi đó , Miền Bắc lại tràn ngập lương thực , quân dụng , quân nhu , và vũ khí viện trợ từ khối Cộng . Thời gian khởi đầu chương trình Việt Nam Hoá chiến tranh , còn được cung ứng vũ khí , lương thực dồi dào , chúng tôi đã chứng tỏ khả năng có thể cáng đáng bất cứ nhiệm vụ nào của quân đội Đồng Minh bàn giao lại . Để chứng minh điều này , tôi mở tờ copy từ quyển History của thư viện , trong đó có sơ đồ các cánh quân Việt Nam Cộng Hoà vượt biên tiến chiếm miền Bắc Cam Bốt trong chiến dịch Bình Tây 1 , 2 , 3 cuối năm 1970 của Quân Đoàn II . Tôi chỉ cho ông cái dấu hiệu quân sự hình tam giác có chữ R ở giữa , cạnh trên có ba cọng râu , bên trái là con số 2 :
– Đây ! Thưa thầy , cuối năm 1970 , tại vùng 2 Chiến Thuật , chúng tôi đã đánh đuổi quân Bắc Việt tới bờ đông của sông Mê Kông trên đất Miên . Ngày đó tôi là người chỉ huy một đơn vị trực thuộc Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân . Tôi đã đánh chiếm thành phố Ba Kev , và đóng quân tại nơi này một thời gian . Chúng tôi đã chứng tỏ rằng khả năng chiến đấu của chúng tôi đã hơn hẳn quân đội Bắc Việt . Nhưng những năm sau , viện trợ cắt giảm dần . Mặc dầu tinh thần của chúng tôi không suy giảm , nhưng chiến đấu trong cảnh thiếu thốn thường xuyên , chúng tôi vất vả lắm . Tôi xin đan cử ra đây một so sánh để thầy thấy rõ sự khác biệt .
Trước khi Mỹ rút , tháng 06/1968 , có một lần tôi đang dàn quân tiến chiếm một ngọn đồi thì Bộ Chỉ Huy Task Force South của Mỹ ở Đà Lạt đã bắt tôi ngừng lại để chờ pháo binh và không quân yểm trợ . Tôi đã nhận được một phi tuần hai phi xuất F4C và sau đó là một hoả tập tám trăm quả đạn đại bác 105 ly trên mục tiêu trước khi xung phong . Mục tiêu đó chỉ rộng bằng diện tích khuôn viên trường Shoreline CC này . Chỉ hơn một năm sau khi Mỹ rút , tháng 08/1974 , tiền đồn Plei Me do tôi trấn giữ đã bị một lực lượng địch đông gấp 9 lần vây hãm 34 ngày đêm . Plei Me cũng chỉ rộng bằng trường Shoreline CC thôi . Vậy mà mỗi ngày chúng tôi đã hứng chịu từ một ngàn tới hai ngàn viên đạn pháo cối của địch . Để chống lại , ngoài hai khẩu 155 ly của quân bạn yểm trợ từ xa , tôi chỉ có hai khẩu đại bác 105 ly . Vì tình trạng khan hiếm , tôi chỉ được phép bắn theo cấp số đạn giới hạn là bốn viên cho mỗi khẩu súng một ngày . Chiến đấu trong tình trạng thiếu thốn như thế , chúng tôi vẫn chiến thắng . Thầy nghĩ sao về chuyện này ? Chúng tôi đã chiến đấu cho chính nghĩa như thế đấy , chúng tôi đã hy sinh như thế đấy , và chúng tôi đã bị bỏ rơi như thế đấy . Tôi cũng không hiểu vì sao người Mỹ phản chiến , trong đó có thầy , lại xuống đường tranh đấu , cổ vũ cho kẻ thù của chúng tôi , và ngược đãi chiến binh của chính nước Hoa Kỳ ? Thầy ơi ! Sao thầy lại nỡ nhẫn tâm như thế ! Thầy đã tiếp tay với kẻ thù , đâm sau lưng thân nhân và bạn bè đồng minh của thầy . Nhân dịp này , tôi cũng chuyển lại cho thầy nghe tâm sự của anh Bill , một bạn cựu quân nhân Mỹ trở về từ Việt Nam năm 1973 . Anh Bill hiện nay ( 2000 ) là Supervisor của hãng mà tôi đang làm việc . Đây là lời của anh ấy :
– Bạn có cảm thông nỗi đau đớn của chúng tôi ngày đó không ? Hôm chúng tôi cặp bờ Everett , Washington , dân chúng Mỹ , kể cả những người thân , tiếp đón chúng tôi bằng cách dơ cao ngoắc ngoắc ngón tay giữa ! Đi đâu chúng tôi cũng bị nhìn với đôi mắt khinh khi . Bao nhiêu ê chề nhục nhã đổ lên đầu người thua trận . Thua trận đâu phải lỗi của chúng tôi ? Có bạn tôi đã buồn mà tự tử . Rồi tôi bị giải ngũ . Thời gian ấy kiếm được một việc làm là điều khó khăn trần ai . Hãng xưởng nào cũng không mặn mà với những hồ sơ xin việc của những cựu chiến binh . Cũng may , có người bạn học thời Mẫu Giáo đã giới thiệu tôi vào làm việc cho hãng này . Lương hướng thời ấy chỉ có 3 USD một giờ cũng đã khiến tôi mừng quá lắm rồi . Sau câu chuyện này , tôi chuyển sang phê bình cách giảng dạy của ông thầy , tôi nói thẳng với ông giáo sư rằng , bao năm nay ông đã bóp méo lịch sử của cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam , làm như thế ông đã phạm tội đối với lịch sử . Cách giảng dạy của ông đã gieo vào trí óc học trò những thành kiến sai lầm đối với Việt Nam Cộng Hoà , làm giảm giá trị sự trợ giúp của chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ đối với nước tôi . Cuối cùng , tôi hỏi ông giáo :
– Thầy còn nhớ , năm ngoái , có một cậu bé Việt Nam , mặt mày sáng sủa , lông mày rậm , tóc hớt kiểu nhà binh theo học lớp Sử 274 này không ?– Nhớ chứ ! Mỗi lớp chỉ có vài học trò Á Châu , dĩ nhiên là tôi nhớ !– Cậu bé Việt Nam đó chính là thằng con út của tôi ! Năm ngoái , bài tiểu luận đầu của nó bị điểm « không » ( 0 ) vì nó viết theo quan điểm của một người dân Miền Nam . Những bài sau nó phải đổi cách viết , để thầy cho điểm khá hơn . Tôi là cha nó ; tôi là một trong những người chứng kiến , tham gia và trực tiếp gánh chịu hậu quả của cuộc chiến tranh vừa qua ; tôi không thể làm như con tôi được . Tôi đã nói hết những đều cần nói với giáo sư , và tôi sẵn sàng chấp nhận hậu quả .
Ông thầy dạy Sử như bừng tỉnh cơn mơ : – Tôi tin lời ông , vì chẳng có lý do gì để ông nói dối . Có điều là , từ đó tới nay , hơn hai mươi năm dài , kể từ ngày những gia đình Việt Nam đầu tiên tới định cư ở Hoa Kỳ , chưa ai nói cho tôi nghe những điều này . Có thể , người ta muốn quên đi quá khứ , hoặc là người ta không có can đảm nói ra . Tôi đã hiểu , và tôi phải cám ơn ông . Ông quả là một chiến binh thực thụ .
Nghe được những lời nói chân tình từ miệng ông giáo sư , lòng tôi cảm thấy ấm áp lạ lùng . Trước mắt tôi , ông đã thành một người bạn đồng minh , ông đưa bàn tay hộ pháp ra cho tôi bắt : – Thưa người chiến binh . Ông vừa lập một chiến công !
Đêm ấy trên đường về nhà , lòng tôi rộn ràng như thuở nào giữa sân vận động Pleiku , sau chiến thắng Plei Me , tôi đã đứng trước một đoàn hùng binh , quần áo hoa rừng , nhận những vòng hoa rực rỡ , tai nghe bản nhạc « Bài Ca Chiến Thắng » do ban quân nhạc Quân Đoàn II hoà tấu .
Ngày chấm dứt mùa Fall năm 2000 ông thầy dạy Sử tươi cười trao cho tôi bản tổng kết cuối khoá , trên đó điểm trung bình ( GPA ) lớp History 274 của tôi ghi 4 chấm ( 4,00 ) .
Cuối mùa Spring 2001 tôi dự lễ cấp văn bằng tốt nghiệp AA nơi vận động trường có mái che của Shoreline Community College . Khán đài đông nghẹt thân nhân . Vợ tôi và bốn đứa con tôi cũng có mặt ngày hôm ấy . Khi người điều hành gọi tên tôi lên bục để nhận văn bằng , cả hội trường đều ngạc nhiên vì thấy nơi hàng ghế giữa của khu giáo sư có tiếng ai gào lên như tiếng sấm : – Long ! I’m proud of you ! Đến lúc bà Hiệu Trưởng bắt tay tôi thì ông giáo Dan đứng dậy , bắc loa tay hướng về sân khấu : My soldier ! I’m loving you !
Ông là một người cao lớn . Trong chiếc áo thụng đen , trông ông dềnh dàng như nhân vật chính trong phim « Người Dơi » .
Những người có mặt trong hội trường buổi ấy đều quay mặt nhìn về hướng ông giáo , ai cũng ngạc nhiên vì hành động phá lệ của một ông thầy xưa nay nổi tiếng là mô phạm . Thấy ông giáo Dan réo tên tôi ầm ầm , vợ con tôi và những khán giả ngồi trên khán đài cũng vỗ tay , reo hò , la hét theo . Hai năm sau , khi tốt nghiệp BA từ University of Washington , tôi về thăm và báo cho ông biết , ông vui lắm .
Từ đó cho tới khi tôi ngồi viết lại những giòng này ( 2011 ) hàng chục ngàn học trò đã tới , rồi giã từ Shoreline Community College . Và chắc chắn , hàng trăm lượt người trẻ tuổi đã đi qua lớp History 274 . Mười một năm qua , tôi vẫn nhớ buổi tối năm nào , tôi với ông giáo sư dạy Sử đã ngồi tâm sự với nhau . Lời khen của ông , mà tôi quý như một tấm huy chương , vẫn còn văng vẳng : – Thưa người chiến binh . Ông vừa lập một chiến công !
Seattle 2011/07
Vương Mộng Long – K20
Đúc kết 38 bí qᴜyết νàпg νề sức khỏe củɑ Ԁɑпh y Hoɑ Đà
Danh y ʜoa Đà là 1 trong 4 ɴʜâɴ νật пổi tiếng пhất trong пgành Đông y TQ. 38 bí quyết пày từng được xem là “phương châm sống thọ” của rất пhiềᴜ пgười. Bạn có thể tham khảo áρ Ԁụng.
Muốn sống khỏe mạnh thì ρhải Ԁựa νào Ԁưỡng sinh
Danh y ʜoa Đà (145 – 208) là một thầy ᴛʜυṓc пổi tiếng thời cuối Đông Hán νà đầυ thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc.
Ông được xưng tụng пhư một ᴛнầɴ y пổi tiếng không chỉ ở пội bộ đất пước Trung Quốc mà còn được biết đến rất пhiềᴜ trong các пước đồng νăn ʜóᴀ пhư Việt Nam, Nhật Bản νà Hàn Quốc, được xem là một trong пhững ông tổ của Đông Y.
Ông cùng Đổng Phụng νà Trương Trọng Cảɴʜ được xưng tụng làm Kiến An tam ᴛнầɴ y, đồng thời cùng νới Biển Thước, Trương Trọng Cảɴʜ νà Lý Thời Trân được xem là 4 νị đại Ԁanh y пổi tiếng bậc пhất trong lịch sử Trung Quốc пói riêng νà các пước có пền Đông y ρнát triển пói chung.
Saᴜ đây là 38 lời Ԁạy của ʜoa Đà νề sức khỏe νà Ԁưỡng sinh, được пgười xưa coi là “bí quyết νàng”. Nếᴜ làm được, bạn sẽ нạn chế được bệɴʜ ᴛậᴛ ρнát sinh, cơ thể khỏe mạnh νà tuổi thọ được kéo Ԁài.
Cʜâɴ Ԁung Danh y ʜoaĐà
1. Tỏi là một kho báᴜ quý giá, ăn chúng thường xuyên sẽ rất tốt sức khỏe.
2. Mỗi пgày ăn 2 quả táo, bệɴʜ ᴛậᴛ trong cơ thể sẽ không tìm đến bạn.
3. Mỗi пgày ăn một quả táo tàu, trường sinh bất lão không ρhải là chuyện xa νời.
4. Quả óc chó giống пhư một kho báᴜ của пúi rừng, ăn νào νừa bổ thậɴ, νừa tốt cho ɴão
5. Sắt không ɴấᴜ chảy không thành thép, пgười không chăm sóc sức khỏe thì không thể khỏe mạnh
6. Cà rốt chính là “tiểᴜ ɴʜâɴ sâm”, ăn thường xuyên sẽ có tinh ᴛнầɴ νà thể ʟực tốt.
7. Cà chua là trái cây có Ԁinh Ԁưỡng tốt, ăn νào sẽ trẻ đẹρ νà ít bệɴʜ.
8. Dưa chuột пhỏ là một kho báᴜ cho sức khỏe, ăn нàng пgày có thể giúρ giảм câɴ νà Ԁưỡng пhan rất tốt.
9. Ăn cần tây пhiềᴜ нơn mà không cần нỏi lý Ԁo, νì đây là thực ρhẩm нạ нuyết áρ rất нữᴜ ích.
10. Hành lá chấm пước sốᴛ, càng ăn càng ʙéo.
11. Ăn một bát cháo đậᴜ xanh νào mùa нè, là một bài “ᴛʜυṓc tiên” trong νiệc giải độ.c, thanh пhiệt, giảм пóng.
29. Cứ để пước мắᴛ chảy, bệɴʜ tự пhiên sẽ giảм пhẹ (ý пói νề tác Ԁụng của khóc, không пên kìm пén cảm xύc).
30. Bậc trượng ρhᴜ cũng có lúc ρhải rơi пước мắᴛ, ɑnh нùng bị chảy мáᴜ cũng ρhải rơi lệ (ý пói không пên kìm пén đᴀᴜ đớn, пgăn chặn cảm xύc tự пhiên).
31. Trong giấc пgủ, пên để cho trái tiм пgủ trước, đôi мắᴛ пgủ saᴜ (thư giãn tinh ᴛнầɴ trước khi пgủ).
32. Dùng ᴛʜυṓc bổ нay thực ρhẩm bổ, cũng không bằng νiệc làm cho trái tiм khỏe.
33. Cơm chăm sóc cơ thể, âm пhạc lời ca chăm sóc trái tiм νà ᴛâм нồn.
34. Mang trong mình một trái tiм trẻ trung, cả đời bạn sẽ không biết đến sự già пua. ᴛâм нồn νui νẻ thì пhan sắc thanh xuân.
35. Một пụ cười có thể trẻ ra 10 tuổi.
36. Mỗi пgày cười 3 lần, khó khăn пào cũng qua, tuổi già sẽ chậm đến.
37. Thường xuyên mở мiệɴg cười tươi, thanh xuân luôn tồn tại trên khuôn мặᴛ bạn.
38. Một tiếng kêᴜ khóc sẽ giúρ bạn loại bỏ ᴜ sầu.
Trên đây là пhững lời khuyên của Danh y ʜoa Đà Ԁành cho пgười Ԁân cách đây đã нơn 18 thế kỷ, tuy пhiên cho đến пay, нầᴜ пhư chúng νẫn còn giá trị khoa нọc νà ứng Ԁụng rất cᴀo. Nếᴜ cảm thấy bổ ích, нãy chia sẻ cho bạn bè của bạn cùng tham khảo.
Nói đến trăng, chúng ta sẽ nghĩ đến ông Lý Bạch, nhà thơ nổi tiếng như cồn bên Tàu cách nay cả ngàn năm có dư, và được tôn sùng là nhà thơ số một từ trước tới nay của Trung Hoa. Thơ ông hay làm sao, thật tình tôi chưa hân hạnh được đọc, nhưng ông chết thế nào thì tương truyền rằng một hôm đang đi thuyền uống rượu trên sông bỗng thấy bóng trăng phản chiếu xuống dòng nước đẹp quá, sẵn hơi men, ông nhảy ùm xuống nước để ôm trăng và…ngủm.
Mỗi lần nghe câu chuyện trên, tôi vẫn cười tự hỏi không biết ông Lý Bạch đã để lại cho hậu thế được bao nhiêu bài thơ và ngày nay biết còn được mấy người có thể nhớ trọn một bài nào đó của ông, nhưng chính cái chết của ông lại được thi vị hoá thành một huyền thoại và lưu truyền rộng rãi mãi cho đến bây giờ. Tôi thì tôi cho rằng bữa đó ông xỉn quá ngồi trên thuyền không vững nên bị tai nạn té xuống nước, và xui một điểm là nhà thơ không … biết bơi, nên đành lặng lẽ trôi theo khóm lục bình. Trăng thì cứ nhìn lên trời thấy nó sáng chói, rõ ràng mới đẹp chứ đợi nó in hình dưới nước thì đâu có gì đẹp? Tôi lấy thí dụ bạn muốn ngắm một người đẹp thực sự bằng xương bằng thịt trước mặt mình, hay nhìn cô ta trong gương vậy?
Vậy đó mà những cơn mưa bão thổi qua Cali mấy ngày qua đã làm tôi suy nghĩ lại. Không chừng ông Lý Bạch quả đúng như tương truyền, ông ấy nhảy xuống sông để ôm trăng mà chết thiệt!
Hôm kia, không hiểu vì lý do gì tôi ra vườn sau nhà vào buổi tối. Mưa đã tạnh, nhưng hậu quả của mấy ngày mưa dầm dề đã làm nước ngập một cái vũng trong vườn nhà tôi, khá lớn, độ gần một mét đường kính. Nếu không nhờ mấy cơn mưa lớn vừa rồi tôi cũng không biết vườn nhà mình có một chỗ hủm để nước có thể tụ lại thành vũng trông như một cái ao tý hon vậy. Nhưng điều làm tôi thích thú nhứt là ở ngay giữa ao là nguyên một vầng trăng. Đúng vậy. Mưa tạnh, mây tan và trăng lại hiện ra trên cao. Trăng rằm vành vạnh, chói sáng cả bầu trời sau cơn mưa và in trọn vẹn xuống …cái ao vườn nhà tôi.
Trăng đẹp. Chúng ta có ai không một lần trong đời nhìn trăng trên cao và tấm tắc khen là nó đẹp. Đã biết bao nhiêu giấy bút, thi văn, thần thoại xuất xứ từ trăng lưu truyền từ ngàn xưa và sẽ mãi đến ngàn sau. Tôi cũng vậy. Thỉnh thoảng, thường là những ngày rằm, tôi có khi tình cờ nhìn vầng trăng chiếu sáng trên bầu trời và cũng tấm tắc khen nó… đẹp. Chỉ vậy thôi. Nửa phút là nhiều lắm. Nếu lúc đó có ai hỏi trăng đẹp ở chỗ nào thì đành cười trừ.
Hôm nay cũng vậy. Tôi cũng nói là vầng trăng trên trời thật đẹp. Đẹp ở đâu ? Không biết. Nhưng vầng trăng ở trong vũng nước ngay trước mặt tôi thì khác. Tôi sẽ không ngần ngại gì mà trả lời rằng trăng đẹp vì hình như là nó có hồn. Hồn Trăng. Có một sự khác biệt rõ ràng giữa hai vầng trăng. Trăng ở trên trời thì xa xôi diệu vợi, còn vầng trăng dưói đất trước mặt tôi thì nó gần gũi làm sao. Thậm chí tôi có thể lấy tay đụng nó được. Trăng trên cao thì bất động vô tri, còn trăng ở đây thì đang chuyển mình theo từng gợn sóng lăn tăn mỗi khi có cơn gió thổi qua làm cho tôi có cảm tưởng như trăng đang múa.
Một cảm giác man mác, thanh thản chạy khắp cơ thể làm tôi rùng mình với ý nghĩ này. Trăng trên trời là của chung nhân loại, còn vầng trăng này là của riêng tôi, của tôi mà thôi. Trong một khoảnh khắc mấy giây thôi, tôi có cảm giác như thế giới chung quanh mình bỗng nhiên ngừng đọng; chỉ còn vầng trăng trước mặt đang lả lướt uốn mình trong một vũ điệu nghê thường nào đó, và tôi là khán giả duy nhứt được chọn để thưởng ngoạn.
Tôi ráng đứng thật yên tận hưởng những giây phút kỳ diệu này, vì một đám mây đang dần kéo đến xâm chiếm và che dần vầng trăng của tôi. Tôi tiếc lắm nhưng không làm gì được. Tôi linh cảm là những cảm giác vừa qua có thể là cơ hội duy nhứt trong đời. Trăng thì bao giờ cũng còn, và nước thì ở đâu cũng có, nhưng phải đợi đến bao giờ cảnh và tình mới có thể kết hợp một cách hài hòa và sống động trong tôi như vậy nữa?
Và tôi bỗng nhớ tới ông Lý Bạch. Họ nói ông thấy trăng dưới nước đẹp quá bèn nhảy theo xuống. Cũng có thể lắm. Tôi chỉ là một hậu sinh tầm thường mà bỗng nhiên cũng có vài giây xuất thần như vậy thì với công lực cao siêu của ông Lý Bạch, có lẽ ông không những thấy trăng đang muá vũ khúc Nghê Thường, mà chắc là ông còn thấy cả Hằng Nga Tiên nữ trong đó nữa nên ông nhào xuống ôm là phải rồi.
Trở lại cái vũng nước sau vườn.
Tôi vẫn còn tiếc nuối vầng trăng của tôi nên nấn ná chờ cụm mây đi qua. Quả nhiên chỉ vài phút sau sự nhẫn nại của tôi đã được bồi đáp. Trăng lại xuất hiện một lần nữa, trong veo vẻo giữa cái ao. Nó cũng uốn mình lăn tăn theo từng gợn sóng. Tôi mừng lắm, nhưng rồi lại thất vọng vì quả nhiên là không còn tìm lại được cảm giác như lúc nãy. Trăng vẫn đẹp, nhưng tôi không còn cảm được cái hồn của nó nữa. Tiếc quá đi thôi.
Có một đoạn thơ xưa như vầy:
“Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thủy”
Chàng ở đầu sông, thiếp ở cuối sông. Nhớ nhung nhưng không thể gặp mặt; hãy cùng nhau uống nước sông Tương.
Nếu tôi nhớ không lầm thì đây là bốn câu trong bài thơ Trường Tương Tư. Bài thơ khá dài nhưng đây là bốn câu độc đáo và được trích đọc nhiều nhứt. Chuyện xưa kể rằng có nàng Lương Ý Nương nhà ở bên bờ sông Tiêu Tương vừa đẹp lại vừa hay chữ. Ở trọ nhà nàng có thư sinh tên là Lý Sinh. Một đêm Trung Thu trăng tròn, hai người cùng thưởng trăng, tâm đầu ý hợp và thương yêu nhau. Cha của nàng không đồng ý cuộc tình nên đã đuổi Lý Sinh ra đi thật xa. Nàng Ý Nương ở lại nhà bên bờ sông Tương, thương nhớ người tình mà cảm tác ra bài Trường Tương Tư này.
Phải chi ngày đó có ai nói cho họ biết rằng không phải chỉ có nước sông Tương mới là cái chung của họ. Còn vầng trăng trên trời nữa chi? Dù có cách xa nhau ngàn dặm sơn khê thì vầng trăng kia cũng chỉ một. Hai người chỉ cùng nhìn lên trăng mà tâm sự thì cũng vơi đi nỗi niềm.
Nhưng rồi họ lại nói rằng trăng kia có cả…ngàn cặp tình nhân khác cùng nhìn và cùng tâm sự như họ thì đâu còn gì là riêng tư. Được thôi. Muốn riêng tư thì có riêng tư.
Dù chàng có ở đầu sông nàng ở cuối sông , thì nơi nào cũng phải có những vũng nước như vũng nước sau vườn nhà tôi, phải không? Vậy thì chàng và nàng cứ ra sau vườn, mỗi người một vũng, đợi trăng lên cao in bóng xuống nước, thế là mỗi người đã có một vầng trăng riêng mặc sức mà tâm sự. Và điều tuyệt vời nhứt là bây giờ trăng đang ở gần ngay trước mặt. Hai người có thể đặt tay lên và nhờ ánh trăng làm cầu đưa lên gặp nhau trên Cung Quảng.
….Thi sĩ Tản Đà của chúng ta trước đây cũng có một câu lục bát bất hủ:
“Ai làm cho khói lên trời
Cho mưa xuống đất, cho người biệt ly.”
Làm người thì phải biệt ly, nhưng hội ngộ thì lại tùy duyên. Nếu có duyên, thỉnh thoảng chúng ta sẽ gặp lại nhau ở những khúc rẽ cuộc đời.
Còn nếu lỡ vô duyên?
Xin hãy gởi tình qua ánh trăng.
Bởi vì, dù ở phương trời xa xôi cách biệt nào, chúng ta bao giờ cũng chung một vầng trăng.
Đêm nay, dưới ánh trăng thanh bình của xứ người, xin gởi tình tôi về bên kia bờ đại dương, qua những xóm làng, đến những dòng sông của quê hương yêu dấu.
…
Trăng rơi rơi sáng ngập bờ đê.
Có người quảy gánh cuối đường quê
Nghiêng vai bóng đổ chân đều bước
Sương khuya trắng phủ mái tóc thề
Tôi về từ nghìn dặm sơn khê
Theo trăng dừng bước cạnh bờ đê
Đôi dòng viết vội treo đầu gánh
Gánh trăng cô gánh cả thơ về
./.
ThaiNC
THƠ ĐỜI TUY ĐỤC MÀ TRONG
Trong giới văn nghệ sĩ, nhà thơ Bùi Chí Vinh là cái tên được nhắc tới với nhiều giai thoại, bởi anh có tài ứng khẩu thành thơ nhiều đề tài hóc búa do bạn bè thách đố bên chiếu rượu.
Còn trên thi đàn, thơ đời Bùi Chí Vinh người khoái cũng nhiều, người ghét cũng lắm, thậm chí là một cái gai trong mắt nhiều người vì dám nói thẳng, nói thật, tung hê hết thảy sự đời trong đục, kiểu “bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”. Nhưng cũng cái dáng vẻ ngang tàng, gai góc ấy khi thỏ thẻ thơ tình lại biến hóa thành trong veo không có tuổi, kiểu như: “Cô gái ơi anh nhớ em/ Như con nít nhớ cà – rem vậy mà…”.
Tự nhận mình sinh ra dưới một ngôi sao “quậy”, cầm tinh con ngựa bất kham, từng khoác áo lính một thời tuổi trẻ, nhưng có lúc phải làm đủ thứ nghề mạt lộ để sinh nhai như lời tự bạch: “Ta sinh ra gặp buổi nhiễu nhương/ Bất lương bàn luận chuyện hiền lương/ Kẻ sĩ cúi đầu làm binh sĩ/ Thơ quốc doanh cười cợt thơ Đường…”. Vài năm nay, anh chuyển sang cầm cọ vẽ tranh và đã có hai triển lãm cá nhân gây được sự chú ý trong công chúng.
-Trước đây mọi người quen gọi anh là nhà thơ, nhưng bây giờ gọi anh là họa sĩ trẻ cũng được phải không ạ?
Cứ gọi tôi là Bùi Chí Vinh – Bình Chí Vui là được rồi. Thật ra tôi làm quen với hội họa từ nhỏ, năm chín tuổi đã đoạt giải hội họa Thiếu nhi châu Á với bức tranh màu nước Quang Trung hành quân. Nhưng rồi do cái duyên, tôi gắn bó với văn chương nhiều hơn trong một thời gian dài. Thật vây, mỗi khi làm một công việc mới nào đó tôi đều không có sự tính toán nào. Tôi tin mọi việc đều do sự sắp đặt của số phận cả, và “cùng tắc biến, biến tắc thông”.
-Bùi Chí Vinh một tay chọc trời khuấy nước mà cũng tin vào số phận sao? Cái sự “cùng tắc biến, biến tắc thông” của anh là gì vậy?
Sao lại không chứ. Tính cách nào, số phận nấy mà. Tôi tin vào số phận, vào Thượng đế, vào luật nhân quả. Nếu có niềm tin, con người ta sẽ sợ làm điều ác, điều xấu. Tôi chỉ không sợ cái ác, cái xấu khi phải đối đầu với nó thôi.
Đời tôi có những việc rất lạ mà tôi tin đó là sự trợ lực của Thượng đế. Tôi có niềm tin vào tâm linh, dù chúng ta đang sống trong thế giới duy vật. Đó là một khi cuộc sống bị đẩy vô chân tường thì tôi lại bộc lộ ra một khả năng mới và sống được bằng khả năng đó. Tôi quăng mình vào thơ một cách dữ dội nhưng rồi đến lúc chỉ được làm thơ tình để mọi người vỗ tay, hay thơ minh họa nghị quyết… tôi không thích nữa và dừng lại. Đưa đẩy thế nào tôi chuyển sang viết truyện cho tuổi mới lớn và bán vào hàng chạy nhất lúc đó cùng với Nguyễn Nhật Ánh. Khi người đặt hàng tôi viết truyện thiếu nhi là ông Nguyễn Thắng Vu, Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng qua đời thì lại có người đặt hàng tôi viết kịch bản điện ảnh. Khi những nhà đầu tư làm phim gặp khó khăn thì khả năng hội họa của tôi lại trỗi dậy. Hai triển lãm vừa qua, mỗi cái tôi bán được năm bức tranh. Là “họa sĩ trẻ” mà được như vậy cũng là thành công rồi.
-Hỏi thật, anh đã thành danh trong văn chương, khi “tay ngang” đến với hội họa, anh không sợ bị cho là lấn sân, không “biết mình biết ta” sao?
Tôi có biết gì về hội họa đâu, bỗng một ngày muốn vẽ thì cầm cọ vẽ thôi. Vẽ xong cũng không có ý định triển lãm, nhưng rồi cái duyên cứ đưa đến. Tranh của tôi không giống ai, nó là minh họa cho cái đầu, cho suy nghĩ của tôi nên có sự hồn nhiên, chân thật lẫn dữ dội, thống khổ. Mỗi người có một sứ mệnh riêng nên tôi không nghĩ là mình lấn sân. Và vì “biết mình biết ta” nên tôi chỉ dạo chơi với hội họa một cách thoải mái nhưng hết mình. Bùi Chí Vinh là thế, chơi cái gì cũng phải hết mình.
Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người.
-Như vậy sau hội họa, sẽ còn điều bí ẩn nào đó đang chờ anh khám phá phải không?
Như tôi đã nói, đó là một phản xạ tâm linh nên tôi cũng không biết trước. Có thể đó là sự trở lại với văn chương, vì tôi còn nhiều dự định đang ấp ủ.
Nếu có điều kiện viết tiểu thuyết lịch sử hoặc làm kịch bản phim, tôi sẽ chọn viết về thời đại Quang Trung – Nguyễn Huệ, vì những con người anh hùng áo vải thời đó rất ly kỳ. Nó sẽ rất phong phú bởi nhiều tình tiết, chi tiết dạng giả sử, ngoại sử rất hấp dẫn, nhưng đều trên cơ sở khoa học, hợp lý mà tôi có thể tưởng tượng và làm được. Không chỉ có Nguyễn Huệ mà cả Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, rồi sự xuất hiện của Nguyễn Hữu Chỉnh – một tài năng lớn của thời Lê – Mạc nhưng đi theo Nguyễn Huệ, Ngô Thời Nhiệm cũng vậy. Những người này có đời sống riêng rất đặc biệt, Ngô Thời Nhiệm là đệ nhất văn thần, còn Nguyễn Hữu Chỉnh là đệ nhất quân sư thời đó. Có thể thấy những nhân vật lỗi lạc nhất của Bắc Hà đều theo Nguyễn Huệ, cả những người Hoa tham gia phong trào phản Thanh phục Minh cũng theo Nguyễn Huệ. Chỉ có minh chúa mới có sức thu phục nhân tâm như thế.
-Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn Bùi Chí Vinh thì có cảm giác gì khi “đáo tuế”?
Tôi sinh năm Giáp Ngọ 1954, năm nay 2014 cũng là Giáp Ngọ, vậy là đúng 60 năm cuộc đời. Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn tôi lại không nghĩ vậy. Cuộc đời tôi đã trải qua quá nhiều vận hạn khắc nghiệt ở những năm khác nên đến năm tuổi, có khi tôi sẽ phục sinh, nạp đủ năng lượng để sải vó, để rong ruổi, để chinh phục những điều mới mẻ.
“Ngày ta sinh Nguyễn Huệ đã bùng hà/ Nên con – ngựa – tử – vi không người cưỡi/ Ta sút chuồng phá bỏ yên cương/ Lặng lẽ ruổi đời mình lên núi…”. Hình như kiêu hãnh và cô độc là con đường mà anh đã chọn và theo đuổi đến cùng…
Đúng rồi, vì “Chỉ có cô đơn mới đủ làm ta khóc/ Tiếng khóc của ta là tiếng hí của người/ Ta không biết ta là người hay ngựa/ Chỉ một mình Nguyễn Huệ hiểu ta thôi”… Đó là bốn câu đầu và cuối mà tôi đã viết trong bài Ngày sinh của ngựa. Bài thơ này mới nghe qua tưởng rất ngông cuồng, nhưng thật ra không phải vậy. Câu “Ngày ta sinh ra bầy rắn đã rung chuông”, tôi vừa mượn ý bài Ngày sinh của rắn của Phạm Công Thiện, nhưng hình ảnh rắn cũng để nói về một cái gì đó hiểm độc. Sự rình rập, mai phục trong bụi của rắn đối lập với hình ảnh con ngựa tung vó chạy trên đồng cỏ, càn lướt trên thảo nguyên. Trong đời tôi, Nguyễn Huệ là vị anh hùng mà tôi cảm phục, thần tượng nhất. Không chỉ là người làm nên chiến công hiển hách, chưa hề thất trận mà về mặt nhân quyền, ông có nhiều cải cách cho dân.
Thời nào cũng vậy, cách cô độc của một kẻ sĩ cầm bút đi liền với sự kiêu hãnh. Cô độc vì cảm thấy “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn” nên phải lùi lại. Nhưng trong biểu hiện sự cô độc phải có cá tính riêng. Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người.
-Văn chương cũng là một sản phẩm của xã hội. Có ý kiến cho rằng người viết trẻ bây giờ có kỹ năng nhưng ít có vốn sống nên tác phẩm của họ cũng lơ lửng. Anh thấy nhận xét trên thế nào?
Phải nói rằng viết văn là một nghề cực nhọc, đòi hỏi không chỉ tài năng mà còn sự dấn thân, bản lĩnh của người viết. Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Tức phải tải được đạo lý, nhân nghĩa, chính trực, chứ nếu viết văn để tải cái hả hê, cái tham vọng của cá nhân thì nên chọn công việc khác hơn là viết văn. Tôi tin những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.
Bây giờ văn chương rất hỗn độn. Văn chương thậm chí tải cái ác, cái lơ lửng, khích cái tà đạo nhưng lại được một bộ phận không nhỏ cổ vũ. Có lẽ do đời sống bây giờ thực dụng, người ta không còn lý tưởng nên văn chương biến thành minh họa cho xã hội. Hơn bao giờ hết, giữa xã hội hỗn độn, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn thì văn chương càng phải làm nhiệm vụ “văn dĩ tải đạo” hơn nữa. Nhưng nhìn vào tương lai của văn học trẻ bây giờ tôi không cảm nhận được điều đó. Hiện nay tuy có rất nhiều người viết trẻ, nhưng tôi lại thấy văn học trẻ rất bế tắc. Lý do họ bị khống chế quá nhiều. Trong bản thân mỗi người có sẵn một người tự kiểm duyệt những con chữ của mình. Thế nên nhiều tác phẩm ra đời kiểu “đầu voi đuôi chuột”, mở ra vấn đề lớn nhưng kết thúc không đâu vào đâu.
Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.
-Đời sống thực dụng, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn. Nghe thật đáng sợ, nhưng chẳng lẽ chúng ta phó mặc, không làm gì sao? Có lẽ nên bắt đầu từ giáo dục, anh có thấy như vậy không?
Thời của tôi, từ khi còn nhỏ, học tiểu học là đã được nhà trường dạy môn Đức dục. Đó là cách tập tu thân, cư xử có đạo đức, theo đạo lý, lẽ phải nhưng không giáo điều, lên gân mà hết sức đơn giản, gần gũi như thưa gởi, xin phép cha mẹ khi ra khỏi nhà, chào người lớn tuổi, gặp đám tang cúi đầu chào, nghe thấy quốc ca dù ở đâu cũng đứng nghiêm, không nhặt của rơi… Những điều rất cơ bản trong một xã hội văn minh mà một đứa trẻ cần phải biết cách ứng xử với bạn bè trang lứa, với cha mẹ, người lớn, hàng xóm, với cả người nước ngoài đến nước mình. Lên trung học, bước vào đệ thất (tức lớp 6) thì học thêm môn Công dân, mở rộng hơn dạy về cách sống yêu nước, dám dấn thân, hy sinh, nghĩ đến đất nước trước khi nghĩ đến bản thân. Nhờ những bài học Đức dục, Công dân mà một đứa trẻ khi lớn lên bên cạnh kiến thức thì đã được trang bị nền tảng văn hóa để biết cách sống đẹp. Đất nước ta đã từng có những thế hệ được thừa hưởng nền giáo dục nhân văn như thế, từ đó mới có những người sống vì lý tưởng, dám dấn thân, dám hy sinh.
Có lần tôi tham gia biểu tình và bị cảnh sát rượt, tôi phải quăng chiếc xe đang chạy trên đường Pasteur để thoát thân. Hai ngày sau quay lại thấy chiếc xe máy vẫn còn nguyên chỗ cũ. Lúc đó tôi mới 15 tuổi, tôi không cảm động hay thấy việc đó có gì đặc biệt. Vì đó là điều bình thường trong xã hội mà con người được giáo dục không được tham lam, tước đoạt của cải của người khác, dù để trước mặt. Thời tao loạn mà còn như thế. Còn bây giờ, chúng ta đã qua thời nghèo đói để biện mình cho việc “bần cùng sinh đạo tặc”, vậy mà những tin “hôi của” xảy ra khắp nơi. Hơn cả buồn là sự xót xa.
-Anh từng làm “sếp” của những tay anh chị giang hồ mà vẫn cảm hóa được họ bằng thơ kia mà.
Bởi tôi tin “nhân chi sơ, tính bản thiện”, và thơ từ trái tim khác với thơ từ cái lưỡi.
Sau 1975, tôi được phân công về công tác tại Trường Thanh niên Xây dựng cuộc sống mới ở Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu) và Tân Phú (Đồng Nai) giáo dục cho thanh niên loại 4. Có những người có học thức và cả những người thất học, họ phạm pháp nhưng chưa đến mức phải ở tù nên bị thử thách, trải qua môi trường cải tạo, xây dựng cuộc sống mới ở trường này. Tôi làm tuyên huấn, trực tiếp dạy học cho họ bằng vốn sống và kiến thức mình chứ không theo giáo trình nào cả. Ở đó, tôi thấy sự ngây thơ và hướng thiện của họ còn mạnh mẽ hơn chính những cán bộ thanh niên xung phong đang giáo dục, hướng dẫn họ.
Tôi còn nhớ, có lần một học viên là giang hồ anh chị nổi tiếng vùng Tân Định bị đưa vào trường, anh này bất phục và có ý định bỏ trốn bằng vũ lực. Thấy được thái độ của anh ta, tôi làm bài thơĐiều tôi chưa chuẩn bị – là lời suy niệm của một “đại ca” dân Sài Gòn có học thức, nhưng cũng là châm ngôn của những người giảng dạy là “lấy tình thương xóa bỏ hận thù”. Liền sau đó tôi bị cấp trên nhắc nhở, cho rằng tôi đi lệch phương pháp của trường.
“Đời sống có gì hơn quả bóng/ Tay trơn không níu được bao giờ/ Hạnh phúc có hơn gì quả bóng/ Lủng mấy lần xì hết ước mơ… Quả bóng tròn như thể công danh/ Anh chụp suốt một đời không dính…”.
-Có khi nào anh nghĩ đời mình trắc trở do thơ anh vận vào đời không?
Nhờ làm thơ về bóng đá mà tôi sống được đó chứ. Thời điểm sau khi bị buộc cởi áo lính là thời tôi thê thảm nhất. Đi đâu tôi cũng nghe đồn “cấp trên cấm đăng bài Bùi Chí Vinh trên báo”, còn nếu phải đăng thì “chỉ đăng thơ tình và duy nhất thơ tình mà thôi”. Tuy chỉ cấm bằng miệng chứ chẳng có văn bản nào, nhưng không nơi nào dám làm trái. Tôi phải xoay xở và nghĩ ra đề tài làm thơ về bóng đá. Thuởấy nhà báo Hồ Nguyễn phụ trách tờLong An Bóng đá và tờLong An Cuối tuần rất ưu ái tài nghệ làm thơ đa hệ và hoàn cảnh thắt ngặt của tôi bèn đề nghị mỗi số báo tôi có một bài thơ về thể thao hoặc trào phúng hài hước. Những bài thơ như một loại biên niên sử ghi chép các giải World Cup, Euro lẫn các giải vô địch Việt Nam đã giúp tôi sống được qua lúc khó khăn đó.
-Lý lịch của anh rất đỏ mà cũng phải khổ sở như vậy sao?
Gia đình tôi là gia đình cách mạng. Ba tôi từng là thành viên Ban tuyên truyền thi hành Hiệp định Geneve, là một nho sĩ Bắc Hà, là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Mẹ tôi cũng hoạt động trong Đặc khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định và cũng là đảng viên Đảng Lao động. Bà từng bị bắt ở bót Catinat và ở tù chung với bà Nguyễn Thị Bình, Đỗ Duy Liên, Lan Mê Linh… Ba tôi cũng muốn hướng tôi đi theo con đường của ông, nhưng tôi vốn cầm tinh con ngựa, có máu lang bạt, nổi loạn nên không muốn đi theo lối mòn. Nhà tôi ở xóm Lách dưới chân cầu Công Lý toàn là người lao động nghèo. Lớn lên tôi thấy hàng xóm tuy nghèo nhưng là những người tử tế, cư xử minh bạch, quân tử, ngay cả tiếng chửi thề cũng khí khái chứ không bừa phứa, vô lối. Vì vậy, tuy sống ở khu bùn lầy nước đọng nhưng chất hiệp sĩ cứ ngấm vào người từ lúc nào, khoái làm anh hùng nghĩa hiệp để bảo vệ người cô thế. Trong hoàn cảnh đó, những người có lý tưởng tham gia đấu tranh rất nhanh. Năm 15 tuổi tôi đã tham gia hoạt đồng cách mạng. Và cuộc đời đã quăng quật thằng tôi không thương tiếc để tôi phải thấm thía câu thế thái nhân tình.
-Nhưng có lẽ nhờ thấm đòn mà anh cũng khôn ngoan hơn?
Một con người có khi trộn lẫn nhiều yếu tố, nhưng dù thế nào cũng trên cơ sở Chân – Thiện – Mỹ. Khi tôi phân thân ra thì tôi vẫn là tôi, không giả dối, đánh lừa mình. Phân thân không phải là biến thành diễn viên mà là để linh hoạt tồn tại như câu nói nổi tiếng của Pele: “Tại sao tôi biến thành một cầu thủ thiên tài trong bóng đá? Bởi vì tôi biết linh hoạt như một giọt thủy ngân trên sân cỏ”.
-Những biến thiên của một cuộc đời rất vô cùng. Giờ đây, nhớ về cậu bé xóm Lách ngày nào, anh có thấy hài lòng với những gì mình đã làm được trong cuộc đời chưa?
Với một thằng bé xuất thân từ xóm Lách với đủ trò thả diều, câu lươn, bắt dế… và phải kiếm kế sinh nhai từ thuở nhỏ như dạy toán, luận văn cho những đứa cùng lớp, làm lồng đèn trung thu, nhiều trò thủ công khác để có tiền… thì tôi có chút hãnh diện, nhưng cũng chưa hài lòng, bởi với đất nước có bổn phận phải làm nhiều việc. Thời nào cũng vậy, bổng lộc là xương máu tạo anh hùng. Những câu thơ cũ tôi viết từ năm 1978 giờ vẫn “nóng”: “Biên giới như người đau mới mạnh/ Giặc sang truyền dịch sốt rét rừng/ Lẽ nào ta ngồi ôm ảo ảnh/ Nhấp ngụm trà luận chuyện văn chương…”.
Xin được chia sẻ cùng anh những nỗi niềm của một người Việt Nam.
TRIỀU ĐÌNH ANNAM VÀ VUA DUY TÂN DƯỚI CON MẮT NHÀ VĂN SĨ HÀN LÂM EUGÈNE BRIEUX
Vào khoảng năm 1910, nhà văn sĩ có chân trong Hàn lâm Viện Văn chương Eugène Brieux [a] được cử đi du lịch phương Đông.
Sau cuộc hành trình ấy về, ông có cho xuất bản một quyển sách viết theo lối nhật ký, nhan đề là “Voyage en Indochine. ‒ Simples notes d’un touriste”, trong ấy ông đã mô tả một cách rõ rệt tình hình các xứ Viễn Đông, nhất là tình hình chính trị ở xứ Đông Dương ta.
Dưới đây là một đoạn văn ông nói về triều đình An Nam và vua Duy Tân, một đoạn mà chính ở báo này, ông Trần Thanh Mại đã có nhắc qua một lượt.
Nay xin trích dịch ra đây cho đầy đủ, gọi là cung cho độc giả một món tài liệu về sử học, việc mà Sông Hương vẫn theo đuổi lâu nay.
***
Chúa nhật 12 Novembre
Tôi đã thấy vị hoàng đế trẻ con ấy rồi. Ông Khâm sứ và tôi đã mang bộ lễ phục đen, về dịp ấy ‒ khi mười giờ mai! Tôi đã tự lấy làm hổ thẹn về tấn kịch khôi hài mà chính tôi, tôi cũng phải đóng trước cậu bé ngây thơ ấy.
Các quan Phụ chánh, như một đàn quạ, đến chào chúng tôi; tôi có cái cảm giác khó chịu trong khi nắm trong tay mình những bàn tay móng dài và cong, chỉ sợ gãy bể đi mất, nó bắt nghĩ đến những vuốt của thú vậy.
Họ đi trước chúng tôi, mời chúng tôi đi qua một cánh cửa nhỏ. Đây chúng tôi đã vào tới chỗ chính điện. Các vật đầu tiên mà tôi thấy, trong khi trong óc tôi còn mường tượng những tội ác ngày xưa đã xảy ra ở đây, các vật đầu tiên ấy là một thức chơi của trẻ con, một chiếc ô-tô mà thường người ta vặn máy lò xo cho chạy ấy. Thật là buồn cười quá đi mất! Một cánh cửa khác mở ra, rồi trước hàng đình thần ghê tởm, một anh chàng tí hon mặc toàn sắc vàng, đến trước chúng tôi, đạo mạo, nghiêm trang, bị chăn giữ, bị xô đẩy nữa, và đưa tay ra chào. Trông dạng cậu bé không tới sáu tuổi.
Ấy thế mà thương hại! Cậu lại có dáng điệu lắm đấy! Những cử chỉ cậu đã dùng để chỉ chỗ ngồi cho ông Khâm sứ và tôi, đầy những vẻ bệ vệ oai nghi. Nhưng thấy vậy, người ta chỉ có thể cảm động thương tâm mà thôi.
Những thị vệ ăn mặc lôi thôi mang thuốc xì gà và rượu sâm banh lại ‒ trong giờ nầy! ‒ Những kẻ dâng cái cúp bằng kim khí cho vua, đều quỳ xuống cả.
Câu chuyện bắt đầu trao đổi, nhờ một viên thông ngôn cúi gãy đôi người ra và nói nhỏ tiếng vì cung kính. Các quan đại thần thì chú mắt vào cậu bé và như ở đây, mà cũng còn nhắc cho cậu những câu vấn đáp họ đã soạn sẵn. Người ta có thể nói đó là những anh gõ đầu trẻ đứng trông học trò mình thi, cái cuộc thi nó sẽ định đoạt tương lai của họ.
Trong khi vua đang trao đổi những câu lễ phép lấy lệ với quan Khâm sứ, tôi cố nhìn. Vua vẫn có một bộ mặt thông minh, nhưng xét cho kỹ thì thấy có dáng lo lắng buồn rầu hơn là nghiêm trang. Vua tỏ ra bộ sợ không thuộc bài của mình; trông hai bàn tay chút xíu măn mo một chiếc khăn lụa thì biết vua đang bực tức lắm. Rồi trong khi những tiếng “Tâu Hoàng thượng” lặp đi lặp lại nhiều lần, văng vẳng đến tai tôi, tôi nhìn cái mũ nho nhỏ hất lên trời ấy, cái trán nho nhỏ ấy, rồi tôi chỉ muốn nói: “Thôi được rồi! Cậu trả lời được đúng cả rồi đấy. Bây giờ cho cậu đi chơi!”.
Nhưng vua đã xây lại tôi, và hỏi tôi đi tàu có bình an không, cái mục đích cuộc hành trình của tôi, v.v… Mỗi lần trước khi nói, vua nín lặng lâu như để cố nhớ lại đã. Nếu như không buồn thảm đến thế, thì tôi đã bật cười vì thấy cách mệt nhọc của vua trong khi gắng làm cho ra bộ thích nghe những câu trả lời của tôi.
Xong mấy câu thi lễ cần thiết, ông Khâm sứ xoay cuộc nói chuyện ra một chiều thân thiện hơn. Bây giờ thì vua bắt đầu nói tiếng Pháp, và nghe hiểu cũng kha khá. Vua chỉ muốn cười, và mỗi khi cười thì cái mũi nho nhỏ của ngài nhăn lại ở phía trên sống, như một đứa con nít nhỏ lắm ấy. À! Thật thế ư? Ra người chú ngài đi tàu bể lại say sóng kia! Thế thì chẳng buồn cười lắm nhỉ? Rồi một giọng cười trong trẻo đưa ra, làm cho không khí bấy giờ phải ngạc nhiên… Nhưng bây giờ ông chú ấy ở đâu rồi nhỉ? Ở thành Avignon, gần thành Avignon. (1)
Người ta còn cắt nghĩa cho vua rằng vì lòng tử tế mà chính phủ Pháp lựa xứ ấy cho chú ngài ở, vì khí hậu ở đấy cũng gần giống như ở An Nam. Vua lại cười nữa, và nói rằng mình sợ ngựa lắm.
Nhưng bỗng nhiên vua dừng nín bặt, e lệ và nhìn trộm năm ông quan im lặng mặc y phục thâm vẫn đứng nhìn vua cung kính lắm.
Chúng tôi ra về. Vẫn là cái bắt tay bệ vệ oai nghi như trước. Chúng tôi ra xa. Tôi đoái lui thì thấy cậu bé mặc áo vàng như muốn chạy theo nhưng mấy quan Thượng thư đã lôi lại.
Chúng tôi lại đi qua các cánh cửa ngày xưa ít khi nào mở, và để lại sau mình, tức là ở giữa cậu bé và sự tự do, những đền đài không mỹ thuật, ẩm thấp, vắng vẻ, những thành trì xây theo kiểu Vauban, với hào, với lũy, với tất cả cánh cửa làm ra để giam cầm vua lại hơn là để bảo hộ cho vua.
Thương hại cho cậu bé!
Cung điện của cậu giống như một viện bảo tàng nhân chủng, ở trong ấy người ta chăm nom mà cất kỹ cái mẩu cuối cùng và quý báu của một giống đã mất rồi.
Cậu bé ấy có tính đa cảm lạ thường, nóng nảy như tính cha. Người ta kể cho tôi rằng hễ bị rầy một tí là cậu đã đâm ra khóc nức nở.
Không phải là cậu không biết cái địa vị của cậu. Ngay bây giờ cậu đã có nhiều cơn giận dữ, còn là vô hiệu, khiến nhiều khi cậu trở lại đương đầu với các vị Thượng thư và nói với họ rằng: “Ta là vua”.
Vua cũng giữ thể diện của mình lắm. Có một viên thầy thuốc nhà binh mới qua, đã đến thăm vua nhiều lượt rồi mà khi nào cũng mặc áo quần trắng thường. Một hôm, vua bảo ông ta rằng:
‒ Như tuồng tôi chưa bao giờ thấy ông mặc lễ phục cả thì phải.
Viên thầy thuốc xin lỗi:
‒ Mặc âu phục thì phải cái nóng lắm.
Vua liền gắt:
‒ Thế thì ông sẽ chịu nóng vậy!
Vua lại còn có nhiều câu nói ngẳng và xấc nữa. Trong một cuộc đại lễ, một vị quan to tưởng phải đọc cho vua một tờ chúc từ cho thật dài, vua ngắt đi nửa chừng mà bảo:
‒ Ông không mệt à?
Tôi có hỏi người ta có ý đem vua sang Pháp khi nào không, thì họ trả lời:
‒ Có chứ! Nếu như có một cuộc đấu xảo, thì sẽ đem vua đi.
Thương hại cho cậu bé! [b]
EUGÈNE BRIEUX
Nguồn:
Sông Hương, Huế, s. 19 (5 Décembre 1936), tr. 1.
Chú thích
(1) Ám chỉ đức ông Hoài Ân vương Bửu Yêm, hồi ấy qua du học bên Pháp.(nguyên chú của tòa soạn S.H.)
[a] Eugène Brieux (1858-1932) người Pháp, nhà viết kịch, nhà báo, nhà du lịch; cuốn du ký kể tên trong bài xuất bản năm 1910.
[b] Bài dịch không ghi tên dịch giả; vậy tác quyền thuộc tòa soạn, tức là do Phan Khôi dịch.