Sách lớp 1 có bài Ve và gà, nói là của Minh Hòa kể lại từ ngụ ngôn của cụ Jean de La Fontaine. Với nội dung tối nghĩa vô cùng và có thể suy diễn bậy bạ ( coi hình)
Mình bèn lên tra lại toàn bộ các bài thơ ngụ ngôn của cụ, coi cụ có viết vậy hay không. Kết quả tìm được bài Ve và kiến. Trong toàn tập thơ của cụ mà mình có thì không có bài Ve và gà nào hết. Vậy có phải khịa hay không nhờ các cao nhân chỉ rõ, theo chủ quan của mình tới nay là bài này khịa.
Và nguyên văn cụ viết bằng tiếng Pháp rất hay. Mình đọc hiểu được mà không thể dịch cho hay được, nên xin để bản dịch của cụ Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên Đông Dương tạp chí số 40 (năm 1914). Đọc bản dịch này các bạn sẽ thấy khác xa với bài đăng trên sách lớp 1 thế nào.
“Ve sầu kêu ve ve
Suốt mùa hè
Đến kỳ gió bấc thổi
Nguồn cơn thật bối rối
Một miếng cũng chẳng còn
Ruồi bọ không một con
Vác miệng chịu khúm núm
Sang chị Kiến hàng xóm
Xin cùng chị cho vay
Dăm ba hạt qua ngày
Từ nay sang tháng hạ
Em lại xin đem trả
Trước thu, thề đất trời!
Xin đủ cả vốn lời
Tính Kiến ghét vay cậy
Thói ấy chẳng hề chi
Nắng ráo chú làm gì?
Kiến hỏi Ve như vậy
Ve rằng: Luôn đêm ngày
Tôi hát, thiệt gì bác!
Kiến rằng: Xưa chú hát
Nay thử múa coi đây”
Và mình xin trích một bản dịch từ truyện ngụ ngôn Aesop là nguyên bản xa xưa nhất của truyện Ve và kiến này cho các bạn hiểu hơn. Vì cụ La Fontaine chú rõ trong sách là viết dựa theo truyện của Aesop và Phrygian
“Vào một ngày mùa đông đẹp trời, vài con kiến đương bận với việc sấy khô ngô đã bị ướt sau một trận mưa dài. Lúc đó, một con ve từ đâu bay tới xin lũ kiến cho ít hạt ngô “vì” nó nói “tôi sắp chết đói đây”. Lũ kiến ngừng làm việc một lúc mặc dù trái với qui định của chúng. “Chúng tôi có thể hỏi” chúng nói “anh đã làm gì trong suốt cả hè qua? Tại sao anh không đi tìm thức ăn để dự trữ cho mùa đông?” “Sự thực là” ve trả lời “tôi quá bận với việc hát ca nên không còn thời gian nữa” “Nếu anh dành mùa hè để hát” lũ kiến trả lời “thì không gì tốt hơn là hãy dành mùa đông để nhảy”. Nói xong, chúng mỉm cười và lại tiếp tục công việc của mình.
(Người dịch: Thu Anh, Ngọc Bích) Ngụ ngôn Ê-Dốp/ NXB Văn hoá thông tin, 2005.
Truyện ngụ ngôn nguyên gốc hay như vậy, có tính giáo dục như vậy thì bị đổi nội dung hoàn toàn trong sgk. Còn tên của truyện là Ve và kiến thì bị đổi thành Ve và gà trong sgk. Nhân vật cũng đổi luôn.
Hơn nữa ve và kiến có thể chơi với nhau trong tự nhiên, chứ gà thấy con ve có thể mổ luôn chứ nó ngán gì.
Mong các người làm sgk ngồi yên đừng làm gì, để bà con tự vô lấy truyện của cụ La Fontaine hay cụ Aesop ra dạy con cháu, còn hơn là dạy mà xuyên tạc và phá hoại.
Từ nước mắm ngon thành nước mắm Lú
Theo dân gian, nước mắm loại ngon nhất, nước đầu tiên tức mắm Nhĩ để chừng 10 năm thì trở thành mắm Lú. Mắm Lú, đen đậm, không còn thơm nữa và cũng không dùng để ăn mà chỉ để trị bệnh.
Nước mắm ngon dòm sâu đáy hủ
Thả miếng đu đủ nó nổi lờ đờ
Phận em còn dại còn khờ
Làm dâu chưa đặng, cậy nhờ nơi anh (*)
Theo các bậc trưởng thượng. Nước mắm Nhĩ trở thành nước mắm Lú, có vị thuốc và khả năng trị được bệnh nhờ vào mật cá. Vị mặn của muối và đắng của mật quân bình, làm cho tinh thần được bình an, ngũ ngon và giãm huyết áp.
Mắm Lú cũng giúp trị bệnh ho, hen suyễn, thấp khớp, phong thấp, cãm cúm và nhiều chứng bệnh khác. Trời nó mà trị được con Vũ Hán Virus thì trời xập quá.
Nước mắm ngon dầm con cá liệt
Em có chồng nói thiệt anh hay
Nước mắm ngon dầm con cá trắng
Thấy em làm dang nắng anh thương
Muốn làm nước mắm Lú, lấy mắm ngon, cốt Nhĩ tinh khiết cho vào chai, lu, đem cất từ 5 năm trở lên, càng lâu, nước mắm Lú càng hiệu nghiệm. Nước mắm Lú có màu đậm đen, vị ngọt, đậm đà.
Nước mắm ngon dầm con cá bẹ
Anh biểu em rình, lén mẹ qua đây
Nước mắm ngon dầm con cá đối
Em biểu anh chờ để tối em qua
Thợ lặn uống một muỗng thì khõe ra có thể lặn sâu hơn. Ca sĩ giọng khàn, uống một hớp thì thanh tao. Cãm cúm, nhức đầu, đau xương, tê khớp thì mắm Lú sẽ thay thế thuốc Tây.
Nước mắm ngon dằm con cá trích
Anh có vợ rồi đứng xích em ra
Nước mắm ngon dằm con cá đối
Anh có vợ rồi nói dối em chi
Tại sao tên là Lú. Mắm nhĩ làm ra rồi bỏ sau hè, chừng 5 năm thì quên luôn, bỏ ở đâu cũng không nhớ, thành ra lú lẫn, và từ đó trở thành nước mắm Lú ở Phan Thiết. Mắm Lú, gia vị, và hương thơm bị mất theo thời gian. Nhưng độ đạm của nước mắm lại tăng, và đó là lý do nước mắm Lú trở thành thuốc Nam trong gia đình.
Đó là Nhĩ hồi xưa, mắm Nhĩ bây giờ ở Việt Nam, nhất là sau vụ Formosa thì không bảo đãm. Coi chừng uống vô thì Lú luôn. Nhắc trước rồi nhe.
Nước mắm ngon dằm con cá nục
Anh mê vợ bé em đục bể mình
Nước mắm ngon dằm con cá chình
Em ở một mình đừng rình nữa anh ơi (**)
Đỗ T. Công
(*) ca dao dân gian
(**) ca dao tân thời
Sông Thạch Hãn – mùa lũ lụt
Theo FB
GỞI CHÚT TÌNH VỀ HUẾ
Con đường đi , hoá thành sông Đồng ruộng trắng xoá mênh mông biển hồ Những dòng nước cuộn xô Bồ Mưa gào gió thét thẫn thờ lo âu Mây chùng xuống thấp rầu rầu Trời đen mờ mịt một màu tang thương Vài chiếc ghe nhỏ ngoài đường Trong nhà dọn dẹp ghế giường ngổn ngang Nhìn trời lòng thật hoang mang Nước dâng lên mãi nát tan cõi lòng Trời đất sao khiến long đong Bao nhiêu vật dụng chất chồng lên nhau Cầu cho con nước xuống mau Điện thì “ cúp “đã từ lâu tối mù Người thì mệt mỏi gật gù Dựa lưng trên ghế tù mù lất lây Nấu ăn biết chỗ nào đây ? ! Đành nhai sống gói mì này qua đêm Nước phủ chẳng thấy bậc thềm Trong nhà bì bõm lội rêm cả người Cây vườn bầm dập kém tươi Lều bều rác rưởi và rươi quanh nhà Vì rứa Huế phải lo xa Phòng khi bão lụt có mà miếng ăn Nhìn quê hương thật băn khoăn Biết bao suy nghĩ làm răng bớt buồn ? !
Võ Thời 11- 10 – 2020
Nguyễn Văn Tường (1824-1886)
Năm 1883, vua Tự Đức băng hà, trong tình hình Bắc Kỳ đang bị thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai. Mặc dù Henri Rivière cũng bị giết chết trong một trận đánh do Hoàng Tá Viêm làm tổng chỉ huy, Lưu Vĩnh Phúc trực tiếp cầm quân, các tỉnh Bắc Kỳ vẫn chưa thu hồi được, kinh đô Huế lại đứng trước nguy cơ bị tấn công. Và thật sự Thuận An, cửa ngõ của kinh đô, đã bị thất thủ, không lâu sau ngày vua Tự Đức mất. Do đó, cùng với Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường lần lượt lập rồi phế bỏ 2 vua Dục Đức, Hiệp Hòa (với lý do: một thân Pháp, “tả đạo”; một cấu kết với Pháp qua De Champeaux), nhằm mục đích đưa lên ngai vàng một vị vua yêu nước, quyết chiến với thực dân Pháp.
Bấy giờ, quân Thanh đã sang đất Bắc Kỳ để phối hợp đánh Pháp, theo những lần thương nghị giữa Nguyễn Văn Tường, đại diện triều đình Đại Nam, và Đường Đình Canh, đại diện triều đình Đại Thanh (Trung Hoa), từ năm 1881. Nhưng trong thực tế, quân binh nhà Thanh lại mưu mô quy phục Lưu Vĩnh Phúc nhằm mục đích cùng Pháp chia đôi Bắc Kỳ (“Bắc Kỳ mỏ” và “Bắc Kỳ gạo”), lấy sông Hồng làm ranh giới.
Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết thực hiện kế sách quân sự “tọa sơn quan song hổ đấu”, thúc đẩy chiến tranh giữa Pháp và Hoa nổ ra, còn triều đình Huế đứng vào thế trung lập.
Nhưng triều đình nhà Thanh lại ký Hòa ước Thiên Tân với Pháp, cô lập hoàn toàn triều đình Huế. Triều đình Huế bị bắt buộc phải ký Hòa ước Giáp Thân (còn gọi là Hòa ước Patenôtre, 1884). Trong tình thế ấy, hai vị phụ chính đại thần vẫn cố gắng tiếp tục thúc đẩy chiến tranh Pháp – Hoa tiếp diễn, nhằm làm suy yếu lực lượng cả Pháp lẫn Hoa và tranh thủ thời gian để xây dựng cơ sở cho phong trào Cần Vương. Một loạt sơn phòng được củng cố, xây dựng, gồm cả “hậu lộ kinh đô”, Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị). Đích thân Nguyễn Văn Tường chỉ đạo xây dựng “kinh đô kháng chiến” hoặc “kinh đô tị địa” này.
Vua Kiến Phúc lại không may mắc bệnh, băng hà. Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép khá kĩ lưỡng như sau:
“ Vua không khỏe, tháng tư trước, ngọc thể vi hoà, đình thần đã xin vua tĩnh dưỡng, và chia nhau đi cầu đảo các linh từ; sau đó đã khỏe, nhưng chưa được bình phục như cũ; đến ngày mồng 7 tháng này, ngày kỷ mão, mới ngự điện Văn Minh, chịu lễ chầu mừng, ban thưởng lụa hoa cho các bầy tôi có sai bậc, rồi sau lại không được khỏe. Thái y tiến thuốc, không thấy công hiệu. Ngày mồng 10, nhâm ngọ, bệnh kịch; giờ ngọ hôm ấy vua mất ở chính điện Kiền Thành. Hoàng thái phi bèn vời bọn Tôn nhân phủ Miên Định, phụ chính phủ thân đại thần Hồng Hưu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Hộ bộ thượng thư Phạm Thận Duật, truyền bảo hoàng đế di chúc rằng:
Hoàng đế đức mỏng, có em là Ưng Lịch có học có hạnh, hoàng đế như có mất đi, truyền bảo tôn nhân phụ chính nên lấy Ưng Lịch vào nối ngôi lớn, để phụng tôn miếu; lại đại lễ tiên hoàng đế chưa xong, và lấy của dùng chưa sẵn, vậy hợp thành tang lễ châm chước làm được 4, 5 phần mà thôi, chớ cầu thể lệ.
Bấy giờ, Miên Định công và phụ chính thân đại thần truyền lệnh cho biết. Tôn nhân phủ, văn võ đình thần bèn hợp từ tâu lên Từ Dụ thái hoàng thái hậu; hoàng thái hậu rước công tử Ưng Lịch (là con thứ 5 Kiên Thái vương Hồng Hợi, biện phụng vương ấy), vào nhà tang xưng là tự quân, phàm việc tâu xin tuân hành; chọn ngày lành làm lễ tấn tôn (đó là vua Hàm Nghi)…[1]
”
Ngày 12 tháng 6 âm lịch, năm Quý Mùi (1884), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cùng Tôn nhân phủ, đình thần lập vua Hàm Nghi lên ngôi.
Hai vị phụ chính cùng các thành viên nhóm chủ chiến (Trần Xuân Soạn, Trương Văn Để…) đã có một vị minh quân để tiếp tục đương đầu với Pháp cũng như với bộ phận khá lớn giáo dân Thiên Chúa giáo được cho là bị các cố đạo phỉnh gạt, cầm súng, đào hào, tiếp tế lương thực cho Pháp.
Chính phủ Pháp quyết thực hiện xâm lược toàn bộ Đại Nam. De Courcy được cử sang với mục đích hoàn tất việc chiếm trọn Bắc Kỳ và bắt đầu tấn công chiếm cứ kinh đô Huế. Câu nói của De Courcy, hầu như ai cũng biết, “cần phải giải quyết việc này ở Huế”; và ông ta đã vạch kế hoạch bắt sống hoặc tiêu diệt nhóm chủ chiến triều đình Huế, đứng đầu là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.
Cuộc kinh đô quật khởi và bị thất thủ (05-7-1885)
Bài chi tiết: Trận Kinh thành Huế 1885
Ngày 23 tháng 5 âm lịch, Ất Dậu (khuya ngày 4 tháng 7, bước sang ngày 5 tháng 7 năm 1885), tuy thi hành kế sách “không biết gì”, nhưng thực sự ông cùng Tôn Thất Thuyết chỉ huy cuộc tấn công một cách bất ngờ vào Sứ quán Pháp bên kia sông Hương và doanh trại Pháp tại Mang Cá (Huế), nhưng thất bại. Thực chất đó chỉ là đòn đánh trước để giành thế thượng phong, mặc dù biết rằng De Courcy cố dùng kế khích tướng, ép buộc quân Đại Nam phải tấn công trước (Đại Nam tấn công trước thì không nước nào trách được việc Pháp vi phạm các hòa ước).
Nguyễn Văn Tường cho người rước vua Hàm Nghi và Tam cung (thái hoàng thái hậu Từ Dũ, Trung phi Vũ thị, Học phi Nguyễn thị) ra khỏi kinh thành; trong khi đó, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn vẫn cố kìm giữ sự tấn công của Pháp. Trần Xuân Soạn là vị tướng can trường, ông có nhiệm vụ rút quân cuối cùng.
Theo dự kiến mà nhóm chủ chiến đã vạch ra trong trường hợp kinh đô thất thủ (phương án 2), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lúc ấy liền quyết định đưa vua ra thành Quảng Trị, rồi sẽ đưa lên Tân Sở (tại huyện Thành Hóa, tức là Cam Lộ) để tránh đạn quân xâm lược Pháp, đồng thời phát Dụ Cần vương.
Trong lúc đó, một mặt được lệnh của bà Từ Dũ và vua Hàm Nghi, mặt khác là thực hiện phương án 2, ngăn cản Pháp truy kích xa giá, thực thi kế sách “kẻ ở người đi” (đàm và đánh), nên ông đã quay lại điều đình với Pháp[2]. Nguyễn Văn Tường đã nhờ giám mục Caspar (có tên tiếng Việt là Lộc) của giáo đường Kim Long đưa sang Sứ quán để gặp tướng De Courcy (qua môi giới Caspar cũng là cách mà vào năm 1883, khi Thuận An thất thủ, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Trọng Hợp đã thực hiện trong việc “cầu hòa”). Sau khi De Courcy buộc Nguyễn Văn Tường ban bố một vài lệnh lạc “hòa hảo giữa hai nước Việt – Pháp”, ông ta lại ra thời hạn cho Nguyễn Văn Tường: trong vòng hai tháng phải tìm cách để đưa vua Hàm Nghi và Tam cung về.
Nguyễn Văn Tường phái Phạm Hữu Dụng cầm sớ ra Quảng Trị, tâu xin rước vua về, nhưng Tôn Thất Thuyết cản sớ không cho vua biết. Tôn Thất Thuyết dặn Phạm Hữu Dụng: Nguyễn Văn Tường cố gắng thương thuyết với Pháp 2 điều là Pháp không được tiếp tục bức hiếp và phía ta cũng nên “đoàn kết” với Pháp. Nếu được như thế, mới có thể rước vua Hàm Nghi về lại kinh đô.
Nguyễn Văn Tường lại viết sớ vấn an Tam cung, và đệ trình về việc Tam cung tạm về Khiêm lăng (lăng Tự Đức) trong khi chờ vụ việc được giải quyết.
Về việc Tôn Thất Thuyết cản Phạm Hữu Dụng trực tiếp dâng sớ lên vua Hàm Nghi và cũng không cho vua biết: Đây có thể là một khía cạnh mâu thuẫn trong sách lược mà hai vị phụ chính đã bàn với nhau, và chắc hẳn đúng hơn là do tình huống mới nảy sinh, nên đó chỉ là một “động tác giả”, để thực hiện thủ thuật “hai mặt”, nhằm đối phó với Pháp. Nhưng ngay sau đó, bằng sự liên lạc mật, họ lại nhất trí vẫn duy trì kế sách “kẻ ở người đi”. Từ Tân Sở, Dụ Cần vương chính thức và duy nhất được ban bố, cùng thời điểm vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết gửi về Huế một bản sắc dụ cho Nguyễn Văn Tường. Mật dụ của vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) từ Tân Sở gửi về Nguyễn Văn Tường, cùng một ngày phát Dụ Cần vương, 2 tháng 6 năm Ất Dậu (13 tháng 6 năm 1885):
“ … Tôn Thất Thuyết còn giữ giá vua còn đóng ở Phòng Quảng Trị, đã kèm vua ra Lệnh dụ Thiên hạ cần vương, lại sẽ dụ bảo Nguyễn Văn Tường và yên ủi những người họ mạc ở trong kinh, đều một đạo, do đường dịch lộ chuyển chạy về kinh. (Khi ấy tự Phòng đến kinh ống trạm còn chuyển đệ được). Đó đều là việc từ mồng 7 tháng này trở về trước.
Ngày mồng 2 dụ Văn Tường, lược nói:
Y [De Courcy] thấy ta càng khuất, y càng ngày càng lấn, khiến Triều đình không còn mặt mũi nào, vạn bất đắc dĩ mà ta mới phải làm cái kế bỏ thành đi ra ngoài. Nay đại thần Tôn Thất Thuyết cùng ta cùng quanh quẩn, còn ngươi là phụ chính đại thần thì ở lại mà thương đàm, kẻ ở người đi đều lấy lòng yêu nước lo dân làm căn bản. Trời đất thực cũng chứng giám. Ngươi nên khéo thể tấm thịnh tình của tiên hoàng đối với nước láng giềng rất có thuỷ chung và cùng y giảng rõ về lý thế, cân nhắc về lợi hại, hết lòng thoả hiệp, phàm những khoản gì bách thiết, chung nhau bàn đổi, cốt khiến cho hai nước như anh em, vinh nhục cùng quan hệ, vui lo cùng chung nhau mười phần chân thành, không còn dùng đến uy thuật. Lúc này ta mệnh cho hồi loan, trên để phụng dưỡng ba cung, dưới để yên lòng thần dân, khanh cùng với Tôn Thất Thuyết trung trinh chói lọi, muôn thuở cùng sáng, những phường nịnh tử gian phu, đều phải lặn hình giấu bóng. Nam triều ta há chẳng hân hạnh ư, nước Đại Pháp chắc cũng vui vẻ mà cùng giữ lấy cường thịnh vậy.
Nếu không như thế thì các miếu xã lăng tẩm và các vương công không kịp đi theo ấy thì hết thảy uỷ cho khanh. Ta duy có chọn đất lánh ở, sợ trời vui trời, rường cột cương thường, cả nước cùng thế, không đâu không phải là Triều đình và không phải là tôi con vậy. Trẫm quyết không cùng với họ tranh được thua vậy.
Tình thế ví lại không thôi, trẫm nguyện phái thêm cán viên, lấy đường đi khắp các nơi, nghiêm sắc cho Ninh Bình trở về phía Bắc, bao nhiêu quan tỉnh, phủ, huyện đều để ấn lại mà đi, người nào như có trung nghĩa tài lược không kể quan hay dân, đều cho được tiện nghi làm việc [nhân dân, sĩ phu khởi nghĩa], cốt không phụ tấm lòng tốt của triều đình dưỡng dục, tác thành, yên được bóng thiêng liêng ở trời của liệt thánh, và đáp phó được nguyện vọng [khởi nghĩa chống Pháp] tha thiết của thần dân trong nước. Khanh nên nghĩ cho kỹ nhé, có muốn nên tâu đối, thì gởi theo đường trạm chờ xét cũng chẳng hại gì.[3]
”
Sau đó ít hôm, vào ngày 7 tháng 5 năm Ất Dậu (18 tháng 7 năm 1885), vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) lại từ Tân Sở gửi một mật dụ về Huế cho hoàng tộc:
“ Ngày mồng 7, dụ các người trong họ, đại lược nói:
Dụ Thọ Xuân vương, phụ chính Hoài Đức công và các bọn hoàng phiên, công chúa nghĩ coi: Nước Nam ta nhiều lần bị kẻ khác bức hiếp nhiều khoản, phàm có tai mắt khí huyết không ai là không uất ức buồn rầu, chẳng riêng người trong họ ta mà thôi. Trẫm vâng di mệnh của tiên quân, và các vương công phụ thần cùng suy tôn lên quyền giữ việc nước. Phàm có trăm điều đều duy kiến nghị, phải ấy thì theo. Trẫm tuổi trẻ, kiến thức chưa rộng, dám đâu chuyên trái việc gì, cho nên hễ khi tiếp được thư của nước Đại Pháp gửi đến khoản gì, nếu quá lăng nhục và yêu sách quá đáng, nhân tình không thể chịu được, mật nghe vương công và các phụ chính khuyên bảo, không đâu là không cưỡng tự đau đớn nín náu, chịu theo êm việc, vì muốn bảo toàn xã tắc, để họ mạc lâu dài hưởng tôn quý giàu sang vậy. Không ngờ sứ Pháp ngang ngược ngày thêm, không còn được chút quốc thể, cúi xuống đất, ngửa lên trời, xiết bao hổ thẹn, vạn bất đắc dĩ mà phải làm ra việc này; quay nhìn nơi lăng miếu và các bậc ý thân, thực không biết bao nhiêu là tưởng nhớ, chả biết trong tôn tộc từng có tin đến sự lo xuôi nghĩ ngược của ta không? Nay đã có phụ chính huân thần là Nguyễn khanh [Nguyễn Văn Tường] ở lại giảng nói, che chở nhiều việc, hơi được yên ổn; huân thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế, thực là đau khổ quá chừng. Nhân vật nước ta, những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được. Trẫm cũng dụ cho đại thần ấy hết lòng bàn tính công việc, tâu chờ quyết định. Vương công đều là cốt nhục chí thân, đều nên thương ta khổ tâm, thể tất ta vô cùng. Phàm việc gì cùng với Nguyễn khanh châm chước thoả đáng, cốt không trái với cương thường của trời đất. Nên được nền bình trị lâu dài của quốc gia, ngõ hầu để được tiếng thơm muôn đời, thế là lành lắm, tốt lắm. Trời đất dài lâu, gặp nhau có hẹn. Nước nhà suy thịnh, gặp hội đổi thay, càng nên trân trọng di dưỡng, để yên tấm lòng xa của người tuổi trẻ. Còn ra sẽ uỷ cho Nguyễn khanh sẽ vì ý thân điều đình cho thoả đáng, vụ được như thường. Phàm người họ ta, cần tin lời ta nhé, thế thì ta mới yên lòng.[4]
”
Trong hai tháng đó, Nguyễn Văn Tường hoàn toàn bị Pháp quản thúc ngay tại Sở Thương bạc, do một trung đội lính viễn chinh thuộc Pháp canh giữ, sĩ quan Schmitz chỉ huy. Tất cả mọi sắc dụ ký tên thái hoàng thái hậu Từ Dũ đều do Miên Định (chú ruột vua Tự Đức, hiện giữ chức nhiếp chính giám quốc) bàn bạc, thông qua và Nguyễn Nhược Thị Bích (tác giả Hạnh Thục ca) chấp bút.
Tuy ở trong thế bị quản thúc nghiêm ngặt, Nguyễn Văn Tường vẫn đấu tranh hết sức gay gắt với nhóm người “đón gió xoay buồm”, trực diện là với Nguyễn Hữu Độ (người đã có ý theo Pháp từ 1873—theo ghi chép đã xuất bản của Jean Dupuis và theo Đại Nam thực lục chính biên), trong việc phong chức hàm cho ông ta với quyền hạn “phó vương” tại Bắc Kỳ, thành lập Nha Kinh lược tại đấy, mà thực chất là mất hẳn Bắc Kỳ vào tay Pháp và các cố đạo như Puginier.
Trong khi đó, phong trào “Cần vương, bình Tây, sát tả đạo” đã bùng nổ ra khắp cả nước, đặc biệt là ở các tỉnh tả kì (phía trái cửa ngõ vào kinh đô, tức là phía Nam). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chính Nguyễn Văn Tường đã lãnh nhiệm vụ chỉ đạo tổng quát ở miền đất ấy, trong khi Tôn Thất Thuyết phụ trách các tỉnh hữu kì (phía Bắc) (xem cáo thị khi giặc Pháp bắt Nguyễn Văn Tường bên dưới).
Lưu đày và cái chết nơi biệt xứ (1885–1886)
Hết hạn hai tháng, đúng vào ngày 27 tháng 7 Ất Dậu (5 tháng 9 năm 1885), Pháp ra lệnh bắt Nguyễn Văn Tường. De Courcy chỉ thị De Champeaux công khai cáo thị khắp nước. Quốc sử quán ghi nhận như sau:
“ Đô thống Đại Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy] bắt thái phó, Cần Chánh điện đại học sĩ, lãnh Lại bộ thượng thư, kiêm sung Cơ mật viện đại thần, Kì Vĩ quận công, là Nguyễn Văn Tường xuống tàu thủy chạy đi Gia Định.
Cứ theo lời cáo thị của khâm sứ Tham-bô [De Champeaux] nói: Văn Tường từng đã chống cự nước ấy [nước Pháp] thực đã nhiều năm. Từ khi cùng Tôn Thất Thuyết sung làm phụ chánh, chỉn [vốn] lại đổng suất quan quân nổi dậy công kích quan binh nước ấy; và Văn Tường do đô thống ấy xin [chính phủ Pháp] cho hai tháng [nhằm để] lo liệu việc nước cùng Bắc Kỳ cùng được lặng yên vô sự; [kì thực] đến ngày 27 tháng ấy hết hạn, mà các tỉnh tả kỳ về phía Nam, có nhiều nơi nổi quân chém giết dân giáo. Đến đây đô thống ấy định án, ưng [nên; phải] kết tội lưu.
Hôm ấy chở đem Văn Tường đến cửa biển Thuận An; buổi chiều Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình đi tàu thủy Pháp cũng về đến cửa biển ấy.
(Thuyền Pháp chở Văn Tường đến Gia Định, sau chở gồm cả Phạm Thận Duật, Lê Đính [Tôn Thất Đính] đem về nước ấy [thuộc địa Tahiti]; Thận Duật trong khi đi đường bị ốm chết ở trong tàu, buông xác xuống biển)…[5]
”
Không những người Pháp ở Gia Định đổ một loại hóa chất gây cháy bỏng vào miệng Nguyễn Văn Tường, khi tra tấn (để khỏi la hét, gào rú), De Courcy còn đánh điện tín cho Caffort, chúa đảo Côn Đảo: “Tầm quan trọng của những tù nhân chính trị này đòi hỏi họ phải được giám sát nghiêm ngặt với bất cứ giá nào”; trong đó, Nguyễn Văn Tường là “kẻ thù nguy hiểm nhất” đối với Pháp[6].
Khi ông và hai người bạn tù của ông đã bị giam giữ tại Côn Đảo, chính phủ Pháp lại chuẩn bị lưu đày họ tận Tahiti; bấy giờ, triều Đồng Khánh, dưới sự chỉ đạo của De Courcy, đã “xử án vắng mặt” nhóm chủ chiến triều đình Huế, với nội dung chính là hành trạng của họ từ ngày 5 tháng 7 đến 5 tháng 9 năm 1885. Bản án chung thẩm ấy được xét xử, công bố vào tháng 8 âm lịch Ất Dậu (tháng 9 năm 1885):
“ Tôn nhân phủ và đình thần dâng sớ tâu bày tội trạng của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước và tịch thu gia sản; tham tri Trương Văn Đễ đã quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân Soạn, đều là bè đảng làm loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, thì Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng được và chém ngay, để tỏ rõ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo.[7] ”
Lúc khoảng 4 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 7 năm 1886, tại Papeete, một làng trên quần đảo thuộc địa Tahiti của Pháp, Nguyễn Văn Tường mất vì bệnh ung thư cổ họng[8]. Sau một vài tháng quàn giữ, di thể ông được Tôn Thất Đính đưa về Đại Nam.
Trước tác
Một số văn bản tài liệu
Lúc sinh thời, ông nổi tiếng là người sắc sảo, cả quyết và mưu trí. Trong khi làm quan, ông đã dâng lên vua nhiều tấu sớ. Hầu hết các tài liệu này đã được vua Tự Đức đích thân phê duyệt, và được các quan lưu giữ tại các nha môn, bộ, viện và tại Quốc sử quán. Số di cảo này đã được Nhóm Tư liệu Hán – Nôm lịch sử cận đại Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhóm giảng viên Đại học Sư phạm Huế sưu tầm, dịch thuật.
Nam Kỳ tấu nghị (chưa xuất bản toàn bộ, chỉ mới ấn hành từng phần)
Bắc Kỳ tấu nghị (chưa xuất bản, chỉ mới ấn hành từng phần)
Thương bạc viện phúc (chưa xuất bản, chỉ mới ấn hành từng phần)
Văn thư thương thuyết Nhà Thanh viện binh tiễu phỉ.
Sáng tác thơ ca
Nguyễn Văn Tường còn có một tâm hồn thơ ca và những bài thơ giàu cảm xúc, đầy trách nhiệm trước vận nước. Nhưng đa số thơ được Nguyễn Văn Tường sáng tác, hiện còn lại, chủ yếu là trong 5 năm tiễu phỉ ở núi rừng phía Bắc và một vài tỉnh gần kề với Lạng Sơn
Câu chuyện xảy ra với tôi cách đây 40 năm trước và từ đó đến nay tôi chưa hề nói với ai kể cả người trong gia đình.
Trong lúc tranh luận với ông Biden, ứng viên tổng thống từ đảng Dân Chủ, TT Trump truyền đạt thông tin cho nhóm cực đoan white supremacy Proud Boys ‘stand back and stand-by’ như mệnh lệnh của cấp chỉ huy ‘lui về và chờ lệnh tôi’.
White supremacy là một nhóm người da trắng, tin rằng người da trắng hoàn hảo về mọi mặt kể cả thông minh hơn tất cả chủng tộc khác. Những cảm xúc của 40 năm về trước ùa về và tôi quyết định nói ra mặt trái của xã hội Mỹ về phân biệt chủng tộc ngày hôm nay.
Khi mới qua Mỹ, tôi phải học lại một năm trung học vì không biết tiếng Anh và cũng không có một tài liệu minh chứng trình độ học vấn nào trong người. Gần cuối học kỳ mùa đông năm ấy (1981), thầy lớp Vật lý đưa cho mỗi học sinh hai hộp tăm và một ống keo dán bảo mỗi hs làm một cái cầu với khoảng trống tối thiểu là xx inches. Sau đó sẽ có một cuộc thi coi cầu nào có sức chịu nặng cao nhất. Tất cả mọi công việc xây dựng cầu phải làm trong lớp và không được đem về nhà.
Tất cả các bạn trong lớp háo hức bắt tay vào việc xây dựng mô hình cầu. Còn tôi thì vào thư viện lấy hết tất cả các sách nói về cầu, tôi đem về lớp ngồi xem từng cái cầu và suy nghĩ về những yếu tố cần thiết để có cây cầu vững mạnh. Tư duy này sau này tôi mới hiểu từ câu nói của TT Lincoln ‘Cho tôi 6 tiếng để đốn cái cây thì tôi bỏ 4 tiếng để mài rìu’.
Sau hai ngày phần lớn các bạn trong lớp đã xong hơn nửa còn tôi thì chưa bắt đầu. Các bạn chọc ‘Ủa, bạn không biết làm sao à? Chứ sao không thấy bạn làm gì cả?’ Tôi chỉ cười. Đến ngày thứ 3 tôi mới lấy viết chì vẽ kiểu trên tờ giấy và vẽ đường cong mẫu cho hai cột ngang dưới chính. Nhờ có bản vẽ với kích thước thật 1:1 nên tôi hoàn tất cầu tăm cũng khá nhanh chóng.
Buổi thi đấu bắt đầu, tất cả cầu tăm được dán số, được chưng ở hành lang trường dẫn đến phòng ăn trưa để tất cả học sinh trong trường bầu chọn chiếc cầu được thiết kế đẹp nhất. Cuối ngày khi đếm phiếu, cầu tôi được giải ‘đẹp nhất’.
Ngày hôm sau thi đấu kỹ thuật. Các thẻ tạ 5 và 10 lbs được để lên cầu đến khi nó gãy. Các bạn háo hức thử cầu của mình nên tôi thử chót. Đến lượt tôi thì cầu chịu nặng nhất là 90 lbs. Khi cầu tôi lên 100 lbs thì ai cũng trầm trồ.
Tôi như nín thở khi để tạ lên. 105, 110, 115, 120, 125, 130, 135, 140 lbs tôi thấy cầu bắt đầu run và bung một cây chống ngang nhỏ ở dưới đáy. Tôi nói thầy: ‘Em không muốn thử nữa. Đủ thắng rồi và em muốn giữ nó làm kỷ niệm.’ Thầy OK và nói với cả lớp, kỷ lục xưa này của lớp là 120 lbs và tôi đã phá kỷ lục vượt lên trên 140 lbs (vì cầu chưa gãy). Hôm đó tôi vui lắm ôm hai giải cups về khoe cha mẹ nuôi.
Chiếc cầu tăm của tác giả. Ảnh: Trương Nguyện Thành
Vài ngày sau đó, trên báo của trường có một bài bình luận nặc danh đưa ra một thuyết âm mưu “Để một đứa tị nạn từ Việt Nam, tiếng Anh thì không biết, kiến thức thì cũng không mà có thể đạt được cả hai giải vật lý và phá kỷ lục xưa nay bởi 20 lbs là điều không thể. Điều đó chỉ có thể xảy ra là người đó ‘cheat’, lừa đảo hay gian lận bằng cách nào đó mà chưa phát hiện được mà thôi“.
Khi vào lớp Lý, một bạn đưa bài cho tôi đọc. Thầy hôm đó rất giận, mắng các bạn rất nhiều, tôi không rõ hết (vì tiếng Anh còn kém) nhưng đại khái ‘Các em thấy bạn Thành biết bỏ thời gian chuẩn bị, biết nghiên cứu, biết ngồi tính toán và thiết kế, các em đã không có làm điều đó. Kết quả cuộc thi quá rõ ràng như thế… các em thua thì cũng nên thua một cách lịch thiệp (‘loose gracefully’)…’
Trường tôi nằm ở miền Bắc tiểu bang Minnesota, ở một khu vực đồng quê khá hẻo lánh và đa số là người da trắng. Trong trường chỉ có một vài đứa da màu là con nuôi của những gia đình Mỹ trắng và tôi là một trong số đó. Lớp Lý của tôi có một số bạn thật là hoàn hảo, học giỏi, chơi thể thao giỏi, chơi nhạc cụ cũng giỏi, chẳng những thế mà còn đẹp trai đẹp gái nữa và theo tôi biết từ các bạn khác thì họ là con của những nhà giàu trong khu phố nhỏ.
Một hôm trong lớp Lý, tôi xin phép được đi vệ sinh. Chừng một phút sau thì tôi thấy một số (4) bạn trong lớp (trong nhóm học sinh hoàn hảo) cũng vào phòng vệ sinh. Một bạn to lớn (dân chơi football) đứng dang tay, dang chân chặn cửa không cho tôi ra trong khi ba bạn còn lại bắt đầu la hét vào tai tôi hoặc đưa mặt sát vào mặt tôi la hét.
– Thằng ngu xuẩn kia mày tưởng mày thông minh lắm hả. Mày là một thằng ngu xuẩn, tiếng Anh thì không biết nói, mày từ những cái chòi tranh vách đất mà tao thấy trên TV. Vậy mà mầy nghĩ mày thông minh hả…
– Mày hãy về lại cái chòi của mày đi. Ở nước Mỹ này không welcome mày và cũng không có gì cho mày. Cút về Việt Nam đi đồ khốn.
Tôi van xin cho tôi đi ‘Please, let me go’ nhưng tên to con đã dùng thân cản cửa ra vào và còn hét vào mặt tôi ‘Tụi tao đang nói chuyện với mày đấy, mày có biết không thằng ngốc’. Chúng liên tục chửi bới và tôi phải đứng yên chịu trận. May quá tiếng chuông reo hết tiết đã cứu tôi. Trước khi bỏ đi chúng còn hăm dọa ‘Mày mà báo cáo với trường thì chúng trao sẽ treo cổ mày như mấy thằng da đen đấy’.
Tôi không phải là người thông minh. Nhưng mỗi lần nhìn vào cái cầu tăm này tôi có thêm động lực để phấn đấu vượt qua mọi khó khăn và quyết tâm để lại dấu ấn ở những nơi tôi học hay làm, để những người theo chủ nghĩa white supremacy phải suy nghĩ.
Khi ông Trump bảo nhóm Proud Boys ‘stand-back and stand-by’ đã thể hiện ông ta là thủ lĩnh của nhóm White Supremacy. 40 năm sống ở Mỹ, chưa khi nào mà tôi thấy xã hội Mỹ phân rẽ tồi tệ như 3-4 năm qua và ông Trump trong cương vị Tổng Thống chỉ đổ dầu thêm vào lửa.
Qua trải nghiệm của năm đầu sống ở Mỹ, tôi trở nên rất nhạy bén nhận ra những người kỳ thị chủng tộc. Tôi có thể nói rằng ông Trump là một người theo chủ nghĩa White Supremacy, kỳ thị người da màu và không xứng đáng là một tổng thống của một nước hùng mạnh nhờ vào đa dạng chủng tộc. Tuy thế tôi vẫn cầu mong cho ông chóng khỏi bệnh dịch covid-19. Tôi nghĩ ông sẽ chóng khỏi thôi vì với ông, nó chỉ là một bệnh cảm bình thường không có gì phải quan ngại!
Tôi biết rất nhiều bạn Việt Nam ủng hộ ông Trump vì ông ta chống TQ. Nhưng tôi sẽ bầu ông ra khỏi ghế Tổng thống trong tháng sau. Bầu cử lần này không phải để bầu một người vào vị trí ứng cử, mà để truất phế người đang ngồi ở vị trí đó.
——————————
Trương Nguyện Thành : Đại học, bằng cử nhân với danh dự (honors) ngành hóa cộng với 4 ngành phụ Toán, Lý, Công Nghệ Thông tin, và xác suất thống kê. Có 6 bài báo nghiên cứu khoa học quốc tế trong đó hai bài là tác giả chính và một bài viết với sư tổ (sư phụ của sư phụ) John Pople (Chemistry Nobel prize winner năm 1998). Kỷ lục này không biết có ai ở đó phá chưa. Tuy nhiên rất khó đấy vì trung bình một luận án Tiến sĩ có bốn bài báo quốc tế.
Cao học, được vào Tiến sĩ dự bị chỉ sau 4 quarters (sớm nhất từ trước đến lúc ấy). Lúc ấy tôi đã có hai bài báo quốc tế với GS hướng dẫn rồi. Luận án ra trường TS với 16 bài báo quốc tế, 90% là tác giả chính. Kỷ lục này đến nay ở khoa này vẫn chưa ai phá vỡ.
Ở ĐH Utah, thăng chức từ Assistant Professor lên Associate Professor trong 5 năm với danh sách 40 bài báo quốc tế. Thăng chức từ Associate Prof lên Full Prof cũng trong 5 năm với danh sách 100 bài báo quốc tế. Hai kỷ lục này thì từ khi TNTthăng chức Associate Prof cho đến nay, gần 25 năm chưa ai trong khoa phá vỡ.