LỜI NÓI KHÔNG MẤT TIỀN MUA, LỰA LỜI MÀ NÓI CHO VỪA LÒNG NHAU




(thơ song ngữ) TÚY CA của TRƯƠNG MINH DŨNG & THANH-THANH




Đặc san Xuân Giáp Thìn 2024 – VTLV

Vui lòng bấm vào hình để đọc sách

THƠ XUÂN TUYẾT VÂN

VƯỜN XUÂN

Nắng xuân trải khắp vườn hồng…

Xua tan ngày cũ bão dông tơi bời.

Ca li thức dậy… bên đời ,

Cùng vầng mây trắng chân trời nhớ thương!

.

Long lanh còn đọng giọt sương…

Giọt buồn giọt tủi còn vương tơ lòng.

Xuân về gió lạnh bên song…

Hỡi người viễn xứ còn mong ước gì ?

.

Nhớ nhau…từ thuở xuân thì!

Thu sang đông lại biệt ly đôi đường,

Bẽ bàng nắng sớm chiều buông…

Nửa vầng trăng lặng, tiếc thương vơi đầy…

.

Gọi người … ở tận chân mây!…

Mùa Xuân đã đến én bay lưng đồi.

Hoa rơi…rơi cuối chân trời…

Mùa Xuân mong đợi bao lời thiết tha.

      Tuyết Vân – Xuân Giáp Thìn, 2024

MÙA XUÂN LỠ HẸN

Bên góc vườn hoa đón nắng mai.

Sau đêm sương lạnh với canh dài…

Hoa đào…rực rỡ màu nhung nhớ !…

Cùng đón Xuân về trong mắt ai ?…

.

Gió thổi đông tàn hoa lá bay

Nhớ thương hình bóng buổi sum vầy.

Xa nhau mới biết nhiều nuối tiếc !

Duyên phận …nên đành phải đổi thay!…

.

Mùa Xuân đó bao giờ có được?

Dòng đời xuôi ngược thuở bơ vơ.

Nên mùa Xuân còn mãi hồn thơ…

Để lòng tha thiết đến mong chờ.

.

Nỗi niềm riêng bên thuở thương yêu,

Như cảnh mùa Xuân với nắng chiều.

Ta thấy lòng ta như thổn thức !…

Bên mùa hoa nở ngát hương yêu.

Tuyết Vân – Xuân Giáp Thìn, 2024

“Thất Tinh Lão Hội” Lập ngày 7 tháng 12 -2023 tại thành A Lý. Texas

Hội Què Mù Điếc

Luật trời đất: đến cơn già lão
Lắm kẻ buồn, ảo não sầu bi
Rời nhà nửa bước ra đi
Mang theo cây gậy nó thì giúp cho
Chống thật vững không lo té ngả
Lăn giữa đường tá hỏa tam tinh
Đâu rồi sức lực bình sinh
Của thời trai trẻ tận tình rong chơi…
Lại có kẻ khơi khơi bị điếc
Nói bên tai chẳng biết điều chi
Nên đành thả tiếng cười khì
Lời mây tiếng gió mấy khi chạnh lòng
Lúc họp mặt bạn đồng trang lứa
Ngồi bên nhau mấy đứa lắng nghe
Âm thanh những tiếng rè rè
Chừng như tiếng nhạc nhiều bè hòa âm
Đôi lúc tưởng ầm ầm gió thổi
Chừng hiểu ra thấy nỗi đắng cay
Tai sao cái lỗ tai này
Tiếng to tiếng nhỏ mà mày chẳng nghe
Lại có kẻ te te bước tới
Ngả lăn đùng thì mới biết ra
Mắt ta nay đã gần lòa
Đất trời nghiêng ngả biết là nơi đâu
Chân què, mù, điếc như nhau
Cùng nhau lập hội bạn bầu đôi khi
Bỏ ngoài những thị phi thiên hạ
Bạn bè vui xuân hạ thu đông
Đất trời một cõi mênh mông
Hơn nhau một chữ “Thong Dong” tuổi già…
Khà khà khà…

Phong Châu
Ngày 7 tháng 12- 2023

Như Một Lời Tri Ân Người Lính VNCH

Nguyễn Thuận Long

1. Trong một lần về quê dự giỗ tộc cách đây nhiều năm, năm 1995, tôi được gặp anh Phan. Giỗ tộc là dịp để con cháu nội ngoại trong tộc tụ tập về lễ bái nhớ ơn tổ tiên và cũng là dịp để bà con gặp gỡ thăm viếng nhau mà sinh kế đã buộc họ đi xa làm ăn sau một hoặc nhiều năm. Anh Phan là cháu ngoại của tộc, mẹ anh là bà con xa bên tộc tôi. Điều gắn kết giữa anh với anh chị em tôi ngoài về mặt huyết thống còn vì anh là một thương binh VNCH ngày xưa.

Anh bị đạn vào đùi khi đang mang lon hạ sĩ chỉ 3 tháng trước ngày mất miền Nam. Đang điều trị và dưỡng thương thì bị đuổi khỏi quân y viện khi “quân giải phóng vào tiếp quản”. Về quê trong tình trạng chân chưa lành, chỉ còn lại một chân với đôi nạng gỗ, bị làng xóm “vùng giải phóng” đố kị, miệt thị là thử thách không nhỏ với anh. Ruộng tốt được hợp tác xã chia hết cho dân nên anh chỉ nhận vài sào đất xấu và thiếu nước. Tôi đi làm xa về nghe anh chị mình kể rằng anh phải ra cuốc ruộng với một chiếc ghế, một cặp nạng và một cái cuốc. Đặt ghế trên ruộng, ngồi lên đó và cuốc ngày này qua ngày khác để trồng lúa kiếm cơm bằng một nghị lực phi thường đáng nễ.

Rồi Trời Đất thương, chân anh khôi phục dần dà và mùa màng thu hoạch tốt đã giúp anh có thêm niềm tin vào cuộc sống để cùng với vợ lo cho bầy con. Trong nhà, chỉ mình anh đi lính cộng hòa, mẹ và vợ con anh ở lại “vùng giải phóng” với bữa đói bữa no. Anh về như có thêm trụ cột để vực kinh tế gia đình lên, tránh được nạn thiếu đói triền miên hàng năm.

2.  Người Việt xa quê dù ở bất cứ đâu, nhất là ở ngoại quốc đều luôn luôn hướng về đất nước, về cội nguồn dân tộc. Ở đó họ có bà con, gia đình, mồ mả tổ tiên và kỷ niệm. Tôi biết có nhiều người luôn chắc chiu từng đồng tiền kiếm được để gửi về giúp đỡ. Xa hơn, họ nghĩ về những đồng đội ngày xưa, vợ con những người đã mất và những người còn sống đã không may gửi lại chiến trường một phần thân thể. Do vậy, từ rất lâu, ở ngoại quốc có những tổ chức cứu giúp thương phế binh và quả phụ tử sĩ VNCH bằng các chương trình quyên góp, các hoạt động gây quỹ như một nhà văn viết về chiến tranh Việt Nam ở hải ngoại đã dùng tiền tác quyền xuất bản các tác phẩm của mình gửi tặng quỹ. Một cách để chia sẻ với đồng đội mình vì anh cũng từng là người cầm súng, việc làm rất đáng trân trọng và cảm phục. Tôi cũng được biết có lúc tiền quyên góp gửi về đã đến tay nhiều đối tượng này qua Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế SG dù luôn bị chính quyền làm khó dễ, cản trở.

Khi Vườn rau Lộc Hưng ở quận Tân Bình Sài Gòn bị cưỡng bức giải tỏa, rất nhiều nạn nhân ở đây là gia đình TPB VNCH, họ cũng đã dược nhiều cá nhân, tổ chức đem tiền đến giúp đỡ. Qua truyền thông, tôi được biết có người không dư dật gì nhưng cũng dành dụm tiền để tổ chức một chuyến đi thăm Đà Lạt vài ngày cho vài anh thương phế binh từng sống ở Lộc Hưng.

Tất cả những nghĩa cử trên đều thể hiện một tấm lòng: lòng biết ơn đối với những người lính ngày xưa đã có nhiều cống hiến để bảo vệ chính nghĩa VNCH.

Tôi đi làm ăn xa quê nhưng biết làng tôi có hai anh dân vệ, một lòng với chế độ VNCH ngày xưa sống quá cực khổ, anh chị tôi đã xin tiền những bà con, bạn bè ở Mỹ, thỉnh thoảng đem đến biếu họ dù không nhiều lần và số tiền mỗi lần chỉ dưới 100USD. Do vậy, thương anh Phan, tôi cũng có ý xin tiền giúp anh từ các tổ chức, họ yêu cầu gửi tên, địa chỉ, số quân và đơn vị cuối cùng trước 1975. Tôi làm đúng theo yêu cầu nhưng không có phản hồi và đành bỏ cuộc. Sau này về thăm lại, thấy nhà anh khang trang do con cái làm ăn có tiền nên tôi không còn nghĩ đến chuyện này nữa,

3.  Giả sử một người cầm súng từ năm 1974 lúc 20 tuổi, họ phải sinh từ 1954 và nay đã gần 70. Vậy thì những người lính cũ sinh trước đó đã quá già, số người còn sống không nhiều. Viết bài này tôi chỉ mong ước rằng, việc thắp sáng lòng biết ơn Quân đội VNCH trong người Việt nhất là thế hệ F1 ở hải ngoại luôn luôn là việc đáng làm. Mọi quyên góp gửi về giúp đỡ anh em TPB là việc vô cùng cần thiết và an ủi cho tuổi già của họ. Giúp đỡ cho các gia đình cô nhi quả phụ cũng quan trọng và cần thiết không kém. Đó chính là cách để chồng, cha của họ an nghỉ ngàn thu nơi chín suối. Một việc khác người viết cũng ước ao là được thấy tiền quyên góp được còn dùng vào một việc khác cần thiết tương tự là: ngoài số tiền cấp dưỡng đều cho các cháu nên chăng chúng ta dành một khoản học bỗng và phần thưởng để khuyến khích những cháu học giỏi, nổi trội. Làm được việc này sẽ có tác dụng giúp các cháu tự hào về những đồng đội xưa của cha ông mình và biết phải làm gì cho đất nước, cho ngọn cờ cha ông cháu đã chiến đấu, trong tương lai, một mai khi các cháu trưởng thành.

Sài Gòn, nhân ngày mất của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu.

NGUYỄN THUẬN LONG

Ký Sự Tháng Giêng Mùa Xuân

Xuân Quý Mão đã qua khỏi mấy ngày mồng cả ba tuần rồi. Ở đây – vùng mình cư ngụ chẳng còn âm hưởng gì của ba ngày tết nữa. Ngay trong cả những ngày tết từ mồng một cho đến mồng mười nếu bạn không bước chân ra khỏi nhà và lái xe đến chùa, đến nhà thờ hay khu vực sinh hoạt buôn bán của người Việt hay người Tàu thì bạn cũng như mình – có lẽ bạn chỉ nhìn được vài cành hoa mai hoa đào chưng trong phòng và mấy cái bánh tét bánh chưng nằm im trong tủ lạnh.

Mấy câu mở đầu trên thuộc loại “suy bụng ta ra bụng người” của mình chứ thực ra rất nhiều người, nhiều gia đình nơi đây “ăn tết” cũng tưng bừng lắm. Mình không thuộc thành phần nói trên. Về phần nghi lễ, tập tục cổ truyền ngày tết thì mình cũng có thực hiện được phần nào trong phạm vi gia đình như chiều ba mươi làm mâm cơm cúng ông bà tổ tiên rồi cùng các con cháu dùng bữa cơm gia đình và lì xì cho các cháu. Đối với bên ngoài, bạn bè và thân nhân thì phương tiện gọn lẹ nhất để chúc tết là ngồi trước bàn phím gửi những câu chúc mừng…hạnh phúc – an khanh – thịnh vượng – may mắn – bình an…là những tĩnh từ đẹp đẽ nhất trong ngôn ngữ Việt Nam mà người nào cũng thích để chúc qua chúc lại. Mình chưa thấy có những chữ nào khác ngoài những tĩnh từ trên. Thôi thì ông bà tổ tiên cho ta chừng ấy chữ đẹp nghĩa đẹp ý thì ta cứ xài vậy, chắc ông bà tổ tiên cũng vui.

Sau đây là chuyện “ăn tết” ngoài nhà của mình. Sáng mồng một, hai cụ già chúng tôi đi lễ chùa cúng Phật như mọi năm. Thường từ nhà đến chùa gần nhất là chùa Viên Thông chỉ mất mười lăm phút lái xe. Mình chạy được ba phần tư đường thì xe bị kẹt, nhìn về phía trước thấy toàn xe là xe đang “nhúc nha nhúc nhích” từng centimet một. Nhìn đồng hồ thấy 10 giờ 30. Những tưởng chừng năm mười phút là có thể vào đến sân chùa nhưng không phải vậy. Trong đầu cũng hơi thắc mắc không biết tại sao? Vì là độc đạo nên không thể quay xe lui. Thế là cứ ngồi trước tay lái để hát bài ca “một chiếc xe nhúc nhích này, hai chiếc xe nhúc nhích này…trăm chiếc xe nhúc nhích nhúc nhích…cũng đủ làm ta vui vầy…” nhại theo lời bài hát vui của Hướng Đạo. Khoảng ba mươi phút sau thấy xe nhích được hơn chục thước và cứ thế nhích lên nhích lên tiến về hướng cổng chùa. Thấy nhiều người gồm nam phụ lão ấu bước ra khỏi xe và làm cuộc hành trình “đi bộ” vào cổng chùa. Họ tìm cách đậu xe ở trước sân của một số sơ sở của người Mỹ đóng cửa ngày chủ nhật, một số xe đậu bừa trên lề cỏ. Nhích tới tí nữa thấy bên trong sân đầy nghịt xe, kể cả những chỗ có bảng “no parking”. Thường những ngày cuối tuần, Phật tử đến chùa khá đông nhưng chỉ đậu xe khoảng một nữa nơi được phép đậu xe, khoảng 100 chiếc. Mình cũng có ý định tìm một chỗ bên ngoài để đậu rồi cuốc bộ vô chùa nhưng nhìn quanh nhìn quất chẳng thấy chỗ trống. Đối diện với chùa là sân bay nhỏ West Houston nhưng cổng vào không thấy mở, sân bay này dành cho các loại phi cơ loại nhỏ của tư nhân dùng để đi làm việc hàng ngày. Cuối cùng thì mình và người ngồi bên cạnh nhích từng tí từng tí cũng lọt được vào bên trong cổng chùa. Với ý nghĩ…cứ vào bên trong chùa rồi chạy vòng vòng thì thế nào cũng có kẻ ra về vì họ đi chùa sớm. Lúc này đã là 11 giờ ba mươi. Mình chạy bên trong hàng rào và thấy xe đậu kín dọc theo hàng rào, chạy đến vòng thứ ba thì nhìn thấy có một khoảng trống vừa cho một xe, chắc có ai đó mới ra về, nên mình vội vàng vui vẻ đưa xe vào trám chỗ trống ấy. Rõ là một kỳ công.

Vào chánh điện lễ Phật, nghe giảng Pháp rồi trở ra sân trước xem mấy con lân nhảy nhót và nghe pháo nổ inh tai. Khung cảnh quanh chùa rõ là khung cảnh của mùa xuân, hoa mai hoa đào tứ phía, thật có mà giả cũng có. Thiếu nữ thanh niên với những chiếc điện thoại cầm tay thi nhau bấm. Họ đứng bên những cội mai cây đào đang trổ bông (thiệt lẫn giả), làm dáng làm duyên, nhoẻn miệng cười cười nói nói vui vẻ. Ở phòng bán thức ăn chay người ta xếp hàng dài để được vào mua thức ăn. Mình cũng hùa theo xếp hàng nhưng đứng chờ khoảng 10 phút, thấy lâu lắm mới vào được nên bèn rút lui có trật tự. Trở ra ngoài sân thấy người mỗi lúc mỗi đông, nhìn ra ngoài cổng vẫn còn thấy một hàng dài các loại xe đang nhúc nha nhúc nhích. Những năm trước mình vẫn đi chùa vào sáng mồng một nhưng chưa bao giờ gặp canh “nhúc nhích” như thế này cả. Ban đầu mình chẳng hiểu tại sao. Sau mới ngộ ra rằng: hôm nay là ngày chủ nhật, mồng một tết rơi đúng vào ngày chủ nhật nên quý ông bà Phật tử đủ mọi lứa tuổi không phải đi làm, các em nhi đồng không phải đi học nên cả nhà cùng nhảy lên xe lái đến chùa lễ Phật và xin lộc. Đó là lý do phải mất hơn cả tiếng đồng hồ mới lọt được vào cổng chùa.              Có một hiện tượng lạ mình chứng kiến sáng một một, rất đông (xin nói lại: rất đông) nam Phật tử đến chùa với chiếc áo dài đủ kiểu, màu sắc sặc sỡ với những hoa văn đủ loại khiến mình liên tưởng đến cảnh tết tại Sài Gòn xem trên youtube. Màu thì xanh – đỏ – vàng – nâu – đen -trắng- lục…đều có. Hoa văn thêu hoặc vẽ trên áo thì có con mèo – con cọp – con rồng – con ngựa…đều hiện diện cùng với những hoa hòe hoa sói trông rất nhức mắt. Chẳng những đám thanh niên và trẻ con mặc dài như thế mà mình thấy có một số cụ cỡ ngoài sáu bó cũng tròng vào mình những chiếc áo dài thuộc loại thời trang “lục phủ ngũ tạng” như trên. Lại có vài cặp tuổi đã quá cái “sồn sồn”, anh chồng, ngoài chiếc áo dài đỏ chóe có hình hai ba con rồng đang bay lượn trong mây còn đội trên đầu chiếc nón cao bồi loại, bà vợ cũng chơi một chiếc nón của dân chăn ngựa Texas trên đầu luôn, có lẽ để bày tỏ thái độ “đồng vợ đồng chồng tát hồ nông cũng cạn”, nhại theo câu “Đồng vợ đồng chồng tát bể đông cũng cạn”.  

            Hôm đó mình có mang theo chiếc điện thoại cầm tay nhưng không chụp được tấm ảnh nào.

***

            Nói đến thành phố Houston, mình đã có đến vài chục lần đề cập đến vấn đề thời tiết. Nó lộn tùng phèo chứ chẳng theo một “quy trình” nhất định nào. Điều này cũng khiến cho các nhà dự báo khí tượng lắm lúc không biết giải thích ra sao với bàng dân thiên hạ! Trong ba tuần đầu của tháng giêng mùa xuân này nhé: Mồng một mồng hai mồng ba trời nắng đẹp, không mưa, có một tí gió. Từ mồng bốn đến “mồng 13” thời tiết lạnh, có mưa…khi to khi nhỏ. “Mồng 14” và rằm trời đẹp và nắng ấm. Qua đến 16 cho đến 21 trời u ám và lạnh, thỉnh thoảng có vài “giọt nắng bên thềm”. Ra đường phải mặc áo ấm.

            Mình có dự hai cuộc họp mặt vào “mồng 14” và ngày rằm. Buổi họp mặt vui xuân đầu tiên của năm Quỹ Mão là buổi sinh hoạt của anh chị em Hướng Đạo – Tráng sinh Toán Lam Sơn, về tuổi tác thì một số anh chị chừng ngoài năm chục, số còn lại đã về hưu, có anh đã chín bó, đa số là ngoài bảy bó. Hướng Đạo hễ gặp nhau là vui, là trò chuyện Hướng Đạo, là ăn uống vui vẻ và ca hát kiểu Hướng Đạo rất ư là rùm beng. Hướng Đạo chúng tôi không hát những bài ca mà thiên hạ thường hay hát, tuy nhiên hôm đó, có bao nhiêu bài hát về mùa xuân là chúng tôi đem ra hát tất. Mở đầu là bài ca nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Đình Chương “Ly Rượu Mừng” rồi những “Đón Xuân”, Hoa Xuân, Bài Ca Xuân, Xuân Ca, Xuân Đã Về…Mỗi người hát mỗi tông khác nhau như tông vịt đực, tông vịt mái, tông gà tồ, tông tu hú, tông chích chòe, tông chèo bẻo…làm thành những bản hợp tấu vô tiền khoáng hậu. Vì thế cho nên có một chị giọng “chèo bẻo” mới phán cho một câu “hát như dùi đục chấm mắm nêm”. Ui chao ui! Hát mà nghe âm thanh rộn rã kèm theo với mùi hương của “mắm” thì trên thế gian này không tìm đâu ra cho được một ban đại hợp xướng như vậy.

            Hát hết một lố các bài về mùa xuân, nhóm ca sĩ “đa giọng” chuyển qua mục hát “Du Ca” là sở trường của nhóm nói riêng, của các đấng Hướng Đạo đủ mọi lứa tuổi nói chung. Nào là “Về Với Mẹ Cha, Anh Em Tôi, Bài Ca Tuổi Trẻ, Đường Việt Nam, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ…”. Và để nhớ đến vua Quang Trung chiếm thành Thăng Long, đánh thắng 20 vạn quân Thanh vào ngày mồng 5 tết Kỷ Dậu (1789) có hai cụ Tráng sinh đọc hai bài thơ do các cụ sáng tác, sau đó cùng hát bài “Đại Phá Quân Thanh” của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Bài này được hát một cách rất ư là “lụp chụp” chẳng khác nào bọn giặc Thanh hối hả tranh nhau chạy qua cầu sông Nhị…Mọi người đều vỗ tay khen mình hát hay “không bằng hay hát”. Buổi họp mặt chấm dứt lúc 9 giờ tối. Tay đã nắm lấy tay rồi mà còn ráng hát thêm bài “Chèo đi bơi đi, nước sông đang chờ ta, bơi đi vững cầm tay lái và hát vang lên cho lòng hăng hái…”. Ngoài trời mưa lất phất và có một chút gió lạnh.    

Sáng chủ nhật đúng ngày rằm, mình tròng áo dài khăn đóng và xách ô đen đến viếng hội xuân của các em Hướng Đạo Liên Đoàn Đất Việt tại nhà thờ Lộ Đức nằm ở phía tây bắc thành phố Houston. Liên đoàn này do mình và năm anh em Tráng sinh thành lập vào tháng 6 – 2006 sinh hoạt đến nay gần 17 năm. Các nam huynh trưởng và các em đều mặc quốc phục thời trang (kiểu này từ Việt Nam xâm nhập qua), các Trưởng lớn tuổi thì áo dài khăn đóng theo lối của các cụ xưa. Phái nữ đều mặc áo dài đủ màu sắc làm tăng thêm sắc xuân truyền thống Việt Nam nơi hải ngoại. Đặc biệt lời chúc tết đến linh mục giáo xứ, các phụ huynh và huynh trưởng, các em đều nói bằng tiếng Việt một cách suôn sẻ. Đó là do công lao của Trưởng và phụ huynh lúc nào cũng hướng dẫn cho các em không quên nguồn cội của mình, trong đó Tiếng Việt là quan trọng. Sau phân nghi thức là phần tặng quà và lì xì cho các em. Tiệc xuân bằng một bữa ăn ngoài trời do phu huynh cung cấp.                                           

Dưới ánh nắng xuân ấm áp, các em đã cùng nhau vui chơi trong không khí tết cổ truyền Việt Nam và đó cũng là hình ảnh của những thế hệ Việt Nam kế tiếp nơi đất khách quê người: Các em là người  Việt Nam dù có tên gọi dưới bất cứ loại chữ nghĩa nào.

Nghỉ cho khỏe một tuần rồi tiếp tục vui xuân. Số là có chị nhà mời dự Hội Xuân Quý Mão vào ngày 12 tháng 2 – 2023, nhằm “mồng hai mươi hai” của hội Cựu Nữ Sinh Gia Long. Có mấy chị yêu cầu mình đóng vai “Ông Đồ” để hôm đó tròng áo dài khăn đóng đứng xớ rớ nói đôi câu vui vui cho thiên hạ vui theo. Eo ui! Mấy chị có sáng kiến (không phải tối kiến) coi bộ độc đáo thiệt! Nhưng việc này xét ra là gây trăm bề khó khăn đối với mình. Từ chối thì các chị xúm vô buồn và giận, mà nhận làm thì từ bé tới lớn mình chưa bao đóng vai ông đồ đứng chường mặt để nói vài câu lảm nhảm, không khéo phát ngôn bừa bãi sẽ bị các chị túm áo lôi ra khỏi hội trường. Mất vui! Thế nên sau ba đêm “thao thức – thức không được” mình đã tìm ra một giải pháp. Đó là cho phép mình bày một màn “Bói Kiều Đầu Xuân”. Đây là một trò chơi tao nhã có tính cách văn chương chữ nghĩa của các cụ ngày xưa dùng Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du để đoán vận mệnh trong năm…nào là công danh sự nghiệp, nào là hôn nhân, nào là tình duyên, nào là gia đạo, nào là tiền tài, nào là thi cử…vân vân. Bắt chước theo trận đồ bát quái Càn Khảm Cấn Chấn…và thập can Giáp Ất Bính Đinh…để bày trận bói Kiều. Trước ngày mở hội mình phải bê mớ hàng lỉnh kỉnh đến địa điểm tổ chức để bày biện trước, chuẩn bị đón khách thập phương du xuân ngày hôm sau.

Sáng chủ nhật đẹp trời, có nắng ấm (ông trời thương các mợ Gia Long) mùa xuân, mình bệ vệ trong chiếc áo the dài khăn đóng của một mợ không biết mượn của ai đem đến và bắt mình phải mặc vào trong khi mình cũng có vài bộ vía khăn đóng áo dài. Mà thiệt! Bộ the dài này mặc vào có vẻ là ông đồ của đầu thế kỷ hai chục khiến các chị cứ chạy đến khen nức nở rồi bắt mình ngồi vào bàn làm “người mẫu” (giống như ông già Noel) để cho các chàng bấm cell phone lia chia. Nội cái màn chộp hình cũng thấy vui, các chị rủ nhau đứng trước mặt hoặc bên cạnh thầy bói để chộp với chậu mai có cánh vàng rực rỡ… không bao giờ rụng.

Có ngoài ba trăm khách đến dự hội xuân, đặc biệt là phái “các chị” tò mò khi nhìn thấy có tẩm bảng ghi “Gia Long Vui Xuân Bói Kiều” nên ghé đến hỏi thăm. Khi biết đây là màn bói theo sách Kiều của cụ Nguyễn Du đủ mọi chuyện trên đời nên nhiều chị lần lượt xếp hàng nhờ coi cho một quẻ (có chị nhờ coi luôn hai ba quẻ). Đa số các chị coi về gia đạo, về sức khỏe, về con cái, về hôn nhân, về công danh sự nghiệp, về tài lợi…Lại có mấy chàng ghé vào nhờ coi quẻ tình riêng. Những câu bói trích ra từ Kiều và các chị các anh quay đúng một trong 6 câu, mình sẽ đọc lên câu kiều trong sách. Thí dụ có một chị muốn coi về “tâm sự riêng” thì sách Kiều phán chon hai câu:                                                                    

Hổ sinh ra phận tơ đào                                                                                                             

Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành

Lý giải hai câu thơ này đại khái như sau: “Phận đàn bà con gái, đến khi lấy chồng thì phải lo cho chồng, lo cho đàn con, lo cho cha mẹ của mình, cha mẹ bên chồng, lo làm lụng vất vả và lo cho cả “người yêu”…chẳng khác nào một cây phải cõng cả trăm cành vạn lá vậy. Vị khách nữ này phán ngay: “Đúng phóc”. Và cười hớn hở.

Có chị muốn coi quẻ về “con cái” và chị quay đúng câu:                                                               

Lần lần thỏ bạc ác tà                                                                                                        

Nở nang mày mặt phận là mẹ cha

Lý giải: Cha mẹ tuổi càng cao thì con cái trong gia đình đều đã có công danh sự nghiệp hiển đạt, gia thất đề huề, gia đạo yên vui…càng làm cho các đấng cha mẹ hãnh diện và hạnh phúc về sau.

Có một nữ khách mặt trông quen quen xin bói một quẻ về sức khỏe. Kiều của cụ Nguyễn Du phán rằng:    Sư rằng cũng chẳng hề chi                                                                                      

Đã tu, tu chót qua thì thì thôi

Lý giải: Trong quá khứ có gặp tai nạn hay bệnh tật nhưng mọi chuyện đều qua khỏi. Từ nay sống hạnh lành tu tập thì mọi sự dữ hay bệnh tật cũng đều biến mất. Sau khi nghe giải chị này kể rằng hồi đó chỉ bị té nặng tưởng chừng la liệt (la vì tê liệt) nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, bệnh đã khỏi.                   

Có một tấm hình hai chị nghe Kiều phán thuận tai nên ôm chầm lấy nhau mừng rỡ. Mình cũng mừng cho hai chị.

Về phái nam, có một anh tuổi quá “xồn xồn” ghé đến và yêu cầu tự tay anh giở sách Kiều để bói vì thấy có hai cuốn Kiều để trên bàn. Vậy thì nhớ “nam tả nữ hữu” tức là khi mở sách ra, anh phải xem hai câu đầu tiên ở trang bên trái. Hai câu rằng: 

Khi gió gác khi trăng sân                                                                                                        

Bầu tiên chuốc rượu câu thần nối thơ                                                                                                                             

Ảnh đọc xong hai câu thơ bèn há miệng cười ha hả ra điều khoái chí rồi phán rằng: Thơ của cụ Nguyễn Du “thần” sầu” thiệt. Chắc không cần phải lý giải thì quý bạn đọc cũng biết anh này trúng số cả cuộc đời với túi thơ bầu rượu cùng gió mát trăng thanh, được vợ nuôi cho ăn chơi tới bến…

Chưa hết! Có một chị sau khi được Kiều bàn về việc gia đạo, chị vội vã đi tìm ông chồng đang lang thang đâu đó rồi kéo ông đến gặp thầy đồ. Chị ta nhờ thầy đồ khuyên ông chồng là từ nay trở đi không được la rầy vợ. Sau khi nghe lời khuyên, ông chồng tuyên bố: Từ nay em sẽ không rầy la vợ nữa…em chỉ đánh mà thôi…! Ông đồ đưa tay sờ râu và phán: “quẻ này có phản ứng phụ”.

Đến giờ khai mạc mình bỏ “gánh” để chạy lên phía trước chộp vài tấm ảnh với nghi thức khai mạc, giới thiệu Ban Chấp Hành, tặng quà cho giáo sư… Sau đó là các tiết mục văn nghệ bắt đầu với “Ly Rượu Mừng”, tiếp theo là những màn vũ, đơn ca, tam ca ba miền, biểu diễn đàn tranh, nhạc quyền (tập thái cực quyền theo điệu nhạc)… Màn hợp ca để kết thúc chương trình là một bài hát có lẽ đa số người đến dự chưa được nghe bao giờ nên họ rất ngạc nhiên khi, một – một bài hát “lạ” và hai –  bài hát này có sự tham gia của mấy chàng rể Gia Long. Đó là bài “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của nhạc sĩ Du Ca Nguyễn Đức Quang (1944 -2011). Khách đến dự vừa ăn vừa thưởng lãm tài tổ chức của các cựu nữ sinh Gia Long Houston với nhiều lời khen ngợi. Tiệc tàn lúc ba giờ. Những ai muốn cho đôi chân khỏe mạnh thì tiếp tục ra sàn nhảy.

Trong thời buổi cô vít cô veo chưa dứt mà các cựu nữ sinh Gia Long tổ chức Hội Ngộ Mùa Xuân thành công là cả một kỳ công đáng nể. Nhiều người khen. Trong đó có kẻ viết bài này.

            Phong Châu                                                                                                            

Cuối Tháng Giêng Quý Mão

Dưới Bóng Cây Tần Bì

(Sous les frênes – HENRY GRÉVILLE)

TháiLan dịch

Hai người đang đi chầm chậm trên lối đi hẹp bằng đất thỉnh thoảng có những con đường mòn xanh mơn mởn cắt ngang, mà cứ hai năm một lần những xe đẩy chở cỏ khô hoặc lúa mì lại ùa vào những đám hoa cúc và cỏ. Những cơn mưa gần đây đã tạo thành từng vũng ao nhỏ ở những đoạn lồi lõm; nhưng ở phần giữa đường, đầy bụi bặm và rải rác có dấu vết móng ngựa, thì khúc đường cũng khá rộng để hai người có thể sánh đôi.

– Vậy là nàng không đồng ý phải không?

Anh thanh niên hỏi một cách gượng gạo, đôi mắt nhìn xuống đất và ngón tay quay quay một cọng yến mạch dại. Cô gái vẫn im lặng. Ôi, sao anh ấy có thể tàn nhẫn khi nói rằng chính cô là người không muốn! Tại sao trong những ngày tháng dài như thế mà anh không đoán được chính anh là người mà nàng yêu?

Cô cúi đầu xuống và cầm góc tạp dề màu xanh lên, mân mê, cuộn tròn rồi lại thả ra trong đôi tay run rẩy của mình để tỏ ra không lúng túng, cũng giống như anh xoay vòng cọng cỏ của mình để có thái độ vững vàng.

– Có thật là nàng không muốn? Nàng có nhớ không, chúng ta đã cùng nhau Rước Lễ Lần Đầu, nàng không còn nhớ gì sao?

Cô liếc nhìn tháp chuông nhỏ nhô lên trên hàng rào rồi lại nhìn con đường, bây giờ đám bụi dày đặc đã tạo thành một tấm thảm nhung.

– Thời đó nàng đã yêu tôi rất nhiều, – anh tiếp tục nói một cách cay đắng – nhưng trái tim em đã thay đổi: lúc đó em nói là không thể sống mà không có tôi bên cạnh; rồi sau đó, em đã không còn thích thú khi nhìn thấy tôi nữa.

Cô không nói gì; đôi má cô bỗng ửng hồng thêm lên; anh nghĩ cô sẽ nói điều gì, nhưng cô vẫn im lặng, và tiếp tục đi bên cạnh anh.

Con đường trở nên hẹp hơn, những nhánh cây tần bì và những cây cỏ đang giăng qua đầu họ. Một ngày ảm đạm, êm dịu, thật ngậm ngùi đang đến với họ, len lỏi qua những tán lá, và những tia nắng mặt trời vừa mới nhảy múa dưới chân họ trên con đường được lót bằng thảm cỏ hoang, ở đó hầu như không còn nhìn thấy những con đường mòn nữa.

Anh tiến lại gần hơn và nắm lấy góc tạp dề mà không chạm vào bàn tay run rẩy của cô gái.

– Vâng, tôi nghĩ rằng em đã yêu tôi; tôi đã nghĩ rằng hai chúng ta sẽ dành cả cuộc đời bên nhau; gia đình em không giàu có, tôi cũng chẳng khá hơn; điều này chẳng ảnh hưởng gì đến chúng ta cả, đúng không nàng? Dù thế nào đi nữa, chúng ta vẫn hạnh phúc bên nhau, chỉ cần trong gia đình ta có tình yêu là đủ? Nhưng em đầy tham vọng, tôi hiểu rồi, em chỉ muốn giàu có và trở nên nghiệp chủ, chắc hẳn là thế; em rất sợ phải sống trong nghèo khó… Ôi! Nếu tôi suy nghĩ như em, về phần tôi, giờ này tôi đã kết hôn, đã có một cô vợ bên tôi rồi! Nhưng rồi tôi tự nhủ: Ta sẽ chỉ kết hôn với người ta yêu, và tôi đã tự hứa với mình như thế, không sai vào đâu được! Còn em, trái tim của em muốn tìm kiếm một nơi khá hơn, có địa vị hơn, phải không? Em muốn vươn lên khỏi vị trí hiện tại của em, đúng không?

Anh buông góc tạp dề ra và bực bội nhìn cô. Những người nông dân gặt lúa đang mài lưỡi hái của họ ở cánh đồng cỏ bên dưới; ta có thể nghe thấy tiếng cối xay đang xoay đều đặn trên dòng sông nhỏ. Một điệp khúc của một đoạn hát vượt qua không gian đang mơn man trên đầu họ, và tan nhanh trong bầu khí tháng sáu nóng rực…

– Ôi chàng của em! – cô gái thốt lên, vừa đặt cả hai tay lên vai chàng, và nhìn anh bằng đôi mắt sâu thẳm, đẫm lệ – em vẫn luôn yêu anh, nhưng anh chưa bao giờ nói lời nào, và sáng nay cha đã hứa gả em cho một người khác, chàng ơi chàng!

Cô buông lơi hai bàn tay một cách chậm chạp, chán chường xuống chiếc yếm… Trên kia những tia nắng óng ánh đổi màu đang nhảy múa qua những chiếc lá, và họ đứng đó, bất động, chỉ biết nhìn nhau, lòng mang một nỗi tuyệt vọng khôn cùng; và ở một nơi xa xăm, một gã nào đó vô cùng hạnh phúc đang hân hoan ngân lên bài ca thánh thót, xuyên qua cỏ cây núi rừng, vang rền, bay bổng trên đầu hai người đau khổ.

TháiLan dịch 

Mùa Xuân Này Nắng Lên

Minh Thúy Thành Nội

          Trời bên ngoài đã chuyển thu hơi lạnh, Nguyên quấn chiếc khăn choàng cổ và đội mũ len ra khỏi nhà cùng với Jim. Nàng níu tay Jim tránh sự vấp ngã đi ra con suối Cherry Creek ngay dưới chân dãy núi Rocky. Qua màn mờ của con mắt, nàng vẫn cảm nhận được ánh nắng đang len lỏi qua hàng cây lá, trời trong xanh bao la xuống gần vây con suối. Dạo quanh những bước chậm rãi, Nguyên nhìn con vực và dòng suối đang chảy như nhìn xuống những thương đau của đời nàng…

          Bốn năm nay Nguyên qua Mỹ đoàn tụ cùng con gái ở Seattle. Lòng mẹ thương con, ở Mỹ lo cho con trai còn ở VN, quay về VN lại thương nhớ con gái bèn quay lại Mỹ. Cuộc sống con gái quá bận rộn, tan ca tới bảy giờ tối, ghé chợ vội vã, về nhà nhào vào bếp lo buổi cơm tối. Rể ra sớm hơn qua nhà bà nội đón hai cháu về lo tắm rửa. Nhìn vợ chồng tối mặt Nguyên thấy xót xa muốn giúp bớt điều gì, đôi lúc muốn rửa chén hay nấu phụ món nào để con gái bớt vất vả, nhưng các con lại không yên tâm: nào mẹ bấm thức ăn hai phút trong microwave con lại lo bấm lộn hai mươi phút, văn lò trên bếp con lại sợ bị cháy nhà. Tất cả chỉ vì các con thương mẹ, nhưng mẹ nhìn cuộc sống tất bật của các con cũng xót ruột, đau lòng vì không chia xẻ được điều gì, dù Nguyên có kể con gái nghe “hình như mỗi đêm mẹ cầu nguyện Chúa nên bây giờ mắt mẹ nhìn rõ hơn, khá hơn”, nhưng con gái vẫn lo lắng.

Suốt ngày Nguyên đi ra đi vào, gọi phone chuyện trò bè bạn hoặc mở laptop mò mẫn gõ vài câu thơ nhưng đôi mắt nhòe nhoẹt ướt nên con chữ bị sai nhiều, bạn bè hiểu ý câu thơ và rất thương cảm. Ngày xưa Nguyên học thêm nơi hội Việt Mỹ, đã từng quen Mỹ dẫn về lớp cho bạn bè tập nói. Mấy chục năm trên bảng đen phấn trắng dạy học, vậy mà khi qua Mỹ tự nhiên Nguyên đâm ra rụt rè sợ hãi, đi ra đường hay vào siêu thị không dám mở miệng. Nguyên thành thật kể điều này cho bạn ở Colorado nghe, bạn nghĩ ra cách giới thiệu ông Jim (người sinh hoạt chung trong hội thánh Tin Lành) cư ngụ nơi thành phố Englewood, mục đích cho Nguyên dạn dĩ nói chuyện, ứng dụng sinh ngữ với người bản xứ và cũng để giết thời giờ.

Từ đó mỗi tối vào khoảng tám giờ bên Seattle Nguyên nhận phone ông, nói chuyện qua lại hơn một năm nay. Thói quen và tìm hiểu thêm, dần dà hai người cảm nhận được sự thông cảm gần gũi. Nguyên được biết ông đã vượt tuổi về hưu lâu rồi, nhưng còn đi làm hãng điện tử. Vợ ông nằm trong nursing home gần mười năm và đã qua đời cách đây bốn năm. Ông có một trai một gái, con gái làm việc ở Cali, con trai sống với ông trong căn apartment.

Tháng tư năm nay Jim bay qua Seattle thăm Nguyên ở lại chơi mấy ngày. Các em lập gia đình sống quanh đó, cũng như con gái Nguyên đều welcome ông thân mật, họ nhận xét “Jim có nét mặt hiền hậu dễ mến, biết chị mình bị mù nhưng vẫn đến nên mọi người đều có cảm tình. Các em Nguyên thay phiên nhau chở ông đi vòng vòng, cho ăn món Việt như phở Thanh Hương, phở Như Ý. Sau chuyến qua diện kiến, Jim có vẻ muốn siết chặt hơn, phone nhiều hơn, nhắn nhiều hơn mỗi sáng ông thức dậy sớm, hoặc giờ lunch trong hãng. Ông thúc giục Nguyên qua chơi để biết thủ đô Denver.

Jim đón Nguyên về chung sống gần tháng nay, ngoài dự tính Nguyên chỉ chơi một tuần, nhưng ông nài nỉ cho đến khi nàng chấp thuận, ông đổi vé máy bay chưa có ngày về.

Qua đây Nguyên được tự do nấu bếp, bù lại sống với con gái nàng không được làm bất cứ chuyện gì dù việc nhẹ nhất. Ban đầu Jim cũng cấm cản, nhưng Nguyên năn nỉ “nếu ông không cho tôi làm, tôi cảm thấy mình bất lực sống thừa thãi của một kiếp phế nhân, tôi càng dễ điên loạn hơn nữa, hãy để tôi thử xem”. Jim cho nàng thử và tạm ok.

Mỗi sớm Jim thức dậy, nàng nấu nước sôi pha cà phê Trung Nguyên hiệu G7, đổ trứng hoặc lấy cheese để dĩa cùng hai lát mì nướng. Chiều Nguyên nấu cơm điện, lúc xào tôm với các thứ rau đậu, khi xào mì với thịt bò xay. Jim làm về dẫn con đi bộ hai tiếng, sau đó dẫn Nguyên ra con suối này hưởng không khí thoáng mát rồi mới về dùng cơm tối. Có điều lạ Nguyên khó nuốt được thức ăn kiểu Mỹ, ghiền các thứ mắm cà, mắm ruốc, mắm tôm, giờ đây điều huyền diệu nào khiến nàng ăn được Hamburger, Tacos, Pizza dễ dàng, gọn gàng nữa là dùng hộp Clam Chowder hâm lại thay đổi món.

Cuối tuần ngày thứ bảy Jim chở Paul chạy vòng vòng đây đó nhìn cây cảnh, phố xá bốn tiếng đồng hồ theo yêu cầu của con từ lâu. Ngày chủ nhật dẫn Nguyên đi chợ King Soopers, hoặc ngồi các quán cà phê hưởng không khí an nhàn. Jim hứa sẽ có ngày đưa Nguyên đến xem ngọn núi nổi tiếng Pikes Peak và Longs Peaks, dù mắt nàng chẳng thấy rõ nhưng vẫn thích đi nhiều nơi.

Vào nhà Jim, nàng tìm hiểu thêm chuyện mà trước đây ông chưa hề kể. Con trai ông nay đã bốn mươi tuổi vẫn còn nương tựa cha. Paul sinh ra lớn lên ăn học rất bình thường, đến năm mười tám tuổi bỗng nhiên trở bệnh tự kỷ (Autism). Paul bỏ dỡ việc học, suốt ngày đóng cửa phòng, sợ đám đông, lầm lì không nói chuyện, nhưng bắt cha chịu đựng ngồi nghe con nói suốt buổi lái xe những điều không đâu. Cha đã nhận lương hưu nhưng vẫn muốn kiếm thêm tiền từ công việc điện tử, cần có thêm phần thu nhập lo cho con trai sống thoải mái. Những công việc nặng nề cha khuân vác một mình, không hề tỏ thái độ bực dọc với con, nét mặt phúc hậu, cách chiều chuộng con khiến Nguyên gọi thầm ông là Phật, là Chúa hay là ông tiên giữa đời thường. Càng chứng kiến Nguyên càng thấy kính nể tình cảm người cha dành cho con vô bờ bến, gánh chịu một mình ôm ấp đứa con bịnh hoạn vào lòng trong tình phụ tử thiêng liêng…

“Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, Nguyên chợt rùng mình nhớ lại giai đoạn tàn khốc của đời mình bị màn đêm bao phủ ….

Sau 75 Nguyên học tiếp ba năm rồi tốt nghiệp Anh văn từ trường Đại Học Sư Phạm Huế. Nguyên được bổ nhiệm về Long Khánh dạy cấp ba trường Thống Nhất 2.

Nguyên gặp Lợi dạy cùng trường, yêu nhau và gầy dựng ngôi nhà hạnh phúc sinh được một trai, một gái. Lúc đó Nguyên còn mở sạp vải, quần áo trước mặt nhà, nhờ bà con coi ngó, ngoài giờ dạy Nguyên buôn bán thêm để có đồng ra đồng vào sinh sống thêm. Chồng Nguyên ban đầu làm hiệu phó, sau đó lên làm hiệu trưởng. Gia đình hạnh phúc ấm êm nào ngờ chưa tới năm mươi tuổi thì tai họa ập đến. Một hôm Nguyên đang đứng trên bục gỗ giảng dạy, bỗng nhiên thấy trước mắt có nhiều con ruồi đen lớn bay qua, hỏi học trò chẳng ai thấy ruồi đen bay vào lớp. Biết con mắt có vấn đề, Nguyên khám bác sĩ, họ cho ở lại bệnh viện, chích mũi thuốc theo dõi, hôm sau Nguyên nhìn thấy khoảng 4%, bác sĩ cho về. Nguyên còn nhớ rõ hôm đó là ngày mồng hai Tết đến mồng sáu Tết mắt bỗng khép lại không còn thấy gì nữa. Nhờ cậu học trò bác sĩ làm giấy tờ giúp cô giáo qua Singapore chạy chữa, Nguyên bán sạp vải và nhà cửa thu gọn dời lên Sài Gòn mua căn hộ trong chung cư, một phần cũng nhờ các em định cư ở Mỹ giúp đỡ thêm.

Qua Singapore bác sĩ chẩn đoán bị giời leo. Nguyên hỏi mẹ cho biết: năm đó Nguyên bị phỏng rạ (nhọt nước) nên không thể chích đậu mùa. Bác sĩ chẩn đoán một dạng của giời leo, con virus sẽ chạy tùm lum có khi lên mắt, có khi lên bộ não. Hồ sơ bệnh trạng ghi: virus ăn hết nên bị hoại tử võng mạc và lấn tới con ngươi, chung quanh con ngươi bị ăn mòn, bác sĩ phải nhíp lại nhưng còn may mắn hé được hai lỗ nhỏ. Trở về VN Nguyên cho con gái đi du học Mỹ, con trai du học Nhật. Năm sau chồng Nguyên mắc bệnh Parkinson ảnh hưởng lên não rối loạn thần kinh, chạy chữa bác sĩ và dùng thuốc loại nặng. Miệng anh thường chảy nước dãi, chân bước đi không vững, người bật ngửa ra sau muốn té. Giai đoạn này Nguyên phải thuê người trả lương khá cao vì công việc cực nhọc, nhưng ai đến ở một tuần hay quá lắm là nửa tháng thì bỏ việc, có lẽ họ thấy vợ mù, chồng la lết, họ không đủ sức chăm nom?

          Cả một địa ngục trần gian đày đọa lên vợ chồng Nguyên từng ngày. Có lần anh lết theo Nguyên mù lòa băng qua đường, níu tay ai họ cũng tránh ra, tới được quán phở đứng xếp hàng dài, chủ quán thương tình cho vào trước, vợ chồng ngồi ăn vội trong tủi nhục, đau buốt. Nhiều hôm sáng sớm nàng mò giường gối xếp dọn cho ngăn nắp, bàn tay rà trên giường thấy có mấy cục chocolate khô (trước đó bạn Việt kiều đến biếu thăm). Nguyên bốc đưa lên mũi ngửi không ngờ đó là phân người, anh không còn tỉnh táo nhiều nữa đã tiểu tiện, đại tiện ngay trên giường. Hằng đêm Nguyên nguyện với Chúa “xin giải nghiệp dùm con”. Tinh thần và thể lực suy yếu dần hồi, nước mắt phải nuốt ngược vào trong, cắn răng chịu đựng. Nguyên giấu các con chỉ nói sơ, vì không muốn con lo lắng mà ảnh hưởng việc học, chỉ mong muốn con ăn học thành tài. May mắn con gái Nguyên gặp bạn trai yêu thương, kết hôn và ở lại sống yên thân trên đất Mỹ. Con gái bảo lãnh ba mẹ nhưng không còn kịp nữa, chồng Nguyên đã ra đi về miền đất lạnh…

Jim dìu Nguyên xuống tảng đá gần đó ngồi nghỉ chân, cắt đứt dòng tư tưởng của nàng xa cơn muộn phiền. Tiếng suối nghe róc rách vui tai, gió thổi mát bay mái tóc của Nguyên vào mặt Jim, nàng hát khẽ “Hãy ngồi xuống đây trên lưng cuộc đời thách đố thương đau. Hãy ngồi xuống đây vai kề sát vai cho da thịt này đốt cháy thương đau” (*1), dù không hiểu nhưng Jim lắng nghe giọng nàng như để hòa chung cùng không khí thần tiên này. Nguyên tựa đầu trên vai chàng, nàng đang cần một bờ vai, đó có phải là tình yêu hay vì hai tâm hồn trống trải cần tìm đến nhau? Nguyên chẳng hiểu mình nữa?!! Khi chồng mất, nàng chỉ biết nhớ thương chồng, nỗi nhớ thương dày vò từng đêm không ngủ được, lặng lẽ nhìn bóng tối trong nỗi hoang mang “anh chỉ đến trong trái tim mình nhưng không bước cùng mình đến cuối cuộc đời, anh để lại cho mình quá nhiều đau khổ và hụt hẫng”. Chưa bao giờ Nguyên nghĩ mình sẽ quen người đàn ông khác, và ai dám quen người đàn bà lớn tuổi lại bị khiếm thị. Cũng sẽ không bao giờ nghĩ với tuổi này nàng lại có những cung bậc cảm xúc lạ lùng khác thường. Nguyên là người đàn bà Á Đông, có chút kiến thức chỉ đam mê đi tìm Chân, Thiện, Mỹ của cuộc đời và yêu cái đẹp ấy, không ham vật chất, chẳng mê tiền bạc. Hạnh phúc đối với nàng là được chăm sóc qua nghĩa cử nhỏ, qua bữa ăn với tất cả chân tình biểu hiện bằng tình thương. “Một trái tim sẽ chẳng thể kết nối với một trái tim khác chỉ bằng sự hoà hợp thông thường. Thay vào đó, chúng chỉ thực sự quyện chặt vào nhau qua những nỗi đau”. Có lẽ Nguyên đã cảm nhận ra điều mà tiểu thuyết gia Nhật Bản Murakami đã nhận thức sâu sắc về nỗi cô đơn, về niềm đau của con người cũng như sự hình thành gầy dựng tình yêu.

Tiếng Jim nhắc bên tai “We should go home”.  Nguyên đoán trời đang phủ nhẹ hoàng hôn, không gian yên ắng, màu nắng nhạt dần. Hai người đi bên nhau, nắm tay xiết chặt để chuyền hơi ấm, chuyền sức sống, chuyền niềm tin cho nhau. Một ngày sẽ qua, một ngày của sự bình an trong cuộc sống, ngày mai sẽ đến, sẽ tiếp tục che chở nỗi cô đơn của hai tâm hồn đóng băng từ lâu, nay đến với nhau không vì sinh lý nhục dục, mà bằng hai trái tim cùng nhịp thở đồng điệu.

Nhìn lịch đã hơn một tháng chơi nơi đây, con gái Nguyên gọi phone muốn mẹ về, mà Nguyên cũng thấy nhớ cháu ngoại, nên nhờ Jim đặt vé ngày về. Bữa cuối trước ngày chia tay, Jim chở Nguyên ra ngoài ăn tối. Chàng đặt thẳng câu hỏi

– Can you marry me?

Câu hỏi bất ngờ mà nàng chưa hề nghĩ đến, Nguyên muốn tránh nhưng sợ Jim buồn, nên nói lời hứa hẹn bâng quơ:

– Please give me time to think

Nguyên đoán Jim đang nhìn nàng bằng ánh mắt tha thiết dịu hiền

– OK, I hope you reply soon

                                        ********

Trở về với con cháu, trời đã cuối thu, khung cảnh ở Seattle thật tuyệt vời qua màu trời mờ ảo. Chiều nào Nguyên cũng đi bộ chậm rãi tới công viên gần nhà, nơi có hàng cây đã đổi màu sắc, lá rụng trơ cành gần hết. Nguyên suy nghĩ thật nhiều về lời đề nghị của Jim, nàng nghĩ với số tuổi hiện tại thì đâu cần ràng buộc trách nhiệm mà chi, tuổi của “vô thường” đang rình rập ngày mai gần kề với cỏ sương đất lạnh. Nàng thương cảm căn bệnh tự kỷ của Paul, tôn trọng tình nghĩa cha con của họ, đã từng trọn vẹn trước đây, sợ con trai sẽ buồn vì sự xuất hiện của Nguyên, sẽ chia sớt bớt tình cảm của người cha lâu nay. Thôi thì “Hãy cứ là tình nhân. Để mong mỏi đợi chờ. Để chiều chuộng nâng niu. Và sợ điều tan vỡ. Hãy cứ là tình nhân. Để tháng ngày hoa mộng. Đề hẹn hò yêu đương. Và khắc khoải chờ nhau…” (*2). Tâm trạng nàng thật hoang mang bối rối, cuối cùng nàng muốn nói thật ý nghĩ mình cho Jim hiểu “Nhìn ông tôi cũng xót xa với lứa tuổi ấy còn đi cày, gánh vác mọi chuyện nặng nhọc, chiều chuộng con hết cỡ, nhưng con ông bệnh, ông không thể sống khác, bản chất ông lại hiền hoà giỏi chịu đựng, thú thật tôi thương ông nhưng lương tâm không cho phép mình giành giựt chiếm đoạt tình thương của ông, vả lại chính vì nhìn ông thương con nên tôi càng kính trọng và yêu ông hơn”.

Từ đó Nguyên và ông chẳng nhắc lại vấn đề “get marry” nữa. Gọi phone chỉ kể những sinh hoạt trong ngày hoặc FaceTime thấy mặt nhau như đang kề cận bên cạnh, dù mùa đông lạnh lẽo vẫn đủ sưởi ấm tâm hồn cho nhau.

                                   **************
          Thời gian vùn vụt qua nhanh. Mùa xuân đã đến. Cây lá tươi xanh, lộc chồi non biếc, các loài hoa đang chớm nở khoe sắc. Lòng Nguyên thấy rộn ràng khi Jim hứa sẽ qua Seattle ăn Tết Việt Nam cùng nàng. Chỉ còn vài ngày nữa thôi, lòng nàng thấy háo hức muốn đi chợ Tết mua sắm nhiều thứ.

Sáng nay Nguyên nhờ chị hàng xóm chở đi chợ Hau Hau: các gian hàng trưng bày bánh mức trông hấp dẫn đẹp mắt. Nàng đến dãy bán thức ăn nhờ chị bạn mua nem, chả, giò thủ, hộp mứt đủ loại, bánh tét, bánh chưng, đến hàng trái cây mua Bưởi, Nho, Thanh Long. Chị hàng xóm giúp bê các thứ ra xe trước, rồi quay lại dẫn Nguyên tiếp tục đến khu vực bán hoa mua nhành Đào, nhánh Mai tươi rực. Tuy vật giá năm nay leo thang kinh khủng, nhưng nàng chẳng e dè quan tâm, trên đường về lại nhờ chị bạn ghé chợ Việt mua thêm ít thứ nữa. Tới nhà, Nguyên bày đầy bàn, ngắm nghía các thứ mình mua lòng thỏa mãn vui vui.

Jim đến đúng ngày 28 Tết. Các em chở Nguyên và ông dạo những khu VN trang hoàng không khí Tết cho ông biết.

Sáng nay nắng hồng chiếu rực rỡ trên những chậu hoa Miniature Rose, chậu Harvest Mums, vạt hoa Cúc do con gái Nguyên trồng trước thềm lóng lánh thật đẹp. Cành Đào hồng đang còn búp, hoa mai vàng nụ vừa hé nở. Vạn vật khoác lên bộ mặt tươi sáng chuyền sức sống cho nhân thế. Xuân đã về. Tình xuân phơi phới. Hồn xuân ngất ngây.

Xuân đang ngự trị trong lòng nàng và Jim.

Nguyên dẫn Jim đi ngắm những bông hoa đang chào đón mùa xuân. Nàng thấy yêu trời đất, yêu cảnh vật chung quanh, yêu màu nắng hồng đang sưởi ấm và hát khẽ (*3) “Anh, lại đây với em, ngồi đây với em trong cuộc đời này. Nghe thời gian lướt qua. Mùa xuân khẽ sang chừng như không gian đang sưởi ấm những giọt tình nồng…”

Minh Thúy Thành Nội

(*1) Hãy Ngồi Xuống Đây (Lê Uyên Phương)

(*2) Hãy Cứ Là Tình Nhân (Tú Minh) (*3) Tình Tự Mùa Xuân (Từ Công Phụng

ĐÂU  PHẢI  TẾT 
Thêm một năm xa nhà
Bước chân đời viễn xứ
Lặng lẽ ngắm Xuân qua
Chồi xanh chưa kịp nhú
Hàng thông đứng im lìm
Sớt chia dùm nỗi nhớ
Thương quãng đời chơ vơ
Mây không buồn ôm niú
Núi trơ trọi giữa trời
Trắng một màu sương tuyết
Rõ ra một mùa Đông
Nào phải đâu Lễ Tết
Lạnh phủ trùm cô liêu
        Hoàng Mai Nhất

Ý  XUÂN
Xuân
   đem mộng ước đến muôn người
Xuân   với ngàn hoa quá đẹp tươi
Xuân   chỉ phô bày bao dáng vẻ
Xuân   càng thể hiện nét môi cười
Xuân   đầy thắm đượm tình đôi lứa
Xuân   lại vầy duyên chuyện cuộc đời
Xuân   chẳng hoài công mình kết tóc
Xuân   gieo tưởng nhớ khắp phương trời
                                      Hoàng Mai Nhất

* Chào đón Xuân Giáp Thìn 2024
                           Hoàng Mai Nhất
                     Seattle, WA Jan 26/2024

Đón mùa Xuân nữa Đông trong tuyết
Gậm nhấm niềm đau lạnh cả lòng
Thêm mùa Xuân nữa thêm thương nhớ
Thương nhớ quê nhà giữa tuyết Đông
Tết đến nào đâu Xuân chẳng thấy
Chỉ thấy ngập tràn nỗi ngóng trong

Từng chùm bông tuyết phơi cành trắng
Xuân vẫn trong Đông dẫu chưa tàn
Chuông chùa đâu đó đang vang vọng
Màn đêm mưa lạnh phủ ngập lòng
Nghĩ về quê Mẹ xưa sum họp…
Thề diệt bạo tàn thỏa ước mong
                        Hoàng Mai Nhất




Năm Mới, Hy Vọng Mới




Chương trình nghị sự 2030 của LHQ: Chính trị gia và Khoa học gia có định hướng làm mất uy tín về biến đổi khí hậu

Tổng thư ký LHQ António Guterres đã khởi xướng nhiều chương trình cải cách khác nhau nhằm mục đích thực hiện Chương trình nghị sự 2030 – Agenda 2030 về Phát triển Bền vững. Các nước thành viên đã đồng ý tổ chức lại LHQ hệ thống phát triển chương trình trên. Mặc dù cần phải cải cách sâu xa hơn nữa, thiết nghĩ sẽ khó thực hiện được trong bối cảnh chính trị hiện nay. Tuy nhiên, những cải tiến về phương pháp và thực tiễn làm việc chỉ nằm trong phạm vi của những điều có thể thực hiện được.

TTK Antonio Guterres kêu gọi quốc tế hãy “bắt tay hành động” và ông đã mất một năm để chuẩn bị cho hội nghị khai mạc ở New York năm 2023. Nhưng đa số các nhà khoa học lo ngại thành công sẽ không bao nhiêu. Bởi lãnh đạo các nước gây ô nhiễm nhất, như Trung Cộng hay Ấn Độ và nhất là Hoa Kỳ đều vắng mặt. Ngay cả Nhật hay Canada vốn đã cam kết rất nhiều về quyết tâm phát triển năng lượng sạch cũng không tham dự hội nghị về môi trường mở ra tại trụ sở LHQ.

Chúng ta vẫn còn nhớ Kỳ hội nghị tại Copenhagen năm 2017, một số nhà lãnh đạo thế giới, bao gồm cả Tổng thống Barack Obama và Thủ tướng Trung Cộng Ôn Gia Bảo, đã tham dự; nhưng sau đó, các ông cảm thấy xấu hổ khi hội nghị kết thúc trong cảnh hỗn loạn và chống phá lẫn nhau. Các ông cố gắng làm tất cả nỗ lực lớn nhất để cùng nhau có một thỏa thuận chung vào thời điểm trên, nhưng rồi đã đi vào bế tắc vì những bất đồng giữa các nước phát triển, đang phát triển và một Trung Cộng cứng ngắt trong não trạng của mình.

Suốt 26 năm qua, từ khi thành hình Nghị định thư Kyoto (1997), các nước trên thế giới đã phải vất vã để tiến đến một giải pháp chính trị cho những mối đe dọa do sự biến đổi khí hậu, trong khi cộng đồng khoa học đã nhiều lần làm rõ và tái làm rõ những mối đe dọa trên.

Nhưng tất cả đều thất bại vì cho đến bây giờ, thế giới chưa bao giờ đạt được sự đồng thuận, mặc dù Thỏa thuận và một số Lời hứa vừa được ký kết ở ngày bế mạc COP21 vào ngày 12 tháng 12 năm 2015 tại Paris.

Các chương trình nghiên cứu này bắt đầu bằng việc kiểm tra những phương pháp và thực hành cách làm việc nào đã giúp các quốc gia thành viên đồng thuận thông qua Chương trình nghị sự 2030 đầy tham vọng, bao gồm các Mục tiêu Phát triển Bền vững – Sustainable Development Goals (SDG) đã được thống nhất vào tháng 9 năm 2015. Diễn đàn Chính trị Cao cấp về Phát triển Bền vững – High-Level Political Forum on Sustainable Development (HLPF) hiện là trung tâm quản trị phát triển bền vững của LHQ nhằm hỗ trợ các quốc gia thành viên đảm nhận vai trò lãnh đạo chính trị và trách nhiệm thực hiện Chương trình nghị sự 2030 và SDG. Tuy nhiên, phân tích sẽ cho thấy rằng HLPF có nguy cơ thất bại trong nhiệm vụ của mình qua sự phức tạp của Chương trình nghị sự 2030 – UN Agenda 2030, nhiệm vụ rộng rãi của HLPF, số lượng lớn người tham gia và kỳ vọng cao của họ đang tạo ra các vấn đề cho một diễn đàn đã được thành lập vào năm 2013 nhưng không được trang bị đầy đủ cho các mục tiêu đan cử trong UN Agenda 2030.

Ai chịu trách nhiệm về Chương trình nghị sự 2030?

Agenda 2030 đã được tất cả các quốc gia thành viên LHQ đồng ý thông qua vào năm 2015 với 17 Mục tiêu phát triển bền vững (SDG), 169 chỉ tiêu và 231 chỉ số riêng nhằm định hướng các chính sách phát triển quốc gia và toàn cầu, đồng thời đưa ra các đề nghị mới nhằm thực thi những mục tiêu đề ra.

Báo cáo ngắn gọn được công bố gần đây từ Hội đồng Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu -Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC) cảnh báo rằng hành tinh sẽ ấm lên khoảng 1,1°C đến 2,4°C vào năm 2100 nếu không làm gì để giảm thiểu lượng khí carbon dioxide trong khí quyển. Đặc san Inside Climate News đưa tin rằng một trong những chuyên gia khí hậu nổi tiếng nhất, Michael Mann, đã chỉ trích IPCC vì “quá bảo thủ” trong việc dự đoán những hậu quả thảm khốc của biến đổi khí hậu, “bao gồm sự sụp đổ của dải băng hà, mực nước biển dâng cao và sự gia tăng khắc nghiệt của thời tiết.” Tuy nhiên, chính những dự đoán táo bạo này đã làm xói mòn uy tín của các chuyên gia trong quá khứ.

***

Có thể nói, cuốn sách mới của Bjorn Lomborg “Báo động Sai” nêu lên sự hoảng loạn do biến đổi khí hậu khiến chúng ta tiêu tốn hàng tỷ USD, làm tổn thương người nghèo và không thể khắc phục hành tinh, cần được cố gắng thuyết phục độc giả rằng tác động của biến đổi khí hậu đã bị phóng đại, đặc biệt là bởi các phương tiện truyền thông và phần lớn nỗ lực hiện tại để giải quyết vấn đề phát thải khí nhà kính đang gia tăng là một phản ứng thái quá.

Đặc biệt, ông rất tích cực thuyết phục các tờ báo cánh hữu, đặc biệt là những tờ báo thuộc sở hữu của Tập đoàn News Corp của Rupert Murdoch, chẳng hạn như The Wall Street Journal, New York Post và The Australian, quảng cáo miễn phí cuốn sách của ông trên các chuyên mục quan điểm của họ.

Trong sách Báo động Sai, ông lập luận rằng “sẽ thật ngu ngốc nếu không làm gì để chuẩn bị cho một hành tinh ấm hơn”, nhưng sẽ ngu ngốc hơn nếu giả vờ rằng chúng ta đang làm những việc sẽ giảm đáng kể lượng khí thải carbon dioxide trong khi thực tế không phải vậy, vì …không làm gì cả!. Đồng thời, cổ xúy việc nghiêm chỉnh cắt giảm lượng khí thải CO2 sẽ phải trả giá đắc.

Tuy nhiên, giống như những đóng góp trước đây của ông cho vấn đề này, lập luận của TS Lomborg dựa trên những con số kỳ lạ có rất ít hoặc không có độ tin cậy. Nhìn chung, những con số được ông trình bày, người có bằng Tiến sĩ về khoa học chính trị, đã đánh giá thấp những tác động kinh tế tiềm tàng của biến đổi khí hậu và phóng đại chi phí của việc cắt giảm khí nhà kính. Và ông đã thúc đẩy chúng một cách có vẻ an toàn khi biết rằng chúng sẽ không được các nhà xuất bản sách hoặc biên tập viên bình luận báo chí kiểm tra tính xác thực của những dữ liệu mà ông đưa ra.

Có thể nói, Lomborg lạm dụng các con số lỗi thời, bịa đặt và giải thích sai, vốn là trọng tâm trong lập luận ‘hâm nóng hơn’ của ông theo những cách sau:

• Phớt lờ chi phí trợ cấp nhiên liệu hóa thạch;

• Tăng gấp đôi bất hợp pháp ước tính chi phí hành động của Liên minh Châu Âu;

• Trình bày sai về tác động của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu tại COP21;

• Lựa chọn một mô hình ước tính lỗi thời về chi phí do tác động của biến đổi khí hậu;

• Tính toán sai mức độ nóng lên toàn cầu ‘tối đa’ (?).

Từ những dự đoán sai trái như vậy trong cuốn sách của mình, nhà môi trường học Bjorn Lomborg đã kết luận: “Các chính trị gia, nhà hoạt động và giới truyền thông tán thành một thông điệp chung là biến đổi khí hậu đang hủy hoại hành tinh và chúng ta phải hành động quyết liệt ngay lập tức để ngăn chặn nó. Trẻ em lo lắng về tương lai của mình và người lớn tự hỏi liệu việc mang lại sự sống mới cho thế giới có hợp đạo đức hay không. Đủ rồi!”

***

1.    Thomas C. Heller:

Với khẩu hiệu “Trật tự thế giới mới là Xanh”, ngày 13 tháng 1 năm 2012, Giáo sư Thomas C. Heller, Diễn đàn Sáng kiến Chính sách Khí hậu ở Đại học Stanford, là một trong những chuyên gia có ảnh hưởng nhất thế giới về chính sách môi trường. Là thành viên của nhóm chuyên gia LHQ, người đã ước tính tác động của biến đổi khí hậu và chia sẻ Giải Nobel Hòa bình năm 2007 với cựu PTT Al Gore, Giáo sư Heller đã được yêu cầu hỗ trợ xây dựng các chương trình bền vững ở mười quốc gia mới nổi. Cách tiếp cận thực dụng của ông như là một nhạc điệu nghe lọt vào tai các chính phủ ở Brazil, Trung Cộng và Indonesia. Kế hoạch của TC nhằm giảm lượng khí thải carbon và luật Brazil cắt giảm việc chuyển tiền liên bang cho các đô thị phá rừng là những ví dụ về các chương trình mà Sáng kiến Chính sách Khí hậu, một tổ chức phi lợi nhuận do Heller thành lập và được tài trợ bởi nhà tài chính George Soros. Giáo sư Heller nói: “Các nước mới nổi có trách nhiệm dẫn đầu quá trình chuyển đổi sang một trật tự thế giới mới, nơi tính bền vững sẽ là một lợi thế cạnh tranh to lớn”.

Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nền kinh tế và môi trường đã đạt đến cực đỉnh. Bằng chứng cho điều này là giá hàng hóa và năng lượng đang ở mức cao và sẽ duy trì ở mức này vô thời hạn. Từ giờ trở đi, sự tiến bộ phụ thuộc vào việc chúng ta xử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả và năng suất nhất có thể. Rõ ràng là, trong giai đoạn phát triển tiếp theo của con người, năng lượng xanh sẽ ngày càng trở thành một lợi thế cạnh tranh to lớn. Tuy nhiên, các chính phủ vẫn chưa sẵn sàng coi vấn đề môi trường là một khía cạnh cơ bản của chương trình nghị sự kinh tế.

Đại đa số các quốc gia vẫn coi số tiền chi cho phát triển bền vững là những khoản đầu tư bị mất, tất nhiên đó là một sai lầm nghiêm trọng. Vì sự quay trở lại của nó thường chỉ xảy ra trong dài hạn nên rất khó thuyết phục các nước đang gặp khủng hoảng, chẳng hạn như hầu hết các nền kinh tế phát triển hiện nay, phân bổ số tiền lớn cho các chương trình môi trường. Đây là một trong những lý do khiến việc thiết lập các mục tiêu giảm lượng khí thải carbon dioxide và việc thành lập Quỹ xanh trị giá 100 tỷ đô la lần lượt bị hoãn lại sang năm 2015 và 2020. Những nghị quyết này dự kiến sẽ được thông qua ngay lập tức, nhưng nhiều quốc gia lại ngần ngại đưa ra cam kết mà họ biết rằng việc thực hiện sẽ tốn kém.

Và kết luận là Tony Heller, người thường xuyên chỉ trích những gì ông coi là gian lận trong nghiên cứu khí hậu hiện được chấp nhận, đã biến lời chỉ trích này thành chủ đề định kỳ trên mạng (blog) khoa học của chính ông trong việc nghiên cứu khí hậu, để rồi từ đó tiết lộ những dự đoán thất bại và đáng nghi ngờ. “Tony Heller (bút danh Steven Goddard) không chỉ tin rằng biến đổi khí hậu là một trò “giả dối” và “lừa đảo”, mà còn thúc đẩy các thuyết âm mưu về vụ thảm sát trường học Sandy Hook.”

***

2: Một thời kỳ băng hà mới sắp đến với chúng ta!

“Khoa học gia dự đoán một thời kỳ băng hà mới vào thế kỷ 21,” The Boston Globe đưa tin, đồng thời cho biết chuyên gia về ô nhiễm James Lodge dự đoán rằng “ô nhiễm không khí có thể che khuất mặt trời và gây ra một thế kỷ băng hà mới vào một phần ba đầu thế kỷ 21.”

The Washington Post đưa tin, nhà khoa học khí quyển S.I. Rasool thuộc Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Quốc gia (NASA) và Đại học Columbia cho biết: “Thế giới có thể chỉ còn 50 hoặc 60 năm nữa là sẽ đến một thời kỳ băng hà mới đầy thảm khốc.”

***

3: Maldives sẽ biến mất vào năm 1992! Các thành phố Châu Âu sẽ chìm dưới nước!

TTX France-Presse đưa tin rằng quốc đảo nhỏ bé Maldives có nguy cơ bị “mực nước biển trung bình tăng dần” bao phủ hoàn toàn trong 30 năm tới, đồng thời lưu ý rằng “theo như dự đoán thì sự kết thúc của Maldives và người dân ở đây có thể đến sớm hơn nếu nguồn cung cấp nước uống bị cạn kiệt vào năm 1992.”

Maldives vẫn chưa có nguy cơ bị ngập dưới mặt nước. Trên thực tế, bất chấp ngành du lịch bị tàn phá do đại dịch COVID-19, quốc gia này vẫn thu hút những dự án phát triển mới. Một công ty phát triển của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất đã ký hợp đồng trị giá 148 triệu USD để xây dựng 120 biệt thự sang trọng trên mặt nước và bên bờ biển trên Đảo San hô phía Nam của thủ phủ Male của Maldives, tờ Hotelier Maldives đưa tin.

Tờ San Jose Mercury News của California đưa tin: “Ông Noel Brown, một quan chức môi trường cao cấp của LHQ nói rằng toàn bộ các quốc gia có thể bị xóa sổ khỏi bề mặt trái đất do mực nước biển dâng cao, nếu hiện tượng hâm nóng toàn cầu không được đảo ngược vào năm 2000.” (?)

Đến năm 2020, các thành phố Châu Âu sẽ chìm dưới nước!

The Guardian đưa tin về một báo cáo bí mật của Ngũ Giác Đài dự đoán biến đổi khí hậu sẽ dẫn đến chiến tranh hạt nhân, các thành phố lớn Âu Châu sẽ chìm xuống đại dương và Vương Quốc Anh sẽ rơi vào vùng khí hậu “Siberia” vào năm 2020. (?)

***

4: Chúng ta sắp bị đóng băng!

Maurice Strong là Tổng thư ký Hội nghị LHQ về Môi trường nhân bản – United Nations Conference on the Human Environment, sau đó trở thành Giám đốc điều hành đầu tiên của Chương trình Môi trường LHQ, từng tuyên bố{ :”Chúng ta có 10 năm để ngăn chặn thảm họa,” vào năm 2019, khi đề cập đến các vấn đề môi trường của thế giới, theo tờ báo Thụy Điển Dagens Nyheter.

Ông đã chuẩn bị một bài viết về cái mà ông gọi là “Chương trình nghị sự sống còn” – Survival Agenda, chỉ ra rằng chương trình nghị sự của LHQ có khoảng 150 mục trong đó và không thể loại bỏ một mục khỏi chương trình nghị sự do các quy định hiến pháp khu  vực giữ chúng lại. NHững điều trên có thể được các tổ chức khác giải quyết hoặc không còn phù hợp so với thời điểm chúng được đưa vào chương trình nghị sự. Điều chúng ta cần là dành ưu tiên đặc biệt cho những vấn đề ảnh hưởng đến sự sống còn thực sự của chúng ta và ông đã rút gọn vấn đề này thành khoảng bảy vấn đề. Chúng ta phải nhận ra rằng chúng ta vô tình cho rằng cuộc sống sẽ tiếp tục dù có chuyện gì xảy ra bởi vì nó luôn như vậy. Nhưng điều đó không đúng khi nó luôn như vậy. Hãy nhìn vào lịch sử của hành tinh trái đất – chỉ có một khoảnh khắc ngắn ngủi mà các điều kiện thuận lợi cho cuộc sống con người. Chúng ta thực sự đang thay đổi những điều kiện đó và động lực của ông là cảnh báo mọi người về điều này. Ông tin rằng chúng ta cần một mức độ hợp tác về những vấn đề này vượt xa những gì chúng ta từng thấy trước đây.

***

5: Khí nhà kính sẽ tiêu diệt chúng ta sau 10 năm nữa!

“Trừ phi các biện pháp mạnh mẽ nhằm giảm phát thải khí nhà kính được thực hiện trong vòng 10 năm tới, nếu không thế giới sẽ đạt đến điểm không thể vãn hồi,” The Associated Press viết, diễn giải lời của ông Al Gore, khôi nguyên giải Nobel, một người nổi tiếng cổ súy cho lý thuyết về sự hâm nóng toàn cầu qua quyển sách “Sự thật bất tiện – The inconvenient truth”.

***

6: Sau năm 2012 thì quá muộn!

Rajendra Kumar Pachauri (20/8/1940 – 13/2/2020) là chủ tịch của Hội đồng liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) từ năm 2002 đến năm 2015, trong chu kỳ đánh giá về sự biến đổi khi hậu lần thứ tư và thứ năm. Dưới sự lãnh đạo của ông, IPCC đã được trao giải Nobel Hòa bình năm 2007 và đưa ra Báo cáo đánh giá lần thứ năm, nền tảng khoa học của Thỏa thuận Paris.

Theo ông Rajendra Pachauri, người đứng đầu đương thời của ủy ban khí hậu Liên Hiệp Quốc, năm 2012 là “thời điểm quyết định” của cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. The New York Times đã dẫn lời quan chức này nói rằng, “Nếu không có hành động nào trước năm 2012 thì quá muộn!” (?)

***

7: Bắc Băng Dương không còn băng ngay sau năm 2010!

 “Ngay trong năm 2010 hoặc 2015, Bắc Băng Dương có thể không có băng vào mùa hè điều chưa từng xảy ra trong hơn một triệu năm qua,” Canwest News Service của Canada đưa tin, diễn giải lời của ông Louis Fortier, một nhà nghiên cứu vùng Bắc cực.

Băng ở biển Bắc Cực biến mất vào mùa hè trong vòng năm năm?” là một tiêu đề xuất hiện trên Associated Press vào năm 2010.(?)

“Với tốc độ này, Bắc Băng Dương có thể gần như không còn băng vào cuối mùa hè năm 2012,” ông Jay Z Wally, nhà khoa học khí hậu của NASA, cho biết.

***

8: Bắc Cực không còn băng vào năm 2013!

“‘Vào năm 2013’ mùa hè ở Bắc Cực không còn băng,” BBC đưa tin. Một nhà nghiên cứu thuộc Khoa Sau Cử nhân Hải quân ở Monterey, California, Ms. Kristen Fletcher Lead, Climate & Security Network nói với BBC: “Dự báo của chúng tôi cho năm 2013 về việc băng sẽ biết mất vào mùa hè là không tính đến hai mức tối thiểu gần đây nhất, vào năm 2005 và 2007.” “Vì vậy, dựa trên thực tế đó, quý vị có thể lập luận rằng có lẽ dự đoán của chúng tôi cho năm 2013 đã quá thận trọng.” (?)

***

9: Bắc cực sẽ tan chảy hoàn toàn!

Olav Orheim (22/2/1942) là một nhà nghiên cứu băng hà người Na Uy. Ông giữ chức vụ giám đốc Viện Địa cực Na Uy từ năm 1993 đến năm 2005. Ông được bổ nhiệm làm Giảng sư về Băng hà học tại Đại học Bergen vào năm 1989. Orheim là người tham gia chánh trong việc thành lập Trạm nghiên cứu Troll ở Queen Maud Land ở Nam Cực. Orheim có lẽ đã hạ cánh trên nhiều tảng băng trôi hơn bất kỳ ai trên thế giới và từng bị mắc kẹt qua đêm trên một tảng băng với David Attenborough, một phát ngôn viên người Anh và là người lồng tiếng cho loạt phim thiên nhiên “Hành tinh Trái đất” – Planet Earth.

Theo Tân Hoa Xã, cơ quan ngôn luận tuyên truyền chính thức của TC, Olav Orheim đã từng tuyên bố rằng, “Nếu nhiệt độ trung bình của Na Uy trong năm 2008 bằng nhiệt độ năm 2007, thì chỏm băng ở Bắc Cực sẽ tan hết, mà điều này rất có thể xảy ra nếu xét theo điều kiện hiện tại.”

Nhiệt độ trung bình của Na Uy đã tăng nhẹ từ năm 2007 đến năm 2008, còn chỏm băng đã không tan.

***

10: Cắt đứt carbon!

Thu hồi và cô lập kỷ nguyên carbon sẽ đóng vai trò thiết yếu vai trò giảm thiểu biến đổi khí hậu, vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi kế hoạch của California đạt được mức phát thải âm, được mô tả bởi Roger D. Aines và George Peridas trong “Tiến về số 0  Về sau” –  “Getting to Zero – and Beyond” (Số phát hành, Mùa xuân 2020), một tiến bộ bản lề về việc triển khai thành công của những nhà lãnh đạo tiểu bang nầy (!). Một phần quan trọng của kế hoạch là yêu cầu thu giữ và cô lập carbon dioxide từ các cơ sở năng lượng sinh học chuyển đổi sinh khối (biomass) thành nhiên liệu hoặc điện.

***

11: Suy nghĩ lại cuộc cách mạng xanh!

Trong bài viết “Làm thế nào để cải thiện lợi ích xã hội trong nghiên cứu nông nghiệp” (Số phát hành, mùa xuân, 2020), Marci Baranski và Mary Oldenburger đưa ra phân tích kịp thời và sâu sắc về Cách mạng Xanh và những hậu quả ảnh hưởng hiện tại, chẳng hạn như nghiên cứu nông nghiệp cho các chương trình phát triển ở Châu Phi, nơi đã loại trừ một số lượng lớn nông dân sản xuất nhỏ trong nỗ lực dẫn đầu chuyển đổi nông nghiệp. Các phương pháp tiếp cận đổi mới toàn diện, họ tranh luận, sẽ có lợi cho cả con người và nghiên cứu. Đây mới đich thực là một cuộc cách mạnh “xanh” trong nông nghiệp nhằm cải thiện đời sống nông dân, xóa đói, giảm nghèo, thực tế hơn sự hạn chế hay chấm dứt không tưởng sự phát thải khí carbonic vào khí quyển.

***

12: Những thách thức và con đường phía trước

Qua những hiện tượng kể ở phần trên, nhận thấy các nhận thức chân chính và đúng đắn về các hiện tượng khoa học xảy ra trên thế giới như sự hâm nóng toàn cầu chẳng hạn, lại, chúng ta cần nghiên cứu để xác nhận sự cần thiết của dân chủ hóa kiến thức (democratization of knowledge) và tạo ra kiến thức mới cho sự phát triển bền vững. Liên quan đến chương trình nghị sự phát triển toàn cầu, nghiên cứu của ESAPP, đã cung cấp kiến thức và dữ liệu dựa trên bằng chứng theo ngữ cảnh làm cho cung cách quản trị môi trường toàn cầu trở nên mạch lạc và tăng cường năng lực và thể chế theo nhằm để phát triển bền vững trên thế giới.

Nói tóm lại, con đường phía trước chúng ta cần phải đi là cần phải có một “đạo đức và luân lý khoa học” trong nghiên cứu và dự phóng viễn tượng môi trường như sự hâm nóng toàn cầu trong tương lai, một hiện tượng sẽ xảy ra hàng trăm năm sau đó!

13: Kết luận chưa hoàn tất

Kinh nghiệm của ESAPP khẳng quyết rằng tính chuẩn mực trong bối cảnh phát triển bền vững thực sự có tác dụng rất mạnh mẽ trong việc hướng dẫn nghiên cứu theo định hướng phát triển.

Mặc dù tất cả các nước đều hứa sẽ đạt mục tiêu phát thải đề ra “càng sớm càng tốt”, nghĩa là giảm thiếu hay ngưng hẳn số lượng carbonic phát thải tại một số thời điểm giữa năm 2050 và 2100.

Nhưng, theo đa số các nhà khoa học nói điều này phải xảy ra vào năm 2070 là chậm nhất. Thật không may, không ai trong số các cam kết đưa ra tại hội nghị được ràng buộc pháp lý rõ ràng – một điều rất cần thiết để Hoa Kỳ có thể tránh đặt các điều ước quốc tế trong một cuộc bỏ phiếu tại Thượng viện do đảng Cộng hòa kiểm soát. LHQ đang hy vọng rằng áp lực thay vào đó sẽ làm cho các nước theo dõi, mặc dù không có hình phạt pháp lý nào đối với các quốc gia không thể đáp ứng thỏa thuận.

Có lẽ rào cản lớn nhất bao quanh dòng chữ “thiệt hại”.

Các quốc gia nhỏ và quốc gia đang phát triển thấy đây là một câu hỏi liệu họ sẽ nhận được sự trợ giúp đặc biệt từ các quốc gia giàu khi bị thiên tai do khí hậu gây nên hay không?

Có lẽ chính vì vậy mà tạp chí Economist, ngay trong số 19/12-2015 đến 1/1/2016 đã nêu ra hai đề tựa: “Vô vọng và Quyết tâm” và “Đèn xanh: Điều gì sẽ xảy ra sau thương vụ vượt quá mong đợi” – “Hopelessness and Determination” và “Green light: What to expect after the deal that exceeded expectations”.

Như vậy rõ ràng là, ngay cả những quốc gia nêu ra nguyên nhân và hậu quả của sự thay đổi khí hậu cũng như đề xướng những hành động cần có của cá nhân, quốc gia v.v…để giải quyết vấn đề đặt ra.

Dư luận khắp thế giới vẫn đặt nghi vấn cho những hành động trong tương lai, ngay từ khi mối quan tâm đã được khơi dậy từ Thượng đỉnh Rio de Janeiro từ năm 1992!

Mai Thanh Truyết

Đầu năm 2014

Ghi chú thêm:

Trên đây chỉ là những điển hình của một số chính trị gia, khoa học gia trong “câu chuyện” về Biến đổi khí hậu.

Họ chính là những công chức “toàn cầu” làm việc cho LHQ. Họ không làm việc 40+giờ/tuần mà xuân thu nhị kỳ đi đó đi đây:

·       Hoặc khuyến cáo, rao giảng, hoặc dạy dỗ các quốc gia làm thế nào để hạn chế sự phát thải khí carbonic;

·       Hoặc phân phối Quỹ biến đổi khí hậu đế những quốc gia trên có điều kiện cải thiện hiện tượng hâm nóng toàn cầu;

·       Họ chuẩn bị và tổ chức các buổi hội thảo có tính cách quốc gia/vùng/toàn cầu cổ súy “giả thuyết” về sự biến đổi khí hậu để rồi từ tiền đề trên, qua “uy tín” của LHQ hướng dẫn hàng 200 quốc gia hội viên đi đến kết luận là “Sự biến đổi khí hậu là có thật, nếu không hạn chế/ngăn chận, thế giới sẽ xảy ra thảm họa!

·       Trong di chuyển công tác, họ dùng máy bay riêng hay mua vé máy bay hạng nhứt. Đi đứng, ăn ở trong những khách sạn 5,7 sao. Được tiếp đón như một nguyên thủ quốc gia.

·       Đặc biệt trong kỳ thượng đỉnh COP28 ở Dubai tháng 11 vừa qua, trong suốt 13 ngày nhóm họp thu hút 195 nguyên thủ hoặc đại diện các quốc gia, với trên 97.000 tham dự viên, quan sát viên, họ cố gắng thuyết phục dư luận nhằm “chấm dứt xử dụng năng lượng hóa thạch vào năm 2030” và quyết định trên sẽ được ghi trong bản thông cáo chung của LHQ. Nhưng đứng trước sự phản đối kịch liệt của Ông CT Hội nghị thượng đỉnh COP28 và các quốc gia sản xuất dầu hỏa thậm chí luôn cả những quốc gia không sản xuất, bản Thông cáo chung chính thức chỉ “được” nêu ra là “Hạn chế việc xử dụng năng lượng hóa thạch” (than đá, xăng dầu, và khí đốt) mà thôi.

Các chính trị gia, khoa học gia có định hướng trên có biết rằng, trên thế giới nầy có hàng tỷ động cơ nổ dùng năng lượng hóa thạch như xe hơi, các lọai máy móc trong nông nghiệp, trong sản xuất, trong dịch vụ nấu nướng, hệ thống sưởi v.v…

Làm thế nào có thể thay thế năng lượng hóa thạch bằng điện năng trong một thời gian ngắn?

Phải chăng chính họ là thành viên của Nhà nước ngầm thuộc Nhóm Khuynh đảo Toàn cầu hầu thống trị thế giới, kiểm soát thế giới dưới danh nghĩa TOÀN CẦU HÓA?

Hoang tưởng và Khốn nạn!

________________________________________

Mai Thanh Truyếthttps://maithanhtruyet1.blogspot.com/
https://www.facebook.com/MaiThanhTruyetUSA

Hãy để lại cho thế hệ nối tiếp một trái đất Xanh.    




Tạp Ghi và Phiếm Luận :  TỨ KHOÁI của NGƯỜI XƯA 

       Năm 1964, khi tôi thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, có bác tài phú Gia làm chung chành lúa với ba tôi trong nhà máy xay lúa Công Thành của Thị trấn Cái Răng, bác đọc thấy tên tôi trong Danh Sách Thí Sinh Thi Đậu Bằng Trung Học được đăng trên báo, bác đã chúc mừng ba tôi và khen tôi còn nhỏ mà đã đậu Diplom (diploma) và đọc một câu trong bài thơ Tứ Khoái của người xưa là “Kim bảng tánh danh đề 金榜姓名题” cho ba tôi nghe. TỨ KHOÁI của người xưa là 4 cái KHOÁI nào ? Xin kính trình với Quý Thầy Cô và bằng hữu một bài thơ xưa nữa, bài thơ TỨ KHOÁI 四 快, nói về bốn cái “KHOÁI” nhất của các Cụ ngày xưa như sau :

                Cửu hạn phùng cam vũ,         久 旱 逢 甘 雨,

                Tha hương ngộ cố tri.            他 鄉 遇 故 知.

                Động phòng hoa chúc dạ,      洞 房 花 燭 夜,

                Kim bảng quải danh thì.        金 榜 掛 名 時.

Chú thích :

    1. CAM 甘 là Ngọt. Vũ 雨: Là Mưa. Như Phong Vũ 風雨 : là Mưa gió. Còn được đọc là VÕ. Vd như : Đão Võ 禱雨 : là Cầu cho mưa xuống. 

    2. Cố 故 : Là Xưa, là Cũ. Vd : Cố nhân 故人 là Người xưa, Cố Tri 故知 là Người quen biết cũ.      

    3. Quải 掛 : Là Treo. Quải danh 掛名 là Tên được treo lên. “Quải danh thì 掛名時” là Khi tên được treo lên. 

* Nghĩa từng câu :

Câu 1 : Trời hạn hán lâu ngày, gặp được trận mưa rào (ngọt) đổ xuống.

Cầu 2 : Ở nơi xa quê hương mà gặp được người quen cũ, bạn cũ.

Câu 3 : Đêm động phòng hoa chúc khi ta kết hôn.

Câu 4 : Khi được treo tên trên bảng vàng, tức là khi thi đậu làm quan.

      Câu chót có dị bản là : “Kim bảng tánh danh đề 金榜姓名题”. Có nghĩa Tên tuổi được ghi lên trên bảng vàng , nghĩa thì cũng tương tự, nhưng “… quải danh THÌ” ăn vận với “…Ngộ cố TRI” ở trên hơn là “…tánh danh ĐỀ”.

     Đây là 4 cái KHOÁI nhất của các ông bà ngày xưa,  xin được diễn nôm như sau :

                     Hạn lâu, gặp được mưa rào,

                     Xa quê lại được chào người quen xưa,

                     Động phòng hoa chúc sướng chưa,

                     Bảng vàng bia đá cho vừa lòng em. !

      Thật ra đây là bài thơ Thần Đồng TỨ HỈ THI 神童四喜詩 (Tứ Hỉ 四喜 là 4 điều VUI) của thi nhân Uông Thù 汪洙 ở cuối đời Bắc Tống làm lúc mới có 9 tuổi, nên mới gọi là Thần Đồng Thi (Thơ của Thần đồng). Các cụ ta mượn để chỉ 4 cái khoái trá nhất trong đời. Nhưng có Cụ còn cho như thế vẫn còn chưa đủ “Khoái”. Muốn diễn tả cho “thật khoái”, thì phải thêm vào mỗi đầu câu 2 chữ như sau đây :

              THẬP NIÊN cữu hạn phùng cam võ,    十  年  久 旱 逢 甘 雨,

              THIÊN LÝ tha hương ngộ cố tri,          千  里  他 鄉 遇 故 知.  

              LÃO GIẢ động phòng hoa chúc dạ,     老  者  洞 房 花 燭 夜,

              THIẾU NIÊN kim bảng quải danh thì!  少  年  金 榜 掛 名 時.

    Xin tạm diễn nôm như sau :

                       Mười năm hạn hán bỗng tuôn mưa,

                       Ngàn dặm quê người gặp bạn xưa,

                       Lão ông còn động phòng hoa chúc,

                       Tuổi trẻ bảng vàng quả sướng chưa !

       Bốn câu thơ trên gọi là “Tứ cực khoái 四極快”. Bốn cái KHOÁI lên đến đĩnh điểm luôn !. Nhưng “Lạc cực sinh bi 樂極生悲”, VUI quá sẽ đến lúc sinh ra BUỒN. Như muốn diễn tả 4 điều làm cho người ta bực mình nhất là “Tứ bất khoái 四不快” thì sẽ thêm vào mỗi đầu câu 2 chữ như sau :

            VIÊM ĐIỀN cữu hạn phùng cam võ,     鹽  田  久 旱 逢 甘 雨,

            ĐÀO TRÁI tha hương ngộ cố tri,          逃  債  他 鄉 遇 故 知.

            THÁI GIÁM động phòng hoa chúc dạ,   太  監  洞 房 花 燭 夜,

            CỪU NHÂN kim bảng quải danh thì.     仇  人  金 榜 掛 名 時.

     Cũng xin diễn nôm như sau :

                           Ruộng muối nắng lâu chợt đổ mưa,

                           Trốn nợ quê người gặp bạn xưa,

                           Thái giám bắt động phòng hoa chúc,

                           Kẻ thù đậu đạt, khổ hay chưa?!

       Người xưa luận về Tứ Khoái thì như thế, còn hiện nay chúng ta có được những thứ nào khả dĩ gọi là KHOÁI hay không ?                                                                         

       Sau đây là tài liệu sưu tầm của em Kim Chấn Võ, một cựu học sinh Tân Hưng Cái Răng, về bài thơ “Tứ Khoái” mà thành “Hết Khoái” vì có một sự kiện đi kèm theo sau đó. Bài thơ và “Sự Kiện Đi Kèm” như sau :

久 旱 逢 甘 雨  

Cửu hạn phùng cam vũ

                                              暴 雨 淹 沒 村   !                                 

                                          – Bạo vũ yêm một thôn !

他 鄉 遇 故 知                         

Tha hương ngộ cố tri ,

                                              久 住 難 為 人  !                                                                      

                                          – Cửu trú nan vi nhân !

洞 房 花 燭 夜                        

Động phòng hoa chúc dạ,

                                               親 友 醉 不 歸  !                                                                        

                                          – Thân hửu túy bất qui !

金 榜 掛 名 時                        

Kim bảng quải danh thì .

                                                公 主 已 嫁 去 !                                                        

                                          – Công chúa dĩ giá khứ !

* Ghi Chú :

        1. Bạo vũ 暴雨 : Trong thành ngữ “Cuồng phong bạo vũ 狂風暴雨” , ta thường nói là “Mưa cuồng gió loạn”. Bạo vũ là Mưa lớn, Mưa xối xả, Mưa như trút nước !

        2. Yêm một 淹没: Yêm là Ngập, Một là mất. Yêm Một là Chìm ngập, chìm đắm.

        3. Nan vi Nhân 難為人 : là Khó làm người, nghĩa là rất khó xử trong việc ăn ở chung với ai đó, khó sống với ai đó. Khác với VI NHÂN NAN 為人難 : Làm người rất khó, ý chỉ Cái đạo làm người phải rất thông tình đạt lý, giữ mình nghiêm cẩn cho phải đạo . 

        4. Giá 嫁: là Gã, là lấy chồng. Giá Khứ 嫁 去: Gã đi rồi, đã lấy chồng rồi !

* Nghĩa từng câu :

         1. Cửu hạn phùng cam võ : Nắng lâu gặp mưa ngọt, mưa rào.(khoái). Nhưng…  Bạo vũ yêm một thôn : Mưa lại quá lớn làm chìm ngập cả thôn xóm.(hết khoái !).

         2. Tha hương ngộ cố tri : Ở nơi xa quê hương mà gặp được người quen.(khoái). Nhưng… Cửu trú nan vi nhân : là Ở lâu khó làm người. Đây là vế sau của câu : Tương kiến dị đắc hảo 相見易得好 (Cửu trú nan vi nhân 久住難為人). Con người, ở xứ lạ mới gặp nhau thì tay bắt mặt mừng rất dễ thân thiện và tốt với nhau, rất niềm nở với nhau. Nhưng nếu, ở chung với nhau lâu ngày, thì sẽ sanh ra nhiều chuyện, rắc rối với nhau, thậm chí cải lộn, đánh lộn, hoặc ghét đến nỗi không thèm nhìn mặt nhau luôn thì… hết khoái !

         3. Động phòng hoa chúc dạ : Đêm động phòng hoa chúc thì KHOÁI khỏi phải nói rồi ! Nhưng… Thân hữu túy bất qui : Bạn bè thân thích nhậu say cứ la cà, rề rà, nhừa nhựa nhậu hoài không chịu về, làm chú rễ bực mình (hết khoái) vì không vào động phòng hoa chúc được !

        4. Kim Bảng quải danh thì : Khi tên họ được treo trên bảng vàng, thi đậu làm quan (khoái thiệt !). Ngày xưa, thường thì khi thi đậu Trạng Nguyên, nhà Vua hay gả Công Chúa cho làm vợ, được làm Phò Mã, vừa Đại Đăng Khoa vừa Tiểu Đăng Khoa, Khoái biết chừng nào. Đằng nầy, thi đậu mà nghe tin… Công Chúa dĩ giá khứ : Công Chúa đã gả đi rồi, đã đi lấy chồng rồi ! Hết Khoái luôn !!!

Diễn nôm :

                   Hạn lâu gặp được mưa rào (Khoái).

                   Nhưng mưa ngập lụt, nước trào xóm thôn (Hết khoái).

                   Xa quê gặp được người quen (Khoái)

                   Ở chung lâu giận, chẳng thèm nhìn nhau (Thôi khoái).

                   Động phòng hoa chúc khoái sao !

                   Bạn bè say nhậu, VÔ ! VÀO ! suốt đêm (Hỏng khoái).

                   Bảng vàng Khoái tỉ, thấy tên,

                   Nhưng nàng Công Chúa đã lên…xe hoa rồi ! (Bớt khoái).

       Hẹn bài viết tới !

                                                                              杜紹德                                                                                                                               Đỗ Chiêu Đức 




DẤU GAI TÌNH

https://www.youtube.com/watch?v=Zr2Q_UjWMo8&t=47s



3 Nhạc Phẩm của Ns Viên Nguyễn




(thơ song ngữ) ĐÀI TƯỞNG NIỆM của TỪ PHONG & THANH-THANH

ÐÀI TƯỞNG NIỆM

 Ðây hình ảnh những Quân Nhân Việt Mỹ     

Ðã chung vai sát cánh chống quân thù          

Vì hai chữ TỰ DO trên thế giới                    

Gương Anh Hùng lưu lại mãi ngàn thu 

Ngăn sóng đỏ lan tràn gây thống khổ            

Gieo rắc đau thương, tang tóc, tội tù,    

Họ đã chết cho chúng ta được sống       

Có lẽ nào ta lại lãng quên ru ?                       

Những sáng kiến dựng xây đài kỷ niệm

Ðể đời đời tưởng nhớ các anh linh

Ðáng trân trọng, và rất nên hỗ trợ 

Cùng tiếp tay tạo dựng một công trình          

Cờ Mỹ Việt, muôn năm còn ngạo nghễ

Cờ Tự Do, cờ Dân Chủ, Hòa Bình

Và hình tượng hai Quân Nhân Mỹ Việt

Là tấm gương cao cả, đã hy sinh…

                               TỪ PHONG

VIETNAM WAR MEMORIAL 

This is the image of American and Vietnamese fighters

Who fought the common enemy side by side

For the cause of FREEDOM all over the world,

Setting a heroic example to last forever with pride.

To prevent the Reds from sowing suffering

And creating dolor, bereavement, yoke, thrall,

Our soldiers died for us to survive.

Could we have the heart to ignore them all?

The initiatives to erect the memorial

To eternally memorize those divine

Are worthy of our honoring, supporting

And contributing to the construction so fine.

To admire the two American and Vietnamese flags

Of Freedom and Democracy proudly fly, how nice!

And the image of American and Vietnamese warriors

Is the symbol of such sublime sacrifice…

Translation by THANH-THANH  

PoetFromVietNam

https://video.search.yahoo.com/search/video?fr=mcafee&ei=UTF-8&p=%C4%90%C3%A0i+t%C6%B0%E1%BB%9Fng+ni%E1%BB%87m+Vi%E1%BB%87t+M%E1%BB%B9+Westminster&type=E210US91088G91590#id=2&vid=5f466b7c2260b8f6d2ca9dea597dbc1b&action=click




Nhạc phẩm “Hương Đêm” – Tôn Nữ Áo Tím




Thư Mời – RMS Kiều Mỹ Duyên




HÀNH TRÌNH CUỘC ĐỜI

CAO MỴ NHÂN 

Nếu quý vị chỉ quen biết nhau có một thời, như là thủa ấu thơ, thiếu niên ở cùng xóm, cùng khu phố . 

Thủa thanh niên, cùng đi học, đi chơi, đi hội đoàn, đi làm hay đi buôn bán vv…

Tới thủa cao niên thì đi thăm hỏi, lễ lạc vv…

Tất cả đều  bình thường, có gặp lại hay không cũng chẳng thành vấn đề …

Song nếu quý vị quen biết nhau suốt hành trình cuộc đời , nghĩa là từ tấm bé đi lên tới cõi già nua, thì thật có lúc buồn ghê lắm, ấy là ta thấy rõ đời nhau, những thăng trầm, không suông sẻ, thậm chí còn đau khổ, thất bại vv…

Và cái điều không tránh khỏi là cả 2 cùng thấy nỗi bâng khuâng, tàn tạ của nhau lúc về già …

Không phải là người ta sợ già, chán già, vì già thì không còn đẹp đẽ, không còn tươi vui, mà người ta kịp nhận ra rằng chẳng còn bao lâu nữa, mọi người sẽ từ từ khuất mặt ở thế gian này vậy thôi. 

Như trên tôi đã trình bầy, thủa thanh thiếu niên, ngoài việc đi học, tôi tham gia rất nhiều hội đoàn …Thoạt thì đi Phật Tử từ tuổi oanh vũ ở Hải Phòng, sau đi Hướng Đạo ở Saigon, rồi vô Caritas, theo đoàn Hội Con Đức Mẹ đi tới các nhà thương chăm sóc bệnh nhân . 

Chót hết là tham gia Quân Đội VNCH, trong ngành Công tác Xã hội …

Chưa kể các nhóm nhỏ, hội lớn vv…tôi đều có mặt . 

Như vậy, cứ nhìn vào sinh hoạt của tôi, quý vị cũng thấy là tôi sống chan hoà thế, thì số lượng bạn bè …đông đảo lắm chứ . 

Do đó, kể từng giai đoạn lui tới bạn bè, hẳn tôi …ôm đồm quá , nên mệt quá, ấy thế mà tôi …thú vị vô cùng trời ạ. 

Và vì thế, tôi mới có dịp chứng kiến những phút giây vinh quang cũng như  tủi nhục của kiếp người, nhất là thời gian tôi sống trong đại tộc KaKi của…tôi. 

Tôi thuộc lòng từng chi tiết một những gì xẩy ra với mỗi cá nhân đặc biệt, hay từng đơn vị nhỏ mà tôi mặc nhiên hiện diện, ở gia đình quân nhân các cấp trong thành phố, ngoài các trại gia binh, hay tới tận cùng núi non, sông biển, đất lở, đồng lụt vv…

Đôi khi không muốn nhớ lại, nhưng những sự việc chưa rời xa lắm, lại hiển hiện trước mắt …cả một quá khứ miên man tiếp nối …cứ khiến mình nhớ thương vời vợi. 

Hình như trong lòng tôi, tôi chưa muốn ai phải từ giã cõi đời, nếu như lý luận của quý cụ bị phiền hà, bực bội, thì mỗi lần tôi tỏ vẻ tiếc thương bạn văn cũng như bạn …võ , quý cụ lại  chép miệng : 

” Chết phải rồi, nếu ai cũng sống, đất đâu mà chứa …” 

Sau khi đi tù cải tạo về, tôi tiếp tục lối sinh hoạt của tôi, chỉ có thay đổi nghề nghiệp cũ, là không còn đại tộc KaKi cho tôi bay nhẩy như thủa phục vụ ở Bộ Tư Lệnh QĐI/ QKI. 

Nhưng tôi vẫn nay thăm nhà này, mai thăm nhà khác, những gia đình quân nhân các cấp mà tôi được hân hạnh quen biết trước cuộc đổi đời 30-4 -1975. 

Đến nỗi tôi chưa cảm thấy đói, lại còn được huynh đệ chi binh hỏi thăm xem tôi đang sống cách nào, mà cứ lạc quan , mặc dầu ông xã tôi qua Mỹ đã ” biệt vô âm tín “. 

Tôi và 4 con tôi không thể kể khổ than nghèo được, khi ai cũng biết : ” nhà đó có chồng ở Mỹ, tụi nhỏ có cha ở Mỹ, thì làm sao thiếu thốn được chứ ” . 

Rồi đào lý bốn phương, chi lan tỷ muội, tức là bạn văn của tôi, cũng luôn chứng tỏ thơ phú tri âm tri kỷ thân tình … 

Tôi than là than theo cái kiểu bình thường, làm lụng nhiều quá thì kêu mệt, tôi khóc là vì bằng hữu hay hỏi thăm những chuyện …bá vơ. 

Thế nên tôi bỗng giận ông Thiên quá, ông không để huynh đệ chi binh, đào lý bốn phương tôi được sống an bình, ít nhất mỗi người đủ 100 năm cho đúng tiêu chuẩn ngài Thiên đã ấn định, ông Thiên lại cứ bớt xén một số tuổi tác, bởi cảnh cơ khổ, hoặc bất trắc vì bịnh hoạn hay tai nạn xẩy ra. 

Khi tôi 40 tuổi thì quý nữ sĩ trong hội thơ Quỳnh Dao đã gấp rưỡi hay gấp đôi số niên tuế của tôi rồi …

Tôi luôn là cây gậy của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội khi bà còn ở Úc Viên Saigon. Tôi theo bà đi thăm vị này,vị nọ như quý cụ Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Đông Xuyên, Bàng Bá Lân …vv. 

Tôi không biết thủa ” phương phì ” ( đương thì ) của quý khách Úc Viên xưa thế nào, chứ thực tại hồi đó, quý vị đã là những lão ông, người thì lụm khụm, người còn phi xe đạp tới nhà nhau bình văn thiên hạ . 

Và rồi lần lượt ra đi Tây Trúc khói sương. ..

Nữ sĩ Mộng Tuyết mở album ra,  hình ảnh cũ, có cụ Đông Hồ, và vài vị tên tuổi, vẫn còn phong thái ung dung… đã mãn phần. 

Nơi album của nữ sĩ Vân Nương hồi đám cưới, chú rề là  luật sư Lê Ngọc Chấn tri phủ, sau này làm đại sứ VNCH ở Luân  Đôn và Tunisie, nhị vị phù rể là 2 thi sĩ danh tiếng thời tiền chiến: Huy Cận, Xuân Diệu . 

Tôi kéo thời gian lùi về hiện đại một thế hệ ( 10-15 năm ), tôi bắt gặp một album của anh họ tôi, đại tá Biệt Động Quân Cao Văn Uỷ, thì nhị vị phù rể là 2 nhạc sĩ ; Nguyễn Hiền và Nhật Bằng  tên tuổi ở 2 thời đệ nhất và đệ nhị Cộng Hoà, tới cả khi cùng đi tị nạn ở Hoa Kỳ đầu thập niên 90 thế kỷ trước , anh tôi đại tá Cao Văn Uỷ thì ở Úc .  

Nay thì chẳng còn ai trong số quý vị vừa nêu trên … ở cõi đời này nữa. 

Tất nhiên rồi, làm sao sống mãi được… vì quý vị đã trên tám , chín mươi trở đi. 

Song kể như thế vẫn chưa rõ ý, điều tôi nêu ra, phải có một hình ảnh cụ thể cơ. 

Một người lạ, không quen , chỉ biết thôi, vì nếu không biết thì làm sao kể nhỉ ? 

Chuyện nhà thơ trung tá Hoàng Ngọc Liên, đối với tôi, thì rõ quá rồi, nhưng khi ông 30, tôi còn mấy năm nữa mới 20 . 

Trong suốt thời gian trung niên của thi sĩ Hoàng Ngọc Liên, cùng một loạt văn thi sĩ khác, tôi thấy quý ông hào hoa phong nhã … không kịp thở nữa . 

Quý vị ấy cũng sống bận rộn hết mình kiểu như tôi, nhưng sự kiện khác, như Thế Hoài, Hoàng Ngọc Liên bận rộn nơi đoàn quân Mũ Đỏ, rồi văn nghệ lai rai…

Sau 1975 cộng thêm mỗi người 12 năm tù cải tạo. Khi trở về thành phố, mỗi thi sĩ ” lớn” một xe đạp cao hay mini, tuỳ theo gia đình có xe chi thì xài xe đó, nhị vị tới tìm tôi ở Câu lạc bộ Dưỡng sinh… vì tôi về sớm nên đã kiếm ra việc làm huấn luyện viên Dưỡng Sinh rồi . 

Thế là chúng tôi đi xơi canh bún bình dân ở vệ đường, vậy mà tôi đòi trả tiền, quý vị không cho …2 thi sĩ tá 5 trước mặt tôi đã bị CSVN bóc hết những gì gọi là phong cách cũ …ngó tội  nghiệp lắm . 

Nhưng chúng tôi gặp lại nhau, thì tưởng như người nhà thất lạc đã về, nên niềm vui cứ chan hoà . 

Như tôi trình bầy trên, ông Thiên chẳng có thì giờ ngó ngàng đến 2 vị thi sĩ đàn anh của tôi, thời gian sau thì Thế Hoài thất lộc bên quê nhà, Hoàng Ngọc Liên qua Mỹ theo diện HO . 

Trung tá Hoàng Ngọc Liên lênh đênh trên vài tiểu bang miền đông, rồi qua Sacto lưu lại cũng khá nhiều năm, nay diện bích ở Oregon, với gia đình một trong 2 cô con gái mà ông mang theo được, ông đã bước gần tới cửa thiên đường . 

Chao ơi, viết riêng về nhà thơ trung tá Hoàng Ngọc Liên toàn cảnh cuộc đời thì phải …3 tập, 2 cho nhị vị phu nhân, còn 1 cho tất cả hoa hoa bướm bướm quanh ông, cả lúc đương thời danh vọng lẫn khi thất thế . 

Mỗi lần kể chuyện đào lý chi lan, tôi thường đi lạc, anh Thân Kính của tôi là một hình ảnh tổng hợp nhiều kiếp nhân sinh gộp lại, khiến tôi không muốn để một kẽ hở nào cho việc than trách sự trống vắng hay thiếu sót bóng dáng những nhân vật, đã có dịp thân thiết trong văn chương hay ngoài cuộc đời mình. 

Cuối cùng , tôi có  được vốn liếng về thế thái nhân tình ngày nay, là điều tôi rất vui mừng, hạnh phúc, bởi  tôi .đã chắt chiu tình cảm của anh trong nhiều hoàn cảnh cuộc đời …tôi giữ lại mãi mãi tình thân thương hiếm quý này … 

         CAO MỴ NHÂN 




Dự Phóng Ngập Lụt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long trong Năm Nhâm Dần




ĐỔI CẢ THIÊN-THU TIẾNG MẸ CƯỜI

Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:

Ví mà tôi đổi thời gian được

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

Tiếng ai như tiếng lá thu rơi

Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ

Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề

Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê

Mười năm tóc mẹ màu tang trắng

Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn

Bên đời gió tạt với mưa tuôn

Con đi góp lá nghìn phương lại

Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào

Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao

Mẹ xa xôi quá làm sao vói

Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ

Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ

Đau thương con viết vào trong lá

Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi

Ví mà tôi đổi thời gian được

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ đơn giản và dễ hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống tám năm.

Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “Con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.

Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi “Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi”, và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là “Lên đường bình an nhé.”

Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu?

Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.

Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.

Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cập vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn “USA, USA” và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng.

Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.

Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.

Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.

Tôi kính yêu me. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.

Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.

Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.

Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.

Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.

Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết

Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.

Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.

Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.

Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nỗi dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.

Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẽ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình.

Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.

Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng.

Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.

Trần Trung Đạo




(thơ song ngữ) ĐỔI CẢ THIÊN-THU TIẾNG MẸ CƯỜI

ĐỔI CẢ THIÊN-THU           

TIẾNG MẸ CƯỜI                  

 

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người

Tiếng ai như tiếng lá thu rơi          

Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ    

Chỉ biết âm-thầm thương nhớ thôi        

 

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề

Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê     

Mười năm tóc mẹ màu tang trắng 

Trắng cả lòng con lúc nghĩ về       

 

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn      

Bên đời gió tạt với mưa tuôn 

Con đi góp lá nghìn phương lại             

Đốt lửa cho đời tan khói sương     

 

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn-ngào

Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm-bao

Mẹ xa xôi quá làm sao vói                     

Biết đến bao giờ trông thấy nhau  

 

Đừng khóc mẹ ơi hãy rán chờ

Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ          

Đau thương con viết vào trong lá          

Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

 

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người

Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi  

Ví mà tôi đổi thời-gian được 

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười      

 

            TRẦN TRUNG ĐẠO

 

MY LIFE
FOR MY MOM’S LAUGHTER

Picking up the handset I was stunned with surprise:
Whose voice as light as falling leaves in cold skies?
Isn’t it ten years, ten odd years, dear mother,
Just in silence to miss and long for one another?

I left without any promises or pledges that day:
The old wild horse from its forest-land went astray.
Ten years for Mom’s hair to turn mourning white,
And mourning-like my soul also in such a plight.

You’ve still been sitting there weaving your pain
By an existence of slapping wind and beating rain.
I’ve set off to set up from all directions a pyre
In order to disperse the mist for life lighting a fire.

Your voice was broken off, you choked up, I found;
Mom’s endearing words or mere in-reverie sound?
You are too far, how could I reach out for you?
And when could we meeting again look forward to ?

Do not cry, my dear mother, and continue to await.
All my grief I will hide in the rhymes I create.
Of all my sorrow I will write reams and reams,
And find your warmth my warmth in my dreams.

As I picked up the handset how astounded was I
To hear my mom’s voice sadder than the rainy sky!
Should I be able to give up Man’s time in hereafter,
I would offer mine to recover my mom’s laughter.

 

 

Translation by THANH-THANH

 




Trang NGÀY CỦA MẸ

Ns Võ Tá Hân

ĐỔI CẢ THIÊN THU TIẾNG MẸ CƯỜI

Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:

Ví mà tôi đổi thời gian được

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

Tiếng ai như tiếng lá thu rơi

Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ

Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề

Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê

Mười năm tóc mẹ màu tang trắng

Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn

Bên đời gió tạt với mưa tuôn

Con đi góp lá nghìn phương lại

Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào

Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao

Mẹ xa xôi quá làm sao vói

Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ

Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ

Đau thương con viết vào trong lá

Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người

Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi

Ví mà tôi đổi thời gian được

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ đơn giản và dễ hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống tám năm.

Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “Con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.

Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi “Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi”, và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là “Lên đường bình an nhé.”

Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu?

Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.

Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.

Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cập vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn “USA, USA” và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng.

Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.

Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.

Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.

Tôi kính yêu me. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.

Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.

Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.

Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.

Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.

Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết

Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.

Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.

Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.

Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nỗi dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.

Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẽ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình.

Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.

Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng.

Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.

Trần Trung Đạo

(thơ song ngữ) ĐỔI CẢ THIÊN-THU TIẾNG MẸ CƯỜI

ĐỔI CẢ THIÊN-THU           

TIẾNG MẸ CƯỜI                  

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người

Tiếng ai như tiếng lá thu rơi          

Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ    

Chỉ biết âm-thầm thương nhớ thôi        

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề

Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê     

Mười năm tóc mẹ màu tang trắng 

Trắng cả lòng con lúc nghĩ về       

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn      

Bên đời gió tạt với mưa tuôn 

Con đi góp lá nghìn phương lại             

Đốt lửa cho đời tan khói sương     

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn-ngào

Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm-bao

Mẹ xa xôi quá làm sao vói                     

Biết đến bao giờ trông thấy nhau  

Đừng khóc mẹ ơi hãy rán chờ

Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ          

Đau thương con viết vào trong lá          

Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhắc chiếc phone lên bỗng lặng người

Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi  

Ví mà tôi đổi thời-gian được 

Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười      

            TRẦN TRUNG ĐẠO

MY LIFE
FOR MY MOM’S LAUGHTER

Picking up the handset I was stunned with surprise:
Whose voice as light as falling leaves in cold skies?
Isn’t it ten years, ten odd years, dear mother,
Just in silence to miss and long for one another?

I left without any promises or pledges that day:
The old wild horse from its forest-land went astray.
Ten years for Mom’s hair to turn mourning white,
And mourning-like my soul also in such a plight.

You’ve still been sitting there weaving your pain
By an existence of slapping wind and beating rain.
I’ve set off to set up from all directions a pyre
In order to disperse the mist for life lighting a fire.

Your voice was broken off, you choked up, I found;
Mom’s endearing words or mere in-reverie sound?
You are too far, how could I reach out for you?
And when could we meeting again look forward to ?

Do not cry, my dear mother, and continue to await.
All my grief I will hide in the rhymes I create.
Of all my sorrow I will write reams and reams,
And find your warmth my warmth in my dreams.

As I picked up the handset how astounded was I
To hear my mom’s voice sadder than the rainy sky!
Should I be able to give up Man’s time in hereafter,
I would offer mine to recover my mom’s laughter.

Translation by THANH-THANH

NGÀY CỦA MẸ

(Mother’s Day)

Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình

(Photo credit: giaoduc.edu.vn)

Tài liệu Wikipedia ghi nhận Ngày của Mẹ bắt nguồn từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, nhưng cũng có tài liệu cho rằng Ngày của Mẹ có thể được bắt nguồn từ Vương quốc Anh và được tổ chức vào ngày Chủ Nhật qua nhiều năm trước khi lễ hội này xuất hiện ở Hoa Kỳ.

Theo lịch sử thì Ngày của Mẹ là ngày lễ hội mùa xuân hàng năm mà người Hy Lạp cổ đại dành riêng cho các nữ thần mẫu, họ cũng dùng dịp này để tôn vinh Rhea, vợ của Cronus và là mẹ của nhiều vị thần trong thần thoại Hy Lạp. Người La Mã cổ đại còn gọi lễ hội này là Hilaria để tôn vinh Cybele, một nữ thần Mẹ. Các nghi lễ tôn vinh Cybele đã bắt đầu khoảng 250 năm trước Chúa giáng sinh. Lễ kỷ niệm được thực hiện bằng cách cúng dường trong đền thờ Cybele kéo vào khoảng tháng Ba, những ngày đầu rất quan trọng, thường kéo dài trong ba ngày gồm các cuộc diễu hành, trò chơi và hóa trang. Chính Lễ kỷ niệm này đã khiến những người theo Cybele bị trục xuất khỏi Rome.

Những người theo đạo Thiên Chúa Giáo thời sơ khai đã tổ chức Ngày của Mẹ vào Chủ nhật, thứ tư của Mùa Chay để tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Chúa Kitô. Sau đó, ngày lễ hội này được mở rộng để chúc mừng tất cả các bà mẹ và ngày này trở thành Ngày của Mẹ. Ngày của Mẹ bắt đầu từ những năm 1600 ở Anh. Tại đây, Ngày của Mẹ được tổ chức hàng năm vào ngày Chủ nhật thứ tư của Mùa Chay (khoảng thời gian 40 ngày trước Lễ Phục sinh) để tôn vinh những người mẹ sau nghi lễ cầu nguyện trong nhà thờ để tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria. Những đứa con thường mang theo những món quà và hoa để tỏ lòng thành kính với mẹ của chúng.

Theo truyền thống, những đứa trẻ mang theo những món quà, những loại bánh trái đặc biệt hoặc bánh ngọt đầy trái cây được gọi là simnel để tặng Mẹ của chúng. Người Nam Tư và người dân ở các quốc gia khác cũng tổ chức Ngày của Mẹ tương tự như vậy. Tuy nhiên phong tục kỷ niệm Ngày Chủ nhật của Mẹ đã gần như hoàn toàn biến mất vào thế kỷ 19 cho đến mãi sau Thế chiến thứ hai Ngày của Mẹ mới được tổ chức lại.

Ngày của Mẹ là thời gian để tôn vinh tình mẫu tử và thể hiện lòng biết ơn của chúng ta đối với tất cả những người mẹ, những người vợ, người chị và bà nội & ngoại đã hy sinh cả cuộc đời cho các con, các cháu. Lịch sử đã phải công nhận rằng, từ trước đến nay người phụ nữ luôn giữ những vai trò thiết yếu trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Điển hình là bà Marie Curie, người phụ nữ đầu tiên từng đoạt giải Nobel cho đến cựu Thẩm phán Tòa án Tối cao Ruth Bader Ginsburg, là những người mẹ đã làm thay đổi thế giới.

Năm 1858, Ann Reeves Jarvis, một người nội trợ vùng Appalachian, đã thành lập “Ngày làm việc” của các bà mẹ trong nội chiến nhằm nỗ lực cải thiện điều kiện vệ sinh cho binh lính và trẻ em. Bà cũng đã giúp thành lập một câu lạc bộ để dạy phụ nữ cách chăm sóc trẻ em. Khi nội chiến bùng nổ ở Hoa Kỳ, Ann Reeves Jarvis đã yêu cầu các thành viên khác của các câu lạc bộ tổ chức và cam kết rằng chiến tranh sẽ không làm ảnh hưởng đến công việc của họ. Họ thề sẽ cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế và hỗ trợ những người bị bệnh hoặc bị thương dù bất kể họ đang chiến đấu ở phe nào. Sau đó, Ann Reeves Jarvis thành lập “Ngày Tình bạn của Mẹ” để thúc đẩy sự hòa giải giữa những người lính của Liên minh và Liên minh.

Năm 1872, Julia Ward Howe, một nhà hoạt động, nhà văn và nhà thơ, bà đã viết bản Tuyên ngôn Ngày của Mẹ để kêu gọi các bà mẹ tham gia trong việc thúc đẩy hòa bình thế giới. Julia Ward Howe là người tiên phong và gợi ý cho việc tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ. Là một người yêu tổ quốc, bà đã sáng tác và trở nên nổi tiếng với bài hát nội chiến “Battle Hymn of the Republic“. Julia Ward Howe đề nghị rằng ngày 2 tháng 6 hàng năm nên được tổ chức và đó là Ngày của Mẹ cũng như là ngày dành cho hòa bình. Bà đã viết lời kêu gọi đến tất cả các phụ nữ và nồng nhiệt khuyến khích họ nổi dậy chống lại chiến tranh trong Tuyên ngôn Ngày của Mẹ. Bàn tuyên ngôn này trở nên nổi tiếng và được viết ở Boston, năm 1870.

Julia Ward Howe cũng đã khởi xướng Ngày Hòa bình của các Bà mẹ vào Chủ nhật thứ hai trong tháng Sáu ở Boston. Bà ủng hộ lý do tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ và chính thức tuyên bố cho phép mọi người nghỉ lễ vào ngày này. Ý tưởng của Julia Ward Howe đã lan rộng nhưng sau cùng nó đã bị thay thế bởi ngày lễ Ngày của Mẹ, hiện được tổ chức vào tháng Năm. Năm 1873, Julia Ward Howe vận động để thành lập Ngày của mẹ nhằm đạt được hòa bình thế giới và giải quyết xung đột giữa con người với nhau.

Với nguồn cảm hứng từ những công việc của Ann Reeves Jarvis,  Anna Jarvis M. là con gái của Ann Reeves Jarvis tiếp tục tranh đấu cho lễ hội Ngày của Mẹ. Năm 1905, sau khi bà Ann Reeves Jarvis  qua đời, Anna Jarvis M. muốn tạo ra một ngày tưởng niệm và tôn vinh những người mẹ đã qua đời cũng như ghi nhận những hy sinh mà các bà mẹ đã dành cho con cái của họ, Sau cùng, Ngày lễ của Mẹ được công nhận và ngày lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ đầu tiên được tổ chức tại Grafton, phía Tây Virginia tại một nhà thờ địa phương vào ngày 10 tháng 5 năm 1908. Nhờ sự hỗ trợ tài chính của John Wanamaker, một chủ doanh nghiệp ở Philadelphia, Ngày của Mẹ này đã thành công rực rỡ với hàng nghìn người đã đến tham dự. Ngày nay, tại nhà thờ có Đền thờ Ngày của Mẹ Quốc tế.

Để Ngày của Mẹ trở thành ngày lễ quốc gia, Anna Jarvis M. đã viết thư cho các chính trị gia và báo chí trên toàn quốc, yêu cầu họ chấp nhận ngày này để kỷ niệm và ghi ơn công lao của các bà Mẹ. Kết quả, truyền thống báo chí bắt đầu lan rộng ra 45 tiểu bang và một số tiểu bang khác, chính thức tuyên bố đây là ngày lễ Ngày của Mẹ vào năm 1912. Năm 1914, cựu Tổng thống Woodrow Wilson đã tuyên bố tổ chức lễ kỷ niệm Ngày của Mẹ đầu tiên trên toàn quốc. Ngày nay, Ngày của Mẹ được tổ chức vào Chủ nhật thứ hai trong tháng Năm của mỗi năm.

Ở Vương quốc Anh và một số khu vực ở Châu Âu, ban đầu là đây là một ngày lễ tôn giáo được tổ chức vào Chủ nhật thứ tư của Mùa Chay. Ngày này nhằm mục đích cho các cá nhân tìm đường trở lại “nhà thờ mẹ” của họ. Những người đi nhà thờ cũng sẽ coi đây là cơ hội để đoàn tụ với gia đình sau khi đi công tác xa. Các nhà sử học có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Ngày Chủ nhật của Mẹ, bao gồm truyền thống phát triển từ việc trẻ em nhặt hoa khi chúng đi bộ đến nhà thờ.

Tại Vương quốc Anh, người dân dành thời gian để tôn vinh những người mẹ, chẳng hạn như mẹ đẻ, bà ngoại, mẹ kế và mẹ chồng. Trong ngày ấy, mọi người sẽ ăn mừng bằng một chiếc bánh Simnel, đó là một chiếc bánh trái cây nhân hạnh nhân và 11 quả bóng để tượng trưng cho 11 môn đồ.

Ở Ethiopia, Ngày của Mẹ được tổ chức hơi khác một chút. Khi mùa mưa kết thúc, các gia đình sẽ tụ tập để tham gia lễ hội Antrosht. Trong khoảng thời gian ba ngày, sẽ có khiêu vũ, ca hát và rất nhiều đồ ăn. Theo phong tục, con gái cung cấp rau và pho mát, trong khi con trai mang thịt.

Thái Lan, Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày 12 tháng 8 để kỷ niệm ngày sinh của Hoàng hậu Sirikit. Các hoạt động trong ngày lễ bao gồm diễu hành và tặng hoa nhài cho các bà mẹ.

Nga, Khi nước Nga còn được gọi là Liên bang Xô Viết, các bà mẹ được tôn vinh vào ngày Quốc tế Phụ nữ ngày 08 tháng 03. Năm 1998, Ngày của Mẹ chính thức được thành lập là Chủ nhật cuối cùng của tháng 11. Tuy nhiên, nhiều người vẫn ăn mừng vào tháng Ba.

Nepal, Ngày của Mẹ được gọi là Mata Tirtha Aunsi, có nghĩa là “Hành hương về trăng non của Mẹ”. Vào ngày này, các cá nhân sẽ trân trọng thời gian ở bên mẹ và tưởng nhớ tất cả những người đã qua đời.

Ngày nay, Ngày của Mẹ được tổ chức ở một số quốc gia gồm Mỹ, Anh, Ấn Độ, Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Úc, Mexico, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản và Bỉ. Mọi người coi ngày này như một cơ hội để tri ân và cảm ơn những người mẹ của họ cho sự yêu thương và hy sinh của họ với con cái. Trong Ngày của Mẹ, các đường dây điện thoại đạt đến mức quá tải cũng như truyền thống tặng hoa, thiệp và những món quà gửi đến cho Mẹ hoặc mời Mẹ của họ đi chơi, đi ăn sáng, ăn trưa hoặc ăn tối…

Khánh Lan siêu tầm và nghiên cứu from Wikipedia

California, May 2022

MẸ HÔM NAY, MẸ NGÀY MAI, MẸ CỦA MUÔN ĐỜI

ThaiLan

ĐÔI TAY CỦA NGOẠI

ThaiLan

Bó Hồng Tặng Mẹ

 

Con cung kính. Bó hồng riêng tặng mẹ

Cả tình thương sâu thẳm của tâm hồn

Mẹ là suối nguồn, dòng chảy tinh khiết

Nuôi con một đời, đến tuổi lớn khôn.

 

Dâng lên Mẹ ngàn đóa hồng thắm đỏ

Dòng máu hồng Mẹ trao tặng cho con

Ngày lễ Mẹ, bồi hồi thêm nỗi nhớ

Nhớ ơn người, nuôi nấng thuở măng non.

 

Tình yêu mẹ dạt dào như sóng vỗ

Vỗ giấc bình yên chăm sóc đời con

Viết về Mẹ, lời thơ đầy nước mắt

Vào nỗi buồn tuổi xuân đã hao mòn.

 

Công ơn Mẹ, sánh núi cao, biển cả

Thấu trời xanh Thượng Đế phải ngậm ngùi

Mẹ là thảo nguyên bao la bát ngát

Dòng suối nguồn tuôn chảy những ngọt bùi.

 

Mẹ trên cao, như sao sáng trên trời

Mẹ hiền từ ôm con cả một đời

Lời nguyện cầu, con ước mơ về mẹ

Tiếng mẹ dịu dàng nhớ mãi không ngơi.

 

Tình yêu của mẹ bao la biết mấy

Sáng như mặt trời, đẹp như mây bay

Ai! Còn Mẹ đừng làm Mẹ bật khóc

Đừng để buồn giọt lệ ướt trên tay.

 

Xin gửi đến Mẹ ngàn đóa hoa hồng

Thấm sương long lanh, ướt cả nỗi lòng

Lời nghẹn ngào bài thơ ngày lễ mẹ

Buộc vào hoa, gửi mẹ những hoài mong.

 

Lê Tuấn

Bài Thơ Viết Tặng Mẹ

 

Tôi muốn viết bài thơ ngày lễ mẹ
Gom hết loài hoa gửi đến tặng người
Mẹ là hào quang rực rỡ bầu trời
Thiêng liêng nhất là tình yêu của mẹ.

Ngày mới chào đời ngây thơ khờ dại
Chiếc nôi êm huyền thoại ngủ trong mơ
Lời mẹ ru vần ca dao chấp cánh
Hồn Việt Nam vang vọng đến bây giờ.

Công ơn mẹ bao la như biển cả
Đỉnh núi cao dòng suối chảy hiền hoà
Mẹ là ngôi sao tỏa sáng chói lòa
Là đêm trăng tỏ, thơm ngát hương hoa.

Con thương mẹ cả một đời tần tảo
Mưa nắng trên vai gánh vác một đời
Che chở cho con dòng đời vạn biến
Mẹ là bà tiên lộng lẫy tuyệt vời.

Bước gian truân đời thăng trầm sóng gió
Mẹ âm thầm chịu khó vượt chông gai
Nuôi nấng con sớm tối không ngần ngại
Nhìn con vui, mẹ tiếp bước đường dài.

Dâng lên mẹ bài thơ thêm sầu muộn
Mẹ không còn nhưng lòng mẹ quanh đây
Trên Thiên Đàng con tin mẹ nhìn thấy
Mẹ bây giờ chỉ là những bóng mây.

Lê Tuấn
Nhớ về mẹ

 

MỪNG NGÀY LỄ MẸ

NHÓM MỸ HÂN KÍNH MỜI CHIA SẺ VÀI CA KHÚC NHẠC PHỔ THƠ

https://youtu.be/lNb0O9VGdLU
https://youtu.be/s14P7M54QuE

https://youtu.be/FOgSjrhnb6w

Gởi yêu thương về Má nhân ngày Mother’s Day (8/5/2022)           

  GỌI  MÁ

*

Con gọi phone nói cho Má biết

Cây con trồng xanh biếc Má ơi!

Facetime con thấy Má rồi

Con nghe Má nói những lời yêu thương

Chín Bảy tuổi…qua những đoạn đường

Má dành gần hết tuổi đời cho con

Giờ là Ông Lão Bảy Ba

Vẫn còn cần Má, cần nghe giáo điều

Con cần Má biết bao nhiêu…

Má luôn vui khỏe, con yêu Má nhiều!!

*

                                     Hoàng Mai Nhất
                                (Seattle, WA 4/5/2022)

NHỚ MÁ

*

Hôm nay là sinh Nhật Má

Mua quà gì biếu Má, Má ơl

Dầu Xanh với sữa Ensure

Cùng Khăn choàng cổ, Má ơi mua gì…

Mua gì biếu Má Má vui

Gởi về đâu nhỉ! Má ơi con buồn

Gởi về đâu…những món quả

Ai là người nhận, ai là người mang

Đem về đến Má quà con…nhớ nhiều!!

Con là con gái Má yêu

Con ở xa quá, Má đi …con về

Chẵng nghe lời cuối dặn dò

Chẵng cầm tay Má, chẵng hôn giã từ

Hôm nay con nhớ ngày sinh

Con nhớ Má lắm, thương ai giống mình

Cùng chung tưởng nhớ ngày sinh

Cùng thương một Má…chỉ mình Má thôi

                                         Hoàng Mai Nhì

 

2 Sinh Hoạt Mừng Ngày Của Mẹ Tại San Jose

*28 Năm, “Happy Mother’s Day” Với Những Bà Mẹ Không Nhà (Homeless!)

* Gần 100 Phần Quà Tặng Những Bà Mẹ Việt Nam, Trong Buổi Lễ Chào Cờ Đầu Tháng 5, Tại Vườn Truyền Thống Việt.

(San Jose) – Thứ Sáu, ngày 6 tháng 5, trong buổi cơm phục vụ những Khách Không Nhà, sau khi khách dùng cơm sáng xong, khách vui mừng thấy rõ, khi được loan báo, có thêm một chương trình sinh hoạt đặc biệt để Mừng Ngày Lễ Mẹ 2022.

Tất cả những Bà Mẹ hiện diện, được tặng một phần quà, chai rượu vang và tiền mặt!

Những Bà Mẹ, gồm nhiều sắc tộc, khi nhận quà, khuôn mặt lộ vẻ hân hoan cảm động thấy rõ!

Một Bà Mẹ tâm sự: “Cảm tạ Nhóm Mõ Nhân Ái, đã nghĩ đến chúng tôi trong ngày đặc biệt này. Ngày xưa tôi cũng là Mẹ của 2 đứa con, nhưng sau khi ly dị, rồi mắc vào vòng nghiện ngập, chính phủ đã lấy lại, “tịch thu” hai đứa nhỏ! giờ chẳng biết chúng nơi đâu!” Nói rồi bà nhớ con, lau nước mắt.

Sau phần tặng quà cho các Bà Mẹ, là phần Xổ Số và Lì Xì phong bì đỏ chúc mừng, trong đó có chút tiền mặt.

Đặc biệt các Bà Mẹ thiện nguyện trong Nhóm, mỗi người cũng nhận được một phần quà mừng lễ.

Sáng hôm sau, Thứ Bảy, ngày 7 tháng 5, Ban Tổ Chức Lễ Chào Cờ, đã phối hợp với Anh Hải, để trao tặng gần một trăm phần quà đến các Bà Mẹ VN hiện diện.

Trong phần vinh danh, trước khi tặng quà, Anh Hải phát biểu: “…Đến đây, xin được gởi lời Cảm Tạ đến các Bà Mẹ trong thời chinh chiến, trước 75. Không có Bà Mẹ phải chịu đựng đau khổ, gian nan, hơn những người vợ Lính VNCH cả. Nuôi con để chồng đi đánh giặc, ngừng tiếng súng, thì phải nuôi chồng trong các trại tù cải tạo! Có mỗi một đứa con trai, cũng hy sinh trong cuộc chiến! Biết bao nhiêu đau thương khốn khổ, nước mắt, kể không hết! Cuối cùng tan tác, ngậm ngùi bên phe “thua cuộc chiến!” Đầy đọa trong những vùng kinh tế mới, vượt biển, bị hãm hiếp….Nói lời Cảm Tạ chắc chắn không đủ, trong giây phút đặc biệt này!”

MỪNG NGÀY HIỀN MẪU

(Xướng – Bát điệp từ “Mẹ”)


Hoa Kỳ “Lễ Mẹ” tháng Năm đây”

Ngày Mẹ” tám tây, chủ nhựt nầy

Công trọng Mẹ nuôi, cao tựa núi

Nghĩa dày Mẹ dưỡng, rộng dường mây

Gia đình, Mẹ đã tô bồi đắp

Sự nghiệp, Mẹ từng tiếp dựng xây

Thắp nén tâm hương con khấn Mẹ

Mẹ ơi! Nỗi nhớ thật đong đầy…


DUY ANH

Orlando, May 8th 2022

CÁC BÀI HỌA CỦA THI HỮU

KHÓC THƯƠNG MẪU TỪ

*

Hiền Mẫu nhớ ngày lễ trọng đây

Tháng Năm Chủ Nhựt tám tây này

Cù lao chín chữ cao hơn núi

Cúc dục tam sanh lớn quá mây

Cơm áo gạo tiền luôn gánh vác

Cửa nhà bếp núc vẫn lo xây

Nay con tưởng nhớ, thương từ mẫu

Thắp nén tâm nhang mắt lệ đầy…

Mai Xuân Thanh

  May 03, 2022

*

MẸ SỐNG MÃI BÊN CON

*

Nhớ mẹ công lao ghi lại đây

Tình thương nghĩa nặng đủ đông đầy

Ngày nào cặm cụi cây ăn trái

Ngày ấy gian lao vầng gió mây

Hương khói trầm buồn qua lệ ướt

Tàn nhan sâu đắng cuồn cuộn xây

Bàn thờ bóng mẹ như sao sáng

Lúc tỏ lúc mờ nước mắt đầy

Trần Đông Thành

*

MẸ VÀ CON

*

Mùa đang vào hạ, ” mother ‘s day “

Mẹ vẫn bên con, tuổi tác này

Cho dẫu trưởng thành hay ấu trĩ

Càng hay thấp bé tưởng cao mây

Xưa đi trấn thủ, lo mưa chuyển

Nay hết lưu đồn, nhớ khói xây

Bảo bọc gia môn qua chiến nạn

Trời thương mẫu tử nghĩa ân đầy …

Utah  3 – 5 – 2022

CAO MỴ NHÂN

*

MỪNG LỄ MẸ

*

Lễ Mẹ hằng năm sẽ tới đây,

Nhớ ơn từ mẫu kiếp sanh nầy.

Công dày chất ngất cao như núi,

Nghĩa cả phủ tràn rộng tợ mây.

Khốn khó đưa lưng vai gánh vác,

Nhọc nhằn đem sức đắp bồi xây.

Tâm thầm khấn nguyện xin Trời Phật,

Phúc đức ban cho Mẹ hưởng đầy.

HỒ NGUYỄN

  (03-5-2022)

*

NHỚ MẸ

*

Tháng năm ngày tám đến rồi đây,

LỄ MẸ về trên đất nước nầy,

Lòng mẹ bao la hơn biển cả,

Mẫu từ cao vút ngất trời mây.

Mẫu tâm lo trẻ thường thao thức,

Mẫu ý  vì con mãi  đắp xây.

Biền biệt phương trời con ngóng mẹ,

Nửa vòng trái đất nhớ thương đầy !…

Đỗ Chiêu Đức

 05-03-2022

*

MỪNG NGÀY HIỀN MẪU

*

Lễ Mẹ, Hoa Kỳ sắp đến đây

Tám tây, vọng Mẹ ở phương nầy…

Hoài thai Mẹ giữ, ân vờn núi

Dưỡng dục Mẹ gìn, đức cuộn mây

Mẹ gánh sầu bi vì tạo dựng

Mẹ gồng khổ cực bởi bồi xây

Hương lòng tưởng đến công lao Mẹ

Nhớ Mẹ…bờ mi ngấn lệ đầy !

Thanh Song Kim Phú

CA. May/3 rd/2022

*

MẸ ƠI !

*

Mừng Ngày Hiền Mẫu

*

Bạc mùa dầu dãi Mẹ nằm đây

Mộ chí mưa sương thấm đất nầy!

Đáy huyệt âm hồn dầm cát bụi

Trên mồ  dương khí lõa trời mây!

Cù lao báo đáp công Cha đắp

Cúc dục đền bồi nghĩa Mẹ xây

Kính “Lễ Mẫu Hiền”, hồn tưởng vọng

Chất thương chồng nhớ mãi khôn đầy!

       4-5-2022

Nguyễn Huy Khôi

*

MỪNG LỄ MẸ

*

Ngày hiền mẫu đã đến rồi đây

Chủ nhật, vài ba bữa nữa này

Xót mẹ đang tâm rời cố quận

Thương người,nẫu dạ tới chân mây

Áo cơm,tuổi trẻ chăm bồi dưỡng,

Sự nghiệp,thành thân,tiếp dựng xây.

Công nặng ,ơn dầy khôn báo đáp,

Rưng rưng khoé mắt…lệ dâng đầy

Thanh Hoà

04/05/2022

*

MOTHER’S DAY

“Lễ Mẹ” là ngày chủ nhật đây

Tháng năm mồng tám nhớ hôm nầy

Thương con nghĩa rộng tràn sông biển

Quý trẻ tình dày vượt núi mây

Cảnh khó nồi rau trồng cuốc dựng

Quê nghèo bát gạo bán buôn xây

Giờ người đã ngủ yên nghìn giấc

Di ảnh khói hương mắt lệ đầy

  Minh Thuý Thành Nội

Tháng 5/4/2022

MẸ

*

Con vẫn trông chờ ” Mother’s day “

Ngày vui nắng hạ tuổi hoa đầy

Xa xôi tiếng Mẹ khôn làm nũng

Cạnh gối Cha nghiêm khó vén mây

Bế ẵm ru con lời dịu ngọt

Đu đưa võng dỗ giấc mơ xây

Mẹ ơi ! nhớ Mẹ từng hơi thở

Hơn chín mươi năm trái Đất này …!

CHUNG VĂN

    4/5/2022

*

NGÀY NHỚ MẸ

*

Ngày tạ sinh thành sắp đến đây

Mẫu tử tình thâm ở kiếp nầy

Mang nặng đẻ đau lo bảo trọng

Lớn khôn công ấy thấu từng mây

O oe con khóc mẹ lo lắng

Trở gió ấm đầu Người xẩm xây

Biển cả bao la đâu sánh kịp

Bao nhiêu báo đáp biết cho đầy.  ….

Yên Hà

5/5/2022

*

MẸ Ở TRONG LÒNG

*

Sống ở trong lòng,Mẹ vẫn đây

Thân con,máu Mẹ dưỡng sinh nầy

Con nghe Mẹ khóc lần đi biển

Mẹ thấy con cười lúc giỡn mây

Nguồn cội,Mẹ khuyên ra sức giữ

Quê nhà,Mẹ dặn góp công xây

Truyền lưu bếp Mẹ ngời thiêng lửa

Mẹ nhóm tin yêu,hạnh phúc đầy…

Lý Đức Quỳnh

    5/5/2022

*

THƯƠNG NHỚ LỆ ĐẦY

*

Tám tháng năm ngày “Lễ Mẹ” đây,

Vinh danh Hiền Mẫu thế gian này.

Ba niên bú mớm lòng như biển,

Chín tháng nâng niu đẹp tựa mây.

Cơm áo thuốc men nuôi chóng lớn,

Tiền đồ sự nghiệp cố công xây.

Kể sao cho siết bao công đức,

Một nén nhang thương nhớ lệ đầy.

 Mỹ Ngọc.

May 6/2022.

*

NHỚ NGÀY HIỀN MẪU

*

Tiếng MẸ trong tôi đẹp thật đây

Công ơn trời biển thế gian này

Mem cơm mớm cá bao năm tháng

Giấc ngủ ru nôi vút tận mây

Chập chững bước đời tay dẩn giắt

Vỡ lòng chữ nghĩa quyết tâm xây

Giờ đây cát bụi cơn  mưa nắng

Nén hương khẩn lạy kính dâng đầy

NAM GIAO

*

TÌNH MẸ BAO LA

*

Cháu con, dâu rể tụ về đây,

Lễ Mẹ năm nay chủ nhật nầy.

Thân mẫu cưu mang hơn chín tháng,

Công ơn sanh dưỡng tựa trời mây.

Tam đa quy hợp(*) lòng mong ước,

Tứ đại đồng đường(**) nghĩa dựng xây.

Chín chữ cù lao luôn tạc dạ.

Bao la tình mẹ nhớ thương đầy.

Ngô Văn Giai

     Virginia, May 6/2022

(*) Tam đa quy hợp:Ba điều hạnh phúc:Phước,Lộc,Thọ

(**)Tứ đại đồng đường:Bốn đời cùng ở chung một nhà,ý nói gia đình hòa thuận bốn đời:đời cha,đời con,đời cháu,đời chắt.

*

TƯỞNG NHỚ MẸ HIỀN

*

Mừng ngày lễ Mẹ ở nơi đây

Mùng tám tháng năm chủ nhật này

Công đức rộng tràn như bốn biển

Nghĩa tình cao vợi tựa ngàn mây

Tương lai con cái luôn vun vén

Hạnh phúc gia đình mãi đắp xây

Sâu thẳm lòng con luôn nhớ Mẹ

Yêu thương, kính trọng cứ dâng đầy

   Sông Thu

( 07/05/2022 )

*

CẢM XÚC TRONG NGÀY TỪ MẪU

*

Mother’s Day lại đến rồi đây

Lòng chợt buồn ơi, đón Lễ này 

Con trẻ thân côi xa tít tắp 

Mẹ già mộ vắng khuất trời mây

Tục Tiên hai cõi sao tìm thấy

Tình hiếu đôi đàng khó đắp xây 

Xuất giá tòng phu thành lỗi đạo

Từ thân huyệt lạnh nhớ vơi đầy

Phương Hoa – May 4, 2022

*

MẸ

*
Con vẫn trông chờ ” Mother’s day”

Ngày vui nắng hạ tuổi hoa đầy

Xa xôi tiếng Mẹ khôn làm nũng

Cạnh gối Cha nghiêm khó vén mây

 Bế ẵm ru con lời dịu ngọt

Đu đưa võng dỗ giấc mơ xây

Mẹ ơi ! nhớ Mẹ từng hơi thở

Hơn chín mươi năm trái Đất này …!

CHUNG VĂN4/5/2022

*

THƠ XƯỚNG HỌA: MỪNG LỄ MOTHER’S DAY – PHƯƠNG HOA & THI HỮU

MỪNG LỄ  MOTHER’S DAY

(Xướng)

Chúc Lễ Mother’s Day gấm hoa

Tình yêu tỏa sáng rực muôn nhà

Sinh thành ân trọng tày sông lớn

Dưỡng dục nghĩa dày sánh biển xa

Trọn hiếu thức ngon vui dạ Mẹ

Tràn tâm lời ngọt đẹp lòng Bà

Vòng ôm ấm áp truyền năng lượng

Ấy món quà dâng quý ngọc ngà

  Phương Hoa

Mother’s Day 2022

CÁC BÀI HỌA

HAPPY MOTHER’S DAY…!

*

Mother‘s Day tặng Mẹ ngàn hoa

Sáng toả yêu thương khắp cửa nhà

Sinh dưỡng đạo đồng so biển lớn

Cù lao cúc dục sánh non xa

Chăm ngoan cần mẫn vui lòng mẹ

Hiếu thảo siêng năng đẹp dạ bà

Đãi tiệc hàn huyên con cháu chắc

Gia đình đoàn tụ dưới trăng ngà

MAI  XUÂN THANH

     May 8/5/22

*

MƯỢN HOA THAY LỜI

*

Mượn vẻ mặn mà muôn sắc hoa

Làm quà trao gởi đến nhà nhà

Lay ơn, thược dược màu phô thắm

Sen trắng, hồng nhung hương tỏa xa

Âu yếm nâng niu dành tặng Mẹ

Chân thành, quý trọng kính dâng Bà

Bao nhiêu tình cảm thay lời nói

Sáng vượt trân châu, đẹp vượt ngà

Sông Thu

 ( Ngày Hiền Mẫu 2022 )

*

ĐỨC TRỜI & CÔNG BIỂN

*

Tấm lòng của mẹ ngát hương hoa

Bay tỏa lan ra khắp cả nhà

Ấy dẫu bây chừ bu đã vắng

Đây dù hiện tại mợ thời xa

Trời cao lồng lộng khôn so mẹ

Biển rộng mênh mông khó sánh bà

Công đức dưỡng nuôi đàn con dại

Xót nay nắm đất phủ thân ngà..!

Thái Huy

  5/9/22

*

MẸ TÔI

Cấy lúa trồng khoai, chẳng thiết hoa

Mẹ vun quén giữ ấm êm nhà

Quê làng suốt kiếp dìm thân mọn

Phố thị chưa lần biết chốn xa

Cảnh có phiền ưu đời thế tục

Tâm không oán hận cõi ta bà

Chồng con sớm tối vui cùng phận

Tóc bạc quên luôn chiếc lược ngà…

Lý Đức Quỳnh

    9/5/2022

*

BÓ HOA NGÀY LỄ MẸ

*
Tay con ôm một bó hồng hoa

Lễ mẹ tràn lan đến mọi nhà

Chân bước rộn ràng tim đập nhẹ

Lòng vui dào dạt sóng vờn xa

Quỳ dâng âu yếm trao lên mẫu

Kính chúc vời cao gởi tặng bà

Tiếng hát lời ru công dưỡng dục

Thiên thu ngời sáng dưới trăng ngà.

*

 Lê Mỹ Hoàn5/10/2022

CHÚC MỪNG LỄ MẸ

*

Chúc mừng Lễ Mẹ tặng ngàn hoa,

Rạng rỡ vui reo khắp mọi nhà.

Công khó sinh thành sông bến rộng,

Ơn cao nuôi dưỡng biển trùng xa.

Nhọc nhằn chẳng quản bên con cháu,

Vinh hiển yên tâm thỏa phận bà.

Kỉnh dạ Mẫu Từ cao giữ trọng,

Thâm ân hiếu thảo quý hơn ngà.

HỒ NGUYỄN (10-5-2022)

*

CHIẾC ÁO CÀI BÔNG HỒNG

*

Mother’s day trên chiếc áo cài hoa

Có mẹ bên con lúc vắng nhà

Nhớ lắm khi bồng con tắm suối

Sao quên lúc cõng trẻ đi xa

Tới chùa cầu nguyện con vui khỏe

Lạy tổ hộ gia cháu của bà

Hình ảnh mẫu thân luôn sống mãi

Gia đình hủ hỷ trước trăng ngà

Trần Đông Thành

*

CHÚC MẸ MỘT NGÀY VUI

*
Biếu mạ hôm nay một giỏ hoa,

Đến thăm Từ Mẫu, rể, dâu nhà

Sinh thành, nuôi dưỡng: ơn trời rộng

Bảo bọc yêu chiều: đức biển xa

Tạc dạ con  ngoan, thương mẹ, bố.

Ghi tâm cháu thảo, quý ông bà

Cầu mong ngày tháng đừng qua vội,

Giữ mãi me tôi, tóc chẳng ngà!

Thanh Hoà 10/05/2022

*

Mừng “Lễ Mẹ

*

Chuẩn bị hôm này mấy bó hoa 

Mừng chung  “Lễ Mẹ“ họp nơi nhà

Trùng khi lắm buổi luôn rời biệt 

Gặp việc nhiều ngày mãi ở xa

Tiếng ngọt ôm người đùa thỏa mẫu 

Lời êm níu cổ giỡn vui bà 

Quà trao cắt bánh dâng cười rộn 

Hiếu thảo đừng quên quý tợ ngà        

Minh Thuý Thành Nội          

 Tháng 5/10/2022

*

MỪNG LỄ MẸ HIỀN 

*
Cho dù ý Mẹ chẳng cần hoa

Giả bộ vì quên khiến rộn nhà!

Huệ Đỏ, Nhật Quỳnh mua chợ mới 

Cúc Vàng, Hồ Điệp sắm miền xa

Bầy con nghĩa vẹn vâng lời Bố

Đám trẻ tình thâm cảm động Bà 

Hiền Mẫu trưa nầy ngưng nhóm bếp 

Lòng như mở hội đón trăng ngà! 

*
Như Thu 05/10/2022




Kiều Mỹ Duyên- Phỏng Vấn Giám Mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp




Khép lại dấu yêu




ĐỢI EM | Thơ: Sa Chi Lệ

https://youtu.be/fCH9NHlBPUo
ĐỢI EM | Thơ: Sa Chi Lệ | Nhạc: Phạm Minh Thuận

https://youtu.be/fvafnCPNrrE
ĐỢI EM | karaoke 




GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

LÊ VĂN HẢI

“Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày Giỗ Tổ Mồng Mười Tháng Ba!”

Hầu như người Việt Nam nào, ai cũng thuộc câu ca dao này, câu này được học từ nhỏ, thời tiểu học.

Hàng năm, cứ đến ngày 10 tháng 3 Âm lịch (năm nay ngày Tây, rơi đúng vào Chủ nhật tuần này! ngày 10 tháng 4 năm 2022)

Ngày này, con dân đất Việt ở khắp mọi nơi, đều hướng lòng về Quốc Tổ Hùng Vương, nhất là về đất Tổ Phú Thọ, nơi có đền thờ và bia tưởng niệm các vua Hùng. Để nhớ về nguồn cội, cảm tạ các Tiền Nhân đã có công lập quốc, giữ nước, thành một dân tộc Việt, với những trang sử oai hùng chống ngoại xâm, để lại cho con cháu một dải giang sơn gấm vóc, trường tồn trên 4 ngàn năm! Không một tấc đất nào về tay ngoại bang!

(Càng tự hào truyền thống Cha Ông bao nhiêu, càng căm thù CSVN bấy nhiêu, hết nhường đất biên giới, biển đảo, đặc khu…còn nuôi âm mưu bán nước cho Tầu Cộng, chỉ cần đạt mục đích “còn đảng còn mình!” Mà CS làm gì có Tổ! chúng đã công nhận tổ của chúng từ Nga, từ Tầu!)

Thời VNCH, trước 75, đây là Ngày Lễ Quốc Gia! ăn mừng rất lớn. Hành động VNCH giữ nước dũng cảm, với trận chiến “Hoàng Sa, Trường Sa!” Thà chết, chứ không để một tấc đất nào lọt vào tay giặc!

Ra hải ngoại, cộng đồng người Việt khắp nơi, cũng giữ được truyền thống “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” tốt đẹp này, nên luôn luôn có những sinh hoạt, để nhớ về Tổ Tiên dòng giống Lạc Hồng.

Chút Lịch Sử Đời Hùng

Theo truyền thuyết, triều đại Hùng Vương có 18 đời vua. Hùng Vương thứ nhất lên ngôi vào năm 2879 trước Công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ, truyền đời đến năm 258 trước Công nguyên, thì mất ngôi vào tay Thục Phán An Dương Vương.

Như vậy, triều Hùng trải qua trong khoảng 2.600 năm, nếu chia trung bình cho 18 đời vua thì mỗi đời vua xấp xỉ 150 năm.

Giải thích điều hơi khó hiểu này, một số học giả cho rằng thực chất 18 đời vua Hùng không phải là 18 cá nhân cụ thể, mà là 18 chi, mỗi chi này có nhiều vị vua, thay phiên nhau trị vì, và dùng chung vương hiệu. Ngay cả con số 18 cũng chỉ mang tính tượng trưng, ước lệ, vì 18 cộng lại là 9, con số thiêng đối với người Việt.

Như vậy, theo một số tài liệu lịch sử ghi lại, ngày giỗ tổ đã có từ cách đây 2.000 năm. Dưới thời Thục Phán An Dương Vương. Bằng chứng đã tìm thấy cột đá thề, được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, ghi rõ: “Nguyện có đất trời lồng lộng chứng giám, nước Nam được trường tồn lưu ở miếu Tổ Hùng Vương. Xin hứa đời đời trông nom lăng miếu họ Hùng và gìn giữ giang sơn mà Quốc Tổ trao lại. Nếu thất hẹn, sai lời thề, sẽ bị gió giăng, búa dập, tan thây!”.

Các đời vua khác sau này cũng luôn ghi nhớ, khẳng định vai trò các vua Hùng trong việc xây dựng giang sơn Đất Việt. Chính vì thế mà hàng năm, người Việt dành riêng một ngày để mừng, tưởng nhớ những người đã lập và xây dựng nên đất nước. Trong tinh thần nhớ về Cội Nguồn  “Cây có gốc, chim có tổ, người có tông!”

THÁNG BA XUÂN

     (Điệp tự)

Tháng Ba Âm Lịch, tháng Ba mừng

Giỗ Tổ Hùng Vương, giỗ Tổ Ân

Mười tám đời Vua, mười tám Đế

Bốn nghìn năm sử, bốn nghìn Xuân

Văn Lang nối gót, Văn Lang tiến

Việt Tộc theo đà, Việt Tộc nâng

Danh tiếng nhà Nam, danh tiếng rạng

Kính tiền Quốc Tổ, kính tiền nhân

*

 Phương Hoa – Tháng Ba Ngày Giỗ Tổ

https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/nguoi-viet-hai-ngoai-tai-little-saigon-thanh-kinh-gio-to-hung-vuong/

LE VĂN HẢI

Tại Sao Lăng Vua Hùng Lại Ở Phú Thọ?

Theo Ngọc phả Hùng Vương chép thời Hồng Đức hậu Lê, thì từ thời nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần rồi đến Hậu Lê, các vua và người dân địa phương, đều đến lễ bái các vua Hùng. Vua đã giao thẳng quản lý Đền Hùng cho cư dân tại đó rông nom, sửa chữa, cúng bái. Và có bổn phận tổ chức ngày giỗ 18 đời Hùng Vương, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch mỗi năm.

Để đền bù công lao gìn giữ, tổ chức, dân địa phương được triều đình miễn cho những khoản thuế ruộng, nhiều quyền lợi khác. Như thanh niên, có thể miễn đi lính trong thời chiến, nếu có nhiệm vụ trông coi, hương khói cho Đền Vua.

Sang thế kỷ 20, năm 1917, triều vua Khải Định. Bộ Lễ chính thức gửi công văn đến tỉnh Phú Thọ, chính thức lấy ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch, cử hành “quốc lễ” hàng năm.

Ngày Giỗ này, nếu điều kiện cho phép, vua và các quan phải mặc phẩm phục, lên đền Hùng cúng tế tổ tiên rất trang trọng.

https://www.facebook.com/ted.nguyen.14418/videos/362650918960247

LÊ VĂN HẢI

Truyền Thuyết Con Rồng Cháu Tiên

Hay còn gọi sự tích Trăm Trứng Trăm Con, nhằm giải thích về nguồn gốc dân tộc, cũng như đề cao lòng tự hào và tinh thần truyền thống đoàn kết của Người Việt Nam.

Câu chuyện “dã sử” có tính cách “thần tiên” như sau:

Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Miền Bắc nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sống trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ.

Thần giúp nhân dân diệt trừ Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh, là những loài yêu quái, bấy lâu nay tung hoành, làm hại dân lành. Thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi, cả cách sống, đạo đức, lẽ phải. Xong việc, thần thường về thủy cung, khi có việc cần, thần mới hiện lên.

Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, tò mò bèn tìm đến thăm.

Nhân duyên tiền định, Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đem lòng yêu thương. Rồi trở thành vợ chồng, cùng nhau chung sống trên cạn ở điện Long Tráng.

Ít lâu sau, Âu Cơ có mang (bầu), đến kỳ sinh nở. Chuyện thật lạ, nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng! nở ra một trăm con! Con nào con ấy hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Hay hơn nữa, đàn con không cần bú mớm, mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần! đẹp như tiên!

Thế rồi một hôm, Lạc Long Quân vốn quen sống ở nước, cảm thấy mình không thể sống mãi trên cạn được. Đành từ biệt Âu Cơ và đàn con, để trở về thủy cung. Âu Cơ ở lại một mình nuôi đàn con, tháng ngày chờ mong, buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên và than thở.

– Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?

Lạc Long Quân nói:

– Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là giòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình tập quán khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi, lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn.

Âu Cơ nghe theo chồng, rồi cùng nhau chia tay nhau lên đường.

Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang.

Triều đình có tướng văn, tướng võ, con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mỵ nương, khi cha chết thì được truyền ngôi cho con trưởng, gần 29 đời truyền nối ngôi vua, đều lấy danh hiệu Hùng Vương, không hề thay đổi.

Cũng bởi sự tích này mà về sau, người Việt Nam chúng ta đều là con cháu vua Hùng. Đều từ một bọc trứng mà sinh ra, Cùng gọi nhau là “Đồng Bào!” (từ một bào thai) và đến bây giờ, hơn 4 ngàn năm, vẫn tự hào mình là Con Rồng Cháu Tiên!

Người Việt Hải Ngoại Sinh Hoạt Giỗ Tổ Hùng Vương Năm 2022

-Tại Bắc Cali:

Được Tổ Chức, Vào Ngày Chủ Nật 10 Tháng 4 Năm 2022, Lúc10:00 Sáng

Tại Vườn Truyền Thống Việt

1499 Roberts Ave San Jose Ca 95122

-Tại Seattle:

Lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật, ngày 10 tháng 4 năm 2022

Tại Tổ Đình Việt Nam

2234 SW. Orchard St, Seattle, WA. 98106

Phone (206) 779-6875

NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

*

Ngày Giỗ HÙNG VƯƠNG nhớ Tổ Tông

Tự hào dân Việt giống Tiên-Rồng

Chinh Nam ngạo nghễ hưng bờ cõi

Chiến Bắc oai hùng vững núi sông

Xã tắc, tiền nhân gìn nhọc sức

Giang san, hậu thế  giữ dày công

Nay bầy Cộng Sản ôm tà thuyết

Bán nước mọp Tàu, nhục mặt không??

*
DUY ANH

Mồng Mười, tháng Ba, Nhâm Dần04/10/2022




Chiến Tranh Ai Hưởng Lợi?

Để đọc trang kế tiếp, di chuyển Mouse xuống dưới trang, phía trái và bấm vào đầu mũi tên.




Mây Trời Mong Manh-Xuân Ngàn Xa-Theo Bước Chân Về