* Tại sao một số các loài chim học hay bắt chước được tiếng người ?
* Các nhà động vật học cho biết :
— Nguyên nhân mấu chốt là cuống lưỡi của các loài chim ( Vẹt , Sáo …) rất phát triển . Lưỡi nhọn , nhỏ , dài , mềm và rất linh hoạt .
— Cơ hót của chúng tương đối phát triển . Có thể phát ra âm điệu chính xác , rõ ràng . Thêm vào đó , khả năng bắt chước và trí nhớ của chúng cũng khá tốt .
— Do vậy , dưới sự nuôi dưỡng của con người . Một số các loài chim biết nói . Có thể học nói và hát . Khiến mọi người yêu thích .
— Song , các nhà khoa học cũng cho rằng : chúng có thể nói được là do hành vi bắt chước mà thôi . Đó là một loại phản xạ có điều kiện . Chúng chắc chắn không thể giống như con người hiểu được nghĩa của tiếng người được .
* Dưới đây là một số các loài chim nói được tiếng người :
1. Chim Yểng :
— Khả năng học vẹt của chim Yểng rất giỏi .
— Điều thú vị là chúng có thể mô phổng ngữ âm , ngữ điệu .
— Loài chim Yểng gây ấn tượng bởi khả năng phát âm của chúng . Chuẩn xác đến bất ngờ .
2. Vẹt Xám Châu Phi :
— Sống ở các khu vực rừng nhiệt đới Tây và Trung Phi .
— Vẹt Xám Châu Phi là loài chim thông minh nhất thế giới .
— Chúng không những chỉ nghe , hiểu mà còn bát chước giọng nói của con người . Kể cả bắt chước tiếng của các vật xung quanh như chó , mèo … và huýt sáo .
3. Vẹt Indian Ring Parakeet :
— Loài chim này , có thể học được khoảng 200 đến 250 từ .
— Tuy nhiên , Vẹt Indian Ring Parakeet có khả năng mỗi con khác nhau .
— Khả năng ngôn ngữ của chúng tùy thuộc rất lớn vào sự tương tác giữa người và con vật .
4. Sáo Đen :
— Sáo Đen là một trong những loài chim học vẹt được con người đón nhận nhất hiện nay .
— Mặc dù tỉ lệ mở miệng thấp hơn loài chim Yểng nhưng chúng vô cùng thông minh .
— Chim Sáo Đen tính cách cũng tốt .
— Chúng cũng còn có thể học những loại khả năng như : ngậm , tha …
5. Chim Vẹt Cockatoo :
— Với khả năng nghe và bắt chước các loại âm thanh quen thuộc . Mà chúng còn có khả năng nói tiếng người rất tốt .
— Tuy nhiên , rất thông minh nhưng Vẹt Cockatoo lại rất hay nghịch ngợm .
— Đây cũng là loài chim biết nói khá thú vị .
6. Vẹt Scarlet Macw :
— Chúng có khả năng nói rất tốt .
— Đây cũng là loài chim cảnh tuyệt đẹp và lý tưởng .
* Loài chim Vẹt Scarler Macw ban đêm luôn thích giọng sắc lẽm , kêu vài tiếng và thích nói chuyện .
7. Vẹt Eclectus Parrot :
— Đây là loài chim Vẹt có khả năng phát âm rõ nhất về từ vựng .
— Vẹt Eclectus Parrot cũng có thể bắt chước các âm thanh phát ra từ môi trường xung quanh
— Chúng có khả năng hát một bài hát trọn vẹn với giai điệu quen thuộc .
* ( Thông tin thêm ):
— Đây là một trong 5 con chim Vẹt Xám Châu Phi . Đã dạy cho nhau cách nói bậy . Và không hiểu sao , mỗi lần thấy du khách là chúng thường xuyên ” chửi thề ” với du khách . Vì vậy chúng đã buộc phải cách ly .
— 5 chú Vẹt này thuộc Công viên Động vật hoang dã Lincolnshire — Anh .
Sáng nay trời đẹp, rảnh rỗi lại thấy trong người sung sức mà không biết làm gì, bèn cầm máy vô Chợ Lớn kiếm vài tấm hình. Ngang qua một tiệm bán đồ gốm sứ Trung Hoa, ghé vô xem chơi. Thấy mấy cái ấm Tử sa, hỏi cô bé bán hàng, cô chẳng biết gì. Tình cờ ông chủ tiệm đi đâu về, hỏi ổng, ông ta cũng chỉ biết lờ mờ. Ông ta bảo ngộ chỉ biết bán hàng thôi, ngộ không biết nhiều về mấy hàng này đâu, nị biết nói cho ngộ nghe với. Tui nói với ổng sơ lược về mấy điều rồi hỏi ổng có chơi facebook không, ông ta bảo có. Tui mới bảo rằng tui có viết một bài về ấm Tử sa, mời ông vào xem. Về nhà, mở Facebook tìm lại bài viết, chắc tại lâu quá, nó trôi đâu mất rồi. Thôi thì đăng lại lần nữa, xem như giữ trên Facebook cho dễ kiếm.
—————————————————
Ấm Tử Sa dùng chỉ dòng ấm gốm, cụ thể hơn là ấm pha trà được làm từ đất sét Tử Sa, vùng Nghi Hưng thành phố Vô Tích, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.
Các cuộc khai quật khảo cổ cho thấy từ đầu thời Nhà Tống(thế kỷ X) đã có những bình gốm pha trà được làm từ loại đất sét tử sa hay còn gọi “tử nê”. Theo ghi chép của học giả triều Minh Chu Cao Khởi, thời hoàng đế Chính Đức có một nhà sư ở đền Tử Sa, Nghi Hưng đã nặn những bình trà từ đất sét địa phương, chúng được học giới đương thời ưa thích và danh tiếng bình gốm Tử Sa bắt đầu được biết đến.
Ấm trà tử sa, bên cạnh Kinh kịch, quốc họa thủy mặc và lụa Tô Châu được coi là một trong 4 quốc bảo Trung Hoa trong chiến lược bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống.
Tử sa được khai thác từ khu mỏ núi Hoàng Long tỉnh Giang Tô. Thời gian thành tạo cách đây khoảng 350 triệu năm, thuộc kỷ Devon đại cổ sinh Paleozoic. Nằm ở phần rìa cổ của nền sông Dương Tử và giao thoa của 3 đới biển, đất và hồ. Khoáng sản đất sét được thành tạo bởi các phần tử sét hạt mịn và các khoáng vật khác được nước và gió đưa đến.
Tử sa, nghĩa đen là cát màu tím, có thành phần khoáng vật gồm quartz, sét, hydromica và hematite. (Wikipedia)
Hương vị có được trong ấm tử sa do thành phần khoáng vi lượng. Nó có trong chất đất, và vì bề mặt không tráng men nên trong quá trình pha trà nó sẽ hoà vào nước. Khác với tinh dầu trà, nó tồn tại lâu bền trong ấm. Lâu dần lớp khoáng sẽ tích tụ lại và làm tăng hương vị của trà.
Khi chọn mua một ấm tử sa, người ta thường chỉ ra mấy chiêu để ta chọn như thả vào chậu nước, ấm phải nổi, nhận ấm xuống, ấm nổi lên không nghiêng, không bung nắp. Cách nữa là bịt lỗ thông hơi trên nắp thì rót sẽ không ra nước. Còn cách nữa là lấy nắp ấm gõ vào quai sẽ phát ra âm thanh như kim loại chạm vào nhau.
Mua một cái ấm tử sa về để uống trà thì nên chọn ấm đơn giản, ít hoa văn rườm rà, miệng rộng để dễ cho trà vào cũng như khi đổ xác trà. Chú ý chọn một chiếc ấm không dễ ngã đổ khi đặt trên bàn, ấm có hình thể cân đối, cầm thấy sướng tay.
Bằng mắt quan sát ta nên chọn ấm có hình dáng thanh thoát, nhìn thích mắt. Các bộ phận như :thân ấm, nắp, miệng, vòi, quai, đáy phải cân đối, liền lạc. Màu sắc đồng đều trong ngoài. Dấu triện của nghệ nhân hay nhà sản xuất nét chữ sắc sảo, đặt cân đối ở trung tâm đáy ấm, theo trục thẳng từ quai sang vòi ấm. Những chiếc ấm đắt tiền thường có thêm dấu triện phụ dưới nắp và quai cầm thật rõ nét. Vòi ấm có thể dài ngắn khác nhau, nhưng quan trọng là khi rót, nước chảy thông, đều và thẳng dòng, không rơi vãi hay đọng giọt nhểu ra ngoài.
Nghe bằng tai, ta đặt ấm lên lòng bàn tay, tay kia cầm nắp ấm khẽ gõ vào quai, tiếng kêu như kim loại chạm vào nhau.
Cầm trên tay ta thấy ấm trơn tru, mịn màng, không tì vết. Nắp và miệng ấm khít khao, vì ấm Tử sa được nung trong lò liên tục 23 tiếng đồng hồ ở nhiệt độ từ 1.190 – 1.270 độ C (trung bình 1.200 độ C), đòi hỏi tay nghề nghệ nhân phải cao, chất đất phải thật tốt và mịn mới không bị co giãn khi nung. Do tính bào mòn trong quá trình sử dụng, một chiếc ấm dùng càng lâu càng lên nước, không đổi màu, đó mới chính là đặc trưng ưu việt của ấm Tử sa, chứ màu sắc đất không liên quan gì đến chất lượng và công dụng.
Không có ấm Tử sa có mùi thơm, nếu có cũng chỉ do người ta bơm xịt vào vì đất lọc bao lần rồi vào nung, mùi thơm ở đâu mà có.
Sắm cái ấm Tử sa về xài, ta phải biết cách sử dụng và bảo trì nó. Nếu biết cách, sau thời gian dài sử dụng ấm sẽ trở nên sáng ngời, tròn trịa, dày nặng, rắn chắc và tinh khiết…Càng sử dụng, giá trị của ấm càng tăng. Ấm mua về, có người dùng giấy nhám loại nhuyễn thấm nước kỳ cọ mặt trong cho sạch lớp bùn (thời xưa, dùng ngói lợp nhà làm bằng đất đen ở vùng Giang Nam tán thành bột nhuyễn, dùng mấy lớp vải sô bọc lại để chà xát, cọ rửa), sau đó cho ấm vào một nồi nước đun sôi suốt mấy tiếng đồng hồ.
Có người dứt khoát đun sôi ấm như thế trong một nồi trà lớn, để ấm có thể hấp thu chất trà vào các lỗ thông khí kép (khí khổng), loại bỏ mùi của đất.
Uống trà bằng ấm Tử sa cũng như hút thuốc bằng tẩu, nên dùng mỗi loại trà mỗi ấm riêng để giữ được hương vị của mỗi loại trà. Mỗi lần uống xong, khi rửa bộ đồ trà, nên dùng xác trà cũ trong ấm chà xát lên toàn thân ấm, ấm thấm xác trà mà không gây trầy xước, càng chà lâu thân ấm càng đẹp.
Đối với những chiếc ấm cũ bề mặt nứt rạn nhẹ, dùng phương pháp “nước trà dưỡng ấm” có thể khôi phục, những vết nứt rạn sẽ dần dần khít lại, đúng là “tôn cổ xuất tân”.
Cái thú vị của chơi ấm Tử sa là chọn trà cho từng ấm và chọn ấm cho từng loại trà. Chiếc ấm cho ra chén trà ngon lại dùng trà để giữ ấm. Trà và ấm quấn quýt với nhau để cho người thưởng thức chén trà có được một đạo làm cuộc đời thêm đẹp
Viết lại ngày 3.6.2019
DODUYNGOC
Nói thêm:
CÁCH PHA TRÀ KHI DÙNG MỘT ẤM TRÀ MỚI:
Bình trà mới mua về, nên rửa bằng nước nóng. Có người dùng bàn chải đánh răng với kem chà trong và ngoài ấm. Sau đó bỏ vào nồi, đổ nước đun sôi 45 phút. Khi đun nhớ quấn vải quai và vòi cho kỹ, nhớ lót đáy ấm để khỏi bị va đập khi nước sôi. Sau đó, tắt bếp và để nguội. Khi nước nguội, lấy ấm ra rửa lại lần nữa. Cầu kỳ hơn, lại cho ấm vào nồi đun sôi trở lại, mở nắp ấm và cho vào khoảng 3 muỗng loại trà bạn dự định pha với ấm này. Tắt bếp, đậy nắp ấm và hãm trong 30 phút, sau đó đổ hết bã trà và rửa sạch bằng nước ấm. Lặp lại một lần nữa để tăng thêm hương vị trà vào bề mặt ấm trà.
SỬ DỤNG ẤM:
Luôn đổ tràn nước qua miệng ấm khi pha trà, và lau khô ấm bằng vải mềm sẽ làm ấm trà mau chóng có lớp cao trà bóng sáng. Không cọ rửa ấm, chỉ làm sạch bằng nước nóng. Khi bạn muốn đổi loại trà khác thích hợp hơn cho ấm trà, hãy làm lại các bước trước khi sử dụng ấm ở phần trên.
VỊNH LAN HẠ – HẢI PHÒNG
Nếu như Vịnh Hạ Long là viên ngọc chói sáng , được mà giũa kỹ càng . Thì Vịnh Lan Hạ giống như viên ngọc thô , còn ẩn giấu nhiều bí ẩn .
Mới đây , Vịnh Lan Hạ được Hiệp hội CLB Các Vịnh đẹp nhất thế giới chứng nhận nằm trong top Vịnh đẹp nhất .
Nằm ở phía nam Vịnh Hạ Long ( kỳ quan thiên nhiên thế giới ) , Vịnh Lan Hạ ở Hải Phòng trải rộng trên diện tích hơn 7.000 hecta .
Nổi bật bởi vẻ đẹp ngoạn mục của hơn 400 hòn đảo lớn nhỏ , mang nhiều hình dáng kỳ thú . Tất cả các hòn đảo ở Vịnh Hạ Lan đều phủ đầy cây xanh hoặc những thảm thực vật tự nhiên .
CHUYẾN XE CUỐI CÙNG
(Sưu tầm)
Tôi là một tài xế taxi. Không nhiều tài xế nhận làm việc ca đêm. Riêng tôi, vì cuộc hôn nhân mới tan vỡ nên tôi đồng ý. Và vị khách của đêm cuối năm ấy để lại trong tôi một ấn tượng đặc biệt.
Tôi nhận được lời nhắn vào lúc 2:30 sáng. Tôi dừng xe, xung quanh vẫn tối đen, chỉ trừ ánh đèn hắt ra từ một cửa sổ nhỏ ở tầng trệt. Bình thường, cũng như mọi tài xế taxi khác, tôi chỉ bấm còi một hai lần, đợi một chút, nếu vẫn chưa thấy khách ra thì lái xe đi. Nhưng không hiểu tại sao lần này, tôi lại ra khỏi xe, bước lên bậc tam cấp. Không khéo người ta cần mình giúp, tôi nghĩ vậy và gõ cửa.
– Xin chờ một phút – một giọng nói run rẩy cất lên. Sau một lát yên lặng, cửa mở. Một bà cụ nhỏ bé đứng trước mặt tôi, mặc một chiếc váy hoa, đội mũ nhỏ có mạng che mặt. Chiếc valy nhỏ đặt dưới chân. Căn phòng phía sau lưng cụ trông như không có ai ở đã nhiều năm. Tất cả đồ đạc đều được phủ ga trắng. – Cậu mang đồ ra xe giúp tôi được không? – bà cụ hỏi. Một tay tôi nhấc chiếc valy lên, nó còn nhẹ bẫng, còn tay kia thì khuỳnh ra cho bà cụ vịn. Chúng tôi đi rất chậm ra xe.
– Cậu tốt quá!, bà cụ nói nhẹ nhàng mắt không nhìn vào tôi, tựa như đang nói với một ai khác. Khi chúng tôi vào xe, bà đưa cho tôi địa chỉ cần tới và nói: – Cậu có thể đi xuyên qua khu chợ cũ được không? – Nhưng đó không phải là đường ngắn nhất, cụ ạ! – Tôi không vội mà!. Ngừng lại một lát, bà nói tiếp: Tôi đang đến viện dưỡng lão! Mắt bà long lanh: Thế cũng tốt! Đằng nào thì bác sĩ cũng nói rằng tôi không còn sống được bao lâu nữa.
Tôi tắt đồng hồ đo cây số và hỏi: Đầu tiên cụ muốn cháu đưa đi đâu? Hai tiếng đồng hồ, chúng tôi đi lòng vòng quanh thành phố. Bà cụ chỉ cho tôi tòa nhà bà từng làm việc, khu chung cư vợ chồng bà đã thuê khi họ mới cưới. Bà bảo tôi dừng lại trước một cửa hàng nội thất nơi trước đây là sàn nhảy, bà vẫn đến khiêu vũ khi còn thiếu nữ. Thỉnh thoảng bà bảo tôi đi chậm qua một tòa nhà hay một góc phố đặc-biệt-nào-đó dừng lại trong bóng tối và im lặng. Khi những ánh mặt trời đầu tiên xuất hiện phía chân trời, bà cụ đột nhiên nói: Tôi mệt rồi, chúng ta đi thôi.
Chúng tôi tới địa chỉ mà bà cụ đưa cho tôi mà không nói thêm câu nào. Đó là một viện điều dưỡng dành cho những người già không nơi nương tựa. Hai người hộ lý và một chiếc xe lăn đã chờ sẵn ngoài cổng. Bà cụ dừng bước, vừa rút ví ra, vừa hỏi tôi, dịu dàng: – Tôi phải trả cậu bao nhiêu? – Không gì cả, cụ ạ!- Tôi nói – Cậu cũng phải kiếm sống mà – Bà cụ hỏi, giọng vẫn dịu dàng, tuyệt nhiên không có chút ngạc nhiên nào. – Sẽ còn những hành khách khác mà cụ – Tôi trả lời. Bất giác, tôi cúi xuống ôm lấy bà cụ. Bà cũng ôm chặt tôi. – Cậu đã cho tôi rất nhiều – Bà cụ nói – Cám ơn cậu. Tôi siết nhẹ tay bà cụ rồi quay ra. Trời vẫn còn mờ tối. Sau lưng tôi, cánh cửa viện điều dưỡng đã đóng lại. Đó cũng là âm thanh khép lại một cuộc đời.
Cả ngày hôm đó tôi không đón thêm một hành khách nào nữa, tôi lái xe đi lang thang, đắm chìm trong suy nghĩ, rồi băn khoăn tự hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu bà cụ gặp một tài xế dữ dằn, hoặc đang nóng vội trên chuyến xe cuối cùng? Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi bóp còi rồi bỏ đi hoặc từ chối tuyến đường đặc biệt của bà cụ? Và bất giác tôi cảm thấy mình hạnh phúc xiết bao… ít ra tôi hiểu rằng sự cô đơn trong trái tim của một người từng bất hạnh như tôi vẫn còn rất nhiều yêu thương, và vì thế mọi cánh cửa vẫn chưa hề khép lại. “
Tháng 9, 10 là khoảng thời gian hoa bỉ ngạn nở đỏ rực khắp Nhật Bản. Đây là loài hoa biểu tượng mùa thu của đất nước này.
Hoa Higanbana, hay còn gọi với cái tên bỉ ngạn, là một trong những loài hoa mang tính biểu tượng của mùa thu ở Nhật Bản, thường bắt đầu nở từ giữa tháng 9 đến hết tháng 10. Cánh đồng bỉ ngạn lớn nhất Nhật Bản ở Kinchakuda, thành phố Hidaka, tỉnh Saitama. Nơi đây cách thủ đô Tokyo khoảng 1 giờ di chuyển bằng tàu. Ảnh: Sora__films.
Vé vào cửa là 2,86 USD. Vào mùa cao điểm, toàn bộ khu vực này sẽ được bao phủ bởi hơn 500 triệu bông hoa đỏ rực. Du khách sẽ được chiêm ngưỡng khung cảnh ngoạn mục nhất mùa thu. Hoa bỉ ngạn ở đây nở đẹp nhất từ giữa đến cuối tháng 9. Lúc này, lễ hội Kinchakuda Manjushage sẽ được diễn ra. Ảnh: Totsutotsu.
Năm nay, lễ hội bị hủy bởi diễn biến phức tạp của dịch Covid-19. Ngoài ra, Nhật Bản còn nhiều địa điểm khác để du khách ngắm cánh đồng hoa bỉ ngạn như công viên Kenei Gongendo, đền Gugyo-ji, Anao-ji, Katsuragi Hitokotonushi, sông Yakachi và Bảo tàng Tưởng niệm Nankichi Niimi… Ảnh: JW.
Mỗi nơi thu hút du khách bởi một vẻ đẹp riêng. Đền Gugyo-ji là nơi 50.000 cây hoa đỏ 40 năm tuổi nở rộ. Ngoài ra, điểm đến này còn có loài hoa bỉ ngạn trắng, tạo nên sự tương phản giữa ngập tràn sắc đỏ. Dù đang trong mùa dịch, nhiều du khách vẫn tranh thủ ghé thăm cánh đồng bỉ ngạn để ngắm hoa và check-in, sống ảo. Ảnh: Kayllasinzimbra.
Công viên Kenei Gongendo là địa điểm nổi tiếng khác ở tỉnh Saitama để chiêm ngưỡng bỉ ngạn. 3,5 triệu bông bỉ ngạn đỏ nở rộ dưới những tán cây xanh tươi của công viên thu hút lượng lớn du khách ghé thăm hàng năm. Trong khi đó, đền Katsuragi Hitokotonushi nổi bật với hàng bỉ ngạn nở xen kẽ giữa ruộng bậc thang. Ảnh: JW.
Sông Yakachi và Bảo tàng tưởng niệm Nankichi Niimi thu hút với 3 triệu bông nở dọc bờ sông lãng mạn. Bỉ ngạn thuộc cây thân thảo lâu năm, chiều cao khoảng 40-100 cm. Hoa có 3 màu chính đỏ, trắng và vàng. Bỉ ngạn ở Nhật mang ý nghĩa hồi ức đau thương, biểu tượng cho vẻ đẹp của cái chết, sự chua xót khi phân ly, từ biệt… Ảnh: Builtforearth.
Vào mùa hè, khi nhiệt độ quá cao, cây bỉ ngạn sẽ chết. Trong tiếng Nhật, higan (bỉ ngạn) có nghĩa là bồng lai. Theo dân gian, người Nhật cho rằng bỉ ngạn là cửa ngõ để đi vào thế giới của những người đã chết. Vào những ngày người trần gian gặp người âm giới, bỉ ngạn là nơi trú ngụ của những linh hồn. Ảnh: Mosusandesu.
Bích Phương
Vị gì một miếng trầu cay
Không biết tục Ăn Trầu có từ lúc nào. Nhưng hồi nhỏ tôi thấy Bà Nội tôi lúc nào cũng có khay trầu kè kè bên hông. Lâu lâu bà lại cho một cục vào miệng nhai bõm bẽm. Cục này bà làm trước lúc rảnh rỗi, gồm lá trầu, quét một ít vôi, kèm theo miếng cau. Ba thứ đó kẹp chung lại thành một cái gói nhỏ nhỏ như một cục kẹo.
Anh về têm một trăm miếng trầu cho tinh tuyết,
Bỏ vào hộp thiếc, khay cẩn xà cừ
Để em vòng tay vô thưa với thầy, với mẹ: Gả chừ cho anh (*)
Hồi xưa, đi lễ dạm cưới hỏi Vợ không thể không có khay trầu cau. Gia đình Cô dâu mà chịu thì coi như nhận khay trầu, không nhận thì trả lại.
Hỡi cô mặc áo vá vai
Tay ngắn tay dài đã có chồng chưa?
Anh hỏi thì em xin thưa
Vài ba nơi hỏi nhưng chưa nhận trầu (*)
Em này chảnh, vài ba nơi hỏi đó nhe. Hay là Ba Mẹ đã nhận trầu rồi mà lòng em thì còn để ở đâu đâu?
Con chim xanh đậu cành dâu biếc
Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay
Vị gì một miếng trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra (*)
Em có chồng như chim vào lồng, như cá cắn câu. Hồi đó anh không chịu mang mâm trầu, để giờ ván đóng thuyền rồi thì coi như là xong. Hồi xưa ăn trầu lại có kèm theo một miếng Quế nữa. Không chỉ có bà già mà gái trẻ cũng ăn. Thiệt là lạ.
Đêm qua trăng sáng mập mờ
Em đi gánh nước tình cờ gặp anh
Vào vườn trẩy quả cau xanh
Bổ ra làm sáu trình anh xơi trầu
Trầu này têm những vôi tàu
Ở giữa đệm quế, đôi đầu thơm cay
Mời anh xơi miếng trầu này
Dù mặn dù nhạt, dù cay dù nồng
Dù chẳng nên đạo vợ chồng
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương (*)
Đàn ông Việt ít ăn trầu cau, sau này thì hình như không còn. Nhưng đàn ông Đài Loan họ vẫn ăn cau, nhất là trong giới bình dân, lao động. Lên xe Taxi, sẽ thấy họ hay nhai bõm bẽm. Những cô gái bán cau ở Đài Bắc ăn mặc rất thiếu vải để câu khách. Không biết cứ tưởng em là gái đứng đường, nhưng lại là gái bán cau.
Đỗ T. Công
(*) ca dao
(*) hình phụ nữ Việt cả 100 năm trước và những cô gái bán cau ở Đài Bắc