CHÚC MỪNG TÂN CHỦ TỊCH VĂN THƠ LẠC VIỆT LÊ VĂN HẢI
chim bằng chưa mỏi cánh
cánh sắt hết tung hoành
tay bút còn tràn sức
vì văn học xả thân
thay Nguyên tiếp năng lực
giữ Lạc Việt THƠ VĂN
chúc mừng niên trưởng Hải
hồn thơ Việt bỗng bay
rạng ngời nơi hải ngoại
lưu truyền mãi mai sau
Hoàng Mai Nhất
Seattle, WA 23/1/2021
PHÓNG VIÊN CHIẾN TRƯỜNG PHAN TRẦN MAI ĐÃ GÃY CÁNH
KIỀU MỸ DUYÊN
Chiến tranh ở Việt Nam sôi động nhất là vào thập niên 70. Nam ký giả nhà binh thì nhiều, nhưng nữ ký giả chỉ có Phan Trần Mai, thuộc binh chủng Nhảy Dù, sau khi giải ngũ về làm cho nhật báo Trắng Đen. Chúng tôi gặp nhau vào mùa hè đỏ lửa, lúc ở địa đầu giới tuyến, tỉnh Quảng Trị. Phan Trần Mai gầy, khuôn mặt lạnh, ít cười, dáng người nhanh nhẹn, nghe nhiều hơn nói. Sau khi họp báo của phòng hành quân quân đoàn 1, Phan Trần Mai bao giờ cũng chọn đi theo cánh quân Nhảy Dù. Trên ngực áo của Phan Trần Mai bao giờ cũng có phù hiệu của cánh dù bay bay. Mai rất hãnh diện về bằng Nhảy Dù của mình, dù Mai đã rời binh chủng này và làm ký giả cho nhật báo Trắng Đen của ông Việt Định Phương làm chủ nhiệm.
Phan Trần Mai sinh ngày 26 tháng 11 năm 1947. Mai rời Sài Gòn ngày 1 tháng 5 năm 1975, đi xuống Rạch Giá, Phú Quốc và Hà Tiên. Mai rời Việt Nam ngày 12 tháng 5 năm 1975 từ đảo Kim Lương, phía Nam Việt Nam. Mai rời Việt Nam cùng với người chị tên là Phan Cẩm Vân, chị Nguyễn Thị Trương, bạn thân Lý Mộng Vinh và một người bạn là nữ quân nhân Nguyễn Kim Nương, lúc đó là trung úy Hải Quân. Tất cả 5 người con gái vượt biên ra đi. Mai được tàu đánh cá Thái Lan vớt vào bờ ở thành phố Chantabury, Thái Lan. Chánh phủ Thái Lan cho ở trong làng Samae- San. Rồi sau đó qua ở trại Vayama, từ đó bay qua Mỹ.
Ngày 10 tháng 10 năm 1975, Mai đến trại Pendleton, California. Sau đó, Mai về San Jose, được bảo trợ bởi nhà thờ Tin Lành ở Sunnyvale, California.
Phan Trần Mai là nữ ký giả chiến trường Việt Nam duy nhất mà tôi gặp ở vùng 1 chiến thuật. Ban ngày bay ra chiến trận, buổi tối trở về tôi thường đến thăm bệnh viện dã chiến, thăm các thương binh để ghi địa chỉ của anh em. Nếu họ ở Sài Gòn hay Gia Định, tôi chuyển tin tức về tòa soạn, nhờ anh em tòa soạn đem tin đến tận nhà cho các anh em thương binh.
Gặp Mai lần đầu tôi có cảm tình ngay, vì cùng làm việc xã hội. Chúng tôi làm việc miệt mài, chụp hình, viết bài, gởi bài, làm việc xã hội, thăm thương phế binh ở bệnh viện dã chiến,… Làm phóng viên chiến trường không có ngày giờ, không có thời gian nghỉ ngơi. Chúng tôi cảm nhận được sự sống và chết rất gần, cho nên việc gì cũng làm thật nhanh và thật nhanh nếu không sẽ không còn kịp nữa. Ăn cũng nhanh, đi cũng nhanh, chụp hình thật nhanh. Người ký giả chiến trường cũng giống như người lính chiến, chậm một chút có thể không còn mạng sống.
Khi trở về thành phố, Phan Trần Mai và tôi cũng giống nhau là thường xuyên có mặt ở tổng y viện Cộng Hòa, thăm và viết bài về các chiến sĩ từ mặt trận được đưa về bệnh viện này. Tôi viết một bài phỏng vấn thật dài về xe lăn cho nhật báo Hòa Bình, chủ nhiệm là linh mục Trần Du. Bài báo được độc giả hưởng ứng và tặng nhiều xe lăn cho thương phế binh. Ở Sài Gòn lúc đó có nhiều báo nhưng chỉ có 2 tờ báo Công Giáo là nhật báo Hòa Bình và nhật báo Xây Dựng. Nhật báo Xây Dựng do cha Thanh Lãng làm chủ nhiệm.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi mỗi người mỗi ngả. Khi tôi vượt biên đến Los Angeles thì Phan Trần Mai đã đến San Jose. Tôi vừa học, vừa làm cho báo Trắng Đen ở Glandale, sau này đi học lại và làm cho báo Mỹ và báo Người Việt. Học xong báo chí, tôi học địa ốc và mở công ty địa ốc, làm cho tivi và radio.
Tôi và Mai vẫn liên lạc thường xuyên. Chúng tôi gặp nhau ở các đại hội: Cám ơn anh, người thương binh Việt Nam Cộng Hòa, đại hội các nhà văn nữ ở San Jose. Tôi đi thuyết trình ở đại học Berkeley cũng ghé thăm Mai. Mỗi lần gặp nhau, chúng tôi bàn luận nhiều vấn đề. Mai nói Mai đi làm tối tăm mặt mũi vì muốn có tiền để giúp đỡ cho các chị em nữ quân nhân đang trong tù. Mai đưa tôi đi thăm nhà thờ Tin Lành. Mai giúp nhà thờ Tin Lành rất nhiệt tình. Mai nói vì nhà thờ này giúp cho cộng đồng Việt Nam.
Phan Trần Mai rất nhiệt tình với đất nước. Mai tham gia Mặt Trận Kháng Chiến của ông Võ Đại Tôn. Mai hoạt động tích cực và mong muốn Việt Nam thật sự có Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Cho đến khi ông Võ Đại Tôn và các chiến hữu của ông, có người đã hy sinh, có người bị bắt, Mai vẫn tiếp tục cùng các anh chị em còn lại tiếp tục chiến đấu. Khi ông Võ Đại Tôn ra tù, ông tiếp tục đi khắp nơi hô hào đồng bào tiếp tục chiến đấu. Mai tiếp tục giúp cho tổ chức kháng chiến này.
Tôi rất phục tính nhẫn nại và sự cương quyết của Mai, một phụ nữ gan dạ, không hổ thẹn là chiến sĩ nhảy dù.
Mai làm việc không ngừng nghỉ cho đến khi bị bệnh. Chúng tôi vẫn tiếp tục liên lạc với nhau. Mỗi lần đại nhạc hội Cám ơn anh, người chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, Mai đến Orange County rất sớm để đón mọi người về từ các quốc gia khác hay các tiểu bang khác. Các chị em quân nhân rất thương Mai, nhất là Đại Úy Nguyệt, có lẽ cùng binh chủng Nhảy Dù, ngoài ra còn có các chị: Trung Tá Huỳnh Mai, chị Võ Thị Vui, huấn luyện viên nhảy dù, chủ báo Lính. Có một đêm, Mai và tôi đến thăm chị Vui ở viện dưỡng lão Palm Mission, thành phố Westminster.
Vừa vào tới phòng của chị, phòng tối thui, vừa bật đèn, tôi vừa nói:
– Chị Vui ơi, chị ngủ chưa? Phan Trần Mai và Kiều Mỹ Duyên đến thăm chị đây.
Đèn sáng, nhìn vào mắt chị Vui, tôi thấy mắt của chị ươn ướt, có lẽ vì cảm động. Thấy chị Vui nhìn vào chai nước lọc ở đầu giường, Mai đỡ đầu chị dậy và rót một ly nước cho chị. Chị Vui nói chai nước của chị Huỳnh Mai mới đem vào buổi chiều.
Ngày xưa khi còn làm chủ báo Lính, chị Vui có dáng dấp cao lớn của một huấn luyện viên Nhảy Dù. Sau này, chị làm ở phòng xã hội của tổng y viện Cộng Hòa. Nhưng bây giờ, nằm bệnh viện không bao lâu, chị ốm nhom. Nếu người nào lâu không gặp chị sẽ không nhận ra chị.
Khi nghe tin chị Vui mất, Mai lái xe không ngừng nghỉ đến Orange County ngay. Lễ cầu hồn của chị được tổ chức ở nhà thờ Tam Biên. Trước khi chết 17 ngày, chị Vui vào đạo Công Giáo, thánh lễ dưới sự đồng tế của Đức Ông Nguyễn Đức Tiến, linh mục Đỗ Thanh hà, linh mục Trần Cao Thượng,… Trước đó một ngày, Đức cha Mai Thanh Lương có nói với chúng tôi: nếu chị có cần gì thì cho tôi hay.
Mai nhìn hình chị Võ Thị Vui nằm ngủ trong quan tài mà mắt ươn ướt. Lần đầu tiên trong cuộc đời của Mai, tôi thấy mắt Mai ướt. Người chiến sĩ Nhảy Dù có khuôn mặt lạnh lùng cũng có lúc bộc lộ tình cảm của mình.
Thỉnh thoảng, Mai gọi cho tôi. Mai gọi cho tôi thì được, mà tôi gọi cho Mai không được, vì Mai ở trong viện dưỡng lão. Cho đến cách đây vài hôm, tôi nhận được tin nhắn của Nguyễn Kim Nương, bạn thân của Mai, báo tin rằng: Phan Cẩm Phi đã qua đời lúc 3 giờ sáng nay, ngày 11 tháng 1 năm 2021. Tôi sững sờ vì xúc động. Cho đến khi tôi liên lạc với Phan Vĩnh Tuấn, em ruột của Mai, tôi mới biết tên thật của Mai là Phan Cẩm Phi, tên thánh là Anna Maria. Cả nhà Mai đạo Công Giáo, thân phụ của Mai học kiến trúc sư ở Hồng Kông. Thánh lễ an táng sẽ được tổ chức ở nhà thờ Công Giáo.
Khi nghe tin Mai qua đời, tôi nhờ linh mục Anthony Đào Quang Chính cầu nguyện cho Mai. Linh mục Anthony Đào Quang Chính rất được nhiều người nhờ xin cầu nguyện. Ngô Kim Xuân, em ruột nhà văn Ngô Kim Thu ở San Jose, qua đời ở San Diego, linh mục Anthony Đào cũng cầu nguyện. Nhóm từ thiện xã hội ở Washington D.C, trưởng nhóm là nhà văn Tống Mộng Hoa, cũng đã nhờ linh mục Anthony cầu nguyện cho Đức ông Simon Nguyễn Văn Lập, viện trưởng viện đại học Đà Lạt vào ngày giỗ của Đức ông. Hình như vị linh mục này có duyên với nhà văn, nhà báo, nhà giáo thì ở đâu cũng được thỉnh cầu việc linh thiêng này là cầu nguyện.
Người đi đã đi, nhưng tôi vẫn nhớ cánh dù bay bay trên áo của Phan Trần Mai. Mỗi lần Mai về Orange County, trước khi Mai trở lại San Jose, bà Việt Định Phương bao giờ cũng làm thức ăn và pha cà phê cho Mai trên đường về để khỏi đói. Khi ông Việt Định Phương mất, bà Việt Định Phương mất, con trai của ông bà là Thế Phương mất, Mai cũng một mình lái xe từ San Jose đến Orange County để phúng điếu và nhìn mặt người thân lần cuối. Mai sống rất có tình, có nghĩa.
Nhớ khi ký giả Lam Hồng Cúc chết tức tưởi ở rừng núi Pleiku, Mai đã đến đó đưa xác của Cúc về Sài Gòn. Lam Hồng Cúc làm chung tờ báo với Phan Trần Mai.
Trong lúc chiến tranh sôi động, ký giả chết vì tình yêu hiếm lắm, chắc có 1 chứ không có 2. Âu cũng là số mạng của con người?
Khi xác của ký giả Lam Hồng Cúc đem về chùa Xá Lợi, Mai buồn lắm. Ông bà Việt Định Phương, chủ báo Trắng Đen cũng buồn lắm. Phan Trần Mai im lặng không nói một câu nào về cái chết tức tưởi của Lam Hồng Cúc. Sau này hai chị em gặp lại, Mai có nói:
– Vì tình yêu bỏ mạng có đáng không? Có đáng không? Có đáng không?
Vào thập niên 60-70, nữ ký giả không có bao nhiêu, phải nói là rất ít nhưng mối tình sôi động ít xảy ra, nhất là ký giả chiến trường. Đến chiến trường lấy tin tức rồi đi, từ chiến trường Quảng Trị đến cao nguyên Trung phần, rồi đến miền Tây, Cao Miên, hay Hạ Lào,… Với lại, ra chiến trường người lính chiến lo mạng sống của mình, đâu có thì giờ ngó đến nữ ký giả chiến trường?
Phan Trần Mai khuôn mặt lạnh, ít nói, lúc nào cũng giữ khoảng cách giữa nam và nữ, nên tình cảm lãng mạn ít xảy ra như trong tiểu thuyết. Lúc còn học trung học, nhất là học ban văn chương, chúng tôi đọc những chuyện tình lãng mạn của Pháp, đẹp tuyệt vời. Chẳng hạn như trong truyện Chiến Tranh và Hòa Bình, một chàng ký giả chiến trường gặp một cô gái tị nạn trong nhà thờ. Hai người yêu nhau, chàng hứa sẽ trở lại sau chiến tranh. Nhưng than ơi, khi chàng trở lại, thì linh mục chánh xứ đưa chàng thăm nàng ở nghĩa trang sau nhà thờ. Nàng không còn tiếng nói nữa vì sự nhớ nhung đưa nàng đến tuyệt mạng. Những mối tình đẹp là những mối tình không có đoạn kết, người ra đi và người ở lại với sự nhớ nhung mòn mỏi,…
Nói về việc làm xã hội, những đứa trẻ mồ côi sau cuộc chiến (cha mẹ chết để lại các em bé bơ vơ thì nơi nào cũng có),… thì Phan Trần Mai nói hoài không hết, nhưng nói về tình cảm riêng tư thì tôi không bao giờ nghe Mai nói tới. Sau này, khi tị nạn ở Hoa Kỳ, Mai vẫn đam mê kháng chiến và ao ước về chiến khu chống Cộng Sản. Khi nói về kháng chiến, mắt Mai sáng rực, người chiến sĩ Nhảy Dù Phan Trần Mai lúc nào cũng mang tâm tư của một chiến sĩ của binh chủng thiện chiến Nhảy Dù.
Phan Trần Mai rất thân với trung úy Nguyễn Kim Nương. Nương tị nạn đến San Jose ở cùng nhà với Mai. Nhưng sau này, Nguyễn Phi Hoàng ở tiểu bang miền Đông đến đón Kim Nương về miền Đông và làm đám cưới. Chúng tôi gồm Mai, Nương, tôi và bà Jackie Bông, phu nhân của giáo sư Nguyễn Văn Bông, viện trưởng viện đại học Quốc gia hành chánh, cùng làm việc trong hội từ thiện quốc tế, hội này từ Anh. Chúng tôi gắn bó với nhau, gặp gỡ thường xuyên khi cùng làm việc trong hội từ thiện quốc tế này. Chúng tôi gọi bà Jackie Bông là cô Bông, vì tôi học Dân luật với giáo sư Nguyễn Văn Bông ở đại học luật khoa. Khi giáo sư Bông ở Pháp về, đời sống sinh viên rất vui, hồn nhiên chỉ biết làm việc và làm việc. Làm việc tối tăm mặt mũi, nhiều khi cả ngày không ăn, rất đỗi bình thường. Cô Bông du học về, đời sống của cô rất thoải mái. Cô làm giám đốc hội Việt Mỹ, cô dạy Anh văn. Cô học ở Anh, thầy Bông học ở Pháp, hai người gặp nhau tại một đám cưới ở Pháp. Sau đó họ kết hôn, thật là vui, nhân gian thì cho là tình cờ, nhưng tôi tin đó là duyên số.
Giáo sư Nguyễn Văn Bông bị ám sát chết. Sau này định cư ở Mỹ, cô Bông tái hôn với ông Lacy Wright, ngày xưa làm tổng lãnh sự Mỹ ở Cần Thơ. Sau này, ông là quyền đại sứ Hoa Kỳ ở Jamaica, phó Đại Sứ ở Bristle, và nhiều chức vụ quan trọng khác. Đi đến đâu, cô Bông cũng làm việc xã hội. Cô quan tâm nhất đến những đứa trẻ mồ côi. Mai và tôi liên lạc thường xuyên với cô Jackie Bông. Mỗi lần họp hội phụ nữ văn chương thế giới ở San Jose, hay đại nhạc hội Cảm ơn anh, người lính Việt Nam Cộng Hòa ở San Jose, Mai luôn là người đưa đón chúng tôi. Lúc đó thật là vui. Chúng tôi thức rất khuya để bàn đủ thứ chuyện, nhất là chuyện quê hương.
Thức khuya mà phải dậy sớm. Sáu giờ sáng, tôi gõ cửa từng phòng, gọi từng người thức dậy để tập Hoàn Nhiên Khí Công. Vui quá, nhưng mà bây giờ thì người mất người còn, chị Võ Thị Vui đi, chị Nguyễn Thị Hạnh Nhân đi, giờ đến Phan Trần Mai cũng đi,..
Phan Trần Mai trong binh chủng Nhảy Dù nhiều năm, nhưng giọng nói lúc nào cũng nhỏ nhẹ, dễ thương. Gia đình Mai có tất cả 9 anh chị em. Hai chị gái của Mai cũng vậy, không bao giờ tôi nghe Hoa, Vân, anh Hai, anh Cả của Mai lớn tiếng.
Cẩm Phương, đang ở Ohiwa, em ruột của Phan Cẩm Phi vừa kể vừa khóc:
– Năm 1967, em bị trúng đạn. Chị Phi lến bệnh viện Cộng Hòa xin máu cứu em. Chị Phi chở Tuấn cùng đi, chị cứu sinh mạng của em. Chị Phi hy sinh cho em nhiều lắm chị ơi. Em bị trúng đạn trên chiếc xe lam. Máu chảy ướt hết người em. May mắn, chị Phi xin được máu cứu em, nếu không thì cánh tay của em phải bị cưa rồi. Tạ ơn Chúa, cảm ơn chị Phi đã cứu em. Chị thương em rất tận tình. Em thương chỉ quá chị ơi.
Phương khóc nức nở, tiếng khóc càng thê thảm hơn khi Phương kể về Phi. Chị Phi thương tất cả mọi người. Người lính đó vô tình chạm vào súng, chẳng may, đạn nổ trúng vào Phương, chứ không phải cố ý.
Lúc đó, Tuấn khoảng 10 tuổi, ngồi sau lưng chị Phi trên chiếc xe gắn máy, tay ôm bình máu. 10 giờ đêm, từ bệnh viện Cộng Hòa về nhà thương Sài Gòn.
Tôi nói với Cẩm Phương:
– Chị đến Florida họp và ở nhà của Cẩm Anh và bác sĩ Thụ. Chị không biết Cẩm Anh ngày xưa là dì phước khi Việt Cộng đóng cửa nhà dòng và đuổi tất cả các nữ tu ra khỏi nhà dòng.
Sau này, Cẩm Anh thành hôn cùng bác sĩ Thụ. Bây giờ, Cẩm Anh cũng đã về với Chúa.
Tiếng khóc của Cẩm Phương rất não nùng làm cho tôi muốn khóc theo. Trong tất cả anh chị em, có lẽ Phan Vĩnh Tuấn là người bình tỉnh nhất. Tôi không nghe tiếng khóc của Tuấn. Đàn ông thường rất bình tỉnh, nhưng sau đám tang, họ sẽ khóc một mình.
Tuấn nói với tôi:
– Chị Phi đi nhẹ nhàng, ba ngày không ăn mà chết. Chị đi vào nhà thương chuẩn bị về nhưng sau đó không ăn được mà chết.
Tuấn nói về chị của mình với sự xúc động, chị Phi ra đi một cách êm ả.
Bây giờ, Phan Trần Mai đã ra đi, đi mãi mãi, nhưng hình ảnh một người nữ quân nhân binh chủng Nhảy Dù vẫn còn đây, ở trong lòng của những người thương mến Mai, hỡi nữ quân nhân binh chủng Nhảy Dù.
Xin quý đồng hương một lời cầu nguyện chân thành cho một ký giả chiến trường suốt đời giúp đỡ người khác. Cầu cho linh hồn Anna Maria Phan Cẩm Phi sớm được hưởng nhan Thánh Chúa. Amen.
Orange County, 19/01/2021
KIỀU MỸ DUYÊN
(kieumyduyen1@yahoo.com)
Ký giả Phan Trần Mai trong bộ quân phục Nhảy Dù
Ký giả Phan Trần Mai trong đại nhạc hội Cám ơn anh người chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa
Người thứ nhất bên phải: Ký giả Phan Trần Mai trong bộ quân phục Nhảy Dù, trong đại nhạc hội Cám ơn anh người chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa
Người thứ nhất bên phải: Ký giả Phan Trần Mai trong bộ quân phục Nhảy Dù, trong đại nhạc hội Cám ơn anh người chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa
Từ phải qua: người thứ hai, ký giả Phan Trần Mai, với cánh dù trên tay
Từ trái qua phải: Bà Jackie Bông và ký giả Phan Trần Mai thăm văn phòng Ana Real Estate của Kiều Mỹ Duyên
Lệ Thu ơi, chào bạn
Khánh Ly
Đà Lạt 1963
Tôi đã ở đây gần một năm. Đà Lạt thời gian này còn hoang sơ, sạch sẽ và êm ả. Mừng vì có việc làm. Được hát và có tiền. Lại nữa gia đình bên nội của con tôi cũng có cơ ngơi ở đây. Tôi có chỗ nương thân. Tôi quên mau những ngày tháng Sài Gòn đèn xanh, đèn đỏ. Tôi quên ngôi nhà có bà nội với tiếng đọc kinh rầm rì mỗi đêm. Quên cái buồng trống trên hở dưới trên dòng kinh nước đen như mực bên chợ Đa Kao. Căn buồng có chiếc giường mà nằm xuống là tôi có thể thấy mông của người nào đó vừa ngồi. Sài Gòn chỉ là thoáng nhớ mơ hồ trong tôi. Không vui, không buồn, không chờ mong. Tôi chẳng có gì, chẳng có ai để nhớ.
Rất tình cờ tôi gặp lại Anh. Anh là người tôi đã gặp ở phòng trà Anh Vũ đường Bùi Viện bây giờ. Anh có vẻ ngạc nhiên, thích thú khi thấy ở đâu ra một con bé quê ệch mà lại biết và hát Chiều vàng (Nguyễn Văn Khánh), Con thuyền không bến (Đặng Thế Phong)... Anh bảo tôi đừng bao giờ quên nụ cười. “Vì nó sẽ mở ra cho em nhiều cánh cửa”, anh nói. Tôi thích Anh. Nhưng Anh thì không.
Chúng tôi đi bên nhau trên con đường đất nhỏ. Anh ôm vai tôi như ôm một đứa em trai và nói: “Này Mai. Về Sài Gòn đi em nếu em muốn đeo đuổi nghề này”. “Em không về đâu. Anh biết đó. Về Sài Gòn em sống làm sao. Nhà không. Tiền không. Việc làm không. Sài Gòn không có chỗ nào cho em”. “Vậy em có gì ở đây? Về Sài Gòn em sẽ có nhiều cơ hội khá hơn”.
Anh nói thêm: “Hiện nay có một ca sĩ mới nổi, hát bài Tiễn em (Phạm Duy – Cung Trầm Tưởng) hay lắm. Em có nghe Lệ Thu hát bao giờ chưa?”. “Em không biết. Em ở trên này làm sao mà nghe”.
Tôi chia tay Anh và mau chóng quên những gì Anh vừa nói về Lệ Thu. Tên của cô ca sĩ đó không gợi cho tôi một chút nhớ gì. Mấy năm sau tôi mới biết Lệ Thu chính là cô bé đã khóc sau khi hát một nhạc phẩm của Lam Phương, lúc chúng tôi cùng trong ban Hoa Xuân.
Tôi chắc Lệ Thu không nhớ đến con bé đen đủi đã chủ động đến hỏi han rồi tự giới thiệu: “Đằng ấy là Lệ Thu, còn tớ là Lệ Mai”. Bấy giờ, cô ấy đã là một tên tuổi được chú ý, được đánh giá cao. Chưa thể nào bằng Lệ Thanh, Thanh Thúy, nhưng Lệ Thu chen chân được ở đất Sài Gòn này cũng được coi là hay lắm rồi. Trong khi tôi vẫn chỉ là một bé con ngây ngô, nhút nhát chỉ muốn mãi mãi bám lấy Đà Lạt và coi như thế là nhất.
Khánh Ly (phải) bên Lệ Thu trong bức ảnh cuối cùng bên nhau vào tháng 11/2020. Khánh Ly sinh năm 1945, Lệ Thu sinh năm 1943. Ảnh: Jimmy Nhựt Hà.
Lệ Thu và tôi có một tình bạn không thân không sơ, lúc gần lúc xa trong suốt nửa thế kỷ. Tình bạn chúng tôi không hoàn toàn êm ấm, có thể có những điều không ưng ý nhau. Nhưng chúng tôi đã cùng trải qua vui buồn nửa thế kỷ. 50 năm. Ôi, một đời người thử hỏi được mấy lần 50 năm.
Khi tôi vẫn làng nhàng trong giới sinh viên học sinh quân đội, Lệ Thu đã là “bà hoàng” của vũ trường, là tiếng hát sang cả của một tầng lớp quý tộc khoa bảng, những người nhiều tiền. Họ yêu tiếng hát Lệ Thu bởi chất giọng lành lạnh, kiêu kỳ. Tiếng hát của đỉnh cao vực sâu. Tiếng hát sắc lạnh như một vết chém. Dứt khoát. Không nương tay. Vết chém ngọt ngào.
Nhiều lần hát chung, đứng bên cánh gà nhìn ra, tôi bồn chồn xốn xang nghe Lệ Thu hát, nghe những tràng pháo tay như sấm rền dành cho chị. Chưa đến lượt mình, tôi đã muốn tắt giọng. Đành là hồn ai nấy giữ, nhưng đứng trước Lệ Thu, tôi không còn một miếng tự tin nào.
50 năm tình bạn, có lần tôi cũng nói xấu nàng. Tôi đã kể cho mọi người nghe chuyện chị ta làm biếng nấu cơm, rồi còn kể lể nào là vì là con một nên không biết nấu ăn, nào là do đẻ thiếu tháng nên được gia đình làm cho hết.
Khoảng 20 năm trước, trong một lúc cao hứng tôi hứa sẽ kho cá cho nàng. Lời hứa thì phải ráng giữ. Nhưng rồi vì bận chồng con, tôi quên. Thu không nhắc suốt 20 năm. Cách đây chừng ba tháng, tôi kho một nồi cá xong rồi chia cho bà con. Nhờ Jimmy đưa hộp cá kho cho Thu. Nàng kinh ngạc vì chính nàng cũng không nhớ lời tôi hứa.
Tháng 11/2020, một chương trình ở Mỹ mời cả hai quay chung. Lệ Thu và tôi đều quý cậu dẫn chương trình, lại được dịp hội ngộ, chúng tôi đồng ý ngay. Quay xong, vừa coi, Quang Thành hét tướng: “Hai cô trang điểm xấu quá, không được, phải quay lại”.
Dù có tuổi phải giữ hình ảnh đẹp nhất trước công chúng chứ. Tôi thì dễ, quay lại thì quay, nhưng mọi người ngại nhất là “giọng ca vàng mười” Lệ Thu. Nàng vốn làm việc đâu ra đó, bỏ đi làm lại biết nàng có đồng ý, có thời gian không. Ấy vậy mà nàng đồng ý ngay mới lạ. Ngày quay, Jimmy đến đón tôi, rồi hai cô cháu tới đón chị Lệ Thu tại nhà riêng của chị đường Bolsa. Cả ba thẳng tiến phòng thâu. Đúng lúc chuẩn bị ghi hình, Lệ Thu hét tướng: Áo dài đâu rồi? Áo ở đâu ai biết. Thì ra, nàng để quên ở nhà. Cả đám nhìn nhau cười. Thằng bé Jimmy phóng như bay về nhà Lệ Thu lấy áo.
Ai biết được đó lần cuối chúng tôi gặp nhau. Ai biết được ký ức cuối cùng chúng tôi giữ về nhau chỉ là câu chuyện nhỏ như thế.
Lệ Thu đã bỏ đi. Lần trước quên áo. Lần này quên lời hứa với tôi, với Quang Thành. Lời hứa một tour xuyên Việt cho chương trình Vòng tay Nhân ái vào mùa hè tới ở Việt Nam. Nhiều người cho rằng hai cô ca sĩ này có ưa nhau bao giờ. Mọi người không biết rằng: Đối thủ của nhau lại chính là tri kỷ của nhau đấy chứ.
Thu ơi. Tôi nhớ Thu lắm. Mọi người nhớ Thu. Thương tiếc Thu. Cả một đời, Thu hát cho người. Giờ Thu mang theo tiếng hát ấy đi, mang theo nụ cười ấy. Thu đi nhé. Chào bạn.
Nhân lần Lam Phương ra đi, nghĩ về những kẻ viết nhạc bằng máu lệ người Nam
Dẫn nhập: Trong hơn năm mươi năm (từ 1968) xử dụng chữ nghĩa, tôi hầu như không đề cập đến người và việc của giới ca nhạc, cho dẫu đã tham dự sinh hoạt ca hát trong phong trào Hướng Đạo mà những ca khúc yêu nước, nhạc thanh thiếu niên của thập niên 1940, 1950 là chất men nuôi dưỡng, phát triển, gìn giữ nên tâm chất của bản thân cũng như thế hệ chúng tôi từ năm tháng xa xưa kia cho đến hôm nay. Chỉ một lần duy nhất năm 1972, do thân quen với Trần Thiện Thanh qua những người bạn lính trong đơn vị nhảy dù (điễn hình với Trần D. Phước, Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù, danh hiệu truyền tin “Phước Thiện -Tên hai người ghé lại”, tử trận cuối năm 1969 tại Tây Ninh, và lần người niên trưởng Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo tử trận tại Cao Điểm Charlie, Kontum (12/4/1972), nên mới cộng tác với Nhật Trường thực hiện CD ca nhạc: “Người Ở Lại Charlie” do Trung Tâm Tiếng Hát Đôi Mươi của TTT sản xuất. Năm 2005, tại hải ngoại lập lại thêm một lần cũng với “Người Ở Lại Charlie” trong DVD ASIA 50 kỷ niệm Nhật Trường với lời hát và âm nhạc vĩnh cửu Anh Không Chết Đâu Anh. Sự thiếu vắng “Nhạc Tính” nơi những nội dung sáng tác dài lâu từ 1968 của tôi đã được một người bạn, anh Phg “râu”, (chuyên trình diễn ca nhạc tài tử từ Đà Lạt trước 1975 nay ở San José, California) tinh tế nhận xét và nói lên lời bình phẫm. Và tôi cùng đánh chấp nhập sự thiếu sót nầy với cách giải thích rất nhiều thành thật (cũng có phần hài hước): Đi lính năm 17 tuổi, chỉ có hai cái bằng Nhày Dù và Biệt Động Quân, nên cao lắm là biết violon làn đàn để trên vai (như Hg Th Thao) và guitar thì ôm trong tay (như TTT)! Sự thiếu sót trầm trọng kia sau 1975 khi đi tù mới vỡ ra.. Đêm Giao Thừa 1975 qua 1976 không hẹn mà tất cả trại tù nơi Miền Nam đồng cất tiếng Việt Nam! Việt Nam tên gọi vào đời! Và “Ta như nước dâng dâng hoài không bao giờ tàn…” Cuối cùng dần chuyển qua một cách rất có ý thức.. Cờ bay! Cờ bay… Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu Tiếng hát dũng mãnh phơi phới bay cao, vượt qua chấn song sắt trại giam, bất chấp sự đe dọa đòi bắn bỏ của đám vệ binh cộng sản Miền Bắc. Và sau 1976 nơi những trại tù Miền Bắc, hàng ngàn con người đói khổ, tuyệt vọng đã đồng bặt im lặng, nghẹn thở khi nghe âm vọng từ cây đàn tự chế dạo lời hát trầm buồn thăm thăm.. Mẹ ơi! Xuân nầy con không về.. Ôi biết ra thì đã quá muộn! Hóa ra đã quá vô tâm sau bao nhiêu năm trước 1975 người Miền Nam/Người Lình Miền Nam đã được tặng hiến hàng hàng chuỗi minh châu, ngọc kết, được an ủi, nâng đở bởi vô vàn tiếng hát lời ca từ Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang, Lê Minh Bằng, Trầm Tử Thiêng, Trịnh Lâm Ngân, Nhật Trường, Duy Khánh, Hoàng Anh, Ngọc Minh.. Và chung cho tất cả là Lam Phương như một ngọn lửa ấm áp mà người nông dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đốt lên trên cánh đồng đất ẩm mùi phù sa trãi dài mênh mông tận chân trời sau mùa mùa lúa mới gặt xong, chất lên những rơm khổng lồ nằm im lặng dưới trăng.. Hò lơ..hò lơ.. Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát. Biết ra thì đã quá muộn màng. Xin cho lời Ân Tạ như một cách xin lổi, hàm ân.
Một. Ngày 30 Tháng 4 năm 1975 là một biến cố vô cùng lớn lao đối với tất cả các giai tầng xã hội Nam Việt Nam. Tuy nhiên trong số đông người Việt miền Nam hiện có mặt khắp nơi trên thế giới hôm nay có thể nói văn nghệ sĩ miền Nam là tập thể phải hứng chịu cơn chuyển đổi mạnh mẽ sâu xa nhất. Bởi khả năng nghệ thuật, tri thức nghề nghiệp của họ khó phát triển được nơi xứ lạ mà trở ngại cụ thể trước tiên là không thể nào vượt qua hàng rào ngôn ngữ dù cố gắng cải tiến tới đâu. Điễn hình như bộ môn cải luơng không cách gì chuyển sang tiếng ngoại quốc. Tuy nhiên, tập thể nghệ sĩ người Việt ra đi từ miền Nam vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển với những sáng tác của họ trong rất nhiều lãnh vực sau cuộc đổi đời khốc liệt 1975. Cụ thể là Nhạc Sĩ Lam Phương với những khúc hát đã một thời vang dội khắp miền Nam mà dẫu sau 45 năm (từ 1975), tiếng nhạc của người nghệ sĩ thuần hậu chân chính nầy vẫn tiếp tục tồn tại như thanh âm bất diệt của đất, nước, con người Miền Việt dù cách biệt bao xa, dù đã bao lâu.
Cần trở lại từ đầu, ngày còn rất trẻ khi chưa đến 20 tuổi, Lam Phương đã dựng nên Khúc Ca Ngày Mùa (KCNM).. Đây là một bức tranh toàn bích về đời sống thanh bình, tươi sáng, hạnh phúc của nông thôn miền Nam sau 1954.. Bài hát đã vang dội khắp xóm làng, thành phố, nơi quán hàng, rạp chớp bóng, nhà ga, bến xe, bến bắc.. Nghĩa là nơi đâu có người hát và người nghe nhạc.. Thật kỳ lạ, vì người nhạc sĩ đã tạo dựng được cảnh tượng thôn dã sống động ấy khi đang sống tại Đa-Kao, Sàigòn trong một khu lao động lầy lội! Chúng ta không nói lời xưng tụng quá đáng, vì KCNM đã trở thành một bài hát của người Miền Nam và là cảnh sắc Miền Nam chứ không phải của một nơi nào khác. Và điều cảm động hơn hẳn là LP không chỉ là người tài hoa chuyên miêu tả cảnh sắc đồng quê như qua KCNM, mà ông còn là một nghệ sĩ với tâm chất sâu lắng thắm thiết qua bản Kiếp Nghèo và một người đã nghệ thuật hóa sự kiện chính trị lần chia cắt đất nước năm 1954 với nhạc phẩm Chuyến Đò Vĩ Tuyến dẫu không hề có sinh hoạt chính trị, thời sự – Đây là hai ca khúc có cấu trúc nhạc kỹ thuật cao với lời ca giàu cảm tính nghệ thuật mà ông đã sáng tạo nên vào lúc tuổi còn rất trẻ trong khu xóm nghèo ở Sài Gòn với thực tế hoàn toàn thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần, tâm lý..
Hai.Biến cố 30 Tháng 4, 1975 đối với một số người có thể chỉ gây tác động bình thường tương đối, nhưng chắc đã quá lớn lao tàn nhẫn đối với một nghệ sĩ như Lam Phương, người nghệ sĩ có tâm chất vô cùng nhạy cảm hiện thực qua hơn 200 tác phẩm (mà đúng ra là 217 theo như tài liệu thống kê) đề cập đến tất cả tình huống, cảm xúc, tâm trạng của con người trong cuộc nhân sinh. Con người bình thường, nhỏ bé như tất cả chúng ta giữa cuộc sống khốc liệt của chiến tranh khởi động từ người, đảng cộng sản Hà Nội dài theo hậu bán Thế Kỷ 20 qua những biến cố 1954, 1968, 1972, 1975 và cao điểm là cảnh nước mất nhà tan lần sụp vỡ Miền Nam, 1975. Trong một bài báo phổ biến trước đây, nhà báo chuyên về sinh hoạt sân khấu âm nhạc Trường Kỳ đã một lần đề cập đến tâm lý bi quan, u uất của LP từ thuở hàn vi khó nhọc đến lúc thành nhân, thành công trước 1975, càng hiện thực hơn sau 1975 nơi hải ngoại.. Phải chăng dẫu đang lúc thành công rực rỡ nhất kéo dài trong hai thập niên sau 1954 đến 1975 ấy, LP đã linh cảm nỗi bi thảm không phải chỉ riêng cho cá nhân ông mà chung cho cả miền Nam, với hết Việt Nam. Điều nầy phản ảnh cụ thể qua những ca khúc có chủ đề “CHIỀU” chiếm một số lượng lớn rất rõ nét.. Cụ thể như bài nhạc đầu đời, Chiều Thu Ấy, và những bài sau 1975 như Chiều Hoang Đảo, cho dẫu Chiều Hành Quân trước 1975là bản nhạc nói về cuộc tình của Người Lính Miền Nam.. Tất cả những buổi chiều trong cấu trúc nhạc của Lam Phương đều mang hình tượng của những buổi chiều chia ly, tan vỡ, nhạt nhòa.. Điễn hình cụ thể nhất là Chiều Hoang Vắng vớinhững hình ảnh xa xót như:Có những chiều mưa buồn giăng giăng khắp lối. Có những chiều giá lạnh tím cả hoàng hôn. Tôi đi qua thôn xa heo hút lưng đèo. Rừng cây hoang vắng tiêu điều.. Với cảm tính nghệ sĩ cao độ, ông đã thấy trước những buổi chiều tàn tạ của quê hương, chiều hấp hối kiệt cùng của đất nước từ cuộc đổi đời khốc hại sau 30 Tháng 4, 1975! Chiều Tây Đô của Cần Thơ sau 1975 là điễn hình rõ nét với tính bi kịch cao độ về lần tan vỡ quê hương Miền Nam qua câu hỏi xa xót cay đắng: Bao năm giải phóng như thế nầy phải không anh?
Với hơn 200 nhạc phẩm, LP đã đề cập hết tất cả những gì con người đã sống qua hạnh phúc lẫn khổ đau trong cuộc đời vô vàn nầy.. Mà theo như cảm quan thông thường, giới thưởng ngoạn xếp hạng những nhạc sĩ vào một thứ hạng chung nhất dễ phân loại như Vũ Thành An, Từ Công Phụng chuyên về tình ca; Trầm Tử Thiêng nghiêng về các vấn đề xã hội.. Nhưng quần chúng yêu nhạc LP hầu như đều băn khăn trước hằng hà tác phẩm của ông mà khó định hình, xếp hạng vào một thể loại nhạc nhất định. Điều nầy thể hiện qua sự kiện: Là một người miền Nam thuần chất nên ông vẽ lại đủ cảnh tượng thôn quê miền Nam trong KCNM là một điều dễ hiểu, hợp lý.. Nhưng tại sao, từ đâu ông lại viết nên Tình Cố Đô với những ca từ vô vàn thắm thiết: Buồn nhìn về xa xôi, Hà Nội ơi đã xa thật rồi. Mịt mùng ngàn trùng khơi, thành phố cũ lắng sau núi đồi. Đâu Thăng Long năm xưa, cùng tháp cũ rêu phai mờ. Còn tìm đâu nên thơ, cành liễu úa rũ bên ven hồ..Cũng bởiNhạc Sĩ Anh Bằng chỉ có thể viết nên lời xúc động: ”Tôi xa Hà Nội.. do đã hứng chịu cảnh chia ly của năm 1954, còn Lam Phương hoàn toàn không liên hệ với nơi chốn Hà Nội kia, cũng không mảy may dính dấp đền cuộc chia ly không hề có. Thế nên, quả là một điều bí ẩn kỳ diệu mà chỉ từ tấm lòng thuần hậu, thắm thiết của một (Thật) Nghệ Sĩ mới cấu tạo nên những ca từ chân thực và cấu trúc nhạc tuyệt vời như thế kia.
Cũng thế, chỉ từ một tấm lòng chân chất mến thương mới cảm nhận đủ Nỗi Đau qua lần chia ly Người Mẹ kính yêu, nên LP mới viết nên lời rất đỗi chân thành trong Khóc Mẹ – Người Mẹ Việt Nam với nỗi hy sinh thầm lặng vô bờ mà các nhạc sĩ Thu Hồ, Y Vân mới viết nên lời xưng tụng ân tạ. Cũng thế, chỉ từ Người Con-Lam Phương mới viết nên những giòng Khóc Mẹ cảm xúc.. Cát bụi này mẹ vừa yên thân. Sau bao năm nước mắt chảy xuôi. Con ra đi trong giờ mẹ hấp hối. Để muôn đời (con) thành kẻ vong ân.
Không được có mặt với mẹ trong lần ra đi lần cuối, biến động 1975 còn giáng xuống đời ông sự mất mát tình cảm ngang trái – Không phải là tình cảnh riêng của gia đình Nhạc Sĩ Lam Phương mà cũng là đỗ vỡ chung của rất nhiều gia đình khác do từ lần đổi thay tàn nhẫn 1975. Tuy nhiên cuối cùng cuộc đời vẫn không phụ kẻ có lòng, sau lần chịu đựng khổ nạn chung với toàn dân tộc, gánh riêng cảnh ngang trái trong cuộc sống tình cảm cá nhân, gặp phải tai nạn bệnh tật.. Nhạc Sĩ Lam Phương vẫn là, luôn là đối tượng thương yêu quý trọng của toàn gia đình gồm những người em với danh tính Anh Hai vô cùng kính mến. Ông vĩnh hằng là Nhạc Sĩ Lam Phương của Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, những người lớn lên, ra đi từ Miền Nam.. Những người đã cùng ông chia xẽ Nắng Đẹp Miền Nam, đã sống trong những con hẻm đường về đêm nay vắng tanh nơi Đa Kao, Phú Nhuận.. Những người đã cùng ông lắng nghe đêm Sàigòn mưa rơi tí tách..
Thưa cùng Nhạc Sĩ Lam Phương, xin nhận lời ân tạ chân thành của chúng tôi, thành phần người Miền Nam, Người Lính Cộng Hòa đã cùng ông gánh chịu cơn Thật Chết Với Quê Hương khi bầy đàn cướp nước “Tiến về Sàigòn ta quyết diệt giặc thù.. “, những kẻ gọi là “giải phóng” đến từ Miền Bắc, từ đầm lầy bưng biền Miền Nam. Vĩnh biệt nha Anh Hai!
Kết Từ. Bài viết như trên thoạt tiên nghĩ rằng tạm đầy đủ để nói về Lam Phương, nhưng nhân có sự kiện sau đây liên hệ đến với một thành phần viết nhạc nơi Miền Nam khác, chúng tôi xin kể ra để làm sáng tỏ hơn tư cách nhân hậu cao thượng của Lam Phương. Tháng 11 năm 2019 trên diễn đàn văn học của Đài VOA có phổ biến nhận định của ký giả Mặc Lâm như sau.. “Có những câu nói bị xua đuổi, những câu nói bị phỉ nhổ, và cả những câu nói bị cho là thiểu năng nhưng khi ông nhạc sĩ Trần Long Ẩn nói nền Văn Học Nghệ Thuật của Miền Nam đáng bị “đóng đinh” thì nó trở thành câu nói bị khinh bỉ nhiều nhất từ xưa tới nay! Chuyện gì đã xẩy ra đối với một người gọi là “nhạc sĩ Trần Long Ẩn”, mà quả tình chúng tôi, người lính Miền Nam lần đầu tiên mới nghe đến tính danh, 2019. Ký giả Mặc Lâm giải thích tiếp: Sự khinh bỉ (đối với Ẩn-Pnn) đến từ người dân cả hai miền Nam-Bắc, từ cán bộ (Cộng sản-Pnn) đến nhân viên (Trong nước-Pnn) quèn trong công sở, từ thị dân tới người nông phu căng mình dưới ruộng bởi nó dính liền tới ý thức cảm nhận cái đẹp của con người. Đọc thêm những bài viết khác, chúng tôi dần hiểu ra câu câu chuyện.. Nguyên Trần Long Ẩn là một người gốc ở Bình Định năm 1966 vào Sảigòn theo học Đại Học Văn Khoa. Những Ẩn không học văn khoa mà lại vào khu theo cộng sản; năm 1970 Ẩn được đưa ra Hà Nội học nhạc lý theo tinh thần và nội dung xã hội chủ nghĩa. Sau 1975, Ẩn về Nam viết những ca khúc có tên Tình Đất Đỏ Miền Đông, Đi Qua Vùng Cỏ Non, Một Đời Người Một Rừng Cây..để ca ngợi lần toàn thắng cuộc chiến cướp nước của lực lượng cộng sản Miền Bắc có tiếp tay đắc lực/tối thậm vô nghĩa của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tóm lại, thành tích của Ẩn là hành vi trả ơn đối với Đảng Cộng Sản của một văn công (hạng thừa hành) mà ngay chính những kẻ có lương tri, lương năng tối thiểu cũng đồng im bặt.. Cho dù kẻ ấy là loại văn công được trả giá cao của chế độ Hà Nội như Văn Cao, Phạm Nhuận.. hoặc trong lãnh vực văn học như Chế Lan Viên, Tô Hoài.. Nhưng tại sao Ẩn “..tỏ ra cay cú đến gần như mất trí khi nói đến nền Văn Học Nghệ Thuật của vùng đất (của Miền Nam/VNCH-Pnn) mà trước đây ông ta được nuôi lớn lên, được học hành tới nơi tới chốn ngay giữa lòng Sài Gòn (Mặc Lâm ibid). Bài viếtcủa một tác giảtrong nước nói rõ “sự cay cú như mất trí của Ẩn” có nguyên nhân là do:Trong Hội nghị giao ban Quý III/2019 của Hội Đồng Lý Luận Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật TP.HCM, ngày 10/11 ông Trần Long Ẩn cho biết: “Chúng tôi đề xuất phải hết sức thận trọng với trang sử đen tối của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là bị xâm lược. Văn học, nghệ thuật độc hại của nó (của VNCH-Pnn) xuyên tạc đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ở miền Nam và hiện nay không thể tẩy xóa. Tại hội nghị của Hội Đồng Lý Luận Phê Bình nầy, Ẩn kêu gào.. “..phong trào cách mạng ở miền Nam (trước 1975-Pnn) trong văn học, nghệ thuật rất dữ dội, rất lớn thì (LẠI-Pnn) không biểu dương, không tôn vinh, không học tập, không nhân rộng mà lại đòi xóa nhòa không còn khái niệm âm nhạc cũ trước giải phóng (Âm nhạc Miền Nam/VNCH-PNN) nữa”. A hóa ra là vậy, tức là Người Miền Nam (cũng bao gồm người Miền Bắc) không hát, không nghe thứ gọi là “nhạc giải phóng, nhạc cách mạng” trong đó có những bài hát “nổi tiếng” của Ẩn, của một văn công thứ cấp gọi là “nhạc sĩ Năm Ẩn”.
Thế nên, coi như Năm Ẩn không hiểu, không nhận ra sự vất bỏ của quần chúng đối với “tác phẩm: âm nhạc của đương sự, chúng tôi từ tinh thần khách quan của người ngoài giới nghệ thuật sân khấu âm nhạc, cũng từ tinh thần đơn giản của Người Lính Miền Nam có nhận định sau đây căn cứ từ một bài hát “nổi tiếng/nổi tiếng nhất” của Ẩn: Một Đời Người Một Rừng Cây..Khi nghĩ về một đời người. Tôi thường nhớ về rừng cây… Và rừng sẽ lên xanh rừng giữ đất quê hương! Xin hát về bạn bè tôi. Những người sống vì mọi người. Ngày đêm canh giữ đất trời..Trích dẫn về nhạc và lời của “nhạc sĩ Năm Ân” đến đây coi như đủ để hỏi về một điều cụ thể: Nầy Năm Ẩn (tên phổ thông của Ẩn ở Thành Ùy TP?HCM-Pnn) anh hãy chỉ cho chúng tôi “MỘT NGƯỜI/MỘT NGƯỜI THÔI HẲN ĐỦ/MỘT NGƯỜI CANH GIỮ ĐẤT TRỜI”nơi bộ chính trị đảng cộng sản ở Hà Nội?! Bởi vì nơi ấy từ rất lâu chỉ vang vang những lời chỉ đạo khẳng định: Để Hoàng Sa-Trường Sa cho Trung Quốc giữ vẫn tốt hơn để bọn Mỹ-Ngụy – Lời Trường Chinh, nhân lần Hải quân Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH, 19/1/1974. Nơi ấy cũng khắc ghi công ơn to lớn: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô. Đánh cho Trung Quốc.”. Nếu nhắc đến những người và việc kể trên trên e có phần xưa cũ, xa xôi vượt khỏi hiểu biết, khả năng, trách nhiệm của nhạc sĩ Năm Ẩn, nên chúng tôi xin kể ra những vụ việc của thời đại hôm nay, tại thời điểm những bài hát của Năm Ẩn được rầm rộ phổ biến (nhưng không người hát/không ai nghe).. đấy là lời: “Khai thác Bâu-xít là chủ trương lớn của Đảng”, của kẻ được gọi là thủ tướng Dũng khi đồng thuận cho nhà thầu Trung Cộng phá hủy toàn bộ thảm thực vật vùng Đồng Nai Thượng mà thiên nhên ngàn năm đã xây dựng trên quê hương Cao Nguyên Trung Phần. Đấy là xác nhận: “Formosa là điễn hình tiên tiến” của Tổng Bí Thư Trọng trước thảm họa rộng khắp lâu dài vùng biển Hà Tỉnh do nhà thầu formosa gây nên! Đấy là nhận định từ một chị ả người Bến Tre được đưa ra Hà Nội giữ chức vị “chủ tịch quốc hội”: “Trung ương (BCT-Pnn) đã quyết định, quốc hội chỉ biểu quyết thành luật!”đối với lần thuận nhượng ký kết cho tư bản nước ngoài (chủ yếu là tư bản TC) khai thác ba Đặc Khu Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc trong vòng 99 năm! Chúng tôi có thể kể ra một danh sách bất tận những “bạn bè” của Năm Ẩn.. Những người sống vì mọi người. Ngày đêm canh giữ đất trời?! Từ sáu tỉnh biên giới phía Bắc nay dùng bạc giấy in từ Bắc Kinh và nghe đài phát thanh tiếng Hoa đến cực Nam đất Mũi Cà Mâu với những bí thư tỉnh ủy, giám đốc công an tỉnh được bổ nhiệm bởi Bộ Chính Trị Hà Nội có quyền ký giấy cho người Hoa thuê đất rừng 50, 90 năm, và bảo vệ cho tư bản TC chiếm đất lập tô giới người Hoa trên đất Việt ở Đông Đô Đại Phố Bình Dương, ngay tại Sài Gòn, ở Thủ Thiêm nơi Năm Ẩn đang ngồi lập lý luận, phê bình văn hóa nghệ thuật “độc hại” của VNCH qua nhạc Boléro!
Nầy nhạc sĩ Năm Ẩn, anh không thể, không có quyền bắt người Việt trong nước hát lời ca ngợi. Không thể hát lời ca ngợi kẻ bán nước. Không thể hát lời xưng tụng đứa sát nhân! Nhũng bài hát viết từ máu lệ Miền Nam – Cũng bao gồm “Huyền Thoại Mẹ” máu me, giả trá của Trịnh Công Sơn và rất nhiều, rất nhiều nhân sự thuộc tập đoàn “cộng sự sát nhân” với đảng cộng sản Hà Nội. Đối với đám nhân sự độc hại hạ tiện nầy, Anh Hai Lam Phương trung hậu và cao quý biết bao nhiêu.
Phan Nhật Nam
Sinh Nhật 77 tuổi
28/12/1942-2020
Lệ Thu, Chim Oanh Về Cõi Thiên Thu
Vương Trùng Dương
Trong thời gian qua, ca nhạc sĩ đã một thời nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam đã vĩnh viễn ra đi: nhạc sĩ Lê Dinh (9/11/2020 tại Canada), nhạc sĩ Lam Phương (22/11), ca sĩ Mai Hương (29/11)… và lần nầy đến ca sĩ Lệ Thu, sau thời gian bị nhiễm Covid-19, vừa qua đời vào 7 giớ tối Thứ Sáu, 15/1/2021 tại Orange County (Quận Cam).
Là người đam mê âm nhạc, thưởng thức những tiếng hát đã một thời, một đời và đã viết về hình ảnh ca sĩ làm thăng hoa nền âm nhạc Việt Nam trong gần 3 thập niên qua. Để tưởng nhớ Mai Hương, tôi viết bài “Mai Hương, Một Ánh Sao Rơi!” như lời tạ từ. “Muôn kiếp cô liêu, ngàn năm vang” (Tô Vũ). Đầu mùa dịch Covid-19, ca sĩ Thái Thanh qua đời vào trưa ngày 17/3/2020 tại Orange County, đêm đó tôi viết: Danh ca Thái Thanh ra đi, gởi lại “Tiếng Hát Vượt Thời Gian & Không Gian”, vì nghĩ đến tang lễ ca sĩ được mọi người ái mộ, tiếc thương do lệnh khắt khe của tiểu bang nhằm tránh sự lây lan của đại dịch nên không đễn tiễn biệt làn cuối. Và, loạt bài “Viết trong mùa đại dịch” của tôi liên quan đến bệnh dịch trong quá khứ và tác phẩm văn học…
*
Lệ Thu là một trong những ca sĩ nổi tiếng nhất giữa thập niên 60 & 70. Trong 6 thập niên, từ trong nước, ở hải ngoại, Lệ Thu đã đi trình diễn khắp nơi, theo thời gian có trên 20 băng nhạc, CD, DVD… đã được thực hiện từ cá nhân đến Sóng Nhạc, Asia, Thúy Nga… Năm 2017, trong tai nạn xe cộ suýt chết, ngưng hát. Trong mùa dịch quái ác Covid-19, bị nhiễm virus, vào bệnh viện Orange Coast Medical Center (Fountain Valley, California, Mỹ). Sau thời gian chữa trị không không thoát khỏi cơn dịch quái ác nầy nên đã vĩnh viễn ra đi!
Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1943 tại Hải Phòng, nhưng trải qua thời thơ ấu ở Hà Đông. Về bản thân, Lệ Thu chia sẻ:
“Trước năm 1945, bố làm một chức quan nhỏ ở Hải Phòng. Mẹ là vợ lẽ, sống dưới quyền của bà vợ cả, phải chịu đựng đủ điều. Bà bắt mẹ cô làm đủ thứ việc. Một sân thóc rộng mênh mông, giữa trưa nắng như đổ lửa, phải phơi, trở thóc, rồi thu dọn, quét sân từ trưa cho đến khi trời xế bóng. Rồi đủ thứ việc, chả bao giờ được nghỉ tay.
Mẹ cô sinh tám người con, cứ đến 3 tuổi thì mất, duy nhất có cô còn sống. Năm 1953, khi mẹ cô vào Sài Gòn, bố cô không đi vì tiếc của cải.
Năm 1954, một ngày nọ tôi đi học về, mẹ cô gọi vào và chỉ nói một câu ngắn gọn: “Thầy con mất rồi!”. Từ đó mẹ sống lặng lẽ, không đi bước nữa. Và cũng từ đó cô không hay tin tức gì ngoài đó nữa. Hai mẹ con tôi sống ở chợ Vườn Chuối, đường Phan Đình Phùng”.
Vì là đứa con gái duy nhất nên được nuông chiều, cũng thích chơi các trò chơi của nam sinh, đánh đáo, u mọi… Theo Lệ Thu “Tôi nhớ lúc 14 tuổi, đã có ngực, mà tôi hồn nhiên đi tắm mưa không mặc áo, cũng không mặc áo ngực…” như con trai.
Lệ Thu học đàn piano từ nhỏ, khi vào Sài Gòn học đàn guitar và hát với vị thầy cận nhà và được nhạc sĩ Đức Quỳnh chỉ dẫn thêm về ca nhạc. Theo học bậc trung học Pháp tại trường Les Lauriers. Vào đầu thập niên 50, trường Les Lauriers ở Tân Định, giảng dạy chương trình Pháp Việt song song với nhau. Năm 1959, trường dời về đường Đinh Công Tráng, đổi tên là trường Tân Thịnh. Nhạc sĩ Lam Phương đã học ngôi trường nầy. Sau năm 1975 đổi tên trường Đuốc Sống.
Lệ Thu đến với nghề ca hát hết sức tình cờ rồi trở thành ca sĩ. Theo lời kể Lệ Thu: “Lần sắp thi tú tài, nhân dịp sinh nhật một người bạn tổ chức trên sân thượng phòng trà Bồng Lai, mấy cô bạn trong nhóm của tôi thúc: “Ê Oanh, mày lên hát tặng con Liên một bài sinh nhật đi!”. Tôi liền đứng lên hát bài “Tà Áo Xanh” (Dang Dở) của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Tự dưng giọng hát tôi lọt tai ông chủ phòng trà. Ông bèn ngỏ lời mời tôi đi hát. Ông thuyết phục tôi: “Em có giọng hát rất hay và lạ. Không cần thức khuya đâu. Em cứ đến đây lúc 8 giờ, hát vài bài rồi 9 giờ về. Cứ nói với mẹ là đến nhà bạn học bài”. Kèm theo đó, ông trả cho tôi một số tiền khá lớn so với hình dung của tôi thời ấy. Thế là tối tối, tôi giấu mẹ đi hát. Nhiều khi tôi mặc cả đồng phục ở trường đi hát luôn. Khi ông chủ phòng trà hỏi tôi muốn được gọi như thế nào thì cái tên Lệ Thu lập tức bật ra như được định sẵn trong đầu mình. Kỳ thực, tôi cũng biết chữ “lệ” mang nghĩa buồn lắm, là nước mắt và mùa thu cũng sầu không kém. Thế nhưng “lệ” ở đây còn có nghĩa là mỹ lệ, là một mùa thu rất đẹp. Đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao cái tên này lại bật lên một cách tự nhiên như thế…”. (Lúc đó Ngọc Phu & Hoàng Cầm điều khiển chương trình).
Khởi nghiệp từ phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát và kế đó là phòng trà Tự Do vào năm 1962. (Trước tháng 11 năm 1963, cấm nhảy đầm, chỉ nghe ca nhạc nên gọi là phòng trà. Sau thời điểm đó, báo chí, giải trí, nhảy nhót… như nắng hạn gặp mưa, sau đó gọi là vũ trường (nơi có khiêu vũ) và sau nầy thường gọi là phòng trà theo thói quen, Trong loạt bài Phòng Trà Ca Nhạc Sài Gòn Xưa của Lê Văn Nghĩa viết tương đối chính xác).
Kể từ đó, Lệ Thu được nổi tiếng cùng với những ca sĩ tên tuổi ở Sài Gòn. Tiếng hát Lệ Thu hút khách đến với các phòng trà như Queen Bee (năm 1969 của Jo Marcel), Ritz… Tháng 4/1970, Lệ Thu đã về với phòng trà Tự Do. Ông Ngô Văn Cường chủ Tự Do đã dùng giá cao để “giựt” Lệ Thu ra khỏi Ritz của Jo Marcel. Trước đó Jo ký với Lệ Thu là 700.000 đồng hát một năm, cộng tiền cát-sê khá cao, còn ông Cường kêu Lệ Thu trả hợp đồng 1 triệu và tiền hát hằng đêm gấp đôi. Lệ Thu thường ký độc quyền với các phòng trà, hát nhạc Việt và ngoại quốc rất hay nên ăn khách. Ngay cả phòng trà Khánh Ly đã có một thời cộng tác với nhau vẫn sòng phẳng. Và, “một trong những giọng hát tình khúc hay nhất của nền tân nhạc Việt Nam”, nhất là các ca khúc dòng nhạc bán cổ điển (semi-classic), ca khúc thời tiền chiến.
Giọng ca Lễ Thu được mệnh danh “Giọng Ca Vàng Ròng”, “Tiếng Hát Vàng Mười” nghe không được “bay bổng, sang trọng, lãng mạn” như Thanh Thúy, Thái Thanh… Nếu gọi “Giọng Oanh Vàng Tình Khúc”, vừa mang tên người vừa mang tên loài chim oanh.
Trong thi phẩm Chinh Phụ Ngâm Chinh Phụ Ngâm của tác giả Đặng Trần Côn (1705-1745) qua bản dịch nhà thơ Đoàn Thị Điểm (1705-1749) có câu
“Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca”
Chim oanh biểu trưng cho mùa xuân, trong thơ ca cổ hình ảnh này xuất hiện khá phổ biến nhất là trong Đường thi.
Lệ Thu tham gia các chương trình ca nhạc trên Đài Phát Thanh Sài Gòn, Đài Phát Thanh Quân Đội, Mẹ Việt Nam, Đài Truyền Hình Việt Nam… và được trung tâm sản xuất băng nhạc mời cộng tác thu âm. Hầu hết ca khúc do Lệ Thu hát, được chọn lọc, ngay cả nhạc sĩ sáng tác. Lệ Thu thường chọn những tình khúc buồn, với tà áo dài, vừa hợp với phong cách trình diễn, âm điệu linh động với giọng alto-contralto và mezzo-alto dễ ru vào lòng người. Từ trong nước đến hải ngoại, trong 6 thập niên qua, Lệ Thu vẫn giữ được sự chọn lọc nầy.
*
Năm 2010. Nhạc sĩ Cung Tiến ấn hành tuyển tập ca khúc Hoàng Hạc Lâu, gồm 15 ca khúc trước năm 1975 và hải ngoại. Tôi email cho Việt Hải, viết bài về Cung Tiến. Bài viết Cung Tiến: Những Tình Khúc Lãng Mạn Về Cố Nhân của Việt Hải đăng tải trên nhật báo Saigon Nhỏ, số ra ngày Thứ Bảy, 12 tháng 6/2010. Văn Học Nghệ Thuật với chủ đề về Cung Tiến.
Ca khúc Hương Xưa (1955) trang 18, ghi tặng Khuất Duy Trác, ca khúc Kẻ Ở (1977-1999) phổ thơ Quang Dũng, trang 44, ghi tặng Lệ Thu.
Tháng 10/2020, trong loạt bài “Viết trong mùa đại dịch”, tôi viết bài Một Thoáng “Hương Xưa” về dòng nhạc đến ý nghĩa của lời ca mang nhiều điển tích. Tình khúc Hương Xưa của nhạc sĩ Cung Tiến hay và đẹp từ giai điệu đến lời ca ẩn chứa điển tích nói lên cái hồn của cung bậc.
Duy Trác là ca sĩ đầu tiên hát tình khúc Hương Xưa, và Lệ Thu khi hát Hương Xưa theo lời kể:
“Tôi còn nhớ mãi mỗi đêm ở phòng trà Queen Bee, khi tôi hát Hương Xưa xong, khán giả lặng đi một hồi lâu, như là vẫn còn chìm đắm miên man ở trong dòng cảm xúc của bài hát, chưa biết là bài hát đã kết thúc. Tôi hát câu cuối là “Đời êm như tiếng hát của lứa đôi…” rất tình cảm và ngân rất dài. Sau khi dứt tiếng đàn, tiếng hát, mọi người im lặng một lúc, sau đó mới ồ lên vỗ tay…”.
Nghe ca khúc Hương Xưa rồi nghe ca khúc Nửa Hồn Thương Đau của nhạc sĩ Phạm Đình Chương:“Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa… Cho lòng tiếc nuối xót thương suốt đời”… thế hệ chúng tôi sống đời lưu vong cảm nhận như tựa đề tác phẩm “Một Thởi Để Yêu & Một Thời Để Chết” (A Time to Love and a Time to Die) của nhà văn Đức Erich Maria Remarque. Với tác phẩm nầy tôi đã viết Trong Mùa Dịch Covid-19 đọc lại Trăm Năm Cô Đơn (4/2020).
Với tôi, Hương Xưa là một trong những tình khúc hay nhất của nền tân nhạc Việt Nam và cũng “giới hạn” ca sĩ trình bày. Có thể cho rằng giọng ca nào thành công với Thiên Thai của Văn Cao, Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành, Kiếp Nào Có Yêu Nhau của Phạm Duy, Dòng Sông Xanh (lời Phạm Duy) và Hương Xưa… thì dễ dàng thành công với nhiều tình khúc khác.
Trong thanh nhạc, kỹ thuật ngân rung (vibrato) xuất phát rất quan trọng đánh giá giọng ca. Hầu hết, ca sĩ đều luyện tập ngân rung cổ họng, Lệ Thu áp dụng từ bụng nên làn hơi được điêu luyện, khỏe hơn.
Trong cuộc sống ít khi được toàn vẹn, nhất là giới ca sĩ. Trong ca khúc Eternally của Charles Chaplin (Ánh Đèn Màu qua lời Việt của Nguyễn Xuân Mỹ năm 1965) với thân phận:
“Đời ca hát ngày tháng cho người mua vui
Đời son phấn làm mất bao ngày thơ ngây
… Đời cam sống một bóng lặng lẽ cô đơn
Đời xa tiếng ca nào ai tiếc thương bẽ bàng”
Hay trong ca khúc Kiếp Cầm Ca của Huỳnh Anh:
“Đời ta là bến ai qua ghé thăm đôi lần
Nhớ chăng tiếng ca cung đàn ngày xưa
… Mưa đêm vẫn rơi mãi không ngừng
Có người ca sĩ khóc đời quạnh hiu”
Trong quyển Thân Phận & Hào Quang của nhà báo Hoàng Nguyên Vũ ấn hành ở Việt Nam năm 2016. Tác giả phỏng vấn các ca sĩ trong nước và các ca sĩ ở Mỹ (Bạch Yến & Họa Mi ở Pháp) về VN trình diễn. Trong đó có bài: “Ca sĩ Lệ Thu: 3 lần đò và những nỗi đau chưa kể”.
Trích phần Lệ Thu đề cập đến các cuộc tình:
“… Mẹ tôi sợ có con gái trong nhà như một trái bom nổ chậm, lại theo ca hát nên mẹ sợ ế, và đặc biệt là sợ sa ngã. Tôi đi hát, có gặp một anh chàng không quân thích tôi, gia đình họ đến đặt vấn đề hỏi cưới, thế là mẹ “tống” tôi đi ngay.
Tôi lấy chồng khi chưa một lần nắm tay người khác giới, chưa bao giờ biết hôn, nên đời sống chăn gối tôi cứ như một… khúc gỗ. Người chồng thất vọng não nề về sự ngây thơ, thậm chí… đần độn như thế. Chỉ được 2 tháng, anh ấy không thể chịu đựng được nên anh quyết định bỏ.
… Tôi bị chồng bỏ mà vui, hí hửng về với mẹ. Mẹ tôi cũng không buồn vì mỗi lần lên thăm con cũng cảm nhận được cái cảnh cơm nguội canh nhạt ấy. Lạ lùng là bị chồng bỏ mà tôi không thấy đau khổ. Có lẽ vì tôi không yêu. Bởi nếu có một tình yêu đúng nghĩa thì bằng mọi cách tôi sẽ giữ lấy hạnh phúc của mình.
… Chia tay chừng 5-7 năm, tôi gặp lại anh ấy một cách tình cờ khi tên tuổi tôi cũng đã nổi lắm rồi. Anh ấy cũng là một người hát rất hay, và cũng có đi hát như một đam mê.
Năm 1963 tôi đi bước nữa. Tôi gặp một người từ bên Pháp về đây chơi. Anh ấy ở Pháp từ nhỏ, đã có vợ có con bên đó nhưng về đây thấy tôi thì mê, và bỏ luôn vợ bên đó.
Mãi sau này tôi mới biết chuyện này chứ trước đó, nếu tôi biết anh ấy có vợ con rồi thì chẳng bao giờ tôi đến với anh ấy. Sau một năm tìm hiểu chúng tôi tổ chức đám cưới.
… Tôi từng tính bỏ hát để yên phận cơ mà. Anh ấy không phải là một người đàn ông của gia đình, đúng hơn không phải là người chung thủy. Anh đi chơi rất nhiều mà tôi thì không chịu nổi điều đó và cuối cùng tôi phải bỏ cảnh sống đó dù không cãi vã to tiếng. 7 năm một cuộc hôn nhân như thế, chúng tôi có hai đứa con gái.
Với cuộc tình thứ ba:
“Năm 1969, chúng tôi gặp nhau nhưng đến năm 1974 mới chính thức tổ chức đám cưới tại nhà thờ. Cuộc hôn nhân kéo dài 10 năm, chúng tôi có với nhau một đứa con gái, anh ấy cũng rất yêu thương, lo lắng cho tôi.
Hạnh phúc được thử thách qua những tháng ngày gian khổ, thế nên tôi hoàn toàn yên tâm đó là những gì ngọt ngào có được sau những cay đắng riêng tư. Chúng tôi mất nhau cũng vì lỗi của đàn ông. Và khốn khổ cho tôi, tôi đi Mỹ thì ngay lập tức đã có một người phụ nữ khác vào nhà tôi sống với chồng tôi. Và lần nữa, tôi vẫn là người khờ khạo.
… Tôi cũng có một cuộc tình rất thắm thiết. Năm 1988 tôi gặp người đó, tôi mới biết rung động thật sự là gì, tình yêu đúng nghĩa là gì, nhưng tôi vẫn khờ khạo không giữ được tình yêu của mình.
Và từ đó tôi cũng chẳng yêu ai được nữa. Tính tôi vốn nhát và không bao giờ đi tán tỉnh hay giành giật đàn ông dù tôi có thích họ hoặc ước gì họ là người yêu của mình.
Cả ba người đàn ông đó giờ còn sống, kể cả anh hàng xóm si tình năm ấy, có người ở Mỹ, có người còn ở Việt Nam. Chúng tôi vẫn là bạn và vẫn thăm nhau nếu có dịp.
… Những người nào đi qua đời mình hay những gì mình trải qua đều là duyên, đều là ngộ. Những gì mình khổ, hay nó vướng bận vào đời mình và cuộc sống của mình, đều là nợ nhau cả và mình phải trả. Trả hết thì thôi”.
Ở Việt Nam, các cây bút viết về ca sĩ, thường khai thác về tình yêu, tình cảm lăng nhăng hầu đáp ứng tính hiếu kỳ, tò mò của độc giả. Không dẫn chứng ca khúc nào làm nên tên tuổi. Có khi khai thác bí ẩn theo tin đồn để tung ra…
Ở hải ngoại có nhạc sĩ Trường Kỳ đã ấn hành các Tuyển Tập Nghệ Sĩ. Trong TTNS tập 5 năm 2001, dày 374 trang, bài viết Lệ Thu, Sau 40 Năm Thăng Trầm Trong Âm Nhạc (trang 283-288) vì cùng sinh hoạt trong giới ca nhạc với nhau nên ghi lại chính xác.
Với tôi, thích nhà văn Hồ Trường An, trong tác phẩm Chân Dung Những Tiếng Hát, quyển I ấn hành năm 2001, dày 446 trang với 52 ca sĩ. Cách viết ví von và nhận xét tinh tế qua từng lời ca, giai điệu, âm sắc… Lệ Thu, Tiếng Ca Khởi Phụng Đằng Giao (trang 127-135) “Năm 1971, tôi có cộng tác với tờ tuần san Minh Tinh, có đến tư thất của Lệ Thu ở đường Trần Quang Khải (Tân Định) để phỏng vấn cô. Thuở đó cô đang chung sống với nhà văn Hồng Dương”… “Người chồng trước của cô (Người ta gọi anh là Tony Sơn). Khi gặp Lệ Thu, nhà văn Hồng Dương ly dị vợ là nữ sĩ Linh Linh Ngọc” (Người chồng thứ ba theo lời kể của Lệ Thu ở trên)…
Hồ Trường An nêu tên những ca khúc do Lệ Thu hát đã được mọi người ngưỡng mộ. “Tiếng hát Lệ thu làm cho chúng ta nghĩ đến một trái hỏa châu bắn vọt lên không trung để tỏa ngời ánh sáng… Tiếng hát Lệ Thu là tiếng hát hay bay về trời, gợi hình ảnh khởi phụng đằng giao trong tuyện cổ tích, trong huyền thoại”.
Đạo diễn Nguyễn Long, thuyền nhân định cư tại Quận Cam năm 1992. Trước năm 1975 quen biết nhiều trong giới nghệ sĩ ở Sài Gòn. Làm thân tị nạn, sống lang bạt, làm báo, viết lách. Với chiếc xe truck cà rịch cà tàng, đóng thùng chứa sách báo. Làm chỗ ngủ qua đêm đi vòng quanh nước Mỹ. Anh viết 88 Nữ Ca Sĩ, dày 512 trang. Và tiếp theo với 32 Nữ Ca Sĩ, ấn hành năm 1997. Cuộc phỏng vấn Lệ Thu ngày 15/1/1996 đăng trên trang sách Trang 621-626). Lời chia sẻ của Lệ Thu về cuộc đời, tình trường cũng giống như những gì kể trên.
Trong các mối tình kể trên cho thấy danh vọng cuộc đời và tình yêu lận đận trong cõi vô thường nầy của Lệ Thu cũng như nhiều nữ ca sĩ khác trên thế gian!
Hồng Dương gia nhập làng báo rất sớm ở nhật báo Chính Luận thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Cuộc tình của Hồng Dương & Lệ Thu có với nhau con gái út là Thu Uyển. Năm 1978, Lệ Thu có mở một hàng cà phê Thu Uyển ở Tân Định. Đến tháng 11 năm 1979, Lệ Thu cùng Thu Uyển vượt biển đến Pulau Bidong và sang Mỹ vào giữa năm 1980. Đến năm 1982, hai cô con gái lớn của Lệ Thu với người chồng thứ hai (Tony Sơn) cũng vượt biên và đoàn tụ với mẹ tại Nam California.
Sau tháng 4/1974, Hồng Dương bị tù một năm. Không vượt biên cùng Lệ Thu. Khi mới đến Quận Cam trên đất Mỹ, vả 3 gặp nhau (có Linh Linh Ngọc) rồi “riêng một góc trời” mỗi người có cuộc sống riêng. Để giúp bạn ta có niềm vui trên đất Mỹ, Bùi Xuân Hiến, Long Ân và Ngọc Hoài Phương ra tuần báo Chính Luận, Hồng Dương làm Chủ Bút nhưng được thời gian tờ Chính Luận bỏ cuộc chơi.
Sau nầy nơi cà phê Mưa Rừng (người thân của Hồng Dương) ở góc đường Brookhurst & Edinger. Thỉnh thoảng anh ra quán gặp bằng hữu. Hồng Dương qua đời ngày 18/1/2018 tại Quận Cam, nên lúc Lệ Thu trả lời phỏng vấn năm 2016, anh vẫn còn sống.
Cùng là báo giới với nhau, gọi là “tình bạn” giữa “người đó” nhà báo ở Seatlle và ca sĩ mang tính lãng mạn cho đời thêm vui trong cõi tạm. Tôi đã từng được những lời chia sẻ, người đàn bà với ngày tháng còn lại sợ nhất là nỗi cô đơn! Ở Mỹ, con cháu có cuộc sống riêng, hình như “hồn nhiên” trong nỗi buồn đang “gặm nhấm tâm hồn” hoàng hôn của cuộc đời! Cháu nội, ngoại ghé thăm cũng dán mắt vào iPhone… rồi vào chúc sức khỏe trước khi về.
Trước đây, bạn văn Lâm Tường Dũ (tác giả Tình Sử Nhạc Khúc) cũng vào thời điểm nầy, nhờ tôi viết bài: Lệ Thu, Tình Khúc Với Thu. Tôi thấy đề tài ngồ ngộ vì tên tuổi ca sĩ với những tình khúc liên quan đến Thu đã từng đi vào tâm hồn ngưới ái mộ âm nhạc từ nhạc phẩm của Đoàn Chuẩn, Phạm Duy đến Vũ Đức Sao Biển, Ngô Thụy Miên, Trường Sa… Ở trong nước “Nhạc Vàng” bị cấm, bị đả kích thậm tệ rồi “Nhạc Vàng ngự trị nền âm nhạc cả nước, nhưng tôi tế nhị từ chối, tuy chẳng quan tâm ca sĩ về VN hát hò với cái nghiệp “xướng ca” mà truyền thông Việt ngữ nơi đây đã nêu lên vài trường hợp không mấy hay ho gì. Hát hò là chuyện thường tình nhưng tuyên bố lung tung, chấp nhận bài hát theo “đơn đặt hàng” dễ gây dị ứng trong cộng đồng người Việt tị nạn là chuyện khó chấp nhận. Đã có những lời bình phẩm khi viết về hình ảnh vài tiếng hát đã hy sinh mạng sống, bỏ nước ra đi… rồi quay về ca khúc “Hậu Đình Hoa” mà nhà thơ Đỗ Mục than thở trước vận nước trong bài thơ Bạc Tần Hoài. Chuyện cũ đã qua!
Với tâm hồn nhân bản của truyền thống Việt Nam từ thời cha ông, nghĩa tử, nghĩa tận. Nhận được tin buồn Lệ Thu vĩnh viễn ra đi trong cơn đại dịch, Orange County trong tình trạng ban bố “stay at home”, tình trạng bi đát đến lúc bệnh viện không có chỗ nhận người già bị nhiễm Covid-19, xác người trở thành “hư vô & cát bụi” quá đau thương cho thân nhân!
Trước nỗi đau nầy, mượn câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm để tiễn biệt Lệ Thu Bùi Thị Oanh: “Oanh bay đi biền biệt chẳng quay về”.
Và, tiếng hát đầu tiên của cuộc đời với câu kết trong nhạc phẩm Dang Dở như định mệnh “Hoa tàn nhạc bay theo không gian” tiễn người: Lệ Thu về cõi thiên thu! “Đời xa tiếng ca nào ai tiếc thương bẽ bàng” (Ánh Đèn Màu).