(To American adoptive mothers who heartily fostered children of Vietnamese origin)
Thank you, my white-skinned golden-haired mother
Who are not of the same bloodline as me or the other
But you fished me out of the abyss a refugee errant,
Adopted and fostered me with the love of a parent.
Thank you for having taken such painstaking jobs
Days after days in warehouses and workshops,
Toiled and moiled extra hours to make me undeterred,
And stayed up late to teach me each English word.
Pushing language difference as a bad barrier aside,
You soothed me with your look warm and arms wide.
You are an Westerner and I an Easterner, how rare,
I was such a heavy debt, you volunteered to bear!
You knew well that I came from that unhappy land
Where there were many a ferocious and fiendish band
Who invaded the South and confined people to cages,
Brought the whole nation back to the Middle Ages.
Since then I had become a nestless nestling in qualm
In childhood to leave Dad and separate from Mom,
I got into the fleeing boat with hot tears dripping wet
Risking my life entrusted to wave crests full of threat.
Thanks to your high-sky and vast-ocean love, my fay,
That I could survive until I can achieve success today
And become a dignified human in this second home,
A pride for both our peoples under the azure dome.
You are so shining in my soul the glittering torchlight
To enlighten each of my steps scintillating in the night.
Your virtuous advice I will always remember of course:
“Be American but don’t forget your Vietnamese source!”
I respectfully offer you this fresh gorgeous bright rose
Suffused with my affection in each red petal to enclose.
On my repatriation kneeling to kiss my native soil soon
I will bear in mind thousandfold your precious boon.
Translation byTHANH-THANH
Trang Thơ Võ Đại Tôn
46 TẾT LƯU VONG/QUỐC HẬN (LỜI DÂNG LÊN MẸ VIỆT NAM)
MẸ VIỆT NAM ơi 46 năm rồi Áo con đã rách. Còn sợi chỉ nào, từ nguồn thiêng huyết mạch Cho con xin, vá lại áo Đời. Con đã đi, đường gai góc mòn hơi Xuyên rừng núi, mồ hôi pha trộn máu. Về quê hương, nguyện lòng son chiến đấu Nửa đường đi thành đêm tối lao tù. Mười năm ôm hận nghìn thu Lênh đênh chìm theo vận Nước. Và hôm nay, vạn nẻo đường xuôi ngược Con vẫn còn tiếp bước Cha Ông.
*
Bao nhiêu năm – Mẹ đã đau lòng Nghe con khóc từ trùng dương sóng chuyển. Huyền sử xưa năm mươi con theo Cha về biển Giống Rồng Thiêng mở rộng cõi bờ. Còn hôm nay vì hai tiếng Tự Do Trăm ngàn thây vùi tan nơi vực thẳm. Năm mươi con vượt rừng sâu muôn dặm Theo Mẹ hiền – thơm nửa máu dòng Tiên. Dựng quê hương hùng sử khắp ba miền Nay Văn Hiến cằn khô cùng sỏi đá. Những địa danh chôn xương tù gục ngã Tên kinh hoàng, tủi nhục đến nghìn năm. Hoàng Liên Sơn không nấm mộ con nằm Cổng Trời nghe máu khóc. Dã thú vờn quanh, xiềng gông, tang tóc, Nghĩa “Con Người” thua chữ sắn khoai.
*
Bao nhiêu năm – em bán hình hài Tìm miếng cơm manh áo. Đại Hàn, Đài Loan, xông xáo Mua em về làm món đồ chơi. Năm nghìn năm dù nước lửa dầu sôi Chưa bao giờ mẹ bán con vì đói. Bầy trẻ thơ còm cõi Bươi rác nghèo, rách rưới lang thang. Nghe quanh mình loa vẫn thét “vinh quang” Đường Tương Lai đá cũng tan thành lệ.
*
Bao nhiêu năm tưởng chào vui thế hệ Ngẩng cao đầu, tay vói đến năm Châu. Nhưng cội nguồn và đạo lý chìm sâu Lo sáng tạo những đua đòi vật chất. Mùi kim tiền thơm hơn bánh mật Giấc mơ vàng : – mong thoát khỏi quê hương. Thúy Kiều xưa, rơi sóng nước Tiền Đường Nay viết lại thành Tiền Giang, phản động ! () Lũy tre xanh, cánh tay thần Phù Đổng Bao anh hùng dựng Nước thuở ban khai Còn lại đây hoang phế cả đền đài Tên Hùng Vương đành thua tên Bill Gates. (). Túi càn khôn đã nghèo, thêm rỗng tuếch, Văn Hóa này còn lại tiếng “bia ôm” !
*
Bao nhiêu năm – răng hổ đói đỏ ngòm Luôn gầm thét, xé tươi hồn Dân Tộc. Từ địa đạo ùn lên bao cơn lốc Thành “đại gia” chễm chệ một phương trời. Miệng “vô sản” toàn men rượu nồng hơi, Tay “chuyên chính” ôm bao đầy châu báu. Dinh thự nguy nga, dựng lên từ máu Của nhân dân khổ hạnh một đời. Người thương binh ngẩng mặt nhìn trời Nghe tiếng khóc trong tiếng cười vang vọng. Chiếc xe lăn bánh mòn, gãy gọng Lê thân tàn về cuối hẻm đơn côi.
*
MẸ VIỆT NAM ơi 46 năm rồi, niềm đau quặn thắt. Đã có bao người lửa lòng nguội tắt Dĩ vãng quên rồi, hiu hắt tình Quê ?. Lớp già nua mơ ước nẻo về Không nhắm mắt, cuối đời lên tiếng nấc. Còn tuổi trẻ hồn nhiên hoa mật Nơi xứ người chấp nhận quê hương.
*
Nhưng một ngày mai : Đường hoa nở hướng dương Hành trình thôi cúi mặt. Sẽ có những đàn con vòng tay siết chặt Kéo mặt trời về lại phương Đông. Tổ Quốc sẽ tươi hồng Giữa hào quang Dân Tộc. Cây Tự Do sẽ đâm chồi nẩy lộc Lửa Nhân Quyền bừng sáng nẻo thâm u. Mái trường vui thay thế chốn lao tù Cho con học từ cội nguồn Nhân Bản. Không kẻ nào được quyền mua bán\ Thịt da em, nguồn sống của Rồng Tiên. Hồn Tổ Quốc linh thiêng Đài cao về chiếm ngự. Cuộc hành trình từ quê hương – viễn xứ – Chuyển xoay thành trẩy hội hoa đăng. Từ phương Nam tung vút cánh chim Bằng Thành Rồng thiêng Đông Á. Từ núi cao nghiêng mình ra biển cả Rạng ngời soi hai chữ : VIỆT NAM.
*
Lời trần tình bao nhiêu năm Con viết bằng tim máu. Từ nỗi đau âm thầm chôn giấu Kính dâng lên TỔ QUỐC hằng yêu. Mỗi chữ-vần mong gói trọn một điều : Từ Tâm Thức xin góp chung Hành Động. Đại cuộc Toàn Dân ban con Lẽ Sống Hiến dâng đời cho trọn nghĩa Quê Hương. MẸ VIỆT NAM ơi Dù gian lao xin tiếp máu Lên Đường Cho con về với Mẹ. Vững chân đi, qua trăm ngàn dâu bể Được quỳ ôm từng mảnh đất quê Cha. Phút cuối đời xin biến lệ thành hoa Giữa triều vui Dân Tộc. Trong lòng con : – Vĩnh hằng TỔ QUỐC Huy hoàng Văn Hiến – Tự Do !.
VÕ ĐẠI TÔN.
Ghi chú :
Văn Học – Trong kỳ thi tốt nghiệp trung học tại Việt Nam năm 2004, qua đề tài bình luận về truyện Kiều của Nguyễn Du, đã có nhiều thí sinh nộp bài viết : Thúy Kiều vì buồn chuyện gia đình đã tự vận tại sông Tiền Giang, may nhờ một nữ cán bộ cộng sản vớt lên, cải tạo tư tưởng phản động, Thúy Kiều giác ngộ, xin được kết nạp vào dảng.
Lịch sử – Trong cuộc thăm dò ý kiến sinh viên các trường đại học ở Việt Nam về các vĩ nhân thế giới và dân tộc, đa số sinh viên đều tuyển chọn Bill Gates làm thần tượng số 1 của giới thanh niên hiện nay trong nước.
HỒN CA TRÊN BIỂN ĐÔNG
(Tưởng niệm Quốc Hận)
Kính dâng lên hương hồn hơn nửa triệu đồng bào đã tử nạn trên biển Đông, mong vượt thoát chế độ cộng sản VN, mưu tìm Tự Do sau cơn Quốc Nạn 30 tháng Tư Đen 1975.
Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
1.
Hồn ai đó ?
Chập chờn trên khói sóng
Dòng máu tươi theo nước chẳng hòa tan.
Hồn ai đó ?
Vạn tinh cầu chao bóng
Đảo ghềnh xa còn vọng tiếng kêu than.
Hãy về đây – trên sóng nước dâng tràn
Chung tiếng khóc nghẹn đau cùng Dân Tộc.
Hồn ai đó?
Đã lìa xa Tổ Quốc
Vẫn còn ôm sông núi xuống mồ hoang.
Tiếng oan khiên từ đáy vực còn vang
Hay chìm đắm giữa khơi ngàn sóng dữ ?
Mảnh thuyền tan, bập bềnh trôi viễn xứ
Biết về đâu ? Hồn phiêu bạt nơi đâu ?
Thân cá Hồi tan tác đã chìm sâu
Không tìm thấy lối quay về chốn cũ !
Giữa trùng khơi vang tiếng cười dã thú
Hải tặc giằng co thân xác – kinh hoàng.
Tiếng Mẹ kêu, dòng máu chảy đầy khoang
Tay vời níu đàn con run khiếp sợ.
Biển lạnh chiều hoang, trần gian nín thở,
Vòng tai ương kiếp nạn đến vô cùng.
Hồn ai đó ?
Bờ Tự Do bốn hướng, cõi mông lung
Tìm đâu thấy – giữa muôn trùng đen thẳm ?
Tiếng kêu “Trời!” trước phút giây chìm đắm
Biến tan vào giông bão, thét trùng dương.
Vực mồ sâu thịt rã máu còn vương
San hô trắng hay là xương ai trắng ?
Dòng tóc đen bám ghềnh xa hoang vắng
Thành rong rêu sẫm tím một màu tang.
Hồn ai đó ?
Chiếc thuyền Không Gian
Trôi về Vô Tận.
Bánh xe Thời Gian chuyển ngàn uất hận
Chập chờn mấy cõi U Minh.
Lịch Sử nghìn thu trang giấy rợn mình
Ghi chép lại phút kinh hoàng Vượt Biển !
2.
Hồn ai đó ?
Đảo hoang sơ, ai về đây khấn nguyện
Mộ bia tàn, ai thắp nén hương dâng ?
Nơi Ba-Đình vui chuốc rượu Vô Thần
Cười nghiêng ngả mừng reo hò chiến thắng !
Đồng ruộng phơi bày xương trắng
Oan khiên máu lệ thành sông.
Bao thây vùi trong sóng nước biển Đông
Còn sót lại mấy hoang tàn di tích ?
Hồn ai đó ?
Đảo xa xôi mộ phần cô tịch
Giấc ngủ chẳng bình an.
Họ còn theo, cố phá đập tan
Để tô hồng chế độ :
• “Chủ nghĩa huy hoàng, không ai chối bỏ
Không có người vượt thoát để tồn sinh !!!” (*CSVN tuyên truyền)
Nhưng bia đời như nắng rọi bình minh
Luôn soi rõ từng vết sâu tội ác
Của loài dã tâm với ngôn từ khoác lác
Đang tôn thờ chủ thuyết lai căng.
Hồn ai đó ?
Từ bao cõi vĩnh hằng
Xin về đây chứng kiến.
Tấm lòng chúng tôi, trọn đời Tâm Nguyện
Chí bền gan, xin vẹn Nghĩa Tình.
Dù ngăn cách Tử Sinh
Giữa hai bờ Nhật Nguyệt.
Dù có ai phá tan mộ huyệt
Đến nghìn sau hồn mãi còn đây.
Nhìn trùng khơi sóng nước dâng đầy
Gửi mơ về cố quốc.
Hồn vẫn sống trong lòng Dân Tộc
Vì hai chữ Tự Do.
Chiều GALANG bão tố sóng to
Hay tĩnh lặng trăng rơi thềm đá.
Sáng PINANG nắng xuyên rừng lá
Hay đêm vờn tiếng hát nhân ngư.
Hồn mãi còn đây, dù bia mộ hoang vu
Không tên tuổi – sá gì tên với tuổi !
Dù xác thân đã hòa chung cát bụi
Biển Đông còn – HỒN MÃI SỐNG THIÊN THU!
VÕ ĐẠI TÔN (HOÀNG PHONG LINH)
CÁC ANH CÒN SỐNG MÃI …
(Viết nhân cuộc biểu tìnhngày Quốc Hận lần thứ 36 tại thủ đô Canberra, Úc Đại Lợi, trước tòa đại sứ cộng sản Việt Nam, do Cộng Đồng Người Việt Tự Do tổ chức. Kể từ năm Quốc Hận đầu tiên 30.4.1975 đến nay, đã có những Anh Hùng Nghĩa Sĩ Phục Quốc bí mật hoạt động tại quốc nội, hoặc từ hải ngoại trở về, và đã có những người hy sinh vì Quê Hương Dân Tộc, trong lao tù, nơi pháp trường, hay trên đường về. Xin kính dâng lên hương hồn Các Anh, với Tâm Nguyện tiếp nối cuộc hành trình của Các Anh một thời dang dở…)
Võ Đại Tôn
Các Anh đã lên đường
Mấy mươi năm về trước.
Lòng quặn nhớ Quê Hương
Rừng sâu Anh tiến bước.
36 năm rồi, còn ai lội ngược
Dòng sông đời, tưởng nhớ các Anh đây ?
Sau Quốc Nạn, vượt thoát khỏi trùng vây,
Trên sóng nước mang Hồn Quê viễn xứ.
Đời lưu vong, cội nguồn luôn chiếm ngự
Tháng năm dài thao thức chuyện non sông.
Nhìn mây bay, ôm ấp mộng tang bồng
Hồn tượng đá thi gan cùng tuế nguyệt.
Bỏ lại sau lưng trời xứ người băng tuyết
Hay kinh thành hoa lệ chốn phồn vinh.
Đời tự do, sung túc cõi nhân sinh,
Anh trở lại – cùng Toàn Dân chiến đấu.
Nỗi đau riêng, nhìn đàn con yêu dấu,
Người vợ hiền lạc lỏng cảnh xa quê,
Anh lên đường, xuyên mấy nẻo quay về
Cùng Dân Tộc, mong cứu Người cứu Nước.
Bao triệu người ra đi, còn Các Anh về ngược
Vì Quê Hương, chân xẻ núi băng ngàn.
Niềm cô đơn gói trọn một hành trang
Dâng Tâm Nguyện lên Hồn Thiêng Tổ Quốc.
Rừng Hạ Lào lót đường gai góc
Đêm thâm u mưa lũ ngút ngàn.
Sương lạnh chiều hoang
Trăng mờ biên giới.
Đường Anh đi, nẻo xa vời vợi
Hành trang nghèo nhưng nặng nỗi thương Quê.
Phút sa cơ Anh vẫn vẹn câu thề
Xin gửi lại lòng son về Đất Mẹ.
Anh nằm xuống, nơi rừng hoang quạnh quẽ
Máu hoen mờ, cây lá phủ thân Anh.
Nơi pháp trường, Anh vẫn ngẩng đầu xanh
Mong Tổ Quốc nhận hồn Anh phút cuối.
Chốn tù lao, ngàn đêm ngày tăm tối
Anh âm thầm chôn giấu nỗi cô đơn
Vào đáy lòng, không cần khẩn van lơn,
Nuôi sức sống bằng lửa thiêng Sông Núi.
Chỉ xin nguyện làm Người không tên tuổi
Lót đường đi bao Thế Hệ ngày mai !.
*
* *
36 năm dài
Trời Úc Châu hôm nay vào Thu lạnh
Thủ Đô người nắng hồng soi ngợp ánh
Cờ Vàng thiêng Tổ Quốc vẫn tung bay.
Bao người con đất Mẹ tụ về đây
Đòi Lẽ Sống, Nhân Quyền trong Tự Chủ
Cho Quê Hương, bị chìm sâu thác lũ
Mấy mươi năm do chế độ hung tàn.
Trời Trung Đông bừng dậy, vết dầu loang
Đòi nhân phẩm, chung thành cơn bão táp.
Bao triều đại độc tài xuôi tay ngã rạp
Trước cuồng phong uất hận của Lòng Dân.
Trời phương Nam rồi cũng sẽ dự phần
Cùng nhân loại thoát ra vòng sợ hải.
Hoa Cách Mạng dù mang tên đủ loại
Cũng đâu bằng Dân Tộc đóa hồi sinh.
Chúng tôi đây, chuyền ánh lửa bình minh
Về Đất Mẹ, cùng Toàn Dân đứng dậy.
Giữa rừng cờ, hôm nay tôi vẫn thấy
Các Anh về – chung tiếng thét loa vang.
Bước Anh đi từ thuở trước băng ngàn
Máu Anh đổ nơi rừng hoang biên giới.
Tiếng Anh thét trong xà lim tăm tối,
Nơi pháp trường Anh đã đứng hiên ngang.
Đang hiện về, trong ánh rợp Cờ Vàng
Chung góp sức cùng chúng tôi vững tiến.
Tôi đứng đây, khóc mừng trong hãnh diện
Biến đau thương ngày Quốc Hận hôm nay
Cùng triệu lòng xin nối tiếp bàn tay
Vung ngọn đuốc lửa thiêng về Đất Tổ.
Chung Lòng Dân, chuyển tang thương phẩn nộ
Thành cuồng phong phăng gốc rễ tham tàn.
Một mùa Xuân đầy ánh sáng vinh quang
Toàn Dân Tộc viết ngàn trang Sử mới.
Trên đỉnh trời, VIỆT NAM cao vời vợi
Cùng nhân loài vui hạnh phúc ấm no.
Tạ ơn Anh, trong hàng ngũ Tự Do
Anh vẫn sống cùng thiên thu Tổ Quốc !.
Võ Đại Tôn
Canberra, thủ đô Úc Đại Lợi
CUỐI ĐƯỜNG MẸ ĐI
(Quê hương, những ngày di tản đầy máu và nước mắt,
trong tháng 4, 1975 – QUỐC HẬN)
Võ Đại Tôn
Mẹ già đi từ Cam Lộ
Nước mắt chảy mềm Gio Linh.
Gia tài không đầy đôi rổ,
Mẹ nhìn máu lửa Thần Kinh.
Đá đổ mồ hôi : Thạch Hãn
Chạy dài đến đỉnh Hải Vân.
Leo đèo, Mẹ như mê sảng,
Chân voi : sưng đôi bàn chân.
Mẹ đi giữa trời thiêu đốt
Thây con lớp lớp trải dài
Dọc theo con đường Số Một,
Nằm bên dăm củ sắn khoai.
Tam Kỳ chạy vô Quảng Ngãi
Bầy con đói khát bên đàng.
Biển người xô nhau, quằn quại,
Ngã dần… trong tiếng khóc than.
Mẹ vào Quy Nhơn, Phú Bổn,
Nhìn trời khói lửa Pleiku.
Đoạn đường mang tên Mười Bốn
Thành mồ hoang lạnh, thâm u.
Thây ai quàng manh chiếu rách,
Bàn tay nào vói trời cao ?
Ngập vùng tang thương Darlac,
Chân đi, Mẹ khóc nghẹn ngào.
Máu chảy lan dần mạch đất
Nha Trang chết vạn đàn con.
Vào Nam, sức già lây lất
Về đâu ? – Nẻo sống không còn !
Cần Thơ, Hà Tiên, Rạch Giá,
Mẹ lần đến mũi Quê Hương
Cà Mau nhìn ra biển cả
Tàn hơi, Mẹ chết bên đường !
Mẹ già đi từ Cam Lộ
Cuối đường, chết mũi Cà Mau.
Trọn đời sống trong đau khổ
Chết còn trông thấy khổ đau !…
Võ Đại Tôn (1975).
CON SẼ ĐƯA MẸ VỀ…
(Viết trong một ngày biểu tình Quốc Hận… Trời mưa.)
Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
Cụ bà gần 100 tuổi bên cạnh tác giả trong ngày biểu tình Quốc Hận tại thủ đô Canberra, Úc Đại Lợi. )
Hơn Bốn Mươi vành khăn tang
Trên đầu tôi quấn chặt.
Lòng lính đau quặn thắt
Rụng xuống mặt trời đen.
Đâu phải kẻ ươn hèn
Sao đành buông súng , – khóc !
Đôi giày xưa bên vệ đường tang tóc
Đạp giấc ngủ từng đêm.
Màu áo trận dường như đã lãng quên
Vẫn bao trùm cơn mê thảng thốt.
Đời lưu vong tôi ôm hình Tổ Quốc
Máu chuyển về Quê, tiếng gọi Lên Đường.
Thủ Đô người, trời buốt lạnh mù sương
Tôi đứng cạnh Mẹ Già, rưng nước mắt.
Mẹ nghe không ? – Tiếng đàn con đang thét
Đòi lại Tư Do, Dân Chủ, Tình Người !
Xin Mẹ cho con, dù chỉ một nụ cười
Con cũng đủ vươn mình lên thẳng đứng.
Cho con ôm Mẹ để lòng con thêm vững
Chí bền gan, xuyên suốt hành trình.
Mẹ thấy không ? Trong gió lạnh run mình
Cờ Đại Nghĩa tay đàn con cao phất !
Mẹ nhìn con, ban thêm dòng hương mật
Chuyển Tình Thương, hơi ấm xuyên lòng.
Tuổi Mẹ già, ánh mắt chẳng còn trong
Nhưng con thấy vẫn nguyên dòng Lịch Sử.
Từ thuở ban khai, xuyên rừng sâu núi dữ
Mẹ dắt Con đi, vạn nẻo thăng trầm.
Cầm tay Con tô đậm nét Từ Tâm
Khuyên dựng Nước , trời Nam luôn Tự Chủ.
Nhưng giờ đây, như cuồng phong thác lũ
Trên quê hương bao tội ác tuôn dòng.
Mẹ lưng còng, đời bóng xế lưu vong
Đang đứng giữa đàn con trên xứ lạ.
Xin Mẹ yên lòng, ngày mai rồi hoa lá
Giữa Mùa Xuân Dân Tộc sẽ bừng hương.
Đàn Con đưa Mẹ về, dựng lại Tình Thương
Quỳ dâng Mẹ tháng ngày tươi sáng mới.
Đàn Con dìu Mẹ đi, nắng Xuân hồng phơi phới,
Mẹ-Con mình vui sống với Quê Hương !
Võ Đại Tôn.
VĂN TẾ TƯỞNG NIỆM HAI BÀ TRƯNG
Hôm nay, nhân ngày Tưởng Niệm Nhị Vị Trưng Vương,
Chúng con xin Thành Tâm Kính Lạy :
ANH LINH NHỊ VỊ TRƯNG NỮ VƯƠNG
CÙNG CÁC DANH THẦN, DƯƠNG TƯỚNG,
LIỆT NỮ, ANH HÙNG THẾ HỆ NHỊ TRƯNG
HIỂN LINH CHỨNG GIÁM
Đạo Sống ngàn đời còn sáng tỏ
Muôn Dân vạn thuở tạc công ơn.
Nhị Trưng vì Nước quên thân ngọc
Một dạ sắt son cùng núi sông.
Đất Nước Trời Nam, kết tụ tinh hoa hiển lộ Anh Thư, ngàn năm vằng vặc gương Liệt Nữ,
Non Sông Hồng Lạc, hun đúc gan vàng lẫy lừng Nhi Nữ, muôn đời sáng chói đức Trưng Vương.
Uy linh còn thắm đượm
Danh tiếng vẫn ngát hương.
Vượt thời gian, ân đức thấm nhuần đến cành cây ngọn cỏ
Ngoài vòng định lượng, công ơn ghi tạc cùng sử sách lưu phương.
Nhi Nữ mà yên cương rong ruổi, tỏ lộ gan vàng dạ sắt,
Anh Thư song gươm dáo xông pha, phô bày chí khí phi thường.
Sáu mươi ngả tiến quân, đánh tan tành giặc Hán,
Trăm nẻo đường vây kín, hãm thái thú họ Tô.
Trời PHONG CHÂU phất phới ngọn cờ tự chủ
Thành MÊ LINH rạng ngời nền bá nghiệp vương.
Ba năm GIAO CHÂU thịnh trị
Ngàn đời ÂU LẠC lưu phương.
Nào ngờ nước Nam chưa qua vận bể dâu
Giặc Hán chưa buông tham vọng
MÃ VIỆN vội vã lên đường.
Móng nền tự chủ còn non yếu
Khó ngăn bầy lang sói điên cuồng.
Tự cổ kim thịnh suy mấy độ
Trường đấu tranh thắng bại lẽ thường.
Tận trung với Nước, dòng SÔNG HÁT sóng gào, thương tiếc Anh Thư tuẩn tiết,
Hết dạ thương Dân, đất MÊ LINH rung chuyển, thấm ơn Liệt Nữ TRƯNG VƯƠNG.
Hơn một ngàn năm Ngài hằng linh hiển cứu Dân độ Nước,
Trải muôn vạn đời, toàn dân thành kính hương khói miếu đường.
Cột Đồng MÃ VIỆN tịch mịch, vùi sâu trong cát bụi,
Sóng xanh SÔNG HÁT uy linh, tỏa sáng khắp muôn phương.
Nước biếc non xanh phơi phới ân sâu nghĩa nặng,
Trời cao đất rộng lồng lộng uy đức Anh Hùng.
Chúng Con nay
Nhân ngày Thánh hóa
Dâng nén Tâm Hương
Hướng lòng tưởng niệm.
Ghi tạc Công Ơn
Cúi xin phù trợ
Cho Con Dân thoát đọa đày tan tác
Cho Đất Nước sớm Dân Chủ Phú Cường !
Uống nước nhớ nguồn
Nhân ngày Giỗ Thánh
Chúng con kính cẩn
Dâng tấc lòng thành.
THƯỢNG HƯỞNG !
********
(Võ Đại Tôn cúi đầu chấp bút)
Tháng Tư Về
Phút Tưởng Niệm Ba Mươi Tháng Tư!
Hôm Nay:
-Bằng giây phút này, 46 năm về trước, Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, đang thở những phút giây cuối cùng, vĩnh biệt tự do, dân chủ, no ấm trên 20 năm!
-Trước giây phút hấp hối, hành trình đi vào cõi chết, bắt đầu với cuộc Triệt thoái Cao Nguyên, quân dân di tản, kẹt cứng trên Tỉnh Lộ 7B, Cộng Sản pháo kích vào đoàn người di tản, hàng ngàn người chết, Tỉnh Lộ 7B đi vào lịch sử với tên mới: Tỉnh Lộ Máu!
-Bằng giây phút này, các tỉnh Miền Trung đã thất thủ, quân dân chạy về phía Nam, Cộng sản đuổi theo bắn giết, xác phơi như cá hộp trên Đại Lộ Kinh Hoàng, trên Đèo Hải Vân, các cửa biển Miền Trung.
-Bằng giây phút này, hàng trăm người Lính VNCH, dùng súng bắn vào đầu mình, trái tim mình, hay dùng lựu đạn nổ tan thân xác, vì không chịu nổi cái nhục đầu hàng, và Kẻ Ác đã thắng cuộc chiến!
-Bằng giây phút này, hàng trăn ngàn người Con Đất Việt, phải rời nơi “chôn nhau cắt rốn,” bỏ Nước ra đi. Sau đó hàng Triệu người, hàng trăm ngàn người đã lấy đại dương làm mồ chôn, trên đường chạy trốn độc tài Cộng Sản.
Xin cúi đầu, nghiêng mình, thắp nén nhang tưởng niệm, những cái chết trong ngày tang thương, đen tối nhất trong lịch sử của Người Dân Việt.
Ngày nào còn Cộng Sản cai trị trên Quê Hương, mãi mãi vẫn là ngày đau thương, Ngày Quốc Hận!
Có chết cũng không quên!
30/4/2021
LVHải
BỐ THƯƠNG YÊU của LINH & THANH-THANH
Tháng Tư Về
Nhìn lịch giật mình, ngày tháng trôi nhanh quá, mới đó đã đến tháng tư đen. Từ khi bị dịch Vũ Hán tôi không được đi dự ngày buồn 30 tháng Tư năm 2020, năm nay với tình hình này chắc ban tổ chức cũng khó thực hiện. Dù vậy nhưng ký ức tôi sống dậy mãnh liệt những ngày tháng ấy …
Khắc Khoải
Đến tháng tư đen nhắc nhở rồi
Gương nhìn quá khứ trở về thôi
Ai đi tù ngục sâu rừng núi
Kẻ trốn ghe thuyền đắm biển khơi
Tê tái chia tay buồn thấm cảnh
Xót xa giã biệt khổ đeo người
Bao nhiêu chuyện tủi sầu non nước
Trăn trở đêm dài thả mộng trôi
MTTN
Còn nhớ năm 2019 …Chị Phương Hoa và tôi đi xem cuốn phim “30 Tháng 4 Năm Đó Bác Ở Đâu” do đài Dân Sinh và hội IRC phối hợp tổ chức.
Phim tài liệu ghép lại với các hình ảnh sưu tầm từ những phút cuối tháng Tư năm 1975…Nhìn ngày cuối các anh lính vẫn ôm súng ở nhiều địa phương, chung sức chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, áo rách sờn vai, mặt mày hoang mang như chim lạc tổ… Cảnh chiếu tiếp những người tù lao động trong rừng núi, trong trại, thân hình tiều tuỵ, nét mặt buồn xo khắc khổ…Tiếng thuyết minh nhắc nhở về những vị anh hùng Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Nguyễn Văn Long, Hồ Ngọc Cẩn … Không khí lắng đọng, hình như mọi người đang xúc động tâm tư, đang khóc với hình ảnh đau thương đất nước miền Nam ngày cuối 30 tháng 4 năm 1975.
Sau buổi chiếu phim, nhân chứng sống là Trung uý Lê Ngọc Danh, Tùy viên Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam (Tư lệnh Quân đoàn 4 vùng 4 Chiến thuật), người đã sát cánh bên tướng Nam, lên có đôi lời kể về những giờ phút cuối của vị Tướng anh dũng này. Ông kể trong nỗi xúc động nghẹn ngào…
Chiều cuối tướng Nam đi vào Quân y viện thăm anh em thương phế binh, các anh em khóc nói “Thiếu Tướng đừng bỏ chúng tôi“.
Ông an ủi vỗ về:
– Tôi không bỏ, tôi ở lại với anh em …
Trở về tư thất, ông thắp 3 nén hương trước bàn Phật, sau đó người Tùy viên nghe tiếng súng nổ……….
Để kết thúc buổi chiếu phim, người xướng ngôn viên nêu lên câu hỏi:
“30 tháng Tư ngày ấy bác, anh ở đâu? chị ở đâu?….
Ra về lòng tôi nặng trĩu… Bốn mấy năm trôi qua, cuộc sống đã thay đổi, nhưng những người dân miền Nam khó thể quên chuyện ngày ấy. Tiếng Trung uý Lê Ngọc Danh kể về vị anh hùng Nguyễn Khoa Nam vẫn vang trong đầu cho đến giờ phút này. Đêm trăn trở, tôi thức dậy tràn nghiên theo thi hoạ:
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam
Thiếu Tướng hiên ngang ở lại thành
Quân hoài quý mến lớp đàn anh
Giờ cùng ước nguyện còn thơm tiếng
Phút chót câu thề mãi sáng danh
Nước mất buồn đau tìm lối tử
Nhà lìa khổ nhục thoát đường sanh
Can trường súng nổ ngàn thu biệt
Họ Nguyễn Khoa Nam sử sách dành
Minh Thuý Thành Nội
Giờ phút cuối nghe đài thông báo năm nay (2021) buổi tưởng niệm sẽ tổ chức tại khu Century thuộc thành phố San Jose do Bác Sĩ Phạm Đức Vượng đảm trách. Tôi thấy lòng phấn khởi như máu chảy về nguồn, cùng tâm trạng của những kẻ lưu vong tìm về tổ ấm tưởng nhớ đến ngày Quốc Hận cho vơi bớt nỗi niềm buồn tủi.
***
Hôm nay ngày 25 tháng 4 năm 2021. Buổi sáng trời âm u không có nắng, mây đen từng vùng. Đến nơi đã thấy hàng cờ vàng nối dọc ngoài đường story. Các hội đoàn tề tựu chuẩn bị mọi thứ. Đúng 11 giờ buổi lễ bắt đầu, tôi thấy có sự hiện diện của Thị Trưởng thành phố Westminster Tạ Đức Trí và luật sư Nguyễn Quốc Lân từ Nam Cali lên tham dự. Chương trình bắt đầu buổi lễ chào Quốc Kỳ Mỹ, Việt Nam. Mỗi lần được hát bản Quốc Ca VN thì kỷ niệm ùa về những buổi sáng thứ hai trong sân trường, cả lớp được đứng hát trước cột cờ, ngày xưa hát với tâm trạng bình thản vô tư, bây giờ hát nhưng tim đập mạnh…, nửa vui vì được hát và nửa như se thắt con tim. Kế tiếp lễ dâng hương Tổ Quốc và Lễ tưởng niệm các vị anh hùng “Sinh vi Tướng, Tử vi Thần” đã tuẫn tiết trong những ngày mất nước. Đèn hương nghi ngút vinh danh các anh hùng vị quốc vong thân, đúng là “Anh Hùng tử, khí hùng bất tử”.
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng
Bình Long trận đánh diễn oai hùng,
Quyết dẹp quân thù núp ẩn bưng.
Nếm mật, bùn dơ cùng rắn rít,
Nằm gai muỗi độc với sâu rừng.
Yên bề trở lại dân chào đón,
Vững bước quay lui vợ tủi mừng.
Nước loạn, nhà tan thề tuẫn tiết,
Anh hùng đáng phục Tướng Lê Hưng.
MTTN
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú
Tướng Phạm Phú gương đầu
Uống liều thuốc tử mau
Anh hùng lời hậu thế
Dũng khí tiếng đời sau
Tỵ nạn ông tràn hận
Lưu vong bạn ngập sầu
Bàn vong người tuẫn tiết
Tưởng niệm nỗi buồn đau
MTTN
Chuẩn Tướng Trần Văn Hai
Chiến sự nguy nàn cảnh bỏ đi
Lời mời tổng thống chẳng ngờ nghi
Sư đoàn bảy bộ binh tư lệnh
Chuẩn Tướng Trần Hai vẫn đảm vì
Ngày cuối tháng tư đất nước tan
Hai mươi viên thuốc quyết không hàng
Đồng Tâm căn cứ nơi làm việc
Cái chết uy nghi đã chuẩn dàn
MTTN
Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ
Tử thủ vùng Lai Khê phút cuối
Anh Hùng chẳng sợ đuổi đoàn quân
Bữa cơm măng vịt tình thân
Là giờ phút cuối nghĩa ân trọn kề
Viên đạn súng Colt thề quyết giữ
Can trường “Vị Quốc Tử Theo Thành”
Bởi đau đất nước tan tành
Xem thường cái chết sử sanh nhắc hoài
Quốc hận tháng Tư đài tưởng niệm
Bàn di ảnh khói điểm làn hương
Lòng dân đau xót mến thương
Âm thầm giọt lệ kính tương ngày buồn
MTTN
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn
Tổ quốc mang ơn lịch sử bù
Anh Hùng Hồ Ngọc Cẩn bao thu
Hăng say quyết tử gìn quân đội
Nhiệt huyết can trường giữ chiến khu
Ngạo nghễ hiên ngang khi nhốt ngục
Oai nghi thách thức lúc giam tù
Bị đem xử bắn không nao núng
Điểm mặt la to bọn giặc thù
MTTN
Trung Tá Nguyễn Long Cảnh Sát
Nhớ buổi đau lòng chuyện bảy lăm
Tháng tư phút cuối phận con tằm
Anh hùng mạnh dạn nào lo hãi
Tướng tá can trường khó dọa hăm
Chẳng đợi quân thù hành đạn súng
Đâu chờ bọn giặc xử dao găm
Nguyễn Long Cảnh Sát không nao dạ
Tuẫn tiết hiên ngang dáng thẳng nằm
MTTN
Nhìn di ảnh tôi thấy lạnh toàn thân khi nghe đọc tiểu sử các vị đã tìm cách chết hiên ngang quyết không đầu hàng quân giặc. Mọi người đứng yên chờ đến phiên mình để được thắp cây nhan với tất cả lòng thành kính xúc động. Đang lúc làm lễ trời đổ cơn mưa như nhỏ lệ dùm niềm đau của những người con xa xứ, lưu lạc khắp nơi đã về đây, cùng chung tâm trạng của kẻ mất nước với nỗi buồn dấy động mạnh lên mỗi khi tháng tư về. Tiếp tục chương trình các vị đại diện trong guồng máy chính quyền, đại diện các đoàn thể lên có đôi lời …..về ngày 30 tháng Tư “.
Phần văn nghệ với những bài hùng ca như “Việt Nam Tôi Đâu” (Việt Khang), “Đáp Lời Sông Núi” (Trúc Hồ), “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” (Nguyễn Đức Quang) v…v…Đến bài hát “Tấm Thẻ Bài” (Huyền Anh)
Sau cuộc chiến này còn chi không anh?
Còn chi không anh?
Hay chỉ còn lại tấm thẻ bài
Đang lạnh lùng trên tay em
Giọt máu nào là của Mẹ
Niềm tin nào là của em
Ôi trên tấm thẻ bài này
Tấm thẻ bài này, đã từng
Ấp ủ tất cả giấc mộng yêu đương
Mộng yêu đương không bao giờ đến
Không bao giờ đến nữa vì anh
Không còn mang tấm thẻ bài
Trở về bên em ….
Lời nhạc làm hồn tôi miên man hồi tưởng về quá khứ, hình ảnh những anh lính Việt Nam Cộng Hòa hiện rõ, những người lính Thương Phế Binh, những chiếc xe cứu thương chạy vào Quân Y Viện trong Mang Cá hàng ngày trên đường Đinh Bộ Lĩnh, những hình ảnh cô nhi quả phụ đội khăn tang đầy các phố, những thước phim tài liệu chiếu lính đi hành quân ngâm nửa người dưới nước băng rừng lội suối, hay những lúc hành quân trở về với tấm thân tàn ma dại… Tại sao đã có hiệp định Geneva 1954 chia đôi đất nước mà miền Bắc cứ muốn xâm lấn miền Nam? trong khi các anh lính chiến miền Nam chỉ đánh giặc để tự vệ, bảo vệ làng mạc thôn xóm, lo cho người dân an ổn sinh sống trong thanh bình…Càng nghĩ mắt tôi càng mờ dần thấm thía với bản nhạc “Tấm Thẻ Bài”.
Thương Người Chiến Sĩ VNCH
Cộng Hoà anh lính thuở xa xưa
Hình ảnh oai phong kể mấy vừa
Chiến tích quay về ngang ruộng rẫy
Hành quân ngừng nghỉ dưới cây dừa
Chiều thu đã thắm tình chia sẻ
Phố hạ chưa phai cảnh đón đưa
Áo trận sờn vai đời gió bụi
Thương người đội nắng với dầm mưa
MTTN
Buổi lễ kết thúc vào lúc 3 giờ chiều, bước ra xe lòng tôi nhẹ nhõm bớt phần nào sự buồn rầu, vì được gặp gỡ đồng hương, cùng ngồi lại với nhau dưới bóng cờ vàng, những tấm lòng cùng chung cảnh ngộ, cùng đau chung cho vận mệnh của đất nước, tuy không nói nhưng đã được chia sẻ thật nhiều bằng ánh mắt. Nơi đâu có dân tỵ nạn là nơi đó có ngọn Cờ Vàng, cờ chính nghĩa bay phất phới trong gió, cờ trong tim ấp ủ nỗi niềm hy vọng, và cũng sưởi ấm biết bao nhiêu cho những người con đã lưu lạc mất quê hương …
Tháng Tư Tưởng Niệm
Tháng Tư cúi mặt ngậm ngùi
Bao nhiêu ký ức đẩy lùi đau thương
Tỏ lòng kính cẩn nén hương
Anh hùng khí tử nặng vương lòng người
Tháng Tư đã tắt nụ cười
Bởi giặc miền Bắc lấn trời phương Nam
Hung tàn cướp bóc gian tham
Đọa đầy mọi chốn dân oan thảm sầu
Tháng Tư súng bắn vào đầu
Can trường các vị Tướng câu “tử thành”
Lê Hưng, Nguyên Vỹ quyết hành
Khoa Nam, Ngọc Cẩn thanh danh bỏ mình
Tháng Tư Phạm Phú quyên sinh
Trần Văn Hai cũng chọn vinh quyết thề
Nguyễn Long đã chết giờ kề
Trầm ngâm nhớ lại quặn tê nỗi buồn
Tháng Tư máu nóng dâng cuồng
Tháng Tư khắc khoải lệ tuôn mắt mờ
MTTN
Ngày Buồn
Quốc hận tháng Tư nỗi nhục buồn
Dù trời đổ lệ giọt mưa tuôn
Đồng môn hải ngoại lòng đau uất
Bạn hữu lưu vong máu hận cuồng
Tướng dũng khuôn dung, nào khuất phục
Người hùng di ảnh, chẳng hàng buông
Bàn hương khói tỏa người thành kính
Tỵ nạn Cờ Vàng giữ vững luôn
MTTN
Dù bệnh dịch vẫn chưa chấm dứt, mọi người đi dự đều mang khẩu trang, trời mưa gió lạnh nhưng tinh thần người Việt ở hải ngoại thật mạnh mẽ, ban tổ chức chung góp bàn tay chuẩn bị thời gian dài vất vả. Chúng tôi vô cùng biết ơn ban tổ chức của Bắc Cali.
Minh Thúy (Thành Nội)
Mùa Quốc Hận 2021
Ngày Quốc Hận 30-4-2006: Khánh Thành Bia Đá Vinh Danh VNCH và Đồng Minh tại Hawaii (phần 2)