Tưởng Niệm Tháng Tư Đen – 50 Năm Ly Hương

**

**

ĐAU ĐỚN QUÁ: VIỆT NAM CỘNG HÒA THUA DO

SỰ PHẢN BỘI CỦA KISSINGER!!!

**

**

Trong niềm thao thức sau 50 năm xa xứ, Phan Lang đã viết bài thơ Tháng Tư Trong Tôi vào ngày đầu tháng Tư năm 2025. Từ những vần thơ mộc mạc ấy, nhạc sĩ Vĩnh Điện đã phổ thành một ca khúc mang âm hưởng hoài niệm thiết tha, được thể hiện thật sâu lắng và truyền cảm qua giọng hát của ca sĩ Tuấn Giang. 

**

**

THÁNG TƯ TRONG TÔI

Bốn bể trôi thân lạc
Tháng Tư đen u hoài
Quê hương thành mây khói
Một thời nét tranh phai

Gót lưu vong lạnh giá
Trời tự do chưa xanh
Mắt khô cùng năm tháng
Tim rướm máu không lành

Nghe quê nghèo nức nở
Ngục tù thay mái tranh
Tre già rơi tiếng nấc
Lúa non rụng đầu cành

Thuyền nhân trôi sóng dữ
Xác tan theo mộng lành
Chim bay không thấy tổ
Chỉ còn gió mong manh

Con lớn khôn đất lạ
Cháu quên tiếng mẹ hiền
Ta gom lời thầm lặng
Dệt giấc mộng đoàn viên

Năm mươi năm biệt xứ
Tóc pha sương mịt mù
Tim còn nghe thổn thức
Nhớ một thời hoang thu

Mái tranh xưa rêu phủ
Giếng làng còn đợi ai?
Khóm cau già lặng lẽ
Ngóng bóng người lạc loài 

Mơ một ngày đất mẹ
Tan khói lửa, yên lành
Ta trở về thăm lại
Lối nhỏ phủ cỏ xanh

Dẫu chân run, lưng mỏi
Dẫu trán hằn gió sương
Lòng vẫn mang quê cũ
Như thuở còn sân trường

Cầu quê hương thanh bình
Hận thù chóng đi qua
Cho cháu con ca hát
Giữa mảnh trời ông cha

1/4/2025

phamphanlang

Xin được gửi lời tri ân sâu sắc đến nhạc sĩ Vĩnh Điện và ca sĩ Tuấn Giang – những người đã thổi hồn vào bài thơ mộc mạc này bằng những giai điệu và giọng ca tuyệt vời, giúp nó thăng hoa và chạm tới trái tim người nghe.

Trong ngày Quốc Hận đánh dấu 50 năm mất nước, xin kính mời quý chị em ùng lắng nghe và thắp lên một niềm hy vọng – rằng sẽ có một ngày quê hương thanh bình, để những người con ly hương có thể quay về, dẫu chỉ để cúi đầu trước mảnh đất mẹ bằng đôi chân đã nhuốm bụi thời gian.

PL xin chân thành cảm ơn và kính chúc sức khỏe, bình an.

Thân kính,
Phạm Phan Lang

**

**

**

**

**

Mới nghĩ tới thôi, cái Trái Tim Tháng Tư nó bỗng nở to chi lạ, có lẽ bất cứ với ai bị đảo lộn sinh hoạt của tháng tư, bị nhào lộn thói quen bởi tháng tư, và bị mất mát, bị tước đoạt, thân bại danh liệt cũng qua danh nghĩa tháng tư bất hạnh, mà 42 năm nay, người dân miền Nam gọi là Tháng tư Đen.

Mình quên bẵng cái Tháng Tư Đen này, trái tim mình bị bất ổn như thế nào?

Ngay từ đầu tháng, đã phải tới văn phòng Bác sĩ Vĩnh Khiêm và bác sĩ Tuyết Mai khám định kỳ 3 tháng/ 1 lần trái Tim và cặp Mắt.

Vào một sáng thứ 7, ngó chỗ nào cũng thấy chiến sĩ VNCH lưu vong, phong cách cũ, nhưng nhân dáng đã đổi thay ít nhiều…

Quý vị huynh đệ chi binh nêu trên, có 2 bửu bối quý giá, thì hết cả 2 đang trong thời kỳ hư hao, lão hoá.

Bác sĩ Khiêm sẽ theo dõi nhịp tim cho quý vị, bên cạnh đó, Bác sĩ Mai coi thử ánh mắt quý vị còn linh hoạt, hay đã mờ mờ.

Lẽ thường quý vị niên trưởng đang ở niên tuế 80-90, hơn một chút, hay kém một chút, đơn thân tới khám bịnh hay kèm theo phu nhân, cũng một thời xuân sắc. Cũng không ngoại lệ, tôi đã quen thuộc nơi này từ cả chục năm nay.Trái tim tôi được cân đo là “lớn vừa”, nhưng nếu coi thường … “quả thịt đỏ” ấy, nó sẽ chín hơn và rụng xuống bất cứ lúc nào không hay.

Mặt khác, nó, trái tim, được đong đếm chính xác, là nó có thể đập mau hơn, nhẩy tưng lên bất loạn, trật nhịp, lỡ nhịp, hay sai nhịp một cách… khủng khiếp.

Nếu anh không níu nó lại, giữ cho thăng bằng, thì khó mà an toàn trong cuộc sống thường tình thôi, đừng nói sôi nổi, nhiệt thành làm gì cho uổng đời hoa gấm.

Anh dư biết điều đó, song cho là chẳng có gì quan trọng. Bởi điều gọi là quan trọng đã phá sản từ 42 năm nay, bây giờ tìm một dấu lửa binh trong quá khứ, như tìm con ốc vỡ dưới lớp cát thiên thu.

Sáng nay, anh khuyên mình là đừng chăm chú cái định kiến sợ hãi mình sai, vì chưa chắc những người phê phán mình đã đúng.

Mọi sự việc phải được hiểu thật rõ ràng, trong cuộc chiến ngày xưa, hay giữa cuộc tình hôm nay, đừng để trái tim phải “bức xúc” vì sao đó.

Tại sao không nói trái tim xúc động, mà “bức xúc” chớ.

Ôi, nếu chỉ làm công tác chiến tranh chính trị, thì với đám đông kia, quen nghe tiếng “bức xúc”, ta phải xài “bức xúc” để đi nhanh vào tập thể đó, còn nếu viết lách văn hoa, thì cuốn tự điển dày cộm của anh, rất có ích cho ta tìm kiếm.

Mà thôi, hãy để cho trái tim “yêu”, đừng “bức xúc” những chuyện không đáng, hay không cần thiết.

Ô, anh cũng đánh giá đúng công việc của trái tim à?

Mình tưởng chỉ có mình đắm chìm vào cõi mê si, khổ luỵ, bắt trái tim thổn thức khá nhiều, khiến nó, trái tim, đập tăng tốc, đập quá tải…khiến bây giờ mỗi 3 tháng phải đi tới phòng mạch Bác sĩ, khám lại một lần.

Anh sợ mình không hiểu ” thiện chí ” của anh, nên anh nêu ra một loạt từ ngữ mà bây giờ trong nước thích dùng, không phải chữ nghĩa chuẩn của cái gọi là giai cấp “công nông “thống trị, mà chính ở thực thể dân chúng tự phát ngôn ngữ xem như mới lạ với họ.

Nay muốn họ” theo ta”, ta phải chuyển hoá họ.

Quý vị truyền giáo ngày xưa, đi tới đâu phải hiểu tiếng nói nước đó, nên ta không lạ, là quý vị truyền giáo tới Ấn Độ thì học tiếng Ấn Độ, tới Trung Hoa thì học tiếng Trung Hoa vv… sơ đẳng nhất là ở nước ta ngày xưa, quý vị học chữ nôm, khai sáng chữ Quốc ngữ vv…, nhưng vẫn tìm hiểu tiếng Thượng, để truyền giáo thẳng cho đồng bào Thượng.

Tôi chạnh nhớ hồi chúng tôi học “Cán sự Xã hội”ở Trung Tâm Caritas của các soeurs dòng Nữ tử Bác Ái, chúng tôi được lên tĩnh tâm ở Trung Tâm Công giáo Tiến hành Đalat do Linh mục Nguyễn Văn Nhân , gốc Canada, chính danh ngài là Gerard Gagnon, tổ chức và điều hành.

Cha Gerard Gagnon bảo rằng: cha thấy người VN đa số họ Nguyễn, nên cha xin là người họ Nguyễn, phái Nam nên tên lót chữ Văn, còn chữ Nhân thì đúng với nhiệm vụ truyền đạo của cha, phải có lòng nhân từ, nhân ái, nhân đạo vv…

Cha Gerard Gagnon viết một quyển sách tiếng Việt ngợi ca tinh thần nhân ái, hiếu hoà của đa số người Việt, tác phẩm tên Hồn Việt, tác giả ghi Nguyễn Văn Nhân (Gerard Gagnon) .

Do đó, trở lại chuyện anh khuyên mình không nên đặt nặng vấn đề về những linh tinh, khi phải viết một bài văn có những ý kiến khác với điều… mình lỡ viết theo thói quen, giống với mọi người.

Hãy để trái tim “yêu” thôi, mệt quá rồi, nếu yêu đến phải vong mạng, thì phản lại chân lý sống của một thành viên trong hội yêu đời như tôi đấy.

Nên, tôi phải chăm sóc trái tim, nhất là mùa tháng tư đen, mà vô hình chung những ai bị tan hoang cuộc sống sau cuộc đổi đời bi thảm 30-4-1975, đều bị ôm một trái tim xúc cảm trầm kha, và ánh mắt tối mờ bởi cuộc sống tan hoang đó..,

CAO MỴ NHÂN

DẶM VỀ THÁNG TƯ .       CAO MỴ NHÂN 

Gởi em trọn vẹn nỗi lòng

Từ khi giã biệt phương đông, tới đoài

Từ khi tiếng quốc u hoài

Nghe trong thân phận lạc loài, xót xa

*

Năm châu thiên hạ bao la

Lòng thêm buồn tủi sơn hà hờn căm

Này đây gió thổi mê lầm

Lệ đang thả giọt âm thầm hoang liêu

*

Dặm về khói sớm , sương chiều 

Hồn nghe phiền muộn những điều trái ngang

Tháng tư phai sắc hoa vàng 

Đốt trầm lên, lạy dở đang mộ người 

*

Tháng tư hiu hắt bên trời

Níu chân bước lẻ trọn đời tiếc thương

Nén nhang thắp đã tàn hương

Biển dâu hay cả đại dương nghẹn ngào… 

       Utah  12 – 4 – 2025         CAO MỴ NHÂN 

===

XÉ LỊCH THÁNG TƯ  ( 1 ).     CAO MỴ NHÂN 

Này là ngày tháng cô đơn

Tháng tư cùng với nỗi buồn phục sinh

Xưa anh thắp lửa biên đình

Đốt tan hoang những u tình chiến tranh

*

Núi mùa xuân thắm rừng xanh

Mầu chinh yên vẫn nhuộm thành quách tươi

Mai vàng bát ngát nắng phơi

Ngắt bông ” bạch tuyết ” tuyệt vời tặng em

*

Bỗng bầy dã thú cuồng điên

Từ phương bắc đến bôi đen sử vàng

Tháng tư lịch rớt ngàn trang

Còn trong anh nỗi uất tràn phút giây

*

Bom rơi, đạn nổ đó đây

Tháng tư tử hận từ ngày ba mươi

Bốn mươi chín năm xa khơi

Ngó về cố tổ,  lệ rơi vạn trùng …

       CAO MỴ NHÂN 

11 – 4 -2025

===

XÉ LỊCH THÁNG TƯ  ( 2 ) .    CAO MỴ NHÂN

Xé bao nhiêu lịch tháng tư 

Vẫn không lấp được hận thù cộng nô

Bên tai đạn nổ, quân hô

Dân xô đẩy kiếm đường vô lánh thù

*

Chiến hào khói lửa mịt mù

Tiếng chuông báo tử, lao tù khắp nơi

Người đi sóng nổi trùng khơi

Người về phiền muộn tả tơi tháng ngày 

*

Sớm chiều ngó xuống đôi tay 

Thấy không kéo nổi trời mây tận tình

Quen nhìn trận địa đao binh

Còn nghe âm hưởng tiến trình hoang liêu

*

Hỡi ôi, thương nhớ  tan theo 

Nửa trăm năm đợi nhạc thiều quân ca

Bốn phương quang phục Quốc Gia

Từ nam ra bắc nước nhà Tự Do  …

    Utah  8 – 4 – 2025

      CAO MỴ NHÂN 

===

MẠC PHƯƠNG ĐÌNH: buổi văn nghệ Tưởng Niệm 50 năm Tháng Tư Đen của Công Đồng người Việt tại San José

 ĐÔI LỜI TỪ TÁC GIẢ PHẠM PHAN LANG

Tháng Tư lại về, mang theo từng đợt sóng ký ức cuồn cuộn dội về. Năm nay đánh dấu 50 năm ngày đau thương lịch sử – ngày chúng ta mất nước, mất quê, mất cả một thời tuổi trẻ hoa mộng… để rồi lưu lạc bốn phương trời.

       Đã từ rất lâu, PL không còn làm thơ. Nhưng càng gần đến ngày Quốc Hận, lòng lại càng trĩu nặng, tim quặn đau khi nghĩ đến một quê hương vẫn còn chìm trong mù mịt, không ánh sáng của tự do. Trong nỗi buồn tái tê ấy, PL đã viết bài thơ “Tháng Tư Trong Tôi”, như một tiếng lòng hoài niệm và thương tiếc. 

        Xin kính mời quý vị cùng đọc, cùng cảm, và cùng thắp lên niềm hy vọng cho một ngày quê hương thanh bình để những người con xa xứ có thể tìm về, cho dẫu chỉ để cúi chào mảnh đất mẹ bằng đôi chân run rẩy.

        PL chân thành cảm ơn và kính chúc sức khỏe, an yên.

Kính quý,
PLang

THÁNG TƯ TRONG TÔI

Bốn bể trôi thân lạc
Tháng Tư đen u hoài
Quê hương thành mây khói
 Một thời nét tranh phai

Gót lưu vong lạnh giá
Trời tự do chưa xanh
Mắt khô cùng năm tháng
Tim rướm máu không lành

Nghe quê nghèo nức nở
Ngục tù thay mái tranh
Tre già rơi tiếng nấc
Lúa non rụng đầu cành

Thuyền nhân trôi sóng dữ
Xác tan theo mộng lành
Chim bay không thấy tổ
Chỉ còn gió mong manh

Con lớn khôn đất lạ
Cháu quên tiếng mẹ hiền
Ta gom lời thầm lặng
Dệt giấc mộng đoàn viên

Năm mươi năm biệt xứ
Tóc pha sương mịt mù
Tim còn nghe thổn thức
Nhớ một thời hoang thu

Mái tranh xưa rêu phủ
Giếng làng còn đợi ai?
Khóm cau già lặng lẽ
Ngong bóng người lạc loài 

Mơ một ngày đất mẹ
Tan khói lửa, yên lành
Ta trở về thăm lại
Lối nhỏ phủ cỏ xanh

Dẫu chân run, lưng mỏi
Dẫu trán hằn gió sương
Lòng vẫn mang quê cũ
Như thuở còn sân trường

Cầu quê hương thanh bình
Hận thù chóng đi qua
Cho cháu con ca hát
Giữa mảnh trời ông cha

phamphanlang

1/4/2025

Chuyển ngữ

April returns once more,  bringing with it wave after wave of surging memories. This year marks the 50th anniversary of a historic sorrow – the day we lost our homeland, our country, and the youthful dreams we once cherished… leaving us scattered across the world.

It has been a long time since I last wrote poetry. But as the National Day of Mourning draws near, my heart grows heavier, and a deep ache stirs within me when I think of a homeland still shrouded in darkness, devoid of the light of freedom. In that aching sorrow, I penned the poem “April Within Me” – a voice from the heart, filled with remembrance and mourning.

Please read, feel, and together let us kindle hope – lhope for a peaceful homeland,
where one day, we – its faraway children – may return,
if only to bow with trembling steps upon the sacred earth of our motherland

With heartfelt thanks and wishes for your health and peace,
Respectfully,
Pham Phan Lang

APRIL WITHIN ME

Across four seas, I drift, alone—
Dark April casts its mournful tone.
My homeland fades in smoke and haze,
A portrait lost in youthful days.

Exile’s path, so cold and bare,
Freedom’s sky still veiled with care.
Eyes gone dry through endless years,
A heart still bleeds its silent tears.

I hear the cries from poor, scorched lands,
Where prisons rise on thatched-roof strands.
Old bamboo sighs with breaking groan,
Young rice falls from its tender throne.

Boat people lost in storm-swept flight,
Dreams shattered in the endless night.
No nest awaits the wing-worn bird,
Just trembling winds and voices blurred.

Our children grow on foreign shores,
Grandkids forget our native lore.
We gather silent words once more,
To weave the dream we’re longing for.

Fifty years in exile’s hold,
Hair now streaked in misty gold.
Yet still the heart can feel the sting
Of autumns lost, of vanished springs.

That mossy thatch of long ago—
Who waits beside the village well?
Old areca trees in silence grow,
Still watching for lost souls to dwell.

I dream one day the war will cease,
Our motherland will rest in peace.
And we return, though frail we be,
To find that path beneath the green.

Though legs may shake, and backs be bowed,
Though time has carved its mark and shroud—
This heart still holds the schoolyard’s grace,
That homeland love no age can erase.

May peace at last embrace our land,
May hatred pass like drifting sand.
So children sing with voices free
Beneath the skies of ancestry.

phamphanlang

April 1st, 2025

Mời nghe nhạc

“Tháng Tư Trong Tôi” – bài thơ mang nỗi niềm về ký ức tháng Tư, đã được người bạn Ns Thái Phạm, cùng với sự hỗ trợ của AI, phổ nhạc thành ca khúc song ngữ Việt-Anh đầy cảm xúc. Mỗi giai điệu là một hồi ức, mỗi lời ca là một tiếng vọng của lịch sử và tình quê.

Xin mời nghe và cùng cảm nhận một Tháng Tư không bao giờ phai trong trái tim người Việt ly hương.

(April Within Me is a poem filled with deep and tender reflections on the memories of April. Now, beautifully set to music by my musician friend Thái Phạm, with the support of AI, it is presented as a bilingual Vietnamese-English song. Each melody is a memory; each lyric an echo of history and homeland. We invite you to listen and feel the enduring spirit of an April that forever lives in the hearts of Vietnamese living far from home.)

Vui lòng click vào hỉnh để đọc sách

Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài hơn hai thập niên, hàng triệu người đã ngã xuống, hàng triệu gia đình tan nát, và hàng ngàn đứa trẻ sinh ra trong cảnh loạn lạc, mang trong mình hai dòng máu nhưng lại không được xã hội chấp nhận. Những đứa trẻ lai Mỹ-Việt, kết quả của mối quan hệ giữa lính Mỹ và phụ nữ Việt, đã trở thành một trong những hậu quả đau thương nhất của chiến tranh. Họ lớn lên trong sự kỳ thị, nghèo đói, và bị xã hội ruồng bỏ, trở thành những kẻ lạc loài trong chính quê hương mình. “Những Đứa Trẻ Lạc Loài” là một tác phẩm xúc động và chân thực, kể về số phận của những đứa trẻ lai Mỹ-Việt sinh ra trong thời kỳ chiến tranh và lớn lên trong sự kỳ thị, nghèo khó, và bị xã hội ruồng bỏ. Cuốn sách không chỉ là câu chuyện cá nhân của Tâm An, nhân vật chính, mà còn là tiếng nói đại diện cho hàng ngàn đứa trẻ khác cùng cảnh ngộ.

War is not merely a confrontation between factions but also a tragedy for innocent people whose lives are caught in the whirlpool of violence. It is not just an armed conflict but also the lingering pain of those trapped between the crossfire. The Vietnam War lasted over two decades, with millions falling, countless families shattered, and thousands of children born into chaos, carrying two bloodlines yet not accepted by society. The Amerasian children, the result of relationships between American soldiers and Vietnamese women, became one of the most painful consequences of the war. They grew up in stigma, poverty, and abandonment by society, becoming outcasts in their homeland. “The Unwanted Children” is a poignant and authentic work that tells the fate of Amerasian children born during wartime and growing up in stigma, hardship, and neglect. The book is the personal story of Tam An, the main character, and a voice representing thousands of other children in similar circumstances.

CUỐI ĐƯỜNG MẸ ĐI

(Quê hương, những ngày di tản đầy máu
và nước mắt, trong tháng 4, 1975 –
QUỐC HẬN)

Mẹ già đi từ Cam Lộ
Nước mắt chảy mềm Gio Linh.
Gia tài không đầy đôi rổ,
Mẹ nhìn máu lửa Thần Kinh.

Đá đổ mồ hôi: Thạch Hãn
Chạy dài đến đỉnh Hải Vân.
Leo đèo, Mẹ như mê sảng,
Chân voi: sưng đôi bàn chân.

Mẹ đi giữa trời thiêu đốt
Thây con lớp lớp trải dài
Dọc theo con đường Số Một,
Nằm bên dăm củ sắn khoai.

Tam Kỳ chạy vô Quảng Ngãi
Bầy con đói khát bên đàng.
Biển người xô nhau, quằn quại,
Ngã dần… trong tiếng khóc than.

Mẹ vào Quy Nhơn, Phú Bổn,
Nhìn trời khói lửa Pleiku.
Đoạn đường mang tên Mười Bốn
Thành mồ hoang lạnh, thâm u.

Thây ai quàng manh chiếu rách,
Bàn tay nào vói trời cao?
Ngập vùng tang thương Darlac,
Chân đi, Mẹ khóc nghẹn ngào.

Máu chảy lan dần mạch đất
Nha Trang chết vạn đàn con.
Vào Nam, sức già lây lất
Về đâu? – Nẻo sống không còn !

Cần Thơ, Hà Tiên, Rạch Giá,
Mẹ lần đến mũi Quê Hương
Cà Mau nhìn ra biển cả

Tàn hơi, Mẹ chết bên đường !

Mẹ già đi từ Cam Lộ
Cuối đường, chết mũi Cà Mau.
Trọn đời sống trong đau khổ
Chết còn trông thấy khổ đau !…

Võ Đại Tôn (1975).

MẸ VIỆT NAM ƠI! CHÚNG CON VẪN CÒN ĐÂY

Thơ: Hoàng Phong Linh (Võ Đại Tôn)
Sáng tác năm 1972

Mẹ Việt Nam ơi! chúng con vẫn còn đây
Mẹ Việt Nam ơi! chúng con vẫn còn đây
Những đứa con bầu nhiệt huyết dâng đầy
Mang giòng họ của Lê Lý Nguyễn Trần
Mẹ mặc cho con vải thô áo mầu lam
Mẹ dưỡng nuôi con giòng sữa Bắc Trung Nam
Con của Mẹ đều một giống da vàng
Quyết một lòng diệt hết lũ tham tàn

Trên đầu voi rạng ngời vung ánh thép
Gái Triệu Trưng bồ liễu chống xâm lăng
Hé môi cười nghe tiếng sóng Bạch Đằng
Con Hưng Đạo như Rồng Tiên vùng vẫy
Vượt Trường Sơn, Nguyễn Huệ, Bắc Bình Vương
Quyết một lòng đi giữ vững quê hương
Và còn nữa con của Mẹ toàn danh tướng
Lòng Mẹ vui hãnh diện với đàn con

Nhưng Mẹ ơi giờ đây sao Mẹ khóc?
Hai vai gầy run rẩy nát tâm can
Mẹ lòng đau thương xót cảnh lầm than
Áo nâu nghèo Mẹ rách để phơi than
Một đàn con rồi quên ơn Mẹ nuôi dưỡng
Súng đạn cày tan nát luống quê hương
Mẹ lòng đau thương xót cảnh lầm than
Xót xa nhiều phương Bắc chiếm phương Nam

Nhưng Mẹ ơi! Mẹ đừng than khóc nữa!
Vì chúng con tuổi trẻ vẫn còn đây
Chúng con nguyện cùng ra sức đắp xây
Quê hương mình trong TỰ DO ấm no

Xin Mẹ yêu Mẹ đừng than khóc nữa!
Vì chúng con mười bảy triệu vẫn còn đây
Chúng con nguyện cùng ra sức đắp xây
Chúng con nguyện đi dựng lại Quê hương
Mẹ Việt Nam ơi! chúng con vẫn còn đây
Mẹ Việt Nam ơi! chúng con vẫn còn đây…
Không phản bội giòng sữa thơm nuôi đưỡng
Chúng con nguyện đi dựng lại Quê hương

Mẹ Việt Nam ơi!
Mẹ Việt Nam ơi!
Mẹ Việt Nam ơi!

***

Hồn Ca trên Biển Đông

  • Kính dâng lên hương hồn hơn nửa triệu đồng bào đã tử
    nạn trên Biển Đông, mong vượt thoát chế độ cộng sản
    VN, mưu tìm Tự Do sau cơn Quốc Nạn 30 tháng Tư Đen
    1975.
    (Lưu niệm chuyến đi viếng thăm mộ bia Thuyền Nhân tại các
    đảo Galang và Pinang (Nam Dương) cùng phái đoàn Văn Khố
    Thuyền Nhân và các Bạn từ các quốc gia trên thế giới. CSVN
    đang yêu cầu chính quyền Nam Dương đóng cửa các khu di
    tích Thuyền Nhân trên các đảo. Ngày nào còn CSVN, ngay cả
    những người đã chết trên các đảo hoang vu, lìa xa Tổ Quốc,
    cũng không được yên nghỉ ngàn thu…)
    Viết tại đảo Pinang ngày 14.10.2009
    Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
    1.
    Hồn ai đó?
    Chập chờn trên khói sóng
    Dòng máu tươi theo nước chẳng hòa tan.
    Hồn ai đó?
    Vạn tinh cầu chao bóng
    Đảo ghềnh xa còn vọng tiếng kêu than.
    Hãy về đây – trên sóng nước dâng tràn
    Chung tiếng khóc nghẹn đau cùng Dân Tộc.
    Hồn ai đó?
    Đã lìa xa Tổ Quốc
    Vẫn còn ôm sông núi xuống mồ hoang.
    Tiếng oan khiên từ đáy vực còn vang

Hay chìm đắm giữa khơi ngàn sóng dữ?
Mảnh thuyền tan, bập bềnh trôi viễn xứ
Biết về đâu? Hồn phiêu bạt nơi đâu?
Thân cá Hồi tan tác đã chìm sâu
Không tìm thấy lối quay về chốn cũ!
Giữa trùng khơi vang tiếng cười dã thú
Hải tặc giằng co thân xác – kinh hoàng.
Tiếng Mẹ kêu, dòng máu chảy đầy khoang
Tay vời níu đàn con run khiếp sợ.
Biển lạnh chiều hoang, trần gian nín thở,
Vòng tai ương kiếp nạn đến vô cùng.
Hồn ai đó?
Bờ Tự Do bốn hướng, cõi mông lung
Tìm đâu thấy – giữa muôn trùng đen thẳm?
Tiếng kêu “Trời!” trước phút giây chìm đắm
Biến tan vào giông bão, thét trùng dương.
Vực mồ sâu thịt rã máu còn vương
San hô trắng hay là xương ai trắng?
Dòng tóc đen bám ghềnh xa hoang vắng
Thành rong rêu sẫm tím một màu tang.
Hồn ai đó?
Chiếc thuyền Không Gian
Trôi về Vô Tận.
Bánh xe Thời Gian chuyển ngàn uất hận
Chập chờn mấy cõi U Minh.
Lịch Sử nghìn thu trang giấy rợn mình
Ghi chép lại phút kinh hoàng vượt biển!

2.
Hồn ai đó?
Đảo hoang sơ, ai về đây khấn nguyện
Mộ bia tàn, ai thắp nén hương dâng?
Nơi Ba-Đình vui chuốc rượu Vô Thần
Cười nghiêng ngả mừng reo hò chiến thắng!
Đồng ruộng phơi bày xương trắng
Oan khiên máu lệ thành sông.
Bao thây vùi trong sóng nước biển Đông
Còn sót lại mấy hoang tàn di tích?
Hồn ai đó?
Đảo xa xôi mộ phần cô tịch
Giấc ngủ chẳng bình an.
Họ còn theo, cố phá đập tan
Để tô hồng chế độ:

  • “Chủ nghĩa huy hoàng, không ai chối bỏ
    Không có người vượt thoát để tồn sinh !!!” (*CSVN)
    Nhưng bia đời như nắng rọi bình minh
    Luôn soi rõ từng vết sâu tội ác
    Của loài dã tâm với ngôn từ khoác lác
    Đang tôn thờ chủ thuyết lai căng.
    Hồn ai đó?
    Từ bao cõi vĩnh hằng
    Xin về đây chứng kiến.
    Tấm lòng chúng tôi, trọn đời Tâm Nguyện
    Chí bền gan, xin vẹn Nghĩa Tình.
    Dù ngăn cách Tử Sinh
    Giữa hai bờ Nhật Nguyệt.
    Dù có ai phá tan mộ huyệt
    Đến nghìn sau hồn mãi còn đây.
    Nhìn trùng khơi sóng nước dâng đầy

Gửi mơ về cố quốc.
Hồn vẫn sống trong lòng Dân Tộc
Vì hai chữ Tự Do.
Chiều GALANG bão tố sóng to
Hay tĩnh lặng trăng rơi thềm đá.
Sáng PINANG nắng xuyên rừng lá
Hay đêm vờn tiếng hát nhân ngư.
Hồn mãi còn đây, dù bia mộ hoang vu
Không tên tuổi – sá gì tên với tuổi!
Dù xác thân đã hòa chung cát bụi
Biển Đông còn – HỒN MÃI SỐNG THIÊN THU!
VÕ ĐẠI TÔN (HOÀNG PHONG LINH)

Kính gửi quý vị, quý chiến hữu, thân hữu và các thế hệ hậu duệ VNCH tự do nhân bản, hải ngoại/quốc nội,

Người ta thường nói: “Thời gian là thần dược có thể chữa lành mọi vết thương”, nhưng theo tôi suy nghĩ theo kinh nghiệm sống lưu vong của kẻ mất quê hương cội nguồn thì ngày nào chưa giải trừ được chế độ cộng sản bạo tàn, quang phục quê hương tự do dân chủ, thì ngày đó vẫn còn ngập tràn máu đen trong tâm não. Nằm trên giường bệnh cuối đời, chờ phút cuối theo lẽ vô thường kiếp nhân sinh, tôi nhớ lại những bài thơ của tôi đã hân hạnh được nhiều nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc và nhiều ca sĩ có lòng thương trình diễn.

Tôi xin chân thành cảm tạ.

VÕ ĐẠI TÔN

Xin gửi đến quý vị ba (3) bài thơ dưới đây được phổ nhạc.
Kính mong chia sẻ chung nỗi lòng vong quốc.

  1. Youtube/Video – Mẹ VN Ơi Chúng Con Vẫn Còn Đây.

Thơ võ đại tôn (hoàng phong linh) – 1972 – cố nhạc sĩ nguyễn ánh 9 phổ nhạc – ca đoàn văn nghệ la-san trình diễn.

2. Youtube/Video – Cuối Đường Mẹ Đi.

Thơ Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) – Nhạc Sĩ Võ Tá Hân Phổ Nhạc.

  1. Youtube/Video – Hồn Ca Trên Biển Đông.
    Thơ Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) Nhạc Sĩ Yên Sơn Phổ Nhạc.

NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ –

BÀI VIẾT CỦA GIAO CHỈ – NHÂN DỊP KỶ NIỆM 50 NĂM NGÀY QUỐC HẬN

Chín lần cảm ơn


Giao Chỉ San Jose viết về lần tổ chức tại San Jose năm 2015. Đến năm 2017 dự trù sẽ trở lại San Jose nhưng không còn cô Hạnh Nhơn nữa. Cô ra đi 9 giờ tối hôm ấy. Xin đọc lại chuyện cũ để tưởng nhớ người xưa.

Hình ảnh Bà Hạnh Nhơn – ân nhân của thương phế binh VNCH

Kỳ đại hội văn nghệ Cám Ơn Anh, người thương phế binh VNCH tại San Jose đã ghi nhận có sự hiện diện của nhiều vị niên trưởng trong quân đội. Đô đốc Trần văn Chơn 95 tuổi vẫn không quản tuổi già bình tĩnh ngồi giữa trưa nắng với hàng ngàn khán giả. Một vị cao niên khác là trung tướng Hoàng Xuân Lãm 87 tuổi. Được tin ông qua đời nên bác đến tham dự cũng để bày tỏ ý nghĩa của lời ca nổi tiếng. “Anh không chết đâu em.” Đó là các vị cao niên trong hàng quan khách danh dự. Người đứng ra nhận trách nhiệm là đại tá không quân Nguyễn Hồng Tuyền. Năm ấy ông 85 tuổi. Mấy năm trước tưởng người đã đi xa, nhưng người vẫn quanh đây.Vị nữ lưu số một của cộng đồng bền bỉ 9 năm qua là trung tá nữ quân nhân không quân Hạnh Nhơn 87 tuổi. Chị là hội trưởng của tổ chức đứng mũi chịu sào tổng cộng 9 kỳ đại hội. Không có thành tích nào lớn hơn có thể so sánh với “9 lần gươm báu trao tay, thuyền quyên thay thế anh hùng một phen”. Tổng cộng kỳ nầy tổ chức lần thứ 3 tại San Jose thu được trên tám trăm ngàn. Trong đó có Canada góp 100 ngàn và riêng Texas đưa về 300 ngàn. Nếu tính chung tất cả các kỳ tổ chức thu được gián tiếp và trực tiếp con số đã lên đến trên 7 triệu mỹ kim. Trong khi đó hồ sơ thương phế binh ghi nhận hôm nay trên 14 ngàn.

Trung tá Hạnh Nhơn, nguyên trưởng đoàn nữ quân nhân không quân khi đứng ra nhận công tác hơn 10 năm qua, chị không biết đã bắt đầu trở thành con tằm.”Nàng” đã mang làm kiếp con tằm, dù cho đến thác vẫn còn vương tơ”. Câu chuyện năm xưa bắt đầu từ khi nhà văn Huy Phương dẫn cô Hạnh Nhơn lại gặp nghệ sĩ Nam Lộc. Xem ra chính Nam Lộc là người mở đường cho chương trình Cảm ơn anh từ đầu. Khi trận thứ nhất mở màn, Trúc Hồ vận dụng tối đa các nghệ sĩ của Asia nhập cuộc và tiếp theo sau này là phương tiện của truyền hình SBTN. Với khả năng truyền thông mở rộng toàn thể giới, tiếng ca của Asia chuyên chở hùng ca cùng nước mắt Việt Nam Cộng Hòa đã đem lại tiền bạc gửi về cho thương phê bình ở quê nhà.

Những yếu tố thành công

40 năm xưa, khi miền Nam thất thủ, Ngày 30 tháng tư một trăm ba mươi tư ngẩn người chạy thoát. Ngày 15 tháng 5-1975 chiến hạm của đệ thất hạm đội Hoa Kỳ rút khỏi biển Đông sau khi vớt hết dân ty nạn. Từ sau ngày đó, những con thuyền ra đi được coi là thuyền nhân đầu tiên. Những chuyến đi liên tiếp kéo dài từ 75 đến 95 với 1 triệu người vượt biển. Tiếp theo là ODP, HO, con lai chúng ta làm thành các cộng đồng tại hải ngoại. Ngày nay tổng cộng có 3 triệu dân tỵ nạn rải rác khắp năm châu. Nhưng chúng ta đã để lại 16 ngàn tử sĩ tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Đã để lại hơn 50 ngàn thương binh và trên 100 ngàn quả phụ. Ngay từ giữa thập niên 80 khi Việt Dzũng viết bài ca gửi chút quà về quê hương thì đã có nhiều người nghĩ đến thương binh chiến hữu còn ở lại Sài Gòn. Hai mươi năm sau, giữa thập niên 90 khi người Việt về thăm gia đình thì việc cứu giúp thương phế binh đã trở thành phong trào tại Âu châu, Úc châu, Canada và Mỹ châu. Qua đến thập niên đầu thế kỷ 21 thì lời cảm ơn anh mạnh mẽ cất lên bằng tiếng hát đã trải qua 9 mùa thu từ 2006 đến nay 2015.

Trong số các phong trào quần chúng hải ngoại 40 năm qua thì Cảm Ơn Anh đã trở thành truyền thống tốt đẹp và thành công nhất. Yếu tố căn bản là lòng người vẫn hoài niệm tinh thần Việt Nam Cộng Hòa và người lính Cộng Hòa. Đã gần nửa thế kỷ trải qua mà nam nhi vẫn còn muốn mặc bộ quân phục oai hùng và nữ nhi vẫn mãi mãi là người yêu của lính. Thêm vào đó, cuộc chiến ngày này không phải bằng vũ khí mà bằng phương cách đấu tranh chính trị thì nghệ sĩ, danh ca đã trở thành chiến sĩ và truyền thông Việt ngữ đã chuyển tải các thông điệp cảm ơn anh vô cùng hữu hiệu để nhận về tình nghĩa từ khắp bốn phương trời. Trong việc phối hợp tổ chức xem ra vẫn có nhiều khiếm khuyết, nhưng tinh thần hợp tác vì mục đích chúng đã thể hiện được sự thành công tốt đẹp sau cùng. Về phương diện quản trị và điều hành tài chánh lên đến hàng triệu mỹ kim, chắc hẳn cũng có nhiều điều cần cải tiến và công bố. Chúng tôi sẽ có dịp tìm hiểu và đóng góp ý kiến xây dựng sau này. Nhưng nói chung sự hưởng ứng của đồng bảo là điều quan trọng nhất. Xin chúc mừng đại hội thành công.

Các nghệ sĩ như Nam Lộc, Khánh Ly, Ý Lan, Kiều Chinh, Việt Dzũng và nhiều tài danh khác đã từng đến thăm viếng Viện bảo tàng Việt Nam tại San Jose. Buổi tối chủ nhật thêm anh chị Trúc Hồ là những người khách thăm viếng rất muộn. Sau một ngày dài đại hội, Trúc Hồ và Diệu Quyên đến vào lúc 7 giờ chiều. Kelley Park đã chính thức đóng của từ 5 pm nhưng Viet Museum cũng mở cửa đặc biệt dành cho người thanh niên vượt biên đường bộ hơn 30 năm trước. Trúc Hồ đến thăm Museum đồng thời cũng thăm lại người bạn văn nghệ Việt Dzũng với đầy đủ hình ảnh và đôi nạng sắt được lưu lại ở đây cả trăm năm sau. Sau khi thăm viếng suốt một giờ,

Trúc Hồ hỏi bác Lộc rằng cháu có thể làm được chuyện gì. Tôi nói rằng bác là quá khứ, cháu là hiện tại. Museum này là di sản quý giá từ quá khứ muốn giao cho hiện tại để chuyển cho tương lai. Hãy xử dụng phương tiện của Asia và SBTN để hải ngoại quan tâm đóng góp di sản và nuôi dưỡng lâu dài. Bản thông điệp từ quá khứ đã trao cho hiện tại vào buổi tối sau một ngày dài đại hội văn nghệ lần thứ 9 tại San Jose.

Đăng lại để tưởng niệm chị Hạnh Nhơn.

Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316 8393

                   TiểuThu

Đêm nay cơn ác mộng lại trở về. Thơ giật mình thức giấc, tâm trí hoang mang thảng thốt. Trái tim đập thình thịch trong lồng ngực. Bên cạnh nàng Tú vẫn ngủ say sưa. Sau biến cố mất nước năm 75, từ khi may mắn thoát khỏi Việt Nam vào phút cuối, lại được định cư ở xứ Canada, nhưng có lẽ bị chấn thương tâm lý khá nặng nên thỉnh thoảng Thơ lại gặp ác mộng trong giấc mơ. Thật sự kinh hoàng, vì lần nào Thơ cũng thấy mình về Sàigòn thăm gia đình và không cách nào tìm được phương tiện trở qua Canada. Nàng tự sỉ vả mình ngu ngốc, đang sống yên ổn với chồng con, khi không trở về Việt Nam làm gì để ra cớ sự! Có lần trong cơn mơ Thơ khóc sướt mướt, tỉnh dậy hai má còn ướt đẫm nước mắt.

Thơ kể cho vài người bạn nghe, không ngờ cũng có người gặp ác mộng y như nàng. Một người bạn thân kể rằng, trong mơ anh thấy mình đi vượt biên và bị bắt lại. Mà người bắt anh lại là tên thủ trưởng nơi anh làm việc. Anh nghĩ chắc chắc mình tiêu đời rồi. Khi giật mình tỉnh dậy, nhận ra mình đang ở Hoa Kỳ, anh thấy trong đời chưa bao giờ hạnh phúc đến thế!

Thấy đồng hồ chỉ 5 giờ, Thơ cố dỗ giấc ngủ lại, nhưng sao đầu óc vẫn tỉnh táo và tâm trí lan man nhớ về những ngày tháng xa xưa. Thủa còn ở Việt Nam và chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ bỏ quê cha đất tổ, đến một nơi xa lắc xa lơ, mùa đông lạnh thấu xương để sinh sống. Vì đâu và vì ai? Nếu không phải vì những người cùng giòng giống, cùng tổ tiên như nàng, nhưng lại đem cái chủ thuyết chết người của ngoại bang về áp đặt  một cách dã man lên đồng bào ruột thịt của mình?! Miền Nam của Thơ trước khi bị cưỡng chiếm xinh đẹp, hiền hòa biết bao. Lúa gạo đầy đồng, tôm cá đầy sông, đi lại tự do. Làm sao tả hết những cái hay, cái đẹp mà người dân miền Nam đã được hưởng cho đến ngày 30-04-1975!

Từ năm 1972 gia đình nhỏ của Tú và Thơ thuyên chuyển từ miền Cao Nguyên về tỉnh lỵ Sa Đéc. Thật tiện lợi vì quê nội Thơ ở Cao Lãnh và quê ngoại ở Vĩnh Long. Và qua Long Xuyên cũng cùng một quãng đường dài. Nàng nhớ những trái soài Hòn mập ú, ngọt như đường mà chỉ có ở Cao Lãnh. Qua Vĩnh Long thưởng thức món xôi chiên phồng ăn với gà rô ti nổi tiếng. Sầu riêng Cái Mơn không đâu ngon bằng. Vú sữa Lò Rèn cũng tuyệt diệu. Có khi theo bạn về quê Cái Bè ăn cam. Cam Cái Bè nổi tiếng ngon ngọt. Thích hơn nữa là đi thuyền qua mấy cái cù lao ăn chôm chôm, nhãn. Sa Đéc cũng là một địa danh nổi tiếng với nhiều loại trái cây và tôm cá, gà vịt. Loại  mận da người màu xanh cẩm thạch, ruột đặc không hột và rất ngọt. Vú sữa hột gà màu trắng ửng hồng ngon ngọt vô cùng. Đặc biệt vùng này có loại ốc gạo thịt béo ngậy, ăn một lần là mê tít luôn. Không thể quên loại cá thu nước ngọt, nhỏ hơn cá thu biển, mình óng ánh nhiều màu. Cá này kho với nước dừa tươi là tuyệt cú mèo. Nói đến vịt xiêm Sađéc thì ai cũng biết. Bình thường vịt được nuôi bằng lúa, tép riu đầy sông rạch nên rất mập, thịt mềm, thơm ngọt. Mỗi lần có bạn phương xa đến thăm thế nào họ cũng được Thơ đãi món thịt vịt trứ danh Sa Đéc. Khi cả nhà Thơ về Sài Gòn thăm gia đình Tú, ngoài trái cây đủ loại không bao giờ thiếu cặp vịt xiêm.

Lúc này Thơ đã có hai tí nhau, một trai hơn 3 tuổi và một gái chưa 2 tuổi. Tú đi làm và Thơ ở nhà trông con. Tưởng rằng giòng đời cứ êm đềm trôi như giòng Cửu Long hiền hòa. Chiến tranh khốc liệt ở đâu xa, chứ tại thị xã thì đời sống vẫn bình thường. Chợ búa vẫn họp đông đúc mỗi ngày. Nơi Tú làm cũng không thấy thay đổi gì cả. Chợt ngày 25 tháng 4, Tú nhận được điện thoại của bà chị trên Sàgòn bảo gia đình Tú phải lên SàiGòn gấp. Chị đã làm thông hành cho đại gia đình đi ngoại quốc. Thế là vợ chồng con cái chất nhau lên xe chạy một lèo lên Sàigòn. Té ra nhờ hai ông anh rể sĩ quan cấp Tá làm việc trong Tổng Tham Mưu nên họ biết người Mỹ đã rút khỏi Việt Nam và một số tướng lãnh cũng như công chức cao cấp đã tìm đường chạy ra ngoại quốc. Ôi chao, lên đây mới thấy cả Sàigòn hỗn loạn. Ngoài đường đông nghẹt người. Tất cả các tiệm vàng chen chân không lọt. Người mua vàng, kẻ đổi đô la. Thơ cũng chen lấn đổi được 80 đô la Mỹ.

Cả gia đình Thơ cũng được ông anh rể cho vào danh sách xin đi máy bay Mỹ. Cơ quan D.A.O bảo chờ họ sẽ tới rước. Chờ mãi đến hôm 28 Việt cộng pháo kích dữ dội vào phi trường Tân Sơn Nhất thì Thơ tuyệt vọng, ôm con khóc mùi mẫn. Sáng sớm 29, sau một đêm thức trắng, cả nhà lên xe chạy vào Cư xá Sĩ quan trong bộ Tổng Tham Mưu, nhà ông anh họ của Tú. Ông này thân cận với 1 ông Tướng vùng, ông Tướng hứa sẽ có máy bay đón. Hy vọng tràn trề, nhưng chờ gần tới trưa vẫn chẳng thấy gì, người nào mặt mày cũng buồn rầu ủ rũ, căng thẳng tột độ. May sao gần 12 giờ, một sĩ quan dưới quyền của ông anh rể báo tin có chiếc tàu Đại Hàn đang đậu ở Tân Cảng sắp nhổ neo. Mừng quýnh mọi người lên xe chạy ra Tân Cảng. Dọc đường rất hỗn loạn vì dân chúng đang hôi của trong mấy cơ sở Mỹ bỏ trống. Kẻ khuân, người vác chạy đầy đường. Thỉnh thoảng có những tràng súng nổ dòn dã và những người lính còn mặc quần áo trận, có người bị thương máu me tùm lum, tay cầm súng chạy dọc theo hai bên đường khiến Thơ kinh hãi ôm cứng hai đứa trẻ. Tụi nhỏ chắc cũng linh cảm thấy sự nguy hiểm nên im lặng không dám hó hé. Sau này nàng mới biết một nhóm lính Việt Nam Cộng Hòa lúc đó vẫn còn cố gắng đánh nhau với Bắc quân trên cầu Xa Cảng. Thương thay những người chiến sĩ miền Nam anh dũng, thà hy sinh đến giọt máu cuối cùng chứ quyết không đầu hàng quân địch!

Xe quẹo vào bến Tân Cảng. Trên bến tàu nhiều người Mỹ đang đứng chỉ huy cho đoàn người xếp hàng dọc lên tàu. Họ bắt tất cả quân nhân phải cởi quân phục và bỏ súng lại trước khi lên tàu. Tất cả mọi người phải xuống hầm tàu thông qua một cái miệng hầm nhỏ, vừa một người qua lọt. Đây là chiếc tàu của Đại Hàn do Mỹ thuê chở vũ khí sang Việt Nam. Giờ đây Mỹ thuê để chở người tị nạn rời khỏi đất nước. Hầm tàu dùng để chứa hàng hoá, chỉ có một chỗ lên xuống nhỏ xíu nên nóng hầm hập. Gia đình Thơ kể như là những người đến muộn nhất nên mười một người chia nhau một chỗ độ chừng một mét vuông ngay dưới miệng hầm. Nàng đưa mắt nhìn chung quanh thấy người là người, nằm ngồi ngổn ngang. Tháng tư trời nóng, trong hầm như cái hỏa lò nên người nào cũng dùng cái gì đó quạt phành phạch, trông toàn cảnh cứ như những cánh bướm đang bay chấp chới! Riêng hai nhóc tì của Thơ cũng phải cởi áo ở trần mới chịu nổi.

Độ nửa tiếng sau thì tàu tách bến chạy về hướng Vũng Tàu. Thú thật là đến giờ phút đó vợ  chồng nàng cũng không biết mình sẽ đi đâu? Thấy người ta chạy thì mình cũng chạy theo, miễn là thoát khỏi Việt Nam đang rơi vào tay Cộng quân. Gia đình Tú vốn người Bắc. Năm 54 ba mẹ anh đã bỏ hết của cải, cơ ngơi ở Hà Nội để chạy vào Miền Nam lánh nạn. Lần đó họ còn biết mình sẽ đi đâu. Nhưng lần này thì quả thật rất mơ hồ, chỉ biết nhảy lên tàu rồi sau đó phó mặc cho ông Trời!

Lúc tàu chạy ngang Rừng Sát, mặt mày người nào cũng nghiêm trọng, không dám thở mạnh. Chỉ sợ một quả đạn gì đó trong rừng bắn ra trúng tàu thì gần một ngàn sinh mạng sẽ đi chầu Hà bá! May quá không sao. Nhưng trọng trách của con tàu này là phải đón cho được một ông cố vấn gộc người Mỹ. Vì thế tàu cứ chạy dọc theo bờ biển từ Vũng Tàu cho tới Cà Mau suốt 3 ngày liền. Đến ngày thứ tư mới trực chỉ ra khơi từ Vũng Tàu. Lúc này mọi người đã biết tin Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng nên ai nấy đều buồn dàu dàu. Tàu ra khỏi Vũng Tàu thì gặp vô số thuyền con từ đất liền chạy ra. Họ vây quanh tàu nên thuyền trưởng bắt buộc phải vớt họ lên. Ôi thôi thì gồng gánh đủ thứ, cả TV, cả xe gắn máy. Tất nhiên thủy thủ Đại Hàn vứt hết mấy thứ này xuống biển để lấy chỗ cho người. Lúc rời Tân Cảng con số chưa tới một ngàn, giờ đây đã lên đến hơn ba ngàn người! Thì ra có vị linh mục dẫn cả làng Phước Tỉnh chạy ra khơi! Đến giờ thì vấn đề vệ sinh thật nan giải. Tất cả mọi người già trẻ bé lớn đều bị đau mắt. Mà làm gì có thuốc cho ngần ấy người? Đành chịu thua! Gia đình Thơ chạy vào phút chót, lại hy vọng đi máy bay nên không chuẩn bị đem theo lương khô, đành chấp nhận ăn những khẩu phần của lính tráng đi hành quân: gạo sấy và cá khô. Cũng có nhiều gia đình có quan hệ với thủy thủ Đại Hàn nên họ đã xuống tàu trước mấy hôm với đầy đủ lương thực, mì gói và bánh trái các loại. Nhưng lúc này hồn ai nấy giữ nên chẳng ai “dại gì” chia cho người không quen biết! Gạo sấy thì đổ nước lạnh cho nở ra, cá khô thì cứ vậy mà ăn. Tội nghiệp hai đứa nhỏ, Thơ phải năn nỉ chúng mới miễn cưỡng ăn chút ít nên suốt tuần lễ dưới tàu hai đứa gầy nhom.

Đến ngày thứ bảy thì tàu ghé Subic Bay Phi Luật Tân lấy thêm nhiên liệu để đi tiếp qua đảo Guam. Chỉ một số người được đặc biệt xuống tàu để sang đảo  Guam bằng máy bay. Nhờ hai anh rể sĩ quan cấp Tá nên gia đình nhỏ của Tú-Thơ cũng được hưởng ân huệ này. Số còn lại tiếp tục đi tàu sang Guam. Đặt chân xuống đảo, thấy cảnh trùng phùng của nhiều gia đình, vợ con đi trước bằng máy bay, chồng đi sau bằng tàu, may mắn gặp lại nhau thật vô cùng hạnh phúc. Mỗi gia đình được chia một căn lều, có ghế bố và mền để ngủ, ngoài ra trống trơn. Ngày 3 lần đi sắp hàng lảnh cơm do đầu bếp Mỹ nấu. Chỗ của Thơ thì trường kỳ mỗi người được 1 vá cơm trắng và 1 vá trứng gà bột chiên. Có chai xì dầu hay hủ muối nào nhà bếp bỏ ra cũng bị chôm mất nên mọi người ăn cơm lạt nhách cũng đành chịu. Những người có tiền thì vào căng tin mua thức ăn. Thơ chỉ có 80$ nên…không dám, vì “biết ra sao ngày sau??? Thấy những người lính Mỹ phục vụ dân tị nạn Việt Nam mà thương.

Thơ không nhớ có bao nhiêu người tới đảo, chỉ nhớ là đông lắm. Lều trại nhìn mút mắt. Chỉ khổ ngày thật nóng và đêm thật lạnh.  Suốt ngày đi sắp hàng lấy cơm (Mỗi bếp có 3 hàng. Mỗi hàng dài hàng trăm mét) nên ai cũng đen thui như Chà Và! Đến nỗi có người quen gần nhà, gặp Tú còn hỏi “phải anh Tú không?”May mà lúc gia đình Thơ đến đảo thì phái đoàn Canada cũng vừa đến mở văn phòng. Tú-Thơ vội vàng đến xin đi Canada. Ban đầu họ chỉ nhận dân professionel, nhưng sau đó Mỹ phản đối gay gắt nên họ nhận luôn mọi ngành nghề. Nhiều bác sĩ, kỹ sư, giáo sư phải khai gian là thợ sơn, thợ máy mới được nhận. Hai tuần sau thì đại gia đình Tú lên máy bay trực chỉ Québéc. Lúc quá cảnh Hawai có người bịnh nặng nên cả gia đình phải xuống để đưa người bệnh vào nhà thương. Rồi sau đó nghe nói họ lập nghiệp luôn ở đây. Cũng may mắn vì khí hậu Hawai quá tuyệt vời.

Dân tị nạn đến Montréal vào tháng năm nên khí hậu đã ôn hòa, dễ chịu. Người dân nơi đây thật hiền hòa, hiếu khách, tuy nhiên họ không biết tí gì về Việt Nam. Vì chỉ nhìn chiến tranh VN qua truyền thông, chỉ thấy cảnh quê nghèo, đồi núi chập chùng, rừng rậm âm u nên trong trí họ VN là một xứ nghèo nàn lạc hậu. Chẳng vậy mà có 1 conseiller người bản xứ đã khuyên các bác sĩ VN nên đi học nghề y tá để kiếm sống. Họ  không biết rằng trường Đại học Nha Y Dược Việt Nam là một chi nhánh trực thuộc trường Nha Y Dược của Pháp và sinh viên học bằng tiếng Pháp. Rồi chỉ vài năm sau họ ngạc nhiên xiết bao khi hầu hết các bác sĩ, dược sĩ đã trở lại hành nghề và trong trường trẻ em Việt Nam học hành  đều xuất sắc. Hơn thế nữa các em rất lễ độ với thầy cô nên được quý mến vô cùng. Tóm lại, thuở đó dân Việt Nam sống ở Montréal được người bản xứ hết sức  kính trọng.

Thơ nhớ lại những tháng ngày vất vả trong cuộc sống mới nơi xứ người. Những ngày đi làm trong bão tuyết lạnh căm, gió thổi muốn bay vì người mình vốn nhỏ bé. Nhưng gian nan nào rồi cũng qua. Cái giá tự do trả thế cũng còn quá nhẹ. Cuộc sống êm đềm vì cả Tú lẫn Thơ đều không nhìn lên, không ganh tị hay so sánh  với ai. Thơ vẫn tâm niệm rằng mỗi một con người đều có số mệnh riêng. Và mình biết đủ là đủ. Con cái lớn dần, đã ra riêng để sống cuộc sống của chúng. May mắn sức khỏe hai vợ chồng nàng khá tốt. Thơ luôn cám ơn Trời Phật đã cho gia đình nàng thoát khỏi chế độ bạo tàn và đưa đẩy đến xứ sở Canada, một xứ sở giàu mạnh lại đầy lòng nhân ái, vị tha. Một trong những nơi đáng sống nhất thế giới. Vợ chồng nàng không mong gì hơn. Thỉnh thoảng cơn ác mộng vẫn hiện ra, nhưng hình như càng ngày càng cách xa nhau. Thơ hy vọng trong tương lai “Nó” sẽ không đến quấy rầy nàng nữa. Thơ chỉ cầu mong được sống một cuộc đời bình lặng, thanh thản bên Tú và các con. Mong lắm thay!

TiểuThu

Mùa Đông 2024

NGUYỄN XUÂN GIÁO1

      1Cựu Trưởng Ty Cảnh-Sát Công-An Quốc-Gia, Tỉnh Thừa-Thiên.

Tôi ở “An-Điềm” mới chuyển qua,

Anh từ “Tiên-Lãnh” cũng đưa ra.

Một trăm bốn chục tù nguy-hiểm

Nhốt kín rừng sâu “Đồng-Mộ” xa.

Ai bảo!  Bên ngoài: dân không “an”!

Bên trong: can-phạm cũng không “ngoan”!

Những tên đầu-sỏ: cần cô-lập,

Dập tắt trong đầu… mọi tính-toan!

Chúng bắt đi làm, mệt xỉu xâm;

Ngày hai lạng sắn (quý hơn sâm!)

Trích trong tiêu-chuần không lao-động:

Mấy chục ăn vào, trăm mấy thâm!2

      2Mấy chục người đi “lao-động” được cấp thêm mỗi người mỗi ngày 200 gr sắn, xén bớt từ khẩu-phần cầm-hơi của hơn một trăm người không đi “lao-động”.

Những lúc đi chung một chặng đường,

Thấy anh tôi qúa ngậm-ngùi thương:

Tôi còn bước được theo đồng-đội,

Anh lết chân sên  một bộ xương!

Âu-dược gia-đình tiếp-tế cho:

Trại không có thuốc  nhập vào kho!

Cầu nhiều, cung ít, tù nhiều bệnh,

Đến lúc anh cần: hết sạch vo!

Bảy chín qua đi trong tối-tăm,

Tám mươi dời trại xuống “Thôn Năm”.

Rồi anh ngã bệnh, ngày càng yếu,

Đi+đứng xiên xiêu, phải dựa+nằm.

Xin chúng cho anh được viết thư:

Thư mang hy-vọng hoá huyền-hư.

Chúng cho viết hết, nhưng… không gửi!

(Điều đó, anh+tôi đã biết dư!)

Trí lụn, thân suy, óc muộn phiền;

Cháo ngày hai sét, đói liên-miên!

Thuốc-men chẳng có, không săn-sóc!

(Nếu chết thì lôi ra trước hiên!)

Đến lúc anh như đã hụt hơi,

Nửa mình lạnh cứng, tay buông xuôi,

Chúng cho võng chở về “Tiên-Lãnh”;

Chúng bảo: anh đi bệnh-viện rồi!

Đồng-bạn mừng cho anh gặp may:

(Không như Xuân, Xáng3 chết trong này)

Nào: “tiêu-chuẩn” thuốc!  nào: “y-tá”!

Nếu được cho về nữa, lại hay!

      3 Trung-tá Trần Như Xuân chết tại “Đồng-Mộ”; trung-tá Trần Phước Xáng chết tại “Nhà Trắng” trong trại “Thôn 5” (Trại “Tiên-Lãnh 2”); đều thuộc Quận Tiên-Phước, Tỉnh Quảng-Nam.

                       *

Tám mốt, tôi từ “Kho Đạn” lên

Mới hay anh Giáo đã… quy-tiên!

(Chúng đem về nhốt trong phòng tối

Được độ vài hôm… thì là… yên!)

Ấy đấy!  Công ơn chúng hải-hà:

Đã không giết chết, không đòn tra,

Còn cho “học-tập”, cho lao-động,

Để “tốt” mà mau trở lại nhà!

Biên-bản về anh chắc chúng ghi:

(Cũng như Xuân, Xáng: sướng ai bì!)

Thuốc-men! ăn+uống! và chăm-sóc!

Bác-sĩ  đồng-tù  ký… chứng-tri!

Còn nhớ hôm nào: anh với tôi

Cùng bàn thế-sự, máu cùng sôi;

Ta dùng tiếng Pháp trên đầu địch,

Thù giặc, căm-hờn lũ… tớ-tôi!

Anh đã là tù thuở ngáo-Ngô;

Tôi: tù phong+thực lẫn mê-nô.

Bây giờ ta lại tù man-Cộng:

Anh hết, tôi còn… tới lúc mô?

Nhưng, hễ trên cao còn Trời Xanh,

Thì còn lưong-hảo thắng gian-manh!

Tôi nguyền đóng góp cho Đời đẹp,

Cho thoả lòng Người, thoả dạ anh!

                  Tiên-Lãnh 1, 02/03/1981

                         THANH-THANH

CÁC BÀI VIẾT TỪ TRANG THÂN HỮU LONG HỒ VĨNH LONG:


Long Hồ Vĩnh Long: 50 Năm Bụi Mờ – Sáng Tác: Lê Tín Hương – Ca Sĩ: Anh Dũng
Long Hồ Vĩnh Long: Người Tôi Yêu-Tô Đình ĐàiLong Hồ Vĩnh Long: 50 Năm -Cao Vị KhanhLong Hồ Vĩnh Long: Hổ Tướng Đất Việt-Kim PhượngLong Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Nhớ Sài Gòn-Trần Bang ThạchLong Hồ Vĩnh Long: Kỷ Niệm Không Mờ Phai -Tiểu ThuLong Hồ Vĩnh Long: Saigon Xưa Không Còn – Nhạc & Lời Phạm Anh Dũng & Nguyên Bích – Ca Sĩ: Kim OanhLong Hồ Vĩnh Long: Ðêm Ba Mươi- Nguyễn Phan Ngọc AnLong Hồ Vĩnh Long: 50 Năm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa-NguyễnThịThanh DươngLong Hồ Vĩnh Long: Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi – Sáng Tác: Phạm Duy – Tiếng Hát: Mã Thị LợiLong Hồ Vĩnh Long: Nắng Hạn Tháng -Lê Mỹ HoànLong Hồ Vĩnh Long: Chiến Sĩ Bất Tử -Lê Huy TrứưLong Hồ Vĩnh Long: Tiệc Lính-Minh ThúyLong Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Về, Em Có Nghe? – Kim LoanLong Hồ Vĩnh Long: Bài Thơ Năm Mươi Năm – Nguyễn Vĩnh LongmLong Hồ Vĩnh Long: Ngày Tháng Tư-Kim PhượngLong Hồ Vĩnh Long: 50 Năm Vẫn Hoài…Kim Oanh

*********************************************

KHG Dương Nguyệt Ánh – Hình do cô Ánh gửi cho HLC 2025

Đã 50 năm qua kể từ ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản (CS). 50 năm là một thời gian đủ dài để cho những người Việt tha hương xây dựng lại mái nhà và một đời sống sung túc mới bên ngoài quê hương.  Nhưng 50 năm vẫn chưa đủ dài và có lẽ sẽ không bao giờ đủ dài để chúng ta quên đi cái tang chung và quên được Việt Nam (VN), hay nói rõ hơn là quên được Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Những ngày tháng đầu đặt chân đến Hoa Kỳ (HK) tị nạn, tôi vô cùng ngỡ ngàng khi thấy truyền thông, báo chí, sách vở, phim ảnh và học đường HK mô tả chiến tranh VN khác hẳn với những gì chính tôi và gia đình tôi đã sống qua. Vì thiên tả và phản chiến, họ đã thiếu lương thiện hoặc mù quáng đến nỗi bóp méo sự thật và nhục mạ không chỉ quân đội VNCH mà cả binh sĩ HK của họ. Vì thế quần chúng HK nói riêng và thế giới nói chung có một hiểu biết rất sai lệch về chính nghĩa của miền Nam. Bao nhiêu năm sau khi miền Nam sụp đổ, tôi vẫn mang trong lòng một cái hận. Cái hận nước mất nhà tan chưa đủ, tôi còn mang thêm nỗi uất hận và cảm giác đau đớn bất lực khi thấy chiến sĩ của mình tiếp tục bị hàm oan và sỉ nhục.  Những người quân nhân HK thì bị vơ đũa cả nắm là những tên sát nhân phụ nữ và trẻ thơ.  Những chiến sĩ VNCH vào sinh ra tử trong đó có anh ruột tôi thì bị vu khống là hèn nhát.  Cả quân đội VNCH bị bỏ rơi và cuối cùng bị ra lệnh đầu hàng vào 30 tháng 4 mà tại sao bị đổ tội làm cho mất nước.

Hôm nay, tôi vẫn còn mang trong lòng sự tức giận này nhưng tôi không còn cảm thấy bất lực nữa.  Trong khi tôi từ một người tị nạn buồn tủi năm xưa trở thành một công dân HK với đầy tự tin hôm nay thì tôi cũng đã học hỏi và nhận ra được nhiều điều.  Tôi nhận ra rằng chính chúng ta phải tự giúp mình, chính chúng ta phải lên tiếng phản bác lại bọn truyền thông thiên tả, phải tự giải oan và không trông chờ vào ai khác.  Ở những quốc gia tự do dân chủ như HK, ai cũng có thể lên tiếng tranh đấu hay bênh vực cho bất cứ một điều gì.  Ngày nay với những sách báo điện tử và những trang mạng xã hội, truyền thông dòng chính không còn giữ độc quyền hướng dẫn dư luận nữa, và tiếng nói của thiểu số như chúng ta sẽ không sợ bị át giọng, miễn là ta có đủ quyết tâm.

Là thế hệ tị nạn đầu tiên chúng ta đã tạm lo xong chuyện cơm áo, đã thành công rực rỡ trên quê hương mới ở nhiều phương diện, và đã dựng lên những cộng đồng Việt trù phú ở khắp nơi. Bây giờ là lúc chúng ta đủ phương tiện và kinh nghiệm để dồn nỗ lực vào việc trả lại sự thật cho lịch sử.  Chính chúng ta phải phục hồi danh dự cho chiến sĩ của mình và chính chúng ta phải giáo dục quần chúng về chiến tranh VN và chính nghĩa của quân dân VNCH, nhất là cho thế hệ con cháu của chúng ta.  Với tình trạng thiên tả ở các học đường HK, từ sách vở tài liệu giảng huấn cho đến khuynh hướng chính trị của giáo sư, chính con cháu chúng ta cũng sẽ hiểu biết sai lệch nếu cha mẹ không giải thích.

Hậu quả là con cháu chúng ta không những sẽ không biết hãnh diện mà có thể còn mặc cảm về nguồn gốc VNCH của họ, cho rằng cha ông chỉ là những kẻ thua trận cay cú nên mới chống chính quyền VNCS. Từ đó họ không tha thiết đến việc tìm biết thêm về cái gốc của mình, không tham gia vào sinh hoạt của cộng đồng người Việt quốc gia (CDNVQG), và thờ ơ với những vấn đề liên quan đến sự trường tồn của dân tộc VN.  Còn nếu họ có lòng và vẫn quan tâm đến VN thì chính vì họ xa lạ với CDNVQG, họ sẽ dễ nhiễm tuyên truyền và dễ ngả về phía CSVN.

Một trong những chiêu bài bọn tay sai CS ở hải ngoại dùng nhiều nhất là kêu gọi hòa hợp hòa giải và hợp tác với chính quyền VN. Đã gọi là hợp tác tức là phải có một mục đích chung.  Mục đích của chúng ta là bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền quốc gia của VN, là tạo tự do, cơm no áo ấm cho người dân VN.  Mục đích của họ chỉ là củng cố quyền lực cho đảng và giai cấp tư bản đỏ, bằng mọi giá và bất chấp mọi hậu quả cho dân tộc và tổ quốc VN, như đã được chứng minh bằng những hành động dâng đất dâng biển cho Trung Cộng và ăn cắp tài nguyên quốc gia làm của riêng.  Mục đích của họ và của ta không những không thể dung hòa mà còn đối kỵ nhau nên người Việt quốc gia hải ngoại không thể hợp tác hay hòa hợp hòa giải gì với nhà cầm quyền VN được. 

30 tháng 4 không thể chỉ là một ngày tang buồn với những hồi tưởng và nước mắt.  Khi nhớ đến những cái chết bi hùng của chiến sĩ VNCH và những tai ương đã đổ lên đầu quân dân miền Nam, chúng ta cần có những bước tới tích cực hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa, để trả lại sự thật cho lịch sử, để giáo dục tuổi trẻ VN và dư luận thế giới về chiến tranh VN và phục hồi danh dự cho quân dân VNCH. 

Tôi xin nhân dịp này bầy tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với những ai đã từng tranh đấu và hy sinh cho chính nghĩa tự do của miền Nam VN, những chiến sĩ đã bỏ mình, và những thưong phế binh đang sống tủi cực ở quê nhà.  Nhờ chiến sĩ mà hôm nay tôi được sống tự do và bình an, được có cơ hội để theo đuổi những hoài bão riêng và mưu tìm hạnh phúc cho riêng mình.  Tôi mãi mãi không quên ơn chiến sĩ.

Dương Nguyệt Ánh

April 2025

===============================

==============================

CHUẨN-TƯỚNG HUỲNH THỚI TÂY

Lê Xuân Nhuận

MỘt hôm, vào đầu tháng 3 năm 1975, tôi được Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia/Ngành Đặc-Biệt gọi vào mà không cho tôi biết trước lý-do hay mục-đích gì.

Cũng được xe-hơi dân-sự đón từ phi-trường, nhưng đến văn-phòng của Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương thì viên thiếu-tá bí-thư mời tôi qua gặp Trung-Tá Phạm Văn Ca, Giám-Đốc E2 (Nha Phản-Tình-Báo/Nội-Chính), theo lệnh của Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây.  

Tôi đã từng cùng Trung-Tá Ca đi tu-nghiệp về “Chống Khuynh-Đảo” tại Úc-Đại-Lợi vào năm 1970 nên quen thân nhau.

Ca bảo tôi:

‒ Ông Tướng muốn biết trong thời-gian qua anh có làm gì sai trái hay không.  Anh hãy ngồi đây, viết bản tự-thuật, kể hết những gì mà anh thấy là khuyết-điểm, xong rồi hãy qua gặp ông.

*

Tôi ngồi ôn lại mấy việc lớn/nhỏ mà tôi nghĩ là có thể đã làm Tướng Tây bất-bình về tôi…

Trung-Tá Nguyễn Mâu

Trong một buổi họp các cấp Trưởng E (Giám-Đốc Nha tại Trung-Ương và Nha tại các Vùng), Đại-Tá Huỳnh Thới Tây hỏi về “Biệt-Đội Thiên Nga” cùng các cơ-cấu không thấy có ghi trong Sắc-Lệnh tổ-chức của Ngành.   

Tôi trình-bày về “Chiến-Dịch Đại Phong” và “Ký-Giả Tự Do”.

Chiến-Dịch Đại Phong” là tên gọi của một phương-thức hoạt-động, theo đó thì nhân-viên Đặc-Cảnh sử-dụng người chỉ-điểm, là cán-bộ/bộ-đội/cơ-sở Việt-Cộng bị bắt mà tự-nguyện hợp-tác với ta, bằng cách ngụy-trang và tạo ngụy-tích cho đương-nhân không bị công-chúng, nhất là đối-phương, nhận ra.  

Ký-Giả Tự Do” là một/vài viên-chức Đặc-Cảnh hoặc cảm-tình-viên của Ngành, có năng-khiếu viết báo, làm phóng-sự, được giao nhiệm-vụ bí-mật trà-trộn vào giới ký-giả hiện đang ào-ạt săn tin giật gân, trong đó có nhiều phần-tử phản-chiến, thân-Cộng và cả là cộng-sản trá-hình.  Ngành Đặc-Biệt can-thiệp với Bộ Thông-Tin, cấp “Thẻ Ký-Giả” cho họ, để phòng có ai thắc-mắc thì đưa ra cho họ xem.  “Tự Do” nghĩa là gửi bài đăng trên bất-cứ báo nào, không hẳn là cộng-tác-viên nhất-định của một báo nào.

Tôi đã thật-tình và vô-tình nói rằng đó là những sáng-kiến của Trung-Tá Nguyễn Mâu.

Đại-Tá Tây ném mạnh cây bút xuống bàn, dằn giọng:

‒ Tôi là Huỳnh Thới Tây; làm việc với tôi thì hãy chỉ biết có tôi; tôi không cần biết Nguyễn Mâu là ai.

Việc Thăng-Thưởng Nhân-Viên

Một lần khác, cũng họp tham-mưu như trên, bàn về vai trò của “Cán-Bộ Điều-Khiển” (Case Officer: Điệp-Trưởng) trong các công-tác xâm-nhập (nguời của ta, do ta xây-dựng rồi cài vào hàng-ngũ địch) và nội-tuyến (người của địch, được ta móc-nối, sử-dụng làm tay-trong cho ta).

Đại-Tá Huỳnh Thới Tây ngỏ ý muốn nâng-đỡ giới này.  

Tôi lấy tư-cách là người thực-sự đi sát và hiểu-biết nội-tình tại chỗ, trình-bày:

‒ Trước đây, Người Bạn Đồng-Minh đã nghĩ đến việc cấp một ngân-khoản phụ-trội hàng tháng cho tất cả viên-chức Ngành Đặc-Biệt, nhưng bên Cảnh-Sát Sắc-Phục phản-đối, nên việc không thành.  Theo tôi, đáng khuyến-khích nhất là Cán-Bộ Điều-Khiển, như đại-tá vừa nêu ra.  Nhưng đa-số Cán-Bộ Điều-Khiển thì là hạ-sĩ-quan.

“Nếu dùng sĩ-quan thì không những dễ-dàng hơn trong việc tiếp-xúc và nhờ-vã sự giúp-đỡ của người khác, mà còn có nhiều uy-tín và được tin-tưởng hơn đối với chính mật-viên của mình.  Nhưng sĩ-quan Cảnh-Sát Đặc-Biệt thì đa-số đều mong được giữ chức-vụ chỉ-huy, mà khi đã là cấp chỉ-huy rồi thì họ lại mong được qua Sắc-Phục, hay nói đúng hơn là họ mong được hưởng những lợi-lộc như bên Sắc-Phục.  Thí-dụ, ngay cả khi đã được cấp một chiếc xe Jeep rồi, mà xe lại có màu sơn và mang bảng số của xe thường-dân, thì họ vẫn thấy thua-kém xe Jeep sơn 2 màu lục+trắng của Cảnh-Sát (Sắc-Phục), vì bên Sắc-Phục vẫn được dân-chúng nể-sợ và dành cho nhiều ưu-tiên hơn.

“Còn muốn tưởng-thưởng các hạ-sĩ-quan CBĐK hữu-công thì cách xứng-đáng nhất là thăng cấp cho họ; nhưng họ vẫn nằm ở dưới các Trưởng G  (Phòng), Trưởng H (Ban), nên họ còn lâu mới được thăng lên sĩ-quan.”

Đại-Tá Tây dằn mạnh cây bút xuống bàn, thốt lên một tiếng chửi thề, bỏ ra khỏi phòng.

Mọi người lặng im, lo sợ giùm tôi.  Trung-Tá Nguyễn Văn Thuận, Trưởng D3 (Phụ-Tá Chuyên-Môn của Trưởng Ngành ĐB Trung-Ương) đưa tay ra dấu cho tôi chú ý đến anh.  Trước kia, anh cũng đi Úc cùng chuyến với Ca và tôi.

Thuận nói:

– Mọi sự thưởng/phạtthăng ai, giáng aiđều nằm trong tay của ông.  Nếu anh xin ông ban ơn đặc-cách thăng cấp cho các phần-tử hữu-công, thì ông sẽ mát lòng hơn.

Hệ-Thống Liên-Lạc Cảnh-Sát Hình-Sự

Trong vụ phi-cơ “Air Vietnam” bị nổ lựu-đạn tại Phi-Trường Phú Bài, Huế, khi tôi biết được thủ-phạm là Nguyễn Cửu Viết, tôi liền gửi điện cho Bộ Chỉ-Huy CSQG Quận liên-hệ tại Sài-Gòn, là nơi cư-ngụ của một người bạn của thủ-phạm (mà theo tin-tức tôi nhớ từ hồi còn ở Vùng II thì Viết đã nhờ chính người bạn này tìm-kiếm cho y một quả lựu-đạn) yêu-cầu trong đó chấp-cung “người-bạn” ấy.

Đại-Tá Tây cho rằng tôi đã vượt quyền, không trình lên ông là cấp trên, để ông ra lệnh cho các cấp dưới hữu-trách ở địa-phương khác thi-hành.

Theo tôi thì đây là thủ-tục hình-sự; tôi, với tư-cách Hình-Cảnh-Lại (danh-xưng mới, trước kia là Tư-Pháp Cảnh-Lại), Phụ-Tá Biện-Lý (Công-Tố-Viên) của Tòa Án Sơ-Thẩm, tại Đà-Nẵng (tôi cũng là Phụ-Tá Chưởng-Lý của Tòa Án Thượng-Thẩm Vùng I, tại Huế), tôi có thể phát lệnh truy-nã, trực-tiếp nhờ sự tiếp tay của các Hình-Cảnh-Lại khác (Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Khu, Tỉnh, Thị, Quận, v.v…) trên khắp nước, trong những vụ án cần được khẩn-cấp tầm+tra.

Huống chi CSQG của Việt-Nam Cộng-Hòa đã là Hội-Viên của Cảnh-Sát Quốc-Tế (InterPol).  

[Hoa-Kỳ đã giúp Việt-Nam Cộng-Hòa tuyển-dụng viên-chức có bằng đại-học luật-khoa, nghiên-cứu về luật quốc-tế, hướng-dẫn tham-gia tổ-chức Cảnh-Sát Quốc-Tế [InterPol], thành-lập chi-nhánh Việt-Nam của Cảnh-Sát Quốc-Tế, đặt trụ-sở tại Tổng-Nha (nay là Bộ Tư-Lệnh) Cảnh-Sát Quốc-Gia.]

Trong một số trường-hợp khẩn-cấp các Hình-Cảnh-Lại còn có thể liên-lạc phối-hợp hoạt-động với nhau, không những vượt quản-hạt hành-chánh trong một nước, mà còn có thể vượt cả biên-giới quốc-gia.

Cấp-Hiệu CSQG cho Thám-Sát Đặc-Biệt

Vì đã huy-động Thám-Sát Đặc-Biệt* đi hoạt-động chung với Cảnh-Sát Dã-ChiếnCảnh-Sát Sắc-Phục, và cả Nghĩa-QuânĐịa-Phương-Quân, nên tôi đề-nghị với Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Khu I, và đã được ông chấp-thuận, cho một số cấp chỉ-huy của Thám-Sát Đặc-Biệt tại Vùng I được mang cấp-hiệu CSQG, để có uy-tín đối với các đơn-vị bạn mỗi khi đi phối-hợp hành-quân.

Họ mặc sắc-phục Cảnh-Sát Dã-Chiến, đội mũ-nồi bằng nỉ màu lục của Thám-Sát Tỉnh (PRU= Provincial Reconnaissance Unit) cũ, nhưng cấp chỉ-huy không mang dấu-hiệu gì để các cơ-quan đơn-vị bạn nhận biết rõ-ràng.

Nay thì tại Vùng I họ được mang thêm cấp-hiệu CSQG:  Chỉ-Huy-Trưởng Liên-Đội Thám-Sát Đặc-Biệt Khu I mang cấp-hiệu thiếu-tá.  Chỉ-Huy-Phó của đơn-vị này mang cấp-hiệu đại-úy.  Các Chỉ-Huy-Trưởng của Đội Thám-Sát Đặc-Biệt thuộc các Tỉnh/Thị trong Vùng I cũng mang cấp-hiệu đại-úy.

Đại-Tá Huỳnh Thới Tây cho rằng tôi đã lạm quyền, vì Quyết-Định của Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc là do đề-nghị của tôi.

Riêng về việc này thì tôi tự nhận là đã xúi ẩu để Đại-Tá Lộc chấp-thuận, vì nếu chờ-đợi Trung-Ương thì chắc khó có kết-quả, bởi lẽ Thám-Sát Đặc-Biệt chưa có quy-chế thực-thụ CSQGkhông có cấp-bậc, chỉ có chức-vụ và còn hưởng lương theo mức cố-định từ thời còn ở dưới quyền của CIA.  Vả lại, việc mang cấp-hiệu này chỉ có giá-trị đối với 2 viên-chức tại cấp Vùng, và một viên-chức tại mỗi Tỉnh/Thị, và chỉ trong khi tham-gia hành-quân phối-hợp mà thôi.  

[Hồi tôi còn làm Trưởng Ngành Cảnh-Sát Đặc-Biệt Vùng II, tôi đã trình xin và được Tư-Lệnh Quân-Đoàn II/Vùng II Chiến-Thuật chấp-thuận cho một trung-sĩ Cảnh-Sát Đặc-Biệt ở Tỉnh Bình-Thuận được mang cấp-bậc đại-úy QLVNCH để vào làm việc trong Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-bên.  Nay làm Giám-Đốc Đặc-Cảnh Vùng I, tôi cũng đã xin và đã được Tư-Lệnh Quân-Đoàn I/Quân-Khu I chấp-thuận cho vài trung-sĩ Cảnh-Sát Đặc-Biệt của tôi ở Đà-Nẵng được mang cấp-bậc đại-úy QLVNCH để vào làm việc tại Ban Liên-Hợp Quân-Sự 2-bên.]

Một Khẩu K-59 Tước Được của VC

Trong một cuộc hành-quân, Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Nam có tịch-thu được của Việt-Cộng một khẩu súng lục mới lạ, Địa-Phương chưa thấy lần nào.

Thiếu-Tá Chánh-Sở Lâm Minh Sơn báo-cáo lên tôi, tôi báo-cáo lên Bộ Tư-Lệnh/Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương.

(Lệnh trên ban xuống từ trước là trong trường-hợp tương-tự thì hãy chụp ảnh, mô-tả đặc-điểm hình dáng khẩu súng để xem nó thuộc loại nào.)  

Sau đó, tôi nhận được lệnh nạp trình chiến-lợi-phẩm ấy lên Trung-Ương.

Gặp lúc có một cuộc họp tại Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, tôi được mời vào tham-gia.

Sau phần thuyết-trình tổng-quát của tôi, Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây hỏi tôi về khẩu súng trên.

Tôi có mang theo bản sao của tờ báo-cáo kèm theo hình-ảnh mô-tả của khẩu súng lụcgửi rồi nhưng chắc chưa đến tay ôngnên tôi lấy ra đưa cho ông xem.  Tướng Tây đọc báo-cáo và nhìn hình-ảnh, xong hỏi khẩu súng đâu rồi, hãy trao cho ông.

Tôi đâu có khẩu súng ấy mà trao.

Số là Đặc-Cảnh ở Tỉnh đồng-thời cũng có báo-cáo kết-quả hành-quân lên Tỉnh, nên viên Tỉnh-Trưởng sở-tại đòi xem khẩu súng ra sao.  Thấy khẩu súng quý, vì mới bắt được lần đầu, viên đại-tá Tỉnh-Trưởng bèn giữ lại, nói là mượn xem ít hôm.  Liền đó, gặp dịp Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu ra thăm Quảng-Nam, viên Tỉnh-Trưởng sở-tại đưa khẩu súng ấy ra khoe; và thấy Tổng-Thống tỏ ý thích nó nên viên Tỉnh-Trưởng tặng luôn.

Thường thì chúng tôi báo-cáo tóm-tắt sự-việc ngắn gọn ra ở phần trước, còn các chi-tiết phụ-thuộc thì ghi ra ở phần sau, với các tài-liệu liên-hệ kèm theo.

Do đó, tôi đáp (như có ghi ở phần sau báo-cáo):

– Trình thiếu-tướng, Tổng-Thống đã lấy khẩu súng ấy rồi.

Nhưng Chuẩn-Tướng Tây chưa đọc phần sau của bản báo-cáo, không hỏi chi-tiết làm cách thế nào mà khẩu súng ấy lại đến thấu tay Tổng-Thống; ông nghĩ là tôi đã “qua-mặt” ông, tự ý vượt cấp tâng công trực-tiếp với vị Nguyên-Thủ Quốc-Gia.

Ông tức, gằn giọng:

– À, anh đã muốn “kiếm điểm” trực-tiếp với Tổng-Thống thì từ nay trở đi có gì anh cứ lên thẳng Tổng-Thống, đừng cần thằng này nữa nghe!

Vài Ngoại-Lệ

Tôi nghĩ cũng cần báo-cáo cả những việc-làm ra ngoài nguyên-tắc, phần thì để tỏ là mình thành-thật, phần thì để phòng Cấp Trên đã biết cả rồi (?).

1. Đời công:  Tôi đã tự-ý thành-lập một “Phòng Tình-Hình” (không có trong sơ-đồ tổ-chức chính-thức của Ngành), để nhân-viên thay phiên nhau cùng làm việc 24 giờ/7 ngày với tôi, bắt cả nhân-viên trực máy tại các Tỉnh/Thị cũng cùng ở trong tình-trạng sẵn-sàng làm việc bất-cứ lúc nào liên-tục suốt ngày+đêm như tôi.

2. Đời tư:  Có lần một viên Thanh-Tra Trung-Ương ngỏ ý muốn xem sinh-hoạt ban đêm tại Đà-Nẵng.  Trong thời-gian đó, Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng cấm các sĩ-quan quân-nhân không được đến khiêu-vũ tại các vũ-trường, nên các Tỉnh/Thị-Trưởng cấm chung mọi người, mặc dù các chủ tiệm-nhảy đã được chính-quyền cấp cho giấy phép hành-nghề.  Tôi đã đưa viên Thanh-Tra ấy vào một phòng trà+ca+vũ+nhạc; gặp lúc không có nhân-viên Cảnh-Sát Sắc-Phục, các cô vũ-nữ đã ào ra sàn, ông cũng ôm eo một cô lả-lướt như ai.

*

Tôi nhờ đả-tự-viên tại văn-phòng E2 đánh máy, xong ký tên, đưa bản Tự Thuật ấy cho Trung-Tá Phạm Văn Ca.  Anh mang ngay vào trình cho Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây.        

Lát sau, Ca trở lại, nói rằng Ông Tướng đang bận, bảo tôi tiếp-tục tường-trình các hoạt-động tại các Tỉnh/Thị thuộc Miền Trung.

*

Công-việc của tôi không phải chỉ là gửi+nhận công-văn & công-điện và đi thanh-tra, bình-thường như một số cấp chỉ-huy trung-gian khác, nhất là cấp Vùng.

Tôi đã tích-cực thực-hiện công-tác an-ninh & phản-gián của chính cấp Vùng.  Có như thế mới xứng-đáng với sự hiện-diện và hiện-hữu của một cơ-quan cấp Vùng.

Đồng-thời tôi cũng hòa-nhập hoạt-động với các địa-phương, góp phần cụ-thể cùng họ vượt khó, tiến nhanh.

Tôi chỉ ghi lại một số sự-việc thí-dụ mà thôi.  Tính từ Quảng-Trị vào đến Quảng-Ngãi.  [Đã viết trong cuốn hồi-ký “Cảnh-Sát-Hóa” (trang 137-240) nên không nhắc lại ở đây.]

        Tôi đưa bản thảo nhờ đả-tự-viên đánh máy giùm, xong nghĩ là mình cũng nên ghi ra những gì mà các thuộc-viên có thể hiểu lầm, dẫn đến bất-mãn, xuyên-tạc gì chăng.

Đại-Úy Cao Viết Song của Tỉnh Quảng-Tín

Không hiểu vì sao mà Đại-Úy (sau này là Thiếu-Tá) Lâm Minh Sơn, Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Nam, và Đại-Úy Cao Viết Song, Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Tín, được Bộ Tư-Lệnh CSQG thuyên-chuyển vào Sài-Gòn; xong rồi Sơn được trở lại với trách-vụ cũ, còn Song thì không.

Nhân dịp vào Bộ Tư-Lệnh, tôi hẹn với Song hãy đến gặp tôi, để tôi dẫn vào trình-diện và xin với Đại-Tá Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, cho anh trở lại nhiệm-sở cũ.

Nhưng Song trễ hẹn.

Tôi chỉ có thể nhân lúc báo-cáo thành-quả công-tác mà xin cho Song.

Tôi vào gặp Đại-Tá Tâynhư một diễn-viên xuất-hiện trên sân-khấu vào một lúc nào đó nhất-định trong một vở tuồngchứ đã ra khỏi phòng-giấy của ông rồi, đã đóng xong vai tuồng của tôi rồi, thì diễn-viên-tôi không thể tự-dưng vào lại sân-khấu.  Tôi không thể nào trở lại, vào gặp bất-thường mà xin cho Song, bởi lẽ Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương bận rất nhiều việccó lần tôi thấy buổi chiều ông vẫn ở lại làm việc cho đến tối đêmvả muốn vào gặp thì phải trình xin phép trướcmà tôi thì không phải là một người thân-cận của ông.  Thế thôi.

Đại-Úy Nguyễn Văn Tuyên của E Khu I

Vì Đại-Úy X, Chánh Sở Nghiên+Kế tại E6 (Ngành Đặc-Biệt Khu I) của tôi, được Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Khu I, cử đi làm CHT/CSQG một Quận trong Vùng, tôi chọn một trong các đại-úy giảng-viên tại F4 (Trung-Tâm Huấn-Luyện Tình-Báo Căn-Bản Khu I), là các sĩ-quan chưa giữ chức-vụ chỉ-huy, lên thay.

Tôi không quen biết ai, mà chỉ xét qua hồ-sơ cũng như nhận-xét của cấp chỉ-huy trực-tiếp là Trưởng F4, thấy họ đều tốt như nhau, nên tôi chọn Đại-Úy Nguyễn Văn Tuyên.  Tuyên là người có nét chữ viết tay khá đẹp, viết nhanh như tốc-ký (phòng khi tôi cần đọc gấp cho anh viết một văn-bản gì), và là tín-đồ Đạo Ki-Tô (để chứng-tỏ là mình không kỳ-thị aiNgay chính một viên vệ-sĩ và hai viên tài-xế của tôi, tôi cũng chọn người theo Đạo Kitô).

Nhân dịp cuối năm, có đợt thăng-thưởng chung cho mọi người, tôi đề-nghị cho anh lên thiếu-tá.

Tôi đích-thân thảo một Phiếu Trình đặc-biệt, bảo Tuyên cho đánh máy ngay, ghi số, đóng dấu, rồi trao tận tay cho tôi ký, để sáng hôm sau tôi mang vào Sài-Gòn, định sẽ nhân lúc tường-trình công-việc với Đại-Tá Huỳnh Thới Tây thì trao cho ông mà xin cho Tuyên.

Rồi tôi lo làm hồ-sơ thuyết-trình đến khuya, sáng lại là lên phi-cơ, vào gặp Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương.

Khi tôi đã làm xong việc tại Bộ Tư-Lệnh/Ngành Đặc-Biệt, nhân-viên biệt-phái tiếp-phát văn-thư tại Sài-Gòn mới tìm đến nơi tôi tạm-trú ở Sài-Gòn mà trao Phiếu Trình nói trên.

Cũng như trường-hợp của Cao Viết Song, tôi không thể nào vào lại, xin riêng cho Nguyễn Văn Tuyên.  Hồ-sơ (bình-thường) đề-nghị thăng cấp cho anh, nằm chung danh-sách với các ứng-viên khác, đã không qua lọt hội-đồng tuyển-lựa bình-thường tại Nha Viên-Chức/Tiếp-Trợ, vì không có kèm Phiếu Trình đặc-biệt của tôiđáng lẽ, nếu có, thì có bút-phê chấp-thuận đặc-biệt của Trưởng Ngành rồi.

Một Đại-Úy Muốn Có Chức-Vụ Chỉ-Huy

Có một đại-úy, tôi không nhớ tên, trong số các giảng-viên tại F4, có vợ là người quen thân với vợ của Đại-Tá Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Khu I, đã nhờ bà này xin cho chồng mình được giữ chức-vụ chỉ-huy.

Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc ngỏ ý với tôi.

Tôi hứa là sẽ thu-xếp giùm.

Nhưng đối với Ngành Đặc-Cảnh thì việc đề-cử trách-vụ có phần khó-khăn hơn bên Sắc-Phục.

Ở Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia, hồi đó, có sự thi-đua hoàn-tất bổ-nhiệm, ổn-định chức-vụ, giữa các Khối, Nha, Sở, Phòng; từ Trung-Ương xuống các địa-phương.

Trưởng Ngành Đặc-Biệt tại Bộ Tư-Lệnh không muốn bị chê là mình làm chậm, hoặc không chính-xácnếu cứ thường-xuyên thay-đổi phương-vị người này, kẻ kia, nếu không có gì khẩn-thiếttức là xáo-trộn hệ-thống quản-trị, thống-kê, kế-toánvì mỗi chức-vụ (có hưởng phụ-cấp) đều cần được hợp-thức-hóa bằng một Nghị-Định của Bộ/Trung-Ương.

Rất tiếc là mãi rất lâu tôi vẫn chưa thể đề-cử anh được vào một vị-trí chỉ-huy nào, vì chưa có chỗ nào khuyếtđiều này hẳn là không làm vừa lòng bà vợ, và ngay cả cấp chỉ-huy trực-tiếp hàng ngang của tôi tại Vùng này…

*

Vì mọi người rất sợ Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, không dám trình ông nhiều hơn những gì ông đã chỉ-thị, nên Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây cũng theo cách đó, ít ai dám hỏi nhiều hơn những gì ông đã nói ra.  

Tôi nhớ có lần Đại-Tá Tây ra lệnh cho Cảnh-Sát Đặc-Biệt toàn-quốc báo-cáo về vấn-đề “giành lấn đất-đai”.  Các nơi đua nhau thu-thập tài-liệu về chuyện chủ đất tranh-tụng nhau về bất-động-sản, công-thổ, tư-điền.  Tôi hỏi Nha Tình-Báo (E1) là nơi phát ra lệnh ấy, thì trung-tá Giám-Đốc Nha ấy cũng chỉ nhắc lại lệnh của Cấp Trên như thế mà thôi.  

Riêng tôi tự nghĩ chủ-quyền đất-đai là một hộ-sự, không thuộc Cảnh-Sát Quốc-Giacoi về hình-sựhuống gì Ngành Đặc-Biệt là cơ-quan chính-sự.  Chắc-chắn là việc Việt-Cộng nhân dịp ngưng bắn theo Hiệp-Định Paris mà lấn chiếm lãnh-thổ ở vùng xôi-đậu, nên đã bảo riêng các Tỉnh/Thị tại Vùng I tường-trình thêm về vụ này.  Quả-nhiên, trong buổi họp tại Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương mà Đại-Tá Tây cho mời cả các Phụ-Tá Đặc-Biệt cấp Tỉnh/Thị tại Khu I vào dự, tất cả các Chánh Sở Đặc-Cảnh liên-hệ đều thuyết-trình giống như tài-liệu cấp Vùng của tôi; lúc đó mới biết là đúng nhu-cầu của ông.

Do đó, tôi không biếtvì hẳn Trung-Tá Phạm Văn Ca cũng không hỏi nên không biếtthực-sự Chuẩn-Tướng Tây muốn tôi trình-bày những gì.

*

Cuối cùng tôi được mời vào gặp Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây.

Ông cười hỏi tôi:

– Anh ngạc-nhiên lắm hả?  

Tôi chưa biết phải nói gì thì Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương đã nói ngay:

– Chính tôi mới là người ngạc-nhiên, về anh.

“Ở Vùng I:  Chánh Sở An-Ninh Quân-Đội đề-cao anh; Tham-Mưu-Trưởng Quân-Đoàn & Quân-Khu khen-ngợi anh; Trung-Tướng Tư-Lệnh Ngô Quang Trưởng ban-thưởng Anh-Dũng Bội-Tinh cho anh 3 lần, 2 với ngôi sao bạc, 1 với ngôi sao vàng.  Cộng chung, tại Vùng I, cũng như tại Vùng II, ngoại-trừ các sĩ-quan quân-đội biệt-phái qua, thì anh là sĩ-quan Cảnh-Sát có nhiều huy-chương nhất, cả các loại của các quân-chủng bên quân-sự lẫn các loại của các Bộ bên dân-chính, và các loại huy-chương của Cảnh-Sát Quốc-Gia.

“Ở Trung-Ương:  tôi hỏi các phụ-tá của tôi, Giám-Đốc các Nha, thì không ai chê-trách gì anh, mà họ còn tỏ ra quý-mến anh.

“Tôi đã phái Trung-Tá Phạm Trọng Tú, Thanh-Tra-Trưởng, ra tận nơi dò xét về anh, nhưng không tìm thấy điều gì sai trái, chỉ toàn ưu-điểm mà thôi…”

Ông cười, khiến tôitừ chỗ thoạt đầu lo-ngại, tiếp đến ngạc-nhiên, rồi là vui-mừngcũng cười theo ông.

Rồi ông đứng dậy, khiến tôi cũng đứng dậy theo.

Ông kết-luận:

– Tôi chỉ trực-tiếp trắc-nghiệm, để anh tự mình nói ra, rằng mình đã có làm gì bậy-bạ hay không.  Mà không thì là tốt rồi.  Thiếu-Tướng Tư-Lệnh cũng có đường dây kiểm-soát riêng, và cũng nhận thấy là anh có tài, có công, có tư-cách, đáng được tưởng-thưởng.  Thiếu-Tướng đã ra lệnh thăng cấp cho anh vào “Ngày Cảnh-Lực” 1-6-1975* này.  Bộ Tư-Lệnh đã dự-trù sẽ bổ-nhiệm anh vào một chức-vụ nào đó, quan-trọng và xứng-đáng hơn cương-vị hiện-thời.

“Thôi, chúc mừng anh. Tiếp-tục cố gắng.

“Và vui-vẻ ghé Nha-Trang thăm gia-đình nha!”

*Ngày ấy chưa đến thì Việt-Nam Cộng-Hòa đã tiêu-vong.

LÊ XUÂN NHUẬN  

Ghi chú:

   Cựu Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Biệt toàn-quốc (mà tôi gọi làTư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương), sau ngày mất nước, đau nỗi đau chung, đã lặng-lẽ ẩn mình trong bóng tối, không xuất-hiện nơi công-cộng, không tuyên-bố, phát-biểu điều gì. 

        Ông mất tại Westminster, CA, USA, ngày 12-9-2010, hưởng-thọ 78 tuổi.

=====

Lê Xuân Nhuận

TÔI đã phát-biểu với Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, có cả Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, cùng nghe, rằng nếu tôi còn đảm-trách an-ninh & phản-gián Vùng I ngày nào thì ngày đó tôi còn ngăn-chận được mọi cuộc biến-loạn, cho Vùng ấy, và, do đó, cho cả Miền Nam*.

Tôi nói như thế liền sau khi tôi đề-nghị bổ-nhiệm hai sĩ-quan tín-đồ Kitô-Giáo làm Tỉnh/Thị-Trưởng và Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh/Thị, là hai chức-vụ quan-trọng nhất trong chính-quyền tại Tỉnh Thừa-Thiên và Thị-Xã Huế. Như thế nghĩa là sau khi thay-đổi hai quan-chức ấy, mà nếu tình-hình ngoài đó vẫn còn bất-an, thì chính tôi mới là người có thể dẹp yên các mưu-đồ quấy rối nội-chính tại Huế và Thừa-Thiên.

Đề-nghị của tôi đã được Trung-Ương chuẩn-y ngay.

Thế rồi, mới dự lễ giao+nhận chức-vụ Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh/Thị giữa Thiếu-Tá Liên Thành và Trung-Tá Hoàng Thế Khanh ở Huế xong, tôi đã phải ra ngoài đó lại để chủ-toạ lễ giao+nhận chức-vụ Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh/Thị: Trương Công Đảm thay-thế Trương Công Ân.

*

Nhớ hôm Trung-Tá Hoàng Thế Khanh nhậm-chức, ngay sau buổi lễ tôi đã đi vào một số văn-phòng thuộc Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực cũng như thuộc Sở Đặc-Cảnh Tỉnh/Thị sở-tại, để quan-sát và nghe-ngóng tình-hình chung. Ngoại-trừ số đông lâu nay vốn có thiện-cảm với tôi, có một số ít viên-chức sắc-phục cũng như dân-phục mà qua ánh mắt của họ nhìn nhau trước, trong và sau khi họ nói chuyện với tôi, tôi cảm thấy rõ-ràng rằng, dù Ngành Công-Lực ở cố-đô có do cá-nhân hay phe-nhóm nào đứng đầu đi nữa, thì bây giờ, đối với thiểu-số ấy, tôi vẫn chỉ là một người khách lạ, một người dưng, đáng nghi, đáng phòng.

Trước kia, Liên Thành tưởng tôi ăn-ý với Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I, là Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, vốn có khuynh-hướng Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng, để chống phe-phái Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng mà trong đó anh cùng Trương Công Ân là đảng-viên cấp cao.

Giờ đây, cánh ấy lại tưởng tôi thoả-hiệp với lớp mới là những phần-tử cực-đoan của dư-Đảng Cần-Lao để chống phá Phật-Giáo.

Trong lúc đó, chính Hoàng Thế Khanh cũng lo đề-phòng tôi, vì tôi nguyên là nhân-vật đầu tiên công-khai đơn-độc chống chế-độ độc-tài nhà Ngô, bị mật-vụ triều Ngô gán cho là thành-viên quá-khích của Đảng Đại-Việt để phát-vãng tôi ra khỏi Miền Trung vào năm 1960…

Tôi thì xưa nay vẫn là một người độc-lập. Tôi coi nhẹ các cấp lãnh-đạo nhất-thời; tôi chỉ chú-trọng quảng-đại quần-chúng miên-viễn ngoài đời và đa-số công-chức & quân-nhân trung-chính trong Chính-Quyền mà thôi.

Tôi tách mình riêng ra khỏi các bộ-phận đón-tiếp và tháp-tùng, để tiện tiếp-xúc với một số cá-nhân bộc-trực, trong số này có Đại-Uý Trần Vĩnh Thuận tức “Thuận Xù”*. (*Xem “Ông Đồn Lợi”). Anh có một bộ tóc bù-xù nên bạn-bè đặt cho anh cái tên như trên.

Thuận là một trong số các bạn thân của tôi ngày xưa, nhất là giai-đoạn liền trước biến-cố 1960, là năm chúng tôi xa nhau. Bây giờ anh là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực một Quận ngoại-ô trong Tỉnh Thừa-Thiên. 

Được tôi kéo ra để chuyện-trò riêng với nhau, câu nói đầu tiên của anh là trách-móc tôi:

– Tôi tưởng anh đã quên hết dĩ-vãng và bạn-bè!

Tôi chưa kịp nói gì thì Thuận đã nói tiếp, như để tăng phần khuấy-động tình-cảm trong lòng tôi:

– Anh Đặng Hữu Lợi đã chết, anh Trần Văn Cư đã mất, anh Phan Văn Trực đã qua đời, anh Lê Tấn Lực đã đi xa, anh Nguyễn Mầm đã thành phế-nhân, anh Nguyễn Duy Hát đã ra khỏi Ngành…

Những việc ấy, và cả nhiều việc khác nữa, tôi đã biết từ bao lâu rồi; nhưng khi nghe “Thuận Xù” nhắc lại tự-nhiên lòng tôi bỗng nhói đau như mới lần đầu tiên nhận được tin buồn về những người thân thương.

Chưa hết, “Thuận Xù” còn oái-oăm thò tay vào trong cổ áo tôi, nắn tìm xem tôi có mang một sợi dây chuyền nào không. Khi không thấy gì, anh mới ôm chầm lấy tôi mà hôn.

Ngày xưa, khi Ông Ngô-Đình Diệm mới về nước chấp-chánh, tôi là người đã ủng-hộ ông tận-tình, đơn-độc, liều-lĩnh ly-khai khỏi BTL Đệ-Nhị Quân-Khu, tức chống lại nhóm Hinh+Xương, dùng phương-tiện của Quân-Đội Quốc-Gia lúc ấy đang chống Diệm để phát-triển ảnh-hưởng ban sơ đang còn mong-manh của họ Ngô, mở đường cho thế-lực nền Đệ-Nhất Cộng-Hoà sớm vững mạnh bắt đầu từ Miền Trung.

Do đó, sau khi chính-quyền Diệm đã ổn-định, giới-chức hữu-trách trong Quân-Đội đã đề-nghị Trung-Ương ban thưởng “Quân-Công Bội-Tinh” cho tôi. Các sĩ-quan lãnh-đạo Ngành Chiến-Tranh Tâm-Lý tại Đệ-Nhị Quân-Khu, lúc đó toàn là những phần-tử thân-tín của Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn, đã tặng tôi một sợi dây chuyền có treo một thập-tự-giá bằng vàng để làm kỷ-niệm khi quân-nhiệm của tôi đã mãn hạn-kỳ.

Thủa ấy, có nhiều công-chức và quân-nhân bỏ đạo của mình để theo Đạo Kitô. Số người cả trong lẫn ngoài chính-quyền tuy không phải là con chiên của Chúa mà cũng đeo thập-tự-giá dưới cổ thì khá đông. Không rõ do ai kể lại mà Thuận biết tôi cũng có một cái, nên anh cứ dòm chừng tôi, xem tôi có đeo hay không.

Ngày nay, “Thuận Xù” cố ý nhắc tôi nhớ lại cái vật trang-sức ấy, cái ý-nghĩa tượng-trưng của một phản-ứng người, trước một bối-cảnh đời.

Chỉ vừa mới thay-đổi cấp lãnh-đạo chính-viện Tỉnh có mấy hôm, và đến hôm nay thì mới thay-đổi cấp chỉ-huy Ngành An-Ninh (chưa động đến Ngành Phản-Gián) sở-quan, mà màu-sắc tín-ngưỡng của cá-nhân họ đã tác-động sâu-đậm lên tâm-lý của số đông viên-chức địa-phương như thế này sao?

Tôi cũng đã có linh-tính và ước-tính là sẽ có một cái gì đó xảy ra, nhưng tôi đã cắt đứt chiều-hướng xung-khắc của nhóm Linh-Mục Nguyễn Kim Bính ở Phú Cam đối với Chính-Quyền Tỉnh/Thị dưới thời Đại-Tá Tôn Thất Khiên rồi. Thế mà đường-lối đối-nghịch của họ lại nhắm sâu vào cả các chính-đảng và tôn-giáo khác, nhất là Phật-Giáo, mà tổ-chức quần-chúng là “Lực-Lượng Hoà-Hợp Hoà-Giải Dân-Tộc” thì cũng đang cùng đương-đầu với Chính-Quyền Trung-Ương.

Trong trường-hợp Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng bất-hòa với Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng, chắc “Thuận Xù” không cần nhắc-nhở gì tôi. Chỉ có trường-hợp Kitô-Giáo chèn ép Phật-Giáo, mới khiến anh phải bày-tỏ thái-độ như thế với tôi.

Thế mới biết, làm một người trung-lập không phải là việc dễ. Hầu như mọi người, nhất là trong Chính-Quyền, trong các giáo-hội và trong các chính-đảng, đều đinh-ninh rằng, người nào cũng phải là đảng-viên của một đảng nào đó, tín-đồ của một đạo nào đó, hay ít nhất cũng là đồ-đệ của một nhân-vật nào đó. Điều tệ-hại nhất là khi người ấy không thuộc cùng một cánh với mình thì người ta coi người ấy như kẻ phản-động, như kẻ thù.

Đáng lẽ tôi nói cho “Thuận Xù” biết về lập-trường của tôi; nhưng tôi lại ngại là anh sẽ kể lại với người khác, và người khác ấy lại tưởng rằng tôi cốt thanh-minh để mong cầu một chút ân-huệ gì của họ chăng.

Năm 1954, nếu tôi vượt qua những thủ-tục thông-thường trong các cơ-quan quân-sự và hành-chánh, nhất là vượt qua lòng tự-trọng của chính mình, như lắm kẻ đã làm, đến kể công với Cố-Vấn Ngô Đình Cẩn, hoặc Cố-Vấn Ngô Đình Nhu, hoặc chính Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm, thì chắc-chắn là tôi đã được ban cho nhiều đặc-quyền đặc-lợi rồi. Năm 1967, nếu tôi kể công với Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu rằng tôi đã bí-mật nhúng tay phá vỡ âm-mưu đảo-chính của Thiếu-Tướng Nguyễn Cao Kỳ để bảo-toàn kết-quả cuộc bầu-cử đem lại thắng-lợi cho ông ngồi vững trên ghế Nguyên-Thủ Quốc-Gia, thì cũng chắc-chắn là tôi đã được trọng-thưởng nhiều rồi.

Vì tự-trọng và tự-ái, tôi chấp-nhận im-lặng, chỉ mình tự biết lấy mình.

Và mình đã nghĩ đúng, nói phải, làm hay, là đủ rồi.

Tuy nhiên, về vấn-đề đối-nghịch giữa Kitô-Giáo với Phật-Giáo thì tôi phải nói, vì tôi là một chứng-nhân.

Xét chung thì chế-độ Ngô Đình Diệm đã tạo hoàn-cảnh cho một số tín-đồ Kitô-Giáo, và cả một số không phải là con chiên của Chúa, xúc-phạm đến các tôn-giáo khác, nhất là Phật-Giáo mà tổng-số tín-đồ lên đến trên chín mươi phần trăm dân-số, nên các lãnh-tụ Phật-Giáo phải đứng lên tranh-đấu đưa đến cuộc Cách-Mạng 1-11-1963.

Ngày xưa, dưới thời Pháp-thuộc, các quan cai-trị thực-dân Pháp và triều-đình Huế tay-sai đều nằm trong vòng ảnh-hưởng của các cha-cố thuộc Toà Thánh Vatican, nhưng việc lấn-át chỉ xảy ra trong một số lãnh-vực và nhắm vào một số đối-tượng nhất-định, chứ không chèn-ép tràn lan người dân nô-lệ Việt-Nam vốn đại-đa-số là đệ-tử Cửa Thiền.

Liền trước thời Diệm, khi đế-quốc Pháp trở lại với súng đạn viễn-chinh thì cụ Trần Văn Lý lên chấp-chánh ở Miền Trung. Dù là một nhân-sĩ Kitô-Giáo, được Pháp và giáo-hội hậu-thuẫn và nể-vì, nhưng cụ có ỷ vào chức quyền để rẻ-rúng người nào không cùng tín-ngưỡng với mình đâu.

Dù sao, nếu cho rằng mọi tín-đồ Đạo Kitô dưới thời Diệm đều muốn đè bẹp Đạo Phật thì cũng không hoàn-toàn đúng.

Năm 1960, tôi bị đày lên xứ Thượng và bị “mật theo-dõi hành-vi chính-trị”, nghĩa là tôi thuộc thành-phần “phản-loạn” (dưới chế-độ Diệm không có “đối-lập”). Trớ-trêu thay, tôi được Giám-Đốc Cảnh-Sát Công-An trên này cử làm Trưởng Ban Điều-Tra Đặc-Biệt của Nha, bất-chấp lệnh cấm của Tổng-Nha. Nhiệm-vụ và quyền-hạn của tôi là bắt giữ, thẩm-vấn và lập hồ-sơ truy-tố các vụ vi-phạm, cả hình-sự lẫn chính-trị, khắp các Tỉnh ở cựu-Hoàng-Triều Cương-Thổ này.

Tại thủ-phủ của Cao-Nguyên, tôi đã đối-diện với nhiều tín-đồ Kitô-Giáo, vừa là thanh-niên học-thức, vừa là chấp-sự thân-cận của các Cha Xứ ở các Địa-Điểm Dinh Điền và Khu Trù Mật nổi tiếng thịnh-vượng và an-ninh của đồng-bào Miền Bắc di-cư, như Châu Sơn, Kim Châu Phát, Khuê Ngọc Điền, v.v…

Về mặt chính-trị nội-bộ, các thành-viên Kitô-Giáo bị báo-cáo là có ngôn-ngữ và thái-độ chống-đối Chính-Quyền, mà tôi lần-lượt mời đến hỏi cung, đều mạnh-dạn vạch rõ sai-lầm của chế-độ Diệm trong vấn-đề tôn-giáo, và khẳng-định rằng họ phản-đối mọi âm-mưu và hành-động của những kẻ đàn-áp Phật-Giáo. Chính Linh-Mục Nguyễn Viết Khai, là cha đỡ-đầu của Diệm, mà cũng chống Diệm về vấn-đề này. Theo họ, Thánh-Kinh tức là Lời Chúa, có khuyến-khích con chiên mở rộng Hội Thánh, nhưng bằng rao-giảng chứ không phải bằng bạo-lực hay mồi-bả vật-chất của thế-gian.

Biên-Tập-Viên Nguyễn Hữu Liêm và Thẩm-Sát-Viên Nguyễn Giang, ngồi cùng phòng với tôi, vừa làm việc vừa liếc nhìn tôi mà cười. Mà buồn cười thật, chính tôi cũng tự cười mình: một viên-chức an-ninh bị chế-độ trừng-phạt vì chống-đối chế-độ mà lại nhân-danh chế-độ đứng ra bắt lỗi những phần-tử cũng chống-đối chế-độ như mình!

Không lâu trước ngày tôi bắt đầu điều-tra các đối-tượng này, ở Ban Mê Thuột đã xảy ra một cái chết gây sôi-nổi dư-luận gần xa. Nguyên dưới quyền của Biên-Tập-Viên Liêm có một Đội Biệt-Kích Công-An, chuyên đi lùng diệt Việt-Cộng tại khắp các tỉnh Cao-Nguyên. Một hôm, có một đội-viên tên Nguyễn Văn Nam, cùng với đồng-đội mới đi công-tác về, bị mót đại-tiện nên vừa từ trên xe nhảy xuống là đã vội-vàng chạy tuốt vào trong nhà tiêu. Vì gấp-rút và không có gì khác hơn nên anh đã dùng một mảnh giấy báo mà lau hậu-môn. Ngẫu-nhiên có một đội-viên khác, cũng vào cầu-tiêu, trông thấy mảnh giấy báo của Nam có in ảnh của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, nên lưu-ý anh về việc này. Người bị bắt gặp quả-tang “phạm-thượng” đã rút súng tự bắn vào đầu chết ngay tại chỗAnh sợ bị đưa ra “phê-bình” trong các buổi “Học-Tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục”, và sau đó là những hậu-quả khôn lường.

Một số trong các tín-đồ Kitô-Giáo nói trên, trong lúc khai-cung, đã đề-cập với tôi về vụ đó, và một người đã chất-vấn tôi:

– Dưới thời Nho-Giáo cực-thịnh, mọi người đều phải tôn-trọng ngay cả bất-cứ một mảnh giấy nào trên đó có Chữ Nho, vì Chữ Nho là biểu-tượng của Đạo Nho, của Đức Khổng-Tử. Tuy thế, nếu có kẻ dùng sách giấy có Chữ Nho, hình-ảnh Đức Khổng-Tử, mà lau hậu-môn, thì kẻ ấy chỉ bị quở mắng, hoặc bị đánh đòn, một lần rồi thôi, chứ có ai vì cái lỗi ấy mà bị hành-hạ tàn-nhẫn đến độ thà tự-tử chết còn hơn để bị bắt giam? Qua cái chết của anh ấy, cũng là đồng-nghiệp Công-An với các anh, các anh nghĩ sao về chế-độ này?

Các anh Liêm và Giang đã đồng-ý với tôi, dẹp bỏ biên-bản chấp-cung, để cho các phần-tử “Công-Giáo công-chính” ấy tự tay viết các lời khai theo ý họ, xong để họ ra về tự-do, rồi đệ-trình hồ-sơ lên Cấp Trên “để tuỳ-nghi thẩm-định” với cái đề-nghị đã trở thành công-thức là “tiếp-tục mật theo-dõi hành-vi chính-trị” của các đương-nhân.

Tôi nhấn mạnh với “Thuận Xù” điều đó, và nhắc thêm về biến-cố 1960: cùng bị đày ra khỏi Huế và các tỉnh thành lớn, lên miền lam-sơn chướng-khí một lần với tôi, còn có các anh Trần Văn Liệu và Trần Tòng; họ cũng là tín-đồ Kitô-Giáo, cũng là dân Phú-Cam, trung-tâm ảnh-hưởng của gia-đình họ Ngô. Trước đó, nhân-sĩ Trần Điền mà tôi quen thân hồi ông còn làm Giám-Đốc Nha Thông-Tin và hầu hết đồng-bào gần xa đều biết tiếng, là thủ-lãnh Hướng-Đạo Việt-Nam, là một nhà trí-thức Kitô-Giáo lừng danh, mà cũng chống-đối Diệm và bị Diệm kết án tử-hình…

Thế thì đâu có phải là đồng-bào Kitô-Giáo nào cũng dễ-dàng đồng-minh với Quỷ Satan?

Thế mà hiện nay vẫn còn có một số thuộc cả hai bên chưa chịu làm lành với nhau.

Ở Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia, người ta kháo chuyện với nhau về một chuyến đi thanh-tra Thừa-Thiên/Huế vừa rồi của Trung-Tá Trần Văn Hương.

Các cấp chỉ-huy ở đây bố-trí cho Hương ngủ ở khách-sạn, ăn ở nhà-hàng, và chi-tiêu linh-tinh gì đó. Khi anh về Trung-Ương rồi, Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực ngoài này, dưới thời Thiếu-Tá Liên Thành, liền gửi một xấp hoá-đơn vào Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, nơi đã phái Hương đi công-tác, để xin thanh-toán tiền phòng, tiền ăn, v.v… cho Hương!

Ngoài việc Hương bị xem như đã có đòi-hỏi địa-phương cung-phụng này kia, các viên-chức khác từ đó về sau đều ngán Miền Trung, nếu phải ra Huế là lo giữ mình đủ điều.

Nguyên-do là Hương nguyên là Cảnh-Sát-Trưởng ở Huế, dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hoà, và là tín-đồ Đạo Kitô.

Vấn-đề tôi đặt ra với anh+em, không phải chỉ là cá-nhân Trần Văn Hương thật ra là một người tương-đối không quá xấu, không đáng để bị chơi khăm cách đó, nhưng mà là đối với bất-cứ ai, dù trong quá-khứ đã làm việc gì không hay, mà sau đó tình-trạng đã được giải-quyết rồi, và trong hiện-tại họ là người mới, không phạm lỗi gì, thì mình không nên tiếp-tục oán thù vì chuyện đã qua.

Chúng ta ai nấy đều có rất nhiều bạn thân, kể cả thân-nhân, không cùng tôn-giáo với mình. Đừng để sự khác-biệt tín-ngưỡng xen vào làm sứt-mẻ mối gắn-bó trong đời sống giữa những con người với nhau.

*

Trong nội-bộ Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên, có hai Phòng quan-trọng, là Nghiên+Kế và Tác-Vụ; mà hai Chủ-Sự Phòng thì không hợp nhau vì tín-ngưỡng khác nhau.

Trước kia, tôi được cho biết là Trung-Uý Dương Đại Chung báo-cáo tình-hình chính-trị quốc-nội cho Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, ngay cả trước khi lập công-điện hay công-văn trình lên Cấp Trên. Đây là một vấn-đề phức-tạp và tế-nhị vô cùng. Đúng ra, trên nguyên-tắc thì công-chức và quân-nhân không được tham-gia hoạt-động cho một đảng-phái chính-trị nào; nhưng trên thực-tế thì, dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hoà, Đảng Cần-Lao Nhân-Vị đã rập khuôn đảng cộng-sản mà đặt nền-móng bên trong các cơ-quan chính-quyền và đơn-vị quân-lực; và, dưới thời Đệ-Nhị Cộng-Hoà, Đảng Dân-Chủ tuy ra đời sau nhưng cũng đã lan tràn bên trong các công-sở và quân-doanh; cho nên không ai nhớ đến cái nguyên-tắc ấy nữa. Trong lúc đó, không có văn-bản nào cấm các tín-đồ tiết-lộ việc công và việc quân cho các vị “lãnh-đạo tinh-thần”. Có thể là người ta tin rằng việc ấy sẽ không xảy ra; hoặc có thể là người ta cố ý tránh né vì sợ làm mếch lòng các giáo-phái; mà cũng có thể là người ta mặc-nhiên chấp-nhận và cho phép việc làm này? Và, lẽ tất-nhiên, một khi các chính-trị-gia đã có tai+mắt trong các công-đường và binh-trại rồi, thì các tu-sĩ cũng chẳng chịu thua-kém gì ai. Cho nên tôi không trách phạt gì Chung, vì thật ra có một số viên-chức thuộc các giáo-hội khác, các chính-đảng khác, ở khắp nơi, sau này cũng có bắt chước hành-động như Chung, mặc dù không nhất-loạt và tích-cực bằng. Bù lại, lần nào ra Huế tôi cũng tiếp-xúc với anh, để xoá cho anh cái mặc-cảm bị lạc-lõng vì khác phe, và để tận-dụng trong anh cái tinh-thần phục-vụ vốn tiềm-tàng của mỗi người.

Tôi đã lập lại cái thế thăng-bằng trong quan-hệ đối-nhân, và thấy được kết-quả tốt. Ít nhất thì anh cũng đã góp phần gỡ bí chung, khi Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây trực-tiếp gọi máy hỏi tôi về cuộc mít-tinh đang diễn ra. Buổi sáng củ-mật ấy, Linh-Mục Nguyễn Kim Bính triệu-tập giáo-dân trước sân và xung quanh nhà thờ Phú-Cam, chuẩn-bị khí-thế cho một cuộc xuống-đường mới, dự-trù hùng-hậu và quyết-liệt hơn lần rồi.

Tôi đã ra Huế, có mặt tại chỗ, nhưng phải nhờ đến Chung, là người trong cuộc, mới biết đủ những gì khuất kín bên trong giáo-đường, vì các nhân-viên khác tín-ngưỡng khó lòng mà len-lỏi vào được trong cái tập-thể chọn-lọc và có cảnh-giác cao ấy, để chụp ảnh, ghi-âm, nhận-diện thành-phần cực-đoan, thu-thập hành-tung những kẻ khả-nghi, và định-vị cái đài vô-tuyến phát-thanh mà nhà thờ này được phép sử-dụng từ thời Đệ-Nhất Cộng-Hoàngày xưa là để giúp các tín-đồ già-yếu bệnh-tật, không đến giáo-đường nổi, cũng có thể ở nhà mà nghe giáo-lễ do đồng-đạo cử-hành; ngày nay là để phổ-biến đến khắp ngõ hẻm hang cùng những lời hô-hào chính-trị phát-động các cuộc mít-tinh, xuống đường chống chính-quyền.

Ngày nay, có Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ và Trung-Tá Hoàng Thế Khanh, Chung và các bạn của anh đương-nhiên thoả-thích hơn.

Ngược lại, Trung-Uý Dương Văn Sỏ, Trưởng Phòng Tác-Vụ, trước các cấp chỉ-huy đều mới, thì không khỏi giao-động tinh-thần, vì không ai đoán được chữ ngờ.

Thượng-Sĩ Lê Văn Y, một Trưởng Lưới Tình-Báo xuất-sắc của Đặc-Cảnh Quận Ba, Đà-Nẵng, mà vì Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực địa-phương không ưa nên đã phải đổi vùng. Thiếu-Uý Nguyễn Ba, một điệp-trưởng hữu-công của Tỉnh Thừa-Thiên, lại là người của Đảng Đại-Việt lúc đương-quyền, mà vì không được lòng các cấp chỉ-huy cùng Đảng nên cũng đã bị đẩy đi xa. Thiếu-Uý Trương Quang Thanh năng-động của Tỉnh Quảng-Nghĩa, phải sống xa quê vì tuy là đảng-viên Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng mà không cùng hệ-phái với các cấp chỉ-huy.

Huống gì gốc-gác của Trung-Uý Sỏ thì rõ-ràng xa-cách với thế-lực cầm quyền hiện giờ.

Do đó, tôi phải duy-trì chỗ đứng của Sỏ, vì đó vừa là tai+mắt vừa là tay+chân của Ngành, không thể để lọt vào người khác phe, khi mà vấn-đề phe-phái đã được chính Trung-Tá Hoàng Thế Khanh không ngần-ngại công-khai nêu lên với Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc và tôi.

Một mặt, tôi giao-tiếp với Sỏ nhiều hơn, để tỏ là đã có tôi đích-thân chăm-sóc khả-năng phục-vụ của anh; mặt khác, tôi đề-cao hai viên-chức khác, chủ ý là nếu phải thay-thế Sỏ thì hẳn là Khanh sẽ phải chấp-nhận một trong hai người này mà thôi. Tôi làm như thế là để vẫn giữ cái thế thăng-bằng trong nội-bộ cơ-quan; nếu không thì một mình Chánh Sở Đặc-Cảnh Trương Công Đảm bị kẹt ở giữa khó lòng mà hoàn-thành trách-vụ của mình.

*

Cũng như ở các Tỉnh khác, ngoài các viên-chức Đặc-Cảnh địa-phương, tôi đã có một số bạn-bè thân-tín, thuộc nhiều giới, ở Thị-Xã Huế và Tỉnh Thừa-Thiên.

Dù không phải là kẻ đa-nghi, song kinh-nghiệm bản-thân không cho phép tôi làm kẻ dễ tin. Thỉnh-thoảng tôi vẫn phải xét lại một vài vấn-đề, dù là bề ngoài không có gì bất-thường.

Tôi tin vào các cộng-sự-viên của mình; nhưng nếu chính các đương-nhân thật tình không nắm vững tình-hình hoặc bị đánh lừa, thì lẽ nào tôi chịu để cho mình cũng cùng bị thiếu-sót hay sai-lầm sao? Nhiều khi gặp phải những bài toán khó giải, tôi đã nhờ vào linh-tính, trực-giác hay “giác-quan thứ sáu”, nhất là thái-độ vô-tư của mình. Nhưng xác-thực nhất bao giờ cũng là tin-tức, tài-liệu, và sự hiểu-biết của các thân-tình-viên nói trên; nhờ họ, tôi đã nhiều lần biết được, và cả biết trước, những mưu-đồ ám-muội của một số nhân-vật này, phe-phái kia…

*

Sau cuộc họp báo của Ngành Đặc-Cảnh chúng tôi tố-cáo Tổng-Hội Sinh-Viên Huế và cả “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, qua Linh-Mục Nguyễn Kim Bính tại Phú-Cam, đều đã bị Việt-Cộng xâm-nhập và lợi-dụng, thì tình-hình nội-an ở Huế, và cả toàn-quốc, đã lắng dịu đi rất nhiều.

Sinh-viên ở Huế trở lại sinh-hoạt bình-thường, chăm lo trau dồi kiến-thức văn-hóa, không còn bung xung hò hét ồn-ào như thời-gian qua.

Sinh-viên ở Sài-Gòn, mà cái Tổng-Hội trong đó vốn cũng đã bị Cảnh-Lực Quốc-Gia tố-cáo là bị cộng-sản giật dây, nay thêm sáng mắtchỉ trừ số ít phần-tử cơ-sở Việt-Cộng và thân-Cộng mà thôi.

Về phần “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, thì Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, Cha Xứ Phú-Cam, đã bị khựng lại, nên ngưng xuống đường; và Linh-Mục Trần Hữu Thanh trong Nam thì cũng, do đó, ngưng các mưu-tính biểu-tình.

Như thế là chúng tôi đã thành-công trong việc ngăn-chận và dập tắt các nỗ-lực xúi-giục toàn-quốc đồng-loạt tuần-hành, gây xáo-trộn trật-tự công-cộng, làm mất an-ninh chung trong mọi giới dân-nhân, tạo hoàn-cảnh và cơ-hội cho kẻ địch lèo-lái mà biến thành xung-đột đẫm máu, kể cả cơ nguy bị đối-phương xâm-chiếm từng cơ-quan, đơn-vị, hay khu-vực ly-khai hay tự-trị ngay trong nội-địa lãnh-thổ Quốc-Gia, mà ảnh-hưởng dây chuyền có thể là mất hẳn cả Miền Nam.

(Tuy nhiên, về mặt tinh-thần, “Phong Trào Chống Tham Nhũng” vẫn còn cố-thủ, tiếp-tục và gia-tăng các nỗ-lực sách-động cũ, trong các nhà thờ, trong các họ đạo, và cả trong giới giáo-dân quân-nhân, thậm chí kêu gọi làm binh-biến, dùng bạo-lực lật đổ Tổng-Thống Thiệutức là tuy không mở cổng cho địch vào đồn, mà lại mở lòng, mở ý, sẵn-sàng đón mời “đồng-minh”, vì cùng là kẻ thù của tổng-thống Việt-Nam Cộng-Hòa!)

Mục-đích của nhóm tu-sĩ Kitô-Giáo quá-khích không phải chỉ là lật đổ Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu, mà là tái-lập một chế-độ kiểu Ngô Đình Diệm, nghĩa là dù cho sẽ không có một Tổng-Thống tín-đồ Đạo Chúa với một mạng lưới khủng-bố kiểu Đảng Cần-Laovì vào thời đó không có một nhân-vật nào có thể có đủ điều-kiện là một ứng-viên kiểu đó vào chức-vụ đóthì họ cũng sẽ tìm đủ mọi cách đưa vào Chính-Quyền những nhân-vật và những chính-sách hoàn-toàn do họ giật dây, mục-đích là đàn-áp các giáo-hội khác, để phát-triển Đạo Kitô.

Bây giờ, kế-hoạch thứ nhấttoàn-quốc xuống đường xáo trộn an-ninh, tạo sức ép lớn cả trong lẫn ngoài đủ để lật Thiệuvì tôi mà đã bất-thành, thì họ xoay qua kế-hoạch thứ hai.

Tôi đã cài-cấy tay-trong trong mọi tổ-chức, dù là chính-trị, kinh-tế, văn-hóa, xã-hội, kể cả tín-ngưỡng. Đặc-biệt trong vấn-đề này tôi càng theo sát ý-đồ và đường-lối của các mục-tiêu, bắt đầu từ Huế, từ xóm Phú-Cam mà ra.

Kế-hoạch thứ hai của họ là triệt-hạ dần các phần-tử nguyên là thành-viên hoặc có cảm-tình, hoặc bị nghi là liên-hệ gần+xa với phe “Phật-Tử Tranh-Đấu” vốn đã góp phần lật đổ Nền Đệ-Nhất Cộng-Hòa. Đối-tượng của họ nằm ở mọi nơi, dân cũng như quân, ở cả ba ngành lập-pháp, hành-pháp và tư-pháp trong Chính-Quyền Đệ-Nhị Cộng-Hòa.

Và họ bắt đầu ra tay.

Một hôm, không lâu trước ngày Thừa-Thiên triệt-thoái rồi Vùng I lui quân, một số đơn-vị Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa đi hành-quân trong hoạt-vực của Chi-Khu Phong-Điền, thuộc Tỉnh/Tiểu-Khu Thừa-Thiên, đã phá vỡ được một căn-cứ của Việt-Cộng, và tịch-thu được của chúng nhiều chiến-lợi-phẩm, trong đó có một số tài-liệu quan-trọng, kể cả một Nghị-Quyết của Đảng-Ủy Liên-Khu IV về Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế. Nghị-Quyết này đề-cập đến tình-hình các mặt của Việt-Nam Cộng-Hòa tại Tỉnh liên-quan, nhiệm-vụ của chúng, và kế-hoạch cho một cuộc tấn-công mới, nhằm chiếm-giữ thành-phố Huế lâu dài hơn, rút kinh-nghiệm từ cuộc tổng-công-kích vào mùa xuân năm 1968Tết Mậu-Thân.

Nguồn (tài-liệu VC): https://thuathienhue.gov.vn/vi-vn/Thong-tin-du-dia-chi/tid/Tu-nam-1945-den-nam-1975/newsid/271876D3-36BE-4461-B109-206D14ED1596/cid/FFD5F879-74BC-4D55-AEB6-E0C0332427ACTrong đó có đoạn:{Ngày 10-2-1975: Quân ủy Trung ương xác định kế hoạch năm 1975 cho Trị – Thiên và nhấn mạnh phải “tích cực sáng tạo thời cơ và sẵn sàng chớp thời cơ tiến lên giành thắng lợi lớn, kể cả giải phóng Huế”}. 

Như đã nói trên, nhiều tu-sĩ Kitô-Giáo đã tổ-chức cho tín-đồ mà là nhân-viên an-ninh & tình-báo của các cơ-quan & đơn-vị khắp nơi báo-cáo tình-hình, tin-tức mới nhất cho các linh-mục, ngay cả trước khi thực-hiện công-điện công-văn trình lên Cấp Trên của mình. Kết-quả hành-quân lần này cũng không ra ngoài lệ thường.

Cho nên người ta đọc thấy đoạn kết của bản Nghị-Quyết Việt-Cộng ghi rõ: sau khi chiếm được Thành-Phố Huế, dứt điểm Tỉnh Thừa-Thiên, chúng sẽ dựng lên một chính-quyền mới, gồm toàn những “đồng-chí nằm vùng công-khai hợp-pháp” của chúng, đó là sáu Nghị-Viên đương-kim của guồng máy dân-cử sở-tại của Việt-Nam Cộng-Hòa, mà đứng đầu danh-sách là Ông Nguyễn-Khoa-Phẩm, Chủ-Tịch Hội-Đồng Tỉnh Thừa-Thiên, và Ông Nguyễn-Khắc-Thiệu, Chủ-Tịch Hội-Đồng Thị-Xã Huế, v.v…

Bộ Chỉ-Huy Tiểu-Khu Thừa-Thiên đã làm báo-cáo kèm với bản chụp sao các trang tài-liệu đánh máy của Đảng-Ủy Việt-Cộng nói trên, trình lên Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn I và Quân-Khu I, Bộ Tổng-Tham-Mưu, v.v…

Chánh Sở Đặc-Cảnh Thừa-Thiên/Huế trình lên tôi, tôi trình lên Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, rồi Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia (kiêm Đặc-Ủy-Trưởng Trung-Ương Tình-Báo) trình lên Tổng-Thống.

Kết-quả trông thấy trước mắt là các ông Nguyễn Khoa Phẩm, Nguyễn Khắc Thiệu, cùng bốn nhân-vật dân-cử nói trên, sẽ bị giải-nhiệm tức-thời.

Giải-nhiệm các Nghị-Viên Hội-Đồng Tỉnh+Thị-Xã không phải là một việc khó.

Trước đây, có một số Nghị-Viên Hội-Đồng Tỉnh Quảng-Nghĩa đã hành-sử tư-cách dân-cử của mình, xin Bộ Chỉ-Huy Tiểu-Khu sở-tại cấp phương-tiện phi-cơ trực-thăng cho họ chở thực-phẩm, thuốc-men, và nông-cụ lâm-cụ lên các Quận miền núi để cấp-phát cho đồng-bào vùng đó đang gặp khó-khăn. Đa-số các vật-phẩm ấy đã lọt vào tay những kẻ buôn lậu và tiếp-tế cho Việt-Cộng, thay vì đến tay người dân khó-nghèo. Thiếu-tá Đặc-Cảnh Hồ Anh Triết đã điều-tra ra sự thật, và kết-quả là Trung-Ương đã giải-nhiệm các Nghị-Viên liên-can.

Nhưng trong trường-hợp trên, các Nghị-Viên ấy chỉ phạm tội buôn lậu, chỉ bị biện-pháp hành-chánh hoặc bị phạt tiền. Đằng này, theo tài-liệu kể trên, thì nhóm Nguyễn Khoa Phẩm rõ-ràng là tay-sai của Việt-Cộng nằm vùng, lâu nay đã hoạt-động cho địch đắc-lực đến độ được chúng tín-nhiệm chọn cử cầm đầu bộ máy chính-quyền mà chúng sẽ dựng lên nay mai. Với bằng-chứng đó, các đương-nhân sẽ không những chỉ bị giải-nhiệm, mà chắc-chắn là sẽ còn bị câu-lưu truy-tố về tội phá rối trị-an, ở tù, và có vết-tích xấu về mặt chính-trị trong hồ-sơ lý-lịch cá-nhân, mất hết mọi cơ-hội để ra tham-gia chính-sự dù ở bên dân-cử hay bên công-quyền.

*

Ngay sau khi tài-liệu Việt-Cộng nói trên được Tiểu-Khu và chính-quyền Tỉnh Thừa-Thiên và Thị-Xã Huế làm bản sao gửi đi các nơi, tôi được nguồn tin tín-cẩn báo riêng cho biết: đoạn kết trong bản Nghị-Quyết Việt-Cộng ấy là do một nhóm dư-đảng Cần-Lao quá-khích thông-đồng với nhau mà ngụy-tạo thêm.

Ông Nguyễn Khoa Phẩm, ông Nguyễn Khắc Thiệu, và tất cả các Nghị-Viên có tên trong đoạn kết của bản Nghị-Quyết Việt-Cộng ấy, đều là tín-đồ Phật-Giáo, có quan-hệ chặt-chẽ với Giáo-Hội Phật-Giáo Việt-Nam Thống-Nhất; họ đồng-thời cũng là đảng-viên quan-trọng của Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng.

Đạo Phật và Đảng Đại-Việt, cùng các giáo-phái và chính-đảng khác, đã bị chế-độ Ngô Đình Diệm đàn-áp, và đã góp phần tích-cực vào việc lật đổ chế-độ ấy.

Hiện nay, Đại-Việt và Phật-Giáo đang ngăn-chận dư-đảng Cần-Lao, là một nhóm tín-đồ Kitô-Giáo và giáo-phái khác mà quyền-lợi vật-chất hoặc tinh-thần đã quá gắn-bó với chế-độ Diệm, không để cho họ tái-lập quyền sinh-sát để trả thù cho gia-đình họ Ngô.

Từ nhiều năm qua, hầu như mọi quyền hành-pháp và lập-quy tại Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế đều nằm trong tay Đảng Đại-Việt, và hầu như lần bầu-cử nào các liên-danh Phật-Giáo cũng thắng phiếu vào Hội-Đồng Tỉnh và Thị-Xã địa-phương.

Bây giờ thì nhóm cựu Cần-Lao ấy, cái thiểu-số tác-yêu tác-quái đã là tác-nhân tác-hại cho chính cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm và các anh+em của ông phải mất mạng, và cho Đảng ấy phải tự xóa tên của mình, nhóm ấy đã lại nắm được vị-thế cầm đầu cả quyền hành-pháp lẫn ngành công-lực của toàn Tỉnh & Thị rồi.

Theo kế-hoạch thứ hai của các Linh-Mục Trần Hữu Thanh và Nguyễn Kim Bính, họ muốn gấp-rút thanh-toán các phần-tử đối-nghịch hiện còn cầm đầu cơ-quan dân-cử của Tỉnh+Thị nầy.

*

Đồng-thời với tin-tức mật riêng của tôi, đích-thân Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế, Trương Công Đảm, trình-bày với tôi là thuộc-viên của anh bị giao-phó công-tác thực-hiện việc giả-mạo đoạn văn vu-khống các Nghị-Viên kia.

Anh là bạn thân của Trung-Tá Hoàng Thế Khanh, hiện là cấp chỉ-huy tại chỗ của anh; nhưng việc này là “một tệ-nạn rất nguy-hiểm, vì nó là mầm-mống gây thù-nghịch ngay trong hàng-ngũ của những người đang đứng chung cùng một chiến-tuyến”. Do đó, vì “trung-thực”, vì “chính-tâm”, anh đã chọn đặt chính-nghĩa lên trên tình-cảm hay quyền-lợi cá-nhân, nên anh liền báo-cáo Sự Thật lên tôi.

Tài-liệu ngụy-tạo của Nguyễn Hữu Duệ thì chỉ đi theo hệ-thống báo-cáo tình-hình, chứ không thông-qua kỹ-thuật kiểm-tra; vả lại vấn-đề Việt-Cộng chủ-trương tái-diễn biến-cố Tết Mậu-Thân ở Huế là điều hầu như mọi người đinh-ninh là chuyện đương-nhiên; nghĩa là các cấp nhận được báo-cáo đều đã tin chắc nội-dung là đúng 100%.

Tôi liền lấy bản chụp sao của Nghị-Quyết ấy ra xem lại, chú ý nhìn kỹ thì thấy, dù bằng mắt thường, quả thật đoạn cuối đã được đánh máy bằng một máy đánh chữ khác, khác hẳn với các trang trước và với đoạn trước cùng trang.

Tôi lặng người đi một lát, rồi nhắm mắt lại ôn lại lời dạy của Đức Phật Thích-Ca: “Oán-cừu nên cởi, không nên buộc!” Năm trăm năm sau, Đức Giê-Su cũng rao-giảng như trên: “Hãy hết sức mình sống hòa-thuận với mọi người… Đừng tự mình trả thù ai… Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện mà thắng điều ác!” (Romans 12:18,21). Tôi lại lật lui, đọc thêm trong sách Proverbs 10:12: “Tính ghen-ghét phát-sinh tranh-chấp; chỉ có lòng thương yêu mới lấp hết tội-khiên”. Trước hết, và trên tất cả là “Mười Điều Răn” đã có từ xưa, trong sách Exodus 20:16: “Các con không được làm chứng gian để hại người xung quanh!”…

Kể từ biến-cố 1-11-1963, đã mười hai năm trôi qua, Đệ-Nhất Cộng-Hòa không còn, mà một nhóm nhỏ phần-tử thân-Diệm còn rơi-rớt lại vẫn còn hiểm-độc như thế. Họ mới gặp dịp chó-ngáp-phải-ruồi ngóc đầu lên được một chút mà đã gian-manh bày mưu thâm, tính kế hiểm vu-oan giá-họa để hãm-hại người khác tín-ngưỡng ngay, huống gì khi cái chế-độ độc-tài độc-tôn bạo-ác ấy đang còn phủ trùm lên khắp quê-hương, mà họ lại nắm chính-quyền trong tay, thì họ đã tác-yêu tác-quái đến mức nào.

Nếu vụ ngụy-tạo tài-liệu Việt-Cộng ở Huế mà đạt kết-quả do họ mong muốn, rồi các nơi khác cũng sẽ noi theogiống như kế-hoạch biểu-tình, Huế mà làm xong là các nơi khác cũng sẽ làm theokhông cần Tỉnh-Trưởng, Tư-Lệnh Hành-Quân; chỉ cần bất-cứ một cá-nhân nào có thể báo-cáo tin-tức, chuyển trình tài-liệu, là đã có thể thêm-thắt theo ý của nhóm chủ-trương: hậu-quả sẽ như thế nào trên khắp vùng đất gọi là Miền Nam Tự-Do?

Tôi không là người của bất-cứ một chính-đảng hay giáo-hội nào; mà Trương Công Đảm thì cũng không nặng tình đậm nghĩa với ai đến độ mù-quáng lý-trí và thui-chột lương-tâm mà bao che cho lũ gian-manh. Huống gì anh đã thấy rõ là chúng sẽ còn lợi-dụng anh thêm trong nhiều âm-mưu tiếp theo.

Trong vụ giả-mạo tài-liệu này, điều bí-mật đã được báo-cáo lên tôi cũng rất có thể sẽ được tiết-lộ cho người khác biết, và hậu-quả tất-nhiên sẽ là một phản-ứng mạnh của giới Phật-Tử, với mối liên-kết có sẵn với nhiều tổ-chức khác, thí-dụ Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng và Đại-Việt Cách-Mạng-Đảng, mà ngoài Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc ra thì riêng Đại-Việt cũng đã là một chính-đảng có khối lượng đảng-viên đông nhất và mạnh nhất trên toàn cõi Việt-Nam Cộng-Hòa.

Việc làm bất-lương của vài ba con chiên ghẻ, làm chứng dối như thế, rất có thể sẽ châm ngòi cho một cuộc nội-chiến khốc-liệt giữa hai giới Phật-Tử và cựu Cần-Lao cực-đoan, sớm đẩy Việt-Nam Quốc-Gia đến bờ vực thẳm tương-tàn.

*

Hôm qua, tài-liệu bắt được của Việt-Cộng mà Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên/Thị-Xã Huế trình lên thì tôi đã giao cho Sở Nghiên+Kế Khu I làm Phiếu Chuyển đệ-trình lên Bộ Tư-Lệnh CSQG/Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương theo lệ thường rồi.

Nhưng hôm nay, về vấn-đề ngụy-tạo đoạn kết, có tầm quan-trọng lớn-lao đối với tình-hình an-ninh và nội-chính của Quốc-Gia, thì tôi đã tức-tốc vào báo-cáo riêng với Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I, và tự tay đánh máy một Phiếu Trình mật, gửi riêng cho Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, bản sao gửi Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, và cử đại-diện thân-tín mang thẳng đến văn-phòng của hai vị ấy ở Sài-Gòn.

Tôi cũng báo-cáo thẳng lên Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư-Lệnh QĐI&QKI, tức Đại-Biểu Chính-Phủ tại Vùng I, theo đúng tinh-thần của Sắc-Lệnh của Chính-Phủ đã quy-định cho trách-vụ của tôi.

Tất-nhiên tôi đã nêu tên nguồn tin và giải-thích rõ trường-hợp nhận tin, đặc-biệt là Trương Công Đảm, để giúp Cấp Trên kiểm-chứng dễ-dàng. Ngoài ra, tôi còn tuyệt-đối giữ kín vụ này tại địa-phương mình, để tránh náo-loạn trong khi chờ-đợi quyết-định của Trung-Ương.

Nguồn tin của tôi nói rõ rằng chính Đại-Tá Nguyễn Hũu Duệ, Tỉnh Trưởng Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Trưởng Thị-Xã Huế, là nhân-vật chủ-chốt trong việc thi-hành thủ-đoạn này, việc mà, nếu ông mà từ-chốinhân-danh dân Chúa, làm theo lời Chúa hơn là lời Chathì hẳn chưa biết chờ đến bao giờ Linh-Mục Nguyễn Kim Bính mới kiếm ra cho được một con chiên ngoan đạo kiểu đó theo ý của mình.

Đại-tá Duệ mà lên làm Tỉnh-Trưởng ngoài đó là do đề-nghị đặc-biệt có tính-toán của tôi, chứ không phải là do “tài” hay “đức” gì của ổng.

Nhưng ổng đã để lộ ra “tài đức” thật-sự của ổng.

Ổng đã nuôi lòng trả thù từ ngót mười hai năm nay, đúng theo lời trối của cố Tổng-Thống Ngô Đình Diệm (“Tôi chết thì trả thù cho tôi!), lạm-dụng Trung-Tá Hoàng Thế Khanhtôi nghĩ là Khanh ở thế bị-động, vì Khanh bản-chất chính-trựchiện là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Tỉnh/Thị ở dưới quyền mình, hành-động theo kế-hoạch của nhóm “lãnh-đạo tinh-thần” cực-đoan của mìnhđứng đầu Miền Trung là Linh-Mục Nguyễn Kim Bính, Cha Xứ Phú-Camtrong chương-trình chung là bứng-tỉa các nhân-sự mà họ cho là kẻ thù của phe Kitô-Giáo quá-khích và cựu-Cần-Lao ác-ôn, mà bước khởi đầu là ngụy-tạo đoạn kết vu-oan giá-họa tha-nhân trong bản Nghị-Quyết của Việt-Cộng nói trên.

Phóng-ảnh đoạn trích thư của Ô. Trương Công Đảm,

cựu Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên & Thị-Xã Huế:

A paper with writing on it
Description automatically generated Trương Công Đảm hiện ở Thành-Phố Denver, Colorado, USA.

*

        Sau Quốc-Biến 30-4-1975, ra Hải-Ngoại, cựu Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ xuất-bản cuốn hồi-kí “Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng-Thống Ngô Đình Diệm”, được mời đi nhiều nơi thuyết-trình về “ước mơ chưa đạt” của dòng họ Ngô Đình.

        Tôi gửi thư trực-tiếp hỏi vài điều để thấy trình-độ và khả-năng của đương-nhân “trả thù cho lãnh-tụ anh-minh”.

Phóng-ảnh thủ-bút của cựu Đại-Tá Nguyễn Hữu Duệ:

A handwritten letter with a signature
Description automatically generated

“Tôi đổi ra Huế năm 1973* làm Tỉnh Trưởng Thừa Thiên và Thị Trưởng Huế – Tôi không nhớ rõ ngày tháng chỉ nhớ là thời gian rất ngắn khi rút lui khỏi Huế*.

Ngoài ra tôi chưa hề phục vụ ở Huế bao giờ.

Xin kính chúc ông và gia quyến an khang.

Kính thư,

(Chữ ký)

Xin cáo lỗi vì già nên tay run khi viết thư.”

——-

*Làm Tỉnh/Thị-Trưởng Thừa-Thiên/Huế “năm 1973” rồi “rút lui khỏi Huế” vào tháng 3-1975 mà bảo [1973-75] là “thời-gian rất ngắn”!

Viết thư là có thì-giờ tra-cứu, chứ không phải là trả lời tức-thì trên máy điện-thoại, mà còn nhớ sai ngày làm Tỉnh-Trưởng (thực-sự là nhậm-chức vào tháng 11 năm 1974), thì làm sao mà viết nổi sách hồi-ký lịch-sử (cuốn “Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm”)?

LÊ XUÂN NHUẬN 

====

 TRƯƠNG THANH TÂN

Cháu với chú chưa hề quen biết trước

Mà vào tù mới gặp đã thân nhau;

Bởi vì hai ta chung một niềm đau

Và trên hết là chung lòng phục-hận.

*

Cùng ý-chí quyết hồi-hưng quốc-vận,

Mình liều mình mong nhóm lửa dêm khuya:

Chú dò tình-hình biến-động ngoài kia,

Cháu kết-nạp anh+em trong các Đội.

*

Chú bị chợt tay? trầy chân? trặc gối?

Cháu có sẵn-sàng thuốc-đỏ, cồn, bông:

Ấy là mình tạo dịp để truyền-thông,

Qua mặt được “ăng-ten” cùng “bảo-vệ”.

*

Chú có nửa đời… quyền-hành, luật-lệ,

Nay ─ lộ-diện rồi ─ hoạt-động gay-go;

Cháu mới lớn lên đã mất Tự-Do

Nên tự-phát ─ do Dân ─ đầy khí-thế.

*

Nguyễn Đăng Thục, nghị-viên từ xứ Huế,

Phan Thành Sung, cảnh-chức tự Sài-đô:

Già ngành+nghề, lớn tuổi-tác, khác ranh-tô,

Mà đã chịu tham-gia cùng với cháu!

*

Trương Thanh Tân!  Cháu là hòn ngọc báu

Của Quảng-Nam xưa “ngũ phụng tề phi”.

Chưa thành-hình nhưng ngục-sử rành ghi

Cuộc nổi dậy ─ của “tù-nhân cải-tạo”!

*

Những hành-hạ, những đoạ-đày ngược-bạo

Của kẻ thù, đâu đáng kể vào đâu!

Cháu vẫn hiên-ngang phút chót ngửng cao đầu

Lấy cái chết để đền ơn Tổ-Quốc!

*

Trương Thanh Tân!  Làm sao quên cháu được,

Một anh-hùng trong vô-số vô-danh

Lấy máu mình chép tội lũ gian manh

Và tưới bón cho thắm lòng Đất Mẹ.

*

Cháu dám chết khi tuổi còn rất trẻ

Dù chưa hề là công-chức, quân-nhân;

Thì những cha, anh (như chú) phải mang ân

Và phải… làm gì?  Làm gì cụ-thể

Để trả thù cho cháu, cho toàn-dân,

Và để khỏi thẹn-thùng với cháu thương-thân:

                       Trương Thanh Tân…

                                THANH-THANH

====

NGÔ HẢI QUẢNG

Tôi kính phục Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng

Cả từ thời Nguyễn Thái Học đến hôm nay.

Riêng Miền Trung có Tỉnh Quảng-Nam này

Là xuất-phát nhiều đảng-viên “gạo cội”…

Nhưng, trong trại có tên Cam Úng Thối

Là…  Bí-Thư  Đảng-Uỷ  Tỉnh  nhà  ta

Mà đớn-hèn đi khuất-phục lũ tà-ma,

Khiến mọi giới gớm nhờm như ghẻ lở!

Tôi thắc-mắc thì anh+em chống-đỡ:

Không phải người nào cũng đốn-mạt hôi tanh!

Cũng là Bí-Thư, tôi nhận-diện ra anh:

Cùng Tỉnh-Uỷ nhưng khác nhiệm-kỳ, đảm-lược!

Ngô Hải Quảng! làm sao tôi quên được:

Trong một lần mình lén hẹn cùng nhau,

Anh thở dài: Trần Bình Trọng1 nay còn đâu?

Dám chọn chết, khiến quân thù khiếp phục!

      1 Anh-hùng lịch-sửViệt-Nam, bị quân Nguyên bắt, đã mắng thẳng vào mặt giặc để bị chúng giết chết hơn là bị cầm tù & làm nhục: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc!”

Nhưng, tôi lại tưởng là anh khích giục

Tôi hiến mình nêu gương sáng hy-sinh,

Nên tôi hỏi đùa: chết cái chết quang-vinh,

Sao anh chẳng chính mình làm việc ấy?

Rồi… sau đó, người nào hoàn-cảnh nấy;

Tôi xuống Chợ-Cồn, ra Hà-Nội, vô Hoà-Sơn.

Lúc chúng trả về Tiên-Lãnh, tôi mừng rơn

Vì… ít nhất… cũng trùng-phùng bạn cũ…

Nhưng, Trần Quang Trân2 trước pháp-trường thọ-tử!

Giữa kẹp-kìm Thái Khắc Lễ3 vong-thân!

Trong quật-cường dũng-liệt Trương Thanh Tân4!

Và với bất-khuất thành-nhân5 Ngô Hải Quảng!

2 Sĩ-quan An-Ninh QLVNCH, chuyên-viên điện-tử (được Hãng Panasonic bảo-trợ tu-nghiệp tại Nhật), đã chế được máy vô-tuyến liên-lạc từ trong trại “cải-tạo” ra bên ngoài, tổ-chức phá trại vượt biên, bị bắt vào ngày 27-05-1982 và bị xử-tử vào ngày 19-06-1982 (cùng vụ đã có 12 sĩ-quan và Xã-Trưởng bị tù chung-thân hoặc hằng chục năm; 75 đồng-bạn bị biện-pháp hành-chánh “tập-trung cải-tạo” vô-thời-hạn, thực-sự thụ-hình 10 năm trở lên; và nhiều người không bị kết án nhưng bị kiên-giam).

Sĩ-quan Cảnh-Sát Quốc-Gia, dịch-giả cuốn sách “Gạo Lứt, Muối Mè”.

Xem bài thơ “Trương Thanh Tân” của Thanh-Thanh trong sách này.

5 Danh-ngôn: “Dù không thành-công cũng đã thành-nhân”.

Từ tâm-thức bỗng nhói lên một thoáng

Tôi… ân-hận mình đã… gợi ý cho anh?

Nhưng, cái chết của anh xúc-động trời xanh,

Nên, tự nó, đã cao sâu đầy ý-nghĩa!

Vì bị đày-đoạ dưới đòn thù độc-địa,

Nhiều dân lành đành chấp-nhận hèn-ươn;

Nhưng anh là một trong số ít đã cao vươn

Vượt thoát khỏi mọi cường-quyền, bạo-lực.

Anh đã đổ máu đào làm son tươi thế mực

Chép việc và người nổi bật nét hùng-kiêu,

Để nói lên: dù mái dột, tường xiêu,

Chính-Nghĩa vẫn là móng nền vững chắc.

Anh đã nêu cao tinh-thần kháng-tặc

Không riêng Quảng-Nam hay Việt-Quốc

                    mà là cả toàn-dân.

Xây Vinh-Quang cho Tổ-Quốc hồi-xuân,

Anh là một trong những hòn đá tảng:

                    — Ngô Hải Quảng!

                                   THANH-THANH

===

NGUYỄN XUÂN GIÁO1

      1Cựu Trưởng Ty Cảnh-Sát Công-An Quốc-Gia, Tỉnh Thừa-Thiên.

Tôi ở “An-Điềm” mới chuyển qua,

Anh từ “Tiên-Lãnh” cũng đưa ra.

Một trăm bốn chục tù nguy-hiểm

Nhốt kín rừng sâu “Đồng-Mộ” xa.

*

Ai bảo!  Bên ngoài: dân không “an”!

Bên trong: can-phạm cũng không “ngoan”!

Những tên đầu-sỏ: cần cô-lập,

Dập tắt trong đầu… mọi tính-toan!

*

Chúng bắt đi làm, mệt xỉu xâm;

Ngày hai lạng sắn (quý hơn sâm!)

Trích trong tiêu-chuần không lao-động:

Mấy chục ăn vào, trăm mấy thâm!2

      2Mấy chục người đi “lao-động” được cấp thêm mỗi người mỗi ngày 200 gr sắn, xén bớt từ khẩu-phần cầm-hơi của hơn một trăm người không đi “lao-động”.

Những lúc đi chung một chặng đường,

Thấy anh tôi qúa ngậm-ngùi thương:

Tôi còn bước được theo đồng-đội,

Anh lết chân sên  một bộ xương!

*

Âu-dược gia-đình tiếp-tế cho:

Trại không có thuốc  nhập vào kho!

Cầu nhiều, cung ít, tù nhiều bệnh,

Đến lúc anh cần: hết sạch vo!

*

Bảy chín qua đi trong tối-tăm,

Tám mươi dời trại xuống “Thôn Năm”.

Rồi anh ngã bệnh, ngày càng yếu,

Đi+đứng xiên xiêu, phải dựa+nằm.

*

Xin chúng cho anh được viết thư:

Thư mang hy-vọng hoá huyền-hư.

Chúng cho viết hết, nhưng… không gửi!

(Điều đó, anh+tôi đã biết dư!)

*

Trí lụn, thân suy, óc muộn phiền;

Cháo ngày hai sét, đói liên-miên!

Thuốc-men chẳng có, không săn-sóc!

(Nếu chết thì lôi ra trước hiên!)

*

Đến lúc anh như đã hụt hơi,

Nửa mình lạnh cứng, tay buông xuôi,

Chúng cho võng chở về “Tiên-Lãnh”;

Chúng bảo: anh đi bệnh-viện rồi!

*

Đồng-bạn mừng cho anh gặp may:

(Không như Xuân, Xáng3 chết trong này)

Nào: “tiêu-chuẩn” thuốc!  nào: “y-tá”!

Nếu được cho về nữa, lại hay!

      3 Trung-tá Trần Như Xuân chết tại “Đồng-Mộ”; trung-tá Trần Phước Xáng chết tại “Nhà Trắng” trong trại “Thôn 5” (Trại “Tiên-Lãnh 2”); đều thuộc Quận Tiên-Phước, Tỉnh Quảng-Nam.

                       *

Tám mốt, tôi từ “Kho Đạn” lên

Mới hay anh Giáo đã… quy-tiên!

(Chúng đem về nhốt trong phòng tối

Được độ vài hôm… thì là… yên!)

*

Ấy đấy!  Công ơn chúng hải-hà:

Đã không giết chết, không đòn tra,

Còn cho “học-tập”, cho lao-động,

Để “tốt” mà mau trở lại nhà!

*

Biên-bản về anh chắc chúng ghi:

(Cũng như Xuân, Xáng: sướng ai bì!)

Thuốc-men! ăn+uống! và chăm-sóc!

Bác-sĩ  đồng-tù  ký… chứng-tri!

*

Còn nhớ hôm nào: anh với tôi

Cùng bàn thế-sự, máu cùng sôi;

Ta dùng tiếng Pháp trên đầu địch,

Thù giặc, căm-hờn lũ… tớ-tôi!

*

Anh đã là tù thuở ngáo-Ngô;

Tôi: tù phong+thực lẫn mê-nô.

Bây giờ ta lại tù man-Cộng:

Anh hết, tôi còn… tới lúc mô?

*

Nhưng, hễ trên cao còn Trời Xanh,

Thì còn lưong-hảo thắng gian-manh!

Tôi nguyền đóng góp cho Đời đẹp,

Cho thoả lòng Người, thoả dạ anh!

                  Tiên-Lãnh 1, 02/03/1981

                         THANH-THANH

===

==

Minh Thúy Thành Nội

Phần I

Ngày tháng trôi qua vùn vụt, mới đó đã nửa thế kỷ từ khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam. Năm nay hình như cơn buồn của người dân tỵ nạn tăng lên nhiều hơn, nỗi nhớ, nỗi uất hận cũng thấm đậm hơn. Tôi thấy nhiều hội đoàn xôn xao chuẩn bị ngày tưởng niệm mất nước trong “tháng Tư Đen” sớm hơn, thay vì những năm trước chỉ vào cuối tháng.

Chủ Nhật ngày 6 tháng 4/ 2025 chương trình ca nhạc “Kỷ Niệm 50 Năm Sài Gòn Mất Tên” do Nhóm Thân Hữu Sài Gòn, ban nhạc Sài Gòn Nhớ và ông Lê Văn Hải, Hội Trưởng cơ sở Văn Thơ Lạc Việt (VTLV), cũng là Trưởng ban Báo chí Bắc Cali và chủ báo Thằng Mõ kết hợp tổ chức tại quán Coffee Lovers tọa lạc tại 1855 Aborn Rd. San Jose, Ca 95121. Cũng như bao nhiêu lần tổ chức, người hùng Lê văn Hải luôn khoản đãi phần nước ngọt free và phần quà sổ số trúng thưởng.

Quan khách đến dự quá đông, nhiều cụ già con cháu đẩy xe lăn vào ngồi lắng nghe những bài hát mang chủ đề “Chiều Nhạc Tưởng Niệm 50 Năm Sài Gòn Mất Tên” Những khuôn mặt trầm tư với mái tóc pha sương, ánh mắt trĩu buồn xa vắng. Năm mươi năm tưởng như mới ngày hôm qua, dù Sài Gòn đã bị Việt Cộng (VC) đổi tên, nhưng nó vẫn còn sống mãi, hằn sâu trong tâm trí, và cất giữ trong trái tim người dân miền Nam đang ở trong nước, cũng như đồng bào tỵ nạn đang sống lưu vong trên khắp thế giới.

“Sài Gòn ơi! Tôi đã mất người trong cuộc đời

Sài Gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời

Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi

Những nụ cười nát trên môi

Những giọt lệ ôi sầu đắng…” (*1)

Tiếng hát vang lên trong không khí lắng đọng…hình ảnh Sài Gòn được mang danh Hòn Ngọc Viễn Đông nhộn nhịp đầy sinh động còn đâu nữa. Ký ức không thể quên được ngày 30/4 đen tối, tang thương bị Việt Cộng chiếm đoạt miền Nam. Niềm đau buồn của đất nước, đảo lộn cuộc sống đang ấm no hạnh phúc trở thành địa ngục chốn trần gian.

“Năm 1954 ông bà Nội tôi đã đưa gia đình trốn thoát ban đêm lên Hà Nội, tới Hải Phòng xuống tàu di cư vào Nam vì có tên trong danh sách chôn sống địa chủ. Tháng tư/1975 lúc VC vào chiếm, những tiếng thở dài, những lời gào khóc đau đớn. Mẹ tôi, đôi mắt trũng sâu và quầng thâm qua một đêm thao thức, tuyệt vọng kéo tôi ra góc sân:

– Con cầm tiền thích gì thì mua ăn. Rồi đến tiệm thuốc tây mua thuốc rầy, mấy mẹ con cùng uống. Mẹ đã từng sống với họ rồi. Không chịu nổi đâu con.

Tôi quay lưng, tránh nhìn đôi mắt đầy nước mắt của mẹ, bước vội ra phố. Tôi đã không làm theo lời dặn mua thuốc vì đầu óc đang còn ngơ ngẩn.

Cũng khoảng thời gian này, bà Nội đang ở với chú tôi tại Phan Rang đã nổi cơn điên, gào thét khi thấy lá cờ đỏ sao vàng: “Quân ăn cướp! Trả lại tài sản cho tao. Quân ăn cướp!” Nửa đêm bà Nội trốn ra khỏi nhà. Không biết bà chết, vùi thây nơi đâu, đến nay con cháu vẫn không có tin tức. Sau đó là những ngày đói rách cùng tận… Tinh thần mẹ con tôi bị khủng bố theo mỗi đợt họp cưỡng bách đi kinh tế mới, ép đi lao động thủy lợi.

Cha tôi hồi đó là Trưởng Cuộc Cảnh Sát. Sau hơn một năm rưỡi đi tù cải tạo về, bị cưỡng ép lên vùng kinh tế mới với dì Hai và bảy người em. Cha tôi lạnh lẹ mở lò gạch nên dân trên vùng kinh tế mới có việc làm. Ông vận động nhà cầm quyền địa phương, xin quyền lợi cho nhân công được lãnh tem phiếu và gạo mỗi tháng. Công việc trôi chảy nếu không nói là phát triển mạnh. Dưới thành phố bệnh viện, cơ quan, trường học lên ký hợp đồng mua gạch rất nhiều. Thế rồi chủ tịch kiểm soát vùng kinh tế mới đến mượn lò gạch và ngang nhiên chiếm trâu bò của em tôi (dùng vào rừng đốn củi). Cha tôi uất ức nghẹn ngào nói với con cháu “chưa thấy chế độ nào khốn nạn như vậy, mình bị ngã nó đạp cho xuống vực, mình vừa ngoi đầu lên nó lại ăn cướp công của tài sản”.

(trích từ bài viết “Nửa Thế Kỷ Nhìn Lại của tôi được in trong tuyển tập của hội Cô Gái Việt).

Trở lại buổi chiều nghe nhạc trong không khí trầm lắng, tiếng hát buồn vời vợi đưa tâm hồn mọi người đi về miền quá khứ, tiếc nuối một Sài Gòn hoa lệ với biết bao kỷ niệm. Tôi thầm cám ơn ông Lê văn Hải đã tổ chức hàng năm cùng sự góp mặt của các ca sĩ. Những năm trước tổ chức tại Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương, Cà Phê Lover, và bây giờ là lần thứ 7, chúng tôi được thưởng thức những bản nhạc gợi hình ảnh quê hương yêu dấu xa ngàn trùng đầy tiếc nuối.

Thứ Hai ngày 7 tháng 4 / 2025, theo tin của phóng viên thi sĩ Mạc Phương Đình cho biết “Tại tiền đình Quận hạt Santa Clara, Giám Sát Viên Betty Dương và Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát Otto Lee đề xướng cùng Cộng Đồng Việt Mỹ Bắc Cali, phối hợp với Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Tây Bắc Hoa Kỳ, tổ chức buổi Thượng Kỳ và treo Cờ rũ VNCH để khởi đầu cho những chương trình tưởng niệm trong suốt tháng Tư, nhằm ghi nhớ và tưởng niệm một phần lịch sử chung của chúng ta.

Buổi lễ đã được long trọng khai mạc với hàng trăm các cựu quân nhân VNCH, các cựu chiến binh Hoa Kỳ và đồng hương Việt Nam tham dự. Theo dự kiến trong suốt tháng Tư, cờ Việt Nam Cộng Hòa sẽ tung bay tại trụ sở Hành Chánh của Quận Hạt, như một biểu tượng tưởng niệm những người đã hy sinh. Và như một ánh sáng dẫn đường cho hành trình tiếp tục gìn giữ các giá trị về tự do, dân chủ và nhân quyền”.

Chủ nhật ngày 13 tháng 4/2025, ông Lê Văn Hải hội trưởng của VTLV tổ chức buổi “Tưởng Niệm Tháng Tư Đen” tại County Hall (Isaac Newton Senter Auditorium 70 W Hedding ST. San Jose, CA 95110) được bảo trợ bởi Giám Sát Viên Hạt Santa Clara Betty Dương. Vẫn những khuôn mặt đáng kính của VTLV góp bàn tay đắc lực như thầy Phạm Thái lo bao quát, phóng viên Mạc Phương Đình, ông Hoàng Thưởng điều khiển nghi lễ chào cờ hát Quốc Ca Mỹ -Việt, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng mở đầu chương trình, ban nhạc Sài Gòn Nhớ do chị Thuý Nga đảm trách cùng các ca sĩ trình diễn, hai MC duyên dáng Hạnh Thảo, Thanh Loan phối hợp cùng ban Du Ca của ông Trương Tấn Mẫn, đặc biệt có cô xướng ngôn viên Đồng Thảo của đài phát thanh Quê Hương góp mặt.

Hội trường rộng với sự tham dự đông đảo của đồng hương. Sau phần phát biểu của những vị Dân Cử, Giám Sát Viên Betty Dương phát bằng tưởng lục cho ông Lê Văn Hải, phần tâm tình của Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng bày tỏ về ý nghĩa đau buồn của mùa quốc hận. Tiếng nhạc vang lên quyện vào giọng hát.

Tự do ơi tự do! tôi trả bằng nước mắt

Tự do hỡi tự do! anh trao bằng máu xương

Tự do ôi tự do! em đổi bằng thân xác

Vì hai chữ tự do! ta mang đời lưu vong … (*2)

Tôi nghe mắt mình cay cay vì ca từ diễn tả về chuyện thuyền nhân vượt biển. Ký ức đi rất xa, xa khoảng thời gian từ 1980 đến 1985 mà tôi đã ghi lại trong câu truyện “Tháng Ngày Tìm Tự Do trước đây.

*

Hơn năm năm vất vả ngược xuôi tìm đường trốn ẩn, có lần trên đường đến điểm hẹn bị bể, bà con chạy tán loạn, tôi và đứa em trai chạy chui vào rừng sâu, nghe tiếng súng nổ bà con bị Công An hốt lên xe, họ lùng sục đến nửa đêm và tôi thoát nạn ở vùng Rạch Sỏi (Kiên Giang). Theo đuổi từ năm này qua năm nọ vẫn miệt mài không sờn chí. Có lần trốn cả nhóm bảy người (dòng họ bà con) trong rừng mấy ngày bị bắt còng tay đi vào làng, được dân miền Nam hiền hậu tốt bụng đem cơm nước, thức ăn xin tổ trưởng cho chúng tôi được dùng, sau đó vào nhà tù An Biên (Rạch Giá).

Ký ức khó quên nhất trong ngày tháng bị tù đày là: Công an coi tù chỉ một hố sâu chứa nước toàn đất sét và rong rêu vàng khè tạm gọi là chỗ… phát nước uống. Mỗi sáng họ mở cửa cho lấy nước từ đó uống, bà con không uống nổi với mùi tanh của nước bẩn, các chị có sáng kiến nấu cơm đổ nước đầy nồi, nước sôi chắt ra bình để cơm cạn chín, từ đó uống bằng mùi nước gạo. Mỗi chiều họ mở cửa cho ra vệ sinh và tắm bằng con đầm nước cũng đục ngầu sau khi đàn trâu tắm trước, chỉ khác chút là không cho trâu tắm chung với người. Ra tù chẳng còn tờ giấy hộ thân, sống chui lủi tránh con mắt công an, đi tới đâu  mua vé chợ đen, đêm ngủ chung với đám ăn xin vì không có giấy tờ tuỳ thân, không dám vào phòng trọ quanh bến xe.

Chuyến cuối cùng lọt đến đảo Pulau Bidong, được Ban Trật tự dẫn về căn gác ở chung hai chị độc thân. Sáng hôm sau nghe loa gắn trên các ngọn cây “Đây là tiếng nói của người dân tỵ nạn Cộng Sản trên đảo Pulau Bidong …”, tôi mới thật sự biết mình còn sống, đã thật sự rời xa mảnh đất quê hương thân yêu, và ôm mặt khóc nức nở khi nghe Thanh Thúy hát “Ai về bến Ngự cho ta nhắn cùng. Nhớ chăng non nước Hương Bình! Có những ngày xanh…” *(3)

Ngày ngày ra bến đón những chuyến tàu tấp tới, lắm lúc chứng kiến cảnh phụ nữ được khiêng băng ca vào bệnh viện vì tàu bị hải tặc. Có em bé khoảng 15 tuổi ở đối diện trước mặt nhà, nghe những người đi chung chuyến với em, to nhỏ kể chuyện chuyến đi bị cướp, vét sạch tiền vàng, lôi phụ nữ qua tàu họ làm chuyện tồi bại, khi lôi kéo dằng co, em bé này đã khóc lóc gào to: “Lạy Chúa tôi, con đâu có tội tình chi?

Chị T nằm chung gác với tôi, kể chuyến đi của chị gồm mười một người, trên tàu chỉ có ba phụ nữ, trong đó một cô khoảng 18 tuổi đi cùng chồng chưa cưới. Hai tàu từ xa đến húc mạnh vào thuyền của chị tưởng chừng muốn bể đôi. Hải tặc nhảy qua lôi ba người phụ nữ, nó giở trò nhưng thấy chị đang có kinh nguyệt, tát mấy bạt tai mạnh xô chị xuống tàu. Hai cô kia chống cự rất mãnh liệt, nó xốc lên, hai cô vật xuống, cứ như vậy vài lần các cô đuối sức, chúng xé toạt áo, vài tên kềm giữ hai bên để tên khác cười man rợ bày trò khốn nạn trước mặt mọi người. Anh chồng chưa cưới chỉ biết ôm mặt gục đầu. Chúng bắt cóc hai phụ nữ đi luôn trong tiếng khóc nức nở của người chồng.

Tôi chuyển trại qua Sungei Besi (thủ đô của Mã Lai), được Cao Uỷ sắp xếp về khu Thanh Nữ Độc Thân sống chung phòng gồm mười chị em. Chị H cuối góc phòng ít nói chuyện, suốt ngày ngồi đan len, nét mặt ẩn hiện nỗi buồn sâu lắng nội tâm. Được biết tàu chị đi bị lạc hướng lênh đênh hơn một tháng, đói khát kiệt sức nướng thịt người ăn cầm cự nhưng rồi đều chết từ từ, chồng và đứa con trai chị cũng bỏ mạng, lúc gặp tàu quốc tế vớt chỉ còn lại vài người.

Chị A có chồng bên Mỹ, dẫn theo đứa con trai bảy tuổi vượt biên trên chiếc ghe vài người chỉ mình chị là phụ nữ. Gặp hải tặc kéo chị qua tàu, chúng dụ cháu nhỏ các món đồ chơi rồi hiếp chị. Chúng dội nước lạnh vào mặt chị, sau những lần chị bị ngất xỉu, thay phiên nhau làm chuyện tồi bại cho đến khi gặp tàu buôn, chúng phi tang tội lỗi bằng cách giao chị lại. Chị được bệnh viện chăm sóc tận tụy sau thời gian dài nằm liệt người. Mỗi sáng loa phóng thanh gọi tên chị lên kiểm tra sức khỏe, lúc trở về phòng chị cho xem thuốc ngừa thai và thuốc đề phòng bệnh Aids. May mắn tinh thần chị vững mạnh vượt qua chưa bị điên loạn.

Em C hay bị đau đầu thường lên bệnh viện khám, nguyên nhân tàu em gặp ba tàu cướp bao vây tấn công. Tàu đông phụ nữ sợ hãi nhảy xuống hầm trốn, em bị một tên cướp chụp đầu lôi lên trong khi em đang ôm chặt song sắt, tên cướp túm tóc kéo giật mạnh, đang lúc dùng dằng thì tàu tuần tra trên biển xuất hiện, bọn cướp phóng về tàu mình chạy nhanh.

Đáng lẽ tôi được chuyển qua Phi Luật Tân học ba tháng Anh Văn cũng như học về đời sống Mỹ, nhưng bên đó bị tình trạng ứ nghẹt người, nên được chuyển qua đảo Galang 2 của nước Indonesia. Nơi đây tôi sống chung bốn chị em ở dãy nhà dành riêng cho phụ nữ quay ra bìa rừng. Hằng ngày đến trường học, chúng tôi đi ngang qua khu Miếu được dựng dưới gốc cây đa rậm lớn. Nghe kể lại Miếu thờ hai chị em bị hải tặc hiếp, chờ đợi diện nhân đạo hơi lâu, hai chị em nhục nhã mỏi mòn rủ nhau ra đó treo cổ chết, bà con thương tâm lập Miếu thờ.

Hai chị em H và B chung phòng cũng kể tôi nghe: Trong chuyến đi bán chính thức của người Hoa năm 1977, cả gia đình được chia ra 2 tàu, hai em chứng kiến tàu ba mẹ bị đắm chìm giữa biển cả mênh mông, trước con mắt sững sờ của tàu còn lại, nhưng đành chịu bất lực. Hai em nói hình ảnh ấy luôn hiện lại trong giấc mơ đau nhói.

Trong dòng họ bên chồng tôi có cháu gái, hai em gái con bà O ra đi mất tích biền biệt. Vợ chờ chồng đi tù về (anh tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh), cả gia đình vượt biển gặp hải tặc giết hết đàn ông. Năm ngoái tôi được xem phim “Boat People” của đạo diễn Thanh Tâm từ Canada đem qua Mỹ chiếu trong ngày 30/4, có đoạn một nhân vật kể lại: Xác các em thiếu nữ đi chung một ghe tấp vào làng biển xa xôi, được dân chôn và lập nơi thờ, tôi giật mình liên tưởng đến hai dì cháu tuổi còn thanh xuân, đi trong một tổ chức nghe đâu chuyến đó chỉ toàn con gái. Tôi bị ám ảnh nặng đầu khi xem khung cảnh chiếu ngôi làng, muốn về kể cho người chị và bà O nghe, nhưng không có can đảm vì lo ngại khơi lại nỗi buồn cố lắng xuống đã gần 40 năm.

Tôi nép thân trên mảnh thuyền mong mạnh sương gió

Như một người tìm đường về nơi đáy mồ

Tôi bước đi vì không muốn làm kẻ tội đồ

vì tôi muốn lại kiếp con người

muốn cuộc đời còn có những nụ cười… (*4)

Tâm tư tôi đã trải mênh mông trên vùng biển, hình ảnh con tàu đêm giông bão như những chiếc thuyền giấy thả trên nước lụt chơi hồi còn nhỏ. Rùng rợn mỗi cơn sóng ào đến cao ngất phủ xuống con thuyền nghiêng sát mặt nước. Tiếng la hét, tiếng đọc kinh râm ran, tiếng người điều khiển “bà con bình tĩnh tát nước ra, nước đang ngập đầy”, chỉ một tích tắc thuyền sẽ chìm hoặc lật trong đêm tối mực. Tiếng ói mửa thi nhau vào đầu, vào mặt, mùi hôi tanh của kinh nguyệt, ngồi ngâm mình trong nước lạnh cóng, tôi đuối sức nghĩ mình sắp chết, lơ mơ tự hỏi thầm “cha mẹ có linh ứng gì không? con sắp ra đi rồi…” nhưng số còn sống, không bị gặp hải tặc và ký ức chưa bao giờ quên cuộc vượt biển liều lĩnh, tìm một phần sống trong 99 phần chết.

*

Thứ Bảy ngày 26 tháng 4/2025, tại tiền đình Quận Hạt Santa Clara số 70 West Hedding St San Jose, CA 95110, Uỷ Ban Chấp Hành Cộng Đồng Việt Mỹ tổ chức “Đại Lễ Tưởng Niệm 50 Năm Quốc Hận 30 Tháng Tư”.

Chúng tôi đến sớm mang tâm trạng hồi hộp khi thấy các anh lính Việt Nam Cộng Hoà mặc quân phục theo từng binh chủng. Hình ảnh oai hùng của một thời còn sôi sục tinh thần chiến đấu chẳng chịu buông, nhưng vận nước nổi trôi đành theo số mệnh. Các anh đã bị tù đày nơi chốn rừng sâu, bị đọa đày bởi quân Cộng Sản thâm độc hiểm ác. Nhắc đến chuyện tù tội, không làm sao kể hết chuyện dài của các anh đi “cải tạo” mà tôi được nghe kể lại trực tiếp, hoặc đọc nhiều sách như “Đời Tù Một Thiên Nga” của Nữ Tình Báo Thiếu Tá Thanh Thủy, “Con Trâu Đâu Có Cải Tạo” của Nhạc Sĩ Lê Hữu Nghĩa, tôi nhớ nhất hai câu nói của người tù và cán bộ:

Người tù:

– Thưa cán bộ, muốn gia tăng năng suất lao động, ở trại có nuôi một bầy trâu mấy chục con sao không sử dụng để kéo bừa.

Cán bộ:

– Các anh cải tạo chớ con trâu đâu có cải tạo mà bắt nó kéo bừa.

Mời đọc truyện ngắn trong đường dẫn dưới đây để thấm nỗi tù đày nhục nhã bị bóc lột dã man tàn nhẫn không thể tưởng.

http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2020/03/con-trau-au-co-cai-tao-

Thật là đau lòng uất nghẹn: họ đã ký kết hiệp định ngừng chiến nhưng lại vi phạm trắng trợn, lì lợm cố chiếm miền Nam cho bằng được, để biến một miền Nam đang sung túc bị lộn ngược nghèo đói và lạc hậu. Tôi nhớ năm 2015, giai đoạn này còn đi làm, nhưng nghe cuốn phim “Ride the Thunder” (Cưỡi Ngọn Sấm) của ông Richard Botkin đã từng là vị cố vấn sát cánh với Trung Tá Thủy quân Lục chiến Lê Bá Bình (người thật việc thật) thời chiến tranh Việt Nam. Tôi đi làm về sớm để được xem phim tại rạp, phim chiếu cảnh tù đày của người lính VNCH khiến ai cũng nín thở, đau lòng phải khóc, con mắt mọi người đỏ hoe khi ra khỏi rạp.

Xin trích lời nhận xét:

 “Sự thật những người lính quân đội Việt Nam Cộng Hòa là những người quả cảm. Không ai muốn ngừng chiến đấu cả. Miền Nam Việt Nam đã gần đoạt được chiến thắng rồi. Nhưng họ phải bỏ súng vì Hoa Kỳ quyết định không hỗ trợ, không viện trợ nữa, trong khi miền Bắc vẫn tiếp tục được Nga và Tàu hỗ trợ. Còn nhiều sự thật nữa mà ông Richard Botkin muốn đưa lên màn ảnh. Sự thật về sự tàn ác của bên thắng cuộc tại những trại tù cải tạo.”

Sự thật về những người vợ có chồng đi cải tạo vừa bươn chải lo cho con, vừa đối phó với mọi khó khăn của cuộc sống, vừa chắt bóp thăm nuôi chồng, vừa mòn mỏi đợi chờ, cho đến ngày chồng hoặc được thoát khỏi ngục tù hay được tin chồng đã chết. Ông Richard Botkin cho biết cũng vì mục đích trả lại sự thật cho lịch sử mà ông muốn biến cuốn “Ride the Thunder: A Vietnam War Story of Honor and Triumph” thành phim.

Giờ đây nhìn những bộ quân phục, tôi lại liên tưởng câu chuyện của Trung Tá Võ Vàng chồng bà Đường (hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi), đã bị Việt Cộng lừa xuống suối một mình, bắn ngang nhiên nhiều phát đạn, đổ tội Trung Tá trốn trại (bạn tù kể lại), thật vô cùng dã man trong trại tù “cải tạo” và khi có dịp về Nam Cali thăm, Cô thường nhắc lại, nay thì Cô và Trung Tá Võ Vàng đã gặp nhau bên kia thế giới.

Chủ Nhật 27 tháng 4/ 2025 có 2 nơi tổ chức lễ:

1/ Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Tây Bắc Hoa Kỳ tổ chức “Lễ Giỗ Và Tưởng Niệm Anh Linh Các Chiến Sĩ Dân-Quân- Cán – Chính Việt Nam Cộng Hoà Tuẫn Tiết trong ngày 30/4 /1975” tại 2670S.White RD #175 San Jose CA 95148.

2/ Cộng Đồng Việt Nam Bắc Cali tổ chức” Tưởng Niệm Quốc Hận Lần Thứ 50” tại 1141 East William Street, San Jose CA 95116.

Thứ Tư 30/4/2025 có 4 nơi tổ chức lễ:

1/ Buổi sáng: Lực Lượng Sĩ Quan Thủ Đức/QLVNCH tổ chức “50 Năm Tưởng Niệm Quốc Hận 30/4/75 & Lễ Truy Điệu Quân Dân Cán Chính VNCH và Các Vị Tướng Tá Tuẫn Tiết” tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ “Thank You America” (Khu Công Viên Vườn Truyền Thống Việt) 1499 Roberts Ave, San Jose, CA 95112 lúc 9 giờ.

2/ Buổi sáng: Liên Hội Cựu Quân Nhân tổ chức “Lễ Thượng Kỳ và Rũ Kỳ” tại Tiền Đình Toà Thị Chính Thành Phố San Jose, số 200 E. Santa Clara St, San Jose CA 95113, được sự quan tâm, phối hợp của chính quyền Thành Phố lúc 11 giờ.  

3/ Buổi chiều: Tuổi trẻ Vietnamese American Roundtable tổ chức chủ đề “50 TH Anniversary Commemoration of The Fall of Sài Gòn. Honoring History, Shaping Tomorrow” tại City Hall Rotunda 200 East Santa Clara Street, San Jose CA 95113.

4/ Buổi chiều: Tại Đền Thánh Tử Đạo Việt Nam 685 Singleton Road, San Jose CA 95111: “Lễ Dâng Hương Tưởng Niệm 50 Năm Tháng Tư Đen, Thánh Lễ cầu nguyện cho những thuyền nhân đã chết trên đường vượt biển”

Mùa Quốc Hận năm nay, các hội đoàn thay phiên nhau tổ chức Lễ Tưởng Niệm ngay từ đầu tháng Tư. Thật quý hóa thay những tấm lòng yêu nước Việt Nam Cộng Hòa. Chân thành cám ơn các hội đoàn.

Chú thích:                                                    

(*1) Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt- NS Nam Lộc

(*2 & 4) Xin Đời Một Nụ Cười – Nam Lộc

(*3) Đêm Tàn Bến Ngự – Dương Thiệu Tước

Phần II

Thứ Tư đúng ngày 30 /4. Chúng tôi thức dậy thật sớm chuẩn bị lái xe lên dự lễ Tưởng Niệm ngày Quốc Hận tại công viên Vườn Truyền Thống Việt do Lực Lượng Sĩ Quan Thủ Đức tổ chức. Biết giờ cao điểm bà con đi làm, đường xá kẹt xe nên khởi hành lúc 7:30, freeway 880 nhích xe từng đoạn, tôi không dám nhìn đồng hồ phó mặc cho số mệnh, đến nơi mới dám nhìn thấy kém 5 phút đúng 9 giờ làm lễ, tôi thở phào sung sướng vì sẽ được hát bài Quốc Ca Việt Nam.

Buổi lễ trang nghiêm do ông Hoàng Thưởng và ông Lê văn Hải điều khiển chương trình. Chúng tôi thắp nén nhang thành kính trước di ảnh các vị: Thiếu Tướng Phạm văn Phú, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Nguyễn Văn Long là những vị anh hùng “Sinh vi Tướng, Tử vi Thần “đã tuẫn tiết trong những ngày mất nước. Ngoài ra còn biết bao nhiêu vị sĩ quan hoặc những người lính vô danh đã tự sát trong thời điểm đó. Thật là vinh danh các vị anh hùng đã vị quốc vong thân, đúng là “Anh Hùng tử, khí hùng bất tử”.

https://tienggoicongdan.com/2015/03/05/cdnvqghk-danh-sach-anh-hung-vnch-tuan-tiet-trong-thoi-gian-30-4-1975/canhsatquocgia.org

Màu nắng rực rỡ chan hòa, mây trời trong xanh tuy khí hậu còn hơi lạnh. Tôi ngẩng nhìn tượng đài Việt – Mỹ, pho tượng người lính Mỹ và người lính VNCH trong tư thế hiên ngang anh dũng đầy tinh thần bất khuất. Mắt nghe cay mờ, hồi tưởng biết ơn đến sự hy sinh của những người lính VNCH, quý báu hơn nữa là những người lính Mỹ, xin trích một đoạn trong bài viết “Ký Ức Chưa Phai” của tôi:

… “Trí óc tôi miên man càng lúc càng sâu về đề tài chiến tranh và sự hy sinh…  Điển hình về bức tường đá đen tại Washington DC, được khắc tên hơn 58,000 anh hùng lính Mỹ đã hy sinh tính mạng trong cuộc chiến tại Việt Nam. Điều thật đáng trân trọng và hiểu rõ nỗi đau đớn khôn cùng của những bà Mẹ, những người vợ trong hoàn cảnh mất con mất chồng. Làm sao chúng ta có thể quên được hay mất đi những cảm xúc nhức nhối này, người Mỹ không chết vì nước Mỹ, một sự hy sinh quá vĩ đại dù đã 45 năm trôi qua, nó luôn là nỗi đau buồn đối với người thân họ, và chúng ta cũng sẽ ray rứt phần nào với cái chết của họ” …

Thầm lặng nguyện cầu đến những anh linh tử sĩ đã hy sinh bỏ mình ngoài chiến trận, những người tìm tự do bỏ mạng trên biển cả, đường bộ, những tù “cải tạo” chết trong rừng sâu khổ nhục, những bạn đồng minh sát cánh chiến đấu trên trận tuyến Việt Nam. Còn cái “Ơn” nào bằng giờ đây tôi được định cư nơi xứ Cờ Hoa, nhờ nước Mỹ nhân đạo mở rộng vòng tay cứu vớt, được sống trong không khí tự do và hưởng một đời sống sung túc.

Xong buổi lễ chúng tôi chạy qua Tiền đình Tòa Thị Chính do Liên Hội Cựu Quân Nhân tổ chức. Rất phấn khởi và hãnh diện nhìn trên các con đường cũng như những khu thương mại lớn, một rừng cờ vàng tung bay rực trời. Lá cờ của hồn thiêng sông núi, vì mất nước đã sống chết đem theo mình, vận động vào dòng chính Mỹ để được phát huy, phát triển tinh thần quốc gia không chịu khuất phục dưới sự đàn áp độc tài đảng trị của VC nên trốn chạy. Nơi nào có dân tỵ nạn là có cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tung bay khắp năm châu bốn bể trên toàn thế giới. Tại Bắc Cali có nhóm Hậu Duệ Cờ Vàng do em Minh Huy làm trưởng nhóm, hăng say cầm cờ diễn hành trong các buổi lễ lớn, hoặc theo dõi những tù nhân lương tâm bị bắt bớ trong nước để tìm cách vận động, đấu tranh.

 Giờ đây, trước Tòa Thị Chính, lá cờ bay trong nắng, sau khi làm lễ Thượng Kỳ và treo cờ rũ, chiếc máy bay ngày trước đã từng qua VN tham chiến bay rất nhiều vòng trước sự giới thiệu của MC, bà con xúc động ngẩng lên trời đưa tay vẫy chào cùng sự tham dự của chính quyền Thành Phố.

Chúng tôi tìm quán ăn ngồi nghỉ ngơi chờ 4:30 chiều vào trong Toà Thị Chính do nhóm trẻ có cái tên “Vietnamese American Roundtable” tổ chức, được sự bảo trợ của Nghị Viên Biên Đoàn. Người đến dự rất đông mặc toàn màu đen, hội trường rộng lớn đặt ghế nhiều nhưng vẫn không đủ nên số người đứng chật chung quanh. Đây là thế hệ nối gót “tre già măng mọc”, tuổi trẻ học cao, thành đạt trên xứ người hợp lực trong tinh thần đoàn kết. Các em đặt bàn thờ bảy vị tướng tá Vi Quốc Vong Thân, dâng những vòng hoa trắng trông rất trang trọng đẹp mắt, các em rất lễ phép chào hỏi người lớn tuổi và nhờ cầm cờ vàng chung ba thế hệ một tấm lòng.

Lúc đến giờ khai mạc, đoàn người ra dàn chào với 50 lá Quốc Kỳ phất cao trong khí thế mạnh mẽ. Chương trình được Thị Trưởng, Nghị Viên, Dân Biểu Thành Phố lên phát bằng khen thưởng. Sau đó chiếu những đoạn phim của thời điểm mất nước, cảnh quân dân chạy tán loạn, cảnh người vượt biển gợi nhớ ngày miền Nam Việt Nam đầy tang thương quá đau lòng. Tiếp tục những bài hát hướng về hương yêu dấu, vinh danh tên tuổi chiếu những nhân vật công trong mọi lãnh vực, xen kẽ lời phát biểu, tâm tình của các em đầy xúc động.

Tóm tắt lời phát biểu của các em:

 – Kính thưa các Cô Chú, các Bác, các Ông Bà. Chúng con sinh ra nơi đây, nhưng biết nguồn gốc của mình là người VN, lý do tại sao đến đây từ Cha, Ông kể lại lịch sử đau buồn của ngày 30/4, và cũng chính cha ông đã từng bị tù đày khốn khổ. Chúng con vô cùng biết ơn thế hệ đi trước đã hy sinh quá nhiều, để chúng con có được ngày hôm nay, và luôn nhớ mãi ngày quốc hận, cũng như quyết tâm gìn giữ nối tiếp ngọn Cờ Vàng…

– Hiện nay hàng ngày con được đi học, được sự chăm sóc của ba mẹ lo từng bữa cơm no, áo ấm. Lúc nhỏ con vô tư chẳng hiểu gì, chỉ biết vui chơi học hành, lớn lên theo ba mẹ đi dự những buổi sinh hoạt Cộng Đồng, nhất là dự những hội chợ Tết, thấy người VN chung tay tổ chức, con mới cảm nhận được hai chữ “đồng hương”. Trong nhà thương quý ba mẹ vô cùng, ra ngoài kính nể lớp người đi trước đã gầy dựng một Cộng Đồng gìn giữ truyền thống văn hóa tốt đẹp của đất nước mình trên xứ người, cho nên con đã ghi tên học lớp Việt Ngữ, nhận ra tiếng Việt mình đẹp hay quá, rồi tiếp tục dạy lại các lớp nhỏ…. 

– Rất mong những bạn trẻ hăng hái tham gia, góp sức gầy dựng Cộng Đồng VN mỗi ngày một vững mạnh thêm, như Tết năm nay nếu không có tổ chức buổi diễn hành hoa hậu, hay dạo ngắm quang cảnh các buổi chợ thì em sẽ buồn lắm, vì nơi đó là sức sống, là hơi thở của người Việt Nam nơi chốn tha phương…”

Vẫn còn nhiều nơi:

Buổi trưa:  Việt Museum tổ chức tại 2410 Senter RD, San Jose CA 95111.

Năm giờ chiều: tại Century nhóm văn nghệ của Nhạc Sĩ Hoàng Tường (Houston qua), ban Tuệ Đăng của Thu Nga, cùng đoàn trống La San.

Sáu giờ chiều tại Đền Thánh Tử Đạo, chưa kể Sacramento (thủ phủ của tiểu bang California), và nhiều tổ chức khác nữa.

Thôi thì tùy duyên tham dự, nơi nào có dân Việt Nam lưu vong tỵ nạn là có lá cờ vàng mà lớp cha anh đã tranh đấu, vận động mạnh mẽ để có được màu cờ của tự do dân chủ bay phất phới trên xứ người. Giờ đây đã 50 năm, trong mùa Quốc Hận ở đâu có tổ chức, chúng tôi đều muốn tham dự, dẫu đường xa lái từ nhà tới San Jose nếu không kẹt xe cũng mất 50 phút.

Nhờ những buổi lễ này, chúng ta được thấy lá cờ vàng, được hát bài Quốc Ca, được thắp nén hương cho các vị tướng lãnh đã can trường tuẫn tiết trong ngày 30/4/75, được có phút mặc niệm đến các anh linh hồn thiêng sông núi, hàng triệu người trốn chạy làm mồi cho cá và đổi bằng thân xác cho cướp biển, mồ chôn tù cải tạo trong rừng sâu, được thấy những bộ quân phục của người lính VNCH gợi nhớ một thời nữ sinh đi choàng vòng hoa chiến thắng, dẫu đau nhưng lại rất dịu vợi đắp lên miền dĩ vãng, được gặp gỡ đồng bào VN, những người cùng chung tâm trạng mất quê hương, tỵ nạn nơi xứ người nhưng luôn ấp ủ lá cờ vàng trong tim.

Chúng ta nhìn nhau thông cảm thì nỗi đau, sự uất ức được an ủi và ấm lòng biết bao nhiêu.

Minh Thúy Thành Nội

30 Tháng Tư/2025 (Bắc Cali)




VẠN NGƯỜI NGHĨ ĐẾN NGƯỜI QUA ĐỜI




NỬA ĐỜI HAY MỘT ĐỜI?




Mùa Xuân Này Nắng Lên | Minh Thúy Thành Nội




VTLV CHÚC MỪNG NGÀY TÌNH YÊU. Happy Valentine’s Day!

Hôm Nay, Happy Valentine’s Day!

Lời Chúc Lễ Tình Yêu 2025!

Nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết:

“Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!   

Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều.   

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,.   

Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu!”

Không ai định nghĩa được Tình Yêu cả! Thậm chí là không biết có thật hay không? Vì không ai thấy, không ai rờ, không ái nếm được cả! Mơ hồ như thế, vậy mà thế giới vẫn dành một ngày đặc biệt, hôm nay! mừng cho thứ tình cảm này, mà mọi người đều công nhận, nó là thứ tình cảm êm ái, ngọt ngào, cần thiết nhất trong đời sống!

Hôm nay, Thứ Sáu, ngày 14 tháng 2, là Ngày Lễ Tình Yêu! Happy Valentine’s Day! Đây là một trong những ngày Lễ mà giới trẻ Mỹ yêu thích nhất, vì ý nghĩa của nó! Giờ thì đã lan ra khắp thế giới!

Tình Yêu, là món quà quý báu nhất, mà Thượng Đế ban cho con người. Nơi nào có tình yêu, nơi đó có an bình, hạnh phúc. Ngược lại, hận thù, chỉ gây chết chóc, chiến tranh!

Cuộc đời, tình yêu, cần như hơi thở. Chính vì thế mới có câu: “Người không có tình yêu, khác gì…xác chết! mà…biết thở!”

Nhân ngày Lễ Tình Nhân, xin gởi lời chúc tốt đẹp nhất, ngọt ngào, hạnh phúc nhất, cho những cặp tình nhân đang yêu nhau. Nhưng đây chỉ là nghĩa hẹp, mở rộng hơn, là tình yêu thương giữa con người và con người, tình cảm cao quý này, mang lại niềm vui hạnh phúc, an bình cho cuộc sống. Cần thiết nhất trong thời điểm hiện tại, vì bất cứ lúc nào, thế giới cũng có thể bùng nổ chiến tranh. Chỉ vì con người, vẫn còn thiếu chất tình yêu thương nhau. Ý nghĩa này, mới là cốt lõi, thông điệp của ngày lễ!

Chúc Mừng Ngày Lễ Tình Yêu 2025!

Lê V Hải

Dù Trời Mưa Như Trút Nước, Nhóm Mõ Nhân Ái, Vẫn Tưng Bừng Ăn Mừng Ngày Valentine Với Khách Không Nhà! (Homeless!)

Khách Không Nhà vui mừng khi được tặng quà, đó là 2 bao lì xì trong có chút tiền mặt. Một bà vui mừng ôm lấy anh trưởng nhóm tâm sự: “chồng con tôi, cũng quên ngày này, mà Nhóm lại nhớ! Điều này, làm tôi cảm động quá! cám ơn!”

Đây là mục đích hoạt động của Nhóm, đưa các không khí ngày lễ đến với họ, như một món quà tinh thần an ủi, những mảnh đời bơ vơ, không một người thân bên cạnh. Mà Nhóm đã bền bỉ thực hiện biết bao nhiêu năm nay. (trên 30 năm!)

Sau đây là một vài hình ảnh:

Nhân Lễ Tình Nhân, giới thiệu những mẫu truyện ngắn hay về tình yêu, rung động trái Tim!

Có một chàng trai thầm yêu cô gái chung lớp đã lâu, nhưng không dám bày tỏ. Chàng trai nhờ bạn bè và họ gợi ý chàng nên mua hoa và xếp thành hình trái tim trước sân trường và chờ cô gái đi học về rồi tỏ tình.

Chàng đã mua rất nhiều hoa hồng và làm theo gợi ý của bạn mình, nhưng sau khi xếp xong chàng trai lại quá nhút nhát, khi người yêu đi qua, không dám gọi tên người mình yêu. Những sinh viên tò mò đứng xem chật kín hành lang của trường đại học. Cuối cùng để phá đi không gian tò mò ngày một đông kia, chàng trai bèn đổi giọng nói: “Có ai mua hoa không?”.

Lỡ một lời tỏ tình có khi lỡ nhau cả đời! cô gái ấy lẽ ra là của chàng trai rồi, nhưng cuối cùng lại chỉ lướt qua nhau như người xa lạ mà thôi. Vì thế hãy nắm chặt lấy tình yêu của mình khi nó đến. Đừng để vuột mất cơ hội mà tiếc nuối cả đời bạn nhé. Biết bao nhiêu cuộc tình vuột mất, chỉ vì không dám nói! 

Trong một lễ cưới, người dẫn chương trình của lễ cưới lấy ra một tờ tiền, 100 đô la, hỏi tất cả những người trong hội trường rằng ai cần xin hãy giơ tay: “Nếu ai muốn xin hãy giơ tay”.

Cuối cùng cũng có người giơ tay, sau đó càng ngày càng có nhiều người giơ tay.

Người dẫn chương trình liền đổi tờ tiền lúc nãy thành tờ tiền cũ, những người giơ tay liền ít đi rất nhiều.

Người dẫn chương trình vừa cười vừa đổi lấy một tờ khác nhăn nheo cũ kỹ hơn, trong hội trường chỉ còn lác đác mấy người giơ tay.

Người dẫn chương trình mời một vị thanh niên lên sân khấu, và đưa tờ tiền cho anh ta, nói rằng:“ Tại vì anh giơ tay từ đầu đến cuối”, mọi người trong hội trường liền cười lớn.  Người dẫn chương trình nói với cậu thanh niên: “Tôi đổi cho cậu tờ mới này lấy tờ cũ được không?”,

Cậu thanh niên nói: “Không cần đâu ạ, cũ mới đều giống nhau”.

Người dẫn chương trình gật đầu và mời cô dâu và chú rể đi lên sân khấu, anh nói: “Nhan sắc có đẹp thế nào đi nữa, rồi cũng sẽ có ngày già đi. Một cuộc tình lãng mạn thế nào đi nữa, rồi cũng thuận theo cuộc sống mà thay đổi. Giống như tờ tiền tôi cầm trên tay, cũng theo thời gian mà trở nên cũ kỹ nhăn nheo, giống như cậu thanh niên vừa rồi nói, cũ và mới thì giá trị của nó không vì những nếp nhăn trên bề mặt mà thay đổi. Có phải vậy không?”.

Cô dâu chú rể nhìn nhau gật đầu. Mọi người ở hội trường vỗ tay hồi lâu chúc mừng.

Chúng ta đôi khi có thể quên đi giá trị và ý nghĩa thực sự của tình yêu, đừng để đến lúc già liền quên đi lời thề hôm nay rằng sẽ yêu nhau trọn đời, đầu bạc răng long. Đừng để đến khi mất rồi mới biết trân trọng! Mà hãy trân trọng những gì bạn đang có hiện tại.

Người chồng đang chăm sóc vợ đang nằm trên giường trong phòng thai sản vì cô sắp sửa lâm bồn.

Người vợ hỏi anh: “Anh hy vọng em sắp sinh cho anh con trai hay con gái”.

Người chồng mỉm cười: “Nếu đó là một bé trai, hai bố con anh sẽ cùng nhau bảo vệ em. Nếu đó là một bé gái, anh sẽ bảo vệ cả hai mẹ con. “

Tình yêu không nhất thiết phải là vinh hoa phú quý, mà là cần có nhau trong lòng. Hôn nhân là một điều hạnh phúc, thật may mắn nếu bên cạnh bạn là một người đàn ông xem bạn như báu vật cuộc đời.

Nhà cô gái vừa thay một chiếc cửa công nghệ cao, chỉ cần nhận diện giọng nói thì cánh cửa sẽ tự động mở ra. Cô đem mật khẩu cài đặt thành “Anh yêu em!” để anh thoải mái đi vào.

Một ngày họ cãi nhau to. Cô một mạch nói lời chia tay. Lại suốt ngày ở nhà ảo não hối hận không thôi. Cô đem mật khẩu đổi thành “Thực xin lỗi!”, mỗi ngày khi mở cửa đều nhỏ giọng nói “Thực xin lỗi” với cánh cửa. Dường như làm như vậy cô có thể giảm bớt sự hối hận cùng mong nhớ trong lòng.

Một ngày, cô đang ngồi bần thần trên ghế, cánh cửa lại đột nhiên mở ra. Anh ta và cả cô đều kinh ngạc nhìn thấy nhau, rồi chạy vào ôm nhau thắm thiết!

Hóa ra khi yêu nhau, họ cùng ý tưởng, cùng nói một ngôn ngữ!

Trong tình yêu luôn luôn phải có sự nhường nhịn đến từ hai phía! Dừng chen tự ái vào tình yêu!

Buổi tối, trước khi đi ngủ nàng quay sang hỏi ông xã: “Nếu em mắc bệnh nan y, anh có chạy chữa cho em không?”

Ông xã đang buồn ngủ, mơ mơ màng màng rằng: “Em đừng nói bừa… Bán hết gia sản cũng phải chữa chứ!”

Nàng nói: “Nếu anh mắc bệnh thì sao?”

Ông xã: “Không trị!”

Nàng ngạc nhiên: “Vì sao?”

Ông xã: “Còn lại một mình em, kiếm tiền không dễ. Anh không để em làm như thế được”

Người vợ cảm động, rươm rướm nước mắt!

Bạn không biết khi bạn gặp nguy hiểm, người ấy sẽ quan tâm lo lắng cho bạn như thế nào. Như Chúa phán: “Tình yêu cao cả nhất, là dám hy sinh, chết cho người mình yêu!”

Vì nàng thích ăn táo nên mỗi ngày anh đều gọt hai quả táo một cho cô một cho anh, cô rất thích cảm giác chăm sóc ấm áp này. Chỉ là cô hơi khó chịu, khi anh luôn cắn một miếng ở cả hai quả táo trước khi đưa cho cô.

Một ngày nọ, thừa lúc anh đang gọt táo, thì ra ngoài nghe điện thoại, cô liền cắn lén quả táo của anh để trả đũa. Cô chợt phát hiện quả táo này nhạt nhách, không ngon ngọt bằng quả táo của mình. Nước mắt không tiếng động. lướt nhanh qua khuôn mặt của nàng

Yêu là thế! những gì tốt nhất, người đó sẽ luôn dành cho bạn! vui khi chịu thiệt thòi!

Di động rung, một dòng tin nhắn hiện lên: “Anh quyết định đi tỏ tình với cô ấy! cho anh một lời khuyên!”

Anh chàng là bạn thân với cô từ lâu, cô nén chặt cảm xúc rồi trả lời rằng: “Ồ…Vậy anh cố lên.”

“Anh đứng ngoài cửa nhà cô ấy đã lâu, không dám gõ cửa!”

“Đánh bạo gõ cửa đi! Ôm lấy cô ấy rồi nói anh yêu em!”

“Em nghĩ, cô ấy có đồng ý không?”

“Em không biết nữa!”

Cô buông điện thoại nằm xuống, nước mắt rơi xuống không ngừng, người ta không yêu mình!

Di động lại rung, là điện thoại.

“Anh đánh bạo gõ cửa rồi đây, đứng trước nhà em nè! ra mở cửa đi nào, cô bé!”

Khi yêu là thế, luôn mang đến chuyện bất ngờ, nhiều khi đứng tim! với người mình thương!

Có thể chăm sóc anh không?

Buổi sáng nọ cô mở cửa thì thấy chú mèo con có đeo nơ đỏ của anh chàng lầu trên, trên cổ mèo lộ ra một tấm bảng: Chủ nhân đi công tác xa, xin cô giúp, có thể chăm sóc tôi vài ngày được không ?

Cô ôm lấy mèo con đi vào phòng chăm sóc cẩn thận. Rồi sau đó chú mèo nhỏ kia thường xuyên xuất hiện với diện mạo giống như trên. Hôm nay, cô lại nghe tiếng gõ cửa. Nhưng ngạc nhiên chưa khi lần này lại thấy anh chàng kia, mà không phải con mèo! anh ta vừa cười vừa gãi tai: “Con Mèo đi công tác xa, em có thể chăm sóc anh không?”

Thích một người, sẽ luôn dành sự bất ngờ nhất cho người đó!

Chàng và cô gái hẹn hò đã khá lâu. Một ngày nọ, cô gái chia tay anh và nói với anh, “Em không muốn gặp lại anh nữa.”

Vài tháng sau, cô nhận ra mình còn yêu chàng trai, vì vậy cô tìm gặp và nói với anh, “Hãy cho em thêm một cơ hội. Suy nghĩ kỹ rồi, em yêu anh và em cần anh. Em hứa sẽ không làm anh bị tổn thương thêm nữa.”

Nhưng chàng trai cười lớn và nói với cô, “Chỉ có anh chàng ngốc mới quay lại với người đã làm cho hắn ta tổn thương, tan nát cả trái tim, nhiều lần như thế.”

Cô gái thất vọng và bắt đầu khóc òa, nhưng chàng trai vòng tay quanh người cô “Em chưa nghe hết mà,… và anh là một trong những chàng ngốc đó mà! Nín đi em!”

Không thể chờ đợi!

Nàng và bạn trai ra ngoài ăn tối và có một cặp vợ chồng già ngồi gần họ. Chợt nàng nghe thấy người chồng nói “Em còn nhớ khi chúng ta còn trẻ, chúng ta…. ?”

Tôi quay sang nhìn bạn trai tôi và cười khúc khích, tỏ ý rằng cặp đôi họ thật hạnh phúc. Nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy anh bạn trai cầm một chiếc nhẫn cầu hôn trong tay và nói “Anh không thể chờ đến tận lúc chúng ta già đi giống như họ! Mình yêu ngay đi em!”

Hồi còn bé, cô có một anh bạn thân trạc tuổi thường chơi chung gần nhà, thời gian sau nhà bạn trai chuyển đi đâu mất cô không rõ. Thứ duy nhất cô giữ là tấm hình này cho đến tận khi cô lấy chồng.

Một ngày nọ khi dọn nhà, chồng cô chợt thấy tấm hình được cô cất kỹ trong một quyển nhật ký và hỏi cô cậu bé trong tấm hình là ai. Cô trả lời hóm hỉnh: “Mối tình đầu của em!”

Sau đó chồng cô cười và nói: “Anh đánh mất tấm hình này khi anh 7 tuổi! Em giữ, thì cho anh xin!”

Dành thời gian bên em

Nàng bắt đầu câu chuyện: “Anh biết không…”

Chàng trai đáp ngay “Em yêu, anh có việc, hôm khác trò chuyện nhé…”

Nàng bắt đầu nũng nịu “Cái đó…”

Chàng kiên nhẫn “Thôi nào em yêu.”

Cô vẫn tiếp tục “Nhưng mà…”

Chàng kết thúc “Ngoan, ngủ ngon nhé!”

Cô cúp máy “Ờ…” rồi nằm cuộn mình trong chăn lặng lẽ khóc lóc, đã mấy tuần nay anh không ở bên cô, ang thật sự bận rộn như vậy sao?

Hôm sau cô kinh ngạc khi anh xuất hiện trước cửa nhà, với đôi mắt thâm quầng thiếu ngủ. Cô hỏi “Sao anh lại ở đây thế?”

Anh dụi mắt nói: “Ngày hôm qua anh thức khuya làm xong công việc của hôm nay, cuối cùng cũng có thời gian ở cùng em rồi!”

Khi yêu thì “mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua!”

Cô và anh học chung lớp từ cấp 2 và cô đã thầm mến thương anh đã lâu. Một hôm nọ, anh đưa cho cô một lá thư tình.

Nhịp tim cô đập nhanh, ấp úng: “Đây…đây là…”

Anh đỏ mặt nói “Tớ thiếu can đảm, không dám đưa, nhờ bạn chuyển dùm cho San San nhé” (San San là tên của bạn thân của cô)

Cô cố gắng gượng cười: “Bạn bè với nhau mà! Ha ha,…không thành vấn đề!”

“Nhưng trước khi đưa cho San San, bạn có thể giúp tớ đọc qua và góp ý được không?”

“Được.” Khi cô mở thư ra, trên đó chỉ có một hàng chữ: “San San, tớ thích cô bạn thân của San, để ý đã lâu! đưa giúp tớ thư này được không?”

Cô kinh ngạc ngẩng đầu! trái tim đập loạn xạ! chưa kịp nói lời gỉ, lại bị anh ôm vào trong lòng!

Buổi tối trước ngày thi cuối kỳ, cô yên lặng ở nhà ôn tập toán học, loáng thoáng nghe tiếng gõ cửa, là anh: “Làm bài này coi như ôn tập môn toán học, sau đó nghỉ ngơi sớm mai đi thi nhé.”

Cô cảm ơn, dặn anh đi về cẩn thận rồi đóng cửa lại. Xuyên qua mắt mèo, cô nhìn thấy dáng đi của anh hơi kỳ lạ…chân cà nhắc?

Sáng hôm sau môn thi đầu tiên là toán học, cô ngạc nhiên phát hiện bài thi được phát ra y chang như bài ôn tập tối qua! Trúng tủ! mừng rên!

Rất nhiều năm sau, khi đã cưới nhau, nhắc lại chuyện xưa, anh mới cười khoái chí. Anh nói khi ấy, anh làm học trò ngoan đứng đầu lớp nhiều năm như vậy, nhưng lại sợ cô bạn gái ngốc, rớt môn toán này, nên trèo tường đi trộm đề thi!

Khi yêu, thì chuyện gì cũng chả làm được!

Cậu bé nói với cô bé: Bạn đoán xem trong cái túi của tớ có mấy viên kẹo? Cô bé nhỏ nói: Đoán đúng rồi cậu sẽ cho tớ ăn sao?

Cậu gật đầu: Đúng thế, bạn đoán đúng rồi tất cả đều cho bạn!

Cô bé nuốt nước miếng: Tớ đoán có 5 viên kẹo!

Sau đó, cậu bé cười đặt đường vào tay cô bé, nói: Tớ còn thiếu cậu ba viên nhé.

Khi yêu, người yêu nói gì cũng đúng thôi!

Họ cãi nhau khá lâu, cô gái tức giận vươn tay tát chàng trai. Chàng trai lớn tiếng thách thức: “Có bản lĩnh, thì em tát anh thêm một cái nữa đi! sẽ biết!”

Cô gái không do dự tát ngay. Chàng trai dừng một chút, nắm chặt tay cô gái: “Em đã nghe lời như vậy, anh nói gì em cũng làm! chúng mình đừng cãi nhau nữa, về nhà thôi!”

Sau mội thời gian hẹn hò, tối đó chàng trai đưa nàng về nhà và nói với nàng: “Anh muốn em làm cho anh một việc quan trọng.”

Cô gái: “Dạ. Việc gì vậy anh?”

Chàng trai đáp khi em vô nhà, em hãy cảm ơn mẹ em giúp anh.”

Cô gái: “Nhưng vì sao hả: “K anh?”

Chàng trai mỉm cười: “Em hãy cảm ơn mẹ vì đã sinh ra một thiên thần dễ thương, an ủi cho cuộc đời anh và một ngày anh hy vọng thiên thần đó sẽ trở thành vợ của anh!”

Cô sung sướng, ngả đầu vào vai anh!

Một buổi sáng nọ, anh vừa tỉnh ngủ liền nhìn thấy cô đang nhìn mình chằm chằm, anh nghi hoặc hỏi: “Sao vậy em?”

“Em chợt suy nghĩ ra một vấn đề muốn hỏi anh rất lâu rồi, em không xinh đẹp, còn không giỏi việc nhà. Lúc ấy vì sao anh vẫn cưới em?”

Anh trông thấy vẻ mặt mong chờ của cô, bật cười nói: “Thì ra em cũng biết mình có nhiều khuyết điểm như vậy à?”

Cô hơi khó chịu: “Nghiêm túc chút đi!” Anh cười véo mặt cô: “Bởi vì đó là em!”  Không có ai trên đời giống em cả! chính vì đó, anh yêu em!

-Ngày lễ Tình nhân dành cho những người yêu nhau – nhưng bạn không cần một người bạn tâm giao lãng mạn để ăn mừng.

Ngày lễ là cơ hội để xem xét mọi hình thức tình yêu phong phú, đa dạng và có lợi như thế nào trong trải nghiệm của con người, cho dù tình yêu đó đến từ gia đình, bạn bè, thú cưng, hàng xóm hay cộng đồng của bạn.

Ba chuyên gia đã chia sẻ cách nuôi dưỡng tình yêu dưới mọi hình thức khi cô đơn là một “đại dịch”, chính trị gây chia rẽ và việc chuyển sang kỹ thuật thường dễ dàng hơn trong các tương tác xã hội ngoài đời thực.

Bạn Cần Nhiều Hơn Là Chỉ “Tình Yêu ấy” của Cuộc Đời Mình

Tình yêu lãng mạn – mối quan hệ sâu sắc, thân mật với một người hoặc nhiều người khác – là một phần giá trị của cuộc sống. Nhưng các chuyên gia cho biết chúng ta nên nhớ rằng chúng ta cần có nhiều nguồn kết nối.

“Đặc biệt là khi chúng ta già đi, chúng ta nhận ra rằng không có mối quan hệ nào có thể cung cấp cho chúng ta mọi thứ”, bà Mikaela Frissell, một nhân viên xã hội của UT Health Austin nói.

Tình yêu cũng không phải là thứ có thể dễ dàng được xác định bằng một định nghĩa hoặc hành vi duy nhất.

Theo nhà dịch tễ học Tyler VanderWeele, người chỉ đạo Chương trình Phát triển Con người của Đại học Harvard,nói. Là một động từ, tình yêu có hai tác dụng. Nó có thể là cả hai hoặc “hợp nhất” – nghĩa là bạn mong muốn và muốn ở bên người hoặc vật mà bạn yêu – hoặc “góp phần”, nghĩa là bạn muốn đóng góp thêm vào điều tốt đẹp của người mình yêu.

Các chuyên gia cũng cho biết một định nghĩa và quan điểm mở rộng về tình yêu mở ra khả năng bạn có thể hướng những cảm xúc “thống nhất” và “góp phần” này đến ai và đến điều gì.

Mối Liên Hệ Giữa Tình Yêu, Sự Cô Đơn và Sức Khỏe

Vào năm 2023, nguyên Tổng Y sĩ Hoa Kỳ Vivek Murthy đã tuyên bố sự cô đơn là một đại dịch sức khỏe cộng đồng.

Phúc trình của ông Murthy cho biết một nửa người Mỹ đã từng trải qua sự cô đơn và nó gây ra những rủi ro sức khỏe chết người như hút 15 điếu thuốc mỗi ngày. Nghiên cứu cũng phát giác ra rằng những người có mối quan hệ xã hội kém có nguy cơ đột quỵ và bệnh tim cao hơn, và sự cô lập làm tăng nguy cơ mắc chứng trầm cảm, lo âu và chứng mất trí nhớ của một người.

Bà Frissell nói, các mối quan hệ xã hội, sự gắn kết và hỗ trợ mạnh mẽ của tình yêu có liên quan đến sức khỏe tốt hơn, vì nó cho phép não bộ báo hiệu với cơ thể rằng bạn an toàn và đưa hệ thần kinh của bạn ra khỏi trạng thái “chiến đấu hoặc bỏ chạy”. Nghiên cứu cho thấy việc ở bên những người thân yêu có thể làm giảm huyết áp, hormone gây căng thẳng, giảm viêm – thậm chí giúp bạn ngủ ngon hơn và kiểm soát cơn đau tốt hơn.

Nghiên cứu về sự Phát triển của Người lớn của Harvard đang diễn ra, là nền tảng của cuốn sách “The Good Life”, đã chỉ ra giá trị của các mối quan hệ trong suốt cuộc đời.

Ông Anthony Chambers, một nhà tâm lý học và là Giám đốc học thuật tại Viện Gia đình thuộc Đại học Northwestern, cho biết một trong những phát giác của nghiên cứu Harvard là những người hạnh phúc nhất trong các mối quan hệ của họ ở tuổi 50 là những người khỏe mạnh nhất về mặt tinh thần và thể chất ở tuổi 80.

“Kết luận là gì? Xây dựng các mối quan hệ có ý nghĩa và thỏa mãn là chìa khóa cho sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta”, ông Chambers, người đã làm việc về nghiên cứu này vào giai đoạn đầu sự nghiệp của mình, nói.

Làm Thế Nào Tôi Có Thể Nuôi Dưỡng Tình Yêu?

Các chuyên gia cho biết, nói một cách đơn giản, hãy cố ý tìm kiếm các mối quan hệ trực tiếp.

Điều không đơn giản là lên kế hoạch cho mọi thứ với người khác. Có thể bạn sẽ thấy không thoải mái khi phải lướt qua lịch để tìm một cuộc hẹn ăn tối với một người bạn bận rộn hoặc gọi điện thoại cho anh chị em của mình, những người không có nhiều điều để nói. Có lẽ sẽ rất ngại khi bắt chuyện với người hàng xóm lớn tuổi mà bạn chưa từng gặp hoặc tham gia một đội bóng.

Bà Frissell cho biết hãy thừa nhận và thẩm vấn những nỗi sợ hãi hoặc giả định khiến bạn không thể tiếp cận trong những khoảnh khắc đó.

Cũng có thể làm những điều tốt đẹp cho người khác – ngay cả khi bạn không biết rõ về họ. Bà Frissell thách thức khách hàng khen ngợi ai đó mỗi ngày và sẵn sàng chấp nhận lời khen đáp lại. Bà cho biết lợi ích của việc nhận và trao tình yêu là như nhau.

Ông VanderWeele khuyên bạn nên thực hiện một bài tập mà ông thực hành: Chọn một ngày trong tuần, trong sáu tuần, để thực hiện năm hành động tử tế. Ông cho biết, điều này buộc bạn phải lên kế hoạch và ưu tiên lòng tốt một cách có chủ đích, giống như bất kỳ nhiệm vụ hàng ngày nào khác.

Tình Yêu Có Thể Xây Dựng Khả Năng Phục Hồi

Vào Ngày lễ Tình nhân năm nay, các chuyên gia khuyến khích bạn suy nghĩ vượt ra ngoài các mối quan hệ một-một và suy ngẫm về cộng đồng và thế giới của bạn. Họ nói thêm rằng việc cam kết với một mục đích hoặc nhóm sẽ xây dựng khả năng phục hồi về mặt tinh thần.

“Tất cả chúng ta đều muốn được hiểu và xác nhận, đặc biệt là trong những thời điểm khó khăn. Và các mối quan hệ được cho là bối cảnh quan trọng nhất để chữa lành cảm xúc”, ông Chambers nói. “Khi thế giới xung quanh chúng ta có vẻ hỗn loạn hoặc chúng ta cảm thấy cô đơn, các mối quan hệ mang đến cho chúng ta cơ hội để cảm thấy được xác nhận”.

Ông VanderWeele cũng cho biết điều quan trọng là phải “yêu kẻ thù” – những người mà chúng ta không đồng tình hoặc phản đối chúng ta.

Ông nói: “Mức độ chúng ta yêu thương người khác, yêu thương hàng xóm của mình sẽ định hình nên xã hội mà chúng ta đang sống”.

Hoa Hồng Tình Nhân

Cành hồng mới nở đóa hoa xinh
Gửi tặng em yêu những nụ tình
Tình nhân ngày lễ hoa hồng đỏ
Để mãi yêu đương chuyện chúng mình.

Nghe nhịp thời gian chuyện gió mưa
Sông thu liễu rũ thuyền đong đưa
Loài hoa chớm nở thơm hương sắc
Mây nước bèo trôi ngọn gió lùa.

Ôm bó hồng hoa đến tặng em
Nụ hôn nồng ấm ngất ngây thèm
Rót ly rượu đỏ men tình ái
Ngày lễ tình nhân ngọn nến đêm.

Âm hưởng vang lên nhạc phổ thơ
Cho tình lãng mạn phút mong chờ

Ái ân nồng ấm như ngày mới
Tóc xoã ngang vai mảnh lụa mờ.

Ngào ngạt hương xuân má đỏ hây
Tình em rạo rực phút sum vầy
Hồn em khép cánh hoa trinh nữ
Ngày ấy tình em đã rót đầy.

Tế Luân

Món Quà Valentine Cuối Cùng

Trời tháng Hai vẫn mang cái lạnh khe khẽ, như một lời nhắc nhở về những ngày Lễ Tình Nhân đã qua. Ngồi bên cửa sổ, nhìn những cặp đôi dắt nhau trên đường, tôi không thể ngăn được cảm giác nhớ thương người đã xa.

Ngày 14/2/1985, đúng 40 năm trước, tôi có ca trực làm AOD (Administrative Officer of the Day) từ 4 giờ chiều đến 8 giờ sáng hôm sau tại bệnh viện quân đội Hoa Kỳ, Moncrief Army Medical Activity (MAMA), Fort Jackson, SC. Khi ấy, tôi đã gia nhập ngành Y của Lục quân Hoa Kỳ được 5 năm và mang cấp bậc Đại úy. MAMA cũng là nhiệm sở đầu tiên của tôi sau khi hoàn thành khóa huấn luyện quân sự và khóa Thực tập Dinh dưỡng gần hai năm.

Hôm đó, tôi tranh thủ hoàn thành công việc sớm hơn thường lệ và xin phép về nhà lúc 2:00 chiều để có thể trở lại bệnh viện nhận ca trực AOD lúc 4:00 chiều. Nhà tôi nằm trong khu cư xá sĩ quan, cách bệnh viện chỉ một dặm, nên tôi nhanh chóng về nhà chăm sóc mẹ chồng đang bị cảm (mẹ chồng tôi bị bệnh tiểu đường, áp huyết cao, bệnh tim và bệnh thận), giúp bà uống thuốc và tiêm insulin. Sau đó, tôi nấu sẵn bữa cơm chiều cho bố mẹ chồng và chồng con, rồi vội vã trở lại bệnh viện nhận ca trực trước khi chồng và con tôi đi làm và đi học về.

Đêm hôm đó, tôi rất bận rộn với trách nhiệm AOD. Ngoài những công việc thường trực, tôi còn lo thủ tục hành chính cho một binh sĩ tự tử bằng thuốc độc cần cấp cứu và hai bệnh nhân qua đời. Mãi đến gần 11 giờ đêm, tôi mới có cơ hội trở về phòng trực để nghỉ ngơi, người mệt nhoài và bụng đói meo vì từ trưa đến giờ chưa được ăn gì. Khi mở cửa phòng, tôi sững sờ ngạc nhiên khi thấy chồng tôi đã ngồi đó từ bao giờ. Bên cạnh anh là một lọ hoa với 12 đóa hồng nhung đỏ thắm, một hộp kẹo chocolate và bữa cơm chiều tôi đã nấu sẵn ở nhà. Anh đứng dậy, dịu dàng ôm tôi vào lòng, nhẹ nhàng hôn tôi và nói: “Happy Valentine vợ yêu của anh, chắc em mệt lắm. Anh đã mang hoa và cơm tối đến cho em đây. Anh đã đợi em từ lúc 7:00 tối để mình cùng ăn cơm với nhau…”

Tôi ngồi ăn cơm với chàng mà nước mắt cứ ứa ra vì lòng cảm động nghẹn ngào và hạnh phúc. Chúng tôi đã lấy nhau được 16 năm, có với nhau ba con 11, 13 và 15 tuổi, đã định cư ở Mỹ được 10 năm sau ngày miền Nam Việt Nam bị mất vào tay Cộng sản. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhận được hoa hồng trong ngày Lễ Tình Nhân từ chàng. Tôi biết không phải vì anh không yêu tôi – trái lại anh thương yêu tôi tha thiết – mà vì phong tục Việt Nam không có ngày lễ này, anh luôn cho rằng lòng yêu thương chân thành từ trái tim mới là điều đáng quý. Tôi cũng đã quen tính anh, không vì điều này mà buồn giận, cũng không mong nhận hoa hồng vào ngày Valentine.

Nhưng tôi nào ngờ đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng anh tặng hoa hồng cho tôi vào ngày Lễ Tình Nhân. Chỉ vài tháng sau đó, định mệnh cướp anh ra khỏi đời tôi vào ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ 4/7/1985, khi anh cố gắng cứu bốn đứa bé (trong đó có con gái út của tôi) bị sóng ngầm cuốn xa trong lần picnic cùng bạn bè bên bờ biển Folly Beach, Charleston, SC.

Sau khi chàng mất đi, trong ngày Lễ Tình Nhân năm sau, tôi đã mua 12 đóa hồng nhung đặt trên bàn thờ và mộ chàng. Đêm ấy, lần đầu tiên chàng hiện về trong giấc mơ…

CHIÊM BAO

Trong giấc mơ anh trở về mờ ảo
Dáng anh gầy tóc rối mắt hư hao
Anh nhìn em không nói một lời nào
Và cứ thế anh dần dần tan biến…

Trong khói sương dáng anh mờ ẩn hiện
Em nghẹn ngào níu kéo bóng hình anh
Một tí thôi tí nữa đừng đi nhanh
Xin anh đó xin anh đừng đi vội….

Anh mờ dần tia mắt anh bối rối

Lẫn ngậm ngùi chua xót và yêu thương

Anh đi rồi em ôm lấy mùi hương

Đừng tan mất xin hương đừng tan mất…

phamphanlang

HAPPY VALENTINES’ DAY!

VALENTINE ngày TÌNH YÊU
Chúc nhau nhận được bao điều dễ thương
Tình yêu hâm nóng thường thường
Thứ tha lầm lỗi đoạn đường cùng ai
Dù cho đêm ngắn ngày dài
Dù cho bão tố bàn tay không rời
Quên đi những lúc sai lời
Nhớ thêm những buổi tình ngời trăng khuya
Trời còn khi nắng khi mưa
Người tâm phàm tục ghét ưa chuyện thường
Trách nhau là chẳng chung đường
Chừ em hiểu được nên thương càng nhiều…
VALENTINE ngày TÌNH YÊU
Bó hoa hồng thắm mọi điều…thăng hoa.

HAPPY VALENTINES’ DAY!
Phương Hoa
FEB 14TH, 2025

ĐÓN MỪNG LỄ TÌNH YÊU 

Tháng hai, mười bốn mãi YÊU
Chung lòngchia sẻ vạn điều mến thương
Ngộ ra đối cảnh vô thường
Nghe hồn thanh thản một đường bên ai
Nào lo tháng rộng năm dài
Nào lo vất vả siết tay chẳng rời
Hờn chi thủa ấy không lời
Hai mình vui ngắm sao ngời nửa khuya
Cho dầu sáng nắng chiều mưa
Keo sơn bền chặt hoài ưa lẽ thường
Giờ đây dạo khắp nẻo đường
Tình sâu nghĩa nặng đà thương thật nhiều
Tháng hai, mười bốn mãi YÊU
Tâm đầu ý hợp muôn điều trổ hoa.

Như Thu

02/14/2025




Những bức tranh  về tình yêu qua từng thời đại




TIẾNG VIỆT TẠI HẢI NGOẠI SAU 50 NĂM VÀ VYEA – HỘI GIÁO DỤC TRẺ EM VIỆT NAM VÙNG HOA THỊNH ĐỐN




TRAO ĐI YÊU THƯƠNG, NHẬN LẠI HẠNH PHÚC




TRÁI TIM TỪ BI CỦA NGƯỜI THỢ XỨ LÁ PHONG

-Adèle Bibaud- Phan Nữ Lan dịch 1173 words

Người người đều quấn mình thật ấm, họ bước đi rất nhanh, trời quá rét. Mọi người đều lo âu vội vàng để chạy nhanh về tổ ấm: lưới trượt của những xe trượt tuyết rền lên trên con đường lớn ở Mile-End *, gió rít thật xé tai làm đám tuyết ụn thành đống dưới chân những cây cao phủ đầy sương giá, trước đó trận bão đã làm rung chuyển những cánh tay sầu não của chúng. Những hạt bông tuyết xoáy tròn trên không, như thể bụi mù vùng sa mạc, làm mất hướng nhìn của người bộ hành. Hôm ấy thật sự là một buổi tối Giáng Sinh, thời tiết xuống hai mươi lăm độ âm. Ở khúc ngoặt con đường, một đám nhà nhỏ nghèo nàn đang khoe chùm mái đổ nát. Nào ta hãy vào căn đầu tiên nhé:  có bốn người: họ đang ở căn phòng phía trước, hai người phụ nữ, hai đứa bé.

 Bọn nhỏ đang lăn lộn, đùa giỡn, rồi cãi nhau. Ở lò sưởi, từ cái nồi bóng loáng như gương mặt của một người Phi Châu, tiếng ồng ộc của món súp hầm tỏa ra mùi vị thật ngon. Trên bàn, bốn bộ thìa dĩa dao đặt ngày ngắn với chiếc khăn trải thật tươm tất, một miếng bơ, một miếng phó mát, một cái liễn bằng sành chứa đầy sữa, một ổ bánh mì. Họ chỉ còn chờ người chủ gia đình. Trên tủ bếp, một bức tượng của thánh Antoine, cánh tay bị gãy đang bế chúa Hài Đồng Giê Su  do một phép mầu, ở dưới chân bức tượng thì một con ngựa gỗ đang kéo xe ba gác, cái xe này cũng đã qua cuộc chiến nên chỉ còn ba bánh xe; ở đầu bên kia của tủ thì bên dưới một quả cầu thủy tinh có hai bàn tay bằng sáp đang chắp vào nhau thật chặt, trên một cái khay bằng nhung đỏ; rồi xa hơn là một cái bình thủy tinh không quai, hai cái tách bị rạn nứt, một con chó bằng gốm, một con cừu với người chăn, tất cả những thứ này làm đồ trang trí cho căn nhà và được sắp xếp một cách không thứ tự và thật xa con mắt mỹ thuật. Trên tường thì treo lủng lẳng xoong nồi và dụng cụ nhà bếp. Ngoài ra, còn mấy cái ghế khập khiễng, một cái ghế trường kỷ xếp được dùng làm tủ, đó là toàn bộ đồ nội thất trong phòng; cho dù với sự nghèo nàn thiếu thốn, căn phòng vẫn toát ra một không khí thoải mái vì tất cả đều thật sạch sẽ chu đáo.

Tiếng gù gù của chú mèo nằm trên chiếc ghế đẩu cũ kỹ cho biết rằng thực khách này của căn nhà hèn mọn được yêu thương và cưng chiều như thế nào.

Hai người phụ nữ rì rầm nói chuyện với nhau, thỉnh thoảng đôi mắt của người trẻ bị mờ đi vì ngấn lệ.

– Tội nghiệp cô ấy quá, bà nói. Cô ấy sẽ không sống nổi. Ai sẽ chăm sóc con của cô ta? Lúc trước khi tôi bị bịnh, chính cô ấy đã chăm lo bọn nhóc của tôi. Ôi, giá như ông nhà tôi muốn làm điều đó!… nhưng mùa đông năm nay thật khắc nghiệt, quá khắc nghiệt, nên tôi không dám hỏi ông ấy, chị biết không, tôi thật đau đớn nghẹn ngào mỗi khi sang thăm cô hàng xóm. Ban đêm tôi không thể ngủ bởi vì tôi đã đọc được trong đôi mắt to sắp tàn lịm của cô ấy điều mà cô ấy muốn hỏi tôi nhưng không dám, cô ấy chờ tôi sẽ mở lời trước.

– Chị nghĩ cô ấy sẽ không qua khỏi hay sao?

-Chị ạ, cô ấy bị viêm phổi, và khi đã bị bịnh này rồi thì thua thôi, cộng thêm với nỗi lo âu về sự nghèo đói, rồi ý nghĩ phải để con mình lại cho người lạ nuôi lại càng làm cho cô ấy suy mòn nhanh hơn nữa, ôi thương quá.

Người thiếu phụ trẻ lấy vạt tạp dề lau nước mắt đang từ từ chảy dài xuống.

Rồi, may sao, cánh cửa đột ngột mở bật ra và một luồng gió mạnh mang theo những mảng tuyết ào vào nhà cùng với một người đàn ông cao to trông rất hoạt bát khỏe mạnh có dáng một lực sĩ, nét mặt nghiêm nghị, nhưng có vẻ chân thành và lương thiện.

– Ôi, với khí hậu chết tiệt này, về nhà thích làm sao, trời ạ! tôi tưởng là cơn bão tuyết sẽ chôn sống tôi ngoài đường rồi chứ! Rốt cuộc ta cũng về đây rồi. Ông ấy vừa nói vừa ném cho bọn nhóc một túi kẹo hạnh nhân.

– Này các con, ngày mai là lễ Giáng Sinh rồi đó, chúa Hài Đồng Giê Su không quên các con đâu này; nhưng mà này đừng có mà kiện cáo hay cãi cọ đấy nhé.

 -Ba!

 Hai đứa bé chạy đến bên cha, một đứa ôm lấy chân ba chúng, đứa kia thì leo lên vai, còn ông ta thì ôm hôn các con, thảy chúng lên trên cao, đứa này rồi đến đứa kia, rồi đến bên vợ mình.

– Cái gì thế này, hôm nay lại có nước mắt ư, điều gì làm cho em ray rứt thế, đây là lần thứ hai trong tuần mà ta thấy em khóc, điều này không bình thường rồi. Em không tin tưởng nơi ta để nói cho ta biết việc gì làm em buồn khổ sao?  Hôm nay là một ngày tốt, ta làm việc rất có kết quả và ta muốn tất cả mọi người đều hạnh phúc trong ngôi nhà này. Nào, hãy nói ngay cho ta biết em cần điều gì nào.

 Người thiếu phụ trở nên sợ sệt.

– Chắc là anh sẽ rầy la em mất thôi.

– Em nói đi.

– Đây ạ! Anh biết không, cô hàng xóm tội nghiệp, cô ấy sắp ra đi, rồi con của cô ta…

-A! đúng rồi, cô nàng khốn khổ tội nghiệp, anh quên khuấy đi mất, rồi con cô ta, đúng vậy, thật buồn cho cô ấy quá.

– Nếu anh muốn..

– Này mẹ nó, nếu như con của cô ấy làm cho em xúc động và lo âu, thì em hãy qua bồng nó về đây đi, đó là món quà của em đó. Ta sẽ làm việc thêm, về trễ một chút, như thế sẽ có đủ cái ăn cho tất cả chúng ta.

Thế là trong cái đêm mà con của Chúa Cha xuống trần thế để cứu rỗi nhân loại, thì bên trong ngôi nhà nhỏ bé ấy, cái nôi mà lâu nay đã đem cất trên gác xép, lại được mang xuống để đón nhận một em bé gầy còm yếu ớt, và cùng lúc đó linh hồn của một kẻ đọa đày vì nghèo khổ đã bay lên trời, với vẻ bình tâm mãn nguyện.

Adèle Bibaud – TL dịch

* Mile-End: khu phố thuộc thành phố Montreal, Quebec, Canada.

*****

CÂU CHUYỆN SAU ĐÊM GIÁNG SINH–  KHUYẾT DANH– TL dịch -679 chữ




Những Sự Kiện & Nhân Vật Của Tháng 12

Thailan sưu tầm

Eisenhower D Day – Hình Wikipedia.


01/12:

 -1918 – Iceland được quốc hội Đan Mạch trao trả độc lập.

 -1919 – Nancy Astor trở thành người phụ nữ đầu tiên trong Hạ viện Anh.

 -1925 – Các Hiệp ước Locarno (bảy hiệp định)  được  Đức, Pháp, Anh, Bỉ, Ý, Ba Lan và Tiệp Khắc ký kết như một biện pháp phòng ngừa để tránh một cuộc chiến tranh khác sau hậu quả của Thế chiến thứ Nhất. Các điều khoản  Hiệp ước Locarno được Anh và Ý bảo đảm. 

 – 1941 – Đội tuần tra hàng không dân sự Hoa Kỳ (CAP), một đơn vị phụ trợ của Không quân Hoa Kỳ, được thành lập khi Giám đốc Phòng vệ dân sự, cựu Thị trưởng New York Fiorello LaGuardia, ký lệnh chính thức. CAP hiện cung cấp giáo dục hàng không vũ trụ, chương trình đào tạo học viên CAP và các dịch vụ khẩn cấp như định vị máy bay mất tích.

-1988: Benazir Bhutto được đề cử làm thủ tướng Pakistan, là người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo một quốc gia Hồi giáo.
-1989 – Mikhail Gorbachev trở thành nhà lãnh đạo Liên Xô đầu tiên đến thăm Vatican và gặp Giáo hoàng, qua đó chấm dứt 72 năm chính sách vô thần nghiêm ngặt ở nước Nga Cộng sản.
-1990 – Anh được kết nối với lục địa châu Âu lần đầu tiên kể từ Kỷ Băng hà khi các kỹ sư đào đường hầm đường sắt dưới eo biển Manche phá vỡ lớp đá cuối cùng.Kỷ băng hà là một giai đoạn giảm nhiệt độ lâu dài của khí hậu Trái Đất, dẫn tới sự mở rộng của các dải băng lục địa, các dải băng vùng cực và các sông băng trên núi (“sự đóng băng”), thường nằm trong một kỷ địa chất nhất định
– 1994 – Người đứng đầu Ủy ban Liên hợp quốc về Rwanda ước tính 500.000 người đã chết vì nạn diệt chủng.

 02/12:

-1804 – Napoleon Bonaparte được Giáo hoàng Pius VII trao vương miện Hoàng đế nước Pháp tại Paris.
– 1805 – Napoleon đánh bại Nga và Áo trong Trận Austerlitz.
-1852 – Đế chế thứ hai được tuyên bố tại Pháp- Napoleon III là hoàng đế
– 1942 – Các nhà vật lý do Enrico Fermi dẫn đầu đã thực hiện phản ứng dây chuyền hạt nhân thành công đầu tiên trên thế giới tại Đại học Chicago.

-1971 – Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất được thành lập, bao gồm bảy vương quốc Ả Rập trên bờ biển phía đông của Bán đảo Ả Rập bao gồm các quốc gia Trucial trước đây là Abu Dhabi, Dubai, Sharjah, Ajman, Umm al Qaiwain và Fujairah. Ras al-Khaimah trở thành thành viên vào năm 1972. Khu vực này có một số trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên lớn nhất thế giới.
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE hoặc Emirates) là một quốc gia ở phía đông Bán đảo Ả Rập nằm trên bờ biển đông nam của Vịnh Ba Tư và bờ biển tây bắc của Vịnh Oman. UAE bao gồm bảy tiểu vương quốc và được thành lập vào ngày 2/12/1971 dưới dạng liên bang, sau khi lực lượng vũ trang Anh rời khỏi khu vực. Sáu trong số bảy tiểu vương quốc (Abu Dhabi, Dubai, Sharjah, Ajman, Umm Al Quwain và Fujairah) tuyên bố hợp nhất vào ngày 02/12/1971. Tiểu vương quốc thứ bảy, Ras al Khaimah, gia nhập liên bang vào ngày 10/02 /1972. Bảy tiểu vương quốc trước đây được gọi là Các quốc gia đình chiến, liên quan đến các hiệp ước đình chiến được thiết lập với người Anh vào thế kỷ 19. (wiki)
-1982 – Bác sĩ William De Vries đã cấy ghép trái tim nhân tạo vĩnh viễn đầu tiên cho Barney C. Clark, 61 tuổi tại Trung tâm Y tế Đại học Utah ở Thành phố Salt Lake. Clark, người đã sắp hấp hối vào thời điểm phẫu thuật, đã sống thêm 112 ngày sau khi cấy ghép.

 03/12:

 –1967 – Ca ghép tim thành công đầu tiên được thực hiện bởi Tiến sĩ Christiaan Barnard tại Cape Town, Nam Phi, trên Louis Washkansky, người đã sống được 18 ngày.

-1984 – Một vụ rò rỉ khí chết người (methyl isocyanate) tại một nhà máy công nghiệp nặng của Union Carbide ở Bhopal, Ấn Độ: Bản khai có tuyên thệ của chính phủ năm 2006 nêu rõ rằng vụ rò rỉ đã gây ra 558.125 trường hợp thương tích, bao gồm 38.478 trường hợp thương tích cục bộ tạm thời và khoảng 3.900 trường hợp thương tích nghiêm trọng và vĩnh viễn. Những người khác ước tính rằng 8.000 người đã chết trong vòng hai tuần và 8.000 người khác hoặc nhiều hơn đã chết vì các bệnh liên quan đến khí.

– 1857: Tiểu thuyết gia người Ba Lan Joseph Conrad (1857-1924) sinh ra tại Ukraine (với tên Josef Teodor Konrad Korzeniowski). Mặc dù không nói được tiếng Anh ở tuổi 20, ông đã trở thành một tiểu thuyết gia xuất sắc, nổi tiếng nhất với những câu chuyện về cuộc sống trên biển bao gồm Heart of Darkness và Lord Jim.

04/12:
– 1791 – The Observer, hiện là tờ báo Chủ Nhật lâu đời nhất thế giới, lần đầu tiên được xuất bản tại Anh.
-1829 – Người Anh cấm tục lệ “suttee” ở Ấn Độ, theo truyền thống  phụ nữ  Ấn Độ thường tự thiêu đến chết trên giàn hỏa táng của chồng.
-1918 – Vương quốc của người Serb, người Croatia và người Slovenia được công bố.
-1943 – Trong Thế chiến II, Hội nghị Cairo lần thứ hai đã diễn ra, có sự tham dự của Thủ tướng Churchill, Tổng thống Roosevelt và Tổng thống Inonu của Thổ Nhĩ Kỳ.

 05/12:

-1492 – Christopher Columbus phát hiện ra Haiti.
-1791 – Wolfgang Amadeus Mozart qua đời trong cảnh bần cùng ở tuổi 35 tại Vienna, Áo. Ông đã bị bệnh nặng và suy yếu nhanh chóng, dẫn đến suy đoán rằng ông đã bị đầu độc, mặc dù sau đó đã được chứng minh là sai. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, ông đã sáng tác hơn 600 tác phẩm âm nhạc và được coi là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất.
-1901:- Walt Disney (1901-1966) sinh ra tại Chicago, Illinois. Khi còn nhỏ, ông thích vẽ động vật trang trại và  đã có được công việc là một họa sĩ. Ông chuyển đến Hollywood và vào năm 1928 đã sản xuất Steamboat Willie,  vai chính là  Mickey Mouse, trong bộ phim hoạt hình đầu tiên có phối hợp âm thanh. Năm 1937, ông phát hành bộ phim hoạt hình dài tập của mình, Nàng Bạch Tuyết và Bảy Chú Lùn. Ông đã mở công viên giải trí Disneyland tại Anaheim, California, vào năm 1955. Năm năm sau khi ông qua đời, Disney World đã khai trưong tại Florida. Công ty do ông thành lập hiện đã phát triển thành một kiểu vương quốc  giải trí toàn cầu.

06/12:

-1877 – Tại phòng thí nghiệm của mình ở West Orange, New Jersey, Thomas Edison đã đọc bài thơ thiếu nhi “Mary had a Little Lamb…” trong khi trình diễn máy hát mới phát minh của mình, sử dụng một ống trụ quay được bọc trong giấy bạc để ghi lại âm thanh.
-1917 – Hai con tàu va chạm tại Halifax, Nova Scotia, gây ra một vụ nổ khiến hơn 1.500 người thiệt mạng và 8.000 người bị thương. Con tàu Imo của Na Uy đã va chạm với tàu chở đạn dược Mont Blanc của Pháp chở đầy hàng tiếp tế cho cuộc chiến tranh ở châu Âu, bao gồm 5.000 tấn thuốc nổ TNT. Một cơn sóng thần do vụ nổ gây ra đã phá hủy phần lớn thành phố.
-1971 – Cộng hòa Dân chủ Bangladesh, trước đây là Đông Pakistan, được Ấn Độ công nhận. Sau đó, Pakistan đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Ấn Độ.

– Nhà thơ người Mỹ Alfred Joyce Kilmer (1886-1918) sinh ra tại New Brunswick, New Jersey. Nổi tiếng nhất với bài thơ Trees, xuất bản năm 1913. Ông đã tử trận trong Thế chiến thứ nhất gần Ourcy, Pháp. Trại Kilmer của Quân đội Hoa Kỳ được đặt theo tên ông để vinh danh
– Phóng viên ảnh Alfred Eisenstaedt (1898-1995) sinh ra tại Dirschau, Phổ. Nổi tiếng nhất với những bức ảnh bìa tạp chí Life, bao gồm cả bức ảnh một thủy thủ hôn một y tá tại Quảng trường Thời đại, kỷ niệm ngày kết thúc Thế chiến thứ II.

07/12:

-Năm  43 trước Công nguyên – Cicero (Marcus Tullius) qua đời. Ông là một nhà văn, chính khách và được coi là nhà hùng biện vĩ đại nhất của La Mã cổ đại.

– 1787 – Delaware trở thành tiểu bang đầu tiên thông qua hiến pháp mới của Hoa Kỳ.

– 1941 – Căn cứ Hải quân Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng, Hawaii, bị gần 200 máy bay Nhật Bản tấn công trong một cuộc đột kích kéo dài hơn một giờ và khiến gần 3.000 người Mỹ thiệt mạng.

08/12:

-1940 – Trong chiến dịch Blitz, Hạ viện Anh và Tháp London đã bị hư hại nghiêm trọng trong một cuộc không kích qua đêm của máy bay ném bom Đức vào London. (xem 29/12: Blitz)

– 1941 – Một ngày sau cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng, Hoa Kỳ và Anh tuyên chiến với Nhật Bản.

– 1980 – Cựu nhạc sĩ Beatle John Lennon bị ám sát tại Thành phố New York.

– 1987 – Tổng thống Ronald Reagan và Tổng thư ký Liên Xô Mikhail Gorbachev đã ký Hiệp ước INF loại bỏ tất cả các tên lửa hạt nhân tầm trung và tầm ngắn.

– 1991 – Liên Xô (Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết) không còn tồn tại nữa, khi các nhà lãnh đạo của Nga, Byelorussia và Ukraine ký một thỏa thuận thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập. Các nước cộng hòa còn lại của Liên Xô cũ, ngoại trừ Gruzia, đã gia nhập Cộng đồng mới.

-1765 – Nhà phát minh máy tỉa hột bông Eli Whitney (1765-1825) sinh ra tại Westboro, Massachusetts. Phát minh của ông sử dụng răng giống như lược để loại bỏ hạt từ bông đã thu hoạch và có tác động to lớn đến nền kinh tế của miền Nam. Đến năm 1800, sản lượng bông tăng từ khoảng 3.000 kiện một năm lên 73.000 kiện. Ông cũng phát triển khái niệm sản xuất hàng loạt các bộ phận có thể thay thế và dây chuyền lắp ráp.

-1861 – Nhà sáng lập General Motors William C. “Billy” Durant (1861-1947) sinh ra tại Boston, Massachusetts.

09/12:

-1992 – Cung điện Buckingham tuyên bố việc ly thân giữa Hoàng tử Charles và Công nương xứ Wales, Dianna.

– 1993 – Các phi hành gia Hoa Kỳ đã hoàn thành công việc sửa chữa Kính viễn vọng Không gian Hubble kéo dài năm ngày trong không gian -trị giá 3 tỷ đô la.

– 1998 – Các chính trị gia Thụy Sĩ đã bầu nữ Bộ trưởng Nội vụ Ruth Dreifuss làm tổng thống, khiến bà trở thành người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo chính phủ Thụy Sĩ.

1608 – Nhà thơ người Anh John Milton (1608-1674) sinh ra tại London. Được coi là chỉ đứng sau Shakespeare về tầm quan trọng, các tác phẩm của ông bao gồm: Paradise Lost, Paradise Regained, Samson Agonistes, các tập sách nhỏ Of Reformation Touching Church Discipline, The Doctrine and Discipline of Divorce, The Tenure of Kings and Magistrates và Pro Populo Anglicano.

1886 – Nhà công nghiệp người Mỹ Clarence Birdseye (1886-1956) sinh ra tại Brooklyn, New York. Ông đã phát triển phương pháp đông lạnh thực phẩm và là một trong những người sáng lập General Foods Corp.

10/12:

-1896 – Nhà hóa học người Thụy Điển Alfred Nobel qua đời tại San Remo, Ý. Di chúc của ông quy định rằng thu nhập từ tài sản trị giá 9 triệu USD của ông sẽ được sử dụng để trao giải thưởng cho những người đóng góp có giá trị lớn cho nhân loại. Những người nhận giải Nobel được lựa chọn bởi một ủy ban của quốc hội Na Uy. Các giải thưởng về Hòa bình, Vật lý, Hóa học, Y học, Văn học và Kinh tế được trao hàng năm trong một nghi lễ ở Stockholm, Thụy Điển, nhân ngày giỗ của ông. Mỗi giải thưởng trị giá khoảng 1 triệu USD.

-1898 – Hiệp ước Paris được ký kết giữa đại diện của Hoa Kỳ và Tây Ban Nha sau thất bại của Tây Ban Nha trong Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ. Theo hiệp ước, Hoa Kỳ đã giành được Quần đảo Philippine, các đảo Guam và Puerto Rico, và một thỏa thuận của Tây Ban Nha để rút khỏi Cuba. Hiệp ước được thông qua bằng một phiếu bầu duy nhất tại Thượng viện Hoa Kỳ vào ngày 06/02/1899 và được Tổng thống William McKinley ký bốn ngày sau đó.

– 1941 – Trong Thế chiến II, các thiết giáp hạm Repulse và Prince of Wales của Anh đã bị máy bay chiến đấu Nhật Bản đánh chìm ở Biển Đông Trung Hoa, giết chết gần 800 thủy thủ trên tàu.

 –1948 – Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua và công bố Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

– 1950 – Tiến sĩ Ralph Bunche trở thành người Mỹ gốc Phi đầu tiên được trao Giải Nobel Hòa Bình, vì những nỗ lực làm trung gian hoà giải giữa Israel và các quốc gia Ả Rập lân cận vào năm trước.

-1787:- Nhà giáo Thomas Gallaudet (1787-1851) sinh ra tại Philadelphia, Pennsylvania. Ông là người đồng sáng lập Trường dành cho người khiếm thính Hoa Kỳ tại Hartford, Connecticut, vào năm 1817.

-1851- Thủ thư người Mỹ Melvil Dewey (1851-1931) sinh ra tại Adams Center, New York. Ông đã phát minh ra sách cho hệ thống phân loại số thập phân Dewey, ủng hộ cải cách chính tả và thúc đẩy sử dụng hệ tiêu chuẩn mét.

11/12:

-1901 – Tín hiệu vô tuyến xuyên Đại Tây Dương đầu tiên được Guglielmo Marconi truyền từ Cornwall, Anh, đến St. John’s, Newfoundland.

– 1936 – Vua Edward VIII thoái vị ngai vàng của Anh để kết hôn với người phụ nữ tôi yêu , một người Mỹ đã ly hôn hai lần tên là Wallis Warfield Simpson. Họ kết hôn tại Pháp vào ngày 03/6/1937, và sau đó sống ở Paris.

-11/12/2019- ngày mất của Chuẩn tướng Phạm Duy Tất (sinh tháng 8-1934-2019), nguyên là một tướng lĩnh Bộ Binh, sau chuyển sang Binh chủng Lực lượng Đặc biệt của QLVNCH, cấp bậc Chuẩn tướng. 

-12/12:

-1805: -Người theo chủ nghĩa bãi nô William LLoyd Garrison (1805-1879) sinh ra tại Newburyport, Massachusetts. Ông sáng lập tờ báo chống chế độ nô lệ Liberator vào năm 1831 và xuất bản tờ báo này trong năm mươi năm sau đó. Ông cũng đi khắp nước Mỹ để đưa ra những bài phát biểu chống chế độ nô lệ gay gắt, thậm chí còn ủng hộ miền Bắc ly khai khỏi miền Nam. Năm 1854, ông đã đốt một bản sao Hiến pháp Hoa Kỳ, tuyên bố, “Thế nên, hãy tiêu diệt mọi sự thỏa hiệp với chế độ chuyên chế!”

-1821: – Nhà văn người Pháp Gustave Flaubert (1821-1880) sinh ra tại Rouen. Nổi tiếng nhất với tiểu thuyết Madame Bovary, một câu chuyện về cuộc nổi loạn của một người phụ nữ chống lại xã hội trung lưu.

13/12:

-1642 – New Zealand được nhà hàng hải người Hà Lan Abel Tasman của Công ty Đông Ấn Hà Lan khám phá.

– 1862 – Trong Nội chiến Hoa Kỳ, Trận Fredericksburg đã diễn ra tại Virginia khi Quân đội Liên bang Potomac dưới quyền Tướng Burnside phải chịu một thất bại đáng kể, mất 12.653 người sau 14 cuộc tấn công    trước mặt vào Quân Nổi dậy cố thủ vững chắc trên Đồi Marye. Một người lính Liên bang nhận xét. Chúng ta cũng có thể thử đi đến địa ngục – Quân Liên minh miền Nam thiệt hại 5.309 người. Chiến tranh quá khủng khiếp như thế này là một điều thật hay- chúng ta có thể đạt tới việc yêu thích nó -, Đại tướng thống lãnh quân đội Liên minh miền Nam Robert E. Lee tuyên bố trong cuộc giao tranh.

13/12/1937 – 01/1938 Sự khởi đầu của một trong những tội ác tồi tệ nhất của Thế chiến II khi thành phố Nam Kinh (Nanjing) của Trung Quốc bị quân Nhật chiếm giữ. Trong sáu tuần tiếp theo, Cuộc cưỡng hiếp Nam Kinh đã xảy ra, trong đó quân lính Nhật Bản đã tấn công ngẫu nhiên, cưỡng hiếp và giết hại bừa bãi khoảng 200.000 người Trung Quốc. -Thảm sát Nam Kinh, cũng thường được gọi là vụ  Cướp phá Nam Kinh , là một tội ác chiến tranh do quân đội Nhật Bản tiến hành bên trong và xung quanh Nam Kinh, Trung Quốc sau khi thành phố này rơi vào tay Quân đội Thiên hoàng Nhật Bản ngày 13 tháng 12 năm 1937. Thời gian diễn ra cuộc thảm sát vẫn chưa được biết rõ, dù bạo lực đã kết thúc trong vòng sáu tuần, cho tới đầu tháng 2 năm 1938.

 Xác chết của các nạn nhân vụ thảm sát trên bờ sông Dương Tử với một người lính Nhật Bản đứng gần đó

-1991 – Bắc và Nam Triều Tiên đã ký một hiệp ước hòa giải và bất xâm lược, hiệp ước này cũng chính thức chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên, mặc dù giao tranh thực tế đã chấm dứt vào năm 1953.

1797-Nhà văn Đức Heinrich Heine (1797-1856) sinh ra tại Dusseldorf. ông được nổi tiếng với tuyên bố đưa ra một trăm năm trước khi sự việc sẽ xảy đến là Đức Quốc xã đốt sách ở Đức :- Nơi nào sách bị đốt, con người đã đựơc định trước cũng sẽ bị đốt.

-1818:- Mary Todd (1818-1882) sinh ra tại Lexington, Kentucky. Bà trở thành vợ của Abraham Lincoln, Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ.

Giáo sĩ kiêm nhạc sĩ người Mỹ Phillips Brooks (1835-1893) sinh ra tại Boston, Massachusetts. Ông đã viết lời cho bài hát Christmas Carol nổi tiếng, O Little Town of Bethlehem.

14/12:

1503 – Bác sĩ người Pháp Nostradamus (1503-1566) sinh ra tại St. Remy, Provence, Pháp (với tên Michel de Notredame). Ông đã viết những dự đoán chiêm tinh bằng những câu thơ bốn câu có vần điệu, được nhiều người tin là có thể tiên đoán tương lai.

-1799: -Tổng thống George Washington qua đời ở Mount Vernon

-1819:  Tổng thống James Monroe đã ký một nghị quyết của quốc hội thừa nhận Alabama là tiểu bang thứ 22 tại Hoa Kỳ

– 1861 – Tại Anh, Hoàng tử Albert qua đời vì bệnh thương hàn tại Lâu đài Windsor. Ông là phu quân của Nữ hoàng Victoria của Anh. Sau khi ông qua đời, Nữ hoàng đã trải qua một thời gian dài để tang.

1896 – Tướng James Doolittle (1896-1993) của Thế chiến II sinh ra tại Alameda, California. Vào ngày 18 tháng 4 năm 1942, ông chỉ huy một phi đội máy bay ném bom B-25 được phóng từ tàu sân bay Hornet để thực hiện cuộc không kích đầu tiên của Mỹ trong cuộc chiến chống lại lục địa Nhật Bản. Ông cũng chỉ huy Không quân số 8 trong cuộc xâm lược Normandy và được trao tặng Huân chương Danh dự.

-1911 – Nhà thám hiểm người Na Uy Roald Amundsen trở thành người đầu tiên đến Nam Cực.

– 1918 – Phụ nữ Anh lần đầu tiên bỏ phiếu trong một cuộc tổng tuyển cử và được phép ra tranh cử.

-1994: Đập Tam Hiệp (  Hán-Việt: Tam Hiệp đại bá;  là đập thủy điện nằm chặn ngang sông Trường Giang (sông dài thứ ba trên thế giới) tại Tam Đẩu Bình, Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Công trình được khởi công xây dựng vào năm 1994. Đập Tam Hiệp hiện là đập thủy điện lớn nhất thế giới. Hồ chứa nước của nó đã bắt đầu chứa nước vào ngày 1 tháng 6 năm 2003, chiếm toàn bộ khu vực Tam Hiệp, vị trí đập nằm giữa thành phố Nghi Xương (tỉnh Hồ Bắc) và Phù Lăng (thành phố Trùng Khánh).

Tuyên ngôn Nhân quyền (10 tu chính án đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ) có hiệu lực sau khi được Virginia phê chuẩn.

-15/12/1840 – Napoleon được chôn cất tại Les Invalides ở Paris. Ông đã qua đời khi lưu vong trên đảo Saint Helena sau khi mất quyền lực.

-1890 – Thủ lĩnh Sioux Sitting Bull (tên theo thổ dân là Tatanka-yatanka) đã bị giết trong một cuộc giao tranh với quân lính Hoa Kỳ dọc theo Sông Grand ở Nam Dakota khi các chiến binh của ông cố gắng ngăn chặn việc bắt giữ ông.

– 1939 – Phim Cuốn theo chiều gió đã có buổi ra mắt thế giới tại Atlanta, được giới thiệu bởi nhà sản xuất David O. Selznick với các tài tử Vivien Leigh và Clark Gable.

-1961 – Đại tá SS-Đức Quốc xã Adolf Eichmann bị kết án tử hình tại Jerusalem vì vai trò của ông trong cuộc diệt chủng Holocaust. Eichmann đã tổ chức trục xuất người Do Thái từ khắp châu Âu bị chiếm đóng đến các trại tử thần của Đức Quốc xã.

– 1964 – Canada đã thông qua một lá cờ quốc gia mới có hình lá phong đỏ trên nền trắng.

– Chế độ độc tài của Tướng Augusto Pinochet đã kết thúc ở Chile. Pinochet đã lên nắm quyền vào năm 1973 sau khi quân đội lật đổ chính phủ được bầu cử một cách dân chủ.

– 1995 – Các nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu tuyên bố đồng tiền mới của họ sẽ được gọi là Euro.

-1832 – Kỹ sư người Pháp Alexandre Eiffel (1832-1923) sinh ra tại Dijon, Pháp. Ông đã thiết kế Tháp Eiffel cho Triển lãm quốc tế Paris năm 1889. Ông cũng đã giúp thiết kế Tượng Nữ thần Tự Do.

16/12:

1773 – Sự kiện Tiệc trà Boston xảy ra khi những nhà hoạt động thực dân cải trang thành người da đỏ Mohawk lên tàu Anh neo đậu tại Cảng Boston và đổ 342 thùng trà đắt tiền xuống nước.

Ngày 16 tháng 12 năm 1835 – Một đám cháy lớn bùng phát ở Thành phố New York, phá hủy hơn 600 tòa nhà, gây thiệt hại ước tính 20 triệu đô la.

-1944 – Trong Thế chiến II ở Châu Âu, Trận Bulge bắt đầu khi quân Đức phát động một cuộc phản công lớn ở Rừng Ardennes dọc theo mặt trận dài 75 dặm, khiến quân đội Hoa Kỳ bất ngờ. Được hỗ trợ bởi thời tiết sương mù và tuyết rơi, quân Đức đã xâm nhập 65 dặm vào phòng tuyến của Đồng minh vào cuối tháng 12. Cuộc tiến công của Đức cuối cùng đã bị Montgomery chặn lại trên sông Meuse và Patton chặn tại Bastogne. Khi thời tiết quang đãng, máy bay Đồng minh tấn công luc quân và các tuyến tiếp tế của Đức và cuộc phản công đã thất bại. Ước tính có 77.000 quân Đồng minh và 130.000 quân Đức thương vong.

-1770:-Ludwig van Beethoven (1770-1827) sinh ra tại Bonn, Đức. Ông đã sáng tác nên những bản nhạc mạnh mẽ, giàu cảm xúc và được coi là nhà soạn nhạc giao hưởng vĩ đại nhất. Ông bị mất thính lực trước năm 30 tuổi và đến thời điểm bản giao hưởng cuối cùng (Bản giao hưởng số 9) của mình ra mắt, ông đã hoàn toàn bị điếc. Năm 1824, ông đã chỉ huy Bản giao hưởng số 9 tại buổi ra mắt hàng đầu thế giới ở Vienna mặc dù ông không thể nghe thấy cả dàn nhạc lẫn tiếng vỗ tay. Tổng cộng, ông đã sáng tác chín bản giao hưởng, 32 bản sonata piano, năm bản concerto piano, 17 bản tứ tấu đàn dây, mười bản sonata cho violin và piano, vở opera Fidelio, Mass in C Major, Missa Solemnis và các tác phẩm nhạc thính phòng khác.

-1775:- Tiểu thuyết gia người Anh Jane Austen (1775-1817) sinh ra tại Hampshire, Anh. Bà viết những câu chuyện tình yêu về cuộc sống của giới quý tộc ở vùng nông thôn nước Anh. Nổi tiếng nhất với tác phẩm Lý trí và Tính Đa Cảm, Kiêu Hãnh và Định Kiến, Tu viện Northanger và Emma. Trong những năm gần đây, các tác phẩm của bà đã được chuyển thể thành phim truyền hình ngắn tập và phim điện ảnh rất được ưa chuộng.

-1971 – Cuộc chiến giữa Ấn Độ và Pakistan về Đông Pakistan (sau này là Bangladesh) kết thúc khi 90.000 quân Pakistan đầu hàng.

– 1903 – Sau ba năm thử nghiệm, Orville và Wilbur Wright đã thực hiện được chuyến bay đầu tiên bằng máy bay có động cơ và được điều khiển. Họ đã thực hiện bốn chuyến bay gần Kitty Hawk, Bắc Carolina, chuyến bay dài nhất kéo dài khoảng một phút.

-1760:-Deborah Sampson (1760-1827) sinh ra tại Plympton, Massachusetts. Trong Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ, bà đã cải trang thành nam giới và nhập ngũ vào Quân đội Lục địa, lấy tên Robert Shurtleff. Mặc dù bị thương trong trận chiến, bà không bị phát hiện cho đến khi một cơn sốt nặng khiến bà bị lộ danh tính. Bà bị đuổi khỏi quân đội vào năm 1783. Về sau, bà đã giảng bài chuyên nghiệp về những trải nghiệm thời chiến của mình

18/12:

-1916: -Trong Thế chiến thứ nhất, Trận Verdun đã kết thúc sau mười tháng chiến đấu, trong đó 543.000 lính Pháp và 434.000 lính Đức đã thiệt mạng.

-1940: – Adolf Hitler ra lệnh cho Bộ Tổng tham mưu Đức bắt đầu lập kế hoạch cho Chiến dịch Barbarossa, cuộc xâm lược nước Nga Xô Viết.

-1956 – Nhật Bản được kết nạp vào Liên hợp quốc.

-1913: -Thủ tướng Tây Đức Willy Brandt (1913-1992) sinh ra tại Lubeck, Đức (tên thật là Herbert Ernst Karl Frahm). Trong thời kỳ Hitler nắm quyền, ông là người lưu vong chống Đức Quốc xã. Ông trở về Đức sau Thế chiến II, tham gia chính trường và được bầu làm thủ tướng vào năm 1969. Ông đã giành giải Nobel Hòa bình năm 1971 vì những nỗ lực cải thiện quan hệ Đông-Tây trong Chiến tranh Lạnh.

 19/12:

1732 – Benjamin Franklin lần đầu tiên xuất bản niên giám Poor Richard’s Almanac bao gồm dự đoán thời tiết, hài hước, tục ngữ và châm ngôn, cuối cùng bán được gần 10.000 bản mỗi năm.

– 1946 – Chiến tranh nổ ra ở Đông Dương thuộc Pháp khi Hồ Chí Minh tấn công người Pháp nhằm mục đích trục xuất họ khỏi Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc xung đột kéo dài ba mươi năm, cuối cùng dẫn đến sự tham gia mạnh mẽ của Hoa Kỳ và kết thúc bằng chiến thắng của Cộng sản vào tháng 4 năm 1975 sau khi Hoa Kỳ rút khỏi Nam Việt Nam.

-1875:- Nhà sử học Carter Woodson (1875-1950) sinh ra tại New Canton, Virginia. Ông đã  giới thiệu việc nghiên cứu về người da màu đến các trường cao đẳng và đại học Hoa Kỳ. Các tác phẩm của ông bao gồm: The Negro in Our History và The Education of the Negro Prior to 1861. (Người Da Màu trong Lịch Sử của Chúng Ta và Giáo Dục cho Người Da Màu trước năm 1861)-
 

21/12:

– Mùa đông bắt đầu ở Bắc bán cầu. Ở Nam bán cầu, hôm nay là đầu mùa hè.
– 1936: Hùng Cường (tên thật: Trần Kim Cường, 21/12/1936 – 01/5/1996) là một ca sĩ, nghệ sĩ cải lương, kịch sĩ và diễn viên điện ảnh người Việt Nam. Ông nổi tiếng từ thập niên 1950 tại Sài Gòn với những ca khúc nhạc tiền chiến và sau là nhạc vàng. Ông còn là tác giả của nhiều ca khúc. Bên cải lương, ông kết hợp với nghệ sĩ Bạch Tuyết tạo thành cặp sóng thần cải lương cực kỳ nổi tiếng thập niên 1960–1970 và bên tân nhạc, ông kết hợp với ca sĩ Mai Lệ Huyền tạo thành cặp sóng thần của tân nhạc khi ấy với thể loại “kích động nhạc”. Ông dùng bút danh Nhất Quốc Tâm khi sáng tác thơ. Cùng với Duy Khánh, Chế Linh và Nhật Trường, ông được xem như là một trong bốn giọng nam nổi tiếng nhất của tân nhạc miền Nam và được người đời xưng tụng là Tứ trụ nhạc vàng.

-1846 – Thuốc gây mê được sử dụng lần đầu tiên tại Anh trong một ca phẫu thuật tại Bệnh viện University College ở London do Robert Liston thực hiện, ông đã cắt cụt chân của một người giúp việc.

– 1945 – Tướng George Patton của Thế chiến II qua đời tại Đức sau một vụ tai nạn xe hơi. Ông bị thương vào ngày 09/12 gần Mannheim và được đưa đến một bệnh viện ở Heidelberg, ông qua đời ở . Ông được chôn cất tại Luxembourg. Được mệnh danh là “Old Blood and Guts”, ông đã từng tuyên bố trong chiến tranh, Chúng ta sẽ tấn công và tấn công cho đến khi kiệt sức, và sau đó chúng ta sẽ tấn công lại.

Bức ảnh phổ biến của “Old Blood and Guts” tương phản với chân dung về một nhà lãnh đạo tài trí được mô tả bởi các sử gia. Trong một trong những chiến dịch thành công của mình, tướng Patton đã tuyên bố: So với chiến tranh, mọi hình thức nỗ lực của con người đều trở nên nhỏ bé.

-1972 – Đông và Tây Đức thiết lập quan hệ ngoại giao, chấm dứt gần hai thập kỷ thù địch trong Chiến tranh Lạnh và mở đường cho sự công nhận của quốc tế đối với Đông Đức.

– 1988 – Chuyến bay 103 của Pan American phát nổ giữa không trung do một quả bom khủng bố và đâm xuống Lockerbie, Scotland. Tất cả 259 hành khách và thành viên phi hành đoàn cùng với 11 người trên mặt đất đều thiệt mạng.

-1993 – Tổ chức KGB (Cảnh sát mật Liên Xô) bị Tổng thống Nga Boris Yeltsin bãi bỏ. Ủy ban An ninh Quốc gia (tiếng Nga: Комитет государственной безопасности (КГБ), chuyển tự Komitet gosudarstvennoy bezopasnosti (KGB)) còn được gọi là Ủy ban An ninh Nhà nước, là lực lượng cảnh sát mật chính, và là cơ quan an ninh của Liên Xô từ năm 1954 tới khi Liên Xô tan rã năm 1991.- thực hiện các chức năng an ninh nội bộ, tình báo và cảnh sát mật.

1879: – Lãnh đạo Liên Xô Josef Stalin (1879-1953) sinh ra tại làng Gori ở Georgia, Nga (tên thật là Iosif Vissarionovich Dzhugashvili).

-1783 – Sau chuyến hành trình đắc thắng từ New York đến Annapolis, Maryland, George Washington, Tổng tư lệnh chiến thắng của Quân đội Cách mạng Hoa Kỳ, đã xuất hiện trước Quốc hội và tự nguyện từ chức.

 -1858: – Nhà soạn nhạc người Ý Giacomo Puccini (1858-1924) sinh ra tại Lucca, Tuscany. Được xem là nhà soạn nhạc opera vĩ đại nhất của Ý, ông được biết đến nhiều nhất với các tác phẩm nổi tiếng như Madama Butterfly và La Boheme.

Lady Bird Johnson (1912-2007) sinh ra tại Karnack, Texas (tên thật là Claudia Alta Taylor). Khi còn nhỏ, một y tá gia đình đã tuyên bố rằng Claudia “xinh đẹp như một con bọ rùa”(lady bird- ladybug). Biệt danh đó được giữ nguyên cho đến nay. Bà đã ở bên chồng mình là Lyndon Johnson trên chiếc Không lực Một Air Force One khi ông tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ sau khi Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát . Bà đã chứng tỏ mình là một Đệ Nhất phu nhân nhân hậu, được nhớ đến vì chiến dịch chống xả rác, kêu gọi người dân giúp “Làm đẹp nước Mỹ”.

-1888 – Họa sĩ người Hà Lan Vincent van Gogh đã cắt tai trái của mình trong cơn trầm cảm.

-1901:- Nhật hoàng Hirohito (1901-1989) sinh ra tại Tokyo. Ông là Nhật hoàng thời chiến của Nhật Bản và được phép giữ nguyên vị trí của mình sau chiến tranh.

– 1913 – Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật Dự trữ Liên bang thành lập Hệ thống Dự trữ Liên bang để hoạt động như ngân hàng trung ương của quốc gia. Trách nhiệm chính bao gồm: thực hiện chính sách tiền tệ; tác động đến hoạt động cho vay và đầu tư của các ngân hàng thương mại; và giám sát chi phí và tính khả dụng của tiền và tín dụng.

– 1947- John Bardeen, Walter Brattain và William Shockley phát minh Bóng bán dẫn (loại linh kiện bán dẫn chủ động thường được sử dụng như một phần tử khuếch đại hoặc một khóa điện tử) tại Phòng thí nghiệm Bell; họ đã cùng chia giải Nobel cho phát minh này, tạo nên một cuộc cách mạng điện tử trên toàn thế giới.

1948 – Hideki Tojo bị treo cổ vì tội ác chiến tranh. Ông từng là thủ tướng Nhật Bản từ năm 1941 đến 1944. Sau khi Nhật Bản thất bại trong Thế chiến II, ông bị bắt vì tội phạm chiến tranh, bị tòa án quân sự xét xử và bị kết án tử hình. Ông bị treo cổ cùng với sáu nhà lãnh đạo quân sự Nhật Bản khác trong thời chiến tại Nhà tù Sugamo ở Tokyo, bản án do Quân đoàn 8 của Hoa Kỳ thực hiện.

Ngày 23 tháng 12 năm 1987 – Dick Rutan và Jeana Yeager lập kỷ lục thế giới mới với 216 giờ bay liên tục vòng quanh thế giới mà không cần tiếp nhiên liệu. Máy bay Voyager của họ đã bay được 24.986 dặm với tốc độ khoảng 115 dặm một giờ.

 24/12:

-1745: – Nhà yêu nước người Mỹ Benjamin Rush (1745-1813) sinh ra tại một đồn điền ở Byberry, Pennsylvania. Ông là người ký Tuyên ngôn Độc lập, một bác sĩ và nhà nhân đạo, người có những bài viết về bệnh tâm thần đã mang lại cho ông danh hiệu Cha đẻ của ngành Tâm thần học. Ông cũng phản bác lại quan niệm phổ biến rằng rượu nói chung là tốt cho con người và là một trong những người đầu tiên mô tả chứng nghiện rượu là một căn bệnh mãn tính.

– 1814 – Hiệp ước Ghent giữa Mỹ và Anh được ký kết, chính thức chấm dứt Chiến tranh 1812.
– 1914 – Cuộc không kích đầu tiên của Đức vào Anh diễn ra khi một máy bay cánh đơn của Đức thả một quả bom xuống Dover, Anh, trong Thế chiến thứ nhất.
– 1942 – Tên lửa dẫn đường đất đối đất đầu tiên, sau này được gọi là Bom bay V-1, được kỹ sư tên lửa người Đức Wernher von Braun phóng. Được gọi là  Bom Buzz  vì tiếng động cơ vo ve lớn, chúng được Đức Quốc xã sử dụng chống lại Anh bắt đầu từ tháng 9 năm 1944-

– 1943 – Tướng Dwight D. Eisenhower được bổ nhiệm làm Tổng tư lệnh Lực lượng viễn chinh Đồng minh chuẩn bị cho Ngày D-Day Chiến dịch Overlord, hay Cuộc tập trận Hornpipe, là mật danh của Trận Normandie, một chiến dịch quân sự quy mô lớn của quân đội Đồng Minh tại miền Bắc nước Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Overlord được mở màn vào ngày 6 tháng 6 năm 1944 bằng các cuộc đổ bộ lớn vào các bãi biển ở vùng Normandie, có mật danh là Chiến dịch Neptune (Ngày D). Đây là chiến dịch tấn công từ biển vào đất liền lớn nhất trong lịch sử, với sự góp mặt của hơn 1.200 máy bay, hơn 5.000 tàu chiến các loại và gần 160.000 binh lính Đồng Minh tham gia đổ bộ trong ngày đầu tiên, tức ngày 6 tháng 6 năm 1944, và có hơn 2.000.000 binh lính Đồng Minh đã có mặt tại Pháp tính đến thời điểm cuối tháng 8 năm 1944.

– 1990 – Vào đêm Giáng sinh, tiếng chuông của Nhà thờ St. Basil ở Moscow ngân vang lên lần đầu tiên kể từ khi Lenin qua đời.

25/12:

Ngày lễ Giáng sinh, kỷ niệm ngày sinh của Chúa Jesus thành Nazareth. Mặc dù ngày sinh chính xác của Ngài không được biết đến, nhưng ngày này đã được Giáo hội phương Tây (Công giáo La Mã) kỷ niệm vào ngày 25 tháng 12 kể từ năm 336 sau Công nguyên.

– 1066 – William the Conqueror được trao vương miện là Vua của Anh sau khi ông xâm lược Anh từ Pháp, đánh bại và giết chết Vua Harold trong Trận Hastings, sau đó tiến vào London.

– 1868 – Tổng thống Andrew Johnson đã ban hành lệnh ân xá chung cho tất cả những người tham gia Nội chiến.

-1926 – Hirohito trở thành Hoàng đế Nhật Bản.

– 1989 – Tại Romania, một chương trình truyền hình về bản giao hưởng Giáng sinh đã bị gián đoạn với thông báo rằng Nicolae Ceausescu và vợ ông đã bị hành quyết sau một cuộc nổi dậy của người dân. Một liên minh ủng hộ dân chủ sau đó đã nắm quyền kiểm soát. Ceausescu, một người Cộng sản kiên định, đã bị lật đổ sau khi ra lệnh cho cảnh sát nhà nước mặc áo đen của ông đàn áp một cuộc bạo loạn ở thị trấn Timisorara, dẫn đến cái chết của khoảng 4.500 người

-1642:- Isaac Newton (1642-1727) sinh ra tại Woolsthorpe, Lincolnshire, Anh. Ông là một nhà toán học, nhà khoa học và tác giả, nổi tiếng nhất với tác phẩm Philosophiae Naturalis Principia Mathematica về lý thuyết luật hấp dẫn. Ông mất tại London và là nhà khoa học đầu tiên được vinh danh và chôn cất tại Tu viện Westminster.

-1821: – Y tá và nhà từ thiện người Mỹ Clara Barton (1821-1912) sinh ra tại Oxford, Massachusetts. Bà từng là y tá trong Nội chiến và thành lập Hội Chữ Thập Đỏ Hoa Kỳ vào năm 1881.

-1876: – Người sáng lập ra Cộng hòa Hồi giáo Pakistan, Mohammed Ali Jinnah (1876-1948) sinh ra tại Karachi.

-1899: – Diễn viên điện ảnh Humphrey Bogart (1899-1957) sinh ra tại Thành phố New York. Nổi tiếng nhất với các bộ phim The African Queen, The Maltese Falcon, Casablanca và To Have and Have Not.

26/12:

– Ngày tặng quà tại Vương quốc Anh và nhiều quốc gia khác, một ngày tặng quà khi những hộp thực phẩm, quần áo và các món quà khác theo truyền thống được tặng cho nhân viên, thương nhân và các nhà cung cấp dịch vụ khác.-ngày đó chủ nhà tặng quà cho người làm, người đưa thư, người giao hàng…)
-1966: Ngày 26/12 – 01/01 – Kwanzaa, một lễ kỷ niệm gia đình của người Mỹ gốc Phi được thành lập vào năm 1966 để kỷ niệm các lễ hội thu hoạch truyền thống của châu Phi, tập trung vào sự đoàn kết gia đình, với lễ hội thu hoạch cộng đồng vào ngày thứ bảy. Kwanzaa có nghĩa là trái đầu mùa trong tiếng Swahili.
-2004 – Ước tính có 230.000 người thiệt mạng và 1,5 triệu người mất nhà cửa khi một trận động đất mạnh 9,3 độ richter dưới đáy biển Ấn Độ Dương gây ra một loạt các cơn sóng thần khổng lồ ập vào bờ biển của một chục quốc gia bao gồm Indonesia, Sri Lanka, Thái Lan, Ấn Độ và Somalia.
-Mao Trạch Đông (1893-1976) sinh ra tại tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Ông là một thủ thư, giáo viên, nhà cách mạng cộng sản người Trung Quốc, được coi là  cha đẻ  của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

 27/12:

-1831 – Charles Darwin khởi hành từ Plymouth, Anh, trên con tàu HMS Beagle trong chuyến thám hiểm khoa học toàn cầu kéo dài năm năm của mình. Darwin đã thu thập hóa thạch và nghiên cứu thực vật và động vật, dần dần bắt đầu nghi ngờ rằng nhiều loài sinh vật đa dạng đã xuất hiện cùng một lúc (thuyết sáng tạo). Năm 1859, ông xuất bản Nguồn gốc các loài bằng phương tiện chọn lọc tự nhiên.

– 1927 – Josef Stalin củng cố quyền lực của mình ở Liên Xô bằng cách trục xuất đối thủ Leon Trotsky khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô.

-1945 – Quỹ Tiền tệ Quốc tế được thành lập tại Washington, D.C.

-1996 – Một phiên tòa xét xử tội diệt chủng đã bắt đầu liên quan đến vụ giết hại khoảng 800.000 người Tutsi ở Rwanda. Năm 1994, một cuộc nội chiến đẫm máu đã nổ ra giữa hai nhóm dân tộc chính, người Hutu và người Tutsi. Sau khi quân đội Hutu nắm quyền, họ đã tiến hành một chiến dịch thanh trừng sắc tộc chống lại người Tutsi. Người Tutsi là một nhóm dân tộc nói tiếng Bantu. Họ là nhóm dân tộc lớn thứ hai trong ba nhóm dân tộc chính ở Rwanda và Burundi, với bối cảnh lịch sử là những người chăn nuôi và chiến binh.
-1571: –  Nhà thiên văn học người Đức Johannes Kepler (1571-1630) sinh ra tại Wurttemberg, Đức. Được coi là cha đẻ của thiên văn học hiện đại, ông đã phát hiện ra hình elip (hình bầu dục) của quỹ đạo mà Trái đất và các hành tinh khác di chuyển quanh mặt trời với tốc độ thay đổi tùy theo khoảng cách của mỗi hành tinh so với mặt trời.
– 1822: – Nhà hóa học-vi khuẩn học người Pháp Louis Pasteur (1822-1895) sinh ra tại Dole, Pháp. Ông đã phát triển quy trình thanh trùng để tiêu diệt vi khuẩn có hại bằng nhiệt và tìm ra cách phòng ngừa bệnh tằm – Các bệnh do vi khuẩn gây bệnh ở tằm được gọi chung là flacherie do tính chất mềm nhũn của ấu trùng bị bệnh.-, bệnh than,  Nó có thể xảy ra ở 4 dạng là: da, phổi, ruột và tim. Các triệu chứng khởi phát từ một ngày đến hơn hai tháng sau khi nhiễm trùng. Ở dạng da, người bệnh có vết phồng rộp nhỏ và xung quanh sưng tấy, thường biến thành vết loét không đau với tâm màu đen.Dạng phổi có biểu hiện sốt, đau ngực và khó thở.[5] Dạng ruột có biểu hiện tiêu chảy, có thể kèm theo máu, đau bụng, buồn nôn và nôn. Dạng tiêm có biểu hiện sốt và áp xe tại chỗ tiêm thuốc – bệnh tả gà và bệnh dại.

28/12:

-1930: – Ngày sinh cua Ngô Hán Đồng (1930 – 1972) nguyên là một sĩ quan Pháo binh cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Sĩ quan Trừ bị do Chính phủ Quốc mở ra ở Nam phần với mục đích đào tạo sĩ quan người Việt phục vụ trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Ra trường ông được chọn về đơn vị Pháo binh. Hầu hết thời gian tại ngũ, ông đã phục vụ trong Binh chủng này. Ông sinh ngày 28/12/1930 trong một gia đình Nho học tại Hà Nội, Việt Nam. Năm 1951 ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II). Sau này, khi đang phục vụ trong Quân đội, ông ghi danh vào Đại học Luật khoa và tốt nghiệp Cử nhân Luật vào năm 1962. Ngày 25/2/1972, tham gia phái đoàn (do Chuẩn tướng Phan Đình Soạn, Tư lệnh phó Quân đoàn I làm Trưởng đoàn) dùng trực thăng bay từ Bộ Tư lệnh Quân đoàn I đến thăm tàu Hải quân Hoa Kỳ neo tại vịnh Đà Nẵng. Trên đường bay trở về cùng ngày, vì lý do kỹ thuật phi cơ bị rớt và chìm cách chân núi Hòn Hàn 2 cây số, ông bị tử thương,hưởng dương 42 tuổi. Vì hy sinh trong khi thi hành nhiệm vụ nên ông được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng và truy tặng Đệ tam đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng bội tinh với nhành Dương liễu.

 -1832: – John C. Calhoun trở thành người Mỹ đầu tiên từ chức phó tổng thống. Ông phục vụ dưới thời Tổng thống John Quincy Adams và Andrew Jackson và từ chức sau một loạt bất đồng chính trị với Tổng thống Jackson. Sau đó, ông trở thành Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ từ Nam Carolina.

-1947: – Victor Emmanuel III, vị vua cuối cùng của Ý, qua đời khi đang lưu vong tại Alexandria, Ai Cập. Ông đã trở thành vua sau vụ ám sát cha mình vào năm 1900. Sau Thế chiến thứ nhất, ông bổ nhiệm Benito Mussolini thành lập nội các và sau đó không ngăn được phe Phát xít của Mussolini lên nắm quyền. Năm 1946, ông thoái vị và lưu vong.

29/12:

-1170 – Thomas Becket, Tổng giám mục Canterbury, bị bốn hiệp sĩ ám sát theo lệnh của Vua Henry II của Anh.
-1808: Ngày sinh của Andrew Johnson (1808-1875), Tổng thống thứ 17 của Hoa Kỳ sinh ra tại Raleigh, Bắc Carolina. Ông là phó tổng thống của Abraham Lincoln và trở thành Tổng thống sau vụ ám sát Lincoln năm 1865. Ông trở thành Tổng thống đầu tiên bị Hạ viện luận tội. Ông được Thượng viện tha bổng chỉ với một phiếu bầu. Sau đó, ông phục vụ một thời gian ngắn với tư cách là Thượng nghị sĩ của Tennessee cho đến khi qua đời vào ngày 31 tháng 7 năm 1875.

-1890 – Các thành viên của Trung đoàn Kỵ binh số 7 của Hoa Kỳ đã thảm sát hơn 200 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em người Mỹ bản địa (Sioux) tại Wounded Knee Creek, Nam Dakota.

-1940 – Trong  chiến dịch Blitz, máy bay Đức đã thả hàng nghìn quả bom cháy xuống trung tâm London, gây ra thiệt hại do hỏa hoạn tồi tệ nhất kể từ trận hỏa hoạn lớn năm 1666. Nhà thờ St. Paul vẫn tồn tại nhưng tám nhà thờ Wren khác cùng với Guildhall và Old Bailey đã bị hư hại nặng nề.Trận Đại hỏa hoạn London lần thứ hai vào  29-30/12/1940 là do một trong những cuộc không kích hủy diệt nhất của Blitz trong Thế chiến II gây ra. Cuộc không kích của Luftwaffe đã gây ra các đám cháy trên một diện tích lớn hơn diện tích của trận Đại hỏa hoạn London năm 1666,  khiến một phóng viên người Mỹ phải nói trong một bức điện tín gửi đến văn phòng của mình rằng “Đợt Đại hỏa hoạn London lần thứ hai đã bắt đầu”.Các đám cháy bắt đầu từ cuộc không kích bao gồm một quả bom cháy đã phá vỡ mái vòm của Nhà thờ St Paul, nơi đang được một đội canh gác hỏa hoạn bảo vệ theo lệnh của Thủ tướng Winston Churchill. Blitz, (07/9/1940–11/5/1941), chiến dịch ném bom dữ dội do Đức Quốc xã thực hiện chống lại Vương quốc Anh trong Thế chiến II. Trong tám tháng, Luftwaffe đã thả bom xuống London và các thành phố chiến lược khác trên khắp nước Anh. Các cuộc tấn công được thủ tướng Đức, Adolf Hitler, cho phép sau khi quân Anh thực hiện một cuộc không kích ban đêm vào Berlin. Cuộc tấn công này được gọi là Blitz theo từ tiếng Đức blitzkrieg (chiến tranh chớp nhoáng).

-1965 – Trong Chiến tranh Việt Nam, Chủ tịch Bắc Việt Hồ Chí Minh đã từ chối các cuộc đàm phán hòa bình vô điều kiện do Hoa Kỳ đưa ra

-1989 – Nhà viết kịch và nhà hoạt động nhân quyền Vaclav Havel đã tuyên thệ nhậm chức tổng thống Tiệp Khắc. Trước đây, ông đã bị những người Cộng sản Séc lên án là kẻ thù của nhà nước và đã phải ngồi tù năm năm vì niềm tin của mình.
– 1808: – Ngày sinh của Andrew Johnson (1808-1875), Tổng thống thứ 17 của Hoa Kỳ sinh ra tại Raleigh, Bắc Carolina. Ông là phó tổng thống của Abraham Lincoln và trở thành Tổng thống sau vụ ám sát Lincoln năm 1865. Ông trở thành Tổng thống đầu tiên bị Hạ viện luận tội. Ông được Thượng viện tha bổng chỉ với một phiếu bầu. Sau đó, ông phục vụ một thời gian ngắn với tư cách là Thượng nghị sĩ của Tennessee cho đến khi qua đời vào ngày 31 tháng 7 năm 1875.

30/12:

-1803 – Lá cờ Sao và Sọcđược kéo lên trên New Orleans khi Hoa Kỳ chính thức chiếm hữu lãnh thổ Louisiana, một khu vực rộng 885.000 dặm vuông, gần gấp đôi diện tích của Hoa Kỳ. Lãnh thổ này đã được mua từ Pháp với giá khoảng 15 triệu đô la.

Quốc kỳ Hoa Kỳ (tiếng Anh: Flag of the United States of America), cũng gọi là Quốc kỳ Mỹ là lá cờ chính thức đại diện và là một biểu tượng quan trọng cho Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Quốc kỳ này là nguồn gốc cho tên gọi Hoa Kỳ hay cụm từ Đất nước cờ hoa trong tiếng Việt. Theo tiếng Anh, quốc kỳ Hoa Kỳ có tên là Stars and Stripes (Cờ sọc sao) hoặc có tên gọi là Old Glory (Vinh quang cũ).
Đối với người Mỹ, quốc kỳ có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần. Quốc kỳ Hoa Kỳ trở thành biểu tượng của tự do, lá cờ đã nói lên sự hy sinh của biết bao thế hệ để giành lấy nền độc lập. Lá cờ đầu tiên của Hoa Kỳ gồm có 13 ngôi sao và 13 sọc tượng trưng cho 13 tiểu bang thuộc địa thời bấy giờ. Quốc kỳ Hoa Kỳ có hai phần. Một phần nhỏ ở góc trái trên cùng có hình ảnh của 50 ngôi sao trên nền màu xanh dương, tượng trưng cho 50 tiểu bang hiện tại. Phần chính gồm 7 sọc đỏ và 6 sọc trắng, tượng trưng cho 13 tiểu bang sơ khai. Ý nghĩa của ba màu xanh, trắng, đỏ trên lá cờ Hoa Kỳ vẫn không thay đổi cho đến hiện nay. Màu đỏ tượng trưng cho lòng dũng cảm và nhiệt huyết, màu trắng nói lên niềm hy vọng trong sáng, nét tinh khiết của cuộc sống và tinh thần kỷ luật, trong khi màu xanh là hiện thân của màu sắc thiên đàng, biểu tượng của Thượng đế, lòng trung thành, niềm chân thành, công lý, và chân lý. Ngôi sao, theo như biểu tượng xa xưa trong văn hóa Ấn Độ, Ba Tư, và Ai Cập, tượng trưng cho chủ quyền. Trên lá cờ Hoa Kỳ, mỗi một ngôi sao tượng trưng cho chủ quyền của một tiểu bang, do đó ngày nay lá cờ Mỹ gồm có 50 ngôi sao tượng trưng cho 50 tiểu bang, trong khi số sọc trên lá cờ vẫn được giữ ở con số 13, tượng trưng cho 13 tiểu bang đầu tiên của ngày lập quốc. Lễ chào cờ có ý nghĩa quan trọng cho mỗi công dân Hoa Kỳ vì nó nói lên lòng trung thành với tổ quốc.
Tổng thống George Washington của Hoa Kỳ từng diễn giải biểu tượng của lá quốc kỳ như sau:
– Chúng ta lấy các tinh tú từ Thiên đàng, và màu đỏ từ mẫu quốc, được phân chia bằng các sọc trắng, để chứng tỏ rằng chúng ta đã tách rời khỏi mẫu quốc, và những sọc trắng sẽ được truyền lại cho thế hệ mai sau như là biểu tượng của Tự do.
 Đối với thế giới, quốc kỳ Hoa Kỳ mang ý nghĩa của sự độc lập, tự do, và lòng yêu nước, đại diện cho hơn 300 triệu dân đang sống tự do tại Hoa Kỳ. Quốc kỳ cũng còn là biểu tượng nhắc nhở công dân Hoa Kỳ luôn sống với tinh thần trách nhiệm và danh dự.
– 1865: – Rudyard Kipling (1865-1936) sinh ra tại Bombay, Ấn Độ. Ông là một nhà thơ, tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn người Anh, nổi tiếng nhất với những câu chuyện thiếu nhi như Jungle Book.

-1884: – Thủ tướng Nhật Bản Hideki Tojo (1884-1948) sinh ra tại Tokyo. Ông lãnh đạo Nhật Bản trong Thế chiến II và bị bắt vào tháng 8 năm 1945 với tư cách là tội phạm chiến tranh, bị xét xử, sau đó bị treo cổ vào năm 1948.
-1903 – Tại Chicago, một vụ hỏa hoạn bên trong Nhà hát Iroquois đã giết chết 588 người, cuối cùng dẫn đến việc ban hành các quy tắc an toàn phòng cháy chữa cháy mới cho các nhà hát.
-1922 – Liên Xô (Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết) được thành lập thông qua liên bang Nga, Byelorussia, Ukraine và Liên bang Transcaucasian.

-1993: Israel và Vatican đã ký một thỏa thuận công nhận lẫn nhau, tìm cách chấm dứt 2.000 năm quan hệ thù địch giữa Cơ đốc giáo và Do Thái.

31/12 

– Đêm giao thừa, đêm cuối cùng của năm theo lịch Gregory, theo truyền thống là đêm để vui chơi chào đón năm mới.
-1781 – Ngân hàng đầu tiên tại Hoa Kỳ, Ngân hàng Bắc Mỹ, đã nhận được điều lệ từ Quốc hội Liên bang. Ngân hàng mở cửa vào ngày 7 tháng 1 năm 1782 tại Philadelphia.
-1879 – Thomas Edison đã trình diễn công khai lần đầu tiên về bóng đèn sợi đốt điện của mình tại phòng thí nghiệm của ông ở Menlo Park, New Jersey.




VTLV TRANG ĐẶC BIỆT-MỪNG GIÁNG SINH 2024

**

ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG.     

CAO MỴ NHÂN

Đêm Thánh vô cùng trân quý ơi

Đoá hoa nhân ái nở bên trời 

Khát khao yêu mến người thiên hạ

Tất cả xin vào dự hội chơi

*

Ánh biếc vì sao lấp lánh xa

Tươi vui bếp lửa ấm muôn nhà

Chúa ơi, Đêm Thánh vô cùng tận

Người với người thương ta với ta

*

Bạn với bè trên mỗi bước xuân

Hoan ca nơi khắp ngả dương trần

Mây vương sắc áo mầu nhân ảnh

Đêm Thánh vô cùng đẹp dấu chân.

*

Mãi mãi hoa thơ kết vạn lòng

Dâng lên Thiên Chúa mỗi mùa đông

Bình an dưới thế đêm vô tận

Chúa ở cùng anh chị em mong …

      CAO MỴ NHÂN

*

NOEL CẢM LUỴ.     

CAO MỴ NHÂN

*

Đứng trên đỉnh cầu vồng

Người có nhớ gì không

Hay một trời dĩ vãng

Đã tan ra thành sông

*

Dòng sông cuộc đời xưa

Nước mắt đầy như mưa

Người vương thương khổ luỵ

Trên những chuyến đò trưa

*

Đã ở thật xa xôi

Cuộc tình cũng chơi vơi

Mười năm trôi mộng mị

Bài thơ viết không lời

*

Noel cuối thật  buồn

Đón Chúa vào linh hồn

Rồi bay theo huyễn cảm

Cùng nỗi  sầu sắt son

*

Người đi, xin bái biệt

Bồng bềnh lúc chia tay

Mười năm hương nguyền tắt

Sót lại nỗi đau này …

     CAO MỴ NHÂN

*

TRƯỚC LỄ GIÁNG SINH.      

CAO MỴ NHÂN

*

Chúa ơi, con chẳng còn nao nức

Nghe tiếng chuông, chờ Lễ Nửa Đêm

Con thấy lòng con yên lặng quá

Thản nhiên vào giấc ngủ êm đềm

*

Bao nhiêu bạn trẻ đã ra đường

Phải họ đi tìm Chúa mến thương

Hay họ chỉ đi tìm bóng họ

Bên nhau, mai mốt lại muôn phương

*

Ở đây, cạnh Chúa vẫn cô đơn

Ngửa mặt nhìn sao, nén tủi hờn

Con muốn lênh đênh trên biển cả

Một lần sóng gió, Chúa gần hơn

*

Chúa ơi, Chúa đến làm chi nhỉ

Con khóc như mưa, Chúa lại …cười

Con khổ sở hoài, xin Chúa giúp

Chúa kêu thử thách với con thôi

*

Con vừa cầu nguyện gởi cho ai

Thôi nhé, Noel này lạc loài

Con viết thơ buồn trên giá thánh

Ngày mai thức giấc, chắc sầu vơi…

  (Saigon 24  -12  –  1981)

           CAO MỴ NHÂN

ĐÊM CHRISTMAS.     

CAO MỴ NHÂN

*

Anh đứng nhìn em lâu

Sân nhà thờ, đêm thâu

Lời thánh ca chưa dứt

Tan vào cuộc tình sau

*

Bài thơ không buồn phiền

Chúa ở mãi bên em

Ôm em  cho chặt nhé

Đừng để rớt trái tim

*

Nhạc thánh ca lâng lâng

Hồn chơi vơi bâng khuâng

Bạn đời vô quá khứ

Người tình lỡ trăm năm

*

Hồi chuông ngân vang xa

Chúa vẫn ở bên ta

Sao anh im lặng thế

Ta đang trong mộng mơ

*

Thơ rơi theo tình buồn

Em sợ sầu vương thương

Mông mênh đêm Christmas

Nước mắt hoà khói sương …

        CAO MỴ NHÂN

*

HÁT THÁNH CA.     

CAO MỴ NHÂN

*

Buổi sáng em ngồi hát thánh ca

Cả không gian sáng rỡ quanh nhà

Anh đang xa tít chân mây rộng

Em nguyện trời ân sủng chúng ta

*

Ôi, nguyện trời cao, tuyệt đỉnh cao

Giơ tay em với tới phương nào

Không gian vần vũ, anh yêu hỡi

Sương khói mơ hồ giữa ánh sao

*

Chúa ở cùng anh, Chúa bỏ em

Bâng khuâng hờn tủi những ưu phiền

Ngay khi anh đến, khi anh đến

Mang nỗi u hoài, trễ muộn thêm

*

Buổi tối thánh ca vẳng ngập ngừng

Chao ôi, có thật Chúa bên lưng

Đỡ em đi hết đường đau khổ

Dấu lệ yêu thương, đọc ” Kính mừng …”

           CAO MỴ NHÂN

*

ĐÊM THÁNH.     

CAO MỴ NHÂN

Đêm thánh vô cùng hạnh phúc sao

Đường vô nhà Chúa gió len vào

Từng cây, từng lá, từng hoa lạnh

Christmas chan hoà chuông vọng cao

*

Anh có bao giờ ngó thật xa

Đêm rơi huyền ảo khói la đà

Hàng thông đứng đợi đôi hè phố

Vươn bóng mơ màng nghe thánh ca

*

Lễ nửa đêm chuông thả ngút trời

Người về ấm áp giữa sương rơi

Vòng ôm xiết chặt tình thân ái

Đếm bước thương yêu đẹp tuyệt vời

*

Mấy chục năm mà tưởng mới đây

Noel xưa lưu lạc phương này

Vẫn nơi ký ức thời thơ dại

Bài thánh ca buồn hát đắm say…

     CAO MỴ NHÂN

Ý NGHĨA CỦA LỄ GIÁNG SINH

Lễ Giáng Sinh là ngày Christmas khá trọng đại. Trọng đại vì đây là ngày đã được mọi quốc gia, mọi tôn giáo coi như ngày vui chung của nhân loại, chứ không riêng gì đối với tín đồ Thiên Chúa Giáo. Do đó, có người đã nói, Christmas là một cơ hội hãn hữu để nhắc nhở mọi người  có bổn phận đối với những người mà ta không quen biết cũng như đôi khi không ưa thích.Và đồng thời mọi người cũng hân hoan hát các điệu nhạc Giáng sinh như “We wish you a Merry Christmas”, như “Silent Night”, Đêm Thánh Vô Cùng mừng Chúa Hài Đồng ra đời.

            …Ôi Chúa thiên đàng, cam nếm cơ hàn
            Nhấp chén phiền vương phong trần
            Than ôi Chúa thương người đến quên mình
            Bơ vơ chốn quên nhà lúc sinh thành
            Ai đang sống trong lạc thú
            Nhớ rằng Chúa đang đền bù…

            Theo lời ghi lại thì khi Chúa Jesus cất tiếng khóc chào đời trong một cái máng cỏ ở hang Bethlelem có ba vị Vua phương Đông mang ba món quà đến để bày tỏ sự thành kính của họ. Trong khi đó, những người chăn cừu nghèo khó cũng lòng thành tặng Chúa Jesus hoa quả và những món đồ chơi do chính họ làm ra…

            Lễ Giáng Sinh Christmas là lễ kỷ niệm  ngày sinh của Chúa Jesus. Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Christ là tước vị của Đức Giêsu, chữ Mas là Thánh lễ. Thượng Đế đã gửi con yêu quý của mình xuống thế để chuộc tội và mang lại tình thương, hòa bình, hạnh phúc cho nhân loại. Tuy là lễ riêng của tín đồ Cơ Đốc Giáo, nhưng hầu như mọi người đều trân trọng, chung vui. Với tất cả, Lễ Giáng Sinh là thời gian tuy ngắn ngủi nhưng tràn ngập thương yêu với những gói quà dưới cây Noel, sao sáng lung linh nơi cửa sổ, những cánh thiệp chúc tụng gửi đó đây, những bữa ăn đoàn tụ thân bằng quyến thuộc với tiếng cười nói hân hoan hạnh phúc, với tuyết trắng phủ kín sân nhà, đường phố…

Cho nên, tinh thần của Lễ Giáng Sinh là chia sẻ, bao dung, thương yêu và giảm thiểu giận hờn.

Tiểu thuyết gia Oren Arnold gợi ý về quà tặng Giáng Sinh như sau: “Với kẻ thù, cho sự Tha thứ; với đối thủ cho sự Chịu đựng; với bạn bè cho Trái Tim; với khách hàng cho Phục Vụ Chu Đáo; với các cháu bé Làm Gương Sáng để cháu noi theo và với chính mình, cho niềm Tự Trọng”.

Trong thông điệp gửi cho nhân dân Hoa Kỳ, vị Tổng Thống thứ 30 của quốc gia này là Calvin Coolidge (1872-1933), nhắn nhủ: “Christmas không phải là một thời gian hoặc một mùa nhưng là một tâm trạng. Để chào mừng hòa bình và thiện ý, để có đầy đủ tình yêu thương”.

Tiểu thuyết  gia nước Anh là Charles Dickens ((1812–1870) cũng đồng ý với “ Tôi luôn nghĩ Christmas như là thời gian vui thú ; một thời gian thân tình, tha thứ, độ lượng, thoải mái; thời gian mà nam cũng như nữ dường như tự do rộng mở trái tim, do đó tôi xin Thượng Đế chúc lành cho Christmas”.

Tác giả Wilda English viết :”Thượng Đế ban cho ta ánh sáng của Christmas, đó là niềm tin;  ấm áp của Chrismas, đó là tình yêu; rực rỡ của Christmas, đó là sự trong sáng;  chính trực của Christmas, đó là công lý; lòng tin tưởng ở Christmas, đó là sự thật; mọi ý nghĩa của Christmas, đó là Chúa Giê Su”.

Kế cận những bên nhau hạnh phúc, Giáng Sinh còn quá nhiều người không mua, không nhận được quà tặng, không lo được bữa ăn ngon, những em bé bán diêm chết cóng trong đêm băng giá, những đứa con bị cha mẹ bỏ rơi, những người bệnh không được thuốc thang chăm sóc…

Nhưng có Mother Teresa, người được Chúa Jesus kêu gọi để phục vụ những kẻ bất hạnh từ Giáng Sinh năm 1948. Bà từng nói “Mỗi năm tôi khởi  sự việc làm vào ngày Christmas”.

Vì, theo bà, “Là Lễ Giáng Sinh mỗi khi ta để Thượng Đế thương yêu người khác qua ta…và  là Lễ Giáng Sinh  mỗi khi ta mỉm cười với anh em của ta và cứu giúp họ”.

Đó là thánh ý Thiên Chúa.

Mà trong Lễ Giáng sinh, thường thường người ta cũng hay cầu nguyện

Cầu nguyện không phải chỉ là sự thờ phượng mà còn là một nguồn sinh lực dồi dào, mạnh mẽ mà con người có thể tạo ra. Ảnh hưởng của sự cầu nguyện lên tinh thần và thể chất có thể chứng minh được.  Ảnh hưởng đó được đo lường bằng sự phục hồi thể xác, đưa tới một trí tuệ sáng suốt, một lương tri ổn định và sự thấu hiểu những mặt khàc nhau trong sự giao thiệp giữa mọi người.

Nếu ta thành thật tạo ra một thói quen cầu nguyện, cuộc sống của ta sẽ thay đổi rõ ràng. Lời cầu nguyện sẽ để lại trong hành động và thái độ của ta những dấu ấn khó xóa nhòa. Một tác phong bình thản, một nét mặt ung dung tự tại ở những ai đã có một nội tâm phong phú. Trong chiều xâu của lương tri là ngọn lửa của nhân ái. Và con người tự nhìn thấy mình. Họ nhìn ra tính ích kỷ, thái độ kiêu hãnh, tâm trạng  sợ hãi, lòng tham lam, những sai lầm ngớ ngẩn của mình. Họ sẽ triển khai một nghĩa vụ đạo đức, một trí tuệ khiêm cung lâu dài.

Câu nói, “Hãy cầu xin và sẽ được đáp ứng” đã được chứng minh bằng kinh nghiệm của nhân loại.Thực ra, cầu nguyện không thể mang lại sự sống cho em bé đã chút hơi thở cuối cùng hoặc chấm dứt được cơn đau thể chất. Nhưng cầu nguyện, như hạt radium, là nguồn sinh lực tự tạo sáng chói không bao giờ hết. Khi cầu nguyện, ta đã kết nối bản thân với nguồn sức mạnh bất tận đang quay cuồng trong vũ trụ. Ta xin một phần năng lượng đó cho nhu cầu thiếu hụt của ta để tăng cường bổi bổ. Nhưng đừng cầu nguyện Thượng Đế để thỏa mãn lòng ham muốn nhất thời.

Ta có thể cầu nguyện bất cứ ở đâu, một mình hoặc với người khác. Hãy nghĩ tới Thượng Đế nhiều hơn là hơi thở khiến cho cầu nguyện trở thành một thói quen.Và đừng cầu nguyện vào buổi sáng rồi suốt ngày sống như một con người man rợ độc ác.

            Hơn bao giờ hết, cầu nguyện bây giờ là một gắn bó cần thiết trong nếp sống của con người. Thiếu quan tâm tới ý nghĩa của tôn giáo đã đưa thế giới tới ngưỡng cửa của sự diệt vong. Nguồn sức mạnh xâu sắc, toàn hảo nhất của chúng ta đã bị lãng quên một cách thảm bại. Cầu nguyện phải được tích cực áp dụng trong nếp sống của chúng ta. Vì nếu sức mạnh của sự cầu nguyện được áp dụng trong đời sống thường nhật thì còn nhiều hy vọng rằng những lời cầu nguyện cho một thế giới tốt đẹp hơn sẽ được đáp ứng.

            Để kết luận, xin mượn lời của nhà văn danh tiếng nước Anh Charles Dickens như sau, khi ông nói tới Christmas: “I will honor Christmas in my heart, and try to keep it all the year”, Tôi sẽ tôn vinh Christmas trong trái tim của tôi và trân trọng Christmas suốt năm”.

 Bác sĩ Nguyễn Ý Đức 

MÙA GIÁNG SINH AN LÀNH

Lễ Tạ Ơn đã qua, mùa Giáng Sinh lại về. Nhiều nhà thờ được trang hoàng rực rỡ đón Giáng Sinh, nhà nhà chuẩn bị mua cây thông, có người lên rừng đốn cây thông đem về cho gia đình mình, cho bằng hữu của mình. Có một số gian hàng bán cây thông ngoài đường nhưng chúng tôi thích mua cây thông ở nhà thờ hơn vì mua cây thông ở nhà thờ ít nhất mình cũng giúp cho nhà thờ một chút gì đó. Ở Orange County, nhà thờ nào có linh mục Việt Nam, có giáo dân Việt Nam thì nhà thờ đó được trang hoàng rất đẹp, đèn rực rỡ khắp nơi ngoài nhà thờ, cây cỏ ở nhà thờ được chăm sóc một cách cẩn thận, nhất là tượng Đức Mẹ lộ thiên đầy hoa, hoa cúc, hoa lan, hoa vạn thọ, Đức Mẹ đứng giữa rừng hoa. Đức Mẹ đã đẹp, hoa làm cho Đức Mẹ đẹp hơn. Hằng ngày, nhiều  tín đồ đến cầu nguyện Đức Mẹ ban phép lành, người nào (không phân biệt tôn giáo) có tâm sự đều đến cầu xin Đức Mẹ ban cho mình sự bình yên, không phải chỉ có người lớn tuổi cầu xin điều gì đó mà ngay cả những người trẻ tuổi cũng cầu xin.

Khi đồng hương đến những nơi linh thiêng cầu nguyện thì khuôn mặt rất thành khẩn, rất chân thành, chúng tôi đã gặp nhiều người già ngồi trên xe lăn, người tật nguyền chống gậy đến trước tượng Đức Mẹ cầu nguyện ở nhà thờ Saint Barbara, Santa Ana, nhà thờ Saint Polycap, nhà thờ Westminster, nhà thờ Anaheim, nhà thờ Saint of  Alexandria Temecula, v.v. Khuôn mặt  của những người có niềm tin tôn giáo lúc cầu nguyện rất hiền lành, thánh thiện, lúc đó hình như họ không ở trần gian, mà họ đến nơi nào đó, nơi đó là Thiên Đàng. 

Chúng tôi còn nhớ năm đầu tiên tị nạn ở Hoa Kỳ dự thánh lễ Giáng Sinh đầu tiên ở một nhà có cổ kính ở thành phố Glendale, Los Angeles County. Tối hôm đó có vài người Việt Nam tham dự, vì ở trại tị nạn thì nóng, sang Hoa Kỳ đêm Giáng Sinh quá lạnh, áo lạnh không đủ ấm, chúng tôi vừa đứng trước tượng Đức Mẹ vừa run, nhà thờ tuy nhỏ mà số người tham dự thì đông, thấy người lạ đến nhà thờ, một bà Mỹ lớn tới nắm tay chúng tôi dẫn vào bên trong nhà thờ. Không khí đêm Giáng Sinh tưng bừng chưa bao giờ thấy, đương nhiên ở trong trại tị nạn làm sao có không khí vui tươi như thế này, ở trong trại tị nạn hồi hộp chờ từng ngày để được định cư.

Gần tới mùa Giáng Sinh nhà nào cũng đẹp, văn phòng, cơ sở thương mại cũng trang hoàng đẹp hơn ngày thường, cây thông, thiệp Giáng Sinh với ông già Noel để trên cây thông, những chiếc vớ dài thật đẹp để trên lò sưởi. Lúc nhỏ, chúng tôi thường nghe nói nếu mình mơ ước điều gì thì ông già Noel sẽ cho mình, ông già Noel sẽ đi từ ống khói xuống lò sưởi. Ông bà, cha mẹ thường nói những đứa trẻ phải ngoan ngoãn thì ông già Noel mới cho quà, trẻ con thì hay tin lời của ông bà cha mẹ mình nói, dù không ngoan ngoãn nhưng tới ngày gần lễ Giáng Sinh cũng phải ngoan để được quà của ông già Noel. Trên đời này có đứa trẻ nào học giỏi mà không nghịch ngợm đâu chứ? Nghe nhạc Giáng Sinh, mặc áo mới, có quà, trẻ con nào mà không thích mùa Giáng Sinh chứ? Các nhà thờ đẹp, trang hoàng cây thông rực rỡ, bóng đèn đủ màu, cũng nhờ bàn tay của Giáo dân, sân ở nhà thờ không có một lá cây cũng nhờ bàn tay của Giáo dân, của linh mục quan tâm đến nhà thờ của mình.

Trước lễ Giáng Sinh, tôi thường gọi thăm các linh mục mà chúng tôi quen. Linh mục Vũ Đảo, đã hưu trí, là học trò trường trung hoc Lý Thường Kiệt thập niên 50 lúc người Bắc mới vừa di cư vào Nam. Linh mục Vũ Đảo học rất giỏi, có khiếu văn nghệ, đóng kịch rất xuất sắc, sau này là nhà giáo, rồi là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau 30/4/1975, ngài ở tù 3 năm. Ra tù, ngài vượt biên qua Thái Lan, định cư ở Chicago, Hoa Kỳ. Ngài đi học ở nhà dòng, được thụ phong linh mục ở miền Đông vào tháng 4/1988.

Cựu học sinh trung học Lý Thường Kiệt ở Quang Trung, quận Hóc Môn rất hãnh  diện về ngài, và không biết đất lành ở trường sao đó mà trường có nhiều dì phước, linh mục và có một giám mục cũng là học trò của Lý Thường Kiệt. Cựu học sinh Lý Thường Kiệt ở California tổ chức chào đón ngài trước khi ngài về Phi Luật Tân làm việc trong các trại tị nạn ở Phi Luật Tân.

Đến Phi Luật Tân vào tháng 6/1988, linh mục Vũ Đảo giúp rất nhiều đồng hương tị nạn trong trại tị nạn. Phi Luật Tân gồm có 4000 đạo họp lại thành một quốc gia Phi Luật Tân, đạo Công Giáo và Tin Lành phát triển rất mạnh mẽ, các vị lãnh đạo tinh thần được tôn trọng, hằng năm linh mục Vũ Đảo về Hoa Kỳ một lần, ngài được bằng hữu đón tiếp một cách nồng nhiệt, chúng tôi thường gởi sách, báo, nhạc để ngài đem về Phi Luật Tân tặng cho đồng bào tị nạn, ngài cho biết trong trại tị nạn hằng năm vẫn tổ chức lễ Giáng Sinh một cách long trọng.

Linh mục Vũ Đảo là linh mục bề trên của dòng Ngôi Lời mới thành lập ở Mỹ chừng 50 năm. Ngày xưa ở Việt Nam không có dòng Ngôi Lời, khi biến cố lớn xảy ra ở Lousiana, tượng thánh Louis bị những người nổi loạn cột dây vào đầu và định giựt sập thì linh mục Stephen Schumacher vừa chịu chức chưa được một năm của tổng giáo phận St. Louis, đứng dưới tượng Thánh Louis cùng một số Giáo dân bảo vệ tượng. Nếu họ kéo dây thì tượng Thánh Louis sẽ ngã, linh mục trẻ và một số giáo dân này sẽ chết ngay tức khắc, nhưng nhờ sự khôn khéo của linh mục trẻ này và nhờ Chúa ban phước, linh mục cố kéo dài thời giờ đối thoại để cho cảnh sát đến. Hơn 1 tỷ người trên thế giới theo dõi cảnh đối thoại từng giây từng phút, nhiều người hội hộp và muốn đau tim, người nào đau tim sẵn có thể chết bất cứ lúc nào, thế rồi Cảnh Sát đến giải tán đám biểu tình.

Tôi gọi ngay linh mục Vũ Đảo, xin số điện thoại và email của vị linh mục trẻ đó, và cuối cùng tôi phỏng vấn được ngài, một linh mục trẻ gan dạ, không sợ chết đứng giữa bão táp phong ba, leo thang cứu tượng Thánh Louis thoát khỏi bị giựt sập.

Tôi cám ơn linh mục Vũ Đảo, tôi cám ơn những vị lãnh đạo tinh thần đã giúp chúng tôi về mặt truyền thông. Nếu không có linh mục Vũ Đảo thì tôi làm sao có được số điện thoại của vị linh mục anh hùng kia một cách kịp thời.

Làm phóng sự về sinh hoạt tôn giáo thì những nhà thờ là nơi nên tìm đến, những bài thánh ca đi vào hồn người, những đứa trẻ được bố mẹ bế vào nhà thờ trong những ngày lễ, nhất là đêm Giáng Sinh, đứa trẻ nào lớn lên cũng đam mê âm nhạc và có thể thành ca sĩ, vì âm nhạc đã vào máu rồi.

Hãy cầu nguyện, cầu nguyện thật nhiều, đời sống sẽ bình yên hơn, lòng sẽ thanh thản. Người nào có niềm tin ở tôn giáo thì đời sống sẽ vui hơn, lạc quan hơn, và sống yêu đời hơn, dù gặp trở ngại trong đời sống cũng sẽ vượt qua một cách dễ dàng.

KIỀU MỸ DUYÊN, Giáng Sinh 2024

Xin Ngôi Sao Lạ                       

                                        Thơ Trần Quốc Bảo

Inline image

           Xin Ngôi Sao Lạ

Theo ngôi sao lạ phương đông,

Ba Vua gặp Chúa Hài Đồng giáng sinh.

Niềm tin mặc khải, sấp mình,

Tiến dâng lễ vật, tôn vinh Ngôi-Lời!

“Sáng danh Thiên Chúa trên trời,

Bình an dưới thế cho người thiện tâm”

Thiên cung nhạc nhã vang âm.

Hang Bê-Lem ngát hương trầm thơm tho!

Inline image

Đất trời mầu nhiệm giao thoa,

Nguồn Ơn-Cứu-Độ tuôn oà chứa chan!

Nằm trong máng cỏ cơ hàn,

Người là ánh sáng thế gian muôn đời!

Người là sự sống bởi Trời!

Là chân thiện mỹ ngời ngời tâm linh!

Ba Vua theo ánh cứu tinh,

Lại về mỗi dịp Chúa sinh ra đời.

Inline image

Con qùy lạy Chúa… Chúa ôi!

Cho ngôi sao lạ chiếu trời Việt Nam!

Xua tan “quốc nạn sao vàng”

Quê hương con được bình an muôn đời!

Muôn ngàn lạy Chúa… Chúa ôi!

Xin ngôi sao lạ chiếu trời Việt Nam!

             Trần Quốc Bảo

                   Richmond, Virginia

            Địa chỉ điện thư của tác giả:

            quocbao_30@yahoo.com

KON TUM – MÙA GIÁNG SINH CUỐI CÙNG

(Trích đoạn trong truyện dài Đức Tin)

…Tháng 8 năm 1974, đơn vị hắn nhận lệnh luân chuyển từ Bắc Bình Định lên trấn đóng vùng cao nguyên đất đỏ. Hắn náo nức trở lại nơi mà người bạn Biệt Động Quân đã vô tình cứu hắn thoát chết dạo trước, và thăm lại người em gái hậu phương thường mở cho hắn nghe bản nhạc “Em tên…em tên Mộng Thường…mẹ gọi em bé ngoan”.

Đến nơi, pháo đội trừ đóng quân ở căn cứ Trần Ngọc Lân, còn trung đội 2 của hắn, được chỉ huy bởi vị trung uý pháo đội phó, thì kéo hai khẩu đại bác 105 ly nhét vào hai lô-cốt, nòng súng ló ra ngoài hướng về phía bắc. Ông tập hợp trung đội để ban hành mệnh lệnh:

-Đây là phòng tuyến cuối cùng, chúng ta không còn bắn yểm trợ cho đơn vị nào nữa. Nhiệm vụ của chúng ta là trực xạ vào các chiến xa T54 nếu nó xuất hiện từ hướng Ngô Trang. Các anh em hãy hết sức chú ý để kịp thời vào vị trí tác xạ. Ai vi phạm, chiếu quân lịnh thi hành kỷ luật.

Nơi hắn đóng quân có tên là Eo-Gió, cách thị xã Kon-Tum khoảng 6 cây số về phía bắc, là một ngọn đồi thấp và trơ trọi, nằm án ngữ trên đường 14, con đường độc nhất nối liền với các tỉnh phía nam. Sau khi Đắc Tô-Tân Cảnh thất thủ, nơi đây trở thành vị trí chiến lược phòng thủ hàng đầu.

Từ ngọn đồi nhìn ra bốn phía là núi cao chớn chở và rừng xanh bát ngát. Buổi chiều sương lam âm u tỏa xuống những khí lạnh ghê người. Còn ban đêm, gió thổi qua hun hút, nghe như tiếng kêu gào của các cô hồn uổng tử đã chết dọc theo con đường di tản từ mùa hè đỏ lửa 1972.

Ngày tháng ở đây nhàn nhã hơn thời kỳ còn đóng quân ở Tam Quan-Bình Định, bọn hắn không phải phơi lưng dưới nắng làm đạn cả ngày hay thức giấc giữa đêm khuya để bắn vài quả đạn quấy rối vu vơ. Công việc thường ngày là canh gác và lau chùi súng đạn, những quả đạn Beehive chống biển người được đưa ra sắp sẵn vào hai bên ụ súng. Loại đạn này, theo vị chỉ huy cho biết, nó có giá một triệu hai trăm ngàn đồng một quả, trong khi lương binh nhì của hắn-đã trừ tiền ăn-chỉ hơn mười hai ngàn đồng mỗi tháng. Trong cái đầu non nớt của hắn, hắn nghĩ thầm -“ Giá mà người mỹ dùng số tiền khổng lồ này mua sữa và bánh mì phát cho dân hắn được no nê thì hạnh phúc biết bao!”.

Mỗi ngày sau khi xong phần việc của mình, hắn thường đi tha thẩn quanh doanh trại, tán dóc với các chiến hữu biệt động quân. Đời lính nơi miền biên cương vô cùng gian khổ, thiếu thốn đủ bề. Quanh năm chỉ thấy rừng già và súng đạn, chưa kể cái chết luôn luôn rình rập chung quanh. Mỗi tuần họ được một lần tiếp tế, khẩu phần là 7 ca gạo, một mớ cá khô, mắm muối bột ngọt và mấy bó rau xanh. Lãnh Lương ra không biết tiêu pha ở đâu cho hết, bèn châu đầu đánh bạc, thằng không may sạch túi thì đành đi lượm “dế mèn” quấn hút, thằng ăn được tiền cũng chả biết làm gì khác hơn là kiếm sòng khác nướng tiếp. Thỉnh thoảng cũng có phái đoàn các “em gái hậu phương” kèm theo vài ca sĩ tỉnh lẻ đến thăm và tặng quà. Lính lác thì được giao lưu ban ngày, còn khi đêm đến, mấy cô ca sĩ rút vào trong các căn hầm sĩ quan, ở đó vọng ra tiếng nhạc xập xình, lẫn với tiếng cười đùa vui vẻ. Có hôm đúng phiên gác, hắn tò mò lén nhìn qua lỗ châu mai. Trong căn phòng ấm cúng, nồng nàn mùi nước hoa và mùi thuốc lá thơm, hắn tê mê nhìn những thân hình gợi cảm của các cô gái đang tay trong tay, mặt nhìn mặt cùng các viên sĩ quan dập dìu khiêu vũ theo điệu nhạc quay cuồng. Lòng hắn bỗng bừng dậy một nỗi khát khao mà bấy lâu hắn kìm nén. Hắn thèm mùi da thịt đàn bà. Thì có sao đâu? Hắn mới hai mươi tuổi…và hắn khao khát được yêu, được ôm người hắn yêu trong vòng tay nóng bỏng và đặt vào đôi môi mọng ướt của nàng một nụ hôn nồng cháy…

Nhưng…cho đến bây giờ, hắn vẫn chưa có người yêu!

Một lần tình cờ gặp lại một người học trò cũ của Cha hắn lúc ông còn dạy tiểu học ở quê. Anh ta là trung uý đại đội trưởng một đại đội biệt động quân thuộc LĐ 23/BĐQ đi hành quân ngang qua. Anh mừng rỡ, kéo hắn vào lều, hỏi thăm về vị thầy cũ, mời hắn ăn một bữa cơm, rồi khi ra về còn cho hắn nửa cây thuốc Capstan. Cảm động hắn làm một bài thơ tặng lại anh. Bài thơ có tựa đề là Biên Giới Ca:

Núi cao chớn chở mồ uổng tử

Rừng xanh bát ngát hồn ma thiêng

Chiến địa máu trào như là suối

Biên giới hề, âm u dị thường!

Biên giới ngày nắng nung chảy mỡ

Biên giới đêm lạnh như cắt da

Xác chết rủ nhau ngồi ngay dậy

Đốt lửa rừng lên mà hát ca…

Ta mang thân trấn thủ lưu đồn

Ba năm biên giới nhận là con

Ba năm man dại theo rừng rú

Buổi chiều ngồi vuốt chòm râu non!

Bạn ta áo bạc màu sương gió

Đem tuổi xuân phơi giữa chiến trường

Từ buổi lên đường xa phố nọ…

Chưa từng san sẻ chuyện yêu đương!

Chiều nay sương xuống mờ quan ải

Nghe tiếng hồn hoang hú não nề

Vỗ tay ta hát hề, biên tái

Súng đạn người đi chẳng trở về!.

Anh ta đọc, khen “mày làm thơ được đó, nhưng buồn quá, đời mày chắc sẽ còn nhiều gian khổ”

Hắn yên lặng không nói gì.

Một tháng đôi ba lần hắn cũng chuồn về được thị xã Kon-Tum. Đến thăm thằng bạn “trung sĩ biệt động quân”, rồi kéo nhau lê la từ quán Cafe Giao, Da Vàng, đến quán Cây Ổi. Ở đó ”có vẻ” em Phương tóc dài đã có chút cảm tình với hắn. Hắn nghĩ “có vẻ”thôi, bởi vì tâm lý các cô gái thời bây giờ chỉ nhắm vào các chàng sĩ quan hào hoa đẹp trai phong độ, chứ còn hàng ngũ cái thứ lính “đơ dem cùi bắp” như hắn thì các cô chả thèm để ý tới bao giờ!.

Em Phương có mái tóc dài ôm kín cả bờ lưng thon thả, sau buổi học về, em thường thay mẹ ra ngồi ở quầy tính tiền. Những khi vắng khách, em lơ đễnh một tay chống cằm, tay kia hí hoáy vẽ trên tờ giấy, nghiêng cả mái tóc mây óng ả về phía hắn. Hắn đánh bạo, phết đại vài câu thơ vớ vẩn rồi trao cho nàng:

“Trời đang rét nhưng lòng anh ấm lạ

Khi ngồi đây trông mái tóc em dài

Vở học trò em đã chép tên ai

Cho anh gửi bài thơ tình của lính…”

Đọc xong, em quay lại nhoẻn môi cười với hắn. Thừa thắng xông lên, hắn kéo ghế qua gần quầy, rồi-vừa nhả khói thuốc vòng tròn, theo kiểu của nhân vật Trần Đại khi đến tán tỉnh em Tường Vi xinh đẹp của quán cafe Gió Nam trong phim Điệu Ru Nước Mắt-hắn vừa phun ra hàng tá thơ tình lãng mạn, từ thơ yêu nồng nàn của Xuân Diệu, Huy Cận cho đến thơ thất tình của Nguyễn Bính. Tuổi học trò nhiều mộng mơ thường thích văn thơ, cho nên em cười híp mắt, ngồi lim dim nghe hắn đọc thơ và bình thơ chứ còn để trở thành người yêu của hắn thì…chắc còn xa lắm!

Mùa giáng sinh năm đó, hắn chuồn về được thành phố sau khi lội bộ 6 cây số. Đến tìm thằng bạn “trung sĩ biệt động quân” thì mới hay nó vừa về phép hôm qua. Buồn tình, hắn một mình tha thẩn tới quán cafe Cây Ổi và gạ gẫm nàng đi lễ nhà thờ với hắn. Nàng đáp gọn lỏn:

-Em không có đạo!

Hắn lên giọng đóng vai cha cố:

-Chúa xót thương tất cả loài người, những người không có đạo Chúa lại thương hơn..

Nàng nghi ngờ nhìn hắn:

-Thôi đi! Đừng xạo…sao anh biết?

Hắn hùng hồn chứng minh:

-Anh là bằng chứng đây, vì lòng mong muốn được đến với Chúa trong đêm thánh vô cùng mà chỉ huy của anh đã cho phép anh đi, trong lúc cả đơn vị cắm trại. Nếu ngài không dùng quyền năng của ngài để làm động lòng vị chỉ huy của anh thì còn ai có thể làm được? (Hắn đã nói láo, thực ra hắn chui rào trốn đi chứ có chỉ huy nào cho phép lính tráng rời đơn vị ban đêm vào những lúc mà việt cộng rình rập tấn công)

Nàng có vẻ xuôi tai:

-Ơ…nhưng mà em không quen đi lễ, tới đó em chả biết làm gì cả?

-Chúa sẽ làm tất cả. Em chỉ việc đi cùng anh tới đó, đứng im chắp tay cầu nguyện…rồi Cha xứ sẽ làm lễ, ngài sẽ cho em được nếm bánh thánh, uống nước thánh…em sẽ được đầy ơn phước, sẽ có chồng giàu sang và sinh những đứa con bụ bẫm, có gương mặt xinh đẹp rạng ngời giống hệt khuôn mặt phúc hậu của Đức Mẹ Maria…

Nàng vẫn bướng bỉnh:

-Nếu em không đi thì sao?

Hắn dọa dẫm:

-Thì khi lìa đời, em sẽ xuống hỏa ngục, nơi đó có những con quỷ đuôi dài đầu sừng, nó sẽ tán tỉnh và hù dọa em, em sẽ chết khiếp…

Hắn còn tuôn ra hàng tràng dài những điều mà hắn học lóm đâu đó trong Kinh Thánh. Nàng vô phương chống đỡ trước những lời lém lỉnh của hắn nhưng vẫn không chịu đầu hàng:

-Nhưng…nhưng mà…má em sẽ la, nếu đi với anh… em hổng dám đâu!

Tới đây thì hắn đành phải bạt mạng nói càn:

-Không người mẹ tốt bụng nào lại la mắng con gái khi đi lễ nhà thờ vào đêm giáng sinh với một chàng trai tử tế…như anh.

Nàng liếc đôi mắt sắc như dao cạo quét khắp người hắn:

-Liệu có tin được mấy cái anh chàng lính tráng như anh không?

Thấy nàng có vẻ xiêu lòng, hắn gật đầu lia lịa:

-Tin được…tin được! Bên trong bộ đồ phong trần này là một linh hồn thánh thiện. Anh là một chàng trai tử tế hiền lành nhất mà em có thể tin tưởng. Thề có Chúa chứng giám, anh sẽ hộ tống em đến nơi an toàn và sẽ trả em về nhà đúng giờ sau khi tan lễ mà không làm em bị mất một sợi lông chân nào…

Nghe hắn quả quyết, nàng cũng động lòng, nên sau vài giây lưỡng lự nàng bèn gật đầu:

-Vậy…anh ra đứng ở cuối đường đợi em, em sẽ thay đồ rồi ra sau…nhớ là đưa em về ngay sau khi tan lễ đó…nghe chưa?

Hắn mừng rơn.

Thế là…lần đầu tiên trong đời, hắn được sánh bước bên một người con gái, dịu dàng trong chiếc áo dài trắng tinh khôi cùng đi lễ nhà thờ.

Con đường dẫn đến ngôi giáo đường chính của thành phố tràn ngập sương mù, đêm đó lại là một đêm có trăng . Ánh trăng mờ tỏa, quyện cùng lớp sương mù lãng đãng tạo thành một thứ ánh sáng huyền ảo mông lung, khiến hắn có cảm giác như là đang bơi trong không gian của một tầng trời xa thẳm nào đó, chứ không phải đang đi giữa một thành phố bị chiến tranh vây bủa tứ bề.

Thấy nàng có vẻ lạnh, hắn cởi chiếc áo Philaket của mình choàng lên vai nàng trong động thái của một bàn tay sẵn sàng chở che bảo vệ. Nàng cảm động, trìu mến đi sát vào hắn, hắn nghe được mùi hương tóc và mùi da thịt của nàng thoảng ra ngây ngất. Ôi chao….Hắn ước gì cho đường đi không tới và đêm cứ dài ra, để mãi mê, hắn sẽ cùng nàng trôi đi…trôi đi qua lối vào tình sử và cùng bay đến một thiên đường mộng ước xa xôi. Nơi chỉ có tình yêu và mật ngọt, nơi xa lìa trần thế đau thương!….

Nhưng con đường thực tế thì quá ngắn ngủi. Mười lăm phút sau-dù đã cố đi chậm hết sức-hắn và nàng cũng đã đứng trước cửa nhà thờ. Người đến dự lễ và người đi xem cũng rất đông. Hắn chật vật đưa nàng vào bên trong. Khi đã yên vị ở một chỗ mà hắn nghĩ là có thể nhìn bao quát cả khung cảnh của giáo đường, hắn ấn nàng ngồi xuống chiếc ghế trống duy nhất còn lại, hắn đứng sau lưng. Nàng trả lại chiếc áo khoác lính cho hắn vì lúc này hơi nóng của số đông người đã đẩy cái lạnh ra bên ngoài khung cửa.

Đang lúc hắn đang say sưa giảng bài về sự tích của đêm giáng sinh thì một bàn tay thô bạo kéo mạnh hắn về phía sau. Cùng với một tràng cười “đểu cáng” là một giọng nói quen quen:

-Thằng quỷ! Trốn ở đâu mà tụi tao tìm mãi mới ra mày…Đi!…đi nhậu với tụi tao!

Hắn ngó lên, thì ra là hai thằng “ôn dịch” cùng đơn vị. Hổng biết nó làm cách nào mà cũng trốn được về đây?

Hắn bèn xuống nước năn nỉ:

-Tao đi với em gái, tụi mày thông cảm, hẹn quán nào đi, chút xíu đưa em về xong tao đến.

Không đếm xỉa gì lời năn nỉ của hắn, hai thằng bạn thân kéo tuột hắn ra ngoài:

-Huynh đệ chi binh gì mà bỏ bạn bè đi chơi với em út? Để em đi lễ đó, nhậu với tụi tao xong quay lại đón em về…không nói on-đơ gì ráo…

Miệng nói tay kéo, hai thằng “quỷ sứ” lôi thẳng ra quán. Vốn tính nể trọng bạn bè, nhất là đối với bạn bè vào sinh ra tử, hắn ngoan ngoãn bước theo mà không kịp quay lại dặn dò “em Phương thân mến” một câu nào.

Hắn định bụng ngồi một lát với hai thằng “ôn dịch”, uống với tụi nó vài ly rồi tìm cách chuồn. Nhưng, người tính không lại ý trời!

Khi cái thứ nước màu hổ phách “quỷ quái” trong chai “Napoleon lùn” chạm đáy, hắn ngật ngưỡng đứng lên bắt tay từ giã bạn, thì cũng là lúc hắn đổ ập xuống sàn nhà, không còn biết trời trăng mây nước gì nữa cả!

                         o0o

Khi tỉnh lại vào buổi sáng hôm sau, hắn thấy mình nằm co trên chiếc bàn sắt trong phòng khách của một quán trọ rẻ tiền. Cổ họng đắng nghét và cái đầu nặng trịch, hắn chẳng biết tại sao mình lại ở đây?

Chợt nhớ tới nàng, hắn giật mình phóng xuống đất – chết mẹ! mình quên đón nàng rồi!

Hắn vội vàng đi tìm nước rửa mặt, rồi sờ khắp túi quần, túi áo, chẳng có thứ gì ngoài một manh giấy viết nghệch ngoạc mấy chữ:

“Mày say quá mà khách sạn hết chỗ, tụi tao đành bỏ tạm mày ở đây, tiền bạc giấy tờ tụi tao giữ, mai về đơn vị lấy”.

Hắn trở lại quán cafe Cây Ổi để gửi đến nàng một lời xin lỗi. Thấy hắn, nàng chẳng nói chẳng rằng, quay lưng bước vào nhà sau mất dạng.

Hắn đứng yên một lát, nhìn trời hiu quạnh…rồi thọc hai tay vào túi quần lặng lẽ rời đi!.

Mùa giáng sinh 1974-đối với hắn-đã trở thành một kỷ niệm đẹp và…buồn!

Ngày 14 tháng 3/1975. Kon Tum được lệnh di tản, đơn vị hắn kéo súng theo đoàn quân lầm lũi từ giã chiến trường, hắn không kịp đến chào “em Phương thân mến”. Cuộc di tản chiến thuật biến thành một cuộc tháo chạy kinh hoàng. Bom đạn, đói khát và bịnh tật đã giết chết rất nhiều binh lính và thường dân vô tội. Hắn tìm kiếm khắp nơi và hỏi thăm rất nhiều người, không ai biết tin tức gì về cô Phương cà phê Cây Ổi.

Hắn thở dài nghĩ đến một điều không dám nghĩ:

– Có thể “em Phương thân mến” đã vùi thân trong một góc rừng nào đó giữa vùng lửa đạn chiến tranh rồi!

Chàng Đông Ry Nguyễn

Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh

NGƯNG BẮN TRÊN XỨ NGƯỜI…

CÒN XỨ TA THÌ SAO… HUẾ, MẬU THÂN 1968?

Khi họ nói KHÔNG Với Chiến Tranh 650 chDavid G. Stratman – TháiLan dịch –

22/6/2012

Đó là vào ngày 25 tháng 12, năm 1914, chỉ mới 5 tháng kể từ khi bắt đầu Thế Chiến thứ I. Lính Đức, Anh và Pháp đã thật chán chường và mệt mỏi với những cuộc bắn giết vô nghĩa, đã bất tuân thượng cấp của họ và đã thành huynh đệ với “Kẻ thù” trong suốt hai phần ba của Mặt Trận phía Tây (một trọng tội với bản án tử hình vào thời chiến). Những đội quân Đức giương cây thông Giáng Sinh lên trên các chiến hào với biểu ngữ “Chúc Mừng Giáng Sinh”.

“Bạn không bắn,chúng tôi cũng không bắn”. Hàng ngàn dòng quân lính lũ lượt băng qua một vùng đai trắng với toàn thân người thối rửa rãi cùng khắp. Họ ca những bài hát mừng Giáng Sinh, trao đổi hình ảnh của gia đình thân thương ở quê nhà, chia nhau phần lương thực, chơi túc cầu với nhau, hoặc ngay cả quay thịt. Binh lính ôm hôn những người mà trước đây vài giờ họ đã nhắm bắn.

Bộ Tư Lệnh Tối Cao của cả hai phe đều cảm thấy ghê sợ. Đây là thảm họa đang hình thành: binh lính tuyên bố tình huynh đệ với nhau và từ chối đi chiến đấu. Tướng lãnh của cả hai phe tuyên bố việc hòa giải tự phát sinh là mưu phản và bị đưa ra tòa án quân sự. Vào tháng 3 năm 1915 phong trào huynh đệ chi binh đã bị triệt hạ và máy chém đã được đưa vào xử dụng . Đến thời điểm ngưng chiến vào năm 1918, mười lăm triệu nạn nhân đã bị hành hình.

Rất ít người nghe nói đến câu chuyện về Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh. Vào ngày Giáng Sinh năm 1988, một câu chuyện của Boston Globe kể rằng một xướng ngôn viên đài phát thanh FM địa phương đã cho phát rất nhiều lần bài ” Giáng Sinh ở Chiến Hào”, một ballad ( bài dân ca hoặc về truyền thống dân tộc) về Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh- và họ đã rất sững sốt về hậu quả của việc này .Bài hát đã trở nên bài được yêu cầu nhiều nhất trong suốt kỳ nghi lễ ở Boston trên rất nhiều trạm phát thanh FM. Và người xuống ngôn viên nói thêm” Tôi càng kinh ngạc hơn khi thấy không phải số lần bài hát được yêu cầu mà chính là phản ứng sau đó của những thính giả trước đây chưa bao giờ được nghe bài hát đó :  “Họ gọi cho tôi với tâm trạng rất xúc động, đôi khi nghẹn ngào và bật khóc, nói rằng ” Ôi Trời, tôi vừa được nghe những lời gì vậy?”

Quý vị thật dễ dàng đoán được vì sao những thính giả đó phải bật khóc chứ? Câu chuyện về Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh đi ngược lại với phần lớn tất cả những gì chúng ta được nghe về loài người.

Câu chuyện ấy đã cho chúng ta một ý niệm về thế giới theo ước mong của chúng ta, và nói lên rằng” Việc này đã thật sự xảy ra một lần rồi”. Điều này nhắc chúng ta nhớ về những cảm nghĩ mà ta đã giấu kín, vượt ra ngoài tầm của các câu chuyện trên truyền hình và báo chí, và cho ta biết cuộc sống con người thật tầm thường và thấp kém như thế nào. Sự kiện này giống như ta được nghe rằng những ước mơ sâu kín nhất của ta thật sự là có thật: Thế giới thật ra có thể khác đi.

Trích dẫn từ “Chúng ta CÓ THỂ Thay Đổi Thể Giới”, David G. Stratman : Ý Nghĩa Thật của Cuộc Sống Hằng Ngày (New Democracy Books, 1991)

  TháiLan dịch

BÀI CA GIÁNG SINH TRÊN CHIẾN HÀO –875 chữ John McCutcheon- TháiLan dịch

Christmas in the Trenches –  : Tác giả & trình bày John McCutcheon

CHRISTMAS IN THE TRENCHESJohn McCutcheon

” My name is Francis Tolliver. I come from Liverpool.

Two years ago the war was waiting for me after school.

To Belgium and to Flanders, to Germany to here,

I fought for King and country I love dear.

It was Christmas in the trenches where the frost so bitter hung.

The frozen field of France were still, no Christmas song was sung.

Our families back in England were toasting us that day,

Their brave and glorious lads so far away.

I was lyin’ with my mess-mates on the cold and rocky ground

When across the lines of battle came a most peculiar sound.

Says I “Now listen up me boys”, each soldier strained to hear

As one young German voice sang out so clear.

“He’s singin’ bloddy well you know”, my partner says to me.

Soon one by one each German voice joined in in harmony.

The cannons rested silent. The gas cloud rolled no more

As Christmas brought us respite from the war.

As soon as they were finished a reverent pause was spent.

‘God rest ye merry, gentlemen’ struck up some lads from Kent.

The next they sang was ‘Stille Nacht”. “Tis ‘Silent Night'” say I

And in two toungues one song filled up that sky.

“There’s someone commin’ towards us” the front-line sentry cried.

All sights were fixed on one lone figure trudging from their side.

His truce flag, like a Christmas star, shone on that plain so bright

As he bravely strode, unarmed, into the night.

Then one by one on either side walked into no-mans-land

With neither gun nor bayonet we met there hand to hand.

We shared some secret brandy and wished each other well

And in a flare-lit soccer game we gave ’em hell.

We traded chocolates, cigarettes and photgraphs from home

These sons and fathers far away from families of their own.

Young Sanders played his squeeze box and they had a violin

This curious and unlikely band of men.

Soon daylight stole upon us and France was France once more.

With sad farewells we each began to settle back to war.

But the question haunted every heart that lived that wonderous night

“Whose family have I fixed within my sights?”

It was Christmas in the trenches where the frost so bitter hung.

The frozen fields of France were warmed as songs of peace were sung.

For the walls they’d kept between us to exact the work of war

Had been crumbled and were gone for ever more.

My name is Francis Tolliver. In Liverpool I dwell.

Each Christmas come since World War One I’ve learned it’s lessons well.

That the ones who call the shots won’t be among the dead and lame

And on each end of the rifle we’re the same. “

— John McCutcheon “Christmas in the trenches”

Tên tôi là Francis Tolliver , tôi sống ở Liverpool.

Hai năm trước, chiến tranh chờ đợi tôi khi tôi vừa rời ghế trường học, ở Bỉ, ở Flandres, ở Đức Quốc, ở đây.

Tôi chiến đấu cho quốc vương và đất mẹ mà tôi yêu tha thiết.

Bây giờ đang là mùa Giáng Sinh và thời tiết đông giá đang hoành hành một cách dữ dội nơi các chiến hào.

Những cánh đồng băng tuyết ở Pháp thật yên ắng, không nghe thấy một bài hát Giáng Sinh nào vang lên trong không gian..

Và những gia đình thân yêu của chúng tôi, bên Anh Quốc xa xôi, đang vinh danh các con em của họ, những dũng tướng tràn đầy nhiệt huyết, đang ở rất xa quê hương của họ.

Tôi đang nằm cạnh anh bạn trên nền đất sỏi lạnh giá, bỗng dưng từ bên kia chiến tuyến một âm thanh thật đặc biệt vọng lại.

Tôi bảo” Anh em ơi, hãy lắng nghe này”, thế là các anh lính nghễnh tai ra nghe.

Một tiếng hát  với âm sắc thật trong trẻo vang lên một giai điệu tiếng Đức.

 Ôi này, anh ta hát hay tuyệt”, anh bạn tôi nói.

Rồi dần dần từng giọng hát bằng tiếng Đức hòa nhập vào đội hợp xướng. Đại bác giờ đã im tiếng, và những đám mây khí độc đã tan ra thật xa một khi Giáng Sinh đang cho chúng tôi vài khoảnh khắc ngơi nghỉ khi còn đang ở giữa cuộc chiến. Khi họ đã hát xong bài hát, và sau một lúc tỉnh tâm, vài anh bạn ở Kent ( Đông Nam nước Anh) xướng lên bài ” God rest Ye , merry gentlemen” Hồng Ân Thiên Chúa (Nỗi Lòng Mục Tử). Kế đó, vài người hát Stille Nacht. Tôi giải thích: Đó là bài “Đêm Thánh Vô Cùng”.

Và rồi bài hát được cất lên bằng hai ngôn ngữ, cùng một bài hát bao trùm cả bầu trời quanh đó.

“Có ai đang đi về phía chúng ta kià”, anh lính gác la lên.

Tất cả mọi người đều nhìn về phía một bóng đen cao ngồng vừa xuất hiện ra bên cạnh họ.

Trên tay anh ta ngọn cờ trắng phất phơ theo gió, như một ánh sao đêm Giáng Sinh, sáng rực trên cánh đồng trong khi anh đang tiến bước một cách hùng dũng, trên người không hề mang vũ khí, và rồi bóng đêm thật dày đặc  lại bao trùm quanh anh ta …

Thế rồi, từng người một, từ cả hai bên chiến tuyến, chúng tôi tiến về phía  vùng đai trắng , không ai mang súng ống, không lưỡi lê, và chúng tôi bắt đầu siết chặt tay nhau,

Tất cả chúng tôi chia nhau phần rượu mạnh đã được cất giấu bấy lâu, chúng tôi chúc mừng nhau, rồi dưới ngọn đèn vàng mờ nhạt, chúng tôi chơi một trận túc cầu, và  đã làm cho đối phương bao phen phải vất vả.

Chúng tôi chia nhau những phong sô cô la, thuốc lá, rồi những đứa con và những người cha trao đổi cho nhau từng bức hình gia đình thương yêu từ nơi xa xăm mịt mù kia…

Cậu bé Sanders thì chơi đàn phong cầm, còn phía bên kia thì họ chơi đàn vĩ cầm, ôi một đám bạn thật kỳ ngộ và huyền hoặc làm sao, thật là khó tin!

Thế rồi ánh mặt trời đã lên, chiếu sáng cả khu chiến hào và thêm một lần nữa, nước Pháp lại trở lại là nước Pháp.

Sau những lời chia tay thật não nề, tất cả chúng tôi chuẩn bị để chiến sự lại tiếp diễn, nhưng rồi, một câu hỏi đã ám ảnh tất cả những thành viên đã hiện diện trong cái đêm tuyệt vời thật khó tin ấy cứ luẩn quẩn trong trí chúng tôi: Có người thân nào của tất cả những người ấy đã nằm trong tầm ngắm của chúng tôi từ bấy lâu nay không?

Lúc đó lễ Giáng Sinh đã về trên các chiến hào, ở đó mọi vật đã bị bao trùm bởi đợt rét căm quá tàn bạo, nhưng những cánh đồng của Pháp đã được sưởi ấm bởi  khúc hát của đội hợp xướng, vì bao nhiêu bức tường được dựng lên giữa hai phe chúng tôi để buộc chúng tôi phải thực hiện nhiệm vụ ở chiến trường ấy đã bị rạn nứt luôn mãi rồi.

Tên tôi là Francis Tolliver , tôi sống ở Liverpool,

và nếu tôi cần phải nhớ một bài học ,

đó là những người đã  ra lệnh cho chúng tôi phải bắn giết  lẫn nhau họ sẽ không thuộc nhóm người bị giết hoặc bị thương

và rằng ở trên mỗi đầu súng, chúng tôi đều như nhau. “

***

Theo những nhân chứng của thời ấy, hình như là đám lính Đức đã là những người tiên phong để thực hiện tình huỳnh đệ ấy.

Rồi tùy theo sự khôn ngoan hoặc vô nghĩa của các quan lại trong quân đội, vài cuộc nổi dậy đã bị dập  tắt ngay trong trứng nước; dù sao, cuộc ngưng chiến đã được kéo dài cho đến đầu tháng giêng năm 1914.

John McCutcheon-  TháiLan dịch-

You Raise Me Up  

Ngài Nâng Tôi Lên

Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã từng nghe qua ít nhất một lần ca khúc bất hủ này. Tên của ca khúc là You Raise Me Up.

Youtube: https://youtu.be/UzXjYjwi2Zc

Đây là bài ca khởi nguồn từ một đoạn nhạc mở đầu (Prelude) cho album Silent Story của Secret Garden do nhạc sĩ Lovland sáng tác. Sau đó vị nhạc sĩ này đã đề nghị nhà soạn nhạc lừng danh và cũng là nhà văn người Ireland Brendan Graham viết lời ca.

Tưởng cũng nên biết ca khúc này dựa trên một câu chuyện rất đẹp.

Chuyện kể rằng:

Có một bạn trẻ kia than trách với Chúa sao những lúc cô đơn, đau buồn và thất vọng…Ngài lại vắng mặt?

Chúa không trả lời mà chỉ lẳng lặng cho anh xem một đoạn phim. Đoạn phim ấy chỉ ghi lại hình ảnh dấu in của hai đôi chân trên bãi cát biển.

Anh nói với Chúa:

  • Ồ, đây là lúc mà con đang thành công và hạnh phúc, đúng là Ngài đang bước đi bên con.

Thế rồi đoạn phim chiếu đến cảnh biển nổi sóng trong một ngày giông bão, trên bãi cát chỉ còn lại dấu in của một đôi chân.

Chàng trai trẻ nói ngay với Chúa:

  • Đó, Ngài xem! Lúc con gặp khó khăn, thử thách, Ngài để con lủi thủi một mình trong cô đơn và thất vọng.

Chúa hỏi lại chàng trai:

  • Con có biết đôi chân ấy là của ai không?

Anh đáp:

  • Hẳn là của con rồi!

  • Không, đó là đôi chân của Ta.

  • Vậy thì đôi chân của con đâu ạ?

Chúa âu yếm nhìn chàng trai và trả lời:

  • Lúc đó, Ta đang vác con trên vai của Ta đấy!

Và bài hát này chính là lời thổn thức của bạn trẻ ấy với Chúa:

When I am down,
and, oh my soul, so weary
When troubles come
and my heart burdened be
Then I am still
and wait here in the silence
Until you come
and sit awhile with me

You raise me up
so I can stand on mountains
You raise me up
to walk on stormy seas
I am strong
when I am on your shoulders
You raise me up
to more than I can be

Tôi mạn phép chuyển ngữ sát với giai điệu, để ca khúc này có thêm lời Việt sau đây:

Nghẹn ngào xa vắng

Hồn tôi băn khoăn ngập buồn đau

Đường đời đen tối

và xót xa chiếm tâm hồn

Bồi hồi lo lắng

Ôi cô đơn tâm tư rã rời

Kìa Chúa đến bên

Ủi an cho tôi bình yên

Ngài nâng tôi lên

cho tôi vững chân giữa núi đồi

Ngài nhấc cao hơn

an tâm bước qua biển khơi

Rồi thêm sức

cho tôi tin tưởng niềm vui sống

Ngài đỡ nâng tôi

đưa tôi đến nơi bình yên.

“You raise me up to walk on stormy seas” – Ngài nâng con lên vượt qua giông bão biển khơi.

Bắt nguồn cảm hứng về câu chuyện trong Kinh Thánh nói đến một môn đệ của Chúa Giêsu khi thấy Ngài bước trên sóng nước. Bằng cả đức tin tuyệt đối, ông xin Chúa: “You raise me up – Ngài nhấc con lên”. Kết quả phép lạ thật diệu kỳ, vị môn đệ ấy cũng được bước đi trên sóng nước.

Đó là câu chuyện của niềm tin và tình yêu bao la vào Đấng Quyền năng được kết dệt qua âm nhạc để trở thành một ca khúc tuyệt vời. Nhiều người cũng nhìn nhận ca từ của ca khúc này dưới góc độ một câu chuyện tình yêu lứa đôi tuyệt đẹp. Nhưng dù là đối với Thiên Chúa hay người tình thì cũng là những cảm xúc vô cùng mỹ diệu và cao thượng.     Điều đó cho ta một triết lý: tình yêu và niềm tin cao thượng sẽ nâng chúng ta lên…

Tôi nghĩ rằng, đây là bài hát không riêng cho một tôn giáo nào, và có lẽ các bạn cũng đồng ý với tôi rằng, chúng ta không thể phủ nhận sự hiện diện Thượng Đế trong đời sống của kiếp nhân sinh. Thậm chí chính ngay những người vô thần hay chủ thuyết vô thần (Atheism) mà họ thường nào là: “Tôn giáo là liều thuốc phiện” với những “Duy Vật Biện Chứng” và “Loài người do khỉ mà ra…”

Cho tôi lan man ngoài lề một tí.

Thật ra, chính những người vô thần này họ lại tin thần linh hơn ai hết (Chủ nghĩa vô thần có ở cả người theo chủ nghĩa duy tâm lẫn cả người theo chủ nghĩa duy vật) Vì kinh nghiệm đã cho ta thường thấy nếu điều gì ngoài sức lực và kiểm soát của con người, họ thường chạy đến các thần linh để ước nguyện và cầu xin. Thí dụ muốn được những điều may mắn, được thăng chức, việc làm tốt; ăn nên làm ra, tai qua nạn khỏi… họ van vái bốn phương, muốn được nhiều tiền và giàu có; họ “hối lộ” thần linh. Họ mê tín,dị đoan, xem bói, cầu cơ, khấn xin, van vái Thần núi, Thần sông, Thần biển, Thần hồ…

Những điều này cho ta suy nghĩ và khẳng định gì?

Thưa, dẫu là vô thần, nhưng tận trong sâu thẳm tâm hồn, họ vẫn tin có Thượng Đế đã tạo dựng nên vũ trụ và vạn vật, để mỗi khi gặp hoạn nạn mà cầu cứu và van xin. Nghĩa là họ tin có Đấng Thần Linh, tin có Ông Trời dù rằng họ từ chối các tôn giáo mặc dù họ biết mọi tôn giáo luôn hướng con người đến điều thiện – lành…

Nhà Bác học Einstein (Thuyết tương đối) là một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất mọi thời đại nói rằng:

“Khoa học không có Tôn giáo là mù lòa…”

Thế nên người vô thần tự định nghĩa theo cách “Chủ nghĩa vô thần không phải là sự hoài nghi nơi các thần, hay chối bỏ các thần; mà là thiếu niềm tin nơi các thần”. Như vậy, chủ nghĩa vô thần vì sự hoài nghi và là sự thiếu niềm tin. Tư tưởng này phát xuất từ lòng kiêu ngạo mà trong Kinh Thánh cũng đã có đề cập: “Kẻ ngu dại nói trong lòng mình rằng, “Không có Thiên Chúa” (Thánh Thi 19:1; 97:6) Nghĩa là họ tự nhận mình trí tuệ vượt trội hơn niềm tin nơi Thiên Chúa.

Nhà bác học vật lý Newton trong thời đại chúng ta đã trải qua bao nhiêu năm tìm hiểu định luật vạn vật hấp dẫn chuyển động trong trái đất đã khẳng định rồi thốt lên rằng:

“Trong Kinh Thánh có nhiều biểu hiện chắc chắn về tính có thực hơn trong bất cứ một câu chuyện nào chống lại sách đó”

Cũng do thiếu thông tin đúng đắn để họ kết luận rằng chẳng có gì tồn tại ngoài vũ trụ. Những nguyên nhân đó khiến một số người xác nhận mình là vô thần và rồi kiêu ngạo.

Thiếu hiểu biết.

Thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết khái quát về địa lý, văn hóa, về không gian và thời gian trong Kinh Thánh, khiến họ nghi ngờ rồi tạo ra các ý tưởng suy diễn lý lẽ mù lòa theo cách của mình để vá víu vào các khoảng đó. Việc này thường dẫn tới suy luận tôn giáo sai lầm, cũng như thể kiến thức sơ sài về Thiên Chúa thường bị bôi nhọ bởi những điều siêu nhiên mà Thiên Chúa tạo dựng, nghe như thần thoại hay là một câu chuyện cổ tích. Cũng không ngoại trừ từ lòng đố kỵ và ác cảm của một số vị chức sắc, tu sĩ thù ghét tôn giáo, thậm chí bị ảnh hưởng vì những người mang danh là có đạo mà lối sống và hành vi của họ bề ngoài, thiếu công bằng, đen tối, tàn nhẫn và độc ác…

Trong thời gian vừa qua, chúng ta có lẽ đã thấy và nghe trên YouTube những bài thuyết pháp của những tu sĩ nói sai – cố ý nói sai để mạ lỵ và xúc phạm tôn giáo, gây hoài nghi niềm tin nơi những tín đồ có nhận thức giới hạn, tạo mất tình đoàn kết giữa các tôn giáo. Và nay, cái giá phải trả; các vị tu sĩ này đã bị cộng đồng mạng đồng loạt lên án và tẩy chay, làm ảnh hưởng xấu đến chính tôn giáo của mình.

Ý niệm về mọi tôn giáo và sự tồn tại của nó chính là “Cái Đẹp” – “Cái Đẹp cứu rỗi thế giới”.

Một người có cách sống đạo đức nằm ngoài các mệnh lệnh tôn giáo là điều rất cần thiết. Vì trong thế giới hôm nay, đã có một số người mà họ mất đi ý niệm về tội lỗi, nên đã gây ra những điều đau khổ cho con người.

Tôn giáo của người nào đó là điều cao cả và thiêng liêng bất khả xâm phạm trong trái tim người ấy. Tôn trọng Tôn giáo của người, có nghĩa là ta tôn trọng và làm rạng rỡ Tôn giáo của chính ta!

Trở lại bài hát You Raise Me Up.

Thường khi con người gặp những hoạn nạn, đau khổ, bất toàn, bất hạnh… Họ lại chạy đến cầu xin Thần linh.

Ước gì không phải lúc ta gặp hoạn nạn mới cần đến Thiên Chúa, mà ngay những lúc ta hạnh phúc, đầy đủ, sướng vui… Nhiều khi ta cầu xin liên lỉ điều này điều kia mà sao chẳng thấy được ban phát? Thế nhưng, biết đâu Ngài lại ban cho ta những điều khác, và chính những điều này mới là thật sự rất cần thiết mà ta chưa cảm nhận.

Trong sự quan phòng của Thiên Chúa, Ngài biết rõ ta cần gì!

Sau cùng, kính mời quý vị và các bạn mở YouTube để nghe ca khúc You Raise Me Up dưới đây.

Ca khúc này tôi đã viết thêm lời Việt như đã nói ở trên, cũng như sáng tác thêm đoạn kết (Coda) rồi hòa nhạc dựa trên phong cách nguyên thủy của bài hát theo link sau đây:

Quý vị và các bạn cũng có thể ươm giọng ca của mình vào ca khúc nổi tiếng này theo link karaoke kèm theo dưới đây:

Không quên xin cảm ơn nghệ sĩ Trúc Tiên đã thực hiện video diễn ảnh rất ý nghĩa.

Trân trọng,

Văn Duy Tùng

NHỮNG MÙA GIÁNG SINH TRONG KÝ ỨC

Nguyễn Hoàng Quý

Làng quê nơi tôi sinh ra là một vùng bán sơn địa thuộc thung lũng Quế Sơn, địa danh một thời nổi tiếng trong các trận qiao tranh giữa một bên là quân giải phóng và một bên là quân đội Đồng minh & VNCH. Quế Sơn ở phía Nam Đà Nẵng, cách  chừng 60km, ở Tây Nam Hội An cách chừng 40 – 50km.

Thập niên 50 thế kỷ trước, ở quê tôi không hề thấy những Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo, chỉ rải rác vài chùa Phật giáo, đa số là các Thánh thất Cao Đài ở nhiều xã trong quận.

Những năm học tiểu học, 1956 – 61, mỗi năm đi học được nghỉ lễ “Bấc” một tuần, cứ ngỡ là gió bấc. Lớn dần thì hiểu ra đó là Lễ Phục Sinh (Pâques). Con nít, nghỉ học là vui nên không quan tâm mấy, cũng không nhớ có nghỉ Noen hay không, nghỉ ít hay nhiều ngày vì mãi đến năm 1960, làng tôi mới có một Nhà Nguyện Công Giáo. Nhà Nguyện dựng trên đất nhà anh Năm Sắc con bà Luân, vách tranh, lợp tranh. Không rõ nơi này quy tụ được bao nhiêu người tới cầu nguyện theo lễ nghi Công giáo vì với đầu óc một cậu bé lên mười, điều chú ý không phải là việc này. Điều còn nhớ được là có một linh mục ở tỉnh về giúp đỡ mọi việc thời gian đầu, anh Năm Sắc xưng với ông là “Cha”, vợ con anh cũng xưng là Cha, Bà Luân, mẹ anh không đồng ý và nói rằng: “Nếu con và vợ con xưng với ông này là Cha thì dứt khoát các con của con phải xưng là “ông nội”!”. Chuyện hoàn toàn có thật, không mảy may thêu dệt vì người dân quê, khi chưa hiểu, dễ dị ứng với những cái mới.

Phải đợi đến cuối thập niên 60, khi tôi lên Đà Lạt học năm đầu đại học tôi mới có nhận thức tương đối đầy đủ về LỄ NÔ – EN, NGÀY GIÁNG SINH khi thành phố này có nhiều trường Công Giáo, nhiều Nhà Thờ, bạn bè tôi là con Thiên Chúa, Đại học Đà Lạt nơi tôi học là trường Công Giáo. Khi nhà Thờ Con Gà, Domaine de Marie, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, các xóm đạo từ số 6 vào Thánh Mẫu đều trang trí mừng Giáng sinh, lòng mình rộn lên những cảm giác vui tươi khi nhìn và nghĩ đến câu: “Sáng danh Thiên Chúa trên Trời/ Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Có một lần anh em tôi vào nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế đêm 24.12, được nghe từ đó tiếng đàn harmonium dạo bài “Đêm Thánh vô cùng” (Silent night – Holy night) và bài “Hang Bêlem”. Tiếng đàn thoát ra từ bên trong bức tường đá của Nhà Thờ rất tuyệt. Chỉ đến sau này, có lần đến Nhà Thờ Kỳ Đồng Sài Gòn cũng đêm Giáng Sinh mới được nghe lại, y hệt, dù ở đây ồn ào hơn do xe cộ chạy qua.

Về Huế, tôi được tiếp xúc với Linh mục Trần Thắng Trung là tuyên úy Công Giáo, về sau Cha về quản lý Tòa Giám mục, tôi gặp  Soeur Marie de Bernard, Soeur Jean du Calvaire Kim Thúy. Hai chị tu dòng Saint Paul, làm việc thiện nguyện ở BV Trung Ương Huế. Cha Trung và các chị vốn có giao tình với chị ruột tôi ở Đà Nẵng từ trước nên coi tôi như con – em, luôn dành cho những tình cảm yêu thương và ai cũng muốn tôi “trở lại đạo”. Có lẽ tôi không nhận được sự quan phòng của Thiên Chúa nên dầu ngày ấy, tôi đi lễ chúa nhật với người bạn cùng phòng ở ký túc xá, đọc Thánh Kinh, tôi vẫn chỉ dừng lại ở việc nhận Hồng Ân của Người. Vào cuối tháng 12, khi thời tiết bên ngoài rất đẹp, trời không còn mưa, có ngày nắng vàng trải trên khóm cây các sân nhà thờ đã trang trí thông Nô – en, máng cỏ, hang lừa lòng tôi vẫn rộn lên những nao nức và nghĩ đến việc dọn mình chờ đợi đón mừng ngày Chúa Giê su Ki tô chào đời.

Đến nhà thờ xem lễ Giáng Sinh, nghe Phúc Âm, nghe Thánh Ca cũng như nghe các Cha giảng, tôi thấy lòng mình thanh thoát, những bài giảng của các Cha luôn giúp ích cho việc bảo tồn trật tự xã hội khi con chiên thực hiện đúng 10 điều răn của Chúa. Tôi cũng đã dự một vài Thánh lễ cưới của người thân, Thánh lễ luôn đem lại cho mình cảm giác vui mừng cho hạnh phúc của cô dâu chú rễ nhất là khi giáo luật có những điều ràng buộc họ với nhau để biết nhẫn nhịn trong cuộc sống hàng ngày theo kiểu “Chồng giận thì vợ bớt lời. . . “.

Khi ra trường đi dạy, tôi có vài lần dự lễ mở tay của học trò cũ ở ngay chính giáo xứ mình sinh ra, tôi mặc complet, thắt cravat như đi họ đám cưới vì, cũng giống như dự lễ khấn của các nữ tu (khấn tạm, khấn lại, khấn trọn đời) đều không khác lễ cưới của người ngoại đạo. Có lần tôi dự Thánh lễ nửa đêm ở Nhà Thờ Đồng Dài, cách nhà chừng 15km. Lễ xong về dự tiệc canh thức ở nhà riêng của Chủ tịch Hội Đồng Giáo xứ có Cha chánh xứ và các chức sắc nhà thờ cùng tham dự. Tất cả những việc này và còn nhiều nhiều nữa đã luôn nằm ở một ngăn đẹp trong tủ đựng những kỷ niệm đời mình. Do vậy, cứ đến đầu tháng 12 hàng năm là bao nhiêu kỷ niệm với đất, với người trỗi dậy để thấy mình trẻ lại và lòng mình ấm áp.

Cha mẹ tôi thờ Ông Bà, về sau, tôi tìm hiểu đạo Chúa, tuổi trung niên, tôi tìm hiểu đạo Phật, đọc sách Phật và sống theo giới luật của một Phật tử nhưng trong tôi luôn có một Đấng Toàn Năng chi phối mọi con người. Với tôi, đấng Toàn Năng đó là Thiên Chúa Ba Ngôi, luôn yêu thương và cứu chuộc trần gian.

TRÁI TIM TỪ BI CỦA NGƯỜI THỢ XỨ LÁ PHONG -Adèle Bibaud- 1173 words

Người người đều quấn mình thật ấm, họ bước đi rất nhanh, trời quá rét. Mọi người đều lo âu vội vàng để chạy nhanh về tổ ấm: lưới trượt của những xe trượt tuyết rền lên trên con đường lớn ở Mile-End *, gió rít thật xé tai làm đám tuyết ụn thành đống dưới chân những cây cao phủ đầy sương giá, trước đó trận bão đã làm rung chuyển những cánh tay sầu não của chúng. Những hạt bông tuyết xoáy tròn trên không, như thể bụi mù vùng sa mạc, làm mất hướng nhìn của người bộ hành. Hôm ấy thật sự là một buổi tối Giáng Sinh, thời tiết xuống hai mươi lăm độ âm. Ở khúc ngoặt con đường, một đám nhà nhỏ nghèo nàn đang khoe chùm mái đổ nát. Nào ta hãy vào căn đầu tiên nhé:  có bốn người: họ đang ở căn phòng phía trước, hai người phụ nữ, hai đứa bé.

 Bọn nhỏ đang lăn lộn, đùa giỡn, rồi cãi nhau. Ở lò sưởi, từ cái nồi bóng loáng như gương mặt của một người Phi Châu, tiếng ồng ộc của món súp hầm tỏa ra mùi vị thật ngon. Trên bàn, bốn bộ thìa dĩa dao đặt ngày ngắn với chiếc khăn trải thật tươm tất, một miếng bơ, một miếng phó mát, một cái liễn bằng sành chứa đầy sữa, một ổ bánh mì. Họ chỉ còn chờ người chủ gia đình. Trên tủ bếp, một bức tượng của thánh Antoine, cánh tay bị gãy đang bế chúa Hài Đồng Giê Su  do một phép mầu, ở dưới chân bức tượng thì một con ngựa gỗ đang kéo xe ba gác, cái xe này cũng đã qua cuộc chiến nên chỉ còn ba bánh xe; ở đầu bên kia của tủ thì bên dưới một quả cầu thủy tinh có hai bàn tay bằng sáp đang chắp vào nhau thật chặt, trên một cái khay bằng nhung đỏ; rồi xa hơn là một cái bình thủy tinh không quai, hai cái tách bị rạn nứt, một con chó bằng gốm, một con cừu với người chăn, tất cả những thứ này làm đồ trang trí cho căn nhà và được sắp xếp một cách không thứ tự và thật xa con mắt mỹ thuật. Trên tường thì treo lủng lẳng xoong nồi và dụng cụ nhà bếp. Ngoài ra, còn mấy cái ghế khập khiễng, một cái ghế trường kỷ xếp được dùng làm tủ, đó là toàn bộ đồ nội thất trong phòng; cho dù với sự nghèo nàn thiếu thốn, căn phòng vẫn toát ra một không khí thoải mái vì tất cả đều thật sạch sẽ chu đáo.

Tiếng gù gù của chú mèo nằm trên chiếc ghế đẩu cũ kỹ cho biết rằng thực khách này của căn nhà hèn mọn được yêu thương và cưng chiều như thế nào.

Hai người phụ nữ rì rầm nói chuyện với nhau, thỉnh thoảng đôi mắt của người trẻ bị mờ đi vì ngấn lệ.

– Tội nghiệp cô ấy quá, bà nói. Cô ấy sẽ không sống nổi. Ai sẽ chăm sóc con của cô ta? Lúc trước khi tôi bị bịnh, chính cô ấy đã chăm lo bọn nhóc của tôi. Ôi, giá như ông nhà tôi muốn làm điều đó!… nhưng mùa đông năm nay thật khắc nghiệt, quá khắc nghiệt, nên tôi không dám hỏi ông ấy, chị biết không, tôi thật đau đớn nghẹn ngào mỗi khi sang thăm cô hàng xóm. Ban đêm tôi không thể ngủ bởi vì tôi đã đọc được trong đôi mắt to sắp tàn lịm của cô ấy điều mà cô ấy muốn hỏi tôi nhưng không dám, cô ấy chờ tôi sẽ mở lời trước.

– Chị nghĩ cô ấy sẽ không qua khỏi hay sao?

-Chị ạ, cô ấy bị viêm phổi, và khi đã bị bịnh này rồi thì thua thôi, cộng thêm với nỗi lo âu về sự nghèo đói, rồi ý nghĩ phải để con mình lại cho người lạ nuôi lại càng làm cho cô ấy suy mòn nhanh hơn nữa, ôi thương quá.

Người thiếu phụ trẻ lấy vạt tạp dề lau nước mắt đang từ từ chảy dài xuống.

Rồi, may sao, cánh cửa đột ngột mở bật ra và một luồng gió mạnh mang theo những mảng tuyết ào vào nhà cùng với một người đàn ông cao to trông rất hoạt bát khỏe mạnh có dáng một lực sĩ, nét mặt nghiêm nghị, nhưng có vẻ chân thành và lương thiện.

– Ôi, với khí hậu chết tiệt này, về nhà thích làm sao, trời ạ! tôi tưởng là cơn bão tuyết sẽ chôn sống tôi ngoài đường rồi chứ! Rốt cuộc ta cũng về đây rồi. Ông ấy vừa nói vừa ném cho bọn nhóc một túi kẹo hạnh nhân.

– Này các con, ngày mai là lễ Giáng Sinh rồi đó, chúa Hài Đồng Giê Su không quên các con đâu này; nhưng mà này đừng có mà kiện cáo hay cãi cọ đấy nhé.

 -Ba!

 Hai đứa bé chạy đến bên cha, một đứa ôm lấy chân ba chúng, đứa kia thì leo lên vai, còn ông ta thì ôm hôn các con, thảy chúng lên trên cao, đứa này rồi đến đứa kia, rồi đến bên vợ mình.

– Cái gì thế này, hôm nay lại có nước mắt ư, điều gì làm cho em ray rút thế, đây là lần thứ hai trong tuần mà ta thấy em khóc, điều này không bình thường rồi. Em không tin tưởng nơi ta để nói cho ta biết việc gì làm em buồn khổ sao?  Hôm nay là một ngày tốt, ta làm việc rất có kết quả và ta muốn tất cả mọi người đều hạnh phúc trong ngôi nhà này. Nào, hãy nói ngay cho ta biết em cần điều gì nào.

 Người thiếu phụ trở nên sợ sệt.

– Chắc là anh sẽ rầy la em mất thôi.

– Em nói đi.

– Đây ạ! Anh biết không, cô hàng xóm tội nghiệp, cô ấy sắp ra đi, rồi con của cô ta…

-A! đúng rồi, cô nàng khốn khổ tội nghiệp, anh quên khuấy đi mất, rồi con cô ta, đúng vậy, thật buồn cho cô ấy quá.

– Nếu anh muốn..

–  Này mẹ nó, nếu như con của cô ấy làm cho em xúc động và lo âu, thì em hãy qua bồng nó về đây đi, đó là món quà của em đó. Ta sẽ làm việc thêm, về trễ một chút, như thế sẽ có đủ cái ăn cho tất cả chúng ta.

Thế là trong cái đêm mà con của Chúa Cha xuống trần thế để cứu rỗi nhân loại, thì bên trong ngôi nhà nhỏ bé ấy, cái nôi mà lâu nay đã đem cất trên gác xép, lại được mang xuống để đón nhận một em bé gầy còm yếu ớt, và cùng lúc đó linh hồn của một kẻ đọa đày vì nghèo khổ đã bay lên trời, với vẻ bình tâm mãn nguyện.

Adèle Bibaud – TL dịch

* Mile-End: khu phố thuộc thành phố Montreal, Quebec, Canada.

CÂU CHUYỆN SAU ĐÊM GIÁNG SINH

KHUYẾT DANH– TL dịch -679 chữ

Một khi những người chăn chiên đã ra đi và mọi việc đã trở nên yên tĩnh trở lại, em bé trong máng cỏ ngẩng đầu lên và nhìn về phía cánh cửa hé mở. Một câu bé đang đứng đó, e dè bẽn lẽn… rụt rè và sợ sệt.

– Đến đây nào cậu bé, Chúa Giê-Su bảo. Tại sao con e sợ đến vậy con?

– Dạ bẩm, con không dám…Con không có gì để tặng ngài cả, cậu bé trả lời.

– Ta ước mong cậu sẽ tặng cho ta một món quà biết bao, bé sơ sinh nói.

Cậu bé xa lạ đỏ mặt lên vì hổ thẹn.

– Thật sự con không có gì cả , thưa ngài… con không sở hữu được bất cứ gì cả ạ; nếu như con có món gì, con sẽ tặng ngài …ngài xem đây ạ.

Rồi moi móc lục lọi trong hai túi quần vá chằm vá đụp của mình, cậu bé lôi ra một lưỡi dao cũ đã rỉ sét .

– Dạ con chỉ có chừng này thôi, nếu ngài muốn con xin tặng ngài ạ.

– Không đâu, con cứ giữ đi, chúa Giê-Su trả lời. Ta muốn những thứ khác của con kia. Ta muốn con cho ta ba món quà.

– Con rất hân hạnh, thưa ngài, cậu bé nói, nhưng con sẽ làm gì cho ngài ạ?

– Hãy tặng ta hình vẽ sau cùng của con đi.

Vẻ mặt của cậu bé trở nên lúng túng và đỏ rần lên . Cậu ta bước đến gần máng cỏ và để tránh cho Marie và Joseph không thể nghe mình nói gì, cậu thì thầm vào tai Chúa Hài Đồng Giê-Su:

– Thưa ngài, con không thể… hình con vẽ quá tệ hại xấu xí…không ai muốn nhìn thấy đâu ạ!

-Con ạ, chính vì nó xấu nên ta mới nói con đưa cho ta, em bé trong máng cỏ trả lời…Con phải luôn luôn tặng cho ta tất cả những gì người khác gạt bỏ đi, và những gì  mà chính con cũng không ưa thích.

-Và nữa nè, ta muốn con đưa cho ta cái đĩa của con, em bé tiếp tục.

 -Nhưng mà sáng nay con đã làm bể đĩa mất rồi, thưa ngài! chú bé ấp úng trả lời.

– Bởi vì vậy nên ta muốn con đưa cho ta… Con luôn phải tặng cho ta tất cả những gì bị gãy bể trong suốt cuộc đời của con, ta muốn dán chúng lại…

– Còn bây giờ con hãy lập lại cho ta nghe con đã trả lời ba mẹ con như thế nào khi họ hỏi lý do làm sao con đã làm bể cái đĩa, Chúa Giê Su nhất định hỏi để xem chú bé kể lại sự việc ra sao… Chú bé liền sa sầm nét mặt, cúi mặt xuống, xấu hổ và nói thì thầm một cách buồn bã:

-Con đã nói dối.. con đã nói rằng vì sơ ý nên cái đĩa đã tuột khỏi tay con; nhưng sự thật thì không phải như thế.. Lúc đó con đang tức giận và con đã đẩy mạnh cái đĩa cho nó rớt xuống nền gạch hoa và đã vỡ ra!

– Con ạ, đó chính là điều ta muốn con thổ lộ ra! Chúa Giê Su nói. Con hãy giao hết cho ta tất cả những thứ xấu xa phiền toái trong cuộc đời của con, nào là những điều dối gian, những lần vu khống, những sự hèn nhát và những điều ác độc của con. Ta muốn con hay trút hết những gánh nặng đó cho ta…Con không cần đến những thứ đó… Ta muốn làm cho con luôn hạnh phúc vui sướng và con hãy nhớ rằng ta luôn luôn tha thứ cho những lỗi lầm của con, con ạ.

Rồi vừa ôm hôn cậu bé vì đã tặng mình ba món quà đó, chúa Giê Su nói:

– Bây giờ thì con đã biết đường dẫn đến Trái Tim của ta rồi, ta ước mong mỗi ngày con đều đến thăm ta con nhé.

KHUYẾT DANH– TL dịch

Nếu Ông Già Noel quên ghé thì…

Mone Dompnier –thailan dịch

 
CÂU CHUYỆN THẬT CỦA MỘT NGƯỜI BẠN BÊN PHÁP
VÀ THẬT ĐAU, KHI NGHĨ VỀ CÁC VỊ ANH HÙNG TRONG QLVNCH- BAO NHIÊU THÁNG NGÀY GÔNG CÙM TÙ TỘI, MỘT MẪU ĐƯỜNG ĐEN, ĐƯỜNG BÁT (Đọi) LÀ CẢ MỘT KHO TÀNG- THƯƠNG ĐAU!!

Một buổi sáng Giáng Sinh. Dưới gốc cây thông, những tờ giấy màu bị xé toạc, những chiếc hộp mở toang cả ra, và bọn trẻ thì phấn khích giữa bao nhiêu là quà mà ông già Noel mang đến cho chúng vào đêm qua. Bà tôi thì ngồi hơi xa một chút, đang mỉm cười khi thấy niềm hạnh phúc và sự ngạc nhiên vui thích của các cháu.

– Bọn nhỏ này được cưng chiều quá chừng. – Bà nói khẽ, có vẻ như bà sợ rằng tôi sẽ nghĩ bà trách móc khi thấy vô số đồ chơi và những thiết bị tân thời cho những môn chơi trên máy như thế.

Đúng là tôi không thể cưỡng lại để lựa chọn khi lướt qua các món ở cửa hàng đồ chơi. Là thú vui của tôi khi chọn từng món đồ và chắc chắn sẽ khiến các con reo lên vì thích thú. Đem giấu tất cả những món ấy đi. Rồi cuối cùng sắp chúng dưới gốc cây thông, với niềm nôn nao chờ đợi giây phút khi bọn nhỏ thức dậy và khám phá…

– Cháu biết không, bà vẫn nhớ một Giáng Sinh từ thời thơ ấu. Từ rất lâu lắm rồi…

*

Một đêm đầy sao, lạnh cóng. Một cô bé trằn trọc, quay qua quay lại trên giường, quá bồn chồn để có thể nhắm mắt. Ở trường, chiều nay cô giáo đã kể về ông già Nô En, các chú tuần lộc và chiếc xe trượt tuyết của ông ấy, những món quà ông phân phát cho trẻ em.

– Và chẳng mấy chốc, ông sẽ đi qua tất cả các trang trại của làng. Nếu con đã tỏ ra ngoan ngoãn trong suốt năm học, ông ấy sẽ mang đến cho con một món quà vào đêm Giáng Sinh. Nhưng các con đừng quên đặt đôi guốc của mình trước lò sưởi con nhé.

Bọn trẻ nghe cô giải thích, vẻ kinh ngạc. Cô giáo trẻ của họ đến từ thành phố, cô ấy biết rất nhiều, cô ấy không thể sai được. Vì vậy, khi Sylvie về nhà cũng kể mọi chuyện cho cha mẹ và các chị nghe, và em cũng mang đôi guốc gỗ của mình đặt ngay ngắn trước lò sưởi, như lời cô giáo đã dặn dò.

Nhưng sau khi làm điều đó, bé cũng có vẻ bồn chồn lo âu.

– Nếu ông già Nô En quên đến nhà mình thì sao? Trang trại của chúng ta ở trên dốc rất cao của ngôi làng. Có lẽ ông Nô En sẽ không nhìn thấy nhà của ta đâu, Ba Mẹ ạ.

– Bé cưng của mẹ, con đừng lo, con ạ. Trước khi đi ngủ, ba mẹ sẽ máng đèn lồng ở cửa chuồng ngựa nhe con. Đôi mắt các chú tuần lộc rất tinh tường, chúng sẽ nhìn thấy, con yên tâm nhé con.

Đêm ấy, cô bé Sylvie thật khó mà dỗ giấc ngủ. Nếu như mình vẫn còn thức, có lẽ mình sẽ nghe 

tiếng ông già Nô En và chiếc xe trượt tuyết với tiếng chuông rung trên con đường đầy tuyết. Nhưng cô chỉ nghe thấy những lời thì thầm, tiếng cười thật khẽ vọng lên từ dưới nhà bếp. Cô bỗng nhìn thấy một tia sáng vàng giọi lên ở khe gỗ sàn nhà. Và nhìn lên ô kính cửa sổ, những hạt bông tuyết lấp lánh thật đẹp. Cha cô đã treo đèn lồng lên rồi. Sylvie mỉm cười, yên tâm. Và rồi cuối cùng đêm tối cũng mang bé đi vào giấc mộng đẹp.

Khi cô mở mắt ra… “Ôi, hôm nay là Giáng Sinh rồi!”

Một niềm hy vọng to lớn làm tim cô đập rất mạnh. Vẫn còn đang mặc áo ngủ, đi chân trần, cô

chạy ngay đến đôi guốc của mình, và nhìn thấy góc một chiếc khăn tay ca rô màu xanh trắng nhô ra, giống như khăn của cha mình.

– Ôi, con có quà nè! Ông Nô En đã tặng con một món quà! Cha ơi, Mẹ ơi!

Bên trong chiếc khăn tay… là một miếng đường thật to! Chỉ của mình con thôi phải không?

– Cha nhìn này! Có phải thật sự là của riêng con không?

– Ôi, đúng rồi đó con. Chắc là ông già Nô En biết rằng con là một đứa bé rất thích ăn quà đó con.

Các chị của cô bé cười vang khi thấy bé vui thích. Họ biết rằng thỏi đường mà cha để bên trong chạn thức ăn được bọc cẩn thận trong một chiếc khăn, là nỗi thèm thuồng của cô bé mỗi khi cha cô lấy con dao nhíp nạo một miếng nhỏ cho bé, đôi mắt bé sáng lên như muốn nói cha cho thêm tí nữa… Sau đó cô bé liếm ngấu nghiến những đầu ngón tay một cách tiếc nuối. Vậy mà giờ đây cô sở hữu nguyên cả một miếng thật to, chỉ riêng cho mình cô thôi!

– Đừng ăn hết một lần con ạ, cha bảo cô bé.

Ôi không, đẹp quá, ngon tuyệt quá, phải kéo dài niềm hạnh phúc này càng lâu càng tốt. Mở khăn tay ra và rón rén liếm cục đường nhiều lần trong ngày thật vui thích biết bao! Cô bé nóng lòng chờ đợi cho hết ngày lễ để kể về món quà của mình cho cô giáo, một người dạy học biết rất nhiều câu chuyện tuyệt vời.

Và rồi khi cô giáo vừa cười vừa hỏi bọn trẻ về kỳ nghỉ lễ của chúng, thì Sylvie là người rất nóng lòng nên đã lên tiếng trước, cô bé có rất nhiều điều để kể. Chiếc đèn lồng trong đêm, chiếc khăn tay trắng xanh, miếng đường… Nhưng, đến khi cô kể xong câu chuyện và im tiếng thì tất cả bạn bè cô bé trở nên im lặng một cách kỳ lạ.

Ở ngôi làng miền núi này, nơi mà sự nghèo đói, thậm chí khốn khổ, đã càn quét toàn vùng, thì chỉ có Sylvie được Ông già Noel đến thăm vào ngày 25 tháng 12. Những đôi guốc của bạn bè cô bé vẫn trống rỗng một cách đáng thương trước lò sưởi.

– Có lẽ chúng ta không ngoan như lời ông Nô En dặn dò rồi, cô bé Marie thốt lên một cách buồn bã.

Trên bục giảng, nụ cười cô giáo bỗng trở nên héo hắt và đôi mắt cô đẫm lệ.

*

Tôi cũng nhìn thấy đôi mắt của Sylvie ướt đẫm khi bà vừa kể cho tôi nghe ngày ấy niềm hạnh phúc của bà bỗng chốc tan biến khi nhận thấy nỗi buồn của các bạn trong lớp, những người khốn khổ mà ông Nô En đã quên ghé nhà chúng.

Ôi bài học về cuộc đời mà bà Ngoại đã truyền cho tôi qua câu chuyện trên thật quý hóa biết dường nào!

Bà có biết chăng món quà Giáng Sinh mà bà vừa ban tặng cho tôi mang ý nghĩa như thế nào đối với tôi không?

Con xin dâng tặng câu chuyện này cho bà ngoại S. của con, đã kể cho con nghe về lễ Giáng Sinh của bà thời thơ ấu, năm 1900.

 Mone Dompnier -tháilan dịch




TUỔI TRẺ HẢI NGOẠI “Tạ Ơn”

Chiều Hôm Qua, Thứ Bảy 09-11-2024, hàng trăm phụ huynh học sinh, đã mang con em mình đến tham dự chiều nhạc Sinh Hoạt “Tạ Ơn” Của “Tuổi Trẻ Hải Ngoại” Tại Yerba Buena High School – Student Union Hall, 1855 Lucretia Ave, San Jose, Ca 95122 – Buổi Sinh hoạt Ca nhạc dành cho tuổi trẻ này do anh Lê Văn Hải đứng ra tổ chức với sự phối hợp của Anh Thái Phạm cùng Cô Thanh Loan, nhằm khuyến khích các bậc phụ huynh giáo dục và phát triển, gìn giữ tiếng Việt cho con em không quên nguồn cội.

https://nhinrabonphuong.blogspot.com/2024/11/vai-hinh-anh-buoi-ca-nhac-tuoi-tre.html




Những sự kiện quan trọng -THÁNG 10 

Thailan  sưu tầm & dịch

**01/10

— Bùi Diễm (01/10/1923– 24/10/2021) là một chính khách Việt Nam. Ông nắm giữ chức vụ Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ nhiệm kỳ từ năm 1967 đến năm 1972.

–1908 – Mẫu xe T của Henry Ford, một “chiếc xe phổ thông” được thiết kế cho đại chúng, được bán lần đầu tiên.

 1938 – Quân đội của Hitler chiếm đóng phần Sudetenland của Tiệp Khắc. Trong nỗ lực tránh chiến tranh, các nhà lãnh đạo Anh và Pháp đã đồng ý nhượng khu vực nói tiếng Đức cho Hitler, người sau đó đã phá vỡ thỏa thuận và chiếm đóng toàn bộ Tiệp Khắc. 

 1946 – Mười hai nhà lãnh đạo Đức Quốc xã đã bị kết án tử hình tại Tòa án Tội phạm Chiến tranh Quốc tế ở Nuremberg, Đức. Ngày 1 tháng 10 năm 1949 – Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập với Mao Trạch Đông làm Chủ tịch.

**02/10:

-1968 – Công viên Quốc gia Redwood của California được thành lập. Cây gỗ đỏ là loài cây cao nhất trong tất cả các loài cây, có thể cao tới 400 feet (120 mét) trong suốt cuộc đời có thể kéo dài 2.000 năm

 – 1975 – Nhật hoàng Hirohito lần đầu tiên đến thăm Nhà Trắng.

 – 1869: Nhà lãnh đạo chính trị và tinh thần Ấn Độ Mohandas (Mahatma) Gandhi (1869-1948) sinh ra tại Porbandar, Ấn Độ. Ông nổi tiếng khắp thế giới vì lối sống sùng đạo và phong trào đấu tranh bất bạo động đã chấm dứt sự cai trị của Anh đối với Ấn Độ. Ông bị một kẻ cuồng tín tôn giáo ám sát trong khu vườn nhà mình ở New Delhi vào ngày 30 tháng 1 năm 1948.

**03/10:

–Thánh Phanxicô thành Assisi (tiếng Ý: Francesco d’Assisi; 26/ 9/1181 – 03/10/1226), còn gọi là Thánh Phanxicô Khó khăn, là một tu sĩ Công giáo Rôma và người sáng lập Dòng Anh Em Hèn Mọn (Order of Friars Minor), được biết đến nhiều hơn với tên Dòng Phan Sinh. Giáo hội Công giáo xem ông là thánh bổn mạng loài vật, chim trời, môi trường, và nước Ý. Ngày 4 tháng 10 hằng năm là ngày lễ kính Thánh Phanxicô

– 1863 – Tổng thống Abraham Lincoln đã ban hành tuyên bố chỉ định thứ Năm cuối cùng của tháng 11 là Ngày Lễ Tạ ơn. 

– 1929 – Nam Tư trở thành tên chính thức của Vương quốc Serbia, Croatia và Slovenia. 

–  1990 – Sau 45 năm chia cắt trong Chiến tranh Lạnh, Đông và Tây Đức đã thống nhất thành Cộng hòa Liên bang Đức.-04/10/1965 – Giáo hoàng Paul VI trở thành Giáo hoàng đầu tiên đến thăm Hoa Kỳ và là người đầu tiên phát biểu tại Liên hợp quốc. – 04/10/1822 — Rutherford B. Hayes (1822-1893) Tổng thống thứ 19 của Hoa Kỳ sinh ra tại Delaware, Ohio. Ông phục vụ từ ngày 4 tháng 3 năm 1877 đến ngày 3 tháng 3 năm 1881. Ông là một đảng viên Cộng hòa nổi tiếng nhất với câu nói được trích dẫn nhiều của mình, ” Người phục vụ đảng của mình tốt nhất là người phục vụ đất nước mình tốt nhất–

Nhà viết tiểu sử Ari Hoogenboom nhận xét rằng thành tựu lớn nhất của Hayes là khôi phục niềm tin dân chúng vào các đời Tổng thống và ngăn được sự suy giảm quyền lực của nhánh hành pháp trong chính phủ liên bang – một điều đã xảy ra kể từ sau vụ ám sát Abraham Lincoln vào năm 1865.

 ***05/10:

– 1877 – Sau cuộc rút lui 1.700 dặm, Tù trưởng Joseph của người da đỏ Nez Perce đã đầu hàng quân Kỵ binh Hoa Kỳ tại Bear’s Paw gần Chinook, Montana. “Từ nơi mặt trời mọc, tôi sẽ không chiến đấu mãi mãi nữa”, ông tuyên bố.-1910 – Bồ Đào Nha trở thành một nước cộng hòa sau cuộc nổi loạn thành công chống lại Vua Manuel II.
-1938 – Tổng thống Séc Tiến sĩ Eduard Benes từ chức và chạy trốn ra nước ngoài trong bối cảnh bị Adolf Hitler đe dọa.
-1964 – Cuộc trốn chạy hàng loạt lớn nhất kể từ khi Bức tường Berlin được xây dựng xảy ra khi 57 người tị nạn Đông Đức trốn sang Tây Berlin sau khi đào đường hầm bên dưới bức tường.
-1703 – Nhà thần học Jonathan Edwards (1703-1758) sinh ra tại East Windsor, Connecticut. Ông đã lãnh đạo cuộc phục hưng tôn giáo “Đại thức tỉnh” ở các thuộc địa của Mỹ và sau đó trở thành hiệu trưởng của Princeton.
-1882- “Cha đẻ của Kỷ nguyên Không gian” Robert Goddard (1882-1945) sinh ra tại Worcester, Massachusetts. Trong suốt cuộc đời mình, ông đã bị công chúng và báo chí chế giễu vì ý tưởng chế tạo một cỗ máy bay vũ trụ. Năm 1926, ông đã phóng tên lửa nhiên liệu lỏng đầu tiên trên thế giới tại một trang trại gần Auburn, Mass. Năm 1935, tên lửa nhiên liệu lỏng của ông đã vượt qua tốc độ âm thanh. Những phát triển khác bao gồm một thiết bị lái cho máy tên lửa, tên lửa có hệ thống để đạt đến độ cao lớn, máy bơm nhiên liệu tên lửa và động cơ tên lửa tự làm mát.-1846- Kỹ sư và nhà phát minh George Westinghouse (1846-1914) sinh ra tại Central Bridge, New York. Ông đã phát triển phanh khí cho tàu hỏa và sau đó chịu trách nhiệm áp dụng hệ thống dòng điện xoay chiều (AC) để truyền tải điện năng tại Hoa Kỳ. Ông cũng là người sử dụng lao động đầu tiên cho nhân viên của mình nghỉ phép có lương.-1921-Phạm Duy (1921 – 2013), tên khai sinh Phạm Duy Cẩn là nhạc sĩ, nhạc công, ca sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc lớn của Việt Nam. Ông được nhiều người đánh giá là nhạc sĩ lớn nhất của nền tân nhạc Việt Nam  với lượng sáng tác đồ sộ cũng như đa dạng về thể loại, trong đó có rất nhiều ca khúc trở nên kinh điển và quen thuộc với người Việt.
***06/10:
-1927 – Phim nói đầu tiên được công chiếu tại New York. The Jazz Singer với sự tham gia của Al Jolson là bộ phim truyện dài đầu tiên sử dụng lời thoại.
-1928 – Đại tướng Tưởng Giới Thạch trở thành tổng thống của Trung Hoa Dân Quốc sau khi ban hành hiến pháp mới. 
-1978 – Lãnh tụ tôn giáo Iran Ayatollah Khomeini được cấp quyền tị nạn tại Pháp sau khi bị trục xuất khỏi Iran vì phản đối Shah.
-1981 – Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat (1918-1981) bị những người theo chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan ám sát tại Cairo khi đang xem một cuộc diễu binh quân sự. Ông đã chia sẻ Giải Nobel Hòa bình năm 1978 với Menachem Begin của Israel. Ông đã ký một hiệp định hòa bình do Hoa Kỳ bảo trợ với Israel, nhưng đã bị các nhà lãnh đạo Ả Rập khác lên án.

-Bùi Giáng (17/12/1926 – 07/10/1998), là nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam. Các bút danh khác của ông là: Trung niên thi sĩ, Thi sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng… Ông nổi tiếng từ năm 1962 với tập thơ Mưa nguồn.

 **08/10:

-1871 – Đại hỏa hoạn Chicago bùng phát. Theo truyền thuyết, nó bắt đầu khi con bò của bà O’Leary đá đổ một chiếc đèn lồng trong chuồng của bà trên phố DeKoven. Hơn 300 người đã thiệt mạng và 90.000 người mất nhà cửa khi đám cháy san phẳng 3,5 dặm vuông, phá hủy 17.450 tòa nhà. Tổng thiệt hại tài chính lên tới hơn 200 triệu đô la.

-1918 – Trong Thế chiến thứ nhất tại Rừng Argonne ở Pháp, Trung sĩ Hoa Kỳ Alvin C. York đã một mình tiêu diệt một tiểu đoàn súng máy của Đức, giết chết hơn một chục người và bắt giữ 132 người. Sau đó, ông được trao tặng Huân chương Danh dự và Huân chương Croix de Guerre của Pháp.

-1996 – Tổng thống Palestine Yasser Arafat đã có chuyến thăm công khai đầu tiên tới Israel để hội đàm với Tổng thống Israel Ezer Weizman tại dinh thự riêng của ông.-1962 – Uganda giành được độc lập sau gần 70 năm bị Anh cai trị.
-1970 – Campuchia tuyên bố mình là Cộng hòa Khmer sau khi chế độ quân chủ bị cơ quan lập pháp bãi bỏ.
-1940-John Lennon (1940-1980) sinh ra tại Liverpool, Anh. Ông là thành viên của The Beatles, một nhóm nhạc rock có sức ảnh hưởng đã thu hút khán giả đầu tiên ở Anh và Đức, sau đó là ở Mỹ và trên toàn thế giới. Ông đã bị sát hại tại Thành phố New York vào ngày 8 tháng 12 năm 1980.-Ernesto “Che” Guevara (tiếng Tây Ban Nha: [ˈtʃe ɣeˈβaɾa]- 14/6/1928 – 09/10/1967) là một nhà Cách mạng theo Chủ nghĩa Marx, bác sĩ, tác giả, lãnh đạo du kích, nhà ngoại giao và nhà lý luận quân sự người Argentina. Là một nhân vật quan trọng của Cách mạng Cuba, hình ảnh cách điệu của ông đã trở thành một biểu tượng văn hóa phản kháng phổ biến của sự nổi loạn và biểu tượng toàn cầu trong văn hóa đại chúng.
**10/10:- 1954 – Hồ Chí Minh tiến vào Hà Nội, Việt Nam, sau khi quân đội Pháp rút lui, theo các điều khoản đình chiến chấm dứt cuộc đấu tranh kéo dài bảy năm giữa Việt Nam Cộng sản và Pháp.
-1813 -Nhà soạn nhạc opera người Ý Giuseppi Verdi (1813-1901) sinh ra tại Le Roncole, Ý. 26 vở opera của ông bao gồm; Rigoletto, Il Trovatore, La Traviata và Aida, và là một trong những tác phẩm nhạc cổ điển phổ biến nhất được biểu diễn ngày nay.

**11/10:

-1521 – Vua Henry VIII của Anh được Giáo hoàng Leo X phong tặng danh hiệu “Người bảo vệ đức tin” sau khi xuất bản cuốn sách của Nhà vua chống lại Martin Luther.

-1976 – “Băng đảng bốn tên“, bao gồm cả góa phụ của Mao Trạch Đông, đã bị bắt tại Trung Quốc, bị buộc tội âm mưu đảo chính. Sau đó, họ đã bị xét xử và kết án về nhiều tội ác chống lại nhà nước.-1884- Eleanor Roosevelt (1884-1962) sinh ra tại Thành phố New York. Bà là vợ của Tổng thống Franklin Delano Roosevelt, Tổng thống thứ 32 của Hoa Kỳ. Với tư cách là Đệ nhất phu nhân, bà đã có một cuộc sống độc lập chưa từng có, phấn đấu cải thiện cuộc sống của mọi người trên khắp thế giới. Năm 1933, bà trở thành người vợ đầu tiên của một tổng thống tổ chức họp báo riêng tại Nhà Trắng. Bà đã đi du lịch khắp nơi một mình và được mọi người trìu mến gọi là “Đệ nhất phu nhân của thế giới”. Bà đã phục vụ với tư cách là đại biểu Hoa Kỳ tại Liên hợp quốc trong nhiều năm và đã giúp viết Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.
 **12 /10:- 

Năm 54 sau Công nguyên – Hoàng đế La Mã Claudius qua đời sau khi ăn phải nấm do vợ mình, Hoàng hậu Agrippina đầu độc.
-1492 – Sau chuyến hành trình kéo dài 33 ngày, Christopher Columbus đã đặt chân lên đất liền đầu tiên ở Tân Thế giới tại Bahamas. Ông đặt tên cho vùng đất đầu tiên được nhìn thấy là El Salvador, tuyên bố chủ quyền của mình theo tên của Vương miện Tây Ban Nha. Columbus đang tìm kiếm một tuyến đường biển phía tây từ châu Âu đến châu Á và tin rằng ông đã tìm thấy một hòn đảo của quần đảo Indies. Do đó, ông gọi những người bản địa đầu tiên mà ông gặp là “người da đỏ”.

-1775 – Hải quân Hoa Kỳ ra đời sau khi Quốc hội Lục địa lần thứ hai cho phép mua lại một hạm đội tàu.- 1792- George Washington đặt viên đá Nhà Trắng. Tòa nhà, tọa lạc tại số 1600 Đại lộ Pennsylvania, cao ba tầng với hơn 100 phòng và được thiết kế bởi James Hoban. Vào tháng 11 năm 1800, Tổng thống John Adams và gia đình chuyển đến. Tòa nhà đầu tiên được gọi là “Cung điện Tổng thống“, nhưng được gọi là “Nhà Trắng” khoảng 10 năm sau khi hoàn thành. Tòa nhà đã bị quân đội Anh đốt cháy vào năm 1814, sau đó được xây dựng lại, tân trang và tái chiếm vào năm 1817.
– 1811 – Paraguay tuyên bố độc lập khỏi Tây Ban Nha và Argentina.
– 1822 – Brazil giành được độc lập từ Bồ Đào Nha.- 1872 -Nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng người Anh Ralph Vaughan Williams (1872-1958) sinh ra tại Down Ampney, Gloucestershire, Anh. Ông kết hợp các kỹ thuật sáng tác hiện đại với nhạc dân gian Anh truyền thống và nhạc Tudor để tạo nên một phong cách Anh độc đáo. Các tác phẩm chính của ông bao gồm; Mass cung Sol thứ, Fantasia về chủ đề Tallis và vở opera The Pilgrim’s Progress. Ông cũng sáng tác chín bản giao hưởng, nhạc nhà thờ và hợp xướng, nhạc phim và sân khấu và một số vở opera.

– 1884 – Greenwich được thiết lập là múi giờ chung để tính giờ chuẩn trên toàn thế giới.

– 1943 – Ý tuyên chiến với đối tác cũ của mình là Đức Quốc xã sau khi Mussolini bị lật đổ và chính phủ Phát xít của ông ta sụp đổ.

– 1960 – Trong một cuộc tranh luận về chủ nghĩa thực dân tại Liên hợp quốc, nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev đã cởi giày và đập liên hồi vào bàn làm việc.

 ** 13/10  image.pngMargaret Hilda Thatcher, Nam tước Thatcher (nhũ danh Roberts; 13 tháng 10 năm 1925 – 8 tháng 4 năm 2013), là Thủ tướng Vương quốc Anh từ năm 1979 đến năm 1990 và lãnh đạo Đảng Bảo thủ từ năm 1975 đến năm 1990. Thế kỷ 19, bà là người phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ này. Với tư cách là Thủ tướng, bà đã thực hiện các chính sách được gọi là Chủ nghĩa Thatcher. Một nhà báo Liên Xô đã đặt biệt danh cho bà là “Người phụ nữ sắt”, biệt danh gắn liền với phong cách lãnh đạo và chính trị không khoan nhượng của bà.

 Khi bước chân vào Dinh Thủ tướng ở số 10 đường Downing, bà trích dẫn lời của Francis thành Assisi:

Nơi nào có bất hòa, chúng ta đem đến đó sự hòa thuận. Nơi nào có sai sót, chúng ta đem đến chân lý. Nơi nào có nghi ngờ, chúng ta đem đến đức tin. Và nơi nào có tuyệt vọng, chúng ta đem đến niềm hi vọng.

** 14/10:

– 1912 – Cựu Tổng thống Theodore Roosevelt bị một kẻ cuồng tín bắn khi đang vận động tranh cử ở Milwaukee. Roosevelt được cứu sống nhờ chiếc áo khoác dày, hộp đựng kính và một bài phát biểu gấp trong túi áo ngực, tất cả đều giúp làm chậm viên đạn. Mặc dù bị thương, ông vẫn kiên quyết phát biểu khi viên đạn găm vào ngực và không đến bệnh viện cho đến khi cuộc họp kết thúc. Roosevelt, một người đàn ông ngoài trời khỏe mạnh, đã bình phục hoàn toàn sau hai tuần.- 1933 – Đức Quốc xã tuyên bố rút khỏi Hội Quốc Liên và tuyên bố sẽ không tham gia thêm vào Hội nghị Giải trừ quân bị Geneva.
– 1964 – Nhà lãnh đạo Dân quyền Martin Luther King, Jr., trở thành người trẻ tuổi nhất nhận Giải Nobel Hòa bình. Ông đã quyên góp 54.000 đô la tiền thưởng cho phong trào Dân quyền.
– 14/10/1890- Dwight D. Eisenhower (1890-1969) Tổng thống thứ 34 của Hoa Kỳ sinh ra tại Denison, Texas. Ông đã phục vụ hai nhiệm kỳ Tổng thống, từ ngày 20 tháng 1 năm 1953 đến ngày 20 tháng 1 năm 1961. Có biệt danh là “Ike”, ông tốt nghiệp West Point và là sĩ quan quân đội chuyên nghiệp, trở thành Tổng tư lệnh của Lực lượng Đồng minh tại Châu Âu trong Thế chiến II. Ông giữ cấp bậc Đại tướng năm sao của Quân đội.

Ngày 15 tháng 10,-1815 – Napoleon Bonaparte đến Đảo St. Helena bắt đầu cuộc lưu đày do Anh áp đặt sau thất bại của ông tại Trận Waterloo.
– 1917 – Điệp viên Thế chiến thứ nhất Mata Hari bị một đội xử bắn của Pháp xử tử tại Trại lính Vincennes, ngoại ô Paris.
-1945 – Pierre Laval, cựu thủ tướng của Vichy Pháp, bị xử tử vì hợp tác với Đức Quốc xã trong Thế chiến thứ II.
– 1964 – Lãnh đạo nước Nga Xô Viết Nikita Khrushchev bị phế truất khỏi chức Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Liên Xô và được thay thế bởi Leonid Brezhnev.

**16/10:

 1701 – Đại học Yale được thành lập tại Killingworth, Connecticut (với tên gọi là Trường Cao đẳng Connecticut). Trường chuyển đến New Haven vào năm 1716. Hai năm sau, trường đổi tên thành Cao đẳng Yale để vinh danh Elihu Yale, một nhà từ thiện. Năm 1886, trường trở thành Đại học Yale.
1793 – Nữ hoàng Marie Antoinette bị chặt đầu trong Thời kỳ Khủng bố sau Cách mạng Pháp. Bà là vợ của Vua Louis XVI và đã trở thành biểu tượng cho lòng căm thù của người dân đối với chế độ cũ do sự xa hoa và phù phiếm của bà. Theo truyền thuyết, bà đã trả lời, “Hãy để họ ăn bánh ngọt” khi được bảo rằng những người nghèo không có bánh mì.

1853 – Chiến tranh Crimea bắt đầu sau khi Đế chế Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ tuyên chiến với Nga, Anh, Pháp và một số vùng của Ý liên minh với người Thổ Nhĩ Kỳ chống lại Nga. Đây trở thành cuộc chiến đầu tiên được các phóng viên báo chí và nhiếp ảnh gia quan sát tận mắt. Một trong những trận chiến đã được bất tử hóa trong bài thơ của Tennyson, The Charge of the Light Brigade. Trong điều kiện vệ sinh kém, bệnh tật đã giết chết nhiều binh lính Pháp và Anh bị thương. Y tá người Anh Florence Nightingale sau đó đã tiên phong trong các phương pháp vệ sinh theo phong cách hiện đại, cứu sống nhiều người.

1946 – Mười cựu lãnh đạo Đức Quốc xã đã bị quân Đồng minh treo cổ sau khi bị kết tội vì tội ác chiến tranh tại Nuremberg, Đức.1964 – Trung Quốc cho nổ quả bom hạt nhân đầu tiên tại bãi thử Lop Nor ở Sinkiang.
1978 – Hồng y Karol Wojtyla của Ba Lan được bầu làm Giáo hoàng. Ông là Giáo hoàng đầu tiên không phải người Ý được bầu sau 456 năm và lấy tên là John Paul II.
1758 – Giáo viên và nhà báo người Mỹ Noah Webster (1758-1843) sinh ra tại West Hartford, Connecticut. Tên của ông trở thành từ đồng nghĩa với “dictionary” sau khi ông biên soạn những cuốn từ điển tiếng Anh đầu tiên của Mỹ.

1854 – Nhà thơ và nhà viết kịch người Ireland Oscar Wilde (1854-1900) sinh ra tại Dublin, Ireland. Nổi tiếng nhất với những vở hài kịch bao gồm: The Importance of Being Earnest. Và trong tiểu thuyết The Picture of Dorian Gray, ông viết rằng, “Chỉ có một điều trên thế giới này còn tệ hơn việc bị bàn tán, đó là không được bàn tán”.  

 **17/10:

– 1777 – Trong Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ, Tướng Anh John Burgoyne và toàn bộ quân đội gồm 5.700 người của ông đã đầu hàng Tướng Mỹ Horatio Gates sau Trận Saratoga, chiến thắng lớn đầu tiên của người Mỹ.-17-25 tháng 10 năm 1944 – Trận chiến vịnh Leyte, trận hải chiến lớn nhất trong lịch sử, diễn ra ngoài khơi quần đảo Philippine, trong Thế chiến II ở Thái Bình Dương. Trận chiến có sự tham gia của 216 tàu chiến Hoa Kỳ và 64 tàu Nhật Bản và dẫn đến sự hủy diệt của Hải quân Nhật Bản bao gồm cả Thiết giáp hạm Musashi của Nhật Bản, một trong những tàu chiến lớn nhất từng được chế tạo.
– 17/10/1912 – Giáo hoàng John Paul I (1912-1978) sinh ra tại Forno di Canale, Ý (với tên Albino Luciani). Ông được bầu làm Giáo hoàng thứ 263 của Giáo hội Công giáo La Mã vào ngày 28 tháng 9 năm 1978, nhưng qua đời tại Rome chỉ 34 ngày sau đó.-Thomas Alva Edison (11/2/1847 – 18/10/1931) là một nhà phát minh và thương nhân đã phát triển rất nhiều thiết bị có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống trong thế kỷ 20. Ông được một nhà báo đặt danh hiệu “Thầy phù thủy ở Menlo Park“, ông là một trong những nhà phát minh đầu tiên ứng dụng các nguyên tắc sản xuất hàng loạt vào quy trình sáng tạo, và vì thế có thể coi là đã sáng tạo ra phòng nghiên cứu công nghiệp đầu tiên.

**19/10:
-1781 –  Cuộc vây hãm Yorktown, còn được gọi là Trận Yorktown và sự đầu hàng tại Yorktown, bắt đầu vào ngày 28/9/1781 và kết thúc vào ngày 19/10/1781, đúng 10:30 sáng tại Yorktown, Virginia. 

Khi ban nhạc của họ chơi bài The World Turned Upside Down, Quân đội Anh đã hành quân theo đội hình và đầu hàng quân Mỹ tại Yorktown. Hơn 7.000 quân Anh và Hesse, do Tướng Anh Lord Cornwallis chỉ huy, đã đầu hàng Tướng George Washington. Cuộc chiến giữa Anh và các thuộc địa Mỹ của họ đã chính thức kết thúc. Hiệp ước hòa bình cuối cùng được ký kết tại Paris vào ngày 3 tháng 9 năm 1783.
– 1818 – Hoa Kỳ và Anh đã đồng ý thiết lập biên giới Hoa Kỳ-Canada ở vĩ tuyến 49.

– 1935 – “Cuộc hành quân dài” dài 6.000 dặm của Mao Trạch Đông đã kết thúc khi lực lượng Cộng sản của ông đến Diên An, ở tây bắc Trung Quốc, gần một năm sau khi chạy trốn khỏi quân đội của Tưởng Giới Thạch ở phía nam.

** 20/10:

-1968 – Jacqueline Kennedy kết hôn với doanh nhân triệu phú người Hy Lạp Aristotle Onassis, chấm dứt gần năm năm góa bụa sau vụ ám sát người chồng đầu tiên của bà, Tổng thống John F. Kennedy.

– 1973 – ‘Vụ thảm sát đêm thứ bảy’ xảy ra trong vụ bê bối Watergate khi Tổng thống Richard M. Nixon sa thải Công tố viên đặc biệt Archibald Cox và Phó Tổng chưởng lý William Ruckelshaus. Tổng chưởng lý Elliot Richardson đã từ chức. Một làn sóng phản đối chính trị nổ ra sau vụ sa thải dẫn đến những yêu cầu rộng rãi về việc luận tội Nixon.

20/10/1632 – Kiến trúc sư người Anh Christopher Wren (1632-1723) sinh ra tại Wiltshire, phía tây nam nước Anh. Được coi là một trong những bộ óc vĩ đại nhất thời bấy giờ, ông đã thiết kế Nhà thờ St. Paul và 52 nhà thờ cho Thành phố London. Các tòa nhà thế tục của ông bao gồm khu “mới” của Hampton Court gần London và Bệnh viện Greenwich, hiện là Cao đẳng Hải quân Hoàng gia.

**21/10:

– 1805 – Trận Trafalgar diễn ra giữa Hải quân Hoàng gia Anh và hạm đội liên hợp Pháp và Tây Ban Nha. Người Anh chiến thắng đã chấm dứt mối đe dọa xâm lược nước Anh của Napoleon. Người hùng hải quân Anh, Đô đốc Horatio Nelson đã bị thương nặng trên tàu Victory của mình.
– 1879 – Thomas Edison đã thử nghiệm thành công một bóng đèn sợi đốt điện với dây tóc carbon hóa tại phòng thí nghiệm của ông ở Menlo Park, New Jersey, giữ cho nó sáng trong hơn 13 giờ.
– 1915 – Tin nhắn thoại vô tuyến xuyên Đại Tây Dương đầu tiên được thực hiện bởi Công ty Điện thoại và Điện báo Hoa Kỳ từ Virginia đến Paris.
– 1944 – Trong Thế chiến II ở Châu Âu, quân đội Hoa Kỳ đã chiếm được Aachen ở miền tây nước Đức sau một tuần chiến đấu ác liệt. Đây là thành phố lớn đầu tiên của Đức bị quân Đồng minh chiếm giữ.
– 1967 – Hàng nghìn người biểu tình phản chiến đã xông vào Lầu Năm Góc trong một cuộc biểu tình phản đối Chiến tranh Việt Nam tại Washington, D.C. Khoảng 250 người đã bị bắt. Không có phát súng nào được bắn, nhưng người biểu tình đã bị đánh bằng dùi cui và báng súng trường.

– 1917 – Nghệ sĩ nhạc Jazz vĩ đại Dizzy Gillespie (1917-1993) sinh ra tại Cheraw, Nam Carolina (với nghệ danh John Birks Gillespie). Ông là một nghệ sĩ chơi kèn trumpet, nhà soạn nhạc, trưởng nhóm nhạc và là một trong những người sáng lập ra nhạc jazz hiện đại, nổi tiếng với đôi má phúng phính và chiếc kèn trumpet cong.

**22/10:

-1962 – Tổng thống John F. Kennedy xuất hiện trên truyền hình để thông báo cho người Mỹ về sự tồn tại của tên lửa Nga ở Cuba. Tổng thống yêu cầu dỡ bỏ chúng và tuyên bố “cách ly” Cuba trên biển. Sáu ngày sau, người Nga tuyên bố sẽ dỡ bỏ các loại vũ khí này. Đổi lại, Hoa Kỳ sau đó đã dỡ bỏ các tên lửa khỏi Thổ Nhĩ Kỳ.
-22/10/1811 – Nhà soạn nhạc người Hungary Franz Liszt (1811-1886) sinh ra tại Raiding, Hungary. Ông là một nghệ sĩ piano tài năng, nổi tiếng nhất với tác phẩm Hungarian Rhapsody số 2, Liebestraum số 3 và các bản giao hưởng Faust và Dante.

**23/10

-1983 – Những kẻ khủng bố lái một chiếc xe tải chở đầy thuốc nổ TNT vào trụ sở của Hoa Kỳ và Pháp tại Beirut, Lebanon, kích nổ và giết chết 241 lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ và 58 lính dù Pháp.
-1989 – Hungary tuyên bố là một nước cộng hòa 33 năm sau khi quân đội Liên Xô đàn áp cuộc nổi loạn của người dân chống lại chế độ Cộng sản.

**24/10:

-1861 – Bức điện tín xuyên lục địa đầu tiên ở Hoa Kỳ được gửi từ San Francisco đến Washington, gửi đến Tổng thống Abraham Lincoln từ Chánh án Tòa án Tối cao California.
-1929 – “Thứ Năm Đen” xảy ra tại Sàn giao dịch chứng khoán New York khi gần 13 triệu cổ phiếu được bán ra trong tình trạng bán tháo hoảng loạn. Năm ngày sau, “Thứ Ba Đen” chứng kiến 16 triệu cổ phiếu được bán ra.

-1931 – Tên gangster Chicago “Scarface” Al Capone bị kết án 11 năm tù vì tội trốn thuế thu nhập liên bang. Năm 1934, hắn bị chuyển đến nhà tù Alcatraz gần San Francisco. Hắn được ân xá vào năm 1939, mắc bệnh giang mai. Hắn nghỉ hưu tại dinh thự của mình ở Miami Beach, nơi hắn qua đời vào năm 1947.
 – 1945 – Liên hợp quốc được thành lập.

 – Pelé:- Edson Arantes do Nascimento (23/10/1940 – 29/12/2022), được biết đến nhiều nhất với tên Pelé, là một cố cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Brazil. Với biệt danh “Vua bóng đá”, ông được coi là một trong những cầu thủ bóng đá vĩ đại nhất mọi thời đại. Vào năm 1999, ông được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất thế kỉ 20 bởi hiệp hội IFFHS. Cũng trong năm đó, ông được IOC bầu chọn là Vận động viên của thế kỉ và được tạp chí TIME đưa vào danh sách 100 người có ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Vào năm 2013, ông được FIFA trao tặng giải thưởng Quả bóng vàng danh dự (Ballon d’Or Prix d’Honneur).

**25/10:

-1955 – Áo giành lại chủ quyền sau khi lực lượng Đồng minh cuối cùng rời đi. Đất nước này đã bị Đức Quốc xã chiếm đóng từ năm 1938-45. Sau Thế chiến II, nó bị chia thành bốn vùng chiếm đóng bởi Hoa Kỳ, Nga, Anh và Pháp.

-1881-Nghệ sĩ Pablo Picasso (1881-1973) sinh ra tại Malaga, Tây Ban Nha. Ông là một họa sĩ thử nghiệm và cũng trở thành một nhà điêu khắc, thợ khắc và thợ gốm tài ba.

– 25-30 /10/ 1983 – Đảo Grenada ở Caribe bị Hoa Kỳ xâm lược để khôi phục “trật tự và dân chủ”. Hơn 2.000 lính thủy đánh bộ và lính biệt kích Lục quân đã giành quyền kiểm soát sau một cuộc đảo chính chính trị vào tuần trước đã biến hòn đảo này thành “thuộc địa của Liên Xô-Cuba”, theo Tổng thống Ronald Reagan.

 **26/10:

– 1825 – Kênh đào Erie được mở ra như tuyến đường thủy nhân tạo lớn đầu tiên ở Mỹ, nối Hồ Erie với Sông Hudson, bỏ qua Sông St. Lawrence do Anh kiểm soát. Kênh đào này có chi phí hơn 7 triệu đô la và mất tám năm để hoàn thành.- 1951 – Winston Churchill trở thành thủ tướng Anh lần thứ hai, sau chiến thắng sít sao của Đảng Bảo thủ trong cuộc tổng tuyển cử. Trong nhiệm kỳ đầu tiên từ năm 1940-45, ông đã lãnh đạo nước Anh đấu tranh chống lại Đức Quốc xã.
– 1955 – Ngô Đình Diệm tuyên bố Nam Việt Nam là một nước cộng hòa và tự xưng là tổng thống.

-1947- Hillary Rodham Clinton sinh ra tại Park Ridge, Illinois, ngày 26/10/1947. Bà là Đệ nhất phu nhân từ năm 1993-2001 trong thời kỳ chồng bà là Bill Clinton làm tổng thống. Năm 2000, bà trở thành Đệ nhất phu nhân duy nhất từng được bầu vào Thượng viện Hoa Kỳ, phục vụ với tư cách là đảng viên Dân chủ đến từ New York. Bà được bầu lại vào năm 2006 và sau đó bắt đầu chiến dịch tranh cử tổng thống, hy vọng trở thành nữ tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Bà đã để mất đề cử của đảng Dân chủ vào tay Barack Obama, người đã giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử và bổ nhiệm bà làm Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ vào năm 2008.

 ** 27/10:

– 1904 – Tàu điện ngầm Thành phố New York bắt đầu hoạt động, chạy từ Tòa thị chính đến Phố West 145, hệ thống đường sắt ngầm và dưới nước đầu tiên trên thế giới.- 1728 -Nhà hàng hải người Anh James Cook (1728-1779) sinh ra tại Yorkshire, Anh. Ông đã khám phá New Zealand, Úc và Quần đảo Hawaii.
– 1858 -Theodore Roosevelt (1858-1919) Tổng thống thứ 26 của Hoa Kỳ sinh ra tại Thành phố New York. Ông kế nhiệm chức tổng thống sau vụ ám sát Tổng thống William McKinley. Roosevelt phục vụ từ ngày 14 tháng 9 năm 1901 đến ngày 3 tháng 3 năm 1909. Ông được nhớ đến nhiều nhất với câu nói, “Nói nhẹ nhàng và mang theo một cây gậy lớn.”

** 28/10:

– 1636 – Đại học Harvard, cơ sở giáo dục đại học lâu đời nhất tại Hoa Kỳ, được thành lập tại Cambridge, Massachusetts. Trường được đặt theo tên của John Harvard, một người Thanh giáo đã hiến tặng thư viện và một nửa gia sản của mình. Những cựu sinh viên xuất sắc bao gồm; Ralph Waldo Emerson, Henry David Thoreau, Henry James và người sáng lập NAACP W.E.B. Du Bois.

-1846 – Đoàn Donner khởi hành từ Illinois đến California. Đoàn có tổng cộng 90 người, bao gồm những người nhập cư, gia đình và doanh nhân, do George và Jacob Donner dẫn đầu. Thảm kịch sau đó xảy ra khi họ bị mắc kẹt trong tuyết ở Sierras, nơi nạn đói và nạn ăn thịt người đã cướp đi sinh mạng của họ. Có 48 người sống sót vào cuối cuộc hành trình của họ vào tháng 4 năm 1847.

-1886 – Tượng Nữ thần Tự do được khánh thành tại Đảo Bedloe ở Cảng New York. Bức tượng là món quà của người dân Pháp để kỷ niệm liên minh Pháp-Mỹ trong Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ. Được thiết kế bởi Frederic Auguste Bartholdi, toàn bộ công trình cao 300 feet (92,9 mét). Bệ đỡ có dòng chữ: “Hãy trao cho tôi những người mệt mỏi, nghèo đói, quần chúng chen chúc khao khát được hít thở tự do, những kẻ khốn khổ bị bỏ rơi trên bờ biển đông đúc của bạn. Hãy gửi những người này, những người vô gia cư, những cơn bão tố đến với tôi, tôi giơ cao ngọn đèn của mình bên cánh cửa vàng!”

-1918 – Cộng hòa Tiệp Khắc được thành lập, tập hợp từ ba tỉnh – Bohemia, Moravia và Slovakia – vốn từng là một phần của đế chế Áo-Hung trước đây.

– 1922 – Những người áo đen phát xít bắt đầu “Cuộc diễu hành đến Rome” từ Naples dẫn đến sự hình thành chế độ độc tài dưới thời Benito Mussolini.-1949 – Helen Anderson trở thành nữ đại sứ đầu tiên, được Tổng thống Harry Truman bổ nhiệm làm Đại sứ tại Đan Mạch.
-1958 – Hồng y Angelo Giuseppe Roncalli, Thượng phụ Venice, được bầu làm Giáo hoàng, lấy tước hiệu là John XXIII. Nổi tiếng nhất với việc chủ trì Công đồng Chung lần thứ 21 (Vatican II).
-1914 – Tiến sĩ Jonas Salk (1914-1995) sinh ra tại Thành phố New York. Năm 1952, ông đã phát triển một loại vắc-xin phòng ngừa căn bệnh bại liệt ở trẻ em (viêm tủy xám, còn được gọi là bại liệt ở trẻ sơ sinh). Vắc-xin của ông đã làm giảm 95% số ca tử vong do bệnh bại liệt ở Hoa Kỳ.
-1955 – Nhà sáng lập Microsoft Bill Gates sinh ra tại Seattle, Washington, ngày 28/10/1955. Năm 1975, ông đồng sáng lập Microsoft với Paul Allen, thiết kế phần mềm cho máy tính IBM. Đến năm 1980, Microsoft đã trở thành công ty phần mềm hàng đầu cho máy tính tương thích IBM. Gates trở thành tỷ phú ở tuổi 31 và vẫn là một trong những cá nhân giàu nhất thế giới.

**29/10

-1618 – Nhà thám hiểm người Anh Sir Walter Raleigh bị hành quyết tại London vì tội phản quốc theo lệnh của Vua James I.- 1897 -Bộ trưởng tuyên truyền của Đức Quốc xã Paul Joseph Goebbels (1897-1945) sinh ra tại Rheydt, gần Dusseldorf, Đức. Được coi là một bậc thầy tuyên truyền, ông kiểm soát tất cả các tờ báo, đài phát thanh và sản xuất phim của Đức Quốc xã. Ông là một người bài Do Thái cực đoan, người ủng hộ việc tiêu diệt người Do Thái. Ông tận tụy với Hitler cho đến phút cuối cùng, ông đã chết tại hầm trú ẩn Berlin của Hitler vào năm 1945 sau khi đầu độc sáu người con của mình.
**30/10:-1990 – Lần đầu tiên kể từ Kỷ Băng hà, Vương quốc Anh được kết nối với lục địa châu Âu, thông qua một đường hầm đường sắt mới dưới eo biển Manche.
– 1735 -John Adams (1735-1826), Tổng thống thứ 2 của Hoa Kỳ sinh ra tại Braintree, Massachusetts. Ông phục vụ từ ngày 04/3/1797 đến ngày 03/3/1801. Ông từng là phó tổng thống của George Washington và là cha của John Quincy Adams, Tổng thống thứ 6. Ông qua đời vào ngày 04/7/1826, cùng ngày với Thomas Jefferson, vào đúng kỷ niệm 50 năm ngày thông qua Tuyên ngôn Độc lập.

**31/10:

– Halloween hay All Hallow’s Eve, một lễ kỷ niệm cổ xưa kết hợp lễ hội All Saints của Cơ đốc giáo với lễ hội mùa thu của người ngoại giáo.

-1940 – Trận chiến nước Anh kết thúc. Bắt đầu từ ngày 10 tháng 7 năm 1940, máy bay ném bom và máy bay chiến đấu của Đức đã tấn công các mục tiêu ven biển, sân bay, London và các thành phố khác, như một màn mở đầu cho cuộc xâm lược của Đức Quốc xã vào nước Anh. Các phi công Anh trên máy bay Spitfire và Hurricane đã bắn hạ hơn 1.700 máy bay Đức trong khi mất 915 máy bay chiến đấu. “Chưa bao giờ trong lĩnh vực xung đột của con người, rất nhiều người nợ rất ít người như vậy”, Thủ tướng Winston Churchill tuyên bố.

-1941 – Đài tưởng niệm quốc gia Núi Rushmore được hoàn thành sau 14 năm xây dựng. Đài tưởng niệm có các tác phẩm điêu khắc cao 60 foot về đầu của các Tổng thống George Washington, Thomas Jefferson, Abraham Lincoln và Theodore Roosevelt – đại diện cho nền tảng, triết lý chính trị, sự bảo tồn, mở rộng và bảo tồn của nước Mỹ.

– 1950 – Earl Lloyd trở thành người Mỹ gốc Phi đầu tiên chơi trong một trận đấu của Hiệp hội Bóng rổ Quốc gia (NBA) khi anh thi đấu cho đội Washington Capitols ở Rochester, New York.

– 1961 – Thi hài của Joseph Stalin được đưa khỏi lăng mộ ở Quảng trường Đỏ và được chôn cất lại bên trong các bức tường Điện Kremlin cùng với các ngôi mộ của những anh hùng Liên Xô kém cỏi hơn. Sự kiện này diễn ra như một phần trong chương trình phi Stalin hóa của Nga dưới thời người kế nhiệm Nikita Khrushchev. Tên của Stalin cũng bị xóa khỏi các tòa nhà công cộng, đường phố và nhà máy. Stalingrad được đổi tên thành Volgograd.-1968 – Trong Chiến tranh Việt Nam, Tổng thống Lyndon Johnson đã ra lệnh ngừng ném bom Bắc Việt Nam của Mỹ.
-1984 – Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi bị ba thành viên Sikh trong đội cận vệ của bà ám sát khi đang đi dạo trong vườn nhà bà ở New Delhi.
– Người lính và chính khách Trung Quốc Tưởng Giới Thạch (1887-1975) sinh ra tại Chiết Giang. Được đào tạo tại Học viện Quân sự Wampoa, ông đã lãnh đạo lực lượng Quốc dân đảng (dân tộc chủ nghĩa) trong cuộc đấu tranh chống lại quân đội Cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo.




Sao vẫn Còn mùa Thu | Hao Vì Sao Lạc




Chiều Nhạc San Jose – Tác Giả Tác Phẩm Kỳ 2




Let’s Practice NutriLiving Taichi Excercises




VỀ CÁC ĐẠI HỌC XÁ TRẦN QUÝ CÁP, MINH MẠNG, THANH QUAN VÀ PHỤC HƯNG




Ngàn Năm Mây Bay




Thăm Viếng Văn Thi Sĩ Chinh Nguyên VTLV




Hình ảnh “Chiều Nhạc Em Không Nghe Mùa Thu”

Bản nhạc CHIỀU NHẠC MÙA THU do Gs Ns Phạm Đức Huyến thân tặng

VÀO THU 

( Ngũ độ thanh ) 

Sáng điểm sương choàng lạnh lẽo ôi

Nàng thơ gợi cảm xúc đây rồi

Êm đềm hạ trắng bay nhường cảnh

Nhẹ nhõm thu vàng thổi chiếm ngôi

Dõi lá bao chùm rơi dọc biển

Nhìn hoa những đám rụng quanh đồi

Thương mùa quyến rũ đan lời dệt

Dạo bước an nhàn khẽ mỉm môi.

        Minh Thúy Thành Nội

TIẾNG THỜI GIAN

(Ngũ Độ Thanh)

 Gió thổi màu thu ngập giữa đàng

Mây hồng khép lại dẫn mùa sang

Nhìn gương lặng lẽ đà khô héo

Điểm bóng trầm ngâm đã lụi tàn

Hạ ghé hoa bừng soi phải rã

Đông về tuyết phủ dõi rồi tan

Vòng xoay chuyển tiếp nào đâu lạ

Bởi vậy sầu rơi những lá vàng

                             Minh Thúy Thành Nội




TẾT TRUNG THU RƯỚC ĐÈN ĐI CHƠI




SỨC MẠNH CỦA TÌNH YÊU