Người người đều quấn mình thật ấm, họ bước đi rất nhanh, trời quá rét. Mọi người đều lo âu vội vàng để chạy nhanh về tổ ấm: lưới trượt của những xe trượt tuyết rền lên trên con đường lớn ở Mile-End *, gió rít thật xé tai làm đám tuyết ụn thành đống dưới chân những cây cao phủ đầy sương giá, trước đó trận bão đã làm rung chuyển những cánh tay sầu não của chúng. Những hạt bông tuyết xoáy tròn trên không, như thể bụi mù vùng sa mạc, làm mất hướng nhìn của người bộ hành. Hôm ấy thật sự là một buổi tối Giáng Sinh, thời tiết xuống hai mươi lăm độ âm. Ở khúc ngoặt con đường, một đám nhà nhỏ nghèo nàn đang khoe chùm mái đổ nát. Nào ta hãy vào căn đầu tiên nhé: có bốn người: họ đang ở căn phòng phía trước, hai người phụ nữ, hai đứa bé.
Bọn nhỏ đang lăn lộn, đùa giỡn, rồi cãi nhau. Ở lò sưởi, từ cái nồi bóng loáng như gương mặt của một người Phi Châu, tiếng ồng ộc của món súp hầm tỏa ra mùi vị thật ngon. Trên bàn, bốn bộ thìa dĩa dao đặt ngày ngắn với chiếc khăn trải thật tươm tất, một miếng bơ, một miếng phó mát, một cái liễn bằng sành chứa đầy sữa, một ổ bánh mì. Họ chỉ còn chờ người chủ gia đình. Trên tủ bếp, một bức tượng của thánh Antoine, cánh tay bị gãy đang bế chúa Hài Đồng Giê Su do một phép mầu, ở dưới chân bức tượng thì một con ngựa gỗ đang kéo xe ba gác, cái xe này cũng đã qua cuộc chiến nên chỉ còn ba bánh xe; ở đầu bên kia của tủ thì bên dưới một quả cầu thủy tinh có hai bàn tay bằng sáp đang chắp vào nhau thật chặt, trên một cái khay bằng nhung đỏ; rồi xa hơn là một cái bình thủy tinh không quai, hai cái tách bị rạn nứt, một con chó bằng gốm, một con cừu với người chăn, tất cả những thứ này làm đồ trang trí cho căn nhà và được sắp xếp một cách không thứ tự và thật xa con mắt mỹ thuật. Trên tường thì treo lủng lẳng xoong nồi và dụng cụ nhà bếp. Ngoài ra, còn mấy cái ghế khập khiễng, một cái ghế trường kỷ xếp được dùng làm tủ, đó là toàn bộ đồ nội thất trong phòng; cho dù với sự nghèo nàn thiếu thốn, căn phòng vẫn toát ra một không khí thoải mái vì tất cả đều thật sạch sẽ chu đáo.
Tiếng gù gù của chú mèo nằm trên chiếc ghế đẩu cũ kỹ cho biết rằng thực khách này của căn nhà hèn mọn được yêu thương và cưng chiều như thế nào.
Hai người phụ nữ rì rầm nói chuyện với nhau, thỉnh thoảng đôi mắt của người trẻ bị mờ đi vì ngấn lệ.
– Tội nghiệp cô ấy quá, bà nói. Cô ấy sẽ không sống nổi. Ai sẽ chăm sóc con của cô ta? Lúc trước khi tôi bị bịnh, chính cô ấy đã chăm lo bọn nhóc của tôi. Ôi, giá như ông nhà tôi muốn làm điều đó!… nhưng mùa đông năm nay thật khắc nghiệt, quá khắc nghiệt, nên tôi không dám hỏi ông ấy, chị biết không, tôi thật đau đớn nghẹn ngào mỗi khi sang thăm cô hàng xóm. Ban đêm tôi không thể ngủ bởi vì tôi đã đọc được trong đôi mắt to sắp tàn lịm của cô ấy điều mà cô ấy muốn hỏi tôi nhưng không dám, cô ấy chờ tôi sẽ mở lời trước.
– Chị nghĩ cô ấy sẽ không qua khỏi hay sao?
-Chị ạ, cô ấy bị viêm phổi, và khi đã bị bịnh này rồi thì thua thôi, cộng thêm với nỗi lo âu về sự nghèo đói, rồi ý nghĩ phải để con mình lại cho người lạ nuôi lại càng làm cho cô ấy suy mòn nhanh hơn nữa, ôi thương quá.
Người thiếu phụ trẻ lấy vạt tạp dề lau nước mắt đang từ từ chảy dài xuống.
Rồi, may sao, cánh cửa đột ngột mở bật ra và một luồng gió mạnh mang theo những mảng tuyết ào vào nhà cùng với một người đàn ông cao to trông rất hoạt bát khỏe mạnh có dáng một lực sĩ, nét mặt nghiêm nghị, nhưng có vẻ chân thành và lương thiện.
– Ôi, với khí hậu chết tiệt này, về nhà thích làm sao, trời ạ! tôi tưởng là cơn bão tuyết sẽ chôn sống tôi ngoài đường rồi chứ! Rốt cuộc ta cũng về đây rồi. Ông ấy vừa nói vừa ném cho bọn nhóc một túi kẹo hạnh nhân.
– Này các con, ngày mai là lễ Giáng Sinh rồi đó, chúa Hài Đồng Giê Su không quên các con đâu này; nhưng mà này đừng có mà kiện cáo hay cãi cọ đấy nhé.
-Ba!
Hai đứa bé chạy đến bên cha, một đứa ôm lấy chân ba chúng, đứa kia thì leo lên vai, còn ông ta thì ôm hôn các con, thảy chúng lên trên cao, đứa này rồi đến đứa kia, rồi đến bên vợ mình.
– Cái gì thế này, hôm nay lại có nước mắt ư, điều gì làm cho em ray rứt thế, đây là lần thứ hai trong tuần mà ta thấy em khóc, điều này không bình thường rồi. Em không tin tưởng nơi ta để nói cho ta biết việc gì làm em buồn khổ sao? Hôm nay là một ngày tốt, ta làm việc rất có kết quả và ta muốn tất cả mọi người đều hạnh phúc trong ngôi nhà này. Nào, hãy nói ngay cho ta biết em cần điều gì nào.
Người thiếu phụ trở nên sợ sệt.
– Chắc là anh sẽ rầy la em mất thôi.
– Em nói đi.
– Đây ạ! Anh biết không, cô hàng xóm tội nghiệp, cô ấy sắp ra đi, rồi con của cô ta…
-A! đúng rồi, cô nàng khốn khổ tội nghiệp, anh quên khuấy đi mất, rồi con cô ta, đúng vậy, thật buồn cho cô ấy quá.
– Nếu anh muốn..
– Này mẹ nó, nếu như con của cô ấy làm cho em xúc động và lo âu, thì em hãy qua bồng nó về đây đi, đó là món quà của em đó. Ta sẽ làm việc thêm, về trễ một chút, như thế sẽ có đủ cái ăn cho tất cả chúng ta.
Thế là trong cái đêm mà con của Chúa Cha xuống trần thế để cứu rỗi nhân loại, thì bên trong ngôi nhà nhỏ bé ấy, cái nôi mà lâu nay đã đem cất trên gác xép, lại được mang xuống để đón nhận một em bé gầy còm yếu ớt, và cùng lúc đó linh hồn của một kẻ đọa đày vì nghèo khổ đã bay lên trời, với vẻ bình tâm mãn nguyện.
Adèle Bibaud – TL dịch
* Mile-End: khu phố thuộc thành phố Montreal, Quebec, Canada.
*****
CÂU CHUYỆN SAU ĐÊM GIÁNG SINH– KHUYẾT DANH– TL dịch -679 chữ
-1918 – Iceland được quốc hội Đan Mạch trao trả độc lập.
-1919 – Nancy Astor trở thành người phụ nữ đầu tiên trong Hạ viện Anh.
-1925 – Các Hiệp ước Locarno (bảy hiệp định) được Đức, Pháp, Anh, Bỉ, Ý, Ba Lan và Tiệp Khắc ký kết như một biện pháp phòng ngừa để tránh một cuộc chiến tranh khác sau hậu quả của Thế chiến thứ Nhất. Các điều khoản Hiệp ước Locarno được Anh và Ý bảo đảm.
– 1941 – Đội tuần tra hàng không dân sự Hoa Kỳ (CAP), một đơn vị phụ trợ của Không quân Hoa Kỳ, được thành lập khi Giám đốc Phòng vệ dân sự, cựu Thị trưởng New York Fiorello LaGuardia, ký lệnh chính thức. CAP hiện cung cấp giáo dục hàng không vũ trụ, chương trình đào tạo học viên CAP và các dịch vụ khẩn cấp như định vị máy bay mất tích.
-1988: Benazir Bhutto được đề cử làm thủ tướng Pakistan, là người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo một quốc gia Hồi giáo. -1989 – Mikhail Gorbachev trở thành nhà lãnh đạo Liên Xô đầu tiên đến thăm Vatican và gặp Giáo hoàng, qua đó chấm dứt 72 năm chính sách vô thần nghiêm ngặt ở nước Nga Cộng sản. -1990 – Anh được kết nối với lục địa châu Âu lần đầu tiên kể từ Kỷ Băng hà khi các kỹ sư đào đường hầm đường sắt dưới eo biển Manche phá vỡ lớp đá cuối cùng.Kỷ băng hà là một giai đoạn giảm nhiệt độ lâu dài của khí hậu Trái Đất, dẫn tới sự mở rộng của các dải băng lục địa, các dải băng vùng cực và các sông băng trên núi (“sự đóng băng”), thường nằm trong một kỷ địa chất nhất định – 1994 – Người đứng đầu Ủy ban Liên hợp quốc về Rwanda ước tính 500.000 người đã chết vì nạn diệt chủng.
02/12:
-1804 – Napoleon Bonaparte được Giáo hoàng Pius VII trao vương miện Hoàng đế nước Pháp tại Paris. – 1805 – Napoleon đánh bại Nga và Áo trong Trận Austerlitz. -1852 – Đế chế thứ hai được tuyên bố tại Pháp- Napoleon III là hoàng đế – 1942 – Các nhà vật lý do Enrico Fermi dẫn đầu đã thực hiện phản ứng dây chuyền hạt nhân thành công đầu tiên trên thế giới tại Đại học Chicago.
-1971 – Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất được thành lập, bao gồm bảy vương quốc Ả Rập trên bờ biển phía đông của Bán đảo Ả Rập bao gồm các quốc gia Trucial trước đây là Abu Dhabi, Dubai, Sharjah, Ajman, Umm al Qaiwain và Fujairah. Ras al-Khaimah trở thành thành viên vào năm 1972. Khu vực này có một số trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên lớn nhất thế giới. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE hoặc Emirates) là một quốc gia ở phía đông Bán đảo Ả Rập nằm trên bờ biển đông nam của Vịnh Ba Tư và bờ biển tây bắc của Vịnh Oman. UAE bao gồm bảy tiểu vương quốc và được thành lập vào ngày 2/12/1971 dưới dạng liên bang, sau khi lực lượng vũ trang Anh rời khỏi khu vực. Sáu trong số bảy tiểu vương quốc (Abu Dhabi, Dubai, Sharjah, Ajman, Umm Al Quwain và Fujairah) tuyên bố hợp nhất vào ngày 02/12/1971. Tiểu vương quốc thứ bảy, Ras al Khaimah, gia nhập liên bang vào ngày 10/02 /1972. Bảy tiểu vương quốc trước đây được gọi là Các quốc gia đình chiến, liên quan đến các hiệp ước đình chiến được thiết lập với người Anh vào thế kỷ 19. (wiki) -1982 – Bác sĩ William De Vries đã cấy ghép trái tim nhân tạo vĩnh viễn đầu tiên cho Barney C. Clark, 61 tuổi tại Trung tâm Y tế Đại học Utah ở Thành phố Salt Lake. Clark, người đã sắp hấp hối vào thời điểm phẫu thuật, đã sống thêm 112 ngày sau khi cấy ghép.
03/12:
–1967 – Ca ghép tim thành công đầu tiên được thực hiện bởi Tiến sĩ Christiaan Barnard tại Cape Town, Nam Phi, trên Louis Washkansky, người đã sống được 18 ngày.
-1984 – Một vụ rò rỉ khí chết người (methyl isocyanate) tại một nhà máy công nghiệp nặng của Union Carbide ở Bhopal, Ấn Độ: Bản khai có tuyên thệ của chính phủ năm 2006 nêu rõ rằng vụ rò rỉ đã gây ra 558.125 trường hợp thương tích, bao gồm 38.478 trường hợp thương tích cục bộ tạm thời và khoảng 3.900 trường hợp thương tích nghiêm trọng và vĩnh viễn. Những người khác ước tính rằng 8.000 người đã chết trong vòng hai tuần và 8.000 người khác hoặc nhiều hơn đã chết vì các bệnh liên quan đến khí.
– 1857: Tiểu thuyết gia người Ba Lan Joseph Conrad (1857-1924) sinh ra tại Ukraine (với tên Josef Teodor Konrad Korzeniowski). Mặc dù không nói được tiếng Anh ở tuổi 20, ông đã trở thành một tiểu thuyết gia xuất sắc, nổi tiếng nhất với những câu chuyện về cuộc sống trên biển bao gồm Heart of Darkness và Lord Jim.
04/12: – 1791 – The Observer, hiện là tờ báo Chủ Nhật lâu đời nhất thế giới, lần đầu tiên được xuất bản tại Anh. -1829 – Người Anh cấm tục lệ “suttee” ở Ấn Độ, theo truyền thống phụ nữ Ấn Độ thường tự thiêu đến chết trên giàn hỏa táng của chồng. -1918 – Vương quốc của người Serb, người Croatia và người Slovenia được công bố. -1943 – Trong Thế chiến II, Hội nghị Cairo lần thứ hai đã diễn ra, có sự tham dự của Thủ tướng Churchill, Tổng thống Roosevelt và Tổng thống Inonu của Thổ Nhĩ Kỳ.
05/12:
-1492 – Christopher Columbus phát hiện ra Haiti. -1791 – Wolfgang Amadeus Mozart qua đời trong cảnh bần cùng ở tuổi 35 tại Vienna, Áo. Ông đã bị bệnh nặng và suy yếu nhanh chóng, dẫn đến suy đoán rằng ông đã bị đầu độc, mặc dù sau đó đã được chứng minh là sai. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, ông đã sáng tác hơn 600 tác phẩm âm nhạc và được coi là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại nhất. -1901:- Walt Disney (1901-1966) sinh ra tại Chicago, Illinois. Khi còn nhỏ, ông thích vẽ động vật trang trại và đã có được công việc là một họa sĩ. Ông chuyển đến Hollywood và vào năm 1928 đã sản xuất Steamboat Willie, vai chính là Mickey Mouse, trong bộ phim hoạt hình đầu tiên có phối hợp âm thanh. Năm 1937, ông phát hành bộ phim hoạt hình dài tập của mình, Nàng Bạch Tuyết và Bảy Chú Lùn. Ông đã mở công viên giải trí Disneyland tại Anaheim, California, vào năm 1955. Năm năm sau khi ông qua đời, Disney World đã khai trưong tại Florida. Công ty do ông thành lập hiện đã phát triển thành một kiểu vương quốc giải trí toàn cầu.
06/12:
-1877 – Tại phòng thí nghiệm của mình ở West Orange, New Jersey, Thomas Edison đã đọc bài thơ thiếu nhi “Mary had a Little Lamb…” trong khi trình diễn máy hát mới phát minh của mình, sử dụng một ống trụ quay được bọc trong giấy bạc để ghi lại âm thanh. -1917 – Hai con tàu va chạm tại Halifax, Nova Scotia, gây ra một vụ nổ khiến hơn 1.500 người thiệt mạng và 8.000 người bị thương. Con tàu Imo của Na Uy đã va chạm với tàu chở đạn dược Mont Blanc của Pháp chở đầy hàng tiếp tế cho cuộc chiến tranh ở châu Âu, bao gồm 5.000 tấn thuốc nổ TNT. Một cơn sóng thần do vụ nổ gây ra đã phá hủy phần lớn thành phố. -1971 – Cộng hòa Dân chủ Bangladesh, trước đây là Đông Pakistan, được Ấn Độ công nhận. Sau đó, Pakistan đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Ấn Độ.
– Nhà thơ người Mỹ Alfred Joyce Kilmer (1886-1918) sinh ra tại New Brunswick, New Jersey. Nổi tiếng nhất với bài thơ Trees, xuất bản năm 1913. Ông đã tử trận trong Thế chiến thứ nhất gần Ourcy, Pháp. Trại Kilmer của Quân đội Hoa Kỳ được đặt theo tên ông để vinh danh – Phóng viên ảnh Alfred Eisenstaedt (1898-1995) sinh ra tại Dirschau, Phổ. Nổi tiếng nhất với những bức ảnh bìa tạp chí Life, bao gồm cả bức ảnh một thủy thủ hôn một y tá tại Quảng trường Thời đại, kỷ niệm ngày kết thúc Thế chiến thứ II.
07/12:
-Năm 43 trước Công nguyên – Cicero (Marcus Tullius) qua đời. Ông là một nhà văn, chính khách và được coi là nhà hùng biện vĩ đại nhất của La Mã cổ đại.
– 1787 – Delaware trở thành tiểu bang đầu tiên thông qua hiến pháp mới của Hoa Kỳ.
– 1941 – Căn cứ Hải quân Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng, Hawaii, bị gần 200 máy bay Nhật Bản tấn công trong một cuộc đột kích kéo dài hơn một giờ và khiến gần 3.000 người Mỹ thiệt mạng.
08/12:
-1940 – Trong chiến dịch Blitz, Hạ viện Anh và Tháp London đã bị hư hại nghiêm trọng trong một cuộc không kích qua đêm của máy bay ném bom Đức vào London. (xem 29/12: Blitz)
– 1941 – Một ngày sau cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng, Hoa Kỳ và Anh tuyên chiến với Nhật Bản.
– 1980 – Cựu nhạc sĩ Beatle John Lennon bị ám sát tại Thành phố New York.
– 1987 – Tổng thống Ronald Reagan và Tổng thư ký Liên Xô Mikhail Gorbachev đã ký Hiệp ước INF loại bỏ tất cả các tên lửa hạt nhân tầm trung và tầm ngắn.
– 1991 – Liên Xô (Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết) không còn tồn tại nữa, khi các nhà lãnh đạo của Nga, Byelorussia và Ukraine ký một thỏa thuận thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập. Các nước cộng hòa còn lại của Liên Xô cũ, ngoại trừ Gruzia, đã gia nhập Cộng đồng mới.
-1765 – Nhà phát minh máy tỉa hột bông Eli Whitney (1765-1825) sinh ra tại Westboro, Massachusetts. Phát minh của ông sử dụng răng giống như lược để loại bỏ hạt từ bông đã thu hoạch và có tác động to lớn đến nền kinh tế của miền Nam. Đến năm 1800, sản lượng bông tăng từ khoảng 3.000 kiện một năm lên 73.000 kiện. Ông cũng phát triển khái niệm sản xuất hàng loạt các bộ phận có thể thay thế và dây chuyền lắp ráp.
-1861 – Nhà sáng lập General Motors William C. “Billy” Durant (1861-1947) sinh ra tại Boston, Massachusetts.
09/12:
-1992 – Cung điện Buckingham tuyên bố việc ly thân giữa Hoàng tử Charles và Công nương xứ Wales, Dianna.
– 1993 – Các phi hành gia Hoa Kỳ đã hoàn thành công việc sửa chữa Kính viễn vọng Không gian Hubble kéo dài năm ngày trong không gian -trị giá 3 tỷ đô la.
– 1998 – Các chính trị gia Thụy Sĩ đã bầu nữ Bộ trưởng Nội vụ Ruth Dreifuss làm tổng thống, khiến bà trở thành người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo chính phủ Thụy Sĩ.
1608 – Nhà thơ người Anh John Milton (1608-1674) sinh ra tại London. Được coi là chỉ đứng sau Shakespeare về tầm quan trọng, các tác phẩm của ông bao gồm: Paradise Lost, Paradise Regained, Samson Agonistes, các tập sách nhỏ Of Reformation Touching Church Discipline, The Doctrine and Discipline of Divorce, The Tenure of Kings and Magistrates và Pro Populo Anglicano.
1886 – Nhà công nghiệp người Mỹ Clarence Birdseye (1886-1956) sinh ra tại Brooklyn, New York. Ông đã phát triển phương pháp đông lạnh thực phẩm và là một trong những người sáng lập General Foods Corp.
10/12:
-1896 – Nhà hóa học người Thụy Điển Alfred Nobel qua đời tại San Remo, Ý. Di chúc của ông quy định rằng thu nhập từ tài sản trị giá 9 triệu USD của ông sẽ được sử dụng để trao giải thưởng cho những người đóng góp có giá trị lớn cho nhân loại. Những người nhận giải Nobel được lựa chọn bởi một ủy ban của quốc hội Na Uy. Các giải thưởng về Hòa bình, Vật lý, Hóa học, Y học, Văn học và Kinh tế được trao hàng năm trong một nghi lễ ở Stockholm, Thụy Điển, nhân ngày giỗ của ông. Mỗi giải thưởng trị giá khoảng 1 triệu USD.
-1898 – Hiệp ước Paris được ký kết giữa đại diện của Hoa Kỳ và Tây Ban Nha sau thất bại của Tây Ban Nha trong Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ. Theo hiệp ước, Hoa Kỳ đã giành được Quần đảo Philippine, các đảo Guam và Puerto Rico, và một thỏa thuận của Tây Ban Nha để rút khỏi Cuba. Hiệp ước được thông qua bằng một phiếu bầu duy nhất tại Thượng viện Hoa Kỳ vào ngày 06/02/1899 và được Tổng thống William McKinley ký bốn ngày sau đó.
– 1941 – Trong Thế chiến II, các thiết giáp hạm Repulse và Prince of Wales của Anh đã bị máy bay chiến đấu Nhật Bản đánh chìm ở Biển Đông Trung Hoa, giết chết gần 800 thủy thủ trên tàu.
–1948 – Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua và công bố Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.
– 1950 – Tiến sĩ Ralph Bunche trở thành người Mỹ gốc Phi đầu tiên được trao Giải Nobel Hòa Bình, vì những nỗ lực làm trung gian hoà giải giữa Israel và các quốc gia Ả Rập lân cận vào năm trước.
-1787:- Nhà giáo Thomas Gallaudet (1787-1851) sinh ra tại Philadelphia, Pennsylvania. Ông là người đồng sáng lập Trường dành cho người khiếm thính Hoa Kỳ tại Hartford, Connecticut, vào năm 1817.
-1851- Thủ thư người Mỹ Melvil Dewey (1851-1931) sinh ra tại Adams Center, New York. Ông đã phát minh ra sách cho hệ thống phân loại số thập phân Dewey, ủng hộ cải cách chính tả và thúc đẩy sử dụng hệ tiêu chuẩn mét.
11/12:
-1901 – Tín hiệu vô tuyến xuyên Đại Tây Dương đầu tiên được Guglielmo Marconi truyền từ Cornwall, Anh, đến St. John’s, Newfoundland.
– 1936 – Vua Edward VIII thoái vị ngai vàng của Anh để kết hôn với người phụ nữ tôi yêu , một người Mỹ đã ly hôn hai lần tên là Wallis Warfield Simpson. Họ kết hôn tại Pháp vào ngày 03/6/1937, và sau đó sống ở Paris.
-11/12/2019- ngày mất của Chuẩn tướng Phạm Duy Tất (sinh tháng 8-1934-2019), nguyên là một tướng lĩnh Bộ Binh, sau chuyển sang Binh chủng Lực lượng Đặc biệt của QLVNCH, cấp bậc Chuẩn tướng.
-12/12:
-1805: -Người theo chủ nghĩa bãi nô William LLoyd Garrison (1805-1879) sinh ra tại Newburyport, Massachusetts. Ông sáng lập tờ báo chống chế độ nô lệ Liberator vào năm 1831 và xuất bản tờ báo này trong năm mươi năm sau đó. Ông cũng đi khắp nước Mỹ để đưa ra những bài phát biểu chống chế độ nô lệ gay gắt, thậm chí còn ủng hộ miền Bắc ly khai khỏi miền Nam. Năm 1854, ông đã đốt một bản sao Hiến pháp Hoa Kỳ, tuyên bố, “Thế nên, hãy tiêu diệt mọi sự thỏa hiệp với chế độ chuyên chế!”
-1821: – Nhà văn người Pháp Gustave Flaubert (1821-1880) sinh ra tại Rouen. Nổi tiếng nhất với tiểu thuyết Madame Bovary, một câu chuyện về cuộc nổi loạn của một người phụ nữ chống lại xã hội trung lưu.
13/12:
-1642 – New Zealand được nhà hàng hải người Hà Lan Abel Tasman của Công ty Đông Ấn Hà Lan khám phá.
– 1862 – Trong Nội chiến Hoa Kỳ, Trận Fredericksburg đã diễn ra tại Virginia khi Quân đội Liên bang Potomac dưới quyền Tướng Burnside phải chịu một thất bại đáng kể, mất 12.653 người sau 14 cuộc tấn công trước mặt vào Quân Nổi dậy cố thủ vững chắc trên Đồi Marye. Một người lính Liên bang nhận xét. Chúng ta cũng có thể thử đi đến địa ngục – Quân Liên minh miền Nam thiệt hại 5.309 người. Chiến tranh quá khủng khiếp như thế này là một điều thật hay- chúng ta có thể đạt tới việc yêu thích nó -, Đại tướng thống lãnh quân đội Liên minh miền Nam Robert E. Lee tuyên bố trong cuộc giao tranh.
13/12/1937 – 01/1938 Sự khởi đầu của một trong những tội ác tồi tệ nhất của Thế chiến II khi thành phố Nam Kinh (Nanjing) của Trung Quốc bị quân Nhật chiếm giữ. Trong sáu tuần tiếp theo, Cuộc cưỡng hiếp Nam Kinh đã xảy ra, trong đó quân lính Nhật Bản đã tấn công ngẫu nhiên, cưỡng hiếp và giết hại bừa bãi khoảng 200.000 người Trung Quốc. -Thảm sát Nam Kinh, cũng thường được gọi là vụ Cướp phá Nam Kinh , là một tội ác chiến tranh do quân đội Nhật Bản tiến hành bên trong và xung quanh Nam Kinh, Trung Quốc sau khi thành phố này rơi vào tay Quân đội Thiên hoàng Nhật Bản ngày 13 tháng 12 năm 1937. Thời gian diễn ra cuộc thảm sát vẫn chưa được biết rõ, dù bạo lực đã kết thúc trong vòng sáu tuần, cho tới đầu tháng 2 năm 1938.
Xác chết của các nạn nhân vụ thảm sát trên bờ sông Dương Tử với một người lính Nhật Bản đứng gần đó
-1991 – Bắc và Nam Triều Tiên đã ký một hiệp ước hòa giải và bất xâm lược, hiệp ước này cũng chính thức chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên, mặc dù giao tranh thực tế đã chấm dứt vào năm 1953.
1797-Nhà văn Đức Heinrich Heine (1797-1856) sinh ra tại Dusseldorf. ông được nổi tiếng với tuyên bố đưa ra một trăm năm trước khi sự việc sẽ xảy đến là Đức Quốc xã đốt sách ở Đức :- Nơi nào sách bị đốt, con người đã đựơc định trước cũng sẽ bị đốt.
-1818:- Mary Todd (1818-1882) sinh ra tại Lexington, Kentucky. Bà trở thành vợ của Abraham Lincoln, Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ.
Giáo sĩ kiêm nhạc sĩ người Mỹ Phillips Brooks (1835-1893) sinh ra tại Boston, Massachusetts. Ông đã viết lời cho bài hát Christmas Carol nổi tiếng, O Little Town of Bethlehem.
14/12:
1503 – Bác sĩ người Pháp Nostradamus (1503-1566) sinh ra tại St. Remy, Provence, Pháp (với tên Michel de Notredame). Ông đã viết những dự đoán chiêm tinh bằng những câu thơ bốn câu có vần điệu, được nhiều người tin là có thể tiên đoán tương lai.
-1799: -Tổng thống George Washington qua đời ở Mount Vernon
-1819: Tổng thống James Monroe đã ký một nghị quyết của quốc hội thừa nhận Alabama là tiểu bang thứ 22 tại Hoa Kỳ
– 1861 – Tại Anh, Hoàng tử Albert qua đời vì bệnh thương hàn tại Lâu đài Windsor. Ông là phu quân của Nữ hoàng Victoria của Anh. Sau khi ông qua đời, Nữ hoàng đã trải qua một thời gian dài để tang.
1896 – Tướng James Doolittle (1896-1993) của Thế chiến II sinh ra tại Alameda, California. Vào ngày 18 tháng 4 năm 1942, ông chỉ huy một phi đội máy bay ném bom B-25 được phóng từ tàu sân bay Hornet để thực hiện cuộc không kích đầu tiên của Mỹ trong cuộc chiến chống lại lục địa Nhật Bản. Ông cũng chỉ huy Không quân số 8 trong cuộc xâm lược Normandy và được trao tặng Huân chương Danh dự.
-1911 – Nhà thám hiểm người Na Uy Roald Amundsen trở thành người đầu tiên đến Nam Cực.
– 1918 – Phụ nữ Anh lần đầu tiên bỏ phiếu trong một cuộc tổng tuyển cử và được phép ra tranh cử.
-1994: Đập Tam Hiệp ( Hán-Việt: Tam Hiệp đại bá; là đập thủy điện nằm chặn ngang sông Trường Giang (sông dài thứ ba trên thế giới) tại Tam Đẩu Bình, Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Công trình được khởi công xây dựng vào năm 1994. Đập Tam Hiệp hiện là đập thủy điện lớn nhất thế giới. Hồ chứa nước của nó đã bắt đầu chứa nước vào ngày 1 tháng 6 năm 2003, chiếm toàn bộ khu vực Tam Hiệp, vị trí đập nằm giữa thành phố Nghi Xương (tỉnh Hồ Bắc) và Phù Lăng (thành phố Trùng Khánh).
Tuyên ngôn Nhân quyền (10 tu chính án đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ) có hiệu lực sau khi được Virginia phê chuẩn.
-15/12/1840 – Napoleon được chôn cất tại Les Invalides ở Paris. Ông đã qua đời khi lưu vong trên đảo Saint Helena sau khi mất quyền lực.
-1890 – Thủ lĩnh Sioux Sitting Bull (tên theo thổ dân là Tatanka-yatanka) đã bị giết trong một cuộc giao tranh với quân lính Hoa Kỳ dọc theo Sông Grand ở Nam Dakota khi các chiến binh của ông cố gắng ngăn chặn việc bắt giữ ông.
– 1939 – Phim Cuốn theo chiều gió đã có buổi ra mắt thế giới tại Atlanta, được giới thiệu bởi nhà sản xuất David O. Selznick với các tài tử Vivien Leigh và Clark Gable.
-1961 – Đại tá SS-Đức Quốc xã Adolf Eichmann bị kết án tử hình tại Jerusalem vì vai trò của ông trong cuộc diệt chủng Holocaust. Eichmann đã tổ chức trục xuất người Do Thái từ khắp châu Âu bị chiếm đóng đến các trại tử thần của Đức Quốc xã.
– 1964 – Canada đã thông qua một lá cờ quốc gia mới có hình lá phong đỏ trên nền trắng.
– Chế độ độc tài của Tướng Augusto Pinochet đã kết thúc ở Chile. Pinochet đã lên nắm quyền vào năm 1973 sau khi quân đội lật đổ chính phủ được bầu cử một cách dân chủ.
– 1995 – Các nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu tuyên bố đồng tiền mới của họ sẽ được gọi là Euro.
-1832 – Kỹ sư người Pháp Alexandre Eiffel (1832-1923) sinh ra tại Dijon, Pháp. Ông đã thiết kế Tháp Eiffel cho Triển lãm quốc tế Paris năm 1889. Ông cũng đã giúp thiết kế Tượng Nữ thần Tự Do.
16/12:
1773 – Sự kiện Tiệc trà Boston xảy ra khi những nhà hoạt động thực dân cải trang thành người da đỏ Mohawk lên tàu Anh neo đậu tại Cảng Boston và đổ 342 thùng trà đắt tiền xuống nước.
Ngày 16 tháng 12 năm 1835 – Một đám cháy lớn bùng phát ở Thành phố New York, phá hủy hơn 600 tòa nhà, gây thiệt hại ước tính 20 triệu đô la.
-1944 – Trong Thế chiến II ở Châu Âu, Trận Bulge bắt đầu khi quân Đức phát động một cuộc phản công lớn ở Rừng Ardennes dọc theo mặt trận dài 75 dặm, khiến quân đội Hoa Kỳ bất ngờ. Được hỗ trợ bởi thời tiết sương mù và tuyết rơi, quân Đức đã xâm nhập 65 dặm vào phòng tuyến của Đồng minh vào cuối tháng 12. Cuộc tiến công của Đức cuối cùng đã bị Montgomery chặn lại trên sông Meuse và Patton chặn tại Bastogne. Khi thời tiết quang đãng, máy bay Đồng minh tấn công luc quân và các tuyến tiếp tế của Đức và cuộc phản công đã thất bại. Ước tính có 77.000 quân Đồng minh và 130.000 quân Đức thương vong.
-1770:-Ludwig van Beethoven (1770-1827) sinh ra tại Bonn, Đức. Ông đã sáng tác nên những bản nhạc mạnh mẽ, giàu cảm xúc và được coi là nhà soạn nhạc giao hưởng vĩ đại nhất. Ông bị mất thính lực trước năm 30 tuổi và đến thời điểm bản giao hưởng cuối cùng (Bản giao hưởng số 9) của mình ra mắt, ông đã hoàn toàn bị điếc. Năm 1824, ông đã chỉ huy Bản giao hưởng số 9 tại buổi ra mắt hàng đầu thế giới ở Vienna mặc dù ông không thể nghe thấy cả dàn nhạc lẫn tiếng vỗ tay. Tổng cộng, ông đã sáng tác chín bản giao hưởng, 32 bản sonata piano, năm bản concerto piano, 17 bản tứ tấu đàn dây, mười bản sonata cho violin và piano, vở opera Fidelio, Mass in C Major, Missa Solemnis và các tác phẩm nhạc thính phòng khác.
-1775:- Tiểu thuyết gia người Anh Jane Austen (1775-1817) sinh ra tại Hampshire, Anh. Bà viết những câu chuyện tình yêu về cuộc sống của giới quý tộc ở vùng nông thôn nước Anh. Nổi tiếng nhất với tác phẩm Lý trí và Tính Đa Cảm, Kiêu Hãnh và Định Kiến, Tu viện Northanger và Emma. Trong những năm gần đây, các tác phẩm của bà đã được chuyển thể thành phim truyền hình ngắn tập và phim điện ảnh rất được ưa chuộng.
-1971 – Cuộc chiến giữa Ấn Độ và Pakistan về Đông Pakistan (sau này là Bangladesh) kết thúc khi 90.000 quân Pakistan đầu hàng.
– 1903 – Sau ba năm thử nghiệm, Orville và Wilbur Wright đã thực hiện được chuyến bay đầu tiên bằng máy bay có động cơ và được điều khiển. Họ đã thực hiện bốn chuyến bay gần Kitty Hawk, Bắc Carolina, chuyến bay dài nhất kéo dài khoảng một phút.
-1760:-Deborah Sampson (1760-1827) sinh ra tại Plympton, Massachusetts. Trong Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ, bà đã cải trang thành nam giới và nhập ngũ vào Quân đội Lục địa, lấy tên Robert Shurtleff. Mặc dù bị thương trong trận chiến, bà không bị phát hiện cho đến khi một cơn sốt nặng khiến bà bị lộ danh tính. Bà bị đuổi khỏi quân đội vào năm 1783. Về sau, bà đã giảng bài chuyên nghiệp về những trải nghiệm thời chiến của mình
18/12:
-1916: -Trong Thế chiến thứ nhất, Trận Verdun đã kết thúc sau mười tháng chiến đấu, trong đó 543.000 lính Pháp và 434.000 lính Đức đã thiệt mạng.
-1940: – Adolf Hitler ra lệnh cho Bộ Tổng tham mưu Đức bắt đầu lập kế hoạch cho Chiến dịch Barbarossa, cuộc xâm lược nước Nga Xô Viết.
-1956 – Nhật Bản được kết nạp vào Liên hợp quốc.
-1913: -Thủ tướng Tây Đức Willy Brandt (1913-1992) sinh ra tại Lubeck, Đức (tên thật là Herbert Ernst Karl Frahm). Trong thời kỳ Hitler nắm quyền, ông là người lưu vong chống Đức Quốc xã. Ông trở về Đức sau Thế chiến II, tham gia chính trường và được bầu làm thủ tướng vào năm 1969. Ông đã giành giải Nobel Hòa bình năm 1971 vì những nỗ lực cải thiện quan hệ Đông-Tây trong Chiến tranh Lạnh.
19/12:
1732 – Benjamin Franklin lần đầu tiên xuất bản niên giám Poor Richard’s Almanac bao gồm dự đoán thời tiết, hài hước, tục ngữ và châm ngôn, cuối cùng bán được gần 10.000 bản mỗi năm.
– 1946 – Chiến tranh nổ ra ở Đông Dương thuộc Pháp khi Hồ Chí Minh tấn công người Pháp nhằm mục đích trục xuất họ khỏi Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc xung đột kéo dài ba mươi năm, cuối cùng dẫn đến sự tham gia mạnh mẽ của Hoa Kỳ và kết thúc bằng chiến thắng của Cộng sản vào tháng 4 năm 1975 sau khi Hoa Kỳ rút khỏi Nam Việt Nam.
-1875:- Nhà sử học Carter Woodson (1875-1950) sinh ra tại New Canton, Virginia. Ông đã giới thiệu việc nghiên cứu về người da màu đến các trường cao đẳng và đại học Hoa Kỳ. Các tác phẩm của ông bao gồm: The Negro in Our History và The Education of the Negro Prior to 1861. (Người Da Màu trong Lịch Sử của Chúng Ta và Giáo Dục cho Người Da Màu trước năm 1861)-
21/12:
– Mùa đông bắt đầu ở Bắc bán cầu. Ở Nam bán cầu, hôm nay là đầu mùa hè. – 1936: Hùng Cường (tên thật: Trần Kim Cường, 21/12/1936 – 01/5/1996) là một ca sĩ, nghệ sĩ cải lương, kịch sĩ và diễn viên điện ảnh người Việt Nam. Ông nổi tiếng từ thập niên 1950 tại Sài Gòn với những ca khúc nhạc tiền chiến và sau là nhạc vàng. Ông còn là tác giả của nhiều ca khúc. Bên cải lương, ông kết hợp với nghệ sĩ Bạch Tuyết tạo thành cặp sóng thần cải lương cực kỳ nổi tiếng thập niên 1960–1970 và bên tân nhạc, ông kết hợp với ca sĩ Mai Lệ Huyền tạo thành cặp sóng thần của tân nhạc khi ấy với thể loại “kích động nhạc”. Ông dùng bút danh Nhất Quốc Tâm khi sáng tác thơ. Cùng với Duy Khánh, Chế Linh và Nhật Trường, ông được xem như là một trong bốn giọng nam nổi tiếng nhất của tân nhạc miền Nam và được người đời xưng tụng là Tứ trụ nhạc vàng.
-1846 – Thuốc gây mê được sử dụng lần đầu tiên tại Anh trong một ca phẫu thuật tại Bệnh viện University College ở London do Robert Liston thực hiện, ông đã cắt cụt chân của một người giúp việc.
– 1945 – Tướng George Patton của Thế chiến II qua đời tại Đức sau một vụ tai nạn xe hơi. Ông bị thương vào ngày 09/12 gần Mannheim và được đưa đến một bệnh viện ở Heidelberg, ông qua đời ở . Ông được chôn cất tại Luxembourg. Được mệnh danh là “Old Blood and Guts”, ông đã từng tuyên bố trong chiến tranh, Chúng ta sẽ tấn công và tấn công cho đến khi kiệt sức, và sau đó chúng ta sẽ tấn công lại.
Bức ảnh phổ biến của “Old Blood and Guts” tương phản với chân dung về một nhà lãnh đạo tài trí được mô tả bởi các sử gia. Trong một trong những chiến dịch thành công của mình, tướng Patton đã tuyên bố: So với chiến tranh, mọi hình thức nỗ lực của con người đều trở nên nhỏ bé.
-1972 – Đông và Tây Đức thiết lập quan hệ ngoại giao, chấm dứt gần hai thập kỷ thù địch trong Chiến tranh Lạnh và mở đường cho sự công nhận của quốc tế đối với Đông Đức.
– 1988 – Chuyến bay 103 của Pan American phát nổ giữa không trung do một quả bom khủng bố và đâm xuống Lockerbie, Scotland. Tất cả 259 hành khách và thành viên phi hành đoàn cùng với 11 người trên mặt đất đều thiệt mạng.
-1993 – Tổ chức KGB (Cảnh sát mật Liên Xô) bị Tổng thống Nga Boris Yeltsin bãi bỏ. Ủy ban An ninh Quốc gia (tiếng Nga: Комитет государственной безопасности (КГБ), chuyển tự Komitet gosudarstvennoy bezopasnosti (KGB)) còn được gọi là Ủy ban An ninh Nhà nước, là lực lượng cảnh sát mật chính, và là cơ quan an ninh của Liên Xô từ năm 1954 tới khi Liên Xô tan rã năm 1991.- thực hiện các chức năng an ninh nội bộ, tình báo và cảnh sát mật.
1879: – Lãnh đạo Liên Xô Josef Stalin (1879-1953) sinh ra tại làng Gori ở Georgia, Nga (tên thật là Iosif Vissarionovich Dzhugashvili).
-1783 – Sau chuyến hành trình đắc thắng từ New York đến Annapolis, Maryland, George Washington, Tổng tư lệnh chiến thắng của Quân đội Cách mạng Hoa Kỳ, đã xuất hiện trước Quốc hội và tự nguyện từ chức.
-1858: – Nhà soạn nhạc người Ý Giacomo Puccini (1858-1924) sinh ra tại Lucca, Tuscany. Được xem là nhà soạn nhạc opera vĩ đại nhất của Ý, ông được biết đến nhiều nhất với các tác phẩm nổi tiếng như Madama Butterfly và La Boheme.
Lady Bird Johnson (1912-2007) sinh ra tại Karnack, Texas (tên thật là Claudia Alta Taylor). Khi còn nhỏ, một y tá gia đình đã tuyên bố rằng Claudia “xinh đẹp như một con bọ rùa”(lady bird- ladybug). Biệt danh đó được giữ nguyên cho đến nay. Bà đã ở bên chồng mình là Lyndon Johnson trên chiếc Không lực Một Air Force One khi ông tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ sau khi Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát . Bà đã chứng tỏ mình là một Đệ Nhất phu nhân nhân hậu, được nhớ đến vì chiến dịch chống xả rác, kêu gọi người dân giúp “Làm đẹp nước Mỹ”.
-1888 – Họa sĩ người Hà Lan Vincent van Gogh đã cắt tai trái của mình trong cơn trầm cảm.
-1901:- Nhật hoàng Hirohito (1901-1989) sinh ra tại Tokyo. Ông là Nhật hoàng thời chiến của Nhật Bản và được phép giữ nguyên vị trí của mình sau chiến tranh.
– 1913 – Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật Dự trữ Liên bang thành lập Hệ thống Dự trữ Liên bang để hoạt động như ngân hàng trung ương của quốc gia. Trách nhiệm chính bao gồm: thực hiện chính sách tiền tệ; tác động đến hoạt động cho vay và đầu tư của các ngân hàng thương mại; và giám sát chi phí và tính khả dụng của tiền và tín dụng.
– 1947- John Bardeen, Walter Brattain và William Shockley phát minh Bóng bán dẫn (loại linh kiện bán dẫn chủ động thường được sử dụng như một phần tử khuếch đại hoặc một khóa điện tử) tại Phòng thí nghiệm Bell; họ đã cùng chia giải Nobel cho phát minh này, tạo nên một cuộc cách mạng điện tử trên toàn thế giới.
1948 – Hideki Tojo bị treo cổ vì tội ác chiến tranh. Ông từng là thủ tướng Nhật Bản từ năm 1941 đến 1944. Sau khi Nhật Bản thất bại trong Thế chiến II, ông bị bắt vì tội phạm chiến tranh, bị tòa án quân sự xét xử và bị kết án tử hình. Ông bị treo cổ cùng với sáu nhà lãnh đạo quân sự Nhật Bản khác trong thời chiến tại Nhà tù Sugamo ở Tokyo, bản án do Quân đoàn 8 của Hoa Kỳ thực hiện.
Ngày 23 tháng 12 năm 1987 – Dick Rutan và Jeana Yeager lập kỷ lục thế giới mới với 216 giờ bay liên tục vòng quanh thế giới mà không cần tiếp nhiên liệu. Máy bay Voyager của họ đã bay được 24.986 dặm với tốc độ khoảng 115 dặm một giờ.
24/12:
-1745: – Nhà yêu nước người Mỹ Benjamin Rush (1745-1813) sinh ra tại một đồn điền ở Byberry, Pennsylvania. Ông là người ký Tuyên ngôn Độc lập, một bác sĩ và nhà nhân đạo, người có những bài viết về bệnh tâm thần đã mang lại cho ông danh hiệu Cha đẻ của ngành Tâm thần học. Ông cũng phản bác lại quan niệm phổ biến rằng rượu nói chung là tốt cho con người và là một trong những người đầu tiên mô tả chứng nghiện rượu là một căn bệnh mãn tính.
– 1814 – Hiệp ước Ghent giữa Mỹ và Anh được ký kết, chính thức chấm dứt Chiến tranh 1812. – 1914 – Cuộc không kích đầu tiên của Đức vào Anh diễn ra khi một máy bay cánh đơn của Đức thả một quả bom xuống Dover, Anh, trong Thế chiến thứ nhất. – 1942 – Tên lửa dẫn đường đất đối đất đầu tiên, sau này được gọi là Bom bay V-1, được kỹ sư tên lửa người Đức Wernher von Braun phóng. Được gọi là Bom Buzz vì tiếng động cơ vo ve lớn, chúng được Đức Quốc xã sử dụng chống lại Anh bắt đầu từ tháng 9 năm 1944-
– 1943 – Tướng Dwight D. Eisenhower được bổ nhiệm làm Tổng tư lệnh Lực lượng viễn chinh Đồng minh chuẩn bị cho Ngày D-Day Chiến dịch Overlord, hay Cuộc tập trận Hornpipe, là mật danh của Trận Normandie, một chiến dịch quân sự quy mô lớn của quân đội Đồng Minh tại miền Bắc nước Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Overlord được mở màn vào ngày 6 tháng 6 năm 1944 bằng các cuộc đổ bộ lớn vào các bãi biển ở vùng Normandie, có mật danh là Chiến dịch Neptune (Ngày D). Đây là chiến dịch tấn công từ biển vào đất liền lớn nhất trong lịch sử, với sự góp mặt của hơn 1.200 máy bay, hơn 5.000 tàu chiến các loại và gần 160.000 binh lính Đồng Minh tham gia đổ bộ trong ngày đầu tiên, tức ngày 6 tháng 6 năm 1944, và có hơn 2.000.000 binh lính Đồng Minh đã có mặt tại Pháp tính đến thời điểm cuối tháng 8 năm 1944.
– 1990 – Vào đêm Giáng sinh, tiếng chuông của Nhà thờ St. Basil ở Moscow ngân vang lên lần đầu tiên kể từ khi Lenin qua đời.
25/12:
Ngày lễ Giáng sinh, kỷ niệm ngày sinh của Chúa Jesus thành Nazareth. Mặc dù ngày sinh chính xác của Ngài không được biết đến, nhưng ngày này đã được Giáo hội phương Tây (Công giáo La Mã) kỷ niệm vào ngày 25 tháng 12 kể từ năm 336 sau Công nguyên.
– 1066 – William the Conqueror được trao vương miện là Vua của Anh sau khi ông xâm lược Anh từ Pháp, đánh bại và giết chết Vua Harold trong Trận Hastings, sau đó tiến vào London.
– 1868 – Tổng thống Andrew Johnson đã ban hành lệnh ân xá chung cho tất cả những người tham gia Nội chiến.
-1926 – Hirohito trở thành Hoàng đế Nhật Bản.
– 1989 – Tại Romania, một chương trình truyền hình về bản giao hưởng Giáng sinh đã bị gián đoạn với thông báo rằng Nicolae Ceausescu và vợ ông đã bị hành quyết sau một cuộc nổi dậy của người dân. Một liên minh ủng hộ dân chủ sau đó đã nắm quyền kiểm soát. Ceausescu, một người Cộng sản kiên định, đã bị lật đổ sau khi ra lệnh cho cảnh sát nhà nước mặc áo đen của ông đàn áp một cuộc bạo loạn ở thị trấn Timisorara, dẫn đến cái chết của khoảng 4.500 người
-1642:- Isaac Newton (1642-1727) sinh ra tại Woolsthorpe, Lincolnshire, Anh. Ông là một nhà toán học, nhà khoa học và tác giả, nổi tiếng nhất với tác phẩm Philosophiae Naturalis Principia Mathematica về lý thuyết luật hấp dẫn. Ông mất tại London và là nhà khoa học đầu tiên được vinh danh và chôn cất tại Tu viện Westminster.
-1821: – Y tá và nhà từ thiện người Mỹ Clara Barton (1821-1912) sinh ra tại Oxford, Massachusetts. Bà từng là y tá trong Nội chiến và thành lập Hội Chữ Thập Đỏ Hoa Kỳ vào năm 1881.
-1876: – Người sáng lập ra Cộng hòa Hồi giáo Pakistan, Mohammed Ali Jinnah (1876-1948) sinh ra tại Karachi.
-1899: – Diễn viên điện ảnh Humphrey Bogart (1899-1957) sinh ra tại Thành phố New York. Nổi tiếng nhất với các bộ phim The African Queen, The Maltese Falcon, Casablanca và To Have and Have Not.
26/12:
– Ngày tặng quà tại Vương quốc Anh và nhiều quốc gia khác, một ngày tặng quà khi những hộp thực phẩm, quần áo và các món quà khác theo truyền thống được tặng cho nhân viên, thương nhân và các nhà cung cấp dịch vụ khác.-ngày đó chủ nhà tặng quà cho người làm, người đưa thư, người giao hàng…) -1966: Ngày 26/12 – 01/01 – Kwanzaa, một lễ kỷ niệm gia đình của người Mỹ gốc Phi được thành lập vào năm 1966 để kỷ niệm các lễ hội thu hoạch truyền thống của châu Phi, tập trung vào sự đoàn kết gia đình, với lễ hội thu hoạch cộng đồng vào ngày thứ bảy. Kwanzaa có nghĩa là trái đầu mùa trong tiếng Swahili. -2004 – Ước tính có 230.000 người thiệt mạng và 1,5 triệu người mất nhà cửa khi một trận động đất mạnh 9,3 độ richter dưới đáy biển Ấn Độ Dương gây ra một loạt các cơn sóng thần khổng lồ ập vào bờ biển của một chục quốc gia bao gồm Indonesia, Sri Lanka, Thái Lan, Ấn Độ và Somalia. -Mao Trạch Đông (1893-1976) sinh ra tại tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Ông là một thủ thư, giáo viên, nhà cách mạng cộng sản người Trung Quốc, được coi là cha đẻ của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
27/12:
-1831 – Charles Darwin khởi hành từ Plymouth, Anh, trên con tàu HMS Beagle trong chuyến thám hiểm khoa học toàn cầu kéo dài năm năm của mình. Darwin đã thu thập hóa thạch và nghiên cứu thực vật và động vật, dần dần bắt đầu nghi ngờ rằng nhiều loài sinh vật đa dạng đã xuất hiện cùng một lúc (thuyết sáng tạo). Năm 1859, ông xuất bản Nguồn gốc các loài bằng phương tiện chọn lọc tự nhiên.
– 1927 – Josef Stalin củng cố quyền lực của mình ở Liên Xô bằng cách trục xuất đối thủ Leon Trotsky khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô.
-1945 – Quỹ Tiền tệ Quốc tế được thành lập tại Washington, D.C.
-1996 – Một phiên tòa xét xử tội diệt chủng đã bắt đầu liên quan đến vụ giết hại khoảng 800.000 người Tutsi ở Rwanda. Năm 1994, một cuộc nội chiến đẫm máu đã nổ ra giữa hai nhóm dân tộc chính, người Hutu và người Tutsi. Sau khi quân đội Hutu nắm quyền, họ đã tiến hành một chiến dịch thanh trừng sắc tộc chống lại người Tutsi. Người Tutsi là một nhóm dân tộc nói tiếng Bantu. Họ là nhóm dân tộc lớn thứ hai trong ba nhóm dân tộc chính ở Rwanda và Burundi, với bối cảnh lịch sử là những người chăn nuôi và chiến binh. -1571: – Nhà thiên văn học người Đức Johannes Kepler (1571-1630) sinh ra tại Wurttemberg, Đức. Được coi là cha đẻ của thiên văn học hiện đại, ông đã phát hiện ra hình elip (hình bầu dục) của quỹ đạo mà Trái đất và các hành tinh khác di chuyển quanh mặt trời với tốc độ thay đổi tùy theo khoảng cách của mỗi hành tinh so với mặt trời. – 1822: – Nhà hóa học-vi khuẩn học người Pháp Louis Pasteur (1822-1895) sinh ra tại Dole, Pháp. Ông đã phát triển quy trình thanh trùng để tiêu diệt vi khuẩn có hại bằng nhiệt và tìm ra cách phòng ngừa bệnh tằm – Các bệnh do vi khuẩn gây bệnh ở tằm được gọi chung là flacherie do tính chất mềm nhũn của ấu trùng bị bệnh.-, bệnh than, Nó có thể xảy ra ở 4 dạng là: da, phổi, ruột và tim. Các triệu chứng khởi phát từ một ngày đến hơn hai tháng sau khi nhiễm trùng. Ở dạng da, người bệnh có vết phồng rộp nhỏ và xung quanh sưng tấy, thường biến thành vết loét không đau với tâm màu đen.Dạng phổi có biểu hiện sốt, đau ngực và khó thở.[5] Dạng ruột có biểu hiện tiêu chảy, có thể kèm theo máu, đau bụng, buồn nôn và nôn. Dạng tiêm có biểu hiện sốt và áp xe tại chỗ tiêm thuốc – bệnh tả gà và bệnh dại.
28/12:
-1930: – Ngày sinh cua Ngô Hán Đồng (1930 – 1972) nguyên là một sĩ quan Pháo binh cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Sĩ quan Trừ bị do Chính phủ Quốc mở ra ở Nam phần với mục đích đào tạo sĩ quan người Việt phục vụ trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Ra trường ông được chọn về đơn vị Pháo binh. Hầu hết thời gian tại ngũ, ông đã phục vụ trong Binh chủng này. Ông sinh ngày 28/12/1930 trong một gia đình Nho học tại Hà Nội, Việt Nam. Năm 1951 ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II). Sau này, khi đang phục vụ trong Quân đội, ông ghi danh vào Đại học Luật khoa và tốt nghiệp Cử nhân Luật vào năm 1962. Ngày 25/2/1972, tham gia phái đoàn (do Chuẩn tướng Phan Đình Soạn, Tư lệnh phó Quân đoàn I làm Trưởng đoàn) dùng trực thăng bay từ Bộ Tư lệnh Quân đoàn I đến thăm tàu Hải quân Hoa Kỳ neo tại vịnh Đà Nẵng. Trên đường bay trở về cùng ngày, vì lý do kỹ thuật phi cơ bị rớt và chìm cách chân núi Hòn Hàn 2 cây số, ông bị tử thương,hưởng dương 42 tuổi. Vì hy sinh trong khi thi hành nhiệm vụ nên ông được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng và truy tặng Đệ tam đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng bội tinh với nhành Dương liễu.
-1832: – John C. Calhoun trở thành người Mỹ đầu tiên từ chức phó tổng thống. Ông phục vụ dưới thời Tổng thống John Quincy Adams và Andrew Jackson và từ chức sau một loạt bất đồng chính trị với Tổng thống Jackson. Sau đó, ông trở thành Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ từ Nam Carolina.
-1947: – Victor Emmanuel III, vị vua cuối cùng của Ý, qua đời khi đang lưu vong tại Alexandria, Ai Cập. Ông đã trở thành vua sau vụ ám sát cha mình vào năm 1900. Sau Thế chiến thứ nhất, ông bổ nhiệm Benito Mussolini thành lập nội các và sau đó không ngăn được phe Phát xít của Mussolini lên nắm quyền. Năm 1946, ông thoái vị và lưu vong.
29/12:
-1170 – Thomas Becket, Tổng giám mục Canterbury, bị bốn hiệp sĩ ám sát theo lệnh của Vua Henry II của Anh. -1808: Ngày sinh của Andrew Johnson (1808-1875), Tổng thống thứ 17 của Hoa Kỳ sinh ra tại Raleigh, Bắc Carolina. Ông là phó tổng thống của Abraham Lincoln và trở thành Tổng thống sau vụ ám sát Lincoln năm 1865. Ông trở thành Tổng thống đầu tiên bị Hạ viện luận tội. Ông được Thượng viện tha bổng chỉ với một phiếu bầu. Sau đó, ông phục vụ một thời gian ngắn với tư cách là Thượng nghị sĩ của Tennessee cho đến khi qua đời vào ngày 31 tháng 7 năm 1875.
-1890 – Các thành viên của Trung đoàn Kỵ binh số 7 của Hoa Kỳ đã thảm sát hơn 200 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em người Mỹ bản địa (Sioux) tại Wounded Knee Creek, Nam Dakota.
-1940 – Trong chiến dịch Blitz, máy bay Đức đã thả hàng nghìn quả bom cháy xuống trung tâm London, gây ra thiệt hại do hỏa hoạn tồi tệ nhất kể từ trận hỏa hoạn lớn năm 1666. Nhà thờ St. Paul vẫn tồn tại nhưng tám nhà thờ Wren khác cùng với Guildhall và Old Bailey đã bị hư hại nặng nề.Trận Đại hỏa hoạn London lần thứ hai vào 29-30/12/1940 là do một trong những cuộc không kích hủy diệt nhất của Blitz trong Thế chiến II gây ra. Cuộc không kích của Luftwaffe đã gây ra các đám cháy trên một diện tích lớn hơn diện tích của trận Đại hỏa hoạn London năm 1666, khiến một phóng viên người Mỹ phải nói trong một bức điện tín gửi đến văn phòng của mình rằng “Đợt Đại hỏa hoạn London lần thứ hai đã bắt đầu”.Các đám cháy bắt đầu từ cuộc không kích bao gồm một quả bom cháy đã phá vỡ mái vòm của Nhà thờ St Paul, nơi đang được một đội canh gác hỏa hoạn bảo vệ theo lệnh của Thủ tướng Winston Churchill. Blitz, (07/9/1940–11/5/1941), chiến dịch ném bom dữ dội do Đức Quốc xã thực hiện chống lại Vương quốc Anh trong Thế chiến II. Trong tám tháng, Luftwaffe đã thả bom xuống London và các thành phố chiến lược khác trên khắp nước Anh. Các cuộc tấn công được thủ tướng Đức, Adolf Hitler, cho phép sau khi quân Anh thực hiện một cuộc không kích ban đêm vào Berlin. Cuộc tấn công này được gọi là Blitz theo từ tiếng Đức blitzkrieg (chiến tranh chớp nhoáng).
-1965 – Trong Chiến tranh Việt Nam, Chủ tịch Bắc Việt Hồ Chí Minh đã từ chối các cuộc đàm phán hòa bình vô điều kiện do Hoa Kỳ đưa ra
-1989 – Nhà viết kịch và nhà hoạt động nhân quyền Vaclav Havel đã tuyên thệ nhậm chức tổng thống Tiệp Khắc. Trước đây, ông đã bị những người Cộng sản Séc lên án là kẻ thù của nhà nước và đã phải ngồi tù năm năm vì niềm tin của mình. – 1808: – Ngày sinh của Andrew Johnson (1808-1875), Tổng thống thứ 17 của Hoa Kỳ sinh ra tại Raleigh, Bắc Carolina. Ông là phó tổng thống của Abraham Lincoln và trở thành Tổng thống sau vụ ám sát Lincoln năm 1865. Ông trở thành Tổng thống đầu tiên bị Hạ viện luận tội. Ông được Thượng viện tha bổng chỉ với một phiếu bầu. Sau đó, ông phục vụ một thời gian ngắn với tư cách là Thượng nghị sĩ của Tennessee cho đến khi qua đời vào ngày 31 tháng 7 năm 1875.
30/12:
-1803 – Lá cờ Sao và Sọcđược kéo lên trên New Orleans khi Hoa Kỳ chính thức chiếm hữu lãnh thổ Louisiana, một khu vực rộng 885.000 dặm vuông, gần gấp đôi diện tích của Hoa Kỳ. Lãnh thổ này đã được mua từ Pháp với giá khoảng 15 triệu đô la.
Quốc kỳ Hoa Kỳ (tiếng Anh: Flag of the United States of America), cũng gọi là Quốc kỳ Mỹ là lá cờ chính thức đại diện và là một biểu tượng quan trọng cho Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Quốc kỳ này là nguồn gốc cho tên gọi Hoa Kỳ hay cụm từ Đất nước cờ hoa trong tiếng Việt. Theo tiếng Anh, quốc kỳ Hoa Kỳ có tên là Stars and Stripes (Cờ sọc sao) hoặc có tên gọi là Old Glory (Vinh quang cũ). Đối với người Mỹ, quốc kỳ có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần. Quốc kỳ Hoa Kỳ trở thành biểu tượng của tự do, lá cờ đã nói lên sự hy sinh của biết bao thế hệ để giành lấy nền độc lập. Lá cờ đầu tiên của Hoa Kỳ gồm có 13 ngôi sao và 13 sọc tượng trưng cho 13 tiểu bang thuộc địa thời bấy giờ. Quốc kỳ Hoa Kỳ có hai phần. Một phần nhỏ ở góc trái trên cùng có hình ảnh của 50 ngôi sao trên nền màu xanh dương, tượng trưng cho 50 tiểu bang hiện tại. Phần chính gồm 7 sọc đỏ và 6 sọc trắng, tượng trưng cho 13 tiểu bang sơ khai. Ý nghĩa của ba màu xanh, trắng, đỏ trên lá cờ Hoa Kỳ vẫn không thay đổi cho đến hiện nay. Màu đỏ tượng trưng cho lòng dũng cảm và nhiệt huyết, màu trắng nói lên niềm hy vọng trong sáng, nét tinh khiết của cuộc sống và tinh thần kỷ luật, trong khi màu xanh là hiện thân của màu sắc thiên đàng, biểu tượng của Thượng đế, lòng trung thành, niềm chân thành, công lý, và chân lý. Ngôi sao, theo như biểu tượng xa xưa trong văn hóa Ấn Độ, Ba Tư, và Ai Cập, tượng trưng cho chủ quyền. Trên lá cờ Hoa Kỳ, mỗi một ngôi sao tượng trưng cho chủ quyền của một tiểu bang, do đó ngày nay lá cờ Mỹ gồm có 50 ngôi sao tượng trưng cho 50 tiểu bang, trong khi số sọc trên lá cờ vẫn được giữ ở con số 13, tượng trưng cho 13 tiểu bang đầu tiên của ngày lập quốc. Lễ chào cờ có ý nghĩa quan trọng cho mỗi công dân Hoa Kỳ vì nó nói lên lòng trung thành với tổ quốc. Tổng thống George Washington của Hoa Kỳ từng diễn giải biểu tượng của lá quốc kỳ như sau: – Chúng ta lấy các tinh tú từ Thiên đàng, và màu đỏ từ mẫu quốc, được phân chia bằng các sọc trắng, để chứng tỏ rằng chúng ta đã tách rời khỏi mẫu quốc, và những sọc trắng sẽ được truyền lại cho thế hệ mai sau như là biểu tượng của Tự do. Đối với thế giới, quốc kỳ Hoa Kỳ mang ý nghĩa của sự độc lập, tự do, và lòng yêu nước, đại diện cho hơn 300 triệu dân đang sống tự do tại Hoa Kỳ. Quốc kỳ cũng còn là biểu tượng nhắc nhở công dân Hoa Kỳ luôn sống với tinh thần trách nhiệm và danh dự. – 1865: – Rudyard Kipling (1865-1936) sinh ra tại Bombay, Ấn Độ. Ông là một nhà thơ, tiểu thuyết gia, nhà văn truyện ngắn người Anh, nổi tiếng nhất với những câu chuyện thiếu nhi như Jungle Book.
-1884: – Thủ tướng Nhật Bản Hideki Tojo (1884-1948) sinh ra tại Tokyo. Ông lãnh đạo Nhật Bản trong Thế chiến II và bị bắt vào tháng 8 năm 1945 với tư cách là tội phạm chiến tranh, bị xét xử, sau đó bị treo cổ vào năm 1948. -1903 – Tại Chicago, một vụ hỏa hoạn bên trong Nhà hát Iroquois đã giết chết 588 người, cuối cùng dẫn đến việc ban hành các quy tắc an toàn phòng cháy chữa cháy mới cho các nhà hát. -1922 – Liên Xô (Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết) được thành lập thông qua liên bang Nga, Byelorussia, Ukraine và Liên bang Transcaucasian.
-1993: Israel và Vatican đã ký một thỏa thuận công nhận lẫn nhau, tìm cách chấm dứt 2.000 năm quan hệ thù địch giữa Cơ đốc giáo và Do Thái.
31/12
– Đêm giao thừa, đêm cuối cùng của năm theo lịch Gregory, theo truyền thống là đêm để vui chơi chào đón năm mới. -1781 – Ngân hàng đầu tiên tại Hoa Kỳ, Ngân hàng Bắc Mỹ, đã nhận được điều lệ từ Quốc hội Liên bang. Ngân hàng mở cửa vào ngày 7 tháng 1 năm 1782 tại Philadelphia. -1879 – Thomas Edison đã trình diễn công khai lần đầu tiên về bóng đèn sợi đốt điện của mình tại phòng thí nghiệm của ông ở Menlo Park, New Jersey.
VTLV TRANG ĐẶC BIỆT-MỪNG GIÁNG SINH 2024
**
Lễ Giáng Sinh
Mùa lễ rộn ràng khắp mọi nơi
Shopping trang trí ánh đèn ngời
Người chen mua sắm làm quà tặng
Gặp dịp hân hoan chuyện tiệc mời
*
Thánh lễ con chiên tưởng nhớ ngài
Bao điều khổ nhục gánh hai vai
Tấm lòng vĩ đại dang tay rộng
Cứu rỗi muôn loài hướng đúng sai
*
Đêm Chúa xuống trần khúc nhac vang
Đêm đông lấp lánh tỏa sao ngàn
Nguyện cầu ân đức ngài che chở
Đêm Thánh vô cùng ý nghĩa mang
*
Có dịp cháu con tụ một nhà
Gói quà mệt thở tốn tiền đa
Nhưng mà rộn rã lòng vui thích
Hội họp vui cười ấm áp nha
*
Phở cháo, chè xôi, thịt nướng đầy
Chất chồng đống hộp chứa quà vây
Nâng ly rượu đỏ chan hòa chuyện
Hưởng lễ Noel tiệc lớn này
*
Minh Thúy Thành Nội
Giáng Sinh 2024
**********************************
VĂN THƠ LẠC VIỆT MERRY CHRISTMAS 2024
*
GIÁNG SINH kính chúc thảy nhà nhà
Luôn gặp điều lành, lộc đáo gia
LẠC VIỆT thành viên đời hạnh phúc
VĂN THƠ thân hữu sống an hòa
Tiệc Réveillon tối hàng lô Gifts
Lễ CHRISTMASđêm cả khối quà
CHÚA ngự trên Trời ban phép lạ
Toàn cầu nhân loại thảy hoan ca.
*BBT VTLV – CHRISTMAS 2024 (Phương Hoa )
***
GIỌT LỆ ĐÊM GIÁNG SINH
(Viết thay một người)
Tuyết lạnh báo đông về
Đêm trường dài lê thê
Than hồng khôn sưởi ấm
Lịm dần trong cơn mê
*
Người xưa chừ nơi nao
Gió bên rèm lao xao
Trở trăn vòng gối chiếc
Lệ thầm hoen má đào
*
Chuông Thánh Đường rền vang
Giật mình thêm bàng hoàng
Giáng Sinh nào chung lối
Nay đôi ngã đôi đàng
*
Nhớ vòng tay ấm áp
Đêm Thánh ánh sao cười
Chúa Hài Đồng mở mắt
Gửi yêu thương loài người
*
Bên Máng Cỏ Chúa nhìn
Như vui chúc đôi mình
Bên nhau đầy hạnh phúc
Theo ước mơ đẹp xinh
*
Rồi bể cả cồn dâu
Xô tình mình hư hao
Phòng loan nơi viễn xứ
Mắt môi ai lệ trào.
Phương Hoa – Giáng Sinh 2024
ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG.
CAO MỴ NHÂN
Đêm Thánh vô cùng trân quý ơi
Đoá hoa nhân ái nở bên trời
Khát khao yêu mến người thiên hạ
Tất cả xin vào dự hội chơi
*
Ánh biếc vì sao lấp lánh xa
Tươi vui bếp lửa ấm muôn nhà
Chúa ơi, Đêm Thánh vô cùng tận
Người với người thương ta với ta
*
Bạn với bè trên mỗi bước xuân
Hoan ca nơi khắp ngả dương trần
Mây vương sắc áo mầu nhân ảnh
Đêm Thánh vô cùng đẹp dấu chân.
*
Mãi mãi hoa thơ kết vạn lòng
Dâng lên Thiên Chúa mỗi mùa đông
Bình an dưới thế đêm vô tận
Chúa ở cùng anh chị em mong …
CAO MỴ NHÂN
*
NOEL CẢM LUỴ.
CAO MỴ NHÂN
*
Đứng trên đỉnh cầu vồng
Người có nhớ gì không
Hay một trời dĩ vãng
Đã tan ra thành sông
*
Dòng sông cuộc đời xưa
Nước mắt đầy như mưa
Người vương thương khổ luỵ
Trên những chuyến đò trưa
*
Đã ở thật xa xôi
Cuộc tình cũng chơi vơi
Mười năm trôi mộng mị
Bài thơ viết không lời
*
Noel cuối thật buồn
Đón Chúa vào linh hồn
Rồi bay theo huyễn cảm
Cùng nỗi sầu sắt son
*
Người đi, xin bái biệt
Bồng bềnh lúc chia tay
Mười năm hương nguyền tắt
Sót lại nỗi đau này …
CAO MỴ NHÂN
*
TRƯỚC LỄ GIÁNG SINH.
CAO MỴ NHÂN
*
Chúa ơi, con chẳng còn nao nức
Nghe tiếng chuông, chờ Lễ Nửa Đêm
Con thấy lòng con yên lặng quá
Thản nhiên vào giấc ngủ êm đềm
*
Bao nhiêu bạn trẻ đã ra đường
Phải họ đi tìm Chúa mến thương
Hay họ chỉ đi tìm bóng họ
Bên nhau, mai mốt lại muôn phương
*
Ở đây, cạnh Chúa vẫn cô đơn
Ngửa mặt nhìn sao, nén tủi hờn
Con muốn lênh đênh trên biển cả
Một lần sóng gió, Chúa gần hơn
*
Chúa ơi, Chúa đến làm chi nhỉ
Con khóc như mưa, Chúa lại …cười
Con khổ sở hoài, xin Chúa giúp
Chúa kêu thử thách với con thôi
*
Con vừa cầu nguyện gởi cho ai
Thôi nhé, Noel này lạc loài
Con viết thơ buồn trên giá thánh
Ngày mai thức giấc, chắc sầu vơi…
(Saigon 24 -12 – 1981)
CAO MỴ NHÂN
ĐÊM CHRISTMAS.
CAO MỴ NHÂN
*
Anh đứng nhìn em lâu
Sân nhà thờ, đêm thâu
Lời thánh ca chưa dứt
Tan vào cuộc tình sau
*
Bài thơ không buồn phiền
Chúa ở mãi bên em
Ôm em cho chặt nhé
Đừng để rớt trái tim
*
Nhạc thánh ca lâng lâng
Hồn chơi vơi bâng khuâng
Bạn đời vô quá khứ
Người tình lỡ trăm năm
*
Hồi chuông ngân vang xa
Chúa vẫn ở bên ta
Sao anh im lặng thế
Ta đang trong mộng mơ
*
Thơ rơi theo tình buồn
Em sợ sầu vương thương
Mông mênh đêm Christmas
Nước mắt hoà khói sương …
CAO MỴ NHÂN
*
HÁT THÁNH CA.
CAO MỴ NHÂN
*
Buổi sáng em ngồi hát thánh ca
Cả không gian sáng rỡ quanh nhà
Anh đang xa tít chân mây rộng
Em nguyện trời ân sủng chúng ta
*
Ôi, nguyện trời cao, tuyệt đỉnh cao
Giơ tay em với tới phương nào
Không gian vần vũ, anh yêu hỡi
Sương khói mơ hồ giữa ánh sao
*
Chúa ở cùng anh, Chúa bỏ em
Bâng khuâng hờn tủi những ưu phiền
Ngay khi anh đến, khi anh đến
Mang nỗi u hoài, trễ muộn thêm
*
Buổi tối thánh ca vẳng ngập ngừng
Chao ôi, có thật Chúa bên lưng
Đỡ em đi hết đường đau khổ
Dấu lệ yêu thương, đọc ” Kính mừng …”
CAO MỴ NHÂN
*
ĐÊM THÁNH.
CAO MỴ NHÂN
Đêm thánh vô cùng hạnh phúc sao
Đường vô nhà Chúa gió len vào
Từng cây, từng lá, từng hoa lạnh
Christmas chan hoà chuông vọng cao
*
Anh có bao giờ ngó thật xa
Đêm rơi huyền ảo khói la đà
Hàng thông đứng đợi đôi hè phố
Vươn bóng mơ màng nghe thánh ca
*
Lễ nửa đêm chuông thả ngút trời
Người về ấm áp giữa sương rơi
Vòng ôm xiết chặt tình thân ái
Đếm bước thương yêu đẹp tuyệt vời
*
Mấy chục năm mà tưởng mới đây
Noel xưa lưu lạc phương này
Vẫn nơi ký ức thời thơ dại
Bài thánh ca buồn hát đắm say…
CAO MỴ NHÂN
Ý NGHĨA CỦA LỄ GIÁNG SINH
Lễ Giáng Sinh là ngày Christmas khá trọng đại. Trọng đại vì đây là ngày đã được mọi quốc gia, mọi tôn giáo coi như ngày vui chung của nhân loại, chứ không riêng gì đối với tín đồ Thiên Chúa Giáo. Do đó, có người đã nói, Christmas là một cơ hội hãn hữu để nhắc nhở mọi người có bổn phận đối với những người mà ta không quen biết cũng như đôi khi không ưa thích.Và đồng thời mọi người cũng hân hoan hát các điệu nhạc Giáng sinh như “We wish you a Merry Christmas”, như “Silent Night”, Đêm Thánh Vô Cùng mừng Chúa Hài Đồng ra đời.
…Ôi Chúa thiên đàng, cam nếm cơ hàn Nhấp chén phiền vương phong trần Than ôi Chúa thương người đến quên mình Bơ vơ chốn quên nhà lúc sinh thành Ai đang sống trong lạc thú Nhớ rằng Chúa đang đền bù…
Theo lời ghi lại thì khi Chúa Jesus cất tiếng khóc chào đời trong một cái máng cỏ ở hang Bethlelem có ba vị Vua phương Đông mang ba món quà đến để bày tỏ sự thành kính của họ. Trong khi đó, những người chăn cừu nghèo khó cũng lòng thành tặng Chúa Jesus hoa quả và những món đồ chơi do chính họ làm ra…
Lễ Giáng Sinh Christmas là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Jesus. Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Christ là tước vị của Đức Giêsu, chữ Mas là Thánh lễ. Thượng Đế đã gửi con yêu quý của mình xuống thế để chuộc tội và mang lại tình thương, hòa bình, hạnh phúc cho nhân loại. Tuy là lễ riêng của tín đồ Cơ Đốc Giáo, nhưng hầu như mọi người đều trân trọng, chung vui. Với tất cả, Lễ Giáng Sinh là thời gian tuy ngắn ngủi nhưng tràn ngập thương yêu với những gói quà dưới cây Noel, sao sáng lung linh nơi cửa sổ, những cánh thiệp chúc tụng gửi đó đây, những bữa ăn đoàn tụ thân bằng quyến thuộc với tiếng cười nói hân hoan hạnh phúc, với tuyết trắng phủ kín sân nhà, đường phố…
Cho nên, tinh thần của Lễ Giáng Sinh là chia sẻ, bao dung, thương yêu và giảm thiểu giận hờn.
Tiểu thuyết gia Oren Arnold gợi ý về quà tặng Giáng Sinh như sau: “Với kẻ thù, cho sự Tha thứ; với đối thủ cho sự Chịu đựng; với bạn bè cho Trái Tim; với khách hàng cho Phục Vụ Chu Đáo; với các cháu bé Làm Gương Sáng để cháu noi theo và với chính mình, cho niềm Tự Trọng”.
Trong thông điệp gửi cho nhân dân Hoa Kỳ, vị Tổng Thống thứ 30 của quốc gia này là Calvin Coolidge (1872-1933), nhắn nhủ: “Christmas không phải là một thời gian hoặc một mùa nhưng là một tâm trạng. Để chào mừng hòa bình và thiện ý, để có đầy đủ tình yêu thương”.
Tiểu thuyết gia nước Anh là Charles Dickens ((1812–1870) cũng đồng ý với “ Tôi luôn nghĩ Christmas như là thời gian vui thú ; một thời gian thân tình, tha thứ, độ lượng, thoải mái; thời gian mà nam cũng như nữ dường như tự do rộng mở trái tim, do đó tôi xin Thượng Đế chúc lành cho Christmas”.
Tác giả Wilda English viết :”Thượng Đế ban cho ta ánh sáng của Christmas, đó là niềm tin; ấm áp của Chrismas, đó là tình yêu; rực rỡ của Christmas, đó là sự trong sáng; chính trực của Christmas, đó là công lý; lòng tin tưởng ở Christmas, đó là sự thật; mọi ý nghĩa của Christmas, đó là Chúa Giê Su”.
Kế cận những bên nhau hạnh phúc, Giáng Sinh còn quá nhiều người không mua, không nhận được quà tặng, không lo được bữa ăn ngon, những em bé bán diêm chết cóng trong đêm băng giá, những đứa con bị cha mẹ bỏ rơi, những người bệnh không được thuốc thang chăm sóc…
Nhưng có Mother Teresa, người được Chúa Jesus kêu gọi để phục vụ những kẻ bất hạnh từ Giáng Sinh năm 1948. Bà từng nói “Mỗi năm tôi khởi sự việc làm vào ngày Christmas”.
Vì, theo bà, “Là Lễ Giáng Sinh mỗi khi ta để Thượng Đế thương yêu người khác qua ta…và là Lễ Giáng Sinh mỗi khi ta mỉm cười với anh em của ta và cứu giúp họ”.
Đó là thánh ý Thiên Chúa.
Mà trong Lễ Giáng sinh, thường thường người ta cũng hay cầu nguyện
Cầu nguyện không phải chỉ là sự thờ phượng mà còn là một nguồn sinh lực dồi dào, mạnh mẽ mà con người có thể tạo ra. Ảnh hưởng của sự cầu nguyện lên tinh thần và thể chất có thể chứng minh được. Ảnh hưởng đó được đo lường bằng sự phục hồi thể xác, đưa tới một trí tuệ sáng suốt, một lương tri ổn định và sự thấu hiểu những mặt khàc nhau trong sự giao thiệp giữa mọi người.
Nếu ta thành thật tạo ra một thói quen cầu nguyện, cuộc sống của ta sẽ thay đổi rõ ràng. Lời cầu nguyện sẽ để lại trong hành động và thái độ của ta những dấu ấn khó xóa nhòa. Một tác phong bình thản, một nét mặt ung dung tự tại ở những ai đã có một nội tâm phong phú. Trong chiều xâu của lương tri là ngọn lửa của nhân ái. Và con người tự nhìn thấy mình. Họ nhìn ra tính ích kỷ, thái độ kiêu hãnh, tâm trạng sợ hãi, lòng tham lam, những sai lầm ngớ ngẩn của mình. Họ sẽ triển khai một nghĩa vụ đạo đức, một trí tuệ khiêm cung lâu dài.
Câu nói, “Hãy cầu xin và sẽ được đáp ứng” đã được chứng minh bằng kinh nghiệm của nhân loại.Thực ra, cầu nguyện không thể mang lại sự sống cho em bé đã chút hơi thở cuối cùng hoặc chấm dứt được cơn đau thể chất. Nhưng cầu nguyện, như hạt radium, là nguồn sinh lực tự tạo sáng chói không bao giờ hết. Khi cầu nguyện, ta đã kết nối bản thân với nguồn sức mạnh bất tận đang quay cuồng trong vũ trụ. Ta xin một phần năng lượng đó cho nhu cầu thiếu hụt của ta để tăng cường bổi bổ. Nhưng đừng cầu nguyện Thượng Đế để thỏa mãn lòng ham muốn nhất thời.
Ta có thể cầu nguyện bất cứ ở đâu, một mình hoặc với người khác. Hãy nghĩ tới Thượng Đế nhiều hơn là hơi thở khiến cho cầu nguyện trở thành một thói quen.Và đừng cầu nguyện vào buổi sáng rồi suốt ngày sống như một con người man rợ độc ác.
Hơn bao giờ hết, cầu nguyện bây giờ là một gắn bó cần thiết trong nếp sống của con người. Thiếu quan tâm tới ý nghĩa của tôn giáo đã đưa thế giới tới ngưỡng cửa của sự diệt vong. Nguồn sức mạnh xâu sắc, toàn hảo nhất của chúng ta đã bị lãng quên một cách thảm bại. Cầu nguyện phải được tích cực áp dụng trong nếp sống của chúng ta. Vì nếu sức mạnh của sự cầu nguyện được áp dụng trong đời sống thường nhật thì còn nhiều hy vọng rằng những lời cầu nguyện cho một thế giới tốt đẹp hơn sẽ được đáp ứng.
Lễ Tạ Ơn đã qua, mùa Giáng Sinh lại về. Nhiều nhà thờ được trang hoàng rực rỡ đón Giáng Sinh, nhà nhà chuẩn bị mua cây thông, có người lên rừng đốn cây thông đem về cho gia đình mình, cho bằng hữu của mình. Có một số gian hàng bán cây thông ngoài đường nhưng chúng tôi thích mua cây thông ở nhà thờ hơn vì mua cây thông ở nhà thờ ít nhất mình cũng giúp cho nhà thờ một chút gì đó. Ở Orange County, nhà thờ nào có linh mục Việt Nam, có giáo dân Việt Nam thì nhà thờ đó được trang hoàng rất đẹp, đèn rực rỡ khắp nơi ngoài nhà thờ, cây cỏ ở nhà thờ được chăm sóc một cách cẩn thận, nhất là tượng Đức Mẹ lộ thiên đầy hoa, hoa cúc, hoa lan, hoa vạn thọ, Đức Mẹ đứng giữa rừng hoa. Đức Mẹ đã đẹp, hoa làm cho Đức Mẹ đẹp hơn. Hằng ngày, nhiều tín đồ đến cầu nguyện Đức Mẹ ban phép lành, người nào (không phân biệt tôn giáo) có tâm sự đều đến cầu xin Đức Mẹ ban cho mình sự bình yên, không phải chỉ có người lớn tuổi cầu xin điều gì đó mà ngay cả những người trẻ tuổi cũng cầu xin.
Khi đồng hương đến những nơi linh thiêng cầu nguyện thì khuôn mặt rất thành khẩn, rất chân thành, chúng tôi đã gặp nhiều người già ngồi trên xe lăn, người tật nguyền chống gậy đến trước tượng Đức Mẹ cầu nguyện ở nhà thờ Saint Barbara, Santa Ana, nhà thờ Saint Polycap, nhà thờ Westminster, nhà thờ Anaheim, nhà thờ Saint of Alexandria Temecula, v.v. Khuôn mặt của những người có niềm tin tôn giáo lúc cầu nguyện rất hiền lành, thánh thiện, lúc đó hình như họ không ở trần gian, mà họ đến nơi nào đó, nơi đó là Thiên Đàng.
Chúng tôi còn nhớ năm đầu tiên tị nạn ở Hoa Kỳ dự thánh lễ Giáng Sinh đầu tiên ở một nhà có cổ kính ở thành phố Glendale, Los Angeles County. Tối hôm đó có vài người Việt Nam tham dự, vì ở trại tị nạn thì nóng, sang Hoa Kỳ đêm Giáng Sinh quá lạnh, áo lạnh không đủ ấm, chúng tôi vừa đứng trước tượng Đức Mẹ vừa run, nhà thờ tuy nhỏ mà số người tham dự thì đông, thấy người lạ đến nhà thờ, một bà Mỹ lớn tới nắm tay chúng tôi dẫn vào bên trong nhà thờ. Không khí đêm Giáng Sinh tưng bừng chưa bao giờ thấy, đương nhiên ở trong trại tị nạn làm sao có không khí vui tươi như thế này, ở trong trại tị nạn hồi hộp chờ từng ngày để được định cư.
Gần tới mùa Giáng Sinh nhà nào cũng đẹp, văn phòng, cơ sở thương mại cũng trang hoàng đẹp hơn ngày thường, cây thông, thiệp Giáng Sinh với ông già Noel để trên cây thông, những chiếc vớ dài thật đẹp để trên lò sưởi. Lúc nhỏ, chúng tôi thường nghe nói nếu mình mơ ước điều gì thì ông già Noel sẽ cho mình, ông già Noel sẽ đi từ ống khói xuống lò sưởi. Ông bà, cha mẹ thường nói những đứa trẻ phải ngoan ngoãn thì ông già Noel mới cho quà, trẻ con thì hay tin lời của ông bà cha mẹ mình nói, dù không ngoan ngoãn nhưng tới ngày gần lễ Giáng Sinh cũng phải ngoan để được quà của ông già Noel. Trên đời này có đứa trẻ nào học giỏi mà không nghịch ngợm đâu chứ? Nghe nhạc Giáng Sinh, mặc áo mới, có quà, trẻ con nào mà không thích mùa Giáng Sinh chứ? Các nhà thờ đẹp, trang hoàng cây thông rực rỡ, bóng đèn đủ màu, cũng nhờ bàn tay của Giáo dân, sân ở nhà thờ không có một lá cây cũng nhờ bàn tay của Giáo dân, của linh mục quan tâm đến nhà thờ của mình.
Trước lễ Giáng Sinh, tôi thường gọi thăm các linh mục mà chúng tôi quen. Linh mục Vũ Đảo, đã hưu trí, là học trò trường trung hoc Lý Thường Kiệt thập niên 50 lúc người Bắc mới vừa di cư vào Nam. Linh mục Vũ Đảo học rất giỏi, có khiếu văn nghệ, đóng kịch rất xuất sắc, sau này là nhà giáo, rồi là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau 30/4/1975, ngài ở tù 3 năm. Ra tù, ngài vượt biên qua Thái Lan, định cư ở Chicago, Hoa Kỳ. Ngài đi học ở nhà dòng, được thụ phong linh mục ở miền Đông vào tháng 4/1988.
Cựu học sinh trung học Lý Thường Kiệt ở Quang Trung, quận Hóc Môn rất hãnh diện về ngài, và không biết đất lành ở trường sao đó mà trường có nhiều dì phước, linh mục và có một giám mục cũng là học trò của Lý Thường Kiệt. Cựu học sinh Lý Thường Kiệt ở California tổ chức chào đón ngài trước khi ngài về Phi Luật Tân làm việc trong các trại tị nạn ở Phi Luật Tân.
Đến Phi Luật Tân vào tháng 6/1988, linh mục Vũ Đảo giúp rất nhiều đồng hương tị nạn trong trại tị nạn. Phi Luật Tân gồm có 4000 đạo họp lại thành một quốc gia Phi Luật Tân, đạo Công Giáo và Tin Lành phát triển rất mạnh mẽ, các vị lãnh đạo tinh thần được tôn trọng, hằng năm linh mục Vũ Đảo về Hoa Kỳ một lần, ngài được bằng hữu đón tiếp một cách nồng nhiệt, chúng tôi thường gởi sách, báo, nhạc để ngài đem về Phi Luật Tân tặng cho đồng bào tị nạn, ngài cho biết trong trại tị nạn hằng năm vẫn tổ chức lễ Giáng Sinh một cách long trọng.
Linh mục Vũ Đảo là linh mục bề trên của dòng Ngôi Lời mới thành lập ở Mỹ chừng 50 năm. Ngày xưa ở Việt Nam không có dòng Ngôi Lời, khi biến cố lớn xảy ra ở Lousiana, tượng thánh Louis bị những người nổi loạn cột dây vào đầu và định giựt sập thì linh mục Stephen Schumacher vừa chịu chức chưa được một năm của tổng giáo phận St. Louis, đứng dưới tượng Thánh Louis cùng một số Giáo dân bảo vệ tượng. Nếu họ kéo dây thì tượng Thánh Louis sẽ ngã, linh mục trẻ và một số giáo dân này sẽ chết ngay tức khắc, nhưng nhờ sự khôn khéo của linh mục trẻ này và nhờ Chúa ban phước, linh mục cố kéo dài thời giờ đối thoại để cho cảnh sát đến. Hơn 1 tỷ người trên thế giới theo dõi cảnh đối thoại từng giây từng phút, nhiều người hội hộp và muốn đau tim, người nào đau tim sẵn có thể chết bất cứ lúc nào, thế rồi Cảnh Sát đến giải tán đám biểu tình.
Tôi gọi ngay linh mục Vũ Đảo, xin số điện thoại và email của vị linh mục trẻ đó, và cuối cùng tôi phỏng vấn được ngài, một linh mục trẻ gan dạ, không sợ chết đứng giữa bão táp phong ba, leo thang cứu tượng Thánh Louis thoát khỏi bị giựt sập.
Tôi cám ơn linh mục Vũ Đảo, tôi cám ơn những vị lãnh đạo tinh thần đã giúp chúng tôi về mặt truyền thông. Nếu không có linh mục Vũ Đảo thì tôi làm sao có được số điện thoại của vị linh mục anh hùng kia một cách kịp thời.
Làm phóng sự về sinh hoạt tôn giáo thì những nhà thờ là nơi nên tìm đến, những bài thánh ca đi vào hồn người, những đứa trẻ được bố mẹ bế vào nhà thờ trong những ngày lễ, nhất là đêm Giáng Sinh, đứa trẻ nào lớn lên cũng đam mê âm nhạc và có thể thành ca sĩ, vì âm nhạc đã vào máu rồi.
Hãy cầu nguyện, cầu nguyện thật nhiều, đời sống sẽ bình yên hơn, lòng sẽ thanh thản. Người nào có niềm tin ở tôn giáo thì đời sống sẽ vui hơn, lạc quan hơn, và sống yêu đời hơn, dù gặp trở ngại trong đời sống cũng sẽ vượt qua một cách dễ dàng.
MỜI QUÝ VỊ BẤM VÀO MŨI TÊN GÓC TRÁI KHUNG HÌNH DƯỚI ĐÂY (TRÊN HOẶC DƯỚI) ĐỂ LẬT TRANG
KON TUM – MÙA GIÁNG SINH CUỐI CÙNG
(Trích đoạn trong truyện dài Đức Tin)
…Tháng 8 năm 1974, đơn vị hắn nhận lệnh luân chuyển từ Bắc Bình Định lên trấn đóng vùng cao nguyên đất đỏ. Hắn náo nức trở lại nơi mà người bạn Biệt Động Quân đã vô tình cứu hắn thoát chết dạo trước, và thăm lại người em gái hậu phương thường mở cho hắn nghe bản nhạc “Em tên…em tên Mộng Thường…mẹ gọi em bé ngoan”.
Đến nơi, pháo đội trừ đóng quân ở căn cứ Trần Ngọc Lân, còn trung đội 2 của hắn, được chỉ huy bởi vị trung uý pháo đội phó, thì kéo hai khẩu đại bác 105 ly nhét vào hai lô-cốt, nòng súng ló ra ngoài hướng về phía bắc. Ông tập hợp trung đội để ban hành mệnh lệnh:
-Đây là phòng tuyến cuối cùng, chúng ta không còn bắn yểm trợ cho đơn vị nào nữa. Nhiệm vụ của chúng ta là trực xạ vào các chiến xa T54 nếu nó xuất hiện từ hướng Ngô Trang. Các anh em hãy hết sức chú ý để kịp thời vào vị trí tác xạ. Ai vi phạm, chiếu quân lịnh thi hành kỷ luật.
Nơi hắn đóng quân có tên là Eo-Gió, cách thị xã Kon-Tum khoảng 6 cây số về phía bắc, là một ngọn đồi thấp và trơ trọi, nằm án ngữ trên đường 14, con đường độc nhất nối liền với các tỉnh phía nam. Sau khi Đắc Tô-Tân Cảnh thất thủ, nơi đây trở thành vị trí chiến lược phòng thủ hàng đầu.
Từ ngọn đồi nhìn ra bốn phía là núi cao chớn chở và rừng xanh bát ngát. Buổi chiều sương lam âm u tỏa xuống những khí lạnh ghê người. Còn ban đêm, gió thổi qua hun hút, nghe như tiếng kêu gào của các cô hồn uổng tử đã chết dọc theo con đường di tản từ mùa hè đỏ lửa 1972.
Ngày tháng ở đây nhàn nhã hơn thời kỳ còn đóng quân ở Tam Quan-Bình Định, bọn hắn không phải phơi lưng dưới nắng làm đạn cả ngày hay thức giấc giữa đêm khuya để bắn vài quả đạn quấy rối vu vơ. Công việc thường ngày là canh gác và lau chùi súng đạn, những quả đạn Beehive chống biển người được đưa ra sắp sẵn vào hai bên ụ súng. Loại đạn này, theo vị chỉ huy cho biết, nó có giá một triệu hai trăm ngàn đồng một quả, trong khi lương binh nhì của hắn-đã trừ tiền ăn-chỉ hơn mười hai ngàn đồng mỗi tháng. Trong cái đầu non nớt của hắn, hắn nghĩ thầm -“ Giá mà người mỹ dùng số tiền khổng lồ này mua sữa và bánh mì phát cho dân hắn được no nê thì hạnh phúc biết bao!”.
Mỗi ngày sau khi xong phần việc của mình, hắn thường đi tha thẩn quanh doanh trại, tán dóc với các chiến hữu biệt động quân. Đời lính nơi miền biên cương vô cùng gian khổ, thiếu thốn đủ bề. Quanh năm chỉ thấy rừng già và súng đạn, chưa kể cái chết luôn luôn rình rập chung quanh. Mỗi tuần họ được một lần tiếp tế, khẩu phần là 7 ca gạo, một mớ cá khô, mắm muối bột ngọt và mấy bó rau xanh. Lãnh Lương ra không biết tiêu pha ở đâu cho hết, bèn châu đầu đánh bạc, thằng không may sạch túi thì đành đi lượm “dế mèn” quấn hút, thằng ăn được tiền cũng chả biết làm gì khác hơn là kiếm sòng khác nướng tiếp. Thỉnh thoảng cũng có phái đoàn các “em gái hậu phương” kèm theo vài ca sĩ tỉnh lẻ đến thăm và tặng quà. Lính lác thì được giao lưu ban ngày, còn khi đêm đến, mấy cô ca sĩ rút vào trong các căn hầm sĩ quan, ở đó vọng ra tiếng nhạc xập xình, lẫn với tiếng cười đùa vui vẻ. Có hôm đúng phiên gác, hắn tò mò lén nhìn qua lỗ châu mai. Trong căn phòng ấm cúng, nồng nàn mùi nước hoa và mùi thuốc lá thơm, hắn tê mê nhìn những thân hình gợi cảm của các cô gái đang tay trong tay, mặt nhìn mặt cùng các viên sĩ quan dập dìu khiêu vũ theo điệu nhạc quay cuồng. Lòng hắn bỗng bừng dậy một nỗi khát khao mà bấy lâu hắn kìm nén. Hắn thèm mùi da thịt đàn bà. Thì có sao đâu? Hắn mới hai mươi tuổi…và hắn khao khát được yêu, được ôm người hắn yêu trong vòng tay nóng bỏng và đặt vào đôi môi mọng ướt của nàng một nụ hôn nồng cháy…
Nhưng…cho đến bây giờ, hắn vẫn chưa có người yêu!
Một lần tình cờ gặp lại một người học trò cũ của Cha hắn lúc ông còn dạy tiểu học ở quê. Anh ta là trung uý đại đội trưởng một đại đội biệt động quân thuộc LĐ 23/BĐQ đi hành quân ngang qua. Anh mừng rỡ, kéo hắn vào lều, hỏi thăm về vị thầy cũ, mời hắn ăn một bữa cơm, rồi khi ra về còn cho hắn nửa cây thuốc Capstan. Cảm động hắn làm một bài thơ tặng lại anh. Bài thơ có tựa đề là Biên Giới Ca:
Núi cao chớn chở mồ uổng tử
Rừng xanh bát ngát hồn ma thiêng
Chiến địa máu trào như là suối
Biên giới hề, âm u dị thường!
Biên giới ngày nắng nung chảy mỡ
Biên giới đêm lạnh như cắt da
Xác chết rủ nhau ngồi ngay dậy
Đốt lửa rừng lên mà hát ca…
Ta mang thân trấn thủ lưu đồn
Ba năm biên giới nhận là con
Ba năm man dại theo rừng rú
Buổi chiều ngồi vuốt chòm râu non!
Bạn ta áo bạc màu sương gió
Đem tuổi xuân phơi giữa chiến trường
Từ buổi lên đường xa phố nọ…
Chưa từng san sẻ chuyện yêu đương!
Chiều nay sương xuống mờ quan ải
Nghe tiếng hồn hoang hú não nề
Vỗ tay ta hát hề, biên tái
Súng đạn người đi chẳng trở về!.
Anh ta đọc, khen “mày làm thơ được đó, nhưng buồn quá, đời mày chắc sẽ còn nhiều gian khổ”
Hắn yên lặng không nói gì.
Một tháng đôi ba lần hắn cũng chuồn về được thị xã Kon-Tum. Đến thăm thằng bạn “trung sĩ biệt động quân”, rồi kéo nhau lê la từ quán Cafe Giao, Da Vàng, đến quán Cây Ổi. Ở đó ”có vẻ” em Phương tóc dài đã có chút cảm tình với hắn. Hắn nghĩ “có vẻ”thôi, bởi vì tâm lý các cô gái thời bây giờ chỉ nhắm vào các chàng sĩ quan hào hoa đẹp trai phong độ, chứ còn hàng ngũ cái thứ lính “đơ dem cùi bắp” như hắn thì các cô chả thèm để ý tới bao giờ!.
Em Phương có mái tóc dài ôm kín cả bờ lưng thon thả, sau buổi học về, em thường thay mẹ ra ngồi ở quầy tính tiền. Những khi vắng khách, em lơ đễnh một tay chống cằm, tay kia hí hoáy vẽ trên tờ giấy, nghiêng cả mái tóc mây óng ả về phía hắn. Hắn đánh bạo, phết đại vài câu thơ vớ vẩn rồi trao cho nàng:
“Trời đang rét nhưng lòng anh ấm lạ
Khi ngồi đây trông mái tóc em dài
Vở học trò em đã chép tên ai
Cho anh gửi bài thơ tình của lính…”
Đọc xong, em quay lại nhoẻn môi cười với hắn. Thừa thắng xông lên, hắn kéo ghế qua gần quầy, rồi-vừa nhả khói thuốc vòng tròn, theo kiểu của nhân vật Trần Đại khi đến tán tỉnh em Tường Vi xinh đẹp của quán cafe Gió Nam trong phim Điệu Ru Nước Mắt-hắn vừa phun ra hàng tá thơ tình lãng mạn, từ thơ yêu nồng nàn của Xuân Diệu, Huy Cận cho đến thơ thất tình của Nguyễn Bính. Tuổi học trò nhiều mộng mơ thường thích văn thơ, cho nên em cười híp mắt, ngồi lim dim nghe hắn đọc thơ và bình thơ chứ còn để trở thành người yêu của hắn thì…chắc còn xa lắm!
Mùa giáng sinh năm đó, hắn chuồn về được thành phố sau khi lội bộ 6 cây số. Đến tìm thằng bạn “trung sĩ biệt động quân” thì mới hay nó vừa về phép hôm qua. Buồn tình, hắn một mình tha thẩn tới quán cafe Cây Ổi và gạ gẫm nàng đi lễ nhà thờ với hắn. Nàng đáp gọn lỏn:
-Em không có đạo!
Hắn lên giọng đóng vai cha cố:
-Chúa xót thương tất cả loài người, những người không có đạo Chúa lại thương hơn..
Nàng nghi ngờ nhìn hắn:
-Thôi đi! Đừng xạo…sao anh biết?
Hắn hùng hồn chứng minh:
-Anh là bằng chứng đây, vì lòng mong muốn được đến với Chúa trong đêm thánh vô cùng mà chỉ huy của anh đã cho phép anh đi, trong lúc cả đơn vị cắm trại. Nếu ngài không dùng quyền năng của ngài để làm động lòng vị chỉ huy của anh thì còn ai có thể làm được? (Hắn đã nói láo, thực ra hắn chui rào trốn đi chứ có chỉ huy nào cho phép lính tráng rời đơn vị ban đêm vào những lúc mà việt cộng rình rập tấn công)
Nàng có vẻ xuôi tai:
-Ơ…nhưng mà em không quen đi lễ, tới đó em chả biết làm gì cả?
-Chúa sẽ làm tất cả. Em chỉ việc đi cùng anh tới đó, đứng im chắp tay cầu nguyện…rồi Cha xứ sẽ làm lễ, ngài sẽ cho em được nếm bánh thánh, uống nước thánh…em sẽ được đầy ơn phước, sẽ có chồng giàu sang và sinh những đứa con bụ bẫm, có gương mặt xinh đẹp rạng ngời giống hệt khuôn mặt phúc hậu của Đức Mẹ Maria…
Nàng vẫn bướng bỉnh:
-Nếu em không đi thì sao?
Hắn dọa dẫm:
-Thì khi lìa đời, em sẽ xuống hỏa ngục, nơi đó có những con quỷ đuôi dài đầu sừng, nó sẽ tán tỉnh và hù dọa em, em sẽ chết khiếp…
Hắn còn tuôn ra hàng tràng dài những điều mà hắn học lóm đâu đó trong Kinh Thánh. Nàng vô phương chống đỡ trước những lời lém lỉnh của hắn nhưng vẫn không chịu đầu hàng:
-Nhưng…nhưng mà…má em sẽ la, nếu đi với anh… em hổng dám đâu!
Tới đây thì hắn đành phải bạt mạng nói càn:
-Không người mẹ tốt bụng nào lại la mắng con gái khi đi lễ nhà thờ vào đêm giáng sinh với một chàng trai tử tế…như anh.
Nàng liếc đôi mắt sắc như dao cạo quét khắp người hắn:
-Liệu có tin được mấy cái anh chàng lính tráng như anh không?
Thấy nàng có vẻ xiêu lòng, hắn gật đầu lia lịa:
-Tin được…tin được! Bên trong bộ đồ phong trần này là một linh hồn thánh thiện. Anh là một chàng trai tử tế hiền lành nhất mà em có thể tin tưởng. Thề có Chúa chứng giám, anh sẽ hộ tống em đến nơi an toàn và sẽ trả em về nhà đúng giờ sau khi tan lễ mà không làm em bị mất một sợi lông chân nào…
Nghe hắn quả quyết, nàng cũng động lòng, nên sau vài giây lưỡng lự nàng bèn gật đầu:
-Vậy…anh ra đứng ở cuối đường đợi em, em sẽ thay đồ rồi ra sau…nhớ là đưa em về ngay sau khi tan lễ đó…nghe chưa?
Hắn mừng rơn.
Thế là…lần đầu tiên trong đời, hắn được sánh bước bên một người con gái, dịu dàng trong chiếc áo dài trắng tinh khôi cùng đi lễ nhà thờ.
Con đường dẫn đến ngôi giáo đường chính của thành phố tràn ngập sương mù, đêm đó lại là một đêm có trăng . Ánh trăng mờ tỏa, quyện cùng lớp sương mù lãng đãng tạo thành một thứ ánh sáng huyền ảo mông lung, khiến hắn có cảm giác như là đang bơi trong không gian của một tầng trời xa thẳm nào đó, chứ không phải đang đi giữa một thành phố bị chiến tranh vây bủa tứ bề.
Thấy nàng có vẻ lạnh, hắn cởi chiếc áo Philaket của mình choàng lên vai nàng trong động thái của một bàn tay sẵn sàng chở che bảo vệ. Nàng cảm động, trìu mến đi sát vào hắn, hắn nghe được mùi hương tóc và mùi da thịt của nàng thoảng ra ngây ngất. Ôi chao….Hắn ước gì cho đường đi không tới và đêm cứ dài ra, để mãi mê, hắn sẽ cùng nàng trôi đi…trôi đi qua lối vào tình sử và cùng bay đến một thiên đường mộng ước xa xôi. Nơi chỉ có tình yêu và mật ngọt, nơi xa lìa trần thế đau thương!….
Nhưng con đường thực tế thì quá ngắn ngủi. Mười lăm phút sau-dù đã cố đi chậm hết sức-hắn và nàng cũng đã đứng trước cửa nhà thờ. Người đến dự lễ và người đi xem cũng rất đông. Hắn chật vật đưa nàng vào bên trong. Khi đã yên vị ở một chỗ mà hắn nghĩ là có thể nhìn bao quát cả khung cảnh của giáo đường, hắn ấn nàng ngồi xuống chiếc ghế trống duy nhất còn lại, hắn đứng sau lưng. Nàng trả lại chiếc áo khoác lính cho hắn vì lúc này hơi nóng của số đông người đã đẩy cái lạnh ra bên ngoài khung cửa.
Đang lúc hắn đang say sưa giảng bài về sự tích của đêm giáng sinh thì một bàn tay thô bạo kéo mạnh hắn về phía sau. Cùng với một tràng cười “đểu cáng” là một giọng nói quen quen:
-Thằng quỷ! Trốn ở đâu mà tụi tao tìm mãi mới ra mày…Đi!…đi nhậu với tụi tao!
Hắn ngó lên, thì ra là hai thằng “ôn dịch” cùng đơn vị. Hổng biết nó làm cách nào mà cũng trốn được về đây?
Hắn bèn xuống nước năn nỉ:
-Tao đi với em gái, tụi mày thông cảm, hẹn quán nào đi, chút xíu đưa em về xong tao đến.
Không đếm xỉa gì lời năn nỉ của hắn, hai thằng bạn thân kéo tuột hắn ra ngoài:
-Huynh đệ chi binh gì mà bỏ bạn bè đi chơi với em út? Để em đi lễ đó, nhậu với tụi tao xong quay lại đón em về…không nói on-đơ gì ráo…
Miệng nói tay kéo, hai thằng “quỷ sứ” lôi thẳng ra quán. Vốn tính nể trọng bạn bè, nhất là đối với bạn bè vào sinh ra tử, hắn ngoan ngoãn bước theo mà không kịp quay lại dặn dò “em Phương thân mến” một câu nào.
Hắn định bụng ngồi một lát với hai thằng “ôn dịch”, uống với tụi nó vài ly rồi tìm cách chuồn. Nhưng, người tính không lại ý trời!
Khi cái thứ nước màu hổ phách “quỷ quái” trong chai “Napoleon lùn” chạm đáy, hắn ngật ngưỡng đứng lên bắt tay từ giã bạn, thì cũng là lúc hắn đổ ập xuống sàn nhà, không còn biết trời trăng mây nước gì nữa cả!
o0o
Khi tỉnh lại vào buổi sáng hôm sau, hắn thấy mình nằm co trên chiếc bàn sắt trong phòng khách của một quán trọ rẻ tiền. Cổ họng đắng nghét và cái đầu nặng trịch, hắn chẳng biết tại sao mình lại ở đây?
Chợt nhớ tới nàng, hắn giật mình phóng xuống đất – chết mẹ! mình quên đón nàng rồi!
Hắn vội vàng đi tìm nước rửa mặt, rồi sờ khắp túi quần, túi áo, chẳng có thứ gì ngoài một manh giấy viết nghệch ngoạc mấy chữ:
“Mày say quá mà khách sạn hết chỗ, tụi tao đành bỏ tạm mày ở đây, tiền bạc giấy tờ tụi tao giữ, mai về đơn vị lấy”.
Hắn trở lại quán cafe Cây Ổi để gửi đến nàng một lời xin lỗi. Thấy hắn, nàng chẳng nói chẳng rằng, quay lưng bước vào nhà sau mất dạng.
Hắn đứng yên một lát, nhìn trời hiu quạnh…rồi thọc hai tay vào túi quần lặng lẽ rời đi!.
Mùa giáng sinh 1974-đối với hắn-đã trở thành một kỷ niệm đẹp và…buồn!
Ngày 14 tháng 3/1975. Kon Tum được lệnh di tản, đơn vị hắn kéo súng theo đoàn quân lầm lũi từ giã chiến trường, hắn không kịp đến chào “em Phương thân mến”. Cuộc di tản chiến thuật biến thành một cuộc tháo chạy kinh hoàng. Bom đạn, đói khát và bịnh tật đã giết chết rất nhiều binh lính và thường dân vô tội. Hắn tìm kiếm khắp nơi và hỏi thăm rất nhiều người, không ai biết tin tức gì về cô Phương cà phê Cây Ổi.
Hắn thở dài nghĩ đến một điều không dám nghĩ:
– Có thể “em Phương thân mến” đã vùi thân trong một góc rừng nào đó giữa vùng lửa đạn chiến tranh rồi!
Chàng Đông Ry Nguyễn
EM BÚP BÊ GIÁNG SINH–G. LENOTRE
– Thái Nữ Lan dịch
Theo trí nhớ của tôi về quá khứ xa xôi, tôi vẫn nhìn thấy bà hầu tước De Flavigny, luôn tươi cười và thanh thản, bà thường ngồi ở chiếc ghế bành thấp bọc nhung màu vàng nhạt, đầu đội chiếc nón len viền ren, có vài lọn tóc bạch kim lòa xòa trên mặt. Bên cạnh bà luôn có một phụ nữ khác cùng lứa tuổi, ngồi ở chiếc ghế thấp, cũng tươi cười hiền hậu: bà ấy thường được gọi là “Cô Odile”.
Bà ấy không phải là cô hầu, mà hình như có một mối dây thân mật khiến hai bà là đôi bạn thân; họ thường ngồi đan những chiếc váy lót bằng len để rồi mỗi thứ năm đem tặng cho người nghèo cùng với một mẫu bánh mì và năm đồng tiền hai xeng ( liard= 1/4 xu của Pháp thời đó), vừa kể cho nhau những dòng tâm sự không bao giờ cạn. Vào những ngày không đan đác thì họ lại lục soạn bao nhiêu là tủ kệ, mở những hộp xinh đẹp quấn đầy cả dãi ruy băng, rồi bày ra nào là những khăn lót dĩa, lót bình hoa thêu thùa rất công phu, rồi chùi dọn suốt ngày. Bọn chúng tôi là một đám trẻ con tò mò được phép chứng kiến những hoài niệm về kho tàng cổ xưa rất hữu ích ấy, với điều kiện không được đụng đến bất cứ thứ gì.
Bên trong một cái tủ bí mật ấy, như là ngôi đền nhỏ, chúng tôi thấy một vật để đứng trong một hộp thủy tinh mà hai phụ nữ ấy chăm chút như một vật linh thiêng: đó là con búp bê lớn, mặc một chiếc áo đầm bằng lụa đã sờn theo kiểu xưa; đầu nó thì đã rụng gần hết tóc qua thời gian, mũi thì bị gãy, gương mặt và tay thì đã bị tróc hết lớp sơn bọc ngoài, và chân thì chỉ còn một chiếc giày gót cao đã bị nứt nẻ, màu đỏ phai nhòa, với khóa cài bạc đã thành đen điu .
Khi nhìn thấy món đồ vật trang trí uy nghi ấy, bà hầu tước và cô Odile bế nó ra với sự dè dặt của đứa trẻ lễ sinh ở nhà thờ khi phải cầm vật thánh trong hòm thánh tích: họ nói từng câu ngắn với vẻ ké né: “Ôi, CÔ BÉ lại bị rụng tóc nữa rồi…Cái váy lót lại mòn thêm nữa…Ôi ngón tay này lại sắp rơi xuống nữa nè.” Họ cẩn thận chăm chút mở nắp hộp ra, vỗ bụi trên tóc, vuốt nếp gấp chiếc váy bằng đầu ngón tay, nhẹ nhàng, âu yếm.
Rồi họ để em bê trên ngăn kệ đẹp nhất, như trên một kệ thờ. – “Bé có đứng được không, cô bạn yêu dấu của tôi?”, bà hầu tước hỏi bạn mình. Còn bà Odile thì chỉ gọi bà là “Bà Solange”, một cách thân mật, không kèm chức tước. Chúng tôi không biết gì thêm về hai phụ nữ ấy và con búp bê, cho đến một đêm trước Giáng Sinh, vào một năm xa xưa lắm rồi, bỗng dưng chúng tôi được tham dự, được “kết nạp” vào toàn bộ bí mật đó. Hôm ấy Odile và bà bá tước đã nói chuyện với nhau một cách sôi nổi hơn thường ngày.
Đến chiều tối, cả hai trở nên trầm lặng, gần như tĩnh tâm, rồi im lặng chắp hai tay lại, ngậm ngùi nhìn nhau, và ta hiểu rằng họ đang hướng về một kỷ niệm thật yêu dấu của riêng họ. Khi bên ngoài trời tối hẳn, Odile thắp nến lên; rồi lấy xâu chìa khóa từ bên trong cái tạp dề, bà mở cửa tủ đựng em búp bê. Bà bưng con bê ra khỏi hộp; trong mớ áo quần trang hoàng kiêu sa thuở nào, giờ đây với cái đầu nhẵn tóc, nó có vẻ già hơn hai người phụ nữ rất nhiều, và họ đang chuyền tay nhau vật báu bằng những cử chỉ thật chăm chút, gần như là âu yếm, như thể đối với con gái yêu.
Nữ hầu tước để con bê lên chân mình, nhẹ nhàng kéo đôi tay bằng thạch cao đến gần thân nó, toàn bộ khớp kêu ken két như tiếng rên rỉ, rồi bà nhìn ngắm ” cô nàng” với một nụ cười thật trìu mến -” Cô bạn yêu dấu của tôi, bà gọi mà như thể nói với con bê, bây giờ ta kể chuyện của mình cho bọn trẻ nghe nhé?” Rồi Odile gật đầu đồng ý; nữ hầu tước ra dấu cho chúng tôi đến đứng quanh bà; con bê vẫn ngồi trên đùi bà, và làm như bà sẽ thuật lại câu chuyện cho mỗi con bê nghe thôi.
Bà kể rằng từ rất nhiều năm trước, khi bà con là đứa trẻ, cuộc nội chiến tàn phá xứ Bretagne của bà, đó là thời gian kinh hoàng. Từ những ngày đầu năm 1792, cha mẹ của bé Solange đã di cư, và giao bé cho một bà nông dân sống bên cạnh lâu đài của họ ở Ploubalay trông chừng, vì tính cách nguy hiểm của cuộc trốn chạy nên không thể mang bé đi cùng; họ nghĩ rằng chiến tranh sẽ sớm kết thúc thôi, và họ sẽ trở về trong thời gian ngắn. Nhưng rồi không lâu sau đó, biên giới đã bị đóng cửa, và luật lệ gắt gao ngăn cấm những kẻ di cư trở về lại nước Pháp. Cô bé Solange phải ở với gia đình người hàng xóm tốt bụng, không nhận được tin tức gì của cha mẹ mình, vì hình phạt sẽ là án tử hình nếu ai có ý muốn liên lạc với những người di cư.
Ploubalay là một ngôi làng rộng lớn, cách Saint-Malo khoảng ba dặm; bờ biển gần đó có đầy cả những tảng đá lớn, bao quanh là quần đảo đá ngầm, nên mọi mưu toan cập bến đều rất nguy hiểm. Bọn lính mới chiếm cứ toàn bộ thị trấn, họ đã đuổi bọn lính phe bảo hoàng đi; tên trung sĩ cầm đầu bọn họ là một người có tính tình như bao nhiêu người trong quân cách mạng: thô lỗ, sắt đá.
Hắn người vùng Alsace, tên là Metzger. Mọi người đều sợ hãi hắn ta, nhất là đối với bé Solange, khi nhìn bộ ria mép, đôi lông mày rậm, ánh mắt nghi ngờ, giọng nói cứng ngắc, vang to, của người đàn ông kinh khiếp đó, là cả một cơn ác mộng cho bé.
Khi tên trung sĩ không làm việc với toán lính của hắn, thì hắn ngồi ở cửa nhà thờ, để canh chừng những con đường của thị trấn với vẻ mặt thật dữ tợn. Một hôm bé Solange đi mua bánh mì cho bà Roualt, lúc về thì thấy ông ấy đang nhìn theo mình. Bé muốn đi vòng ra sau, nhưng lại không dám. Lấy hết can đảm, bé liền đi thật nhanh như thể ở nhà đang có người đợi mình. Đến lúc tưởng rằng đã thoát đôi mắt cú vọ của hắn, bỗng bé nghe thấy giọng nói ồm ồm của tên lính: – Này cô bé kia, đứng lại! Cô bé tội nghiệp cảm thấy như tim mình ngừng đập: bé không bước được nữa, chắc là chết giấc mất thôi… – Đến đây xem nào…- xích tới chút nữa..
Bé phải nghe theo, không còn kiểm soát mình được nữa, bé chỉ cách tên trung sĩ hai bước chân, mà cũng chưa dám ngẩng mặt lên nhìn. Hắn để bé đứng như vậy một lúc, rồi bỗng bằng một giọng vang to như sấm làm con bé rùng mình: – Mi thuộc dòng quý tộc phải không? Cô bé há hốc miệng, phú dâng cho Thượng Đế. Bé không hiểu lắm, nhưng biết rằng chữ đó là dành cho những người sẽ bị giết.
– Mi bao nhiêu tuổi hả?.
Bằng một giọng khàn đi vì kinh khiếp, bé trả lời: – Tám tuổi, bé định nói thêm cho lịch sự , “thưa ông”, nhưng rồi không thốt ra, vì biết rằng nếu nói ra thì tên ấy sẽ bóp cổ bé ngay tức khắc.
Nhưng hắn không có vẻ gì là để ý đến điều đó, lại làu bàu: – Hừ, tám tuổi…tám tuổi! Rồi nói thầm: – Mi cao lớn và mạnh khỏe đấy, so với tuổi của mi. Cô bé nhìn ông ta, hắn thật là kinh khủng, với vẻ mặt dữ dằn, đầu đội cái nón hai sừng có vài sợi lông chim đỏ, gương mặt rám nắng, ống điếu thì đen thui, túi đạn đeo chéo trước ngực, kiếm dài ngoằng và đôi ủng đầy cả bùn sình. Và điều ghê gớm nhất là đôi mắt hắn, sâu hoắm, sắc sảo như chực ăn tươi nuốt sống cô bé.
-Thôi, chuồng đi! hắn ra lệnh. Cô bé liền nhanh chân chạy một mạch về nhà, vừa chạy mà tim vẫn còn đập thình thịch.
Kể từ hôm đó, cô bé có cảm tưởng như tên trung sĩ luôn theo dõi mình. Khi hắn có việc đi ngang trước nhà gia đình Rouault, là phải cố nhìn vào bên trong để tìm bé. Hoặc khi gặp bé ngoài đường, hắn gọi bé bằng cái giọng quỷ quái, thô lỗ, làm cho con bé run lẩy bẩy: – Ah! cô bé kia!
Solange ước sao không phải đi ra ngoài nữa, nhưng bà Rouault, tiên đoán rằng cha mẹ của bé sẽ không có cơ may trở về nữa, và bà không thể để bé ăn không ngồi rồi, nên thường sai đi mua những thứ cần thiết cho gia đình.
Thế là, bị ép buộc để hàng ngày phải diện kiến với con bù nhìn ghê sợ của mình, Solange đành phải chịu đựng sự nghiệt ngã của đời mình; và tên lính mới ấy chỉ còn chờ có được cơ hội. Một hôm khi đang ngồi rửa rau ở máy nước công cộng trong khu nhà, hắn bỗng xuất hiện và hỏi: – Này bé, tên mi là gì? Cô bé biết rằng giờ ấy đã điểm, nên cam chịu trả lời: – Solange… Tên lính reo lên:- Solange! – (hắn đọc là Zaulanche)
-Cái tên mới ngộ làm sao! Rồi hắn nắn cánh tay bé, và bế con bé lên để xem thử nó có nặng không – Tám tuổi ư! Sao mà lớn nhanh thế!
Cô bé có cảm tưởng như mình đang là con mồi ngon trong tay một con yêu tinh…
*** Bây giờ đang là tháng Mười Hai, những tháng ngày u buồn ảm đạm, không có ánh dương; ngày nào bọn lính mới cũng bắt được những người di cư trở về, họ sống quá cơ cực ở Jersey hoặc Luân Đôn, không chịu đựng nổi, nên quá ao ước được trở về Pháp, rất nhiều người đã mạo hiểm cập bến.
Bọn lính phục kích ở bờ biển cũng như toàn bộ khu vực , và đã luyện một đám chó to lớn đi săn loại mồi đặc biệt này, để tìm ra tung tích những kẻ khốn cùng, ban ngày thì nằm rẹp trong lau sậy, ban đêm thì men theo các mương rãnh. Dân làng thường thấy bao nhiêu người đi ngang qua Ploubalay này bị xiềng xích, áo quần thì tả tơi, bọn lính thì đi kèm họ đến Saint Malo, hoặc Rennes, rồi sau một cuộc xét xử sơ sài, bị đem ra bắn. Luật lệ không nương tha và không có kháng án: bất cứ người di dân nào bị bắt là chịu tử hình.
*** Vào đêm vọng Giáng Sinh năm 1793 ấy, trong làng không còn ai nhớ về những buổi lễ thân thương của thuở xa xưa nữa. Nhà thờ thì đóng cửa, chuông thì im vắng; đêm tối đã buông xuống, đầy sương mù; suốt ngày người dân nghe tiếng chó sủa không ngớt về phía khu Bodard: hôm nay bọn lính đã thu hoạch được khá rồi…
Cô bé Solange ngủ ở căn gác kế căn đựng thóc lúa, đầy cả bóng tối ghê rợn, và ban đêm bé nằm bất động, nghĩ đến bao nhiêu điều bất trắc có thể xảy ra. Hôm ấy bé vừa thay áo quần vừa run vì lạnh và bé thật buồn, nhớ đến bao nhiêu đêm Giáng Sinh với cha mẹ mình, thật vui thích, và trong lòng bé thấy thương mến làm sao!
Những buổi sáng thức dậy sao sung sướng hạnh phúc quá! ở cạnh lò sưởi tràn đầy quà cáp gói bằng dãi nơ thật xinh xắn, rồi bao nhiêu là đồ chơi và bánh kẹo!
Vừa mơ mộng như thế, cô bé vừa cầm đôi guốc gỗ một cách uể oải, không muốn để cạnh lò sưởi vì biết rằng rồi đây chúng cũng sẽ trống trơn khi bé thức dậy, y như năm vừa rồi. Ngay cả Đức Chúa nhỏ bé cũng lo sợ và không đến nước Pháp nữa hay sao?
Bé có cảm tưởng như có tiếng động, thế là bé nhanh nhẩu thổi nến và chui vào chăn. Rồi bé ngủ thiếp đi. Trong giấc mơ, bé thấy như cánh của nhè nhẹ mở ra, và một bóng đen lẻn vào căn gác. Bé hé mắt ra nhìn: căn phòng bây giờ đã được ánh trăng chiếu sáng,. Ta có mơ không đây? Bé nhận rõ bóng đen là một người đàn ông: một người đàn ông ăn mặc như những người di cư mà bé thấy ở ngoài quận khi lính đem tù nhân đi Saint Malo; rồi bé nghe thấy một giọng nói thật khẽ: – – Solange, bé con nhỏ cưng của ta, đừng sợ con ạ.
Bé cảm thấy một bàn tay đang dang những lọn tóc trên trán ra một cách cẩn thận: một tia sáng của ánh trăng đang chiếu rõ cô bé.
Người đàn ông nhìn bé: – Ôi con yêu Solange của ta, con xinh đẹp quá, và cao lớn, mạnh khỏe nữa! Ông ấy không ngớt ngắm nhìn bé. Rồi ông ôm lấy bé một cách cuồng nhiệt, và hôn tới tấp làm bé suýt nghẹt thở. Bé không còn biết mình thức chưa hay còn đang mơ; nhưng bé biết ngay là nếu cha của mình còn sống, thì đây chính là giọng của người, những cái vuốt ve trìu mến, và ôm ấp bé như thế. Bé thấy người đàn ông quỳ bên cạnh giường mình, rồi bé nghe ông khóc nức nở; bé khép mình trong tay cha- rồi quá hạnh phúc! bé nhắm mắt ngủ tiếp.
Bình minh hôm sau, bé mở choàng mắt, và lúc đầu thật khó khăn để nhớ lại những gì vừa xảy ra đêm qua, nhưng rồi bé trấn tĩnh lại: chắc chắn là mình đã nằm mơ rồi: căn phòng trống trơn, cánh cửa thì khép kín; dưới nhà bé nghe rõ bước chân bà Rouault đi qua đi lại. Solange ngồi ở mép giường, và bỗng nhiên, sung sướng hét lên,… Trên đôi guốc của mình, được sắp lại ngay ngắn, bé vừa nhìn thấy một con búp bê dựng đứng, mặc chiếc áo váy thật rực rỡ bằng lụa xanh, một con bê thật cao lớn, uy nghi, tươi cười, ăn mặc như một phu nhân, với những lọn tóc xoắn thật xinh bao lấy khuôn mặt bằng sứ thanh tao, trên vai là khăn choàng kiểu hoàng hậu, chân thì mang giày bằng da cừu, khóa cài giày lại bằng bạc sáng loáng…
Cô bé liền quỳ xuống trước “lệnh bà”, và ngay tức khắc gọi bà là Yvonne. Bé thay áo quần rất nhanh, rồi ôm “con gái” trên tay, bé đi xuống nhà. Bà Rouault, vừa nhác thấy bé cùng với món đồ chơi tuyệt diệu ấy mà trong trí tưởng tượng của bà cũng chưa bao giờ mơ ước được, vô cùng ngạc nhiên thốt lên:-— Lạy Trời, Solange, ai cho cháu con bê này vậy? – Thưa bà, đó là chúa Hài Đồng Giê Su ạ, cô bé trả lời một cách hồn nhiên.
Người đàn bà há hốc miệng kinh ngạc: ôi, nói về lòng tin theo kiểu thần thánh này thì bà chịu thua thôi. Tuy nhiên, bằng chứng rành rành đây khiến bà choáng ngợp: bà biết rằng ở Ploubalay này, hoặc ngay cả tỉnh thành Matignon, Saint Malo, hoặc Rennes đi nữa cũng không một ai có thể sắm được cho mình hay người thân một món đồ huyền diệu như thế.
Thế rồi, chính vì điều này, bà trở nên rất cung kính, và ngắm nhìn mà không dám đụng vào phu nhân mà Solange trao cho bà một cách long trọng. Bà liền gọi ông đến: – Ông xem thử món quà mà Chúa Hài Đồng mang đến cho Solange nè; ông ấy là một người chất phác,và không biết gì về những trang sức lụa là của các bà mệnh phụ đâu. Nhưng rồi các bà hàng xóm đều ùa đến. Tất cả đều choáng ngợp và chắp tay lại kinh ngạc, rồi xầm xì; vài người nghiêng mình trước một vật thần thánh, vài người không hiểu nổi điều thần bí này.
Còn Solange thì chẳng quan tâm đến nỗi xúc động của họ, bé đang ru Yvonne, và ôm hôn nó một cách thận trọng, môi chỉ dám phớt nhẹ lên lọn tóc vàng óng và đôi má bóng lưỡng của con gái mình; bé đem nó đến cửa sổ để cho nó thấy cảnh bên ngoài.Rồi bà Rouault trở về với thực tế, sai con bé đi mua hàng ở tận góc xa xôi của ngôi làng; con bé hớn hở đem em búp bê theo. Hiện tượng này đã được một nửa quận biết rồi; các bà nông dân đứng ở cửa sổ để nhìn, và bé Solange biết được bây giờ mình trở nên quan trọng thế nào rồi. Khi bé đến trước nhà thờ, nơi đó tên Metzger vẫn ngồi vắt ngang ghế, lần này thì bé không thèm quay đầu lại để nhìn nữa: hôm nay thì chẳng có mối hiểm nguy nào đến với bé nữa rồi? Niềm vui bất tận trong lòng khiến bé không còn sợ việc gì hay ai nữa, nên khi tên trung sĩ gọi bé lại, và hỏi nó ôm vật gì, thì bé trả lời một cách tự tin: – Đó là một con búp bê – Một con bê thật đẹp! Ở đâu mà nhóc có được vậy? – Thưa ông trung sĩ, chính Chúa Giê Su Hài Đồng đã cho tôi.
Tên lính theo phe cộng hòa liền đứng phắt dậy, lấy chân hất cái ghế ra: – Mi nói cái gì? hắn hét lên – Đó là con bê mà Chúa đã cho cháu nhân dịp Giáng Sinh, ông trung sĩ – Ah, mi nghĩ là ta sẽ tin vào … nhưng trước vẻ ngây thơ của con bé, hắn ngừng nói; nhưng giật lấy con bê từ tay cô bé, hắn nhìn thật kỹ , và nói: – Ôi, một lệnh bà đẹp thật; mà này, nhìn xem, bên dưới giày có ghi nè: Berkint-London- vậy ra con bê này là dân xứ Anh quốc? Vậy thì Chúa Giê Su Hài Đồng là người Anh hả?– Cháu không biết, thưa ông, cô bé vừa trả lời vừa lấy lại con búp bê; bây giờ niềm vui của cô bé đã bị hỏng rồi – Để xem nào, hắn làu bàu, rồi quay lại gọi thuộc hạ.
Một tên hạ sĩ chạy ra.– Hôm qua có người lạ nào xuất hiện trong làng không?– Dạ tôi nghĩ là không đâu ạ, hôm qua bọn lính canh đã làm việc rất tốt. Thật ra đám chó săn đã hú lên một cách không bình thường, nhưng chúng tôi đã lục soát kỹ rồi, mà không tìm thấy gì cả.– Được rồi, tập họp mọi người lại đi. Rồi hắn đeo túi đạn vào, cài dây lưng, lấy khẩu súng và dẫn đầu đám lính đến nhà bà Rouault.
Solange, trở nên thật lo âu, đi bên cạnh hắn, nhưng bước nhanh hơn, và ôm ghì bé Yvonne xinh đẹp và tươi cười vào lòng. Đến nơi, hắn ta để hai tên lính gác trước cửa, rồi chia vài tên ra khắp nơi bên trong và quanh nhà.Rồi bảo đám còn lại đi theo mình, hắn vô trong phòng, cầm tay bé Solange, ngồi vào ghế, rồi kéo bé đến gần mình, và bằng một giọng rất nhỏ nhẹ, có lẽ để dỗ dành con bé: – Nào, bé con, kể cho ta nghe tất cả mọi việc đi nào.Thế là bằng một giọng rất nhỏ, buồn bã, cô bé bắt đầu kể về “giấc mơ của bé”, về người đàn ông mà bé nghĩ là đã nhìn thấy trong phòng, về ảo tưởng của những nụ hôn mà ông ấy đã hôn bé, và rồi đến lúc sáng, cô ngạc nhiên xiết bao khi phát hiện ra con bê thật xinh…
Tên trung sĩ theo dõi thật kỳ lời của cô bé, không bỏ sót chi tiết nào. Bỗng dưng, quay lại phía đám lính đang lắng nghe, hẳn ra lệnh:– Bọn bây, quay trở ra đi, và hãy canh cho thật kỹ mọi ngõ ngách! Nã súng vào đầu bất cứ tên nào có ý trốn chạy!Bọn họ ra ngoài, khi còn lại một mình Metzger và cô bé:– Nào, bé con, mi nói là người đàn ông đã hôn mi,… và gọi là “Solange bé nhỏ của ta”, rằng ông ấy đã quỳ bên cạnh giường cô bé và còn khóc nữa? Cô bé gật đầu , không muốn nói dối, nhưng cũng cảm nhận được một tai họa sắp xảy đến.Metzger chưa vội hành động. Hắn đặt đôi tay thô ráp lên vai bé Solange, và nói thật nhỏ, như thế nói cho chính mình:– Ừ, hắn ta nói một cách nghiêm trang, ta cũng có một bé nhóc con như thế này, ở Alsace (miền Đông nước Pháp, cạnh Đức & Thụy Sĩ), thành phố Gersheim ( Đức)… nó cũng lên tám tuổi…đã tròn hai năm rồi ta cũng chưa gặp lại con bé… và ta nói thế này: Để chỉ nhìn thấy nó thôi, cho dù nó đang ngủ, trong bóng tối, để hôn nó một chút thôi, chỉ để cảm thấy nó thiu thiu ngủ trên vai ta, mớ tóc vàng của bé thì sát vào mặt của ta…thì ta đây cũng dám liều mạng sống của ta như vậy… Hình như người cha nào cũng như thế cả.”Hắn ra chiều suy nghĩ thật kỹ càng. Rồi hắn trở nên cương quyết, đứng phắt dậy, lại thô bạo, và lắc lắc cái đầu như để xua đuổi một ý nghĩ hèn kém nào đó, rồi quay ra cánh cửa mở: – Hai người đi với ta, chúng ta sẽ lục soát căn nhà nhỏ bé này! Solange bỗng la lên: – Thưa ngài trung sĩ, gượng đã!Bé đã nghe tên lính ấy nói và đột nhiên cô bé đã hiểu tất cả: đêm đó, chính ba của bé đã đương đầu với cái chết để được đến vài phút bên cạnh con gái bé cưng, đã rời khỏi nơi ẩn náu, băng qua biển cả, cặp bến vào những tảng đá nguy hiểm, trườn người giữa đám lau sậy dưới họng súng của bọn lính canh, đề về đến làng. Chính ba của bé khi nghĩ rằng bé sẽ không có món đồ chơi nào cho lễ Giáng Sinh cả, nên đã mang “lệnh bà” đến cho nó.Ba của bé đang ẩn trốn trên căn gác kia, và rồi đây họ sẽ lên bắt ông đi, và bé sẽ nhìn thấy ông bị xiềng xích quấn vào người, và đi với bọn người lính bao quanh…Thế rồi, cô bé, lòng dạ tan nát, khóc nức nở làm rung cả đôi vai bé nhỏ, và chạy đến bên tên trung sĩ– Đợi đã! Đợi đã, ông ơi! Tên lính bây giờ đã trở lại vẻ hung ác dữ dằn, nói bằng giọng thô lỗ: – Gì nữa đây?, hắn hỏi. Solange suy nghĩ như thế này: Để cứu cha của bé, bé sẽ đưa hết tất cả những gì bé sở hữu; nhưng hỡi ôi, bé chỉ có mỗi con bê. Bé liền nảy ra ý định hy sinh thật cao cả – Thưa ngài trung sĩ, ngài có một con gái…cùng tuổi với cháu…mà ngài chưa gặp lại từ hai năm nay phải không? Metzger liền gật đầu ra hiệu đúng như vậy.-Thế thì! Thế thì!, Solange nói tiếp, đôi mắt ngấn lệ, có thể bởi vì ông không có mặt ở nhà nên chúa Hài Đồng Giê Su đã quên cô bé rồi chăng… Vậy ông hãy lấy con búp bê của cháu đây này, cháu tặng ông đó. Tên lính liền quay lại phía cô bé; hắn nhìn cô bé với đôi mắt đã ướt đẫm; hắn thở rất mạnh, đôi môi run rẩy dưới bộ ria mép, và ta nhận thấy trên gương mặt hắn những bắp thịt cử động lên xuống, tỏ rõ cảm xúc bị đè nén.
Hai người lính bước vào phòng.– Cháu đừng nói gì hết, không phải lo điều gì, tên trung sĩ nói nhỏ với bé.Rồi hắn nói với bọn lính :– Chúng ta sẽ lên trên kia, và lục soát mọi ngõ ngách. Bọn bây giữ súng sẵn sàng và hãy lên đạn, và cố nhìn cho kỹ. Bé con này, đi trước đi. Cả ba người lính và cô bé leo lên bậc thang: vừa vào căn gác, hắn đặt một người ở ngưỡng cửa, người kia cạnh cửa sổ; hắn mở cửa căn gác xép, rồi chỉ một mình hắn bước vào đó, đóng cửa lại. Trống ngực Solange đập thình thình, muốn vỡ toang ra.
Một lúc sau, cửa gác bật mở, và Metzger hiện ra: – Bên trong này không có gì cả.!– Ta trở xuống thôi. Con chim đã bay mất rồi. Chúng ta đã bị lừa…Rồi khi xuống bên dưới nhà, lúc chỉ còn một mình hắn và Solange, hắn nói nhỏ vào tai bé:– Cháu hãy nhớ kỹ điều này: “Người đàn ông ấy” có thể ở lại trên đó hết đêm nay và nguyên cả ngày hôm sau. Cháu nói ông ta hãy yên tâm đi, mọi việc sẽ tốt thôi. Ông ấy sẽ ra đi vào đêm ngày mốt, và đến Lancieux và Saint-Briac, ở đó ông có thể ra khơi lại; vùng đó sẽ không có lính gác, ta sẽ đem lính của ta qua phía bên kia. Cháu hiểu rõ chưa?
– Dạ hiểu, thưa ngài trung sĩ
– Vậy tốt rồi! Còn con búp bê này của cháu, ta sẽ mang nó đi: ta sẽ gởi về cho bé Odile của ta. Ta phải lấy con bê, bởi vì có thể có một người khác sẽ tò mò giống như ta khi thấy Chúa Hài Đồng Giê Su mang cho bọn nhóc như cháu những món đồ mỹ nghệ xuất xứ từ Anh Quốc đó. Cái em bé này đã gây cho cháu quá nhiều phiền toái rồi.– Thế nhé! Và nhớ giữ bí mật nhe cháu! Và đừng quên: đi về phía Lancieux và Saint-Briac.
Rồi ông ta đi ra, gọi cả bọn lính đi theo; và rồi, ngay chiều hôm đó, mang họ đi thám hiểm về phía Matignon, cùng với lũ chó săn luôn, trong suốt ba ngày tròn. “ &&&&&& “Và đó là câu chuyện của cả ba chúng ta, nữ bá tước Flavigny nói, đó là chuyện lôi thôi duy nhất trong suốt cuộc đời của cả ba chúng tôi, Odile, Yvonne, và tôi. Mười lăm năm sau, khi tôi làm đám cưới với bá tước của tôi, chúng tôi đi tham quan vùng Alsace; tôi đã đến Gersheim, và hỏi thăm về trung sĩ Metzger, về con gái Odile của ông ta, vì các con biết đấy, những cái tên đó đã in đậm trong trí nhớ của ta rồi. Ta đã tìm thấy người lính già ở nhà máy sản xuất hoa làm rượu bia của ông ta. Ông ấy đã giải ngũ, sau khi được lãnh huân chương ở Austerlitz, do chính Hoàng đế trao tặng..
Ông ấy đã kể cho con gái mình câu chuyện về bé Solange,và Odile đã cất giữ “lệnh bà”; rồi khi ông ấy qua đời, vài năm sau đó, ta đã đưa Odile về đây với ta; cô bé đã mang Yvonne lại cho ta, và kể từ ngày đó, cả ba chúng ta không bao giờ rời nhau nữa.
G. LENOTRE – tháinữlan dịch
Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh
NGƯNG BẮN TRÊN XỨ NGƯỜI…
CÒN XỨ TA THÌ SAO… HUẾ, MẬU THÂN 1968?
Khi họ nói KHÔNG Với Chiến Tranh– 650 chữ–David G. Stratman – TháiLan dịch –
22/6/2012
Đó là vào ngày 25 tháng 12, năm 1914, chỉ mới 5 tháng kể từ khi bắt đầu Thế Chiến thứ I. Lính Đức, Anh và Pháp đã thật chán chường và mệt mỏi với những cuộc bắn giết vô nghĩa, đã bất tuân thượng cấp của họ và đã thành huynh đệ với “Kẻ thù” trong suốt hai phần ba của Mặt Trận phía Tây (một trọng tội với bản án tử hình vào thời chiến). Những đội quân Đức giương cây thông Giáng Sinh lên trên các chiến hào với biểu ngữ “Chúc Mừng Giáng Sinh”.
“Bạn không bắn,chúng tôi cũng không bắn”. Hàng ngàn dòng quân lính lũ lượt băng qua một vùng đai trắng với toàn thân người thối rửa rãi cùng khắp. Họ ca những bài hát mừng Giáng Sinh, trao đổi hình ảnh của gia đình thân thương ở quê nhà, chia nhau phần lương thực, chơi túc cầu với nhau, hoặc ngay cả quay thịt. Binh lính ôm hôn những người mà trước đây vài giờ họ đã nhắm bắn.
Bộ Tư Lệnh Tối Cao của cả hai phe đều cảm thấy ghê sợ. Đây là thảm họa đang hình thành: binh lính tuyên bố tình huynh đệ với nhau và từ chối đi chiến đấu. Tướng lãnh của cả hai phe tuyên bố việc hòa giải tự phát sinh là mưu phản và bị đưa ra tòa án quân sự. Vào tháng 3 năm 1915 phong trào huynh đệ chi binh đã bị triệt hạ và máy chém đã được đưa vào xử dụng . Đến thời điểm ngưng chiến vào năm 1918, mười lăm triệu nạn nhân đã bị hành hình.
Rất ít người nghe nói đến câu chuyện về Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh. Vào ngày Giáng Sinh năm 1988, một câu chuyện của Boston Globe kể rằng một xướng ngôn viên đài phát thanh FM địa phương đã cho phát rất nhiều lần bài ” Giáng Sinh ở Chiến Hào”, một ballad ( bài dân ca hoặc về truyền thống dân tộc) về Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh- và họ đã rất sững sốt về hậu quả của việc này .Bài hát đã trở nên bài được yêu cầu nhiều nhất trong suốt kỳ nghi lễ ở Boston trên rất nhiều trạm phát thanh FM. Và người xuống ngôn viên nói thêm” Tôi càng kinh ngạc hơn khi thấy không phải số lần bài hát được yêu cầu mà chính là phản ứng sau đó của những thính giả trước đây chưa bao giờ được nghe bài hát đó : “Họ gọi cho tôi với tâm trạng rất xúc động, đôi khi nghẹn ngào và bật khóc, nói rằng ” Ôi Trời, tôi vừa được nghe những lời gì vậy?”
Quý vị thật dễ dàng đoán được vì sao những thính giả đó phải bật khóc chứ? Câu chuyện về Cuộc Ngưng Bắn đêm Giáng Sinh đi ngược lại với phần lớn tất cả những gì chúng ta được nghe về loài người.
Câu chuyện ấy đã cho chúng ta một ý niệm về thế giới theo ước mong của chúng ta, và nói lên rằng” Việc này đã thật sự xảy ra một lần rồi”. Điều này nhắc chúng ta nhớ về những cảm nghĩ mà ta đã giấu kín, vượt ra ngoài tầm của các câu chuyện trên truyền hình và báo chí, và cho ta biết cuộc sống con người thật tầm thường và thấp kém như thế nào. Sự kiện này giống như ta được nghe rằng những ước mơ sâu kín nhất của ta thật sự là có thật: Thế giới thật ra có thể khác đi.
Trích dẫn từ “Chúng ta CÓ THỂ Thay Đổi Thể Giới”, David G. Stratman : Ý Nghĩa Thật của Cuộc Sống Hằng Ngày (New Democracy Books, 1991)
TháiLan dịch
BÀI CA GIÁNG SINH TRÊN CHIẾN HÀO –875 chữ John McCutcheon- TháiLan dịch
Christmas in the Trenches – : Tác giả & trình bày John McCutcheon
CHRISTMAS IN THE TRENCHES– John McCutcheon
” My name is Francis Tolliver. I come from Liverpool.
Two years ago the war was waiting for me after school.
To Belgium and to Flanders, to Germany to here,
I fought for King and country I love dear.
It was Christmas in the trenches where the frost so bitter hung.
The frozen field of France were still, no Christmas song was sung.
Our families back in England were toasting us that day,
Their brave and glorious lads so far away.
I was lyin’ with my mess-mates on the cold and rocky ground
When across the lines of battle came a most peculiar sound.
Says I “Now listen up me boys”, each soldier strained to hear
As one young German voice sang out so clear.
“He’s singin’ bloddy well you know”, my partner says to me.
Soon one by one each German voice joined in in harmony.
The cannons rested silent. The gas cloud rolled no more
As Christmas brought us respite from the war.
As soon as they were finished a reverent pause was spent.
‘God rest ye merry, gentlemen’ struck up some lads from Kent.
The next they sang was ‘Stille Nacht”. “Tis ‘Silent Night'” say I
And in two toungues one song filled up that sky.
“There’s someone commin’ towards us” the front-line sentry cried.
All sights were fixed on one lone figure trudging from their side.
His truce flag, like a Christmas star, shone on that plain so bright
As he bravely strode, unarmed, into the night.
Then one by one on either side walked into no-mans-land
With neither gun nor bayonet we met there hand to hand.
We shared some secret brandy and wished each other well
And in a flare-lit soccer game we gave ’em hell.
We traded chocolates, cigarettes and photgraphs from home
These sons and fathers far away from families of their own.
Young Sanders played his squeeze box and they had a violin
This curious and unlikely band of men.
Soon daylight stole upon us and France was France once more.
With sad farewells we each began to settle back to war.
But the question haunted every heart that lived that wonderous night
“Whose family have I fixed within my sights?”
It was Christmas in the trenches where the frost so bitter hung.
The frozen fields of France were warmed as songs of peace were sung.
For the walls they’d kept between us to exact the work of war
Had been crumbled and were gone for ever more.
My name is Francis Tolliver. In Liverpool I dwell.
Each Christmas come since World War One I’ve learned it’s lessons well.
That the ones who call the shots won’t be among the dead and lame
And on each end of the rifle we’re the same. “
— John McCutcheon “Christmas in the trenches”
Tên tôi là Francis Tolliver , tôi sống ở Liverpool.
Hai năm trước, chiến tranh chờ đợi tôi khi tôi vừa rời ghế trường học, ở Bỉ, ở Flandres, ở Đức Quốc, ở đây.
Tôi chiến đấu cho quốc vương và đất mẹ mà tôi yêu tha thiết.
Bây giờ đang là mùa Giáng Sinh và thời tiết đông giá đang hoành hành một cách dữ dội nơi các chiến hào.
Những cánh đồng băng tuyết ở Pháp thật yên ắng, không nghe thấy một bài hát Giáng Sinh nào vang lên trong không gian..
Và những gia đình thân yêu của chúng tôi, bên Anh Quốc xa xôi, đang vinh danh các con em của họ, những dũng tướng tràn đầy nhiệt huyết, đang ở rất xa quê hương của họ.
Tôi đang nằm cạnh anh bạn trên nền đất sỏi lạnh giá, bỗng dưng từ bên kia chiến tuyến một âm thanh thật đặc biệt vọng lại.
Tôi bảo” Anh em ơi, hãy lắng nghe này”, thế là các anh lính nghễnh tai ra nghe.
Một tiếng hát với âm sắc thật trong trẻo vang lên một giai điệu tiếng Đức.
Ôi này, anh ta hát hay tuyệt”, anh bạn tôi nói.
Rồi dần dần từng giọng hát bằng tiếng Đức hòa nhập vào đội hợp xướng. Đại bác giờ đã im tiếng, và những đám mây khí độc đã tan ra thật xa một khi Giáng Sinh đang cho chúng tôi vài khoảnh khắc ngơi nghỉ khi còn đang ở giữa cuộc chiến. Khi họ đã hát xong bài hát, và sau một lúc tỉnh tâm, vài anh bạn ở Kent ( Đông Nam nước Anh) xướng lên bài ” God rest Ye , merry gentlemen” Hồng Ân Thiên Chúa (Nỗi Lòng Mục Tử). Kế đó, vài người hát Stille Nacht. Tôi giải thích: Đó là bài “Đêm Thánh Vô Cùng”.
Và rồi bài hát được cất lên bằng hai ngôn ngữ, cùng một bài hát bao trùm cả bầu trời quanh đó.
“Có ai đang đi về phía chúng ta kià”, anh lính gác la lên.
Tất cả mọi người đều nhìn về phía một bóng đen cao ngồng vừa xuất hiện ra bên cạnh họ.
Trên tay anh ta ngọn cờ trắng phất phơ theo gió, như một ánh sao đêm Giáng Sinh, sáng rực trên cánh đồng trong khi anh đang tiến bước một cách hùng dũng, trên người không hề mang vũ khí, và rồi bóng đêm thật dày đặc lại bao trùm quanh anh ta …
Thế rồi, từng người một, từ cả hai bên chiến tuyến, chúng tôi tiến về phía vùng đai trắng , không ai mang súng ống, không lưỡi lê, và chúng tôi bắt đầu siết chặt tay nhau,
Tất cả chúng tôi chia nhau phần rượu mạnh đã được cất giấu bấy lâu, chúng tôi chúc mừng nhau, rồi dưới ngọn đèn vàng mờ nhạt, chúng tôi chơi một trận túc cầu, và đã làm cho đối phương bao phen phải vất vả.
Chúng tôi chia nhau những phong sô cô la, thuốc lá, rồi những đứa con và những người cha trao đổi cho nhau từng bức hình gia đình thương yêu từ nơi xa xăm mịt mù kia…
Cậu bé Sanders thì chơi đàn phong cầm, còn phía bên kia thì họ chơi đàn vĩ cầm, ôi một đám bạn thật kỳ ngộ và huyền hoặc làm sao, thật là khó tin!
Thế rồi ánh mặt trời đã lên, chiếu sáng cả khu chiến hào và thêm một lần nữa, nước Pháp lại trở lại là nước Pháp.
Sau những lời chia tay thật não nề, tất cả chúng tôi chuẩn bị để chiến sự lại tiếp diễn, nhưng rồi, một câu hỏi đã ám ảnh tất cả những thành viên đã hiện diện trong cái đêm tuyệt vời thật khó tin ấy cứ luẩn quẩn trong trí chúng tôi: Có người thân nào của tất cả những người ấy đã nằm trong tầm ngắm của chúng tôi từ bấy lâu nay không?
Lúc đó lễ Giáng Sinh đã về trên các chiến hào, ở đó mọi vật đã bị bao trùm bởi đợt rét căm quá tàn bạo, nhưng những cánh đồng của Pháp đã được sưởi ấm bởi khúc hát của đội hợp xướng, vì bao nhiêu bức tường được dựng lên giữa hai phe chúng tôi để buộc chúng tôi phải thực hiện nhiệm vụ ở chiến trường ấy đã bị rạn nứt luôn mãi rồi.
Tên tôi là Francis Tolliver , tôi sống ở Liverpool,
và nếu tôi cần phải nhớ một bài học ,
đó là những người đã ra lệnh cho chúng tôi phải bắn giết lẫn nhau họ sẽ không thuộc nhóm người bị giết hoặc bị thương
và rằng ở trên mỗi đầu súng, chúng tôi đều như nhau. “
***
Theo những nhân chứng của thời ấy, hình như là đám lính Đức đã là những người tiên phong để thực hiện tình huỳnh đệ ấy.
Rồi tùy theo sự khôn ngoan hoặc vô nghĩa của các quan lại trong quân đội, vài cuộc nổi dậy đã bị dập tắt ngay trong trứng nước; dù sao, cuộc ngưng chiến đã được kéo dài cho đến đầu tháng giêng năm 1914.
John McCutcheon- TháiLan dịch-
Mùa Giáng Sinh Ấm Áp
Mấy hôm nay trời lạnh ngắt, tê cóng tay chân nhưng tôi cũng phải siêng năng đi shopping rảo nơi này, kiếm nơi kia những thứ vừa túi tiền để làm quà Noel đã gần kề. Đường phố tấp nập, xe cộ nghẹt đường. Dù kinh tế khó khăn, vật giá leo thang vùn vụt, công việc lao đao khó kiếm, nhưng không ai dám bỏ lỡ ngày lễ quốc tế lớn với phong tục ông già Noel tặng quà cho trẻ con, mà sau này mọi người còn tặng quà cho nhau nữa. Ngày lễ chính cũng là kỷ niệm ngày cưới của tôi tính đến nay đã gần bốn mươi năm chung sống cùng nhau.
Bày các thứ mua trên sàn nhà, nhìn bảng giá mỗi thứ tôi mỉm cười. Cỡ nào cũng có thể mua quà: có tiền ít mua gift card $10 cà phê Starbuck, mua kẹo sô-cô-la giá nào cũng có. Tôi tìm kéo, dao, giấy hoa mân mê gói từng món quà, vừa gói vừa cho tâm hồn quay về chuyến tàu kỷ niệm …
Giai đoạn đầu tiên đến Mỹ, cả gia đình nhà chồng cùng ở chung một nhà. Số tuổi lớn bắt tay vào việc làm, số em trẻ đi học xa. Vùng Fremont lúc đó chỉ có vài ba nhà Việt Nam ở gần, cuối tuần họ qua chơi, nhiều lúc nấu món này món kia đến biếu. Đầu óc tôi lúc đó sao mà quá ngây thơ, chỉ mơ ước được ở nhà, sắm áo dài thỉnh thoảng đi dự tiệc, nhưng mới vừa qua ngày trước thì ngày sau em chồng đã chở tôi vào làm tiệm bánh Pháp gia đình hùn mở. Sáng theo xe khi trời mờ tối và lúc về cũng tối mờ. Trời lạnh cóng chị hàng xóm đem biếu tôi chiếc áo ấm dày. Vài tuần sau tôi mua chả đến biếu và cám ơn lòng tốt anh chị này, gặp lúc vợ chồng đang cãi vã nhau. Anh kể chuyện “cả gia tài có được ba ngàn, vợ tôi không cất ở nhà mà bỏ vào túi áo măng tô đi chợ, giờ bị mất rồi, chán lắm chắc phải .ly dị thôi” chị vợ phân trần đôi điều mặt buồn xo. Chồng tôi khuyên lơn “tản tài hơn tản mạng, của đi thay người, tiền sẽ kiếm lại được”. Tôi mở đôi mắt to tiếc rẻ số tiền quá lớn, không thể tưởng đối với tôi. Ra về tôi thì thầm bên chàng “Trời ơi em mà có số tiền như vậy khỏi cần làm gì hết”, Chàng trề môi “Ở Mỹ này ai cũng đi cày hết, rồi cô sẽ thấy: có ba ngàn đòi năm ngàn và không biết khi nào là đủ đâu.”
Đám cưới tôi vào đêm 24 tại nhà. Các em trai họ bên chồng từ LA lên, các em đang còn đi học nhưng rất chân tình, nói với tôi “em có $10 chị muốn món quà gì em mua”, tôi thấy cảm động vì các em đang nghèo “chị qua được Mỹ là có gia tài lớn rồi, em còn đi học thiếu thốn cực nhọc đừng mua gì hết, đường xa lái xe lên đây chung vui với chị là quý lắm rồi“.
Khi có công việc thì đâm ghiền vì mỗi nửa tháng nhận tấm check tăng đầy sinh lực đóng tiền nhà, tiền ăn tiêu và gởi chữ hiếu về cha mẹ anh em.
Ngôi nhà ở đường Costa Way vùng Fremont là kỷ niệm quý giá đầu tiên tôi đặt chân lên đất Mỹ. Mẹ chồng tôi hy sinh nấu ăn cho con cái đi cày. Căn nhà có bốn phòng, sửa thêm hai phòng dưới Garage xe, anh em làm nhiều giờ khác nhau, tuy đông người nhưng cũng ít gặp mặt nhau. Cuối tuần con cái được nghỉ bày nấu nướng cơm hến, bún bò, phở, cháo xúm nhau ăn vui vẻ. Gia đình gồm mười một người con, dần dần lập gia đình ra riêng, nhưng vẫn sum họp ngày chủ nhật hoặc kỵ giỗ, xem như căn nhà đó là ngôi Từ Đường thờ cúng từ đời ông bà Cố trở xuống.
Lần lượt cháu nhỏ ra đời, con dì, con cậu, con chú, con cô lứa tuổi nào chơi với lứa tuổi đó. Vì luôn họp mặt nơi ngôi nhà Từ Đường nên các cháu rất thân thiết như anh chị em ruột. Có khi các cháu qua nhà thím này, mợ kia ở lại để chơi chung anh em họ và ngược lại. Chúng nhắn tin cho nhau hẹn gặp gỡ xem cine, hoặc về nhà ông bà nội ngoại, gọi pizza ngồi chuyện trò ăn chung. Lớn dần các cháu đi học phương xa, cháu nào tốt nghiệp vẫn ăn mừng đông đủ. Giờ đây các cháu liên lạc chung cả nhóm, có lần hẹn hò qua New York dự sinh nhật cháu khác làm việc bên đó, chơi suốt tuần gởi hình ảnh vui nhộn về, người lớn cảm thấy hài lòng thỏa mãn về sự thành công của lớp trẻ, bù đắp biết bao nhiêu công lao khó nhọc, hy sinh vì con.
Mùa lễ nhớ biết bao nhiêu kỷ niệm trên đất Mỹ. Soạn thiệp Noel gởi mợ bên Pháp, bạn Mỹ lúc làm chung nơi Company Kyle Design, vài người thân thích và bà Marilyn Evans. Lòng tôi không khỏi ngậm ngùi về ông chủ Tom Evans nay đã mất, chỉ còn lại bà đến mùa Noel chúng tôi nhận được tấm card lời lẽ ấm áp. Đã hơn ba mươi năm, thời gian qua vùn vụt. Nhớ ngày nào khi chồng tôi vừa học vừa làm part time cho hãng tư nhân nhỏ, một hôm bị đau ruột thừa dữ dội phải vào bệnh viện mổ và nghỉ dưỡng nửa tháng, tưởng ông bà thuê người khác nhưng không. Họ gởi hoa chúc lành, nhắn chồng tôi đến trao tấm check nửa tháng lương cho không, và dặn chồng tôi tiếp tục làm những công việc nhẹ. Mỗi năm chúng tôi được mời dự tiệc Noel nơi nhà hàng sang trọng trên vùng Berkeley. Thời gian này tôi làm cho company Kyle Design trên đường Industrial đang còn mướn chỗ nhỏ vùng Hayward, tôi đậu xe ngoài xa đi bộ vào. Khoảng đường đó có hàng cây rậm lá um tùm, nên mỗi ngày xe tôi đều bị chim thả “bông trắng” đầy trên trần. Xe lại bị bộ phận nơi máy mỗi lần đề cho nổ phải chờ tới 15 -20 phút, nếu vài phút chạy thì máy tắt. Lần đó tiệc lễ Giáng Sinh tổ chức đêm thứ sáu, tôi không kịp rửa xe để vậy chạy luôn. Nhà quê lên tỉnh cả hai người, chưa quen lối quý phái sang trọng, tới nơi có người đứng chào xin chìa khoá lái xe đi đậu parking, vào trong có người đến xin áo khoác ngoài đem đi treo nơi khác. Ngồi một bàn dài ông bà chủ và nhân viên, thưởng thức nhạc sống hoà tấu và tiệc sang trọng. Lúc trở về cũng đứng trước tiệm chờ người lái xe đến, tôi hồi hộp lo lắng tài xế không hiểu bệnh của chiếc xe, chắc họ cũng toát mồ hôi hột, và nếu họ nhìn kỹ một tí sẽ thấy phân chim bao trùm chiếc xe đời thượng cổ. Đó là kỵ niệm nhớ hoài mỗi khi nhắc lại đều không khỏi nhịn cười. Chúng tôi thừa hưởng rất nhiều quà bà Marilyn cho sau mùa lễ: bánh, kẹo sô-cô-la, có lúc cả áo jacket mới toanh. Chồng tôi làm cho ông bà Tom ăn tiệc được hai mùa lễ, rồi đổi jobvà ông bà cũng sang hãng góp cổ phần sáp nhập vào công ty lớn. Bà Marilyn vẫn chưa quên, chúng tôi còn nhận đều đặn tấm thiệp Noel từ vùng Moraga gởi đến.
Đang gói các món quà và viết card chúc Giáng sinh, năm mới. Chồng tôi bước xuống chợt nhắc:
– Nấu bún bò cho Boss Kyle nữa.
– Dĩ nhiên mà, đang tính ngày mai đi chợ mua các thứ nấu đây.
Nói đến boss Kyle nơi tôi đã làm việc trên ba mươi năm, nơi có câu chuyện sẽ rất dài, dài hơn con đường có hàng cây bóng mát trên vùng Livermore che chở cuộc sống của tôi. Gần gũi Boss tôi học được những đức tính chịu khó, kiên nhẫn và lối sống vô cùng giản dị, thân mật gần gũi. Mỗi mùa Noel tôi được nhận quà bằng số tiền thưởng rất lớn trên dưới ba ngàn, và nghỉ một tuần qua Tết Tây được ăn lương. Bà và hai con gái rất mê món bún bò, mì hoành thánh tôi nấu, nên bây giờ tuy đã về hưu nhưng đến mùa này tôi vẫn nấu gởi lên.
Những mùa Lễ Giáng Sinh trôi qua trên đất nước Hoa Kỳ, con cháu đại gia đình thật vui nhộn, đầm ấm hạnh phúc. Thức ăn mỗi người một món theo kiểu Potluck để ngập bàn. Đêm thiêng liêng, không ai có thể quên Chúa Giê -su sinh ra đời, đêm Chúa xuống thế. Một đêm thần diệu đối với trẻ con được thỏa mãn ước mơ, và loài người được nhận thông điệp của hoà bình “Vinh danh Thượng Đế trên cao, bình an cho người dưới thế”. Ngày của sự sum vầy, gia đình yêu thương gắn bó hơn, mùa của sự rộn ràng chờ đợi, đâu đâu cũng nghe bài hát “Jingle Bells” Đêm Noel, đêm Noel, ta hãy cùng vui lên… Chúng tôi cảm tạ Chúa, sau đó ăn uống, chớp hình, hát Karaoke và tán gẫu. Mục sau cùng phát quà, cháu nào cũng dùng bao rác cỡ lớn chứa quà, bởi toàn bộ cô bác chú dì là mười một người chưa kể nhân đôi dâu rể. Hiện nay có thêm hai Chắt nữa, tổng cọng hai mươi mốt trẻ, chỉ tiếc ông bà cố đã qua đời. Số lớn nay đã ra trường đủ ngành nghề: Y, Dược, Luật, Y Tá, MBA (Quản Trị Kinh Doanh), Accounting Management, Kỹ Sư, chỉ Nha Sĩ là không có, tuy nhiên cũng có cháu thất bại trầm trọng, và một cháu bị bịnh Autism (tự kỷ), còn lại hai cháu đang học đại học.
Tôi thấy hơi đau lưng, đứng dậy vươn vai, quay qua nói với chồng:
– Mấy năm sau này mình giảm phần quà rất nhiều vì các cháu lớn đã có lương cao jobvững: chỉ tượng trưng hộp kẹo sô-cô-la , mấy cháu còn đi học cho tiền, hai cháu nhỏ gọi bằng bà cho quần áo, nên đã tăng tiền Homeless bên Mõ Nhân Ái của ông Lê văn Hải, (chủ nhiệm tờ báo Thằng Mõ) và nơi nhà thờ thuộc vùng Richmond mình vẫn gởi từ lâu.
Chồng tôi gật đầu hoan nghênh:
– Đúng rồi, bà tính vậy hay đó.
Nghĩ tới ông Lê văn Hải cũng là hội trưởng của cơ sở Văn Thơ Lạc Việt. Tôi vô cùng kính trọng cách sống hài hoà của ông, tấm lòng rộng rãi tràn đầy bác ái luôn nghĩ đến những người Homeless, thường tổ chức phát thức ăn và quà hàng tháng, chưa kể còn chia sẻ tình nghĩa với huynh đệ đời lính. Ông thường nói “Nếu bạn không biết cho đi, đồng nghĩa với việc bạn sẽ không biết thế nào là hạnh phúc”.
Qua Mỹ hai bàn tay trắng, bao nhiêu người sống chung một ngôi nhà, chỉ có vài chiếc xe cũ rích. Giờ đây đã có mười lăm ngôi nhà và mấy chục chiếc xe. Đất nước này cho chúng tôi nhận quá nhiều, những ông bà Boss Mỹ đầy ân tình, cuộc sống văn minh lịch sự dìu dắt, hướng dẫn chúng tôi từng bước, che chở hơn hai phần ba cuộc đời, tập tánh siêng năng phấn đấu để bây giờ tuổi già được nuôi dưỡng tiền hưu cũng như có bảo hiểm cover 80%, chúng tôi mua thêm 20% bên ngoài nữa, chỉ thua những người ăn tiền già được bảo bọc 100%, không tốn đồng nào.
***
Tôi đã làm xong các công việc gói quà, gởi card và nấu bún bò cho Boss.
Ngày lễ đến, đường phố toàn hình ảnh các ông già Noel xuất hiện. Trước những ngôi nhà trang trí màu sắc lộng lẫy, nơi này chưng hình chú Nai vàng lấp lánh, nơi kia giăng đèn trên các cành cây trước sân đủ màu xanh, đỏ, vàng, tím. Khung cảnh tràn đầy ấm cúng phủ bớt cái lạnh se thắt trong không gian. Đại gia đình chúng tôi tụ họp nơi nhà người em. Cây thông lấp lánh những quả châu, hoa tuyết trang trí, quà chồng cao vui mắt, thức ăn, thức uống đầy bàn.
Tuy gia đình chúng tôi theo đạo Phật, nhưng đêm lễ thiêng liêng… chúng tôi nguyện thầm “Lạy Phật, lạy Chúa… chúng con xin cảm tạ đêm hôm nay có được sự sum họp gia đình đầm ấm. Các cháu thì nhắc chữ “Emmanuel” (Thiên Chúa ở cùng chúng ta). Im lặng để biết ơn Phật Chúa, biết ơn cha mẹ, biết ơn thầy cô, biết ơn những anh Thương Phế Binh, những người lính VNCH, biết ơn nước Mỹ, “Biết Ơn Đời, Đời Sẽ Thương Ta” như cuốn sách của Dr Robert A Emmons đã cho tôi cảm nhận niềm diễm phúc đêm nay… đêm Noel.
Minh Thúy Thành Nội
You Raise Me Up –
Ngài Nâng Tôi Lên
Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã từng nghe qua ít nhất một lần ca khúc bất hủ này. Tên của ca khúc là You Raise Me Up.
Đây là bài ca khởi nguồn từ một đoạn nhạc mở đầu (Prelude) cho album Silent Story của Secret Garden do nhạc sĩ Lovland sáng tác. Sau đó vị nhạc sĩ này đã đề nghị nhà soạn nhạc lừng danh và cũng là nhà văn người Ireland Brendan Graham viết lời ca.
Tưởng cũng nên biết ca khúc này dựa trên một câu chuyện rất đẹp.
Chuyện kể rằng:
Có một bạn trẻ kia than trách với Chúa sao những lúc cô đơn, đau buồn và thất vọng…Ngài lại vắng mặt?
Chúa không trả lời mà chỉ lẳng lặng cho anh xem một đoạn phim. Đoạn phim ấy chỉ ghi lại hình ảnh dấu in của hai đôi chân trên bãi cát biển.
Anh nói với Chúa:
Ồ, đây là lúc mà con đang thành công và hạnh phúc, đúng là Ngài đang bước đi bên con.
Thế rồi đoạn phim chiếu đến cảnh biển nổi sóng trong một ngày giông bão, trên bãi cát chỉ còn lại dấu in của một đôi chân.
Chàng trai trẻ nói ngay với Chúa:
Đó, Ngài xem! Lúc con gặp khó khăn, thử thách, Ngài để con lủi thủi một mình trong cô đơn và thất vọng.
Chúa hỏi lại chàng trai:
Con có biết đôi chân ấy là của ai không?
Anh đáp:
Hẳn là của con rồi!
Không, đó là đôi chân của Ta.
Vậy thì đôi chân của con đâu ạ?
Chúa âu yếm nhìn chàng trai và trả lời:
Lúc đó, Ta đang vác con trên vai của Ta đấy!
Và bài hát này chính là lời thổn thức của bạn trẻ ấy với Chúa:
When I am down, and, oh my soul, so weary When troubles come and my heart burdened be Then I am still and wait here in the silence Until you come and sit awhile with me
You raise me up so I can stand on mountains You raise me up to walk on stormy seas I am strong when I am on your shoulders You raise me up to more than I can be
Tôi mạn phép chuyển ngữ sát với giai điệu, để ca khúc này có thêm lời Việt sau đây:
Nghẹn ngào xa vắng
Hồn tôi băn khoăn ngập buồn đau
Đường đời đen tối
và xót xa chiếm tâm hồn
Bồi hồi lo lắng
Ôi cô đơn tâm tư rã rời
Kìa Chúa đến bên
Ủi an cho tôi bình yên
Ngài nâng tôi lên
cho tôi vững chân giữa núi đồi
Ngài nhấc cao hơn
an tâm bước qua biển khơi
Rồi thêm sức
cho tôi tin tưởng niềm vui sống
Ngài đỡ nâng tôi
đưa tôi đến nơi bình yên.
“You raise me up to walk on stormy seas” – Ngài nâng con lên vượt qua giông bão biển khơi.
Bắt nguồn cảm hứng về câu chuyện trong Kinh Thánh nói đến một môn đệ của Chúa Giêsu khi thấy Ngài bước trên sóng nước. Bằng cả đức tin tuyệt đối, ông xin Chúa: “You raise me up – Ngài nhấc con lên”. Kết quả phép lạ thật diệu kỳ, vị môn đệ ấy cũng được bước đi trên sóng nước.
Đó là câu chuyện của niềm tin và tình yêu bao la vào Đấng Quyền năng được kết dệt qua âm nhạc để trở thành một ca khúc tuyệt vời. Nhiều người cũng nhìn nhận ca từ của ca khúc này dưới góc độ một câu chuyện tình yêu lứa đôi tuyệt đẹp. Nhưng dù là đối với Thiên Chúa hay người tình thì cũng là những cảm xúc vô cùng mỹ diệu và cao thượng. Điều đó cho ta một triết lý: tình yêu và niềm tin cao thượng sẽ nâng chúng ta lên…
Tôi nghĩ rằng, đây là bài hát không riêng cho một tôn giáo nào, và có lẽ các bạn cũng đồng ý với tôi rằng, chúng ta không thể phủ nhận sự hiện diện Thượng Đế trong đời sống của kiếp nhân sinh. Thậm chí chính ngay những người vô thần hay chủ thuyết vô thần (Atheism) mà họ thường nào là: “Tôn giáo là liều thuốc phiện” với những “Duy Vật Biện Chứng” và “Loài người do khỉ mà ra…”
Cho tôi lan man ngoài lề một tí.
Thật ra, chính những người vô thần này họ lại tin thần linh hơn ai hết (Chủ nghĩa vô thần có ở cả người theo chủ nghĩa duy tâm lẫn cả người theo chủ nghĩa duy vật) Vì kinh nghiệm đã cho ta thường thấy nếu điều gì ngoài sức lực và kiểm soát của con người, họ thường chạy đến các thần linh để ước nguyện và cầu xin. Thí dụ muốn được những điều may mắn, được thăng chức, việc làm tốt; ăn nên làm ra, tai qua nạn khỏi… họ van vái bốn phương, muốn được nhiều tiền và giàu có; họ “hối lộ” thần linh. Họ mê tín,dị đoan, xem bói, cầu cơ, khấn xin, van vái Thần núi, Thần sông, Thần biển, Thần hồ…
Những điều này cho ta suy nghĩ và khẳng định gì?
Thưa, dẫu là vô thần, nhưng tận trong sâu thẳm tâm hồn, họ vẫn tin có Thượng Đế đã tạo dựng nên vũ trụ và vạn vật, để mỗi khi gặp hoạn nạn mà cầu cứu và van xin. Nghĩa là họ tin có Đấng Thần Linh, tin có Ông Trời dù rằng họ từ chối các tôn giáo mặc dù họ biết mọi tôn giáo luôn hướng con người đến điều thiện – lành…
Nhà Bác học Einstein (Thuyết tương đối) là một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất mọi thời đại nói rằng:
“Khoa học không có Tôn giáo là mù lòa…”
Thế nên người vô thần tự định nghĩa theo cách “Chủ nghĩa vô thần không phải là sự hoài nghi nơi các thần, hay chối bỏ các thần; mà là thiếu niềm tin nơi các thần”. Như vậy, chủ nghĩa vô thần vì sự hoài nghi và là sự thiếu niềm tin. Tư tưởng này phát xuất từ lòng kiêu ngạo mà trong Kinh Thánh cũng đã có đề cập: “Kẻ ngu dại nói trong lòng mình rằng, “Không có Thiên Chúa” (Thánh Thi 19:1; 97:6) Nghĩa là họ tự nhận mình trí tuệ vượt trội hơn niềm tin nơi Thiên Chúa.
Nhà bác học vật lý Newton trong thời đại chúng ta đã trải qua bao nhiêu năm tìm hiểu định luật vạn vật hấp dẫn chuyển động trong trái đất đã khẳng định rồi thốt lên rằng:
“Trong Kinh Thánh có nhiều biểu hiện chắc chắn về tính có thực hơn trong bất cứ một câu chuyện nào chống lại sách đó”
Cũng do thiếu thông tin đúng đắn để họ kết luận rằng chẳng có gì tồn tại ngoài vũ trụ. Những nguyên nhân đó khiến một số người xác nhận mình là vô thần và rồi kiêu ngạo.
Thiếu hiểu biết.
Thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết khái quát về địa lý, văn hóa, về không gian và thời gian trong Kinh Thánh, khiến họ nghi ngờ rồi tạo ra các ý tưởng suy diễn lý lẽ mù lòa theo cách của mình để vá víu vào các khoảng đó. Việc này thường dẫn tới suy luận tôn giáo sai lầm, cũng như thể kiến thức sơ sài về Thiên Chúa thường bị bôi nhọ bởi những điều siêu nhiên mà Thiên Chúa tạo dựng, nghe như thần thoại hay là một câu chuyện cổ tích. Cũng không ngoại trừ từ lòng đố kỵ và ác cảm của một số vị chức sắc, tu sĩ thù ghét tôn giáo, thậm chí bị ảnh hưởng vì những người mang danh là có đạo mà lối sống và hành vi của họ bề ngoài, thiếu công bằng, đen tối, tàn nhẫn và độc ác…
Trong thời gian vừa qua, chúng ta có lẽ đã thấy và nghe trên YouTube những bài thuyết pháp của những tu sĩ nói sai – cố ý nói sai để mạ lỵ và xúc phạm tôn giáo, gây hoài nghi niềm tin nơi những tín đồ có nhận thức giới hạn, tạo mất tình đoàn kết giữa các tôn giáo. Và nay, cái giá phải trả; các vị tu sĩ này đã bị cộng đồng mạng đồng loạt lên án và tẩy chay, làm ảnh hưởng xấu đến chính tôn giáo của mình.
Ý niệm về mọi tôn giáo và sự tồn tại của nó chính là “Cái Đẹp” – “Cái Đẹp cứu rỗi thế giới”.
Một người có cách sống đạo đức nằm ngoài các mệnh lệnh tôn giáo là điều rất cần thiết. Vì trong thế giới hôm nay, đã có một số người mà họ mất đi ý niệm về tội lỗi, nên đã gây ra những điều đau khổ cho con người.
Tôn giáo của người nào đó là điều cao cả và thiêng liêng bất khả xâm phạm trong trái tim người ấy. Tôn trọng Tôn giáo của người, có nghĩa là ta tôn trọng và làm rạng rỡ Tôn giáo của chính ta!
Trở lại bài hát You Raise Me Up.
Thường khi con người gặp những hoạn nạn, đau khổ, bất toàn, bất hạnh… Họ lại chạy đến cầu xin Thần linh.
Ước gì không phải lúc ta gặp hoạn nạn mới cần đến Thiên Chúa, mà ngay những lúc ta hạnh phúc, đầy đủ, sướng vui… Nhiều khi ta cầu xin liên lỉ điều này điều kia mà sao chẳng thấy được ban phát? Thế nhưng, biết đâu Ngài lại ban cho ta những điều khác, và chính những điều này mới là thật sự rất cần thiết mà ta chưa cảm nhận.
Trong sự quan phòng của Thiên Chúa, Ngài biết rõ ta cần gì!
Sau cùng, kính mời quý vị và các bạn mở YouTube để nghe ca khúc You Raise Me Up dưới đây.
Ca khúc này tôi đã viết thêm lời Việt như đã nói ở trên, cũng như sáng tác thêm đoạn kết (Coda) rồi hòa nhạc dựa trên phong cách nguyên thủy của bài hát theo link sau đây:
Quý vị và các bạn cũng có thể ươm giọng ca của mình vào ca khúc nổi tiếng này theo link karaoke kèm theo dưới đây:
Không quên xin cảm ơn nghệ sĩ Trúc Tiên đã thực hiện video diễn ảnh rất ý nghĩa.
Trân trọng,
Văn Duy Tùng
NHỮNG MÙA GIÁNG SINH TRONG KÝ ỨC
Nguyễn Hoàng Quý
Làng quê nơi tôi sinh ra là một vùng bán sơn địa thuộc thung lũng Quế Sơn, địa danh một thời nổi tiếng trong các trận qiao tranh giữa một bên là quân giải phóng và một bên là quân đội Đồng minh & VNCH. Quế Sơn ở phía Nam Đà Nẵng, cách chừng 60km, ở Tây Nam Hội An cách chừng 40 – 50km.
Thập niên 50 thế kỷ trước, ở quê tôi không hề thấy những Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo, chỉ rải rác vài chùa Phật giáo, đa số là các Thánh thất Cao Đài ở nhiều xã trong quận.
Những năm học tiểu học, 1956 – 61, mỗi năm đi học được nghỉ lễ “Bấc” một tuần, cứ ngỡ là gió bấc. Lớn dần thì hiểu ra đó là Lễ Phục Sinh (Pâques). Con nít, nghỉ học là vui nên không quan tâm mấy, cũng không nhớ có nghỉ Noen hay không, nghỉ ít hay nhiều ngày vì mãi đến năm 1960, làng tôi mới có một Nhà Nguyện Công Giáo. Nhà Nguyện dựng trên đất nhà anh Năm Sắc con bà Luân, vách tranh, lợp tranh. Không rõ nơi này quy tụ được bao nhiêu người tới cầu nguyện theo lễ nghi Công giáo vì với đầu óc một cậu bé lên mười, điều chú ý không phải là việc này. Điều còn nhớ được là có một linh mục ở tỉnh về giúp đỡ mọi việc thời gian đầu, anh Năm Sắc xưng với ông là “Cha”, vợ con anh cũng xưng là Cha, Bà Luân, mẹ anh không đồng ý và nói rằng: “Nếu con và vợ con xưng với ông này là Cha thì dứt khoát các con của con phải xưng là “ông nội”!”. Chuyện hoàn toàn có thật, không mảy may thêu dệt vì người dân quê, khi chưa hiểu, dễ dị ứng với những cái mới.
Phải đợi đến cuối thập niên 60, khi tôi lên Đà Lạt học năm đầu đại học tôi mới có nhận thức tương đối đầy đủ về LỄ NÔ – EN, NGÀY GIÁNG SINH khi thành phố này có nhiều trường Công Giáo, nhiều Nhà Thờ, bạn bè tôi là con Thiên Chúa, Đại học Đà Lạt nơi tôi học là trường Công Giáo. Khi nhà Thờ Con Gà, Domaine de Marie, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, các xóm đạo từ số 6 vào Thánh Mẫu đều trang trí mừng Giáng sinh, lòng mình rộn lên những cảm giác vui tươi khi nhìn và nghĩ đến câu: “Sáng danh Thiên Chúa trên Trời/ Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Có một lần anh em tôi vào nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế đêm 24.12, được nghe từ đó tiếng đàn harmonium dạo bài “Đêm Thánh vô cùng” (Silent night – Holy night) và bài “Hang Bêlem”. Tiếng đàn thoát ra từ bên trong bức tường đá của Nhà Thờ rất tuyệt. Chỉ đến sau này, có lần đến Nhà Thờ Kỳ Đồng Sài Gòn cũng đêm Giáng Sinh mới được nghe lại, y hệt, dù ở đây ồn ào hơn do xe cộ chạy qua.
Về Huế, tôi được tiếp xúc với Linh mục Trần Thắng Trung là tuyên úy Công Giáo, về sau Cha về quản lý Tòa Giám mục, tôi gặp Soeur Marie de Bernard, Soeur Jean du Calvaire Kim Thúy. Hai chị tu dòng Saint Paul, làm việc thiện nguyện ở BV Trung Ương Huế. Cha Trung và các chị vốn có giao tình với chị ruột tôi ở Đà Nẵng từ trước nên coi tôi như con – em, luôn dành cho những tình cảm yêu thương và ai cũng muốn tôi “trở lại đạo”. Có lẽ tôi không nhận được sự quan phòng của Thiên Chúa nên dầu ngày ấy, tôi đi lễ chúa nhật với người bạn cùng phòng ở ký túc xá, đọc Thánh Kinh, tôi vẫn chỉ dừng lại ở việc nhận Hồng Ân của Người. Vào cuối tháng 12, khi thời tiết bên ngoài rất đẹp, trời không còn mưa, có ngày nắng vàng trải trên khóm cây các sân nhà thờ đã trang trí thông Nô – en, máng cỏ, hang lừa lòng tôi vẫn rộn lên những nao nức và nghĩ đến việc dọn mình chờ đợi đón mừng ngày Chúa Giê su Ki tô chào đời.
Đến nhà thờ xem lễ Giáng Sinh, nghe Phúc Âm, nghe Thánh Ca cũng như nghe các Cha giảng, tôi thấy lòng mình thanh thoát, những bài giảng của các Cha luôn giúp ích cho việc bảo tồn trật tự xã hội khi con chiên thực hiện đúng 10 điều răn của Chúa. Tôi cũng đã dự một vài Thánh lễ cưới của người thân, Thánh lễ luôn đem lại cho mình cảm giác vui mừng cho hạnh phúc của cô dâu chú rễ nhất là khi giáo luật có những điều ràng buộc họ với nhau để biết nhẫn nhịn trong cuộc sống hàng ngày theo kiểu “Chồng giận thì vợ bớt lời. . . “.
Khi ra trường đi dạy, tôi có vài lần dự lễ mở tay của học trò cũ ở ngay chính giáo xứ mình sinh ra, tôi mặc complet, thắt cravat như đi họ đám cưới vì, cũng giống như dự lễ khấn của các nữ tu (khấn tạm, khấn lại, khấn trọn đời) đều không khác lễ cưới của người ngoại đạo. Có lần tôi dự Thánh lễ nửa đêm ở Nhà Thờ Đồng Dài, cách nhà chừng 15km. Lễ xong về dự tiệc canh thức ở nhà riêng của Chủ tịch Hội Đồng Giáo xứ có Cha chánh xứ và các chức sắc nhà thờ cùng tham dự. Tất cả những việc này và còn nhiều nhiều nữa đã luôn nằm ở một ngăn đẹp trong tủ đựng những kỷ niệm đời mình. Do vậy, cứ đến đầu tháng 12 hàng năm là bao nhiêu kỷ niệm với đất, với người trỗi dậy để thấy mình trẻ lại và lòng mình ấm áp.
Cha mẹ tôi thờ Ông Bà, về sau, tôi tìm hiểu đạo Chúa, tuổi trung niên, tôi tìm hiểu đạo Phật, đọc sách Phật và sống theo giới luật của một Phật tử nhưng trong tôi luôn có một Đấng Toàn Năng chi phối mọi con người. Với tôi, đấng Toàn Năng đó là Thiên Chúa Ba Ngôi, luôn yêu thương và cứu chuộc trần gian.
TRÁI TIM TỪ BI CỦA NGƯỜI THỢ XỨ LÁ PHONG -Adèle Bibaud- 1173 words
Người người đều quấn mình thật ấm, họ bước đi rất nhanh, trời quá rét. Mọi người đều lo âu vội vàng để chạy nhanh về tổ ấm: lưới trượt của những xe trượt tuyết rền lên trên con đường lớn ở Mile-End *, gió rít thật xé tai làm đám tuyết ụn thành đống dưới chân những cây cao phủ đầy sương giá, trước đó trận bão đã làm rung chuyển những cánh tay sầu não của chúng. Những hạt bông tuyết xoáy tròn trên không, như thể bụi mù vùng sa mạc, làm mất hướng nhìn của người bộ hành. Hôm ấy thật sự là một buổi tối Giáng Sinh, thời tiết xuống hai mươi lăm độ âm. Ở khúc ngoặt con đường, một đám nhà nhỏ nghèo nàn đang khoe chùm mái đổ nát. Nào ta hãy vào căn đầu tiên nhé: có bốn người: họ đang ở căn phòng phía trước, hai người phụ nữ, hai đứa bé.
Bọn nhỏ đang lăn lộn, đùa giỡn, rồi cãi nhau. Ở lò sưởi, từ cái nồi bóng loáng như gương mặt của một người Phi Châu, tiếng ồng ộc của món súp hầm tỏa ra mùi vị thật ngon. Trên bàn, bốn bộ thìa dĩa dao đặt ngày ngắn với chiếc khăn trải thật tươm tất, một miếng bơ, một miếng phó mát, một cái liễn bằng sành chứa đầy sữa, một ổ bánh mì. Họ chỉ còn chờ người chủ gia đình. Trên tủ bếp, một bức tượng của thánh Antoine, cánh tay bị gãy đang bế chúa Hài Đồng Giê Su do một phép mầu, ở dưới chân bức tượng thì một con ngựa gỗ đang kéo xe ba gác, cái xe này cũng đã qua cuộc chiến nên chỉ còn ba bánh xe; ở đầu bên kia của tủ thì bên dưới một quả cầu thủy tinh có hai bàn tay bằng sáp đang chắp vào nhau thật chặt, trên một cái khay bằng nhung đỏ; rồi xa hơn là một cái bình thủy tinh không quai, hai cái tách bị rạn nứt, một con chó bằng gốm, một con cừu với người chăn, tất cả những thứ này làm đồ trang trí cho căn nhà và được sắp xếp một cách không thứ tự và thật xa con mắt mỹ thuật. Trên tường thì treo lủng lẳng xoong nồi và dụng cụ nhà bếp. Ngoài ra, còn mấy cái ghế khập khiễng, một cái ghế trường kỷ xếp được dùng làm tủ, đó là toàn bộ đồ nội thất trong phòng; cho dù với sự nghèo nàn thiếu thốn, căn phòng vẫn toát ra một không khí thoải mái vì tất cả đều thật sạch sẽ chu đáo.
Tiếng gù gù của chú mèo nằm trên chiếc ghế đẩu cũ kỹ cho biết rằng thực khách này của căn nhà hèn mọn được yêu thương và cưng chiều như thế nào.
Hai người phụ nữ rì rầm nói chuyện với nhau, thỉnh thoảng đôi mắt của người trẻ bị mờ đi vì ngấn lệ.
– Tội nghiệp cô ấy quá, bà nói. Cô ấy sẽ không sống nổi. Ai sẽ chăm sóc con của cô ta? Lúc trước khi tôi bị bịnh, chính cô ấy đã chăm lo bọn nhóc của tôi. Ôi, giá như ông nhà tôi muốn làm điều đó!… nhưng mùa đông năm nay thật khắc nghiệt, quá khắc nghiệt, nên tôi không dám hỏi ông ấy, chị biết không, tôi thật đau đớn nghẹn ngào mỗi khi sang thăm cô hàng xóm. Ban đêm tôi không thể ngủ bởi vì tôi đã đọc được trong đôi mắt to sắp tàn lịm của cô ấy điều mà cô ấy muốn hỏi tôi nhưng không dám, cô ấy chờ tôi sẽ mở lời trước.
– Chị nghĩ cô ấy sẽ không qua khỏi hay sao?
-Chị ạ, cô ấy bị viêm phổi, và khi đã bị bịnh này rồi thì thua thôi, cộng thêm với nỗi lo âu về sự nghèo đói, rồi ý nghĩ phải để con mình lại cho người lạ nuôi lại càng làm cho cô ấy suy mòn nhanh hơn nữa, ôi thương quá.
Người thiếu phụ trẻ lấy vạt tạp dề lau nước mắt đang từ từ chảy dài xuống.
Rồi, may sao, cánh cửa đột ngột mở bật ra và một luồng gió mạnh mang theo những mảng tuyết ào vào nhà cùng với một người đàn ông cao to trông rất hoạt bát khỏe mạnh có dáng một lực sĩ, nét mặt nghiêm nghị, nhưng có vẻ chân thành và lương thiện.
– Ôi, với khí hậu chết tiệt này, về nhà thích làm sao, trời ạ! tôi tưởng là cơn bão tuyết sẽ chôn sống tôi ngoài đường rồi chứ! Rốt cuộc ta cũng về đây rồi. Ông ấy vừa nói vừa ném cho bọn nhóc một túi kẹo hạnh nhân.
– Này các con, ngày mai là lễ Giáng Sinh rồi đó, chúa Hài Đồng Giê Su không quên các con đâu này; nhưng mà này đừng có mà kiện cáo hay cãi cọ đấy nhé.
-Ba!
Hai đứa bé chạy đến bên cha, một đứa ôm lấy chân ba chúng, đứa kia thì leo lên vai, còn ông ta thì ôm hôn các con, thảy chúng lên trên cao, đứa này rồi đến đứa kia, rồi đến bên vợ mình.
– Cái gì thế này, hôm nay lại có nước mắt ư, điều gì làm cho em ray rút thế, đây là lần thứ hai trong tuần mà ta thấy em khóc, điều này không bình thường rồi. Em không tin tưởng nơi ta để nói cho ta biết việc gì làm em buồn khổ sao? Hôm nay là một ngày tốt, ta làm việc rất có kết quả và ta muốn tất cả mọi người đều hạnh phúc trong ngôi nhà này. Nào, hãy nói ngay cho ta biết em cần điều gì nào.
Người thiếu phụ trở nên sợ sệt.
– Chắc là anh sẽ rầy la em mất thôi.
– Em nói đi.
– Đây ạ! Anh biết không, cô hàng xóm tội nghiệp, cô ấy sắp ra đi, rồi con của cô ta…
-A! đúng rồi, cô nàng khốn khổ tội nghiệp, anh quên khuấy đi mất, rồi con cô ta, đúng vậy, thật buồn cho cô ấy quá.
– Nếu anh muốn..
– Này mẹ nó, nếu như con của cô ấy làm cho em xúc động và lo âu, thì em hãy qua bồng nó về đây đi, đó là món quà của em đó. Ta sẽ làm việc thêm, về trễ một chút, như thế sẽ có đủ cái ăn cho tất cả chúng ta.
Thế là trong cái đêm mà con của Chúa Cha xuống trần thế để cứu rỗi nhân loại, thì bên trong ngôi nhà nhỏ bé ấy, cái nôi mà lâu nay đã đem cất trên gác xép, lại được mang xuống để đón nhận một em bé gầy còm yếu ớt, và cùng lúc đó linh hồn của một kẻ đọa đày vì nghèo khổ đã bay lên trời, với vẻ bình tâm mãn nguyện.
Adèle Bibaud – TL dịch
* Mile-End: khu phố thuộc thành phố Montreal, Quebec, Canada.
CÂU CHUYỆN SAU ĐÊM GIÁNG SINH
KHUYẾT DANH– TL dịch -679 chữ
Một khi những người chăn chiên đã ra đi và mọi việc đã trở nên yên tĩnh trở lại, em bé trong máng cỏ ngẩng đầu lên và nhìn về phía cánh cửa hé mở. Một câu bé đang đứng đó, e dè bẽn lẽn… rụt rè và sợ sệt.
– Đến đây nào cậu bé, Chúa Giê-Su bảo. Tại sao con e sợ đến vậy con?
– Dạ bẩm, con không dám…Con không có gì để tặng ngài cả, cậu bé trả lời.
– Ta ước mong cậu sẽ tặng cho ta một món quà biết bao, bé sơ sinh nói.
Cậu bé xa lạ đỏ mặt lên vì hổ thẹn.
– Thật sự con không có gì cả , thưa ngài… con không sở hữu được bất cứ gì cả ạ; nếu như con có món gì, con sẽ tặng ngài …ngài xem đây ạ.
Rồi moi móc lục lọi trong hai túi quần vá chằm vá đụp của mình, cậu bé lôi ra một lưỡi dao cũ đã rỉ sét .
– Dạ con chỉ có chừng này thôi, nếu ngài muốn con xin tặng ngài ạ.
– Không đâu, con cứ giữ đi, chúa Giê-Su trả lời. Ta muốn những thứ khác của con kia. Ta muốn con cho ta ba món quà.
– Con rất hân hạnh, thưa ngài, cậu bé nói, nhưng con sẽ làm gì cho ngài ạ?
– Hãy tặng ta hình vẽ sau cùng của con đi.
Vẻ mặt của cậu bé trở nên lúng túng và đỏ rần lên . Cậu ta bước đến gần máng cỏ và để tránh cho Marie và Joseph không thể nghe mình nói gì, cậu thì thầm vào tai Chúa Hài Đồng Giê-Su:
– Thưa ngài, con không thể… hình con vẽ quá tệ hại xấu xí…không ai muốn nhìn thấy đâu ạ!
-Con ạ, chính vì nó xấu nên ta mới nói con đưa cho ta, em bé trong máng cỏ trả lời…Con phải luôn luôn tặng cho ta tất cả những gì người khác gạt bỏ đi, và những gì mà chính con cũng không ưa thích.
-Và nữa nè, ta muốn con đưa cho ta cái đĩa của con, em bé tiếp tục.
-Nhưng mà sáng nay con đã làm bể đĩa mất rồi, thưa ngài! chú bé ấp úng trả lời.
– Bởi vì vậy nên ta muốn con đưa cho ta… Con luôn phải tặng cho ta tất cả những gì bị gãy bể trong suốt cuộc đời của con, ta muốn dán chúng lại…
– Còn bây giờ con hãy lập lại cho ta nghe con đã trả lời ba mẹ con như thế nào khi họ hỏi lý do làm sao con đã làm bể cái đĩa, Chúa Giê Su nhất định hỏi để xem chú bé kể lại sự việc ra sao… Chú bé liền sa sầm nét mặt, cúi mặt xuống, xấu hổ và nói thì thầm một cách buồn bã:
-Con đã nói dối.. con đã nói rằng vì sơ ý nên cái đĩa đã tuột khỏi tay con; nhưng sự thật thì không phải như thế.. Lúc đó con đang tức giận và con đã đẩy mạnh cái đĩa cho nó rớt xuống nền gạch hoa và đã vỡ ra!
– Con ạ, đó chính là điều ta muốn con thổ lộ ra! Chúa Giê Su nói. Con hãy giao hết cho ta tất cả những thứ xấu xa phiền toái trong cuộc đời của con, nào là những điều dối gian, những lần vu khống, những sự hèn nhát và những điều ác độc của con. Ta muốn con hay trút hết những gánh nặng đó cho ta…Con không cần đến những thứ đó… Ta muốn làm cho con luôn hạnh phúc vui sướng và con hãy nhớ rằng ta luôn luôn tha thứ cho những lỗi lầm của con, con ạ.
Rồi vừa ôm hôn cậu bé vì đã tặng mình ba món quà đó, chúa Giê Su nói:
– Bây giờ thì con đã biết đường dẫn đến Trái Tim của ta rồi, ta ước mong mỗi ngày con đều đến thăm ta con nhé.
KHUYẾT DANH– TL dịch
Nếu Ông Già Noel quên ghé thì…
Mone Dompnier –thailan dịch
CÂU CHUYỆN THẬT CỦA MỘT NGƯỜI BẠN BÊN PHÁP VÀ THẬT ĐAU, KHI NGHĨ VỀ CÁC VỊ ANH HÙNG TRONG QLVNCH- BAO NHIÊU THÁNG NGÀY GÔNG CÙM TÙ TỘI, MỘT MẪU ĐƯỜNG ĐEN, ĐƯỜNG BÁT (Đọi) LÀ CẢ MỘT KHO TÀNG- THƯƠNG ĐAU!!
Một buổi sáng Giáng Sinh. Dưới gốc cây thông, những tờ giấy màu bị xé toạc, những chiếc hộp mở toang cả ra, và bọn trẻ thì phấn khích giữa bao nhiêu là quà mà ông già Noel mang đến cho chúng vào đêm qua. Bà tôi thì ngồi hơi xa một chút, đang mỉm cười khi thấy niềm hạnh phúc và sự ngạc nhiên vui thích của các cháu.
– Bọn nhỏ này được cưng chiều quá chừng. – Bà nói khẽ, có vẻ như bà sợ rằng tôi sẽ nghĩ bà trách móc khi thấy vô số đồ chơi và những thiết bị tân thời cho những môn chơi trên máy như thế.
Đúng là tôi không thể cưỡng lại để lựa chọn khi lướt qua các món ở cửa hàng đồ chơi. Là thú vui của tôi khi chọn từng món đồ và chắc chắn sẽ khiến các con reo lên vì thích thú. Đem giấu tất cả những món ấy đi. Rồi cuối cùng sắp chúng dưới gốc cây thông, với niềm nôn nao chờ đợi giây phút khi bọn nhỏ thức dậy và khám phá…
– Cháu biết không, bà vẫn nhớ một Giáng Sinh từ thời thơ ấu. Từ rất lâu lắm rồi…
*
Một đêm đầy sao, lạnh cóng. Một cô bé trằn trọc, quay qua quay lại trên giường, quá bồn chồn để có thể nhắm mắt. Ở trường, chiều nay cô giáo đã kể về ông già Nô En, các chú tuần lộc và chiếc xe trượt tuyết của ông ấy, những món quà ông phân phát cho trẻ em.
– Và chẳng mấy chốc, ông sẽ đi qua tất cả các trang trại của làng. Nếu con đã tỏ ra ngoan ngoãn trong suốt năm học, ông ấy sẽ mang đến cho con một món quà vào đêm Giáng Sinh. Nhưng các con đừng quên đặt đôi guốc của mình trước lò sưởi con nhé.
Bọn trẻ nghe cô giải thích, vẻ kinh ngạc. Cô giáo trẻ của họ đến từ thành phố, cô ấy biết rất nhiều, cô ấy không thể sai được. Vì vậy, khi Sylvie về nhà cũng kể mọi chuyện cho cha mẹ và các chị nghe, và em cũng mang đôi guốc gỗ của mình đặt ngay ngắn trước lò sưởi, như lời cô giáo đã dặn dò.
Nhưng sau khi làm điều đó, bé cũng có vẻ bồn chồn lo âu.
– Nếu ông già Nô En quên đến nhà mình thì sao? Trang trại của chúng ta ở trên dốc rất cao của ngôi làng. Có lẽ ông Nô En sẽ không nhìn thấy nhà của ta đâu, Ba Mẹ ạ.
– Bé cưng của mẹ, con đừng lo, con ạ. Trước khi đi ngủ, ba mẹ sẽ máng đèn lồng ở cửa chuồng ngựa nhe con. Đôi mắt các chú tuần lộc rất tinh tường, chúng sẽ nhìn thấy, con yên tâm nhé con.
Đêm ấy, cô bé Sylvie thật khó mà dỗ giấc ngủ. Nếu như mình vẫn còn thức, có lẽ mình sẽ nghe
tiếng ông già Nô En và chiếc xe trượt tuyết với tiếng chuông rung trên con đường đầy tuyết. Nhưng cô chỉ nghe thấy những lời thì thầm, tiếng cười thật khẽ vọng lên từ dưới nhà bếp. Cô bỗng nhìn thấy một tia sáng vàng giọi lên ở khe gỗ sàn nhà. Và nhìn lên ô kính cửa sổ, những hạt bông tuyết lấp lánh thật đẹp. Cha cô đã treo đèn lồng lên rồi. Sylvie mỉm cười, yên tâm. Và rồi cuối cùng đêm tối cũng mang bé đi vào giấc mộng đẹp.
Khi cô mở mắt ra… “Ôi, hôm nay là Giáng Sinh rồi!”
Một niềm hy vọng to lớn làm tim cô đập rất mạnh. Vẫn còn đang mặc áo ngủ, đi chân trần, cô
chạy ngay đến đôi guốc của mình, và nhìn thấy góc một chiếc khăn tay ca rô màu xanh trắng nhô ra, giống như khăn của cha mình.
– Ôi, con có quà nè! Ông Nô En đã tặng con một món quà! Cha ơi, Mẹ ơi!
Bên trong chiếc khăn tay… là một miếng đường thật to! Chỉ của mình con thôi phải không?
– Cha nhìn này! Có phải thật sự là của riêng con không?
– Ôi, đúng rồi đó con. Chắc là ông già Nô En biết rằng con là một đứa bé rất thích ăn quà đó con.
Các chị của cô bé cười vang khi thấy bé vui thích. Họ biết rằng thỏi đường mà cha để bên trong chạn thức ăn được bọc cẩn thận trong một chiếc khăn, là nỗi thèm thuồng của cô bé mỗi khi cha cô lấy con dao nhíp nạo một miếng nhỏ cho bé, đôi mắt bé sáng lên như muốn nói cha cho thêm tí nữa… Sau đó cô bé liếm ngấu nghiến những đầu ngón tay một cách tiếc nuối. Vậy mà giờ đây cô sở hữu nguyên cả một miếng thật to, chỉ riêng cho mình cô thôi!
– Đừng ăn hết một lần con ạ, cha bảo cô bé.
Ôi không, đẹp quá, ngon tuyệt quá, phải kéo dài niềm hạnh phúc này càng lâu càng tốt. Mở khăn tay ra và rón rén liếm cục đường nhiều lần trong ngày thật vui thích biết bao! Cô bé nóng lòng chờ đợi cho hết ngày lễ để kể về món quà của mình cho cô giáo, một người dạy học biết rất nhiều câu chuyện tuyệt vời.
Và rồi khi cô giáo vừa cười vừa hỏi bọn trẻ về kỳ nghỉ lễ của chúng, thì Sylvie là người rất nóng lòng nên đã lên tiếng trước, cô bé có rất nhiều điều để kể. Chiếc đèn lồng trong đêm, chiếc khăn tay trắng xanh, miếng đường… Nhưng, đến khi cô kể xong câu chuyện và im tiếng thì tất cả bạn bè cô bé trở nên im lặng một cách kỳ lạ.
Ở ngôi làng miền núi này, nơi mà sự nghèo đói, thậm chí khốn khổ, đã càn quét toàn vùng, thì chỉ có Sylvie được Ông già Noel đến thăm vào ngày 25 tháng 12. Những đôi guốc của bạn bè cô bé vẫn trống rỗng một cách đáng thương trước lò sưởi.
– Có lẽ chúng ta không ngoan như lời ông Nô En dặn dò rồi, cô bé Marie thốt lên một cách buồn bã.
Trên bục giảng, nụ cười cô giáo bỗng trở nên héo hắt và đôi mắt cô đẫm lệ.
*
Tôi cũng nhìn thấy đôi mắt của Sylvie ướt đẫm khi bà vừa kể cho tôi nghe ngày ấy niềm hạnh phúc của bà bỗng chốc tan biến khi nhận thấy nỗi buồn của các bạn trong lớp, những người khốn khổ mà ông Nô En đã quên ghé nhà chúng.
Ôi bài học về cuộc đời mà bà Ngoại đã truyền cho tôi qua câu chuyện trên thật quý hóa biết dường nào!
Bà có biết chăng món quà Giáng Sinh mà bà vừa ban tặng cho tôi mang ý nghĩa như thế nào đối với tôi không?
Con xin dâng tặng câu chuyện này cho bà ngoại S. của con, đã kể cho con nghe về lễ Giáng Sinh của bà thời thơ ấu, năm 1900.
– Mone Dompnier -tháilan dịch
TUỔI TRẺ HẢI NGOẠI “Tạ Ơn”
Chiều Hôm Qua, Thứ Bảy 09-11-2024, hàng trăm phụ huynh học sinh, đã mang con em mình đến tham dự chiều nhạc Sinh Hoạt “Tạ Ơn” Của “Tuổi Trẻ Hải Ngoại” Tại Yerba Buena High School – Student Union Hall, 1855 Lucretia Ave, San Jose, Ca 95122 – Buổi Sinh hoạt Ca nhạc dành cho tuổi trẻ này do anh Lê Văn Hải đứng ra tổ chức với sự phối hợp của Anh Thái Phạm cùng Cô Thanh Loan, nhằm khuyến khích các bậc phụ huynh giáo dục và phát triển, gìn giữ tiếng Việt cho con em không quên nguồn cội.
— Bùi Diễm (01/10/1923– 24/10/2021) là một chính khách Việt Nam. Ông nắm giữ chức vụ Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ nhiệm kỳ từ năm 1967 đến năm 1972.
–1908 – Mẫu xe T của Henry Ford, một “chiếc xe phổ thông” được thiết kế cho đại chúng, được bán lần đầu tiên.
1938 – Quân đội của Hitler chiếm đóng phần Sudetenland của Tiệp Khắc. Trong nỗ lực tránh chiến tranh, các nhà lãnh đạo Anh và Pháp đã đồng ý nhượng khu vực nói tiếng Đức cho Hitler, người sau đó đã phá vỡ thỏa thuận và chiếm đóng toàn bộ Tiệp Khắc.
1946 – Mười hai nhà lãnh đạo Đức Quốc xã đã bị kết án tử hình tại Tòa án Tội phạm Chiến tranh Quốc tế ở Nuremberg, Đức. Ngày 1 tháng 10 năm 1949 – Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập với Mao Trạch Đông làm Chủ tịch.
**02/10:
-1968 – Công viên Quốc gia Redwood của California được thành lập. Cây gỗ đỏ là loài cây cao nhất trong tất cả các loài cây, có thể cao tới 400 feet (120 mét) trong suốt cuộc đời có thể kéo dài 2.000 năm
– 1975 – Nhật hoàng Hirohito lần đầu tiên đến thăm Nhà Trắng.
– 1869: Nhà lãnh đạo chính trị và tinh thần Ấn Độ Mohandas (Mahatma) Gandhi (1869-1948) sinh ra tại Porbandar, Ấn Độ. Ông nổi tiếng khắp thế giới vì lối sống sùng đạo và phong trào đấu tranh bất bạo động đã chấm dứt sự cai trị của Anh đối với Ấn Độ. Ông bị một kẻ cuồng tín tôn giáo ám sát trong khu vườn nhà mình ở New Delhi vào ngày 30 tháng 1 năm 1948.
**03/10:
–Thánh Phanxicô thành Assisi (tiếng Ý: Francesco d’Assisi; 26/ 9/1181 – 03/10/1226), còn gọi là Thánh Phanxicô Khó khăn, là một tu sĩ Công giáo Rôma và người sáng lập Dòng Anh Em Hèn Mọn (Order of Friars Minor), được biết đến nhiều hơn với tên Dòng Phan Sinh. Giáo hội Công giáo xem ông là thánh bổn mạng loài vật, chim trời, môi trường, và nước Ý. Ngày 4 tháng 10 hằng năm là ngày lễ kính Thánh Phanxicô
– 1863 – Tổng thống Abraham Lincoln đã ban hành tuyên bố chỉ định thứ Năm cuối cùng của tháng 11 là Ngày Lễ Tạ ơn.
– 1929 – Nam Tư trở thành tên chính thức của Vương quốc Serbia, Croatia và Slovenia.
– 1990 – Sau 45 năm chia cắt trong Chiến tranh Lạnh, Đông và Tây Đức đã thống nhất thành Cộng hòa Liên bang Đức.-04/10/1965 – Giáo hoàng Paul VI trở thành Giáo hoàng đầu tiên đến thăm Hoa Kỳ và là người đầu tiên phát biểu tại Liên hợp quốc. – 04/10/1822 — Rutherford B. Hayes (1822-1893) Tổng thống thứ 19 của Hoa Kỳ sinh ra tại Delaware, Ohio. Ông phục vụ từ ngày 4 tháng 3 năm 1877 đến ngày 3 tháng 3 năm 1881. Ông là một đảng viên Cộng hòa nổi tiếng nhất với câu nói được trích dẫn nhiều của mình, ” Người phục vụ đảng của mình tốt nhất là người phục vụ đất nước mình tốt nhất–
Nhà viết tiểu sử Ari Hoogenboom nhận xét rằng thành tựu lớn nhất của Hayes là khôi phục niềm tin dân chúng vào các đời Tổng thống và ngăn được sự suy giảm quyền lực của nhánh hành pháp trong chính phủ liên bang – một điều đã xảy ra kể từ sau vụ ám sát Abraham Lincoln vào năm 1865.
***05/10:
– 1877 – Sau cuộc rút lui 1.700 dặm, Tù trưởng Joseph của người da đỏ Nez Perce đã đầu hàng quân Kỵ binh Hoa Kỳ tại Bear’s Paw gần Chinook, Montana. “Từ nơi mặt trời mọc, tôi sẽ không chiến đấu mãi mãi nữa”, ông tuyên bố.-1910 – Bồ Đào Nha trở thành một nước cộng hòa sau cuộc nổi loạn thành công chống lại Vua Manuel II. -1938 – Tổng thống Séc Tiến sĩ Eduard Benes từ chức và chạy trốn ra nước ngoài trong bối cảnh bị Adolf Hitler đe dọa. -1964 – Cuộc trốn chạy hàng loạt lớn nhất kể từ khi Bức tường Berlin được xây dựng xảy ra khi 57 người tị nạn Đông Đức trốn sang Tây Berlin sau khi đào đường hầm bên dưới bức tường. -1703 – Nhà thần học Jonathan Edwards (1703-1758) sinh ra tại East Windsor, Connecticut. Ông đã lãnh đạo cuộc phục hưng tôn giáo “Đại thức tỉnh” ở các thuộc địa của Mỹ và sau đó trở thành hiệu trưởng của Princeton. -1882- “Cha đẻ của Kỷ nguyên Không gian” Robert Goddard (1882-1945) sinh ra tại Worcester, Massachusetts. Trong suốt cuộc đời mình, ông đã bị công chúng và báo chí chế giễu vì ý tưởng chế tạo một cỗ máy bay vũ trụ. Năm 1926, ông đã phóng tên lửa nhiên liệu lỏng đầu tiên trên thế giới tại một trang trại gần Auburn, Mass. Năm 1935, tên lửa nhiên liệu lỏng của ông đã vượt qua tốc độ âm thanh. Những phát triển khác bao gồm một thiết bị lái cho máy tên lửa, tên lửa có hệ thống để đạt đến độ cao lớn, máy bơm nhiên liệu tên lửa và động cơ tên lửa tự làm mát.-1846- Kỹ sư và nhà phát minh George Westinghouse (1846-1914) sinh ra tại Central Bridge, New York. Ông đã phát triển phanh khí cho tàu hỏa và sau đó chịu trách nhiệm áp dụng hệ thống dòng điện xoay chiều (AC) để truyền tải điện năng tại Hoa Kỳ. Ông cũng là người sử dụng lao động đầu tiên cho nhân viên của mình nghỉ phép có lương.-1921-Phạm Duy (1921 – 2013), tên khai sinh Phạm Duy Cẩn là nhạc sĩ, nhạc công, ca sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc lớn của Việt Nam. Ông được nhiều người đánh giá là nhạc sĩ lớn nhất của nền tân nhạc Việt Nam với lượng sáng tác đồ sộ cũng như đa dạng về thể loại, trong đó có rất nhiều ca khúc trở nên kinh điển và quen thuộc với người Việt. ***06/10: -1927 – Phim nói đầu tiên được công chiếu tại New York. The Jazz Singer với sự tham gia của Al Jolson là bộ phim truyện dài đầu tiên sử dụng lời thoại. -1928 – Đại tướng Tưởng Giới Thạch trở thành tổng thống của Trung Hoa Dân Quốc sau khi ban hành hiến pháp mới. -1978 – Lãnh tụ tôn giáo Iran Ayatollah Khomeini được cấp quyền tị nạn tại Pháp sau khi bị trục xuất khỏi Iran vì phản đối Shah. -1981 – Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat (1918-1981) bị những người theo chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan ám sát tại Cairo khi đang xem một cuộc diễu binh quân sự. Ông đã chia sẻ Giải Nobel Hòa bình năm 1978 với Menachem Begin của Israel. Ông đã ký một hiệp định hòa bình do Hoa Kỳ bảo trợ với Israel, nhưng đã bị các nhà lãnh đạo Ả Rập khác lên án.
-Bùi Giáng (17/12/1926 – 07/10/1998), là nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam. Các bút danh khác của ông là: Trung niên thi sĩ, Thi sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng… Ông nổi tiếng từ năm 1962 với tập thơ Mưa nguồn.
**08/10:
-1871 – Đại hỏa hoạn Chicago bùng phát. Theo truyền thuyết, nó bắt đầu khi con bò của bà O’Leary đá đổ một chiếc đèn lồng trong chuồng của bà trên phố DeKoven. Hơn 300 người đã thiệt mạng và 90.000 người mất nhà cửa khi đám cháy san phẳng 3,5 dặm vuông, phá hủy 17.450 tòa nhà. Tổng thiệt hại tài chính lên tới hơn 200 triệu đô la.
-1918 – Trong Thế chiến thứ nhất tại Rừng Argonne ở Pháp, Trung sĩ Hoa Kỳ Alvin C. York đã một mình tiêu diệt một tiểu đoàn súng máy của Đức, giết chết hơn một chục người và bắt giữ 132 người. Sau đó, ông được trao tặng Huân chương Danh dự và Huân chương Croix de Guerre của Pháp.
-1996 – Tổng thống Palestine Yasser Arafat đã có chuyến thăm công khai đầu tiên tới Israel để hội đàm với Tổng thống Israel Ezer Weizman tại dinh thự riêng của ông.-1962 – Uganda giành được độc lập sau gần 70 năm bị Anh cai trị. -1970 – Campuchia tuyên bố mình là Cộng hòa Khmer sau khi chế độ quân chủ bị cơ quan lập pháp bãi bỏ. -1940-John Lennon (1940-1980) sinh ra tại Liverpool, Anh. Ông là thành viên của The Beatles, một nhóm nhạc rock có sức ảnh hưởng đã thu hút khán giả đầu tiên ở Anh và Đức, sau đó là ở Mỹ và trên toàn thế giới. Ông đã bị sát hại tại Thành phố New York vào ngày 8 tháng 12 năm 1980.-Ernesto “Che” Guevara (tiếng Tây Ban Nha: [ˈtʃe ɣeˈβaɾa]- 14/6/1928 – 09/10/1967) là một nhà Cách mạng theo Chủ nghĩa Marx, bác sĩ, tác giả, lãnh đạo du kích, nhà ngoại giao và nhà lý luận quân sự người Argentina. Là một nhân vật quan trọng của Cách mạng Cuba, hình ảnh cách điệu của ông đã trở thành một biểu tượng văn hóa phản kháng phổ biến của sự nổi loạn và biểu tượng toàn cầu trong văn hóa đại chúng. **10/10:- 1954 – Hồ Chí Minh tiến vào Hà Nội, Việt Nam, sau khi quân đội Pháp rút lui, theo các điều khoản đình chiến chấm dứt cuộc đấu tranh kéo dài bảy năm giữa Việt Nam Cộng sản và Pháp. -1813 -Nhà soạn nhạc opera người Ý Giuseppi Verdi (1813-1901) sinh ra tại Le Roncole, Ý. 26 vở opera của ông bao gồm; Rigoletto, Il Trovatore, La Traviata và Aida, và là một trong những tác phẩm nhạc cổ điển phổ biến nhất được biểu diễn ngày nay.
**11/10:
-1521 – Vua Henry VIII của Anh được Giáo hoàng Leo X phong tặng danh hiệu “Người bảo vệ đức tin” sau khi xuất bản cuốn sách của Nhà vua chống lại Martin Luther.
-1976 – “Băng đảng bốn tên“, bao gồm cả góa phụ của Mao Trạch Đông, đã bị bắt tại Trung Quốc, bị buộc tội âm mưu đảo chính. Sau đó, họ đã bị xét xử và kết án về nhiều tội ác chống lại nhà nước.-1884- Eleanor Roosevelt (1884-1962) sinh ra tại Thành phố New York. Bà là vợ của Tổng thống Franklin Delano Roosevelt, Tổng thống thứ 32 của Hoa Kỳ. Với tư cách là Đệ nhất phu nhân, bà đã có một cuộc sống độc lập chưa từng có, phấn đấu cải thiện cuộc sống của mọi người trên khắp thế giới. Năm 1933, bà trở thành người vợ đầu tiên của một tổng thống tổ chức họp báo riêng tại Nhà Trắng. Bà đã đi du lịch khắp nơi một mình và được mọi người trìu mến gọi là “Đệ nhất phu nhân của thế giới”. Bà đã phục vụ với tư cách là đại biểu Hoa Kỳ tại Liên hợp quốc trong nhiều năm và đã giúp viết Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. **12 /10:-
Năm 54 sau Công nguyên – Hoàng đế La Mã Claudius qua đời sau khi ăn phải nấm do vợ mình, Hoàng hậu Agrippina đầu độc. -1492 – Sau chuyến hành trình kéo dài 33 ngày, Christopher Columbus đã đặt chân lên đất liền đầu tiên ở Tân Thế giới tại Bahamas. Ông đặt tên cho vùng đất đầu tiên được nhìn thấy là El Salvador, tuyên bố chủ quyền của mình theo tên của Vương miện Tây Ban Nha. Columbus đang tìm kiếm một tuyến đường biển phía tây từ châu Âu đến châu Á và tin rằng ông đã tìm thấy một hòn đảo của quần đảo Indies. Do đó, ông gọi những người bản địa đầu tiên mà ông gặp là “người da đỏ”.
-1775 – Hải quân Hoa Kỳ ra đời sau khi Quốc hội Lục địa lần thứ hai cho phép mua lại một hạm đội tàu.- 1792- George Washington đặt viên đá Nhà Trắng. Tòa nhà, tọa lạc tại số 1600 Đại lộ Pennsylvania, cao ba tầng với hơn 100 phòng và được thiết kế bởi James Hoban. Vào tháng 11 năm 1800, Tổng thống John Adams và gia đình chuyển đến. Tòa nhà đầu tiên được gọi là “Cung điện Tổng thống“, nhưng được gọi là “Nhà Trắng” khoảng 10 năm sau khi hoàn thành. Tòa nhà đã bị quân đội Anh đốt cháy vào năm 1814, sau đó được xây dựng lại, tân trang và tái chiếm vào năm 1817. – 1811 – Paraguay tuyên bố độc lập khỏi Tây Ban Nha và Argentina. – 1822 – Brazil giành được độc lập từ Bồ Đào Nha.- 1872 -Nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng người Anh Ralph Vaughan Williams (1872-1958) sinh ra tại Down Ampney, Gloucestershire, Anh. Ông kết hợp các kỹ thuật sáng tác hiện đại với nhạc dân gian Anh truyền thống và nhạc Tudor để tạo nên một phong cách Anh độc đáo. Các tác phẩm chính của ông bao gồm; Mass cung Sol thứ, Fantasia về chủ đề Tallis và vở opera The Pilgrim’s Progress. Ông cũng sáng tác chín bản giao hưởng, nhạc nhà thờ và hợp xướng, nhạc phim và sân khấu và một số vở opera.
– 1884 – Greenwich được thiết lập là múi giờ chung để tính giờ chuẩn trên toàn thế giới.
– 1943 – Ý tuyên chiến với đối tác cũ của mình là Đức Quốc xã sau khi Mussolini bị lật đổ và chính phủ Phát xít của ông ta sụp đổ.
– 1960 – Trong một cuộc tranh luận về chủ nghĩa thực dân tại Liên hợp quốc, nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev đã cởi giày và đập liên hồi vào bàn làm việc.
** 13/10 Margaret Hilda Thatcher, Nam tước Thatcher (nhũ danh Roberts; 13 tháng 10 năm 1925 – 8 tháng 4 năm 2013), là Thủ tướng Vương quốc Anh từ năm 1979 đến năm 1990 và lãnh đạo Đảng Bảo thủ từ năm 1975 đến năm 1990. Thế kỷ 19, bà là người phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ này. Với tư cách là Thủ tướng, bà đã thực hiện các chính sách được gọi là Chủ nghĩa Thatcher. Một nhà báo Liên Xô đã đặt biệt danh cho bà là “Người phụ nữ sắt”, biệt danh gắn liền với phong cách lãnh đạo và chính trị không khoan nhượng của bà.
Khi bước chân vào Dinh Thủ tướng ở số 10 đường Downing, bà trích dẫn lời của Francis thành Assisi:
“
Nơi nào có bất hòa, chúng ta đem đến đó sự hòa thuận. Nơi nào có sai sót, chúng ta đem đến chân lý. Nơi nào có nghi ngờ, chúng ta đem đến đức tin. Và nơi nào có tuyệt vọng, chúng ta đem đến niềm hi vọng.
** 14/10:
– 1912 – Cựu Tổng thống Theodore Roosevelt bị một kẻ cuồng tín bắn khi đang vận động tranh cử ở Milwaukee. Roosevelt được cứu sống nhờ chiếc áo khoác dày, hộp đựng kính và một bài phát biểu gấp trong túi áo ngực, tất cả đều giúp làm chậm viên đạn. Mặc dù bị thương, ông vẫn kiên quyết phát biểu khi viên đạn găm vào ngực và không đến bệnh viện cho đến khi cuộc họp kết thúc. Roosevelt, một người đàn ông ngoài trời khỏe mạnh, đã bình phục hoàn toàn sau hai tuần.- 1933 – Đức Quốc xã tuyên bố rút khỏi Hội Quốc Liên và tuyên bố sẽ không tham gia thêm vào Hội nghị Giải trừ quân bị Geneva. – 1964 – Nhà lãnh đạo Dân quyền Martin Luther King, Jr., trở thành người trẻ tuổi nhất nhận Giải Nobel Hòa bình. Ông đã quyên góp 54.000 đô la tiền thưởng cho phong trào Dân quyền. – 14/10/1890- Dwight D. Eisenhower (1890-1969) Tổng thống thứ 34 của Hoa Kỳ sinh ra tại Denison, Texas. Ông đã phục vụ hai nhiệm kỳ Tổng thống, từ ngày 20 tháng 1 năm 1953 đến ngày 20 tháng 1 năm 1961. Có biệt danh là “Ike”, ông tốt nghiệp West Point và là sĩ quan quân đội chuyên nghiệp, trở thành Tổng tư lệnh của Lực lượng Đồng minh tại Châu Âu trong Thế chiến II. Ông giữ cấp bậc Đại tướng năm sao của Quân đội.
Ngày 15 tháng 10,-1815 – Napoleon Bonaparte đến Đảo St. Helena bắt đầu cuộc lưu đày do Anh áp đặt sau thất bại của ông tại Trận Waterloo. – 1917 – Điệp viên Thế chiến thứ nhất Mata Hari bị một đội xử bắn của Pháp xử tử tại Trại lính Vincennes, ngoại ô Paris. -1945 – Pierre Laval, cựu thủ tướng của Vichy Pháp, bị xử tử vì hợp tác với Đức Quốc xã trong Thế chiến thứ II. – 1964 – Lãnh đạo nước Nga Xô Viết Nikita Khrushchev bị phế truất khỏi chức Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Liên Xô và được thay thế bởi Leonid Brezhnev.
**16/10:
1701 – Đại học Yale được thành lập tại Killingworth, Connecticut (với tên gọi là Trường Cao đẳng Connecticut). Trường chuyển đến New Haven vào năm 1716. Hai năm sau, trường đổi tên thành Cao đẳng Yale để vinh danh Elihu Yale, một nhà từ thiện. Năm 1886, trường trở thành Đại học Yale. 1793 – Nữ hoàng Marie Antoinette bị chặt đầu trong Thời kỳ Khủng bố sau Cách mạng Pháp. Bà là vợ của Vua Louis XVI và đã trở thành biểu tượng cho lòng căm thù của người dân đối với chế độ cũ do sự xa hoa và phù phiếm của bà. Theo truyền thuyết, bà đã trả lời, “Hãy để họ ăn bánh ngọt” khi được bảo rằng những người nghèo không có bánh mì.
1853 – Chiến tranh Crimea bắt đầu sau khi Đế chế Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ tuyên chiến với Nga, Anh, Pháp và một số vùng của Ý liên minh với người Thổ Nhĩ Kỳ chống lại Nga. Đây trở thành cuộc chiến đầu tiên được các phóng viên báo chí và nhiếp ảnh gia quan sát tận mắt. Một trong những trận chiến đã được bất tử hóa trong bài thơ của Tennyson, The Charge of the Light Brigade. Trong điều kiện vệ sinh kém, bệnh tật đã giết chết nhiều binh lính Pháp và Anh bị thương. Y tá người Anh Florence Nightingale sau đó đã tiên phong trong các phương pháp vệ sinh theo phong cách hiện đại, cứu sống nhiều người.
1946 – Mười cựu lãnh đạo Đức Quốc xã đã bị quân Đồng minh treo cổ sau khi bị kết tội vì tội ác chiến tranh tại Nuremberg, Đức.1964 – Trung Quốc cho nổ quả bom hạt nhân đầu tiên tại bãi thử Lop Nor ở Sinkiang. 1978 – Hồng y Karol Wojtyla của Ba Lan được bầu làm Giáo hoàng. Ông là Giáo hoàng đầu tiên không phải người Ý được bầu sau 456 năm và lấy tên là John Paul II. 1758 – Giáo viên và nhà báo người Mỹ Noah Webster (1758-1843) sinh ra tại West Hartford, Connecticut. Tên của ông trở thành từ đồng nghĩa với “dictionary” sau khi ông biên soạn những cuốn từ điển tiếng Anh đầu tiên của Mỹ.
1854 – Nhà thơ và nhà viết kịch người Ireland Oscar Wilde (1854-1900) sinh ra tại Dublin, Ireland. Nổi tiếng nhất với những vở hài kịch bao gồm: The Importance of Being Earnest. Và trong tiểu thuyết The Picture of Dorian Gray, ông viết rằng, “Chỉ có một điều trên thế giới này còn tệ hơn việc bị bàn tán, đó là không được bàn tán”.
**17/10:
– 1777 – Trong Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ, Tướng Anh John Burgoyne và toàn bộ quân đội gồm 5.700 người của ông đã đầu hàng Tướng Mỹ Horatio Gates sau Trận Saratoga, chiến thắng lớn đầu tiên của người Mỹ.-17-25 tháng 10 năm 1944 – Trận chiến vịnh Leyte, trận hải chiến lớn nhất trong lịch sử, diễn ra ngoài khơi quần đảo Philippine, trong Thế chiến II ở Thái Bình Dương. Trận chiến có sự tham gia của 216 tàu chiến Hoa Kỳ và 64 tàu Nhật Bản và dẫn đến sự hủy diệt của Hải quân Nhật Bản bao gồm cả Thiết giáp hạm Musashi của Nhật Bản, một trong những tàu chiến lớn nhất từng được chế tạo. – 17/10/1912 – Giáo hoàng John Paul I (1912-1978) sinh ra tại Forno di Canale, Ý (với tên Albino Luciani). Ông được bầu làm Giáo hoàng thứ 263 của Giáo hội Công giáo La Mã vào ngày 28 tháng 9 năm 1978, nhưng qua đời tại Rome chỉ 34 ngày sau đó.-Thomas Alva Edison (11/2/1847 – 18/10/1931) là một nhà phát minh và thương nhân đã phát triển rất nhiều thiết bị có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống trong thế kỷ 20. Ông được một nhà báo đặt danh hiệu “Thầy phù thủy ở Menlo Park“, ông là một trong những nhà phát minh đầu tiên ứng dụng các nguyên tắc sản xuất hàng loạt vào quy trình sáng tạo, và vì thế có thể coi là đã sáng tạo ra phòng nghiên cứu công nghiệp đầu tiên.
**19/10: -1781 – Cuộc vây hãm Yorktown, còn được gọi là Trận Yorktown và sự đầu hàng tại Yorktown, bắt đầu vào ngày 28/9/1781 và kết thúc vào ngày 19/10/1781, đúng 10:30 sáng tại Yorktown, Virginia.
Khi ban nhạc của họ chơi bài The World Turned Upside Down, Quân đội Anh đã hành quân theo đội hình và đầu hàng quân Mỹ tại Yorktown. Hơn 7.000 quân Anh và Hesse, do Tướng Anh Lord Cornwallis chỉ huy, đã đầu hàng Tướng George Washington. Cuộc chiến giữa Anh và các thuộc địa Mỹ của họ đã chính thức kết thúc. Hiệp ước hòa bình cuối cùng được ký kết tại Paris vào ngày 3 tháng 9 năm 1783. – 1818 – Hoa Kỳ và Anh đã đồng ý thiết lập biên giới Hoa Kỳ-Canada ở vĩ tuyến 49.
– 1935 – “Cuộc hành quân dài” dài 6.000 dặm của Mao Trạch Đông đã kết thúc khi lực lượng Cộng sản của ông đến Diên An, ở tây bắc Trung Quốc, gần một năm sau khi chạy trốn khỏi quân đội của Tưởng Giới Thạch ở phía nam.
** 20/10:
-1968 – Jacqueline Kennedy kết hôn với doanh nhân triệu phú người Hy Lạp Aristotle Onassis, chấm dứt gần năm năm góa bụa sau vụ ám sát người chồng đầu tiên của bà, Tổng thống John F. Kennedy.
– 1973 – ‘Vụ thảm sát đêm thứ bảy’ xảy ra trong vụ bê bối Watergate khi Tổng thống Richard M. Nixon sa thải Công tố viên đặc biệt Archibald Cox và Phó Tổng chưởng lý William Ruckelshaus. Tổng chưởng lý Elliot Richardson đã từ chức. Một làn sóng phản đối chính trị nổ ra sau vụ sa thải dẫn đến những yêu cầu rộng rãi về việc luận tội Nixon.
20/10/1632 – Kiến trúc sư người Anh Christopher Wren (1632-1723) sinh ra tại Wiltshire, phía tây nam nước Anh. Được coi là một trong những bộ óc vĩ đại nhất thời bấy giờ, ông đã thiết kế Nhà thờ St. Paul và 52 nhà thờ cho Thành phố London. Các tòa nhà thế tục của ông bao gồm khu “mới” của Hampton Court gần London và Bệnh viện Greenwich, hiện là Cao đẳng Hải quân Hoàng gia.
**21/10:
– 1805 – Trận Trafalgar diễn ra giữa Hải quân Hoàng gia Anh và hạm đội liên hợp Pháp và Tây Ban Nha. Người Anh chiến thắng đã chấm dứt mối đe dọa xâm lược nước Anh của Napoleon. Người hùng hải quân Anh, Đô đốc Horatio Nelson đã bị thương nặng trên tàu Victory của mình. – 1879 – Thomas Edison đã thử nghiệm thành công một bóng đèn sợi đốt điện với dây tóc carbon hóa tại phòng thí nghiệm của ông ở Menlo Park, New Jersey, giữ cho nó sáng trong hơn 13 giờ. – 1915 – Tin nhắn thoại vô tuyến xuyên Đại Tây Dương đầu tiên được thực hiện bởi Công ty Điện thoại và Điện báo Hoa Kỳ từ Virginia đến Paris. – 1944 – Trong Thế chiến II ở Châu Âu, quân đội Hoa Kỳ đã chiếm được Aachen ở miền tây nước Đức sau một tuần chiến đấu ác liệt. Đây là thành phố lớn đầu tiên của Đức bị quân Đồng minh chiếm giữ. – 1967 – Hàng nghìn người biểu tình phản chiến đã xông vào Lầu Năm Góc trong một cuộc biểu tình phản đối Chiến tranh Việt Nam tại Washington, D.C. Khoảng 250 người đã bị bắt. Không có phát súng nào được bắn, nhưng người biểu tình đã bị đánh bằng dùi cui và báng súng trường.
– 1917 – Nghệ sĩ nhạc Jazz vĩ đại Dizzy Gillespie (1917-1993) sinh ra tại Cheraw, Nam Carolina (với nghệ danh John Birks Gillespie). Ông là một nghệ sĩ chơi kèn trumpet, nhà soạn nhạc, trưởng nhóm nhạc và là một trong những người sáng lập ra nhạc jazz hiện đại, nổi tiếng với đôi má phúng phính và chiếc kèn trumpet cong.
**22/10:
-1962 – Tổng thống John F. Kennedy xuất hiện trên truyền hình để thông báo cho người Mỹ về sự tồn tại của tên lửa Nga ở Cuba. Tổng thống yêu cầu dỡ bỏ chúng và tuyên bố “cách ly” Cuba trên biển. Sáu ngày sau, người Nga tuyên bố sẽ dỡ bỏ các loại vũ khí này. Đổi lại, Hoa Kỳ sau đó đã dỡ bỏ các tên lửa khỏi Thổ Nhĩ Kỳ. -22/10/1811 – Nhà soạn nhạc người Hungary Franz Liszt (1811-1886) sinh ra tại Raiding, Hungary. Ông là một nghệ sĩ piano tài năng, nổi tiếng nhất với tác phẩm Hungarian Rhapsody số 2, Liebestraum số 3 và các bản giao hưởng Faust và Dante.
**23/10
-1983 – Những kẻ khủng bố lái một chiếc xe tải chở đầy thuốc nổ TNT vào trụ sở của Hoa Kỳ và Pháp tại Beirut, Lebanon, kích nổ và giết chết 241 lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ và 58 lính dù Pháp. -1989 – Hungary tuyên bố là một nước cộng hòa 33 năm sau khi quân đội Liên Xô đàn áp cuộc nổi loạn của người dân chống lại chế độ Cộng sản.
**24/10:
-1861 – Bức điện tín xuyên lục địa đầu tiên ở Hoa Kỳ được gửi từ San Francisco đến Washington, gửi đến Tổng thống Abraham Lincoln từ Chánh án Tòa án Tối cao California. -1929 – “Thứ Năm Đen” xảy ra tại Sàn giao dịch chứng khoán New York khi gần 13 triệu cổ phiếu được bán ra trong tình trạng bán tháo hoảng loạn. Năm ngày sau, “Thứ Ba Đen” chứng kiến 16 triệu cổ phiếu được bán ra.
-1931 – Tên gangster Chicago “Scarface” Al Capone bị kết án 11 năm tù vì tội trốn thuế thu nhập liên bang. Năm 1934, hắn bị chuyển đến nhà tù Alcatraz gần San Francisco. Hắn được ân xá vào năm 1939, mắc bệnh giang mai. Hắn nghỉ hưu tại dinh thự của mình ở Miami Beach, nơi hắn qua đời vào năm 1947. – 1945 – Liên hợp quốc được thành lập.
– Pelé:- Edson Arantes do Nascimento (23/10/1940 – 29/12/2022), được biết đến nhiều nhất với tên Pelé, là một cố cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Brazil. Với biệt danh “Vua bóng đá”, ông được coi là một trong những cầu thủ bóng đá vĩ đại nhất mọi thời đại. Vào năm 1999, ông được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất thế kỉ 20 bởi hiệp hội IFFHS. Cũng trong năm đó, ông được IOC bầu chọn là Vận động viên của thế kỉ và được tạp chí TIME đưa vào danh sách 100 người có ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Vào năm 2013, ông được FIFA trao tặng giải thưởng Quả bóng vàng danh dự (Ballon d’Or Prix d’Honneur).
**25/10:
-1955 – Áo giành lại chủ quyền sau khi lực lượng Đồng minh cuối cùng rời đi. Đất nước này đã bị Đức Quốc xã chiếm đóng từ năm 1938-45. Sau Thế chiến II, nó bị chia thành bốn vùng chiếm đóng bởi Hoa Kỳ, Nga, Anh và Pháp.
-1881-Nghệ sĩ Pablo Picasso (1881-1973) sinh ra tại Malaga, Tây Ban Nha. Ông là một họa sĩ thử nghiệm và cũng trở thành một nhà điêu khắc, thợ khắc và thợ gốm tài ba.
– 25-30 /10/ 1983 – Đảo Grenada ở Caribe bị Hoa Kỳ xâm lược để khôi phục “trật tự và dân chủ”. Hơn 2.000 lính thủy đánh bộ và lính biệt kích Lục quân đã giành quyền kiểm soát sau một cuộc đảo chính chính trị vào tuần trước đã biến hòn đảo này thành “thuộc địa của Liên Xô-Cuba”, theo Tổng thống Ronald Reagan.
**26/10:
– 1825 – Kênh đào Erie được mở ra như tuyến đường thủy nhân tạo lớn đầu tiên ở Mỹ, nối Hồ Erie với Sông Hudson, bỏ qua Sông St. Lawrence do Anh kiểm soát. Kênh đào này có chi phí hơn 7 triệu đô la và mất tám năm để hoàn thành.- 1951 – Winston Churchill trở thành thủ tướng Anh lần thứ hai, sau chiến thắng sít sao của Đảng Bảo thủ trong cuộc tổng tuyển cử. Trong nhiệm kỳ đầu tiên từ năm 1940-45, ông đã lãnh đạo nước Anh đấu tranh chống lại Đức Quốc xã. – 1955 – Ngô Đình Diệm tuyên bố Nam Việt Nam là một nước cộng hòa và tự xưng là tổng thống.
-1947- Hillary Rodham Clinton sinh ra tại Park Ridge, Illinois, ngày 26/10/1947. Bà là Đệ nhất phu nhân từ năm 1993-2001 trong thời kỳ chồng bà là Bill Clinton làm tổng thống. Năm 2000, bà trở thành Đệ nhất phu nhân duy nhất từng được bầu vào Thượng viện Hoa Kỳ, phục vụ với tư cách là đảng viên Dân chủ đến từ New York. Bà được bầu lại vào năm 2006 và sau đó bắt đầu chiến dịch tranh cử tổng thống, hy vọng trở thành nữ tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Bà đã để mất đề cử của đảng Dân chủ vào tay Barack Obama, người đã giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử và bổ nhiệm bà làm Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ vào năm 2008.
** 27/10:
– 1904 – Tàu điện ngầm Thành phố New York bắt đầu hoạt động, chạy từ Tòa thị chính đến Phố West 145, hệ thống đường sắt ngầm và dưới nước đầu tiên trên thế giới.- 1728 -Nhà hàng hải người Anh James Cook (1728-1779) sinh ra tại Yorkshire, Anh. Ông đã khám phá New Zealand, Úc và Quần đảo Hawaii. – 1858 -Theodore Roosevelt (1858-1919) Tổng thống thứ 26 của Hoa Kỳ sinh ra tại Thành phố New York. Ông kế nhiệm chức tổng thống sau vụ ám sát Tổng thống William McKinley. Roosevelt phục vụ từ ngày 14 tháng 9 năm 1901 đến ngày 3 tháng 3 năm 1909. Ông được nhớ đến nhiều nhất với câu nói, “Nói nhẹ nhàng và mang theo một cây gậy lớn.”
** 28/10:
– 1636 – Đại học Harvard, cơ sở giáo dục đại học lâu đời nhất tại Hoa Kỳ, được thành lập tại Cambridge, Massachusetts. Trường được đặt theo tên của John Harvard, một người Thanh giáo đã hiến tặng thư viện và một nửa gia sản của mình. Những cựu sinh viên xuất sắc bao gồm; Ralph Waldo Emerson, Henry David Thoreau, Henry James và người sáng lập NAACP W.E.B. Du Bois.
-1846 – Đoàn Donner khởi hành từ Illinois đến California. Đoàn có tổng cộng 90 người, bao gồm những người nhập cư, gia đình và doanh nhân, do George và Jacob Donner dẫn đầu. Thảm kịch sau đó xảy ra khi họ bị mắc kẹt trong tuyết ở Sierras, nơi nạn đói và nạn ăn thịt người đã cướp đi sinh mạng của họ. Có 48 người sống sót vào cuối cuộc hành trình của họ vào tháng 4 năm 1847.
-1886 – Tượng Nữ thần Tự do được khánh thành tại Đảo Bedloe ở Cảng New York. Bức tượng là món quà của người dân Pháp để kỷ niệm liên minh Pháp-Mỹ trong Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ. Được thiết kế bởi Frederic Auguste Bartholdi, toàn bộ công trình cao 300 feet (92,9 mét). Bệ đỡ có dòng chữ: “Hãy trao cho tôi những người mệt mỏi, nghèo đói, quần chúng chen chúc khao khát được hít thở tự do, những kẻ khốn khổ bị bỏ rơi trên bờ biển đông đúc của bạn. Hãy gửi những người này, những người vô gia cư, những cơn bão tố đến với tôi, tôi giơ cao ngọn đèn của mình bên cánh cửa vàng!”
-1918 – Cộng hòa Tiệp Khắc được thành lập, tập hợp từ ba tỉnh – Bohemia, Moravia và Slovakia – vốn từng là một phần của đế chế Áo-Hung trước đây.
– 1922 – Những người áo đen phát xít bắt đầu “Cuộc diễu hành đến Rome” từ Naples dẫn đến sự hình thành chế độ độc tài dưới thời Benito Mussolini.-1949 – Helen Anderson trở thành nữ đại sứ đầu tiên, được Tổng thống Harry Truman bổ nhiệm làm Đại sứ tại Đan Mạch. -1958 – Hồng y Angelo Giuseppe Roncalli, Thượng phụ Venice, được bầu làm Giáo hoàng, lấy tước hiệu là John XXIII. Nổi tiếng nhất với việc chủ trì Công đồng Chung lần thứ 21 (Vatican II). -1914 – Tiến sĩ Jonas Salk (1914-1995) sinh ra tại Thành phố New York. Năm 1952, ông đã phát triển một loại vắc-xin phòng ngừa căn bệnh bại liệt ở trẻ em (viêm tủy xám, còn được gọi là bại liệt ở trẻ sơ sinh). Vắc-xin của ông đã làm giảm 95% số ca tử vong do bệnh bại liệt ở Hoa Kỳ. -1955 – Nhà sáng lập Microsoft Bill Gates sinh ra tại Seattle, Washington, ngày 28/10/1955. Năm 1975, ông đồng sáng lập Microsoft với Paul Allen, thiết kế phần mềm cho máy tính IBM. Đến năm 1980, Microsoft đã trở thành công ty phần mềm hàng đầu cho máy tính tương thích IBM. Gates trở thành tỷ phú ở tuổi 31 và vẫn là một trong những cá nhân giàu nhất thế giới.
**29/10
-1618 – Nhà thám hiểm người Anh Sir Walter Raleigh bị hành quyết tại London vì tội phản quốc theo lệnh của Vua James I.- 1897 -Bộ trưởng tuyên truyền của Đức Quốc xã Paul Joseph Goebbels (1897-1945) sinh ra tại Rheydt, gần Dusseldorf, Đức. Được coi là một bậc thầy tuyên truyền, ông kiểm soát tất cả các tờ báo, đài phát thanh và sản xuất phim của Đức Quốc xã. Ông là một người bài Do Thái cực đoan, người ủng hộ việc tiêu diệt người Do Thái. Ông tận tụy với Hitler cho đến phút cuối cùng, ông đã chết tại hầm trú ẩn Berlin của Hitler vào năm 1945 sau khi đầu độc sáu người con của mình. **30/10:-1990 – Lần đầu tiên kể từ Kỷ Băng hà, Vương quốc Anh được kết nối với lục địa châu Âu, thông qua một đường hầm đường sắt mới dưới eo biển Manche. – 1735 -John Adams (1735-1826), Tổng thống thứ 2 của Hoa Kỳ sinh ra tại Braintree, Massachusetts. Ông phục vụ từ ngày 04/3/1797 đến ngày 03/3/1801. Ông từng là phó tổng thống của George Washington và là cha của John Quincy Adams, Tổng thống thứ 6. Ông qua đời vào ngày 04/7/1826, cùng ngày với Thomas Jefferson, vào đúng kỷ niệm 50 năm ngày thông qua Tuyên ngôn Độc lập.
**31/10:
– Halloween hay All Hallow’s Eve, một lễ kỷ niệm cổ xưa kết hợp lễ hội All Saints của Cơ đốc giáo với lễ hội mùa thu của người ngoại giáo.
-1940 – Trận chiến nước Anh kết thúc. Bắt đầu từ ngày 10 tháng 7 năm 1940, máy bay ném bom và máy bay chiến đấu của Đức đã tấn công các mục tiêu ven biển, sân bay, London và các thành phố khác, như một màn mở đầu cho cuộc xâm lược của Đức Quốc xã vào nước Anh. Các phi công Anh trên máy bay Spitfire và Hurricane đã bắn hạ hơn 1.700 máy bay Đức trong khi mất 915 máy bay chiến đấu. “Chưa bao giờ trong lĩnh vực xung đột của con người, rất nhiều người nợ rất ít người như vậy”, Thủ tướng Winston Churchill tuyên bố.
-1941 – Đài tưởng niệm quốc gia Núi Rushmore được hoàn thành sau 14 năm xây dựng. Đài tưởng niệm có các tác phẩm điêu khắc cao 60 foot về đầu của các Tổng thống George Washington, Thomas Jefferson, Abraham Lincoln và Theodore Roosevelt – đại diện cho nền tảng, triết lý chính trị, sự bảo tồn, mở rộng và bảo tồn của nước Mỹ.
– 1950 – Earl Lloyd trở thành người Mỹ gốc Phi đầu tiên chơi trong một trận đấu của Hiệp hội Bóng rổ Quốc gia (NBA) khi anh thi đấu cho đội Washington Capitols ở Rochester, New York.
– 1961 – Thi hài của Joseph Stalin được đưa khỏi lăng mộ ở Quảng trường Đỏ và được chôn cất lại bên trong các bức tường Điện Kremlin cùng với các ngôi mộ của những anh hùng Liên Xô kém cỏi hơn. Sự kiện này diễn ra như một phần trong chương trình phi Stalin hóa của Nga dưới thời người kế nhiệm Nikita Khrushchev. Tên của Stalin cũng bị xóa khỏi các tòa nhà công cộng, đường phố và nhà máy. Stalingrad được đổi tên thành Volgograd.-1968 – Trong Chiến tranh Việt Nam, Tổng thống Lyndon Johnson đã ra lệnh ngừng ném bom Bắc Việt Nam của Mỹ. -1984 – Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi bị ba thành viên Sikh trong đội cận vệ của bà ám sát khi đang đi dạo trong vườn nhà bà ở New Delhi. – Người lính và chính khách Trung Quốc Tưởng Giới Thạch (1887-1975) sinh ra tại Chiết Giang. Được đào tạo tại Học viện Quân sự Wampoa, ông đã lãnh đạo lực lượng Quốc dân đảng (dân tộc chủ nghĩa) trong cuộc đấu tranh chống lại quân đội Cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo.
Sao vẫn Còn mùa Thu | Hao Vì Sao Lạc
Chiều Nhạc San Jose – Tác Giả Tác Phẩm Kỳ 2
Let’s Practice NutriLiving Taichi Excercises
VỀ CÁC ĐẠI HỌC XÁ TRẦN QUÝ CÁP, MINH MẠNG, THANH QUAN VÀ PHỤC HƯNG
Ngàn Năm Mây Bay
Thăm Viếng Văn Thi Sĩ Chinh Nguyên VTLV
Xin bấm vào hình để đọc.
Hình ảnh “Chiều Nhạc Em Không Nghe Mùa Thu”
Bản nhạc CHIỀU NHẠC MÙA THU do Gs Ns Phạm Đức Huyến thân tặng
VÀO THU
( Ngũ độ thanh )
Sáng điểm sương choàng lạnh lẽo ôi
Nàng thơ gợi cảm xúc đây rồi
Êm đềm hạ trắng bay nhường cảnh
Nhẹ nhõm thu vàng thổi chiếm ngôi
Dõi lá bao chùm rơi dọc biển
Nhìn hoa những đám rụng quanh đồi
Thương mùa quyến rũ đan lời dệt
Dạo bước an nhàn khẽ mỉm môi.
Minh Thúy Thành Nội
TIẾNG THỜI GIAN
(Ngũ Độ Thanh)
Gió thổi màu thu ngập giữa đàng
Mây hồng khép lại dẫn mùa sang
Nhìn gương lặng lẽ đà khô héo
Điểm bóng trầm ngâm đã lụi tàn
Hạ ghé hoa bừng soi phải rã
Đông về tuyết phủ dõi rồi tan
Vòng xoay chuyển tiếp nào đâu lạ
Bởi vậy sầu rơi những lá vàng
Minh Thúy Thành Nội
TẾT TRUNG THU RƯỚC ĐÈN ĐI CHƠI
SỨC MẠNH CỦA TÌNH YÊU
Chùm thơ Minh Thúy
TIẾNG THỜI GIAN
(Ngũ Độ Thanh)
Gió thổi màu thu ngập giữa đàng
Mây hồng khép lại dẫn mùa sang
Nhìn gương lặng lẽ đà khô héo
Điểm bóng trầm ngâm đã lụi tàn
Hạ ghé hoa bừng soi phải rã
Đông về tuyết phủ dõi rồi tan
Vòng xoay chuyển tiếp nào đâu lạ
Bởi vậy sầu rơi những lá vàng
Minh Thúy Thành Nội
Thú Coi Phim Thời Đi Học- Nguyễn Hoàng Quý
THÚ COI PHIM THỜI ĐI HỌC
Anh bạn tôi, nhà nghiên cứu Hán Nôm và các di tích cổ địa phương nơi anh sống như một nhà điền dã, đề nghị tôi viết một stt về các rạp chiếu phim (rạp ciné) tôi thường coi thời chúng tôi cùng học ở Huế. Thấy vui vui và tôi sẽ kể lại cho bạn nghe như chuyện đời xưa.
Tôi tiếp xúc với các rạp chiếu phim từ khi học ở Đà Lạt sau Mậu Thân 1968. Hồi đó, thành phố hoa này có 3 rạp: Ngọc Lan, Hòa Bình và Ngọc Hiệp. Không đi thường xuyên hàng tuần hay hai tuần như Huế sau này mà chỉ chọn rạp và phim đáng coi. Chọn rạp cũng giống như chọn nhà xuất bản mà mua sách thì ở Đà Lạt, rạp Ngọc Lan với anh em tôi là rạp “danh giá”, luôn chọn phim giá trị, rạp Hòa Bình chiếu phim phổ thông và rạp Ngọc Hiệp chuyên phim Tàu, phim Ấn Độ. Do vậy, tôi luôn mê Ngọc Lan và thường coi ở đó.
Ở Huế có 4 rạp: Hưng Đạo, Tân Tân, Châu Tinh và Z96. Ba rạp đầu cách chọn phim như nhau nhưng Hưng Đạo chỗ ngồi rộng rãi, đẹp và thoải mái hơn hai rạp kia, Z96 thì nghèo và phim… tệ! Tất nhiên, đây chỉ là nhận định chủ quan của tôi và bạn bè ngày ấy.
Ở Đà Nẵng, mỗi lần có dịp về, tôi thường coi ở rạp Kinh Đô trên đường Độc Lập gần Air Việt Nam; Trưng Vương trên đường Hùng Vương; chưa hề coi phim ở rạp Kim Châu (Độc Lập), Lido ở gần nhà lưu niệm cụ Phan Chu Trinh ngã năm và Tân Thanh (Chợ Cồn) bao giờ. Lý do cũng chỉ là chuyện các rạp họ chiếu phim gì. Các rạp chiếu phim trước 1975, ngoài áp phích (affiche) treo ngay ở trước rạp còn treo quảng cáo cho phim sắp chiếu ở các nơi đông người trong thành phố với chừng 5 – 10 bức rộng khoảng 60x100cm. Các bảng quảng cáo này do những họa sĩ chuyên nghiệp vẽ vội vàng với màu nước vì sẽ bỏ đi sau khi phim chiếu xong. Ngoài ra có những affiches lớn hơn do chính hãng phim in màu, có bức có hình tài tử cao bằng cả người thường đặt ngay gần phòng vé.
Tất cả các rạp, trước giờ chiếu (hoặc trước đó) thường phát cho khán giả tờ chương trình, giới thiệu tài tử và tóm tắt truyện phim thường gọi là pồ gam (programme). Tôi thích giữ lại những tờ này để khi nhớ đến tên phim, có cách nhớ nội dung nhưng qua thời gian, di chuyển nơi ở và chiến tranh loạn lạc nên mất mát nhiều, chỉ còn giữ lại một ít. Vừa rồi, vợ anh bạn nhắn tin xin vài tờ để cho con trai là một Kiến trúc sư biết. Tôi tìm ngay và chụp hình ít tấm gửi cho bạn. Tôi cũng hẹn nếu có địa chỉ, tôi sẽ gửi tặng cháu vài tờ. Nghe rằng “cháu là tip người hoài cổ”. Có lẽ thú vị vì không ngờ sau 54 năm, tôi vẫn giữ được những tờ programmes này nên anh đề nghị tôi viết lại.
Những người thích coi phim ngày xưa được gọi là “dân ghiền phim” hay “con ma ciné”. Tôi không nghe ai nói về mình như vậy dù tôi rất mê phim. Tôi thường không bỏ qua những phim kinh điển và nổi tiếng hoặc được giới thiệu trước với những tài tử mình mến mộ, từ những tên tuổi như Liz Taylor, Gina Lollobrigida đến Charles Bronson, Omar Sharif, từ Brigitte Bardot đến Paul Newman… Và chúng tôi vẫn nói đùa với nhau khi đọc một loạt tên tài tử như phù thủy đọc thần chú: “Jeanne Morreau, Brigitte Bardot, Fernando Sancho”. Thấy tôi thường coi phim, kể cả phim không hay, chị tôi than phiền, “Vì sao em coi cả những phim người đã coi trước chê dở?” Tôi nói nếu tìm ra điểm dở của nó thì mình hay. Chị chịu.
Đi coi phim có lần tôi cũng bị móc bóp ở rạp Tân Tân – Huế vào hôm trời mưa lạnh, mặc cả pardessus bên ngoài vẫn bị mất ví trong đó có ít tiền và giấy tờ. Về sau cảnh sát Đông Ba mời tới lấy cung, để hỏi tôi có “cung cấp giấy tờ cho bọn ăn trộm?”. Tôi chìa tờ cớ mất, họ trả lại giấy tờ mình mất chưa kịp xin lại. Có nhiều kỷ niệm khó quên trong “thiên cố sự” về phim ảnh này. Đêm trước ngày thi môn của thầy Lê Khắc Phò, vị giáo sư mà không có sinh viên nào không lo lắng, tôi và anh bạn thân nay đã qua đời là Hoàng Văn Tôn cùng đi coi, không may lại gặp thầy cũng đang chuẩn bị vào rạp Tân Tân. Thầy ngạc nhiên và hỏi ngay sau khi chúng tôi chào: “Mai đi thi mà anh Quý và anh Tôn cũng đi coi phim sao?”. Túng kế, tôi đáp bừa: “Thưa thầy, em đi coi để thư giãn và tìm cảm hứng thầy à”. Thầy chịu!
Dân ghiền phim thường có khuynh hướng tìm hiểu phim sẽ về các rạp ở thành phố mình, sắp tới là phim gì vì thông thường phim sẽ tuần tự từ SG ra đến Huế. Do vậy, khi biết phim Docteur Zhivago ra đến Đà Nẵng, từ Huế tôi đã về để coi trước mọi người. Không ngờ lúc đó Cha Phương cho thi ngay môn ngài vừa dạy xong, may có anh bạn cùng lớp giúp… làm bài hộ! Chuyện này nhiều người biết và tôi bị phỏng vấn nhiều lần ở hành lang Văn khoa mấy ngày sau đó! Riêng phim Love Story thì chúng tôi coi ở Hội Việt Mỹ khi biết ở đó sắp chiếu cho những độc giả giới hạn của Hội và mãi mấy tháng sau mới chiếu ở rạp.
Các rạp có lúc chiếu thường trực, liên tục, vừa hết phim lại bắt đầu chiếu lại gọi là “permanent” hoặc chiếu xuất trong ngày tùy phim và tùy rạp. Dù chiếu permanent (thường trực) như ở rạp Ngọc Lan Đà Lạt thì chúng tôi vẫn chờ đến khi hết phim, khách lục tục kéo ra thì mình mới vào xem để theo dõi từ đầu. Các rạp chiếu xuất thường gần hết xuất tối là không soát vé vào, nhiều người không có tiền mà mê phim thường đợi đến lúc này để vào coi cọp, dù chỉ là phần cuối! Tuy vậy, vẫn nói dóc với bạn bè là “Tau coi phim thả cửa!”. Các rạp bán vé theo hạng, hạng đắt tiền ngồi xa màn ảnh nhất và ít tiền ngồi… sát màn ảnh!
Thời chúng tôi, phim HongKong cũng luôn hấp dẫn khi có những tài tử nổi tiếng như Vương Vũ, Khương Đại Vệ, La Liệt xuất hiện. Minh tinh nổi tiếng đẹp, diễn xuất hay ngày ấy là Trịnh Phối Phối. Một lần nghe rạp Hưng Đạo chiếu phim có Trịnh Phối Phối đóng, tôi và bạn Tôn không thể không mua vé vào coi dù đang gạo bài thi. Khi Trịnh Phối Phối xuất hiện xong là chúng tôi đứng dậy để về nhà học bài tiếp! Lại nhớ hồi học địa lý với thầy Phò, thầy kể chuyện mặt trái của các phim trường. Khi thực hiện phim cao bồi ở Ý, không tìm được ngoại cảnh sa mạc, nhà làm phim phải giải quyết bằng cách cho trải cát trên mặt bằng rộng. Khi ngựa chạy qua, vết chân ngựa làm tróc lớp cát để lòi ra bên dưới màu đất đen!
Khi đến xứ Cờ Hoa hồi giữa năm 2019, tôi được thăm San Francisco, Los Angeles, Maryland, Florida… thăm phim trường Universal ở Orlando, MGM ở Maryland. Đặc biệt may mắn là được đứa cháu dẫn đi thăm phim trường Hollywood ở Los Angeles một ngày, ở đó, xe của Hollywood chở cả đoạn đường dài vài cây số và coi những ngoại cảnh thu nhỏ để dựng các phim cao bồi, phim hải tặc, phim mô tả những trận lụt ngày xưa và cả phim Harry Potter sau này. Đó là một trong nhiều tour khó quên ở đây. Hai bên đường đi thấy các tấm bảng giới thiệu những phim lừng danh từng chiếu hàng năm của một thời. Tất cả gợi lại cho mình nhớ rạp, nhớ phim, nhớ bè bạn ngày xưa!
Nhớ lại chuyện coi phim ngày xưa là nhớ về vùng trời kỷ niệm dễ thương thời đi học với những thành phố mình sống, những người bạn thân một thời, những kiến thức về các vùng đất xa lạ và tình trạng xã hội ở những nơi các sự kiện trong phim diễn ra. Những hiểu biết từ phim đã giúp tôi giàu thêm kiến thức, có thêm nhiều bạn mới mà sở thích về phim của họ gần gũi với mình. Tất cả là một thứ hành trang đem theo trong hành trình làm người rất khó quên được và sống dậy mỗi lần có một nhắc nhớ.
Cám ơn cuộc đời, cám ơn những cuốn phim tôi đã được coi với rất, rất nhiều kỷ niệm theo cùng.
Nguyễn Hoàng Quý
PHỎNG VẤN LUẬT SƯ NGUYỄN QUỐC LÂN
NHỮNG CHUYỆN NHỨC ĐẦU
NHỮNG SỰ KIỆN XẢY RA TRONG THÁNG 8
Thái Nữ Lan sưu tầm & dịch
SINH-VIÊN HOÀNG KIM KHÁNH
Hoàng Kim Khánh là sinh-viên trường đại-học Luật-Khoa thuộc Viện Đại-Học Huế. Anh-ta là phần-tử có lý-lịch tốt: không có quyến-thuộc là cộng-sản mà chỉ có thân-nhân tham-gia chính-quyền Quốc-Gia; bản-thân anh-ta cũng chưa hề làm gì về phương-diện chính-trị cũng như hình-sự đáng để cơ-quan an-ninh lưu-tâm. Thế mà bây giờ anh-ta bị Ngành Đặc-Cảnh điều-tra.
Trong thực-tế, không có vấn-đề Chính-Quyền dò xét hành-tung của sinh-viên, ngoại-trừ trường-hợp cá-nhân nào có hành-vi bất-hợp-pháp, tỷ như trộm cướp, buôn bán cần-sa ma-túy, trốn quân-nhiệm, v.v… và, lẽ tất-nhiên, dính-líu tới tổ-chức hay hoạt-động của giặc thù. Khánh thuộc loại sau cùng.
Thành-phố Huế, cố-đô của Việt-Nam, và thủ-phủ của Miền Trung, sau bao nhiêu biến-cố và biến-thiên, vẫn còn sôi-sục những chống-đối, tranh-chấp, vì bất-mãn, tị-hiềm; và cộng-sản bao giờ cũng là kẻ thừa nước đục thả câu.
Tổng-Hội Sinh-Viên Huế liên-tiếp qua chục năm nay làm cái công việc gọi là “tranh-đấu chống chính-quyền”, trong một hoàn-cảnh thuận-lợi vô cùng. Chính-quyền gọi họ là tương-lai của dân-tộc, là rường-cột của quốc-gia. Họ là những người tự-hào có học, ít nhất thì cũng cao hơn trung-học; nếu vào quân-ngũ thì cầm chắc cấp-bậc sĩ-quan trong tay; và khi học xong thì họ sẽ là trí-thức, một giới được mọi người kính-trọng nể-vì. Họ được gia-đình nuôi ăn, có người được hưởng học-bổng, để tiếp-tục học-hành. Và họ sử-dụng trường-ốc cùng các tiện-nghi có sẵn trong trụ-sở Viện Đại-Học của chính-quyền để chống lại chính-quyền.
Viện Đại-Học Huế, hay nói đúng hơn là Tổng-Hội Sinh-Viên Huế, một tổ-chức mà chính-quyền cần có nhưng không kiểm-soát được, đã đào-tạo ra một số “lãnh-tụ sinh-viên tranh-đấu” được một số đông sinh-viên bầu vào các Ban Đại-Diện của tập-thể mình, và được hầu hết báo-chí, phương-tiện truyền-thông nằm trong tay tư-nhân hậu-thuẫn hết mình.
Lâu nay họ chỉ hội họp, hội-thảo, lập kiến-nghị, đưa yêu-sách, chống đối điều này, đòi-hỏi điều kia; cao lắm là treo biểu-ngữ, dán bích-chương trước cổng trường và trên đường phố, chiếm-cứ giảng-đường làm nơi cố-thủ, họp báo, tuyệt-thực, tố-cáo tham-nhũng, phản đối bắt-bớ, tẩy-chay Chương-Trình Huấn-Luyện Quân-Sự Học-Đường, kêu gọi thả tù chính-trị, hô-hào chấm dứt chiến-tranh, v.v… Sau Hiệp-Định Paris, một số “lãnh-tụ sinh-viên Huế” tương-đối có tên-tuổi đã rời môi-trường đại-học, vì lý-do này hay lý-do kia; số còn lại tuy vẫn có thể nuôi-dưỡng phong-trào, nhưng dân-chúng và ngay cả đa-số sinh-viên bạn cũng đã ý-thức được vấn-đề bị cộng-sản lồng người vào, giật dây, hoặc lợi-dụng, nhất là sau vụ Huỳnh Tấn Mẫm của Tổng-Hội Sinh-Viên Saigon bị Đặc-Cảnh trưng-dẫn bằng-chứng tố-cáo y là cơ-sở hoạt-động cho Việt-Cộng, nên các “lãnh-tụ” tay sai của địch tự cảm thấy bị hạn-chế cả trong phạm-vi địa-bàn sách-động lẫn trong nội-dung các đề-tài nêu lên. Họ bèn tìm cách để thoát ra khỏi ngõ bí; và khi có một sáng-kiến tuy bên trong ấn-giấu âm-mưu xảo-quyệt nhưng bên ngoài lộ vẻ chính-đáng vô-tư thì hầu như số đông liền chấp-nhận dễ-dàng.
Chỉ là một sự trùng-hợp ngẫu-nhiên, song “vụ sinh-viên Hoàng Kim Khánh” xảy ra vào thời-gian tôi mới đến Vùng I, từ cuối 1973, đã có ý-nghĩa như là một thách-đố đối với riêng tôi.
Một chiến-dịch rỉ tai đã được tung ra rằng tập-thể sinh-viên nên chọn bầu một cá-nhân không có thân-nhân dù gần dù xa là người ở phía cộng-sản, làm người đại-diện cho mình, để phía Quốc-Gia không có lý-do mà nghi-ngờ là dễ bị cộng-sản móc-nối hoặc thiên về bên kia. Khánh được nhiều sinh-viên đã có thành-tích “tranh-đấu” của Khoa mình cũng như các Khoa khác nhiệt-liệt ủng-hộ. Do đó, khi Khánh được giới-thiệu ứng-cử vào vai trò Chủ-Tịch Ban Đại-Diện trường Luật thì anh-ta chiếm được đa-số tuyệt-đối phiếu của Khoa mình. Liên-tiếp nhiều lần hội-họp trong nội-bộ Khoa cũng như trong hội-đồng Tổng-Hội, Khánh phát-biểu mạnh-dạn, được các sinh-viên có tiếng-nói ảnh-hưởng gợi ý là anh-ta xứng-đáng được đắc-cử, trong nhiệm-kỳ sắp tới, vào cương-vị Chủ-Tịch Tổng-Hội bao trùm mọi Khoa.
Đùng một cái, Khánh mất tích. Cứ theo những quyết-nghị, kiến-nghị, kháng-thư, biểu-ngữ, bích-chương, truyền-đơn, bài đăng báo, lời tuyên-bố, v.v… của Tổng-Hội Sinh-Viên Huế, liên-tiếp họp bất-thường nhiều ngày, nhiều đêm, thì chắc-chắn là anh-ta đã bị cơ-quan an-ninh tình-báo của Việt-Nam Cộng-Hòa bắt cóc. Vì thế, chủ-đề tranh-đấu là yêu-cầu Chính-Quyền trả tự-do ngay cho Hoàng Kim Khánh, và trong thời-gian chờ-đợi thì đổ cho Chính-Quyền chịu trách-nhiệm hoàn-toàn về tính-mệnh của sinh-viên này.
Tôi đã huy-động mọi nỗ-lực của Ngành Đặc-Cảnh toàn Vùng I, cũng như phối-hợp với tất cả các cơ-quan & đơn-vị an-ninh tình-báo bạn tại địa-phương, và báo-cáo lên Trung-Ương đồng-thời thông-báo các Vùng khác, để cùng lùng tìm tung-tích của Khánh. Suốt một tuần-lễ, tình-hình căng-thẳng tột cùng. Một bên thì phe sinh-viên gia-tăng cường-độ chống-đối Chính-Quyền; hơn nữa, trong mấy ngày sau thì lại có một giáo-gia trung-học “mất tích”, khiến một số đông giáo-gia và nam+nữ học-sinh trung-học tại Huế cũng cùng đứng lên sát cánh với sinh-viên Huế trong cuộc tranh-đấu có mục-tiêu gần-gũi và cụ-thể này. Một bên thì Chính-Quyền, mà đại-diện là các cơ-quan & đơn-vị an-ninh tình-báo Quốc-Gia, nhất là Ngành Đặc-Cảnh, bị dư-luận nghi-ngờ mà không làm sao thanh-minh được, vì công-chúng dễ-dàng tin theo tin đồn.
Thật-sự thì không có ai bắt Khánh. Nhưng tôi chỉ biết xác-nhận với Cấp Trên như thế trong nội-bộ mà thôi; chứ Chính-Quyền, từ Phủ Tổng-Thống, Phủ Thủ-Tướng, Bộ Nội-Vụ, Bộ Thông-Tin, xuống đến các “cơ-quan chính-quyền Tỉnh” – một danh-xưng con đẻ của cái gọi là “Cuộc Cách-Mạng Hành-Chánh của Việt-Nam Cộng-Hòa” – nhất là Tỉnh Thừa-Thiên trong đó có Thị-Xã Huế, thì không có nơi nào lên tiếng phủ-nhận lời rêu-rao của sinh-viên; hoặc giả đã có thông-cáo nhưng không thấy báo nào đăng, vì báo-chí hầu hết đứng về phía đối-lập với Chính-Quyền.
Một tuần-lễ sau, cuộc “tranh-đấu” ấy của Sinh-Viên Huế đã đạt đến kết-quả cao-độ của nó. Cũng vào một buổi sáng chủ-nhật, trong lúc sinh-viên các Khoa đang họp bàn sôi-nổi thì Hoàng Kim Khánh chạy xộc vào hội-đường, với bộ mặt hốc-hác, đầu tóc bù-xù, áo quần nhăn-nheo; bề ngoài cho thấy rõ-ràng là anh-ta vừa mới thoát ra từ một chốn giam-cầm khắt-khe.
Sau mấy phút reo mừng ôm hôn náo-nhiệt, Khánh được mời ngay lên máy vi-âm tường-thuật những gì đã xảy ra cho anh-ta trong những ngày qua.
Theo lời Khánh thì, vào sáng chủ-nhật tuần trước, Khánh rời nhà ở trong Thành-Nội để đi qua Viện Đại-Học Văn-Khoa dự họp như lệ thường lâu nay; lúc chưa ra đến Cửa Đông-Ba thì anh-ta bị hai người đàn-ông mặc dân-phục chận lại, chĩa súng lục vào người, bảo leo lên một chiếc xe Jeep sơn màu trắng-xám đậu sẵn bên đường. Anh-ta bị chở đến Trung-Tâm Thẩm-Vấn thuộc Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên, dọa-nạt, đánh-đập, liên-tiếp hai ngày hai đêm. Sau đó, anh-ta được giao cho hai người đàn-ông, cùng mặc dân-phục, chở bằng xe Jeep sơn màu trắng-vôi đến trụ-sở của Đội Quân-Báo Đặc-Biệt ở đường Trưng-Trắc, Huế; tại đây anh-ta cũng bị hăm-he, hành-hạ, một ngày một đêm. Tiếp theo, anh-ta được giao cho một người đàn-ông, cũng mặc dân-phục; người này còng tay, bịt mắt, nhét khăn vào miệng anh-ta, chở bằng xe-hơi dân-sự từ Huế vào Đà-Nẵng, vào khoảng hai ba giờ sáng, nhốt ở trụ-sở của Đội Khảo-Cứu Địa-Lý thuộc Phủ Đặc-Ủy Tình-Báo Trung-Ương, trên đường Trần Cao Vân; ở đây anh-ta cũng bị khủng-bố, ngược-đãi. Kế đến, anh-ta bị đưa đến giam ở một ngôi nhà bí-mật trên đường Lý Thường Kiệt, thuộc Sở Tác-Vụ của Ngành Đặc-Cảnh Vùng I (của tôi), hai ngày sau cùng; cơ-quan này cũng hù-nạt, trấn-áp anh-ta, cuối cùng đã dùng xe Jeep sơn màu trắng-xám chở anh-ta từ Đà-Nẵng ra Huế lại, thả anh-ta xuống ở đường Triệu-Ẩu sáng nay. Anh-ta liền chạy thẳng đến với Tổng-Hội Sinh-Viên, đúng lúc Ban Đại-Diện các Khoa đang hội-họp tại hội-đường này của Trường Đại-Học Văn-Khoa.
Cũng theo lời của Hoàng Kim Khánh thì mục-đích của việc Chính-Quyền bắt cóc anh-ta như thế là để trực-tiếp cảnh-cáo anh-ta đừng tham-gia hoạt-động với các phần-tử “tranh-đấu” đang cầm đầu Tổng-Hội Sinh-Viên Huế. Vì anh-ta là con+cháu của một số viên-chức khả-tín trong hàng-ngũ Quốc-Gia, tiếng nói của anh-ta sẽ có sức mạnh lớn hơn so với các “lãnh-tụ” sinh-viên đương-thời mà hoạt-động có hại cho an-ninh trật-tự chung. Mục-đích cũng là gián-tiếp báo trước cho các phần-tử “tranh-đấu” khác biết là họ cũng có thể bị bắt cóc, thậm-chí thủ-tiêu, bất-cứ lúc nào. Khánh kể lại là anh-ta đã xác-nhận với các giới-chức hữu-quyền rằng anh-ta chỉ đứng trên căn-bản của các nguyên-tắc tự-do, dân-chủ và nhân-quyền, cũng như Hiệp-Định Paris, để tranh-đấu, chứ không thiên về cộng-sản; và vì các cơ-quan an-ninh & tình-báo liên-hệ không thuyết-phục được anh-ta, mà cũng không tìm thấy bằng-chứng hoặc yếu-tố nào để buộc tội anh-ta, nên đành phải thả anh-ta ra mà thôi.
Sự tái-xuất-hiện cùng với câu chuyện kể lại của Khánh như trên, là một bình xăng ném vào đống lửa củi khô đã cháy sẵn. Tổng-Hội Sinh-Viên Huế, với sự hậu-thuẫn của Tổng-Hội Sinh-Viên Sài-Gòn và báo-chí trong nước, đã xuống đường, tuyệt-thực, gửi tối-hậu-thư đòi Chính-Quyền Việt-Nam Cộng-Hòa phải công-khai nhận lỗi, chịu bồi-thường thiệt-hại cho Khánh, và cam-kết từ nay chấm dứt mọi việc làm ám-muội tương-tự vụ này.
Tôi thật rối trí trước tình-hình gay-cấn tột cùng. Tôi đã phối-kiểm với các cơ-quan & đơn-vị bạn, đồng-thời soát-xét các bộ-phận hành-sự thuộc quyền mình, thì, lạ-lùng thay, từ màu sơn của các cảnh-xa, quân-xa mang bảng số ẩn-tế dân-sự, các địa-chỉ tọa-lạc của các Trung-Tâm, Đội, Nhà An-Toàn, cho đến hình-dáng, phục-sức, của một số viên-chức và sĩ-quan thuộc cả bốn tổ-chức – Đặc-Cảnh, Tình-Báo Trung-Ương, Quân-Báo, và Quân-An – ở cả hai Thành-Phố, Huế và Đà-Nẵng, mà Hoàng Kim Khành mô-tả lại, đều đúng với sự thật được che-giấu ngoài đời. Riêng việc bắt Khánh thì cả bốn ngành kể trên đều khẳng-định là không hề xảy ra. Tuy nhiên, Chính-Quyền thì đã bị tai-tiếng rõ-ràng. Biến-cố này ảnh-hưởng mạnh đến tinh-thần phục-vụ hăng say của Ngành Đặc-Cảnh, trong bối-cảnh Việt-Cộng đánh ngoài phá trong, hằng chục đoàn-thể dân-chúng lớn+nhỏ – từ các chính-hội, giáo-hội, hữu-hội, đến các Lực-Lượng, Mặt-Trận, Phong-Trào, Liên-Hiệp, Liên-Minh – đều dồn-dập nổi lên đả-kích Chính-Quyền, cùng với một số nhân-vật dân-cử như Thượng-Nghị-Sĩ, Dân-Biểu, hội-viên Hội-Đồng Tỉnh, Thành-Phố, cũng đối-lập kịch-liệt với Chính-Quyền, tạo nên một bầu không-khí sôi-sục, ngột-ngạt vô cùng.
Tôi họp bàn riêng với Thiếu-Tá Trương Công Ân, Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên, để tìm cách đối-phó, cứu-vãn tình-hình. Chúng tôi nhận định: câu chuyện “Hoàng Kim Khánh bị bắt cóc” là một câu chuyện hư-cấu ấu-trĩ, bởi lẽ chưa bao giờ có sự hợp-tác chặt-chẽ của bốn ngành hoạt-động nói trên, nhất là trong một âm-mưu bất-chính mà chỉ nhắm vào một cá-nhân chưa hề là đối-tượng chú ý đáng kể của riêng một ngành nào; hơn nữa, nếu muốn bắt cóc thật-sự thì chắc-chắn là không có ai khờ-khạo để lộ gốc-gác, hành-tung của mình cho đối-phương nhận biết dễ-dàng như trên. Nói chung, dư-luận đã bị đầu-độc, công-chúng không cần phán-đoán vô-tư, và Chính-Quyền đã bị chơi khăm một vố khá đau, trong đó Ngành Đặc-Cảnh bị thua oan-uổng một nước cờ gian. Do đó, Ngành Đặc-Cảnh phải chứng-minh, để tự biện-minh cho mình.
Tôi tính chỉ cần làm thế nào để Hoàng Kim Khánh nói cho chúng tôi biết sự thật về câu chuyện bịa-đặt kể trên, thì chúng tôi mới hành-động đúng cách được. Nhưng, chúng tôi không tiện bắt Khánh, mà cũng không tiện mời anh-ta đến công-đường, vì bây giờ thì không riêng gì giới sinh-viên mà có thể nói là mọi người xung quanh đều canh chừng giùm cho anh-ta, hễ nghe tin Đặc-Cảnh hỏi-han gì anh-ta là họ phản-ứng rùm-beng liền, chỉ có hại thêm cho chúng tôi mà thôi.
Và tôi đã chọn một phương-thức bắt-đắc-dĩ: dùng gậy ông đập lưng ông. Tôi thảo-luận kỹ-càng với Ân, để Ân trình-bày lại với Liên Thành (thiếu-tá, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Thừa-Thiên & Huế, và được Thành đồng-thuận) theo nguyên-tắc, rồi giao-phó và cho phép Ân đích-thân thi-hành kế-hoạch, một kế-hoạch mà nếu thất-bại thì cả hai chúng tôi sẽ thân-bại danh-liệt tức-thời: bắt cóc Khánh, bắt cóc thật-sự.
Vì Tổ-Quốc, vì Danh-Dự, vì Trách-Nhiệm, Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên đã hoàn-tất tốt đẹp cái công-tác không-tiền khoáng-hậu nói trên. Vào một đêm khuya kia, nhân lúc Khánh một mình ra vườn, do chúng tôi tạo động-cơ thúc-đẩy, trong lúc người nhà và hàng xóm đều đang ngủ say, chúng tôi đã chớp-nhoáng tê-liệt-hóa anh-ta và lặng-lẽ chở anh-ta về một căn phòng đặc-biệt, có bố-trí kín máy quay phim, máy ghi-âm, kính-một-chiều để bên trong anh-ta tưởng là gương soi mặt nhưng bên ngoài một số viên-chức có uy-tín được mời đến quan-sát thì thấy rõ, để phòng nếu cần thì sẽ làm chứng về sau. Khánh được cho xem những tài-liệu của Việt-Cộng, về tổ-chức và hoạt-động của Mũi Trí-Vận, Thành-Đoàn Thanh-Niên Sinh-Viên Học-Sinh, hồ-sơ các vụ Huỳnh Tấn Mẫm cùng Lê Văn Nuôi trong Nam và Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng Nguyễn Đắc Xuân ở Huế, v.v… cùng những tin-tức về kế-hoạch giật dây phong-trào tranh-đấu của Sinh-Viên Huế, và viễn-ảnh một cuộc tổng-nổi-dậy theo kiểu tổng-tấn-công ở Huế vào dịp Tết Mậu-Thân trong đó Việt-Cộng tàn-sát tập-thể nhiều nghìn người. Trong cuộc đấu trí, câu hỏi được đặt ra là trong trường-hợp đó liệu thân-nhân của Khánh có thoát khỏi bàn tay phi-nhân của cộng-sản hay không; và, là một thanh-niên có học-thức, Khánh nghĩ thế nào về chính-sách giết người tay không dã-man như thế.
Kết-hợp tác-động tâm-lý chính-trị với kỹ-thuật moi tin, Đặc-Cảnh đã đạt được kết-quả là Khánh thú-nhận đã bị sinh-viên Trần Văn Hội của Trường Đại-Học Y-Khoa tổ-chức, huấn-luyện, đạo-diễn, cốt để đưa Khánh lên làm Chủ-Tịch Tổng-Hội Sinh-Viên toàn Viện Đại-Học Huế.
Trong tuần-lễ vắng mặt, Khánh chỉ nằm lì trong buồng ngủ của Hội, được y bày-vẽ mọi lời ngụy-tạo để vu-cáo các cơ-quan an-ninh tình-báo Quốc-Gia. Khánh biết rõ Hội là cơ-sở nằm vùng của Việt-Cộng; có lần có một cán-bộ đến tiếp-xúc với Hội và thò đầu vào cửa buồng ngủ vừa quan-sát vừa cười chào như để khuyến-khích Khánh tiếp-tục làm con cừu ngoan.
Rốt cục, Khánh đã vui lòng ký tên vào tờ cam-kết cộng-tác với Ngành Đặc-Cảnh, chụp ảnh chung với sĩ-quan Biệt-Tác để lưu hồ-sơ, và được chỉ-dẫn về lề-lối thu-thập, báo-cáo tin-tức, cùng ngụy-thức, ám-hiệu tiếp-xúc với Trưởng Lưới của mình, v.v… Tất cả chỉ diễn ra trong vòng ba tiếng đồng-hồ. Khoảng bốn giờ sáng là anh-ta đã được đưa trở lại tiếp-tục nằm ngủ ở nhà rồi.
Từ đó, Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Thừa-Thiên có thêm hai Mũi Biệt-Tác biệt-lập: một điệp-vụ của Hoàng Kim Khánh, và một thám-vụ nhắm vào Trần Văn Hội. Trước kia, Hội chỉ là một trong số những sinh-viên mà Đặc-Cảnh biết là thân-Cộng, nhưng chưa nắm được bằng-chứng về việc y tiếp-xúc, nhận lệnh của đối-phương. Nay thì Đặc-Cảnh đã nhờ Khánh mà giám-sát, theo-dõi sít-sao, và đã khám-phá ra được đường dây bí-mật của bọn y.
Có Hoàng Kim Khánh, tôi đã có thể rút về những nhân-viên lâu nay đội lốt sinh-viên, tiết-kiệm được một phần nhân-lực, thì-giờ và tiền-bạc vì tung lưới rộng hơn phạm-vi thật-sự cần. Bây giờ thì Khánh đã được toàn-thể sinh-viên tín-nhiệm, vì vụ “bị bắt-cóc ma” là một hào-quang sáng chói bao quanh anh-ta trước mắt và trong trí mọi phần-tử quá-khích đương-thời. Nhưng vụ “bị bắt-cóc thật” là một khởi-điểm để anh-ta tìm hiểu và báo-cáo cho Đặc-Cảnh mọi ý-đồ, hoạt-động, và đối-tượng liên-quan trong đường dây do Trần Văn Hội cầm đầu.
Cao hơn Hội, trước đó Đặc-Cảnh đã bí-mật phăng dò ra một số cán-bộ Việt-Cộng nằm vùng cũng như từ mật-khu về liên-lạc với cơ-sở nội-thành. Tổng-Hội Sinh-Viên Huế có làm gì đi nữa thì cũng chỉ thừa-hành chỉ-thị của Việt-Cộng, mà kế-hoạch của địch sử-dụng tập-thể sinh-viên như thế nào thì Đặc-Cảnh đã biết trước và liệu trước, chỉ cho phép chúng đạt được kết-quả ở một giới-hạn nào đó mà thôi, để nuôi-dưỡng tổ-chức và hoạt-động của địch, hầu kết-quả công-tác của Đặc-Cảnh đạt được phải to lớn gấp nhiều lần hơn.
Khi cần phá vỡ, bao giờ một điệp-vụ của Đặc-Cảnh cũng phải vô-hiệu-hóa cho được ít nhất là trọn một cơ-quan hay đơn-vị đầu-não của địch ở cấp cao hơn các nội-tuyến-viên trong đường dây liên-quan…
Tôi bước vào phòng giấy của Chuẩn-Tướng* Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, với phong-thái điềm-nhiên nhưng tâm-trạng bồn-chồn.
*Chuẩn-tướng: tướng một sao.
Tôi đang làm việc ở Ngành Đặc-Biệt Vùng II, mà trụ-sở đóng tại Thành-Phố Nha-Trang, thì nhận được một cú điện-thoại từ Văn-Phòng Trưởng Ngành, bảo tôi về gặp Chuẩn-Tướng Tây ngay.
Trong phạm-vi công-tác chuyên-môn, Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương trực-tiếp tiếp-xúc với tôi là một chuyện thường; nhưng, trong lĩnh-vực quản-trị nhân-viên, việc Trưởng Ngành gọi tôi, lúc ấy là một Phó Giám-Đốc cấp Vùng, mà ở Trung-Ương thì không qua Nha Tiếp-Trợ, và ở địa-phương thì không qua Trưởng Cơ-Quan, là một chuyện bất-thường. Dạo đó, nội-bộ Cảnh-Sát Quốc-Gia đang bị xáo-trộn vì nhiều đợt liên-tiếp thay bậc đổi ngôi, nên chuyện xuống chó hay lên voi, dù không xảy đến cho mình, cũng khiến mọi người bàn-tán xôn-xao. Từ lúc tôi nhận được lệnh ấy cho đến trước khi tôi bước vào phòng làm việc của Tướng Tây, nhiều người đã phỏng-đoán với tôi về mục-đích của cuộc gặp-gỡ này; tuy tất cả đều trấn-an tôi rằng đây là một việc vui, nhưng hầu hết đều không dám chắc rằng đây không phải là một điều xui.
Tôi đã thầm tự kiểm-điểm sinh-hoạt của mình trong thời-gian qua, xem thử có gì sai trái, hầu chuẩn-bị tinh-thần mà đón nhận, nếu có, mọi sự chẳng lành.
Chính-Sách Quân-Cách-Hóa*
Năm 1971, Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia của Việt-Nam Cộng-Hòa lại được cải-tổ; lần này rõ-ràng là để chuẩn-bị cho tình-hình hậu-chiến Việt-Nam.
*Không phải quân-sự-hóa hay quân-nhân-hóa.
Thêm nhiều sĩ-quan Quân-Lực được biệt-phái qua nắm giữ các chức-vụ chỉ-huy quan-trọng trong Ngành Áp-Pháp. Trừ một thiểu-số có khả-năng, còn thì đa-số đã không thạo việc mà không chịu học lại còn lợi-dụng cương-vị mới — có quyền-hành trực-tiếp đối với dân-nhân — để làm lợi riêng cho bản-thân, do đó, làm hại chung cho hoạt-động của cơ-quan trọng-yếu này của Chính-Quyền. Tôi thấy trước hậu-quả bất-lợi cho chế-độ nói chung, nhất là qua chính-sách quân-cách-hóa guồng máy này, nên đã gửi lên Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, hồi đó là Trung-Tá Nguyễn Mâu, một bức thư điều-trần quan-điểm của mình.
Sự-việc xảy ra thì Trung-Ương cử trung-tá quân-nhân Nguyễn Văn Long đến Vùng II giữ chức-vụ Giám-Đốc Ngành Đặc-Biệt thay-thế tôi, và giáng-chức tôi từ Trưởng xuống Phó. .
Trung-Tá Nguyễn Mâu phải phái Đại-Tá Đặng Văn Minh, Phó Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, ra Vùng II triệu-tập một cuộc họp nội-bộ các cấp chỉ-huy, để xoa dịu tình-hình.
Sau ngày Hiệp-Định Paris 27-1-1973 được ký-kết và có hiệu-lực, chiến-tranh Việt-Nam chấm dứt, đáng lẽ Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia phải là công-cụ đắc-lực cho chính-quyền và dân-chúng Miền Nam trong công-cuộc đấu-tranh chính-trị trực-diện với cộng-sản ở thời bình, thì Hành-Pháp Trung-Ương, trong tay các cấp nhà-binh, đã chỉ xây-đắp Cảnh-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa thành một “con cọp… lười”.
Tính đến nay, số lượng quân-nhân biệt-phái từ đại-tá xuống đến binh-nhì đã tràn ngập từ Trung-Ương xuống đến Xã Phường, nâng tổng-số nhân-số Cảnh-Lực Quốc-Gia từ mấy chục ngàn người lên đến khoảng mười tám vạn người. Thời-gian sau cùng, Thiếu-Tướng* Nguyễn Khắc Bình, Đặc-Ủy-Trưởng Tình-Báo Trung-Ương, đã qua kiêm-nhiệm Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, đem theo thêm nhiều sĩ-quan cao-cấp Quân-Lực thay-thế hầu hết các viên-chức Cảnh-Sát cao-cấp chuyên-ngành.
*Thiếu-tướng: tướng hai sao.
Giai-đoạn đầu của chiến-lược Việt-Nam-Hóa đã qua một cách giả-tạo, và giai-đoạn nhì đã đến trong tình-thế bấp-bênh.
Mỗi ngành nghề đều có những đặc-tính và quy-luật hoạt-động riêng của mình. Nhưng Cảnh-Lực mà tổ-chức sao y theo Quân-Lực thì dư phòng-giấy, thừa cạo-giấy, và thiếu việc-làm; và điều-hành rập khuôn theo Quân-Lực thì mất thì-giờ, tốn nhân-lực, và phí hiệu-năng. Các bộ-phận phụ-dịch thì lấn át chính-nghiệp. Guồng máy Áp-Pháp đã không bắt nguồn mà cũng không bám rễ trong dân-nhân.
Tội tự thấy mình có nhận-thức đúng, như đã từng có nhận-thức đúng về các biến-cố lịch-sử trước đây; và tôi đã biểu-lộ bằng cả lời nói lẫn việc làm công-khai, trong khuôn-khổ trách-nhiệm và quyền-hạn có sẵn, cái nhận-thức “cấp-tiến” và “quá-khích” ấy của mình.
Hồ-sơ nội-vụ còn nằm ít nhất là trong văn-phòng của Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương. Có thể là tôi sắp bị trừng-trị vì sự chống-đối kể trên?
Kế-Hoạch “Cảnh-Sát-Hóa”
Có một điều lạ, là hầu như ít ai biết đến cái-gọi-là “Kế-Hoạch Cảnh-Sát-Hóa”, vốn là một món quà hậu-Việt-Nam-Hóa mà người Mỹ thân tặng cho Việt-Nam Cộng-Hòa để làm “quốc-sách” sau-chiến-tranh.
Các nhà lãnh-đạo Miền Nam chỉ miễn-cưỡng cho thi-hành Kế-Hoạch ấy một cách qua-loa, tại một số Tỉnh, trong một thời-gian ngắn, rồi dẹp bỏ luôn.
Tôi đã tự mình kiếm được bản chính của Kế-Hoạch ấy bằng chữ Anh, đọc kỹ để có ý-niệm chính-xác về ý-nghĩa và mục-đích chiến-lược của nó, hầu có căn-bản lý-thuyết mà đối-chiếu với thực-tế thực-hành.
Tôi là người duy-nhất đã đến các Tỉnh như Ninh-Thuận, Bình-Thuận, v.v… thuộc Vùng II, quan-sát và nghiên-cứu tại chỗ việc thi-hành Kế-Hoạch Cảnh-Sát-Hóa tại Vùng này, sau khi Kế-Hoạch ấy đã được thử-nghiệm có kết-quả tốt tại Tỉnh Gò-Công thuộc Vùng IV, và một số Tỉnh khác của Miền Nam.
Tại Trung-Ương, không có một bộ-phận đầu-não xứng-đáng, để đảm-trách nó.
Kế-Hoạch “Phụng-Hoàng”, vốn là một giai-đoạn của Kế-Hoạch “Cảnh-Sát-Hóa”, không được hiểu đúng, nên các Trung-Tâm Thường-Trực, những khi không có người Mỹ nhúng tay vào, chỉ là những văn-phòng ngoại-vi, tập-trung tin-tức tình-báo đã nguội, và báo-cáo kết-quả hành-quân đã lạnh.
Những vấn-đề chiến-thuật nhất-thời, như: Trại Giam, mà dư-luận trong nước cũng như ngoài nước chỉ-trích nặng-nề, vì chứa quá nhiều người và thiếu tiện-nghi; Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Và Giám-Sát Ngưng Bắn (ICCS), mà trong đó có hai thành-viên cộng-sản Đông-Âu là Hung-Gia-Lợi và Ba-Lan; các Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-Bên và 2-Bên, mà trong đó có các thành-viên cộng-sản Việt-Nam (Cộng-Sản Bắc-Việt Xâm-Lược và Cộng-Phỉ Miền Nam); v.v… đều thuộc phạm-vi chính-trị và phản-gián, thì bị tách rời ra khỏi Ngành Đặc-Biệt là trung-tâm chuyên-môn về các lĩnh-vực này.
Hơn nữa, các bộ-phận chủ-trì biệt-lập kia ở trung-ương thì không có cấp dưới trực-hệ để chấp-hành chỉ-thị của mình tại các địa-phương.
Tôi không chịu nổi cảnh bế-tắc ấy trong công-vụ — sứ-mệnh đa-diện của Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia đối với Quốc-Dân, chứ không phải chức-năng phiến-diện của các cá-nhân nắm giữ chức-vụ chỉ-huy trên mặt giấy-tờ. Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương thì không biết hết các nhiệm-vụ mà cấp dưới đảm-trách ở các địa-phương; Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực Vùng thì hễ thấy gì có dính-dáng đến cộng-sản và chính-trị là giao khoán ngay cho Ngành Đặc-Biệt tự lo.
Vì thế nên tôi quyết-định làm liều.
Tôi đã tự ý tổ-chức các đại-hội, tại các Tỉnh lớn và Thành-Phố quan-trọng, như: Bình-Định, Phú-Yên, Khánh-Hòa/Nha-Trang, Cam-Ranh, Ninh-Thuận, Bình-Thuận, Kontum, Pleiku, Darlac, Tuyên-Đức/Đà-Lạt; mời tất cả các cố-vấn Hoa-Kỳ thuộc 4 địa-hạt là Phụng-Hoàng (Phoenix), Cảnh-Sát Sắc-Phục (PSD tức Public Safety Division=An-Ninh Công-Cộng), Tình-Báo (PSB tức Police Special Branch=Ngành Đặc-Biệt, và PRU tức Province Reconnaissance Unit=Thám-Sát Tỉnh), và Cảnh-Sát Dã-Chiến (NPFF tức National Police Field Force), cùng dự với tất cả các đại-diện của các cơ-quan quân-sự và các Bộ khác, các cấp chỉ-huy Cảnh-Sát, từ cấp Vùng xuống đến cấp Quận khắp Vùng II; để tôi thuyết-trình quan-điểm của mình về các vấn-đề sau-chiến-tranh.
Tôi cũng tự-nguyện đảm-trách một số giờ giảng-dạy tại Trung-Tâm Huấn-Luyện Phụng-Hoàng Quân-Khu II, dành cho các sĩ-quan Quân-Lực (Phòng 2, An-Ninh Quân-Đội, Chiến-Tranh Chính-Trị…), viên-chức các Bộ khác (Thông-Tin, Chiêu-Hồi, Dân-Ý-Vụ, Xây-Dựng Nông-Thôn…), và các cấp cảnh-nhân (Đặc-Cảnh, Cảnh-Sát Sắc-Phục, Cảnh-Sát Dã-Chiến, Thám-Sát Tỉnh…), cũng với các đề-tài nói trên.
Ngoài ra, tôi còn nắm lấy nhiều cơ-hội khác để phổ-biến nhận-thức của mình, thí-dụ: tại Trung-Tâm Tu-Huấn Tình-Báo Sơ-Cấp Vùng II trực-thuộc quyền tôi; tại Trung-Tâm Huấn-Luyện Cảnh-Sát Căn-Bản Vùng II; tại các Khóa Đào-Tạo Trưởng Cuộc CSQG cấp Xã/Phường, dành cho từng đợt sĩ-quan Quân-Lực biệt-phái qua; v.v… là những nơi mà chương-trình giảng-huấn có dành cho tôi nhiều giờ.
Trước năm 1972 thì tôi tham-gia công-tác Phụng-Hoàng với tư-cách Ủy-Viên; từ năm 1972, Giám-Đốc Ngành Đặc-Biệt cấp Vùng không còn là Ủy-Viên Ủy-Ban Phụng-Hoàng cấp Quân-Khu nữa; nhưng vì tôi muốn lợi-dụng tổ-chức này để làm lợi cho công-cuộc chống-Cộng về sau, nên tôi dựa vào uy-tín cá-nhân của mình để vẫn tiếp-tục giảng-dạy tại Trung-Tâm Huấn-Luyện của Ủy-Ban Phụng-Hoàng Quân-Khu II, với tư-cách “chuyên-viên” là một tư-cách do tôi tự-phong và được mọi người hữu-quan cả Việt lẫn Mỹ mặc-nhiên nhìn-nhận.
Tôi lại biên-soạn và ấn-hành nhiều bài tham-luận, xung quanh chủ-đề đã được nêu ra, gửi khắp các cấp, các nơi trên toàn-quốc, cả Việt-Nam lẫn Hoa-Kỳ. Việc này xảy ra sau khi đã có chỉ-thị của Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia dưới thời Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình cấm-chỉ mọi hình-thức báo-chí, tạp-chí, đặc-san, nội-san, báo tường, thư tin, v.v…, ngoại-trừ tờ báo “Bạn Dân” của Trung-Ương.
Nói chung thì tôi đã kiên-trì nuôi-dưỡng, quảng-bá và thực-thi ý-niệm của mình, rằng tất cả các Chương-Trình, Kế-Hoạch riêng-lẻ, tuy có tính-cách chiến-thuật giai-đoạn nhưng đều tương-quan với nhau và có mục-đích chiến-lược trường-kỳ, nhằm chuẩn-bị đối-phó với tình-hình sau-chiến-tranh. Kết-luận của tôi là phải kiện-toàn Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia, nhất là Ngành Đặc-Biệt, để có đủ sức đảm-nhận vai trò lĩnh-đạo và tiền-phong trong trách-vụ ổn-định tình-hình an-ninh đối-nội và đối ngoại của Quốc-Dân, đúng với tinh-thần và đường-hướng của Kế-Hoạch Cảnh-Sát-Hóa — là một “quốc-sách” đã bị giết non.
Nhưng, Chính-Quyền Trung-Ương thì quyết bảo-thủ tình-trạng hiện-thời.
Có thể nói là tôi sắp bị trừng-phạt vì những ý-kiến phát-biểu ra ngoài chính-sách của Trung-Ương?
Cộng-Sản Trên Đường Phố VNCH
Theo Hiệp-Định Paris thì lĩnh-thổ Việt-Nam Cộng-Hòa được chia ra thành nhiều Khu-Vực, mỗi Khu-Vực có một Tiểu-Ban Quốc-Tế Kiểm-Soát Và Giám-Sát Ngưng Bắn; dưới mỗi Tiểu-Ban có một số Tổ, mỗi Tổ phụ-trách một số Tỉnh.
Các Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-Bên và 2-Bên cũng được tổ-chức tương-tự.
Trụ-sở Khu-Vực II đóng tại Pleiku. Tôi đã đến phi-trường Cù-Hanh ở đây, để chứng-kiến lúc phái-đoàn Cộng-Sản Bắc-Việt bước ra từ một chiếc phi-cơ C-130 do phi-công Không-Quân VNCH và Hoa-Kỳ lái, từ Tân Sơn Nhất lên.
Tôi đã nhìn thấy những bộ mặt khắc-khổ quắt-queo, những bộ quân-phục nhăn nhúm lụng-thụng, những bàn tay luớ-quớ sờ-soạng không biết mở cửa xe-hơi cách nào, và những cái ngoẹo đầu nheo mắt của chính các “đồng-chí” cộng-sản Đông-Âu ngỡ-ngàng nhìn ngó dáng-dấp thô-lậu và điệu-bộ quê-kệch của các sĩ-quan cao-cấp bộ-đội Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa. Nhưng điều quan-trọng nhất là tôi đã ghi nhận được đầy-đủ các đặc-điểm nhận-diện của mỗi phái-đoàn trong bốn nước tham-gia Ủy-Hội Quốc-Tế, và của cộng-sản Bắc-Việt (Việt-Cộng không đến), nhất là màu cờ, kiểu-cách đồng-phục, quân-hàm, phù-hiệu của họ, là những điều mà đáng lẽ mỗi cảnh-nhân đã được Trung-Ương phổ-biến và phải thuộc lòng.
Một thời-gian sau, Chuẩn-Tường Huỳnh Thới Tây gọi điện-thoại ra tôi, cấm toàn-thể nhân-viên CSQG/CSĐB không được tiếp-xúc với cộng-sản Hung-Gia-Lợi và Ba-Lan cũng như CSBV và VC. Tôi nhận lệnh xong, hỏi lại Tướng Tây: Nếu họ ra phố, hỏi Cảnh-Sát về đường đi chẳng hạn, thì Cảnh-Sát có được phép trả lời, tức là nói chuyện với họ, hay không? Chuẩn-Tướng Tây đáp rằng ông chỉ nhận được lệnh của Thiếu-Tướng Bình như thế mà thôi.
Sau ngày Hiệp-Định Paris ra đời hơn nửa năm, có một phái-đoàn của Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia đến Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực Vùng II để giải-thích về văn-kiện nói trên.
Sau khi đại-diện Trung-Ương nói xong, tôi nhắc lại với các Chỉ-Huy-Trưởng và phái-đoàn đại-diện Cảnh-Lực của 13 Tỉnh và Thành khắp Vùng II, những điều tôi đã thông-tri cho Ngành Đặc-Biệt nhưng có một số bộ-phận Sắc-Phục chưa rành, về kiểu-thức và màu-sắc quân-phục, cấp-hiệu, đặc-điểm của các phần-tử cộng-sản khác nhau. Tôi cũng nêu lên giả-dụ, nếu cộng-sản hỏi những chuyện thông-thường, thì nhân-viên Cảnh-Sát phải lịch-sự trả lời, như Cảnh-Sát Paris trong thời-gian có Hội-Nghị Quốc-Tế về chiến-tranh Việt-Nam. Phái-đoàn các địa-phương mừng-rỡ tập-trung sự chú-ý về tôi, vì những tin-tức cụ-thể như thế đã đáp-ứng nhu-cầu tìm hiểu thực-tế trước mắt của mọi người. Nhưng, có một viên-chức sở-tại là Đại-Úy Nguyễn Khắc Nghị, đã phát-biểu: “Phái-đoàn Trung-Ương không đề-cập gì đến vấn-đề đó; không ai được phép nói rộng ra ngoài giới-hạn nội-dung đã được thuyết-trình!”
Chắc-chắn chuyện đó không bị bỏ sót trong bản tường-trình về chuyến đi công-tác này của phái-đoàn.
Có thể là tôi sắp bị trừng-phạt về việc ấy, vì đã vượt quyền Cấp Trên?
Một Vở Kịch-Thơ Bị Cấm Xuất-Bản
Suốt mười năm nay, tôi đam-mê công-vụ đến nỗi không còn đầu-óc và thì-giờ để sáng-tác và liên-lạc với các bạn văn thơ.
Nghĩ rằng mình cần trở lại với giới tao-nhân, tôi bèn chuẩn-bị ấn-hành một số tác-phẩm, hoặc đã đăng báo, hoặc còn là bản thảo; và tôi bắt đầu với vở kịch-thơ xã-hội “Lão Ăn Mày”. Kịch viết đã lâu, đã được công-diễn tại sân-khấu “Hội Quảng-Tri” ở Huế, trước năm 1960 là năm tôi bị lưu-đày từ cố-đô lên Cao-Nguyên. Để kỷ-niệm thời-gian sinh-sống và sinh-hoạt văn-nghệ sôi-động ở thủ-phủ của Miền Trung, tôi đã kèm theo phần chính cuốn sách, gửi Bộ Thông-Tin để xin kiểm-duyệt, một phần phụ-lục trong đó có một bức thư của tôi gửi các bạn thân ở Sài-Gòn như nhạc-sĩ Lê Mộng Bảo, thi-sĩ Xuân-Huyền, nữ-sĩ Huyền-Chi, v.v…, tường-thuật vụ trình-diễn vở kịch thơ “Hồ Quý Ly” của tôi tại Huế vào cuối thập-niên 1940.
Thuở đó, Hội-Đồng Kiểm-Duyệt Trung-Việt là một cơ-quan biệt-lập, do cụ Hồ Đắc Định, một nhân-vật trí-thức thức-thời, làm Chủ-Tịch, và nghệ-sĩ Vũ Đức Duy, một kịch-tác-gia kiêm đạo-diễn kiêm diễn-viên tài-danh, làm Tổng-Thư-Ký. Hai vị chủ-chốt này đã ký cấp giấy phép cho tôi công-diễn và xuất-bản vở kịch kia. Thế nhưng ngay đêm đầu tiên, đang diễn dở chừng thì viên Tỉnh-Trưởng địa-phương, là người được mời đến xem trong hàng quan-khách danh-dự, đã ra lệnh ngưng diễn và cấm tiếp-tục, viện lý-do rằng vở kịch ấy đề-cao nhân-vật lịch-sử Hồ Quý Ly đề-kháng Trung-Hoa xâm-lăng, gợi lên liên-tưởng đến Hồ Chí Minh cũng đang chống Pháp ngoại-xâm (quân-đội viễn-chinh Pháp đã đổ bộ lên các Thành Thị lớn từ đầu năm 1947). Hội-Đồng Kiểm-Duyệt, cũng cùng có mặt tại chỗ, liền bác-bỏ quyết-định của Tỉnh-Trưởng, cho rằng đây là một vấn-đề văn-nghệ thuộc quyền-hạn của Hội-Đồng. Các Giám-Đốc Thông-Tin, Công-An, v.v… đều là nhân-vật Quốc-Gia, chống-Cộng nhưng cũng chống Pháp – chống Pháp bằng chính-trị và ngoại-giao – nên tán-thành quyết-định của Hội-Đồng Kiểm-Duyệt. Rốt cuộc vở kịch của tôi đã tạo nên dư-luận sôi-nổi và đã được trình-diễn liên-tiếp nhiều lần…
Chắc Bộ Thông-Tin, vào năm 1973, hốt-hoảng liên-kết vở kịch “Lão Ăn Mày” ngày nay với vở kịch “Hồ Quý Ly” ngày xưa, nên đã đóng vào tập bản thảo của tôi 3 chữ “CẤM XUẤT BẢN” to-tướng.
Tôi đã có nhiều kinh-nghiệm bản-thân về sự phối-hợp giữa Ngành Thông-Tin với Ngành Công-An. Có thể là tôi sắp bị trừng-phạt vì có tác-phẩm như trên?
Nỗ-Lực Cuối-Cùng Của Giới Cao-Cấp Cảnh-Sát Nguyên-Ngành
Ngoài Chuẩn-Tướng Bùi Văn Nhu, được giữ lại với danh-nghĩa Phó Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia, các cấp chỉ-huy cao-cấp chính gốc Cảnh-Sát đều bị cất chức, hoặc chuyển qua Bộ Nội-Vụ, hoặc giao cho những phần-vụ thặng thừa.
Trước khi bị tước hết quyền-hành và đẩy ra xa, số nhân-vật ấy đã làm một việc, xem như nỗ-lực cuối-cùng của tập-đoàn lĩnh-đạo cũ, là đề-nghị Tư-Lệnh sử-dụng tôi vào một trách-vụ xứng-đáng hơn. Những tên-tuổi vang-bóng một thời như Bùi Văn Nhu, Trần Vĩnh Đắt, Đàm Trung Mộc, Lê Khắc Duyệt, Lê Sơn Thanh, Bảo Trọng, Nguyễn Bính, Nguyễn Phúc, Cao Xuân Hồng, v.v… Họ muốn thấy tôi qua làm ít nhất cũng là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực một Tỉnh quan-trọng, một chức-vụ mà tôi đã từng đảm-trách và hoàn-thành xuất-chúng từ mười năm xưa.
Hôm Chuẩn-Tướng Tây ra Nha-Trang, Đại-Tá Cao Xuân Hồng, lúc ấy là Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng II, cũng đã gợi ý với ông là nên dùng tôi để thay-thế Nguyễn Văn Long (quân-lai).
Tôi mà được giới-thiệu nồng-nhiệt như thế thì có khác gì hơn là bị vạch mặt chỉ tên rằng tôi là một con gà-nòi của phe kia! Hơn nữa, tôi đã nghe kể về tính tự-ái của Tướng Tây. Một hôm, Thiếu-Tá Nguyễn Văn Độ, Chánh Sở Đặc-Biệt Tỉnh Khánh-Hòa, bị Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương gọi về, vì đã tuân theo một lệnh nào đó của Tỉnh-Trưởng Tỉnh địa-phương. Tướng Tây hỏi: Giữa Trưởng Tỉnh và tôi, anh chọn ai? Độ đáp: Tôi chọn Thiếu-Tướng. Hỏi: Vì sao? Đáp: Vì nếu Trưởng Tỉnh nơi này mà không bằng-lòng về tôi thì tôi còn có thể đến với Trưởng Tỉnh nơi khác; nhưng nếu Thiếu-Tướng mà không vừa-ý về tôi thì tôi không còn đất sống! Thế là Độ được cho về, bình-an.
Bây giờ thì đến phiên tôi. Có thể là tôi bị xem như đã chạy-chọt với giới ngoài Ngành, trong lúc Ngành Đặc-Biệt có tư-cách chuyên-môn, biệt-lập, tự-quản về mặt nhân-viên. Tôi sắp bị khiển-trách về vấn-đề này?…
*
Tôi nghĩ đến những hình-phạt; có thể là khiển-trách ghi hồ-sơ, cất chức, đình thăng-thưởng, thuyên-chuyển, sa-thải, và cao hơn hết là… bỏ tù. Nhưng, tôi thì đã nhiều lần nếm đủ các loại hình-phạt kể trên.
Điều duy-nhất khiến tôi lo-ngại chính là đổi vùng. Mỗi lần thay đổi chỗ ở là một lần cuộc sống đảo-điên: lương tiền ít-oi, vật-giá leo thang; Cảnh-Sát không có cư-xá, Tư-Lệnh Cảnh-Lực cấp Vùng mà còn phải ở nhà thuê…
*
* *
Gặp tôi, Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây chỉ nói một câu ngắn gọn:
— Tôi cho anh về Miền Trung, làm Trưởng Cơ-Quan cấp Vùng. Anh có 3 ngày để trả lời tôi.
Nhìn nét mặt ông, tôi biết là tôi không thể trình-bày ý-kiến ngay lúc đó, dù chỉ là một phản-ứng tức-thời.
Tôi đứng dậy chào, đón nhận bàn tay xiết chặt của viên chỉ-huy cao nhất trong Ngành.
Tôi còn gì nữa mà “về Miền Trung”? Miền Trung đối với tôi trước hết là xứ Huế thân-yêu, nơi đã để lại trong tôi biết bao kỷ-niệm vui buồn của một thời trai-trẻ khôn quên. Tôi đã nhẫn-nại kêu xin nhiều năm mong được trở về ngoài đó, nhưng nguyện-vọng đã không thành. Ước-muốn chôn vùi từ mười ba năm về trước, trải qua bao nhiêu tang-thương, đến giai-đoạn này mới được ngó-ngàng. Bây giờ thì ông+bà ngoại tôi, là những người đã nuôi-nấng tôi từ nhỏ, đã mất từ lâu; mẹ tôi đã từ-trần; dì tôi đã ra đi; thân-nhân không còn; bạn-bè kẻ chết, kẻ tha-phương; cảnh-vật đổi khác; tôi có trở về thì cũng chỉ làm một khách viễn-phương. Hơn nữa, tôi cần tiếp-tục ở lại Nha-Trang để giữ cho gia-đình khỏi bị đổ vỡ vì một rạn-nứt đã thành-hình…
Sáng sớm hôm sau, tôi vào gặp Chuẩn-Tướng Tây.
Ông lắng nghe tôi, nhưng không chấp-nhận những gì tôi nói. Viên Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương ôn-tồn bảo tôi:
— Chúng tôi muốn dùng người đúng với kiến-thức, kinh-nghiệm, thiện-chí và tác-phong của mỗi người. Toàn-quốc chỉ có bốn Vùng; Vùng I là Vùng quan-trọng đặc-biệt. Hiện nay thì tôi không thiếu sĩ-quan, kể cả một số cao-cấp hơn anh. Nhưng tôi chọn anh…
Tôi cảm-động vì lời nói ấy. Đó là sự thật.
Nhưng tôi thấy rõ, Vùng I là “Vùng Chiến-Tuyến”. Ngay tại Đà-Nẵng, thủ-phủ mới của Miền Trung, đặc-công cộng-sản vẫn có thể bất-thần ra tay bất-cứ lúc nào. Đại-Tá Nguyễn Văn Thiện, Thị-Trưởng mà cũng bị mất tích; Trung-Tá Nguyễn Đức Am, Chỉ-Huy Cảnh-Lực Thị-Xã mà cũng bị hạ-sát; Đại-Úy Lê Diệp, Trưởng Phòng Đặc-Nhiệm của Ngành Đặc-Biệt toàn Vùng I mà cũng bị gài mìn tử-thương.
Chuẩn-tướng Tây trấn-an tôi:
— Ngoài đó đã có Trung-Tướng* Ngô Quang Trưởng, Tư-Lệnh Quân-Đoàn I và Quân-Khu I. Cộng-sản không phải là vấn-đề đáng lo!
*Trung-tướng: tướng ba sao.
Tôi đâu có lo về vấn-đề cộng-sản. Cả ở núi, rừng, cũng như ở Xã, Thôn, tôi đã chạm trán, chạm súng với chúng nhiều lần. Tôi lo là lo về nội-tình Quốc-Gia với nhau. Thấy tôi vẫn chưa dứt-khoát nhận lời, Tướng Tây thuyết thêm:
— Các anh phải nhận lấy trách-nhiệm của mình. Chúng tôi chỉ qua đây một thời-gian ngắn, để giúp các anh củng-cố, phát-triển; rồi một ngày kia chúng tôi sẽ trở về lại với đời quân-nhân…
Thế là rõ-ràng. Chuẩn-Tướng Tây nhắc đến thái-độ chống-đối của tôi, vừa để chứng-tỏ là mình không kỳ-thị gì, vừa để ngụ-ý là mình chưa hẳn đã bỏ qua. Tuy thế, ông không dồn tôi vào chân tường. Ông đứng dậy, đưa tay ra bắt tay tôi, nói giọng trách-móc một cách thân-tình:
— Tôi cho anh ba ngày cơ mà! Anh đã hội-ý với các Giám-Đốc ở Bộ Tư-Lệnh chưa? Anh đã dò-hỏi tình-hình ở Vùng I chưa? Anh cần những phương-tiện gì thì gặp Trung-Tá Huỳnh Kiêm Thanh…
Tôi không dò hỏi gì nhiều. Tôi chỉ loanh-quanh tìm gặp vài ba nhân-vật cố-tri am-thạo tình-hình là đủ.
Trung-Tá Ưng Du, một sĩ-quan lão-thành xuất-thân từ thời Quân-Đội Quốc-Gia chưa ra đời, bảo tôi: “Anh được cất nhắc lên chức-vụ cao là một dịp may.” Trung-Tá cảnh-nhân Nguyễn Văn Thuận, người từng chứng-kiến nhiều lần đổi nhóm thay phe tại Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia, khuyên tôi: “Anh nên nhận lời, vì Tư-Lệnh có thể đưa anh đi một Tỉnh xa, cũng phải dời đổi chỗ ở, và cương-vị lại có thể thấp hơn, mà còn khiến ông phật lòng.”
Đại-tá Lê Tấn Phước, một người bà-con của tôi, hỏi tôi: “Anh muốn ở yên chỗ cũ, vậy anh có sẵn một triệu đồng không?”
Vài ba bạn khác nửa thật, nửa đùa: “Coi chừng cái tính liêm-khiết của anh. Phải khéo-léo với bọn tham-nhũng: theo chúng thì chúng sẽ che-chở anh, vì sợ rút dây động rừng; chống chúng thì chúng có cả tập-đoàn để tiêu-diệt anh…”
Ngay chiều hôm ấy, tôi vào gặp lại viên Tư-Lệnh của tôi. Tôi định chỉ nói ngắn gọn, nhưng mới mở lời “Thưa Thiếu-Tướng…” thì Tướng Tây đã cười, hỏi chận: “Chịu đi rồi hả?”
Bây giờ thì Tướng Tây vui-vẻ nhưng nghiêm-nghị vào đề:
— Miền Trung xưa nay thì anh đã biết rành rồi. Phong-trào “Phật-Giáo Tranh-Đấu” khởi đầu từ Miền Trung; quân-đội nổi dậy, chính-quyền địa-phương ly-khai chính-quyền trung-ương, chỉ xảy ra ở Miền Trung; các giáo-phái đụng-độ nhau cũng chỉ có ở Miền Trung. Bây giờ thì tình-hình rối-reng hơn: đảng-phái lung-tung, nội-bộ chính-quyền chia-rẽ. Mỗi ngày Trung-Ương nhận được không biết bao nhiêu đơn-từ tố-cáo lẫn nhau; thậm-chí báo-cáo của các cơ-quan đã trái-ngược nhau, mà mỗi cơ-quan có khi lại tự mâu-thuẫn với chính mình. Người dân ngoài đó hầu như ăn rồi chỉ biết có việc thưa-kiện, khiếu-nại lẫn nhau. Nhiệm-vụ của anh là phải ổn-định tình-hình chính-trị nội-bộ, từ trong Cảnh-Sát Quốc-Gia mà ra, đến các cơ-quan chính-quyền, đoàn-thể dân-nhân. Ngoài đó có yên thì trong này mới rảnh tay…
Chuẩn-Tướng Tây đổi giọng, nói về tình-trạng cá-nhân của tôi:
— Cấp-số ở chức-vụ ấy là đại-tá. Trung-Ương sẽ yểm-trợ mọi mặt cho anh. Về nhà-cửa thì tôi sẽ giúp anh mỗi tháng hai chục ngàn đồng. Nếu gia-đình còn ở Nha-Trang, tôi sẽ cho anh vào thăm mỗi tháng một lần. Bao giờ thì anh sẵn-sàng?
— Ngày mai tôi ra Nha-Trang; ngày kia tôi ra Đà-Nẵng, nhận việc ngay trong ngày.
— Tốt! Ngày kia là ngày 26-9-1973. Chúc anh thành-công!
Tôi chưa ra khỏi phòng thì đã nghe Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương bấm máy nội-đàm bảo Trung-Tá Huỳnh Kiêm Thanh, Giám-Đốc Nha Tiếp-Trợ, làm lệnh cho tôi về “Vùng Chiến-Tuyến”, tức Quân-Khu I, tên mới của Miền Trung.
LÊ XUÂN NHUẬN
Kỷ Vật
Truyện Ngắn – Phong Châu
Bà Mai ngồi lặng lẽ trong căn phòng nhỏ và đóng cửa lại để khỏi nghe những tiếng cười nói ồn ào của những người đến dự đám giỗ chồng bà. Năm mươi năm rồi sao? Hình như chỉ mới đây thôi mà! Bà nghĩ vẩn vơ như vậy. Không! Đúng năm mươi năm! Anh ấy tử trận ngày 19 tháng sáu năm 1974 sau khi hiệp định đình chiến được ký kết hơn một năm trước đó. Những tưởng sau hiệp định Ba Lê 1973 cuộc chiến sẽ chấm dứt để các bên hòa đàm đem lại hòa bình cho dân chúng đôi miền. Nhưng không! Bà nhớ chỉ vài giờ sau khi lệnh đình chiến có hiệu lực thì cộng quân đã tràn vào những vùng xôi đậu vùng nông thôn trước đây để cắm cờ chiếm đất. Cờ của “mặt trận giải phóng miền nam” ngụy trang cho lá cờ máu sao vàng của bắc việt. Rồi cuộc chiến bùng phát dữ dội. Quân bắc việt liên tục được đưa vào miền Nam đông như kiến và các trận đánh diễn ra khắp nơi vô cùng ác liệt. Chẳng những thế Hà Nội còn mời Trung cộng mang quân đánh chiếm đảo Hoàng Sa và hình như có sự đồng tình của đồng minh Hoa Kỳ – sau này bà đọc nhiều bài viết trên mạng nói về sự kiện Hoàng Sa tháng giêng 1974 bà mới biết thêm như vậy. Bà Mai đang miên man nghĩ về quãng thời gian của hơn nửa thế kỷ trước thì cửa phòng sực mở. Con gái bà và hai đứa cháu ngoại xuất hiện. Khi cánh cửa vừa mở ra, hai đứa cháu, một trai một gái vội chạy đến ôm chằm lấy bà. Bà xúc động vì đây là lần đầu tiên bà được gặp hai đứa cháu. Chúng được sinh ra ở bên Mỹ và cả hai vừa mới được nghỉ hè sau năm học dài, con gái bà là Thanh dắt chúng về Việt Nam dự đám giỗ ông ngoại và nhân dịp cho hai con biết quê hương cội nguồn của chúng.
Sau khi nhận hai gói quà từ hai đứa cháu ngoại và đặt ở chiếc bàn nhỏ gần giường ngủ, bà Mai mở cửa bước ra phòng khách và thấy người thân và mấy người bạn đã ra về hết, chỉ còn lại cậu em trai là Tuấn đang ngồi uống bia một mình. Bà quay vào phòng ra dấu cho con gái và hai cháu ngoại trở ra phòng khách. Bà bảo Thanh – con gái của bà và hai cháu ngoại ngồi bên cạnh cậu Tuấn. Bà kéo một chiếc ghế và đặt ngồi đối diện. Bên ngoài có cơn mưa đang đổ xuống, bà đứng dậy đến kéo mấy tấm màn che cửa sổ và khóa chốt cửa chính ra vào. Sau khi thận trọng xem lại các màn cửa đã kéo kín, bà tắt bớt hai ngọn đèn, chỉ giữ lại một ngọn cho vừa đủ sáng nơi có cậu Tuấn và con cháu của bà đang ngồi.
Bà trở lại ghế ngồi. Không nói một lời nào. Không gian im ắng và thời gian hình như cũng không chuyển động. Cậu Tuấn và Thanh nhìn nhau biểu đồng tình “không biết bà Mai làm gì, nói gì? sao có vẻ như có một chuyện gì quan trọng mà bà sắp thông báo cho mọi người cùng biết”. Một lát sau bà Mai đứng dậy và bước tới phía trước bàn thờ đốt ba cây hương cắm vào bát nhang thờ Phật, rồi bà lại đốt thêm ba cây hương khác cắm vào bát nhang đặt trước bài vị và di ảnh của chồng bà. Xong đâu đó bà trở lại ghế ngồi. Cậu Tuấn và Thanh đang chờ bà nói một điều gì đó. Sau vài lần chớp mắt thì cậu Tuấn lẫn Thanh thấy đôi mắt bà đỏ hoe, hình như những giọt nước mắt đâu đó đang chực chờ để chảy xuống đôi gò má nhăn nheo lốm đốm năm bảy vết nám của thời gian. Dằn cơn xúc động, bà Mai nhìn cậu Tuấn, rồi nhìn Thanh và hai đưa cháu đang ngồi trước mặt nói với giọng run run:
– Hôm nay tôi muốn nói với cậu Tuấn và cháu Thanh một chuyện mà suốt mấy chục năm qua tôi chưa hề tiết lộ, chỉ là chuyện trong gia đình mình thôi.
Tuấn và Thanh hơi bàng hoàng, không biết có chuyện gì xảy ra mà bà Mai lại nói như thế. Cả hai gần như nín thở để nghe. Sau khoảnh khắc im lặng bà Mai nói tiếp:
– Chuyện là thế này – bà nhìn thẳng vào mặt cậu em rồi nhìn con gái – mấy chục năm về trước, chắc cũng phải ngoài ba chục năm, cháu Thanh có hỏi tôi về một chiếc hộp đặt trên bàn thờ, phía sau di ảnh của ba cháu và muốn biết thứ gì ở bên trong chiếc hộp đó. Tôi chỉ nói bên trong hộp đựng tờ “phái quy y” của tôi chứ chẳng có gì bên trong ấy nữa. Thưc sự thì không phải như thế.
Bà Mai ngưng nói và đưa mắt nhìn lên bàn thờ. Mùi hương thơm đã lan tỏa cùng khắp căn phòng. Bà đứng dậy bước đến cửa sổ vén màn nhìn ra bên ngoài. Trời vẫn còn mưa và đường phố hình như chẳng còn ai qua lại vì mưa càng lúc càng lớn. Ánh đèn đường hiu hắt phả vào màn mưa mờ đục nhạt nhòa. Bà quay lại, đến trước bàn thờ vái ba vái rồi với cử chỉ nhẹ nhàng, kính cẩn đưa tay ra phía sau tấm di ảnh của chồng để nâng nhẹ chiếc hộp bằng gỗ màu đen, xong đem đặt chiếc hộp ngay giữa bàn trong khi cậu Tuấn và con gái ngơ ngác theo dõi từng cử chỉ của bà. Không một tiếng động. Bà ngồi xuống ghế đưa mắt nhìn cậu Tuấn và con gái cùng hai đứa cháu im lặng tò mò theo dõi. Hai đứa cháu chốc chốc đưa mắt nhìn nhau và hình như ngầm bảo “chẳng hiểu gì”. Chúng nghe những lời của bà Mai vừa nói và loáng thoáng hiểu một vài chữ nhưng nội dung của câu chuyện như thế nào thì chúng hoàn toàn không rõ.
Chiếc hộp màu đen đặt trên bàn là điểm chú ý của mọi người, bà Mai, cậu Tuấn, Thanh và hai đứa cháu. Bà Mai cố nén cơn xúc động và sau vài lần ngập ngừng, bà đưa tay cầm lấy chiếc hộp lên và mở nắp hộp để xuống bàn, chiếc hộp sau đó cũng được bà đặt lại chỗ cũ. Cậu Tuấn, Thanh và hai đứa cháu đưa mắt nhìn vào chiếc hộp đã mở nắp. Có một vật gì đó nằm bên dưới một tờ báo cũ được gấp lại. Thoáng nhìn cậu Tuấn và Thanh đọc được mấy chữ in đậm nét trên một góc của tờ báo “Trận đánh khốc liệt tại Mộc Hóa, Kiến Phong ngày 18 -19 tháng 6 – 1974”. Đó là tờ nhật báo Tiền Tuyến bà Mai còn giữ lạicó ghi rõngày 20 tháng sáu năm 1974, sau khi chồng bà tử trận một ngày. Mộc Hóa là trận địa nơi chồng bà đã chỉ huy một đại đội bộ binh đánh nhau với quân việt cộng suốt hai ngày hai đêm. Đại úy Lê Duy Hà – chồng bà đã anh dũng hy sinh.
Thi thể của chồng bà được ban hậu sự đơn vị đưa về tận nhà và sau tang lễ bà đã giữ lại lá cờ vàng đã được phủ trên nắp quan tài cùng chiếc áo trận bị nhiều vết đạn xuyên thủng. Bà Mai trịnh trọng đặt lá cờ và chiếc áo trận trên bàn thờ, trước di ảnh của chồng. Chỉ trong vòng một năm chiến sự càng ngày càng khốc liệt và những cuộc di tản diễn ra từ cao nguyên và liên tiếp các tỉnh miền Trung rơi vào tay cộng quân. Bà Mai lo âu kèm theo nỗi thất vọng ê chề. Một thân một mình và bụng mang dạ chửa nên bà Mai chỉ biết tụng kinh niệm Phật cầu nguyện. Bà thấy một số gia đình đã mang những thứ có liên quan tới những người lính trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa như giấy tờ, áo quần, giày…ra đốt hoặc mang đi liệng, ngay cả những lá cờ họ cũng dùng dao kéo cắt ra nhiều mảnh để hủy. Nhìn thấy cảnh này bà Mai hết sức đau lòng. Riêng bà, bà đã cuộn nhỏ lá cờ và bọc trong một miếng vải màu trắng, bên ngoài bọc thêm một lớp giấy báo cũ. Chiếc áo trận của chồng cùng lá cờ được bà cho vào một hộp gỗ đặt trên bàn thờ và cứ đến ngày giỗ của chồng, bà – một mình tự tay mở chiếc hộp ra để nhìn chiếc áo trận và lá cờ màu vàng ba sọc đỏ…
Biết cậu Tuấn và Thanh đang chăm chú nhìn bà và đợi một điều gì bà sắp nói nên bà vội vàng lấy gói đồ từ trong chiếc hộp, tháo lớp giấy báo bên ngoài. Bà ôm chiếc áo trận của chồng vào ngực và nước mắt đã chảy thành dòng xuống đôi má nhăn nheo. Bà xúc động không nói được nên lời. Cậu Tuấn và Thanh cũng xúc động và họ đã hiểu chuyện gì xảy ra. Thanh cũng không ngăn được nước mắt. Cậu Tuấn vẫn ngồi bất động. Hai đứa cháu ngơ ngác nhìn bà ngoại, ông cậu rồi mẹ của chúng. Chúng chẳng hiểu chuyện gì xảy ra. Thấy vậy Thanh ra dấu cho hai dứa con rời chỗ ngồi.
Nén cơn xúc động, bà Mai nhìn con gái. Bà nói: “Chiếc áo trận này mẹ đã giữ năm mươi năm rồi. Nay mẹ muốn con mang theo về bên ấy và cũng đặt trên bàn thờ để tưởng nhớ đến người cha đã hy sinh bảo vệ đất nước đến hơi thở cuối cùng, nay mẹ đã già yếu, không biết ra đi ngày nào…con hãy giữ lấy…”
Hình như bà Mai muốn nói thêm điều gì nữa nhưng bà đã nghẹn lời. Thanh đưa hai tay cầm chiếc áo và gục đầu vào chiếc áo khóc nức nở…
Bà Mai đứng dậy và bước đến phía sau lưng con gái, hai tay đặt vào hai bờ vai của con. Cậu Tuấn vẫn ngồi yên lặng.