Happy Halloween! Con Ma Sói Xuất Hiện Giữa Ban Ngày Với Khách Không Nhà (Homeless) –
Lê Văn Hải
(San Jose) Còn 3 ngày nữa là Lễ Hội Hlloween, sáng hôm nay, Thứ Năm ngày 28 tháng 10 năm 2021, trong bữa cơm chiêu đãi những khách không nhà (Homeless) thường xuyên, vào 2 ngày trong tuần, Thứ Năm và Thứ Sáu. Mọi việc đang diễn ra bình thường, thình lình một “Con Ma Sói!” xuất hiên giữa ban ngày! Miệng dính đầy máu, gầm gừ, hung hãn, giơ móng vuốt nhọn hoắc, như muốn ăn tươi nuốt sống những người đứng gần.
Nhưng có điều ngạc nhiên, là mọi người hiện diện, đã không sợ, còn tươi cười chỉ trỏ thích thú. Nhiều người còn đòi chụp hình chung.
Vì họ biết đây chỉ là con ma sói giả. (Do Anh Lê Văn Hải, Trưởng Nhóm Mõ Nhân Ái, hóa trang.) Chỉ có mục đích mang niềm vui, tiếng cười đến cho mọi người, trong dịp lễ Mừng Ma Quỷ năm nay mà thôi.
Con ma sói tiến đến gần, tiếp xúc từng khách không nhà, đổi thái độ hung hãn, thân ái trao kẹo và bao lì xì có chút tiền mặt, và còn hay hơn là con ma này còn biết nói tiếng người! “Happy Halloween!”
Đây chỉ là hoạt động truyền thống kéo dài biết bao nhiêu năm nay, (28 năm) nhằm mang lại chút niềm vui, an ủi đến với những người khốn khổ, bị gạt ra khỏi bên lề cuộc sống. Rất thèm những tình thương vào những dịp lễ hội cuối năm. Gồm Lễ Tạ Ơn, Thank Giving, có Gà tây, Giáng Sinh có Ông Già Noel phát quà, Tết Tây, Tết Ta có Bao lì xì đỏ….
Vào những ngày hết năm, đây là thời gian khắc nghiệt, khó khăn nhất đối với người Homeless. Ngoài trời lạnh giá, không người thân chung quanh, nhìn xã hội với những sinh hoạt hân hoan hạnh phúc, đoàn tụ. Còn mình thì một miếng ăn cũng không có, chỗ ở thì màn trời chiếu đất, “hòn đá gối đầu” cũng không! Nên rất tủi thân, chán chường. Năm nào cũng có nhiều người tự tử, tìm cái chết đau thương cóng lạnh, trong những ngày khốn khổ này.
Chính vì thế Nhóm Mõ Nhân Ái, đã cố gắng mang không khí tình thương gia đình đến với họ, coi họ như người thân ruột thịt. Nhiều người Homeless rất cảm động tâm sự: “Hóa ra các bạn Việt Nam luôn luôn còn nghĩ đến chúng tôi! Nhất là vào những dịp lễ! Chưa thấy nhóm nào đối xử tử tế với chúng tôi như thế. Cám ơn, cám ơn rất nhiều!”
Cali là tiểu bang có vấn nạn ngưởi không nhà thê thảm nhất, mãi mãi không thể giải quyết thảm trạng này. Chiếm 40 phần trăm Homeless trên toàn quốc. Giá sinh hoạt đắt đỏ, hễ thất nghiệp là ra ngoài đường! Là một trong những nguyên nhân chính.
Nhóm của Anh Hải, Mõ Nhân Ái đã bền bỉ theo đuổi công tác nhân ái này hơn môt phần tư thế kỷ! Hoạt động được một thời gian dài như thế, vì bên anh còn rất nhiều nhóm thiện nguyện khác cộng tác, chưa kể rất nhiều ân nhân ẩn danh đứng đàng sau, luôn luôn hổ trợ những việc làm của anh.
Nhân dịp này, anh cũng đại diện Nhóm, xin chuyển lời cảm tạ chân thành từ đáy tim. “Một miếng khi đói, bằng gói khi no!” trong tinh thần “thương người như thể thương thân,” xin Thượng Đế trả công bội hậu cho tấm lòng tốt của Quý Vị. Và cũng không quên “Happy Halloween!”
Chủ Nhật Tuần Này, Ngày 31 Tháng 10, Nước Mỹ Tưng Bừng Mừng Lễ Hội Halloween!
(LVHải Tổng hợp)
Halloween hay còn gọi là lễ hội người hóa trang thành Ma Quỷ! Đây là một trong những lễ hội vui nhộn nhất, mà các bạn trẻ vô cùng yêu thích. Bởi sức thu hút huyền bí, nhiều màu sắc, sáng tạo đẹp mắt, hấp dẫn.
Đây là lễ hội kỳ quái nhất, sắp đến ngày này, khắp nơi trên nước Mỹ đều có những hình ảnh về ngày lễ Halloween trưng bày khắp nơi. Hình “thằng bù nhìn” bằng rơm, mặc áo vải, rách rưới, nằm bên cạnh mấy chùm bắp khô. Rồi hình bà phù thủy mũi nhọn hoắc, mặc áo đen ngồi bay trên cán chổi. Rất thiếu sót nếu không có quả bí ngô được khắc theo hình mặt người, cười toét miệng, đến mắt. Chưa kể những hình những con ma, con dơi, đủ hình dạng, được dán lên cửa kính hay cửa sổ trước nhà và trên lối đi.
Trong siêu thị, các cửa hàng tạp hóa, bán đồ gia dụng và các tiệm thuốc tây, không ai không thấy hàng núi kẹo khổng lồ đủ loại, đủ kiểu, đủ màu được bày bán. Cùng với các loại y phục để mặc hóa trang trong ngày nàỵ. Mặt nạ quỷ nhe nanh, ma cà rồng miệng bê bết máu, cho đến những mặt nạ kỳ quái. Rồi những bộ y phục hóa trang tương đối hiền lành hơn, rập theo các nhân vật trong những phim hoạt họa ăn khách. Gần đây còn có thêm các khuôn mặt các chính trị gia.
Lễ Halloweeen tại Mỹ được trẻ em đón mừng nồng nhiệt nhất, so với các ngày lễ khác. Nhưng không phải nó chỉ dành riêng cho các em không thôi. Ngày này, 31/10, trẻ con được cha mẹ, anh chị dẫn đi xin kẹo, là điều dĩ nhiên. Nhưng những nguời trưởng thành, từ 18 đến 24, cũng vẫn thường hay mở tiệc tưng bừng hay đi dự dạ tiệc hóa trang. Số người ở độ tuổi từ 25 đến 44, thường là phụ huynh thì dẫn con em đi xin kẹo, hoặc ở nhà, khoét những quả bí ngô thành hình mặt người cười, người Mỹ gọi là Jack OLantern. Và hầu hết những ông bà lớn tuổi thì ở nhà, để phát kẹo khi trẻ con gõ cửa đến xin.
Halloween là lễ được nhiều người trang hoàng và ăn mừng lớn thứ nhì trong các lễ hội mùa Đông ở Mỹ. Nó được coi là ngày lễ mở đầu cho mùa lễ hội cuối năm. Người Mỹ tiêu tiền khá nhiều và trung bình trong những năm trở lại đây, các nhà bán lẻ đã thu về, tổng cộng trên hàng tỉ đô la cho ngày lễ kỳ quái nàỵ!
*Tại sao ngày lễ Halloween lại rơi vào 31/10? Và tại sao phải có những hình ảnh, trang phục ma quái như thế?
Theo một trong những truyền thuyết bắt nguồn từ văn hóa của người Celt thời cổ Ireland, thì 31/10, là lúc chính thức chấm dứt mùa Hè nắng ấm, họ tin rằng cũng chấm dứt mùa của sự sống trên dương gian!
Chuyện kể rằng vào ngày này, những hồn ma vất vưởng chết trong năm đó, sẽ trở lại trần thế, tìm một người nào đó nhập xác! để mong còn được tồn tại sau khi chết. Thế nhưng người dương thế thì lại không muốn bị ma bắt hồn, nên đến tối ngày 31/10 họ tắt đèn, tắt bếp lửa, để cho nhà cửa lạnh lẽo như cõi âm phủ. Họ còn mặc quần áo giả trang, cho lẫn lộn với đám ma quỉ và khua động khắp xóm làng để đuổi tà mạ.
Còn vì sao quả bí ngô lại được khoét theo hình mặt người cười toét miệng?
Tại Hoa Kỳ, các bà nội trợ đã mang quả bí này ra khoét ruột, rồi khắc hình mặt người trên đó từ hàng trăm năm naỵ. Cũng theo truyền thuyết của người Ireland, thì xưa có một anh chàng biệt danh là “Jack” tính tình “Hà tiện” Một hôm anh chàng Jack này mời quỷ đi uống rượụ Nhưng Jack lại không muốn trả tiền rượu, nên chàng ta bèn dụ dỗ con quỷ hãy hóa phép tự biến thành thành đồng tiền, để Jack mua rượu cùng nhậu cho vuị. Khi quỷ nghe bùi tai biến thành đồng tiền, thì Jack nhặt ngay lấy bỏ vào túi áo, trong đó có sẵn một thánh giá bằng bạc, khiến quỷ không thể trở lại nguyên hình được nữạ Nhưng rồi sau Jack đã giải phóng cho quỷ, với điều kiện là quỷ không được quấy nhiễu Jack trong suốt 1 năm, và nếu Jack chết, quỷ cũng không được tịch thu lấy linh hồn của Jack.
Cho đến năm sau, Jack lại đánh lừa được quỷ cú nữa, để quỷ leo lên cây cao hái quả. Trong lúc quỷ còn đương loay hoay trên cây, thì Jack khắc ngay một thánh giá vào thân cây, thế là quỷ sợ không dám leo xuống. Cho đến khi quỷ hứa, không được quấy nhiễu Jack thêm 10 năm nữạ, rồi Jack mới bóc chỗ vỏ cây có khắc thánh giá đị, quỷ mới leo xuống được.
Chẳng bao lâu sau đó thì anh chàng Jack lừa đảo qua đời. Hồn ma của Jack đến gõ cửa thiên đường, nhưng thượng đế không nhận cho một kẻ tinh ranh láu cá như vậy vào cõi trờị. Xuống địa ngục thì gặp quỷ bị lừa khi trước, còn tức tối, nên Jack muốn vào địa ngục cũng không xong. Tuy nhiên giữ lời hứa không bắt hồn Jack, quỷ đuổi jack đi lang thang và chỉ cho Jack một cục than hồng, để mà dò dường trong đêm tốị, Jack bỏ cục than cháy đỏ vào trong một củ cải tròn khoét ruột làm đèn, từ đó cứ luẩn quẩn khắp cõi dương gian. Người Ireland gọi là Jack of the Lantern, tức là Jack lồng đèn, và sau biến thành Jack OLantern.
Người Ireland khoét ruột củ cải tròn hoặc củ khoai tây theo hình mặt người cười láu cá như vậy, đem bày ở bệ cửa sổ hay gần cửa ra vào, để xua đuổi những hồn ma vất vưởng như Jack, khỏi xâm nhập vào gia cư của họ. Khi những di dân từ Ireland và Anh Quốc tới Hoa Kỳ, họ thấy rằng quả bí đỏ, tức bí ngô hay bí rợ, một thổ sản phong phú ở vùng đất mới, là nguyên liệu thích hợp nhất để họ khoét ruột tỉa hình mặt anh chàng Jack Lantern.
Quả bí đỏ, xưa nay vẫn tượng trưng cho sự phong phú của mùa màng miền Bắc Mỹ, được trồng rất nhiều tại Hoa Kỳ. Hàng năm vào trước lễ Halloween mấy tuần, các nông gia mở hội thi xem ai trồng được quả bí kỷ lục to nhất. Miền Bắc Cali, khu vực “Vịnh Nửa Vầng Trăng” thường đạt thành tích này, với những quả bí khổng lồ nặng cả gần hàng ngàn pound.
Ngoài trái bí ngô, còn nhiều hình ảnh khác gắn liền trong trong ngày lễ
*Chuyện về quả táo Pomona
Cây táo từ lâu đã được gắn với hình ảnh nữ thần bất tử và trí tuệ. Nếu bổ ngang một quả táo, sẽ lộ ra hình ngôi sao 5 cánh, biểu tượng cho nữ thần trong niềm tin của người Châu Âu ngày xưạ. Táo Pomona là những quả táo được thả trong chậu nước, hoặc trên sợi dâỵ. Những thanh niên tới tuổi cập kê tìm mọi cách để lấy quả táo và người nào làm được thì sẽ là người sớm được lập gia đình. Ngoài ra còn nhiều truyền thuyết dân gian khá lý thú như ai gọt vỏ táo Pomona trước một cái gương, bên cạnh một cây nến cháy, thì sẽ nhìn thấy hình ảnh của người vợ (chồng) tương lai trong gương, hoặc cố gắng giữ vỏ táo càng lâu thì cuộc đời của bạn được kéo dài thêm 100 năm!
*Tục hóa trang với những bộ trang phục kỳ quái.
Người Châu Âu thì cho rằng, những bộ trang phục kỳ quái trong ngày Halloween, không phải có xuất xứ từ người Celtic, mà có xuất xứ từ chính những người Châu Âụ Vào thế kỷ thứ 9, ngày 2/11 hàng năm và cũng là ngày cầu cho các linh hồn, những giáo dân thường ăn mặc rách rưới giống như những kẻ ăn mày, rồi đi từ làng này sang làng kia để xin những mẫu bánh vụn tượng trưng cho thức ăn nuôi dưỡng linh hồn. Những người này tin rằng, họ càng xin được nhiều mẩu bánh, thì linh hồn của những người thân của họ sẽ nhận được càng nhiều những lời cầu nguyện. Các giáo dân tin rằng, những lời cầu nguyện này sẽ giúp cho những linh hồn người thân của họ còn mắc kẹt ở đâu đó sẽ được lên thiên đàng.
*Tục xin kẹo trong ngày Halloween
“Trick Or Treat” Đây là sinh hoạt chính của hầu hết trẻ em và thiếu niên tại Hoa Kỳ trong đêm Halloween.
“Trick or Treat” có nghĩa “Cho kẹo hay bị ghẹo! bị phá phách!”
“Trick” nguyên nghĩa là đánh lừa, trò chơi tinh ma nghịch ngợm. “Treat” là tiếp đón, đối xử tử tế, tiếp đãị. Các em nhỏ và thiếu niên, thanh niên hóa trang với áo quần và mặt nạ hình ma quỷ, rồi cầm lồng đèn đi từ nhà này sang nhà khác trong xóm, gõ cửa và nói “trick or treat”. Câu này có nghĩa là: “Nếu muốn chúng tôi không chơi xấu, thì hãy đãi chúng tôi cái gì đi!” Thông thường những người láng giềng luôn luôn tiếp đón bằng kẹo và trái câỵ.
*Một điều ít người biết: Tuy là Mừng Ma Quỷ, nhưng Lễ nhưng vẫn có ý nghĩa giáo dục.
Hành động và cuộc đời của Jack đã trở thành những kinh nghiệm để tuổi trẻ rút ra một bài học làm người, đó là:
-Sống không nên tham lam, bủn xỉn, keo kiệt, để chết khỏi phải lang thang!
-Phải có lòng bác ái, từ bi, biết giúp đỡ kẻ khó khăn, xử tử tế, cho dù họ đã qua đời!
Không nên chơi đùa với ma quỷ. Ma quỷ hiểu theo nghĩa bóng là những trò lừa lọc, đe dọa, làm cho người khác sợ hãi, những việc làm tinh quái do trí thông minh và tưởng tượng của tuổi trẻ sáng tạo ra, có khi làm hại đến người, đến xã hội. Chơi đùa, giao du với ma quỷ sẽ dễ bị cám dỗ đi vào đường tối tăm và tội lỗị. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng!”
Tuy nhiên, chuyện anh chàng Jack trong đêm Halloween cũng ghi nhận một thái độ sòng phẳng của quỷ, đó là “ân đền, oán trả” và “giữ lời hứa”. Dù rằng sự “giữ lời hứa” này đã làm cho Jack rơi vào thân phận cô hồn lang thang vất vưởng. Quỷ còn giữ chữ tín, hướng chi con người. Người không giữ chữ tín, trong cuộc sống khó mà thành công.
Đối với các xã hội Âu, Mỹ Halloween đã trở thành lễ hội vui chơi hằng năm cho trẻ em và cả người lớn. Hầu như ít người quan tâm tìm hiểu ý nghĩa xây dựng nhân bản của nó.
*Ý nghĩa nhân bản: Nghĩ đến cả người chết, hướng chi người sống!
Nếu đào sâu hơn, có lẽ sẽ tìm thấy tính cách nhân bản trong câu chuyện. Thử đặt câu hỏi: tại sao dưới ánh sáng khoa học và kỹ thuật mà các nước Âu, Mỹ vẫn dành một ngày lễ hội cho người của “cõi Âm” mà đại diện là chàng Jack?
Jack là nhân vật tưởng tượng nhưng đã thực sự hiện thân trong cuộc đời, trong thân phận làm người, mà lại là một người cô đơn, không nơi cư ngụ (Homeless!) Khi chết, Jack trở thành cô hồn, không chỗ dung thân. Thiên Đàng và Địa Ngục đều từ chối!
Truyền thống lễ hội Âu Mỹ đã dành cho Jack một ngàỵ, một ngày được trở lại với cõi dương thế. Trong ngày đó, Jack có thể sống vui chơi thoải mái, vì tình người sống đã hóa trang thành ma quỷ để linh hồn Jack có chỗ trà trộn vào cho đỡ cô đơn. Đây là ý nghĩa nhân bản sống phải biết giúp đỡ nhau của lễ hội Halloween.
Lời kết
Ngày lễ Halloween được du nhập vào Mỹ từ năm 1840, theo chân những người di cư sang Mỹ. Đầu tiên nó chỉ diễn ở các nông trại miền quê, nhưng ngày nay cũng giống như nhiều quốc gia khác, Halloween đã trở thành một ngày lễ chung vui chơi, dùa giỡn cho tất cả mọi người, trên nhiều quốc gia, nhằm để quên đi những lo âu trong đời sống. Giới trẻ tại Việt Nam cũng rất thích ngày lễ này.
Lời chúc
Kính chúc Quý vị và Gia Đình, nhất là những Bé tí hon lời chúc cho ngày lễ, (đậm mầu sợ hãi từ Ma Quỷ):
Một ngày Lễ Halloween gặp những điều bất ngờ, khủng khiếp và rùng rợn! Sáng gặp quỷ hút máu! chiều gặp ma lưỡi dài, tối mơ thấy mình lạc xuống địa ngục! bị cưa người, máu lênh láng, chưa hết! rồi bị bỏ vào chiên trong chảo dầu! (Khà!Khà!)
Nhưng dù sao đi nữa, người lớn cứ bình tĩnh đón một Lễ Halloween vui vẻ, hạnh phúc nha! Và các bạn trẻ đi xin được nhiều kẹo, dù bị ma nhát, sợ muốn chết! nhưng vẫn nhớ nhiều cảm giác thích thú trong ngày Lễ đặc biệt này.
“Bác Dương thôi đã thôi rồi Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…”
Từ thuở ấu thơ, anh em chúng tôi đều được mẹ ru bằng bài thơ Khóc Bạn của cụ Tam nguyên Yên Đổ khóc ông cố nội chúng tôi là cụ Nghè Dương Khuê. Bài thơ trở thành bài ca dao nằm trong ký ức tôi từ ngày đó, hơn 40 năm sau lại bật ra như những lời nhớ thương tha thiết của tôi với người bạn thân: Vũ Hoàng Oanh. Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê lúc tuổi đời đã xế chiều nên nỗi nhớ chỉ là ngậm ngùi, còn tôi khóc bạn khi tuổi đời chưa tới 50 là cái khóc xót thương vô hạn.
Ngày còn học Trưng Vương thì Oanh học trên tôi một lớp. Chúng tôi chỉ biết nhau nhưng chưa phải là bạn. Mãi đến khi thi vào trường Sư Phạm, vô tình làm sao, hai đứa trùng tên nên có số báo danh kế nhau. Gặp nhau ở trường thi, lại ngồi cạnh nhau thì không quen cũng thành quen huống chi chúng tôi cùng là dân TV lại biết nhau từ trước. Dĩ nhiên hai đứa tôi mau chóng kết hợp với nhau, cóp qua cóp lại bài nhau nên kết quả là hai đứa cùng đậu và còn được xếp chung vào một lớp. Tôi và Oanh trở thành bạn thân từ đấy.
Oanh không đẹp nhưng dễ thương với đôi má bầu bĩnh, đôi mắt hơi đượm buồn, lúc nào cũng như vướng vất một câu hỏi gì chưa được giải đáp.Nhưng điều mà bạn bè nhớ nhất ở Oanh là tính tình đôn hậu, chiều bạn và tử tế với mọi người.
Đời học trò, dẫu rằng lớp học trò này đang chuẩn bị làm người lớn, vẫn có biết bao niềm vui nỗi buồn non trẻ để chia sẻ cùng nhau. Đôi khi thấy bạn bè có người yêu đến đón hoặc ghé thăm, đôi mắt hỏi han cuả Oanh chợt tối lại, vương một chút buồn bã. Tôi gạn hỏi, Oanh chỉ lắc đầu, nhiều lần sau nữa, chẳng đặng đừng, Oanh cười mỉm chi đáp “Nhớ bồ” “Thế bồ đâu rồi” “Bồ thuộc người khác rồi”, rồi nhanh chóng Oanh lảng ngay “Thôi khỉ ạ, đừng hỏi nữa, chuyện xưa rồi”.
Thời gian trôi thật nhanh. Gần đến ngày ra trường, chúng tôi gấp rút học thi và ráo riết chuẩn bị các bài thi thực tập. Một hôm, gặp phải bài thi hóc búa, tôi hỏi mượn Oanh một bài mẫu vì Oanh rất chăm chỉ trong việc sưu tầm các bài dạy mẫu, còn tôi là con cháu họ lười nên rất chểnh mảng. Oanh đang hí hoáy viết nên bảo “Mở cặp ra, ngăn bên trái đó”. Tôi mở cặp lục lọi. Bài mẫu chẳng thấy đâu, tôi vớ ngay được một lá thư. Quên béng ngay bài dạy, tôi len lén kéo nhẹ tờ thư ra khỏi bao và liếc thật nhanh vài giòng. “Ồ, thư tình”, tôi thầm kêu trong đầu. Vừa lúc đó Oanh quay sang, thấy vậy, Oanh vội vã quăng ngay cây bút, soài người giựt lại lá thư, miệng la bài hải “Ố́í, ối, trả đây, trả đây”. Lá thư không dài và cũng không có những lời lẽ yêu đương hoa mỹ nhưng đọc thì biết ngay đó là thư tình, thư tình cuả một nhà văn. Ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ cuả một người viết văn thì có muôn ngàn cách để bày tỏ tình yêu. Tôi mừng thấy bạn bẽn lẽn cất lá thư. Một chút ửng hồng trên đôi má bầu bĩnh… Từ đó tôi thấy Oanh hay cười hơn.
Trong khi chờ đợi kết quả sắp hạng ra trường, chúng tôi phải đi khám sức khoẻ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Hôm đó Oanh chở tôi bằng chiếc Vélo Solex mượn được. Chỉ còn cách bệnh viện khoảng 100m thì bất ngờ xe đang chạy ngon trớn bỗng đâm xầm vào một đống đá xanh đổ ngay giữa lòng đường. Xe mất thăng bằng đổ ập xuống, quăng hai đứa chúng tôi ra hai nơi. Lúc đó tôi đang có thai cháu đầu lòng khoảng 4 tháng. Hốt hoảng, Oanh bật dậy lao ngay về phía tôi mà không thấy rằng 1 đầu gối quần bị rách để lộ vết thương rướm máu và 1 bàn tay bị đá xanh đâm nát máu thấm đỏ cả. Oanh lính quýnh ôm nâng tôi dậy, mặt tái mét, miệng líu lại “Oanh, Oanh có sao không? Có đau bụng không?” Tôi tuy cũng rất lo sợ cho cái thai nhưng thấy Oanh quá lo lắng cho tôi, tôi thấy lòng cồn cào thương bạn nên vội trấn an “Mình không sao, đừng lo. Thôi mau nhấc xe dậy, vào ngay bệnh viện nhờ họ băng bó cho Oanh”.
Ra trường, tôi về dạy ở Gia Định, còn Oanh xuống Biên Hoà. Như một xui khiến của số mệnh, người yêu của Oanh, nhà văn Dương Hùng Cường, còn có bút hiệu là Dê Húc Càn đồng thời là một quân nhân cũng đang làm việc tại phi trường Biên Hoà. Họ đã được gần nhau, cuộc tình dẫn đến kết cuộc tốt đẹp là cái đám cưới vào năm 1964. Năm sau, 1965, Oanh sinh cháu đầu lòng Dương Mạc Thi rồi tiếp theo Oanh sinh liền 7 cô công chúa trong vòng 10 năm. Khi anh Cường đổi về làm việc tại Sài gòn thì Oanh cũng được thuyên chuyển về dạy học taị trường Hồng Bàng (sau năm 1975 thì dạy tại trường Hùng Vương, cùng thuộc quận 5). Chúng tôi lại có dịp gần gũi nhau.
Vào khoảng năm 74 tôi thấy Oanh ngoài giờ dạy ở trường công còn dạy thêm ở 2 trung tâm tư nữa. Thấy tôi thắc mắc sao Oanh dạy quá nhiều, không còn thời giờ dành cho các con nữa thì Oanh tâm sự: “Ông Cường giành phần chăm mấy đứa nhỏ. Ông ấy bảo, ổng ru con hay hơn mình”, rồi Oanh xuống giọng “Mình phải dạy thêm lấy tiền cho ông Cường in truyện”.
Nói là chăm sóc con chứ thật ra thì lúc đó gia đình nào cũng có người giúp việc, lo cơm nước, giặt giũ, bế bồng trẻ nhỏ rồi. Tôi thông cảm với Oanh vì thời gian đó, lương hai vợ chồng gom lại, dẫu rằng anh Cường còn viết báo thêm cũng chỉ đủ chi tiêu cho một gia đình mười mấy miệng ăn mà thôi. Muốn in sách truyện, Oanh phải cật lực giúp chồng.
Thế là bao nhiêu tiền bạc dành dụm được đều đổ dồn vào việc cho ra đời đứa con tinh thần “Vĩnh biệt Phượng”.
Thương thay, sách vừa xuất xưởng, chưa kịp phân phối ra ngoài thì ngày 30 tháng 4 như một cơn cuồng phong ập đến, xoá tan hết bao ước mơ, bao xây đắp cuả cả một miền Nam thân yêu trong đó có 2 gia đình chúng tôi. Ông xã tôi cũng như anh Dương Hùng Cường đều trở thành tù nhân cuả chế độ mới và 2 gia đình chúng tôi trở thành những nạn nhân như trăm ngàn gia đình quân nhân công chức chế độ cũ, luôn luôn bị soi mói, rình rập, theo rõi, lúc nào cũng sống trong phập phồng, lo lắng, sợ sệt… Với đồng lương chết đói, chúng tôi vẫn phải cố bám vào trường lớp để khỏi phải bị đuổi đi vùng kinh tế mới. Hai đứa tôi cùng chia nhau cái ngậm ngùi cuả số phận. Oanh 7 con và tôi 6, gia tài chỉ là hai bàn tay trắng với cõi lòng đầy ắp âu lo. Chúng tôi càng gắn bó với nhau hơn. Hai đứa lăn lưng ra làm đủ mọi việc
Thoạt đầu là bán sách. Lúc bấy giờ chủ trương của chế độ mới là thiêu hủy hết số sách báo của miền Nam được gọi là văn hoá đồi truỵ, tàn dư Mỹ ngụy. Chúng tôi lại thuộc các gia đình văn nghệ sĩ, càng bị để ý, bị lục xoát thường xuyên hơn. Nếu trái lệnh sẽ bị ghép vào đủ thứ tội tình. Để được yên thân nuôi con và cũng là để che mắt thế gian, chúng tôi gom góp hết số “tàn dư Mỹ ngụy” trong nhà, nhờ người quen dẫn giắt lên chợ sách Nguyễn Huy Thiệp bày bán. Nhìn những cuốn sách mình từng nâng niu yêu quý từ từ đội nón ra đi, lòng tôi bùi ngùi khôn tả. Cầm cuốn “Chạy trốn Tự do” mà ông xã tôi mới dịch trước đó không lâu, tôi thầm tự hỏi: “Tại sao laị dịch cuốn sách mang cái tên oan nghiệt này?” Cuốn “Vĩnh Biệt Phượng” cuả anh Dương Hùng Cường cũng cùng chung số phận, phơi mặt trên 1 tấm ni lông trải dưới mặt đường con phố NHT. Tôi và Oanh thủ 2 cái nón rộng vành, hễ liếc xa xa thấy người quen kẻ thuộc hay bạn bè gần xa cuả chồng thì lập tức cái nón được kéo sụp xuống. Ôi thời thế có ai học đến chữ ngờ!
Một hôm vào khoảng xế trưa, hai đứa đang ngồi vêu ra thì một cháu gái cuả Oanh đạp xe lên tìm mẹ, báo tin em bé út vừa phải vào nhà thương. Khi đó cháu Dao Tiên mới non 1 tuổi. Oanh hốt hoảng ra về. Hôm sau, rồi hôm sau nữa cũng không thấy Oanh lên tôi đoán chắc Oanh phải ở trong bệnh viện với con. Ba, bốn hôm sau Oanh trở lại, cặp mắt còn sưng, oà khóc, nói “Oanh ơi, cháu Dao Tiên mất rồi. Cháu mất vì thiếu dinh dưỡng, vì đói ăn đó Oanh ạ!”
“Nghề” bán sách cuả chúng tôi do thời cuộc mà tự sinh thì cũng do thời cuộc mà tự diệt. Ch́úng tôi học quấn thuốc lá, vào bao rồi đem vô Chợ Lớn bán nhưng cũng chẳng được bao lâu thì chợ thuốc lá cũng bị càn quét. Tôi nhờ biết may vá từ nhỏ nên quay ra may quần áo con nít đem giao các chợ, còn Oanh thì đi bỏ mối bánh kẹo cho các căn tin trường học. Cứ thế, chúng tôi lần hồi sống qua ngày.
Ngoài lúc đi kiếm cơm, chúng tôi còn rủ nhau đi kiếm chồng tù. Hai năm trời biền biệt không chút tin tức, chúng tôi lo sợ cho số phận các ông chồng. Dò la, thăm hỏi chẳng có kết quả, chúng tôi đánh bạo rủ nhau lên tận ban Quân quản Thành phố để hỏi han. Câu trả lời cũng chỉ như bao nơi khác: “Cứ yên tâm chờ đợi”. Cuối cùng thì cuối năm 1977 cũng có tin về sau hơn 2 năm kể từ ngày các sĩ quan cuả chế độ cũ nghe lời đường mật “Chuẩn bị đồ ăn uống và vật dụng cá nhân trong vòng 10 ngày để đi trình diện”. Ông xã tôi bị nhốt ở trại Hàm Tân, còn anh Cường thì ở Long Khánh. Cứ 3 tháng chúng tôi được phép thăm nuôi tiếp tế thức ăn và thuốc men 1 lần. Hai đứa lại có dịp chỉ bảo nhau làm món gì để được lâu, thuốc nào cần nhất v..v.. để mang lên trại.
Tôi còn nhớ thời gian đó, mỗi chiều tối, sau giờ tan trường, Oanh thường ghé tôi, có khi ở đến tận khuya. Các con Oanh ở nhà đã có cô cháu gái mà Oanh cưu mang từ sau năm 75 chăm nom cơm nước. Chúng tôi ngồi bên nhau chia sẻ mọi điều. Tôi hiểu Oanh nhiều nỗi lo lắng vì nợ nần thúc giục mà không có phương cách giải quyết. Tôi đỡ hơn Oanh một chút là tôi còn có mẹ. Đôi khi hai đứa ngồi bên nhau hàng giờ mà chẳng nói với nhau một tiếng nhưng chúng tôi đều hiểu rằng chúng tôi đang chia nhau nỗi sầu khổ âm thầm.
Một hôm, khoảng sau Tết năm 1978 Oanh ghé tôi theo lệ thường, nhưng hôm đó vẻ mặt Oanh rất bần thần, ngồi hoài không nói. Tôi hỏi:
– Hôm nay Oanh có chuyện gì không mà như mất hồn vậy?
Oanh vẫn ngồi yên không nói. Tôi đứng dậy rót cho bạn 1 ly nước, đến ngồi gần bên ân cần:
– Có việc gì hả Oanh?
Sau một phút ngập ngừng, Oanh nói khẽ thật khẽ như sợ có ai nghe thấy:
– Ta nói cái này, đừng giật mình nhé…Mình có bầu.
Tôi giật thót mình, hai lỗ tai lùng bùng.
– Oanh nói gì? Ai có bầu?
– Mình.
– Hả?
– Mình có bầu thật đấy, vừa đi khám bác sĩ về xong.
Tôi trân trối nhìn Oanh, vẫn không tin ở hai tai mình. Biết vậy, Oanh mới tỉ tê khai:
– Hôm Tết rồi đi thăm ông Cường, trại cho ở lại một đêm…
Tôi thở phào như trút được cho chính mình gánh nặng nghìn cân. Oanh nói tiếp:
– Oanh ơi, dẫn mình đi phá đi, mới được khoảng hai tháng thôi, phá chắc dễ.
Tôi ngỡ ngàng hỏi lại:
– Phá? Sao lại phá?
– Chứ để thì làm sao coi được. Ai đời cô giáo có chồng đi tù mà lại mang bầu. Đâu có ai hiểu…
– Thì nói ra cho mọi người biết.
– Ai tin? Bạn bè, rồi còn học trò nữa chứ. Eo ôi, nghĩ đến là ta rùng mình rồi.
Tôi chợt thấy Oanh có lý. Ừ, ai mà tin nổi, nhất là thời buổi này. Toàn ban giám hiệu đều là người cách mạng, họ sẽ có cớ để bêu riếu, để bôi tro trát trấu lên đầu lên cổ vợ con “ thằng ngụy”. Tôi thở dài:
– Ừ, để mình tính xem.
Nói vậy cho Oanh yên lòng chứ thật ra tôi cũng chẳng biết tính làm sao. Tối đến, trong bữa cơm gia đình, tôi nói chuyện với mẹ tôi về việc Oanh muốn tôi chia sẻ.
Mẹ tôi bảo:
– Ngày mai Oanh có ghé, con gọi mẹ, mẹ hỏi cô ấy một tí.
– Mẹ hỏi gì hả mẹ?
– Có phải Oanh toàn con gái không?
– Vâng, 7 đứa, bỏ 1 còn 6, toàn là gái cả.
– Mẹ muốn tính xem lần này có bầu, Oanh sẽ sinh trai hay gái.
– Trai hay gái thì thay đổi được gì hả mẹ. Cũng bia miệng mà thôi.
– Mình sẽ nghĩ cách giùm cô ấy. Vả lại, vì sợ bia miệng mà phá bỏ đi một đứa con của mình thì sẽ mang tội con ạ.
Mẹ tôi đặc biệt có một cách tính rất tài tình để biết người mẹ sẽ sinh trai hay gái. Cụ có dạy cho tôi một bài toàn chữ Hán, tôi học mãi không thuộc (vì mình có biết tí teo chữ Hán nào đâu). Tôi đã chép vào 1 cuốn sổ để dành nhưng qua hết đợt bố ráp này đến đợt bố ráp khác nó đã không cánh mà bay.
Dẫu rằng cả Oanh và anh Cường đều không mang tư tưởng “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” nhưng cha mẹ nào mà chả mong ước mình có đủ cả trai lẫn gái.
Sau khi gặp mẹ tôi, Oanh mừng lắm, không còn nghĩ đến việc phá thai nữa vì tin tưởng rằng lần này sẽ sinh được một quý tử.
Thông thường, cứ mỗi đầu tháng, các giáo viên chúng tôi đều phải họp toàn trường để kiểm điểm công việc dạy và thực hiện các chỉ thị của Phòng hoặc Sở giáo dục. Tôi xúi Oanh trong phiên họp kỳ này lấy cớ báo cáo 1 công việc gì đó rồi bôi mặt cám ơn nhà nước đã cho chúng tôi được gặp mặt, tiếp tế cho chồng ở trại giam lại còn gia ân cho ở lại trại 1 ngày 1 đêm nhân dịp Tết vừa qua nữa. Việc đó quả nhiên hiệu nghiệm. Oanh tuy bị trêu chọc song đã thoát được cơn hiểm nguy. Cũng may mắn cho Oanh, chỉ vài tháng sau khi cái bụng bầu của Oanh lộ rõ thì anh Cường được về.
Một hôm tôi vừa từ chợ về nhà thì đã thấy anh Cường ngồi đợi. Không kịp để tôi hỏi han câu nào, anh đã vào đề liền:
– Oanh sinh rồi chị, ở Bệnh viện Hùng Vương, con trai.
– Ồ, chúc mừng anh. Chắc là Oanh vui lắm. Kỳ này hai ông bà có quý tử, phải ăn mừng thôi
Không trả lời câu nói đùa của tôi, anh chìa ra mảnh giấy cỏn con nói:
– Oanh gửi chị cái này.
Tôi vội vàng mở mảnh giấy đọc “Oanh ơi, cứu bồ, cho mình mượn 50 đồng để đóng tiền bệnh viện nhé”.
Tôi vừa đi giao hàng về nhưng cũng chỉ có trong tay 30 đồng. Tôi vội vã đạp xe lại ngay nhà chị bạn cùng trường. Tuy chẳng giầu có gì nhưng chị tương đối khá giả hơn chúng tôi vì những tháng ngày xa xưa trước 75, chị là con kiến biết lo xa, ki cóp mua vàng để dành, (trong khi tôi lại là con ve, kêu ra rả hết muà hè, chỉ biết rong chơi ca hát, cho nên khi đông về thì đói rã răng). Chị lại có lòng tốt nên bạn bè khi cơ nhỡ chị đều sẵn sàng san sẻ.
Trao cho anh Cường năm chục bạc xong, tôi biết ngày mai không có tiền chợ cho con song trong lòng vẫn vui vì mừng cho bạn, càng mừng hơn vì thấy cách tính của mẹ tôi thật chính xác, không làm cho Oanh mừng hụt. Nhưng người mừng nhất ắt hẳn là anh Dương Hùng Cường. Anh đặt tên cho cháu là Phụng Hoàng, Dương Phụng Hoàng, con chim quí.
Khoảng 3,4 năm sau khi ra tù, anh Cường liên lạc được với nhà văn Trần Tam Tiệp đang cư ngụ tại Pháp xin lên tiếng kêu gọi Văn Bút Quốc Tế can thiệp và giúp đỡ cho một số các gia đình văn nghệ sĩ Miền Nam còn kẹt lại quê nhà, đang gặp rất nhiều khó khăn cả về 2 mặt vật chất lẫn tinh thần. Ít lâu sau đó, mỗi năm gia đình chúng tôi nhận được từ 1 đến 3 thùng thuốc tây gửi từ Pháp về (nhưng có lẽ đó là do chính tiền cuả anh TTTiệp, chứ không phaỉ của VBQT). Song song với thùng quà đôi khi còn có cả 1,2 tờ báo Kháng Chiến nữa. Rồi anh bảo anh em bên nhà viết bài gửi sang. Những thùng quà tuy ít ỏi này cũng đã giúp được gia đình chúng tôi qua những cơn vô cùng bĩ cực. Nhưng oan nghiệt thay, cũng chính những thùng quà này lại đưa chồng tôi, Khuất Duy Trác, anh Dương Hùng Cường và một số các văn nghệ sĩ khác như các nhà văn Dzoãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thuỷ, Hiếu Chân, các nhà thơ Lý Thụy Ý, Trần Ngọc Tự… vào tù lần thứ hai. Bọn Công an thành phố còn viết nguyên một cuốn truyện đầy tính bịa đặt và vu cáo có tên Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, hòng bôi bẩn và hạ giá nhóm văn ngệ sĩ trên, sửa soạn dư luận cho một bản án thật nặng nề. Chúng đem giam một số tại nhà giam Chí Hoà, số còn lại tại trại giam Phan Đăng Lưu, có ông xã tôi và anh Cường. Oanh và tôi lại có cùng một địa chỉ để tới lui. Số phận chúng tôi cứ gắn chặt với nhau trong những hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy.
Do từ việc bỏ bánh kẹo cho các căn-tin trường học, Oanh lần hồi biết được cách thức để đấu thầu toàn bộ cả căn-tin cuả mỗi trường. Oanh rủ tôi làm công việc này. Thế là hai chúng tôi cùng khởi sự tại một ngôi trường Tàu trong Chợ Lớn. Sau này rành rẽ rồi thì mỗi đứa làm ở mỗi trường khác nhau.
Cứ vào cuối mỗi năm học, giáo viên các trường đều phải điều chỉnh lại tờ lý lịch đã khai từ những ngày đổi đời 30/4/75. Năm 1980, con gái thứ hai của tôi đi vượt biên, tôi không khai. Đến khi ông xã tôi bị bắt lại lần 2 tôi cũng không khai. Ban giám hiệu nhà trường chắc hẳn không biết nên tôi vẫn được yên thân. Bất ngờ, vào đầu năm 87, hiệu trưởng mời tôi lên nói chuyện. Bà hỏi han tôi về tình hình gia đình, chồng con, công việc v..v.. và cuối cùng bà hỏi tôi có up to date lý lịch đầy đủ cho mỗi năm không. Tôi manh nha thấy điều gì đó không ổn. Tuần lễ sau tôi xin nghỉ bệnh và tuần kế tiếp tôi tống tiếp lá đơn xin thôi việc. Ở thời điểm này, chiến dịch tống khứ gia đình vợ con tù cải tạo đi kinh tế mới đã chấm dứt vì hoàn toàn thất bại. Từ các vùng kinh tế mới, biết bao gia đình đói rách tả tơi, bệnh hoạn, người sống kẻ chết, lũ lượt kéo về thành phố, nằm la liệt tại các công viên, chợ, nhà thờ, chùa…chính quyền không thể xua đuổi vì họ không còn nơi chốn để dung thân nữa. Do đó tôi không còn lo sợ vì phải lên rừng lập nghiệp. Lại nữa tống khứ đi được một con vợ “ngụy”, cũng nhẹ gánh lo cho ban giám hiệu nên họ nhận đơn mà không hỏi han gì cả.
Thời gian này rộ lên rất nhiều tin tức về việc Mỹ sẽ đón các sĩ quan QLVNCH bị tù cải tạo. Tuy rằng chỉ là tin đồn miệng, chẳng có một nguồn xác thực nào nhưng chúng tôi vẫn cứ nuôi hy vọng trong lòng để tiếp tục sống và tiếp tục chịu đựng.
Một ngày đầu tháng 12 năm 1987, lúc đó khoảng 2-3 giờ trưa tôi đang ở nhà thì cô cháu gái cuả Oanh đến, mặt mũi phờ phạc, nói như đứt hơi: “Cô ơi, chú Cường mất rồi, cô con đang xỉu ở nhà, cô xuống mau đi cô”
Khi tôi bước chân vào đến nhà thì thấy Oanh đang vật vã vừa khóc vừa gào: “Tôi không sống một mình đâu, trời ơi là trời. Anh Cường ơi, em không sống một mình đâu!!” Tôi ôm lấy tấm thân gầy guộc của bạn, lòng đau xót từng cơn và nước mắt cứ mặc tình tuôn chảy… Không biết bao lâu sau, khi kêu gào đã quá mệt, tôi đỡ Oanh nằm xuống giường rồi bảo với các con Oanh: “ để yên cho mẹ nghỉ một chút”.
Hàng xóm xung quanh nghe tiếng khóc, vài ba người lấp ló ngoài cửa.
Bình tâm trở lại, tôi hỏi thăm cháu Linh, cháu tỉ tê kể: “Sáng nay cháu ở nhà, công an khu vực tới đòi gặp mẹ. Cháu bảo mẹ đang dạy ở trường, anh ấy nhắn bảo mẹ ra phường gấp có giấy báo cuả bố. Khi cháu ra trường bảo cho mẹ biết thì mẹ vẫn nghĩ là tin mừng. Mẹ bảo chắc bố được thả…ồ, hay là…Mỹ đón. Mẹ bảo cháu về trước, chuẩn bị đồ vest cho Bố. Đến khi hai mẹ con ra đến phường nhận giấy mới vỡ lẽ…Họ bảo sáng ra đến giờ tập họp, không thấy bố ra, đến đập cửa phòng cũng không thấy bố cháu trả lời, họ mở khoá ra thì thấy bố cháu đã mất rồi.”
Oanh được phép đến trại giam Phan Đăng Lưu để nhận diện xác chồng trước khi được phép chôn cất. Đám tang phải làm gấp ngày hôm sau và chỉ cho 2 người mang áo quan vào lấy xác tại khám Chí Hoà mà thôi. Hôm sau tôi đi cùng với Oanh nhưng phải ngồi chờ ngoài gốc cây trước cổng trại cùng với các con nhỏ cuả Oanh. Số bạn bè và họ hàng thân thuộc đến đưa tiễn đều không được tập trung một nơi mà phải phân tán rải rác dọc theo con đường Hoà Hưng, chờ đợi khi xe tang ra đến đầu đường rồi mới được tháp tùng theo. Ôi, quân Cộng sản sao mà độc ác. Người sống chúng không tha đã đành, người chết chúng cũng không cho chôn cất tử tế…Huyệt mộ đã lấp lại rồi nhưng Oanh vẫn đứng trơ trơ như một bức tượng. Nước mắt đâu?
Có lẽ nó đã chảy ngược vào lòng. Tôi chợt nhớ đến bài thơ “Đi nhận xác chồng” của Lê Thị Ý:
Thật tội nghiệp cho bạn tôi. Cũng thật tội nghiệp cho những người phụ nữ trót sinh ra trong thời đại chúng tôi.
Vết thương tang chồng chưa ngưng chảy máu thì 3 tháng sau Oanh lại phải rứt ruột đẩy đứa con gái đầu lòng thân yêu, Dương Mạc Thi, ra đi trong một chuyến vượt biển với bao bất trắc chờ đợi. Than ôi, đó cũng là lần cuối cùng Oanh nắm đ̣ược bàn tay nhỏ bé cuả con: chuyến tàu chở cháu Thi đã không bao giờ tới bến. Chỉ trong vòng 4 tháng Oanh đưa hình hai người thương yêu nhất đời mình lên chùa…
Rồi dòng đời lại tất bật trôi đi. Oanh vội vã bịt kín những vết thương, giấu chặt nó vào tận cùng trái tim để ngày ngày phải đối mặt với những cam go của cuộc sống, với tương lai cuả bầy con còn lại. Thời gian sau này chúng tôi ít gặp nhau hơn vì mỗi đứa thầu riêng mỗi trường mà công việc thì quá đa đoan, tất bật, cần đến rất nhiều thời gian, Oanh lại vẫn theo đuổi công việc dạy học.
Mùa hè năm 1989, giữa chúng tôi có vài chuyện không vui, tôi giận Oanh. Biết mình không đúng, xin lỗi tôi không xong, Oanh nhờ một cô bạn khác đến năn nỉ, tôi vẫn gan cùng mình không chịu làm hoà. Gần 2 tháng trời chúng tôi không gặp nhau. Một buổi trời đã chạng vạng tối, một anh bạn tù cuả ông xã tôi, hốt hoảng đến báo tin Oanh bị đụng xe, đã đưa vào bệng viện Trưng Vương, nhưng tình trạng hình như không được ổn. Tôi tức tốc vào thẳng nhà thương trong tâm trạng rối bời và thật hồi hộp.
Oanh nằm đó, bất động, đôi mắt đã khép lại vĩnh viễn…Tôi bật lên khóc nức nở, nắm lấy tay bạn, sờ lên mặt bạn, vuốt trên người bạn, tôi muốn gào lên “Oanh ơi. Oanh ơi, mình đây, mình đang ở bên Oanh đây, mình không còn giận Oanh nữa đâu, tỉnh dậy đi Oanh ơi!!!” Tôi đưa tay bứt mớ tóc trên đầu xem mình có thật sự tỉnh không, có phải đây là sự thật không…Nỗi hối hận trong tôi trào lên, tôi giận tôi, tôi ghét tôi, tôi là con bạn tồi, sao tôi cố chấp thế…Tuy đã cố dằn vì chỗ đông người, cổ họng tôi vẫn bật lên tiếng gọi “Oanh ơi. Oanh ơi. Dậy đi, mình thương Oanh lắm, có nghe mình nói không?”
Tôi ngồi bên Oanh như thế, nước mắt tiếp tục chảy không thôi, biết bao điều muốn vuột ra khỏi trái tim nên lồng ngực đau thắt… Lâu lắm, chợt nghe tiếng bà dì Oanh nói “Cô phụ tôi thay quần áo cho Oanh nhé. Người bây giờ còn mềm, thay dễ”.
Tôi nâng đầu Oanh dậy tay chạm ngay vết thương sau ót, máu còn dính bết vào tóc. Đến lúc thay áo lại phát hiện ra phần dưới cũng bị thương, hình như vỡ xương hông thì phải. Ôi, đau đớn biết bao!
Mãi sau này các cháu con Oanh mới kể rằng, sáng hôm đó, một cậu nhỏ mới quen đến chở Oanh về Thủ Đức để đi hỏi vợ giùm cho cậu ta. Buổi chiều, trên đường về, đã gần đến nhà, đang băng qua con lộ Lý Thường Kiệt để vào ngõ thì bị một xe hơi do người tài xế say rượu đâm phải.
Oanh là thế đấy, hay làm chuyện bao đồng để giúp người.
Oanh mất đi bỏ lại bầy con 5 đứa. Con chim quý, Phụng Hoàng, của vợ chồng Oanh sinh bất phùng thời, mới 10 tuổi đầu đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhưng như một định luật bù trừ, hai con lớn cuả Oanh tiếp tục công việc của mẹ, không những đã duy trì được mức sống đầy đủ cho gia đình mà các cháu còn dìu dắt nhau học hành tới nơi tới chốn nữa. Nếu người ta tin có linh hồn thì chính linh hồn người Mẹ, day dứt lúc ra đi đã quay trở lại thế gian này để phù trợ cho các con vươn lên trong cuộc sống.
Hôm nay ngồi viết những dòng hồi tưởng này về một phần đời không nhỏ của bạn tôi, Vũ Hoàng Oanh, người phụ nữ tâm tính hiền lành, hay giúp đỡ người khác nhưng số phận cay nghiệt đã dành cho cuộc đời bao tang thương, oan trái. Khi sống, tâm tư luôn mòn mỏi vì lo toan cơm áo, còn mang nặng những vết thương không cơ hàn gắn. Đến lúc lià đời, lại ra đi trong một cơn mê khốc liệt với thân thể đớn đau, với cõi lòng đứt đoạn vì bầy con thơ dại.
Oanh ơi, những dòng hồi ức hôm nay cũng còn là những nén hương muộn màng mình thắp lên để nhớ đến Oanh, nhớ đến một quãng đời hai chúng ta cùng chung bước trải dài từ tuổi học trò cho đến khi vĩnh biệt.
Ngủ đi Oanh, hỡi bạn hiền, Ngủ cho say nhé, triền miên giấc nồng Chuông chùa vọng giữa thinh không Đưa hồn an lạc về vùng tịnh yên.
Ấu Oanh Hai mươi năm, ngày giỗ bạn, 21.6.1989 – 21.6.2009
Tiểu sử nhà văn Dương Hùng Cường
Sinh ngày 1-10-1934 tại Hà Nội, gia nhập Không Quân thụ huấn cơ khí viên tại Pháp năm 1953, trở thành hạ sĩ quan cơ khí phục vụ tại nhiều đơn vị. Từ giữa thập niên 1960 phục vụ tại Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Không Quân với cấp bậc Chuẩn Úy. Là một cây bút nổi tiếng trong giới văn nghệ, báo chí Sài Gòn, ông có 3 tác phẩm đã xuất bản: Lính Thành Phố, Buồn Vui Phi Trường và Vĩnh Biệt Phượng. Sau năm 1975, bị tù cải tạo tới năm 1979. Năm 1984, bị bắt giam với tội danh gián điệp do viết bài gửi ra nước ngoài và qua đời tại nhà tù T20 Phan Đăng Lưu, Gia Định năm 1987.