Cửu Bình: 8 – ĐCSTQ, một tà giáo về bản chất.

Cửu Bình: 8 – ĐCSTQ, một tà giáo về bản chất.

Tài liệu gốc: http://dajiyuan.com/gb/4/12/3/n735942.htm

0 – Dẫn nhập | 1 – Đảng cộng sản là gì? | 2 – Đảng cộng sản Trung Quốc xuất sinh như thế nào? | 3 – Chính quyền bạo lực của Đảng cộng sản Trung Quốc. | 4 – Đảng cộng sản, một lực lượng phản vũ trụ. | 5 – Giang Trạch Dân và Đảng cộng sản Trung Quốc lợi dụng lẫn nhau để đàn áp Pháp Luân Công. | 6 – Đảng cộng sản Trung Quốc phá hoại văn hoá dân tộc. | 7 – Lịch sử giết chóc của Đảng cộng sản Trung Quốc. | 8 – Bản chất tà giáo của Đảng cộng sản Trung Quốc. | 9 – Bản tính lưu manh của Đảng cộng sản Trung Quốc.

Lời mở đầu

 


Tranh cổ động, Cách mạng Văn hóa là một thời kỳ mà “Mặt trời đỏ nhất” trong khi “thế giới đen tối nhất”. Tất cả mọi người đều phải học các tác phẩm của Mao.

Sự sụp đổ của khối Xã hội Chủ nghĩa do Liên Xô dẫn đầu vào đầu những năm 90 đã đánh dấu sự thất bại của Chủ nghĩa Cộng sản sau gần một thế kỷ tồn tại. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) không ngờ đã sống sót và vẫn nắm quyền ở Trung Quốc, một đất nước với 1/5 dân số thế giới. Một câu hỏi tất yếu nảy sinh là: liệu ĐCSTQ ngày nay có còn thật sự đi theo Chủ nghĩa Cộng sản nữa hay không?

Bây giờ không một ai ở Trung Quốc, bao gồm cả các đảng viên, còn tin vào Chủ nghĩa Cộng sản. Sau 50 năm đi theo Chủ nghĩa Xã hội, ĐCSTQ bây giờ đã cho phép tư hữu hóa và thậm chí còn có thị trường chứng khoán. ĐCSTQ còn tìm kiếm đầu tư nước ngoài để thành lập các doanh nghiệp mới, trong khi bóc lột công nhân và nông dân đến mức tối đa. Điều này là hoàn toàn trái ngược với lý tưởng của Chủ nghĩa Cộng sản. Mặc dù đã thỏa hiệp với Chủ nghĩa Tư bản, ĐCSTQ vẫn duy trì quyền thống trị độc tài đối với nhân dân Trung Quốc. Hiến Pháp sửa đổi năm 2004 vẫn cứng ngắc tuyên bố rằng “Nhân dân các dân tộc Trung Quốc sẽ tiếp tục chấp hành chế độ chuyên chính dân chủ nhân dân và đường lối Xã hội Chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự dẫn lối của Chủ nghĩa Mác-xít-Lê-nin-nít, ý thức hệ của Mao Trạch Đông, lý luận của Đặng Tiểu Bình và tư tưởng quan trọng về ‘Ba Đại diện’…”

“Con báo đã chết, nhưng vẫn còn lưu lại bộ da” [1]. ĐCSTQ ngày nay chỉ còn lại “bộ da”. ĐCSTQ kế thừa bộ da này và dùng nó để duy trì quyền thống trị Trung Quốc.

Bản chất của bộ da mà ĐCSTQ kế thừa, hay tổ chức của ĐCSTQ là gì?

******************

I. Các đặc điểm mang tính giáo phái của ĐCSTQ

ĐCSTQ về bản chất là một tà giáo làm hại nhân loại

Mặc dù ĐCSTQ chưa bao giờ tự gọi mình là một tôn giáo nhưng nó có tất cả các đặc điểm của một tôn giáo (Bảng 1). Khi mới bắt đầu thành lập, nó coi chủ nghĩa Mác-xít là chân lý tuyệt đối trên thế giới. Nó sùng bái và tôn thờ Mác như vị thánh tinh thần của mình, và hô hào nhân dân tham gia vào một cuộc đấu tranh suốt cuộc đời vì mục đích là xây dựng một “thiên đường cộng sản trên thế giới”.

Bảng 1. Các đặc điểm mang tính tôn giáo của ĐCSTQ.

  Các hình thức cơ bản của một tôn giáo Các hình thức tương ứng của ĐCSTQ
1. Nhà thờ hay bục giảng. Tất cả các cấp ủy đảng; các bài diễn thuyết trong những buổi họp của đảng cho đến các phương tiện thông tin đại chúng đều bị ĐCSTQ kiểm soát.
2. Giáo lý. Chủ nghĩa Mác-xít – Lê-nin-nít, ý thức hệ của Mao Trạch Đông, lý luận của Đặng Tiểu Bình và tư tưởng ‘Ba Đại diện’ của Giang Trạch Dân và Hiến chương của Đảng.
3. Nghi lễ kết nạp, quy y. Buổi lễ tuyên thệ trung thành mãi mãi với ĐCSTQ.
4. Trung thành với một tôn giáo. Đảng viên chỉ được phép tin vào ĐCSTQ.
5. Chức sắc: linh mục, thượng toạ, … Bí thư và nhân viên phụ trách công tác đảng ở các cấp.
6. Thờ Thần, Phật, … Báng bổ tất cả các vị thần và sau đó tự suy tôn mình thành một “vị thần” vô danh.
7. Chết được gọi là “đi lên thiên đường hoặc xuống địa ngục”. Chết được gọi là “đi gặp Các-Mác”.
8. Kinh sách. Học thuyết và các bài viết của những người lãnh đạo đảng.
9. Giảng đạo. Các thể loại họp hành và phát biểu của lãnh đạo.
10. Tụng kinh; học và trau dồi kinh sách. Học chính trị, họp nhóm thường kỳ hoặc các hoạt động của các đảng viên.
11. Thánh ca. Các bài hát ca ngợi đảng.
12. Đóng phí. Đảng phí bắt buộc; phân bổ ngân sách nhà nước một cách bắt buộc cho đảng từ mồ hôi và máu của nhân dân.
13. Giới luật, kỷ luật. Kỷ luật đảng bao gồm “quản thúc và điều tra tại nhà” và “khai trừ ra khỏi đảng” cho đến các thủ đoạn tra tấn chết người và thậm chí trừng phạt cả người thân và bạn bè.

ĐCSTQ rất khác biệt với bất cứ một chính giáo nào. Tất cả các chính giáo đều tin vào Thần và từ bi, và có sứ mệnh khuyên bảo con người duy trì đạo đức và cứu rỗi linh hồn. ĐCSTQ không tin vào Thần và đi ngược lại đạo đức truyền thống.

Những việc mà ĐCSTQ đã làm chứng tỏ rằng nó là một tà giáo. Học thuyết của ĐCSTQ dựa trên đấu tranh giai cấp, bạo lực cách mạng và chuyên chính vô sản và đã tạo ra cái gọi là “cách mạng vô sản” đầy máu và bạo lực. Khủng bố đỏ của Chủ nghĩa Cộng sản đã kéo dài khoảng một thế kỷ, đem đến tai họa cho hàng chục nước trên thế giới và cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu con người. Lý tưởng cộng sản đã tạo ra địa ngục trần gian và không có gì khác hơn là một tà giáo tà ác nhất trên thế giới.

Bản chất tà giáo của ĐCSTQ được tóm tắt dưới sáu mục sau:

1. Sự hình thành học thuyết và việc diệt trừ những người bất đồng chính kiến

ĐCSTQ lấy chủ nghĩa Mác-xít làm học thuyết tôn giáo và khoe trương nó như là “chân lý không thể phá vỡ.” Học thuyết của ĐCSTQ không có từ tâm và lòng khoan dung. Thay vào đó, nó mang đầy tính ngạo mạn. Chủ nghĩa Mác-xít là một sản phẩm của giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản khi năng suất lao động vẫn còn thấp và khoa học vẫn còn kém phát triển. Nó không hề có một hiểu biết đúng đắn về các mối quan hệ giữa con người và xã hội hay giữa con người và thiên nhiên. Không may là, tư tưởng dị giáo này đã phát triển thành một phong trào cộng sản quốc tế và đã làm hại nhân thế trong suốt hơn một thế kỷ, trước khi mọi người vứt bỏ nó sau khi đã phát hiện ra rằng trên thực tế nó hoàn toàn sai lầm.

Những người lãnh đạo đảng từ thời Lê-nin đã liên tục sửa đổi học thuyết của giáo phái đó. Từ lý luận của Lê-nin về bạo lực cách mạng cho đến học thuyết của Mao Trạch Đông về liên tục cách mạng dưới chế độ chuyên chính vô sản, đến “Ba đại diện” của Giang Trạch Dân, lịch sử của ĐCSTQ đầy rẫy những học thuyết và ảo tưởng dị giáo như thế. Mặc dù những học thuyết này đã liên tục gây ra những tai họa trên thực tế và tự bản thân chúng là mâu thuẫn lẫn nhau, nhưng ĐCSTQ vẫn tự tuyên bố rằng nó hoàn toàn đúng đắn và bắt buộc nhân dân phải học các học thuyết của nó.

Việc tiêu diệt những người bất đồng chính kiến là phương tiện hữu hiệu nhất để tà giáo cộng sản đó phổ biến học thuyết của nó. Bởi vì học thuyết và hành xử của tà giáo này quá lố bịch, ĐCSTQ phải bắt buộc nhân dân chấp nhận chúng, và dựa vào bạo lực để tiêu diệt những người bất đồng chính kiến. Sau khi ĐCSTQ giành được chính quyền ở Trung Quốc, nó bắt đầu việc thực hiện “cải cách ruộng đất” để tiêu diệt những người chủ sở hữu đất đai (địa chủ), “cải cách xã hội chủ nghĩa” trong công nghiệp và thương nghiệp để tiêu diệt các nhà tư sản, “phong trào tiêu diệt các phần tử phản động” để tiêu diệt những tôn giáo truyền thống và những người nắm quyền trước khi ĐCSTQ giành được chính quyền, “phong trào chống cánh hữu” để bịt miệng những người trí thức và “Đại Cách mạng Văn hóa” để tiêu diệt Văn hóa truyền thống dân tộc của Trung Quốc. ĐCSTQ có thể thống nhất Trung Quốc dưới tà giáo cộng sản và đạt được một tình thế mà trong đó tất cả mọi người đều phải đọc Sách Đỏ, nhảy “điệu trung thành” và “xin ý kiến chỉ đạo của đảng vào buổi sáng và báo cáo với đảng vào buổi tối.” Vào thời kỳ sau chế độ của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, ĐCSTQ cho rằng Pháp Luân Công, một phương pháp tu luyện truyền thống tin vào “Chân Thiện Nhẫn” sẽ cạnh tranh với đảng để thu hút quần chúng và do đó nó có ý định tiêu diệt Pháp Luân Công. Do đó nó đã bắt đầu một cuộc đàn áp mang tính diệt chủng đối với Pháp Luân Công cho đến tận bây giờ.

2. Đề cao việc tôn thờ lãnh tụ và các quan điểm tuyệt đối hóa

Từ Các-Mác cho đến Giang Trạch Dân, chân dung của những người lãnh đạo Đảng Cộng sản luôn luôn được treo lên để tôn thờ. Quyền lực tuyệt đối của những người lãnh đạo ĐCSTQ nghiêm cấm bất cứ một thách thức nào. Mao Trạch Đông được dựng lên làm “mặt trời đỏ” và “người giải phóng vĩ đại”. ĐCSTQ tán dương một cách lố bịch những bài viết của Mao Trạch Đông, nói rằng “một câu nói của Mao Trạch Đông bằng 10 nghìn câu của một người thường”. Với tư cách là “một đảng viên bình thường”, Đặng Tiểu Bình đã từng thống lĩnh chính trị Trung Quốc như một lãnh chúa. Học thuyết “Ba đại diện” của Giang Trạch Dân chỉ dài có hơn 40 chữ một chút cộng cả dấu chấm nhưng Phiên họp toàn thể lần thứ tư đã thổi phồng lên là “đem đến câu trả lời sáng tạo cho những vấn đề như chủ nghĩa xã hội là gì, làm thế nào để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta xây dựng loại đảng nào và xây dựng đảng như thế nào.” ĐCSTQ cũng tán dương thái quá về tư tưởng “Ba đại diện”, mặc dù trong trường hợp này thực chất là chế nhạo nó khi nói rằng nó là sự tiếp nối và phát triển của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Mao Trạch Đông và học thuyết Đặng Tiểu Bình.

Việc giết những người vô tội một cách vô nhân đạo của Xta-lin, “Đại Cách mạng Văn hóa” mang tính hủy diệt của Mao Trạch Đông, lệnh thảm sát các sinh viên trên quảng trường Thiên An Môn của Đặng Tiểu Bình và cuộc đàn áp Pháp Luân Công vẫn còn đang tiếp diễn của Giang Trạch Dân là những kết quả rùng rợn của chế độ độc tài tà giáo của ĐCSTQ.

Một mặt, ĐCSTQ ban hành Hiến Pháp, “Tất cả quyền lực trong Nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa thuộc về nhân dân. Các cơ quan mà thông qua đó nhân dân thực thi quyền lực nhà nước là Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp”. “Không có một tổ chức hay cá nhân nào được quyền đứng trên Hiến pháp và Pháp luật.” [2] Mặt khác, Hiến chương của ĐCSTQ tuyên bố rằng ĐCSTQ là nòng cốt lãnh đạo của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc, vượt trên cả đất nước và nhân dân. Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội đã có “những bài phát biểu quan trọng” trên khắp cả nước nói rằng Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước, phải tuân theo sự lãnh đạo của ĐCSTQ. Theo nguyên tắc “tập trung dân chủ” của ĐCSTQ, thì toàn đảng phải tuân theo Ban chấp hành Trung ương. Bản chất là, điều mà Quốc hội thực sự nhấn mạnh là quyền lực độc tài của Tổng Bí thư được bảo vệ dưới hình thức luật pháp.

3. Cưỡng bức tẩy não, kiểm soát tư tưởng, tổ chức nghiêm ngặt và không được ra khỏi đảng sau khi đã được kết nạp

Tổ chức của ĐCSTQ rất là nghiêm ngặt: cần phải có đủ giới thiệu của 2 đảng viên thì mới được kết nạp đảng; đảng viên mới phải thề trung thành với đảng mãi mãi sau khi được kết nạp; đảng viên phải đóng đảng phí, tham dự các hoạt động do đảng tổ chức, và tham gia học chính trị tập thể. Các tổ chức đảng xuyên suốt tất cả các cấp chính quyền. Các tổ chức địa phương của ĐCSTQ có mặt ở tất cả các làng, thị trấn… ĐCSTQ kiểm soát không chỉ các đảng viên và các công tác đảng mà cả những người không phải là đảng viên bởi vì toàn xã hội phải “tuân theo sự lãnh đạo của đảng”. Trong những năm khi mà các chiến dịch đấu tranh giai cấp đang diễn ra, các “linh mục” của tôn giáo ĐCSTQ, gọi là các bí thư ở tất cả các cấp thường là không biết chính xác là bản thân họ đang làm gì ngoài việc bắt mọi người phải tuân theo kỷ luật.

“Phê bình và tự phê bình” trong các cuộc họp đảng là biện pháp thường thấy và không bao giờ dứt nhằm kiểm soát tư tưởng của các đảng viên. Trong lịch sử, ĐCSTQ đã phát động nhiều phong trào để “thanh lọc các đảng viên”, “chỉnh đốn không khí đảng”, “bắt những kẻ phản bội”, “thanh trừ những người chống bôn-sê-vích (AB đoàn) [3]” và “đề cao kỷ luật đảng”, định kỳ thử thách “ý thức về đảng tính” – có nghĩa là dùng bạo lực và khủng bố để thử thách sự tận tụy của các đảng viên đối với đảng đồng thời đảm bảo rằng họ sẽ mãi mãi trung thành với đảng.

Việc gia nhập ĐCSTQ cũng tương tự như là ký một hợp đồng bán cả thể xác và linh hồn mà không thể hủy bỏ. Kỷ luật đảng luôn luôn đứng trên pháp luật của nhà nước, ĐCSTQ có thể tùy ý khai trừ ra khỏi đảng bất cứ một đảng viên nào trong khi các đảng viên thì lại không thể ra khỏi đảng mà không bị trừng phạt nghiêm trọng. Việc xin ra khỏi đảng bị coi là không trung thành và sẽ đưa đến những hậu quả tai hại. Trong thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa khi giáo phái ĐCSTQ nắm quyền lực tuyệt đối, ai cũng biết rằng nếu đảng muốn ai phải chết thì người đó sẽ không thể sống, nếu đảng muốn ai phải sống thì người đó không được phép chết. Nếu một người mà tự tử thì người đó sẽ bị dán nhãn là “sợ bị nhân dân trừng phạt vì những tội lỗi của mình” và người nhà của họ cũng sẽ bị liên lụy và bị trừng phạt.

Quá trình ra quyết định trong đảng hoạt động như một hộp đen và các cuộc đấu tranh trong nội bộ đảng phải được giữ bí mật tuyệt đối. Tất cả các tài liệu của đảng đều là bí mật. Sợ bị nhân dân phát hiện ra các hành động tội ác của mình, ĐCSTQ thường xuyên xử lý những người bất đồng chính kiến bằng cách gán cho họ tội “tiết lộ bí mật quốc gia”.

4. Kích động bạo lực, tàn sát và hy sinh cho đảng

Mao Trạch Đông nói, “Một cuộc cách mạng không phải là một bữa tiệc tối, hay viết một bài văn, hay vẽ một bức tranh, hay là làm công việc thêu thùa; nó không thể tao nhã như vậy, nhẹ nhàng và nhàn hạ như vậy, ôn hòa, tử tế, lịch thiệp, dè dặt và cao thượng như vậy. Một cuộc cách mạng là một cuộc nổi dậy, một hành động bạo lực mà nhờ đó giai cấp này lật đổ giai cấp khác.”[4]

Đặng Tiểu Bình nói, “Giết chết 200 nghìn người để đổi lấy 20 năm ổn định”.

Giang Trạch Dân ra lệnh, “Hủy hoại thân thể (các học viên Pháp Luân Công), bôi nhọ thanh danh, vắt kiệt tài chính.”

ĐCSTQ đã kích động bạo lực và giết chết vô số người trong suốt các phong trào chính trị trước kia của nó. Nó giáo dục nhân dân phải đối xử với kẻ thù “lạnh lùng như mùa đông khắc nghiệt”. Lá cờ đỏ được lấy màu đỏ để tượng trưng cho sự “nhuộm máu của những người cảm tử.” ĐCSTQ tôn thờ màu đỏ bởi vì nó khát máu và tàn sát.

ĐCSTQ thường nêu cao những tấm gương anh hùng để khuyến khích mọi người hy sinh cho đảng. Khi Trương Tư Đức chết trong lúc đang làm việc trong lò sản xuất thuốc phiện, Mao Trạch Đông đã ca ngợi cái chết đó là “nặng như Núi Thái sơn [5].” Trong những năm điên cuồng đó, “những lời dũng cảm” như “Không sợ gian khổ hy sinh” và “Sự hy sinh cay đắng làm mạnh thêm quyết tâm táo bạo; chúng ta dám làm mặt trời và mặt trăng chiếu sáng những khung trời mới” đã đem lại khát vọng trong khi thiếu thốn trầm trọng về mặt vật chất.

Vào cuối những năm 70, Đảng Cộng sản Việt Nam đưa quân đi lật đổ chế độ Khơ me Đỏ do ĐCSTQ ủng hộ và gây ra các tội ác tầy trời. Mặc dù ĐCSTQ rất điên tiết nhưng lại không thể đưa quân đến hỗ trợ Khơ me Đỏ vì Trung Quốc và Cam-pu-chia không có chung đường biên giới. Thay vào đó, ĐCSTQ đã bắt đầu một cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam dọc biên giới Việt-Trung để trừng phạt Cộng sản Việt Nam dưới chiêu bài “tự vệ”. Hàng chục nghìn lính Trung Quốc vì đó mà đã hy sinh cả máu và mạng sống của mình cho cuộc chiến tranh giữa các đảng cộng sản. Những cái chết của họ trên thực tế là không liên quan gì đến lãnh thổ và chủ quyền. Vậy mà, vài năm sau, ĐCSTQ lại còn trâng tráo gợi nhớ lại sự hy sinh vô nghĩa của bao nhiêu thanh niên khờ dại như là “tinh thần anh hùng cách mạng”, mượn lời từ bài hát “hành động đẹp đẽ nhuộm máu”. Mặc dù 154 lính cảm tử của Trung Quốc đã chết năm 1981 trong khi chiếm lại đỉnh núi Faka ở tỉnh Quảng Tây, nhưng ĐCSTQ đã tùy tiện trả nó lại cho Việt Nam khi hai bên phân định lại đường biên giới.

Khi bệnh dịch SARS đang đe dọa tính mạng của nhân dân hồi đầu năm 2003, ĐCSTQ sẵn sàng nhận thêm các nữ y tá trẻ. Những nữ y tá này sau đó đã nhanh chóng bị bắt buộc phải ở lại trong các bệnh viện để chăm sóc những bệnh nhân SARS. ĐCSTQ đã đẩy những người còn trẻ tuổi vào những nơi nguy hiểm nhất để tạo dựng “hình ảnh vinh quang” “không sợ gian khổ hy sinh” của đảng. Tuy nhiên, ĐCSTQ đã không có lời giải thích nào về việc những người khác trong số 65 triệu đảng viên hiện thời đã ở đâu vào lúc đó và họ đã đem lại hình ảnh như thế nào cho ĐCSTQ.

5. Phủ định đức tin vào thần thánh và bóp chết bản tính con người

ĐCSTQ truyền bá tư tưởng vô thần và nói rằng tôn giáo là “thuốc phiện tinh thần” có thể đầu độc con người. Nó dùng quyền lực của mình để đè bẹp tất cả các tôn giáo ở Trung Quốc và sau đó tự phong thần cho mình, trao quyền lực tuyệt đối cai trị đất nước cho giáo phái ĐCSTQ.

Cùng lúc với việc ĐCSTQ đàn áp các tôn giáo, nó cũng phá hoại văn hóa truyền thống. Đảng nói rằng truyền thống, đạo đức và luân lý là phong kiến, mê tín và phản động và tiêu hủy tất cả dưới danh nghĩa cách mạng. Trong thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa, các hiện tượng xấu tràn lan đi ngược lại truyền thống của Trung Quốc, như vợ chồng tố cáo lẫn nhau, học sinh đánh các thầy cô giáo, bố con thù địch nhau, hồng vệ binh bừa bãi giết hại những người dân thường vô tội, và quân nổi loạn đánh đập, đập phá và cướp bóc. Đây là những hậu quả tất yếu của việc ĐCSTQ bóp chết bản tính con người.

Sau khi thành lập chế độ, ĐCSTQ đã bắt buộc các dân tộc thiểu số phải cam kết trung thành với sự lãnh đạo của ĐCSTQ, làm tổn hại nền văn hóa dân tộc lâu đời giàu có và đa sắc màu của họ.

Ngày 4/6/1989, cái gọi là “Quân đội Giải phóng Nhân dân” đã thảm sát rất nhiều sinh viên ở Bắc Kinh. Vụ việc này đã làm cho người dân Trung Quốc mất hết hy vọng vào tương lai chính trị của Trung Quốc. Từ đó trở đi, nhân dân chỉ còn tập trung vào việc kiếm tiền. Từ năm 1999 cho đến nay, ĐCSTQ đã đàn áp rất dã man đối với các học viên Pháp Luân Công, và đã đi ngược lại với “Chân Thiện Nhẫn”. Từ đó Đảng đã gây ra một sự suy đồi nhanh chóng về chuẩn mực đạo đức.

Kể từ khi bắt đầu thế kỷ mới này, một chiến dịch mới, bất hợp pháp thu hồi đất đai và chiếm đoạt tiền của đã làm cho rất nhiều người dân trở nên bần cùng và vô gia cư. Số người kháng nghị lên chính quyền đòi giải quyết những bất công mà họ phải gánh chịu đã tăng đột biến và xung đột xã hội đã gia tăng. Những cuộc biểu tình phản đối trên diện rộng diễn ra thường xuyên, và đã bị cảnh sát và quân đội đàn áp rất dã man. Bản tính phát-xít của “Nhà nuớc Cộng hòa” đã trở nên rõ rệt, và xã hội đã mất đi chuẩn mực đạo đức và lương tâm.

Trước kia, một kẻ ác không bao giờ làm hại hàng xóm láng giềng, hay, “cáo chỉ săn mồi ở xa nhà”. Bây giờ, khi mọi người muốn lừa đảo ai đó, họ sẽ nhằm vào họ hàng và bè bạn của chính mình và điều đó được gọi là “càng quen càng lèn cho đau”.

Trong qua khứ, người dân Trung Quốc quý trọng chữ trinh hơn tất cả mọi thứ khác, còn ngày nay mọi người khinh người nghèo chứ không khinh gái bán dâm. Quá trình hủy hoại nhân tính và đạo đức ở Trung Quốc đã được mô tả sống động trong các câu sau:

“Trong những năm 50 mọi người giúp đỡ lẫn nhau,
Trong những năm 60 mọi người đấu tranh với nhau,
Trong những năm 70 mọi người lừa đảo lẫn nhau,
Trong những năm 80 mọi người chỉ lo cho chính mình,
Trong những năm 90 mọi người lợi dụng bất cứ ai mà họ gặp”.

6. Dùng quân đội để chiếm quyền lực, độc quyền hóa nền kinh tế và các tham vọng điên cuồng về chính trị và kinh tế

Mục đích duy nhất của việc thành lập ĐCSTQ là để cướp chính quyền bằng bạo lực và sau đó tạo ra một hệ thống sở hữu nhà nước trong đó nhà nước nắm giữ độc quyền trong nền kinh tế bao cấp. Tham vọng điên cuồng của ĐCSTQ đã vượt xa các tà giáo khác mà thông thường chỉ có mục đích trục lợi.

Trong một đất nước sở hữu công cộng xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản nắm quyền, các tổ chức đảng có quyền lực rất lớn, có nghĩa là các chi bộ đảng ở các cấp nắm quyền hoặc sở hữu các cơ sở hạ tầng của nhà nước. Các tổ chức đảng kiểm soát bộ máy nhà nước và rút tiền trực tiếp từ ngân sách của nhà nước ở các cấp. Như một con ma cà rồng, ĐCSTQ đã hút một lượng tiền của khổng lồ của đất nước.

******************

II. Những tàn phá mà giáo phái Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã gây ra

Khi những vụ như giáo phái Aum Shinri Kyo (Chân lý tối thượng) giết người bằng khí độc hủy hoại thần kinh sa-rin, những người theo giáo phái Ngôi chùa Mặt trời tự sát để đi lên thiên đường, hay vụ tự sát tập thể của hơn 900 người theo giáo phái “Ngôi chùa của mọi người” do Jim Jones lập ra được nhắc đến, tất cả mọi người đều run lên vì sợ và căm phẫn. Tuy nhiên, ĐCSTQ là một tà giáo đã gây ra những tội ác còn rùng rợn hơn gấp hàng nghìn lần, làm hại tính mạng của không biết bao nhiêu người. Điều này là bởi vì ĐCSTQ có những đặc tính duy nhất sau đây mà một tà giáo bình thường không có.

Tà giáo ĐCSTQ đã trở thành một quốc giáo

Ở phần lớn các nước khác, nếu ai đó không theo một tôn giáo nào đó thì người đó vẫn có thể có một cuộc sống hạnh phúc với đầy đủ nhân quyền mà không phải đọc những kinh sách hay nghe những giáo lý của tôn giáo đó. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, người ta không thể sống ở đó mà không phải thường xuyên bị nhồi nhét vào đầu những học thuyết và tuyên truyền của giáo phái ĐCSTQ bởi vì tà giáo ĐCSTQ đã tự biến mình thành một quốc giáo kể từ khi nó cướp được chính quyền.

ĐCSTQ bắt đầu nhồi nhét những học thuyết chính trị của nó vào đầu mọi người kể từ khi họ còn ở trong trường mẫu giáo và tiểu học. Người ta không thể được học cao hơn hay được thăng chức nếu không vượt qua được môn thi về chính trị. Không một câu hỏi nào trong môn thi chính trị cho phép người thi được suy nghĩ độc lập. Những người thi bắt buộc phải ghi nhớ các câu trả lời mẫu của ĐCSTQ nếu muốn thi đỗ. Những người dân Trung Quốc không may mắn bị bắt buộc phải nhắc lại những giáo huấn của ĐCSTQ từ khi họ còn nhỏ, bị buộc phải liên tục tự tẩy não mình. Khi một cán bộ được thăng chức trong cơ quan nhà nước, bất kể người đó có phải là đảng viên ĐCSTQ hay không, họ bắt buộc phải học chính trị về đảng cộng sản. Người đó sẽ không được thăng chức nếu không đạt yêu cầu tốt nghiệp của học viện chính trị.

Ở Trung Quốc, nơi mà ĐCSTQ là quốc giáo, những người bất đồng quan điểm không được phép tồn tại. Thậm chí “các đảng dân chủ” do ĐCSTQ dựng lên để làm bình phong chính trị và “Nhà thờ Tam tự” (có nghĩa là tự quản, tự lực và tự phát triển) cũng bắt buộc phải chính thức công nhận vai trò lãnh đạo của ĐCSTQ. Trung thành với ĐCSTQ là điều kiện tiên quyết trước khi người dân muốn theo bất cứ một tín ngưỡng nào khác, theo như điều kiện bắt buộc của giáo phái ĐCSTQ.

Kiểm soát xã hội một cách cực đoan

Tà giáo này có thể trở thành quốc giáo là vì ĐCSTQ có toàn quyền kiểm soát đối với toàn bộ xã hội và cướp đi quyền tự do của nhân dân. Kiểu kiểm soát này là chưa từng có trong lịch sử từ trước đến nay, bởi vì ĐCSTQ đã cướp đi của nhân dân tài sản riêng, trong khi tư hữu là một nền tảng của tự do. Trước những năm 80, người dân ở các khu vực thành thị chỉ có thể kiếm sống bằng cách làm việc trong một cơ quan do ĐCSTQ kiểm soát. Nông dân ở nông thôn phải sống dựa vào đất nông nghiệp thuộc quyền sở hữu của các hợp tác xã của ĐCSTQ. Không ai có thể thoát khỏi tầm kiểm soát của ĐCSTQ. Trong một đất nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, các tổ chức của đảng cộng sản có mặt ở khắp nơi – từ chính quyền trung ương cho đến địa phương bao gồm cả các làng xã và khu phố. Thông qua các đảng bộ của ĐCSTQ ở tất cả các cấp, ĐCSTQ duy trì quyền kiểm soát tuyệt đối đối với xã hội. Việc kiểm soát chặt chẽ đến như vậy đã hoàn toàn bóp nghẹt quyền tự do cá nhân – quyền tự do đi lại (thông qua hệ thống đăng ký hộ khẩu hộ tịch), quyền tự do ngôn luận (500 nghìn người hữu khuynh đã bị đàn áp trong lịch sử chỉ bởi vì họ đã thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình), quyền tự do tư tưởng (Lâm Chiêu và Trương Chí Tân [7] đã bị tử hình vì nghi ngờ ĐCSTQ) và quyền tự do về thông tin (đọc sách “cấm” hay nghe đài “địch” bị coi là phạm pháp; vào Internet cũng bị theo dõi).

Người ta có thể nói rằng hiện nay ĐCSTQ đã cho phép tư hữu cá nhân nhưng chúng ta không nên quên rằng chính sách cải cách và mở cửa này chỉ được đưa ra khi chủ nghĩa xã hội đã đến lúc mà nhân dân đã không còn đủ ăn và nền kinh tế của đất nước đã ở bên bờ sụp đổ. ĐCSTQ đã phải lùi một bước để tự cứu mình khỏi bị sụp đổ. Tuy nhiên, ngay cả sau khi cải cách và mở cửa, ĐCSTQ cũng vẫn chưa bao giờ nới lỏng việc kiểm soát nhân dân của nó. Cuộc đàn áp dã man đối với các học viên Pháp Luân Công đang diễn ra chỉ có thể xảy ra ở một đất nước do đảng cộng sản thống trị. Một khi ĐCSTQ đã trở thành một thế lực kinh tế, điều không tránh được là ĐCSTQ sẽ củng cố việc kiểm soát của nó đối với nhân dân Trung Quốc.

Chủ trương dùng bạo lực và coi thường mạng sống

Hầu như tất cả các tà giáo đều điều khiển những tín đồ hoặc chống lại các áp lực bên ngoài thông qua con đường bạo lực. Tuy nhiên, chỉ có một vài tà giáo đã từng viện đến các phương tiện bạo lực đến một cấp độ như ĐCSTQ đã từng làm mà không hề hối hận. Thậm chí tổng số người đã bị chết vì tất cả các tà giáo khác trên thế giới cũng không thể so sánh được với số người đã bị ĐCSTQ giết hại. Giáo phái ĐCSTQ coi con người chỉ như là một phương tiện để đạt được mục đích của mình và giết chóc chỉ là một phương tiện khác. Do đó, ĐCSTQ đã không đắn đo ngần ngại gì trong việc đàn áp nhân dân. Bất cứ một ai kể cả những người ủng hộ đảng, các đảng viên và những người lãnh đạo của ĐCSTQ đều có thể trở thành mục tiêu đàn áp của chính ĐCSTQ.

ĐCSTQ ủng hộ Khơ-me Đỏ, một trường hợp điển hình của sự tàn bạo và coi rẻ nhân mạng của đảng cộng sản. Nhờ cảm hứng và chỉ đạo của Mao Trạch Đông mà chỉ trong vòng có 3 năm 8 tháng cầm quyền, Đảng Cộng sản Cam-pu-chia do Pol Pot cầm đầu đã giết chết 2 triệu người – khoảng một phần tư dân số của đất nước nhỏ bé này – nhằm “phá bỏ hệ thống tư hữu”. Trong tổng số người chết có hơn 200 nghìn người gốc Hoa.

Để ghi lại những tội ác của Đảng Cộng sản và tưởng niệm các nạn nhân, Cam-pu-chia đã thành lập một viện bảo tàng để ghi lại và trưng bày sự tàn bạo của Khơ-me Đỏ. Viện bảo tàng này được đặt tại một nhà tù cũ của Khơ-me Đỏ. Đầu tiên nó là một trường học bị Pol-Pot dùng làm Nhà tù S-21 để đối phó đặc biệt với các tù nhân gan dạ. Rất nhiều trí thức đã bị giam giữ ở đó và bị tra tấn đến chết. Cùng được trưng bày với các bức tường nhà tù và các loại dụng cụ tra tấn là các bức ảnh đen trắng của những nạn nhân trước lúc họ bị giết chết. Có rất nhiều cách tra tấn đã được ghi lại như cắt cổ, khoan sọ, trẻ em bị ném xuống đất và bị giết chết v.v… Được biết là tất cả các cách tra tấn này đều được “các chuyên gia và các kỹ thuật viên chuyên nghiệp” do ĐCSTQ gửi đến để hỗ trợ Khơ-me Đỏ truyền dạy. ĐCSTQ thậm chí còn đào tạo những người chụp ảnh để chuyên chụp ảnh các tù nhân trước lúc họ bị giết chết để lưu lại làm hồ sơ hoặc là để giải trí.

Chính tại Nhà tù S-21 này, một chiếc máy khoan sọ người đã được thiết kế để lấy não người làm thức ăn bổ dưỡng cho những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Cam-pu-chia. Những tù nhân gan dạ bị trói vào một chiếc ghế đặt trước chiếc máy khoan sọ người. Nạn nhân sẽ phải chịu đựng nỗi sợ hãi đến tột cùng khi chiếc mũi khoan quay nhanh chọc thủng sọ từ phía sau gáy và lấy não ra một cách nhanh chóng trước khi nạn nhân chết.

******************

III. Bản chất tà giáo của Đảng Cộng sản

Điều gì đã khiến cho Đảng Cộng sản tà ác và hung bạo như vậy? Khi bóng ma của Đảng Cộng sản đến thế giới này, nó đã mang theo một sứ mệnh lạnh gáy. Bản tuyên ngôn Cộng sản có một đoạn rất nổi tiếng là:

Những người Cộng sản không thèm che đậy mục đích và quan điểm của mình. Họ công khai tuyên bố rằng các mục đích cuối cùng của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực để lật đổ tất cả các điều kiện xã hội hiện có. Hãy để cho các giai cấp thống trị run sợ vì cách mạng vô sản. Những người vô sản không có gì để mất ngoài xiềng xích của mình. Họ có cả thế giới để chinh phục.

Sứ mệnh của bóng ma này là dùng bạo lực để công khai thách thức xã hội loài người, để đập nát thế giới cũ, “để tiêu diệt quyền tư hữu cá nhân”, “để tiêu diệt đặc điểm, sự độc lập và tự do của giai cấp tư sản”, để chấm dứt sự bóc lột, để tiêu diệt các gia đình, và để những người vô sản thống trị thế giới.

Cái đảng chính trị công khai tuyên bố ước muốn “đánh đập, tàn phá và cướp bóc” này không những đã không thừa nhận rằng quan điểm của nó là tà ác, mà còn tự cho mình là đúng khi tuyên bố trong Bản tuyên ngôn Cộng sản rằng “Cách mạng vô sản là sự dứt bỏ cơ bản nhất khỏi các mối quan hệ truyền thống; không ngạc nhiên rằng sự phát triển của nó liên quan đến sự dứt bỏ cơ bản nhất khỏi các tư tưởng truyền thống.”

Các tư tưởng truyền thống là từ đâu đến? Chiểu theo quy luật tự nhiên theo quan điểm vô thần, các tư tưởng truyền thống đến một cách tự nhiên từ các quy luật tự nhiên và xã hội. Chúng là kết quả của các vận động có hệ thống của vũ trụ. Tuy nhiên, theo những người có đức tin vào thần thánh thì truyền thống và các chuẩn mực đạo đức của nhân loại là do thần thánh truyền cho con người. Bất kể là xuất phát từ đâu, chuẩn mực tối căn bản của đạo đức nhân loại, các quy tắc hành xử, và tiêu chuẩn để phân biệt tốt xấu là tương đối ổn định; nó là cơ sở cho việc hành xử của con người và duy trì trật tự xã hội trong hàng nghìn năm qua. Nếu nhân loại đánh mất đi các chuẩn mực đạo đức và tiêu chuẩn để phân biệt tốt xấu thì chẳng phải là con người sẽ suy thoái trở thành động vật hay sao? Khi Bản tuyên ngôn Cộng sản tuyên bố rằng nó sẽ “dứt bỏ từ căn bản khỏi các tư tưởng truyền thống”, nó đã đe dọa đến cơ sở cho sự tồn tại bình thường của xã hội nhân loại. Đảng cộng sản có khuynh hướng trở thành một tà giáo đem đến sự hủy diệt cho loài người.

Toàn bộ văn kiện của Bản tuyên ngôn Cộng sản đã đưa ra các nguyên tắc chỉ đạo cho đảng cộng sản tràn đầy những tuyên bố cực đoan mà không có một chút tử tế và khoan dung nào. Các-Mác và Ăng-ghen nghĩ rằng họ đã tìm ra quy luật phát triển xã hội thông qua chủ nghĩa duy vật biện chứng. Do đó, với “chân lý” trong tay, họ đã nghi ngờ tất cả và phủ định tất cả. Họ đã ngang bướng áp đặt Chủ nghĩa Cộng sản đầy ảo tưởng lên nhân dân và đã không ngần ngại trong chủ trương dùng bạo lực để phá hoại các cấu trúc xã hội và nền tảng văn hóa hiện có. Bản tuyên ngôn Cộng sản được nhồi nhét vào Đảng Cộng sản vừa mới ra đời là một bóng ma tà ác chống lại đạo trời, hủy hoại nhân tính, ngạo mạn, cực kỳ ích kỷ và tuyệt đối không còn kiêng nể gì nữa.

******************

IV. Lý thuyết về ‘ngày tận thế’ của Đảng cộng sản – Nỗi lo sợ về ngày tàn của Đảng

Các-Mác và Ăng-ghen đã tiêm nhiễm một bóng ma tà ác vào trong Đảng Cộng sản. Lê-nin thành lập Đảng Cộng sản ở Nga và, thông qua con đường bạo lực của những kẻ lưu manh vô lại, ông ta đã lật đổ chính phủ chuyển tiếp được thành lập sau Cách mạng tháng Hai, [8] bỏ dở cách mạng tư sản ở Nga, cướp chính quyền, và đã giành được một chỗ đứng cho giáo phái Cộng sản. Tuy nhiên, sự thành công của Lê-nin đã không giúp được những người vô sản chinh phục thế giới. Hoàn toàn ngược lại, như trong đoạn đầu tiên của Bản tuyên ngôn Cộng sản đã nói, “Tất cả mọi quyền lực của cựu châu Âu đã vào tay một liên minh thần thánh để xua đuổi bóng ma này…” Sau khi ra đời, Đảng Cộng sản đã ngay lập tức phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng về sự tồn vong của nó và luôn luôn lo sợ bị tiêu diệt bất cứ lúc nào.

Sau Cách mạng tháng Mười [9], những người Cộng sản Nga hay còn gọi là Bôn-sê-vích, đã không đem lại cho nhân dân hòa bình hay bánh mì, mà chỉ là việc giết người bừa bãi. Tiền tuyến thì đang thua trận còn cuộc cách mạng thì đã làm cho nền kinh tế của xã hội trở nên tồi tệ. Do đó, nhân dân đã bắt đầu nổi dậy. Cuộc nội chiến đã nhanh chóng lan ra toàn bộ đất nước và những người nông dân đã từ chối không cung cấp lương thực cho các thành phố. Bạo loạn đã xảy ra ở khắp nơi giữa những người Cô-giắc ở gần sông Đông; cuộc chiến đấu của họ với Hồng Quân đã gây ra đổ máu tàn khốc. Bản chất man rợ và tàn bạo của cuộc tàn sát diễn ra trong cuộc chiến này có thể được nhìn thấy qua các tác phẩm văn học như “Sông Đông êm đềm” của Sô-lô-khốp và các tuyển tập truyện Sông Đông khác của ông. Đội quân do nguyên đô đốc Aleksandr Vailiyevich Kolchak và tướng Anton Denikin của Bạch quân lãnh đạo đã có lúc gần như lật đổ được Đảng Cộng sản Nga. Thậm chí với tư cách là một lực lượng chính trị mới ra đời, Đảng Cộng sản đã bị hầu như toàn bộ đất nước phản đối, có thể là do giáo phái cộng sản quá tà ác nên đã không thể chiếm được lòng dân.

Tình thế của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng tương tự như Đảng Cộng sản Nga. Từ “Sự kiện Mari” và “Cuộc thảm sát ngày 12 tháng Tư” [10] cho đến việc bị trấn áp năm lần ở những khu vực do những người Cộng sản Trung Quốc kiểm soát, và cuối cùng là việc bị bắt buộc phải thực hiện một cuộc “Trường Chinh” dài 25 nghìn cây số – ĐCSTQ đã luôn luôn phải đối mặt với sự khủng hoảng bị tiêu diệt.

Đảng Cộng sản được thành lập với một quyết tâm phá hủy thế giới cũ bằng mọi phương tiện. Sau đó chính nó đã phải đối mặt với một vấn đề nghiêm trọng: làm sao để sống sót mà không bị tiêu diệt. Đảng Cộng sản đã luôn luôn phải sống trong một tình thế là luôn luôn lo sợ bị diệt trừ. Sống sót đã trở thành mối lo sợ hàng đầu, là điều luôn luôn ám ảnh giáo phái Cộng sản. Với việc Liên minh Cộng sản Quốc tế đã tan rã, cuộc khủng hoảng mang tính sống còn của ĐCSTQ đã trở nên tồi tệ hơn. Kể từ năm 1989 cho đến nay, nỗi sợ hãi về ngày tàn của nó đã trở nên hiện thực hơn bao giờ hết khi mà ngày tàn của nó càng ngày càng đến gần.

******************

V. “Bảo bối” để duy trì sự sống của tà giáo cộng sản – đấu tranh tàn bạo

Đảng Cộng sản luôn luôn nhấn mạnh kỷ luật thép, sự trung thành tuyệt đối và các nguyên tắc của tổ chức. Những người ra nhập ĐCSTQ bắt buộc phải thề, “Tôi muốn ra nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, ủng hộ hiến chương của Đảng, tuân theo Điều lệ của Đảng, hoàn thành các nghĩa vụ của đảng viên, thi hành các quyết định của Đảng, nghiêm chỉnh tuân theo các kỷ luật của Đảng, gìn giữ các bí mật của Đảng, trung thành với Đảng, làm việc chăm chỉ, cống hiến toàn bộ cuộc đời mình cho Chủ nghĩa Cộng sản, sẵn sàng hy sinh tất cả cho Đảng và nhân dân, và không bao giờ phản bội Đảng.” (Xem Hiến chương của ĐCSTQ, Chương 1, Điều 6)

ĐCSTQ gọi tinh thần hiến dâng cho Đảng giống như trong các giáo phái này là “ý thức về Đảng tính”. Nó yêu cầu các đảng viên phải luôn luôn sẵn sàng vứt bỏ tất cả các niềm tin và nguyên tắc của cá nhân và phải tuyệt đối tuân theo ý muốn của Đảng và ý muốn của lãnh đạo đảng. Nếu Đảng muốn đảng viên làm người tốt thì đảng viên phải là người tốt; nếu Đảng muốn đảng viên hành ác thì đảng viên phải hành ác. Nếu không đảng viên đó sẽ không đạt tiêu chuẩn để làm một thành viên của Đảng, và chưa thể hiện được một “ý thức về đảng tính” mạnh mẽ.

Mao Trạch Đông nói, “Triết học Mác-xít là triết học đấu tranh”. Để nuôi dưỡng và duy trì “ý thức về đảng tính”, ĐCSTQ dựa vào cơ chế đấu tranh định kỳ trong Đảng. Thông qua việc thường xuyên huy động các cuộc đấu tranh tàn bạo ở trong và ngoài Đảng, ĐCSTQ đã tiêu diệt những người bất đồng chính kiến và tạo ra sự khủng bố Đỏ. Đồng thời, ĐCSTQ liên tục khai trừ đảng viên, làm cho các nội quy kiểu giáo phái của nó trở nên chặt chẽ hơn, và nuôi dưỡng năng khiếu của các đảng viên đối với “đảng tính” để tăng cường khả năng chiến đấu của Đảng. Đây là một “bảo bối” mà ĐCSTQ dùng để kéo dài mạng sống của nó.

Trong số các lãnh đạo của ĐCSTQ, Mao Trạch Đông là người lão luyện nhất trong việc dùng thứ “bảo bối” này trong cuộc đấu tranh tàn bạo trong Đảng. Sự tàn bạo của cuộc đấu tranh kiểu như thế và sự độc ác của các thủ đoạn của nó đã bắt đầu từ những năm 1930 trong những khu vực do những người cộng sản Trung Quốc kiểm soát, trong những cái gọi là “Khu vực Xô-viết”.

Vào năm 1930, Mao Trạch Đông đã khởi xướng một cuộc khủng bố cách mạng toàn diện trong Khu vực Xô-viết ở tỉnh Giang Tây, được biết đến như một cuộc truy quét những người chống lại Bôn-sê-vích (AB đoàn). Hàng nghìn lính Hồng quân, các Đảng viên, Đoàn viên và dân thường ở trong những căn cứ cộng sản đã bị giết chết rất dã man. Sự kiên đó xảy ra là do quyền độc tài của Mao Trạch Đông. Sau khi Mao Trạch Đông thành lập Khu vực Xô-viết ở Giang Tây, không lâu sau đó ông ta đã gặp phải thách thức từ các tổ chức Đảng và Hồng quân địa phương ở khu vực tây nam tỉnh Giang Tây do Lý Văn Lâm lãnh đạo. Mao Trạch Đông không thể chấp nhận bất cứ một lực lượng đối lập có tổ chức nào ở ngay trước mũi mình và ông ta đã dùng các biện pháp cực đoan nhất để đàn áp các đảng viên mà ông ta nghi ngờ là những người bất đồng chính kiến. Để tạo ra một bầu không khí khủng bố cho cuộc đàn áp, Mao Trạch Đông đã không ngần ngại bắt đầu bằng đội quân trực tiếp dưới quyền chỉ huy của ông ta. Từ cuối tháng 11 cho đến giữa tháng 12, Hồng quân tiền tuyến đã đi qua một “cuộc truy quét nhanh”. Các tổ chức chuyên đàn áp những người chống cách mạng đã được thành lập ở tất cả các cấp trong quân đội bao gồm sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, và trung đội, bắt bớ và giết chết những đảng viên xuất thân từ những gia đình địa chủ hay nông dân giàu có và những người dám phàn nàn. Trong vòng chưa đầy một tháng, trong số hơn 40 nghìn lính Hồng quân, đã có 4.400 người bị cho là các phần tử AB đoàn bao gồm cả hơn 10 đội trưởng (đội trưởng AB đoàn); tất cả đều đã bị tử hình. [3]

Trong thời kỳ tiếp theo, Mao Trạch Đông bắt đầu trừng phạt những người bất đồng chính kiến ở trong Khu vực Xô-viết. Trong tháng 12 năm 1930, ông ta đã ra lệnh cho Lý Thiều Cửu, Tổng bí thư Tổng cục Chính trị của Hồng quân tiền tuyến và Chủ tịch Ủy ban Thanh trừng đại diện cho Tổng ủy Biên giới và đi đến thị trấn Phú Điền ở tỉnh Giang Tây nơi chính phủ cộng sản đặt trụ sở. Lý Thiều Cửu đã bắt giữ các thành viên của Ủy ban Hành động tỉnh và 8 chỉ huy trưởng của Hồng quân thứ 20, bao gồm Đoạn Lương Bật và Lý Bạch Phương. Ông ta đã dùng nhiều thủ đoạn tra tấn dã man như đánh đập và đốt thân thể – những người bị tra tấn như thế này đã bị những vết thương khắp thân thể, các ngón tay bị rạn nứt, bị bỏng toàn thân và không thể di chuyển được. Theo các tài liệu lịch sử, tiếng khóc của các nạn nhân vang lên như xé trời; các thủ đoạn tra tấn tàn bạo cực kỳ vô nhân đạo. [3]

Ngày 8 tháng 12, những người vợ của Bạch Phương, Mã Minh và Chu Miện đến thăm các ông chồng đang bị giam giữ, nhưng họ cũng bị bắt như các thành viên của AB đoàn và bị tra tấn tàn bạo. Họ bị đánh đập dã man, thân thể và âm hộ của họ bị đốt và ngực của họ bị cắt bằng dao. Trong khi bị tra tấn dã man, Đoạn Lương Bật đã nhận rằng Lý Văn Lâm, Kim Vạn Bang, Lưu Địch, Chu Miện, Mã Minh và những người khác là lãnh đạo của AB đoàn và rằng có nhiều thành viên của AB đoàn trong các học viện của Hồng quân. [3]

Từ ngày 7 tháng 12 cho đến tối ngày 12 tháng 12, chỉ trong có 5 ngày, Lý Thiều Cửu và những người khác đã bắt giữ hơn 120 người bị cho là các thành viên của AB đoàn và hàng chục người chống cách mạng chủ chốt trong cuộc truy quét AB đoàn tàn bạo ở Phú Điền; hơn 40 người đã bị tử hình. Các hành động tàn bạo của Lý Thiều Cửu cuối cùng đã làm bùng lên “Sự kiện Phú Điền” [11] ngày 12/12/1930 làm kinh hoàng Khu vực Xô-viết. [3]

Từ Khu vực Xô-viết cho đến Diên An, Mao Trạch Đông đã dựa vào lý luận của mình và thực hành đấu tranh và dần dần tìm kiếm và thiết lập được quyền lãnh đạo tuyệt đối của ông ta đối với Đảng. Sau khi ĐCSTQ đoạt được chính quyền vào năm 1949, Mao Trạch Đông tiếp tục dựa vào hình thức đấu tranh trong nội bộ đảng này. Ví dụ, trong phiên họp toàn thể lần thứ 8 của hội nghị Ban chấp hành Trung ương ĐCSTQ khóa 8 được tổ chức ở Lộc sơn năm 1959, Mao Trạch Đông đã bất ngờ tấn công Bành Đức Hoài và bãi chức ông ta [12]. Tất cả những người lãnh đạo trung ương đang tham dự cuộc họp đó đều bị yêu cầu phải bày tỏ quan điểm của mình; một vài người dám bảy tỏ những quan điểm khác biệt đều bị dán nhãn là nhóm chống đảng Bành Đức Hoài. Trong Cách mạng Văn hóa, các cán bộ lâu năm trong Ban chấp hành Trung ương ĐCSTQ đã lần lượt bị trừng phạt, nhưng tất cả đều đã nhượng bộ mà không đấu tranh gì cả. Ai mà dám nói một lời chống lại Mao Trạch Đông chứ? ĐCSTQ luôn luôn nhấn mạnh kỷ luật thép, trung thành với Đảng, và các nguyên tắc của tổ chức, yêu cầu phải tuyệt đối tuân thủ lãnh đạo các cấp. Loại “đảng tính” này đã thấm sâu vào trong các cuộc đấu tranh chính trị không ngưng nghỉ.

Lý Lập Tam, người đã từng là một lãnh đạo ĐCSTQ, đã bị dồn vào chân tường trong Cách mạng Văn hóa. Ở tuổi 68 mà Lý Lập Tam vẫn bị hỏi cung trung bình 7 lần một tháng. Vợ ông là Lý Soa bị coi là gián điệp “theo chủ nghĩa xét lại Xô-viết”, và đã bị bỏ tù và mất tung tích. Không còn lựa chọn nào khác và trong nỗi tuyệt vọng tột cùng Lý Lập Tam đã tự tử bằng cách uống một lượng thuốc ngủ lớn. Trước khi chết, Lý Lập Tam đã viết một bức thư gửi cho Mao Trạch Đông, và đã thật sự phản ánh “ý thức về đảng tính”, theo đó, một đảng viên ĐCSTQ không dám đầu hàng ngay cả khi cận kề cái chết:

Thưa Chủ tịch,

Tôi đang bước vào con đường phản bội Đảng bằng cách tự tử và không có cách nào để bào chữa cho tội lỗi của mình. Chỉ có một điều rằng toàn thể gia đình tôi và tôi chưa bao giờ hợp tác với các nước thù địch. Chỉ riêng về vấn đề này, tôi xin đề nghị chính quyền trung ương điều tra và nghiên cứu thực tế và kết luận dựa trên sự thực…

Lý Lập Tam

22/06/1967 [13]

Trong khi triết học đấu tranh của Mao Trạch Đông cuối cùng đã đưa Trung Quốc đến một thảm họa chưa từng có thì các chiến dịch chính trị kiểu như thế này và những cuộc đấu tranh trong nội bộ đảng diễn ra ở khắp mọi nơi cứ “bảy tám năm một lần” đã đảm bảo cho sự sống sót của ĐCSTQ. Mỗi khi có một chiến dịch thì phía 5% thiểu số sẽ bị đàn áp, và 95% còn lại sẽ phải tuân theo các đường lối cơ bản của Đảng, nhờ đó mà Đảng đã tăng cường được lực liên kết và khả năng hủy diệt của tổ chức Đảng. Những cuộc đấu tranh này cũng là để tiêu diệt những đảng viên còn “nao núng” không sẵn lòng từ bỏ lương tâm của mình, và tấn công bất cứ lực lượng nào dám chống lại Đảng. Thông qua cơ chế đấu tranh này, những đảng viên có nhiều tham vọng đấu tranh nhất và giỏi nhất trong việc sử dụng các thủ đoạn lưu manh đã dành được quyền kiểm soát. Những người lãnh đạo của giáo phái ĐCSTQ tất cả đều là những người không biết sợ, giàu kinh nghiệm đấu tranh và đầy tinh thần “đảng tính”. Những cuộc đấu tranh đó cũng đem lại cho những người đã kinh qua kinh nghiệm đó một “bài học xương máu” và bị tẩy não tàn bạo. Đồng thời, nó đã liên tục đem lại sức sống cho ĐCSTQ, củng cố hơn nữa tham vọng đấu tranh của nó, đảm bảo cho sự sống sót của nó, và ngăn không cho nó trở thành một tổ chức ôn hòa từ bỏ đấu tranh.

Loại đảng tính mà ĐCSTQ yêu cầu đối với các đảng viên này đã bắt nguồn từ chính bản chất tà giáo của ĐCSTQ. Để đạt được mục đích của mình, ĐCSTQ sẵn sàng vứt bỏ tất cả các nguyên tắc truyền thống, và sử dụng tất cả các thủ đoạn để đấu tranh không do dự với bất cứ lực lượng nào dám cản trở nó. Do đó, nó cần phải đào tạo và biến tất cả các đảng viên của nó thành nô lệ để trở thành những công cụ vô tri, vô giác, vô tâm, của Đảng. Bản chất này của ĐCSTQ bắt nguồn từ sự thù hận của nó đối với xã hội và truyền thống loài người, sự ngạo mạn và ảo tưởng và bản tính cực kỳ ích kỷ và coi mạng người như cỏ rác của nó. Để đạt được cái gọi là lý tưởng của nó, ĐCSTQ đã sử dụng bạo lực bằng mọi giá để đập tan thế giới và tiêu diệt tất cả những người bất đồng chính kiến. Một tà giáo độc ác như vậy sẽ phải đối mặt với sự phản đối của những người có lương tâm, nên nó phải tiêu diệt lương tâm và thiện niệm của mọi người để làm cho mọi người tin vào các tà thuyết của nó. Do đó, để đảm bảo cho sự sống sót của nó, ĐCSTQ trước hết phải hủy diệt lương tâm, thiện niệm và tiêu chuẩn đạo đức của con người, biến mọi người thành các công cụ và những nô lệ thuần phục. Theo lô-gíc của ĐCSTQ, sự sống còn và quyền lợi của Đảng là ở trên tất cả mọi thứ khác; chúng thậm chí còn ở trên cả quyền lợi tập thể của tất cả các đảng viên, do đó bất cứ một đảng viên nào cũng phải luôn sẵn sàng hy sinh cho đảng.

Nhìn vào lịch sử của ĐCSTQ, những cá nhân vẫn còn giữ cách nghĩ của những người trí thức truyền thống như Trần Độc Tú và Cù Thu Bạch, hoặc những người vẫn còn quan tâm đến quyền lợi của nhân dân như Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, hoặc những người kiên quyết làm những cán bộ trong sạch và thực sự phục vụ nhân dân như Chu Dung Cơ – bất kể là họ đã đóng góp cho đảng nhiều bao nhiêu, và bất kể là họ không quan tâm đến tham vọng cá nhân như thế nào, họ đã không tránh khỏi bị khai trừ, bị quẳng sang một bên, hoặc bị quyền lợi và kỷ luật của Đảng hạn chế.

Ý thức về đảng tính hay năng lực Đảng đã ăn sâu vào xương tủy họ, thấm vào máu họ qua nhiều năm đấu tranh thường làm cho họ thỏa hiệp và đầu hàng vào những giây phút quyết định, bởi vì trong tiềm thức của họ thì sự sống còn của Đảng là ưu tiên hàng đầu. Họ thà tự hy sinh và nhìn lực lượng tà ác trong Đảng giết người hơn là thách thức sự sống còn của Đảng bằng những suy nghĩ với lòng nhân ái và có lương tri của mình. Đây chính xác là kết quả của cơ chế đấu tranh của ĐCSTQ: nó biến người tốt thành công cụ để sử dụng, và dùng “đảng tính” để ước chế và thậm chí hủy diệt lương tâm của con người đến mức độ tối đa. Hàng chục cuộc đấu tranh của ĐCSTQ đã đánh đổ hơn 10 lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng hay những người được chỉ định làm người kế nhiệm; không có một lãnh đạo cao nhất nào của Đảng có một kết cục tốt đẹp. Mặc dù Mao Trạch Đông đã làm vua trong 43 năm, nhưng ngay sau khi ông ta chết, vợ và cháu trai của ông ta đã bị bỏ tù, và điều này đã được toàn Đảng ăn mừng như một chiến thắng vĩ đại của Chủ nghĩa Mao Trạch Đông. Đây là một trò hề hay là hài kịch?

Sau khi ĐCSTQ đoạt được chính quyền, các chiến dịch chính trị đã diễn ra liên miên, từ đấu đá trong đảng đến đấu tranh ngoài đảng. Đây là đặc điểm điển hình dưới thời Mao Trạch Đông, và nó vẫn đang diễn ra trong “cải cách và mở cửa” thời hậu Mao. Trong những năm 1980, khi nhân dân vừa mới bắt đầu được tư do suy nghĩ một chút thì ĐCSTQ lại phát động một chiến dịch “Chống lại sự mở rộng tư sản”, và đề ra “Bốn Nguyên tắc Cơ bản” [14] để duy trì quyền lãnh đạo tuyệt đối của nó. Năm 1989, những sinh viên đòi quyền dân chủ một cách hòa bình đã bị đàn áp đẫm máu bởi vì ĐCSTQ không cho phép khát vọng dân chủ. Những năm 1990 đã chứng kiến một sự tăng nhanh về số lượng các học viên Pháp Luân Công tin theo Chân Thiện Nhẫn nhưng họ đã phải chịu một cuộc đàn áp mang tính diệt chủng bắt đầu từ năm 1999, bởi vì ĐCSTQ không thể chấp nhận nhân tính và thiện niệm. Nó phải dùng bạo lực để hủy diệt lương tâm của nhân dân và đảm bảo cho quyền lực của chính nó. Từ khi bước sang thế kỷ 21, Internet đã nối liền thế giới lại với nhau nhưng ĐCSTQ đã tiêu một số tiền khổng lồ để dựng lên những trạm kiểm soát trên mạng để bẫy và bắt những người sử dụng mạng muốn có tự do, bởi vì ĐCSTQ rất sợ nhân dân có được thông tin một cách tự do.

******************

VI. Sự bại hoại của Tà giáo Đảng Cộng sản Trung Quốc

Tà giáo ĐCSTQ thực chất là đang cai trị theo cách đối lập với nhân tính và đạo trời. ĐCSTQ nổi tiếng là ngạo mạn, tự cao, ích kỷ, và hành ác dã man, không còn kiêng nể gì nữa. Nó luôn luôn đem lại tai họa cho đất nước và nhân dân, nhưng nó không bao giờ thừa nhận những sai lầm của nó, và sẽ không bao giờ tiết lộ bản chất thật sự của nó cho nhân dân biết. ĐCSTQ chưa bao giờ ngần ngại việc thay đổi khẩu hiệu và thủ đoạn của nó, những thứ mà ĐCSTQ dùng làm phương tiện để duy trì quyền lực của nó. Nó sẽ làm bất cứ việc gì để duy trì quyền lực mà không thèm đếm xỉa gì đến đạo đức, công lý và nhân mạng.

Việc thể chế hóa và xã hội hóa của tà giáo này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nó. Kết quả của việc tập trung hóa quyền lực đã dẫn đến việc công luận bị bịt miệng và tất cả các cơ chế giám sát có thể có đã bị tiêu hủy, làm cho không còn có lực lượng nào khác để ngăn không cho ĐCSTQ trượt vào hủ bại và tan rã.

ĐCSTQ ngày nay đã trở thành “đảng cầm quyền tham nhũng và biển thủ” lớn nhất trên thế giới. Theo thống kê chính thức ở Trung Quốc, trong số 20 triệu quan chức, viên chức hoặc cán bộ trong ĐCSTQ hoặc chính quyền trong 20 năm qua, 8 triệu người đã bị phát hiện là có phạm tội tham nhũng và bị kỷ luật hoặc bị trừng phạt theo quy định của đảng hoặc chính quyền. Nếu tính cả những quan chức tham nhũng chưa bị phát hiện thì tổng số các quan chức đảng và chính phủ tham nhũng là vào khoảng hơn 2 phần 3, chỉ có một phần nhỏ trong số đó đã bị điều tra và phanh phui.

Việc cướp đoạt lợi ích vật chất bằng cách tham nhũng và vòi tiền đã trở thành lực kết dính mạnh nhất cho sự thống nhất của ĐCSTQ ngày nay. Các quan chức tham nhũng biết rằng nếu không có ĐCSTQ thì họ sẽ không có cơ hội để trục lợi và nếu ĐCSTQ sụp đổ thì họ sẽ không chỉ mất quyền lực và địa vị mà còn phải đối mặt với việc bị điều tra. Trong “Sự phẫn nộ của Trời” (Thiên Nộ), một tiểu thuyết vạch trần những vụ việc ở đằng sau hậu trường của các quan chức ĐCSTQ, tác giả Chen Fang đã chỉ ra điều tối mật của ĐCSTQ qua miệng của Hác Tương Thọ, Phó Chánh Văn phòng của một Văn phòng Thành ủy của ĐCSTQ, “tham nhũng đã làm ổn định chính quyền của chúng ta”.

Nhân dân Trung Quốc đã nhìn thấy rất rõ điều đó, “nếu chúng ta chống tham nhũng thì đảng sẽ sụp đổ; nếu chúng ta không chống tham nhũng thì đất nước sẽ diệt vong.” Tuy nhiên ĐCSTQ sẽ không chống tham nhũng để rồi phải đối mặt với rủi ro cho sự tồn vong của nó. Cái mà nó sẽ làm là tử hình một số cá nhân tham nhũng làm vật hy sinh tượng trưng để bảo vệ hình ảnh của nó. Điều này đã kéo dài sự tồn tại của nó thêm một vài năm nữa bằng cách thí mạng một vài quan chức tham nhũng. Ngày nay, mục đích duy nhất của tà giáo ĐCSTQ là duy trì quyền lực và tránh khỏi bị sụp đổ.

Ở Trung Quốc ngày nay, luân thường đạo lý đã suy đồi đến mức không còn nhận ra được nữa. Nạn làm hàng giả, mãi dâm, ma túy, thông đồng giữa các quan chức và những kẻ tội phạm, tội phạm có tổ chức, cờ bạc, hối lộ – tham nhũng đủ loại đang diễn ra tràn lan. ĐCSTQ đã phớt lờ sự suy đồi về mặt đạo đức đó, trong khi nhiều quan chức cao cấp cũng là những ông trùm trong hậu trường đang vòi tiền những người dân cảm thấy lo sợ và muốn được bảo vệ. Sái Thiểu Khanh, một chuyên gia nghiên cứu về xã hội đen và các tổ chức tội phạm ở trường Đại học Tổng hợp Nam Kinh, ước tính rằng tổng số tội phạm có tổ chức ở Trung Quốc là vào khoảng 1 triệu. Mỗi một tên tội phạm có tổ chức bị bắt đều khai ra những người cộng sản hủ bại ở đằng sau hậu trường là các quan chức chính quyền, các quan tòa hoặc cảnh sát.

ĐCSTQ sợ rằng nhân dân Trung Quốc có thể cảm nhận về lương tâm và đạo đức, nên nó không dám cho phép nhân dân được có tín ngưỡng tôn giáo hoặc sự tự do tư tưởng. Nó sử dụng tất cả những nguồn lực mà nó có để đàn áp những người tốt có tín ngưỡng, ví dụ như những người theo đạo Thiên Chúa một cách bí mật tin vào Chúa Giê-su và Đức Chúa Trời và những học viên Pháp Luân Công muốn trở nên Chân Thiện Nhẫn. ĐCSTQ sợ rằng dân chủ sẽ kết liễu chế độ một đảng của nó nên nó không dám cho nhân dân quyền được tự do về mặt chính trị. Nó nhanh chóng hành động và bỏ tù những người theo chủ nghĩa tự do độc lập và những người hoạt động vì nhân quyền. Tuy nhiên, nó cho nhân dân một quyền tự do lệch lạc. Chỉ cần người ta không quan tâm đến chính trị và không phản đối sự lãnh đạo của ĐCSTQ, thì người ta có thể muốn gì thì muốn, thậm chí người ta còn có thể làm cả những điều tà ác vô đạo đức. Kết quả là ĐCSTQ đã suy đồi rất nhanh và đạo đức xã hội ở Trung Quốc đang xuống dốc nhanh chóng ở mức báo động.

“Chắn lối lên thiên đường, mở đường xuống địa ngục” là câu nói mô tả chính xác nhất việc tà giáo ĐCSTQ đã phá hoại xã hội Trung Quốc ngày nay như thế nào.

******************

VII. Nhìn lại sự thống trị tà ác của Đảng Cộng sản Trung Quốc

Đảng Cộng sản là gì?

Câu hỏi nghe có vẻ như đơn giản này lại không có câu trả lời đơn giản. Dưới chiêu bài “vì nhân dân” và đội lốt một đảng chính trị, Đảng Cộng sản trên thực tế đã lừa dối hàng triệu người. Và nó không phải là một đảng chính trị theo cách hiểu thông thường, mà là một tà giáo độc ác bị tà ma điều khiển. Đảng Cộng sản là một thực thể sống hiển hiện trên thế giới này thông qua các tổ chức đảng. Thực sự điều khiển Đảng Cộng sản là một tà ma nhập vào nó, và tà ma đó đã quyết định bản chất tà ác của Đảng Cộng sản.

Những người lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trong khi đóng vai trò là thủ lĩnh của giáo phái, chỉ là cái miệng lưỡi của tà ma và của Đảng. Khi mục đích và ý định của họ phù hợp với Đảng và có thể được nó lợi dụng, họ sẽ được chọn làm lãnh đạo. Nhưng khi họ không còn có khả năng đáp ứng nhu cầu của Đảng nữa thì họ sẽ bị lật đổ một cách tàn nhẫn. Cơ chế đấu tranh của Đảng đảm bảo rằng chỉ có những ai xảo quyệt nhất, tà ác nhất và lưu manh nhất mới có thể trụ vững được ở vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản đó. Việc hơn một chục lãnh đạo cao cấp của Đảng đã bị hạ bệ đã chứng minh cho lý luận này. Trên thực tế, những người lãnh đạo cao nhất của Đảng đang đi trên một sợi dây thừng rất mảnh. Họ có thể hoặc là bứt ra khỏi đảng và để lại tiếng tốt trong lịch sử, như Goóc-ba-chốp đã làm hoặc là trở thành nạn nhân của Đảng như nhiều tổng bí thư của đảng.

Nhân dân là mục tiêu bị biến thành nô lệ và đàn áp của đảng. Dưới sự thống trị của đảng, nhân dân không có quyền phản đối đảng. Thay vào đó, họ bắt buộc phải chấp nhận sự lãnh đạo của đảng và có nghĩa vụ phải duy trì đảng. Họ cũng thường xuyên bị tẩy não theo kiểu giáo phái dưới sự đe dọa và cưỡng bức của đảng. ĐCSTQ bắt buộc cả nước phải tin theo và duy trì tà giáo này. Đây là điều hiếm thấy trên thế giới ngày nay, và chúng ta buộc phải công nhận kỹ năng vô địch đó của ĐCSTQ trong việc áp bức nhân dân.

Các đảng viên là lực lượng được dùng để lấp đầy cơ thể của đảng. Nhiều người trong số họ là những người trung thực và tốt bụng, và thậm chí có thể là rất thành đạt trong sự nghiệp của mình. Đây là những người mà ĐCSTQ thích tuyển dụng, bởi vì thanh danh và hiểu biết của họ có thể được dùng để phục vụ cho đảng. Nhiều người khác, vì muốn trở thành quan chức hoặc có địa vị xã hội cao hơn, sẽ cố gắng vào đảng và giúp đỡ thực thể tà ác đó. Cũng có người vào đảng vì muốn đạt được điều gì đó trong cuộc đời và nhận ra rằng dưới chế độ cộng sản họ sẽ không thể làm được như vậy trừ khi họ vào đảng. Một số người vào đảng là vì họ muốn được phân phối một căn hộ hay chỉ đơn giản là vì muốn có một hình ảnh tốt hơn. Do đó, trong số hàng chục triệu đảng viên có cả người tốt và người xấu. Bất kể là với mục đích gì, một khi họ đã thề trung thành trước cờ đảng, một cách tự nguyện hay không tự nguyện, nghĩa là họ đã tự nguyện hiến dâng mình cho đảng. Sau đó họ sẽ phải đi qua một quá trình tẩy não bằng cách tham gia học chính trị hàng tuần. Một số lượng lớn đảng viên sẽ còn lại rất ít những suy nghĩ của chính mình nếu có và sẽ dễ dàng bị tà ma chủ thể ĐCSTQ điều khiển, đó là hậu quả của sự giáo huấn của đảng. Những người này sẽ hoạt động ở trong đảng như những tế bào của cơ thể con người và sẽ làm việc không ngừng nghỉ vì sự tồn tại của đảng, mặc dù chính họ cũng là một phần của nhân dân đã bị đảng biến thành nô lệ. Còn đáng buồn hơn là, sau khi cái cùm “đảng tính” đã được áp đặt lên mình rồi thì họ sẽ rất khó vứt bỏ nó đi. Một khi họ thể hiện ra phần người của mình thì họ sẽ bị loại trừ hoặc bị bức hại. Họ không thể tự ra khỏi đảng ngay cả khi họ muốn ra, vì đảng có chính sách vào-được ra-không và do đó sẽ coi họ như một kẻ phản bội. Đó là lý do tại sao mà mọi người thường thể hiện ra hai tính chất: trong đời sống chính trị: đảng tính, trong cuộc sống bình thường hàng ngày: nhân tính.

Các cán bộ đảng là những người nắm quyền trong số các đảng viên. Mặc dù họ có thể được phép lựa chọn giữa tốt và xấu và tự quyết định trong những hoàn cảnh cụ thể, vào những thời gian cụ thể và những sự kiện cụ thể, nhưng toàn thể họ phải đi theo ý nguyện của đảng. Mệnh lệnh là “toàn đảng phải tuân theo Ban chấp hành Trung ương”. Các cán bộ đảng là những người lãnh đạo ở các cấp; họ là xương sống của đảng. Họ cũng chỉ là công cụ của đảng. Họ cũng bị lừa đảo, bị lợi dụng và trở thành nạn nhân trong các phong trào chính trị trước kia. Tiêu chí căn bản của ĐCSTQ là thử xem họ có đi theo người lãnh đạo và thực sự cống hiến hay không.

Tại sao nhân dân vẫn chưa nhận ra?

ĐCSTQ đã hành động tà ác và dã man trong suốt hơn 50 năm cầm quyền ở Trung Quốc. Nhưng tại sao nhân dân Trung Quốc vẫn thiếu hiểu biết thực tế về bản chất tà ác của ĐCSTQ? Đó là vì người Trung Quốc kém hiểu biết? Không. Người Trung Quốc đã xây dựng nên một trong những đất nước uyên thâm nhất trên thế giới và tự hào với một nền văn hóa truyền thống giàu có và một di sản 5000 năm. Vậy mà nhân dân Trung Quốc vẫn đang phải sống dưới sự thống trị của ĐCSTQ, hoàn toàn sợ hãi không dám biểu đạt sự bất bình của mình. Vấn đề nằm ở sự kiểm soát tư tưởng của ĐCSTQ.

Nếu nhân dân Trung Quốc có quyền tự do biểu đạt và có thể bàn luận công khai về công và tội của ĐCSTQ, thì chúng ta có thể tưởng tượng được rằng người Trung Quốc từ lâu đã có thể thấy rõ được bản chất tà ác của ĐCSTQ và tự giải phóng cho chính mình khỏi sự ảnh hưởng của tà giáo này. Không may là, nhân dân Trung Quốc đã bị mất đi các quyền tự do biểu đạt và tự do tư tưởng của mình đã hơn một nửa thế kỷ sau khi chế độ của ĐCSTQ ra đời. Mục đích đằng sau việc đàn áp những người cánh hữu trong số những trí thức vào năm 1957 là để đè bẹp quyền tự do biểu đạt và kiểm soát tư tưởng của nhân dân. Trong một xã hội không có những quyền tự do cơ bản như vậy, phần lớn những thanh niên toàn tâm nghiên cứu các tác phẩm của Mác và Ăng ghen trong Cách mạng Văn hóa đã bị trớ trêu dán nhãn là “bè lũ chống đảng” và sau đó đã bị đàn áp. Việc bàn luận về đúng sai của ĐCSTQ đơn giản là không được phép.

Không mấy người Trung Quốc dám nghĩ đến việc gọi ĐCSTQ là một tà giáo. Tuy nhiên, nếu điều đó được khẳng định thì những người đã từng sống ở Trung Quốc sẽ thấy không khó khăn gì trong việc tìm ra những bằng chứng thuyết phục để chứng minh cho nhận định đó từ những trải nghiệm của chính họ và gia đình, bạn bè.

Nhân dân Trung Quốc đã không chỉ bị tước đi quyền tự do tư tưởng, mà họ còn bị nhồi nhét vào trong đầu những học thuyết và văn hóa của ĐCSTQ. Do đó, tất cả những điều mà nhân dân có thể nghe thấy là những lời ca ngợi đảng và đầu óc của họ đã bị làm nghèo nàn đi tới mức chỉ còn lại những ý tưởng về việc củng cố ĐCSTQ. Hãy lấy cuộc thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn làm ví dụ. Khi súng bắt đầu nổ vào ngày 4/6/1989, nhiều người theo bản năng đã chạy trốn. Một lúc sau, bất chấp rủi ro, họ đã dũng cảm bước ra khỏi chỗ ẩn náu và cùng nhau hát bài “Quốc tế ca”. Những người Trung Quốc này thực sự dũng cảm, vô tội và đáng kính trọng nhưng tại sao họ lại hát bài “Quốc tế ca”, một bài hát của những người cộng sản, khi đang phải đối mặt với việc giết chóc của những người cộng sản? Lý do rất đơn giản. Bị giáo dục trong văn hóa đảng, tất cả những gì mà những con người đáng thương đó biết chỉ là chủ nghĩa cộng sản. Những người trên quảng trường Thiên An Môn lúc đó không biết bất cứ bài hát nào ngoài bài “Quốc tế ca” và một số bài hát khác ca ngợi đảng cộng sản.

Đâu là lối thoát?

ĐCSTQ đang tiến đến tận diệt. Thật đáng buồn là, nó vẫn đang cố gắng trói buộc số phận của mình với đất nước Trung Quốc trước khi nó tan rã.

ĐCSTQ đang giãy chết có vẻ như đang yếu dần và sự kiểm soát của nó đối với tâm trí của nhân dân đang bị lỏng dần. Với sự phát triển của viễn thông và Internet, ĐCSTQ đang thấy khó khăn trong việc kiểm soát thông tin và trong việc bịt miệng công luận. Khi các quan chức hủ bại càng ngày càng áp bức bóc lột nhân dân, công chúng đang bắt đầu thức tỉnh từ những ảo tưởng của mình về ĐCSTQ, và nhiều người trong số họ đã bắt đầu thực hiện việc bất tuân lệnh chính quyền. ĐCSTQ không chỉ đã thất bại trong việc cố đạt cho được mục đích của nó là tăng cường việc kiểm soát tư tưởng trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công mà còn càng tự làm suy yếu chính bản thân nó trong khi đã lộ rõ chân tướng cực kỳ tàn bạo của nó. Thời gian thích hợp này đã khiến cho nhân dân xem xét lại ĐCSTQ, mở đường cho đất nước Trung Quốc tự giải phóng cho mình khỏi cảnh nô lệ về mặt tư tưởng và hoàn toàn thoát khỏi sự kiểm soát của tà ma cộng sản.

Sau khi đã sống dưới sự thống trị tà ác của ĐCSTQ trong hơn 50 năm qua, nhân dân Trung Quốc không cần một cuộc cách mạng bạo lực; mà họ cần phải lấy lại tâm hồn của mình. Điều này có thể đạt được bằng cách tự cứu mình, và bước đầu tiên để tiến đến mục đích đó là việc cần phải nhận ra bản chất tà ác của ĐCSTQ.

Ngày đó sẽ đến khi mọi người vứt sang một bên các tổ chức đảng gắn liền với bộ máy nhà nước, để cho các hệ thống xã hội hoạt động một cách độc lập, và được sự trợ giúp của các lực lượng nòng cốt trong xã hội. Với sự ra đi của tổ chức độc tài của ĐCSTQ, hiệu quả hoạt động của chính quyền sẽ được cải thiện và tăng cường. Và ngày đó đã đang tới rất gần rồi. Trên thực tế, từ hồi đầu những năm 1980, những người theo đường lối cải cách ở trong đảng đã ủng hộ ý tưởng “tách đảng ra khỏi chính quyền”, trong một nỗ lực nhằm tách đảng ra khỏi chính quyền. Các nỗ lực cải cách từ trong nội bộ ĐCSTQ đã cho thấy là chưa đầy đủ và không thành công khi tư tưởng “quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng” vẫn chưa được loại bỏ hoàn toàn.

Văn hóa đảng là một môi trường cần thiết cho sự sống sót của tà giáo cộng sản đó. Việc loại bỏ sự khống chế của ĐCSTQ đối với tâm trí của nhân dân có thể khó hơn việc gỡ bỏ sự khống chế của ĐCSTQ đối với các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, nhưng việc loại bỏ đó là cách duy nhất để thực sự nhổ tận gốc sự tà ác của chủ nghĩa cộng sản. Điều này chỉ có thể đạt được bằng nổ lực của chính nhân dân Trung Quốc. Với tư tưởng của họ được điều chỉnh lại cho đúng đắn và nhân bản của họ quay trở về với trạng thái vốn có ban đầu, toàn xã hội sẽ lấy lại được tiêu chuẩn đạo đức và sẽ thành công trong việc chuyển tiếp sang một xã hội tốt đẹp phi cộng sản. Bài thuốc cho sự khống chế của lực lượng tà ác này nằm ở chỗ nhận ra bản chất và sự độc hại của tà ma đó, xóa bỏ nó khỏi tâm trí của nhân dân, và quét sạch nó đi, để nó không còn có chỗ mà ẩn náu. Đảng Cộng sản nhấn mạnh việc kiểm soát tư tưởng bởi vì nó không là gì khác hơn một sự hoang tưởng. Sự hoang tưởng đó sẽ tan biến khi toàn thể nhân dân Trung Quốc loại bỏ những điều sai trái của cộng sản ra khỏi tâm trí họ, chủ động quét sạch văn hóa đảng, và giải thoát tinh thần và cuộc sống của chính họ khỏi sự ảnh hưởng của tà giáo cộng sản đó. Khi nhân dân tự cứu mình thì ĐCSTQ sẽ tan rã.

Các nước nằm dưới sự thống trị của đảng cộng sản luôn đi đôi với đói nghèo, độc tài, và áp bức. Chỉ còn lại vài nước như vậy bao gồm Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam và Cu-ba. Những chế độ đó đang sống những ngày còn lại cuối cùng.

Với trí lực của nhân dân Trung Quốc, với sự trợ giúp của nguồn cảm hứng từ nền lịch sử đáng tự hào của đất nước Trung Quốc, một Trung Quốc được giải thoát khỏi sự khống chế tà ác của chủ nghĩa cộng sản sẽ trở thành một đất nước đầy hứa hẹn.

******************

Kết luận

Bản thân ĐCSTQ đã không còn tin vào chủ nghĩa cộng sản nữa. Linh hồn của nó đã chết, nhưng cái bóng của nó vẫn còn. Nó chỉ còn khoác “bộ da” của chủ nghĩa cộng sản, nhưng nó vẫn hiển lộ bản chất của một tà giáo: ngạo mạn, tự cao tự đại và ích kỷ, và ham mê tùy tiện phá hoại. ĐCSTQ đã kế thừa việc phủ nhận đạo trời của chủ nghĩa cộng sản, và sự phản nhân tính của nó vẫn không thay đổi.

Ngày nay, ĐCSTQ vẫn tiếp tục thống trị Trung Quốc bằng các thủ đoạn đấu tranh mà nó đã tích lũy được qua nhiều năm, sử dụng hệ thống tổ chức chặt chẽ của nó và hình thức thống trị “đảng khống chế”, cũng như các thủ đoạn tuyên truyền tà ác hoạt động như một quốc giáo. Sáu đặc điểm của Đảng Cộng sản đã được chỉ ra ở trên đã đặt ĐCSTQ ngày nay một cách chính xác vào trong định nghĩa về một “tà giáo”: nó không làm gì tốt cả, chỉ toàn làm những việc tà ác.

Khi nó sắp chết, tà giáo cộng sản này đang gia tăng tốc độ hủ bại và suy đồi của nó. Điều rắc rối nhất chính là nó đang ngang bướng làm tất cả những gì mà nó có thể để đưa đất nước Trung Quốc rơi cùng với nó xuống một vực thẳm hủ bại và suy đồi.

Nhân dân Trung Quốc cần phải tự cứu chính mình, họ cần phải suy nghĩ về những gì đã qua, và họ cần phải rũ bỏ ĐCSTQ.

 

Chú thích:

 

[1] “Con báo đã chết, nhưng vẫn còn lưu lại bộ da” được trích từ một quyển sách tiên tri cổ của Trung Quốc, bài thơ Hoa Mai của Shao Yong (1011-1077). Con báo ở đây là để nói đến lãnh thổ của Liên Xô cũ trên thực tế trông giống như hình một con báo đang chạy. Với sự sụp đổ của Liên Xô cũ, nòng cốt của hệ thống cộng sản đã tan rã, chỉ còn để lại “bộ da” (hình thức) mà Đảng Cộng sản Trung Quốc thừa kế.

[2] Hiến pháp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa (bản dịch chính thức, 1999).

[3] Trích từ Cuộc điều tra lịch sử về việc Mao Trạch Đông tiêu diệt “AB Đoàn” ở Khu vực Xô-viết, Tỉnh Giang Tây của Gao Hua. Sự kiện “AB Đoàn” là để nói đến chiến dịch “Những người Chống Bôn-sê-vích” năm 1930, khi Mao Trạch Đông ra lệnh giết chết hàng nghìn đảng viên, lính Hồng quân, và thường dân vô tội ở tỉnh Giang Tây để củng cố quyền lực của mình trong những khu vực do ĐCSTQ kiểm soát.

[4] Trích từ “Báo cáo về việc điều tra phong trào nông dân ở Hồ Nam” của Mao Trạch Đông (1927).

[5] Núi Thái sơn là ngọn núi thứ nhất trong năm ngọn núi nổi tiếng ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Nó là di sản thế giới do Liên hợp quốc công nhận từ năm 1987.

[6] Phong trào thu hồi đất liên quan đến mặt đen tối của cải cách kinh tế ở Trung Quốc. Tương tự như cuộc Cách mạng Công nghiệp ở Anh (1760-1850), đất nông nghiệp ở Trung Quốc ngày nay đã bị phân bổ để xây dựng các khu kinh tế khác nhau ở tất cả các cấp (huyện, thành phố, tỉnh và quốc gia). Kết quả của việc thu hồi đất là nông dân Trung Quốc bị mất đất canh tác. Ở các thành phố, dân cư ở các quận của thị trấn và thành phố cổ thường xuyên bị bắt buộc phải di dời để lấy đất cho việc phát triển các khu thương mại với tiền đền bù tối thiểu cho nhân dân. Thông tin chi tiết hơn có tại: http://www.uglychinese.org/enclosure.htm.

[7] Liz Zhao, một sinh viên báo chí của Trường Đại học Tổng hợp Bắc Kinh, đã bị coi là một người cánh hữu năm 1957 vì cô có những tư tưởng độc lập và đã lên tiếng phê bình phong trào cộng sản. Cô đã bị buộc tội là âm mưu lật đổ chế độ chuyên chính dân chủ nhân dân và đã bị bắt năm 1960. Năm 1962, cô đã bị xử 20 năm tù. Ngày 29 tháng 4 năm 1968, cô đã bị ĐCSTQ giết chết với tội danh phản cách mạng.

Zhang Zhixin là một trí thức đã bị ĐCSTQ tra tấn cho đến chết trong thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa vì cô đã chỉ trích Mao Trạch Đông là đã thất bại trong phong trào “Đại Nhảy vọt” và đã lên tiếng nói ra sự thật. Bọn cai ngục đã nhiều lần lột quần áo của cô, còng tay cô ra sau lưng và quẳng cô vào xà-lim nam để các tù nhân nam hãm hiếp tập thể cho đến khi cô trở nên phát điên. Nhà tù sợ rằng cô sẽ hô khẩu hiệu phản đối trong khi tử hình nên đã cắt cổ cô trước khi tiến hành tử hình.

[8] Nói đến Cách mạng Tư sản Nga tháng 2/1917 lật đổ ngai vàng của Sa Hoàng.

[9] Cách mạng tháng Mười, hay Cách mạng Bôn-sê-vích do Lê-nin lãnh đạo xảy ra vào tháng 10 năm 1917. Cuộc cách mạng đã giết chết những người cách mạng của giai cấp tư sản mà đã lật đổ Sa Hoàng, do đó đã bóp chết Cách mạng Tư sản Nga.

[10] Cả hai “Sự kiện Mari” và “Cuộc thảm sát 12/4” đều nói đến các cuộc tấn công ĐCSTQ của Quốc Dân Đảng. “Sự kiện Mari” xảy ra ngày 21/5/1927 ở thành phố Trường Sa thuộc tỉnh Hồ Nam. “Cuộc thảm sát 12/4” xảy ra ngày 12/4/1927 ở Thượng Hải. Trong cả hai trường hợp, một số đảng viên ĐCSTQ và những người hoạt động ủng hộ ĐCSTQ đã bị tấn công, bị bắt hoặc bị giết chết.

[11] Liu Di, một chính trị viên của Hồng Quân thứ 20 đã bị buộc tội là thành viên của “AB Đoàn”, đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy ở Futian buộc tội Li Shaojiu là một người phản cách mạng. Họ đã cướp quyền kiểm soát thành phố Futian và thả hơn 100 người đã bị bắt trước đó vì liên quan đến “AB Đoàn”, và hô khẩu hiệu “Đả đảo Mao Trạch Đông”.

[12] Bành Đức Hoài (1898-1974): một viên tướng và là một người lãnh đạo cộng sản Trung Quốc. Bành Đức Hoài đã từng là Tổng Tư lệnh trong chiến tranh Triều Tiên, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, ủy viên Bộ chính trị, và Bộ trưởng quốc phòng từ năm 1954-1959. Ông ta đã bị bãi chức khỏi các chức vụ của mình sau khi bất đồng với cách tiếp cận kiểu cánh tả của Mao Trạch Đông tại Hội nghị toàn thể Lộc Sơn của ĐCSTQ năm 1959.

[13] Từ “Lý Lập Tam: Người được truy điệu bốn lần”.

[14] Bốn nguyên tắc là: con đường xã hội chủ nghĩa, chuyên chính vô sản, sự lãnh đạo của ĐCSTQ, và chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít và tư tưởng Mao Trạch Đông.

 

Copyright © 2004 DAJIYUAN.COM, thời báo Đại Kỷ Nguyên




Cửu Bình: 9 – ĐCSTQ với bản tính lưu manh.

Cửu Bình: 9 – ĐCSTQ với bản tính lưu manh.

Tài liệu gốc: http://dajiyuan.com/gb/4/12/4/n737542.htm

0 – Dẫn nhập | 1 – Đảng cộng sản là gì? | 2 – Đảng cộng sản Trung Quốc xuất sinh như thế nào? | 3 – Chính quyền bạo lực của Đảng cộng sản Trung Quốc. | 4 – Đảng cộng sản, một lực lượng phản vũ trụ. | 5 – Giang Trạch Dân và Đảng cộng sản Trung Quốc lợi dụng lẫn nhau để đàn áp Pháp Luân Công. | 6 – Đảng cộng sản Trung Quốc phá hoại văn hoá dân tộc. | 7 – Lịch sử giết chóc của Đảng cộng sản Trung Quốc. | 8 – Bản chất tà giáo của Đảng cộng sản Trung Quốc. | 9 – Bản tính lưu manh của Đảng cộng sản Trung Quốc.

Lời mở đầu

 


Trong hơn 55 năm cầm quyền, ĐCSTQ không ngừng sửa đổi lịch sử.

Phong trào cộng sản trải qua hơn một thế kỷ phô trương ầm ỹ chỉ mang lại cho nhân loại chiến tranh, nghèo khổ, tàn bạo và độc tài. Với sự sụp đổ của Liên-xô và các Đảng Cộng sản Đông Âu, màn kịch tai hại và tàn bạo này cuối cùng cũng đã bước sang màn cuối cùng vào cuối thế kỷ vừa qua. Không một ai, từ dân thường cho đến Tổng bí thư Đảng Cộng sản, còn tin vào những chuyện hoang đường của chủ nghĩa cộng sản nữa.

Chính quyền của Đảng Cộng sản ra đời không phải là “theo thiên ý” (quân quyền thần thụ) [1] cũng không phải là từ bầu cử dân chủ. Ngày nay, khi hệ tư tưởng của nó đã bị hủy diệt thì tính hợp pháp của sự thống trị của nó đang phải đối mặt với một thử thách chưa từng có trong lịch sử.

Đảng Cộng sản Trung quốc (ĐCSTQ) đã không thuận theo trào lưu của lịch sử mà tự động rút khỏi vũ đài lịch sử. Thay vào đó, nó đang sử dụng những thủ đoạn lưu manh đã được hình thành và phát triển trong nhiều thập kỷ qua các cuộc vận động chính trị để hồi phục lại cuộc đấu tranh điên cuồng của nó hòng tìm kiếm tính hợp pháp và để cải tử hồi sinh cái quyền lực đang chết của nó.

Các chính sách cải cách và mở cửa của ĐCSTQ là nhằm che đậy một mục đích tuyệt vọng là duy trì quyền lực và lợi ích của tập đoàn chính trị độc tài này. Bất chấp những trói buộc chặt chẽ, những thành tựu kinh tế đạt được nhờ nỗ lực của nhân dân Trung Quốc trong 20 năm qua đã không thuyết phục được ĐCSTQ buông lưỡi dao đồ tể của nó xuống. Thay vào đó, ĐCSTQ đã ăn cắp những thành quả này và sử dụng chúng để hợp pháp hóa sự thống trị của nó, làm cho lối hành xử lưu manh từ trước đến nay của nó còn giả dối và mị dân hơn. Điều đáng báo động nhất là ĐCSTQ đang cố gắng hết sức phá hủy nền tảng đạo đức của cả đất nước, cố gắng biến mọi công dân Trung Quốc, đến các cấp độ khác nhau, trở thành những kẻ lưu manh để tạo ra một môi trường thuận lợi cho ĐCSTQ “tiến bước với thời gian”.

Vào thời điểm lịch sử hôm nay, có một điều đặc biệt quan trọng là chúng ta cần hiểu rõ tại sao Đảng Cộng sản lại hành động giống như những tên lưu manh vô lại, vạch trần bản tính lưu manh của nó, để đất nước Trung Quốc có thể có được sự ổn định và hòa bình lâu dài, bước vào một kỷ nguyên không còn Đảng Cộng sản càng sớm càng tốt, và xây dựng, phục hồi một tương lai huy hoàng cho đất nước.

********************

I. Bản tính lưu manh của Đảng Cộng sản Trung quốc chưa bao giờ thay đổi

1. Đảng Cộng sản Trung quốc cải cách vì ai?

Xuyên suốt lịch sử, bất cứ khi nào ĐCSTQ phải đối đầu với những khủng hoảng, Đảng sẽ trình diễn một số dấu hiệu cải tiến, làm mê hoặc nhân dân hình thành những ảo tưởng về ĐCSTQ. Nhưng không có trường hợp ngoại lệ nào cả, các ảo tưởng đều đã tan vỡ hết lần này đến lần khác. Ngày nay ĐCSTQ đang theo đuổi các lợi ích ngắn hạn nhằm trình diễn một màn kịch kinh tế thịnh vượng để lại một lần nữa thuyết phục nhân dân tin vào các ảo tưởng về Đảng. Tuy nhiên, những xung đột cơ bản giữa lợi ích của Đảng với lợi ích của đất nước và nhân dân cho thấy rằng sự thịnh vượng giả này sẽ không thể kéo dài lâu. “Sự cải cách” mà ĐCSTQ đã hứa hẹn chỉ có một mục đích: để duy trì quyền thống trị của Đảng. Đó là một sự cải cách què quặt, một sự thay đổi trên bề mặt chứ không phải là bản chất. Nằm bên dưới của sự phát triển khập khiễng là một khủng hoảng xã hội trầm trọng. Một khi cuộc khủng hoảng bùng nổ ra, đất nước và nhân dân sẽ lại một lần nữa phải chịu khổ nạn.

Với sự thay đổi hàng ngũ lãnh đạo, thế hệ lãnh đạo mới của ĐCSTQ là những người đã không trải qua cuộc cách mạng cộng sản ngày trước, vì vậy sẽ có ít uy tín trong việc điều hành đất nước. Trong cuộc khủng hoảng về tính hợp pháp của mình, thì việc bảo vệ các quyền lợi của Đảng đã càng ngày càng trở thành một sự đảm bảo cơ bản cho việc duy trì quyền lợi của những cá nhân trong nội bộ ĐCSTQ. Bản chất của ĐCSTQ là ích kỷ. Đảng không biết kiêng nể là gì. Việc hy vọng một Đảng như vậy cống hiến cho sự nghiệp phát triển đất nước một cách hòa bình chỉ là một sự mơ tưởng hão huyền.

Chúng ta hãy xem tờ Nhân dân nhật báo, cái loa của ĐCSTQ, đã nói gì trên trang nhất ngày 12/7/2004: “Những phương pháp biện chứng lịch sử đã dạy cho các đảng viên ĐCSTQ điều này: Cái gì nên thay đổi thì phải thay đổi, nếu không, nó sẽ trở nên tồi tệ hơn. Cái gì không nên thay đổi thì không được thay đổi, nếu không, nó sẽ dẫn đến việc tự huỷ diệt”.

Cái gì là cái không nên thay đổi? Tờ Nhân dân nhật báo giải thích như thế này: “Đường lối cơ bản của Đảng là ‘một trung tâm, hai điểm cơ bản’ phải tồn tại vững chắc một trăm năm không một chút dao động”. [2]

Nhân dân không nhất định là hiểu “trung tâm” và “điểm cơ bản” là gì, nhưng mọi người đều biết rằng dã tâm của bóng ma tà linh cộng sản là duy trì quyền lợi tập thể của nó và chế độ độc tài sẽ không bao giờ thay đổi. Chủ nghĩa Cộng sản đã bị đánh bại trên toàn cầu, và số phận của nó ngày càng trở nên bi đát hơn. Tuy nhiên, trong khi vẫy vùng hấp hối thì một thứ càng bại hoại lại càng có khả năng tàn phá lớn hơn. Việc bàn luận cải thiện dân chủ với Đảng Cộng sản chẳng khác gì là bảo cọp dữ khoác lên một bộ da mới.

2. Không có Đảng Cộng sản thì Trung Quốc sẽ như thế nào?

Trong khi ĐCSTQ đang suy tàn, nhân dân đã bất ngờ khám phá ra rằng qua nhiều thập kỷ bóng ma tà ác của ĐCSTQ với những thủ đoạn lưu manh thiên biến vạn hóa đã nhồi nhét những nhân tố tà ác của nó vào trong mọi khía cạnh cuộc sống của người dân.

Khi Mao Trạch Đông chết, rất nhiều người Trung Quốc đã khóc cay đắng trước chân dung của Mao và tự hỏi “Không có Mao Chủ tịch, Trung Quốc sẽ ra sao?” Trớ trêu thay, 20 năm sau, khi Đảng Cộng sản đã mất đi tính hợp pháp để thống trị đất nước, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) lại phát động một đợt tuyên truyền mới làm cho nhân dân một lần nữa lại tự hỏi một cách lo lắng: “Không có Đảng Cộng sản thì Trung Quốc sẽ ra sao?”

Trên thực tế, việc kiểm soát chính trị toàn diện và rộng khắp của ĐCSTQ đã khắc sâu vào nền văn hóa Trung Quốc hiện nay và vào tư tưởng của người Trung Quốc đến nỗi ngay cả tiêu chuẩn mà người Trung Quốc dùng để đánh giá ĐCSTQ cũng có dấu ấn của ĐCSTQ hoặc thậm chí tiêu chuẩn đó cũng bắt nguồn từ ĐCSTQ. Nếu trong quá khứ ĐCSTQ khống chế nhân dân bằng cách nhồi nhét những nhân tố của nó vào họ, thì giờ đây ĐCSTQ đã gặt hái được những gì mà nó đã gieo trồng, bởi vì những thứ được nhồi nhét vào trong tâm trí nhân dân đã được tiêu hóa và hấp thụ vào tận các tế bào của họ. Nhân dân suy nghĩ theo lô-gíc của ĐCSTQ và tự đặt mình vào vị trí của ĐCSTQ mà phán xét đúng sai. Nói về việc ĐCSTQ thảm sát các sinh viên học sinh biểu tình ngày 4/6/1989, một số người bảo “Nếu tôi là Đặng Tiểu Bình tôi cũng sẽ dập tắt cuộc biểu tình bằng xe tăng”. Trong cuộc đàn áp Pháp Luân Công, có người hùa theo nói rằng “Nếu tôi là Giang Trạch Dân, tôi cũng sẽ tiêu diệt Pháp Luân Công”. Về việc cấm tự do ngôn luận, có người bảo rằng “Nếu tôi là ĐCSTQ tôi cũng làm như vậy”. Chân lý và lương tri đã biến mất, chỉ còn lại lô-gíc của ĐCS. Đây là một trong những thủ đoạn độc ác và ghê tởm nhất mà ĐCSTQ sử dụng xuất phát từ bản chất lưu manh của nó. Chừng nào mà những độc tố tinh thần mà ĐCSTQ đã tiêm nhiễm vẫn còn ở trong đầu óc của nhân dân, thì ĐCSTQ vẫn còn có thể tiếp tục thâu đoạt năng lượng để duy trì mạng sống vô đạo của nó.

“Trung Quốc sẽ làm được gì nếu không có Đảng Cộng sản?” Lối suy nghĩ này hoàn toàn phù hợp với mục đích của ĐCSTQ là làm cho nhân dân suy luận theo lô-gíc của chính nó.

Trung Quốc đã trải qua 5000 năm lịch sử của nền văn minh của mình mà không có ĐCSTQ. Thực tế, không có một đất nước nào trên thế giới sẽ ngừng phát triển xã hội chỉ vì sự sụp đổ của một chế độ nào đó. Tuy nhiên sau hàng thập kỷ dưới sự thống trị của ĐCSTQ, nhân dân đã không còn có thể nhìn nhận ra được thực tế này nữa. Sự tuyên truyền lâu dài của ĐCSTQ đã rèn luyện nhân dân nghĩ về Đảng như là mẹ của mình. Các đường lối chính trị của ĐCSTQ có mặt ở khắp mọi nơi đã làm cho nhân dân không còn có thể nhận thức được cuộc sống sẽ như thế nào nếu không có ĐCSTQ.

Không có Mao Trạch Đông, Trung Quốc đã không sụp đổ. Vậy thì nếu không có ĐCSTQ, Trung Quốc có sụp đổ không?

3. Đâu là nguồn gốc thật sự của sự hỗn loạn?

Rất nhiều người biết và không thích những hành vi quỷ quyệt của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), và ghê tởm những thứ đấu tranh và dối trá của nó. Nhưng đồng thời họ lại sợ hãi những cuộc vận động chính trị của ĐCSTQ và những hậu quả hỗn loạn đi theo sau, và sợ sự rối loạn một lần nữa sẽ lại viếng thăm Trung Quốc. Vì vậy, một khi ĐCSTQ dùng chữ “rối loạn” để đe dọa nhân dân; người dân liền lặng lẽ chấp nhận sự thống trị của ĐCSTQ và cảm thấy vô vọng khi phải đối diện với quyền độc tài của ĐCSTQ.

Trên thực tế, với quân đội và cảnh sát vũ trang đông hàng triệu người, ĐCSTQ là nguồn rối loạn thật sự. Những người dân thường không có tài nào gây ra hoặc có khả năng đem sự hỗn loạn đến cho đất nước. Chỉ có ĐCSTQ thoái hóa mới có thể nhẫn tâm đẩy đất nước vào tình trạng hỗn loạn từ bất cứ dấu hiệu thay đổi nào. “Ổn định quan trọng hơn tất cả mọi thứ khác” và “Diệt trừ tất cả các nhân tố bất ổn định từ trong trứng nước” — những khẩu hiệu này đã trở thành cơ sở lý luận mà ĐCSTQ dùng để đàn áp nhân dân. Vậy thì ai là nguyên nhân lớn nhất của sự bất ổn định ở Trung Quốc? Chẳng phải chính là ĐCSTQ chuyên quyền bạo chính hay sao? ĐCSTQ là chủ mưu xúi giục gây ra hỗn loạn, và sau đó lại dùng chính sự hỗn loạn mà nó tạo ra ấy để ép buộc nhân dân. Những bọn lưu manh xưa nay đều làm như thế cả.

********************

II. Đảng Cộng sản Trung Quốc hy sinh việc phát triển kinh tế

1. Cướp công thành quả lao động vất vả của nhân dân

ĐCSTQ tự nhận “tính hợp pháp” của nó nhờ sự phát triển kinh tế hơn 20 năm qua. Tuy nhiên trên thực tế nhân dân Trung Quốc đã dần dần đạt được sự phát triển đó sau khi ĐCSTQ nới lỏng những gông cùm của nó một chút, do đó sự phát triển kinh tế không có liên quan gì đến công lao của chính ĐCSTQ. Tuy nhiên, ĐCSTQ đã tự nhận sự phát triển kinh tế này là thành tựu của chính nó và bảo nhân dân phải biết ơn Đảng, như thể là sẽ không có một sự phát triển nào nếu không có ĐCSTQ. Trên thực tế tất cả chúng ta đều biết rằng nhiều đất nước phi cộng sản từ lâu đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh hơn.

Khi giành được huy chương vàng tại các thế vận hội Olympic, vận động viên bắt buộc phải cảm ơn Đảng. Đảng không ngần ngại sử dụng hình ảnh bày đặt “thể thao đại quốc” để tự ca ngợi mình. Trung Quốc đã phải chịu nhiều mất mát trong bệnh dịch SARS, nhưng tờ Nhân dân nhật báo đã đưa tin rằng Trung Quốc đã đánh bại virus “nhờ lý luận cơ bản, đường lối cơ bản, nguyên tắc cơ bản và kinh nghiệm cơ bản của Đảng”. Việc phóng phi thuyền Thần Châu 5 của Trung Quốc thành công là nhờ các chuyên gia khoa học công nghệ du hành vũ trụ, nhưng ĐCSTQ đã lấy đó làm bằng chứng để chứng tỏ rằng chỉ có ĐCSTQ mới có thể lãnh đạo nhân dân Trung Quốc gia nhập hàng ngũ của các cường quốc trên thế giới. Còn về việc Trung Quốc đăng cai tổ chức thế vận hội Olympic năm 2008, thực ra các nước phương Tây trao cho Trung Quốc một “cành Ô-liu” (biểu trưng của sự đề nghị hòa bình) để khuyến khích Trung Quốc cải thiện tình hình nhân quyền, nhưng ĐCSTQ đã dùng điều này để hỗ trợ cho những lời tự tuyên bố về tính hợp pháp của nó và để viện cớ cho việc đàn áp nhân dân Trung Quốc. “Tiềm năng thị trường khổng lồ” của Trung Quốc mà các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm, bắt nguồn từ khả năng tiêu thụ của 1,3 tỷ dân Trung Quốc. ĐCSTQ đã cướp công của tiềm năng này, và biến nó thành một vũ khí lợi hại để bắt các nước phương Tây phải hợp tác với sự thống trị của ĐCSTQ.

Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đổ tất cả những thứ xấu cho các thế lực phản động và động cơ ngầm của các cá nhân, và nhận tất cả những thứ tốt về cho sự lãnh đạo của Đảng. ĐCSTQ tận dụng tất cả mọi thành quả để làm cho những lời tự nhận về tính hợp pháp của sự thống trị của nó có sức thuyết phục hơn. Ngay cả những việc làm sai trái của Đảng cũng có thể được biến thành cái gì đó “tốt” để phục vụ cho các mục đích của nó. Ví dụ khi sự thật về sự tràn lan của bệnh AIDS đã không còn có thể che dấu được nữa, thì ĐCSTQ đã bất thần tạo ra một luận điệu mới. Đảng đã khéo léo huy động bộ máy tuyên truyền của mình, sử dụng tất cả mọi người từ các diễn viên nổi tiếng đến cả tổng bí thư của Đảng để tô vẽ chân dung của tên thủ phạm đầu sỏ, là ĐCSTQ, thành như là người mang phúc lành đến cho các bệnh nhân, như là một người hùng tiêu diệt bệnh AIDS, như là một người thách đấu với bệnh tật. Trong việc xử lý một vấn đề sinh tử nghiêm trọng như vậy, mà tất cả những gì ĐCSTQ có thể nghĩ đến là làm thế nào để sử dụng vấn đề đó để tự ca ngợi mình. Chỉ có một kẻ chủ mưu độc ác như ĐCSTQ mới có thể hành động nhẫn tâm như vậy, trâng tráo nham hiểm cướp công và hoàn toàn khinh rẻ mạng sống của con người.

2. Những hành động thiển cận gây nên những bất lợi về mặt kinh tế

Khi phải đối mặt với “khủng hoảng về tính hợp pháp” nghiêm trọng, ĐCSTQ đã thực hiện các chính sách cải cách và mở cửa vào những năm 1980 nhằm để duy trì sự thống trị của nó. Sự háo hức thành công nhanh chóng của Đảng đã đặt Trung Quốc vào một thế bất lợi mà những nhà kinh tế học gọi là “tai họa cho kẻ đến muộn”.

Những khái niệm “tai họa cho kẻ đến muộn” hay “lợi thế cho kẻ đến muộn”, như một số học giả khác đặt tên, là để nói đến một thực tế rằng các nước kém phát triển, có nghĩa là bắt đầu muộn quá trình phát triển, có thể bắt chước các nước tiên tiến trong nhiều mặt. Có hai hình thức bắt chước: bắt chước hệ thống xã hội và bắt chước các mô hình công nghệ và công nghiệp. Thường thì bắt chước hệ thống xã hội là khó, bởi vì việc cải tổ hệ thống có thể gây nguy hiểm đến các lợi ích của một số nhóm chính trị hay xã hội nào đó. Vì vậy các nước kém phát triển có khuynh hướng bắt chước công nghệ của các nước tiên tiến. Mặc dù việc bắt chước công nghệ có thể tạo ra sự tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, nhưng nó có thể gây nên nhiều rủi ro tiềm ẩn hoặc thậm chí thất bại trong việc phát triển dài hạn.

Chính xác là “tai họa cho kẻ đến muộn”, hay con đường dẫn đến thất bại, là lộ trình mà ĐCSTQ đã và đang đi theo. Trong hai thập kỷ qua, “sự bắt chước công nghệ” của Trung Quốc đã đem lại một số thành quả mà ĐCSTQ đã lợi dụng để chứng tỏ “tính hợp pháp” của nó và tiếp tục ngăn cản việc cải cách chính trị mà có thể sẽ làm tổn hại tới các lợi ích riêng của ĐCSTQ. Vì vậy, các lợi ích dài hạn của đất nước đã bị hy sinh.

3. Những cái giá đau đớn phải trả cho sự phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Trung quốc

Trong khi ĐCSTQ không ngừng khoe khoang về những tiến bộ kinh tế của mình, thì trên thực tế, nền kinh tế của Trung Quốc ngày nay xếp hạng trên thế giới còn thấp hơn thời trị vì của vua Càn Long (1711-1799) trong triều đại nhà Thanh. Trong thời vua Càn Long, GDP của Trung Quốc chiếm 51% tổng số GDP của toàn thế giới. Khi Tôn Trung Sơn thành lập nước Cộng hòa Trung Quốc (thời Quốc Dân Đảng) vào năm 1911, GDP của Trung Quốc chiếm 27% tổng số GDP của toàn thế giới. Vào khoảng năm 1923, tỷ lệ phần trăm đã bị rớt xuống, nhưng vẫn còn được 12%. Đến năm 1949, khi ĐCSTQ lên nắm quyền, tỷ lệ đó chỉ còn 5.7%, và đến năm 2003, GDP của Trung Quốc chỉ còn dưới 4% tổng số GDP của toàn thế giới. Tương phản với sự suy giảm kinh tế trong thời Quốc Dân Đảng do nhiều thập kỷ chiến tranh gây nên, thì sự suy giảm kinh tế liên tục trong thời kỳ ĐCSTQ cầm quyền lại diễn ra trong thời bình.

Ngày nay, để hợp pháp hóa quyền lực của mình, ĐCSTQ háo hức muốn có những thành công nhanh chóng và những lợi ích tức thì. Sự cải cách kinh tế khập khiễng mà ĐCSTQ thực hiện để bảo vệ các lợi ích riêng của chính nó đã gây ra những tổn thất lớn cho đất nước Trung Quốc. Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong 20 năm qua phần lớn là dựa trên việc lạm dụng quá mức hoặc thậm chí lãng phí các nguồn lực, và đã đạt được với cái giá phải trả là sự phá hủy môi trường. Một phần đáng kể của GDP của Trung Quốc là đạt được bằng cách hy sinh những cơ hội của các thế hệ tương lai. Vào năm 2003, Trung Quốc chỉ chiếm dưới 4% của nền kinh tế toàn thế giới, trong khi đó lượng tiêu thụ thép, xi-măng và những vật liệu khác của Trung Quốc chiếm 1/3 tổng lượng tiêu thụ toàn cầu. [3]

Từ những năm 1980 cho đến cuối thập kỷ 1990, sự sa mạc hóa ở Trung Quốc đã tăng từ hơn 1000 một chút lên đến 2460 kilô mét vuông. Đất trồng trọt bình quân đầu người cũng giảm từ khoảng 2 mẫu vào 1980 xuống chỉ còn 1,43 mẫu vào năm 2003. [4] Sự bùng phát tràn lan việc thu hồi/giải tỏa đất đai để phát triển [công nghiệp] đã làm cho Trung Quốc mất khoảng 100 triệu mẫu đất trồng trọt chỉ trong vòng có một vài năm. Tuy nhiên, trên thực tế tỷ lệ đất bị thu hồi được đem sử dụng chỉ là 43%. Hiện thời, tổng số lượng nước phế thải là 43,95 tỷ tấn, vượt quá khả năng của môi trường khoảng 82%. Trong bảy hệ thống sông chính, 40,9% lượng nước không còn có thể dùng để cho người và súc vật uống. 75% hồ nước bị ô nhiễm nên đã sinh ra nhiều mức độ dinh dưỡng khác nhau. [5] Chưa bao giờ sự xung đột giữa con người và thiên nhiên ở Trung Quốc lại căng thẳng như ngày nay. Cả Trung Quốc và thế giới đều không thể trụ vững được với sự tăng trưởng không lành mạnh như vậy. Bị mê mờ trước sự hào nhoáng bề mặt của các cao ốc và những khu nhà lớn, nhân dân đã không nhận thức được sự khủng hoảng sinh thái ở trước mặt. Tuy nhiên, một khi đến lúc thiên nhiên trừng phạt nhân loại, nó sẽ mang đến những hậu quả thảm khốc cho đất nước Trung Quốc.

So sánh với nước Nga, kể từ khi rũ bỏ chủ nghĩa cộng sản, Nga đã thực hiện cải cách kinh tế và chính trị cùng một lúc. Sau khi trải qua một khoảng thời gian khó khăn ngắn, Nga bắt đầu phát triển nhanh chóng. Từ năm 1999 cho đến năm 2003, GDP của Nga đã tăng tổng cộng được 29,9%. Mức sống của nhân dân cũng đã được cải thiện đáng kể. Giới thương mại phương Tây đã không chỉ bắt đầu nói về “hiện tượng kinh tế Nga”, mà đã thực sự bắt đầu đầu tư vào Nga, một điểm nóng mới, trên diện rộng. Thứ hạng của Nga trong số các nước hấp dẫn nhất cho việc đầu tư đã nhảy từ vị trí thứ 17 vào năm 2002 lên đến vị trí thứ 8 trong năm 2003, lần đầu tiên trở thành một trong 10 nước hấp dẫn nhất trên thế giới cho việc đầu tư.

Ngay cả Ấn Độ, một đất nước mà trong tư tưởng của hầu hết người dân Trung Quốc là nghèo nàn và đầy những xung đột sắc tộc đã có sự phát triển vượt bậc và đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7 đến 8% hằng năm kể từ khi bắt đầu cải cách kinh tế vào năm 1991. Ấn Độ có một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh trong một nền kinh tế thị trường, một hệ thống tài chính lành mạnh, một hệ thống dân chủ phát triển tốt, và tâm thái của nhân dân ổn định. Ấn Độ đã được cộng đồng quốc tế công nhận là một nước có tiềm năng phát triển lớn.

Tương phản lại, ĐCSTQ chỉ thực hiện cải cách kinh tế mà không có cải cách chính trị. Vẻ bề ngoài giả tạo của một nền kinh tế phát triển ngắn hạn đã cản trở “sự phát triển của các hệ thống xã hội” một cách tự nhiên. Chính việc cải cách khập khiễng này đã gây ra sự mất cân bằng càng ngày càng lớn trong xã hội Trung Quốc và làm các mâu thuẫn trong xã hội càng ngày càng thêm sâu sắc. Những thành quả về mặt tài chính mà nhân dân đạt được không được các hệ thống xã hội ổn định bảo vệ. Hơn nữa, trong quá trình tư hữu hóa các tài sản nhà nước, những kẻ nắm quyền hành trong ĐCSTQ đã lợi dụng chức vụ để nhét đầy túi tham của mình.

4. Đảng Cộng sản Trung quốc lừa nông dân hết lần này đến lần khác

ĐCSTQ dựa vào nông dân để đoạt quyền lực. Những người dân nông thôn ở các vùng do ĐCSTQ kiểm soát đã cống hiến tất cả những gì họ có cho ĐCSTQ từ khi Đảng mới còn phôi thai. Nhưng sau khi ĐCSTQ chiếm được quyền kiểm soát đất nước, những người nông dân đã phải chịu sự phân biệt đối xử nghiêm trọng.

Sau khi ĐCSTQ thành lập chính quyền, nó đã dựng lên một hệ thống vô cùng bất công: đó là hệ thống đăng ký hộ khẩu. Hệ thống này phân loại nhân dân thành dân thành thị và dân nông thôn, tạo ra một sự chia rẽ vô lý và đối kháng trong nội bộ đất nước. Nông dân không có bảo hiểm y tế, không có trợ cấp thất nghiệp, không có lương hưu và không được vay tiền của ngân hàng. Nông dân là giai cấp nghèo khổ nhất ở Trung Quốc, nhưng cũng lại là giai cấp bị đánh thuế nặng nhất. Nông dân phải đóng tiền cho quỹ tiết kiệm bắt buộc, quỹ phúc lợi xã hội, quỹ quản lý hành chính, lệ phí giáo dục bổ xung, lệ phí kiểm soát sinh đẻ, lệ phí tổ chức và huấn luyện lực lượng dân quân, lệ phí xây dựng đường quốc lộ và phí để trả lương cho những người phục vụ trong quân đội. Bên cạnh tất cả các lệ phí này, họ còn phải bán một phần thóc gạo mà họ sản xuất được với một giá cố định cho nhà nước như một yêu cầu bắt buộc, và phải trả thuế nông nghiệp, thuế đất, thuế đặc sản địa phương, thuế giết mổ và còn nhiều loại thuế má khác nữa. Ngược lại, dân thành thị không phải trả các khoản thuế và lệ phí này.

Vào đầu năm 2004, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã công bố “Tài liệu số 1” nói rằng nông thôn Trung Quốc đang phải đối mặt với thời kỳ khó khăn nhất kể từ khi bắt đầu cải cách kinh tế năm 1978. Thu nhập của hầu hết nông dân đã không tăng mà thậm chí còn giảm. Họ đã trở nên nghèo hơn, và khoảng cách thu nhập giữa dân nông thôn và dân thành thị tiếp tục nới rộng hơn.

Trong một lâm trường ở phía đông tỉnh Tứ Xuyên, chính quyền cấp trên đã chi 500 nghìn nhân dân tệ (khoảng 60 nghìn 500 đô la Mỹ) cho một dự án trồng lại rừng. Những người lãnh đạo lâm trường trước hết đã bỏ túi 200 nghìn nhân dân tệ, rồi mới cấp 300 nghìn còn lại cho việc trồng rừng. Khi đi qua mỗi cấp quản lý, số tiền lại bị thất thoát một lần, cuối cùng chỉ còn lại rất ít cho những người nông dân địa phương trực tiếp trồng rừng. Chính quyền không cần phải lo rằng những người nông dân sẽ từ chối thực hiện dự án vì không đủ kinh phí. Những người nông dân này nghèo khổ đến nỗi họ phải làm việc với một khoản thù lao rất ít ỏi. Đây là một trong những lý do giải thích tại sao mà những sản phẩm sản xuất ở Trung Quốc lại có thể bán rẻ đến như vậy.

5. Dùng lợi ích kinh tế để gây sức ép đối với các nước phương Tây

Nhiều người tưởng rằng buôn bán với Trung Quốc sẽ thúc đẩy nhân quyền, tự do ngôn luận và cải cách dân chủ ở Trung Quốc. Sau hơn một thập kỷ, rõ ràng là giả định này chỉ là sự mơ tưởng. Một so sánh về các nguyên tắc làm ăn ở Trung Quốc và các nước phương Tây cho ta một ví dụ điển hình. Sự công bằng và minh bạch của xã hội phương Tây bị thay thế bằng những quan hệ cá nhân, hối lộ và biển thủ ở Trung Quốc. Nhiều công ty phương Tây đã trở thành những thủ phạm hàng đầu vì đã làm trầm trọng thêm tệ nạn tham nhũng ở Trung Quốc. Một số công ty thậm chí còn giúp đỡ ĐCSTQ che dấu những hành vi vi phạm nhân quyền và đàn áp chính nhân dân của nó.

ĐCSTQ hành động như Mafia bằng cách chơi con bài kinh tế trong chính sách đối ngoại. Hợp đồng mua máy bay của Trung Quốc sẽ được giao cho Pháp hay Mỹ là còn tùy thuộc vào nước nào giữ im lặng về vấn đề nhân quyền của ĐCSTQ. Có rất nhiều thương gia và chính trị gia phương Tây bị dẫn dắt và điều khiển bởi lợi nhuận kinh tế từ Trung Quốc. Một số công ty công nghệ thông tin từ Bắc Mỹ đã cung cấp các sản phẩm chuyên dụng cho ĐCSTQ để phong tỏa Internet. Để thâm nhập vào thị trường Trung Quốc, một số website trên Internet đã đồng ý tự kiểm duyệt mình và lọc bỏ đi những thông tin mà ĐCSTQ không thích.

Theo số liệu từ Bộ Thương mại của Trung Quốc, vào cuối tháng 4 năm 2004, Trung Quốc đã thống kê được tổng cộng có 990 tỉ đô la Mỹ đầu tư từ nước ngoài vào trong nhiều dự án khác nhau. “Sự truyền máu” khổng lồ cho nền kinh tế của chính quyền của ĐCSTQ từ các nguồn vốn nước ngoài là rõ rành rành. Nhưng trong quá trình đầu tư, ngoại tệ đã không mang đến khái niệm dân chủ, tự do và nhân quyền như những nguyên tắc cơ bản cho nhân dân Trung Quốc. ĐCSTQ đã lợi dụng, trong sự tuyên truyền của nó, sự hợp tác vô điều kiện từ phía các nhà đầu tư nước ngoài và chính phủ của các nước và sự xu nịnh của một số nước. Bằng cách lợi dụng sự thịnh vượng trên bề mặt của nền kinh tế Trung Quốc, các quan chức của ĐCSTQ đã trở nên cực kỳ lão luyện trong việc câu kết với các thương nhân để chia nhau tài sản của nhà nước và ngăn cản việc cải cách chính trị.

********************

III. Kỹ thuật tẩy não của Đảng Cộng sản Trung quốc đã chuyển từ “trắng trợn” sang “tinh vi”

Người ta thường nghe nói rằng: “Tôi biết trong quá khứ Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thường xuyên nói dối, nhưng lần này nó nói thật”. Trớ trêu thay, hồi tưởng lại, đây là câu mà mọi người thường nói mỗi lần ĐCSTQ có sai lầm nghiêm trọng trong quá khứ. Điều này phản ánh khả năng mà ĐCSTQ đã tích lũy được qua nhiều thập kỷ là dùng những lời dối trá để lừa mị nhân dân.

Nhân dân đã hình thành một số phản kháng đối với những câu chuyện hoang đường của ĐCSTQ. Đáp lại, sự tuyên truyền bịa đặt của ĐCSTQ đã trở nên “tinh xảo” và “chuyên nghiệp” hơn. Phát triển từ những lời tuyên truyền kiểu hô khẩu hiệu trong quá khứ, những lời dối trá của ĐCSTQ đã trở nên “tinh vi” và “xảo quyệt” hơn. Đặc biệt là trong điều kiện phong tỏa thông tin mà ĐCSTQ đã thực hiện trên toàn Trung Quốc, Đảng dựng chuyện dựa trên một phần sự thật để đánh lạc hướng công chúng, điều này thậm chí còn có hại và dối trá hơn cả những câu chuyện hoang đường.

Chinascope (Trung Quốc tụ tiêu), một tờ báo tiếng Anh, đăng một bài viết hồi tháng 10 năm 2004 phân tích những trường hợp mà ĐCSTQ đã sử dụng những thủ đoạn tinh vi hơn là bịa đặt dựng chuyện để che đậy sự thật. Khi dịch SARS bùng phát ở lục địa Trung Quốc năm 2003, thế giới bên ngoài đã nghi ngờ rằng Trung Quốc đã che giấu thông tin về dịch bệnh, và thậm chí ĐCSTQ đã lặp đi lặp lại nhiều lần chối không thừa nhận nó. Để tìm hiểu xem ĐCSTQ có trung thực khi đưa tin về dịch bệnh SARS hay không, tác giả của bài báo đã đọc tất cả trên 400 bài về dịch bệnh SARS từ khi bắt đầu cho đến tháng 4 năm 2003 đăng trên website của Tân Hoa Xã.

Những bài báo này kể một câu chuyện như sau: Ngay sau khi dịch bệnh SARS xuất hiện, các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương đã huy động các chuyên gia kịp thời chữa trị cho các bệnh nhân và sau đó họ đã được xuất viện khi khỏi bệnh. Để đối phó với những kẻ gây rối kích động nhân dân mua hàng hóa tích trữ để tránh không phải đi ra khỏi nhà phòng khi bệnh dịch trở nên lan tràn, chính phủ đã ngay lập tức chặn đứng những tin đồn và thi hành các biện pháp ngăn không cho những tin đồn lan rộng, vì vậy trật tự xã hội đã được đảm bảo một cách có hiệu lực. Mặc dù có một số rất ít các lực lượng chống Trung Quốc đã vô cớ nghi ngờ chính quyền Trung Quốc che giấu sự thật, hầu hết nhân dân và các nước khác không tin những tin đồn này. Hội chợ Thương mại Quảng Châu chuẩn bị diễn ra đang chờ đón sự tham gia đông nhất chưa từng có của các doanh nghiệp trên khắp thế giới. Những du khách đến từ nước ng̣̣oài khẳng định rằng việc đi lại ở Trung Quốc là rất an toàn. Đặc biệt là các chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới – WHO [những người đã bị ĐCSTQ lừa] đã công bố rằng chính phủ Trung Quốc đã sẵn sàng hợp tác và thực hiện những biện pháp cần thiết để đối phó với SARS, vì vậy sẽ không có vấn đề gì. Và các chuyên gia đã phê chuẩn tỉnh Quảng Đông là hết dịch (sau hơn 20 ngày trì hoãn) sau khi đã khảo sát hiện trường.

Hơn 400 bài viết này đã tạo ra cho tác giả một ấn tượng rằng ĐCSTQ đã minh bạch trong suốt 4 tháng này và đã hành động một cách có trách nhiệm để bảo vệ sức khỏe của nhân dân, và đã thuyết phục nhân dân rằng ĐCSTQ đã không che dấu bất cứ điều gì. Tuy nhiên, vào 20-4-2003, Văn phòng Thông tin của Hội đồng Nhà nước (Quốc vụ viện tân văn) đã thông báo trong buổi họp báo của mình rằng SARS đã thật sự bùng phát ở Trung Quốc và như vậy đã gián tiếp thừa nhận rằng chính quyền đã che giấu bệnh dịch. Chỉ khi đó tác giả này mới thấy sự thật và hiểu ra các thủ đoạn lưu manh lừa đảo mà ĐCSTQ sử dụng cũng đã “tiến cùng thời gian”.

Trong cuộc tổng tuyển cử ở Đài Loan, ĐCSTQ đã sử dụng cùng một thủ đoạn “tinh xảo” tung tin rằng cuộc bầu cử tổng thống sẽ dẫn đến các tai họa lớn như: tỷ lệ tự tử sẽ tăng vọt, thị trường chứng khoán sụp đổ, “các căn bệnh kỳ quặc” gia tăng, các chứng rối loạn tâm thần, sự di dân ra khỏi đảo, sự hận thù trong gia đình, thái độ nhẫn tâm với đời, khủng hoảng thị trường, bắn giết bừa bãi trên đường phố, biểu tình và chống đối, bao vây dinh tổng thống, rối loạn xã hội, trò hề chính trị, v.v… ĐCSTQ đã hàng ngày nhồi nhét những luận điệu này vào đầu người dân ở lục địa Trung Quốc, nhằm dẫn dắt nhân dân đến chỗ tin rằng tất cả những tai họa này là kết quả thảm khốc của bầu cử và Trung Quốc không bao giờ nên tổ chức bầu cử dân chủ.

Về “vấn đề” Pháp Luân Công, ĐCSTQ đã thể hiện một trình độ kỹ thuật dối trá thậm chí còn cao hơn để chụp mũ mưu hại Pháp Luân Công. ĐCSTQ dàn dựng hết màn kịch này đến màn kịch khác. Thảo nào mà đã có quá nhiều người dân Trung Quốc bị lừa gạt. Sự tuyên truyền bẩn thỉu của ĐCSTQ dối trá đến nỗi những nạn nhân của nó đã mù quáng tin vào những lời nói dối và nghĩ rằng họ đã nắm được sự thật.

Sự tuyên truyền tẩy não của ĐCSTQ trong nhiều thập kỷ qua đã trở nên lừa dối tinh xảo hơn, đó cũng là sự phát triển tự nhiên của bản tính lưu manh của ĐCSTQ.

********************

IV. Đạo đức giả của Đảng Cộng sản Trung quốc trong vấn đề nhân quyền

1. Từ lợi dụng dân chủ để chiếm đoạt quyền lực cho đến giả vờ dân chủ để duy trì chế độ độc tài

“Trong một đất nước dân chủ, chủ quyền nằm trong tay nhân dân, phù hợp với Đạo Trời và Đất. Nếu một nước tự nhận là dân chủ nhưng chủ quyền không thuộc về nhân dân, điều đó nhất định là không đi đúng đường mà chỉ có thể là lệch hướng, và nước này không phải là một nước dân chủ… làm sao mà dân chủ có thể trở thành hiện thực nếu không chấm dứt sự cầm quyền của Đảng và nếu không có một cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu? Hãy trả lại quyền lực của nhân dân cho nhân dân!”.

Có phải đoạn trích dẫn trên nghe giống như là từ một bài viết của “các thế lực thù địch ở hải ngoại” với mục đích là đả kích ĐCSTQ? Trên thực tế, tuyên bố trên là từ một bài viết đăng trên tờ Tân Hoa nhật báo, tờ báo chính thức của ĐCSTQ số ra ngày 27-9-1945.

ĐCSTQ đã từng hô hoán ầm ỹ “bầu cử phổ thông đầu phiếu” và đòi hỏi “trả lại quyền lực của nhân dân cho nhân dân” nhưng sau đó lại coi “bầu cử phổ thông đầu phiếu” như là một điều cấm kỵ kể từ khi nó cướp được chính quyền. Những người dân được mệnh danh là “những người chủ của đất nước” lại không có bất kể một quyền quyết định gì. Không có từ ngữ nào có thể mô tả được bản tính lưu manh của ĐCSTQ.

Nếu bạn cho rằng những gì đã qua thì để nó qua và tà giáo Trung Cộng phát đạt nhờ giết chóc và cai trị đất nước bằng cách lừa dối sẽ tự cải tạo mình và trở nên hiền lành và sẵn lòng “trả lại quyền lực của nhân dân cho nhân dân”, thì bạn đã lầm. Hãy nghe những lời của tờ Nhân dân nhật báo, cái loa của ĐCSTQ nói ngày 23/10/2004, 60 năm sau công bố đã trích dẫn ở trên: “Việc kiểm soát không nhân nhượng đối với ý thức hệ là nền tảng chính trị và tư tưởng thiết yếu để củng cố quyền lực của Đảng”.

Gần đây, ĐCSTQ đã đề xuất cái gọi là “Nguyên tắc Ba Không” mới, [6] mà thứ nhất là “Phát triển Không Bàn luận”. “Phát triển” ở đây là giả, còn “Không bàn luận” ở đây là nhấn mạnh nguyên tắc “một hội trường chỉ có một tiếng nói”, đó mới là mục đích thực sự của ĐCSTQ.

Khi phóng viên hãng tin CBS nổi tiếng Mike Wallace hỏi Giang Trạch Dân vào năm 2000 là tại sao Trung Quốc vẫn chưa tổ chức bầu cử dân chủ, Giang Trạch Dân đã trả lời: “Học thức của nhân dân Trung Quốc vẫn còn kém quá”.

Tuy nhiên, ngay từ ngày 25/2/1939, ĐCSTQ đã gào thét trên tờ Tân Hoa nhật báo của mình rằng “Họ (Quốc Dân Đảng) nghĩ rằng chính trị dân chủ ở Trung Quốc không nên được thực hiện ngày nay mà phải đợi đến vài năm sau nữa. Họ hy vọng rằng vấn đề chính trị dân chủ nên được hoãn lại cho đến khi trình độ kiến thức và học vấn của người dân Trung Quốc đạt đến trình độ của các nước dân chủ tư sản ở Châu Âu và Châu Mỹ… nhưng chỉ có ở trong hệ thống dân chủ thì việc giáo dục và đào tạo nhân dân mới trở nên dễ dàng hơn”.

Sự khác biệt đạo đức giả giữa những gì Tân Hoa nói năm 1939 và những gì Giang Trạch Dân nói năm 2000 đã phản ánh chân tướng của bản tính lưu manh của ĐCSTQ.

Sau cuộc thảm sát trên Quảng trường Thiên An Môn năm 1989, ĐCSTQ đã tái ra nhập vũ đài thế giới với một kỷ lục nhân quyền tồi tệ nhất. Lịch sử đã cho ĐCSTQ một cơ hội chọn lựa. Hoặc là nó phải tôn trọng nhân dân của mình và phải thực sự cải thiện tình hình nhân quyền hoặc là nó sẽ tiếp tục chà đạp nhân quyền ở Trung Quốc trong khi giả vờ với thế giới bên ngoài là nó tôn trọng nhân quyền để tránh khỏi bị cộng đồng quốc tế lên án.

Bất hạnh thay, kiên định với bản tính bạo ngược của nó, ĐCSTQ đã không do dự mà chọn con đường thứ hai. Nó đã tập hợp và duy trì một số lượng lớn những kẻ có tài nhưng vô đạo đức trong các lĩnh vực khoa học và tôn giáo, và cụ thể chỉ đạo họ dựng lên những tuyên truyền dối trá ở hải ngoại để truyền bá những tiến bộ bịa đặt về nhân quyền của ĐCSTQ. Nó bịa ra một loạt các ngụy biện nhân quyền như “quyền sống còn”, hay quyền được có chỗ nương thân và lương thực. Lý lẽ ngụy biện kiểu như thế này: Khi người ta bị đói, họ không có quyền lên tiếng có phải không? Thậm chí nếu những người bị đói không thể lên tiếng được, những người ăn uống no đủ có được phép lên tiếng cho những người bị đói hay không? ĐCSTQ thậm chí còn cố gắng lừa gạt nhân dân Trung Quốc và các nước dân chủ ở phương Tây bằng cách chơi các ván bài về nhân quyền, thậm chí còn dám ngang nhiên tuyên bố rằng “hiện nay là thời kỳ tốt nhất của nhân quyền ở Trung Quốc”.

Điều 35 của Hiến pháp Trung Quốc qui định rằng công dân của Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền tự do phát biểu, xuất bản, hội họp, liên kết, phản đối và biểu tình. ĐCSTQ chỉ đơn thuần là đang chơi chữ mà thôi. Dưới ách thống trị của ĐCSTQ, vô số người đã bị tước đoạt đi các quyền tự do tín ngưỡng, ngôn luận, xuất bản, hội họp và quyền được bào chữa hợp pháp. ĐCSTQ thậm chí còn ra lệnh rằng việc thỉnh cầu của một số nhóm người cũng bị coi là bất hợp pháp. Không dưới một lần vào năm 2004, một số nhóm thường dân đã đệ đơn xin diễu hành ở Bắc Kinh. Thay vì cấp phép, chính phủ đã bắt giam những người đệ đơn. Chính sách “một đất nước, hai chế độ” đối với Hồng Công mà hiến pháp của ĐCSTQ đã phê chuẩn cũng chỉ là một trò bịp bợm mà thôi. ĐCSTQ tuyên bố rằng sẽ không có gì thay đổi ở Hồng kông trong vòng 50 năm, nhưng nó đã cố chuyển hai chế độ thành một bằng cách cố gắng thông qua một đạo luật độc tài và bạo ngược, là Điều 23 của Luật Cơ bản (Hiến pháp của Hồng Công – chú thích của dịch giả dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, không phải là văn nguyên gốc) chỉ trong vòng có 5 năm sau khi Hồng Công được trả về cho Trung Quốc. [7]

Một mánh khóe mới thật nham hiểm của ĐCSTQ là giả vờ cho phép “nới lỏng quyền tự do ngôn luận” để che đậy cấp độ và quy mô của hệ thống kiểm soát và theo dõi, giám sát khổng lồ của nó. Người Trung Quốc ngày nay có vẻ như dám nói ra những suy nghĩ của mình tự do hơn và bên cạnh đó, mạng Internet đã cho phép tin tức được truyền đi nhanh hơn. Vì vậy ĐCSTQ tuyên bố rằng bây giờ nó đã cho phép tự do ngôn luận và có rất nhiều người đã tin theo như vậy. Nhưng đó chỉ là một biểu hiện giả tạo. Không phải là ĐCSTQ đã trở nên tốt lành, mà là Đảng không thể ngăn chặn được trào lưu phát triển xã hội và những tiến bộ về mặt công nghệ. Chúng ta hãy xem xét ĐCSTQ đang đóng vai trò gì đối với mạng Internet: Nó phong tỏa các website, gạn lọc các thông tin, theo dõi các phòng chat, kiểm soát thư điện tử, và rồi buộc tội những người sử dụng mạng Internet. Tất cả mọi điều nó làm đều thể hiện bản tính thoái hóa của nó. Ngày nay, với sự giúp đỡ của một số nhà tư bản không thèm đếm xỉa gì đến nhân quyền và lương tâm, cảnh sát của ĐCSTQ đã được trang bị những thiết bị công nghệ cao nhờ đó mà họ có thể theo dõi mọi hoạt động của những người sử dụng Internet từ bên trong những chiếc xe đi tuần tra. Khi chúng ta nhìn vào sự suy đồi của ĐCSTQ — hành ác giữa thanh thiên bạch nhật — trong bối cảnh của xu hướng trên toàn cầu tiến đến tự do dân chủ, làm sao chúng ta có thể hy vọng rằng nó sẽ tiến bộ về mặt nhân quyền? Chính bản thân ĐCSTQ đã nói toạc ra là: “Nó nới lỏng ra bên ngoài nhưng thắt chặt ở bên trong”. Bản tính lưu manh của ĐCSTQ không bao giờ thay đổi.

Để tạo nên một hình ảnh tốt đẹp cho chính mình tại Ủy ban Nhân quyền Liên hiệp quốc, năm 2004 ĐCSTQ đã dàn dựng một chuỗi các sự kiện trừng phạt nghiêm khắc những người vi phạm nhân quyền. Tuy nhiên, những sự kiện này chỉ là để dành riêng cho con mắt của những người nước ngoài mà thôi và không thực chất. Bởi vì ở Trung Quốc, kẻ vi phạm nhân quyền lớn nhất chính là ĐCSTQ cũng như cựu Tổng bí thư của nó là Giang Trạch Dân, cựu Bí thư Ban Chính trị và Pháp luật La Cán, Bộ trưởng Chu Vĩnh Khang và Thứ trưởng Lưu Kinh của Bộ Công an. Việc họ biểu diễn màn kịch trừng phạt những người vi phạm nhân quyền cũng giống như một tên trộm đang hô hoán lên: “Hãy bắt lấy tên trộm!”

Điều này cũng rất giống như hành động của một kẻ hiếp dâm hàng loạt, khi còn có thể trốn khỏi tầm mắt của công chúng, thường tấn công 10 cô gái mỗi ngày. Sau đó, do có quá nhiều người nhìn thấy nên trước đám đông hắn chỉ có thể tấn công một cô gái. Vậy có thể nói rằng hắn đã trở nên tốt hơn không? Việc hắn chuyển từ tấn công bí mật sang hiếp dâm trước công chúng chỉ chứng tỏ rằng tên vô lại này thậm chí còn đê tiện và vô liêm sỉ hơn trước kia. Bản tính của tên vô lại chẳng thay đổi một chút nào hết. Điều đã thay đổi chỉ là hoàn cảnh đã không còn dễ dàng để cho hắn phạm tội như trước được nữa.

ĐCSTQ cũng giống hệt như kẻ hiếp dâm hàng loạt này. Bản tính độc tài của ĐCSTQ và bản năng sợ mất quyền lực của nó đã quyết định rằng nó sẽ không tôn trọng các quyền của nhân dân. Nhân lực, vật lực và tài lực dùng để che giấu hiện trạng nhân quyền của nó đã vượt xa các nỗ lực của nó trong việc thực sự cải thiện tình hình về nhân quyền. Thú tính tàn sát và đàn áp bừa bãi của ĐCSTQ ở khắp mọi nơi trên toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc là nỗi bất hạnh lớn nhất của nhân dân Trung Quốc.

2. Giả trang để hành ác và núp bóng “Luật pháp”

Để bảo vệ lợi ích của những nhóm người có quyền lợi đặc biệt, ĐCSTQ một mặt đã vứt bỏ cái mặt nạ trước kia của mình và đã hoàn toàn bỏ rơi công nhân, nông dân, và quần chúng, mặt khác đẩy mạnh cùng với thời gian các thủ đoạn lưu manh và lừa đảo của mình khi càng ngày càng có nhiều việc vi phạm nhân quyền của ĐCSTQ bị vạch trần ra trước cộng đồng quốc tế. ĐCSTQ đã sử dụng những ngôn từ thông dụng như “pháp quyền”, “thị trường”, “vì dân”, và “cải cách” để lừa dối nhân dân. ĐCSTQ không bao giờ thay đổi bản tính tà ác lưu manh của mình cho dù nó có khoác lên mình một “bộ Âu phục”. Hình ảnh đó lại càng dễ lừa người hơn là khi ĐCSTQ khoác “bộ y phục của Mao”. Trong tác phẩm Trại gia súc của George Orwell (xuất bản năm 1945), các con lợn học cách đi đứng bằng hai chân. Kỹ năng mới có này đã đem đến cho những con lợn đó một hình ảnh mới, nhưng nó không thay đổi được bản tính heo của chúng.

Làm luật và qui định vi phạm Hiến pháp Trung quốc

Những luật và qui định trái với Hiến pháp được chuyển xuống cho các nhân viên thực thi pháp luật ở các cấp như là “cơ sở pháp lý” để cản trở các nỗ lực của nhân dân nhằm chấm dứt đàn áp, đòi quyền được tự do và bảo vệ nhân quyền.

Xử lý những vấn đề phi chính trị bằng các thủ đoạn chính trị

Một vấn đề xã hội bình thường bị thổi phồng lên thành “cạnh tranh với Đảng để lấy lòng quần chúng”, “lật đổ Đảng và nhà nước”, “nổi loạn” và “các lực lượng thù địch”. ĐCSTQ cố tình chính trị hóa các vấn đề phi chính trị để có thể sử dụng các cuộc vận động chính trị như một công cụ tuyên truyền để kích động lòng thù hận của nhân dân.

Giải quyết các vấn đề chính trị bằng các thủ đoạn lén lút

Mánh khóe mới nhất của ĐCSTQ dùng để tấn công những công dân ủng hộ dân chủ và các trí thức có tư tưởng độc lập là gài bẫy để bỏ tù họ. Việc gài bẫy kiểu như vậy bao gồm đổ vấy cho họ những tội danh như mua bán dâm và trốn thuế. Những kẻ trực tiếp tấn công thường hành động kín đáo và không để lộ danh tính để tránh sự lên án của mọi người. Những tội danh như thế này, đủ để hủy hoại thanh danh của những người bị đổ tội, cũng được dùng để làm nhục họ trước công chúng.

Sự thay đổi duy nhất của bản tính lưu manh của ĐCSTQ, nếu có, là nó đã trở nên thậm chí còn trơ trẽn và vô nhân tính hơn mà thôi.

3. Đảng Cộng sản Trung quốc bắt giữ hơn một tỷ người làm con tin bằng thứ lô-gíc méo mó của nó

Hãy tưởng tượng rằng một tên tội phạm dâm loạn đột nhập vào nhà và hãm hiếp một cô gái. Trong lúc hầu tòa, tên tội phạm này tự bào chữa cho mình bằng cách lý luận rằng hắn đã không giết nạn nhân mà chỉ hãm hiếp cô ta thôi. Bởi vì giết người là tội nặng hơn hiếp dâm, hắn cãi lý rằng hắn vô tội và phải được trả tự do ngay lập tức. Hắn nói rằng mọi người còn cần phải khen ngợi hắn vì hắn chỉ có hiếp dâm chứ không giết người.

Lý luận này nghe có vẻ lố bịch. Tuy nhiên, cái lý lẽ của ĐCSTQ dùng để biện hộ cho cuộc thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn mà nó thực hiện ngày 4/6/1989 là giống hệt như cái lý lẽ của tên tội phạm trên. ĐCSTQ biện hộ rằng “việc đàn áp các sinh viên” đã tránh được “một sự rối loạn trong nước” tiềm ẩn ở Trung Quốc. Để ngăn chặn “sự rối loạn trong nước”, thì việc đàn áp các sinh viên vì vậy là đúng.

“Hãm hiếp hoặc giết người, làm gì thì tốt hơn?” Việc tên tội phạm này hỏi quan tòa một câu hỏi như vậy chỉ cho thấy rằng tên tội phạm đó đã trở nên vô liêm sĩ đến mức nào. Tương tự như vậy, trong cuộc thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn, ĐCSTQ và bọn hầu đoàn của nó đã không suy nghĩ kỹ xem rằng nó có phải là đã phạm tội giết người hay không mà trái lại, chúng lại còn hỏi dân chúng là làm thế nào thì tốt hơn – “đàn áp các sinh viên hay là để rối loạn trong nước mà có thể dẫn đến nội chiến?”

ĐCSTQ kiểm soát toàn bộ bộ máy nhà nước và tất cả các phương tiện tuyên truyền. Nói một cách khác, 1,3 tỷ người dân Trung Quốc đang bị ĐCSTQ giữ làm con tin. Với 1,3 tỷ con tin ở trong tay, ĐCSTQ luôn luôn có thể biện hộ cho “học thuyết con tin” của nó rằng nếu nó không đàn áp một nhóm người nào đó, thì toàn bộ đất nước sẽ lâm vào cảnh rối loạn hay thảm họa. Sử dụng điều này như một cái cớ, ĐCSTQ có thể tùy ý đàn áp bất cứ một cá nhân hay một nhóm người nào đó, và việc đàn áp của nó luôn luôn có thể được cho là đúng. Với một kiểu lý luận méo mó và mị dân như vậy, thử hỏi là còn có tên tội phạm nào mà vô liêm sỉ hơn ĐCSTQ nữa hay không?

4. Vừa đấm vừa xoa – từ ban tặng “tự do” đến leo thang đàn áp

Nhiều người dân Trung Quốc cảm thấy rằng hiện nay họ đang được hưởng nhiều “tự do” hơn trước kia, nên họ hy vọng về triển vọng tiến bộ của ĐCSTQ. Trên thực tế, mức độ tự do mà người dân được “ban tặng” còn tùy thuộc vào sự cảm nhận khủng hoảng của ĐCSTQ. ĐCSTQ sẽ làm bất cứ điều gì để duy trì những lợi ích tập thể của Đảng, bao gồm cả việc ban tặng cái gọi là ‘dân chủ, tự do và nhân quyền’ cho nhân dân.

Tuy nhiên, dưới sự thống trị của Đảng Cộng sản, cái gọi là “tự do” mà ĐCSTQ ban tặng không được bất cứ luật nào bảo vệ. Cái gọi là “tự do” ấy thuần túy chỉ là một thủ đoạn để lừa dối và khống chế nhân dân trong xu thế tiến tới dân chủ trên toàn thế giới. Thực ra, cái “tự do” này là một sự xung đột không thể hòa giải được với chế độ độc tài của ĐCSTQ. Một khi sự xung đột ấy vượt quá mức chịu đựng của ĐCSTQ, ĐCSTQ có thể lấy lại tất cả mọi sự “tự do” ngay lập tức. Trong lịch sử của ĐCSTQ, đã có một vài giai đoạn khá là tự do ngôn luận, nhưng sau mỗi giai đoạn đó là một thời kỳ bị kiểm soát rất chặt chẽ. Các chu trình tuần hoàn kiểu như vậy được tiến hành trong suốt lịch sử của ĐCSTQ đã cho thấy bản tính lưu manh của ĐCSTQ.

Vào thời đại Internet ngày nay, nếu bạn đến xem website Tân Hoa hay tờ Nhân dân nhật báo trực tuyến chính thức của ĐCSTQ, bạn sẽ thấy rằng thật sự là có vài bài báo ở đó đưa những tin tức tiêu cực về Trung Quốc. Thứ nhất, đấy là bởi vì ngày nay có quá nhiều tin xấu lan truyền nhanh chóng ở Trung Quốc, và các cơ quan thông tấn này buộc phải đưa tin về các sự việc này để lấy uy tín. Thứ hai là, quan điểm của các bài báo đó phù hợp với quyền lợi của Đảng, có nghĩa là “một chút phê bình nhẹ nhàng đem đến lợi ích rất lớn”. Các bài báo đó luôn luôn quy nguyên nhân của các tin xấu cho những cá nhân nào đó, mà không có liên quan gì đến Đảng đồng thời ca ngợi sự lãnh đạo của Đảng trong bất cứ giải pháp nào. ĐCSTQ kiểm soát một cách điêu nghệ việc đưa những tin gì, không đưa những tin gì, đưa bao nhiêu, và có cho phép các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung Quốc hay các hãng tin tại hải ngoại do ĐCSTQ kiểm soát đưa tin hay không.

ĐCSTQ rất giỏi biến tin xấu thành những thứ mà Đảng có thể dùng để đạt được điều mà Đảng mong muốn là đắc nhân tâm. Nhiều thanh niên ở lục địa Trung Quốc còn cảm thấy rằng ĐCSTQ hiện nay cho phép một mức độ tự do ngôn luận khá thoải mái, và vì thế khen ngợi và hy vọng vào ĐCSTQ. Họ đều là những nạn nhân của những chiến lược “tinh xảo” của những phương tiện thông tin đại chúng lưu manh do nhà nước kiểm soát. Hơn nữa, bằng cách tạo nên một tình trạng hỗn loạn trong xã hội Trung Quốc và sau đó phơi bày nó một chút trên các phương tiện thông tin đại chúng, ĐCSTQ có thể thuyết phục được nhân dân rằng chỉ có ĐCSTQ mới có thể kiểm soát được một xã hội hỗn loạn như vậy và vì vậy có thể đưa nhân dân đến chỗ tán thành chế độ của ĐCSTQ.

Vì vậy, chúng ta không nên lầm tưởng rằng ĐCSTQ tự nó đã thay đổi ngay cả khi chúng ta có thấy một số dấu hiệu cải thiện trong vấn đề nhân quyền của ĐCSTQ. Trong lịch sử, khi ĐCSTQ tranh đấu để lật đổ chính quyền của Quốc Dân Đảng, nó đã giả vờ chiến đấu giành dân chủ cho đất nước. Bản tính của ĐCSTQ lưu manh đến mức không có một lời hứa nào của ĐCSTQ là có thể tin cậy được.

********************

V. Các phương diện của bản tính lưu manh của Đảng Cộng sản Trung quốc

1. Bán nước cầu vinh, giả dạng duy hộ thống nhất, nhưng thực ra là bán rẻ lãnh thổ

“Chúng ta phải giải phóng Đài Loan” và “Hãy thống nhất Đài Loan” là những khẩu hiệu tuyên truyền của ĐCSTQ trong suốt mấy thập kỷ qua. Bằng những thủ đoạn tuyên truyền này, ĐCSTQ đã làm như là nó có tinh thần dân tộc và yêu nước. Có đúng là ĐCSTQ thật sự quan tâm đến sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước không? Không đúng một chút nào. Đài Loan chỉ là một vấn đề lịch sử xuất phát từ cuộc đấu tranh giữa ĐCSTQ và Quốc Dân Đảng, và đó chỉ là một thủ đoạn mà ĐCSTQ dùng để đánh các đối thủ và để lấy lòng dân.

Trong những ngày đầu khi ĐCSTQ thành lập “Xô-viết Trung Quốc” trong thời kỳ Quốc Dân Đảng còn đang cầm quyền – Điều 14 của bản hiến chương của nó đã tuyên bố rằng “bất kỳ dân tộc nào hay tỉnh nào trong nội bộ Trung Quốc cũng có thể tuyên bố độc lập”. Để tuân theo Liên-xô, khẩu hiệu của ĐCSTQ lúc bấy giờ là “Hãy bảo vệ Xô-viết”. Trong kháng chiến chống Nhật, mục tiêu hàng đầu của ĐCSTQ là nắm lấy cơ hội để bành trướng thế lực chứ không phải là chiến đấu chống quân xâm lược Nhật Bản. Vào năm 1945, Hồng quân Liên-xô tiến vào vùng Đông Bắc của Trung Quốc và cướp bóc, chém giết và hãm hiếp, nhưng ĐCSTQ đã không hề thốt lên một lời phản đối nào. Tương tự như thế, khi Liên-xô ủng hộ Ngoại Mông cổ tách độc lập ra khỏi Trung Quốc, một lần nữa ĐCSTQ lại im lặng.

Vào cuối năm 1999, ĐCSTQ và Nga đã ký bản Hiệp định khảo sát biên giới Nga-Trung, trong đó ĐCSTQ đã chấp nhận tất cả các điều ước bất công mà triều đại nhà Thanh và Nga đã ký kết hơn 100 năm trước, và đã bán rẻ hơn một triệu kilômét vuông lãnh thổ cho Nga, một khu vực rộng bằng mấy chục lần Đài Loan. Trong năm 2004, ĐCSTQ và Nga lại ký tiếp Hiệp định bổ xung biên giới phía Đông Nga-Trung, và theo như tin tức đã đưa thì lại mất tiếp chủ quyền của một nửa đảo Hắc Hạt Tử ở tỉnh Hắc Long Giang cho Nga.

Về các vấn đề biên giới khác như chủ quyền đối với quần đảo Nam Sa và đảo Điếu Ngư, thì ĐCSTQ không quan tâm một chút nào hết bởi vì những vấn đề này không ảnh hưởng đến quyền lực của Đảng. ĐCSTQ đã hô hào rầm rộ “Thống nhất Đài Loan”, đó chỉ là một màn hỏa mù và là một thủ đoạn lưu manh xảo quyệt để kích động lòng yêu nước mù quáng và để đánh lạc hướng sự chú ý của nhân dân khỏi các mâu thuẫn nội bộ.

2. Lưu manh chính trị không còn giới hạn đạo đức

Một chính phủ phải luôn luôn được giám sát. Ở những nước dân chủ, hệ thống tam quyền phân lập cộng với các quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí là các cơ chế tốt để giám sát. Các tín ngưỡng tôn giáo cũng đem lại sự tự kiềm chế về mặt đạo đức.

ĐCSTQ truyền bá tư tưởng vô thần, vì vậy nó không có bản tính thánh thiện để kiềm chế về mặt đạo đức đối với các hành xử của nó. ĐCSTQ cai trị độc tài, vì vậy không có luật pháp để kiểm soát nó về mặt chính trị. Kết quả là, ĐCSTQ hoàn toàn coi thường mọi thứ và không bị và tự kiềm chế khi nó hành động với bản tính lưu manh và bạo ngược của nó. Theo ĐCSTQ thì ai giám sát Đảng? “Đảng tự giám sát mình!” Đây là khẩu hiệu mà ĐCSTQ đã dùng để lừa dối nhân dân trong nhiều thập kỷ qua. Trước kia nó được gọi là “tự phê bình” rồi đến “tự giám sát”, “tự kiện toàn sự lãnh đạo của Đảng” và gần đây là “tự tăng cường khả năng cầm quyền của Đảng”. ĐCSTQ nhấn mạnh cái siêu quyền lực mà nó có và duy hộ cái gọi là “tự tiến bộ”. ĐCSTQ không chỉ nói mà là thật sự hành động, như là thành lập “Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương” và “Văn phòng Kháng cáo” và những thứ tương tự như vậy. Những tổ chức này chỉ là “những bình hoa” đẹp nhưng vô dụng để mê hoặc và lừa mị nhân dân.

Không có sự kiềm chế về mặt luật pháp và đạo đức, thì việc “tự tiến bộ” của ĐCSTQ cũng giống như câu nói truyền thống của người Trung Quốc là “tự tâm sinh ma”. Đó chỉ là cái cớ mà ĐCSTQ sử dụng để tránh sự giám sát từ bên ngoài và từ chối không gỡ bỏ việc cấm tự do báo chí và tự do đa đảng chính trị. Bọn lưu manh chính trị dùng thủ đoạn này để lừa mị nhân dân và để bảo vệ quyền lực của ĐCSTQ và lợi ích của những kẻ cầm quyền.

ĐCSTQ là chuyên gia về thủ đoạn chính trị. “Chính quyền chuyên chính dân chủ nhân dân”, “Chế độ tập trung dân chủ”, “Hiệp thương chính trị” v.v… tất cả đều là những thủ đoạn lừa lọc. Ngoại trừ phần “chuyên chính” (có nghĩa là “độc tài”) ra, tất cả đều chỉ là giả dối.

3. Chơi trò lừa đảo — từ giả vờ kháng Nhật đến giả vờ chống khủng bố

ĐCSTQ luôn luôn tự nhận là đã lãnh đạo nhân dân Trung Quốc đánh bại quân xâm lược Nhật. Tuy nhiên, có quá nhiều tư liệu lịch sử cho thấy rằng ĐCSTQ đã cố tình tránh giao tranh trong chiến tranh Trung–Nhật. ĐCSTQ chỉ cản trở nỗ lực chống Nhật bằng cách lợi dụng cơ hội khi Quốc Dân Đảng tham chiến để phát triển lực lượng của chính nó.

Chỉ có hai trận chiến lớn mà ĐCSTQ đã tham gia là “Chiến dịch Bình hình quan” và “Đại chiến bách đoàn”. Trong “Chiến dịch Bình hình quan”, ĐCSTQ chẳng phải là lãnh đạo cũng không phải là quân chủ lực đã tham gia hay chỉ huy trận chiến gì cả. Thay vào đó, quân của ĐCSTQ chỉ phục kích các đơn vị hậu cần của quân Nhật mà thôi. Còn trong trận “Đại chiến bách đoàn”, nội bộ ĐCSTQ đã tin rằng tham dự vào trận chiến này là vi phạm chính sách chiến lược của Trung ương Đảng. Sau hai trận chiến này, Mao Trạch Đông và quân đội ĐCSTQ đã không tham gia vào bất kỳ trận chiến quan trọng nào cả, và cũng không có anh hùng chiến tranh Trung–Nhật nào như Đổng Tồn Thụy trong cuộc chiến với Quốc Dân Đảng năm 1948 hay Hoàng Kế Quan trong chiến tranh Triều Tiên. Chỉ có một số ít sĩ quan quân đội cao cấp của ĐCSTQ chết trên chiến trường chống Nhật. Cho đến nay, ĐCSTQ thậm chí còn không thể công bố con số thương vong của nó trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật, cũng không có ai có thể tìm thấy nhiều tượng đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ của ĐCSTQ trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật trên mảnh đất Trung Quốc rộng lớn.

Vào thời kỳ đó, ĐCSTQ đã thành lập một “Chính phủ vùng biên” ở các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc, Ninh Hạ rất xa chiến tuyến. Dùng thuật ngữ hiện đại, ĐCSTQ đã thực hiện “một quốc gia hai chế độ” hay “hai Trung Quốc” bên trong Trung Quốc. Mặc dù các sĩ quan chỉ huy của ĐCSTQ không thiếu nhiệt huyết kháng Nhật, nhưng những người lãnh đạo cao cấp của ĐCSTQ đã không thực lòng chiến đấu trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật. Thay vào đó, họ đã thực hiện các biện pháp bảo tồn các nguồn lực của mình và lợi dụng chiến tranh như một cơ hội để tự gia tăng sức mạnh. Khi Trung Quốc và Nhật Bản nối lại quan hệ ngoại giao năm 1972, Mao Trạch Đông đã tiết lộ sự thật với Thủ tướng Nhật Bản Kakuei Tanaka rằng ĐCSTQ phải cảm ơn Nhật Bản, vì nếu không có chiến tranh Trung-Nhật, ĐCSTQ sẽ không thể giành được chính quyền ở Trung Quốc.

Trên đây là sự thật về lời tuyên bố lừa dối của ĐCSTQ rằng nó đã lãnh đạo nhân dân Trung Quốc qua tám năm kháng chiến chống Nhật và cuối cùng đã giành được thắng lợi.

Hơn một nửa thế kỷ sau, sau sự kiện khủng bố hôm 11/9 xảy ra trên đất Mỹ, nỗ lực chống khủng bố đã trở thành một trọng tâm toàn cầu. ĐCSTQ lại một lần nữa sử dụng các sách lược lừa đảo tương tự như việc giả vờ kháng Nhật trước kia. Viện cớ chống khủng bố, ĐCSTQ đã gán nhãn hiệu “khủng bố” cho nhiều tín đồ tôn giáo, những người bất đồng chính kiến và những người liên quan đến các cuộc xung đột lãnh thổ hay sắc tộc. Với chiêu bài chống khủng bố quốc tế, ĐCSTQ đã phát động nhiều cuộc đàn áp bạo lực.

Ngày 27 tháng 9 năm 2004, Tân Hoa Xã đã trích lời của tờ báo Tân Kinh nói rằng Bắc Kinh có thể thành lập phòng chống khủng bố đầu tiên trong số tất cả các tỉnh và thành phố ở Trung Quốc. Một số phương tiện thông tin đại chúng ủng hộ ĐCSTQ ở hải ngoại thậm chí còn đưa tin với hàng tít lớn rằng: “Phòng 610 tham gia chống khủng bố”, (‘Phòng 610’ là một mạng lưới các cơ quan chính quyền ở các cấp được thành lập chỉ là để đàn áp các học viên Pháp Luân Công), tuyên bố rằng phòng chống khủng bố sẽ tập trung vào việc tấn công “các tổ chức khủng bố”, bao gồm Pháp Luân Công.

ĐCSTQ dán nhãn hiệu “khủng bố” lên những người không có vũ khí trong tay, không đánh trả lại khi bị đánh đập và không nói lại khi bị lăng mạ, những người thỉnh nguyện ôn hòa cho quyền được tin theo tín ngưỡng của mình. Lợi dụng xu thế chống khủng bố, ĐCSTQ đã điều động “lực lượng chống khủng bố đặc biệt”, được trang bị đến tận răng, để thực hiện cuộc trấn áp nhanh chóng đối với những người ôn hòa không có khả năng tự vệ này (những học viên Pháp Luân Công). Hơn thế nữa, ĐCSTQ đã lợi dụng cái cớ chống khủng bố để trốn tránh sự chú ý và lên án của cộng đồng quốc tế đối với việc nó đàn áp Pháp Luân Công. Những thủ đoạn lừa dối mà ĐCSTQ sử dụng ngày hôm nay không khác gì những thứ mà nó đã dùng trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật và là những thủ đoạn vô liêm sỉ đối với một vấn đề nghiêm túc như việc chống khủng bố quốc tế.

4. Giả vờ chân thành – đồng ý bên ngoài nhưng bên trong thì bí mật chống lại

ĐCSTQ không tin vào các học thuyết của chính nó nhưng lại ép buộc những người khác phải tin theo. Đây là một trong những thủ đoạn xảo quyệt nhất mà tà giáo ĐCSTQ sử dụng. ĐCSTQ biết rằng các học thuyết của nó là sai và lý tưởng xã hội chủ nghĩa là không đúng. ĐCSTQ không tin vào những học thuyết này, nhưng lại ép buộc nhân dân phải tin theo. Nó đàn áp những người không tin theo. ĐCSTQ đã không biết xấu hổ mà viết một ý thức hệ lừa dối như vậy vào trong Hiến pháp như là nền tảng của nhà nước Trung Quốc.

Trong cuộc sống thực tiễn có một hiện tượng rất thú vị. Nhiều quan chức cao cấp bị mất chức trong các cuộc tranh giành quyền lực trên chính trường Trung Quốc vì tham nhũng. Nhưng đây lại chính là những người rao giảng về lòng trung thực và vị tha trong các cuộc họp công cộng, trong khi chính mình lại đút lót, tham nhũng và làm các việc suy đồi khác ở đằng sau hậu trường. Nhiều người mang cái danh hiệu “công bộc của nhân dân” này đã sa ngã như thế, trong đó có Lý Gia Đình, cựu chủ tịch tỉnh Vân Nam, Lưu Phương Nhân bí thư tỉnh ủy tỉnh Quí Châu, Trình Duy Cao bí thư tỉnh ủy tỉnh Hà Bắc, Điền Phượng Sơn Bộ trưởng Bộ Địa chính và Tài nguyên, và Vương Hoài Trung phó chủ tịch tỉnh An Huy. Tuy nhiên nếu quý vị nghe các bài diễn văn của họ, quí vị sẽ thấy rằng, không có trường hợp ngoại lệ nào, những người này đều ủng hộ các chiến dịch chống tham nhũng và lặp đi lặp lại thúc giục cấp dưới phải hành xử thật thà, mặc dù chính họ thì lại đang biển thủ công quỹ và ăn hối lộ.

Mặc dù ĐCSTQ đã thăng chức cho nhiều cán bộ gương mẫu và thường thu hút một số người có lý tưởng và mẫn cán gia nhập Đảng để nâng cao hình ảnh của Đảng, nhưng ai cũng thấy rõ chuẩn mực đạo đức đang không ngừng xuống dốc ở Trung Quốc đã trở nên đáng sợ như thế nào. Tại sao việc tuyên truyền về “văn minh tinh thần” của ĐCSTQ lại không khởi tác dụng sửa chữa những điều này?

Thực tế là, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản chỉ tuyên truyền những lời trống rỗng khi họ truyền bá “phẩm chất đạo đức của người cộng sản” hay khẩu hiệu “phục vụ nhân dân”. Sự không nhất quán giữa hành động và lời nói của những người lãnh đạo cộng sản có thể được truy ngược lại cho đến tận người cha đẻ của họ là Các-Mác. Mác có một đứa con hoang. Lê-nin bị lây bệnh giang mai từ các cô gái điếm. Xta-lin bị kiện vì đã cưỡng dâm một ca sĩ. Mao Trạch Đông thì sống đắm chìm trong dục vọng. Giang Trạch Dân thì quan hệ tình dục bừa bãi. Còn lãnh đạo cộng sản Ru-ma-ni là Ceausescu làm cho cả gia đình ông ta giàu sụ. Chủ tịch Cuba Fidel Castro vơ vét hàng trăm triệu đô la gửi ở các ngân hàng nước ngoài. Kim Nhật Thành, con quỉ giết người của Bắc Triều Tiên, cùng con cái sống một cuộc sống suy đồi và hoang phí.

Trong cuộc sống hàng ngày, dân chúng Trung Quốc ghét cay ghét đắng các buổi học chính trị rỗng tuếch. Dần dần, họ trở thành những người nói lập lờ đối với các vấn đề chính trị, vì tất cả mọi người đều biết rằng chúng chỉ là những trò lừa bịp. Nhưng không một ai, từ người nói cho đến người nghe tại các buổi họp chính trị này, dám nói thẳng về sự lừa dối này. Đây là một bí mật mà ai cũng biết. Mọi người gọi hiện tượng này là “sự giả vờ chân thật”. ĐCSTQ đã cao giọng “Tam đại biểu” vài năm trước đây, sau đó là “nâng cao khả năng lãnh đạo”, và “Tam tâm” ngày nay —“nồng nhiệt, ổn định và được lòng dân”— tất cả đều là những thứ vớ vẩn. Đảng cầm quyền nào mà lại không đại diện cho quyền lợi của nhân dân? Đảng cầm quyền nào mà lại không quan tâm đến khả năng lãnh đạo? Đảng cầm quyền nào mà không lấy lòng dân? Bất cứ đảng nào mà không quan tâm đến những vấn đề này sẽ sớm bị loại khỏi chính trường. Nhưng ĐCSTQ lại coi các khẩu hiệu thừa ấy như là những học thuyết tinh thâm và sâu sắc và bắt toàn bộ đất nước phải học chúng.

Khi sự giả vờ đã dần dần đóng khuôn vào suy nghĩ và thói quen của hơn một tỷ người và đã trở thành văn hóa của Đảng, thì xã hội tự nó sẽ trở thành giả dối và vô nghĩa. Thiếu trung thực và lòng tin, xã hội sẽ ở trong khủng hoảng. Tại sao ĐCSTQ lại tạo ra những thứ này? Trong quá khứ nó là vì lý tưởng còn bây giờ thì là vì quyền lợi của nó. Đảng viên ĐCSTQ đều biết rằng họ đang giả vờ nhưng họ vẫn cứ giả vờ như vậy. Nếu ĐCSTQ không quảng bá các khẩu hiệu và hình thức như vậy, thì nó sẽ không thể nạt nộ nhân dân được. Nó sẽ không thể bắt nhân dân theo và sợ nó được.

5. Vứt bỏ lương tâm và hy sinh công lý vì lợi ích của Đảng

Trong cuốn sách “Tu dưỡng đạo đức của Đảng Cộng sản”, Lưu Thiếu Kỳ [8] đặc biệt nhấn mạnh về sự cần thiết là “các Đảng viên phải gộp lợi ích cá nhân của mình với lợi ích của Đảng”. Trong các Đảng viên ĐCSTQ không thiếu những người chân chính lo cho dân cho nước, cũng không thiếu những người trung thực và liêm khiết thực sự phục vụ nhân dân. Nhưng trong guồng máy tư lợi của Đảng, những người này không thể sống sót. Dưới áp lực không ngừng bắt họ “thay nhân tính bằng đảng tính”, họ thường thấy rằng họ không thể tiếp tục, cảm thấy có thể bị cách chức, hay tệ hơn nữa là họ có thể trở nên hủ bại.

Cá nhân từng người dân Trung Quốc đã từng trải nghiệm qua và đã cảm nhận được một cách sâu sắc chế độ tàn bạo của ĐCSTQ và đã hình thành một nỗi khiếp sợ thấm sâu trong người đối với sự tàn bạo của ĐCSTQ. Vì vậy nhân dân không còn dám bênh vực chính nghĩa, và không còn tin vào Đạo trời. Đầu tiên họ phục tùng quyền lực của Đảng. Dần dần họ trở nên vô cảm và không còn quan tâm đến những vấn đề không ảnh hưởng đến họ nữa. Ngay cả lô-gíc suy nghĩ của họ cũng đã bị đóng khuôn để phục tùng Đảng. Đây là kết quả của bản tính Mafia của ĐCSTQ.

6. ĐCSTQ thao túng tinh thần yêu nước để kích động nhân dân

ĐCSTQ sử dụng những khẩu hiệu “tinh thần yêu nước” và “tinh thần dân tộc” để kích động nhân dân. Đó không chỉ là những tiếng hò hét kêu gọi chính của ĐCSTQ mà còn là những mệnh lệnh mà nó thường xuyên phát ra và là những chiến lược đã được thử nghiệm qua thời gian. Sau khi đọc những lời tuyên truyền mang màu sắc tinh thần dân tộc như vậy trên bản phát hành tại hải ngoại của tờ Nhân dân nhật báo, một số Hoa kiều mà hàng thập kỷ qua không dám trở về Trung Quốc sinh sống có thể trở nên có tinh thần dân tộc hơn cả những người dân sống ở trong nước. Bị ĐCSTQ thao túng, nhân dân Trung Quốc, những người không dám nói “không” đối với bất cứ một chính sách nào của ĐCSTQ, lại trở lên đủ “dũng cảm” xông vào Đại sứ quán và Lãnh sự quán Mỹ ở Trung Quốc, ném trứng, đá, đốt xe và cờ Mỹ, dưới biểu ngữ “tinh thần yêu nước”.

Bất cứ khi nào Đảng Cộng sản gặp phải một vấn đề quan trọng mà cần đến sự ủng hộ của nhân dân, nó lại sử dụng “tinh thần yêu nước” và “tinh thần dân tộc” để khẩn cấp huy động nhân dân. Trong tất cả các trường hợp, bao gồm cả những vấn đề liên quan đến Đài Loan, Hồng Công, Pháp Luân Công, và vụ va chạm giữa một máy bay tình báo Mỹ và một máy bay chiến đấu của Trung Quốc—ĐCSTQ đều sử dụng các thủ đoạn tổng hợp bao gồm khủng bố tinh thần và tẩy não tập thể, để đưa nhân dân vào một trạng thái tâm lý giống như đang ở trong thời chiến. Đây cũng tương tự như những thủ đoạn mà phát xít Đức đã dùng.

Bằng cách phong tỏa tất cả các nguồn thông tin khác, việc tẩy não của ĐCSTQ đã cực kỳ thành công. Mặc dù nhân dân Trung Quốc không thích ĐCSTQ nhưng họ vẫn suy nghĩ theo cái lô-gíc méo mó mà ĐCSTQ đã nhồi nhét vào đầu họ. Ví dụ như, trong cuộc chiến tranh ở Iraq của liên quân do Mỹ dẫn đầu, nhiều người dân đã bị kích động khi xem những phân tích hàng ngày trên kênh truyền hình CCTV [9]. Họ cảm thấy một lòng căm thù và muốn trả thù, muốn chiến đấu rất mạnh mẽ, trong khi đó lại nguyền rủa một cuộc chiến khác.

7. Vô liêm sỉ — đặt Đảng lên trên đất nước và bắt nhân dân nhận kẻ cướp làm cha

Một trong những câu mà ĐCSTQ thường dùng để đe doạ nhân dân là “mất Đảng mất nước”, như vậy là đặt Đảng lên trên đất nước. Nguyên tắc thành lập của Trung Quốc là “Sẽ không có tân Trung Hoa nếu không có ĐCSTQ”. Từ nhỏ, nhân dân đã được giáo dục là phải “nghe lời Đảng” và “hãy xứng là những đứa con ngoan của Đảng”. Họ hát những bài ca ngợi Đảng như: “Tôi coi Đảng như mẹ của mình”, “Ôi, Đảng, mẹ yêu quí của tôi”, “Công ơn của Đảng còn sâu hơn biển”, “Yêu cha mẹ không bằng yêu Đảng”. [10] Họ sẽ “đi chiến đấu ở bất cứ nơi nào Đảng muốn”. Khi chính phủ cứu trợ thảm hoạ, nhân dân phải “cảm ơn Đảng và chính phủ”— trước hết là Đảng và sau đó mới là chính phủ. Khẩu hiệu của quân đội là “Đảng chỉ huy nòng súng”. Thậm chí khi các chuyên gia Trung Quốc thiết kế đồng phục cho các quan tòa, họ gắn bốn cái khuy vàng trên cổ áo đồng phục. Những khuy này từ trên xuống dưới tượng trưng cho Đảng, nhân dân, luật pháp và tổ quốc. Nó có nghĩa rằng mặc dù là quan tòa, thì Đảng vẫn sẽ vĩnh viễn được đặt trên cả luật pháp, tổ quốc và nhân dân.

Đảng đã trở thành tối cao ở Trung Quốc, và đất nước đã trở thành cấp dưới của Đảng. Đất nước tồn tại vì Đảng, và Đảng được coi là hiện thân của nhân dân và là biểu tượng của đất nước. Yêu Đảng, yêu các lãnh tụ của Đảng, và yêu nước đã bị trộn lẫn vào nhau, đó là nguyên nhân chính tại sao lòng yêu nước ở Trung Quốc đã trở nên méo mó như thế.

Dưới ảnh hưởng tinh vi và thường xuyên của giáo dục và tuyên truyền của ĐCSTQ, rất nhiều người, Đảng viên và dân thường, đã bắt đầu nhầm lẫn Đảng với đất nước, cho dù họ có ý thức được điều đó hay không. Họ đã trở thành chấp nhận rằng “quyền lợi của Đảng” là cao hơn tất cả, và đồng ý rằng “lợi ích của Đảng là ngang hàng với lợi ích của nhân dân và đất nước”. Kết quả của sự tuyên truyền giáo dục này của ĐCSTQ đã tạo điều kiện để cho ĐCSTQ phản bội lại lợi ích của đất nước.

8. Chơi trò “sửa sai” và gọi những hành động tội lỗi là “những thành tựu vĩ đại”

ĐCSTQ đã phạm phải nhiều sai lầm ngớ ngẩn trong lịch sử. Nhưng nó luôn luôn đổ tội cho một số cá nhân hay các nhóm nào đó bằng cách “sửa sai và rửa sạch oan uổng” (bình phản). Điều này không những đã làm cho các nạn nhân của Đảng trở nên biết ơn Đảng sâu sắc mà còn cho phép Đảng hoàn toàn rũ bỏ mọi trách nhiệm đối với các hành động tội ác của mình. ĐCSTQ còn tự tuyên bố rằng Đảng “không những không sợ phạm lỗi, mà còn giỏi sửa lỗi” [11], và điều này đã trở thành ma thuật của Đảng mà nhờ nó Đảng đã thoát tội hết lần này đến lần khác. Vì vậy mà ĐCSTQ vẫn luôn luôn tự nhận là “vĩ đại, quang vinh và đúng đắn”.

Có thể là một ngày nào đó, ĐCSTQ sẽ quyết định “sửa sai” trong cuộc thảm sát trên quảng trường Thiên An Môn và phục hồi danh dự cho Pháp Luân Công. Nhưng đó chỉ đơn giản là các thủ đoạn lưu manh xảo quyệt mà ĐCSTQ sử dụng nhằm gắng sức trong tuyệt vọng để kéo dài mạng sống đang hấp hối của nó. ĐCSTQ sẽ không bao giờ có can đảm để nhìn lại chính nó, để phơi bày các tội ác của chính nó, và để trả nợ cho các tội ác của chính nó.

********************

VI. Bộc lộ bản tính lưu manh — dùng khủng bố của nhà nước để tiêu diệt “Chân Thiện Nhẫn”

Việc làm giả “Vụ tự thiêu trên quảng trường Thiên An Môn” do tà giáo ĐCSTQ dàn dựng có thể được coi là vụ dối trá thế kỷ của ĐCSTQ. Để đàn áp Pháp Luân Công, chính phủ đã đồi bại đến mức dụ dỗ năm người đóng giả làm các học viên Pháp Luân Công dàn dựng và trình diễn màn tự thiêu giả trên quảng trường Thiên An Môn. Bằng cách thông đồng với nhau trong mưu đồ bất lương này, năm người tham gia đã vô ý ký tên vào bản án tử hình của chính mình và kết quả là họ đã bị đánh chết ngay tại hiện trường hoặc đã bị giết sau đó. Khi xem tua chậm đoạn phim quay cảnh tự thiêu do chính Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc CCTV phát hành có thể thấy rõ ràng là Lưu Xuân Linh, một trong số những người tự thiêu, đã bị cảnh sát đánh chết ngay tại chỗ. Các lỗi đóng kịch khác trong đoạn phim bao gồm tư thế ngồi thiền sai của Vương Tiến Đông, chai nhựa (mà họ nói là chứa đầy xăng) vẫn còn lại nguyên vẹn giữa hai đầu gối của Vương Tiến Đông sau khi ngọn lửa đã được dập tắt, cuộc đối thoại giữa một bác sĩ và nạn nhân trẻ nhất là bé Lưu Tư Ảnh, và sự hiện diện sẵn sàng của những người quay phim để ghi lại cảnh tự thiêu tại hiện trường. Những sự việc này và còn nhiều hơn nữa đã đủ để chứng tỏ rằng vụ tự thiêu chính là một sự dối trá do chế độ của Giang Trạch Dân hiểm độc dàn dựng để vu khống mưu hại Pháp Luân Công. [12]

ĐCSTQ đã sử dụng những thủ đoạn tàn bạo và hèn hạ trong chiến dịch mà nó tuyên bố là nhằm tiêu diệt Pháp Luân Công. Nó đã sử dụng nguồn lực tài chính của đất nước tích lũy được trong 20 năm cải cách và mở cửa. Nó đã huy động Đảng, chính phủ, quân đội, cảnh sát, gián điệp, các nhà ngoại giao, và nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ khác. Nó đã thao túng hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng trên toàn cầu, thực hiện chính sách phong tỏa thông tin nghiêm ngặt bằng cách theo dõi cá nhân và sử dụng các thiết bị công nghệ cao. Nó đã làm tất cả những điều này để đàn áp một nhóm người hòa ái luyện tập Pháp Luân Công, một môn khí công cổ truyền của Trung Quốc có tác dụng làm tịnh hóa thân thể và đạo đức, tâm tính tuân theo các nguyên lý Chân Thiện Nhẫn. Sự đàn áp tàn bạo như vậy đối với những người dân vô tội chỉ bởi vì tín ngưỡng của họ đã phơi bày ra bản chất suy đồi của ĐCSTQ.

Trong lịch sử chưa từng có kẻ tà ác nào lại dối trá một cách sâu rộng như Giang Trạch Dân và ĐCSTQ. Chúng sử dụng nhiều kiểu dối trá, mỗi kiểu có một mục đích nhắm vào và thao túng, nhào nặn các quan niệm và tư tưởng khác nhau của nhân dân để nhân dân có thể dễ dàng bị lừa bịp và tin vào những lời dối trá, và Đảng có thể kích động lòng thù hận đối với Pháp Luân Công. Nếu bạn tin vào khoa học thì ĐCSTQ nói rằng Pháp Luân Công là mê tín dị đoan. Nếu bạn ghét chính trị thì ĐCSTQ nói rằng Pháp Luân Công làm chính trị. Đối với những ai ghen tị với những người đang giàu lên ở Trung Quốc và tại hải ngoại thì ĐCSTQ nói rằng Pháp Luân Công đang thâu góp tiền của. Đối với những người không thích các tổ chức đoàn thể thì ĐCSTQ nói rằng Pháp Luân Công có tổ chức nghiêm ngặt. Nếu bạn chán ghét sự sùng bái cá nhân đã diễn ra ở Trung Quốc trong nhiều thập kỷ qua thì ĐCSTQ nói rằng Pháp Luân Công thực hiện việc kiểm soát tinh thần. Bạn có yêu nước không? ĐCSTQ nói rằng Pháp Luân Công chống lại Trung Quốc. Bạn sợ hỗn loạn chăng? ĐCSTQ nói rằng Pháp Luân Công phá vỡ sự ổn định. Nếu bạn tự hỏi liệu Pháp Luân Công có thực sự giữ vững Chân Thiện Nhẫn hay không thì ĐCSTQ nói rằng Pháp Luân Công không chân, không thiện cũng không nhẫn. Nó thậm chí còn nhào nặn, bóp méo lô-gic, nói rằng lòng từ Thiện có thể sản sinh ý muốn sát sinh.

Bạn tin rằng một chính phủ sẽ không đặt điều dối trá như vậy? ĐCSTQ còn có thể nói ra những lời dối trá còn nghiêm trọng và kinh ngạc hơn nữa, từ tự sát cho đến tự thiêu, từ giết chết họ hàng cho đến giết người hàng loạt — quá nhiều điều dối trá đến nỗi bạn cảm thấy khó mà không tin cho được. Bạn có thông cảm với Pháp Luân Công không? ĐCSTQ gắn kết sự nhận định chính trị của bạn với việc đàn áp Pháp Luân Công, và cách chức bạn, đuổi việc bạn, hoặc cắt tiền thưởng của bạn nếu các học viên Pháp Luân Công trong khu vực mà bạn phụ trách đến Bắc Kinh để thỉnh nguyện. Vì vậy, bạn sẽ bị bắt buộc phải trở thành kẻ thù của Pháp Luân Công.

ĐCSTQ đã bắt cóc vô số học viên Pháp Luân Công và đưa họ đến các buổi tẩy não nhằm bắt họ phải từ bỏ chính tín của mình, phải lăng mạ Pháp Luân Công và phải hứa là sẽ không tập luyện nữa. ĐCSTQ đã sử dụng rất nhiều cách tà ác khác nhau để thuyết phục họ, bao gồm cả việc dùng họ hàng thân quyến, việc làm và “giáo dục” để gây sức ép đối với họ, tra tấn họ bằng nhiều thủ đoạn tàn độc và thậm chí trừng phạt cả họ hàng thân quyến và đồng nghiệp của họ. Các học viên Pháp Luân Công đã bị tẩy não thành công lại bị sử dụng để tra tấn và tẩy não những học viên khác. ĐCSTQ tà ác một mực biến những người tốt trở thành ma quỷ và ép buộc họ đi trên con đường đen tối đến cuối cuộc đời.

********************

VII. Chủ nghĩa Xã hội lưu manh mang “Màu sắc Trung Quốc”

Ngôn từ “Màu sắc Trung Quốc” được dùng để che đậy các tội ác của ĐCSTQ. ĐCSTQ xưa nay luôn tự nhận rằng nó thành công trong cuộc cách mạng của Trung Quốc là nhờ “kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với thực tiễn cụ thể của cách mạng Trung Quốc”. ĐCSTQ thường xuyên lạm dụng từ “màu sắc” như một công cụ hỗ trợ về tư tưởng cho các chính sách lưu manh khôn lường của nó.

1. Các thủ đoạn lừa dối khôn lường

Dưới bề ngoài giả dối “màu sắc Trung Quốc”, ĐCSTQ chẳng đạt được gì ngoài sự ngu xuẩn ngớ ngẩn.

Mục đích của cách mạng của ĐCSTQ là thực hiện quyền sở hữu tập thể đối với các phương tiện sản xuất, và nó đã lừa dối rất nhiều người trẻ tuổi ra nhập tổ chức Đảng vì lý tưởng cộng sản và đoàn kết. Nhiều người thậm chí đã phản bội cả gia đình mình chỉ bởi vì gia đình mình có sở hữu tài sản riêng. Nhưng sau 83 năm kể từ khi ĐCSTQ được thành lập, chủ nghĩa tư bản đã quay trở lại, chỉ là bây giờ nó [chủ nghĩa tư bản] đang trở thành một phần của chính ĐCSTQ, kẻ mà ban đầu đã giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa bình đẳng.

Ngày nay, trong số con cái và họ hàng thân quyến của những người lãnh đạo ĐCSTQ, nhiều người là những nhà tư bản mới giàu có, và nhiều đảng viên đang gắng hết sức để tham gia vào nhóm những người mới giàu lên này. ĐCSTQ đã tiêu diệt các địa chủ và các nhà tư bản dưới danh nghĩa cách mạng và cướp đoạt tài sản của họ. Giờ đây, “hoàng tộc” mới của ĐCSTQ thậm chí còn trở thành những nhà tư bản giàu có hơn nhờ biển thủ và tham nhũng. Những người đã theo Đảng từ đầu cuộc cách mạng bây giờ thở dài “Nếu tôi biết tình trạng hiện nay thì tôi đã không đi theo nó”. Sau nhiều thập kỷ đấu tranh đẫm máu và mồ hôi, nay họ mới biết rằng mình đơn giản là đã hiến dâng tài sản của ông cha và cả cuộc đời mình cho tà giáo ĐCSTQ.

ĐCSTQ nói về cơ sở hạ tầng kinh tế quyết định thượng tầng kiến trúc [13]; trên thực tế, đó là cơ sở hạ tầng kinh tế quan liêu của các quan chức tham nhũng hủ bại của ĐCSTQ quyết định “thượng tầng kiến trúc cao áp” – một thượng tầng kiến trúc dựa trên các áp lực cao để tồn tại. Áp bức nhân dân vì thế đã trở thành chính sách căn bản của ĐCSTQ.

Một đặc tính lưu manh nữa của ĐCSTQ được thể hiện trong việc thay đổi định nghĩa của các khái niệm về văn hóa, và sau đó dùng chính các định nghĩa đã bị thay đổi này để phê phán và kiểm soát nhân dân. Khái niệm “đảng” là một ví dụ như vậy. Từ lúc khởi thủy, nhiều đảng đã được thành lập ở cả trong và ngoài nước. Chỉ có Đảng Cộng sản là thực thi quyền hành vượt quá phạm vi của tập thể đảng. Nếu bạn vào Đảng, nó sẽ kiểm soát tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống của bạn, bao gồm cả lương tâm, sinh kế, và cuộc sống riêng tư của bạn. Trong khi cầm quyền, ĐCSTQ kiểm soát tất cả xã hội, chính quyền và bộ máy nhà nước ở tất cả các cấp. Nó độc tài quyết định tất cả các vấn đề từ việc quan trọng như ai sẽ là Chủ tịch nước hay Bộ trưởng Quốc phòng, hay đưa ra những qui định và luật lệ gì, cho đến tận cả những việc nhỏ như một người nên sống ở đâu, được phép kết hôn với ai, và chỉ được phép đẻ mấy con. ĐCSTQ đã thâu tóm tất cả các biện pháp kiểm soát có thể tưởng tượng được.

Dưới danh nghĩa của phép biện chứng, ĐCSTQ đã phá hủy hoàn toàn các cách suy nghĩ chính thể luận, các khả năng lý luận, và tinh thần tìm tòi triết lý. Trong khi ĐCSTQ nói về “phân phối tùy theo đóng góp”, trong khi lại thực hiện quá trình “cho phép một số người được làm giàu trước” cùng với việc “phân phối theo chức quyền”. ĐCSTQ dùng trò ngụy trang “hết lòng phục vụ nhân dân” để lừa dối những ai theo đuổi lý tưởng này, và sau đó hoàn toàn tẩy não và kiểm soát họ, dần dần biến họ trở thành các công cụ dễ sai khiến “hết lòng phục vụ Đảng” và không còn dám lên tiếng vì nhân dân nữa.

2. Đảng lưu manh mang “Màu sắc Trung Quốc”

Với nguyên tắc đặt quyền lợi của Đảng lên trên mọi thứ, ĐCSTQ đã nhào nặn bóp méo xã hội Trung Quốc bằng các thủ đoạn của một tà giáo, tạo ra một thực thể cực kỳ lố bịch trong toàn bộ xã hội loài người. Thực thể này khác với bất cứ nhà nước, chính quyền, hay tổ chức nào khác. Nguyên tắc của nó là không có nguyên tắc nào cả, không có sự chân thành nào hết đằng sau nụ cười của nó. Vì vậy những người tốt bụng không tài nào hiểu nổi ĐCSTQ. Dựa trên chuẩn mực đạo đức phổ biến, họ không thể tưởng tượng được rằng lại có một thực thể tà ác như vậy đại diện cho một đất nước. Với cái cớ “Màu sắc Trung Quốc”, ĐCSTQ đã tạo nên một chỗ đứng cho nó trong số các quốc gia trên thế giới. “Màu sắc Trung Quốc” đã trở thành chữ viết tắt cho “Màu sắc lưu manh của Đảng Cộng sản Trung Quốc”.

Với “Màu sắc Trung Quốc”, chủ nghĩa tư bản què quặt của Trung Quốc đã biến thành “chủ nghĩa xã hội”; “thất nghiệp” trở thành “đang chờ việc làm”; “bị mất việc” trở thành “hết phận sự”; “nghèo đói” trở thành “giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội”; và nhân quyền và quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng đã bị giảm thiểu xuống chỉ còn là quyền được sống sót.

 

3. Đất nước Trung Quốc đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng về đạo đức chưa từng thấy

Vào đầu những năm 1990, có một câu nói phổ biến ở Trung Quốc rằng “tôi là kẻ lưu manh và tôi không sợ ai cả”. Đây là hậu quả đau xót của hàng thập kỷ lãnh đạo lưu manh của ĐCSTQ, của việc nó áp đặt những thứ đồi bại lên đất nước. Đồng hành với sự thịnh vượng giả tạo của nền kinh tế Trung Quốc là sự suy đồi nhanh chóng của đạo đức ở tất cả mọi nơi trong xã hội.

Các đại biểu quốc hội Trung Quốc thường nói về vấn đề “trung thực và tin cậy” trong các buổi họp Quốc hội. Trong các bài thi đại học, học sinh phải viết về sự trung thực và tin cậy. Điều này báo hiệu rằng sự thiếu trung thực và tin cậy, và sự suy đồi về mặt đạo đức đã trở thành một cuộc khủng hoảng vô hình nhưng rộng khắp trong xã hội Trung Quốc. Tham nhũng, biển thủ, hàng giả, lừa đảo, ác tâm và chuẩn mực đạo đức xã hội suy đồi đang diễn ra ở khắp mọi nơi. Giữa người với người không còn một chút tin tưởng lẫn nhau nào nữa.

Còn đối với những người nói rằng họ hài lòng với mức sống đang được nâng cao, chẳng phải rằng sự ổn định trong cuộc đời là mối quan tâm hàng đầu của họ? Yếu tố quan trọng nhất đối với sự ổn định xã hội là gì? Đó chính là đạo đức. Một xã hội có đạo đức suy thoái thì không thể nào đem lại sự ổn định và an ninh, an toàn được.

Đến hôm nay, ĐCSTQ đã thẳng tay phá hủy gần như tất cả các tôn giáo truyền thống và phá bỏ các giá trị truyền thống. Thủ đoạn lưu manh mà ĐCSTQ dùng để chiếm tài sản và lừa gạt nhân dân đã có một ảnh hưởng thấm dần vào toàn bộ xã hội, làm bại hoại toàn bộ xã hội và dẫn người dân đến xu thế trở thành lưu manh hóa. ĐCSTQ, thống trị bằng những thủ đoạn xảo quyệt, cũng nhất định cần có một xã hội suy đồi làm môi trường để nó có thể sống sót ở trong đó. Đấy chính là lý do tại sao ĐCSTQ cố làm mọi thứ mà nó có thể để kéo nhân dân xuống tầng cấp của nó, cố gắng biến nhân dân Trung Quốc thành lưu manh các loại. Đây chính là cách mà bản chất xảo quyệt của ĐCSTQ đang hủy diệt nền tảng đạo đức mà nhờ đó dân tộc Trung Hoa đã được duy trì từ xưa đến nay.

********************

Kết luận

“Sông núi dễ đổi, bản tính khó thay”. [14] Lịch sử đã chứng minh rằng mỗi lần ĐCSTQ nới lỏng gông xiềng, nó đều không có ý định vứt hẳn gông xiềng đi. Sau nạn đói khủng khiếp đầu thập kỷ 1960, ĐCSTQ đã phải thực hiện chương trình “Ba Tự do và Một Giao ước” (Tam Tự Nhất Bao) [15] nhằm khôi phục lại sản xuất nông nghiệp, nhưng không có ý định thay đổi thân phận “nô lệ” của nông dân Trung Quốc. Cuộc “cải cách kinh tế” và “mở rộng tự do” vào những năm 1980 đã không thể đặt được một sự kiềm chế nào đối với việc ĐCSTQ lại một lần nữa nâng lưỡi dao đồ tể của nó lên để chém giết chính những đồng bào của mình năm 1989. Trong tương lai, ĐCSTQ sẽ tiếp tục thay hình đổi dạng nhưng sẽ không bao giờ thay đổi bản tính lưu manh của nó.

Một số người có thể nghĩ rằng quá khứ thuộc về quá khứ và nay tình hình đã thay đổi, và rằng ĐCSTQ ngày nay không còn là ĐCSTQ ngày trước nữa. Một số người có thể hài lòng với bề ngoài giả dối mà họ nhìn thấy và thậm chí còn lầm tưởng rằng ĐCSTQ đã trở nên tốt hơn, là đang ở trong quá trình cải cách, hoặc có ý định sửa đổi. Họ có thể thường quên đi những ký ức đau thương về quá khứ. Tất cả những điều này chỉ cho băng đảng lưu manh ĐCSTQ thêm cơ hội để tiếp tục tồn tại và đe dọa nhân loại.

Tất cả mọi nỗ lực của ĐCSTQ đều có cùng một mưu đồ là làm cho nhân dân quên đi quá khứ. Tất cả mọi nỗi khó nhọc của nhân dân đều là một sự nhắc nhở về những bất công mà họ đã phải chịu trong tay của ĐCSTQ.

Trên thực tế, lịch sử ĐCSTQ là một lịch sử luôn cắt đứt mọi ký ức của nhân dân, một lịch sử mà con cháu không biết được những kinh nghiệm thực tế của ông cha mình, một lịch sử mà hằng trăm triệu người phải chịu đựng một mâu thuẫn lớn giữa việc nguyền rủa quá khứ đẫm máu của ĐCSTQ và ôm một hy vọng về tương lai của ĐCSTQ.

Khi bóng ma tà ác của chủ nghĩa cộng sản xuống tới nhân gian, Đảng Cộng sản đã tháo xích cho những kẻ cặn bã của xã hội và lợi dụng sự nổi loạn của bọn lưu manh để chiếm đoạt và thiết lập quyền lực chính trị. Những gì nó đã làm, bằng các thủ đoạn tàn sát và bạo ngược, là để thiết lập và duy trì chế độ độc tài dưới hình thức “Đảng phụ thể” (Đảng phụ thể là con thú ngoại lai nhập vào và chiếm hữu thân thể của chủ thể là đất nước và nhân dân để kiểm soát khống chế và hút máu ăn bám, tương tự như ma quỷ nhập vào người – chú thích theo chỗ hiểu của cá nhân dịch giả dịch sang tiếng Việt). Bằng cách sử dụng cái gọi là tư tưởng “đấu tranh” phản lại thiên nhiên, phản lại đạo trời, phản nhân tính và phản vũ trụ, ĐCSTQ đã tiêu diệt lương tâm và lòng nhân từ của con người, và hơn nữa là nó đã tiêu diệt nền văn minh và đạo đức truyền thống. Nó đã sử dụng việc tàn sát đẫm máu và cưỡng bức tẩy não để thiết lập một tà giáo cộng sản, tạo ra một đất nước mà nhân dân có tinh thần méo mó để dễ bề cai trị.

Trong suốt lịch sử của ĐCSTQ, có các thời kỳ bạo lực khi khủng bố đỏ lên đến đỉnh điểm, và các thời kỳ nguy kịch khi ĐCSTQ chỉ thoát khỏi bị tiêu vong trong gang tấc. Mỗi một lần như thế, ĐCSTQ lại viện đến việc sử dụng toàn bộ các thủ đoạn lưu manh xảo quyệt của nó để giải thoát nó ra khỏi các cuộc khủng hoảng, nhưng chỉ là để tiến đến chu kỳ bạo lực tiếp theo, tiếp tục lừa dối nhân dân Trung Quốc hết lần này đến lần khác.

Khi nhân dân nhận ra bản tính lưu manh của ĐCSTQ và chống lại việc bị giả tượng của nó lừa gạt, thì ngày tận số của ĐCSTQ và bản tính lưu manh của nó sẽ đến.

********************

So với năm nghìn năm lịch sử của Trung Quốc, 55 năm dưới ách thống trị của ĐCSTQ chỉ nhanh như chớp mắt. Trước khi ĐCSTQ xuất hiện, Trung Quốc đã tạo ra một nền văn minh chói lọi nhất trong lịch sử nhân loại. ĐCSTQ đã nắm lấy cơ hội là các vấn đề rắc rối ở trong nước và sự xâm lược của nước ngoài để phá hoại đất nước Trung Quốc. Nó đã cướp đi hàng chục triệu mạng người, làm tan nát vô số gia đình, hủy hoại các nguồn tài nguyên sinh thái mà sự sống còn của Trung Quốc phụ thuộc vào. Thảm khốc hơn nhiều là sự hủy diệt gần như hoàn toàn của nền tảng đạo đức và truyền thống văn hóa quý giá của Trung Quốc.

Tương lai của Trung Quốc sẽ ra sao? Trung Quốc sẽ đi theo hướng nào? Những câu hỏi lớn như vậy thật quá phức tạp để có thể bàn luận chỉ bằng một vài từ. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là: nếu không khôi phục lại đạo đức của đất nước, không khôi phục lại mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên và giữa người với trời đất, nếu không có đức tin hoặc nền văn hóa cho sự chung sống hòa bình giữa người với người, đất nước Trung Quốc sẽ không thể có một tương lai tươi sáng.

Sau nhiều thập kỷ tẩy não và áp bức, ĐCSTQ đã nhồi nhét lối suy nghĩ và tiêu chuẩn về tốt và xấu của nó vào cuộc sống của nhân dân Trung Quốc. Điều này đã dẫn nhân dân Trung Quốc đến chỗ chấp nhận và hợp lý hóa những sự xuyên tạc và giả dối của ĐCSTQ, và trở thành một phần của sự giả dối của nó, từ đó cung cấp cơ sở ý thức hệ cho sự tồn tại của ĐCSTQ.

Để loại bỏ các học thuyết lưu manh của ĐCSTQ ra khỏi cuộc sống của chúng ta, để nhận ra bản chất cực kỳ lưu manh của ĐCSTQ, và để khôi phục lại nhân tính và lương tâm của chúng ta – đây là bước đầu tiên và cốt yếu trên con đường tiến tới một sự chuyển đổi trôi chảy sang một xã hội không còn Đảng Cộng sản.

Liệu việc tiến bước trên con đường này có thể vững vàng và êm ả hay không sẽ còn phải tùy thuộc vào những thay đổi trong tâm của mỗi người dân Trung Quốc. Mặc dù ĐCSTQ có vẻ như đang nắm hết tất cả các nguồn lực và bộ máy nhà nước bạo lực, nhưng nếu ai cũng tin vào sức mạnh của chân lý và bảo vệ đạo đức và chính nghĩa, thì tà linh ĐCSTQ sẽ mất đi nền tảng cho sự tồn tại của nó. Tất cả các nguồn lực có thể ngay lập tức quay trở về trong tay của chính nghĩa. Đó là lúc sự tái sinh của Trung Quốc sẽ diễn ra.

Chỉ khi không có Đảng Cộng sản Trung Quốc thì mới có một Trung Quốc mới.

Chỉ khi không có Đảng Cộng sản Trung Quốc thì Trung Quốc mới có hy vọng.

Khi không còn Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc chính trực và tốt bụng sẽ xây dựng lại sự huy hoàng lịch sử của Trung Quốc.

 

********************

 

Chú thích:

 

[1] Theo tư tưởng Nho giáo truyền thống, hoàng đế hoặc vua cai trị theo thiên ý, và để được trao quyền đó, đạo đức của họ phải xứng với trách nhiệm tối cao đó. Chúng ta có thể tìm thấy một tư tưởng tương tự từ Mạnh Tử. Trong câu “Ai trao quyền lực cho vua?” khi được hỏi ai trao đất đai và quyền trị nước cho vua Thuấn, Mạnh Tử đã nói: “Đó là Trời”. Quan điểm rằng nguồn gốc của quyền lực xuất phát từ thần thánh cũng có thể được tìm thấy trong truyền thống Cơ Đốc giáo ở phương Tây. Ví dụ như trong đoạn Rô-ma 13:1 của Kinh Thánh (http://tinlanh.com/kinhthanh/roma.html) ta có thể tìm thấy: “Mọi người phải vâng phục các đấng cầm quyền trên mình; vì chẳng có quyền nào mà không đến bởi Ðức Chúa Trời, các quyền đều bởi Ðức Chúa Trời chỉ định.”

[2] Một trung tâm là nói đến phát triển kinh tế, hai điểm cơ bản là: duy trì bốn nguyên tắc cơ bản (con đường xã hội chủ nghĩa, chuyên chính vô sản, sự lãnh đạo của ĐCSTQ, chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít và tư tưởng của Mao Trạch Đông), và tiếp tục các chính sách cải cách và mở cửa.

[3] Số liệu từ một bài báo của Tân Hoa Xã ngày 4 tháng 3 năm 2004.

[4] Mẫu là một đơn vị đo diện tích được sử dụng ở Trung Quốc. Một mẫu bằng 6,666.666 mét vuông.

[5] Phú dưỡng: gia tăng chất hữu cơ và khoáng chất trong nước, có thể thúc đẩy sự sinh trưởng của thực vật nhưng lại giảm lượng ô-xy hòa tan trong nước và thường dẫn đến sự tuyệt chủng của các sinh vật khác. Số liệu từ một bài báo của Tân Hoa Xã ngày 29 tháng 2 năm 2004.

[6] “Nguyên tắc ba không” đã từng xảy ra trong quá khứ. Vào năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã đề xuất “Nguyên tắc ba không” để khuyến khích nhân dân nói lên tâm tư của họ: Không gán nhãn, không tấn công, và không bới móc lỗi. Điều này cũng nhắc nhở nhân dân nhớ đến sự khuyến khích tương tự của Mao Trạch Đông đối với giới trí thức vào những năm 1950, theo sau là cuộc đàn áp tàn bạo đối với những người đã nói lên suy nghĩ của mình. Ngày nay, nguyên tắc “Ba không” mới được đề xuất là “Phát triển không bàn luận, tiến bộ không đấu tranh, và tiến triển không thỏa mãn với những thứ đã đạt được”.

[7] Điều 23 do chính quyền Hồng Kông đưa ra vào năm 2002 dưới sức ép của Bắc Kinh. Điều luật này là một sự xói mòn nghiêm trọng về tự do và nhân quyền ở Hồng Kông, phá hoại ngầm chính sách “một đất nước, hai chế độ” mà ĐCSTQ đã hứa hẹn. Điều 23 đã bị phản đối trên toàn cầu và cuối đã phải được rút lại vào năm 2003.

[8] Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước Trung Quốc từ năm 1959 đến năm 1968, được coi như là người kế vị Mao Trạch Đông. Trong Cách mạng Văn hóa (1966-1976), ông ta đã bị đàn áp như một kẻ phản bội, gián điệp và nổi loạn. Lưu Thiếu Kỳ đã chết năm 1969 sau khi bị hành hạ nghiêm trọng dưới hình phạt tù của ĐCSTQ.

[9] CCTV ( Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc) nằm dưới sự chủ quản và điều hành trực tiếp của chính phủ trung ương. Nó là mạng truyền hình quảng bá chính ở lục địa Trung Quốc.

[10] Tất cả những câu trích dẫn này đều là đầu đề của các bài hát được viết và hát dưới thời Mao Trạch Đông trong những năm 1960 và đầu những năm 1970.

[11] Mao đã từng nói rằng chúng ta sợ mắc lỗi, nhưng chúng ta quan tâm đến việc sửa chúng.

[12] Về phân tích chi tiết của đoạn phim quay cảnh tự thiêu, xin hãy tham khảo tại trang web sau: http://daiphapinfo.net/dsp.php?id=8, http://clearwisdom.net/emh/special_column/self-immolation.html, http://faluninfo.net/tiananmen/immolation.asp.

[13] Kiến trúc thượng tầng trong ngữ cảnh của học thuyết xã hội Mác-xít là nói đến quan hệ giữa chủ thể con người và cơ sở vật chất của xã hội.

[14] Đây là một câu tục ngữ của Trung Quốc nói về sự khó thay đổi của bản tính con người.

[15] Các chính sách cải cách kinh tế, hay chương trình “Ba Tự do và Một Giao ước” (Tam Tự Nhất Bao) do Lưu Thiếu Kỳ khi đó là Chủ tịch nước Trung Quốc đề xuất. Chương trình quy định về đất tư dụng, thị trường tự do, các doanh nghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với lỗ lãi trong kinh doanh của mình, và việc cố định chỉ tiêu sản lượng đối với mỗi hộ gia đình.

 

Copyright © 2004 DAJIYUAN.COM, thời báo Đại Kỷ Nguyên




Kỷ niệm USA Civil War

 

Những người trong hình họ ăn mặc và trang bị súng ống của thời chiến tranh Nam Bắc của Hoa Kỳ.  Đây là một buổi lễ kỷ niệm tôi rất thích (Mr. Long Nguyễn). 

Xin bấm vào hình để xem slide. 

 

                          




Thiếu nữ

 

 Xin click vào đây để xem hình

 




Tiệc triệu đô ở khách sạn siêu sang

Tiệc triệu đô ở khách sạn siêu sang

Pháo hoa rực sáng khắp bầu trời Dubai trong lễ khai trương khách sạn The Atlantis trị giá một tỷ USD hôm qua.

Các nhà tổ chức cho biết màn bắn pháo hoa rực rỡ của họ có thể nhìn thấy từ ngoài không gian.
 
Bữa tiệc có sự tham gia của ngôi sao âm nhạc Kylie Minogue tại khu nghỉ mát trị giá 1 tỷ USD ở vùng Vịnh, trên một hòn đảo nhân tạo có hình dáng một cây cọ.
 
Ðây là bữa tiệc khai màn hoành tráng và đắt nhất lịch sử.
 
Hơn 2.000 khách tham gia sự kiện này hôm qua.
 
Trong số quan khách có các ngôi sao màn bạc như Robert De Niro, Denzel WashingtonLindsay Lohan.
 
Khách sạn rực rỡ trong ánh sáng.
 
An ninh được thắt chặt tại khu vực diễn ra sự kiện này.
 
Hòn đảo được thắp sáng với 1 triệu cây pháo hoa, gần gấp 10 lần số lượng pháo hoa sử dụng trong Olympic Bắc Kinh 2008.
 
 
Ðược xây dựng trên hòn đảo nhân tạo hình cây cọ ở Dubai
 
Khách sạn hạng sang Atlantis vừa khai trương tuần này được cho là điểm đến lý tưởng của giới nhà giàu với giá phòng lên đến hàng chục nghìn USD mỗi đêm.
 
Con đường uốn lượn dẫn vào khu phức hợp gồm khách sạn và khu nghỉ dưỡng Atlantis.
 
 
Thiết kế ấn tượng của một gian sảnh khách sạn.
 
 
Hành lang độc đáo bên trong khách sạn.
 
 
Một trong những điểm đặc biệt của Atlantis chính là không gian độc đáo của phòng tắm. Du khách sẽ trải qua cảm giác hết sức thích thú khi khám phá hệ thống nước được đổ xuống từ trần nhà tại đây.
 
 
Những vị khách đam mê khám phá cuộc sống dưới lòng đại dương chắc chắn không thể bỏ qua cơ hội vừa thư giãn trong những bồn tắm thiết kế hiện đại vừa ngắm nhìn các sinh vật biển bơi lội.
 
 
Nội thất trang nhã trong một căn phòng khách sạn. Atlantis có trên 1.000 phòng phục vụ khách mà đặc biệt là dãy buồng trên tầng cao nhất của khách sạn với 3 phòng ngủ, 3 phòng tắm và bàn ăn 18 chỗ dát vàng có giá lên đến hàng nghìn USD/đêm.
 
 
Quang cảnh bên trong một phòng ngủ của khách sạn Atlantis.
 
 
Nhà hàng sang trọng với tông màu trầm và ánh sáng dịu tạo cảm giác ấm cúng, yên bình.
 
 
Khu nghỉ dưỡng này còn có bể sinh vật cảnh ngoài trời với nhiều loại phong phú và trên 20 chú cá heo.

 
 

 
 




Hình ảnh đẹp miền quê Long An

 

Xin click vào hình để xem.




Xem tranh của Danh Họa Hà Cẩm Tâm

 

Xin click vào hình để xem tranh của danh họa Hà Cẩm Tâm

Sinh tại tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam, 1933
Tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn, Việt Nam
Triển lãm cá nhân từ hai đến bốn lần mỗi năm tại Việt Nam từ 1950 – 1975 tại:
– Hội Việt Mỹ, Sài Gòn
– Pháp Văn Đồng Minh Hội, Sài Gòn
– U.S.I.S. Hall, Sài Gòn
– Trung Tâm Văn Hóa Đức, Sài Gòn
– Toà Đại Sứ Thụy Sĩ, Sài Gòn
– Thư Viện Quốc Gia, Sài Gòn

Tham dự nhiều cuộc triễn lãm Hội Họa Quốc Tế tại Pháp, Hoa Kỳ, Nhật, Ý Úc Châu, Ba Tây, Hoà Lan, Đức, Tây Ban Nha

Sáng tác từ năm 1950, thuộc trường phái ấn tượng và trừu tượng

Giảng viên tại trường Đại Học Washington, Seattle từ 1978-1981 về môn hội họa cổ truyền Việt Nam

Đã được các báo Journal D’Extrême Orient, New York Times, Washington Post, San Jose Mercury News và các tuần báo nghệ thuật của các tiểu bang Hoa Kỳ phê bình và khen thưởng về các họa phẩm trong các kỳ triễn lãm

Dung hoà hai nền hội họa Đông Tây và chọn cho mình một lối đi độc đáo trong lãnh vực nghệ thuật tạo hình

Các họa phẩm với chủ đề về Ngựa đã được các nhà phê bình nghệ thuật và giới yêu tranh vô cùng ca ngợi về bố cục, màu sắc cũng như đường nét

———————————————————————–

Born in Dong Thap, Viet Nam
Graduated from the Academy of Fine Art in Saigon, Viet Nam
Two to four One-man show yearly in Viet Nam from 1955-1975 at:
– American-Vietnamese Association, Sai Gon
– French Cultural Center, Sai Gon
– U.S.I.S. Hall, Sai Gon
– Alliance Francaise, Sai Gon
– German Cultural Center, Sai Gon
– Library of Sai Gon
Participated in International exhibitions in France, USA, Japan, Italy, Australia, Brazil, Algeria …
Major exhibitions in North America. From 1978 to present: Pensyvalnia, Washington, Oregon, California, Washington D.C, Hawawaii, Utah…
Highlights:
Creative Artist since 1950
Teaching Vietnamese Tradional Art courses at University of Washington
Art Critic for various Vietnamese Magazines
Puslished the book "Study of Art" in Vietnam
Conducted many art lectures and workshops in America
Appeared on Fine Art columns of the New York Times, Journal d’Extre^me Orient, Washington Post, San Jose Mercury News
Inspiration:
Created a unique painting style in colors and lines by blending Eastern and Western Art
 



Hình ảnh buổi phát giải thi Văn Thơ 2008 (Long Nguyễn)

 

Xin click vào hình để xem hình buổi phát giải thi văn thơ 2008
do Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt tổ chức ngày 1/2/2009




Cụ bà 80 tuổi leo cây “nhanh như sóc” (Sinh Sinh)

Cụ bà 80 tuổi leo cây “nhanh như sóc”

Đã bước sang tuổi 80, nhưng cụ leo cây nhanh như sóc, bất chấp sự can ngăn của chồng con. Ngọn hồng xiêm cao 10m, cụ leo khoảng 3 phút lên đến ngọn, thoăn thoắt vươn người hái trái, mặc những người đ ng dưới lo lắng, hãi hùng.

Tên thật cụ là Nguyễn Thị Lan (gọi theo tên chồng là cụ Nghị) ở khối Đan Nhiệm, thị trấn Nam Đàn, huyện Nam Đàn (Nghệ An). 
 
Đến thăm cụ vào sáng sớm tinh mơ, trong nhà không một bóng người… Hỏi ra mới biết, cụ Nghị đang đi chợ bán trái cây. Trong lúc chờ cụ về, chúng tôi đã được nghe hàng xóm hết lời khâm phục cụ.
 
Bà Nguyễn Thị Loan, 60 tuổi, bán nước chè nóng, kể: “Trong đời này tôi chưa thấy ai trèo cây giỏi như cụ Nghị. Cụ đã 80 tuổi rồi mà còn trèo cây ghê lắm, thú thật như tui năm nay mới 60 nhưng chưa một lần dám trèo cây cao nửa mét. Còn cụ ấy thì trèo như vượn, mà cũng giỏi thật chừng ấy tuổi vừa trèo cây giỏi vừa đi xe đạp vô tư…”.
 
Anh Nguyễn Văn Cường, một người trong xóm cũng hết lời khen ngợi: “Năm nay tôi mới 34 tuổi nhưng nói về trèo cây thì phải gọi cụ bằng sư phụ”. 

Công việc hàng ngày của cụ vẫn là hái quả rồi mang ra chợ bán kiếm tiền
Cũng vừa lúc ấy cụ Nghị đi chợ về. Dựng chiếc xe đạp cẩn thận vào góc nhà, cất cái nón, cụ nhanh tay rót nước mời chúng tôi. Câu chuyện của cụ bắt đầu bằng sự hồi tưởng về thuở thiếu niên, khi mới 13 tuổi, cụ đã leo trèo khắp nơi, hết cây này sang cây khác, hết xóm trên xuống xóm dưới để bứt lộc (lá) nuôi hươu.
 
Thời gian sau khi lấy chồng, cụ đã hạn chế bớt việc leo trèo, nhưng khoảng 20 năm trở lại đây, cụ Nghị trở lại “cái nghiệp” leo cây.
 
Tinh thần phải vững
 
Đó là “bí quyết” mà theo cụ Nghị là để có được ngày hôm nay.
 
Cụ Nghị năm nay tròn 80 tuổi nhưng da dẻ vẫn còn sáng hồng, dáng người nhỏ gọn, đi đứng nhanh nhẹn, làm việc thoăn thoắt cả ngày… Theo cụ, chuyện leo cây đối với cụ hiện nay rất bình thường, bởi cụ quan niệm và tin tưởng “Tinh thần vững chãi thì làm gì cũng an tâm và tự tin”.
 
Chúng tôi hỏi, đã ngần ấy tuổi cụ cảm thấy như thế nào mỗi khi leo cây? Cụ đáp: “Đó là chuyện nhỏ thường ngày”. Cụ có cảm thấy việc làm của mình là quá nguy hiểm? “Thú thật với các chú, tôi thích là tôi l0m. Chả có gì là nguy hiểm cả. Tôi bảo rồi, chỉ có tinh thần vững vàng thì mới có thể leo cây được như thế…”.
 
Rồi trong tích tắc, cụ đã thoắt lên tận ngọn hồng xiêm cao gần chục mét, trong khi tay còn cầm thêm một túi đựng quả và một cái sào níu quả. Những người đứng dưới chứng kiến cụ leo thì không tránh khỏi cảm giác lo âu, hãi hùng. 

Thoắt cái, cụ đã leo tót lên ngọn cây hồng xiêm chỉ tay về phía chúng tôi

Cụ ông Nguyễn Nghị tâm sự: “Khoảng 20 năm trở lại đây bà ấy leo cây nhiều hơn. Đặc biệt là từ sau Tết 2009, ngày nào bà ấy cũng leo cây. Thấy bà leo cây nhiều quá tôi lo lắng bảo với con chặt quách mấy cái cA 2y đó… lỡ có chuyện gì thì làm sao. Nhưng suy đi tính lại, giờ mà chặt hết cây trong vườn thì cũng tiếc vì bao nhiêu năm chăm lo vun trồng, thôi thì đành để vậy. Tôi chỉ biết khuyên bà nên ít leo cây hơn, nói nhiều nhưng bà ấy có nghe đâu.. Thôi thì bà quyết thì tôi cũng đành chịu”.
 
Chị Nguyễn Thị Yến, con gái cụ Nghị cũng tỏ vẻ bất lực: “Thấy mẹ leo cây biết là nguy hiểm, đã nhiều lần nói nhưng mẹ bảo việc làm của mẹ thì các con đừng can ngăn. Nói nhiều nhưng mẹ không nghe cũng đành chịu…”.
 
Gia đình còn cho biết thêm, “lịch làm việc” một ngày của cụ khá dày: sáng sớm đi chợ bán hoa quả, mua thức ăn cho con cháu, nấu ăn cho gia đình tươm tất. Tranh thủ giờ nghỉ trưa, khoảng từ 12h đến 15h hàng ngày, cụ leo cây hái quả. Thói quen này cụ duy trì liên tục gần cả năm nay. Trong vườn của gia đình cụ có hàng chục cây hồng xiêm, vú sữa, nhãn… với độ cao từ 5-10m. Cụ Nghị leo đã hàng chục năm qua, nhưng chưa bao giờ để gãy một cành cây nào, cũng như chưa một lần bị ngã.
 
Chia tay gia đình cụ, chúng tôi thầm cầu chúc cho cụ luôn dồi dào sức khỏe, duy trì được tinh thần vững vàng để mãi là chỗ dựa cho gia đình, cho con cháu.
 
Dưới đây là một số hình ảnh ghi lại hôm đến thăm cụ: 

Chỉ trong một phút lãng câu chuyện với chúng tôi, cụ đã tót lên cây vú sữa


Bước chân nhẹ nhàng nâng cụ Nghị l=C 3n cây hồng xiêm


Trong chốc lát, cụ đã leo lên tận ngọn

Di chuyển nhẹ nhàng từ cành này sang cành kia, hai chân cụ vẫn đứng rất vững vàng


Cái cây hồng xiêm này cao gần 10m, cụ Nghị leo khoảng 3 phút là lên đến ngọn cây, vươn người hái trái nhẹ nhàng. Chúng tôi ở dưới ai cũng hốt hoảng.


Đây là sản phẩm của cụ Nghị hái sau khi thực hiện màn leo cây cho chúng tôi xem

Hai vợ chồng cụ Nghị đều còn minh mẫn và rất thương yêu nhau. Gia đình cụ Nghị có 5 người con đều thành đạt.




Commander H. B. Le, USN (Minh Thông)

Commander H. B. Le, USN

Prospective Commanding Officer, USS LASSEN (DDG 82)

Commander H. B. Le is a native of Hue, Vietnam and was raised in Northern Virginia. He earned his commission in 1992 from the U.S. Naval Academy, graduating with merit with a Bachelor of Science degree in Economics.

CDR Le’s initial sea tour was in USS TICONDEROGA (CG 47) in Norfolk, VA, where he served as Auxiliaries Officer and First Lieutenant. Subsequent assignments included tours as Fire Control Officer in USS WASP (LHD 1) in Norfolk, VA; Weapons Officer and Combat Systems Officer in USS HUE CITY (CG 66) in Mayport, FL; and Executive Officer in USS CURTIS WILBUR (DDG 54) in Yokosuka, Japan.

His staff assignments included tours in the Requirements, Policy, and Experimentation (N8/9) directorate at U.S. Second Fleet and in the Joint Training (J-7) directorate at U.S. Joint Forces Command. CDR Le has a Master of Science degree in Operations Research with distinction from the Naval Postgraduate School and a Master of Business Administration degree summa cum laude from Touro University International. He is a graduate of the Naval War College Nonresident Seminar Program and a graduate of the Joint Forces Staff College.

CDR Le’s personal decorations include the Defense Meritorious Service Medal, the Meritorious Service Medal, the Navy/Marine Corps Commendation Medal (four awards), and the Navy/Marine Corps Achievement Medal (two awards).

 

HQ Trung Tá Lê Bá Hùng sẽ là Hạm Trưởng USS LASSEN (DDG 82)
Tuyết Mai
 
Thật là một hãnh diện cho tập thể người Việt Quốc Gia ở hải ngoại, sau ba mươi bốn năm lưu vong ở xứ người, thế hệ con cháu đã vươn lên nắm giữ nhiều chức vụ lãnh đạo trên quê hương thứ hai – Hoa Kỳ.
 
Hải Quân Trung Tá Lê bá Hùng vừa được bổ nhiệm chức “Hạm Trưởng” Khu Trục hạm USS LASSEN (DDG 82). Lễ bàn giao sẽ được cử hành vào ngày 23 Tháng Tư, 2009 tại US Yokosuka Naval Base, Nhật Bản. 
 
Được biết HQ Trung Tá Lê bá Hùng là con trai của Cựu Trung Tá HQVN Lê bá Thông, định cư ở Virginia, HK từ năm 1975. HQ Trung Tá Hùng
được sinh ra tại Thành Phố Huế và lớn lên tại Tiểu bang Virginia. Ông theo học ở US Naval Academy ở Annapolis, Maryland và tốt nghiệp ưu hạng năm 1992.
 
Nhiệm sở biển đầu tiên của Trung tá Hùng là phục vụ trên Tuần Dương Hạm USS TICONDEROGA(CG 47) ở Norfolk, VA với chức vụ “Auxiliaries Officer and First Lieutenant” . Sau đó Trung Tá Hùng giữ chức Sĩ Quan Phòng Tai trên USS WASP(LHD1) ở Norfolk, VA.
 
Tháng 5 năm 2001, Tr T Hùng được chỉ định làm Combat Systems Officer. Trong thời gian phục vụ trên chiến hạm USS HUẾ CITY (CG 66) ông được trao tặng 3 Battle Efficiency Awards và được chỉ định họat động tại The Horn of Africa, Northern Arabian Sea, and Arabian Gulf,  yễm trợ cuộc hành quân Operation Enduring Freedom. Sau đó ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Hạm Phó Khu Trục Hạm USS CURTIS WILBUR (DDG 54) tại Yokosuka, Nhật bản.
 
Nhiệm sở bờ, Trung Tá Hùng đã phục vụ tại The Requirements, Policy and Experimentation Director thuộc Bộ Tư Lệnh Đệ Nhị Hạm Đội và phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Liên Quân (The US Joint Force s Command, J-7 Training Directtorate tại Suffolk, Virginia) từ tháng Giêng năm 2007 và đã tốt nghiệp Joint Forces Staff College trong tháng 6 năm 2007.
 
Trung Tá Hùng đã tốt nghiệp ưu hạng Trường Naval Postgraduate School với bằng Cao Học Khoa học về Operations Research; tốt nghiệp Summa Cum Laude from Touro University International với bằng Cao Học Master of Business Administration degree in Military Management. Trung Tá Hùng hoàn tất The Naval War College nonresident seminar program và tốt nghiệp Trường Joint Forces Staff College.
 
Ông được tưởng thưởng các huy chương: The Defense Meritorious Service Medal, the Meritorious Service Medal, the Navy/Marine Corps Commendation Medal (4 awards) , and the Navy/Marine Corp Achievement Medal (2 awards).
 



Tranh biếm họa

 

 

 

 

 

 

 

 

 




10 hố lớn kỳ lạ nhất thế giới.

10 hố lớn kỳ lạ nhất thế giới.
Đa phần những chiếc hố khổng lồ hình thành trên trái đất do hoạt động khai thác mỏ của con người tạo ra, trong khi đó thiên nhiên cũng hình thành những hố tương tự.
1. Hố gas Darvaza-Turmenistan
Năm 1971, các nhà địa chất phát hiện mỏ khí ngầm ở vùng Darvaza. Trong khi khai thác, một vụ sập đã tạo ra chiếc hố khổng lồ. Để ngăn tình trạng khí độc giải phóng người đã đốt nó và đến nay hố gas Darvaza vẫn tiếp tục cháy, tạo ra cảnh tượng độc nhất vô nhị trên hành tinh.
2. Mỏ kim cương Kimberly-Nam Phi
Mỏ kim cương này còn được gọi là BigHole được coi là chiếc hố nhân tạo lớn nhất thế giới. Từ năm 1866 đến năm 1914 đã có 50..000 công nhân làm việc tại đây bằng những dụng cụ thô sơ như cuốc và xẻng, khai thác tổng cộng 2.722 kg kim cương. Công trình này đang được đăng ký trở thành một di sản thế giới.
3. Đập Monticello-California
Con đập nằm ở hạt-Napa của bang California-Mỹ này được biết đến nhiều vì có đập tràn hình tròn khổng lồ.
4. Mỏ Bingham-Utah
Khu mỏ khai thác đồng ở hẻm Bingham thuộc dãy núi Oquirrh, bang Utah-Mỹ có độ sâu tới 1,2 km và đường kính 4 km. Đây cũng là một trong những hố lớn nhất thế giới do con người tạo ra.
5. Hố xanh khổng lồ – Belize
Hố sụt ngầm dưới nước được mệnh danh là GreatBlue-Hole này nằm ngoài khơi Belize, thuộc vùng Trung Mỹ, được hình thành như một hang động đá vôi ở cuối thời kỳ băng hà.
6. Mỏ kim cương Mirny-Siberia
Khu mỏ có độ sâu 525 mét và đường kính 1.200 mét này là một trong những nơi khai thác kim cương đầu tiên và lớn nhất của LiênXô nay đã chấm dứt sứ mệnh. Khi còn hoạt động, phải mất hai tiếng những chiếc xe tải mới có thể đi từ đỉnh mỏ Mirny xuống đáy theo hình xoắn ốc.
7. Mỏ kim cương Diavik-Canada
Khu mỏ này nằm ở vùng lãnh thổ Tây Bắc của-Canada bắt đầu hoạt động từ năm 2003, mỗi năm khai thác được 8 triệu carat (tương đương khoảng 1.600 kg) kim cương.
8. Hố sụt Guatemala
Năm 2007, một hố sụt có đường kính gần 100 mét đã nuốt gọn hàng chục ngôi nhà ở Guatemala khiến 2 người thiệt mạng và hàng nghìn người phải đi sơ tán. Hố sụt này được tạo ra bởi những cơn mưa lớn liên tiếp và một đường chảy nước thải ngầm.
9. Mỏ Udachnaya-Nga
Khu mỏ kim cương lộ thiên Udachnaya của Nga được phát hiện từ năm 1955 và có độ sâu hơn 600 mét. Những người sở hữu khu mỏ này đang có kế hoạch chấm dứt hoạt động của nó vào năm 2010 để chuyển sang khai thác ngầm trong lòng đất.
10. Mỏ Chuquicamata-Chile
Đây là mỏ khai thác đồng lộ thiên có tổng sản lượng khai thác lớn nhất trên thế giới, dù đây không phải là mỏ đứng đầu về quy mô hoạt động. Mỏ có độ sâu hơn 850 mét.
Đình Chính (theo XinhuaWikipedia)




Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh

Friday, June 22, 2007

Hình 1: Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh trong cuộc triển lãm ảnh nghệ thuật của ông cùng hai nhiếp ảnh gia Nguyễn Khải và Phạm Hiếu, tại Phòng Sinh Hoạt Nhật Báo Người Việt. (Hình: Vũ Ðình Trọng/Người Việt)

Những ai đã từng lớn lên thời chiến tranh chắc không thể không biết nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh với những bức hình nói về cuộc chiến tại Việt Nam đầy tính nhân bản.

Trong những năm phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, có một biến cố khiến ông trở thành một nhiếp ảnh gia nổi tiếng sau này.

Trở về Bộ Tổng Tham Mưu nhận hình phạt thì được Tướng Thanh, Phòng I nhìn ra .

Thế là ông đi từ chiến trường này đến chiến trường kia. Những bức hình của ông đã giới thiệu cho thế giới biết cuộc chiến tranh Việt Nam như thế nào, và người lính Việt Nam Cộng Hòa nhân bản ra sao. Trong thời gian này, ông viết cuốn sánh “

Những bức hình ông chụp được mọi người ngưỡng mộ Trong khuôn khổ trang Người Việt Trẻ, chúng tôi giới thiệu đôi nét về ông và một số tác phẩm với từng hoàn cảnh ra đời của nó, qua lời kể của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh.




“Trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, Việt Cộng đã chiếm được Ðại Nội, họ chuẩn bị sẵn một lá cờ rất lớn treo lên cột cờ tại đây. Chúng ta phản kích và lấy lại được khu đất này. Trong khi vẫn còn những ụ súng phản kháng của Việt Cộng thì một trung sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa trèo lên cột cờ, xé tan lá cờ Việt Cộng và treo lá cờ của mình lên. Khi




“Tại mặt trận Bồng Sơn, Quảng Nam khoảng năm 1965-1966,




“Khoảng năm 1965, Việt Cộng tấn công vào một đồn lính ở Củ Chi, ngoại thành Sài Gòn. Chúng tôi đến giải vây. Khi Việt Cộng rút đi,




“Năm 1973, tôi nghe rằng ở Bạc Liêu có một người như trong hình, tức là bị cụt tay chân nên đến đó nhờ ông tỉnh trưởng dẫn tới nhà chụp hình. Ðây là một anh




“Ðây là



“Trong trận chiếm lại Ðại Nội, Huế năm 1968,

“Tôi quen với anh







Tôi có một người bạn học tên Tuấn học chung tại trường Tarbert, Sài Gòn. Chúng tôi cùng đi lính, và sau này về chung một đơn vị. www.nguoi-viet.com

 

 Brief Biography of Nguyen Ngoïc Hanh, Vietnamese American photographer-soldier

Nguyen Ngoc Hanh’s military career began with the French in about 1936, when he was taken from a Catholic orphanage in Hadong, North Vietnam at the age of ten. Like many unprotected colonial children he accompanied the French army in the forests of Vietnam in the

By the time he was twenty-three (1950) Nguyen Ngoc Hanh was transferred to the Quoi gia Vietnam (Army of the Republic of Vietnam) as a second lieutenant. He returned to France in 1952 to attend logistics training. He attended the French Photography School in Toulouse, graduating in 1956 as a photographer.

Captain Hanh of the Airborne Division returned to South Vietnam in 1956, two years after the Geneva Accords mandated partition of North Vietnam and South Vietnam. He served in the 1st and 3rd Batallions. His photographs during that period are often taken in the air, where he parachuted from 40,000 feet, free-falling for a considerable time before pulling the rip cord so that his parachute would not obscure the photograph. He founded the KBC Photography Club in 1957.

By the time he was thirty-four (1961) Nguyen Ngoïc Haïnh was assigned as the official war photographer for the South Vietnam Armed Forces. He was promoted to the rank of major through field commissions, and in 1968, the time of the Tet Offensive, was a Lieutenant-Colonel at forty-one years of age. He was wounded three times in combat between 1970 and 1975, primarily from groundfire directed toward the two-seater C-47 planes that the South Vietnamese Air Force reconnaissance flew underneath the Americans in the larger C-130s.

Nguyen Ngoïc Hanh was attached to the JGS (Joint ARVN-USA Staff) headquarters, Political Warfare branch, with a special pass from President Thieu that entitled him to personal helicopter escort anywhere he was assigned, to both ARVN and American stations. All the film was held and distributed by the JGS. During the battle of Khe Sanh his film was taken at gunpoint by an American officer, a circumstance that he describes as the fastest way to get the message across because of the language barrier. Col. Hanh stated at a public program in 2005

that he believed the Associated Press film showing an execution of a Viet Cong officer caught murdering civilians in Saigon during the Tet Offensive should have been confiscated by the officer in charge, General Loan.

As a photographer Nguyen Ngoc Hanh is internationally renowned. He was elected to the Top Ten Photographers of the Photographic Society of America in 1968. The same year he was “Top Ten” in PSA, he received a Gold Medal of the “Fotograkia la Presidenza Delta Camera” Italy; in 1969 he received the Excellence Award of the Federation Internationale Arte Photographie in Sidney and the Gold Trophy of the Fourth International Salon of Pictorial Photography in Thailand. His photographic honors include the Royal Photographic Society of Great Britain. New photographers that he has trained have themselves been accepted to R.P.S.

www.shcd.de –was published by the government of South Vietnam (Khoi Lua) in 1969. The English language version, translated by Tran Nha, was published approximately in 1986; the source is unclear. Copies of either edition are extremely hard to find and plans are underway by the Vietnamese International publishing group to republish, to which Mr. Hanh has given permission. The too-generous photographer gave a Vietnamese language copy—his last one—to the library at the Oakland Museum of California. The photographs in The History Channel presentation on the Tet Offensive in April, 2006, are from an English language copy which was purchased online at a military bookstore by historian Jean Libby, Fed-Exed to the filmmakers in Washington, D.C., and contract arranged so that Mr. Hanh would be paid for their publication. That copy is now donated to the VICANA group for publication.

The photographer Nguyen Ngoc Hanh is a portraitist. That is the power of his war photos. Seeing the portraits of the apprehensive, brave in battle, and so very youthful soldiers is enough to understand that they are his heart and soul. His photos of captured Viet Cong are equally compelling portraits—and also show that the prisoners were given proper medical treatment. His moving close portrait of a young widow in Hue in tears receiving her husband’s effects was widely published.

His response to the surrender of South Vietnam to the invading North Vietnam Army on April 30, 1975, will come as no surprise to those who know him. He did not use his personal pass for helicopter transport because he “did not want to take pictures of generals running away.” He chose to remain with the soldiers who had no way out.

The consequences of his remaining in Communist Vietnam was imprisonment that was harsh, cruel, and personally vicious. He was “fingered” by a camp inmate as the photographer for JCS. He lived in a metal container in which he could neither stand up nor lie down for a year and four months. During this period he was removed for two hours daily and forced to kneel fettered on the ground in broken glass, facing and staring at the sun.

In 1983 a German amnesty group, probably Amnesty International, negotiated his release with the Socialist government of Vietnam and Nguyen Ngoc Hanh became the first

political prisoner to be released from the camps. He does not know why this group selected him for rescue. The most likely reason is the scope of his photographic reputation throughout Europe and included the German “Fotomundi Excellence” prize.

Still, Mr. Hanh was not free in his own country as long as the Communists are in control. In an interview with journalist De Tran in San Jose in 1995, the sad story of separation and ultimate estrangement of his family when his home was confiscated by the cadres at the end of the war was revealed. He made four attempts to escape by boat, the last one successfully taking him to Thailand in 1985. “Sooner or later they would have come to arrest me again,” he told me in interview in 2005.

The first thing Nguyen Ngoc Hanh did in San Jose, California, when he immigrated in 1989 (at age sixty-two) was organize a professional photography association. The second was to get a job, which he did in 1990,

Nguyen Ngoc Hanh is still (in 2006) a working photographer: teaching, exhibiting, and creating. He has been able to work through some of his anguish of loss by carefully re-enacting some of his photographs taken in Vietnam with people in the California community at locations that “look like Vietnam.” He especially works with waterfalls, traveling great distances with an American travelguide author to get just the right time of year and foliage. The photograph appended to this article shows “Autumn, 2004” which was taken on September 21 in Oregon for his exhibition at De Anza College at the seminar on Vietnamese American Achievement on October 22, 2004. The organizers of this exhibit are hoping to distribute a DVD of the photographs and Mr. Hanh that was taped on the day of the seminar, showing not only the vast scope of his work but his irrepressible spirit in talking about his national history.

Article and photograph by Jean Libby, editor, Viet-Am Review.

Permission is granted to publish or distribute all or part if credit is given.

Translation into Vietnamese for cooperative publication will be appreciated.




135 pictures in Vietnam (before & after April/1975)

hình và detail


01 Sep 1969, Saigon, Vietnam — Saigon: President Nguyen Van Thieu (third from left, front row) introduces his new 31-member cabinet on the steps of the Presidential Palace here. Thieu said the membership was selected with an eye to broadening the government’s popularity with the nation’s 17,500,000 people. Flanking Thieu are Vice President Nguyen Cao Ky (left) and new Premier, Gen. Tran Thien Khiem. — Image by © Bettmann/CORBIS


02 Jan 1969, Dong Ha, South Vietnam — Special Delivery. Dong Ha, South Vietnam: Men in a U.S. 3rd Marine Division contingent fire howitzers near the Laotian border as a massive offensive is launched by some 5,000 U.S. and South Vietnamese troops. The troops were staging a drive against the are near the abandoned allied fortress of Khe Sanh. They were searching for North Vietnamese regulars. — Image by © Bettmann/CORBIS


08 Jun 1969, Midway Islands — President Richard Nixon of the U.S. and President Ngygen Van Thieu of South Vietnam make joint statement to press on Midway Island June 8th. — Image by © Bettmann/CORBIS


08 Nov 1969, Bien Hoa, South Vietnam — Bien Hoa, S. Vietnam: South Vietnamese President Nguyen Van Thieu attends National Day ceremonies at a military cemetery near Bien Hoa. In most photos Thieu (wearing dark grey suit) is accompanied by Vice President Cao Ky, who is wearing a Nehru jacket. — Image by © Bettmann/CORBIS


08 Nov 1969, Bien Hoa, South Vietnam — Bien Hoa, S. Vietnam: South Vietnamese President Nguyen Van Thieu attends National Day ceremonies at a military cemetery near Bien Hoa. In most photos Thieu (wearing dark grey suit) is accompanied by Vice President Cao Ky, who is wearing a Nehru jacket. — Image by © Bettmann/CORBIS


17 Oct 1969, Saigon, Vietnam — Saigon: The 11th Armored Cavalry armored personnel carriers and tanks sweep into rubber plantation area at Loc Ninh and Quan Loi October 17th. — Image by © Bettmann/CORBIS


14 Dec 1969, Nha Trang, South Vietnam — Nha Trang, South Vietnam: In an open air classroom, a student is instructed in the firing of a machine gun at the NCO Combat School at Nha Trang, 250 miles northeast of Saigon. Up to 4,000 students undergo a nine week course to become noncommissioned officers. — Image by © Bettmann/CORBIS


14 Dec 1969, South Vietnam — A karate (or judo) class at South Vietnam Military Academy, a new four year school instituted by a decree from then President Ky in 1966. The school is run along the lines of West Point, and places much emphasis on moral leadership and education as military training. The school motto is "To master oneself for leadership." — Image by © Bettmann/CORBIS


15 Oct 1969, Hue, South Vietnam — Hue, South Vietnam: South Vietnamese president Nguyen Van Thieu speaks at a mass funeral for 250 people killed by the Viet Cong in the 1968 Tet offensive. Their bodies were found only a few days ago. — Image by © Bettmann/CORBIS


15 Oct 1969, Hue, South Vietnam — Rows of coffins of victims of the 1968 Tet Viet Cong offensive. Bereaved relatives mourn their dead during mass funeral of 250 persons killed by Viet cong. Funeral was held October 1969 as bodies were only recently discovered. — Image by © Bettmann/CORBIS


17 Oct 1969, Saigon, Vietnam — Saigon: Members of the 11th Armored Cavalry go out on foot patrols after getting their vehicles into position here in a plantation area near Loc Ninh and Quan Loi October 17th. — Image by © Bettmann/CORBIS



20 Sep 1969, Saigon, South Vietnam — Tran Thiem Khiem, recently appointed Prime Minister of South Vietnam by President Thieu, speaks in Saigon, September 20th. — Image by © Bettmann/CORBIS


30 Jul 1969, Saigon, S. Vietnam — Saigon, S. Vietnam: President Richard Nixon and South Vietnamese President Hguyen Van Thieu give speeches during Presidential Palace welcome for the visiting U.S. Chief Executive. — Image by © Bettmann/CORBIS


30 Jul 1969, Saigon, S. Vietnam — Saigon, S. Vietnam: President Richard Nixon and South Vietnamese President Hguyen Van Thieu give speeches during Presidential Palace welcome for the visiting U.S. Chief Executive. — Image by © Bettmann/CORBIS


1969 (CL-R) President Richard M. Nixon, Thieu Ky along with other dignitaries including Henry Kissinger and Ellsworth Bunker standing at microphones during visit to South Vietnam


1969 (R-L) President Richard Nixon and Thieu Ky reviewing South Vietnamese naval personnel during Nixon’s visit.


1969 Nixon


20 Sep 1969, Saigon, South Vietnam — Tran Thiem Khiem, recently appointed Prime Minister of South Vietnam by President Thieu, speaks in Saigon, September 20th. — Image by © Bettmann/CORBIS


SV Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, nơi đào tạo sĩ quan chuyên nghiệp của VNCH theo mô hình trường Sĩ Quan Lục quân West Point của Hoa Kỳ . 14 Dec 1969, Nha Trang, South Vietnam — Nha Trang, South Vietnam: Soldiers attending open air sessions, here outdoors in uniforms. — Image by © Bettmann/CORBIS


Đà Lạt 14-12-1969, Lễ tốt nghiệp của 92 SV Khóa đầu tiên (1966)
14 Dec 1969, Nha Trang, South Vietnam — Nha Trang, South Vietnam:Cadets march with colors on graduation day at South Vietnam’s Military academy in Dalat. Modeled along the lines of West Point, 92 cadets received their commissions. They were the first group to complete the four year course instituted by a decree from then president Nguyen Cao Ky in 1966. —
Image by © Bettmann/CORBIS


26 Sep 1969, Hanoi, North Vietnam — Funeral For Ho. Hanoi: Some North Vietnamese leaders gather around the body of President Ho Chi Minh during a state funeral here. This picture was released in Cambodia. — Image by © Bettmann/CORBIS


17 Oct 1969, Saigon, Vietnam — Saigon: The 11th Armored Cavalry armored personnel carriers and tanks sweep into rubber plantation area at Loc Ninh and Quan Loi October 17th. — Image by © Bettmann/CORBIS


01 Jan 1970, Saigon, South Vietnam — Saigon, Vietnam: Vice presidents Spiro T. Agnew of the U. S. and Nguyen Cao Ky of South Vietnam inspect the honor guard for Agnew on his arrival at the presidential Palace. Agnew went immediately to the palace where he conferred with South Vietnamese President Nguyen Van Thieu. — Image by © Bettmann/CORBIS


11 Mar 1970, Saigon, South Vietnam — Vietnam’s first lady, Mme. Nguyen Van Thieu, fidgets with a notebook as she discusses the contrast between herself and the one time first lady of Vietnam, Mme, Ngo Dinh Nhu. Mme. Thieu says she does not advise her husband on affairs of state. "His interest in politics and mine is social welfare, I can help him most this way," she says. — Image by © Bettmann/CORBIS


19 Jun 1970, Saigon, South Vietnam — Saigon, South Vietnam: Review Parade. South Vietnam Vice Pres. Nguyen Cao Ky renders hand salute as he and Pres. Nguyen Van Thieu preside over a muscle-flexing Armed Forces Day Parade, nation’s first in four years, here June 19th. In an address, Thieu declared "we are forced to keep on fighting for self-defense and to help restore peace rapidly in this beloved land of ours." — Image by © Bettmann/CORBIS


15 Sep 1970, Saigon, South Vietnam — Saigon, South Vietnam: Left to right, Chairman of Lower House Nguyen Ba Luong, President Nguyen van Thieu, Prime Minister Tran Thien Khiem, and Madame Khiem. September 15, 1970. — Image by © Bettmann/CORBIS


07 Apr 1971, Dong Ha, South Vietnam — Addresses Troops. Dong Ha, South Vietnam: South Vietnam Pres. Nguyen Van Thieu addresses troops, March 31, who took part in recent operation Lam Som 719 incussion into Laos. Thieu came to this Vietnamese base, 10 miles below the DMZ, to present medals to soldiers who participated in the operation. — Image by © Bettmann/CORBIS


October 1971, Saigon, South Vietnam — Saigon, South Vietnam: President Nguyen Van Thieu of South Vietnam giving a campaign address.


15 Oct 1971, Saigon, South Vietnam — Reagan Confers with Thieu. Saigon, South Vietnam: Ronald Reagan of California, who is touring Asia as President Nixon’s emissary, confers with South Vietnamese president Nguyen Van Thieu, October 15. Reagan told a news conference that he brought Thieu a message from the chief executive saying there would be "no change in the course of policy of our nation" toward South Vietnam. — Image by © Bettmann/CORBIS


31 Oct 1971, Saigon, South Vietnam — Swears Himself In. Sag ion: South Vietnamese President raises his hand as he swears himself in a for a second four year term here, October 31st. The ceremony was witnessed by a handpicked crowd of 5,000 persons. — Image by © Bettmann/CORBIS


31 Oct 1971, Saigon, South Vietnam — Second Inaugural. Saigon, South Vietnam: South Vietnamese President Nguyen Van Thieu lights a ceremonial flame at his inauguration here, October 31. Under massive security precautions, Thieu began his second four-year term as president. Representatives of thirty countries attended the ceremony. — Image by © Bettmann/CORBIS


31 Oct 1971, Saigon, South Vietnam — South Vietnamese President Nguyen Van Thieu leaves platform after taking oath of office for another four-year term, October 31. He is followed by Prime Minister Tran Thiem Khiem (L) and Vice President Tran Van Huong. Seated at right are Justices of the Supreme Court. — Image by © Bettmann/CORBIS


29 Aug 1971, Saigon, South Vietnam — Election Day. Saigon, South Vietnam: There are an awful lot of motorcycles in Vietnam, and a great many of them were parked in front of a polling place (August 29) when the capital city’s citizens turned out to vote for a new lower house. — Image by © Bettmann/CORBIS



24 Jan 1971, Saigon, South Vietnam — 1/24/1971-Saigon, Vietnam- Spectacular blaze looms in background as a Vietnamese woman is comforted by a companion and a youth (background) hastily stacks wicker baskets for removal. The blaze, the cause of which was not determined, erupted 1/24 in huge market area of fruit stands and vegetable stalls along the Saigon River. Fires are much feared here, as many of the houses and buildings are built close together and are constructed of straw, paper, light wood and other materials which have a propensity for burning quickly and easily. Filed 2/3/1971.


03 May 1972, Hue, South Vietnam — Hue, South Vietnam. A regiment of South Vietnamese Marines pulling back from Quang tri are shown at My Chanh along Route #1 en route to Hue. — Image by © Bettmann/CORBIS


05 Aug 1972, Highway 13, South Vietnam — 8/5/1972-Highway 13, South Vietnam: A military ambulance races north on Highway 13, passing the grave of an unknown ARVN soldier whose shirt is draped over a cross, some nine miles north of An Loo. On August 3, ARVN forces captured a key bunker that has kept the highway shut to An Loc for four months. A military spokesman said the highway to An Loc is expected to be reopened by August 9. — Image by © Bettmann/CORBIS


05 Nov 1972, Saigon, South Vietnam — South Viets Support Thieu. Saigon, So. Vietnam: A huge crowd of about 10,000 persons jams Saigon’s downtown section to show support for President Nguyen Van Thieu and demand that there be no coalition government. — Image by © Bettmann/CORBIS


09 Apr 1972, Lai Kha, South Vietnam — A column of ARVN paratroopers trudges along Highway 13 here in this photo, en route to reinforce besieged South Vietnamese forces at An Loc, district capital of Binh Long Province, some 60 miles nor
th of Saigon. Attempting to head off a threat to Saigon, the Thieu government April 9th switched the full 21st Division from normal operations in the U Ming Forest to An Loc, where fighting seems to be centered. — Image by © Bettmann/CORBIS


10 Apr 1972, Lai Khe, South Vietnam — South Vietnamese soldiers string barbed wire along road as armored personnel carriers, of elite South Vietnamese paratrooper division, move along Highway 13 toward embattled city of An Loc, some 60-miles north of Saigon. U.S. Major General James F. Hollingsworth, senior military advisor in eleven province area surrounding Saigon, reported the Communist thrust down Highway 13 toward Saigon had been halted. — Image by © Bettmann/CORBIS


10 Apr 1972, Lai Khe, South Vietnam — Holding Their Own. South Vietnamese soldiers string barbed wire along road as armored personnel carriers, of elite South Vietnamese paratrooper division, move along Highway 13 toward embattled city of An Loe some 60-miles north of Saigon here April 10. U.S. Maj. Gen. James F. Hollingsworth, senior military advisor in 11 province area surrounding Saigon, reported the Communist thrust down Highway 13 toward Saigon had been halted.


17-12-72 TT Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc hội
12 Dec 1972, Saigon, South Vietnam — Saigon, South Vietnam: In a speech to a joint session of the National Assembly, South Vietnamese President Nguyen Van Thieu spells out his position toward a cease-fire. Thieu spells out his position toward a cease-fire. Thieu indicated he is rejecting the cease-fire as it now stands. However, he said he will accept a temporary Christmas Truce and to show his good will he will release more than 1,000 North Vietnamese prisoners of war. — Image by © Bettmann/CORBIS


13 Jun 1972, Lai Khe, South Vietnam — 6/13/1972-Lai Khe, South Vietnam: Line of Helicopters of the U.S. First Air Cavalry Division land in formation at Lai Khe to pick up troops of the South Vietnamese Second Division and bring them to An Loc. — Image by © Bettmann/CORBIS


14 Apr 1972, Chon Thanh, South Vietnam — Chon Thanh, South Vietnam: With his bandaged arm in a sling, a South Vietnamese soldier walks down Highway 13 to an aid station after he was wounded in fighting with North Vietnam forces, April 14, north of Chon Thanh


14-4-1972 Chơn Thành: binh sĩ thuộc binh chủng Nhảy Dù được vận chuyển nhanh đến bãi đáp trực thăng để chi viện cho An Lộc
14 Apr 1972, Chon Thanh, Vietnam — 4/14/1972-Chon Thanh, Vietnam: ARVN paratroopers, members of Saigon’s elite Presidential Palace guard, speed down the highway on a truck toward the landing zone in the outskirts of Chon Thanh. They were part of an armored relief column spearheading drive up Highway 13 towards embattled provincial capital of An Loc, which North Vietnamese forces hope to capture and make a provisional capital for the Viet Cong, but had been stalled some 18 miles below the town by intense Communist artillery and mortar fire. — Image by © Bettmann/CORBIS


16-4-1972 – Lai Khê: binh sĩ VNCH chờ trực thăng để đến An Lộc
16 Apr 1972, An Loc, South Vietnam — An Loc, South Vietnam: Vietnam helicopters. ARVN airborne troops await helicopter at landing strip.


17 Jan 1972 — U.S.Senator James L.Buckley (L), R-N.Y., confers briefly with South Vietnamese President Nguyen Van Thieu at the Presidential Palace late 1/17. The junior Senator told newsmen after the meeting with Thieu that Asian leaders appeared uncertain of United States foreign policy design in the Western Pacific. — Image by © Bettmann/CORBIS


17 May 1972, Saigon, South Vietnam — Vice President Spiro T.Agnew (R) talks with Pres.Nguyen Van Thieu in Independence Palace here May 17th following his arrival for a short, secrecy-shrouded visit with top South Vietnamese and American officials in the war zone. Agnew’s trip to Saigon served the purposes both of showing American determination to aid South Vietnam and of gathering information for Pres.Nixon before Nixon’s trip to Moscow beginning May 20th. — Image by © Bettmann/CORBIS


17 Aug 1972, Saigon, South Vietnam — 8/17/1972-Saigon, South Vietnam- South Vietnamese President Nguyen Van Thieu makes a point during a meeting with U.S. presidential advisor Henry Kissinger at Independence Palace. Earlier in the day Kissinger conferred with top U.S. commanders and diplomats. –


19 Apr 1973, An Loc, South Vietnam — Plaything… A Communist tank is a plaything for children at An Loc April 10th. Some of the children are really serious about playing "war." — Image by © Bettmann/CORBIS


Saigon, South Vietnam — SAIGON-5/24/ 72-: An M-41 tank is unloaded from C-5A cargo plane at Tan Son Nhut Airbase here 5/23. The plane carried three tanks, which will be used in the defense of Saigon. — Image by © Bettmann/CORBIS


26 Apr 1972, Kontum City, South Vietnam — South Vietnamese soldiers man their weapons in a sandbag bunker built in the middle of the street in Kontum city. The Central Highlands town is being threatened by a large force of N orth Vietnamese troops. — Image by © Bettmann/CORBIS


27 Jan 1973, Along Highway One, Vietnam — Along Highway One, Vietnam: With the cease-fire taking effect within a few hours, this pensive ARVN soldier wears a helmet decorated with a miniature U.S> Flag as an expression of solidarity with his soon to be "former" allies. He’s helping guard refugees who fled Communist-held hamlet of Gia Loc, along Highway One and some 25 miles Northwest of Saigon. — Image by © Bettmann/CORBIS


29 Apr 1972, Highway 13, South Vietnam — Highway 13, South Vietnam: A South Vietnamese soldier points to a skyraider making a bombing run along Highway 13, four miles south of Chon Thanh. In background, one of the bombs explodes. The ARVN troops are manning a 105-mm. artillery piece which they had been firing directly into Communist positions. — Image by © Bettmann/CORBIS


30 Apr 1972, Hue, South Vietnam — Hue, S. Vietnam: Refugees from Quang Tri climb into small boats on river near here to escape from the Communist invasion. They are joined by deserting members of the ARVN Division. — Image by © Bettmann/CORBIS


30-12-1972 – Chủ tịch Mao tiếp Nguyễn Thị Bình, bộ trưởng ngoại giao của "Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam" (Việt Cộng)
30 Dec 1972, Beijing, China — Chairman Mao Meets Foreign Minister Nguyen Thi Binh. Peking, China: Chinese chairman Mao Tse-Tung with South Vietnamese minister of foreign affairs Nguyen Thi Binh of the Provisional Revolutionary Government of the Republic of South Vietnam in Peking’s Chungnanhai. Present on the occasion were Ambassador of the Republic of South Vietnam to China Nguyen Van Quang, Chinese premier Chou En-lai, Foreign Minister Chi Peng-fei and comrades Liang Feng, Wang Teh-yang, and Tang Wen-sheng. Chairman Mao shakes hands with Ambassador Nguyen Van Quang. Looking on is the Viet Cong foreign minister Nguyen Thi Binh. — Image by © Bettmann/CORBIS


03 May 1972, Hue, South Vietnam — Hue, South Vietnam. A regiment of South Vietnamese Marines pulling back from Quang tri are shown at My Chanh along Route #1 en route to Hue


Saigon, South Vietnam — SAIGON: A U.S. Army jeep with a machine gun mounted on it stop in traffic on the outskirts of Saigon Feb. 20. A young lady pulls up alongside without even a by-your-leave or glance at the strange street scene–or what would normally be a strange scene in most parts of the world. — Image by © Bettmann/CORBIS


Saigon, South Vietnam — Saigon, S. Vietnam: Escorted by some government troopers, an overly loaded mini-bus evacuates refugees and their belongings from Que Son district town, 25 miles southwest of Da Nang 8/3.. Government troops from the 3rd Infantry division recaptured the villages surrounding the town 8/2 but villagers still move out to Da Nang for their safety. 8/3/1974


16-4-1972 – Hành lang Trung Học Bình Long những ngày đầu cuộc chiến An Lộc
16 Apr 1972, An Loc, Vietnam — Victims of Battle for an Loc. An Loc: Bodies of ARVN soldiers lay where they were slain April 14, during intense battle for this provincial capital some 65 miles north of Saigon. North Vietnamese troops have vowed to capture the town and make it a provisional capital for the Viet Cong.


06 Apr 1972, Quang Tri City, South Vietnam — 4/6/1972-Quang Tri City, South Vietnam- Dead North Vietnamese soldiers are lined up beside road as refugees from Quang Tri City City flee from fighting, 4/5, five miles south of Quang Tri.


17 May 1972, Haiphong, North Vietnam — A US jet bombs warehouses and shipping areas in Hiaphong, Vietnam.


05 May 1972, Hue, South Vietnam — Hue, South Vietnam troopers search a truck loaded with fleeing refugees, ostensibly looking for deserting military defenders of the old Imperial capital. Hue seems to have settled back into a semblance of order following the arrival of a new military commander for the region. The mood in Hue now seems to be one of quiet expectation mixed with very cautious optimism, and most of the refugees have already fled. leaving Hue to resemble a ghost town. –


October 1967, Saigon, South Vietnam — 10/1967-Saigon, South Vietnam- Photo shows two of the many motor scooters in use on this Saigon street


General Ngo Quang Truong
18 May 1972, Hue, South Vietnam — Inspection. Hue, Vietnam: Newly installed Commanding General of the South Vietnamese forces defending Hue, Lt. Gen. Ngo Quang Truong, inspects soldier’s weapons as U.S. advisor Maj. Gen. Frederick Kroesen looks on here May 17th. Some 900 government troops of 2nd Division were airlifted into artillery base Rakkasan, 15 miles West of Hue, to form what commanders called a "circle of steel" to protect the once imperial capital.


03 Apr 1972, Quang Tri, South Vietnam — 4/3/1972-Quang Tri, South Vietnam- Refugees fleeing fighting pass South Vietnamese military personel carrier, heading north in an effort to stop a Communist breakthrough at the demilitarized zone (DMZ). The US command says, navy and airforce fighterbombers made a total of 13 "protective reaction strikes" into North Vietnam near the DMZ April 3 and 4. –


10 Apr 1972, Quang Tri, South Vietnam — 4/10/1972-Quang Tri, South Vietnam-People move out any way they can as they leave the area of Quang Tri City April 3rd. Quang Tri residents fled in the face of a major North Vietnamese offensive in the area. — Image by © Bettmann/CORBIS


29 Jul 1972, Quang Tri City, South Vietnam — 7/29/1972-Quang Tri City, South Vietnam: A U.S. Phantom Jet Fighter drops napalm on a North Vietnamese stronghold in Quang Tri City. Fighting in and around the city was reported light 7/30 with five North Vietnamese killed in the only reported skirmish. South of the city, paratroopers cleared out many Communists threatening to close Highway 1, and opened the road to normal traffic for the first time in more than a week


Highway One, South Vietnam : Carrying their possessions, and in some cases, their children, refugees from the besieged Quang Tri province in South Vietnam walk along Highway 1 toward Hue City April 3rd. Communist troops outflanked Vietnamese defense lines and captured a key outpost 18 miles west of Hue April 4th. — Image by © Bettmann/CORBIS


10 Apr 1972, Quang Tri, South Vietnam — 4/10/1972-Quang Tri, South Vietnam- These are some of the people who flee from Quang Tri April 3rd as North Vietnamese forces launch a major attack along the demilitarized zone. Hundreds of U. S. Air Force and Navy fighter-bombers struck for the second day at North Vietnamese troop concentrations April 7th. — Image by © Bettmann/CORBIS


Trung tướng Ngô Quang Trưởng, tư lịnh Vùng 1 Chiến Thuật (very proud)
12 Aug 1972, Da Nang, South Vietnam — Medal For GI. Da Nang, South Vietnam: South Vietnamese Lt. Gen. Ngo Quang Truong, commander of the First Regional Command, pins medal on a soldier of the Third Battalion, 21st Infantry, the last U.S. combat unit in Vietnam, during the unit’s deactivation ceremony at Da Nang August 12. Looking on is the battalion commander, Lt. Col. Rocco Negris (L). — Image by © Bettmann/CORBIS


11 Dec 1972, Da Nang, South Vietnam — Da Nag, South Vietnam: South Vietnamese youngsters in an orphanage-refugee camp here seem to be enjoying themselves as
they take on adult responsibilities- washing clothes-amid the atmosphere of war. They are among the hundreds of thousands of children left homeless and without parents in this war-torn, embattled country. — Image by © Bettmann/CORBIS


1 Aug 1972, Thang Binh, South Vietnam — Thang Binh, South Vietnam. A bus bound for Da Nang is ready for departure, loaded with fleeing refugees and their persinal belongings.


04 Apr 1973, San Clemente, California, USA — Nixon Bids Thieu Farewell


07 Apr 1973, Washington, DC, USA — South Vietnam President Nguyen Van Thieu and his wife wave as they prepare to board plane at nearby Andrews AFB, Maryland, 4/7, for Austin, Texas, where they will lunch with Mrs. Lyndon B. Johnson at the LBJ Ranch. — Image by © Bettmann/CORBIS


13-6-73 Paris Peace Accords . (L) SVN deputy Prime Minister Nguyen Luu Vien, (R) VC representatives led by Gen, Ng V Hieu, Foreground NVN, le Duc Tho, Background by Sec of state henry kissinger


26 Mar 1973, Can Tho, Vietnam — South Vietnam’s President Nguyen Van Thieu jubilantly throws a flag in the air during an exhibition at Can Tho, 75 miles southwest of Saigon. The exhibition was held because of National Farmers Day in Vietnam, during which Thieu called at the farmers to boost their agricultural output to $400 million dollars within 5 years


28 Mar 1973, Saigon, South Vietnam — South Vietnam’s President Nguyen Van Thieu laid the cornerstone for a monument commemorating the role of the United States in the 12-year-old Indochina War. Looking on are the U.S. Ambassador Ellsworth Bunker (left), and General Frederick Weyand, Commander of U.S. Forces in Vietnam. — Image by © Bettmann/CORBIS


15 Jun 1973, Near Saigon, South Vietnam — Saigon: Government troops and villagers read a newspaper with headline reporting cease-fire, signed in Paris June 14, a moment before the new cease-fire agreement goes into effect. The government troops were searching, house-to-house, to prevent the Communists from infiltrating a small hamlet along Highway 1, west of Saigon. 6/15/1973


20 Jul 1973, Saigon, South Vietnam — New South Vietnamese Ambassador. Saigon, South Vietnam: Career diplomat Graham Martin (right) presents his credentials to President Nguyen Van Thieu, officially becoming the new U.S. ambassador to South Vietnam. Martin, 60, succeeds Ellsworth Bunker who left Saigon May 11 on his 79th birthday after six years as U.S. ambassador to South Vietnam. The ceremony took place in the presidential palace here. — Image by © Bettmann/CORBIS


14 Mar 1973, Hanoi, North Vietnam — North Vietnamese guards talk with American POW’s awaiting release at Ly Nam de Prison, better known as the Hanoi Hilton. — Image by © Bettmann/CORBIS


23 Mar 1973, Hanoi, North Vietnam — Hanoi. Hanoi is to the right. That’s a travel direction only. cyclist move towards North Vietnam’s big city on the road from the airport recently. UPI city onto he road from the airport recently. UPI correspondent Tracy Wood, who visited Hanoi recently with a group of journalists, reports that bicycles, the main form of transportation for Hanoi’s 1.2 million people, are seen everywhere even though they cost 300 doing, or about $75. One dong is worth about 25cents. One North Vietnamese official said an average worker makes about 50 dong ($12.50) a month. This, and other pictures in the series, were made by UPI staff photographer Gary Bartlett. — Image by © Bettmann/CORBIS


24 Nov 1973, Hanoi, North Vietnam — Hanoi: Hanoi Eskimo Pies. A woman vendor sells ice cream from a stand at the "Lake of the Restored Sword" in Hanoi. American antiwar activist Cora Weiss, who has recently returned from a visit to North Vietnam and Viet Cong held territories in South Vietnam, says the people there have a sense that they are building a new society out of the ruins of the war


14 Mar 1973, Hanoi, North Vietnam — Hanoi. North Vietnamese soldier stands guard outside Ly Nam de Prison, better known as the , as yet to be released American POWs look out from their cells here


20 Mar 1973, Hanoi, North Vietnam — Hanoi. in a large park in the center of this city groups of happy youngsters move quickly by, led by one of their own age. They march in lines of two boys in one group (left) and girls in the other. As they move through the park they swing their arms in unison and sing. These groups are similar to western Scout groups, but do not wear uniforms


March 20 ,1973, Hanoi, North Vietnam — Hanoi. The main bridge of this city, the long Binh, which separates the airport and the city and links up with the main highway to china, about 190 miles away, was bombed repeatedly and repaired as often. Here, men and women carry goods in the traditional manner as a bicyclist goes by. — Image by © Bettmann/CORBIS


22 Mar 1973, Hanoi, North Vietnam — Hanoi. Younger member of family uses bicycle to transport his grandfather down town from outskirts of city. the old men was enchanted by foreigners taking his picture. he got off the bicycle, stared a bit and then smiled and waved.


29 Mar 1973, Hanoi, North Vietnam — HANOI: Unidentified group of U.S. POWs turn their backs on a North Vietnamese film cameraman in their cells at the Nga Tu So prison camp in Hanoi. All of the men were released late March 29th and have arrived safely at Clark Air Force Base in the Philippines. In refusing to have his photograph taken in the cell, one POW said, "We object to pictures because this not the way we lived." — Image by © Bettmann/CORBIS




anoi, North Vietnam — HANOI: Children run and play in front of a huge anti-American mural in a downtown Hanoi street March 29, the day when the last U.S. POWs were released. Banner across bottom of mural reads, "make the American aggressors pay in blood."


1973, Hanoi, North Vietnam — Exterior view of the prisoner of war camp () in Vietnam in 1973


16 May 1973, Saigon, South Vietnam — Saigon: Children Of Vietnam. It is a time when a mother’s arms should imprison a child like this. Instead the child seems a kind of prisoner of war while resting in an orphanage in the Saigon area recently. — Image by © Bettmann/CORBIS


2-4-1970 – Ty phu My H. Ross Perot noi chuyen voi tu binh Bac Viet tai Nam VN
02 Apr 1970, Da Nang, South Vietnam — 4/2/1970-Da Nang, Vietnam- Speaking through an interpreter, millionaire H. Ross Perot (l) talks with North Vietnamese prisoners of war at a South Vietnamese POW camp April 2. Perot is on a tour of several such camps to check on the treatment of enemy POW’s and to gather mail from the prisoners, which he hopes to deliver to Hanoi. BPA 2 #4386


31 Jan 1973, Tay Ninh, South Vietnam — 1/31/1973-Tay Ninh, South Vietnam- The contrast between war and peace is evident as members of a South Vietnamese mechanized unit watch people pass by on Highway 1 near Tay Ninh recently (Jauary 20). Even with the cease-fire in effect for more than 48 hours January 29th, widespread fighting continued. The South Vietnamese government reported 480 Communist truce violations.


9 Mar 1973, Quang Tri, Vietnam — Tha Chi Han river, near Quang Tri, Vietnam, North Vietnamese prisoners of war race to freedom across the Tha Ch Han River after being set free by the South Vietnamese in a one sided 500 man release 3/8. The release broke a long deadlock over POW’s and when POW’s would be released in the future and which jeopardized the further release of U.S. POWs from Hanoi.


3 tháng trước khi miền nam mất nước 🙁 08 Feb 1975, Hue, South Vietnam — President Nguyen Van Thieu visited Government posts around the old Imperial city of Hue and Danag 2/6 and later personally inspected a foxhole at the 1st corps marine headquarters here.


4 Apr 1975, Saigon, South Vietnam — Resigns. Saigon, South Vietnam: South Vietnam’s President Nguyen Van Thieu is on the job in Saigon, April 14. After ten years in office, Thieu resigned April 21, denouncing the US as untrustworthy. — Image by © Bettmann/CORBIS


19 Mar 1975, Dau Tieng, South Vietnam — Villagers flee down highway as Communists advance in Dau Tieng, 35 miles north of Saigon. Blown-up bridges blocked 3/19 the escape route for a convoy of an estimated 250,000 persons from Pleiku and other towns in the central highlands, abandoned at the order 3/18 of South Vietnamese President Nguyen Van Thieu.


21 Mar 1975, Hieu Xuong District, South Vietnam — 3/21/1975-Hieu Xuong District, South Vietnam: A mother cries over the body of her son at Hieu Xuong, 9 miles west of Tuy Hoa. He was killed 3/20 in Communist shelling of the convoy which was passing the Phu Bon area. — Image by © Bettmann/CORBIS


22 Apr 1976, Saigon, South Vietnam — South Vietnamese President Nguyen Van Thieu speaks to his people last 4/21 on TV saying that he resigns. Thieu served as chief executive of South Vietnam 54-days short of 10-years, longer than any other Saigon Leader. The 52-year old President decided to step aside after lead of virtually every military, political and religious block told him they lacked confidence in his leadership. — Image by © Bettmann/CORBIS


26 Mar 1975, Hue, South Vietnam — Soldiers and civilians are jammed together on a Navy boat that evacuated them from the old imperial capital of Hue. — Image by © Bettmann/CORBIS


26 Mar 1975, Tuy Hoa, South Vietnam — Getting a lift…Arriving here from Pleiku, this truck is piled to the top and then some as refugees continue to flee advancing Communist forces in South Vietnam. Communist troops occupied Da Nang in triumph March 31st and warned that all ships and planes must have their permission before evacuating refugees from the city, their greatest trophy in 20 years of Indochina war. — Image by © Bettmann/CORBIS


nhìn mấy cảnh này không ai không phải bùi ngụi xúc động
29 Mar 1975, Van Ninh, South Vietnam — March 29, 1975 – Van Ninh, South Vietnam: Carrying only a few things on his back, a weeping head of a family leads the way while walking along Highway 1, twenty seven miles north of Nha Trang as they approach this town walking from Qui Nhon. They are part of the Convoy of Tears from the abandoned Central Highlands. An estimated 1.5 million persons are feared trapped in Da Nang, which went under Communist control.


30 Mar 1975, Cam Ranh Bay, South Vietnam — The ship unloads refugees from Da Nang at the dock here 3/29. The American ship evacuated some 5,000 persons including some American Consulate personnel. Military sources said 3/30 that North Vietnamese tanks were cruising the streets of Da Nang and that their flag was flying atop the American Consulate.


29 Apr 1975, Saigon, South Vietnam — SAIGON, S. VIETNAM: Vietnamese civilians climbing on board a U.S. bus carrying evacuees into the U.S. Embassy, while hundreds milled around the gate, trying to get in to join the American evacuation from Saigon 4/29. — Image by © Bettmann/CORBIS


975, Saigon, South Vietnam — Soldiers stopping people in the crowded street from climbing over the walls of the United States Embassy in Saigon, South Vietnam.


1 ngày trước khi mất nước – tấm hình này đi vào lịch sữ
9 Apr 1975, Saigon, South Vietnam — A CIA employee (probably O.B. Harnage) helps Vietnamese evacuees onto an Air America helicopter from the top of 22 Gia Long Street, a half mile from the U.S. Embassy.


27 Mar 1973,
Da Nang, South Vietnam — March 27, 1973 – Da Nang, South Vietnam: This aerial view taken from one of the refugee planes as it flew toward Nha Trang airbase shows the crowds of people and boats milling around the dock here. U.S. planes and pilots are flying 727s loaded with refugees to safer ground in Nha Trang.


24 Mar 1975, Danang, South Vietnam — A South Vietnamese Navy landing craft fully loaded with refugees from hue, 370 miles northeast of Saigon, ferry additional numbers of people to Danang 3/23. The 300,000 refugees already in Danang city will be disseminated in the vast land in the mekong delta with the help of foreign Navy ships.


04 Apr 1975, Saigon, South Vietnam — Refugees from Da Nang, Hue and other fallen South Vietnam cities, crowded with their belongings aboard buses, reach out for food and water as they head toward Saigon from Cam Ranh City.


20th century — Nguyen Van Thieu speaks behind a bank of microphones. Thieu was the president of the Republic of Vietnam from 1967 until 1975, when North Vietnam took control.


April 1975, Saigon, South Vietnam — Refugees pour over fences at the port in an attempt to flee Saigon, South Vietnam.


28 Apr 1975, Saigon, South Vietnam — Saigon, South Vietnam: Black smoke billowing from the U.S. Agency for International Development compound at the northern edge of Saigon after it was hit by Communist rocket during fighting. Most roads in and out of Saigon were sealed by the fighting. –


Saigon, South Vietnam — Women and children run from the road as the (USAID) compound burns in the background on the northern edge of the capital. Communist gunners tightened the noose on Saigon 4/28 on three sides and within 5-miles of Saigon blocking Highway 1, in and out of here. VietCong commandos were holed up near this compound, government troops were unable to oust the dug-in guerrillas. Most of the compound was burned in the fighting.


1975, Saigon, South Vietnam — A soldier aiming his gun at South Vietnamese people climbing the gates of the United States Embassy in Saigon, South Vietnam. — Image by © Nik Wheeler/CORBIS


23 Mar 1975, Phu Binh, South Vietnam — March 23, 1975 – Phu Binh, South Vietnam: The tail end of the convoy of tears remains trapped on the provincial route 7 near Phu Tuc District, 23 miles west of Tuy Hoa, March 23, as the Communist gunners fired into the convoy, splitting the trapped into segments. South Vietnam has lost about one-third of its territory to the communists in the three-week offensive


26 Mar 1975, Tuy Hoa, South Vietnam — Getting a lift…Arriving here from Pleiku, this truck is piled to the top and then some as refugees continue to flee advancing Communist forces in South Vietnam. Communist troops occupied Da Nang in triumph March 31st and warned that all ships and planes must have their permission before evacuating refugees from the city, their greatest trophy in 20 years of Indochina war. — Image by © Bettmann/CORBIS


28-4-75 Ong Duong Van Minh, lam Tong thong trong 2 ngay cuoi cung cua VNCH
28-4-75 The new President of SVN, General Duong Van Minh addresses some 180 invited guests at the palace after accepting the presidency from Tran Van Houn who took over from Thieu one week ago


05 May 1975, Guam — Guam: Former South Vietnamese Vice President Nguyen Cao Ky holds a press conference in a Guam refugee camp.


6-5-1975 – Cựu Phó TT Nguyễn Cao Kỳ vừa xuống tới đất Mỹ với một nhóm người tỵ nạn khác trên 1 chuyến bay từ đảo Guam
06 May 1975, El Toro Mas, California, USA — El Toro Mas, California: Former South Vietnam Vice President Nguyen Cao Ky talks with newsmen after his arrival on the U.S. mainland with a group of other refugees aboard a military transport plane from Guam and Honolulu. Asked if he wanted to become a U.S. citizen Ky replied that it was too soon to decide, "I just want 48 hours of sleep.


30-5-1975 – Ông Kỳ và mẹ vợ tại nhà mới ở ngoại ô Washington, một tháng sau ngày di tản
0 May 1975, Fairfax, Virginia, USA — Nguyen Cao Ky, former premier of South Vietnam, sits on the floor of his new home in this Washington suburb and watches his sisters, Hoo (left) and Hieu, occupied with their needlework. The house is devoid of furniture except for carpeting and a few chairs. Ky’s wife and six children and some other relatives are living with him.


30 Apr 1975, Saigon, South Vietnam — Saigon, Vietnam: Communist soldier plays guitar on steps of Majestic Hotel on Saigon river while another shows anti-aircraft gun to onlookers


01 May 1975, HongKong — US Ambassador to South Vietnam shows grim face as he surrounded by press men on the USS Blue Ridge in the South China Sea, 4/30. He abandoned the US embassy in Saigon just before the Saigon government surrendered to the Viet Cong and evacuated to the ship with other embassy staffers government surrendered to the Viet Cong and evacuated to the ship with other embassy staffers.


29 May 1975, Ho Chi Minh City, Vietnam — Saigon students demonstrate against "Depraved and Reactionary Culture" as part of the book burning campaign in South Vietnam. Estimated tens of thousands of books and recordings have been destroyed by student’s bonfires and private destruction since the campaign began 5/21. Virtually all bookstores have been closed down by the edict against sale of books and recordings made during the time of previous regime. Picture was taken 5/29 in Saigon. — Image by © Bettmann/CORBIS


15 May 1975, Ho Chi Minh City, Vietnam — The victorious North Vietnamese forces parade through the streets of Saigon.


10 Jun 1975, Saigon, South Vietnam — Pretty girl holds flag as she watches recent parade in Saigon in support of Viet Cong. — Image by © Bettmann/CORBIS


20 Jan 1970, Saigon, South Vietnam — Saigon, South Vietnam: General view of people doing their pre-Tet shopping in the central market of Saigon is shown. The Tet holiday in Vietnam is comparable to a
combination of Christmas and New Year’s. Hence, the big town scene is like the Christmas rush in Western cities.




10 Thành phố lãng mạn nhất thế giới

 

10 Thành phố lãng mạn nhất thế giới

 

TTO – Theo bình chọn của trang báo điện tử Cyberpresse (Canada), 10 thành phố lãng mạn nhất thế giới được các đôi lứa yêu nhau mong muốn đặt chân đến là một trong những nơi dưới đây…

1. Venise (Ý)

Dạo thuyền trên sông tại Venise

Đa số du khách khắp thế giới đã đồng thuận thành phố nước Venise là thành phố lãng mạn nhất thế giới. Từ lâu Venise mặc nhiên được thừa nhận là thủ đô của tuần trăng mật. Trong thực tế, khi có điều kiện, những đôi lứa yêu nhau thường chọn Venise để được cùng nhau dạo chơi ở quảng trường Saint-Marc hay chìm đắm trong men tình trên một con thuyền xuôi các dòng kênh tại thành phố của tình yêu này.

2. Paris (Pháp)

Paris

Thành phố ánh sáng này cũng có một biệt danh khác, đó là thành phố của tình yêu vĩnh cửu. Vào dịp lễ Valentin, tòa thị chính Paris đặt 170 bảng quảng cáo thể hiện những thông điệp tình yêu được truyền qua mạng. Những địa điểm thường được các đôi lứa tìm đến khi đến Paris là Montmartre d’Aznavour và vườn hoa Luxembourg. 

3. New York (Mỹ)

New York

New York lọt vào bảng top này do những cảnh quan tại đây thường được sử dụng làm bối cảnh cho vô số phim ảnh lãng mạn của Hollywood, trong đó cặp đôi yêu nhau dạo quanh công viên trung tâm hay một cuộc gặp gỡ trên đỉnh tòa nhà Empire State Building…

4. Vienna (Áo)

Đi xe ngựa tại quảng trường Hofburg là một trong những thú vui lãng mạn khi đến Vienna

Thành phố lãng mạn này còn được biết đến như một thành phố của âm nhạc. Tại đây, những thiên tài âm nhạc như Mozart, Schubert, Beethoven hay Strauss đã soạn những bài nhạc bất hủ. Vienna cũng là thành phố của nữ hoàng Sissi, nhân vật từng gợi hứng cho những bộ phim lãng mạn. Và thành phố này còn nổi tiếng với những buổi dạ hội để các đôi cùng dìu nhau trong điệu nhạc valse lãng mạn.

5. Prague (CH Czech)

Nhìn từ khu pháo đài ở Prague

Đây là một trong những thành phố lớn hiếm hoi của châu Âu không bị tàn phá bởi bom đạn thời Thế chiến thứ hai. Nhờ vậy, Prague đã bảo tồn được kiến trúc gotic, baroque đặc trưng. Những cuộc dạo chơi dọc các con đường thành phố và du ngoạn trên sông Vltava như đong đầy thêm tình yêu đôi lứa khi họ bên nhau.

6. Roma (Ý)

Đài nước Trevi ở Roma

Với bề dày lịch sử trường tồn qua 28 thế kỷ, thành phố Roma đã trở thành niềm tự hào của nước Ý qua khối di sản văn hóa không thể ước tính nổi và một môi trường ngoại cảnh đặc trưng kiểu Ý. Thậm chí đối với nhiều người, Roma còn là một nguồn suối cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn trên thế giới! Ở đây du khách rất yêu thích các đài nước đầy thơ mộng, những quá cà phê đủ sức làm chìm đắm những con tim đang yêu, ánh nắng mặt trời ở Roma cũng mang lại nhiều sảng khoái, thái độ lịch thiệp và quyến rũ của người dân nơi đây đối với phụ nữ…

7. Barcelona (Tây Ban Nha)

Công viên Güell ở Barcelona

Nằm giữa biển và núi non, thành phối sôi động Barcelona của xứ sở bò tót là chất xúc tác khơi dậy tình yêu của đôi lứa yêu nhau. Sức nóng ở các bãi biển cũng như những đêm quay cuồng bên những quán bar hay tay trong tay lang thang trong những con hẻm của khu phố cổ hoặc cùng nhau chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc mang dấu ấn của Gaudi… là những kỷ niệm một thời lãng mạn của tình yêu.

8. Buenos Aires (Argentina)

Trên một đường phố ở Buenos Aires

Thủ đô của tango, điệu nhảy được xem là lãng mạn nhất và gợi cảm hứng nhiều nhất cho các vũ công cũng đủ sức níu chân đôi lứa. Phụ nữ nơi đây luôn có khuynh hướng ăn mặc thanh lịch khi ra phố và được nam giới không tiếc lời tán dương. Được nhìn nhận là thành phố thể hiện âm hưởng của châu Âu nhiều nhất khu vực Nam Mỹ, thành phố Buenos Aires thậm chí còn gợi nhớ đến Paris hoa lệ của Pháp ở bên kia đại dương. Thế nhưng với San Telmo, khu phố điển hình của điệu nhảy tango làm say đắm lòng người sẽ khiến du khách nhớ về một tâm hồn lãng mạn mang đậm dấu ấn Latin ngự trị nơi đây.

9. Budapest (Hungary)

Thành phố Budapest

Theo đánh giá của các chuyên viên ngành du lịch, thành phố Budapest là một điểm đến dành cho những du khách yêu thích sự hoài cổ và lãng mạn. Đến với Budapest, du khách có đôi khó thể cưỡng lại những buổi cùng nhau dạo đêm tại các con đường tuyệt mỹ được chiếu sáng bằng những ngọn đèn khí đốt ở khu phố có lâu đài cổ, hay cùng đếm bước chân nhau trên cây cầu có hàng trăm năm tuổi bắc qua dòng sông Danube thơ mộng.

10. Montreal (Canada)

Thành phố Montreal

Trong các bình chọn từ trước tới nay của ngành du lịch, Montreal luôn có mặt trong danh sách thành phố lãng mạn nhất thế giới. Đối với những du khách đến từ Mỹ hay ảnh hưởng từ nền văn hóa Mỹ, thành phố Montreal của Canada là một biểu hiện hài hòa của nét quyến rũ châu Âu và nền văn hóa khu vực Bắc Mỹ. Mùa thu ở Montreal lại càng khắc ghi trong tâm khảm du khách hình ảnh lãng mạn của hàng cây phong đỏ thắm…

ĐAN THY

 




Những kỳ quan bằng tăm tre

Những kỳ quan bằng tăm tre

Một anh chàng ở Mỹ kiên trì dựng lại các công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới bằng cách xếp đặt và gắn keo hàng nghìn chiếc tăm nhỏ bé.

Stan Munro, 38 tuổi, từng là một người dẫn chương trình truyền hình, có niềm say mê vô tận với những chiếc tăm tre. Anh đã tạo dựng lại hàng chục kỳ quan thế giới như đền Angkor Wat ở Campuchia, đền Taj Mahal ở Ấn Độ, nhà hát opera Sydney ở Australia, tòa thánh Vatican ở Italy… Tất cả đều được làm với tỷ lệ 1:164. Stan đã sử dụng tới 6 triệu chiếc tăm, 170 lít keo và mất 6 năm để hoàn thành những công trình tăm tre.

Dưới đây là một số tuyệt tác của người đàn ông kiên trì và có đôi tay rất khéo léo này, ảnh trên Solent và Photo Agency

 




Hoàng Quốc Ôn : Những Link hình đẹp 3D được trình bày rất hay của Pháp.

Cám ơn anh Hoàng Quốc Ôn đã sưu tầm nhưng link có những hình 3D đẹp. Tôi đã copy bỏ lên VTLV hầu mọi người được xem.  

Kính gửi quí huynh trưởng,
Tiểu đệ xin giới thiệu với quí huynh trưởng một cách trình bày ảnh rất hay của Pháp để xem cho vui.

 

Chúc tất cả quí huynh trưởng và gia đình vạn an.

HQOn.

Tour Eiffel 

Montgolfière  

Cathédrale Saint-François- Xavier, Chicoutimiis 

Une centrale du Michigan 

Un incendie majeur 

Notre Dame de Bon secours à Montreal 

Chapelle de la Maison Mère-Mallet, Québec  

concert d’Oliver Jones, Juin 2009 

Hôtel de Glace, Sainte-Catherine- de-la-Jacques- Cartier, Québec 

Palais des Congrès à Montreal 

Feux sur glace, Quais du Vieux-Port de Montréal 

Carnaval de Québec

Hotel Ruby Foo’s – Montreal 




Sung Trương : HÌNH ẢNH VIỆT NAM

HÌNH ẢNH VIỆT NAM

 

Xin tiếp tay gìn giữ những hình ảnh xưa của Việt Nam

 

 

Việt-Nam những hình ảnh xưa

 Những tấm hình xưa nhất của lịch sử Việt Nam (3 hình)

 Triều đại nhà Nguyễn (58 hình)

 Những nhân vật nổi tiếng (20 hình)

 Triều Ðình xưa (35 hình)

 Từ dân lên quan (21 hình) 

 Dân tộc thiểu số (68 hình)

 Cộng đồng người Hoa (31 hình) t

 Nghề phát thư (11 hình)

 Hút thuốc phiện (5 hình)

 Xe kéo ( 23 hình)

 Tiền giấy thời Pháp thuộc (120 hình)

 Những cuộc kháng chiến chống Pháp(47 hình) 

    (Xin lưu ý ! trong phần trên có vài tấm hình có thể làm cho các bạn trẻ bị chấn động)

 Sự hiện diện của Ðông Dương tại Paris hay các cuộc triển lãm quốc tế (71 hình)

 Sự hiện diện của Pháp ở Ðông Dương(34 hình)

 Lính Ðông Dương (75 hình) 

 Luật xưa (10 hình)

 Nghề nghiệp (27 hình)

 Giáo dục (12 hình)

 Nghệ sĩ  (8 hình)

 Ðạo Thiên Chúa (12 hình)

 Cuộc sống hằng ngày (90 hình)

 Hình ảnh xưa của miền Bắc (67 hình)

 Hình ảnh xưa của miền Trung (13 hình)

 Hình ảnh xưa của miền Nam (98 hình)

 Lễ mừng thọ 40 tuổi của vua Khải Ðịnh(25 hình)

 Lễ táng của vua Khải Ðịnh (25 hình)

 Lễ đăng quang của vua Bảo Ðại (11 hình)

 Những tấm hình của Ô. Bác Sĩ Hocquard hay Việt-Nam vào những năm 1884-1885 (250 hình)

 Lễ Nam Giao hay lễ cúng sao, cúng trời(22 hình)

 Những tấm hình xưa của ông André FRASSATI (28 hình)

 Những tấm hình xưa của ông LouisLANDUCCI (34 hình)

 Những tấm hình xưa của ông Urbain CALESTROUPAT (75 hình)

 Những tấm hình xưa của ông Raymond CHAGNEAU (130 hình)

(…)


Trong suốt cuộc hành trình lập quốc, nước Việt-Nam đã biết nhiều chiến tranh hơn là hoà bình. Chính vì đó mà phần đông những di tích lịch sử không còn tồn tại đến thời nay.

Nếu ai có dịp để ý thì sẽ thấy rằng hầu như tất cả sách lịch sử Việt-Nam đều rất "ngán", sách nào cũng chỉ tả lại những dữ kiện xưa một cách buồn bã với những ngày tháng và những tên họ hay chức tước dài lòng thòng, khó nhớ như một quyển tự điển, ít sách nào chịu khó sưu tầm để thêm nhiều hình ảnh vào cho nó sống động như một câu chuyện hình dễ nhớ. Một trong những điểm khôi hài là một phần lịch sử của Việt-Nam đã được lưu lại trên các tấm bưu thiệp ở Pháp mà không một quyển sách lịch sử Việt-Nam nào nói đến.

Những tấm hình nầy phần lớn đã thuộc về lịch sử, không còn bản quyền (trừ những hình của ông Pierre DIEULEFILS mà bản quyền còn đến năm 2007), phần đông các tấm hình nầy đã được chụp từ cuối thế kỷ thứ 19 hay đầu thế kỷ thứ 20, vào thời này vấn đề bản quyền chưa được coi trọng, (theo luật pháp hiện nay thì bản quyền hết hạn 50 năm sau khi tác giả mất). Những tấm hình nầy được lưu trữ tại nhiều nơi ở Pháp: trong mổi cục bộ của chánh quyền, Thư Viện Quốc Gia (trên site Internet), Sở Ðịa Dư Paris và nhất là ở trung tâm dữ liệu thuộc địa ở Aix-en-Provence.


Ðã có nhiều người làm công việc sưu tầm các tấm hình này như các quyển sách: Archives De L’Indochine của Jacques Borgé và Nicolas Viasnoff (Nhà xuất bản Michèle Trinckvel), L’Indochine En Cartes Postales của Jean Noury (Nhà xuất bản Publi-Fusion), "L’Indochine à la belle époque" của Fancis Engelmann (Nhà xuất bản ASA), Những Hình Ảnh Xưa của Nguyễn Khắc Ngữ (Nghiên-Cứu Sử-Ðịa xuất bản), v.v… và gần đây trong một CD-ROM của Hội Chuyên Gia Việt-Nam.

Một trong những nhà xuất bản nổi tiếng thời đó phải kể đến ông Pierre DIEULEFILS, trước đó là một người trong quân đội, nhưng sau khi giải ngũ đã ở lại Tonkin (Hà Nội) để hành nghề xuất bản bưu thiệp. Vào thời nầy, còn hơi hỗn tạp nên bây giờ có nhiều tấm bưu thiệp giống nhau nhưng lại được đóng dấu với nhiều nhà xuất bản khác nhau ! Xa hơn nữa, có nhiều người mạy danh của ông để in bưu thiệp, thí dụ như tất cả tấm bưu thiệp của vùng Yunnan (bên Tàu), đến nỗi ông phải lên tiếng đính chánh trong tờ báo "L’avenir du Tonkin" ngày 17-12-1909 rằng không phải ông là tác giả của những tấm bưu thiệp đó vì ông chưa bao giờ đặt chân đến vùng Yunnan !


Các bạn sẽ tìm thấy ở đây những hình ảnh được sắp đặt theo chủ đề. Hy vọng rằng sau khi thăm viếng site này, các bạn sẽ có thêm được nhiều hình tượng mới về Việt Nam

 

Nếu các bạn có những hình ảnh xưa của VN, xin cho tôi mượn scan lại, hay gởi cho tôi bằng email, để cho mọi người cùng xem, thật là uổng khi để mai một những tài liệu đã thuộc về lịch sử của nhân loại. Xin cám ơn bạn trước.

 

Tôi xin thành thật cám ơn những bạn sau đây đã tham gia vào việc xây dựng cái site nầy bằng cách đóng góp hình ảnh của mình (theo thứ tự thời gian):

-Nghệ sĩ PHAM Duy (Mỹ)

-Ông BDH (Gia Nã Ðại)

-Ông DOAN Vu (Mỹ)

-Ông TRAN Quang Dong (Thụy Ðiển)

-Ông Jérôme HOFFART (Pháp)

-Ông NGO Van Duc Vincent (Pháp)

-Ông PARI J-Christophe (Pháp)

(Nếu hình các bạn gởi chưa thấy trên site có nghĩa là tôi chưa có thời giờ để sấp xếp, xin cáo lỗi cùng các bạn) 




Hà Hương : Cùng chiêm ngưỡng những hình ảnh đẹp về thời tiết trong năm 2009

Cùng chiêm ngưỡng những hình ảnh đẹp nhất về thời tiết trong năm 2009. Đó là những hình ảnh về cầu vồng, cơn bão, sấm sét, băng tuyết,… tất cả đã khép lại một năm 2009 với những biến động mạnh mẽ của khí hậu Trái đất.

 

1. Hình ảnh nụ cuời được tạo ra  cầu vồng mọc ngược trên bầu trời ở vùng Copthorne, Sussex (Anh quốc).


2. Hình ảnh cầu vồng uốn cong tuyệt đẹp tại một SVĐ (Anh), khi một trận đấu bóng đá tại giải Carling Cup chuẩn bị diễn ra.


3. Những ánh nắng ban mai nhuốm hồng cầu vồng và những đám mây trên bầu trời ở vùng Tigard thuộc tiểu bang Oregon, Mỹ.

 

4. Cầu Golden Gate o San Francisco (Mỹ) trong cơn giông bão và sấm sét.

 

5. Những tia chớp rợn người, thắp sáng bầu trời trên lâu đài Federal tại Bern,Thụy Sĩ.

 

6. Những tia chớp trên Trung tâm Thương mại quốc tế Quảng Châu, một toà tháp có độ cao 432m (Trung Quốc).

 

7. Hình ảnh vòi rồng ở Colorado, Mỹ

 

8. Một đám mây hình thấu kính được tạo ra bởi lực hấp dẫn trên bầu trời ở bang Washington, Mỹ.

 

9. Những đám mây đen cuồn cuộn trên bầu trời thành phố Sao Paulo, Brazil.

 

10. Những người khách đang chạy để tránh một con sóng lớn bất ngờ đánh vào một sảnh khách sạn cạnh bãi biển Medano ở Baja California, Mexico.

 

11. Một người dân ở Salzburg (Áo) đang cầm trong tay những hạt mưa đá khổng lồ sau một trận mưa đá ở vùng này.

 

12. Nước bị đóng băng tại một đài phun nước ở Place de la Concorde, Paris (Pháp).

 

13. Các mạng nhện bị bao phủ bởi băng tuyết ở vùng Godewaersvelde, miền bắc nước Pháp.

 

14. Một con chim giáo chủ (cardinal) đang đậu trên hàng rào phủ băng ở Kentucky, Mỹ.

 

15. Một chiếc xe đang cố gắng hút và làm tan băng tuyết trên đường cao tốc nối Krasnoyarsk với Mông Cổ, sau những trận bão tuyết liên tục ở vùng này.

  • Hà Hương (Theo Telegraph)DP/ TC



Huế Cố Đô Năm Xưa

Hué – La cité impériale

Vue générale de Hué
 
Escorte royale : Porte Encensoir, Porte Éventail et Porte Parapluie (1908)
 
L’arrivée dans la cité impériale, scène tirée du film Indochine
 
La magnifique porte monumentale de Ngo-Mon
 
 
La porte du Midi, "Ngo-Mon" qui est l’entrée principale de la cité Impériale
 
Cortège royal (ici, à l’occasion de la fête du Nam Giao ; Tous les 3 ans, le Souverain offre aux divinités du Ciel et de la Terre un gigantesque sacrifice). 
 
Salutations des mandarins 
 

                                     Des éléphants de parade
 

                                            La salle d’audience
 
La salle d’audience
 
Costumes traditionnels
 
 
 
 

 
La salle du trône
 
 
L’Empereur ; ici le jeune Bao Dai
 
 
 
 
 
 



10 nhà thờ tráng lệ nhất Thế giời và ngày hè ở Paris

 

 

Xin quívị click vào hình

 

  




PHOTOS FROM 1975: Tháng Tư QUỐC HẬN

Kính chào quí vị :

Xin hãy dành tháng Tư thương đau quốc hận này mà tưởng niệm cho tất cả những hy sinh của bao người Quân Dân Cán Chính vị quốc vong thân, tù đày khốn khổ, bỏ thân trên biển cả trên đường tìm Tự Do. -Xin hãy chú tâm cầu nguyện cho người đã mất cũng như người còn sống. – Xin chúng ta hãy dành tất cả sự trang trọng trong mùa Quốc Hận… gọi là chút tâm tư gửi cho tổ quốc quê hương , như là chiếc khăn tang trắng cho VNCH , những giọt lệ chưa bao giờ ngưng chảy !!!
Xin hãy tiếp tay hổ trợ và phổ biến dồi dào những tin tức , thơ văn , âm nhạc , phóng sự, tài liệu làm sống lại Việt Nam Cộng Hòa hoặc những gì phơi bày tội ác của quân xâm lược Cộng Sản ….

Xem lại những đau thương ngày tàn cuộc chiến.

                               http://www.flickr. com/photos/ 13476480@ N07/sets/ 7215762199766562 8/show/