Những Trang Hồi Ký ….

Đám Ăn Cháo Đá Bát. Giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm TRỊNH CÔNG SƠN VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG NẰM Thép Đen 1 2 Ði tìm thời gian đánh mất Cái Mốc Lịch Sử

 

Nhng Trang Hi Ký ….

* TT Ngô Đình Diệm

(Đám Ăn Cháo Đá Bát. Giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm)

http://motgoctroi.com/StLichsu/LSCandai/NgoDinhDiem/TTNDDiem.htm

 

* Hoàng Sa …  

http://www.motgoctroi.com/StLichsu/Quansu01/HoangSa.htm

* Tác Giả – Tác Phẩm (Nói về Nguyễn Văn Thiệu)

http://motgoctroi.com/HoiKy/TacGia_TacPham.htm

 

* Phóng Sự

http://motgoctroi.com/Phongsu/Phongsu.htm

 

 

 

TRỊNH CÔNG SƠN VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG NẰM VÙNG   1   2   3

Liên Thành

http://motgoctroi.com/HoiKy/BienDongMT/TCS_Lienthanh_01.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/BienDongMT/TCS_Lienthanh_02.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/BienDongMT/TCS_Lienthanh_03.htm

 

Thép Đen  1  2  (pdf)  Audio

Đặng Chí Bình

http://motgoctroi.com/HoiKy/ThepDen/Thep_Den_1.pdf

http://motgoctroi.com/HoiKy/ThepDen/Thep_Den_2.pdf

Ði tìm thời gian đánh mất

Nguyễn Văn Lục

http://www.motgoctroi.com/HoiKy/NVLuc/Dttgdmat_NVL.htm

Cái Mốc Lịch Sử 

Võ Long Triều

http://motgoctroi.com/HoiKy/VolongTrieu/Hoiky_VLT.htm

Đường ra xứ Bắc (Đỗ Lệnh Dũng)

Lê Thiệp

http://www.motgoctroi.com/HoiKy/DoLenhDung_LThiep/Hoiky_DLDung.htm

TRẠI KIÊN GIAM (Audio)

Nguyễn Chí Thiệp

http://www.vlink.com/traikiengiam/

Ngàn Giọt Lệ Rơi

Giao Chỉ

http://www.motgoctroi.com/HoiKy/NganGiotLeRoi.htm

VỀ VÙNG CHIẾN-TUYẾN

Lê Xuân Nhuận

http://motgoctroi.com/HoiKy/LXNhuan/VVCTuyen_hk.htm

Tôi Tìm Tự Do

Hữu Nguyên

http://motgoctroi.com/HoiKy/NHuu/ToitimTuDo.htm

NGƯỜI TÙ KIỆT XUẤT

Phan Lạc Phúc

http://www.motgoctroi.com/HoiKy/NtKietXuat_PLP.htm

Tôi Phải Sống

Lm Nguyễn Hữu Lễ

http://motgoctroi.com/HoiKy/NHLe_TPSong/Hoiky_TPS_NHL.htm

MẸ VIỆT NAM ƠI! DÂN TA CÓ TỘI TÌNH GÌ? (VIETNAM, QU’AS TU FAIT DE TES FILS?)

Tác giả: Pierre Darcourt — Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

http://nhd18.esmartweb.com/mevietnam/index.html

 

Dòng Họ NGÔ ĐÌNH, Ước Mơ Chưa Đạt

Nguyễn Văn Minh

 

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nmnnnmn1n31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1

17 năm trong các trại cải tạo  (Audio)

KALE

http://motgoctroi.com/HoiKy/KH_KALE/HK_caitao_KaLe.htm

Biến Động Miền Trung

Liên Thành

http://motgoctroi.com/HoiKy/BienDongMT/BienDongMienTrung.htm

Tướng Nguyễn Văn Hiếu

Nguyễn Văn Tín

http://nguyentin.tripod.com/HieuVMluc-u.htm

Giấc Mơ Lãnh Tụ (Thích Trí Quang)

NVL

http://www.chinhnghia.com/giacmolanhtu.htm

(There are links Giấc Mơ Lảnh Tụ 1 to 62 at the end of this page)

Câu chuyện đời tôi

Nguyễn hữu Hanh

http://www.motgoctroi.com/HoiKy/NHHanh.htm

CẢNH-SÁT-HÓA

Lê Xuân Nhuận

http://motgoctroi.com/HoiKy/LXNhuan/CanhSatHoa.htm

Hà Nội 1945  1  2  3  4  5

Trần Ðỗ Cung

http://motgoctroi.com/HoiKy/TDCung/Hanoi1945_1.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TDCung/Hanoi1945_2.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TDCung/Hanoi1945_3.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TDCung/Hanoi1945_4.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TDCung/Hanoi1945_5.htm

 

Ký Ức & Suy Nghĩ  1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11

Trần Quang Cơ

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_01.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_02.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_03.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_04.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_05.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_06.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_07.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_08.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_09.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_10.htm

http://motgoctroi.com/HoiKy/TQCo/TQCo_11.htm

 

Hồi Ký Lê Xuân Nhuận

http://motgoctroi.com/HoiKy/LXNhuan/VVCTuyen_hk.htm

 

Nhiều tác gỉa
Theo: Diễn Đàn Net




Thanh Thương Hoàng : Chiếc xích lô chở mùa xuân

Mãi Tân mới kiếm được một việc tương đối “độc lập tự do” và hợp với “khả năng” của đa số tù cải tạo về: đạp xích lô. Tuy “lao động” vất vả cực nhọc lại không ”vinh quang” chút nào Tân cũng kiếm được đủ ngày hai bữa ăn và thuê một cái buồng nhỏ trong xóm nhà lá để đêm về có chỗ ngủ.

Chiếc xích lô chở mùa xuân
Tác Giả: Thanh Thương Hoàng

1
Tân ngồi vắt vẻo trên chiếc xích lô ngước nhìn những tảng mây trắng lững lờ trôi trên nền trời xanh thẫm, lòng bâng khuâng nhớ tới những ngày tháng cũ. Lúc ấy vào khoảng mười giờ sáng. Từ khi đạp xe ra khỏi nhà sáng sớm tới giờ anh vẫn chưa kiếm được một “cuốc” nào. Nếu đến trưa vẫn không có khách thì coi như mất toi nửa ngày tiền thuê xe và tất nhiên phải nhịn ăn luôn bữa trưa.

 

 

Chỗ Tân đậu xe góc đường Lê Lợi – Tự Do, anh cho là rất “địa lợi”, vì phía chéo bên kia đường là khách sạn Đại Lục, nơi có nhiều khách ngoại quốc tới ở. Họ thường bao luôn cả xe ngày để đi “tham quan” khắp Saigon Chợ Lớn. Đồng thời nơi này cũng là nơi có nhiều kỷ niệm với Tân – những ngày tháng cũ trước 75 – anh đã gặp “người yêu lý tưởng” của mình và sau đó cưới làm vợ. Cuộc sống lứa đôi tràn ngập hạnh phúc cho tới ngày 30 tháng 4 đen tối sầu thảm. Tân móc túi lấy gói thuốc rê vấn một điếu. Vừa phập phèo mấy hơi để dĩ vãng tan theo khói thuốc, thì anh nghe tiếng gọi xích lô bên kia đường. Tân vội quay nhìn. Một người đàn bà đưa tay vẫy gọi. Tân vứt vội mẩu thuốc hút dở, rời khỏi nệm xe, nhẩy phóc lên yên xích lô đạp nhanh tới bên kia vệ đường (vì chỗ này thuộc phạm vi “lãnh thổ” của khách sạn nên họ cấm xích lô đậu. Anh em xích lô chỉ có thể “đột kích” đón khách rồi phóng đi ngay).

“Cô muốn đi đâu?” Tân hỏi bằng tiếng Anh giọng rất chuẩn, rất Mỹ làm cô khách ngạc nhiên. Cô đặt mình lên xe thong thả nói:
”Anh muốn chở tôi đi đâu cũng được. Chạy chậm chậm thôi nhé!”

Tân hỏi lại: “Nghĩa là cô muốn mở một cuộc du lịch bỏ túi trong thành phố?”
“Đúng!”

Trước khi cho xe chuyển bánh, Tân nói: “Cô chưa cho biết sẽ trả tôi bao nhiêu tiền. Chúng ta nên sòng phẳng dứt khoát trước khi bắt đầu.
” Cô khách đáp: ”Tôi sẽ trả anh như đã trả cho những người trước anh.”
“Nghĩa là…?”
“Nghĩa là mỗi giờ tôi trả anh hai đô la.”
“Cô trả vậy hơi nhiều đấy!”

Cô khách nhắc lại câu hỏi của tôi khi nãy:
“Nghĩa là…?”
“Tôi tính cô một đô la một giờ thôi.”

Cô khách một lần nữa tỏ ra ngạc nhiên nhưng không nói gì.

Hôm qua cô trả cho anh xích lô đúng như giá anh ta đòi, thế mà khi trả tiền còn nằn nì xin thêm. Còn anh xích lô này thì lại xin bớt. Con người xứ sở này có vẻ phức tạp, khó hiểu thật.

Tân từ từ đạp xe về phía chợ Bến Thành. Tới nơi, anh hỏi khách:
”Cô đã biết chợ Bến Thành này chưa?” Và không chờ khách khách trả lời, anh nói tiếp:
“Đây là ngôi chợ lớn nhất của thành phố Saigon và có một bề dầy lịch sử.”

Cô khách mỉm cười. Từ lúc lên xe tới giờ. Tân mới thấy khách cười:
“Tôi biết. Hôm trước một người bạn Việt-Nam đã dẫn tôi vào trong chợ ăn món bún thịt nướng, lạ miệng và ngon lắm! Nhất là cái món nước “sốt” mặn mặn với ngọt ngọt và hơi cay.
“Cô ăn được cả nước mắm?”
“Cũng hơi… khó chịu một chút lúc đầu.”

Thấy sự trao đổi nói năng có vẻ thân mật cởi mở, Tân hỏi:
“Tôi hơi tò mò, xin lỗi trước. Cô tới Saigon du lịch hay làm việc?”
“Tôi tới Saigon có chút việc riêng, tiện thể làm chuyến du lịch luôn.”
“Cô tới đây lần đầu?”

Khách khẽ gật và đôi mắt xanh biếc của cô chớp chớp. Bây giờ Tân mới có dịp quan sát người đẹp. Cô khoảng dưới ba mươi tuổi, thân hình thon thả dong dỏng cao bó gọn trong chiếc áo pull trắng và chiếc quần gin mầu xanh đậm. Mớ tóc vàng óng ả của cô chẩy dài buông xõa xuống cái lưng ong. Nước da cô trắng hồng mịn màng. Những sợi lông tơ trên hai cánh tay trần tròn lẳn gợi cảm. Tân cũng đã có dịp vuốt ve những cánh tay như thế, nhưng xa xôi lắm rồi. Theo sự nhận xét sơ khởi của tân thì nhan sắc cô nàng ở mức trung bình nhưng khá quyến rũ ố hình như cô có cái duyên ngầm của các cô gái phương Đông.
“Cô mới từ Mỹ tới?” Tân hỏi.

Khách khẽ gật.
“Tôi đoán cô là người miền Đông nước Mỹ, Nếu không ở Washington DC. thì cũng bang nào vùng đó.”

Lần này cô nàng ngoái hẳn mình về phía sau nhìn Tân:
“Anh căn cứ vào đâu mà đoán tôi là người miền Đông?”

Tân hóm hỉnh cười:
“Giọng nói của cô và nhất là nước da của cô. Chỉ có những người sinh sống ở xứ lạnh mới có nước da trắng hồng như cô.” Tân nói nịnh thêm. “Đúng là nước da lý tưởng các cô gái mơ ước.”

Cô khách càng thêm ngạc nhiên. Một anh đạp xích lô, tức thuộc giới lao động bình dân thất học, mà lại có vẻ hiểu biết những sự việc ngoài tấm mắt của anh ta. Rồi còn biết cả nịnh đầm ố món “võ” của bọn đàn ông có học. Cô cười nhẹ trả lời Tân:
“Anh đoán giỏi đấy! Tôi sinh ra ở thành phố Charlotte bang North Carolina. Lớn lên đi học đi học và sống ở Washington DC.”

Tới chợ bến Thành cô bảo anh ngừng xe để cô vào chợ mua một món gì đó. Cô hỏi anh có đợi được không. Anh gật đầu. Mươi phút sau cô trở ra trên tay cầm một cái gói bọc giấy nhỏ.
“Bây giờ cô muốn tôi chở cô đi đâu?”
“Tùy anh.” Tân suy nghĩ một chút:
“Cô đã vào Chợ Lớn chưa?”
“Hay đấy! Tôi nghe bạn bè nói Chợ Lớn là thành phố của người Hoa như ở Hồng Kông vậy. Nên đi coi cho biết.”
“Cô đã đến Hồng Kông?”
“Tôi đến đó hồi còn là con nhóc đi với bố mẹ.”

Tân có vẻ ngập ngừng trước khi nói:
“Xin lỗi, cô đã lập gia đình?”
“Phải, tôi đã lập gia đình gần mười năm. Vợ chồng tôi có một con gái.”

Nói xong, cô khẽ thở dài, mặt thoáng buồn, đôi mắt xanh biếc đăm đăm như nhìn vào cõi xa xăm mơ hồ nào đó. Tân thấy vậy không hỏi nữa. Anh lặng lẽ đạp xe trên đường Trần Hưng Đạo rộng dài, dưới trời nắng bắt đầu gay gắt. Những chiếc xe gắn máy của bọn trẻ gầm rú phóng vùn vụt, đôi lúc cô khách sợ hãi kêu lên vì tưởng nó đâm nhào vào mình. Từ đường Đồng Khánh, cô bỏ Tân ngừng xe trước một tiệm tạp hóa. Lúc trở ra cô khoe với Tân một vật nhỏ:
”Anh thấy đẹp đấy chứ?” Tân thốt lên:
“Tưởng gì, cái này bên Mỹ đâu thiếu.”
“Phải, bên Mỹ không thiếu, nhưng đây là thứ tôi mua ở Chợ Lớn Việt Nam làm kỷ niệm, đồng thời làm quà tặng con gái tôi.”

Dứt lời cô khách lên xe ngồi, Tân đạp tiếp. Chợt cô quay lại hỏi Tân:
“À, tôi quên hỏi anh. Sao anh biết thứ tôi vừa mua bên Mỹ có nhiều?”
“Vì tôi đã ở bên đó và có mua nước tặng người yêu. Cái cô vừa mua là do người Tàu Chợ Lớn làm nhái theo đồ của Mỹ.”
“Ồ, anh đã ở bên Mỹ?” “Đi du lịch hay du học?”
“Tôi đi học.”

Cô lại thốt lên tiếng kêu ngạc nhiên và nhắc lại:
“Đi học? Thì ra anh sang Mỹ du học!”
“Không phải! Tôi đi lính được tuyển sang Mỹ học lái máy bay. Tôi sang Mỹ với tư cách sinh viên sỹ quan Không Quân!”

Cô khách người Mỹ đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Cô có vẻ thích thú nghe những điều Tân nói. Cái con người lam lũ nghèo khổ đạp xích lô này đã từng là sỹ quan Không Quân và đã sang Mỹ học? Cô nửa tin nửa ngờ, dò đường:
“Anh sống ở Mỹ lâu không? Bang nào nhỉ?”

Tân đưa tay quệt mồ hôi trên trán. Chiếc áo cũ mỏng mầu đen nhiều miếng vá anh mặc ướt đẫm mồ hôi. Tân cảm thấy bắt đầu mệt và khát nước. Chén xôi bắp nhỏ ăn từ sáng sớm, giờ đã tiêu hết. Anh trả lời khách không mấy hào hứng sốt sắng như lúc đầu:
“Tôi học lái máy bay tại Pensacola bang Louisiana vào năm 1967. Thời gian huấn luyện khoảng năm rưỡi. Tới năm 1972 tôi lại có dịp đi tu nghiệp ở Texas hơn tám tháng.”
“Anh còn nhớ tên khóa huấn luyện?”
“Khóa 67A. Khóa này tôi được huấn luyện cùng với bọn Pilot Hải Quân Mỹ.”

Sau khi thảng thốt kêu lên tiếng “ô”, cô ngưng hỏi và im lặng một lúc lâu.

Tân cũng chẳng quan tâm đến sự im lặng của cô khách. Anh đang mải lo đối phó với những xe cộ chạy hỗn độn, vô trật tự trên đường phố. Chỉ cần sơ ý một chút, có thể gây ra tai nạn thương tích cho người ngồi trên xe. Hai bên lề đường Đồng Khánh, người người đi lại tấp nập. Hàng hóa của các tiệm bầy tràn ra cả lề đường. Rồi những gánh hàng quà rong, những xe bán nước ngọt, trái cây, tạo nên một cảnh hoạt náo vui mắt. Cô khách có lẽ vui lây với không khí nhộn nhịp này, nhất là nhìn những người đàn bà Hoa mặc những bộ quần áo mỏng, giản dị. Cô hỏi Tân:
“Họ chắc không phải là người Việt?”
“Vâng, họ là người Hoa. Thành phố này là thành phố của người Hoa dù dưới thời Việt Nam Cộng Hòa hay thời Cộng sản cai trị cũng vẫn thế. Khó mà thay đổi được họ!”
“Không phải riêng nước anh. Ở bên Mỹ cũng vậy. Một thời gian nào đó, người Hoa sẽ cai trị thế giới.”

Ngưng chút cô nói tiếp: “Cả về chính trị và kinh tế. Vì thời đại chúng ta, kinh tế đang chi phối thống lĩnh toàn cầu!” Tân cãi:
“Tôi không đồng ý với cô. Người ta đã dùng kinh tế để làm cái roi cai trị, nhưng theo tôi nhất định Cộng sản sẽ thất bại cả về chính trị lẫn kinh tế.”
“Tôi nghĩ với Cộng sản thì chỉ có thể dùng vũ lực.”
“Dùng vũ lực, Mỹ đã thất bại ở Cuba trước đây. Chỉ có Cộng sản mới triệt được Cộng sản thôi. Sức tác động bên ngoài không đủ mạnh bằng sự tự hủy hoại từ bên trong.”

Cả buổi trưa hôm đó, cô khách người Mỹ và anh xích lô đạp mải mê tranh luận về nhiều vấn đề thời sự, chính trị, học thuyết, triết lý, chiến tranh, hòa bình, cộng sản, tư bản… quên cả đường phố chật chội xe cộ chen lấn bừa bãi. Năm đó là năm 1985, thành phố Saigon còn nhiều xe đạp, xe gắn máy, ít xe hơi. Riêng anh đạp xích lô quên cả mệt và đói. Anh đang hào hứng. Đã lâu lắm anh không hề dám nói năng thảo luận với bất cứ ai những vấn đề húy kỵ trên. Nói với cô khác lạ này không sợ báo cáo, không sợ xuyên tạc, chụp mũ. Tân yên tâm tự nhủ mình như vậy nên anh “phát ngôn mạnh bạo xả ga”. Gần xế chiều, Tân đạp xích lô chở cô khách Mỹ về khách sạn Đại Lục. Bước xuống khỏi xe khách mới hỏi:
“Nãy giờ tôi cứ thắc mắc mãi. Anh là sỹ quan Không Quân từng sang Mỹ học lái máy bay, sao lại… lại đi đạp xích lô?”

Tân phì cười trước câu hỏi này. Đúng là một người Mỹ ngây ngô, chẳng biết gì về làn sóng đỏ đang tràn ngập tràn phá hủy hoại khốc liệt cả miền Nam. Anh trả lời:
“Vì tôi bị Cộng sản bắt đi tù.”
“À, ra thế!” “Anh bị tù có lâu không?”
“Gần mười năm.”
“Trời! Anh được tha lâu chưa?”
“Mới sáu tháng.”
“Ô là! Ở tù Cộng sản chắc là khổ lắm?”
“Tất nhiên. Chúng tôi đã trải qua những năm tháng sống thời Trung Cổ.”
“Tại sao các anh không vùng lên phản kháng, chống đối? Dân tộc anh là một dân tộc có cả một lịch sử oai hùng về ý chí quật cường, về truyền thống tranh đấu…”

Tân cười nửa miệng:
“Đồng thời dân tộc tôi cũng có truyền thống nhẫn nhục chịu đựng gian khổ.”

Cô khách người Mỹ mở bóp lấy hai tờ giấy năm đô la đưa cho Tân và hẹn sáng mai tới đón cô đi chơi tiếp. Tân cầm hai tờ giấy bạc ngần ngừ. Anh định đưa trả lại một tờ thì cô khách Mỹ đã bước vào trong khách sạn..

Sáng hôm sau đúng chín giờ, Tân đạp xe tới góc đường Lê Lợi – Tự Do đã nhìn thấy cô khách đứng chờ.. Cô giơ tay vẫy chào anh rồi bước lại ngồi lên xe.
“Hôm nay cô muốn đi đâu?”
“Đi đâu cũng được. Tôi muốn có nhiều thì giờ để trò chuyện với anh.”
“Hôm qua cô trả tôi nhiều tiền quá. Công của tôi chỉ đáng nửa số tiền ấy thôi! Thế là hậu hĩnh lắm rồi. Hôm nay tôi sẽ đạp để trừ vào số tiền cô trả dư hôm qua.”

Cô khách Mỹ chỉ cười và chớp chớp đôi mắt xanh biếc không có ý kiến gì, nhưng trong đầu cô nẩy một câu hỏi: sao lại có anh chàng gàn dở thế nhỉ? Đã nghèo khổ mà lại còn chê tiền?

Còn Tân bây giờ mới nhìn thấy đôi mắt xanh mầu ngọc bích và trong sáng như mắt mèo đẹp tuyệt vời của cô. Trong đôi mắt ấy anh đọc thấy nhiều thứ lắm: hiền hòa, dịu dàng, nhân bản và cả nỗi đau tiềm tàng ẩn sâu. Đúng, đôi mắt là linh hồn của con người. Các cụ mình xưa nhận xét thật tài tình tinh vi. Xe chạy ra bờ sông Saigon trước khách sạn Majectic. Cô khách ngỏ ý muốn ngồi chơi nơi vườn hoa. Tân nói đùa:
“Tuy ngồi chơi, tôi vẫn tính tiền cô theo giờ đạp xe đấy!”
“Tốt thôi, không có gì đáng phải bàn cãi!”

Để an toàn, khỏi lo lắng, Tân đặt chiếc xích lô ngay cạnh chỗ ghế ngồi và khóa bánh xe lại bằng dây xích. Anh nói với cô khách Mỹ:
“Cho chắc ăn!”

Cô khách cười: “Xe để sát bên cạnh anh, còn kẻ nào dám cả gan lấy cắp!”
“Bần cùng sinh đạo tặc cô ạ! Dân Việt Nam chúng tôi có câu thành ngữ này. Mà bây giờ thì cả nước đều “bần cùng” nên bất cứ việc gì cũng có thể “sinh đạo tặc”. Họ không ăn cắp nữa mà là ăn cướp. Đã tới mức ăn cướp thì họ đâu còn sợ cái gì. Lão Lê-Nin nói đúng đấy, nếu mất, họ chỉ mất cái cùm thôi!”

Cả hai cùng cất tiếng cười vui vẻ. Bờ sông Saigon lúc nào cũng tụ tập đông người. Thấy khách ngoại quốc, bọn trẻ nhỏ chuyên bán những đồ lặt vặt rẻ tiền cho du khách, xúm lại vây quanh hai người mời mọc, gạ gẫm, nài nỉ. Chúng nói những câu tiếng Mỹ bồi ngây ngô ngộ nghĩnh. Rồi đám bán hàng rong xúm xít như ruồi bu. Tân khó chịu lắm, luôn tay xua đuổi thì bị mắng trả tục tĩu. Còn cô khách Mỹ cứ cười cười lấy làm vui thích hoạt cảnh này. Cô mua một gói đậu phụng rang cho mình, một gói cho Tân và mỗi người một chai côca -cola. Lâu lắm Tân mới uống lại thứ nước ngọt của “đế quốc Mỹ” này. Sao mà ngon ngọt đến thế. Mười mấy năm trời khi ở trong tù và cả lúc về ngoài đời anh chưa một lần được uống lại. Tiền ăn còn lo chưa nổi lấy đâu tiền uống côca -cola. Khi bóc gói đậu phụng, anh thất vọng. Nó đã bị hư từ lâu, nhưng người ta vẫn đem bán. Cô khách nói:
“Nếu ở bên Mỹ, nhà sản xuất bị kiện sặc gạch đấy!”

Vứt hai gói đậu phụng hư xuống sông xong, hai người ngồi nhìn trời đất. Một lúc lâu cô khách chợt hỏi:
“Trong khi ở Mỹ, anh có quen thân người bạn Mỹ nào không?”
“Có chứ! Bạn cùng khóa thì nhiều lắm, nhưng thân thiết thì chỉ một hai người.”
“Anh còn nhớ tên?”
“Nhớ chứ. Một anh tên là Tom Hamilton Một anh tên là Edward Carter. Không biết anh chàng này có họ hàng gì với lão Tổng Thống Jimmy Carter không!”

Cô khách Mỹ nói nhanh: “Edward Carter! Anh có nhớ sai tên không? Anh ta người ra sao?”

Tân vỗ vỗ trán như gọi những hình bóng cũ trở về:
“Anh ta cao lớn hơn tôi một chút và cũng tuổi tôi, năm nay được ba mươi sáu tuổi. Anh em cùng khóa thường nói đùa nếu cái mũi tôi cao một chút, dài hơn một chút, và nước da trắng thì đúng là anh em sinh đôi với Edward Carter.
” Cô khách Mỹ chăm chăm nhìn thẳng vào mặt Tân như quan sát, như dò xét. Rồi cô không giấu được một cái thở dài. Tân ngạc nhiên hỏi:
“Sao, nếu tôi đoán không lầm thì có thể cô quen biết hoặc có họ hàng với anh chàng Edward Carter này.
” Cô khách không trả lời. Cô lơ đãng nhìn sang phía bên kia bờ sông. Miệng cô lầm bầm mấy tiếng gì đó, Tân nghe không rõ. Tân móc túi lấy gói thuốc rê vấn hút.
“Anh hút thuốc gì mà có mùi khét thế?” Cô khách Mỹ hỏi.
“Đây là thuốc rê. Thứ thuốc rẻ tiền nhất của người Việt Nam. Lúc ở trong tù, đối với chúng tôi thuốc này là loại quý đấy cô ạ! Chúng tôi còn hút cả lá chuối khô và rễ cây nữa kìa!”
“Khổ cực vậy, thiếu thốn vậy mà các anh chịu đựng được để còn giữ được mạng sống trở về đời, tài thật!”
“Không ai, kể cả chúng tôi cũng không tin là mình sống nổi. Nhưng như vừa nói với cô đấy. Dân tộc tôi có sức chịu đựng gian khổ, bền bỉ dẻo dai. Hơn trăm năm nay chưa lúc nào dân tộc sống trong thanh bình yên ổn, trong no ấm sung sướng. Chiến tranh cứ tiếp diễn liên miên, hết ngoại xâm lại tới nội chiến, rồi cả nước chịu ảnh tù đầy đói rách nhục nhã. Nếu như người Mỹ của cô thì ít ra cũng chết nửa nước.”
“Sao anh không lái máy bay chạy ra ngoại quốc như một số người đã làm?”
“Tôi còn cha mẹ già. Cha mẹ tôi nhất định không chịu rời bỏ quê hương. Biết rằng ở lại sẽ phải chịu cảnh tù đầy và có thể bị giết chết nữa, nhưng tôi không thể bỏ mặc cha mẹ. Hơn nữa tôi còn con nhỏ mới sinh.”
“Bây giờ chắc con anh đã khá lớn. Thế còn vợ anh? Chị ấy vẫn một lòng đợi anh về? Tôi đọc sách báo thấy họ hết lời ca ngợi người đàn bà Á-Đông lúc nào cũng giữ trọn vẹn tình nghĩa vợ chồng. Dù chồng chết, còn trẻ vẫn ở vậy thờ chồng nuôi con.
” Tân lắc đầu thở dài, vứt mẩu thuốc xuống đất: “Tôi không có cái diễm phúc ấy. Sau khi tôi bị tù, vợ tôi để lại con cho cha mẹ tôi nuôi, đi lấy chồng khác.”
“Ồ, tôi xin lỗi. Tôi không có ý khơi lại sự đau buồn của anh. Nhưng tôi hơi tò mò, thế anh có oán hận người vợ không?”
“Cô ấy còn trẻ nên phải lấy chồng khác, đó là sự thường, có gì mà oán hận. Chỉ có điều hơi buồn là cô ấy lấy kẻ thù của chúng tôi.
” Đôi mắt xanh biếc của cô khách Mỹ chớp chớp. Cô có vẻ xúc động về chuyện riêng tư của Tân.
“Còn cha mẹ anh?”

Tới lượt Tân thở dài nuốt nước bọt như cố nén nỗi đau buồn xuống đáy lòng:
“Cha mẹ tôi đều mất khi tôi còn ở trong tù!”

Cô khách Mỹ kêu lên: “Thế còn đứa nhỏ?”
“May mắn cho nó được ông bà ngoại thương xót đem về nuôi, mặc dù ông bà cũng rất nghèo khổ. Ít ra thì cũng còn có những đốm lửa trong đêm tối phải không? “.

Và lần này chính Tân ngạc nhiên trố mắt nhìn cô khách Mỹ. Cô lấy khăn giấy chậm nước mắt. Cô khóc. Rồi cô đưa đôi mắt xanh biếc đẫm nước mắt nhìn Tân nói:
“Tôi tên Jacqueline Hunter. Còn anh?”
“Tôi là Tân, Đỗ Tân, cựu đại úy phi công Việt Nam Cộng Hòa. Rất hân hạnh được quen biết cô.”

Sau một lúc suy nghĩ đắn đo, Jacqueline nói:
“Anh có thể cho tôi địa chỉ để khi về Mỹ may ra tìm được mấy người bạn cũ của anh. Biết đâu họ chẳng hết lòng lo giúp đỡ can thiệp cho anh.”
“Cám ơn Jacqueline. Tôi ở số nhà…. Hẻm…. Đường…. Thành phố Saigon.”

Họ còn ngồi nói chuyện với nhau rất lâu. Jacqueline có ý mời Tân đi dùng bữa trưa, nhưng anh từ chối, mặc dù bụng đang đói. Xuống xe cô móc bóp rút ra tờ giấy một trăm đô đưa Tân, nói:
“Anh cầm lấy để chi dùng. Rất tiếc tôi không thể giúp anh hơn.
” Tân từ chối ngay: “Cám ơn Jacqueline. Tôi cũng rất tiếc không thể nhận số tiền này. Tôi không muốn nhận một sự thương hại, hay một sự bố thí.”
”Không, đây là một tấm lòng. Anh hãy nhận lấy ở đây một tấm lòng.” Dứt lời Jacqueline nhét tờ giấy bạc một trăm đô vào tay Tân và bước nhanh vào trong khách sạn. Trước khi khuất hẳn, cô quay lại nói với Tân:
“Tạm biệt Tân, người bạn mời quý mến của tôi.”

Tân nhìn tờ giấy bạc một trăm đô nằm trong tay sững sờ. Một số tiền quá lớn và quá bất ngờ đối với anh. Chừng như định thần lại được, Tân phóng mình bước nhanh như chạy vào khách sạn, miệng gọi lớn: “Jacqueline! Jacqueline! Tôi không thể! Tôi không nhận số tiền này. Tôi xin trả lại cô!”

Nhưng Jacqueline đã mất hút. Anh bảo vệ khách sạn thấy gã xích lô chạy xồng xộc vào trong khách sạn miệng la lối ầm ĩ liền chặn Tân lại, nói lớn, giọng hách dịch:
Anh kia! Ra khỏi đây lập tức!”

Tân giơ tờ giấy một trăm đô nói:
“Tôi đưa tiền trả cô khách Mỹ!”
“Cái gì?ạ Cô ta đánh rơi tiền à?”
“Không, cô ấy trả tiền cuốc xe cho tôi một trăm đô, trong khi giá chỉ có năm đô.”

Anh bảo vệ ngẩn người ra nói:
“Lạ nhỉ? Đi cuốc xe có năm đô mà trả một trăm đô? Có khi là đô giả đấy! Đưa đây tôi coi nào!”

Nhưng Tân không đưa làm anh bảo vệ khách sạn nổi giận:
“Thôi, cút cha anh đi. Một trăm đô mà chê à? Anh đạp xe cả năm liệu có kiếm được nổi số tiền này không? Gặp con mụ Mỹ điên khùng vớ món bở thì hãy chuồn mau đi, không nó đổi ý ra đòi lại, thì chỉ có nước ăn cám, anh bạn ạ!”

Tân cầm tờ giấy bạc một trăm đô chậm rãi bước ra khỏi khách sạn. Một trăm đô, đúng là số tiền không nhỏ, nhưng công sức của anh bỏ ra đâu có xứng đáng để nhận sồ tiền này. Thôi sáng mai tới trả cô ta vậy. Cả đêm đó Tân không ngủ được. Anh cứ trằn trọc “đánh vật” mãi với tờ giấy bạc một trăm đô. Tại sao lại có thể như thế nhỉ? Đi cuốc xe áng giá năm đô, cô ta trả một trăm đô. Chẳng lẽ là bạc giả như anh chàng bảo vệ khách sạn nói? Không! Nhất định không phải rồi! Cần gì cô ta phải làm cái việc lươn lẹo dối trá, Vậy tại sao cô ta trả cho mình cả một trăm đô? Thương hại? Bố thí? Một tấm lòng? Dù có là gì đi chăng nữa thì sáng mai cũng vẫn phải trả lại tiền cho cô ấy.

Tân thở dài. Tắt đèn. Bật đèn. Vuốt ve ngắm nghía tờ giấy bạc một trăm đô. Tờ giấy mầu xanh lá cây như sáng rực trong đêm. Một trăm đô đâu có nhỏ. Có khác gì tiền từ trên trời rơi xuống. Nhưng nhất định ngày mai phải trả lại cô ta, cô Jacqueline quý hóa: Tôi rất trân trọng tấm lòng của cô nhưng tôi không thể nhận số tiền này. Chúng ta chỉ mới có hai ngày quen biết, đâu đã có ân tình nghĩa trọng gì. Cám ơn lòng tốt của cô. Cám ơn người đàn bà ở phương trời xa đến. Nghĩ tới những người cùng chung nòi giống sống quanh tôi, cô làm tôi thấy đau đớn tủi nhục.

Hôm sau mới tám giờ sáng, Tân đã đạp xe tới chỗ cũ để đợi Jacqueline, mặc cho một người khách Tây phương đang vẫy tay gọi xe bên kia đường. Anh sốt ruột chờ, đốt hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, thỉnh thoảng thọc tay vào túi quần để yên trí tờ giấy bạc một trăm đô vẫn còn nằm trong đó. Chín giờ đã tới. Rồi chín giờ mười phút. Chín giờ mười lăm phút. Không thấy bóng dáng Jacqueline đâu cả. Chín giờ hai mươi phút. Tân thấy anh bảo vệ khách sạn hôm qua bước lại phía anh. Chẳng lẽ tên này gặp mình kiếm cớ gây sự để đoạt tờ giấy một trăm đô? Tiền bạc làm con người mờ mắt dễ trở thành bất lương. Anh bảo vệ khách sạn tới bên Tân dừng lại và hỏi vẫn giọng hách dịch:
“Có phải anh là người hôm qua chở cô khách Mỹ?”

Tân gật. Anh ta đưa Tân một mảnh giấy:
”Này cầm lấy! Thư của cô ta đấy!” Dứt lời anh ta bước về khách sạn.

Thư là một mảnh giấy nhỏ có in tiêu đề khách sạn. Jacqueline viết bằng tiếng Anh:
“Tân mến! Hôm nay tôi có việc bất thần phải đáp máy bay đi Hà Nội. Chúc vui khỏe. Hẹn gặp lại.”

Cô ký tên một chữ tắt “J”.

 

2
Những ngày và cả những tháng sau đó Tân vẫn thường đậu xe góc đường Lê Lợi – Tự Do có ý chờ người đẹp Mỹ Quốc bất thần xuất hiện. Anh biết vô vọng nhưng vẫn cứ mong, cứ đợi. Rồi Tân tự an ủi đó là một giấc mơ, một giấc mơ đẹp có thật và sẽ không bao giờ hiện ra lần nữa. Anh chợt nhớ hai câu thơ của nhà văn Duyên Anh mà anh được nghe trong trại tù: “Đời rất hiếm hoi lần Bụt hiện. Cho nên đoạn kết thảm vô cùng.” Đời mình chưa đến đoạn kết, nhưng đến nước này thì đúng là “thảm vô cùng” rồi, còn chờ còn mong gì nữa “lần Bụt hiện”. Rồi anh lại lẩn thẩn nghĩ tới bốn chữ “Hồn Bướm Mơ Tiên” – tên một cuốn truyện của nhà văn Khái Hưng. Hồn Bướm Đỗ Tân đang mơ tới nàng tiên Jacqueline Hunter. Tiên đã về vùng đất Thiên đường của Hạ giới, còn bướm thì vẫn mơ màng nơi chốn địa ngục trần gian. Buổi tối, lúc ấy gần mười hai giờ đêm Tân mới về tới nhà. Hôm nay xui xẻo chỉ chạy được ba “cuốc” xe ngắn, vừa đủ tiền chi cho hai bữa ăn. Tới trước cửa nhà Tân thấy chị chủ nhà đứng ngay trước cửa có vẻ đợi anh. Tân hơi chột dạ. Hôm nay là ngày mùng năm đầu tháng nhưng anh vẫn chưa có tiền trả tiền thuê buồng. Bà ta đợi mình về để đòi đây. Số tiền Jacqueline cho anh đã tiêu hết, “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. Tân định cất tiếng xin khất ít ngày thì chị chủ nhà đã tươi cười đưa anh một tờ giấy, nói:
“Chú Tân có tin vui nè!” Tân cười nhạt:
“Tin vui? Tôi làm gì có tin vui. Giỡn làm chi chị Tư?” Chị cho tôi nợ tiền thuê buồng mấy ngày nữa nghe!”

Chị chủ nhà vẫn cười cười nói:
“Tôi nói thiệt mà! Giấy gọi chú lên Tân Sơn Nhứt lãnh quà từ Mỹ gửi.”

Tân sửng sốt: “Quà ở Mỹ gửi? Lạ nhỉ?” Từ ngày ra tù về Tân chưa hề nhận được một lá thư nào từ ngoại quốc gửi về, nói chi đến việc nhận quà! Anh có nghe tin cánh Không Quân bên Mỹ tổ chức quyên góp tiền bạc cứu trợ, nhưng chưa tới tay anh. Có lẽ vì anh chưa liên lạc được với họ. Tân khấp khởi mừng thầm yên trí đây là quà của “các bạn ta” gửi. Anh cầm tờ giấy báo tin vui bước vào nhà đến bên ngọn đèn điện vàng vọt yếu ớt. Chị chủ nhà bước theo sau luôn miệng hỏi:
“Sao? Quà của ai gửi vậy?”

Bỗng Tân đưa tay trái đặt lên ngực. Tim anh đập nhanh, dồn dập. Anh coi lại tờ giấy báo tin lần nữa Thật bất ngờ ngoài cả sức tưởng tượng của Tân. Người gửi quà là Jacqueline. Số quà nặng tới hai mươi ký. Ngày hôm sau Tân phải chạy vạy mới mượn được đủ tiền dự phỏng để đóng thuế. Tất nhiên trong số tiền này có cả tiền của chị chủ nhà. Chị cứ luôn miệng lẩm bẩm:
“Trời đâu có phụ kẻ hiền lành.”

 

3
Washington DC. ngày… tháng… năm….

Tân thân mến,

Khi nhận được thư này tôi hy vọng Tân đã nhận được gói quà tôi gửi. Chắc Tân ngạc nhiên lắm? Những quần áo, vật dụng, radio, cassette không phải của mình tôi đâu mà còn là của một số bạn bè phi công cùng khóa với Tân gửi đấy! Khi ở Hà Nội về nước, tôi liền liên lạc ngay với Trung Tâm Huấn Luyện Fort Worth ở Dallas nên có được một số địa chỉ các bạn đồng khóa với Tân. Biết tin anh họ mừng lắm. Sau khi nghe tôi kể hiện cảnh của anh, họ buồn rầu khổ sở và tức tốc hè nhau góp gửi cho anh một số tiền cũng như vật dụng quần áo. Về tiền được hơn một ngàn đô. Tôi đang tìm cách gửi sao cho sớm đến tay anh mà không bị mất. Tôi mong anh sẽ hài lòng về số quà tặng “đó là những tấm lòng của bạn bè” chứ không phải “sự thương hại hay bố thí” như một lần anh đã hiểu lầm. Sở dĩ chúng tôi gửi tiền và mua những món đồ cho anh là do một người bạn Việt Nam chỉ dẫn. Anh ta bảo những thứ này ở Việt Nam đang bán được giá cao. Bây giờ tôi xin nói một chút về tôi chắc anh sẵn lòng nghe? Tôi đến Việt Nam không phải để du lịch. Tôi đến Việt Nam với mục đích duy nhất tìm kiếm tung tích chồng tôi. Chồng tôi chính là Đại Úy Phi Công Edward Carter thuộc Lực Lượng Hải Quân Hoa Kỳ, người học cùng khóa và là bạn thân của anh.”

 

 

Coi tới đây Tân ngừng lại. Bất ngờ quá! Anh cố hình dung lại người bạn phi công cùng khóa Edward Carter. Sau khi mãn khóa về nước, Tân có thư từ qua lại với anh ta, nhưng chỉ được hai năm sau đó mất liên lạc. Anh nhớ mang máng là Edward Carter được thuyên chuyển tới Đệ Thất Hạm Đội ở Thái Bình Dương. Lúc học ở Mỹ, Tân và Edward Carter có nhiều kỷ niệm, nhất là những buổi cuối tuần được nghỉ đi kiếm bồ bịch, mải vui quá ngày phép, hai người bị kỷ luật. Tân thở dài. Mới đó đã mười mấy năm trôi qua. Tân coi tiếp thư:

“Trong một phi vụ oanh tạc vùng Thanh Hóa, máy bay của chồng tôi bị bắn hạ. Anh được báo cáo mất tích.” Tân lại ngưng coi và đặt lá thư xuống cái bàn gỗ nhỏ cũ kỹ đặt nơi đầu giường. Anh chống tay lên cằm, suy nghĩ trong xúc động. Edward bị bắt sống hay bị chết? Nếu bị bắt sống thì nhất định Jacqueline đã biết tin, vì tất cả tù binh Mỹ đều bị nhốt trong “khách sạn Hilton ” ở Hà Nội. Tân cầm thư coi tiếp:

“Tôi không tin thông báo của chính phủ. Bản danh sách quân nhân Mỹ mất tích còn quá dài. Tôi phải tự đi tìm chồng tôi vì tôi tin chồng tôi chưa chết. Chúng tôi mới lập gia đình có một đứa con gái. Khi chồng tôi mất tích nó được hai tuổi.

Tôi đến Việt Nam lần vừa rồi là lần thứ hai. Lần trước tôi đến Hà Nội và đi nhiều nơi, kể cả Thanh Hóa. Mất hơn một tháng chẳng kiếm được tin tức gì. Một người bạn viết thư cho tôi biết ở Saigon có một “tuy-ô” cung cấp người Mỹ mất tích rất đáng tin cậy. Thế là chẳng cần đắn đo suy nghĩ, tôi vội vã book vé bay sang Việt Nam liền. Tôi đã bị lừa nhưng được gặp anh. Đúng như người bạn Mỹ của anh nhận xét. Nếu cái mũi cao thêm một chút, dài thêm một chút, và nước da trắng thì anh đúng là bản sao của chồng tôi. Sao lại có thể có hai người giống nhau như thế và sao lại có sự tình cờ gặp gỡ giữa tôi và anh như thế nhỉ? Hôm đầu tiên ngồi trên chiếc xích lô của anh, tôi ngoái lại nhìn anh, không khỏi giật mình sửng sốt. Suýt chút nữa thì tôi kêu tên chồng. Anh có biết không, trong lúc liên lạc với Trung Tâm Huấn Luyện Fort Worth tôi mới biết thêm anh là người đạt số điểm cao nhất ở khóa đó. Ông chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện già đã về hưu vẫn còn nhớ tới anh và không ngớt lời ca ngợi anh một thanh niên thông minh giầu nghị lực, một phi công đầy triển vọng tài ba. Nói để anh mừng nhé. Các bạn người Mỹ của anh đang vận động với chính phủ can thiệp cho anh sang Mỹ định cư đấy. Công việc này tất nhiên rất khó khăn và nhiều trở ngại, nhưng ai có quyền cấm người ta hy vọng nhỉ, có phải thế không? Từ nay tôi sẽ liên lạc thường xuyên với anh qua thư từ. Anh cần những gì có thể cho tôi biết để tôi và các bạn anh cố gắng giúp. Dưới đây là một số địa chỉ các bạn cùng khóa với anh. Anh nhớ viết thư cho họ nhé. Có mấy người mang cấp bậc Đại Tá rồi đấy. Họ sẽ có thư cho anh, nếu không có gì trở ngại về phía anh.

Chúc anh vui khỏe.
J.

Ít ngày sau, đúng như thư Jacqueline viết, có một người lạ đem đến cho Tân hơn một ngàn đô. Tân cầm số tiền trong tay mà vẫn ngỡ như mình nằm chiêm bao. Anh không nén được xúc động, tay cầm cây bút run run khi viết mấy chữ biên nhận tiền. Rồi anh thấy đôi mắt mình cay cay… Anh đã không cầm được nước mắt. Đêm đó Tâm nằm mơ thấy mình chở Jacqueline trên xe xích lô. Tới một quãng vắng vẻ Jacqueline bảo anh ngừng xe lại rồi nàng rời khỏi xe, bất thần ôm chầm lấy anh hôn thắm thiết. Khi Tân giật mình thức giấc anh cảm thấy như mùi nước hoa, mùi da thịt của nàng còn phảng phất đâu đây.

 

4
Tân đi tù khoảng hơn năm thì vợ anh đi lấy chồng khác, một cán bộ ngoài Bắc vào. Chính chị đã dẫn người này lên tận trại tù ép buộc Tân ký giấy ly dị với hứa hẹn sẽ can thiệp cho anh về sớm. Tân chẳng tin vào cái sự hứa hẹn này nhưng với một người vợ sớm thay lòng đổi dạ như vậy, anh không còn gì để lưu luyến cầm giữ. Anh chỉ lo ngại cho đứa con nhỏ mới ba tuổi. Nhưng anh yên tâm phần nào khi biết con mình được ông bà ngoại đem về nhà nuôi. Khi Tân từ trại tù vùng cao nguyên trở về Saigon, anh tới ngay nhà ông bà già vợ. Con gái anh đã hơn mười tuổi, gầy và hơi xanh. Nó ôm chầm lấy bố khóc như mưa. Tân định ở nhờ ông bà già vợ ít ngày nhưng căn phòng quá nhỏ hẹp mà lại chứa những năm người: ông bà già vợ, vợ chồng người em vợ và con gái Tân nên không còn chỗ cho anh. Sau bữa cơm đạm bạc chỉ có rau muống muối mè (để đãi mừng chàng rể ở tù về), Tân phải kiếm cớ đi chỗ khác ngủ, mặc dù ông bà già vợ cố giữ lại “ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu”. Đêm đó, đêm đầu tiên được sống tự do ngoài đời, Tân đã phải nằm ngủ trong mái hiên của một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô và phải chen chúc với đám ăn mày, xì ke ma túy. Sáng dậy gói quần áo nhỏ Tân mang từ trại tù về cũng bị “chôm” mất. Tân đi kiếm nhà một người bạn tù về trước anh và được người này giới thiệu việc làm: rửa chén đĩa một tiệm phở. Làm được mấy ngày chưa kịp lãnh lương tuần Tân bị thôi việc. Anh đã làm sứt mẻ và vỡ quá nhiều chén đĩa trong khi rửa.

 

 

Mãi Tân mới kiếm được một việc tương đối “độc lập tự do” và hợp với “khả năng” của đa số tù cải tạo về: đạp xích lô. Tuy “lao động” vất vả cực nhọc lại không ”vinh quang” chút nào Tân cũng kiếm được đủ ngày hai bữa ăn và thuê một cái buồng nhỏ trong xóm nhà lá để đêm về có chỗ ngủ. Hôm nào chạy được khá tiền một chút, anh mời cả gia đình bố mẹ vợ và cô con gái đi làm một chầu phở bình dân. Cuộc sống khó khăn chật vật nhưng Tân vẫn lấy làm hài lòng vì dù sao vẫn còn hơn gấp trăm lần trong trại tù cải tạo, có làm không có ăn. Tân cho rằng khi con người đã trải qua cuộc sống trong tù cải tạo của cộng sản rồi thì tất cả mọi sự trên cõi đời này đều… nhẹ như lông hồng!

Có được số tiền “ngoại viện” Tân đem một nửa “phân phối” cho bố mẹ vợ, bạn bè và cả chị chủ nhà. Riêng cô con gái Tân dẫn đi may một lúc mấy bộ quần áo và mua cho chiếc xe đạp để đi học. Tân viết thư gửi Jacqueline bầy tỏ lòng biết ơn. Với các bạn bè người Mỹ cũng vậy. Và cứ thế mỗi tháng Tân nhận được một lá thư của Jaqueline cùng một số tiền hoặc hàng hóa, có lần có cả đồ hộp thức ăn, sữa. Tạm thời qua cơn bĩ cực nhưng Tân vẫn không chịu rời chiếc xích lô. Hàng ngày anh vẫn đạp xe ra phố, không phải để chở khách như trước mà là phương tiện để anh đi đó đây thăm bạn bè ăn nhậu. Thỉnh thoảng anh đạp xe tới góc phố Lê Lợi – Tự Do tưởng nhớ tới Jacqueline và những ngày đầu gặp gỡ. Đôi mắt xanh biếc và mái tóc vàng óng ả chẩy dài xuống lưng của Jacqueline hình như lúc nào cũng hiển hiện trước mắt Tân. Có lý nào cô nàng yêu mình? Tân băn khoăn, thắc mắc, khắc khoải mãi với câu hỏi này. Và đôi lúc anh thấy nhoi nhói nơi tim khi nghĩ rằng chẳng qua cô nàng thương hại mình thôi. Trong những lá thư gửi Jacqueline, Tân đã bóng gió viết về tình cảm của mình đối với nàng, nhưng có lẽ nàng không hiểu sự tế nhị này của người Á Đông. Trong thư hồi âm, Jacqueline vẫn viết nhiều về những ngày ở Việt Nam và hỏi Tân về lịch sử, phong tục, tập quán, phong cảnh và những món ăn của người Việt. Rồi cô hỏi Tân thích nhất món ăn gì của Mỹ và nếu được sang Mỹ định cư thích sống ở đâu. Mỗi lần nhận được thư Jacqueline là buổi tối hôm đó Tân nằm mơ thấy mình sống trên đất Mỹ. Lúc thì lái máy bay, có lúc thì đi hộp đêm với bạn bè người Mỹ nhẩy đầm nhậu nhẹt say khướt. Nhưng nhiều nhất vẫn vẫn là mơ thấy sóng đôi với Jacqueline, hết đi ngắm tuyết ở vùng đồi trắng xóa miền Đông, tới shopping ở các chợ miền Nam Cali nắng ấm. Khi thức giấc Tân thấy tiếc và muốn giấc mơ cứ thế kéo dài mãi.

Buổi sáng hôm đó Tân sửa soạn đạp xích lô đi “tiếu ngạo giang hồ” có một anh công an tìm gặp. Anh ta trố mắt ngạc nhiên khi thấy người mình đi tìm gặp lại là một anh đạp xích lô. Anh ta hỏi đi hỏi lại mãi có đúng tên là Đỗ Tân không rồi mới cho biết lý do. Có ông dân biểu Mỹ muốn gặp. Tân choáng người. Một dân biểu Mỹ muốn gặp anh? Rồi trực giác bén nhậy của Tân cho biết đây là một tin lành. Tân đạp xích lô theo anh công an đến khách sạn Đại Lục nơi trước đây Jacqueline ở. Mọi người làm trong khách sạn đều nhìn Tân với cặp mắt nghi ngờ và kiêng nể. Thì ra ông dân biểu Mỹ là cựu phi công học cùng khóa với Tân. Máy bay của ông bị bắn trong một phi vụ oanh tạc miền Bắc và bị nhốt “khách sạn Hilton ” hơn năm năm thì được thả. Về Mỹ ông ứng cử và đắc cử dân biểu. Jacqueline đã gặp ông trình bầy hoàn cảnh Tân và nhờ ông can thiệp với chính phủ cộng sản Việt Nam. Ông sang đây với một phái đoàn bàn thảo chương trình viện trợ nhân đạo cho Việt Nam, trong đó có “chút việc riêng tư” là can thiệp cho Tân sang Mỹ định cư. Trước khi gặp nhà chức trách, ông muốn gặp Tân để “nhận diện” người bạn đồng khóa năm xưa.

 

5
Anh Hoàng thân quý,
Sau khi chia tay anh ở phi trường Tân Sơn Nhất. thấm thoát thế mà đã hơn ba tháng trôi qua. Sở dĩ hôm nay mới viết thư cho anh vì khi đặt chân tới đất Mỹ, khỏi kể nhiều anh cũng thừa biết là tôi bận lắm. Sau khi nghỉ ngơi cho tỉnh người, đồng thời cũng là để gột sạch “bụi bậm xã hội chủ nghĩa” (còn bám chút đỉnh nơi thân thể), tôi và Jacqueline lo tổ chức lễ cưới. Rồi chúng tôi đi Washington DC tới bức tường đá đen ghi tên các chiến sĩ Hoa Kỳ hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam.Chúng tôi dành ít phút cúi đầu tưởng niệm dưới hàng chữ ghi tên Carter.Sau đó chúng tôi đi hưởng tuần trăng mật ở Honolulu. Tiếp theo chúng tôi đi thăm chỗ tôi học lái máy bay năm xưa ở hai bang Lousiana, Texas và các bạn phi công cùng khóa. Ông bạn cựu phi công đương kim dân biểu đã giới thiệu cho tôi một job hợp với khả năng: lái máy bay cho một đồn điền. Còn Jacqueline vẫn tiếp tục nghề cũ y tá bệnh viện. Con gái tôi được Jacqueline và con gái cô quý mến lắm. Hai đứa ngoài giờ học cứ quấn quýt bên nhau như hai chị em ruột. Như anh biết đấy, khi ra đi tôi đã mang theo chiếc xích lô mà tôi phải mua lại với một giá mắc người chủ mới chịu bán. Cứ chủ nhật hoặc những ngày nghỉ lễ, tôi đạp xích lô chở Jacqueline và hai đứa nhỏ chạy lòng vòng trên các đường nhỏ trong thành phố. Đây là một chiếc xe độc đáo duy nhất có ở thành phố này, nên đạp tới đâu cũng được người Mỹ vui vẻ ngắm nghía và trầm trồ giơ tay chào. Có nhiều người bắt tôi xuống xe để cho họ đạp thử và suýt nữa thì làm lật cả xe. Lâu dần người Mỹ quen mắt với chiếc xe xích lô của tôi. Chúng tôi đặt chiếc xích lô ngay trong phòng khách. Nhờ nó, tôi và Jacqueline thành duyên chồng vợ nên chúng tôi vô cùng quý và trân trọng giữ gìn nó.

Hiện tại chúng tôi đang sống tràn trề hạnh phúc. Mùa xuân của cuộc đời tuy đến muộn nhưng chúng tôi bằng lòng lắm với những gì mình đang có, đang sống. Thiên đường có thật anh Hoàng ạ! Và chúng tôi đang tắm trong suối nguồn tươi mát của Thiên Đường.

Xin chúc anh và gia đình mọi điều tốt đẹp. Thỉnh thoảng rảnh rỗi anh nhớ viết thư cho tôi nhé.

Quý mến,
Đỗ Tân.

Thanh Thương Hoàng
Theo: Văn Thơ Lạc Việt




Joyce Anne Nguyen : BÀI VIẾT KHÔNG CÓ TỰA

Nhưng.. Đừng bảo tôi im vì tôi sống ở Na Uy. Đừng bảo tôi im vì tôi 16 tuổi. Đừng bảo tôi im và bảo tôi chưa đủ trải nghiệm. Đừng bảo tôi im và bảo tôi thiếu hiểu biết. Đừng bảo tôi im và kết tội tôi chỉ copy và paste. Đừng bảo tôi im vì bạn im.

BÀI VIẾT KHÔNG CÓ TỰA

 

Joyce Anne Nguyen

 

 

Wednesday, March 3, 2010 at 2:42am

 

Có đôi khi suy nghĩ, tôi chợt cảm thấy có lẽ mình nên bỏ tất cả. Bỏ tất cả việc viết lách này. Có rất nhiều lý do để tôi ko nên tiếp tục viết.
Tôi 16 tuổi, ở tuổi này như những người đồng trang lứa tôi nên chú tâm học hành và có những mối quan tâm phù hợp với lứa tuổi.
Tôi ko bị ép buộc phải lên tiếng, và tôi ko đủ tư cách để lên tiếng và kêu gọi người khác phải đứng dậy tranh đấu cho quyền lợi cá nhân và thay thế 1 chế độ khác với những nhà cầm quyền khác, bởi dù gì tôi cũng đang sống ở nước khác, tôi là kẻ hèn nhát đứng từ xa hò hét kêu gọi, khi có chuyện tôi ko phải cam chịu gì cả, và tôi nói gì cũng được, gào gì cũng được.
Có đôi khi tôi cảm thấy nhục nhã và ghê tởm với bản thân. Và có lẽ sự im lặng là lựa chọn tốt hơn cho tôi. Có nhiều lúc tôi cảm thấy như vậy. Dù tôi có viết hàng trăm, hàng ngàn bài, cũng ko có điều gì xảy ra. Mọi việc đều diễn ra như vậy. Vô số người đã viết, vô số người đã lên tiếng, vô số người đã đấu tranh và cống hiến cho phong trào đấu tranh dân chủ, nhưng cũng ko có gì thay đổi. Việc viết lách của tôi nói chung cũng ko có lợi gì. Ko tạo nên 1 sự thay đổi. Cũng ko thuyết phục hay lôi kéo được ai. Rất nhiều người cũng đã bảo VN ko cần những người như tôi, và thay vì chê bai chế độ, ko đóng góp, có lẽ tôi nên ngậm họng và sống cho đất nước tôi đang sống.
Có đôi khi tôi cảm thấy mình là 1 kẻ hèn nhát. Dĩ nhiên khi ở VN, tôi ko viết, ý tôi là tôi có viết về những bức xúc trong xã hội nhưng ko viết về chính trị chẳng phải vì tôi sợ, mà trong nước tôi chưa kịp thấy nhiều để ý thức được người dân trong nước ko may mắn như thế nào. Chỉ khi được đến 1 đất nước khác và đi 1 số nơi, tôi mới thấy 1 số điều và so sánh, tôi mới bắt đầu viết về chủ đề này. Nhưng có lẽ tôi nói chung cũng vẫn là 1 kẻ hèn nhát to miệng, kêu gọi người dân trong nước đứng lên phản kháng, trong khi mình đã an toàn.
Có lẽ tôi nên im lặng. Và mọi người cùng im lặng.
Chúng ta hãy cùng ngồi yên và chấp nhận hoàn cảnh, với suy nghĩ mọi nước đều có vấn đề, khó khăn riêng, và mỗi chế độ đều có cái tốt cái xấu của nó.
Chúng ta hãy cùng im lặng và lờ đi những vấn nạn của đất nước, với an ủi rằng đất nước dù sao cũng đang tiến bộ.
Chúng ta hãy cùng im lặng và tin tưởng rằng việc im lặng chấp nhận sẽ giúp đất nước bình yên.
Chúng ta hãy dùng từ “nhạy cảm” để né tránh mỗi khi bất kỳ ai đề cập đến vấn đề an ninh lãnh thổ.
Chúng ta hãy tập trung học hành, làm việc và đừng quan tâm đến chính trị.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, để TQ kéo sang tiến hành dự án bauxite ở Tây Nguyên, hủy hoại môi trường sống, giết chết sinh vật, gây bệnh tật cho đồng bào ta, và từ từ chiếm phần trung tâm của đất nước ta.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, để TQ thuê rừng đầu nguồn và chấp nhận tất cả những hậu quả của nó như sự ảnh hưởng đến sinh thái và lũ lụt, và để dân TQ kéo sang VN sống.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, và để đồng bào ta bị đánh cướp hoặc giết chết ngoài biển Đông.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, để tấm bản đồ lưỡi bò đi khắp TG, và mọi người dần dần tin rằng biển Đông thuộc về TQ, HS- TS thuộc về TQ.
Chúng ta hãy nhắm mắt lại, và ngưng việc đọc báo đi, để tưởng tượng rằng ko có điều gì tồi tệ xảy ra và đất nước vẫn đang phát triển.
Nhưng liệu tôi, và bạn có thể làm được thế ko?
Nếu muốn, tôi có thể quên VN đi. Tôi có thể chỉ nên sống cho Na Uy. Và bất kỳ cái gì khác. Bạn cũng vậy. Nhưng liệu chúng ta có thể làm được như thế ko?
Mọi chuyện có lẽ sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều nếu ko có những vấn đề với TQ. Bây giờ ai cũng biết tình hình giữa TQ và VN đã nghiêm trọng như thế nào. Ko, đừng nói với tôi VN là nước nhỏ. Ko, đừng nói với tôi VN xui xẻo nằm quá gần 1 đất nước đầy tham vọng bá quyền như TQ. VN ko phải là nước nhỏ duy nhất phải chống chọi với 1 nước lớn. VN ko phải là nước duy nhất nằm gần TQ. Tôi biết tôi ko thể làm được gì cả. Tôi là 1 cá nhân, và 1 cá nhân chỉ là được những việc nhỏ nhặt trong giới hạn của 1 cá nhân. Nhưng nếu nhiều cá nhân gộp lại? “Don’t wait for leaders; do it alone, person to person.”- Mother Teresa. Nếu VN phải đối mặt với TQ, nếu nhân dân VN phải đối mặt với nguy cơ mất nước, ai sẽ cứu VN ngoài chính người dân VN? Mỹ ư? Ồ ko bạn ạ, người Mỹ chỉ làm những gì tốt nhất cho nước Mỹ, đừng quên Mỹ đang mắc nợ TQ, và đừng quên ko có lý do cụ thể nào để Mỹ phải giúp đỡ VN. Hay 1 vị Bụt hiện ra hỏi “Vì sao con khóc?” và phẩy cây phất trần biến điều ước trở thành hiện thực? Phật có câu “No one saves us but ourselves. No one can and no one may. We ourselves must walk the path.”
“It’s a dirty world out there, but if no one agrees to do the cleaning, the whole country goes down a shit house.”- Vikas Swarup.
Tôi đủ tỉnh táo để hiểu những bài viết của tôi ko đem lại 1 sự thay đổi cụ thể nào. Có 1 số người đã hỏi thẳng, tôi nhận được bao nhiêu tiền để viết. Tôi cảm thấy hổ thẹn cho họ. Tôi sẽ ko giải thích, tôi chỉ đơn giản trích 1 câu của Isabel Allende “How can one not write about war, poverty and inequality when people who suffer from these afflictions don’t have a voice to speak?” Nếu bạn hoàn toàn cho rằng việc viết lách là vô bổ, đừng quên trong chiến tranh ko phải ai cũng tham gia chiến đấu, có những người chiến đấu bằng ngòi bút. Có những người đóng góp theo cách riêng của họ.
Mọi người biết việc viết lách ko đem lại ích lợi gì nhiều. Vô số người đã viết. Vô số người đã lên tiếng. Ko có gì được thay đổi. Bản kiến nghị phản đối dự án bauxite được rất nhiều người ký tên cuối cùng cũng bị bỏ mặc. Những người biểu tình phản đối TQ bị bắt. Blogger bị bắt và bỏ tù. Ko có gì được thay đổi. Nhà nước vẫn tiếp tục làm việc của họ. Họ vẫn chặn facebook. Họ vẫn kiểm soát thông tin. Họ vẫn cấm nhắc tên Hoàng Sa Trường Sa trên game online. Họ vẫn treo băng rôn chúc mừng quốc khánh TQ. Họ vẫn xử tù người bất đồng chính kiến. Họ vẫn tiến hành dự án bauxite Tây Nguyên. Họ vẫn tiến hành dự án điện hạt nhân. Họ vẫn cho thuê TQ thuê rừng đầu nguồn. Họ vẫn.. Họ vẫn…
Nhưng thay vì đặt câu hỏi tại sao tôi lại viết dù biết việc lên tiếng ko đem lại ích lợi, tại sao bạn ko hỏi vì sao đã rất nhiều người lên tiếng nhưng vẫn ko có điều gì thay đổi? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ hoàn toàn ko quan tâm đến nhân dân? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ ko cho phép nhân dân biểu tình hoặc chỉ đơn giản là cất tiếng nói? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ gạt ngang ko đếm xỉa đến bản kiến nghị phản đối 1 dự án gây tác hại trầm trọng đến môi trường, sự sống, và cả an ninh, lãnh thổ đất nước? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ chặn blog, chặn website? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi dân oan khiếu kiện, họ ko bao giờ giải quyết? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ ko đầu tư công sức vào nền giáo dục, tiếp tục những trò cải cách chạy vòng quanh ko cần thiết, bằng cách lấy kiến thức năm này đắp vào năm khác và quay vòng? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ ko giải quyết vấn đề tham nhũng trầm trọng và giải thích VN ko phải là nước tham nhũng nhất TG và quốc gia nào cũng có? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ ko màng đến vấn đề giao thông, để hàng chục ngàn người chết mỗi năm vì tai nạn giao thông, và phần lớn vì đường sá chật chội, đầy “lô cốt”, kém chất lượng và gây ra nhiều cái chết phi lý? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ xem nhân dân là con cái ko được phép cãi lời và “hàng xóm” ko cần can thiệp? Họ là những người lãnh đạo như thế nào mà họ lên nắm quyền khi nhân dân ko biết họ là ai để bầu cho họ? Họ là những người lãnh đạo như thế nào mà họ dù làm bất kỳ điều gì, vẫn tiếp tục giữ cái ghế của mình? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ e ngại mọi sự so sánh và kết luận đó là vọng ngoại và phản quốc? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ ko dám nhìn thẳng vào khuyết điểm và huyễn hoặc nhân dân rằng mọi đất nước đều có vấn đề riêng và đất nước ta đang ngày càng tiến bộ?
Ở đây tôi chỉ muốn nói lên vấn đề ý thức. Tôi ko có ý định tung hô nước ngoài như nhiều người sẵn sàng chụp mũ. Tôi chỉ đưa ra 1 vài so sánh. Trong ý thức người dân cũng như người lãnh đạo ở những quốc gia có tự do dân chủ, nhà nước được nhân dân bầu lên, và tồn tại vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Nhân dân đóng thuế nuôi các ông lãnh đạo, và khi các ông làm việc ko tốt, các ông phải nghe phê bình, và có thể bị phế truất. Có rất nhiều người vẫn thường lầm lẫn giữa khái niệm yêu nước và yêu nhà nước. Tất cả đơn thuần chỉ là trò chơi đánh tráo khái niệm. 1 kiểu áp đặt thường thấy. Quốc gia dân tộc là cái trường tồn. Nhà nước là cái tồn tại tạm thời. Khi 2 cái đi ngược nhau, tôi ko nghĩ tôi nên chọn cái ngắn thay vì cái dài. Có nhiều người sẽ bảo tôi là kẻ vô ơn. Rằng tôi sinh ra và lớn lên dưới chế độ này, tôi ăn cơm trong chế độ này, tôi đi học trong chế độ này, tôi phải mang ơn thay vì phản chủ. 1 lần nữa phải nhấn mạnh, đây chỉ là vấn đề ý thức. Ko biết vì lý do gì, dường như người dân VN có thói quen thường sợ hãi và mang ý thức mình đang mang ơn nhà nước. Trong khi thực tế nhà nước lập ra để lèo lái đất nước, và đại diện cho quyền lợi của nhân dân. Tôi phải biết ơn à? Tôi đã nhìn thấy các ông lãnh đạo như thế nào. 1 tờ báo chính thức trong nước từng viết, phải mất 175 năm để VN đuổi kịp Singapore, với điều kiện Singapore đứng yên- điều này là ko thể. GDP cũng tụt hàng trên TG. Tôi phải biết ơn đất nước vì đã độc lập, tự do, hạnh phúc à? Ta độc lập mà ta ko dám nhắc đến mối quan hệ VN- TQ? Ta độc lập mà ta ko dám biểu tình chống TQ? Hạnh phúc? Hạnh phúc mà sau này vô số người vẫn tìm cách bỏ đi, bằng cách này hay cách khác, hôn nhân, du học, lao động hợp tác, làm giấy tờ giả…? Hạnh phúc mà đa phần những người đã đi đều ko muốn về nước sống?
Tôi sẽ bị xem là kẻ hèn nhát. Tôi ko dám ở ngay trong nước hô hào. Tôi thừa nhận, có nhiều lúc tôi đã tự cảm thấy mình là 1 kẻ hèn nhát. Tôi đi. Tôi ko ở lại. Nhưng cách đây ko lâu, ở trường tôi có buổi giới thiệu về 1 số trường ĐH ở Na Uy và ở những nước khác như Anh, Úc, Mỹ, New Zealand… có 1 tấm bảng có dòng chữ lớn: “Do something for your country: LEAVE.” May mắn được đi, tôi có những quyền tôi ko thể có trong nước. May mắn được đi, bằng những bài viết, dù có thể là vô bổ, tôi đóng góp 1 phần nào đó. May mắn được đi, tôi có cơ hội mở rộng tầm nhìn, và so sánh sự khác biệt giữa 2 TG (tôi thích nói là 2 TG). Những người e ngại sự so sánh ko thể nhìn thẳng vào những khuyết điểm và hạn chế của bản thân để chỉnh sửa và tiến bộ. So sánh là cần thiết. So sánh dẫn đến cạnh tranh. Cạnh tranh giúp phát triển. Thử tưởng tượng, nếu cả 1 khu vực bạn sống chỉ có 1 tiệm giày. Bạn ko còn lựa chọn nào khác, dù đẹp dù xấu bạn cũng phải vào đó mua giày. Nhưng nếu có khoảng chục tiệm giày, à ko nhất thiết, có 2 tiệm giày thôi cũng được, bạn được quyền lựa chọn vào tiệm A hay tiệm B, và để thu hút khách hàng, mỗi tiệm dĩ nhiên phải cạnh tranh và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tương tự với chính trị. Ồ vâng bạn sẽ nghĩ tôi là đứa tâm thần khi so sánh chính quyền với tiệm giày, nhưng tôi chỉ đang phân tích. Nếu có nhiều đảng, các đảng phải cạnh tranh nhau, đưa ra nhiều chính sách vì nhân dân và đất nước, và người dân dĩ nhiên sẽ bỏ phiếu cho cái đảng có nhiều chính sách tối ưu hơn. Nhưng nếu chỉ có 1 đảng duy nhất, và đặc biệt những người lãnh đạo ko bao giờ bị bắt lỗi, ko bao giờ bị phê bình, ko bao giờ bị phế truất, các ông muốn làm bao lâu cũng được, ngồi đó bao lâu cũng được. Ko phải rõ ràng là trong trường hợp đó, cái đảng duy nhất này có thể làm bất kỳ điều gì, kể cả những việc có hại cho đất nước sao?
Trong bài viết “Ai ko muốn được tự do?”, tôi đã có đề cập đến sự tự do. Vấn đề chỉ là khái niệm về tự do. Khi con người đã sống quá lâu trong 1 xã hội nơi họ ko được phép có tư duy độc lập và phát biểu ý kiến thực sự của mình, họ dần dần quên mất lẽ ra là con người, họ nên có quyền cất tiếng nói. Trong nghệ thuật, nếu có khuôn mẫu định sẵn và 1 dây xích kìm hãm, người nghệ sĩ ko thể làm việc với toàn bộ khả năng của mình. Thiếu tự do, con người bị kìm hãm, khả năng bị giới hạn. Cũng như trong đời sống. Albert Camus từng nói “A free press, of course, can be good or bad, but most certainly, without freedom, a press will never be anything but bad.” Nói mỗi nước đều có tự do dân chủ, chỉ là chế độ khác biệt nên sự dân chủ có màu sắc khác nhau chỉ là lối né tránh cái thực tế chẳng có tự do dân chủ. Nói mỗi nước đều có vấn đề, ko có chế độ nào hoàn hảo chỉ là 1 lối lấp liếm ko dám nhìn thẳng vào những khuyết điểm của mình.
Đúng, ko có chế độ nào 100% hoàn hảo. Nhưng cho đến nay, qua thời gian, đến sự tiến bộ hiện nay của loài người, chế độ dân chủ được xem là lựa chọn tốt nhất. Nhưng có lẽ con chim bị nhốt quá lâu trong lồng khi nhìn thấy cửa mở cũng rụt lại ko dám bay ra TG rộng lớn bên ngoài. Có lẽ con người sợ hãi sự thay đổi. Thay vì góp sức vào 1 sự thay đổi, thay vì đứng lên bảo vệ cho quyền lợi của chính bản thân mình, họ ngồi yên chấp nhận thực tế và họ cách lơ đi những vấn nạn của đất nước. Erich Fried có câu nói nổi tiếng được viết ngay trên phần còn sót lại của bức tường Berlin tôi đã may mắn có dịp thấy tận mắt: “He who wants the world to remain as it is doesn’t want it to remain at all.”
Nếu muốn, tôi có thể đáp máy bay về nước, có thể để bị bắt và ngồi tù, lúc đó mọi người sẽ biết đến tôi, sẽ cuối cùng công nhận tôi chứng minh được những gì mình đang nói thay vì khoác lác phô trương, sẽ cuối cùng ban cho tôi 1 danh hiệu, hay 1 tấm bằng khen để sau này ra tù tôi treo trong nhà và tự hào giới thiệu mỗi khi khách đến, nhưng liệu điều ấy có giúp ích được gì ko? Ý tôi ko phải bảo việc ngồi tù là vô bổ. Tôi rất nể trọng và kính phục những người đã dám lên tiếng và chấp nhận việc ngồi tù là 1 cái giá của việc tranh đấu của mình. Tôi thực sự rất nể trọng họ. Và cảm thấy những gì mình làm chẳng là chút gì so với những gì họ đã làm. Và nhiều lúc cảm thấy bản thân là 1 kẻ hèn nhát đáng ghê tởm.
Nhưng..
Đừng bảo tôi im vì tôi sống ở Na Uy.
Đừng bảo tôi im vì tôi 16 tuổi.
Đừng bảo tôi im và bảo tôi chưa đủ trải nghiệm.
Đừng bảo tôi im và bảo tôi thiếu hiểu biết.
Đừng bảo tôi im và kết tội tôi chỉ copy và paste.
Đừng bảo tôi im vì bạn im.

Joyce Anne Nguyen
2/3/2010

Joyce Anne Nguyễn

Uploaded with ImageShack.us

Cách đây vài ngày tôi đọc lại 1 bài viết cũ của mình, “Bài viết không có tựa”, hay còn được biết đến với tên “Đừng bảo tôi im” do bác Hoàng Cơ Định đặt. Và nhận ra đã 1 thời gian rồi tôi gần như không viết gì. Nhìn sang xung quanh, tôi cũng thấy rất nhiều người đã ngưng bút, và bỏ cuộc. Tôi không nói về những người khác, nhưng riêng phần tôi, tôi biết tôi không có quyền than thở. Tôi không có quyền nói mình mệt mỏi. Hiện tại tôi không còn ở VN, nhưng tôi vẫn luôn mang dòng máu VN, và nhìn chung tôi không làm được gì nhiều, thế nên tôi không thể bỏ cuộc. Tôi sẽ tiếp tục viết. Và làm gì đó, theo cách này hay cách khác.
Tôi không cần viết, hiển nhiên. Tôi có thể chỉ đơn giản tiếp tục học và làm những việc đúng với tuổi tôi, tiếp tục đời sống tại Na Uy, đôi khi đi chơi đây đó tìm hiểu những đất nước khác, như lúc này đang lang thang Roma trước khi trở lại trường. Thế nhưng, nói như Isabel Allende, làm sao 1 người có thể không viết về những nghèo khổ và bất công trong xã hội khi những người đang cam chịu những điều đó không có quyền cất tiếng nói? Viết không chỉ cho bản thân. Viết cho những người bị buộc phải im lặng. Viết cho những người mất gần như mọi thứ chỉ vì khát vọng tự do. Viết cho những người đã ngã xuống. Viết cho những người đấu tranh cô độc. Viết cho những người còn đang sống và không biết mình bị thiệt thòi và thiếu các quyền sống cơ bản của con người. Viết cho những người đang vô cảm hoặc không biết nhiều về tình hình đất nước. Viết cho dân tộc. Viết cho những phần lãnh thổ lãnh hải đã mất. Viết cho lịch sử. Viết cho những người đã khuất, đang sống và những thế hệ tiếp sau. Viết không phải là tuyên truyền. Viết không phải là hô hào nhân dân xuống đường còn mình an toàn ngồi ở nước khác. Viết là viết ra cảm xúc và sự thật. Viết là viết những gì đã nhìn thấy. Viết là nói về những bất công đang diễn ra. Viết là viết về những khác biệt giữa nước ta và nước khác, để thay đổi, tiến bộ và đấu tranh cho những quyền sống cơ bản. Viết là làm thức tỉnh, là kêu gọi sự quan tâm.
Hãy trả lời tôi.
Bạn cảm thấy gì khi mỗi ngày ra đường thấy kẹt xe, khói bụi, “lô cốt” khắp nơi và các hệ thống làm đường kéo dài từ năm này sang năm khác? Bạn cảm thấy gì khi ngày ngày mở báo ra đọc, nhìn thấy hàng loạt thông tin về tai nạn giao thông (do kẹt xe, vấn đề đường sá…), sập cầu, cháy nhà…? Bạn cảm thấy gì khi những nhà cầm quyền thản nhiên tiến hành dự án bauxite tại Tây Nguyên bất chấp các tác hại và bản kiến nghị? Bạn cảm thấy gì khi biết các ông lãnh đạo cho TQ thuê rừng đầu nguồn? Bạn cảm thấy gì khi chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói VN và Cuba canh giữ hòa bình cho thế giới? Bạn cảm thấy gì khi bà Tôn Nữ Thị Ninh so sánh nhân dân với con cái khi tuyên bố tại buổi họp mặt với Hoa Kỳ “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”? Bạn cảm thấy gì khi người ta bảo bạn phải biết ơn Đảng, Đảng là chân lý, bạn không được quyền phê bình, dù cha mẹ bạn nuôi bạn ăn học, đóng học phí cho bạn, bạn đi học lên lớp nhờ công sức bạn học và thi đậu, rồi lớn lên cũng chính bạn kiếm việc kiếm tiền nuôi chính bạn và gia đình bạn, nhà nước không cho giáo dục miễn phí và cũng không có chế độ y tế nào đảm bảo cho bạn, khi thất nghiệp bạn chẳng có trợ cấp, khi bạn già chẳng ai nuôi bạn ngoài con cháu, khi thình lình bạn chết gia đình cũng chẳng có 1 xu hoặc rất ít, trong khi đó ở nhiều quốc gia khác người dân được trợ cấp rất tốt nhưng không bao giờ xem những người lãnh đạo là cha mẹ? Bạn cảm thấy gì khi bạn được học là nước ta có thừa dân chủ, nhưng sau 1 ngày vừa nói về sự kiện 2 nhà báo bị bắt do vụ PMU18, ngày hôm sau tất cả các báo đồng loạt im lặng, bản thân thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng gần đây phát biểu “Nước ta không có phản biện, phản biện là phản động”, những người bất đồng chính kiến chưa gây nguy hại cụ thể nào đã bị bắt giam, các bloggers mất việc, 1 tờ báo du lịch khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa bị đình bản và khi bạn thử đứng trong lớp hỏi về Hoàng Sa, Trường Sa thì câu trả lời bạn nhận được là “Đây là vấn đề nhạy cảm không nên bàn tới.”? Bạn cảm thấy gì khi trong trường lớp bạn luôn được dạy là chế độ tư bản đang giãy chết bên bờ vực thẳm nhưng các nước tư bản vẫn đang phát triển giàu mạnh và các nước theo chế độ cộng sản đều đã sụp đổ ngày nay chỉ còn lại TQ, VN, Bắc Hàn, Cuba? Bạn cảm thấy gì khi chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng công ty Than và Khoáng sản, ông Đoàn Văn Kiểng, nói về dự án bauxite:“Lỗ hay lãi chỉ là dự đoán. Chúng tôi nói có lãi, các nhà khoa học bảo không. Khoa học và thực tế bao giờ cũng là 50:50. Vậy thì tốt nhất hãy làm đi, rồi mới kiểm nghiệm được. Thực tế sẽ trả lời.”? Bạn cảm thấy gì khi bạn du lịch sang nước khác và người ta chỉ nói “Ni hao” hoặc “Konnichiwa” với bạn? Bạn cảm thấy gì khi đọc tin công an đánh chết dân? Bạn nghĩ sao khi 1 ủy viên chi bộ tuyên bố “Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa.”? Bạn cảm thấy gì khi đọc tin ngư dân bị hải quân TQ đánh cướp và giết chết, báo chí VN ban đầu chỉ nói là tàu lạ, rồi sau đó mới thừa nhận? Bạn cảm thấy gì về bài báo phân tích VN phải mất 175 năm để theo kịp Singapore, với điều kiện Singapore không phát triển? Bạn cảm thấy gì khi thử so sánh sự chênh lệch trong mức tiền thưởng Tết của 1 công nhân bình thường và 1 quan chức ở nước ta? Bạn cảm thấy gì và theo bạn vì nguyên do gì người VN luôn tìm cách ra khỏi nước dù phải chịu cực khổ và tủi nhục khi sang nước người bằng những con đường kết hôn với chồng Đài Loan, sang lao động tại Malaysia hay Đông Âu, hoặc du học và ở lại?…
Bạn nhìn thấy cả. Những bất công đang diễn ra và bạn nhìn thấy tất cả. Nhưng bạn đã lựa chọn: im lặng. Bạn im lặng vì những người khác im lặng. Bạn im lặng và bạn muốn mọi người đều im lặng. Bạn cũng muốn tôi phải im lặng. Bạn chất vấn tôi, hỏi tôi nhận bao nhiêu tiền để viết, và tại sao tôi phải viết khi tôi hoàn toàn có quyền quên đi và bắt đầu 1 cuộc sống mới tại nước khác, nhưng tôi tin bạn đã biết câu trả lời tại sao.

Gần 1g sáng, 8/8/2010, Roma, Ý.
Viết tặng những người bạn trên facebook, những bloggers đang viết, đã ngừng viết và những bloggers sẽ bắt đầu viết.

Joyce Anne Nguyen
Theo: Diễn Đàn Net




Phạm Thắng Vũ : Ký Ức Một Thanh Niên Hà Nội Về Ngày 30-4-1975

Một thay đổi đã đến trong lòng tôi mà tôi biết điều này cũng sẽ đến với bất kỳ người nào từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa khi đặt chân vào miền Nam ở thời kỳ đó. Sài Gòn hay nói rộng ra cả miền Nam không phải là một xã hội lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy cảnh người bóc lột người như bao lâu nay người dân miền Bắc được (hay bị) báo chí, đài phát thanh Hà Nội… mô tả

Ký Ức Một Thanh Niên Hà Nội Về Ngày 30-4-1975

 

Bài dưới đây là tâm tình của anh H, một người bà con trong họ đã kể cho nghe, PTV chép lại.


Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi đang ngồi trong căng tin của nhà máy Hoá Chất Việt Trì thì tai nghe những tiếng la hét ầm ĩ vui nhộn từ phòng thông tin của Công Đoàn nhà máy.    “Thắng rồi… Ta thắng rồi… Dương Văn Minh đầu hàng rồi.”  Tôi bỏ dở cốc nước chè và cùng vài người chạy vội ra xem chuyện gì. Một nhóm công nhân đang vây chung quanh anh Minh, thư ký Công Đoàn cho biết tin vừa nhận được qua đài Tiếng Nói Việt Nam là quân ta đã chiếm được Dinh Độc Lập, bắt Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng. Nghe vậy, những tiếng hét lớn vui mừng một lần nữa lại vang lên. Những ngày trước đây, kể từ sau trận đánh vào Buôn Mê Thuột, Đoàn Thanh Niên Lao Động Hồ Chí Minh của nhà máy đã làm một áp phích lớn vẽ bản đồ của 44 Tỉnh miền Nam Việt Nam Cộng Hòa và dựng nó gần cổng ra vào. Trên tấm áp phích đó, cứ mỗi khi được tin quân ta giải phóng thêm tỉnh nào thì lập tức tỉnh đó được vẽ một lá cờ Đỏ sao Vàng ngay. Tôi đã thấy càng lúc càng nhiều lá cờ Đỏ sao Vàng xuất hiện trên tấm áp phích chỉ trong một thời gian ngắn đến nỗi phải hoài nghi, dù không nói ra mặt. Bây giờ, điều nghi ngờ đó đã thật rồi, mừng quá đi. Thôi từ nay là hết chiến tranh và những thanh niên miền Bắc sẽ không còn phải xuôi Nam chiến đấu trong chiến trường B nữa. Và điều quan trọng tôi sẽ gặp lại người cha ruột đã xa cách gia đình tới 21 năm rồi. Hôm đó, như để cùng chào mừng với niềm vui lớn của đất nước, trừ những khâu cần phải vận hành máy chạy liên tục còn tất cả các khâu lao động trong các phân xưởng và các phòng ban khác được ban lãnh đạo nhà máy cho nghỉ việc sớm để mang tin vui về cho gia đình biết. Tôi phóng nhanh xe đạp về nhà báo tin cho mẹ tôi biết ngay tin vui này.

Về đến nhà, đắt xe vào trong, chưa kịp khoe tin thì mẹ tôi đã nói: “Sao nay con về sớm vậy? Bộ đội vào tới Sài gòn rồi con biết chưa?”.  Tôi trả lời mẹ là đã biết, được nhà máy cho về sớm định kể mẹ nghe đây. Mẹ tôi ngồi ở bàn sát cửa sổ như đang suy nghĩ điều gì. Tôi cởi áo đi ra giếng nước sau nhà múc nước tắm sau đó quay trở vào mà vẫn thấy mẹ tôi ngồi yên tại chỗ. Tôi bước lại bên bà, hỏi: “U sao vậy?”  và đặt tay tôi lên trán bà, tiếp: “U cảm hay sao nói cho con biết với”. Nhưng bà nhìn tôi, miệng cười mỉm, trả lời:

– Không con. Mẹ khoẻ mà… có điều mẹ đang nghĩ về thầy con thôi. Không biết thầy con bây giờ trong đó đang như thể nào?

Nghe thế, tôi đi mở cái tủ gỗ gụ cũ, lục lọi rồi lấy ra tấm ảnh đen trắng chụp chân dung cha tôi đã cũ, ố vàng. Trong ảnh, một người đàn ông mặc bộ đồ trận rằn ri, ánh mắt nghiêm nghị, đứng cạnh lề đường một khu nào đó trong thành phố Sài Gòn của miền Nam. Tấm ảnh này là tấm duy nhất, gia đình nhận được từ cha tôi, khi hai miền Nam-Bắc còn liên lạc được bằng thư từ.

 

Cha tôi, một chiến binh trong lực lượng Dù thuộc quân đội Liên Hiệp Pháp. Những ngày cuối cuộc chiến năm 1954, đơn vị ông được máy bay thả xuống tiếp sức cho căn cứ Điện Biên Phủ đang bị vây hãm để không lâu sau đó, căn cứ nầy lọt vào tay bộ đội Việt Minh. May mắn thoát chết, bị bắt làm tù binh rồi ông được trả tự do và theo đơn vị quay về Hà Nội. Những ngày cuối của Hiệp Định Geneva, ông đã cho người về quê Sơn Tây đón mẹ con tôi lên để cùng ông vào miền Nam nhưng chuyện không thành, ông phải theo đơn vị vô Sai Gòn trước. Thực ra chuyến đi ra Hà Nội khi đó, đoàn người làng có hai mẹ con tôi đã bị cán bộ Việt Minh lừa đưa vào tạm trú trong khu rừng vắng. Khi đoàn người được phép ra khỏi rừng thì thời hạn di cư đã qua, gia đình bị chia cắt từ đó lúc tôi mới được gần một tuổi.

Hai mẹ con quay trở về Hà Nội sống trong gian nhà của ông ngoại tôi. Là dân thành thị, mẹ tôi biết cắt may quần áo rất khéo và nhờ cái khéo tay này mà bà đã nuôi tôi ăn học. Tôi được nghe kể là các cán bộ đã tìm bà để đặt may quần áo cho họ rồi khi các Hợp Tác Xã May Mặc giải thể, bà đã tìm mua sở hữu thực thụ được một máy may cũ và nhờ vậy mà cuộc sống đỡ vất vả so với nhiều người khác. Tuổi ấu thơ của tôi gắn liền với thành phố Hà Nội từ những làn sương mờ buổi ban mai trên mặt Hồ Tây, mùi không khí đường phố quyện với lá cây sau các cơn mưa rào. Những buổi trưa mùa Hè, trốn mẹ đi chơi, tôi cùng chúng bạn đi lang thang vào vườn bách thú, quanh bờ hồ hoặc trèo lên những cây bên vệ đường để tìm bắt các chim non trong tổ. Có khi rình ném đá vào nhà hàng xóm buổi nghỉ trưa để rồi cả bọn ù té chạy khi chủ gia mở cửa ra nhìn. Khi tuổi lớn hơn, tôi mới nhận ra những khác biệt giữa mình và các bạn đồng trang lứa mỗi lần nghe chuyện chiến tranh về miền Nam. Có những buổi sinh hoạt chung mà người phụ trách không cho tôi tham dự. Lúc đó, tôi cũng không hiểu tại sao? Có khi về hỏi mẹ thì bà chỉ nói:        “Thôi con, họ không cho thì về nhà với mẹ”. Rồi những năm chiến tranh lan ra miền Bắc. Máy bay Mỹ ném bom nhiều nơi và ngay ở cả Hà Nội nữa. Những đợt bom chùm tuốt từ trên mây rải xuống đã phá huỷ nhiều khu phố lớn. Cảnh người chết mất xác trong các đống gạch vụn cùng lửa khói cháy nghi ngút khiến ai cũng sợ. Đành phải kéo nhau đi sơ tán về các miền quê cho an toàn. Hai mẹ con tôi về quê nội trong một làng ở tỉnh Sơn Tây cũ. Đây là vùng bán sơn địa có ruộng có vườn cùng các núi đồi rất đẹp. Trong làng có nhiều đứa thiếu niên trạc tuổi tôi và tôi rất muốn làm bạn cùng chơi với chúng nhưng họ không thích tôi ra mặt. Trẻ em đã vậy mà người lớn cũng nói xấu, dèm sau lưng mẹ tôi mỗi khi họ gặp mặt nhau trên đường hoặc trong phiên chợ. Tôi đành kết bạn với mẹ thôi, không ai khác.

 

Đến tuổi trưởng thành, thấy nhiều thanh niên xung phong vào bộ đội, tôi cũng giơ tay xung phong nhưng bị cán bộ trong Ban Tuyển Quân từ chối. Tuổi thanh niên, hình ảnh người lính với cây súng cuốn hút tôi lắm nhưng họ không nhận thì đành chịu. Về kể lại cho mẹ tôi biết, bà chép miệng nói làm sao họ cho con vào bộ đội được rồi trách khẽ: “Có mỗi một mình mẹ mà con định bỏ đi sao!”. Tôi rất chật vật khi xin một việc làm. Đơn gửi tận tay nhiều nơi mà không hề có chút hồi báo làm tôi buồn. Không lẽ thân đã lớn lại cứ để mẹ phải nuôi mình mãi nhưng đi xin việc không ra. Tôi có lúc nhủ thầm chắc số mình đến phải làm ruộng nhưng ruộng, nhà cũng không có. May mắn làm sao, mẹ tôi tình cờ gặp lại một người bạn học cũ với bà năm xưa khi còn trẻ. Người này nay là một cán bộ cao cấp và nhờ sự giúp đỡ của ông ta, tôi đã vào làm việc trong nhà máy Hoá Chất Việt Trì. Rồi cũng nhờ ông ta giúp mà tôi mới được công đoàn nhà máy phân cho một phòng nhỏ trong khu tập thể. Tôi đưa mẹ lên đó cùng sống chung.

Hai tháng sau cái ngày chiến thắng, mẹ tôi về lại Hà Nội để dò hỏi tung tích cha tôi. Trong họ hàng bên nội, có người vào miền Nam công tác và qua đó đã tìm được các thân nhân theo các địa chỉ cũ năm xưa. Khi quay trở lại miền Bắc, người bà con này gặp bà và cho biết các tin tức về cha tôi. Theo đó, ông là một sĩ quan quân đội cao cấp của chính quyền miền Nam và đã phải bị học tập cải tạo. Thêm một tin nữa, ông đã lập gia đình khác và có được hai người con gái. Quay về nhà mẹ tôi cho biết tin và khi kể chuyện, không hiểu vì nghĩ đến việc học tập cải tạo rồi liên tưởng những cảnh tù tội của cha tôi năm xưa lúc bị bắt làm tù binh hay vì cám cảnh thân phận mà mẹ tôi khóc rất nhiều.

 

Tôi dỗ mẹ đừng khóc nhưng rồi tôi cũng khóc theo mẹ.

Mẹ tôi rất muốn đi vào miền Nam ngay để biết thêm các tin tức về thầy tôi nhưng khi đó giao thông hai miền còn khó khăn lắm, vẫn còn hạn chế chỉ ưu tiên cho những cán bộ đi công tác. Đường xuyên Việt nhiều nơi phải sửa chữa và đường sắt nhiều vùng đã mất hẳn từ lâu. Chiến tranh bao năm trời đâu phải một sớm một chiều thông đường ngay được. Cơn háo hức vào miền Nam để tìm gặp cha tôi cùng gia đình riêng của ông cũng dần nguôi ngoai trong lòng mẹ tôi. Tôi vẫn tiếp tục đi làm, cũng không hề nghĩ là có ngày mình đặt chân vào miền Nam và thành phố Sài gòn. Nhà máy Hoá Chất Việt Trì tổ chức một cuộc họp lớn có sự tham dự của cán bộ Tổng Cục Hóa Chất từ trung ương về chủ trì. Theo đó, nhà nước cần khá đông cán bộ và công nhân viên trong ngành xung phong vào tiếp quản các nhà máy hóa chất trong miền Nam. Tin về một xã hội miền Nam đói nghèo, lạc hậu do chính miệng những bộ đội miền Bắc từ chiến trường miền Nam trở về kể lại trong các tháng trước đã làm con số người xung phong chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ai cũng sợ khổ, sợ phải xa gia đình để đến công tác trong vùng đất đói nghèo đến nỗi cả bát ăn cơm cũng không có. Kết quả, công đoàn nhà máy phải họp và xét hoàn cảnh từng người một để chỉ định bắt buộc. Tên tôi đã được họ chọn, đành phải chuẩn bị hành lý để theo đoàn vào Nam dù tôi không muốn.

Đường sắt vẫn chưa sửa xong, chúng tôi 18 người ngồi nằm chung với hành lý trong chiếc xe tải Molotova cũ kỹ của đoàn xe vào miền Nam. Trên xe tuy mệt nhưng có cái thú ngồi ngắm cảnh hai bên dọc đường. Chúng tôi qua nhiều vùng, địa danh trước giờ chỉ nghe tên trên báo. Hố bom, cầu sập, đường bị bóc từng tảng nhựa, các khu dân cư, chợ… xuất hiện đây đó dọc theo các đoạn đường xe qua. Ở các vùng xa thủ đô, người dân lam lũ, nghèo khổ, thiếu thốn lộ rõ trên ánh mắt, quần áo và khung cảnh sống. Miền Bắc quê hương xã hội chủ nghĩa còn như vậy thì miền Nam chắc chắn phải nghèo, thiếu thốn ghê gớm. Tất cả cũng do chiến tranh, do đế quốc Mỹ reo rắc mà ra…, người đi chung trên xe kết luận.

 

Xe vừa vào địa giới miền Nam, chúng tôi đã bấm tay nhau nhìn khung cảnh mới. Nhà cửa người dân cùng các công trình đô thị như cầu, đường gần các trục lộ giao thông trông đẹp và văn minh hơn hẳn miền Bắc. Đi rồi nghỉ ngơi rồi đi tiếp cho đến khi đoàn xe đến được khu công nghiệp Biên Hoà. Có quá nhiều nhà máy tại đây. Đoàn 18 người chúng tôi nhìn ngang nhìn dọc từng dãy nhà máy trong khu vực này và tuy không ai nói với ai nhưng đều trầm trồ trước công nghiệp miền Nam. Rồi chúng tôi được phân công vào công tác trong một nhà máy có cái tên VICACO. Một nhà máy sản xuất chất Sút (NaOH) từ muối biển và cả Acid Chlohidric (HCL) nữa. Một nhà máy bề ngòai trông rất nhỏ mà không ngờ bên trong lại lắp đặt các máy móc tối tân, sản xuất được các hóa chất với sản lượng, hàm lượng rất cao gấp nhiều lần so với công nghệ tại miền Bắc. Chúng tôi ngạc nhiên và ngầm thán phục trong bụng. Nhìn những công nhân miền Nam đang làm việc tại đây rồi sau đó làm việc chung với họ, tôi mới thấy người dân miền Nam khác xa người dân miền Bắc. Kiến thức chuyên môn và xã hội của họ hơn hẳn chúng tôi. Kỹ sư hơn hẳn kỹ sư ở miền Bắc và công nhân cũng vậy. Một sự rụt rè, cẩn thận tự nhiên nẩy sinh trong đoàn tiếp quản chúng tôi. Ai cũng sợ người trong nhà máy tại miền Nam này biết trình độ thực sự của cả đám chúng tôi. Sợ họ cười, nỗi lo chính trong lòng vì dầu gì mình cũng thuộc phía chiến thắng. Về nằm nghỉ trong căn phòng mà được biết trước đây là các phòng dành cho công nhân ngủ qua đêm nếu phải ở lại tăng ca, tôi suy nghĩ xã hội miền Nam không hề lạc hậu về công nghệ về con người… như lời nói trước giờ vẫn được nghe. Ngay cả trong buổi họp khi chọn người xung phong vào tiếp quản, cán bộ ngành từ trung ương cũng đã nói như vậy khi động viên cán bộ công nhân viên. Những dãy nhà nghỉ đầy đủ tiện nghi từ các trang bị như bàn ghế, giường ngủ, quạt trần, phòng vệ sinh, đèn chiếu… Ở đây, trong khu vực khép kín của khu công nghệ còn được như vậy thì trong thành phố Sài gòn chắc chắn phải rất đẹp. Tôi cũng chưa nghĩ sẽ ra sao khi tìm gặp được hai cô em gái tôi.

 

Rồi một ngày tôi theo đoàn vào làm các thủ tục công tác trong một toà nhà Tổng Cục Hoá Chất vừa tiếp quản nay trở thành trụ sở của Công Ty Hóa Chất Cơ Bản miền Nam nằm gần chợ Bến Thành. Lần đầu tiên trong đời tôi biết đến thang máy khi lên một phòng tuốt trên tầng thượng. Sau khi làm xong các giấy tờ và thụ tục, chúng tôi được thoải mái đi thăm phố xá. Ngay từ lúc còn ngồi trên xe buýt nhìn cảnh vật dọc theo đường và khu phố dẫn vào Sài gòn tôi đã thấy vượt trội nhiều lần so với thủ đô Hà Nội. Một vẻ bề ngoài sáng sủa, văn minh lộ ra từ cách phục sức, sinh hoạt của người dân miền Nam. Giờ đây đi bộ trên các con đường trong khu trung tâm thành phố mới thấy bản thân tôi, một người dân miền Bắc quá sức lạc hậu, nghèo nàn… từ bộ cánh (quần áo) trên người. Tôi rõ ràng xa lạ với các tiện nghi đang được người dân trong thành phố này sử dụng. Bên vệ đường và trong các cửa hiệu sang trọng đầy ắp hàng hoá thật đẹp và mới lạ lần đầu chúng tôi được thấy. Có tiền cứ việc vào mua thoải mái khác hẳn với cảnh chen chúc để chờ được tới lượt mua số hàng ít ỏi như cảnh thường thấy ở các khu phố ngoài miền Bắc. Phố xá thì thôi, những tòa nhà to đẹp thấp thoáng sau dòng xe gắn máy chạy hối hả trên đường. Khung cảnh y như ở nước ngoài, một người trong đoàn chúng tôi nói nhỏ cho nhau cùng nghe. Tôi bối rối ngắm nhìn các cô gái miền Nam nói chính xác là cô gái Sài gòn đang dạo bước trên đường. Họ đẹp quá sức, như tiên… từ dáng điệu, mái tóc, y phục mặc trên người và nhất là khuôn mặt của họ lộ rõ vẻ sung túc đài các so với những nữ cán bộ trẻ trong đoàn chúng tôi. Tôi mỉm cười, nghĩ thầm hai cô em gái tôi trong này cũng vậy. Tôi âm thầm tách ra khỏi đoàn để tự mình đi theo ý muốn. Tôi đi rảo qua nhiều con phố Sài Gòn rồi thấy mỏi chân, tôi lấy can đảm bước vào một hàng nước thật đẹp gần một giao lộ lớn, có tên là Cafe Minirex. Chọn một bàn sát khung cửa kính trong suốt có thể nhìn rõ người đi bên ngoài, tôi quan sát chung quanh. Bàn ghế, các bình hoa, quầy thu ngân, khách cùng vách tường trang trí cảnh một rừng cây thật đẹp… thật không khác một tiệm ở nước ngoài trong phim ảnh. Chợt một người hầu bàn bước đến, gật đầu chào tôi rồi hỏi:

– Thưa ông, ông dùng chi?

Trời ơi! Người hầu bàn này quá lịch sự khi tiếp xúc với khách hàng thật khác hẳn với cung cách của mậu dịch viên trong các tiệm ăn ngoài miền Bắc. Tôi lại nghĩ, hay ông ta biết tôi là cán bộ chế độ mới qua quần áo mặc trên người nên xưng hô như vậy? Tôi gọi nước uống và ngầm để ý xem sao. Nhưng không, bất cứ có khách nào vào quán, người hầu bàn này cũng một cách tiếp đón như vậy. Rất tự nhiên, lịch sự mà không khúm núm hoặc hách dịch.

 

Một thay đổi đã đến trong lòng tôi mà tôi biết điều này cũng sẽ đến với bất kỳ người nào từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa khi đặt chân vào miền Nam ở thời kỳ đó. Sài Gòn hay nói rộng ra cả miền Nam không phải là một xã hội lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy cảnh người bóc lột người như bao lâu nay người dân miền Bắc được (hay bị) báo chí, đài phát thanh Hà Nội… mô tả về con người và xã hội của chế độ Ngụy quyền tay sai đế quốc Mỹ. Đây là mô hình của một xã hội văn minh và người nào được sống trong xã hội này quả thật may mắn hơn sống ở xã hội xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc.

 

Tiếc thay! Một xã hội như vậy lại vừa bị cướp mất đi.
Phạm Thắng Vũ

Phạm Thắng Vũ
Theo: Diễn Đàn Net




Tô Hải : MỘT LINH HỒN CHẾT

 

MỘT “LINH HỒN CHẾT” XIN LÊN TIẾNG !”

Vâng! Tôi, một “linh hồn chết” đã bỏ cái thân xác của “Hắn” ra đi từ những ngày “Cách mạng long trời lở đất”, mặc xác “Hắn” sống trong lo âu, sợ hãi.Mặc xác  “Hắn” lo cho vợ con “Hắn” không có bát cơm ăn, ” Hắn” sợ vì tính mạng “Hắn” chẳng biết lúc nào sẽ vào tù, đi cải tạo hoặc bị sát hại. ” Hắn” sống trong khắc khoải ,lo âu, sống giả vờ để làm tròn trách nhiệm của một đảng viên, của một cán bộ, của một cây kèn chuyên cất lên những giai điệu hào hùng,, thúc giục mọi người tiến lên đánh thắng mọi kẻ thù giai cấp một cách bất đắc dĩ.! Tôi ghét “Hắn”! nên.. kệ thây “Hắn” …Nhưng dù sao vì “tình nghĩa thể xác- linh hồn” thỉnh thoảng tôi cũng trở về nhập vào “Hắn” để xem “Hắn” suy nghĩ gì. Thì ra, “Hắn” vẫn còn dấu vết của linh hồn là tôi. Đặc biệt sau gần 40 năm tôi bỏ “Hắn” ra đi, “Hắn” đã có những hành động và việc làm đáng cho tôi phải nhập hồn giúp “Hắn” khỏi những “cơn đau thế kỉ”….

Kể từ khi “Hắn” đã xa rời mọi trách nhiệm, mọi toan tính cuộc đời để về ở ẩn tại một nơi xa vắng thì đầu óc của hắn  đã làm tôi muốn nhập hẳn về lại xác thịt Hắn. Và tôi đã làm đúng cái cương vị của một linh hồn, tuy chết rồi nhưng nay sống lại để nâng hắn đứng dậy, truyền thêm sức mạnh cho cái thể xác đã tàn úa, hom hem, tồn tại đúng như một cái xác không hồn suốt hơn 40 năm qua….

Mấy hôm nay, “Hắn” cặm cụi xem ti vi, đọc báo, lên mạng rồi băn khoăn chẳng biết nói gì trước những ý kiến của những lão thành cách mạng hơn “Hắn” cả về thành tích vào tù ra tội, xung phong nơi chiến địa ngoài Bắc, trong Nam, bên Lào, bên Căm,quyết tâm chống trả máu xương vì bài học của Đặng Tiểu Bình nơi biên cương Tổ Quốc…….”Hắn” đọc những trang lí luận dài dòng,Hắn” phân tích những tài liệu của các ông mà “Hắn” phục lăn như Đặng Quốc Bảo, Trần Độ… “Hắn”  gõ keyboard để xem lại các tài liệu từ Đông sang Tây, từ cổ chí Kim để ấp ủ một văn kiện gì đó mà “Hắn” sẽ công bố thật hoành tráng chăng? Tôi thấy thương “Hắn” quá, chỉ còn 5 ngày nữa là “Hắn” chính thức bước sang tuổi 84. Vậy mà “Hắn” vẫn ăn không ngon, ngủ không yên với những công việc mà chẳng ai cần hắn dính tới. Do đó, tôi- linh hồn chết của “Hắn” sống lại xin thay mặt “Hắn” làm cái việc mà tôi nắm được (vì tôi là linh hồn của “Hắn” mà) cái việc mà hắn vẫn luôn ngập ngừng khi phải gọi đúng chữ đúng nghĩa khi cần góp ý phản biện hoặc xây dựng một vấn đề gì liên quan tới vận mệnh của đất nước.

Vậy thì, tôi, là linh hồn của Hắn  ,cao hơn thể xác Hắn một cái đầu , nhân dịp này thay mặt Hắn phát biểu một ý kiến duy nhất mà nếu :hơn 3.000.0000 đảng viên đảng công sản VN kể cảcác vị lãnh đạo ,chịu lắng nghe và chịu thực hiện thì mọi vấn đề băn khoăn  của “Hắn” và hàng ngàn sĩ phu đất Việt khỏi tốn công lí luận dài dòng ! Đó là:

GIẢI TÁN NGAY CÁI ĐẢNG CỘNG SẢN ĐI

-Thực tế cái chủ nghĩa cộng sản do 2 ông Mác , Lê  nguỵ tạo ra một cách điên khùng đã làm đảo lộn thế giới loài người gần 1 thế kỉ qua ,làm chết cả trăm triệu con người nhân danh đấu tranh giai cấp…. Chẳng lẽ các ông không biết ?

-,Thực tế cái chủ nghĩa cộng sản bị toàn thế giới loài người lên án. Sang Tây, sang Mĩ, ở đâu cũng thấy những  đài tưởng niệm ,những nạn nhân và lên án những kẻ giết người .Gần đây nhất là sự thú nhận tội lỗi của ông cha mình gây ra vụ thảm sát hơn 20. 000 sĩ quan Ba Lan tại rừng Katyn bởi chính tổng thống Medvedev nước Nga đến dự lễ tưởng niệm phải liều mạng vượt dưới làn bụi tro khiến mọi vận chuyển hàng không phải đình chỉ…Chẳng lẽ các ông cũng không biết ?

– Thực tế là chủ nghĩa cộng sản đã xụp đổ ở những nước “thành trì cách mạng vô sản” và những  tượng đài cuối cùng  của 2 anh Mác ,Lê đã bị đập tan và vất vô bãi  rác ngay đúng giữa ngày ông Nguyễn Minh Triết có mặt tại Nga kỉ niệm ngày chiến thắng Phát Xít Đức Chẳng lẽ các ông  cũng không không biết ?

-Thực tế là ngay cái “chủ nghĩa xã hội” phát minh “ảo” của chủ nghĩa cộng sản làm người đời lầm tưởng với chủ nghĩa xã hội dân chủ hay chủ nghĩa quốc gia dân chủ (quốc xã của Hitler),nên  trên thế giới ngày nay,ngay đất nước anh “Kim điên” hay anh “Phi đen xồm”, anh Săm-béc Hun-sen, anh Cù Mông chi chít gì đó bên nước Lào,đặc biệt bên nước đàn anh “láng giềng 4 tốt”, cũng chẳng ai dám lấy nó để đặt tên nước .Vậy mà giữa lúc bị tứ bề bao vây,cấm vận,giữa lúc toàn dân ăn bo bo, cái tên Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được chiềng làng một cách liều lĩnh,vô duyên! Ai quyết định? Vì sao phải thay đổi tên Đảng ,tên Nước ? Chẳng lẽ các ông không biết nốt ?

–  Thực tế là trên các văn kiện Đảng của nước bạn “16 chữ vàng”, họ đã chối bỏ chủ nghĩa Mác Lê nin thậm chí gần đây lên án nó, loại bỏ hình ảnh 2 ông Tây điên này cùng chủ tịch Mao của họ ra khỏi hội trường các đại hội Đảng gọi là cộng sản Trung Hoa của họ  Chẳng lẽ các ông cũng không  biết ?

–  Hồ Cẩm Đào nói những gì về việc “thay đổi cơ chế chính trị sớm nếu không muốn thành quả về kinh tế sẽ bị xụp đổ “trong chuyến viếng thăm Thâm Quyến vừa qua,… Tướng Lưu Á Châu , con rể Lý Tiên Niệm ,trong một tài liệu cực dài hi hữu được phổ biến công khai bên Tầu ,phủ nhận tất cả những thành quả thậm chí đạo đức tư cách của người Trung Hoa cộng sản và khẳng định con đường duy nhất tốt đẹp là đi…. theo con đường của Mỹ!. 16.000 ý kiến phản đối chế độ chính trị phản dân chủ ,sau khi có đường liên hệ bằng web thẳng từ 20 triệu công dân mạng tới Hồ Cẩm Đào Chẳng lẽ các ông không biết ?

– Anh em nhà Castro vừa giờ nói gì, làm gì ở bên kia bán cầu giữa lúc ông Nguyễn Phú Trọng đang có mặt tại Cuba chứng kiến việc mời gần 1.000.000 công chức nhà nước nghỉ việc ,ra khỏi biên chế ăn lương nhà nước mà buôn bán, kiếm sống bằng ….kinh tế thị trường đến nỗi cuộc gặp của ông Trọng và Fidel chẳng được chụp ảnh,quay phim ,và báo chí lề phải thì…im thin thít… Chẳng lẽ ông Trọng và tất cả các ông cũng không biết ?

Còn ở trong nước:

+ Cộng sản gì mà lại có hàng tỉ đô la, có hàng vạn công nhân ,có máy bay riêng, có du thuyền riêng, có thể tung ra hàng tỉ đồng để mua vui khen thưởng trong một kì thi hoa hậu, một trận bóng đá! Đây là chủ nghĩa cộng sản kiểu gi? Chẳng lẽ các ông không biết?

+ Chủ nghĩa cộng sản gì mà ruộng đất của nông dân trở thành của các tập đoàn tư nhân nước ngoài , nhà cửa đất đai của cá nhân kể cả các cựu chiến binh, của các bà mẹ anh hùng đều bị dỡ bỏ để cho họ hàng anh em các vị lãnh đạo thực hiện “dự án”, xây nơi ăn chơi nghỉ dưỡng , sân golf…Uất ức đi khiếu kiện hăng quá có khi vào tù ! Chẳng lẽ các ông cũng không biết ?

+ Giai cấp “công nhân tiền phong”  của quý vị được trả mỗi tháng mấy đồng lương và đồng lương đó có thể nào giúp họ kiếm được một miếng thịt ăn mỗi tuần, may được cái áo mỗi tháng, nuôi được đứa con mấy năm Chẳng lẽ các ông không biết ?

+ , Một ông giáo sư,một bác sỹ mới ra trường quý vị trả cho họ bao nhiêu đồng để đến nỗi họ phải làm thêm, mở phòng mạch thêm, dạy thêm … và cả ăn cắp thuốc, khai man bệnh nhân . Tại sao? Chẳng lẽ các ông không biết ?

+  Những cán bộ có quyền cao chức trọng, đặc biệt quyền kí cho ngân sách chi tiêu bạt mạng, cho vợ  con, anh em họ hàng nắm những “quả đấm thép kinh tế nhà nước”như Vinashin ,như các Ngân Hàng,các thị trường chứng khoán,các Tập Đoàn Dầu Khí,Than,Khoáng Sản, điện Lực …Họ là những ai! Làm và phá như thế nào? Chẳng lẽ các ông không biết ?

+ Những vụ quan tham làm vua ở mọi “sứ quân”, thậm chí chủ tịch xã com lê cà vạt đi thăm đồng nay cũng cưỡi cả xe Lexus, cũng chơi gái tập thể, cũng vẫn thao thao giảng dạy đạo đức tư cách Hồ Chí Minh. Hàng ngàn tiến sĩ giáo sư chẳng một ngày đi học ,đi dạy, chẳng bao giờ có đề án nghiên cứu hay công trình khoa học nhưng vấn được cấp văn bằng thật, được giới thiệu om sòm trên báo trên đài với những cái tên lạ hoắc, mặt mũi ngớ ngẩn, ăn nói lắp bắp, “L” thành “N”. Ở đâu ra? Chẳng lẽ các ông không biết?

+ Văn học nghệ thuật lai căng, đồi truỵ, phụ thuộc nước ngoài thậm chí “bán nước về văn hoá” như phim “Lí Công Uẩn…. đường về Bắc Kinh”. Giới khoa học ,lịch sử ,văn nghệ sĩ đang vạch trần cái mưu đồ Hán Hoá văn hoá Việt này thì ở bên nước “bạn” người ta cũng cho công bố những văn bản “Chiếu dời đô” bằng chữ  Hán và tuyên bố ngay trên báo chí là “Lý Công Uẩn chính là người Tàu” cho nên vở “kịch phim sân khấu” nói trên là một sự hợp tác ngay từ đầu để khẳng định một lần nữa là “người Việt Nam là dân Bách Việt của người Tàu,(!?) đất, biển Việt Nam chính là đất biển của người Tàu, nền văn hoá Việt Nam chính là văn hoá của người Tàu” Chẳng lẽ các ông không biết?

Chỉ kể qua mấy thực tế trong vài ba nước còn sót lại do chủ nghĩa cộng sản đẻ ra đang “chuyển hoá” về ý thức hệ cũng như về kinh tế xã hội.

Chỉ nói đến thực tế của xã hội Việt Nam, từ khi ông Đỗ Mười chúc mừng”toàn dân làm giàu” bắt chước  lời tuyên ngôn bất hủ của một Đảng viên cộng sản Trung Quốc (bốn lần bị khai trừ Đảng) nhưng khi nắm được chính quyền rồi  thì mới mạnh miệng : “Mèo trắng hay mèo đen đều tốt, miễn là bắt được chuột” rồi sang Mỹ đội mũ cao bồi, cưỡi ngựa sánh vai cùng tổng thống Hoa Kỳ thì mọi lý thuyết của cái chủ nghĩa cộng sản phản khoa học đã bị chính những người cộng sản chính thức gạt bỏ.

Cho nên, là một “linh hồn chết” nhưng tôi đã sống lại và “nhập” vào thân xác”Hắn” để nói lên hộ hắn những điều này:

– Chủ nghĩa cộng sản với cái Đảng của nó chưa hề và không thể có ở xã hội Việt Nam

–  Nó chỉ ra mặt chính danh bởi những vị lãnh tụ kiêu binh sau khi người Mĩ rút lui và  Việt Nam cộng hoà xụp đổ tưởng chừng “một nước nhỏ mà đánh thắng hai Đế Quốc to” thì làm gì cũng được, cái tên nước CHXHCN Việt Nam và đảng cộng sản Việt Nam mới vênh vang thay thế VNDCCH và Đảng lao động.

– Với sự thay đổi bốc nhằng này, các vị lãnh đạo cao nhất ,nhưng quá trẻ để  chẳng dám làm điều gì ngược ý tiền nhân đành cứ “anh đã phóng lao thì em phải theo lao”. Đành bày ra những Viện nọ Ban kia , cố gắng xây nên một nền lí luận tả pí lù vẫn theo chủ nghĩa cộng sản nhưng đổi mới bằng mảng kinh tế thị trường nghĩa là vẫn có tư bản bóc lột.. Vẫn đề cao ông Mác ông Lê nhưng vẫn bắt tay hợp tác những người đã vứt ông Lê ông Mác vào sọt rác.

Quý vị đều biết những gì mà chúng tôi biết ,và chúng tôi cũng biết quý vị biết chúng tôi biết những cái gì ! Chứ chẳng ai không biết những gì mà quí vị cũng như triệu triệu người khác biết mà không tiện nói ra đâu. Vậy mà quý vị cứ lúng ta lúng túng mãi trong những rừng rậm rịt chữ nghĩa của hết văn kiện này đến văn kiện khác mà nội dung cốt làm người đọc bị gỡ không ra trong cái mớ bòng bong chữ nghĩa để rồi chẳng hiểu nó nói cái gì vì toàn những con số , những phần trăm, những phương hướng , những dự án,những kế hoạch ,những tầm nhìn do những tiến sĩ không phải văn chương mà là tiến sĩ chính trị Mác Lê nin ảo soạn thảo cốt để làm nản lòng người đọc càng nhiều càng tốt.

Có một cái điều mà nhân dân mong đợi kể cả đảng viên mong đợi nhất đó là tuyên bố( hoặc không tuyên bố cũng được) : xoá bỏ chủ nghĩa mác Lê Nin, bỏ tên Đảng cộng sản mà ai cũng muốn cũng biết thì lần này lại… Không !Không !và Không!.

Cái gì đã làm cho quý vị không dám nói , không dám hành động như một Gorbachev,một Eltsine? Phải chăng là do quyền lợi, ngôi vị? Phải chăng vì chẳng ai tin ai  sợ…. Tổng cục 2  ,hay sợ một thế lực nào?

Riêng tôi ,thì tôi nghĩ, khi có một nhóm lãnh đạo cao nhất can đảm đứng lên như Khrút xốp vạch trần trội ác của Stalin tại đại hội Đảng cộng sản Liên Xô lần thứ 20 thì những người đó sẽ được toàn thể đảng viên cũng như nhân dân tung hô nhiệt liệt vì chính từ những ngòi nổ đó sẽ tạo thành cả chuỗi nổ tiếp theo, giải quyết mọi vấn đề mà các nước Nga,Đức, Tiệp, Hung đã “diễn biến hoà  bình” ,đã tự hoàn chỉnh để đi lên độc lập thật sự, hạnh phúc thật sự và giàu mạnh thật sự.

Vạn chuyện trên đời sẽ tiến lên hay thụt lùi cũng nhờ vào sự “mở miệng” của các ông Đảng viên cộng sản đó!. Có đi trước thì làng nước mới theo sau. Và lần này điều kiện để theo sau đang có đầy đủ không đến nỗi bị đơn độc, bị trừng trị, trấn áp như thời các ông Đặng Quốc Bảo, Trần Xuân Bách, Trần Độ, Quế Dương, Vũ Cao Quận, Hoàng Minh Chính… nữa  đâu. Mấy lời gọn gàng khó nghe nhưng dễ hiểu, nhân danh linh hồn chết của “Hắn”gửi tới các vị .

Xin vái các ông mớ bái, mong các ông ghi vào văn kiện: Giã từ chủ nghĩa Mác Lê Nin, vĩnh biệt chủ nghĩa cộng sản cho toàn dân nhờ!

Sài Gòn 16-9-2010

Tô Hải




Mũ Xanh Nguyễn Văn Phán : Huế, Mậu Thân và Tôi

 

Huế, Mậu Thân và Tôi

Mũ Xanh Nguyễn Văn Phán

Từ Cai Lậy về thủ đô, nhập ngay vào đánh giải tỏa trại Cổ Loa của Thiết Giáp và Xóm Mới Gia Ðịnh xong xuôi, Quái Ðiểu Tiểu Ðoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến về nằm dọc theo đường Ngô Tùng Châu. Mười hai giờ họp Tiểu Ðoàn, hai giờ sáng có mặt tại Tân Sơn Nhất, bốn giờ sáng lên máy bay đi, đi đâu không biết. Lương khô và tái trang bị không lãnh kịp. Cứ lên phi cơ rồi hay. Ðó đây những loạt pháo kích, những loạt đại liên rời rạc, những đốm hỏa châu lủng lẳng trên bầu trời. Tôi để lại Sàigòn mang nặng bộ mặt chiến tranh. Những chiếc phi cơ C.130 khổng lồ nuốt trọn tám trăm Quái Ðiểu và đưa chúng tôi lên cao trong đêm tối mịt mùng.

– Ði đâu vậy?

– Nha Trang, tao nghe Nha Trang đang có đánh nặng.

Lượm Ðại đội trưởng Ðại đội 2, dân Ðà Lạt, cãi:

– Ðà Lạt.

Phán Phu Nhân nói:

– Ði đâu cũng được, đổi vùng là khoái rồi.

(Khi vào Quân trường, Phán trình diện: Tui chánh quán làng Phú Nhơn, ở gần Hồ Tịnh Tâm, quận Thành Nội, Huế. Thế là sau đấy, giữa lửa đạn và thịt đổ xương rơi, và qua tiếng thét trong máy truyền tin, cái tên ngụy trang “Phu Nhân” ra đời, nghe thật lạ tai).

– Máy bay chi bay mãi ri bây?

Thời tiết thật xấu, và rồi bánh xe phi cơ cũng chạm đất, những cặp mắt đổ dồn ra khung cửa sổ phi cơ. Phú Bài ! Cơn gió cắt da, bãi cát trắng trải dài, mưa nặng hột. Thiếu áo lạnh, tất cả đều quấn Poncho đứng ngoài nhìn đoàn người gánh gồng xuôi ngược, hấp tấp và lo sợ, một số về Truồi, một số lên Gia Lê, An Cựu.

Phú Bài đó, Tịnh Tâm đó, Cầu Kho đó, Mạ, dì, chị và em mình đó mà không liên lạc được. Tình hình không biết làm sao, ruột như lửa đốt. Trách nhiệm nặng nề, tôi nằm trằn trọc suy nghĩ thật nhiều để chờ sáng mai. Kỷ niệm thời đi học kéo về trong trí tôi, đẹp quá, nhẹ nhàng quá, vụng dại quá.

Mười giờ sáng đoàn quân xa GMC đưa chúng tôi về Huế. Qua Gia Lê, đồng bào hổn loạn, nét lo âu hiện rõ trên mặt. Tới An Cựu, dân chúng thưa thớt, nhà hai bên đường đóng kín cửa. Dọc quốc lộ 1 từ Huế về Phú Bài,binh sĩ Nhảy Dù từng toàn dìu nhau âm thầm đếm bước. Những cái nhìn như nhắn gửi, như lo sợ giùm cho chúng tôi. Mạnh, Ðại úy Nhảy Dù, cùng khóa cho tôi biết:

– Huế tang thương và điêu tàn lắm Phán ơi. Thừa (cùng khóa) chết, Phạm Như Ðà Lạt bị thương…..

Mạnh khắp người băng bó đang được hai đệ tử dìu đi bộ về phi trường Phú Bài. Mạnh tiếp:

– Phán, mày cẩn thận. Không yểm trợ, không thực phẩm, không tiếp liệu, thời tiết quá xấu. Tụi nó chiếm hết Thành phố, Ðại Nội, Gia Hội. Tụi nó chốt rất kỹ, chỉ còn lõm nhỏ ở Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 tại Mang Cá.

Sau nầy được nghe nói: Vì nghe tin Tướng Trưởng kẹt nặng nên Ðại Bàng Lê Quang Lưỡng Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn Nhảy Dù đã xua quân đi bộ từ cây số 17 về Huế để cứu Tướng Trưởng. Tôi xin Tướng Lưỡng cho tôi được nghiêm mình chào một cách đầy kính phục cho cái tình nghĩa huynh đệ không bút mực nào tả nổi. Ðể đáp trọn tình nghĩa, Lữ Ðoàn của Ðại Bàng Lưỡng cũng hao hụt nặng nề.

Ðoàn xe dừng lại bên hông Ðại học Văn Khoa, cách con đường là trường Kiểu mẫu mới xây, đối diện là Ðài Phát Thanh Huế. Và trước mặt là cầu Trường Tiền, chiếc cầu tượng trưng cho xứ Huế, chiếc cầu đã hàng ngàn, hàng vạn lần qua lại, đầy ấp kỹ niệm.

Nhìn qua chợ Ðông Ba và phố Trần Hưng Ðạo mà lòng quặn thắt. Một mái chợ đã sập. Những cột khói ngút trời cách khoảng. Từ đầu đường đến cuối đường Trần Hưng Ðạo không một bóng người. Nhìn bên phải là cầu Gia Hội vắng tanh. Những cột khói khác vươn lên…. Cả thành phố đã chết, Huế tôi tang thương đến thế sao ! Một nhịp cầu đã sập, tôi nghĩ vành khăn tang đã cuốn lấy Huế.

Xuống tàu tại chân cầu Trường tiền, xuôi giòng Hương xanh biếc ngang Gia Hội, quẹo trái sang Hàng Bè. Cầu Ðông Ba đó, có tiệm La Ngu chúng tôi thường mua dụng cụ học trò. Tiếp tục xuống tiệm gạo Mụ Ðội, có người con gái đẹp não nùng tên Xuân mà con trai Huế lứa tuổi tôi đều hơn một lần đi quá đó để nhìn người con gái trời cho đẹp. Qua trường Bình Minh, nơi tôi học năm đệ tam, nhiều kỷ niệm đẹp. Ðến Bao Vinh, dân chúng nhốn nháo khi thấy một đơn vị lớn đang đổ bộ tại bến đò.

Tôi hướng dẫn đơn vi vào Mang Cá nhỏ để tới bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Ðịch chào đón bằng hàng loạt hỏa tiển 107 và 122 ly. Tất cả nằm sát bờ tường để tránh pháo và tìm chỗ phòng thủ. Tôi cho lệnh Sự, Trung úy Ðại đội phó kiểm soát con cái và chuẩn bị cơm chiều. Trung úy Sự là sĩ quan trẻ, có tài và đầy nhiệt huyết, xuất thân khóa 19 Vỏ Bị Ðà Lạt, thủ môn hội tuyển túc cầu Nha Trang, đúng là đa năng, đa hiệu. Tôi dự buổi họp Tiểu Ðoàn khẩn cấp và quan trọng. Tiểu Ðoàn trưởng ra lệnh:

“Phu Nhân hiểu rành địa thế dẫn đầu, Tám giờ sáng xuất phát. Kế tiếp là Tôn, Ðại đội 1, Lượm Ðại đội 2. Tiếp theo BCH Tiểu Ðoàn cùng Ðại đội Chỉ huy, sau cùng là Tổng đài 4. Mục tiêu Phu Nhân phải chiếm là Trường tiểu học Trần Cao Vân. Trước Trường có đơn vị Quân Cụ, Vào khoảng một Ðại đội bạn đóng ở đó không biết còn hay mất”.

Phán hỏi:

“Còn Phi trường Thành Nội thì sao? Tình hình trong Ðại Nội, Thiếu tá có nắm vững không?”.

“Không rõ, tụi nó chiếm hết, chốt rất kỹ. Tất cả các cửa Thành Nội tụi nó đều kiền và chốt rất chặt. Cửa Hữu, cửa Chánh Tây, cửa Sập, cửa An Hòa, cửa Ðông Ba, Kỳ Ðài Phú Vân Lâu…..tụi nó đều chiếm hết”.

Trong óc tôi, một bản đồ chi tiết hiện ra rất rõ cho một cuộc hành quân mà tình hình tôi nắm không được vững. Tôi cố tìm một con đường ngắn và an toàn cho đơn vị để tới mục tiêu. Có rất nhiều đường đưa tới Trường Trần Cao Vân, nơi từ 9 đến 19 tuổi tôi đã bao nhiêu lần đi lại. Con đường nào cũng đầy hoa và mộng. Nay tôi đang tìm một con đường không có nhiều máu để cho anh em chúng tôi đi.

Tám giờ sáng , tất cả đã gọn gàng, sẵn sàng di chuyển. Ba trăm thước từ Mang Cá đến nhà tôi sao quá dài. Bồn chồn, nóng ruột vì nơi đó Mạ tôi, dì tôi, chị tôi và em trai út của tôi đang trông ngóng. Không biết có bị gì không? Thiếu úy Duật, Trung đội trưởng Trung đội 2 dẫn đầu. Duật xuất thân khóa 21 Võ bị Ðà Lạt, hăng say, gan, thích sóc đĩa và gái đẹp, uống rượu rất ít, chỉ phá mồi. Phán và Bộ Chỉ Huy kế tiếp. Thiếu úy Nghênh xuất thân từ “Commando du Nord”, nhiều kinh nghiệm, gan lỳ, thích đánh phé nhưng đánh nhỏ, rượu rất ít và không thích gái. Kế đến Thượng sĩ Mã Khên, Trung đội trưởng Trung đội 3, xuất thân Commando trong Nam, rất gan lỳ, ít nói, mê rượu, không mê gái. Sau cùng là Thượng sĩ nhất Hải, Trung đội trưởng Trung đội súng nặng, Hải xuất thân Commando du Nord, người Nùng, lỳ lợm già dặn chiến trường, không rượu, không gái và không thuốc lá.

Hai bên đường dân chúng đứng chen chúc, vẻ mặt hớn hở thật tội nghiệp cho họ. Lần lần những khuôn mặt quen thuộc hiện ra, những cánh tay vẫy chào, nào mụ Ðội Dậu, mụ Ba, ông Sung, ông Dung, anh Thiên chủ bàn Ping Pong….Những tiếng nói đó đây:

“Anh Phán đó tề ! Anh Phán! Anh Phán …”

Tiếng gọi lớn dần và lan dài suốt con đường tôi đi. Con hẻm sát Hồ Tịnh Tâm là đường vào nhà tôi. Mạ tôi đó, dì, chị và em tôi đó. Xao xuyến quá ! Tôi đi nhanh đến ôm Mạ tôi, dì và chị tôi khóc như mưa. Thằng em luống cuống chạy quanh, bị Mạ tôi nạt:

“Mi chạy vô nhà lấy khúc cá kho khô và đòn bánh tét gói lại đem ra đây bới cho anh mi”.

Mạ tôi dụi vào tay tôi chai dầu Nhị Thiên Ðường:

“Con xức cho khỏi gió”.

Lính đi ngang hỏi nhau:

“Mạ Ðại úy sao đầu trọc lóc vậy bây?”.

“Bà ấy đi tu để phước cho con, tụi mình cũng được hưởng ké đấy”.

Phán và âm thoại viên vẫn còn dừng lại:

“Nhà có răng không Mạ? Bà con thân có ai bị chi không”.

“Nhà ông Quế chủ quán Chiều bị trúng hai trái nhưng người thì không răng. Nhà mình bị ngói đổ một góc, cây đào bị gãy ngọn. Còn thằng Chỉ không biết đi mô”.

Chỉ là bạn tôi xuất thân khóa 17 Võ Bị Ða Lạt. Tôi xót xa đắng miệng:

“Thôi con đi, Mạ và gia đình đừng lo cho con”.

Mạ tôi khóc òa, tôi thật não lòng. Những tiếng gọi anh Phán, anh Phán tiếp tục vang lên cho đến giữa Hồ Tịnh Tâm, tôi cho lệnh quẹo tay mặt theo đường lên nhà ông Như Ðạt. Như vậy bên hông mặt của con cái tôi lúc nào cũng có bức tường Thành và cái hồ che chở. Cuối đường Tịnh Tâm quẹo trái là Trường tiểu học Ðoàn Thị Ðiểm, nhưng tôi không đi con đường nầy. Tiếp tục đi thẳng qua con đường hẻm nhỏ, con đường đã bao lần đi lại, nào ăn cấp me, nào ăn trộm sấu, nào hái soài, nào đào sen, nào học thi, nào thăm người yêu…. Con đường nào cũng nhắc tôi bao kỷ niệm yêu dấu không quên.

Ðến Canh Nông, chưa thấy phản ứng nào của địch, gần sân bay Thành Nội dân chúng thưa thớt và kinh hãi. Tôi cho dừng quân bên này đường, một ông già mách:

“Con đường ni bắn rất rát, từ trong cửa Hòa Bình ở Ðại Nội bắn ra”.

“Con đường sân bay Thành Nội ra sao ông, có ai không?”.

“Ðánh nhau mấy ngày ni dữ lắm, mà tui không biết răng, không biết mình hơn hay thua nữa”.

Tôi chỉ con đường và hướng dẫn Duật:

“Băng qua khỏi con đường nầy, đến một xóm nhà, qua một cái cống thì bên trái là đơn vị Quân Cụ”.

Nghênh và Mã Khện yểm trợ bên mặt cho Duật, và sau đó băng qua đường theo tôi. Con đường có năm thước mà hơn một giờ mới vượt qua với sáu thằng em rơi rụng trên mặt đất. Lần mò theo mép đường tới sát ống cống, tôi cho dừng lại, Phi trường vắng tanh. Tôi bảo Duật:

“Mày cho một thằng con nhỏ qua trước làm đầu cầu bên kia cống, sau đó cho tất cả con cái mày qua rờ vào Thành Quân Cụ, chờ tao lên”.

Thành Quân Cụ cao khỏi đầu người, không liên lạc được với bên trong. Tất cả con cái nằm sát Thành để tôi và đám cận vệ bò tới cổng chính. Loáng thoáng thấy nón sắt, Field Jacket, giây ba chạc … Không phải tụi nó đâu, chắc chắn là bạn rồi. Thằng đệ tử tôi gọi lớn:

“Ê, Thủy Quân Lục Chiến đây”.

Một loạt đạn bay qua khỏi đầu một cách rùng rợn. Bò lết vào trong Thành, ông Ðơn vị trưởng Quân Cụ nói tiếng Huế đặc sệt, ông là Trung úy Cát, thủ môn nổi tiếng của Huế:

“Ðại úy ơi, bảy ngày không ra vào nổi, nó bao hết. Trường Trần Cao Vân, Ðại Nội, xóm nhà trước mặt và bao quanh doanh trại tụi nó chốt hết. Nhà Bảo Sanh sau lưng Trường cách cái hồ tụi nó chiếm luôn. Dân chúng chạy hết rồi, không còn ai cả. Tụi nó pháo liên miên, không cho ngóc đầu được, đủ loại: 61, 82, hỏa tiển 107, 122. Tôi ráng cố thủ đây được ngày mô hay ngày nấy, còn ngoài nớ tôi không liên lạc được nên không biết tình hình các nơi khác ra răng”.

Tôi trở ra báo cáo về Tiểu Ðoàn, lệnh của Tiểu đoàn trưởng:

“Phu Nhân chiếm bằng được trường Trần Cao Vân, dọn sạch chung quanh. Tiểu đoàn trưởng và BCH sẽ lên ở trại Quân Cụ”.

Quan sát địa thế thêm một lần nữa, trước mặt trường là cái Am lên đồng, bên cạnh là chỗ hớt tóc lợp bằng tranh chỉ có một cái ghế ngồi. Sát đó là ngã ba đường, một đường chạy lên cửa Sập, một đường chạy về trường Ðào Duy Từ và Một chạy đến trường Trần Cao Vân. Có bốn năm cái đầu lô nhô trong trường.

Duật phải chiếm Am trước, trong trường bắn ra mãnh liệt, có cả B. 40. Tôi ra lệnh cho Nghênh và Mã Khện cầm chân hỏa lực trong trường học. Duật chiếm xong Am không một tổn thất. Tôi gọi Thương sĩ Hải đưa hai đại liên và một 57 không giật lên tăng cường cho Duật yểm trợ cho Mã Khện vào trường học. Sau 45 phút dùng mưu kế cùng với hỏa lực và sự gan dạ, kinh nghiêm, Mã Khện đã chiếm được một lớp trong Trường học. Nghênh tràn vào cùng với Mã Khện lục soát và làm sạch sẽ. Hỏa lực từ góc Thành Nội đổ dồn về phía trường học. Không sao, có tường của các lớp học che chở. Tôi kêu Sự:

“Pháo binh có chưa? Kêu về Ðại Bàng Thanh Hóa cứ bắn vào góc Thành cho tao”.

Ðến chiều vẫn không có một trái pháo bắn, anh em tôi có bảy đã lót đường cho mục tiêu đầu và ba bị thương nặng. Tôi lên sát Duật và bảo đem cây 57 ly không giật đến:

“Nhắm ngay vào góc Thành, tụi nó bắn rát quá cứ phơ cho tao, trật trúng gì không cần, chỉ cần tiếng nổ”.

Qua một vạt đất trống, trong ngôi nhà gạch có bóng người lấp ló. Duật quay 57 nhắm thẳng:

“Nhột quá, cho em bung cái nhà nầy đi”.

Tôi bỗng thấy có người đàn bà, tôi la lớn:

“Khoan bắn, nhà Thầy Tiềm”.

Rồi tôi băng qua một khoảng đất trống đến nhà gặp cô và các cháu. Không thấy Thầy tôi chào cô và giới thiệu tôi học Sử địa với Thầy ở Trường Bồ Ðề và khuyên cô về dưới phố. Tôi trở lại vị trí mà lòng nao nao buồn. Giờ nầy vẫn chưa có pháo, làm sao khóa góc Thành đó lại. Duật bảo các con cái đào hầm hố thật kỹ, tôi dặn:

“Mày cố thủ tại đây cho Tiểu Ðoàn lên”.

Rồi cùng các đệ tử lúp xúp chạy đến chỗ tiệm hơt tóc để quan sát ngã ba đường và góc Thành Nội. Tôi chợt nghe tiếng đàn bà rên la quằn quại, sau cùng chỉ còn tiếng rên nho nhỏ. Nơi góc quán tối tăm, một người đàn bà máu me khắp nữa phần thân thể, vừa bị thương nặng lại vừa xảy một bào thai lờ mờ tượng hình đứa bé, trong giống như con rắn mốùi. Xót xa, chịu không nổi, tôi ra lệnh đem chôn đưa bé ngay và chuyển người mẹ về trại Quân Cụ cho bác sĩ Tựu cứu giúp. Ðến đây mười ba anh em đã hy sinh và ba bị thương nặng để trải thảm trên đường tiến quân của đơn vị.

Tối đó BCH Tiểu Ðoàn đến trại Quân Cụ. Sáng hôm sau, Tiểu Ðoàn trưởng cho Ðại đội 2 của Tôn và Ðại đội 1 của Lượm dưới sự chỉ huy của đại ca Ðã, Tiểu Ðoàn phó, chiếm nhà Bảo Sanh. Ðoạn đường có 30 thước mà phải trả bằng 50 đứa con thân yêu. Sau tám tiếng đồng hồ mới chiếm được nhà Bảo Sanh, Tôn bị thương ngay từ phút đầu. Lộc Ðại đội phó lên thay.

Mười ngày tiếp theo, nhìn nhau qua một con đường rộng năm thước vừa đủ cho xe chạy mà hai bên đều khựng. Mưa vẫn rơi ray rức lê thê, thỉnh thoàng cơn gió thật lạnh thổi qua. Có những cuộc tấn công chớp nhoáng của địch vào Ðại đội của Lượm và Lộc đều bị đánh bật lui. Ngược lại ta cũng nhiều lần cố tràn qua bên kia nhưng cũng không chiếm được thêm một tấc đất nào. Hai bên tải thương đều thấy nhau rất rõ. Lượm bị hao hụt nặng. Phu Nhân lên thay thế. Tôi và con cái bò lên từng toán một, địch và ta đã sát nhau, ngóc đầu lên là đạn bắn xuyên nón sắt ngay. Hơn nửa ngày mới trám hết vị trí của Lượm. Lượm và Tòng về phòng thủ cho Tiểu Ðoàn. Tối đến, pháo địch nổ vang trời. Xác chết của anh em nằm trên mặt đường, sình lớn mà không lấy được. Phía bên kia bốn năm xác địch vẫn để yên, tụi nó cũng không dám lên lấy xác về. Cố giữ đất, giữ vị trí và làm vài cuộc tấn công nhỏ vẫn không qua đường được.

Từ căn nhà hai tầng cuối đường nhìn xéo từ nhà Bảo Sanh, một thượng liên và một trung liên nồi của tụi nó kiểm soát con đường rất kỹ, dưới sự chỉ huy của một đứa con gái mặc áo choàng màu xám, tóc xỏa dài nhưng không thấy rõ mặt. Tay đứa con gái chỉ tới đâu thì đạn nổ dồn về hướng đó. Tôi nhắm bắn hai phát M.16 nhưng hụt, nó trốn nhanh vào sau cửa và mất luôn.

Hai mươi ngày nằm chịu pháo và bắn sẻ, tối nào hai bên cũng rà máy và chưởi nhau. Theo dõi máy, đột nhiên tôi bắt được một câu báo cáo của tụi nó: “Bồ câu hết thóc!” và nghĩ ngay tụi nó đang thiếu đạn. Nếu cứ nằm như thế này, một lúc nào đó tụi nó chỉ cần ho một tiếng thật to mình cũng bị mất vị trí ngay, chỉ vì áp lực quá nặng nề, tổn thất nhiều, tinh thần anh em quá mệt mỏi. Tôi đi đến kết luận riêng: nếu mình không đánh nó, chắc chắn nó sẽ tấn công mình. Tôi trình với Tiểu Ðoàn trưởng:

“Thiếu tá cho tôi luôn thằng 2 để tôi tấn công tụi nó. Tôi thấy tinh thần anh em xuống quá và sức khỏe ngày càng hao hụt”.

Tiểu Ðoàn trưởng không cho, bắt ráng giữ vị trí. Phu Nhân năn nỉ:

“Nếu không thì cho tôi đột kích, tôi cùng vài toán nhỏ tràn qua đường đánh đột kích rồi rút về. Mình phải chứng minh cho tụi nó thấy mình còn đủ sức chơi tụi nó, thời tụi nó không dám tấn công mình”. Tiểu Ðoàn trưởng nói:

“Làm kế hoạch xong cho tôi hay”.

Tại hầm của tôi anh em đang chờ, họ gồm: Lộc Ðại đội 2, Sự Ðại đội phó của tôi, Duật, Nghênh, Mã Khện. Tôi nói:

“Nằm chờ lâu tao chán quá, chỉ muốn đột kích tụi nó rồi rút về”.

Tất cả im lặng, tôi tiếp:

“Bốn giờ sáng mai mình đột kích. Nếu giữ được vị trí tao cho tràn qua luôn. Bây giờ tao chọn 4 toán:

– Toán 1 : Phán, Ðiểu, Việt, Can, Dư và Phúc mang máy.

– Toán 2 : Duật và ba người thật nhanh,gan dạ.

– Toán 3 : Nghênh và ba người.

– Toán 4 : Thượng sĩ Hải và ba người. Trang bị thật nhẹ: mỗi người 20 trái lựu đạn và hai băng đạn cong ráp ngược cho M.16. Sự và Lộc dẫn con cái ra sát bờ đường. Khi thấy khói xanh thì đưa tất cả tràn qua. Nếu thấy khói màu vàng, yểm trợ tối đa cho tụi tao dọt về. Sự và Lộc hãy về lo cho con cái, đúng bốn giờ sáng sẵn sàng tại vị trí”.

Duật, Nghênh và Hải ở lại, tôi nhìn anh em thật lâu rồi cho biết:

“Tao theo dõi tụi nó báo cáo qua máy, hình như tụi nó thiếu đạn. Do đó tao quyết định cuộc đột kích hôm nay”.

Tôi nghiêm mặt và lạnh lùng nói:

“Hai ông Duật và Nghênh tôi chỉ định phải đi với tôi. Riêng Hải, tôi cho ông suy nghĩ lần nữa. Lần nầy đi khó trở về, ông con cái đông, muốn ở lại vị trí tôi cho phép và tôi hứa rằng tôi không nghĩ ông thiếu can đảm”.

Suy nghĩ một lát, Thượng sĩ Hải trả lời:

“Ðại úy cho tôi ở lại vị trí”.

Tôi vui vẻ bằng lòng và gọi Mã Khện đến, Mã Khện đồng ý đi và xin đem theo Hạ sĩ nhất Mười. Tôi tiếp:

“Bây giờ các ông về chọn người xong lên gặp tôi”.

Tôi ngồi suy nghĩ miên man, liều, phải liều mới cứu được đơn vị.

Chiều hôm đó, lúc bốn giờ, các toán trưởng lên gặp tôi, có thêm Trung úy Sự. Tôi hỏi lần chót:

“Có ai xin ở lại cho tôi hay”.

Không ai trả lời. Tôi căn dặn Sự nhắc Lộc khi thấy khói xanh thì sao và khói vàng thì sao, phải nhớ kỹ. Tôi đưa ba toán trưởng bò đến hầm trú ẩn của nhóm tiền đồn ở sát ngã tư đường. Tôi chỉ từng căn nhà bên kia đường:

“Cái thứ nhất gần ngã tư đường là mục tiêu của tao, cai thứ hai kế tiếp có hàng rào là của Nghênh, căn thứ ba cũng có hàng rào và cây nhãn cao là của Mã Khện, căn thứ tư có mấy bụi chuối lớn là của Duật. Tất cả hay quan sát cho kỹ và cố chọn một con đường tiến quân thích hợp, không cần báo cáo miễn sao thích hợp thôi”.

Tiếp tục quan sát mục tiêu của tôi. Căn nhà bằng gạch có nhà trên và nhà dưới, kế đó là câu tiêu xây bằng đá lợp tôn, sát đường là cái giếng xây bằng xi măng. Trước sân có hai cây vú sữa cao và sai trái. Tôi biết phải làm gì để chiếm căn nhà đó. Tôi quay lại nói:

“Lần chót tôi hỏi các ông có ý kiến gì không? Ðúng bốn giờ sáng mai tôi sẽ chiếm trước, sau đó tùy các ông bằng mọi cách phải hốt cho bằng được các mục tiêu tôi ấn định”.

Trở lại vị trí, tôi dặn dò Ðiểu, Việt, Can, Dư và Phúc mang máy:

“Tối nay miễn gác, ba giờ sáng mai gặp tao ở đây”.

Sau đó tôi đi gặp Tiểu Ðoàn trưởng để trình bày kế hoạch Ông nói:

“Nguy hiểm quá, không được, chết cả lũ !”.

Tôi nói:

“Nếu Thiếu tá không làm bây giờ, một vài ngày nữa tụi nó ho là lính mình chạy hết !”.

Cuối cùng ông chấp nhận:

“Nhớ có gì thì trở về liền, càng sớm càng tốt”.

Tôi dạ nhưng trong đầu tôi nghĩ khác. Trước mắt tôi bây giờ không có cái gì ngoài đường từ tiền đồn qua cái giếng, lên cầu tiêu, tới nhà dưới rồi chiếm nhà trên. Tôi nằm suy nghĩ triền miên cho đến ba giờ sáng.

Trước khi bò ra tuyến xuất phát, tôi nhắc Sự và Lộc một lần nữa cho chắc ăn. Bốn giờ sáng kém mười, toán tôi có mặt tại tiền đồn. Trời vẫn mưa, mưa xứ Huế có dư âm cái lạnh của ngày Tết. Trời tối không thấy gì, tôi ngại bắn lầm nhau. Gắng chờ một chút nữa, đến 5 giờ sáng mưa vẫn không tạnh, trời vẫn tối mù. Năm giờ rưỡi, cái giếng đã nhìn thấy được. Chuẩn bị! Tôi cảm thấy hồi hộp. Chỉ cần bốn cái nhảy vọt là qua bên kia đường nhưng khó hơn đi lên trời vì con đường nầy là con đường của tử thần làm ranh giới bên ta và địch, hai mươi ngày trời không nuốt nổi năm thước đất. Rách nát bao nhiêu cũng vẫn không qua được. Bây giờ mình cắt băng khánh thành, phải làm để cứu đơn vị, phải hy sinh để cứu đồng đội. Vừa suy nghĩ xong, tôi phóng vụt qua ôm bờ giếng. Kế tiếp là Ðiểu , Việt, Can Dư băng theo. Tất cả ngồi ôm thành giếng, mồ hôi ra như tắm mặc dù trời lạnh như cắt. Ðiểu và Can chiếm cầu tiêu. Bỗng một loạt đạn thật gần, tôi quay nhìn ra đường. Phúc và cái máy nát mình nằm trên đường nhựa, dưới làn đạn mịt mù của địch. Tôi hét lớn:

“Dư, Việt chiếm nhà bếp”.

Tôi theo sát lên cầu tiêu bên cạnh Ðiểu và Can . Súng và pháo nổ dồn dập, một B.40 nổ ngay trên đầu mái tôn cong, cả ba thầy trò đều bị miễng nhỏ đâm đầy mặt, tóc râu và lông mày đều bị cháy. Cầu tiêu nhỏ quá nên tôi cùng Ðiểu và Can lên nhà bếp. Tôi ra lệnh:

“Ðiểu và Dư chiếm nhà trên, lục soát thật kỹ”.

Ðể Việt ở lại, tôi và Can cùng lên nhà trên. Ðiểu và Can giữ cửa chính nhìn ra sân, tôi và Dư giữ cửa sau nhìn ra vườn có nhiều luống khoai lang.

Trời sáng hẳn, tôi lắng tai chẳng nghe nhà bên cạnh có gì cả bèn bò trở ra bờ giếng và thấy Duật và Nghênh, Mã Khện vẫn còn bên kia đường. Tôi toát mồ hôi. Tôi nhìn thẳng vào mặt mấy ổng rất nghiêm và lấy ngón tay ngoắc. Tôi không dám gọi lớn tiếng, mấy ông kia gặt đầu. Tôi bò trở lên nhà trên. Lựu đạn, súng nhỏ, súng lớn nổ khắp nơi và nhất là bên phía tay mặt tôi. Tôi biết rằng tụi tôi đã băng được qua đường. Tôi hỏi khẽ:

“Thấy không Dư?”.

Dư lắc đầu, tôi nghe tiếng thì thào sát vách tường phía ngoài. Tôi đoán khoảng 7-8 người đang ở trong cái hầm, tôi dùng ngón tay đẩy nhẹ cửa sổ. Một loạt đạn từ phía nhà đối diện xuyên ào ào qua cửa sổ. Bỗng Dư chỉ tay về phía luống khoai, tôi đếm đủ mười một người đang bò qua, kaki Nam Ðịnh, súng AK và B.40, cách vách tường khoảng hai chục thước, 15 thước rồi 10 thước. Tôi đưa súng lên định bóp cò thi Dư kéo lại và ra dấu đừng bắn dùng lựu đạn. Tôi dựng cây súng xuống thật nhẹ, hai tay rút hai trái lựu đạn miệng cắn chốt. Dư cũng thế, bốn lựu đạn ném cùng một lúc, tiếng nổ xé trời, rồi bốn trái tiếp theo. Bên ngoài tường,tiếng hét lớn rồi tiếng rên và sau đó im lặng, tụi còn lại bò sát vào chân tường.

Nhìn ra cửa, năm xác địch nằm vắt trên luống khoai. Một loạt đạn nổ và tôi nghe:

“Chết em Ðại úy”.

Tôi sững sờ nhìn Dư, tay trái ôm ngón út của bàn tay phải đầy máu, ruột của Dư đổ ra lòng thòng. Dư ngã vật ra chết tại chỗ, nơi Dư đứng có nột lỗ hổng nhỏ ở vách tường. Vì mãi nhìn qua cửa sổ mà không để ý ở phía dưới: nguyên một họng AK thọc qua lỗ tường để sát bụng Dư mà nhả đạn. Tôi bắn một loạt M.16 ra cửa sổ, và cứ thế hết quả nầy qua quả khác tôi ném tất cả lựu đạn của tôi ra ngoài bờ tường. Hai thằng em đã hy sinh, còn bốn thấy trò phải giữ vững vị trí. Phía bên tay phải của tôi súng vẫn nổ dữ dội. Ðến mười giờ rưỡi sáng tôi cho Ðiểu liên lạc với Nghênh, Duật và Mã Khện. Ðiểu băng người ra đi, bốn căn nhà cách nhau mười phút đi bộ mà hơn một tiếng đồng hồ sau Ðiểu mới về báo cáo là tất cả chiếm được mục tiêu. Có đoạn đường nào xa và xấu hơn đoạn đường tôi đang đi! Toán Duật: một chết, một bị thương. Toán Mã Khện: hai chết. Toán của Nghênh một chết, một bị thương. Tất cả là 6 chết 2 bị thương, chúng tôi còn lại mười một người tại tuyến.

Ðiểu bò ra giếng cố đem qua cho tôi cái máy. Cột cái máy vào đầu dây và quang đầu dây kia qua cho Ðiểu kéo. Can mở máy liên lạc với Tiểu Ðoàn:

“Trình Ðại Bàng, tôi sẽ tràn ngập ví trí địch với thằng 2 của Lộc và thằng 3 của tôi”.

Ðại Bàng hỏi:

“Tai sao từ sáng đến giờ không chịu liên lạc với tôi? Tôi ra lệnh rút về ngay”.

Phán nài nỉ:

“Ðây là dịp may, tinh thần anh em đang lên, tôi xin Ðại Bàng cho làm luôn!”. Ðại Bàng Thanh Hóa nói bằng bạch văn không ngụy trang:

“Nếu anh không rút về, tôi sẽ đưa anh ra tòa án quân sự”.

Khí giận bừng bừng, tôi tắt máy không trả lời, trên tay vẫn cầm trái khói xanh. Suy nghĩ thật kỹ! Suy nghĩ thật kỹ! Hơn mấy giờ để đánh mục tiêu, bốn căn nhà và một con đường ngập máu. Mưa vẫn lạnh như cắt da mồ hôi vẫn ra như tắm. Cuối cùng tôi đành bảo Ðiểu chuyển lệnh cho các toán:

“Rút về ngay, mạnh toán nào rút toán nấy, không chờ đợi. Mang thương binh theo, xác chết bỏ lại”.

Năm thước đường đi đã khó, về còn khó hơn. Mỗi bóng người nhúc nhích là đạn nổ hàng loạt, liên hồi, đạn bắn chéo bao phía, đan lưới thật dày trên mặt đường và khắp vị trí. Làm sao trở về đây! Con cái bên kia đường đưa mắt theo dõi. Toán tôi bò ra giếng, bỗng mấy bóng đen vụt qua đường như sao xẹt, nhào vào bờ lề và được anh em kéo ra sau. Ðạn nổ dòn tan cày nát mặt đường. Ðây là mấy đứa bi thương nặng, tưởng là di chuyển không nổi, nhưng khi nghe lệnh rút chúng thu hết tàn lực vùng chạy về, chớp mắt không kịp thấy.

Hỏa lực ba phía nổ vùi vào vị trí chúng tôi. Các toán đột kích không liên lạc với nhau. Ðiểu và Can vẫn giữ căn nhà. Ðịch kiểm soát con đường bằng mấy cây thượng liên và trung liên, chúng bắn liên miên. Bên kia đường, Sự và Lộc đáp lễ bằng hỏa lực cơ hữu của khăn tím và của 2. Tôi lấy chân đạp vào thành giếng phong người băng qua đường, lăn mình, nhảy, chạy và té ào vô bờ lề. Anh em kéo vội tôi ra sau, tôi dừng lai bảo Lộc và Sự bắn từng loạt một để tụi nó dọt về. Nhìn thấy Việt ngồi thành giếng trổ mắt ngó về mà tội nghiệp. Sống và chết cách nhau có một con đường. Tôi hồi hộp xót xa cho mấy thằng em. Tôi vừa quay mặt hét: “Bắn kèm mấy cây thương liên”, thì một bóng bay vọt qua đường. Tim tôi thắt lại, đạn nổ mịt mù. Lần lượt tôi gặp Nghênh, Duật, Mã Khện và tất cả anh em. Tôi ôm ghì từng đứa, tụi nó còn sống cả. Can và Việt nhào đến ôm tôi dữ dội mà đậm đà trìu mến. Lính với tay sờ người, nắm nhẹ áo tôi:

“Ðại úy, tóc và râu cháy hết rồi, mặt bị dăm vài chỗ”.

Cả Ðại đội bất chấp đạn địch, đứng dậy nhìn nhau hãnh diện và sung sướng. Tôi báo cáo Tiểu Ðoàn:

“Tất cả đã về vị trí”.

Bỗng thấy thiếu một cái gì, tôi nhìn Can và Việt hỏi:

“Thằng Ðiểu đâu?”.

Tụi nó nói:

“Lần cuối cùng em thấy nó vừa khóc vừa chạy lung tung tìm xác Ðại úy ở bên ấy”.

“Thôi chết tao rồi, tao phải cứu nó, hai thằng bây theo tao”.

Tôi, Can và Việt bò trở ra đường. Bỗng nhiên một bóng người nhảy qua khỏi hàng rào, nhảy qua khỏi miệng giếng, phóng nhanh qua đường, nhào lăn rào rào vào vị trí và la lớn:

“Ê, tụi bây thấy anh Hai đâu không?”

Ðiểu đứng dậy nước mắt đầm đìa, tôi lao đến ôm Ðiểu:

“Tao định qua kiếm mày đây!”.

“Trời anh Hai, tụi nó nói anh chết rồi. Em đi lục hết căn nhà mấy chục lần, chỉ không dám ra ngoài hè mà không thấy xác anh Hai đâu. Hôm trước Mạ có dặn nhỏ với em, phải sát bên cạnh anh Hai, nếu có gì cũng phải nhớ đem anh Hai về cho Mạ …”.

Tóc tai mặt mày râu ria Ðiểu cháy nám, áo quần rách buôm, nó khóc mùi mẫn vì thấy tôi còn sống. Rồi nó lại bẻn lẻn cúi đầu hai hàng nước mắt lã chã nhỏ giọt xuống đất. Trong cuộc chiến bạc bẽo lại có chút tình nghĩa trao nhau qua mấy giọt nước mắt nóng hổi.

Sáu giờ chiều, xuống trình diện Tiểu Ðoàn trưởng, ông nói ngay:

“Ông làm những chuyện nguy hiểm quá, lỡ kẹt bên đó thì nói làm sao với Lữ Ðoàn?”.

Tôi dạ dạ vâng vâng cho qua rồi nghiêm mặt đề nghị:

“Thưa Thiếu tá, ngày mai cho tôi tấn công, tôi tin chắc sẽ tràn ngập vị trí chúng nó. Cho tôi thằng 2 của Lộc, để thằng 1 của Lượm đi sau thu dọn chiến lợi phẩm. Chỉ xin Thiếu tá cho tôi xin hai chiếc Tank kèm hai bên hông của tôi”.

Ông hỏi:

“Có chắc ăn không Phán?”.

Tôi cương quyết:

“Chắc, và nếu tràn được vị trí địch Thiếu tá cho phép tôi đánh thẳng lên Kỳ Ðài nếu còn thời gian”.

Tôi theo Tiểu Ðoàn trưởng lên trình diện ông Già Hự – Ðại tá Yên Tư Lệnh Phó. Ông già chấp thuận.

Trở về tôi hợp các Trung đội trưởng:

“Ngày mai, tám giờ sáng, Ðại đội 3 khăn tím bên trái, Ðại đội 2 của Lộc bên phải, dàn hàng ngang lấy con đường lên cửa Sập làm chuẩn tiến song song. Sau khi hai chiếc Tank yểm trợ bằng hỏa lực xong, cả hai Ðại đôi xung phong tràn ngập vượt qua mỗi chốt thật nhanh, không cần thu lượm chiến lợi phẩm, để cho Ðại đôi 1 đi sau làm chuyện đó. Tất cả ba lô và đồ ăn để lại, trang bị thật nhẹ. Khi tới xóm nhà sát cửa thành thì dừng lại tại chỗ chờ tôi”.

Ðúng tám giờ sáng ngày hôm sau, dàn quân, hai chiếc Tank Ontos hạng nặng tiến lên, mỗi chiếc trang bị sáu cây đại bác 106 ly. Tôi chỉ vị trí tác xạ cho hai Trưởng xa người Mỹ rồi ra lệnh khai hỏa. Hy vọng 12 cây 106 ly nầy sẽ san bằng mục tiêu trước mắt cho con cái tôi được dễ dàng đôi chút. Nhưng mỗi chiếc Tank chỉ bắn một phát đạn duy nhất rồi chạy lùi biến mất, không biết chạy về đâu. Tôi hết hồn, quân đã dàn xong, bắt buộc tôi phải ra lệnh xung phong. Tôi hét thật lớn, hét khan cả cổ: Xung Phong! Cả một đoàn quân dàn hàng ngang, không một ai nhúc nhích. Con đường trước mặt, con đường của hai mươi mốt ngày đầy máu và nuớc mắt của những người lính mũ xanh can cường, con đường tráng nhựa đẹp đẽ nhưng băng qua là đi vào cõi chết. Tôi tức giận chưởi thề lung tung rồi chụp lấy cây đại liên M.60 của người lính bên cạnh bắn một loạt dài rồi một mình vừa bắn vừa băng qua đường cùng với toán cận vệ: Can, Việt, Ðiểu và hai người mang máy. Qua khỏi đường xông tới trước, tiếng đại liên của tôi nổ dòn. Ðúng lúc ấy cả đoàn quân đồng thanh hô to “Xung Phong” và ào qua đường. Sau đó đoàn quân vượt nhanh qua mặt tôi và lướt tới trước. Súng nổ vang rền, đoàn quân tiến đều, M.16 bắn vãi vào chốt, lựu đạn ném vào chốt, đạp chốt, bang chốt, lướt qua, cố giữ đội hình. Tiếng nổ inh tai liên tục, tấn công thật mãnh liệt và chạy ào tới trước như vũ bão. Ðến ba giờ chiều, chúng tôi đến xóm nhà sát cửa Sập.

Lính vỗ vai nhau cười làm tôi bật cười lớn vì xóm nhà nầy rất quen thuộc với họ. Lính thường hay đến xóm nầy rồi về kể nhau nghe con nầy đẹp, con kia chân dài, con nọ…. Nào khăn, nào thau vứt bừa bãi khắp nơi. Lính vui vẻ kể chuyện tục cho nhau nghe và hồn nhiên đùa nghịch. Những tiếng cười đầy ham muốn thèm thuồng, hơn 40 ngày, từ Vùng IV về giải tỏa Sàigòn rồi ra đây, không thấy mặt một người đàn bà thật đàn bà, chỉ thấy toàn máu, nước mắt và mồ hôi.

Tôi ra lệnh:

“Lộc và Sự mỗi ông cho một toán 10 người băng thật nhanh đến áp sát mặt Thành xong ngồi xuống. Toán kế tiếp chạy đến leo lên vai toán thứ nhất để toán nầy, đôn lên mặt Thành. Khi bám được mặt Thành thì tác xạ tối đa và bằng mọi cách giữ vũng vị trí trên mặt Thành để làm đầu cầu”.

Con cái tôi hành động còn đẹp hơn tài tử xi nê. Tiếng đạn lớn nhỏ nổ rền, hai toán lên Thành chiếm xong vị trí. Tôi cho tất cả con cái đem bàn ghế ra chất sát tường và leo lên ngay. Tiếng đạn và pháo địch vẫn mãnh liệt trên nóc Thành, phải khóa lại. Một chặn đường xương máu đã vượt qua, bây giờ mục tiêu chính, mục tiêu của niềm hãnh diện, mục tiêu của ơn sâu và nghĩa nặng: Kỳ Ðài Huế. Ðây là nơi tượng trưng cho Hồn Thiêng Dân Tộc nói chung và cho Huế nói riêng. Duật và 20 anh em tiến chiếm 6 cây súng thần công to lớn, từ đó Duật dùng hỏa lực kềm địch ở cửa Ngọ Môn, yểm trợ cho Nghênh và Mã Khện đánh chiếm Kỳ Ðài. Ðịch bắn trả rất rát. Con cái tôi dùng hỏa lực tối đa và thần tốc tiến vào Kỳ Ðài. Phản ứng của địch bắt đầu yếu, năm giờ mười phút chiều, màu áo rằn ri TQLC đã làm chủ Kỳ Ðài. Lá cờ xanh đỏ sao vàng đầy hận thù còn trên không. Một anh em Lính rút đâu trong người ra lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ thật lớn. Tôi gọi về Tiểu Ðoàn:

“Tất cả đã sạch sẽ, xin Thiếu tá cho tôi treo cờ lên”.

Tôi nhớ rõ lệnh của Trung Tướng Lê Nguyên Khang:

“Một người lính Thủy Quân Lục Chiến duy nhất còn sống sót cũng phải dựng lại ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ tại Phú Vân Lâu”.

Trong niềm vui sướng tột cùng, Hạ sĩ Hạnh hét lớn: Thủy Quân Lục Chiến! Xong lấy hỏa châu đập mạnh định bắn pháo bông lên trời ăn mừng. Trong cơn say chiến Thắng, Hạnh xoay ngược đầu hỏa châu vào mình, hỏa châu nổ xuyên bụng. Hạnh cười nói:

“Em không sao Ðại úy”.

Phán nghĩ thằng em nầy tỉnh táo quá, chắc nó chết. Và nó chết thật.

Tiểu Ðoàn trưởng bảo Phu Nhân giữ đầu máy chờ. Sau nầy tôi được nghe: “khi báo cáo về Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1, Chuẩn Tướng Trưởng xin Thủy Quân Lục Chiến dành vinh dự thượng kỳ cho Sư Ðoàn 1. Sáng hôm sau ngày 24 tháng 2 Phạm Văn Ðịnh dẫn một đơn vị của Sư Ðoàn 1 từ cửa Thượng Tứ lên làm lễ thượng kỳ.

Nhìn lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ phất phới trên nền trời màu xám của Huế, tôi hãnh diện thật sự vì thằng con của Huế đã góp phần dựng lại ngọn Cờ nầy. Trung úy Sự trình tôi:

“Thằng Hạnh chết, mình còn 67 anh em”.

Ðại đội ra đi hơn 170 người, sau 24 ngày và sau bao nhiêu lần bổ sung quân số, chỉ có ba mục tiêu: Con đương, cửa Sập và Kỳ Ðài mà bây giờ chỉ còn 67 người.

Sáng hôm sau tôi về phối trí đóng quân lục soátỉ ở khu vực cửa Ðông Ba, nhà Thương Nhỏ, chợ Xép, ngã tư anh Danh. BCH của tôi đóng tại một tiệm cầm đồ, tiệâm nầy có Tôn và Lưu cùng học một lớp hồi còn nhỏ. Trong nhà không còn ai cả. Chiều hôm đó tôi gặp lại rất nhiều bạn bè cũ. Tình hình chưa được an ninh hoàn toàn nhưng đóng ở đây chúng tôi nhẫn nha hơn trước nhiều. Tôi đi kiểm soát các vị trí và cho lục soát tàn quân địch. Lính canh gát bắt về một người đàn ông lớn tuổi, gầy ốm ăn mặc lếch thếch, áo vét nhàu rách, tóc tai rối bù và dơ bẩn, miệng nói lí nhí.

“Lệnh giới nghiêm, đã mười một giờ đêm sao ông này còn lang thang trên hè phố, em nghi quá”, người lính nói.

Tôi sững sờ nhìn người đàn ông.

“Thầy Cao Hữu Triêm! Trời ơi Thầy!”

Tôi gọi mấy tiếng lớn mà Thầy vẫn không nghe, Thầy tiếp tục lẩm bẩm rất nhỏ. Tôi cầm tay mời Thầy ngồi:

“Con là học trò cũ của Thầy đây”.

Một ánh mắt lạc lỏng xa vời:

“Ờ, ờ sao con khoẻ không. Thầy mấy ngày nay chưa ăn chi cả”.

Lính tôi kiếm cơm trắng và đĩa gà luộc về mời Thầy xơi. Tụi nó còn kiếm được một bình trà nóng mời Thầy. Sau một hồi Thầy tỉnh táo, và cho biết: Cô và sắp nhỏ vào Ðà Nẵng, thằng con lớn chết rồi, Thầy không muốn về nhà nữa. Rồi Thầy khóc, giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nheo.

“Thôi Thầy ở đây với con cho yên”, tôi nói.

Lính của tôi thay nhau hầu hạ Thầy ân cần, đến ngày thứ tư Thầy đòi đi, tôi thu xếp để Thầy vô Ðà Nẵng. Từ đó, tôi mất tin tức của Thầy. Cầu mong Thầy được bình an.

Ðược sinh ra và lớn lên ở Huế, tôi cố trả một phần nào chữ Hiếu cho nơi chôn nhau cắt rún. Máu của tôi, của anh em tôi, của đồng bào tôi đã tạo thành một cơn sóng thần cuốn đi tất cả bọn giặc thù cộng sản để dựng lại ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ trên Kỳ Ðài tượng trưng cho dân tộc Việt. Hai mươi ba năm sau, hồi tưởng lại,máu và xương kia đã theo giòng sông Hương Giang cuốn tôi và bằng hữu ra biển bắt làm người biệt xứ. Lạy trời, một ngày nào đó, cũng Cố Ðô đó, cũng Kỳ Ðài đó, cho tôi được góp một phần dựng lại ngọn cơ một lần nữa để đền đáp ơn sâu nghĩa nặng, nơi tôi đã sinh ra, nuôi tôi lớn lên và cho tôi làm người trong lòng Dân Tộc Việt Nam./.




Bài viết hay của hai học sinh Trung học, tại vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn…

1/ Davis Trần : HAI QUÊ HƯƠNG – TWO HOMELANDS 2/ Ngọc Nguyễn : When I grow up, I want to be a person who changes the ordinary. And for now, I am the person who is not afraid to say, “I am proud that my family works at the nail salon because they do it for my future.”

 HAI QUÊ HƯƠNG – TWO HOMELANDS

 

Davis Trần

“Vẫn thấy quê hương đêm ngày réo gọi
Vẫn thấy trong tim canh cánh đường về
Vẫn thấy nơi đây chỉ là đất tạm
Thầm hẹn ngày về chết giữa quê hương”


Nhật Ngân

DAVIS TRẦN
WINNER OF THE “GIẢI KHUYẾN HỌC” 2010
FROM THE VIETNAMESE COMMUNITY OF DC, MD,VA

April 30, 1975: a day long to be forgotten but forever imprinted within the mind of every Vietnamese American. It was on this day when countless Vietnamese citizens gave up their daily lives to become boat refugees, waving good-bye to their homeland in hopes of a better life and a brighter future. I could never wrap my head around the dark events of that day as my mom retold her “vượt biên” account, nor could I imagine the rippling effect that would entail a mass exodus of Vietnamese immigrants for the next 35 years.

Sitting here in America, in a land where the principle of freedom is so sacredly held, offers me a distinct perspective on the war and its aftermath. As part of the 1.5 generation, reading about the war in American textbooks and watching historic clips did nothing to fill that empty void, to better connect myself with the communal suffering of my heritage. Music filled that void, thanks to the many Vietnamese composers that transcribed their feelings. From Trần Thiện Thanh’s “Rừng Lá Thấp” that brought me the emotions of a solider to Duy Khánh “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê” of nostalgic feelings, these songs bridge the gap of my generation and that of my mother’s. This genre of music not only captures the feelings of those that directly experienced such tragedies, but enables me, the later generation, to truly grasp what occurred. Just listening to the emotional lyrics provokes me to think about how fortunate I am, to think of the men and women who have endured so much, and to be proud of my Vietnamese roots. The Vietnam War has left a scar, but the Vietnamese community is thriving, transforming such adversity and pain into inspiration for success- something I long admire and follow.

My mom not only lives by this mantra, but exemplifies it to the fullest. Starting her life anew on foreign soil, without knowing a word of English to communicate, demonstrates the utmost sacrifice and perseverance more than any song. She speaks little of the war, only asking that I do well in school. As a child, I considered myself a spy in training, and only through my eavesdropping skills did I hear her retell her journey. I remember asking my mom why. Why would she give up her youth, jump into a boat among 60 others, and risk her life at sea when she couldn’t swim. She looked at me, stared into the void space and said, “vì tự do.” This made me think about my life, how I really don’t have an excuse to whine or complain about anything for the rest of my life. Only a few years ago, my mom dropped her barber profession to take care of my bed-stricken grandmother, a stroke survivor. My mom is truly the embodiment of the Vietnamese fighting spirit. Her account, along with other stories of suffering and endurance through both songs and tears, has taught me the true value of freedom as well as the meaning of sacrifice.

As Lan Cao ends her novel, Monkey Bridge, she’s reminded of home by the crescent moon in the shape of a dangling seahorse, the shape of Vietnam. I, too, am constantly reminded of my ethnic heritage thanks to the songs and stories. While I call America my home, I know my mom does not see it that way, but yearns to return back to her home, the land she calls quê hương, Việt Nam.

 

KÍNH TẶNG MẸ TÔI VÀ NHỮNG PHỤ NỮ VIỆT TRONG NGHỀ NAILS NHÂN NGÀY VU LAN 2010

 

Nguyễn Kim Ngọc

 

Những sự khó nhọc mà gia đình tôi đã đi qua chỉ vì họ muốn đem lại cho thế hệ sau một tương lai tươi đẹp. Vào lúc đó thì tôi chợt nghĩ rằng: Nếu ai đó đã cố gắng làm một công việc mà bị nhiều người khác chê cười, chỉ vì tương lai của con cái họ, thì người đó thật là đáng khen ngợi, đáng được tôn trọng. Người mà hy sinh bản thân và cuộc sống của mình để con cái được hạnh phúc thì thật là đáng nể. Bởi vì gia đình tôi đã can đảm làm những việc mà người khác coi thường, tôi đang sống nơi đây. Tôi đang có cơ hội để hiểu biết thêm về kiến thức. Tôi đang đi đến một tương lai sáng ngời. Và tôi đã tìm ra câu trả lời mà cô giáo Anh đã hỏi hồi năm xưa: Khi tôi lớn lên, tôi sẽ đem đến những sự đổi mới cho cuộc đời. Và hiện tại, tôi là một người không hề sợ hải hoặc e ngại khi nói lên, “Tôi rất tự hào là gia đình tôi làm nail vì họ làm điều đó cho tương lai của tôi.”

 “I want to be a person who changes the ordinary”

 

Ngọc Nguyễn

.

 

NGUYỄN KIM NGỌC
THÍ SINH ĐOẠT GIẢI KHUYẾN HỌC CDVN HTD, MD, VA

When I grow up, I want to be a person who changes the ordinary. And for now, I am the person who is not afraid to say, “I am proud that my family works at the nail salon because they do it for my future.”

Nguyễn Kim Ngọc

Just a few years ago, my English teacher asked her class who each person would like to be when he or she grows up. Some wanted to be doctors, scientists, and some wanted to be lawyers, engineers… When she asked me, I looked around and asked myself, “What do I want to be in the future?” A classmate yelled out, “Maybe you can work at a nail salon!” It was as if that was a joke, the class burst out in laughter. I felt hurt and discriminated. But most of all, I felt angry because in an attempt to make fun of me, that classmate has denoted something shameful about the job of a nail technician and about my own background.

My grandfather is a veteran from the Viet Nam war to gain independence for our beloved country. Though we had the help from American troops, after the war ended, grandpa was sent to an internment. Long after the suffering that grandpa endured, he and his family were finally brought to America by the American government to enjoy the freedom that he well deserves.

I’ve heard of many stories told by my dad about the struggle my grandpa’s family went through when they first came here, and I’ve always admired them because of their strength, their bravery, but most of all, their hard work. My grandpa entered the United States along with my grandma, and my five aunts and uncles. My uncles and aunts were no older than thirteen at that time, and so as the breadwinners of the family, my grandpa and grandma took on many jobs to support the family.

Life was hard because they had to learn English as a second language, alongside with finding jobs that would require no prior knowledge, training, or education. Yet to add on to the hardship, they had no relatives and no friends in America to lend a hand of support. My grandpa was a labor worker, my grandma worked as a nail technician, while my uncles took on part-time jobs as dishwashers at a restaurant near home.

I vividly remember my mom told me one day, “Con nhớ là phải học giỏi, để rồi mai mốt, con sẽ có tương lai tốt đẹp. Người Việt như mẹ với bà ngoại đây qua Mỹ trễ quá, mù chữ, nên phải làm nail, cực lắm con ơi.” That was when I realized that Vietnamese migrate to the United States to look for opportunities; opportunities, not for themselves, but for the future generation. I realized that my mom would withstand it when people criticized her position as a nail technician only to bring me a better future.

All the hard work my family has done was to develop a better and brighter future for the next generation to come. At that point, I realized that no matter what path people take in life, everyone deserves respect. Someone who is willing to work a job that people look down upon to support his or her children should deserve to be respected because that person is selfless; that person is willing to make sacrifices for the ones he or she loves. Because my family was brave enough to take on those jobs that are considered to be “low in standard”, I stand where I am today. I am getting an education. I am making a brighter future.

I found the answer to my teacher’s question: When I grow up, I want to be a person who changes the ordinary. And for now, I am the person who is not afraid to say, “I am proud that my family works at the nail salon because they do it for my future.”


Vài năm về trước, cô giáo dạy Anh của tôi hỏi tất cả học sinh rằng họ muốn làm gì khi họ lớn lên. Có bạn thì muốn làm bác sỹ, nhà khoa học. Bạn khác thì muốn làm luật sư, kỹ sư.. Khi cô giáo hỏi đến tôi thì tôi nhìn quoanh và tự hỏi mình, “Tôi muốn làm gì trong tương lai?” Có một ai đó la lên, “Bạn có thễ làm nail đấy!” Cứ thể như điều đó là một trò cười, ai ai trong lớp cũng bật cười. Tôi cảm thấy buồn và tức giận vì họ đã coi thường những người làm nail, và họ đã coi thường địa vị của gia đình tôi.

Ông ngoại tôi là cựu chiến binh từ hồi chiến tranh dành sự tự do cho nhân dân miền Nam. Việt nam đã có sự giúp của quân đội Hoa Kỳ, nhưng sau khi chiến tranh kết thúc thì phần thắng lại chẳng thuộc về những người đấu tranh cho sự tự do chính nghĩa. Và những chiến sĩ như ngoại tôi đã bị quân thắng trận giam giữ sau những năm tháng từ đấy. Nhiều năm gian khổ thì ông ngoại tôi lại được trở về nhà với gia đình và được chính phủ Hoa Kỳ đưa đến đất nước Mỹ để được hưởng sự tự do thật sự mà bao nhiêu năm đã bỏ biết bao công sức và tuổi thanh xuân để bảo vệ.

Năm 2003 chính là năm mà ngoại bảo lảnh gia đình tôi qua Mỹ. Tôi đã nghe ba tôi kể thật nhiều chuyện về sự khó khăn mà gia định ngoại đã trải qua khi họ bước lên đất nước Mỹ. Ông ngoại tôi sang Mỹ cùng với bà ngoài và 5 cậu, dì của tôi. Tôi luôn luôn khâm phục họ vì họ thật là mạnh mẽ, can đảm, và kiên trì. Ông ngoại làm việc lao động trong hảng, bà ngoại làm nail, còn các cậu thì rửa chén trong nhà hàng. Cuộc sống sao thật gian khổ vì ngoại vừa phải học tiếng Anh, vừa phải làm những công việc lao động – những công việc mà không cần đến sự hiểu biết tiếng Anh. Và để thêm vào nỗi đắng cay ấy, ngoại tôi chẳng quen biết ai trên đất nước Mỹ xa lạ này. Ngoại chẳng có ai để chia sẻ nỗi buồn, chẳng biết nương tựa vào ai khác trừ hai bàn tay trắng của mình.

Tôi nhớ có một ngày mẹ bảo tôi, “Con nhớ là phải học giỏi, để rồi mai mốt, con sẽ có tương lai tốt đẹp. Người Việt như mẹ với bà ngoại đây qua Mỹ trễ quá, mù chữ, nên phải làm nail, cực lắm con ơi.” Khi đó tôi mới biết rằng: Người Việt mình qua Mỹ để tìm cơ hội; một cơ hội không phải cho họ, mà cho con cái, cho thế hệ trong tương lai. Tôi biết rằng mẹ tôi đã nghiến răng chịu đựng khi mọi người chê báng nghề làm nail của mình chỉ để đem lại cho chị em tôi một tương lại sáng đẹp.

Davis Trần & Ngọc Nguyễn
Theo: Diễn Đàn Net




Đông A : Hương Ngọc Lan và Định Kiến

Ở nơi đây một cành hoa mai trắng mong manh trong vườn, một nụ cười thân thiện, những tiếng cám ơn giữa hai người không quen biết đã và đang biến mất dần. Làm thế nào để sống với Hà Nội mà không có những thứ đó ? Tôi chợt nghĩ đến một câu nói nổi tiếng mà không nhớ chính xác của ai: « Văn hóa là những gì học suốt đời vẫn không đủ. Văn hóa là những gì còn sót lại khi tất cả đã bị lãng quên ».

Hương Ngọc Lan và Định Kiến

Đông A

Hồi bé tôi thường được nghe câu ca dao « Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An ». Tôi được nghe giải thích rằng nó tượng trưng cho nếp sống người Hà Nội, thanh cao mà dịu dàng như hoa nhài. Tôi thích hoa ngọc lan hơn, dù hoa nhài cũng thơm một cách rất dễ chịu và khó quên. Tuy vậy mỗi khi nghe câu ca trên, tôi luôn cảm thấy bị dị ứng. Trước hết là vì khen lối sống của người Hà Nội, mà lại nói Tràng An, kinh đô cũ của nước Tầu: thật là vô lý. Giử thử nói câu này khen người Trung Quốc ở Tràng An lịch sự, thì dù rằng chẳng biết đúng sai, ít ra còn có thể thông cảm về mặt ngữ nghĩa. Đằng này, viết Tràng An mà lại bảo Hà Nội vì « cùng là kinh đô », thì quả là một sự nhập nhằng, thậm chí một sự nhận vơ đáng xấu hổ. Huống hồ, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, tôi thấy đây chỉ là một định kiến vì người Hà Nội không luôn thanh lịch như lời ca dao dẫn.

Nếu nói đúng, phải nói là người Hà Nội có những nét thanh lịch không thể phủ nhận, nhưng cũng còn có nhiều thứ khác, khá lủng củng và đôi khi không thể giải thích. Để dẫn chứng, mời bạn đi dạo chợ Đồng Xuân từ khu ba mươi sáu phố phường. Tôi tin bạn sẽ phải dựng tóc gáy vì văn hóa chợ búa ở đây. Mua hàng bị cân thiếu và được ăn chửi là chuyện bình thường. Mà đã lăng mạ nhau thì rất lắm khi giữa cả người bán lẫn người mua. Thời kỳ bao cấp, cứ chỗ nào có vui chơi là có ăn trộm tụ tập, nổi tiếng nhất tại Bờ Hồ và vườn hoa Giám. Ngày hôm nay Bờ Hồ đã được « giải phóng », vườn hoa Giám được quy hoạch khang trang thành khu Văn miếu, nhưng vô số tệ nạn khác lại phát sinh ở khắp nơi. Các công viên buổi đêm vẫn là những tụ điểm của xì ke, nghiện hút, những người không lương thiện. Các con đường vẫn là những nơi xả rác vô tư, và các bờ hồ buổi tối bị biến thành những « chợ tình » bất đắc dĩ. Với tôi, Hà Nội đã và luôn là nơi chất chứa của vô số các tầng văn hóa, từ vô công rồi nghề, đến chợ búa, tiểu thương, hàn lâm, học sỹ. Nó chưa bao giờ thể hiện một sự thanh lịch tinh khiết, nhưng cũng không thể vì thế mà có thể đánh đồng nó với một thói xấu hoàn toàn. Tuy tồn tại và có thể cảm nhận được, nhưng nếp sống Hà Nội chỉ là một khái niệm không định hình. Khái niệm ấy vẫn bị tha hồ nhào nặn để người ta có thể chê bai hoặc khen khống nó, tùy theo tâm lý người nói chuyện với mình. Ôi, thành phố của tôi, thủ đô ngàn năm văn hiến.

Những người có đủ dũng cảm để viết ôn hòa về những thói xấu của Hà Nội vẫn là rất hiếm. Thông tin về Hà Nội luôn nằm giữa hai thái cực. Một bên là những bài văn lung linh hoành tráng mà trong đó Hà Nội hiện lên với những nét mờ ảo thiêng liêng, hào hùng, không đợm tì vết. Bên kia là vô số những tin vặt, tin giật gân, tin 3 dòng viết về những tệ nạn thành phố. Trong những mẩu tin này, chẳng ai nêu đích danh Hà Nội, chẳng ai dám gắn nó với nếp sống người Hà Nội, tất cả đều là tự hiểu. Tệ hơn nữa, có thể bắt gặp cả những lời chê bai cũng đầy định kiến của những người không sống tại Hà Nội. Nhưng để hiểu Hà Nội, và yêu nó, cần phải biết vứt bỏ các định kiến.

Dẫu không phải là người Hà Nội gốc, nhưng tôi vẫn thích mùi ngọc lan, hương thơm dịu dàng rất dễ chịu, khó quên mà hồi bé tôi vẫn được nghe giải thích là trượng trưng cho Hà Nội, nếp sống người Hà Nội thanh lịch, cũng giống như hoa nhài. Thật khó cho một đứa trẻ như tôi hình dung được nếp sống thanh tao ấy.

Nhưng lớn lên rồi, tôi vẫn không tài nào định hình được nét thanh lịch trong dòng ngỗn ngang đủ thứ tạp nhàng của Hà Nội hôm nay. Nếp sống người Hà Nội mang đầy chê bai, định kiến, từ chính những người ngược xuôi trong lòng Hà Nội và cả những người không ở Hà Nội.

Cố công tìm hiểu bề dày lịch sử của Hà Nội để hiểu thêm về nếp sống người Hà Nội, để định nghĩa được thế nào người Hà Nội, và rộng hơn là để biết điều gì làm nên văn hóa Nội thành, tôi chợt nhận ra rằng khái niệm nếp sống Hà Nội là một điều bí ẩn vì thiếu cơ sở lịch sử minh chứng, biến nét thanh lịch của người Hà Nội xưa thành một danh tiếng hầu như không được chứng thực mà chỉ được lan truyền ; và như thế, tạo nên định kiến đối với những người di cư vào Hà Nội đang làm nên Hà Nội. Và một nguy cơ to lớn là văn hóa Hà Nội đang có khuynh hướng trở thành một thứ tạp pí lù, bao trùm khắp to nhỏ.

Tôi muốn tin là Hà Nội thanh lịch. Tôi muốn Hà Nội trở nên thanh lịch…(*)
***
Hà Nội có một bề dày lịch sử mà không phải ai cũng cố công tìm hiểu. Do đó nếu nhận xét nó mà không đặt vào một cái nhìn bao quát lịch sử, thì nhầm lẫn sẽ là chuyện thường tình. Là thủ đô được vinh danh rồng bay thời vua Lý, là nơi thành không nhà trống chống quân Nguyên thời Trần, là nơi phế đô bị quên lãng ngắn ngủi đời nhà Hồ, rồi là nơi hội tụ hiền tài và tinh hoa đời vua Lê, Hà Nội đã ghi lại những biến động lịch sử lớn nhất của nước Việt. Đây là nơi hoàng đế Quang Trung đã đánh tan hơn hai mươi vạn quân Tàu, dạy cho chúng biết nước Nam là có chủ. Đây cũng là nơi Hoàng Diệu tử tiết, đánh dấu cho việc người Pháp thôn tính Việt Nam làm thuộc địa kéo dài suốt 80 năm. Hà Nội đã không ngừng thay đổi, không ngừng được xây dựng và phát triển. Nếu như nền văn hiến được thật sự đánh dấu bằng việc mở Quốc tử giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam, nét thanh lịch của người dân được dần dần quy tắc hóa trong suốt nhiều thế kỷ sau đó để trở thành môt tập hợp các cách ứng xử trong cuộc sống hàng ngày. Đó, trước hết, là đạo đức của sự hiếu học và văn hóa tôn trọng người thầy, được rèn rũa trong tiến trình văn minh của Hà Nội. Tôi vẫn nghe kể, và chính mình đã được học những quy tắc lễ nghi gia giáo. Phải lễ phép với người lớn, phải vâng dạ rõ ràng, đi đâu phải chào hỏi, khách đến nhà phải mời ngồi, mời nước …vân vân và vân vân.

Tập hợp các quy tắc này hẳn đã phải chịu thất lạc và thay đổi để thích ứng với các giao đoạn lịch sử. Cũng như địa giới hay dân số, nếp sống ở Hà Nội luôn thay đổi và không phải bao giờ cũng nằm trong khuôn thanh lịch. Do đó nói người Hà Nội thanh lịch có nguy cơ gặp phải hai lần lỗi. Lỗi thứ nhất là vì Hà Nội không hề là duy nhất, trước sau như một. Nó luôn là nó mà lại không phải là nó. Cũng như thế, thành phần dân số nơi đây luôn biến động. Vì thế khái niệm người Hà Nội cũng còn là một khái niệm mập mờ và không được nắm bắt kỹ lưỡng. Không hề có người Hà Nội chuẩn mực. Lỗi thứ hai là vì những người sống tại Hà Nội cũng không hoàn toàn thanh lịch, mà cũng còn có vô số thói hư tật xấu khác. Kết quả của hai yếu tố này là ta hoàn toàn có thể:

a. bị sốc vì người Hà Nội không thanh lịch, đơn giản vì trót có định kiến họ thanh lịch và,

b. khen người Hà Nội thanh lịch mà không biết rằng họ chưa chắc đã là « người Hà Nội » theo cách hiểu đơn phương và chủ quan của chính mình.

Câu hỏi được đặt ra là cần xác định Hà Nội như thế nào, để sau đó xác định thế nào là người Hà Nội ? Để có thể trả lời, chúng ta cần biết hai yếu tố. Thứ nhất là không gian địa lý của Hà Nội. Trong suốt thời gian tồn tại của mình, đô thị Hà Nội không ngừng được xây dựng, được thay đổi. Quá trình đô thị hóa lan dần từ hoàng thành, trung tâm Hà Nội ra các không gian sản xuất và trao đổi xung quanh, biến chúng thành các khu dân cư. Từ đó hình thành bộ mặt của thành phố. Cho đến tận cuối thế kỷ XIX, Hà Nội vẫn rất ít được xây dựng và bao gồm vô số các làng cổ. Xác định được không gian sống của người Hà Nội là điều không hề đơn giản. Thứ hai là phải dùng đối tượng dân cư nào để xác định người Hà Nội ? Liệu chỉ có thể tính những người dân đã sống tại đây từ nhiều đời, hay có thể tính cả những cư dân từ nơi khác dời đến đây sống ?

Trước hết hãy nói về yếu tố địa lý. Một thói quen thường thấy khi nói về Hà Nội cổ xưa, là dẫn chiếu đến khu 36 phố phường, khu hoàng thành, và Hồ Gươm, nghĩa là không tính các khu sản xuất. Chúng ta biết rằng sau khi được khai sinh, Thăng Long vươn ra từ các khu phụ cận với hoàng thành. Giảng võ đường, là nơi huấn luyện võ nghệ cho binh sỹ, Quốc tử giám, là trường đại học đầu tiên của Việt nam. Bản đồ 1 (trang 69, Papin). Ngày hôm nay, Hà Nội cổ ở mức ấy chỉ còn là vết tích các công trình xây dựng cũ: một mảnh tường thành cửa Bắc, cổng Ô Quan Chưởng, và rùa đá ở Văn Miếu. Khu hoàng thành cũ bị sử dụng làm là doanh trại quân đội. Hồ Gươm và 36 phố phường vẫn còn đó, nhưng bị biến thành những khu buôn bán và du lịch. Nhà cửa chật hẹp, cổ lỗ, các điều kiện vệ sinh và điện nước không đảm bảo một không gian sống. Nếu dừng lại ở giới hạn công trình xây dựng, thì Hà Nội quả là quá nhỏ hẹp. Nó chỉ là sự tập hợp của một nhúm người sống trong những địa điểm có chiều dày kiến trúc lịch sử. Khó lòng có thể tưởng tượng được nếp sống của họ thanh lịch như hoa nhài, và nhất là liệu có thể chấp nhận họ là đại diện cho những người Hà Nội gốc ?

Một khuynh hướng thứ hai là dẫn chiếu đến Hà Nội bao gồm tất cả các khu kiến trúc nói trên, và thêm vào đó Hồ Tây và các làng cổ phụ cận phục vụ sản xuất hàng hóa sinh hoạt thiết yếu. Đây hẳn phải là một cách dẫn chiếu hợp lý nhất vì nó làm cho đô thị (agglomeration) hiện hữu một cách tự thân đầy đủ. Đây cũng là cách dẫn chiếu được các nhà quy hoạch hiện đại sử dụng nhiều nhất, theo đó một đô thị có thể bao gồm thành phố trung tâm và các không gian kinh tế và không gian sống phụ thuộc vào nó. Các không gian này cung cấp hàng hóa, dịch vụ và sức lao động cho khu vực trung tâm.

Nếu sử dụng cách dẫn chiếu này thì Hà Nội sẽ bao gồm tất cả các làng cổ và làng nghề thủ công. Bản đồ của người Pháp vẽ Hà Nội vào thế kỷ XVIII, cuối thế kỷ XIX cho thấy các làng này còn chiếm một phần rất lớn địa giới của Hà Nội. Ngoài khu 36 phố phường, Hà Nội sẽ bao gồm lên các làng hoa ở Ngọc Hà, Quảng Bá, làng đào ở Nhật Tân, các làng mai ngày nay không còn tồn tại nhưng dễ dàng được nhận ra nhờ tên gọi cũ : Bạch Mai, Hoàng Mai, Mai Động…, các làng trồng rau ở Láng, làm giấy ở Yên Thái, Cầu giấy, làm lụa ở Nghi Tàm, đúc đồng Ngũ Xã. Nếu đi xa hơn nữa, ra hẳn ngoài ranh giới chính thức của nội đô, ta có thể tìm thấy ở Bát Tràng, Thanh Trì, Định Công, Vạn Phúc, Ngọc Hồi, dấu tích các làng cổ khác. Sự hình thành các làng cổ này tương ứng với thời điểm mà Hà Nội trở thành một điểm giao thương lớn của cả nước, nguồn gốc của cái tên Kẻ Chợ.

Khó khăn lớn nhất ở đây là phải biết liệu các làng này có tồn tại như những quần thể tương đối độc lập ? hay bị hòa nhập với toàn bộ Hà Nội như là một bộ phận của đô thị ? Nghĩa là nếu tính các làng cổ này, thì phải chỉ ra được chúng là những làng nào? được coi là Hà Nội từ những thời điểm nào ? Thời gian đã xóa nhòa rất nhiều thứ. Ngày hôm nay Nghi Tàm không còn dệt lụa, Giảng Võ không còn dạy võ, Ngọc Hà không còn trồng hoa. Đấy là chưa kể các làng nghề khác ở xa hơn chỉ trở thành một phần Hà Nội rất lâu sau này. Bao nhiêu người liệu có thể nói được các làng cổ cổ đến mức nào ? Tự bao giờ chúng là một phần chính thức của Hà Nội? Đến khi nào chúng không còn giữ những chức năng ban đầu của mình – Nghi Tàm thôi dệt lụa, Giảng võ ngừng thao luyện và Ngọc Hà hết đất trồng hoa ? Vào những thời điểm đó, những người sống tại các làng này đến từ đâu ? và có được coi là người Hà Nội hay không ? Sự thiếu vắng cơ sở xác định những yếu tố trên đã góp phần biến khái niệm nếp sống Hà Nội trở thành một điều bí ẩn, và biến nét thanh lịch của người Hà Nội xưa thành một danh tiếng hầu như không được chứng thực mà chỉ được lan truyền.

Một điều có thể chắc chắn là nếu tính những làng cổ, thì số dân trồng hoa, trồng rau và làm thủ công phải lớn hơn nhiều lần số người thanh lịch biết uống trà thưởng hoa thanh nhã. Điều này thiết tưởng cũng không lấy gì làm lạ vì về bản chất, Việt Nam là một đất nước nông nghiệp. Trong quá khứ, Hà Nội có thể đã là một nơi đô thị sầm uất hơn hẳn nơi khác, nhưng tránh khỏi nếp sống nông nghiệp là điều không thể. Đành rằng các làng trồng hoa không hẳn đã là nông dân như người kéo cày trồng lúa, nhưng cũng không vì thế mà không có sự nhọc nhằn vất vả. Sự vất vả của nghề nông có lẽ chính là một nguyên nhân đã làm biến mất nghề trồng hoa ở nội đô. Nhìn từ góc độ xã hội và với sự tôn trọng rất lớn những nghề nghiệp này, người ta không thể không nghi ngờ hai chữ thanh lịch khi chúng đại diện cho người Hà Nội. Đấy là chưa kể sự phát triển của chợ sẽ kèm theo sự ra đời của những hệ lụy không hay như rác rưởi bừa bãi, và các tệ nạn như cò con, lừa đảo, và trộm cướp.

Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ có một đoạn rất thú vị viết về nạn lừa đảo và trộm cướp, xin được trích dẫn ở đây. « Phường Diên Hưng (Hàng Ngang) và phường Đồng Lạc (Hàng Đào) là nơi phố hàng áo, bán các thứ tơ lụa vóc nhiễu rất nhiều. Phiên chợ là những ngày: mồng một, mồng sáu, mười một, mười bốn, rằm, hai mươi mốt, hai mươi sáu, ba mươi. Phiên chợ phường Bạch Mã (Hàng Buồm) cũng là một chỗ buôn bán rất huyên náo. Những quân trộm cắp hay thừa cơ cướp giật, có khi thò tay vào túi người ta móc lấy hết cả. Có khi chúng cố ý làm cho ồn ào, đổ xô nhau mà chạy để rồi cắp bọc áo người ta, hoặc khuân đồ vật hàng hóa. Có khi chúng huyên truyền là voi lồng ngựa sổ để các người chợ búa và người đi đường xô nhau chạy, hàng hóa đồ vật vứt bừa bãi; lúc biết là chúng huyên truyền láo thì quân kẻ cắp đã phỗng hết cả rồi. Một hôm, ở phường Đông Các (Hàng Bạc) có một bà lớn đi võng mành mành cánh sáo, đầy tớ lính hầu rậm rịch, đến trước cửa một nhà hàng bạc, truyền thị tỳ dừng võng lại để hỏi mua mấy chục nén bạc. Mà cả giá chưa xong, bà lớn ngồi trên võng truyền vú già hãy cầm chục nén bạc đem về dinh, trình quan lớn xem qua, sẽ định giá. Chủ nhà hàng cũng không ngờ gì. Một lát, thị tì và lính hầu lẻn dần đi hết, hai tên lính khiêng võng cũng cút mất. Trời đã gần tối, chờ mãi chẳng thấy người vú già cầm bạc trở lại, nhà chủ mới đến trước võng hỏi bà lớn để đòi bạc. Mở mành mành xem thì té ra là một mụ lão ăn mày, mù cả hai mát, mặc áo nhiễu điều, ngồi chễm chệ trong võng, mơ màng không biết nói ra sao. Nhà chủ cho đi tìm hết mọi nơi, không còn thấy tăm hơi đâu cả, chỉ bắt được có cái võng cũ nát, giá không đáng mấy quan tiền. Ấy, những lối ăn cắp lừa dối như thế rất nhiều, không thể kể hết được. Cái tài giỏi của kẻ gian cũng lắm lối rất buồn cười, xem thế đủ hiểu cái thịnh suy của đời thăng bình vậy ».

Ngày hôm nay, việc xác định Hà Nội chỉ còn có thể dựa vào tiêu chí cuối cùng là mốc địa giới của Nhà nước. Vấn đề là tiêu chí này chỉ làm việc nhận chân nếp sống Hà Nội là càng không thể. Trước kia, Đống Đa hoàn toàn là nơi ngoại ô (nằm ngoài cửa ô), hôm nay là một quận đông dân nhất thành phố. Sóc sơn, Gia Lâm trước là ngoại tỉnh, nay đã là những huyện ngoại thành. Và Hà Nội sẽ còn phải mở rộng nhiều để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia. Khi chính phủ vừa quyết định đưa địa giới Hà Nội về Hà Tây và Hòa Bình, liệu chúng ta đã sẵn sàng để coi người dân những vùng này là người Hà Nội? Nếp sống Hà Nội càng lúc càng trở thành một khái niệm không thuần nhất. Bạn đọc xin đừng cho rằng tôi phê phán điều đó. Tôi chỉ muốn nói rằng không hề có một nếp sống thuần Hà Nội để có thể gọi nó là thanh lịch. Xin đừng quên Hòa Bình và Hà Tây cũng có những nét văn hóa riêng, và dù tốt, dù xấu trong mắt nhiều người, những luồng văn hóa này chưa chắc đã cần phải gắn mác Hà Nội để có thể tồn tại.

« Thời gian đã xóa nhòa rất nhiều thứ. Ngày nay Nghi Tàm không còn dệt lụa, Giảng Võ không còn dạy võ, Ngọc Hà không còn trồng hoa. »

Bây giờ xin đề cập đến yếu tố dân số. Dân số Hà Nội vào ngày tiếp quản thủ đô là 53,000 người, vào năm 1990 là 2,6 triệu người, vào năm 2009 là hơn 6 triệu người. Số chênh lệnh di dân hơn 10 000% đó đã làm nên sự thịnh vượng của thủ đô. Họ từ đâu đến ? Từ một vùng quê nào đó của nước Việt. Họ có phải người Hà Nội không ? Làm sao có thể nói không khi cuộc sống của họ gắn liền với cuộc sống của thủ đô ? Những con số này buộc chúng ta phải nghi vấn khái niệm người Hà Nội ? phải là người Hà Nội gốc ư ? Hay chỉ cần sống một thời gian đủ dài tại Hà Nội. Tôi ngả về tiêu chí thứ hai bởi vì lịch sử của Hà Nội là lịch sử của sự hội tụ. Những người đã làm nên Hà Nội đâu phải đều là người Hà Nội. Lịch sử của mảnh đất này được viết nên bằng máu của tất cả những người đã gìn giữ nó, và gìn giữ đất nước. Đó là những anh hùng dân tộc như Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương. Hay những danh nhân như Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh, Lương Văn Can. Trong số này, không có ai là người Hà Nội « gốc ».

Suy nghĩ rằng người Hà Nội thanh lịch phải là người xuất thân từ phố cổ và làng cổ, cứ như thể chỉ những nơi này mới là chuẩn mực cho một nếp sống Hà Nội, như vậy rõ ràng không có tính thuyết phục xã hội. Có người nói muốn biết có phải người Hà Nội gốc hay không, phải xem gốc gác 3 đời. Theo tiêu chí này nếu đời ông bà là người Hà Nội, bố mẹ là người Hà Nội, và bạn sinh ra lớn lên ở Hà Nội, thì mới được tính là người Hà Nội. Đây quả là một kiểu phân loại lố bịnh và đầy ý niệm giai cấp, được lịch sử phong kiến để lại. Ông bà ngoại tôi là người Hải Dương, ông bà nội tôi ở Nam Định, mẹ tôi sinh ở Hà Giang và bố tôi ở Thái Lan. Sinh ra tại Hà Nội, nếu tôi không phải người Hà Nội thì sẽ là người ở đâu bây giờ?

Ở Hà Nội còn có bao nhiêu người vô danh không thể « đếm mặt, đặt tên ». Đó là những người bán hoa, bán hàng rong, bán quà sáng, những em bé đánh giày, bán báo, những anh xe ôm, đạp xích lô. Họ không phải người Hà Nội ư ? Cũng có thể. Vấn đề là một khi cuộc đời họ đã gắn bó với Hà Nội, nếp sống của họ sẽ hòa vào dòng chảy văn hóa nơi đây. Vì sao chối bỏ nó, vì sao ruồng rẫy nó ? Nếu thiếu nó thì Hà Nội cũng đâu còn là Hà Nội. Có hề hấn gì không khi ta không phải người Hà Nội gốc, nhưng hàng ngày vẫn sống cùng với nhịp đập của thành phố ?

Hà Nội, thành phố ở trong sông, cái tên ấy thật đẹp. Nhưng ngày hôm nay, Hà Nội không còn là thành phố ở bên trong sông. Con sông Hồng bãi lở bãi bồi đã từ lâu rồi lọt vào tầm ngắm quy hoạch dự án xây dựng. Những vườn hoa đào đang mất dần, thay vào đấy là những dự án lấy đất làm chung cư và khu giải trí. Một nguy cơ to lớn là văn hóa Hà Nội đang có khuynh hướng trở thành một thứ tạp pí lù, bao trùm khắp to nhỏ. Nó sẽ phủ rộng từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ doanh nghiệp đến tiểu thương, từ thất nghiệp đến văn phòng, từ ăn mày đến hàn lâm, nghệ sỹ. Nó đang bị biến trở thành một thứ văn hóa của siêu đô thị trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Nó trộn vào cuộc sống hiện đại sự du nhập của văn hóa tiêu thụ phương Tây, văn hóa hào nhoáng lòe loẹt của Trung Quốc, văn hóa gia phong khép kín của lịch sử, văn hóa chợ búa lừa đảo. Trong cái đống hỗn độn ấy của tắc đường, của chen lấn và khói bụi ấy, làm sao giữ được mùi hương ngọc lan? làm sao gìn giữ được những nét thanh lịch hào hoa mà chúng ta đang cố định hình ?
***
Tôi có quen một người Pháp đã giúp đỡ rất nhiều sinh viên Việt Nam du học tại Paris. Vốn sẵn máu phiêu lưu lại làm về quan hệ quốc tế nên ông đã có dịp đặt chân lên rất nhiều nơi trên thế giới. Thuộc týp người chỉ cần một balô trên vai và một chiếc máy ảnh trên cổ để đi từ những cánh đồng tuyết Siberi tới những đỉnh cao của dãy Himalaya, ông chụp rất nhiều ảnh. Ông đã cho tôi xem những bức ảnh của phố cổ Hà Nội những năm 1990, ngay đầu thời kỳ đổi mới. Ông có hơn 1500 bức ảnh chụp Hồ Gươm cũng vào cùng giai đoạn. Tôi thích lắm vì nó gợi lại cả một ký ức tuổi thơ khi tôi mới lớn, những thứ mà tôi đã được nhìn, nhưng chẳng bao giờ còn được nhìn lại. Ông thản nhiên nói với tôi rằng, Hà Nội là thành phố đẹp nhất châu Á không thể bàn cãi. Câu nói đó vô tình làm sống lại trong tôi tình yêu và kỷ niệm của quê hương. Tôi nhớ cái lạnh đầu đông Hà Nội. Tôi nhớ mùi hương ngọc lan. Tôi nhớ những con phố phủ đầy lá rụng trên vết rêu phong. Tôi nhớ chiều 30 Tết, tôi và em được cô đơn chiêm ngưỡng những vườn hoa đào bạt ngàn không bóng người ở Nhật Tân, những luống violet, hoa hồng, hoa cúc, hoa layơn muôn sắc. Cả Hà Nội đã bỏ trốn, để lại mình chúng tôi trên cánh đồng.

Tôi muốn tin là Hà Nội thanh lịch. Tôi muốn Hà Nội trở nên thanh lịch như Paris, London hay những thành phố lớn khác mà tôi đã đi qua. Nhưng tôi chán ngán với những sự thanh lịch giả dối. Kết cục của sự giả dối là sự pha trộn tạp nham những điệu bộ kịch cỡm, những cái bắt tay hững hờ và những ngôn ngữ cử chỉ trần trụi, vô học. Và tôi không muốn nhìn thấy một Hà Nội là con rồng cất cánh vật vờ thiếu bản sắc giữa một thế giới của quy luật tư bản đơn điệu. Những kiến trúc hào nhoáng, những trung tâm shopping liên hoàn, và những ngọn tháp chọc trời không biến sa mạc Arập Xêút thành nơi hội tụ văn hóa. Những cây phong, cây bàng, cây cơm nguội, những mái nhà rêu phủ, những cô gái xinh đẹp như hoa lan, nụ cười trong như nước, với tôi đấy mới là Hà Nội. Ở nơi đây một cành hoa mai trắng mong manh trong vườn, một nụ cười thân thiện, những tiếng cám ơn giữa hai người không quen biết đã và đang biến mất dần. Làm thế nào để sống với Hà Nội mà không có những thứ đó ? Tôi chợt nghĩ đến một câu nói nổi tiếng mà không nhớ chính xác của ai: « Văn hóa là những gì học suốt đời vẫn không đủ. Văn hóa là những gì còn sót lại khi tất cả đã bị lãng quên ».

Đông A

http://vi.wikipedia.org/wiki/Hà_Nội
Vũ Trung tùy bút, Phạm Đình Hổ. Bản dịch của NXB văn học 1972
http://www.sachxua.net/forum/index.php?topic=74.0
– Lịch sử của Hà Nội, Philippe Papin – Trường Viễn đông Bác Cổ, NXB Fayard, 2001 (Nguyên văn : Histoire de Hanoi)
(*) lời dẫn do biên tập viên thêm vào.

Đông A
Theo: Diễn Đàn Net




Phùng Nhân : Con Chó Với Người Mù

              Phùng Nhân

Hôm nay như thường lệ, hằng tháng tôi phải đi đến bịnh viện Concord NSW để gặp vị bác sĩ đặc biệt của mình; mặc dầu căn bịnh của tôi nay đã hết, có lẽ chỉ còn tái khám trong vài tháng nữa rồi thôi. Sau đó tôi sẽ tái khám định kỳ, có thể 3 tháng một lần, hay 6 tháng, hay một năm thì tôi chưa được biết. Vì mỗi lần sau khi khám vị bác sĩ thường mỉm miệng nở nụ cười, khi tìm đọc trên bảng kết quả thử máu của tôi, rồi bắt tay chúc mừng cho tôi đang chịu thuốc…

Sau mỗi lần tái khám như vậy thì tôi đi ra ngồi trước cổng bịnh viện đón xe đi ra ga xe lửa Strathfield, đón chuyến xe lửa đi trở ngược trở về ga xe lửa Cabramatta, rồi đón xe Bus đi thêm một chặn nữa mới tới nhà, nên thường thì một lần tái khám là tôi phải đi gần hết một ngày trời chớ không có ít!

Nhưng hôm nay trên băng ngồi đợi, tôi lại thấy một người mù trạc chừng 30 tuổi, cùng với một con chó dẫn đường đang nằm gác mỏm đợi xe, mà trên gương mặt rất thản nhiên chớ không có điều chi lo lắng. Làm cho tôi chạnh lòng nhớ lại một câu chuyện cách nay cũng hơn 20 năm rồi chớ không có ít, đã xảy ra ở trên đất nước Việt Nam của tôi vào giữa năm 1976…

     Hồi đó sau khi miền nam thất thủ, tôi vẫn còn là một thanh niên khỏe mạnh yêu đời, cho nên tôi không hề nề hà bất cứ công tác nào nếu được cấp chĩ huy phân công chỉ định, nhờ vậy tôi mới có cơ hội lội đi chích ngừa bịnh dịch tả khắp cả một vùng khi đất nước miền Nam khi vừa im tiếng súng. Toán chích ngừa của tôi gồm có 3 người, bắt đầu từ xã Tân Hiệp quận Bến Tranh, chích ngừa dài vô tới tận xã Phú Mỹ, rồi từ kinh Nguyễn Văn Tiếp bọc ra đụng xã Bà Tồn, nhưng tổ chích ngừa chúng tôi phải tự túc đóng ở nhà dân, nhờ vậy mà chúng tôi mới có dịp tiếp xúc với những người dân, đã từng đội bom đội đạn trong suốt 21 năm trời chiến tranh giặc giả.

Nhưng ở ngay trong xã Bà Tồn nằm cạnh quốc lộ 4 Miền Tây làm cho tôi phải chứng kiến một cảnh quá đau lòng, đó là một ông lão mù và một con chó mực lông tuyền. Ngày nào cũng vậy khi mặt trời sắp lặn xuống khỏi chòm cây trước sân trường học, thì ông lão và con chó cũng dắt nhau về trường học đó để đóng đô. Thoạt đầu chắc mấy người du kích xã cũng không ai để ý, vì hằng ngày họ còn phải bận tâm để xét xe đò, xe Lam, xe Honda, xe đạp để chận bắt gạo và tôm khô, cùng với hằng trăm thứ mặt hàng khác mà chánh quyền mới họ đang ngăn cấm. Cho nên ông lão mù và con chó rất ung dung, hằng ngày vẫn sống với cái lon nhôm từ tâm của những người bố thì, khi thì vắt xôi, khi thì trái bắp, khi thì củ khoai cũng tạm nuôi sống qua ngày, nước da của ông lão mù cũng bắt đầu mỡn ra, vì ăn uống có phần tạm đủ. Còn con chó thì lông lá vẫn mượt mà, có lẽ đó là loại chó lông tuyền nên rất dễ bắt mắt cho những người ăn nhậu say sưa, nên trong đám du kích đã có người dòm ngó.

Rồi vào một buổi chiều như thường lệ sau khi hùn gạo lại để nấu cơm ăn xong, tôi và thằng Tài rủ nhau đi dạo mát. Khi chúng tôi đi ngang qua trường tiểu học Bà Tồn, thì thấy có hai người du kích đang sân si với ông lão mù một cách rất dã man; động tánh hiếu kỳ bất chấp hiểm nguy, tôi và thằng Tài rủ nhau ghé lại xem coi việc gì đang xảy ra cho biết.

Trước mắt tôi là ông lão đang quỳ ôm con chó, để van lạy hai thằng du kích xin được sự sống còn, vì nếu hai ông mà bắt con chó đem đi, thì tôi đâu còn ai để dẫn đường xin ăn độ nhựt. Nhưng hai thằng du kích vẫn với gương mặt lạnh như tiền, đã hườm sẵn khẩu súng trên tay, dường như tụi nó đang đối phó với kẻ thù thuộc loại ác ông thứ dữ. Hai bên cứ lời qua tiếng lại một hồi, ông lão mù thì nhứt định lấy sinh mạng của mình ra để che chở con chó trong lúc nguy nan, còn hai thằng du kích thì cứ đứng canh chừng đợi con chó hở ra thì nổ súng. Cuối cùng rồi một thằng du kích đã phán xuống một câu:

– Chúng tôi đã theo dõi ông lâu lắm rồi. Ông là nhân viên CIA của Mỹ, làm bộ giả đui để đi dọ thám, cho nên ở trên chỉ thị xuống phải bắt giết con chó của ông, để xem ông còn đui nữa hôn cho biết.

  Ông lão mù nói qua màn lệ:

– Tôi đui nay cũng đã mười mấy năm rồi trong một tai nạn xe hơi, chớ tôi đâu có biết CIA là cái gì mà mấy ông nói vậy. Nếu không nhờ có con chó Mi Nô nầy dẫn đường thì tôi đã chết đói từ lâu, vậy mấy ông thương mà tha cho làm phúc. Chớ tôi là một kẻ tật nguyền, không vợ không con, thì tôi biết làm nghề gì để mà nuôi sống!

Một thằng du kích gằn giọng nói:

– Ông muốn sống bằng nghề gì đó là chuyện của ông, nhưng chế độ nhà nước của chúng ta không cho phép ông đi ăn xin ngoài đường, chúng tôi báo cho ông biết trước có ngày thì ông sẽ bị hốt đi lên vùng kinh tế mới.

Sau khi nghe qua những lời đối đáp, làm cho máu nóng trong người tôi lại bốc lên, nên tôi vội vã bước tới che ngang rồi nói nhỏ:

– Xin hai ông thương dùm ông lão mù nầy, nếu bắt con chó mực nầy đi, thì ông lão đâu còn ai dẫn đường để đi xin ăn, vì ông ta đã mù lòa đâu có biết làm gì để mà sinh sống!

Nhưng thằng du kích đầu đội nón tai bèo, chân mang giép lốp vỏ xe nhìn tôi nói lớn:

– Ông mà biết cái gì mà cũng xen vô, lạng quạng chúng tôi nổi nóng còng ông luôn mới báo.

Nhưng tôi không sợ, tôi vẫn trả lời:

– Việc đó thì tùy ông, nhưng chánh sách của nhà nước hiện nay chưa có bắt mấy người mù đi về vùng kinh tế mới, cũng như chưa có lịnh cấm mấy người mù nầy không được xin ăn, vì đó là phương cách kiếm sống cuối cùng của những người tàn tật!

Hai thằng du kích lườm tôi một phát, rồi bọn chúng xốc khẩu súng lên vai, sau đó đi một hơi ra chợ, làm cho tôi cũng ngơ ngác hết vài vây, vì tôi cũng không ngờ trên thế gian lại có những con người độc ác như thế nầy, nên tôi ngồi xuống cạnh ông lão mù an ủi:

– Thôi ông cũng đừng buồn, ngày mai lo kiếm chỗ khác để xin ăn, chớ còn nấn ná ở đây tôi e bất tiện. Vì bọn chúng đã muốn bắt con chó của ông, cho nên nó mới kiếm chuyện chụp mũ lên đầu, vậy ông hãy đề phòng đừng tranh cãi với bọn chúng mà không có lợi.

Ông lão mù sau khi lấy tay chặm mắt rồi nói:

– Nhưng tôi lại biết đi đâu, trong khi bốn bề đều săn đuổi, còn tôi thì hai mắt bị mù, bây giờ tôi biết phải lam sao, chỉ có con chó để dẫn đường, vậy mà họ cũng nỡ toan bắt đem đi làm thịt!

Tôi an ủi tiếp:

– Hay là ông đi về bến xe Mỹ Tho, ở nơi đó khách thập phương lại nhiều, có thể mình dễ kiếm miếng ăn hơn. Chớ còn ở nơi đây là vùng quê hẻo lánh, rủi có bề gì chỉ khổ thân ông, vì thời buổi bây giờ đâu có ai dám bận tâm mà binh vực…

Ông lão mù sau vài giây trầm ngâm rồi nói nhỏ:

– Hồi trước giờ tôi vẫn sống ở đó chớ ở đâu, nhưng bây giờ ở ngay bến xe có ông trung úy Thông hiện làm trưởng đồn công an rất là độc ác. Chẳng những ông ta đã cấm mấy người mù ăn xin, mà ông ta còn lấy cây đờn guiltar của tôi đập bễ, rồi còn bắt nhốt tôi hết một đêm, làm cho tôi bị muổi cắn sần mình, bây giờ nhớ lại tôi đây còn kinh hãi. Cho nên bây giờ tôi chỉ còn có một con chó mực nầy, nếu ở đây người ta bắt nó đem đi làm thịt, thì tôi biết sống với ai. Nói xong rồi ông lão mù lại sa nước mắt lưng tròng, làm cho tôi cũng phải chạnh lòng thương hại muốn khóc theo, khi chợt nhìn thấy trong hai hóc mắt dường như đang sâu thăm thẳm muôn trùng, để chứa đựng cả một cuộc đời vất vã gian truân, mà ông lão mù phải cam tâm gánh chịu cho đến ngày nhắm mắt!

Tôi chép miệng thở dài rồi nói nhỏ:

– Vậy đêm nay ông phải cẩn thận, đừng để cho con chó nầy chạy ra ngoài, vì sợ họ đang rình rập quanh đây, rôi ông cũng không có cách gì để mà bảo vệ.

Ông lão mù nhìn tôi rồi hỏi lại:

– Vậy chớ chú là ai mà lại dám tỏ lòng tốt với tôi trong lúc nầy, chú không sợ họ thù ghét hay sao, chính nghĩa cử của chú làm cho tôi vô cùng cảm động.

Tôi bàng hoàng trong giây lát, rồi nói nhỏ:

– Chúng tôi cũng như ông đã sanh ra và lớn lên ở miền Nam nầy, nhưng bây giờ phải đành cúi mặt để nín thở qua sông, phải mang một túi thuốc đi xuống xã để chích ngừa dịch tả cho đồng bào, chớ tôi cũng không phải là một người cán bộ nằm vùng, nên tôi không có quyền hạn để bảo vệ cho ông như lòng tôi mong ước.

Sau đó tôi và thằng Tài đứng dậy ra về với tấm lòng bàng hoàng xúc động, nhưng chúng tôi cũng không biết phải làm sao; vì chúng tôi là những người công chức của chế độ cũ đang bị chế độ mới bắt đi đày, lẽ ra với những mảnh bằng mà tôi đang có, tôi không thể bị điều về xã để làm một công tác như một người cán bộ y tế nông thôn. Nhưng nếu tôi không chấp hành thì tôi phải hồi cư về quê làm ruộng, hoặc đi về vùng kinh tế mới trên xã Bà Bèo, mà ở đó hiện tại đất phèn chưa có thể trồng xuống một thứ cây gì sống nổi!

Sáng hôm sau toán chích ngừa chúng tôi bắt đầu đi chích vào trong xóm nhỏ, cặp hai bên bờ kinh Bà Tồn nhà cửa san sát khang trang, để chứng tỏ nơi đây là vùng đất rất là trù phú. Nhưng phần đông dân chúng ở nơi đây họ đang thờ đạo Hiếu Nghĩa rất hiền hòa, hằng đêm họ phải tự nguyện ngồi cúng một thời kinh, cho nên trên gương mặt của họ rất là bình thản, chớ không có dấu hiệu lo toan, khi cuộc sống xung quanh mỗi ngày đang vây khổn.

Rồi một ngày làm việc chích ngừa cũng qua mau, khi bóng mặt trời đã ngả lần về tây, thì toán chích ngừa của chúng tôi rút lần ra lộ đá. Tôi và thằng Tài thì được ông chủ tịch xã gởi cho ở tạm tại nhà ông Bảy có đầu tóc cũng đang thờ đạo Hiếu Nghĩa, còn cô Loan thì được gởi đến ngủ nhờ ở nhà của bà chủ tịch hội phụ nữ xã Bà Tồn, nhờ tấm thân con gái có chút nhan sắc mặn mà, nên cô Loan lúc nào cũng sung sướng no nê, khi đã lọt vào cặp mắt thèm thuồng của những đứa con trai đang làm du kích xã.

Tắm rửa vừa xong thì trong dạ tôi lại bồn chồn khó chịu, dường như tôi đã linh cảm có một chuyện gì đang xảy đến cho ông lão mù, nên tôi biểu thằng Tài thôi bữa nay mầy ở nhà lo nhúm lửa nấu cơm, còn tao phải lội ra ngoài trường học một chút. Thằng Tài biết ý nhìn tôi rồi căn dặn:

– Mầy đi ra ngoài đó nếu thấy chuyện gì trái tai gai mắt thì cũng phải ráng dằn xuống nghe hôn, chớ mầy mà can thiệp ẩu thì có ngày nó bắt mầy đi cải tạo mút mùa lệ thủy. Tới chừng đó chỉ còn có nước cầm cây cuốc kêu trời; vì thời buổi bây giờ thân ai nấy lo, lạng quạng thì chết chùm mới khổ!

Tôi không nói không rằn, nhét vội gói thuốc lá thương nghiệp vào trong túi áo ra đi, mà trong lòng lại vẫn vơ lo sợ. Từ nơi nhà ông Bảy, rồi tôi leo lên móng cầu Bà Tồn mới quẹo trái vào trường tiểu học. Nhưng khi tôi tới nơi thì ông lão mù đang ngồi khóc hu hu, còn con chó mực ở nơi đâu mà tôi không nhìn thấy, làm cho tôi cũng chạnh lòng, khi đoán được một phần của hoàn cảnh ông lão mù đã xảy ra.

 Đợi cho qua cơn xúc động, rồi tôi ngồi xuống bên ông hỏi nhỏ:

– Con chó mực đâu rồi, tại sao ông khóc?

Ông lão mù nức lên một tiếng lớn rồi nói:

– Tụi nó đã bắt con chó của tôi làm thịt rồi!

Tôi hỏi tiếp:

– Ai bắt?

Ông lão mù đáp:

– Mấy thằng du kích…

Tôi hỏi nữa:

– Chúng nó bắt hồi nào?

Ông lão mù ngó qua tôi rồi kể:

– Hồi sáng nầy khi tôi và con chó đang ăn xin trong chợ Bà Tồn, khi đó chắc cũng được vài củ khoai, thì bất ngờ có mấy tên du kích xuất hiện, tiếp theo sau đó là một loạt đạn nổ vang, con Mi Nô rên lên vài tiếng rổi dảy chết!

Kể xong ông lão mù lại khóc rống lên vô cùng thảm thiết, khiến cho tôi cũng phải chạnh lòng nhưng không biết phải làm sao, nên tôi xoa lên vai ông rồi nói:

– Tôi cũng đoán trước chuyện đó phải xảy ra, vì tụi nầy đang thèm thịt chó, nên ông cũng khó lòng bảo vệ trước những cơn đói khát thèm thuồng. Thôi ông hãy ráng dằn lòng lại, đợi mai mốt đi kiếm một con chó khác về nuôi. Chớ còn bây giờ ngồi đây khóc lóc, rồi đêm tối tụi nó nhậu say, tìm đến ông để giết luôn thì uổng mạng!

Ông lão mù lại nức lên rồi nói:

– Nhưng con Mi Nô nầy đã ở với tôi từ nhỏ cho tới bây giờ, mất nó là tôi mất thêm nửa phần thân thể. Không phải con chó nào cũng khôn và trung thành như con Mi Nô nầy đâu, tội nghiệp cho nó hồi sáng nầy dường như nó đã linh cảm một điều gì, cho nên nó muốn dắt tôi đi vào trong xóm nhỏ. Nhưng tôi nghĩ buổi sáng sớm mình tạt vào chợ xin ăn thì chắc dễ dàng hơn, đến trưa thì mình đi xin trong xóm cũng được chớ không có gì gấp gáp. Tôi cũng không ngờ đó là một lần đi vĩnh biệt với tôi, nên bây giờ nhớ lại tôi vô cùng ân hận!

Tôi ngồi nói chuyện với ông lão mù thêm một hồi nữa rồi đứng dậy ra về, tôi cũng không quên gởi lại cho ông một chút đỉnh tiền, và khuyên ông ta hãy tạm thời gắn gượng để sống qua lúc nầy, vì ông có khóc lóc than van, cũng không làm động lòng cho những con người cuồng tín.

Tôi đã thất thểu đi trở ra bờ lộ, nhưng trên khóe mắt tôi giòng lệ nóng đã dâng trào, khi nghĩ tới cái cảnh quạnh hiu của một ông lão mù, rồi đây còn ai để dắt đi ăn xin trong xóm nhỏ. Không biết cuộc sống của ông lão rồi sẽ ra sao, khi đất nước hiện giờ đang đói khổ, thì làm sao người ta xúc động được mối từ tâm, để bố thí cho những kẻ ăn mày, thì ông lão mù nầy làm sao sinh sống!

Khi về đến nhà tôi và thằng Tài vừa và được vài miếng cơm, thì cô Loan lại đến nhìn chúng tôi vui cười rồi nói:

– Hai anh bữa nay ăn cơm với gì đó?

Tôi cười mỉm trả lời:

– Khô cá lù đù với rau lang luộc của ông Bảy mới cho. Còn cô Loan ăn cơm với gì mà trông vui thế?

Cô Loan ngồi xuống kế bên tôi rồi nói:

– Bữa nay em được bà chủ tịch hội phụ nữ đãi cho một bữa thịt chó hon, ăn với cơm nếp nên ngon thôi hết biết…

Vừa lúc đó thì ông Bảy chủ nhà lại xen vô nói:

– Hèn chi. Hồi sáng nầy tôi đi lại đằng ủy ban để xin một giấy phép đi đường, thì đã thấy mấy ổng đang thui một con chó coi mòi mập quá.

Tôi nhìn ông Bảy, rồi nhìn qua cô Loan nói nhỏ:

– Đó là con chó của một ông lão mù, đã từng dắt ông ta đi ăn xin trong mấy năm qua, bây giờ hiện tại ông lão đang nằm vật mình khóc than nơi trường tiểu học.

Ông Bảy ngạc nhiên nhìn tôi hỏi lại:

– Bộ chú Năm đã biết trước việc đó rồi hả?

Tôi buồn bã trả lời:

– Cháu mới vừa ở đằng trường tiểu học để an ủi ông ta, vì cháu đã biết trước khi ngày hôm qua đã tình cờ đi ngang qua đó.

Ông Bảy bập thêm một hơi thuốc nữa rồi nói:

– Hèn chi hồi sánh nầy trong lúc đang thui, thì ông chủ tịch xã với ông bí thư chi bộ, cùng với mấy người cán bộ ban ngành, họ đang chia thịt vơi nhau, có người lại còn kỳ kèo với nhau một khúc lòng, để đem về làm món rựa mận…

Tôi cố và thêm vài chén cơm lạc nữa rồi thôi, chớ tôi không còn lòng dạ nào để lo ăn uống. Qua ngày hôm sau toán chích ngừa của chúng tôi được lịnh gọi về điều xuống chích ngừa dịch tả ở dưới Gò Công, rồi 4 năm sau tôi tìm đường vượt biển, không biết ông lão mù giờ đã ra sao, chắc là ông ta đã hóa ra người thiên cổ, còn ông Bảy đạo Hiếu Nghĩa bây giờ có còn mạnh giỏi hay không, hay là ông đã nhắm mắt xuôi tay về với ông bà, đã để lại cho đời bao sự tiếc thương với một tấm lòng nhân hậu.

Còn tôi thì phải trôi dạt đến sống ở đất nước Úc Đại Lợi nầy, tuy tuổi tác cũng chưa hẳn là già, nhưng vì làm việc quá vất vã bây giờ đã mang trong người quá nhiều bịnh tật. Ngày hôm nay tôi phải ngồi đây, để đón một chuyến xe Bus để đi ngược ra ngoài ga xe lửa Strathfield, rồi đón tiếp xe lửa đi về Cabramatta mới tới nơi cư ngụ, đã che chở cho tôi sống hết một quảng đời thừa, mà nhiều khi gần tết tôi nhìn cây mận, cây xoài, rồi nhớ về xã Lộc Thuận huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre, nơi chôn nhao cắt rốn bâng khuâng không sao ngủ được!

Trong lúc tôi còn đang hoài niệm để nhớ về quê hương đất nước của mình, thì người mù và con chó cứ thản nhiên ngồi đợi, dường như ông ta không cần biết đến thời gian đang lặng lẽ trôi qua. Thỉnh thoảng ông ta lại hát lên một bài hát bằng tiếng Anh rất là quen thuộc, rồi ông ta lấy tay rờ xuống đầu con chó, dường như đó là một cử chỉ nựng nịu mỗi ngày, nên con chó cũng lim dim, rồi đôi mắt hiền từ mơ màng nhắm lại.

Cũng có vài bà mở giỏ xách lấy vài cái bánh lạt đem đến cho con chó nằm ăn, rồi họ lại rờ đầu để cho con chó ngoắt đuôi tỏ ra thân thiện. Còn người mù thì thỉnh thoảng nói tiếng cám ơn, khi anh ta đã biết được con chó đã gây được sự cảm tình tốt đẹp với mọi người, nên trên gương mặt lại nở một nụ cười rất là mãn nguyện.

Thấy vậy tôi muốn làm quen nên hỏi nhỏ:

– Con chó nầy thuộc giống chó gì mà trông nó đẹp quá vậy ông?

Ông ta cười mỉm trả lời:

– Giống Lambardore khôn lắm…

Tôi lấy tay rờ lên mình con chó rồi hỏi tiếp:

– Ông bạn đi xe số mấy?

 Người mù trả lời:

– Xe số 461. Còn ông?

Tôi vỗ vai ông ta nói:

– Cùng một số xe với anh. Tôi xuống tại ga xe lửa Strathfield, rồi từ đó tôi lên xe lửa đi tiếp về ga Cabramatta.

Hai chúng tôi ngồi làm thinh một hồi, rồi ông ta hỏi:

– Vậy chớ bạn đến đây từ nước nào?

Tôi chậm rãi trả lời

– Đến từ Việt Nam. Còn anh?

Người mù sau vài tiếng thở ra dường như để nhớ về dĩ vãng, rồi ông ta nói nhỏ:

– Tôi là người Úc, sanh lớn lên ở đây. Nhưng đã bị mù lòa, từ khi tôi vừa lên 9 tuổi.

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Anh bị bịnh, hay là bị trong trường hợp nào?

Ông ta ngước lên rồi nói nhỏ:

– Trong một tai nạn xe hơi…

Hai chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau thêm một hồi, thì chiếc xe Bus đã chạy tới rồi stop ngay tấm bảng. Tôi còn đang dự định để nhìn xem, làm thế nào người mù sẽ biết được chiếc xe Bus đó mà ông ta đang đón, thì con chó lại kêu lên tiếng kêu hư hử, dường như đó là một tín hiệu rất quen thuộc cho nên người mù cũng chuẩn bị đứng lên, rồi ông ta nói:

– Chắc ông bạn cũng đi chuyến xe nầy chớ?

Tôi vỗ vai ông ta rồi nói nhỏ:

– Vâng…

 Khi hai chúng tôi bước lên chiếc xe Bus, tôi mới để ý thấy con chó dắt người mù rất khôn ngoan, luôn tỏ ra vẩy đuôi để tỏ dấu thân thiện với tất cả mọi người, rồi nó dắt người mù tìm đến một băng ghế còn trống, rồi nó nằm xuống dưới gầm xe một cách hiền từ. Thấy còn một chỗ ngồi, nên tôi bước theo rồi ngồi xuống; con chó ngước mỏ lên rồi liếm vào tay tôi, trong giây phút đó làm cho tôi thật xúc động bùi ngùi. Khi tôi nghĩ tới hoàn cảnh của một người mù, chỉ có sống với trực giác xung quanh, chớ không thể nào nhìn thấy cuộc sống ở bên ngoài, vậy mà họ cũng vẫn thản nhiên vui sống.

Ngồi trên chiếc xe Bus chạy được một hồi, tôi hỏi:

– Con chó nầy được bao nhiêu tuổi rồi ông?

Ông bạn mù vui vẻ trả lời:

– Chắc trên 5 tuổi…

Tôi rờ đầu con chó rồi hỏi tiếp:

– Ông mua nó ở đâu, mà nó khôn quá trời quá đất dữ vậy?

Người mù dường như đang thỏa mản với một vật sở hữu của mình, nên ông ta mỉm cười rồi nói:

– Trong hội người mù họ cấp cho mình đó chớ. Chớ giống chó nầy nó mắc lắm ông ơi, muốn nuôi nó để trở thành một người bạn dẫn đường, thì phải bỏ vô trong trường huấn luyện rất là nhiều khóa…

Tôi hỏi tiếp:

– Còn chế độ nuôi dưỡng thì sao?

Anh ta nhỏ nhẹ trả lời:

– Cũng ở trong hội họ lo cho mình, từ việc chích ngừa cho tới dắt đi khám hằng năm, nên những con chó loại nầy đã có hồ sơ về bịnh án. Nếu nó bị cảm cúm hay đau yếu bất thường, mình gọi phone tới nhà thương thú y thì sẽ có người ta đi đến nhà chăm sóc.

 Chiếc xe Bus vẫn chạy trên một lộ trình nhứt định, con chó cũng yên phận mình nằm ở dưới sàn xe, thỉnh thoảng hàng lông bờm của nó cũng rung lên theo nhịp lắc. Còn đôi mắt thì cũng muốn lim dim, khi cơn gió từ bên ngoài cửa xe đang hiu hiu thổi tới, nên trông gương mặt của nó thật hiền từ, chớ không có dữ dằn như những con chó ở phi trường đang hửi hơi để tìm những gói xì ke, mà mỗi lần tôi có dịp đi ra phi trường cũng đều nhìn thấy.

Rồi chiếc xe Bus cũng chạy về tới nới bến đậu, tôi vội vàng bắt tay từ giả ông ta. Rồi tôi bước xuống đường hầm, để đi qua đường lane số 5 đón xe về lại ga Cabramatta, còn ông ta thì đi ngược trở lại đường lane số 3, để đi về một vùng ngoại ô nào khác.

Bỗng dưng trong lòng của tôi lại dưng lên một niềm xúc động bồi hồi, khi tôi bắt gặp hai hóc mắt sâu hoắm đang ẩn dấu sau cặp kiếng râm, mà ông ta phải chịu đựng đến suốt đời, cũng có thể ông ta đang tìm niềm vui riêng bên con chó!

Trên đường trở về nhà tôi cầu mong cho ông ta được bình an, mỗi khi đi đâu hay bước qua đường con chó phải biết khôn ngoan chờ đèn xanh rồi mới dắt. Đừng có một kẻ nào lại nỡ nhẫn tâm, khi nhìn thấy con chó đẹp rồi nổi lòng tham rình bắt trộm. Mặc dầu ở trên cái xứ nầy người da trắng không ai ăn thịt chó, nhưng thỉnh thoảng cũng thấy đăng báo tìm chó lạc đó sao, đó là trong những phút tủi lòng, tôi thật sự cầu mong cho ông ta tìm được nguồn vui trong cuộc sống tối tăm.

Trong phút giây bàng hoàng đó làm cho tôi nhớ lại cách nay chừng một tháng. Tôi đã có xem một cuốn phim với tựa đề : Sàigòn – Hà Nội Dân Chơi Thứ Thiệt. Từ vỉa hè cho đến mấy chỗ cao lâu, ở đâu cũng thấy người ta lo ăn nhậu, mà phải nhậu thịt rừng, toàn là những con vật sắp bị diệt chủng tới nơi, mặc dầu hội bảo vệ thú vật thế giới đã nhiều lần lên tiếng can thiệp. Nhưng có lẽ cũng không hiệu quả được bao nhiêu, vì hiện nay những kẻ làm ăn phi pháp có chức có quyền, thì họ cứ cho rằng hễ càng ăn thịt những con vật hiếm quý hiện giờ, thì sẽ giúp cho họ tăng cường thêm sinh lực trong việc gối chăn, cho nên họ cứ việc vung tiền qua cửa sổ…

Rồi cuốn phim đó chiếu qua cảnh đảo khỉ ở Nha Trang, thì ở nơi đây tôi được chứng kiến một cảnh rất hãi hùng, đó là một tốp cán bộ cao cấp của nhà nước đang ăn óc khỉ. Con khỉ được trói thúc ké hai tay chỏng ngược về lại phía sau, rồi họ bỏ vào trong một cái hộp bằng cây vừa khích, để cho con khỉ lòi cái sọ khỉ ra ngoài. Sau đó người bồi bàn họ đem lại bàn một dĩa muối tiêu chanh, rồi họ khoa lưỡi dao bén lên vớt ngang qua sọ khỉ. Những người khách man rợ đó, họ thong thả lấy cái muỗng đưa vào, rồi họ múc từng muỗng óc khỉ đưa lên miệng để ăn; rồi họ uống từng hớp rượu trắng mà trên gương mặt của họ trông rất là thú vị. Nhìn cảnh đó tôi thấy buồn lòng, dân tộc tôi bây giờ dã man đến độ vậy sao? Hay là mấy ông lớn đang ỷ có chức có quyền, rồi họ đòi hỏi phải có những món ăn như thời vua chúa!

Thế mà ngày hôm nay bỗng dưng mấy thước phim đó, lại làm sống trong ký ức tôi một cách mãnh liệt rất tình cờ, làm cho tôi chạnh nhớ lại cảnh một người Úc mù cùng với một con chó dắt đi đường, sao lúc nào tôi cũng thấy mọi người dành cho một cảm tình rất là nồng ấm, chớ chưa bao giờ có một người nào đó ao ước có được củ riềng, cùng với một cặp dừa khô, để đủ bộ tam xên đưa linh con chó đi đầu thai làm kiếp khác!

Ngồi suốt trên chuyến xe lửa mà đầu óc tôi cứ suy nghĩ vẫn vơ, tôi cầu mong cho dân tộc tôi hãy bỏ đi cái tật ăn thịt chó. Vì đó là một con vật có nghĩa rất trung thành, nó đã biết mừng rở vẩy đuôi, khi thấy người chủ nhà mỗi khi đi đâu về khuya khoắt. Cũng như với người mù hồi nãy, nếu không nhờ con chó dẫn đường thì ông ta không biết phải làm sao, trong khi đó trước mặt của cuộc đời chỉ là bóng tối. Chỉ có con chó mới thật sự trung thành, bất kể thời tiết nắng mưa, hễ người mù muốn đi đâu thì nó mừng rở vẩy đuôi rồi dắt người mù đi đến nơi về đến chốn. Một con vật khôn ngoan như vậy mà nỡ ăn thịt sao đành, đó là một điều nhức nhối mà tôi vừa mới chợt nhận ra, nhưng tôi cũng chỉ biết nén tiếng thở dài, khi nghe mấy người bạn nhậu tranh nhau kể về mấy món ngon thịt chó./-

                                                                                                                                Phùng Nhân




Phùng Nhân : HẦM CÁ VỒ VỚI MARY

HẦM CÁ VỒ VỚI MARY
Phùng Nhân

Anh Mai Cồ Tửng (Michael) lần đầu tiên về lại Việt Nam, anh nghe lạc lõng bơ vơ như một người ngọai quốc. Bởi vì ngày anh rời khỏi đất nước Việt Nam ở lứa tuổi 15, cho nên anh chưa ý thức được chế độ chánh trị và đời sống hiện giờ, mà anh đi vượt biển theo kiểu ăn có với người Hoa Kiều, khi gia đình anh đóng vàng cho người chủ ghe, rồi họ dắt anh đi như một người Ba Tàu chánh hiệu.

Sau những năm học trung học ở xứ Úc Châu nầy, anh bắt đầu ăn quen với những cái bánh Mc Donald, hay KFC mà họ quảng cáo đầy đường, nên cái tuổi như anh ăn vài lần thì bén mùi bén vị.

Rồi anh nghỉ học, đi làm như bao nhiêu người khác hiện đang tạm cư ở đây. Bởi tiếng Anh một khi học nó hết vô rồi, cho dù có nhồi nhét bao nhiêu cũng đều quên hết. Nhưng rồi sức vóc mỗi ngày một lớn, việc đòi vợ cũng là một việc hết sức tự nhiên của con người. Nhưng ai đã từng sống ở nước Uùc vào những năm 1975 cho tới năm 1985, thì mới thấy việc lấy được một cô vợ Việt Nam đâu phải dễ. Có khi chỉ có một đứa con gái, mà có tới cả chục thằng giành. Mấy ông già nào ở vào thời đó, nếu may mắn có được một đứa con gái, thì  sẽ được mấy đứa thanh niên vác bia tới nhà mời “bác” nhậu vậy thôi mệt nghỉ…

Trong khoảng thời gian đó, mấy đứa thanh niên người Việt tỵ nạn tới tuổi muốn vợ cũng không biết lấy ai, thôi thì lấy đại một con vợ Úc hay thổ dân cho rồi. Chớ còn muốn lấy con gái Việt Nam, thì biết ở đâu mà kiếm!

Cũng chính vì niềm đau thầm kín đó, mà cậu Mai Cồ Tửng phải đành lấy vợ Úc, cho nên gặp cảnh ngôn ngữ bất đồng. Nhưng được có cái con nhỏ nầy nó cũng chẳng so đo, nhờ vậy mà cuộc sống của gia đình cũng ấm êm hạnh phúc.

Cái ngày mà hai đứa quyết định sống chung vô cùng quan trọng, con Mary nó bắt buộc Mai Cồ Tửng phải tiến hành thủ tục như Tây. Là hai đứa phải dắt nhau ra ngòai Park, rồi nó ngồi dựa ngữa trên một cái ghế đá công viên, còn anh ta thì qùy gối đầu cúi xuống đất để xin được cưới em và đeo nhẩn. Thủ tục như vậy mà cũng rầy rà, bởi thằng con trai mà qùy gối cầu hôn, thì sau nầy thế nào cũng mang trong người chứng bịnh sợ vợ suốt đời là cái chắc.

Thế rồi trong năm nay má anh gởi thơ qua thúc giục biểu về, để cho bà được gặp mặt con dâu, thì bà mới yên lòng mà nhắm mắt mà lià xa dương thế. Cho nên anh phải quyết định dắt Mary về Việt Nam thăm lại mẹ già. Cũng chính vì thế mà anh đi mua vé máy bay không một chút đắn đo. Trong khi đó thì khối cộng đồng người Việt hải ngoại hiện giờ lên án rất gắt gao, cho rằng những người đi du lịch về Việt Nam là đã phản bội lại quốc gia dân tộc. Chớ họ có biết đâu rằng, đã là con người sinh ra, thì làm sao quên được quê hương nguồn cội của mình, thì việc trở về thăm lại mẹ già, đó cũng là một điều nói lên tấm lòng hiếu thảo của một người con.

Trước khi đi thì Mai Cồ Tửng có mời bạn bè lại nhà để làm một tiệc tẫy trần. Có người khuyên anh nên để dành tiền gởi về cho bà gìa xài, hoặc cất nhà hay mua xe cộ thì lợi hơn, chớ còn đi về bển trở qua rồi hối hận. Bởi vì ngoài tiền vé máy bay ra, sẽ còn vô số tiền phí tổn khác nữa…

Trong một bữa tiệc vui đang hồi bốc khói, bởi hơi Beer đang phả kín một vùng, thì thằng Tấn Bộng đang làm chung một hãng với Mai Cồ Tửng cất tiếng hỏi:

– Vậy chớ mầy có đánh điện về Việt Nam, biểu bà gìa làm sẵn cai Toilet cho vợ mầy chưa? Chớ còn tụi đầm mũi lỏ mắt xanh nầy, thì nó làm sao đi cầu trên hầm cá vồ cho được. Lạng quạng thì nó bị cá vồ táp rụng lông háng như chơi, cả vùng Cái Bè của mầy tao biết hết, tìm đâu ra được một cái Toilet trong nhà. Chi bằng mầy đánh điện về bên đó, biểu lo làm trước để sẵn đó đi, chớ đợi tới mầy đem con vợ đầm về tới xứ rồi, thì việc ỉa đái cũng rất là phiền phức.

Mai Cồ Tửng cười ruồi, rồi đáp nhỏ:

– Bữa nay cận quá, có làm cũng không kịp. Về tới bển có kẹt quá, thì tao cho bả đi bô, hay là tao biểu bà chị của tao, làm ơn dắt con Mary tập đi cầu cá vồ dùm tao chắc được.

Cả bàn tiệc cưới lên như đàn ong vở tổ. Thằng Tấn Bọng nói tiếp:

– Tối nay mầy phải sinh hoạt trước với bả, là bên xứ của mầy hiện nay bà con mình còn đi cầu trêân hầm cá vồ, chớ khôâng phải như ở bên nây, đi cầu tiêu máy xong rồi bấm nút xả nước là xong. Còn đi cầu cá vồ khi ngồi xuống, rặn xong thì phải coi chừng, mấy con cá thấy cái đít của vợ mầy trắng quá, tụi cá giành coi rồi quẩy nước văng lên, biểu nó phải liệu hồn mà xách cái quần đứng lên cho kịp lúc…

Mai Cồ Tửng bưng ly Beer lên hớp, rồi để xuống nói:

– Tao đã dạy cho bả nhiều thứ lắm, nhứt là tiếng Việt. Nhưng bình thường khi nói chuyện với tao, có lúc bả nói nghe cũng được. Tao chỉ sợ khi đụng chuyện, bả xổ toàn là tiếng ăng lê khôâng quá…

Vợ Mai Cồ Tửng là Mary nghe lén được, bèn nói:

– Cám ơn mấy ông anh đã có lòng tốt lo cho em. Nhưng anh Tửng đã lo cho em nhiều thứ lắm, thương chồng em phải lụy cùng chồng. Mắm nêm mà em còn ăn được, thì hà tất gì đến việc đi cầu cá vồ. Khôâng chừng tới chừng đó, em còn thích thú nữa là khác.

Cả bọn cười ồ lên, rồi đồng thanh bắt buột mỗi thằng phải uống cạn một lon, để ăn mừng văn hoá chồng chuá vợ tôi của mình còn được phát triển trêân nước Úc. Càng về khuya, tiếng mở nắp Beer nghe lắt cắt nhiều hơn là tiếng nói. Những lon Beer khôâng xếp lớp trong thùng, đã tạo ra một bầu khôâng khí vô cùng thân thiết, cho những người đã lìa bỏ xứ sở quê hương. Ông thì say mèm ngồi gục tới gục lui, ông thì âm thầm lấy chìa khóa ra mở cửa xe vọt lẹ.

Đợi cho mọi người ra về hết. Mai Cồ Tửng lo dọn dẹp lại bàn ăn. Bởi người Việt Nam mà lấy vợ Úc, thì kể như mọi việc trong nhà đều do thằng chồng làm hết. Còn con vợ đầm, thì nó chỉ có việc nằm đó phơi nây chờ Sex, chớ đời nào mà nó chịu dọn dẹp như người đàn bà Việt Nam bổn xứ của mình, mỗi khi trong nhà có mở ra đám tiệc. Căn nhà về khuya cũng lặng lẽ âm thầm, khi sương khuya bắt đầu nặng hột. Mai Cồ Tửng nằm xuống thì ngủ một giấc mê mang, còn Mary thì đang lo lắng trong lòng. Bởi cô ta đã nghĩ, chỉ còn có một tuần lễ nữa thì sẽ về tới Việt Nam, một đất nước mà chiến tranh đã xảy ra trên hai mươi năm mới vừa chấm dứt. Liệu rồi đây, mấy người chánh quyền ở đó, họ sẽ nhìn những người như cô ta bằng cặp mắt như thế nào. Nhưng rồi cô ta cũng phải đi thôi, bởi đó cũng là tiếng gọi thiêng liêng, của đạo vợ chồng mà cô ta đã vừa nếm trải.

***

Sau những ngày chờ đợi, thì hai vợ chồng Mai Cồ Tửng cũng ngồi trêân chuyến bay Qantas đi từ phi trường Sydney về thẳng tới Việt Nam. Khi chiếc máy bay vừa quay mũi hướng ra biển thì cũng được nửa đường, nên mấy người chiêu đãi họ lo cho bữa ăn trưa, khiến cho mấy trăm hành khách trêân chuyến bay bắt đầu thức giấc. Mary và Mai Cồ Tửng tự nãy giờ đã bàn tính với nhau rất nhiều chuyện gia đình, chẳng hạn như con dâu khi gặp bà gìa chồng thì phải làm sao, chớ không phải như ở cái xứ Úc Châu nầy, chỉ cần nói Hello thì kể như xong cái màn thưa thốt. Nhưng Mary trong dạ vẫn lo âu, bởi những hình ảnh người phụ nữ Á Đông ăn trầu, và cái đầu bới tóc làm cho cô ta hơi ngờ ngợ.

Rồi chiếc máy bay cũng đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt Sài Gòn một cách bình an, sau đó thì mọi người hành khách lật đật bước xuống cầu thang, leo lên chiếc xe Bus đang đậu sẵn để chạy vào ga trình giấy tờ xong rồi đứng sắp hàng chờ nhận hành lý.

Đây là lần đầu tiên Mary mới chứng kiến cái cảnh nầy, mọi người ai nầy cũng sắp hàng rồi móc cuốn sổ Passport cầm tay, nhưng phần đông họ đều có nhét một tấm giấy $10 hay nhiều hơn vào cuốn sổ Passport tùy theo hoàn cảnh mỗi người đang đứng sắp hàng chờ đợi. Trong số nầy lại có Mai Cồ Tửng cũng phải bắt buộc làm theo, bởi số phận người Việt Kiều vượt biển năm xưa, bây giờ chánh phủ Việt Nam họ đang dụ khị nâng lên là khúc ruột xa ngàn dặm trở về, nhưng đâu có người nào không sợ công an, khi nhìn thấy gương mặt của họ hầm hầm tỏ ra không thiện cảm.

Mary đứng nép sau lưng chồng một hồi, rồi cái hàng dài cũng lần lượt tới phiên. Người công an hải quan kiểm soát phi trường, sau khi lật cuốn sổ Passport ra thấy tấm giấy $20 thì ông ta lật đật đùa xuống nằm yên trong hộc bàn. Sau đó ông ta lại ngước lên mỉm cười, rồi hướng dẫn Mai Cồ Tửng điền thêm những ô còn trống. Có lẽ ông ta cũng hơi ngạc nhiên, khi thấy cái ông Việt Kiều nầy nhỏ con, vậy mà lấy được con đầm cao lớn chưn dài nầy cũng lạ…

Khi hai vợ chồng anh vừa bước ra khỏi phi trường, thì cơn nắng miền nhiệt đới dội xuống như một chão lửa than, làm cho Mary thấm mệt. Bởi không quen với khí hậu như vầy, nên Mai Cồ Tửng vẩy chiếc Taxi, rồi biểu tài xế chất valy lên cốp xe, sau đó biểu chạy về khách sạn Hữu Nghị tại bến Bạch Đằng.

Qua ngày hôm sau thì Mai Cồ Tửng đi ra sở bưu điện đánh điện tín về huyện Cái Bè để báo tin cho bà già ngày mai anh về đến. Suốt đêm hôm đó, làm cho anh thao thức trong giấc ngủ chập chờn, khi anh nhớ lại từng con đường làng dẫn vào vườn cây rợp bóng. Ở nơi đó, ngày xưa đã có những con trâu nghé chạy giỡn tung tăng dưới cây rơm còn thơm mùi rạ mới. Bây giờ biết có còn không, bởi đã trải qua bao nhiêu năm vật đổi sao dời. Trong phút giây bùi ngùi, làm cho anh nhớ nôn nao. Vì anh đã bó xứ ra đi kể ra cũng hơn 10 năm trời rồi chớ đâu có ít…

Sáng bữa sau thức dậy, Mai Cồ Tửng nghe nơi vùng thái dương hơi nằng nặng. Anh dắt Mary xuống Canteen uống Café và ăn điểm tâm. Mùi Café Buôn Ma Thuột tỏa ra thơm ngát một vùng, hình như trong hương vị còn nồng mùi đất đỏ cao nguyên, còn thơm muì mồ hôi dầu dải của người dân sơn cước. Mary sau khi hớp vài ngụm Café, rồi hỏi:

– Café nầy họ nhập cảng ở đâu về mà ngon quá vậy anh?

Mai Cồ Tửng đáp với vẻ tự hào:

– Café nầy là thổ sản của quê hương anh. Đâu Mary thử so sánh, coi có bằng của tụi Brasil không?

Mary hớp thêm một ngụm nữa, để nó thấm qua đầu lưỡi một hồi rồi nói:

– Café ở đây ngon hơn Café Brasil nhiều. Vị nó thơm mà dịu chớ không chát. Như vậy thì tại sao họ không xuất cảng ra bên ngoài thế giới hả anh?

Đây là một câu hỏi bất ngờ, nên Mai Cồ Tửng ậm ừ một hồi rồi nói:

– Hôm trước đọc báo. Anh nghe nói có hãng Café Trung Nguyên trụ sở ngoài Buôn Ma Thuột, cũng đang xin thủ tục xuất cảng nhưng không biết đến bao giờ mới xong.

Rồi anh ta nhìn xuống đồng hồ đeo tay, đoạn ngước lên giục:

– Nhanh lên đi Mary. Trễ lắm rồi, trả phòng xong thì mình nhờ bồi phòng kêu dùm một chiếc Taxi. Chớ từ đây về tới huyện Cái Bè, mình đi xe đò thì không tiện…

Trên đường đi từ Sài Gòn ra tới Phú Lâm, Mary thấy cái gì cũng lạ. Dân chúng họ cỡi xe Honda chạy trên đường như mắc cửi, chiếc nầy muốn đụng chiếc kia, vậy mà trên gương mặt của họ vẫn thản nhiên chớ không có gì là sợ hãi.

Chiếc máy chụp hình hiệu Canon được Mary đưa lên bấm liên tục, nhưng khi chiếc xe vừa chạy tới huyện Thủ Thừa thuộc tỉnh Long An, thì cô ta lại reo lên trong niềm vui thích thú, khi thấy một người nông dân đầu đội nón lá tơi, đang đánh cặp trâu cổ đi vòng quanh trên đụn lúa. Mary day qua Mai Cồ Tửng hỏi:

– Vậy chớ họ đang làm gì, mà đánh cặp trâu đi vòng tròn vậy anh?

Mai Cồ Tửng mỉm cười, rồi đáp:

– Người nông dân họ đang đánh trâu đạp lúa…

Mary nói với vẻ ngậm ngùi:

– Thời buổi nầy sao chánh phủ Việt Nam, không cải tiến nông nghiệp cho nó được tiến bộ hơn. Chớ còn bắt ông già, dang nắng như vầy mà năng xuất có được bao nhiêu!

Xe chạy thêm một đoạn đường nữa, bỗng nhiên có một hình ảnh hiện ra trước mắt làm cho Mary rất đổi xốn xang. Đó là một cảnh của hai vợ chồng nông dân, họ đang ngồi ăn cơm trong chòi vịt đã căng lên bằng tấm Nylon nơi mé lộ. Trong chòi vịt đó, đã có nhốt khoảng vài trăm con. Bộ lông ức vừa mọc ra lúng phúng, chung quanh được bao lại với những tấm liếp bện bằng phên tre vuốt mỏng, để giữ cho đàn vịt khỏi bị sút chuồng. Ông chồng ngồi ăn cơm trông mệt mỏi, có lẽ họ đang lo tới bầy vịt nầy khi nuôi lớn chừng một tháng nữa bán có lời hay không. Còn bà vợ thì ngồi thản nhiên, vạch vú ra cho con bú. Thằng nhỏ trong khẳng khiu, da nám đen nhíu lại nhưng chắc cũng hơi lớn tháng. Mary quay qua hỏi nữa:

– Họ sao trông khổ quá vậy anh? Đứa bé sao không gởi trong nhà trẻ, mà phải bồng theo dang nắng như vầy, và nó nút như vậy thì còn gì vú móm của người mẹ?

Mai Cồ Tửng buồn bã nói:

– Chắc gia đình đơn chiếc. Tháng nầy ai nấy cũng ra đồng, nếu đem gởi con, hay mướn người ta giữ thì tiền đâu mà trả. Bởi cái xứ nầy còn nghèo lắm em ơi!

Mary chặc lưỡi, than:

– Tội quá hả anh. Bên nước Úc Châu của mình, một con hưu con, một ngày tiêu chuẩn của nó là 16 lít sữa tươi, đó là chưa nói tới mấy thứ phí tổn khác…

Chiếc xe vẫn chồm lên lướt qua những ổ gà, quốc lộ 4 nầy là huyết mạch nối liền từ vùng Hậu Giang lên tới Sài Gòn. Tuy chính quyền hiện nay, có nới rộng ra, có tu sửa thêm nhiều chỗ. Nhưng hiện thân của nó, cũng là con đường quốc lộ ngày xưa. Nghe nói chánh quyền, đang có dự án để nâng cấp nó lên thành xa lộ…

Trong lòng Mary đang hổn độn, vừa thương cho đất nước Việt Nam sau hơn 10 năm thống nhứt chấm dứt chiến tranh, vậy mà đời sống của dân chúng cũng vẫn còn nghèo nàn lạc hậu. Mai Cồ Tửng vẫn nhắm mắt, dựa đầu vào nệm ghế. Thỉnh thoảng anh ta cũng hé mắt ra nhìn lại đất nước sau mười năm xa cách. Tình trạng vẫn y nguyên, có khi còn tồi tệ hơn nữa là khác.

Mary để yên cho chồng nằm nhắm mắt. Chị ta bắt đầu nhìn đất nước Việt Nam qua lăng kính của bà đầm. Khi chiếc Taxi chạy tới xã Tân Hội, ranh giới Mỹ Tho – Long An thì dưới ruộng nước có một bầy trâu và vài con nghé, xa xa còn có vài cánh cò bói cá thật nên thơ. Trên lưng trâu đưá bé trạc 12 tuổi ngồi vắt vẻo với chiếc roi tre, đầu đội cái nón đệm rộng vành bẻ cúp xuống bít phần gương mặt. Thích quá, Mary đưa máy hình lên bấm. Hy vọng đây là một tấm hình đồng quê sống động, mà cô ta đã từng mơ ước, xem đó là một tác phẩm nghệ thuật của mình. Bởi ở bên nước Úc chỉ có xa lộ và đồi núi mênh mông, chớ làm sao nhìn thấy một đứa trẻ đang ngồi trên lưng trâu trông nhàn nhã.

Khi chiếc xe Taxi vừa chạy tới thị trấn Trung Lương, Mai Cồ bừng tỉnh mắt. Anh ta biểu tài xế Taxi tốp lại, rồi anh hỏi Mary có muốn đi tiêu, tiểu gì không. Bởi đã ngồi trên xe Taxi tới mấy giờ đồng hồ rồi, chắc bây giờ cũng đang tới cử.

Nhưng Mary lại lắc đầu, chiếc xe Taxi tiếp tục chạy trên quốc lộ. Hai bên vườn cây, ruộng lúa lùi dần lại phía sau như một cơn sóng chạy dài. Khi chiếc xe chạy ngang qua huyện lỵ Cai Lậy, làm cho Mai Cồ Tửng nhớ lại ngày xưa. Trong lúc anh ta còn đang học bậc tiểu học ở đây, thì bỗng dưng có một trái hoả tiển 22ly không biết từ đâu bay tới, rồi nổ một tiếng long trời, làm cho học trò, cô thầy giáo lớp chết lớp bị thương không biết bao nhiêu mà kể!

Chiếc xe Taxi vẫn chạy với tốc độ đều đều, khi qua khỏi cầu Bà Tồn thì ngọn gió chướng thổi lồng lộng thốc vào mạn xe, bật ra những tiếng kêu u u như tiếng dều giấy thả bay trong mùa chướng.

Người tà xế Taxi hảm chiếc xe cho chạy chầm chậm, rồi quẹo theo hướng chỉ mũi tên vô huyện Cái Bè. Chạy thêm một đổi nữa, thì Mai Cồ Tửng day qua nói với người tài xế:

– Căn nhà ngói trước mặt là căn nhà tôi, vậy anh coi cho xe đậu chỗ nào cho tiện, để tôi xách mấy cái valy, vì cái cửa ngỏ hẹp chắc xe vô không lọt…

Tiếng con Vện già cất tiếng sủa khô khan, khi nó ngó thấy có mấy người lạ mặt toan bước qua cửa ngỏ. Trong khi đó; thì có mấy người ngồi trong nhà, đã nhìn thấy chiếc Taxi nên chạy vội ra mừng vui ríu rít. Có người còn la lớn. Trời ơi thằng Sáu Tửng nó đã về tới nơi rồi nè. Vậy mà trong nhà mắc lo nói chuyện không hay, nhờ có con Vện nó sủa vang lên mới biết…

Mai Cồ Tửng dúi vào tay người tài xế $20 đô tiền bo. Hiểu ý, anh ta noí tiếng cám ơn, rồi lễ phép chào hỏi mọi người, sau đó bước trở ra xe, để còn tiếp tục một cuộc hành trình của một người tài xế Taxi, tối ngày cứ quần trên đường để mà bắt khách.

Ở đây, ngay lúc nầy. Chỉ có Sáu Tửng, chớ không có mai Cồ Tửng, nên anh ta vòng tay ôm chầm lấy bà già trong tiếng khóc nghẹn ngào. Mới ngày nào má anh còn mạnh khỏe tần tảo nuôi con, vậy mà ngày hôm nay già yếu. Chân bước đi thật là yếu ớt, phải có một cây gậy để nương vào, lại thêm đôi mắt đã phủ một lớp mây mù, mọi cảnh vật bây giờ đối với bà mờ mờ nhân ảnh.

Sáu Tửng ngước mắt nhìn lên bàn thờ cha, một bình nhang khói toả, làm cho quang cảnh quá đổi lạnh lùng. Họ hàng mỗi lúc thêm đông, họ hỏi thăm anh về đời sống của người Việt tha hương bên nước Úc. Nó sung sướng ra sao, mà phong trào vượt biển đang dâng cao rầm rộ. Có người còn nói, tao nghe thiên hạ họ bàn tán, là nếu cột đèn đi được thì nó cũng đi. Còn mầy làm ăn gì có khá hôn, mà dám cả gan bợ con vợ đầm rồi dẫn về đây, không sợ bà già bả giận, rồi mầy đứng cửa giữa làm sao đây hả!

Trong số họ hàng ngồi nghe anh nói, người ta ngạc nhiên từ điểm nầy đến điểm khác. Xe hơi gì mà lền như bánh canh, vợ một chiếc, chồng một chiếc của ai thì nấy chạy. Nhưng họ khoái nghe nhứt là vấn đề cư trú tự do và “an sinh xã hội”, muốn ở đâu cũng được, chớ không có cái cảnh phải trình với ông trưởng khóm, hay ông xã trưởng gì đâu, vậy mà người nào phạm tội thì đừng mong gì trốn tránh…

Người dân ở đây đã bị chế độ cộng sản kềm kẹp họ từ tháng 4 năm 1975 đến nay, thấm thoát cũng đã hơn 10 năm rồi, nên họ đâu có biết rằng trong thế giới nầy đã có những nước có quyền tự do như nước Úc. Cho nên họ hỏi những câu nghe qua thật là tội nghiệp. Còn vợ anh là Mary cũng bắt đầu làm quen với gia đình bên nhà chồng, nên cô ta cũng nói những câu tiếng Việt nghe lơ lớ. Cô ta nhìn thấy cái bếp tro cũng rất lạ kỳ, chỉ cần kê mấy cục gạch chụm đầu vào nhau cũng thành cái bếp. Vậy mà họ cũng nấu ăn, nấu uống cho tới hết đời nầy qua tới đời kia, chớ đâu có thấy họ than phiền điều gì lộ ra ngoài trên khuôn mặt.

Qua ngày hôm sau, sau bữa cơm trưa thì Mary mắc đi cầu, nên cô ta đi tới đứng kế bên cô giáo Phụng hỏi:

– Bây giờ em muốn đi cầu, thì phải làm sao?

Cô giáo Phụng là chị thứ Tư của sáu Tửng, sau khi mỉm cười rồi đi vô buồng cầm ra một cuộn giấy Toilet Tissue rồi nắm tay Mary dẫn đi vòng ra sau vườn cách nhà chừng 20 thước. Nơi đó có một cái ao cá vồ cũng tới lứa ngoài kí lô 1 con, nhưng vì biết thằng Sáu Tửng sắp dẫn vợ nó về, nên bà già nuôi thúc để dành nấu canh chua chớ không có bán.

Về phần cô giáo Phụng nhìn thấy cái quần Jean cuả Mary đang mặc mà phát sợ, nó chật gần căng cái mông đít. Như vậy thì khi ngồi xuống đi cầu, bầy cá tra quẩy nước, thì làm sao nhóng cái đít lên cho kịp để tránh nước văng lên. Trong lúc đang chần chờ như vậy, tụi con nít ngó thấy con đầm tóc vàng sắp sửa đi cầu cá vồ thì bu lại cũng đông, nhưng tụi nó cũng đứng cách xa canh me chớ không dám tới gần, làm cho cô giáo Phụng thật là khó xử.

Thôi thì đàng nào cũng lở, phải dạy con Mary biết cách đi cầu lúc nầy. Chớ còn không, thì làm sao giải quyết. Bởi trong lòng đã quyết như vậy, nên mới đưa cuộn giấy Tissue cho Mary, rồi nắm tay dắt lên cầu chớ không thì bị té.

Bởi thông thường cây cầu cá vồ gia đình nào cũng vậy, họ làm rất là sơ sài. Chỉ có bắt một cây đòn đi lên không tay vịn, còn bốn phiá thì họ chỉ che có mấy miếng lá chầm, để khi ngồi xuống nó che khuất cái mông đít mà thôi, cho nên mỗi khi đi cầu cá vồ người ta đều ngồi thủ thế. Khi thấy bầy cá giành ăn, thì họ nhóng cái đít lên một chút. Sau đó họ tiếp tục bình thường, cứ nhóng xuống nhóng lên, chừng nào sạch ruột thì thôi, chớ cũng không thì thế nào cũng bị văng nước ướt mông đít.

Đàn cá vồ bắt đầu lượn dữ, sóng gợn từng hồi. Có con lại chạy nổi lưng, vì cái giống cá vồ từ lúc nhỏ cho tới bây giờ, nó thấy hơi người ta thì trừng đầu lên kiếm chác. Có con còn hả họng ra tác hoác để chực chờ, nếu không lanh lẹ thì làm sao no bụng.

Cô giáo Phụng ra dấu cho Mary kéo dây con rít trật ra ngồi xuống, trên bờ vườn phía bên kia, cái đám con nít bắt đầu chỉ trỏ. Bởi đây là lần đầu tiên tụi nó mới thấy một con đầm tóc vàng mà đi iả trên ao cá vồ, nên tụi nó mới hú hí bu lại coi chơi. Trong khi đó thì con Mary vẫn thản nhiên với bầy cá vồ, nhưng nào ngờ bầy cá vồ lại giành ăn với nhau phơi kỳ nổi lên như cá nằm trong rổ xúc. Có con lại hả họng ngước lên nhìn, dường thể nó muốn phóng lên để táp miếng mồi trước khi rơi xuống nước. Sợ quá Mary vội vả đứng lên mà quên kéo cái quần, cứ đứng như vậy mà xổ tiếng ăng lê tới mấy phút đồng hồ, để mặc cho mấy đứa con nít nhìn qua rồi cười ngất…

Vô tới nhà Mary oà lên khóc, khiến cho không khí trong nhà cũng bớt vui. Sáu Tửng ngồi kế bên an ủi, anh ta hứa chắc là nội ngày mai, anh ta sẽ rước thợ hồ đi lại nhà xây một cây cầu vệ sinh giựt nước đàng hoàng, chớ không thể để cho em đi cầu cá vồ nữa đâu, thôi em đừng sợ…

Cùng lúc đó, trong xóm nhỏ miền quê ở huyện Cái Bè, có một tốp con nít chạy đi khoe khắp xóm. Là tụi nó quả quyết, đã nhìn thấy con chim của con đầm nó không giống con chim ở đây, lông lá của nó vàng khè mà còn oăn như râu bắp nữa.

Khiến cho nhiều ông già nhậu vô cửng cửng, rồi đưa tay vuốt râu ngạnh trê nói phỏng. Tao biết trước hết rồi mà, như đám mạ cháy chớ có khác gì đâu. Bởi vậy tao đâu có thèm coi, ngồi nhà nhưng tao đây đều biết hết./-

Phùng Nhân




Nguyễn Thị Thanh Dương : Giấc Mộng Dài

Khiến cho nhiều ông già nhậu vô cửng cửng, rồi đưa tay vuốt râu ngạnh trê nói phỏng. Tao biết trước hết rồi mà, như đám mạ cháy chớ có khác gì đâu. Bởi vậy tao đâu có thèm coi, ngồi nhà nhưng tao đây đều biết hết./-

HẦM CÁ VỒ VỚI MARY
Phùng Nhân

 

Anh Mai Cồ Tửng (Michael) lần đầu tiên về lại Việt Nam, anh nghe lạc lõng bơ vơ như một người ngọai quốc. Bởi vì ngày anh rời khỏi đất nước Việt Nam ở lứa tuổi 15, cho nên anh chưa ý thức được chế độ chánh trị và đời sống hiện giờ, mà anh đi vượt biển theo kiểu ăn có với người Hoa Kiều, khi gia đình anh đóng vàng cho người chủ ghe, rồi họ dắt anh đi như một người Ba Tàu chánh hiệu.

Sau những năm học trung học ở xứ Úc Châu nầy, anh bắt đầu ăn quen với những cái bánh Mc Donald, hay KFC mà họ quảng cáo đầy đường, nên cái tuổi như anh ăn vài lần thì bén mùi bén vị.

Rồi anh nghỉ học, đi làm như bao nhiêu người khác hiện đang tạm cư ở đây. Bởi tiếng Anh một khi học nó hết vô rồi, cho dù có nhồi nhét bao nhiêu cũng đều quên hết. Nhưng rồi sức vóc mỗi ngày một lớn, việc đòi vợ cũng là một việc hết sức tự nhiên của con người. Nhưng ai đã từng sống ở nước Uùc vào những năm 1975 cho tới năm 1985, thì mới thấy việc lấy được một cô vợ Việt Nam đâu phải dễ. Có khi chỉ có một đứa con gái, mà có tới cả chục thằng giành. Mấy ông già nào ở vào thời đó, nếu may mắn có được một đứa con gái, thì sẽ được mấy đứa thanh niên vác bia tới nhà mời “bác” nhậu vậy thôi mệt nghỉ…

Trong khoảng thời gian đó, mấy đứa thanh niên người Việt tỵ nạn tới tuổi muốn vợ cũng không biết lấy ai, thôi thì lấy đại một con vợ Úc hay thổ dân cho rồi. Chớ còn muốn lấy con gái Việt Nam, thì biết ở đâu mà kiếm!

Cũng chính vì niềm đau thầm kín đó, mà cậu Mai Cồ Tửng phải đành lấy vợ Úc, cho nên gặp cảnh ngôn ngữ bất đồng. Nhưng được có cái con nhỏ nầy nó cũng chẳng so đo, nhờ vậy mà cuộc sống của gia đình cũng ấm êm hạnh phúc.

Cái ngày mà hai đứa quyết định sống chung vô cùng quan trọng, con Mary nó bắt buộc Mai Cồ Tửng phải tiến hành thủ tục như Tây. Là hai đứa phải dắt nhau ra ngòai Park, rồi nó ngồi dựa ngữa trên một cái ghế đá công viên, còn anh ta thì qùy gối đầu cúi xuống đất để xin được cưới em và đeo nhẩn. Thủ tục như vậy mà cũng rầy rà, bởi thằng con trai mà qùy gối cầu hôn, thì sau nầy thế nào cũng mang trong người chứng bịnh sợ vợ suốt đời là cái chắc.

Thế rồi trong năm nay má anh gởi thơ qua thúc giục biểu về, để cho bà được gặp mặt con dâu, thì bà mới yên lòng mà nhắm mắt mà lià xa dương thế. Cho nên anh phải quyết định dắt Mary về Việt Nam thăm lại mẹ già. Cũng chính vì thế mà anh đi mua vé máy bay không một chút đắn đo. Trong khi đó thì khối cộng đồng người Việt hải ngoại hiện giờ lên án rất gắt gao, cho rằng những người đi du lịch về Việt Nam là đã phản bội lại quốc gia dân tộc. Chớ họ có biết đâu rằng, đã là con người sinh ra, thì làm sao quên được quê hương nguồn cội của mình, thì việc trở về thăm lại mẹ già, đó cũng là một điều nói lên tấm lòng hiếu thảo của một người con.

Trước khi đi thì Mai Cồ Tửng có mời bạn bè lại nhà để làm một tiệc tẫy trần. Có người khuyên anh nên để dành tiền gởi về cho bà gìa xài, hoặc cất nhà hay mua xe cộ thì lợi hơn, chớ còn đi về bển trở qua rồi hối hận. Bởi vì ngoài tiền vé máy bay ra, sẽ còn vô số tiền phí tổn khác nữa…

Trong một bữa tiệc vui đang hồi bốc khói, bởi hơi Beer đang phả kín một vùng, thì thằng Tấn Bộng đang làm chung một hãng với Mai Cồ Tửng cất tiếng hỏi:

– Vậy chớ mầy có đánh điện về Việt Nam, biểu bà gìa làm sẵn cai Toilet cho vợ mầy chưa? Chớ còn tụi đầm mũi lỏ mắt xanh nầy, thì nó làm sao đi cầu trên hầm cá vồ cho được. Lạng quạng thì nó bị cá vồ táp rụng lông háng như chơi, cả vùng Cái Bè của mầy tao biết hết, tìm đâu ra được một cái Toilet trong nhà. Chi bằng mầy đánh điện về bên đó, biểu lo làm trước để sẵn đó đi, chớ đợi tới mầy đem con vợ đầm về tới xứ rồi, thì việc ỉa đái cũng rất là phiền phức.

Mai Cồ Tửng cười ruồi, rồi đáp nhỏ:

– Bữa nay cận quá, có làm cũng không kịp. Về tới bển có kẹt quá, thì tao cho bả đi bô, hay là tao biểu bà chị của tao, làm ơn dắt con Mary tập đi cầu cá vồ dùm tao chắc được.

Cả bàn tiệc cưới lên như đàn ong vở tổ. Thằng Tấn Bọng nói tiếp:

– Tối nay mầy phải sinh hoạt trước với bả, là bên xứ của mầy hiện nay bà con mình còn đi cầu trêân hầm cá vồ, chớ khôâng phải như ở bên nây, đi cầu tiêu máy xong rồi bấm nút xả nước là xong. Còn đi cầu cá vồ khi ngồi xuống, rặn xong thì phải coi chừng, mấy con cá thấy cái đít của vợ mầy trắng quá, tụi cá giành coi rồi quẩy nước văng lên, biểu nó phải liệu hồn mà xách cái quần đứng lên cho kịp lúc…

Mai Cồ Tửng bưng ly Beer lên hớp, rồi để xuống nói:

– Tao đã dạy cho bả nhiều thứ lắm, nhứt là tiếng Việt. Nhưng bình thường khi nói chuyện với tao, có lúc bả nói nghe cũng được. Tao chỉ sợ khi đụng chuyện, bả xổ toàn là tiếng ăng lê khôâng quá…

Vợ Mai Cồ Tửng là Mary nghe lén được, bèn nói:

– Cám ơn mấy ông anh đã có lòng tốt lo cho em. Nhưng anh Tửng đã lo cho em nhiều thứ lắm, thương chồng em phải lụy cùng chồng. Mắm nêm mà em còn ăn được, thì hà tất gì đến việc đi cầu cá vồ. Khôâng chừng tới chừng đó, em còn thích thú nữa là khác.

Cả bọn cười ồ lên, rồi đồng thanh bắt buột mỗi thằng phải uống cạn một lon, để ăn mừng văn hoá chồng chuá vợ tôi của mình còn được phát triển trêân nước Úc. Càng về khuya, tiếng mở nắp Beer nghe lắt cắt nhiều hơn là tiếng nói. Những lon Beer khôâng xếp lớp trong thùng, đã tạo ra một bầu khôâng khí vô cùng thân thiết, cho những người đã lìa bỏ xứ sở quê hương. Ông thì say mèm ngồi gục tới gục lui, ông thì âm thầm lấy chìa khóa ra mở cửa xe vọt lẹ.

Đợi cho mọi người ra về hết. Mai Cồ Tửng lo dọn dẹp lại bàn ăn. Bởi người Việt Nam mà lấy vợ Úc, thì kể như mọi việc trong nhà đều do thằng chồng làm hết. Còn con vợ đầm, thì nó chỉ có việc nằm đó phơi nây chờ Sex, chớ đời nào mà nó chịu dọn dẹp như người đàn bà Việt Nam bổn xứ của mình, mỗi khi trong nhà có mở ra đám tiệc. Căn nhà về khuya cũng lặng lẽ âm thầm, khi sương khuya bắt đầu nặng hột. Mai Cồ Tửng nằm xuống thì ngủ một giấc mê mang, còn Mary thì đang lo lắng trong lòng. Bởi cô ta đã nghĩ, chỉ còn có một tuần lễ nữa thì sẽ về tới Việt Nam, một đất nước mà chiến tranh đã xảy ra trên hai mươi năm mới vừa chấm dứt. Liệu rồi đây, mấy người chánh quyền ở đó, họ sẽ nhìn những người như cô ta bằng cặp mắt như thế nào. Nhưng rồi cô ta cũng phải đi thôi, bởi đó cũng là tiếng gọi thiêng liêng, của đạo vợ chồng mà cô ta đã vừa nếm trải.

 

***

 

Sau những ngày chờ đợi, thì hai vợ chồng Mai Cồ Tửng cũng ngồi trêân chuyến bay Qantas đi từ phi trường Sydney về thẳng tới Việt Nam. Khi chiếc máy bay vừa quay mũi hướng ra biển thì cũng được nửa đường, nên mấy người chiêu đãi họ lo cho bữa ăn trưa, khiến cho mấy trăm hành khách trêân chuyến bay bắt đầu thức giấc. Mary và Mai Cồ Tửng tự nãy giờ đã bàn tính với nhau rất nhiều chuyện gia đình, chẳng hạn như con dâu khi gặp bà gìa chồng thì phải làm sao, chớ không phải như ở cái xứ Úc Châu nầy, chỉ cần nói Hello thì kể như xong cái màn thưa thốt. Nhưng Mary trong dạ vẫn lo âu, bởi những hình ảnh người phụ nữ Á Đông ăn trầu, và cái đầu bới tóc làm cho cô ta hơi ngờ ngợ.

Rồi chiếc máy bay cũng đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt Sài Gòn một cách bình an, sau đó thì mọi người hành khách lật đật bước xuống cầu thang, leo lên chiếc xe Bus đang đậu sẵn để chạy vào ga trình giấy tờ xong rồi đứng sắp hàng chờ nhận hành lý.

Đây là lần đầu tiên Mary mới chứng kiến cái cảnh nầy, mọi người ai nầy cũng sắp hàng rồi móc cuốn sổ Passport cầm tay, nhưng phần đông họ đều có nhét một tấm giấy $10 hay nhiều hơn vào cuốn sổ Passport tùy theo hoàn cảnh mỗi người đang đứng sắp hàng chờ đợi. Trong số nầy lại có Mai Cồ Tửng cũng phải bắt buộc làm theo, bởi số phận người Việt Kiều vượt biển năm xưa, bây giờ chánh phủ Việt Nam họ đang dụ khị nâng lên là khúc ruột xa ngàn dặm trở về, nhưng đâu có người nào không sợ công an, khi nhìn thấy gương mặt của họ hầm hầm tỏ ra không thiện cảm.

Mary đứng nép sau lưng chồng một hồi, rồi cái hàng dài cũng lần lượt tới phiên. Người công an hải quan kiểm soát phi trường, sau khi lật cuốn sổ Passport ra thấy tấm giấy $20 thì ông ta lật đật đùa xuống nằm yên trong hộc bàn. Sau đó ông ta lại ngước lên mỉm cười, rồi hướng dẫn Mai Cồ Tửng điền thêm những ô còn trống. Có lẽ ông ta cũng hơi ngạc nhiên, khi thấy cái ông Việt Kiều nầy nhỏ con, vậy mà lấy được con đầm cao lớn chưn dài nầy cũng lạ…

Khi hai vợ chồng anh vừa bước ra khỏi phi trường, thì cơn nắng miền nhiệt đới dội xuống như một chão lửa than, làm cho Mary thấm mệt. Bởi không quen với khí hậu như vầy, nên Mai Cồ Tửng vẩy chiếc Taxi, rồi biểu tài xế chất valy lên cốp xe, sau đó biểu chạy về khách sạn Hữu Nghị tại bến Bạch Đằng.

Qua ngày hôm sau thì Mai Cồ Tửng đi ra sở bưu điện đánh điện tín về huyện Cái Bè để báo tin cho bà già ngày mai anh về đến. Suốt đêm hôm đó, làm cho anh thao thức trong giấc ngủ chập chờn, khi anh nhớ lại từng con đường làng dẫn vào vườn cây rợp bóng. Ở nơi đó, ngày xưa đã có những con trâu nghé chạy giỡn tung tăng dưới cây rơm còn thơm mùi rạ mới. Bây giờ biết có còn không, bởi đã trải qua bao nhiêu năm vật đổi sao dời. Trong phút giây bùi ngùi, làm cho anh nhớ nôn nao. Vì anh đã bó xứ ra đi kể ra cũng hơn 10 năm trời rồi chớ đâu có ít…

Sáng bữa sau thức dậy, Mai Cồ Tửng nghe nơi vùng thái dương hơi nằng nặng. Anh dắt Mary xuống Canteen uống Café và ăn điểm tâm. Mùi Café Buôn Ma Thuột tỏa ra thơm ngát một vùng, hình như trong hương vị còn nồng mùi đất đỏ cao nguyên, còn thơm muì mồ hôi dầu dải của người dân sơn cước. Mary sau khi hớp vài ngụm Café, rồi hỏi:

– Café nầy họ nhập cảng ở đâu về mà ngon quá vậy anh?

Mai Cồ Tửng đáp với vẻ tự hào:

– Café nầy là thổ sản của quê hương anh. Đâu Mary thử so sánh, coi có bằng của tụi Brasil không?

Mary hớp thêm một ngụm nữa, để nó thấm qua đầu lưỡi một hồi rồi nói:

– Café ở đây ngon hơn Café Brasil nhiều. Vị nó thơm mà dịu chớ không chát. Như vậy thì tại sao họ không xuất cảng ra bên ngoài thế giới hả anh?

Đây là một câu hỏi bất ngờ, nên Mai Cồ Tửng ậm ừ một hồi rồi nói:

– Hôm trước đọc báo. Anh nghe nói có hãng Café Trung Nguyên trụ sở ngoài Buôn Ma Thuột, cũng đang xin thủ tục xuất cảng nhưng không biết đến bao giờ mới xong.

Rồi anh ta nhìn xuống đồng hồ đeo tay, đoạn ngước lên giục:

– Nhanh lên đi Mary. Trễ lắm rồi, trả phòng xong thì mình nhờ bồi phòng kêu dùm một chiếc Taxi. Chớ từ đây về tới huyện Cái Bè, mình đi xe đò thì không tiện…

Trên đường đi từ Sài Gòn ra tới Phú Lâm, Mary thấy cái gì cũng lạ. Dân chúng họ cỡi xe Honda chạy trên đường như mắc cửi, chiếc nầy muốn đụng chiếc kia, vậy mà trên gương mặt của họ vẫn thản nhiên chớ không có gì là sợ hãi.

Chiếc máy chụp hình hiệu Canon được Mary đưa lên bấm liên tục, nhưng khi chiếc xe vừa chạy tới huyện Thủ Thừa thuộc tỉnh Long An, thì cô ta lại reo lên trong niềm vui thích thú, khi thấy một người nông dân đầu đội nón lá tơi, đang đánh cặp trâu cổ đi vòng quanh trên đụn lúa. Mary day qua Mai Cồ Tửng hỏi:

– Vậy chớ họ đang làm gì, mà đánh cặp trâu đi vòng tròn vậy anh?

Mai Cồ Tửng mỉm cười, rồi đáp:

– Người nông dân họ đang đánh trâu đạp lúa…

Mary nói với vẻ ngậm ngùi:

– Thời buổi nầy sao chánh phủ Việt Nam, không cải tiến nông nghiệp cho nó được tiến bộ hơn. Chớ còn bắt ông già, dang nắng như vầy mà năng xuất có được bao nhiêu!

Xe chạy thêm một đoạn đường nữa, bỗng nhiên có một hình ảnh hiện ra trước mắt làm cho Mary rất đổi xốn xang. Đó là một cảnh của hai vợ chồng nông dân, họ đang ngồi ăn cơm trong chòi vịt đã căng lên bằng tấm Nylon nơi mé lộ. Trong chòi vịt đó, đã có nhốt khoảng vài trăm con. Bộ lông ức vừa mọc ra lúng phúng, chung quanh được bao lại với những tấm liếp bện bằng phên tre vuốt mỏng, để giữ cho đàn vịt khỏi bị sút chuồng. Ông chồng ngồi ăn cơm trông mệt mỏi, có lẽ họ đang lo tới bầy vịt nầy khi nuôi lớn chừng một tháng nữa bán có lời hay không. Còn bà vợ thì ngồi thản nhiên, vạch vú ra cho con bú. Thằng nhỏ trong khẳng khiu, da nám đen nhíu lại nhưng chắc cũng hơi lớn tháng. Mary quay qua hỏi nữa:

– Họ sao trông khổ quá vậy anh? Đứa bé sao không gởi trong nhà trẻ, mà phải bồng theo dang nắng như vầy, và nó nút như vậy thì còn gì vú móm của người mẹ?

Mai Cồ Tửng buồn bã nói:

– Chắc gia đình đơn chiếc. Tháng nầy ai nấy cũng ra đồng, nếu đem gởi con, hay mướn người ta giữ thì tiền đâu mà trả. Bởi cái xứ nầy còn nghèo lắm em ơi!

Mary chặc lưỡi, than:

– Tội quá hả anh. Bên nước Úc Châu của mình, một con hưu con, một ngày tiêu chuẩn của nó là 16 lít sữa tươi, đó là chưa nói tới mấy thứ phí tổn khác…

Chiếc xe vẫn chồm lên lướt qua những ổ gà, quốc lộ 4 nầy là huyết mạch nối liền từ vùng Hậu Giang lên tới Sài Gòn. Tuy chính quyền hiện nay, có nới rộng ra, có tu sửa thêm nhiều chỗ. Nhưng hiện thân của nó, cũng là con đường quốc lộ ngày xưa. Nghe nói chánh quyền, đang có dự án để nâng cấp nó lên thành xa lộ…

Trong lòng Mary đang hổn độn, vừa thương cho đất nước Việt Nam sau hơn 10 năm thống nhứt chấm dứt chiến tranh, vậy mà đời sống của dân chúng cũng vẫn còn nghèo nàn lạc hậu. Mai Cồ Tửng vẫn nhắm mắt, dựa đầu vào nệm ghế. Thỉnh thoảng anh ta cũng hé mắt ra nhìn lại đất nước sau mười năm xa cách. Tình trạng vẫn y nguyên, có khi còn tồi tệ hơn nữa là khác.

Mary để yên cho chồng nằm nhắm mắt. Chị ta bắt đầu nhìn đất nước Việt Nam qua lăng kính của bà đầm. Khi chiếc Taxi chạy tới xã Tân Hội, ranh giới Mỹ Tho – Long An thì dưới ruộng nước có một bầy trâu và vài con nghé, xa xa còn có vài cánh cò bói cá thật nên thơ. Trên lưng trâu đưá bé trạc 12 tuổi ngồi vắt vẻo với chiếc roi tre, đầu đội cái nón đệm rộng vành bẻ cúp xuống bít phần gương mặt. Thích quá, Mary đưa máy hình lên bấm. Hy vọng đây là một tấm hình đồng quê sống động, mà cô ta đã từng mơ ước, xem đó là một tác phẩm nghệ thuật của mình. Bởi ở bên nước Úc chỉ có xa lộ và đồi núi mênh mông, chớ làm sao nhìn thấy một đứa trẻ đang ngồi trên lưng trâu trông nhàn nhã.

Khi chiếc xe Taxi vừa chạy tới thị trấn Trung Lương, Mai Cồ bừng tỉnh mắt. Anh ta biểu tài xế Taxi tốp lại, rồi anh hỏi Mary có muốn đi tiêu, tiểu gì không. Bởi đã ngồi trên xe Taxi tới mấy giờ đồng hồ rồi, chắc bây giờ cũng đang tới cử.

Nhưng Mary lại lắc đầu, chiếc xe Taxi tiếp tục chạy trên quốc lộ. Hai bên vườn cây, ruộng lúa lùi dần lại phía sau như một cơn sóng chạy dài. Khi chiếc xe chạy ngang qua huyện lỵ Cai Lậy, làm cho Mai Cồ Tửng nhớ lại ngày xưa. Trong lúc anh ta còn đang học bậc tiểu học ở đây, thì bỗng dưng có một trái hoả tiển 22ly không biết từ đâu bay tới, rồi nổ một tiếng long trời, làm cho học trò, cô thầy giáo lớp chết lớp bị thương không biết bao nhiêu mà kể!

Chiếc xe Taxi vẫn chạy với tốc độ đều đều, khi qua khỏi cầu Bà Tồn thì ngọn gió chướng thổi lồng lộng thốc vào mạn xe, bật ra những tiếng kêu u u như tiếng dều giấy thả bay trong mùa chướng.

Người tà xế Taxi hảm chiếc xe cho chạy chầm chậm, rồi quẹo theo hướng chỉ mũi tên vô huyện Cái Bè. Chạy thêm một đổi nữa, thì Mai Cồ Tửng day qua nói với người tài xế:

– Căn nhà ngói trước mặt là căn nhà tôi, vậy anh coi cho xe đậu chỗ nào cho tiện, để tôi xách mấy cái valy, vì cái cửa ngỏ hẹp chắc xe vô không lọt…

Tiếng con Vện già cất tiếng sủa khô khan, khi nó ngó thấy có mấy người lạ mặt toan bước qua cửa ngỏ. Trong khi đó; thì có mấy người ngồi trong nhà, đã nhìn thấy chiếc Taxi nên chạy vội ra mừng vui ríu rít. Có người còn la lớn. Trời ơi thằng Sáu Tửng nó đã về tới nơi rồi nè. Vậy mà trong nhà mắc lo nói chuyện không hay, nhờ có con Vện nó sủa vang lên mới biết…

Mai Cồ Tửng dúi vào tay người tài xế $20 đô tiền bo. Hiểu ý, anh ta noí tiếng cám ơn, rồi lễ phép chào hỏi mọi người, sau đó bước trở ra xe, để còn tiếp tục một cuộc hành trình của một người tài xế Taxi, tối ngày cứ quần trên đường để mà bắt khách.

Ở đây, ngay lúc nầy. Chỉ có Sáu Tửng, chớ không có mai Cồ Tửng, nên anh ta vòng tay ôm chầm lấy bà già trong tiếng khóc nghẹn ngào. Mới ngày nào má anh còn mạnh khỏe tần tảo nuôi con, vậy mà ngày hôm nay già yếu. Chân bước đi thật là yếu ớt, phải có một cây gậy để nương vào, lại thêm đôi mắt đã phủ một lớp mây mù, mọi cảnh vật bây giờ đối với bà mờ mờ nhân ảnh.

Sáu Tửng ngước mắt nhìn lên bàn thờ cha, một bình nhang khói toả, làm cho quang cảnh quá đổi lạnh lùng. Họ hàng mỗi lúc thêm đông, họ hỏi thăm anh về đời sống của người Việt tha hương bên nước Úc. Nó sung sướng ra sao, mà phong trào vượt biển đang dâng cao rầm rộ. Có người còn nói, tao nghe thiên hạ họ bàn tán, là nếu cột đèn đi được thì nó cũng đi. Còn mầy làm ăn gì có khá hôn, mà dám cả gan bợ con vợ đầm rồi dẫn về đây, không sợ bà già bả giận, rồi mầy đứng cửa giữa làm sao đây hả!

Trong số họ hàng ngồi nghe anh nói, người ta ngạc nhiên từ điểm nầy đến điểm khác. Xe hơi gì mà lền như bánh canh, vợ một chiếc, chồng một chiếc của ai thì nấy chạy. Nhưng họ khoái nghe nhứt là vấn đề cư trú tự do và “an sinh xã hội”, muốn ở đâu cũng được, chớ không có cái cảnh phải trình với ông trưởng khóm, hay ông xã trưởng gì đâu, vậy mà người nào phạm tội thì đừng mong gì trốn tránh…

Người dân ở đây đã bị chế độ cộng sản kềm kẹp họ từ tháng 4 năm 1975 đến nay, thấm thoát cũng đã hơn 10 năm rồi, nên họ đâu có biết rằng trong thế giới nầy đã có những nước có quyền tự do như nước Úc. Cho nên họ hỏi những câu nghe qua thật là tội nghiệp. Còn vợ anh là Mary cũng bắt đầu làm quen với gia đình bên nhà chồng, nên cô ta cũng nói những câu tiếng Việt nghe lơ lớ. Cô ta nhìn thấy cái bếp tro cũng rất lạ kỳ, chỉ cần kê mấy cục gạch chụm đầu vào nhau cũng thành cái bếp. Vậy mà họ cũng nấu ăn, nấu uống cho tới hết đời nầy qua tới đời kia, chớ đâu có thấy họ than phiền điều gì lộ ra ngoài trên khuôn mặt.

Qua ngày hôm sau, sau bữa cơm trưa thì Mary mắc đi cầu, nên cô ta đi tới đứng kế bên cô giáo Phụng hỏi:

– Bây giờ em muốn đi cầu, thì phải làm sao?

Cô giáo Phụng là chị thứ Tư của sáu Tửng, sau khi mỉm cười rồi đi vô buồng cầm ra một cuộn giấy Toilet Tissue rồi nắm tay Mary dẫn đi vòng ra sau vườn cách nhà chừng 20 thước. Nơi đó có một cái ao cá vồ cũng tới lứa ngoài kí lô 1 con, nhưng vì biết thằng Sáu Tửng sắp dẫn vợ nó về, nên bà già nuôi thúc để dành nấu canh chua chớ không có bán.

Về phần cô giáo Phụng nhìn thấy cái quần Jean cuả Mary đang mặc mà phát sợ, nó chật gần căng cái mông đít. Như vậy thì khi ngồi xuống đi cầu, bầy cá tra quẩy nước, thì làm sao nhóng cái đít lên cho kịp để tránh nước văng lên. Trong lúc đang chần chờ như vậy, tụi con nít ngó thấy con đầm tóc vàng sắp sửa đi cầu cá vồ thì bu lại cũng đông, nhưng tụi nó cũng đứng cách xa canh me chớ không dám tới gần, làm cho cô giáo Phụng thật là khó xử.

Thôi thì đàng nào cũng lở, phải dạy con Mary biết cách đi cầu lúc nầy. Chớ còn không, thì làm sao giải quyết. Bởi trong lòng đã quyết như vậy, nên mới đưa cuộn giấy Tissue cho Mary, rồi nắm tay dắt lên cầu chớ không thì bị té.

Bởi thông thường cây cầu cá vồ gia đình nào cũng vậy, họ làm rất là sơ sài. Chỉ có bắt một cây đòn đi lên không tay vịn, còn bốn phiá thì họ chỉ che có mấy miếng lá chầm, để khi ngồi xuống nó che khuất cái mông đít mà thôi, cho nên mỗi khi đi cầu cá vồ người ta đều ngồi thủ thế. Khi thấy bầy cá giành ăn, thì họ nhóng cái đít lên một chút. Sau đó họ tiếp tục bình thường, cứ nhóng xuống nhóng lên, chừng nào sạch ruột thì thôi, chớ cũng không thì thế nào cũng bị văng nước ướt mông đít.

Đàn cá vồ bắt đầu lượn dữ, sóng gợn từng hồi. Có con lại chạy nổi lưng, vì cái giống cá vồ từ lúc nhỏ cho tới bây giờ, nó thấy hơi người ta thì trừng đầu lên kiếm chác. Có con còn hả họng ra tác hoác để chực chờ, nếu không lanh lẹ thì làm sao no bụng.

Cô giáo Phụng ra dấu cho Mary kéo dây con rít trật ra ngồi xuống, trên bờ vườn phía bên kia, cái đám con nít bắt đầu chỉ trỏ. Bởi đây là lần đầu tiên tụi nó mới thấy một con đầm tóc vàng mà đi iả trên ao cá vồ, nên tụi nó mới hú hí bu lại coi chơi. Trong khi đó thì con Mary vẫn thản nhiên với bầy cá vồ, nhưng nào ngờ bầy cá vồ lại giành ăn với nhau phơi kỳ nổi lên như cá nằm trong rổ xúc. Có con lại hả họng ngước lên nhìn, dường thể nó muốn phóng lên để táp miếng mồi trước khi rơi xuống nước. Sợ quá Mary vội vả đứng lên mà quên kéo cái quần, cứ đứng như vậy mà xổ tiếng ăng lê tới mấy phút đồng hồ, để mặc cho mấy đứa con nít nhìn qua rồi cười ngất…

Vô tới nhà Mary oà lên khóc, khiến cho không khí trong nhà cũng bớt vui. Sáu Tửng ngồi kế bên an ủi, anh ta hứa chắc là nội ngày mai, anh ta sẽ rước thợ hồ đi lại nhà xây một cây cầu vệ sinh giựt nước đàng hoàng, chớ không thể để cho em đi cầu cá vồ nữa đâu, thôi em đừng sợ…

Cùng lúc đó, trong xóm nhỏ miền quê ở huyện Cái Bè, có một tốp con nít chạy đi khoe khắp xóm. Là tụi nó quả quyết, đã nhìn thấy con chim của con đầm nó không giống con chim ở đây, lông lá của nó vàng khè mà còn oăn như râu bắp nữa.

Khiến cho nhiều ông già nhậu vô cửng cửng, rồi đưa tay vuốt râu ngạnh trê nói phỏng. Tao biết trước hết rồi mà, như đám mạ cháy chớ có khác gì đâu. Bởi vậy tao đâu có thèm coi, ngồi nhà nhưng tao đây đều biết hết./-

Phùng Nhân

Phùng Nhân
Theo: Văn Thơ Lạc Việt




Mầu Hoa Khế : Ông Tư Đờn

Bây giờ tóc trên đầu cũng đôi ba sợi bạc, tấm lòng vàng của hai vợ chồng ông tôi cứ thấy nặng mãi ở trong tim. Thôi thì cứ theo dòng đời đưa đẩy, nếu kiếp này không cho tôi gặp lại hai người, hai vị ân nhân giúp người không cần báo đáp. Cho tôi hẹn lại kiếp sau bởi nợ gì cũng trả được chứ nợ ân tình làm sao mà trả cho xong !?… Mầu Hoa Khế Oct. 28. 2009 *Tôn Tẩn: nhân vật trong Tam Quốc Chí

Ông Tư Đờn

  • Có một chuyện cứ để nằm trong bụng , lâu lâu lại thấy như có lỗi với người ta vậy đó. Dễ chừng đã hai mươi lăm năm, nhớ hồi dẫn con Cà Na đi vượt biên nó mới hai tuổi đui. Hai má con theo sự sắp đặt của mấy người tổ chức. Chạng vạng cở đâu sáu bảy giờ tối, có chiếc xe Honda chạy xề tới nhà, người đàn ông mặt mày lạ hoắc bước vô nhà lấm la lấm lét như đi ăn trộm đưa ra tờ giấy xếp tư được nhét sâu trong túi quần. Tôi đọc thì mới hay là phải đi theo người này tới chỗ “ém gà “là địa điểm của một căn nhà trong đường giây tổ chức vượt biên, đặng khuya lên “taxi” là cái thuyền máy nhỏ, ém cở mười người để đưa ra thuyền lớn đang đậu núp ở một cái góc khuất nào đã được ăn chia với công an địa phương. Hai giỏ đồ được chuẩn bị cả tuần lễ trước, gồm mấy bộ đồ, ít lương khô, con Cà Na còn nhỏ nên mua thêm một ống sửa giống như ống kem đánh răng, rủi khi lên tàu nó có đói thì nặn ra cho có chút chất bổ dưỡng. Quan trọng là phải có thêm cái áo ấm dày, chứ trên biển cả làm gì có lửa củi mà hơ. Tôi bồng con Cà Na trên tay, con nhỏ ngơ ngơ hai mắt tròn đen tưởng má bồng đi chơi, nó đâu biết từ giây phút này hai má con đang giao số phận cho ông trời định đoạt. Bà ngoại con Cà Na rưng rưng nước mắt, còn ông ngoại nó quay ngoắt lưng để che giấu sự xúc động mãnh liệt ,bởi tôi nhìn cái bờ lưng ốm nhách của ông già như đang run rẩy .Tôi bồng con mạnh dạn đi bương ra cửa leo lên xe HonDa của người ta mà mắt không dám nhìn ngoái vô nhà, mà có nhìn vô chắc tôi cũng chẳng thấy gì bị nước mắt đã oà ra như mưa . Tới điểm hẹn , thì có người đàn bà ra dấu bảo đi theo sau bằng khoảng cách xa xa, bả làm người tốt xách dùm hai giỏ đồ mà tôi đã để hết tâm trí lo lắng. Nào là mang cái này hay mang cái kia, thêm cái này, bớt cái nọ . Vậy mà ác nhơn hết sức, khi tôi xuống cái ghe nhỏ thấy có thêm tám người nữa ngồi sẵn ở đó. Thì con mẹ lách mình ở ngõ nào đem theo luôn hai giỏ đồ sinh tử của tôi. Tôi sững sờ có miệng cũng không nói ra lời, nghẹn đắng họng, đắng hầu. Người đi cùng chuyến cũng lặng câm, ai nấy đều có chung một sự lo lắng không biết phong hiểm ra sao, nhưng tâm sự thì mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau nên cứ ngồi im mà ôn lại những gì đã có, đã qua trước giờ phút chia ly. Trời tối thật mau, tội con Cà Na không có chi ăn nằm trong lòng tôi khóc rấm rức, tôi thấy con khóc muốn đứt ruột rồi còn bị người cùng đi trừng mắt, khó chịu . Tôi thiệt là không biết kêu đâu cho thấu, chỉ biết ôm con dỗ sao cho mau nín , mà nó đói quá thì cũng lã người ra ngủ trên tay tôi . Chiếc ghe máy đi độ mấy tiếng thì ra tới sông Thủ Thiêm, chỉ chừng mười giờ đêm nhưng trên sông mênh mông thì thấy tối thui. Đang chạy ngon lành, trên ghe ai nấy cũng còn im thích chưa ai nói gì với nhau thì bỗng đâu nghe tiếng súng nổ, ban đầu nghe chừng ba phát, sau nghe thêm đùng đùng như đang tới gần chiếc ghe. Trên ghe bắt đầu hổn loạn, tôi nghe cái cậu trẻ lái ghe nói . – Chết mẹ rồi, công an tới rồi. Cả ghe nhốn nháo tròng trành như muốn lật nhào úp xuống nước, tôi quá hãi hùng càng ôm con chặt hơn. Tiếng cậu lái ghe lớn hơn giữa trời lồng lộng gió: – Bà con nghe tui , tui lủi vô chỗ cạn ai nấy nhanh chân nhảy xuống nhớ núp xuống xình nghen. Miệng chưa dứt câu cái ghe đã là là vô cái đám xình lau sậy ven sông. Trời tối không ai nhìn ra mặt ai, mọi người nhảy tủm xuống nước biến mất trong bóng đêm. Trên ghe chỉ còn hai má con tôi, thêm một ông già và một cô gái. Vừa lúc thuyền công an trờ tới bắc loa gọi bằng cái giọng bắc 75 đanh thép: – Mấy người bên kia bước ra lên thuyền mau. Vừa gọi vừa rọi đèn pha, họ thòng cho cái ván, cũng may khoảng cách gần xịch nên tôi ôm con bước lên không mấy khó khăn. Họ đưa vô một căn nhà giữa đồng không mông quạnh . Khi tới nơi thì tôi mới biết nơi đây đã có một số người cùng chung số phận với má con tôi. Cái đám người bắt chúng tôi nói có gì trong người phải nộp sạch . Cứ giống như mấy cuốn phim kiếm hiệp tôi coi trước đây là gặp phải bọn thảo khấu. Ai nấy đều lột ra hết bỏ trong cái nón lá .Còn tôi cái lá gan cũng to, dấu hai chỉ vàng cột trong đuôi tóc nhất định không lấy ra, ngẫm nghĩ nếu họ tìm thấy thì cứ giả ngu giả khờ kiểu Tôn Tẩn giả điên cho qua phà . Qua một đêm họ gọi là “mần việc”, sáng ra họ chở tới bến đò đưa ra trại giam ở Cần Giờ . Trên chuyến đò chúng tôi khoảng hai mươi người được 4 người công an đi theo canh giữ. Cùng đi trên tàu cũng có những người thường dân đi buôn bán. Họ thấy con Cà Na khóc vì đói nên có người hảo tâm cho nó cái bánh ú, tôi phải mâm mâm rồi đút cho con, hai tuổi mà ăn bánh ú dễ mắc nghẹn như chơi . Cả nhóm bị nhốt ở Cần Giờ mười ngày, thì nghe đâu tổ chức bỏ vàng ra xin chuộc, bị tôi đi cũng đã đóng trước 3 cây vàng, chờ tới đảo hay đâu đó thì đưa tiếp 3 cây vàng nữa . Ở tù thì ai mà chẳng biết nó cơ khổ tới mức nào, cũng nhờ có con nên tôi được châm chế cho mấy chuyện gọi là lao động . Nhà tù chưa xây cất thêm, nên nhóm người vượt biên được lùa chung ở một góc trại, chỉ có mái che chứ chung quanh trống rốc. Đêm trong tù lạnh lẽo, muỗi mòng, ai thấy con bé nhà tôi cũng thương, họ cho mượn cái khăn quấn kẻo bị muỗi cắn. Còn tôi thức trắng mấy đêm nằm đập muỗi cho con, phần lạnh buốt da không sao ngủ được . Có bà cụ cho mượn bộ đồ để thay , chứ đã năm ngày không tắm rữa hôi hám như ăn mày. Còn con Cà Na, thì có cái khăn quấn, nên hai Má con mang hai bộ đồ đi xã nước lạnh câu từ cái giếng nhỏ, chỉ có nước lên vào buổi sáng chứ tới trưa là cạn queo rồi mang ra phơi ở hàng rào kẽm gai để có mà thay đổi . Suốt mười ngày trong trại tù ở Cần Giờ, con Cà Na dễ thương hay không biết má nó dễ thương mà nó ngày được trái chuối, ngày được củ khoai. Lúc đi lấy cơm tù phần cơm cũng nhiều hơn người khác. Tối tối được nghe một người tù hát cải lương, hát hay như Út Trà Ôn nên ông trưởng trại tù cũng nghiền nghe. Sau mười ngày cam khổ, cả nhóm vượt biên được thả ra cùng một lúc, một số người có người nhà đến đón. Lúc này thì tôi mới biết là cùng một đường giây tổ chức. Hai má con được thả ra khỏi trại giam vào lúc 5 giờ chiều, bơ vơ nơi đất Cần Giờ, có hai chỉ vàng mà đâu dám lấy ra bán sợ này sợ nọ. Cũng may mắn số người được ra cùng ngày họ có gì thì đưa hết cho tôi, trong giỏ đồ có ít bánh. Tôi nghĩ thôi đêm nay ra sạp chợ ngủ đại một tối, bị sáng sớm mới có chuyến tàu về Vũng Tàu vào lúc 6 giờ sáng. Đang lúc bồng con trên tay lơ ngơ đi tìm coi chợ nằm ở đâu. Lúc đi ngang qua một tiệm may đồ, thì thấy có hai vợ chồng tuổi chừng bốn mươi đưa tay ngoắc hỏi: – Phải mới trỏng ra hôn? Nhìn gương mặt hiền lành chất phát của họ, tôi gật đầu xác nhận. Người vợ đứng lên ra nắm tay tôi dắt vô cửa tiệm. Nói là cửa tiệm chứ căn nhà rất nhỏ độ bề ngang 4 mét bề dài 6 mét , họ ở trên gác còn bên dưới thì mở tiệm may. Vô tới nơi ông chồng lên tiếng: – Tối nay tui cho ở rồi sáng mai ra bến đò mà về. Ông quay qua bà vợ dặn dò cơm nước rồi chỉ ra mé sau cho hai má con được tắm một bữa thoả thích. Nước ngọt ở xứ này cũng phải mua, chứ giếng đào chỉ có nước lờ lợ không dùng được. Tối đến được ăn cơm trắng, canh chua với tôm thẻ kho rim. Bữa ăn hôm đó tôi nhớ suốt đời, cái tài nấu nướng của hai vị ân nhân và khắc sâu ân tình của họ. Sau bữa cơm họ giăng cho tấm mùng thật lớn trên gác, họ nhường chỗ ngủ cho hai má con, còn họ thì ngủ dưới nhà. Đúng 5 giờ sáng họ lên đánh thức, không thôi tôi đã bị ngủ mê, một giấc ngủ ngon kể từ lúc bị bắt mới có được . Ông chồng đưa hai má con ra bến đò, tôi nắm tay bà vợ mà nước mắt muốn trào nói lời cám ơn tận đáy lòng. Ra tới bến đò vị ân nhân mua cho tôi ly cà phê đen uống cho ấm bụng, mua cho con Cà Na cái bánh giò chéo quảy. Tàu cũng vừa trờ đến, tôi loay hoay định nhờ ông bán dùm chỉ vàng để làm lộ phí. Ông xua tay cầm ít tiền dúi vô tay rồi hối thúc tôi lên tàu cho kịp chuyến. Tới giây phút đó tôi mới thấy mình đoảng hậu ghê, tên của hai vợ chồng ông tôi chưa hề biết, chỉ nghe kêu là ông Tư. Người miền Nam tên theo thứ tự thì quá nhiều tên gọi như thế làm sao sau này tìm mà trả lại cái ơn nghĩa này. Tôi đứng vô tàu ngoái mặt ra ngoài hỏi: – Ông Tư ơi.. ông tên là gì ? Ông cười sảng khoái nói – Ở đây ai mà không biết ông Tư Đờn . Con tàu nổ máy lướt ra khỏi bến, trời lờ mờ sáng tôi vẫn còn thấy bóng ông Tư Đờn đứng im trên bến nhìn theo . Ông Tư Đờn, đã trên hai mươi lăm năm tôi chưa hề trở lại Cần Giờ. Bây giờ tóc trên đầu cũng đôi ba sợi bạc, tấm lòng vàng của hai vợ chồng ông tôi cứ thấy nặng mãi ở trong tim. Thôi thì cứ theo dòng đời đưa đẩy, nếu kiếp này không cho tôi gặp lại hai người, hai vị ân nhân giúp người không cần báo đáp. Cho tôi hẹn lại kiếp sau bởi nợ gì cũng trả được chứ nợ ân tình làm sao mà trả cho xong !?… Mầu Hoa Khế Oct. 28. 2009 *Tôn Tẩn: nhân vật trong Tam Quốc Chí

Email được gửi lúc: 23:34:18 – 19/07/2010

Màu Hoa Khế
Theo: Văn Thơ Lạc Việt




NHỮNG VỊ “ANH HÙNG NHÂN DÂN”

miền quê đó hôm nay lại hun đúc một con người, Giuse Ngô Quang Kiệt, một gương mẫu mới của lòng yêu mến và quả cảm, sao miền quê đó lúc này im ắng quá. Không im ắng đâu, bởi vẫn còn những bà mẹ nghèo nhưng giàu lòng quảng đại, vẫn còn những bạn Taxi, xe ôm và đồng nát kiên cường. “Các cha cứ gọi, chỉ vài phút sau chúng con sẽ có mặt tại Thái Hà

NHỮNG VỊ “ANH HÙNG NHÂN DÂN”

Tôi về quê tôi trong một ngày đầu xuân, ngày xuân có gió nhẹ nhàng, có những cành đào tươi nở và có cả lòng người chờ mong thương yêu. Lâu lắm rồi tôi không về, kể từ lần đầu về bây giờ đã 15 năm, con đường vạn lý cứ mãi giằng kéo bước chân tôi xa quê, mải mê với bước “giang hồ” nên quê cũ vẫn là một nơi chốn chỉ để nhớ để thương.

Thật ra với một người như tôi mà thương nhớ quê là rất lạ, vì trang lứa tôi sinh ra trên đường vào nam ( 1954 ) lớn lên ở miền Nam, có mấy ai nhớ về quê cũ đâu. Khác với những người như vậy, tôi gắn bó với quê một cách sâu đậm và hằng nhung nhớ trong lòng.

Lần đầu tiên về quê, chỉ một mình mà tôi dám về quê, những bất ngờ mà quê dành cho mình càng làm tôi càng thương nhớ quê hơn, người “nhà quê” đã đón tôi bằng cả một tấm lòng thương mến. Tôi đã về để đi trên con đường “dong nhà mình”, cứ ngỡ đâu đây cha mẹ mình vừa đi qua, vào nhà “cụ xã” ( ông nội tôi ), ngồi ở bậc thềm nhìn ra cầu ao trước nhà, tôi vụt đứng lên bước vội ra cầu ao, đúng rồi, mẹ tôi bảo: “Cầu ao nhà ông Xã có ba bậc, bậc thứ hai mẻ một miếng ở bên phải”.

Bà con hàng xóm đến thật đông để chào và nghe tôi nói chuyện, tôi chợt nhớ một điều bèn hỏi: “Ai là… con Nga, con bà Nguyệt ?” Một bà cụ khoảng 70 tuổi móm mém đứng lên: “Con ạ !” Mọi người bật cười còn tôi bối rối. Tôi vẫn thường nghe mẹ tôi kể rằng “Con Nga, con bà Nguyệt” hay bện rơm xoắn lại, dọa anh tôi: “Tao bắt mẹ mày” thế là anh tôi sợ và khóc chạy về quấy mẹ, câu chuyện đã lâu lắm rồi, anh tôi năm nay đã tròm trèm 70, thế mà tôi quên mất !

Lần đầu tiên tôi dâng lễ ở Nhà Thờ họ tôi ( Giáo Xứ quê tôi có họ nhà xứ và 4 họ lẻ ), những gì cha tôi kể như hiển hiện ngay trước mắt tôi, từng cái cửa, cái bàn, cái ghế cũ kỹ, cái Cung Thánh sơn son thếp vàng, cái rương gỗ của cha già Trúc để ở phòng thánh… Tất cả còn hết, còn nguyên vẹn. Tôi ứa nước mắt ra khi nhìn mọi sự vật cha tôi đã kể tỉ mỉ cho tôi nghe, mọi cái còn đó, chỉ có cha tôi, người con đi biệt xứ kể từ cái đêm bị ruồng bắt năm 1945, ôm ấp mãi trong lòng ước muốn một lần về thăm quê, thăm mọi người, thăm mồ ông mả cha, thắp cho ông nội tôi một nén nhang tạ tội mà không được. Cha tôi đã mất để lại cho chúng tôi nỗi nhớ quê nhà…

Ông nội tôi chết ở đình làng khi bị giam cầm chờ ngày mai xét xử trong cuộc đấu tố cải cách ruộng đất. Nghe kể lại rằng, đêm đó cô tôi bò vào mang theo nắm cơm cho bố ăn, nhưng khi vào đến nơi sờ vào người cha mình thì ông tôi đã chết rồi, ông tôi chết một cách uất ức vì ông tôi có phải là địa chủ đâu, chân lấm tay bùn quanh năm. Mẹ tôi bảo: “Ông cả đời nhịn ăn nhịn mặc, chẳng bao giờ dám hoang phí một đồng, cả ngày lặn lội ngoài ruộng, thế mà bị gán là địa chủ !”

Sau năm 75, có một người trong số những người đấu tố ông nội tôi vào Nam tìm đến gặp cha tôi, họ nói lời xin lỗi cha tôi, hôm đó cha tôi không trả lời câu nào hết, ông lặng người đi, gục đầu vào bàn thờ ông nội tôi, khi quay ra, tôi thấy mắt cha tôi đỏ hoe. Hôm đó, cha tôi bảo làm cơm đãi người ta ăn và khi chia tay, cha tôi lấy một ít tiền chia sẻ với ông ta, hình như mẹ tôi rất khó chịu về điều này, sau này tôi được biết, ngày đó cha tôi cũng gật đầu chấp nhận cho ông ta tiếp tục sống trên cái “thổ nhà mình”, vì cha tôi bảo: “Mình có về nữa đâu mà giữ !” Hôm tôi ở quê, đứa em con bà cô, đứa em còn cố giữ được thổ nhà ông tôi gợi ý: “Anh sang thăm thổ nhà bác”. Tôi ngần ngừ rồi trả lời: “Thôi em ạ !”

Dĩ nhiên là người “nhà quê” đã không để tôi yên, tình cảm yêu thương dồn nén, một ngày phải dâng ba lễ, bao nhiêu loại lễ mừng, lễ giỗ họ, đem cả vào hai ngày tôi ở quê mà yêu cầu tôi “ban” cho, đành vậy. Những giờ khác, chú tôi, ông “tiên chỉ làng” dẫn tôi đi thăm các nhà có liên hệ, danh sách đã được ông định trước và không ai dám cãi ông.

Ông dẫn tôi đền nhà cụ Trùm Bát, cụ Trùm Bát ốm liệt nằm trên giường đã mấy tháng nay, cụ chẳng xa lạ gì với tôi vì cha tôi hay kể về cụ, kể về người bạn hiền lành và thân thiết năm xưa ở quê nhà, thậm chí tôi còn biết nhiều chuyện khá riêng tư của hai cụ nữa, nhưng có một chuyện mà tôi không biết, bất ngờ trong lần đầu tiên về quê được cụ bà tiết lộ, đó là: “Thưa cha, con là bạn của bà cố, ngày xưa con đi phù dâu cho bà cố !” Lần ấy, tôi về lại Sài-gòn, hỏi mẹ tôi, cụ nhăn mặt suy nghĩ rồi trả lời: “Chẳng nhớ nữa, chắc vậy”.

Lần này cụ bà bị điếc nhưng vẫn còn khỏe, cụ bà loay hoay bên tôi, người co rúm lại cười cười nói nói rất hồn nhiên. Cụ ông nằm liệt giường, việc đầu tiên là “ăn mày phép giải tội”, cụ thở giốc nói được vài lời, họ quấn quanh cụ những chăn bông, những áo len, những mũ len, tất cả cũ kỹ cáu bẩn, mùi hôi, mùi ẩm mốc…

Sau những “lời khuyên bảo“, cụ đưa tay run rẩy luồn vào tấm áo trong, tìm kiếm phía trên ngực, “Thưa cha, con có chút tiền dâng cha lo việc Nhà Thờ”. Cụ tiếp tục run rẩy tìm kiếm, tôi đã nói lời từ chối không nhận tiền vì nghĩ rằng cụ rất nghèo, chẳng có là bao, để cụ lấy tiến đó mà lo thang thuốc, nhưng cụ nhất định không chịu. Khi tôi sang nhà bên cạnh, người ta cầm sang cho tôi một “nắm” tiền và cho biết đó là tiền của cụ. Tôi đã bật khóc khi tối về xem xét lại “nắm” tiền đó, 20 tờ 1.000 đồng mới tinh và 6 tờ 5.000 đồng cũng mới tinh.

Tôi biết cụ đã cho tôi tất cả cái cụ có, khi kể lại câu chuyện này cho một người quen, chị ấy thốt lên: “Hai đồng tiền bà góa !” Cám ơn Chúa đã cho con được cảm nghiệm Tin Mừng một cách rất cụ thể, và con đã có được cảm nghiệm đó khi con đi gặp người nghèo.

Có một “vị Anh Hùng Nhân Dân” mà tôi đã hân hạnh được viếng thăm, bất ngờ hơn, lại là người mà tôi “còn có họ”. Bà đáng được phong danh hiệu như vậy. “Nhân Dân” bởi chính bà là người dân hiền lành chất phác, căn nhà nhỏ bé ba gian lợp ngói kiểu đồng bằng Bắc Bộ, khung cảnh cuối đông ảm đạm càng làm cho cái vẻ nghèo nàn tăng thêm.

Trời rét lạnh nên tuổi già còn phải chịu quấn quanh người cái áo len dầy cộm, ông chồng của bà vẫn tươi cười chia sẻ: “Con đau yếu chẳng làm gì được, đành ở nhà nội trợ, còn nhà con phải lên Hà Nội ‘lội chợ’ kiếm ít tiền”. Thế nhưng khi lao mình vào chốn thành thị ấy, thì người đàn bà chân quê nhận ra cái lẽ phải và sự thật, cái nhận thức rất đơn giản của người nhà quê yêu mến Giáo Hội và kinh nghiệm thế nào là sự giảo quyệt. Bà luôn có mặt ở hàng ngũ những người đi đầu trong các cuộc đòi chân lý. Trong những ngày tháng căng thẳng, có một người đàn bà nhỏ bé duy nhất lọt vào Tòa Khâm Sứ cũ, quỳ trước tượng Đức Mẹ Sầu Bi cầu nguyện một mình, hình ảnh đó được phát đi khắp nơi cho mọi người chiêm ngưỡng, hình hài nhỏ bé đó là chính bà. Bà hồn nhiên cho biết: “Thưa cha, con cầu nguyện với Đức Mẹ thì con sợ gì ai ?” Người mẹ “Anh Hùng Nhân Dân” ấy là mẹ của một Linh Mục.

Có một “Anh Hùng Nhân Dân” khác tôi cũng được gặp khi về quê, người đàn bà quả cảm ôm tượng Đức Mẹ vào đặt tại bể nước trong khu “linh địa Đức Bà”, cũng như người mẹ Anh Hùng kia, người này cũng xuất thân từ chuyên ngành “đồng nát” ( ve chai ), kể từ khi vụ việc Thái Hà xảy ra, bà nhận ra cái “lạnh lẽo đạo nghĩa” của mình, bôn ba khắp thiên hạ rồi cũng chẳng đi đến đâu, bà dừng chân ở linh địa, khởi viết lại trang sử đời mình từ những ngày đi đòi chân lý và nguyện gắn bó sống chết với điều đã chọn lựa, bà nói: “Có bắt con đi tù thì phải lo mà nuôi cơm con, con vẫn cứ đi đòi cho đến khi nào có được chân lý và sự thật”.

Có một ai đó đã viết về quê tôi, miền quê có truyền thống gìn giữ và bảo vệ Đức Tin mạnh mẽ, miền quê nghèo nhưng không nghèo lòng quả cảm, miền quê đã sản sinh ra nhân vật nổi tiếng của Giáo Hội một thời, Đức Cha Phạm Năng Tĩnh, một anh hùng của Đức Tin, miền quê đó hôm nay lại hun đúc một con người, Giuse Ngô Quang Kiệt, một gương mẫu mới của lòng yêu mến và quả cảm, sao miền quê đó lúc này im ắng quá. Không im ắng đâu, bởi vẫn còn những bà mẹ nghèo nhưng giàu lòng quảng đại, vẫn còn những bạn Taxi, xe ôm và đồng nát kiên cường.

“Các cha cứ gọi, chỉ vài phút sau chúng con sẽ có mặt tại Thái Hà”…

Lm. VĨNH SANG DCCT, 7.2.2009

LM. Vĩnh Sang, DCCT

LM. Vĩnh Sang
Theo: VietCatholic News



BA CON CÁO (Nhà văn Bình Nguyên Lộc)

Lời bàn thêm của người tuyển: “Thế là đêm đó hai con chồn đói xơi một con chồn no.” Bữa tiệc ấn tượng đến rùng mình. Cái kết thúc của con “chồn no” ấy ta có thể đoán trước được. Nhưng cái kết thúc của con “cáo già” thì thực sự là một bất ngờ. Xin nghiêng mình bái phục cụ Bình Nguyên Lộc. Thế còn con hồ ly? Thì… cứ đợi đấy!

BA CON CÁO
Bình Nguyên Lộc
 
Bắt đầu bằng cái rùng rợn của thế giới người chết. Vậy mà cuối cùng, chính cái thế giới ấy lại tử tế gấp vạn lần thế giới của những kẻ đang sống. Truyện này mang xuống âm phủ mà đọc, chắc dưới đó người ta cũng xếp ngay vào loại “Liêu trai”. Bởi đối với cõi âm, thì người sống chính là một loại… ma quỉ. Một giọng văn cách đây già nửa thế kỉ mà đọc vẫn không hề cũ. Bình Nguyên Lộc được coi là Anphôngxơ Đôđê của Nam Bộ thật xứng lắm thay.
 
VPL
 
Mặc dầu là tay “bán trời không mời thiên lôi”, Sáu Sửu vẫn nghe rờn rợn khi nhìn ra ngoài.
Thánh giá trắng đứng mơ hồ trong ánh sáng lờ mờ của nghĩa địa, sắp thành hàng ngũ đông đúc, nhánh ngang của thánh giá trông mường tượng như những cánh tay người giăng ra để đón bắt ai.
Xa xa, một trụ vôi có dáng một người đàn bà đội khăn tang trắng, đứng nhìn đám mồ trước mặt bà ta.
Gió đêm, cùng với dế, trùn, họp nhau mà than vãn bên hàng nghìn mồ hoang mả lạnh, và thỉnh thoảng, anh Sáu vẳng nghe như có tiếng người rên rỉ đâu đây.
Từ một ngôi mả cũ đằng xa, một ánh lửa lóe lên, nhỏ bằng ngón tay, từ từ bay lên cao rồi đi bơ vơ qua các hàng thánh giá. Lửa ma trơi hay là đèn của một người đi soi ếch nào đó?
Mưa dầm tháng tám rơi trên nước ao tù khiến anh Sáu có cảm giác rằng mình đang ngủ trên một chiếc thuyền, giữa dòng nước.
Lạnh quá, lạnh ngoài da, mà lạnh cả đến trong lòng.
Người sống, một khi xâm nhập vào địa hạt của người chết, mới nhận được rằng cuộc đời bên ngoài dầu đau khổ bao nhiêu cũng còn ấm chán.
Tại phố Phát Diệm, khúc phía trên này, họ Cầu Kho có một đất thánh mà từ vài năm nay nhà thờ không cho chôn trong đó nữa.
Dân số nghĩa địa cứ mỗi ngày một tăng lên, mà không có một ai chết lần thứ nhì cả để cho số sanh và số tử bù trừ nhau hầu đất đai trống bớt chỗ.
Ngoài thành phố, người ta đẻ con, nhưng người ta lại chôn ông, nhà cửa thành thử không chật thêm được. Ở đây mồ mả sanh ra rồi già cỗi dưới rêu xanh của sương gió, nhưng vẫn nằm lì đó đến muôn thu.
Vì vậy nghĩa địa phải chịu nạn nhơn mãn. Nhà thờ không cho chôn xác thêm vào đó, rồi cũng chểnh mảng việc trông nom đất thánh nên người sống đang thiếu đất, bèn ùa đến mà lấn người chết.
Nghĩa địa không có vách thành. Ban đầu vài người mạo hiểm cất nhà ngay trên ranh đất thánh. Thấy không ai nói gì, một số người khác lách qua khỏi mấy cái nhà vừa cất lên, để vô trong mà xây cất.
Họ cất vây tứ phía ngôi đất thánh và vòng vây cứ càng ngày càng siết chặt lại, người chết không còn lối nào để thoát ra được nữa cả.
Khi vòng vây siết đến lằn mức chót, nghĩa là những ngôi mộ ở bìa, thì cuộc xô lấn bắt đầu diễn ra một cách đau thương.
Người sống cũng biết đau lòng khi phải dẫm lên những gò mả còn mới rành rành (nhiều mộ bia, thánh giá, đề năm chôn là 1951) nhưng họ, ác thay, lại cũng biết lạnh. Cho nên họ cứ cất nhà trên những nấm đất ấy, xin người chết thứ lỗi, miễn là có chỗ núp mưa thì thôi.
Không bao giờ kẻ sống và người chết lại sát cánh nhau đến thế. Ông đã chết rồi, ông choán đất làm chi cho nhiều, trong khi tôi không có lấy một vuông nhỏ để mà cắm cây cột gỗ; vậy ông thứ lỗi nhé! Rồi ngày sau tôi cũng hoàn lại đất như ông vậy mà; trần gian nầy chỉ là cõi tạm thôi, tranh nhau làm gì!
Cuộc xâm lăng lặng lẽ để tranh sống với người chết, gây ra một tai hại lạ kỳ.
Vùng đất ấy ngày xưa tuy cũng thấp vẫn khô ráo, nhờ con rạch Bần tháo nước ra sông Ông Lãnh. Nhưng từ khi đô thành cho đắp đại lộ Trần Hưng Đạo, cách đây mấy mươi năm, thì ngọn rạch Bần bị lấp, và nước mưa trên nầy bị bỏ tù lại đến chung thân khổ sai, vì khu ấy đất trũng mà!
Đất thánh không phải ở giữa rún đất nên không đọng nước. Nhưng vòng vây tai hại kia lại biến thành con đê ngăn nước đất thánh đổ xuống chỗ trũng hơn.
Thành thử phần nhiều ngôi mộ đã biến thành cù lao, có cù lao rời rạc, có mớ họp thành quần đảo, không còn làm sao ra đó được nữa. Nước tù mang một màu khó tả và một mùi cũng khôn tả. Đáy ao biến thành bùn non, đi thì lún đến ống quyển.
Lau, sậy, đế tha hồ mà mọc như ở bưng miền xa.
Giữa đất thánh còn sót lại một ngôi mộ cổ kiến trúc theo bên lương mà có lẽ nhà thờ không nỡ phá đi lúc lập ra đất thánh cho giáo dân nầy.
Ngôi mộ ấy đồ sộ nhứt nghĩa địa, xây bằng vôi và ô đước, xanh đặc những rêu phủ. Lối kiến trúc rất rắc rối như một lâu đài, đầy rẫy ngăn nắp với nào là đường vào lối ra quanh co và hóc hiểm.
Hôm ấy những người của vòng vây đều ngạc nhiên mà thấy một mái nhà lá dựng ngay trên ngôi mộ cổ ấy.
Nhà dựng đâu từ sớm mai đến trưa là xong cả. Họ cứ tự hỏi, và hỏi nhau làm thế nào mà chủ nếp nhà ấy lội sình để ra ngoài đó được. Đi tay không đã không được rồi, mà làm sao hắn ta lại mang cả gỗ, tre và lá ra đó để cất nhà?
Hỏi nhau không ai đáp được, mà cũng chẳng mong phỏng vấn thằng cha dị hợm kia, họ đành thôi. Thét rồi mắt họ quen đi, nếp nhà ăn vào chân trời quen thuộc của họ, họ nhận cho nó ở đó mà không bàn tới bàn lui gì nữa cả.
Sáu Sửu ngày trước có ở xóm Phát Diệm. Năm ấy có người treo cổ trong nhà mồ ở bìa đất thánh. Anh đã vào đó với nhiều kẻ hiếu kỳ khác để xem kẻ chết treo, nên được dịp biết rõ nghĩa địa.
Hôm tháng rồi anh bị truy nã ráo riết nên cố tìm một chỗ ẩn nấp thật kín. Nhớ lại xóm cũ với cái nghĩa địa kia, anh về qua đó và rất hài lòng mà gặp hòn đảo nầy.
Không một viên cảnh sát nào đủ can đảm lội sình nhứt là dầm chơn trong một thứ nước nhơn nhớt để ra ngoài đảo Lỗ Bình Sơn của anh.
Nếu có cuộc bố ráp đại qui mô như hồi còn Tây thì bất quá họ cũng đứng ngoài mà nhìn vào, hú bậy vài tiếng như hú đò bên kia sông, rồi đò không qua thì thôi. Họ nghĩ sót một con cá cũng chưa chết ai, mà biết đâu cá đó lại không phải cá hiền, một tên ăn mày nào đó chớ gì.
Từ vòng vây ở ngoài, leo lét vài ngọn đèn dầu của những kẻ lấn đất người chết. Xa thật xa ngoài kia, ánh sáng đô thành làm nổi bật lên, đen thui, những ngôi nhà lầu, những ngọn cây cao. Các thứ nầy giống hệt những hình bằng giấy đen, người ta cắt rồi dán lên nền trời.
Bỗng anh Sáu nghe rục rịch dưới sàn ván. Hôm cất nhà xong, anh lót ván lên mộ, vừa để làm nền nhà, vừa để làm giường ngủ. Dưới ván rầm ấy, lau sậy bị đè đầu xuống, và sẽ chết lần mòn vì thiếu ánh sáng.
Anh Sáu quên, một thứ khác, cũng giống như lau sậy, mà biết cục cựa nữa kia. Vì thế đêm nay trời có trăng, anh ngồi ngó một ra đám rừng thánh giá trắng thì anh phải một phen hết hồn trước sự hiện ra của một chú chồn to bằng con chó ta.
Chồn khua lau sậy sột soạt, rồi chui ra khỏi mộ, ngoái cổ lại dòm cái nhà mà đêm hôm qua đây chưa có. Suốt ngày hôm ấy nó nằm trong hang, không dám ló ra nên không biết ngoài này loài người làm gì mà lục đục mãi.
Đôi mắt nó lóng lánh dưới ánh trăng, ngạc nhiên giây lát rồi bỏ đi. Nó đã quen với con người rồi nên không có vẻ gì sợ sệt cả.
Nhưng anh Sáu lại sợ. Anh có đọc truyện Phong Thần nói chuyện mả Huỳnh Đế có một bầy hồ ly mà một con đã nổi danh trong lịch sử, là cái con đã biến thành nàng Tô Đắc Kỷ; đến nay thấy chồn trong mộ chui ra, anh liên tưởng ngay đến tích cũ rồi rợn người lên.
Nhưng anh trấn tĩnh lại được. Trong dân chúng người ta tin chắc như đinh đóng cột rằng tóc người chết hóa thành con lươn, rồi con lươn hóa thành con chồn. Con chồn mà anh thấy, có lẽ chỉ là thối thân của tóc người nằm dưới nhà mồ, chớ không phải yêu quái gì đâu.
Độ nửa tiếng đồng hồ sau, anh Sáu thấy chồn về, mõm ngậm một con vịt.
– A ha, đồng đạo đây mà! Anh Sáu cười mà nói thầm như vậy rồi cảm tình ngày với con thú nầy.
Cái đạo mà anh nói đó là đạo … chích; trước kia, trước khi lường gạt và cướp giựt, anh cũng đã đi ăn cắp gà như chú chồn nầy vậy.
Ngày nay anh thôi ăn cắp, nhưng lại biến thành con cáo già chuyên môn gạt gẫm thiên hạ.
– Mầy cáo thì tao đây cũng cáo, vậy thì là bồ rồi.
Từ đó, hai con cáo chung đụng với nhau mà không xích mích bao giờ cả.
Nghe động dưới sàn, anh Sáu mỉm cười lẩm bẩm:
– Đồng nghiệp xuất quân đó đa!
Anh Sáu nhờ cậy con chồn nầy lắm. Có nó ở dưới ấy thì không còn lo rắn rít nữa. Anh mong có dịp trả ơn nó, nhưng nó có đói bao giờ đâu để anh ra tay hào phóng mua cho nó một con gà. Xóm lao động vây quanh nghĩa địa, người ta nuôi gà vịt cả bầy, nó ăn đến già cũng chưa hết.
Bỗng anh Sáu nghe có tiếng chó sủa vang dậy lên. Tiếng sủa to lắm và oai vệ lắm, có lẽ đó là tiếng chó bẹc-giê.
Rồi lại nghe nước khua lũm chũm, với tiếng chó càng lúc càng đến gần anh. Anh Sáu bước ra dòm thì thấy bạn của anh đang chạy bán sống bán chết trước một con chó to thấy mà bắt ớn.
Anh Sáu thò tay vào trong rút cây chĩa ba ra, cây chĩa anh sắm để chĩa ếch dưới nước, rồi lẹ như chớp, anh chìa mũi chĩa đón đầu chó cho chồn đủ ngày giờ chui vào mả.
Chó bẹc-giê chạy quá đà, bị mũi chĩa đâm vào mõm đau điếng, rống lên vài tiếng rồi trở bước, vừa đi vừa day lại, sủa om như chửi thề.
Anh Sáu cười ha hả rồi cúi xuống sàn mà nói:
– Đêm nay tổ trác rồi đó phải không em! Anh đây cũng bị rượt thường lắm, nhưng đều thoát khỏi cả. Bây giờ thì đố ai mà dám theo anh vào chốn nầy. Chỗ ở tụi mình kín số dách.
Sáng hôm ấy, anh Sáu đi uống cà-phê, về tới nhà thì ngạc nhiên hết sức. Trên một ngôi mộ cận mộ anh, một chòi lá đã dựng lên rồi.
Ngộ quá, nhà cửa sao mà mọc mau lẹ như nấm mối. Uống xong tách cà-phê, đọc xong trang nhứt một tờ nhựt báo là một túp lều cũng vừa dựng xong. Phải mà, chỉ có bốn cây cột thôi thì chậm sao được!
Anh Sáu ngạc nhiên mà thấy có một người thứ nhì lại biết con đường bí mật đưa vào đó! Anh lại tức vì túp lều ấy chặn ngay đầu đường bí mật của anh.
Số là anh Sáu biết lợi dụng mấy ngôi mộ chung quanh nên mới vào đây được. Anh phải đi quanh co nhiều nơi, nhảy từ ngôi mộ nầy qua ngôi mộ khác, ra cửa nhà thì đi hướng đông, nhưng ra khỏi nghĩa địa lại ra hướng tây, nghĩa là anh phải đánh một cái vòng rất lớn và rất cong quẹo.
Túp lều tranh ấy cất ngay trên ngôi mộ anh dùng làm đầu cầu cuối cùng để nhảy vào nhà anh, thì anh còn làm sao mà về nhà được, nếu hắn không cho anh nhảy ngang qua nhà hắn?
Anh tức giận lắm toan vào lều mần thằng cha nầy một mách cho nó phải giải tỏa hiểm đạo của anh, anh mới nghe cho.
Anh Sáu vỗ đùi nhảy một cái như bay đi và rơi xuống phiến mộ bia đặt nằm theo lối Châu Âu, trên có khắc mấy giòng chữ như sau:
Ci-git:
Alphonse Thomas Nguyễn-Văn-Nở
décédé en sa 78è année
Priez pour lui (1)
Phiến đá lớn bằng bộ ván hai, và thằng cha chủ nhà nầy dùng phiến đá ấy để làm bộ ván luôn, nên không thấy nó lót gì trên ấy cả mà lại để lên đó nào là va-ly, dép … à … mà sao lại dép đàn bà?
Túp lều che có phân nửa tấm bia thôi; cửa lều là một bức màn bằng vải bông cũ. Anh Sáu bước tới vén màn lên thì ô nầy lạ, chủ nhơn bà (chớ không phải chủ nhơn ông) là một thiếu phụ tóc quăn.
Chủ nhơn bà bình tĩnh chào anh Sáu bằng một mỉm cười yên lặng.
Có lẽ chồng chị ta đi làm rồi chăng? Nhưng vẫn lạ là chị không có vẻ lao động chút xíu nào hết. Móng tay chị đỏ choét và nhọn hoắt, nước da mặt của chị bị phấn ăn, chỗ thì mét chằng, chỗ thì thâm đen sì, mắt chị mệt đừ và sâu hóm như mắt cô đào hát bội.
Y phục của chị cũng không phải y phục của những kẻ đầu tắt mặt tối: lai quần gắn ren, áo cổ bà lai thêu rằn rịt xanh đỏ, tóc thì kẹp thành đuôi ngựa, cột bằng ruy-băng màu.
Chị ngồi trên chiếc rương thiếc nhỏ, món đồ từ khí độc nhứt trong chòi, mỉm cười rồi giây lát hất hàm hỏi anh:
– Có tiền mãi lộ không? Nếu không, mỗ không cho đi ngang qua đây. Mỗ đóng đồn ở đây rồi, ai bước qua phải đóng thuế.
Anh Sáu thọc tay vào túi quần tây cũ của anh đứng thẳng lên coi oai vệ như một tướng cướp trong xi-nê-ma, cười gằn rồi ngạo nghễ đáp:
– Hỡi cô nữ tướng mã thượng giang hồ, nữ tướng không có lâu la thì đòi tiền mã lộ ai được. Nữ tướng có giỏi thì bước ra ngoài đánh với ta vài mươi hiệp cho rõ tài cao thấp.
Nữ tướng cười xòa vì nghe giọng điệu thì biết đã gặp tay đồng điệu. Tuy bắt nạt hắn không được nhưng bắt bồ với hắn có thể có lợi.
Anh Sáu xem qua thì biết nữ tướng thuộc vào hạng người nào trong xã hội rồi. Đây cũng là một kẻ trốn chui như anh, như con cáo dưới giường anh. Cả ba đều là chồn, nhưng con chồn cái này đã tu luyện nhiều năm nên mang được hình người. Đây là một thứ hồ ly không hớp hồn nho sĩ mà chỉ hốt bạc cắc của mấy anh lao động thôi.
Đầu anh Sáu đụng nóc chòi, anh khó chịu quá nên ngồi xuống:
– Ở đây không sợ mang tội à? Anh hỏi đùa.
– Chớ còn anh?
– Tôi thì khác. Ngôi mả của tôi cũ lắm rồi.
Đó là một cái nhà của một người chết đã đi đầu thai kiếp khác rồi.
Con chồn cái bỗng bỏ cái cười, buồn nét mặt lại rồi chỉ ra ngôi giáo đường trước nghĩa địa.
Tiểu giáo đường tuy chỉ để làm lễ mỗi khi đám xác nào tới đây thôi, nhưng cũng đồ sộ bằng một nhà thờ ở thôn quê. Tuy ngói đã bị tốc nhiều nơi, gạch, đá trên tường nhiều viên đã rã và rớt xuống, cửa sổ gỗ đã bung hết, cửa kính màu đã bể nát, nhưng toàn thể công trình kiến trúc gô-tích ấy vẫn còn mang cái phong độ vĩ đại của thời Trung Cổ Châu Âu.
– Anh thấy không? Chị ta nói. Nếu mình dám vào trong đó mà ở thì đâu có phạm tội như vầy.
Anh Sáu thở dài rồi không thèm chào hỏi gì cả vỗ đùi nhảy bay qua nhà anh.
Từ đó bộ ba chịu đựng nhau để sống chung nhau.
Họ khác nhau ý tứ, phong tục, thói quen, lối sống, nhưng cả ba con cáo đều có một nỗi băn khoăn chung là cả ba đều sợ: Con cáo chánh hiệu con … cáo thì sợ chó bẹc-giê, con cáo già sợ Công An, còn con hồ ly cáo cái thì sợ lính kiểm tục.
Trong cảnh khổ giống nhau, tuy họ không tương đắc với nhau được và vẫn phải tương thân để bảo vệ nhau, khi cần. Mà nhứt là để an ủi lẫn nhau.
Anh Sáu không thích đờn bà lắm. Hay nói cho đúng ra, anh đã chán chê đờn bà, nhứt là chán những hạng đờn bà như con hồ ly không bao giờ chịu xưng tên nầy.
Nhưng mà những đêm mưa dầm buồn quá, nằm giữa cánh đồng ma mà được có người để trò chuyện với nó thì ấm biết bao!
Những đêm mưa như vậy, con hồ ly không đi kiếm ăn được, mà cũng không đủ sức mạnh để nhảy qua nhà anh Sáu vì hòn đảo của anh ở xa mãi ngoài giữa dòng nước, nên hồ ly ta thắp lên một ngọn nến rồi ngồi bó gối mà ca trật lất bản nhạc “Đêm đông”.
“Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng”.
Gió đâm sầm vào tiểu giáo đường đằng trước kia, tung hoành giữa gian phòng trống mênh mông rồi vừa hú vừa chui ra khỏi các cửa sổ nghe bắt lạnh mình.
Mấy cây thùy liễu hiếm hoi đã kháng cự được với lau sậy để sống sót, đứng cúi đầu khóc sướt mướt dưới trận mưa dầm, trong ánh trăng mờ.
Mộ hàng hàng như bầy cừu nằm nghỉ, gặm cỏ héo hon và vô vị, hút đắng cay trên miếng đất mồ côi (2).
Đây là chốn mà mộng đời bị cắt đứt nửa chừng, kẻ chết yên nghỉ thiên thu, mà người sống cũng khó mong trở về với xã hội loài người.
Anh Sáu nhảy bay qua nhà hồ ly, như một tay kiếm khách phi dạ hành, rồi hai kẻ ở ngoài vòng pháp luật ấy mới cùng nhau tâm sự.
Không phải kể chuyện cho khách nghe, hồ ly khỏi phải thi vị hóa buổi thiếu thời của mình, không cần lòe ai, con cáo già cũng khỏi anh hùng hóa bước giang hồ của hắn. Họ đánh bài, mà hạ bài cho nhau thấy. Bao nhiêu thúi tha nhơ nhớp trong đời họ, họ phơi cả ra như sau đêm mưa, họ phơi gối trên mồ cho nó bớt âm ẩm khó chịu.
Trời mưa cuối mùa cứ dai dẳng từ ngày nầy qua ngày khác. Con hồ ly ban đầu ăn xôi, ăn bánh mì chả lụa trừ cơm. Mãi rồi nó cũng không còn tiền để mua xôi nữa. Đất Sài Gòn, những ngày cuối tháng mà mưa dầm, thì tiền bạc nó cũng sợ lạnh, không hề dám ló ra ngoài. Nó có ló ra, con hồ ly mới ăn nem nướng được, còn nó mà trùm chăn thì chồn cái cũng đành trùm mền mà nhịn đói.
Anh Sáu cũng chẳng thấy đi uống cà-phê sáng cho ấm bụng. Cũng chẳng thấy khói thuốc bay ra khỏi mái lều của anh như mọi ngày, và lâu lâu cũng không còn nghe mẩu thuốc vứt xuống ao, tắt kêu xèo một cái.
Cả hai, vì tự ái hão, đều giả đau để nằm nhà. Anh Sáu yên thân hơn, còn dám ngồi dậy lết ra lết vô. Còn con hồ ly thì sợ anh Sáu đi ngang qua đó biết mình giả đò chăng, nên cứ trùm chiếu mãi từ sáng đến chiều.
Khó chịu quá, ngộp quá, mà anh Sáu không đi ngang qua lần nào để thấy là nàng ta đang đau ốm thì có tức hay không chớ?
Hết mưa rồi nắng. Anh Sáu ra đi. Ngang qua nhà hồ ly, anh lấy chơn lật chiếu ra thì thấy hồ ly nằm xụi lơ. Nàng đau ốm thật đó, đau một chứng bịnh cổ điển của loài người, là bịnh … đói.
Anh Sáu mau bước nhảy như con khỉ từ ngôi mộ nầy đến ngôi mộ khác và rốt cuộc ra tới đầu ngõ hẻm trổ ra phố.
Thiên hạ cứ mỗi ngày một khôn ra, cho nên, mặc dầu là cáo già, anh Sáu không còn gạt gẫm ai được nữa.
Anh buồn hiu trở lại đào viên mà ba người bạn đã mặc lặng kết nghĩa với nhau hôm mấy tháng trước.
– Chị đỡ bớt hay chưa? Anh hỏi bậy cho có chuyện.
– Có uống mẹ gì đâu mà đỡ bớt.
– Chị nghe trong mình làm sao?
– Không biết. Nhưng nếu ăn được một chén cháo thì khỏe.
Anh Sáu hiểu ngay. Anh lại thở ra, ngồi bó gối bên cạnh một người mà anh sẽ chịu đồng cảnh vài ngày nữa đây. Sở dĩ anh còn đi đứng được là nhờ anh mạnh sức, lây lất nổi thêm vài ngày.
Chiều xuống sớm và mây kéo đen nghịt trời. Ngoài kia vịt vào chuồng kêu cạp cạp. Nghe tiếng vịt kêu, anh Sáu nhớ lại người bạn thứ ba.
– Hừ, nó coi vậy mà no đó.
Bỗng một ý nghĩ nảy ra. Anh vừa mừng thì lại nghe như ai xát ớt trong ruột anh.
Nhưng biết làm sao: Đi ăn trộm vịt, không đáng gì cả, mà rủi ro thì khổ. Trong lúc mình đang trốn mà dại gì làm những chuyện xằng nho nhỏ.
Anh Sáu đứng lên nhảy bay qua nhà anh, rồi ngồi nhìn mưa bắt đầu rơi lũm chũm trên mặt ao tù.
Một con nhái hay con gì không rõ, nhảy xuống nước lội róc rách đi về đâu không biết. Gió hú trong tiểu giáo đường, gió than vãn ở các nhà mồ. Xa xa tiếng động cơ xe nổ lên, nhắc nhở rằng cuộc sống ở bãi tha ma nầy thầm lặng quá!
Anh Sáu rút cây chĩa ba, lết ra tới trước mả mà ngồi. Anh cúi mặt xuống miếng đất đọng nước, mắt lom lom rình.
Bỗng có tiếng sột soạt do con chồn khua lau sậy, nay đã chết khô rồi. Anh Sáu hồi hộp nghe tim anh đập thình thình trong lồng ngực anh. Lạ! Anh đã giết người, mà nhớ ra là anh đã không nghe mảy may sợ hãi. Cớ sao đêm nay …
Kìa một cục đen đen thò ra khỏi sàn ván. Anh Sáu cầm chĩa ba mà nhắm rồi sực một cái, mũi chĩa đâm chúi xuống trúng ngay cổ con chồn. Chồn thét lên một tiếng kêu đau, kinh sợ, rồi thôi. Trong bãi tha ma hoang vắng, không một tiếng vang lặp lại tiếng kêu thương của con vật vừa bị bạn phản bội nầy.
Dân lưu manh vẫn thế. Họ cũng biết xúc cảm, nhưng chỉ xúc cảm vậy vậy thôi. Họ nhỏ trên máu con chồn vài giọt nước mắt rồi thịt nó liền mà không nghe nhờm răng.
Thế là đêm đó hai con chồn đói xơi một con chồn no.
Họ chỉ ân hận một vài giây thôi, vì dầu sao, người bạn xấu số ấy cũng chỉ là một con chồn. Ai dư nước mắt mà khóc thú vật cho lâu!
Trời cứ mưa, mưa như cầm chĩnh mà đổ, mưa như một oanh tạc cơ định về căn cứ, đổ dốc hết bao nhiêu bom còn sót lại trên tàu, mưa cho hết ráo nước để rồi khô hạn được trong sáu tháng dài, mưa đêm chưa phỉ lại mưa ngày, mưa cho đến xương kẻ dưới mồ chắc cũng lạnh thấu tủy khô.
Ăn được bữa cháo chồn, hồ ly nghe khỏe như chị đã đoán. Sáng hôm ấy chị ra đi, căn dặn anh Sáu ở nhà, chị sẽ có tiền, một món tiền khá to, đâu như năm trăm, do một anh tình nhơn hứa biếu và hẹn hôm ấy trao cho vì hôm trước là ngày lương.
Anh Sáu thích quá, muốn ôm lấy hồ ly mà hôn một cái. Nhưng con hồ ly dơ thấy mà bắt nôn, nên anh thôi.
Độ lối chín giờ sáng, anh Sáu đang nằm ca sáu câu mùi mẫn:
Cảnh vị nhân sầu, xơ xác ngọn vi lau, nước triều mênh mông chảy … thì bỗng nghe tiếng tu huýt thổi hoen hoét ở cùng tứ phía, quanh nghĩa địa rồi giây lát sau con hồ ly nhảy như khỉ qua các nấm mồ, theo sau chị là hai người đàn ông còn trẻ.
– Trời ơi, anh Sáu kêu, mình đã dại, kể cho nó nghe duyên cớ trốn tránh của mình; nó bán mình mà ăn đây! Chồn ơi, hồn mi có thiêng chăng, về mà xem kẻ phản bội mi sắp bị trừng phạt đây.
Anh Sáu bó tay không chống cự. Anh nhìn hồ ly, không oán giận mà chỉ tội nghiệp thôi. Con hồ ly cái trốn cái nhìn của anh, ngồi day mặt vô vách lá mà đếm tiền.
 
Đêm nay, gió sao mà hú ghê rợn hơn đêm nào cả. Hồ ly giật nẩy mình, dáo dác nghe ngóng. Gì mà như anh Sáu ho bên ấy! Chị đánh diêm lên để thắp nến. Trời ơi, mới hôm qua đây, anh Sáu còn nằm bên đèn kể lại những bước phiêu lưu của anh! Hơi thở của anh, chị còn nghe như văng vẳng. Cái mặt xương của anh đậm nét lên dưới ánh đèn, như là còn ẩn hiện mơ hồ trên tấm mộ bia!
Trời ơi! Kéo cuộc đời nhơ nhớp nầy biết đến bao giờ mới thôi? Đã nhơ nhớp lại đê hèn, bước từ phản bội này qua phản bội khác cho đến một khi kia thì mình chỉ còn phản bội được chính mình.
Hồ ly rùng mình một cái, không phải vì lạnh, cũng không phải vì sợ ma, mà vì chị bỗng sợ hãi chính mình, sợ hãi con người đã vơi cạn hết chất người.
Chị ôm mặt khóc òa, rồi lẩm bẩm van vái lầm thầm:
– Trời Phật ơi, Chúa ơi, tha tội cho tôi, ngày mai tôi sẽ ra khỏi chốn nầy và ra khỏi vực đen của đời tôi nữa!
 
Chú Thích của BNL:
(1) Nơi đây yên nghỉ: Ông An-Phông Tô Ma Nguyễn Văn Nở, thất lộc năm 78 tuổi. Hãy cầu nguyện cho ông.
(2) Ý nầy của P.S. và X.V.
 
Lời bàn thêm của người tuyển:
“Thế là đêm đó hai con chồn đói xơi một con chồn no.” Bữa tiệc ấn tượng đến rùng mình. Cái kết thúc của con “chồn no” ấy ta có thể đoán trước được. Nhưng cái kết thúc của con “cáo già” thì thực sự là một bất ngờ. Xin nghiêng mình bái phục cụ Bình Nguyên Lộc. Thế còn con hồ ly? Thì… cứ đợi đấy!

Bình Nguyên Lộc
Theo: Văn Chương Việt



Bà cụ & chiếc xe chó

Dù thành phố đâu thiếu thứ rau trái gì. Dù đời sống vật chất ở vùng biên giới này chẳng dư thứ gì. Nhưng, biết đâu là giới hạn của thiếu và đủ. Thôi thì, cứ hồn nhiên cho và nhận những gì mình có – người đàn bà ít học ấy đã dạy tôi như thế!

Bà cụ & chiếc xe chó
Một phụ nữ nhà quê. Một con người luôn ném hết nghị lực ra giữa trời đất để sống. Bảy mươi ba tuổi. Tên Cao Thị Mỹ. Mỹ trong nghĩa từ Hán – Việt là “cái đẹp”. Nhưng ít ai gọi cái tên ấy, người ta thường nhắc đến bà một cách nửa lạ nửa quen: bà cụ có chiếc xe chó
10 năm nay, bà con xã Phước Vinh, khu vực biên giới, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã quen với hình ảnh bà cụ và chiếc xe chó. Bao năm qua chó Vàng cứ lầm lũi kéo xe chạy trên đường, gánh trên vai gánh nặng cuộc đời của bà chủ tội nghiệp của nó.
Cỗ xe cuộc đời
Bà Mỹ từng có chồng, có con. Chồng mất, người phụ nữ ấy hết lặn lội nuôi con, đến nuôi dâu, rồi nuôi cháu. Mấy mẹ con tần tảo xây được căn nhà. Nhà mới chưa ráo hồ thì người ta khiêng xác đứa con trai đầy máu về đặt trước mặt bà. Một “hung thần đường phố” nào đó đã cướp sinh mạng nó rồi bỏ trốn. Người mẹ ấy lặng lẽ bán cái nhà mới xây để lo tang ma và xây một cái mả tươm tất cho con.
Bấy giờ, tài sản đáng giá của người mẹ chỉ còn cái thân già, ba con chó và một con heo. Con trai chết rồi, chẳng còn ai đỡ đần. Chỉ còn đàn chó, con heo trung thành quấn dưới chân bà. Ban đầu bà lấy mấy thanh tre, ghép với hai bánh xe đạp rồi dạy cho con heo kéo. Cái loài ủn ỉn hay ăn hay ngủ chỉ kéo được mấy bước rồi lăn ra nghỉ mệt. Bà thử buộc xe vào cổ ba con chó. Không ngờ chúng kéo chạy bon bon. “Vậy là trời còn thương, cho một kế sinh nhai, di chuyển”. Bà tự nhủ rồi chất một bao gạo, một giỏ xách đựng quần áo và di ảnh của con trai lên cỗ xe chó ấy. Cứ chó kéo xe đi trước, bà đạp xe tất tả theo sau. Người và chó đi về hướng thị xã. Ngày đi. Đêm nghỉ bên lề đường. Ròng rã gần 70 cây số đến toà án tỉnh. Người mẹ quyết tâm đòi công lý cho đứa con xấu số.
Không nhớ nổi bao lâu ăn ở vạ vật bên đường để chờ đến ngày người ta tìm ra kẻ gây tai nạn, tuyên án, người đàn bà già cỗi ấy mới cùng ba con chó lủi thủi về. Đến quê, bà tặng hết số tiền người ta đền mạng sống đứa con trai cho cô con dâu, nó cũng nghèo khó và bạc phước như bà. Còn bà, dắt mấy chú chó xuống chiếc xuồng ba lá sống một đời lênh đênh.
Cuộc đời du cư cứ buổi sớm ra đồng mò ốc, mót lúa, mót mì…, buổi chiều lại cùng mấy con chó chở những thứ vừa kiếm được ra chợ để đổi lấy thức ăn. Hàng năm trời, giấc mơ của con người ấy và mấy chú chó cũng bập bênh trên con xuồng neo ở sông Vàm Cỏ. Sau trận bệnh tưởng chết trên xuồng, bà mới mua khung chòi tre với giá bằng bốn ký thịt bò. Người ta cho dựng nhờ trên một nền đất hoang bốn mùa lộng gió bên kia sông. Vậy là bà có một nơi bình yên để treo di ảnh đứa con thân yêu.
Robinson trên đồng
Nghèo, nhiều người nghèo. Khổ, nhiều người khổ. Nhưng, con người ấy đã cho tôi cảm xúc rất lạ. Lạ từ nụ cười khanh khách trên khuôn mặt đen nhẻm đầy bùn đất. Lạ từ những giọt nước mắt lăn vội khi bỏ di ảnh con vô giỏ bàng rồi treo lên cỗ xe chó chở theo những ngả đường mưu sinh. Lạ từ chuyện lần mò trồng và chăm sóc cả một vườn khổ qua, bí đỏ, rau lang xanh mướt… để cho bà con hàng xóm ai thích ăn thì cứ hái miễn phí. Lạ từ cách mỗi ngày bà đều tìm và cắm một cành hoa tươi lên vách chòi tả tơi. Lạ đến những ngày bà nhịn đói để cho mấy chú chó được no. Lạ từ sự tự vấn bản thân khi trót làm chết mấy chú chó: “Trời! Tui già rồi, mà sao tui còn ngu hết biết vậy trời!”.
Gặp tôi, bà rớt nước mắt hai lần: lần thứ nhất nói tới con trai, lần thứ hai nhắc về mấy chú chó. Cỗ xe tam cẩu giờ chỉ còn một mình con Vàng kéo. Con chó được huấn luyện đeo tờ giấy đi chợ giúp bà cụ đã bị sợi dây quấn vào cổ chết khi thò đầu xuống sông uống nước. Con chó thứ hai từng bơi qua sông kiếm người cứu chủ nhân trong đêm bà bệnh nặng trên xuồng đã bị mấy bợm nhậu bắt trộm làm thịt.
Sau khi chèo xuồng đưa tôi qua sông, bà và con Vàng lặng lẽ quay về căn chòi le lói ánh đèn chong. Nơi ấy đêm đêm chỉ còn bà cụ và con chó ngủ còng queo trên chiếc nệm làm bằng rơm khô. Phía sau xe chúng tôi nặng trĩu mấy trái bí đỏ do chính tay bà cụ nghèo trồng và hái tặng. Dù thành phố đâu thiếu thứ rau trái gì. Dù đời sống vật chất ở vùng biên giới này chẳng dư thứ gì. Nhưng, biết đâu là giới hạn của thiếu và đủ. Thôi thì, cứ hồn nhiên cho và nhận những gì mình có – người đàn bà ít học ấy đã dạy tôi như thế!
 
Y.T 

Y.T.
Theo: Diễn Đàn Net



Mùa Xuân Trên Đảo Galang(Đoan Phương)

Trong cuộc đời định cư, tôi luôn luôn sâu sắc ghi ơn Cao Uỷ Tỵ Nạn và chính quyền Nam Dương đã mở rộng vòng tay nhân đạo để cưu mang chúng tôi trong giai đoạn thập tử nhất sinh của cuộc đời. Hôm nay đây, tôi xin gửi tới Galang, hòn đảo nhỏ bé, thân thương, những tình cảm biết ơn chân thành nhất từ trái tim tôi. Đoan Phương – 1/2009

Mùa Xuân Trên Đảo Galang
 
   Con thuyền tỵ nạn nhỏ bé của chúng tôi cặp bến một hòn đảo nhỏ ở Nam Dương vào lúc chạng vạng tối một buổi chiều cuối năm. Tôi còn nhớ rõ, khi dời tầu để lội bộ vào bờ, 2 đầu gối tôi run rẩy, hai chân châp choạng, lảo đảo muốn té, có lẽ do năm ngày bốn đêm nằm dài trên chiếc ghe chật chội không đủ khoảng trống để co duỗi. Bước chân xuống nước, các vỏ sò, vỏ hến cứa vào hai bàn chân tôi rát buốt. Tuy nhiên, lúc đó tinh thần tôi bay bổng, trái tim tôi ca khúc khải hoàn, reo mừng vì sau một cuộc hành trình đầy gian nguy tôi đã tới miền đất hứa mà tôi hằng mong đợi.
   Sau những thủ tục đơn giản, chúng tôi được chuyển qua các đảo Sedanau, Kuku, rồi về trung tâm Tỵ nạn Galang. Tai đây, cuộc sống được tạm ổn định. Chúng tôi được Cao Ủy Tỵ Nạn nuôi ăn, ở, và đi học các lớp Anh ngữ để chờ ngày đi định cư. Tâm lý con người thực dễ dàng thay đổi. Sau những dồn dập mừng vui, tôi bắt đầu nhớ nhà. Mỗi buổi sáng khi tỉnh dậy, nghe tiếng sóng biển đều đều vỗ vào bờ, tôi lại tha thiết nhớ quê nhà, nhiều khi đến không cầm được nước mắt. Rồi cảm giác nhớ nhà cũng qua đi, tôi bắt đầu lo lắng cho tương lai mịt mù nơi xứ lạ khi đã định cư.
   Galang là một hòn đảo nhỏ, hoang vu của Nam Dương được Cao Uy Tỵ Nạn xây dựng thành Trung Tâm chuyển tiếp cho người Việt Nam chạy trốn chế độ Cộng Sản trước khi được nhận định cư tại một nước thứ ba. Khi tôi lên làm việc tại Bệnh Viện Galang I thì nhân viên người Việt không được hưởng thù lao mà mỗi tháng chỉ được lãnh các nhu yếu phẩm như kem đánh răng, khăn rửa mặt, xà bông, bột giặt v.v.… Phụ cấp tuy không nhiều nhưng cũng phần nào giúp đỡ cho cuộc sống khó khăn trên đảo. Bác sĩ Giam Đốc Bệnh viện, Ông Ivan Jusuff, là một người lịch lãm nên đối xử với nhân viên người Việt hết sức tế nhị. Một ngày, khi tôi đang làm việc thì được BS Evan mời vào văn phòng nói chuyện. Ông Evan cho tôi biết: “Bà Soeur, trưởng phòng Xã Hội của Cao Ủy Tỵ Nạn nhờ ông tìm một người phụ nữ VN để làm “Hội Trưởng hội Phụ Nữ” ở Galang, và ông muốn đề cử tôi”. Thực là khó nghĩ, vì trong khoảng thời gian ngắn ngủi ở lại đảo, không ai có nhiều thời gian rảnh rỗi. Những việc nấu ăn, giặt dũ, đi học Anh Văn hầu như đã chiếm hết thời giờ trong ngày. Ngoài ra, còn thêm nhiều việc không tên không tuổi khác như xách nước, lãnh đồ ăn, nghe thông cáo, nhận thư từ .… Tuy nhiên, nếu từ chối thì không tiện vì người ngoại quốc đã làm quá nhiều cho dân tỵ nạn, không lý, là người tỵ nạn lại từ chối làm việc cho cộng đồng tỵ nạn.
   Tôi được đưa vào Galang II để tiếp xúc với Soeur Marie của Cao Uỷ Tỵ Nạn vào buổi sáng hôm sau. Soeur Marie cho tôi biết nếp sống của các phụ nữ trên đảo cần được cải tiến. Bà đã nhận được báo cáo về một số phụ nữ túm năm, tụm ba đánh bài tứ sắc suốt ngày trong Barrack thay vì đi học Anh ngữ. Một số khác, sau giờ giới nghiêm còn bị nhân viên an ninh bắt gặp trong các lùm cây, bụi cỏ với bạn trai. Một vài phụ nữ trẻ đã có những liên hệ tình cảm bất chính với các nhân viên Nam Dương trên đảo để kiếm tiền. Sau cùng bà cũng nói rõ, bà muốn tôi đứng lên tổ chức các lớp dạy làm bánh, đan, may để các phụ nữ học được chút nghề trước khi đi định cư. Soeur Marie còn thúc dục tôi phải bắt tay làm việc ngay và nhấn mạnh là: Chương trình phải phù hợp với hoàn cảnh eo hẹp của ngân quỹ tỵ nạn.
   Tôi trở về, nhờ ban đại diện thông báo trên loa phóng thanh về việc muốn tìm các chị em có tay nghề về “làm bánh, thêu may, đan” để dậy các lớp nữ công gia chánh. Có lẽ không nghe nói tới thù lao, nên qua 1 tuần mà chẳng nghe ai trả lời. Trong khi đó Soeur Marie cứ đôn đốc thúc dục mỗi ngày. Sau cùng, tôi phải tự thăm dò và tìm tới tận Barrack để năn nỉ các chị em bỏ thời gian cộng tác với hội để “trước mua vui, sau làm nghĩa”. Tôi thành lập được một staff khoảng 8 người cho đầy đủ các bộ môn làm bánh, đan, và may. Buổi học đầu tiên là lớp dậy làm bánh “lỗ tai heo”, nhiên liệu chỉ có bột, mè, đường, và dầu chiên. Buổi khai trương có 20 học viên ghi tên, nhưng có diễn văn khai mạc của Soeur Marie cùng với sự hiện diện của BS Evan và vài nhân viên của Cao Uỷ Tỵ Nạn. Theo sự thỏa thuận, khi lớp học bế mạc, giáo viên có thể chia bánh cho các học viên, và lấy về nhà thưởng thức.
   Thấm thoát đã tới ngày rằm tháng Chạp, Tết nhất đã gần kề, các chị em trong Hội Phụ Nữ, ai cũng bùi ngùi vì trong hoàn cảnh khó khăn này, làm sao có thể “đón ông bà”, rồi làm sao để “đón mừng Năm Mới”. Tuy nhiên, trong lúc khó khăn, cũng nảy sanh ra nhiều ý kiến kỳ diệu. Một chị đề nghị, kỳ lãnh đồ ăn sắp tới, mọi người góp đậu xanh và đường, nấu chung một nồi chè để ăn đêm liên hoan. Một chị khác đề nghị, kỳ lãnh đồ ăn tới, mỗi người hùn vào 1 hộp đồ ăn, đem bán, mua 1 bao nhang chia cho mỗi người 3 nén để thắp cúng ông bà đêm giao thừa. Tiền còn lại, mua ít đậu phộng để nhâm nhi đêm văn nghệ. Một chị khác có ý kiến, tuần lễ trước đêm liên hoan, cho lớp làm bánh thực tập “bánh trứng nhện” vì rẻ, dễ làm, lại được nhiều. Sau khi làm, bánh sẽ được gom lại, để dành cho đêm liên hoan. Có chị xung phong trang trí không tốn kém cho hội trường bằng những bông hoa dại mọc đầy 2 ven đường ở Galang. Tôi vô cùng thán phục những phụ nữ VN đảm đang và thao vát này. Chúng tôi đồng ý, đêm liên hoan sẽ là ngày 28 Tết, lúc 6 giờ chiều, địa điểm là một lớp học tôi mượn được. Số người tham dự khoảng 25 người gồm gia dình các chị em trong ban chấp hành của hội phụ nữ.
   Gần ngày Tết, tôi cần phải hoàn tất một việc trước khi bước sang năm mới. Danh sách các cô thiếu nữ trẻ được soeur Marie nêu tên, tôi đã gặp được hết, duy chỉ có 1 cô tên Như Tâm khoảng 23 tuổi vẫn cố tình né tránh nên tôi chưa gặp được. Nhiều khi tôi nhắn mời cô tới Barrack của tôi, nhưng cô nhận lời, rồi lại không tới. Nhiều khi tôi lại Barrack của cô thì cô lại vắng mặt. Nhiều người nói nhỏ với tôi rằng, khi thấy tôi tới đầu Barrack thì cô theo cuối barrack lỉnh ra ngoài để tránh mặt tôi. Tôi rất cần nói chuyện với cô này, vì theo Soeur Marie, đêm nào cô cũng gửi đứa con khoảng 6 tháng cho người bạn cùng phòng để đi chơi với các nhân viên Nam Dương cho tới sáng. Soeur Marie còn nhấn mạnh: Qua Tết, nếu hội Phụ Nữ VN không giải quyết được thì Cao Uy sẽ làm việc thẳng với ban an ninh của chính quyền Nam Dương trên đảo.
   Thời giờ chẳng còn xa nữa, tôi suy nghĩ nát óc mới ra một cách. Tôi nhờ một chị bạn, sáng sớm tới chờ cô Như Tâm ở cửa Barrack, khi cô về thì lại mời cô tới tham dự buổi liên hoan của chúng tôi, rồi ráng tìm cách cầm chân cô cho đến khi tôi tới. Buổi sáng hôm ấy, tôi cũng phải dậy sớm. Chỗ tôi ở khá xa với chỗ của cô, lại thêm đường xá ở Galang toàn là đường đất mấp mô, dốc lên dốc xuống nên khi tôi tới nơi thì mệt bở hơi tai. Cô đứng quay lưng về phía tôi nên khi tôi tới gần thì cô sửng sốt, rồi bất chợt bưng mặt khóc. Đây là lần đầu tiên tôi gặp cô, quả là môt người đẹp tuyệt vời như tin đồn, mặc dầu không trang điểm và có nhiều nét mệt mỏi. Thấy mọi người trong Barrack chú ý, tôi nhờ chị bạn bồng đứa con cho cô, rồi rủ cô ra ngoài nói chuyện. Cô bảo tôi: “Chị ơi, em xin lỗi chị bởi vì em đã nhiều lần thất hứa với chị. Em không dám tới gặp chị vì em quá xấu hổ nhưng em thú thực với chị, nếu em không làm vậy thì con gái em sẽ phải chết.” Rồi cô thổn thức kể cho tôi: “Vợ chồng em đi vượt biên từ cửa Đại Ngãi, Gò Công. Khi vừa được chuyển từ ghe xuống “cá lớn” thì bị công an phát hiện, em nghe súng bắn tứ tung. Lúc đó chủ tàu vội vã tắt đèn và nổ máy dời bến. Em hoảng sợ kêu tên chồng em lung tung nhưng không nghe anh ấy trả lời. Hôm sau, khi trời sáng thì em mới biết là chồng em không có mặt trên tàu. Đến bây giờ em cũng không biết tình trạng chồng em sống, chết ra sao. Khi lên tới đảo, con em mới có 4 tháng, nó bị tiêu chảy liên miên, lại thêm em tự nhiên bị cạn hết sữa nên không có đủ sữa cho con bú. Em chỉ có một mình trên đảo, lại không có thân nhân ngoại quốc tiếp tế nên không có tiền để mua sữa bò cho cháu. Nhìn con mỗi ngày một tiều tụy, em không cam tâm. Chẳng thà em chịu nhục, hay chết đi còn hơn là nhìn thấy con em chết”. Nhìn cô gái trẻ nước mắt chứa chan, tôi cũng mủi lòng. Tôi hứa với cô sẽ cố gắng xin Soeur Marie cấp phát sữa cho cháu bé. Phần cô, cũng cần hứa với tôi phải chấm dứt ngay tức khắc hành động không đẹp này. Cô Như Tâm vô cùng mừng rỡ, nắm chặt lấy tay tôi và quả quyết với tôi rằng: “Nếu chị “cải tử hoàn sinh” được cho mẹ con em thì em cũng xin thề sẽ không tiếp tục làm chuyện xấu hổ này nữa”. Trước khi giã từ, tôi ân cần mời cô ra chung vui với chúng tôi vào chiều nay, 28 Tết và dự tính sáng mai, ngày 29 Tết sẽ vào Galang II để gặp Soeur Marie, trình bày hoàn cảnh của cô.
   Buổi “Mừng Xuân” bỏ túi của Hội Phụ Nử chúng tôi được bảo nhau giữ kín trong vòng nội bộ, nhưng không hiểu sao khi chúng tôi tới lớp học thì đã có nhiều người chờ sẵn ngoài cửa. Một bác lớn tuổi bảo tôi: “Chúng tôi là khách không mời mà tới, không muốn làm phiền mấy cô, nhưng đầu năm thấy cô đơn, nhớ nhà quá, mong mấy cô cho đứng ngoài nghe mấy bài ca xuân để đỡ nhớ quê hương.” Thế rồi người đem bánh, người đem kẹo, đổ hết ra bàn chung vui. Buổi liên hoan dự tính cho 25 người bây giờ trở nên trên 50, 60 người. Chúng tôi hơi hồi hộp lo sợ vì đông người, khó kiểm soát, có thể xẩy ra điều đáng tiếc. Tuy nhiên, cuộc vui diễn ra trong bầu không khí hết sức thân mật và đầm ấm. Để mở đầu, chúng tôi mời một cụ cao niên lên chúc Tết mọi người, Sau đó, là phần văn nghệ. Có rất nhiều ca sĩ nghiệp dư tình nguyện lên sân khấu. Hết bài hát về “Xuân” là mấy bài nhạc “tình cảm”. Tôi còn nhớ một anh thanh niên lên hát bài “Con Thuyền Viễn Xứ” rất truyền cảm. Khán giả im phăng phắc. Tới câu: “… quay lại xóm làng, Đà Giang lệ ướt tràn …” thì tôi nghe nhiều tiếng sụt sịt, trong đám khán giả và chính tôi cũng cảm thấy cay cay ở mắt.
   Tới 9 giờ khuya thì chúng tôi phải chấm dứt buổi liên hoan để dọn dẹp lớp học. Mọi người chia tay ra về. Lúc đó, tôi loáng thoáng thấy cô Như Tâm bồng con đứng ở cuối đám đông. Có lẽ, cô muốn chứng tỏ cho tôi thấy cô đã bắt đầu thay đổi từ hôm nay.
   Tôi rời Galang để đi định cư sau 13 tháng, lưu lại sau lưng biết bao kỷ niệm khó quên. Những ngày tạm cư ở Galang, tôi đã được chứng kiến những hoàn cảnh đau thương của cuộc đời, những phấn đấu can trường để tồn tại, và những tình cảm chân thành của những người cùng cảnh ngộ. Trong cuộc đời định cư, tôi luôn luôn sâu sắc ghi ơn Cao Uỷ Tỵ Nạn và chính quyền Nam Dương đã mở rộng vòng tay nhân đạo để cưu mang chúng tôi trong giai đoạn thập tử nhất sinh của cuộc đời. Hôm nay đây, tôi xin gửi tới Galang, hòn đảo nhỏ bé, thân thương, những tình cảm biết ơn chân thành nhất từ trái tim tôi.
                     Đoan Phương – 1/2009

Đoan Phương
Theo: Đoan Phương



MỘT NGÀY VỚI NỘI TÂM. (Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)

Tôi đến đất Mỹ này chẳng còn gì, ngoài một lòng sắt son khi cầm bút, với chí hướng một dạ thủy chung với những người bạn còn sống hay đã chết; và một hoài bão nhỏ nhoi : Làm thế nào để không còn những cảnh đau thương như vậy nữa trên trái đất này.

MỘT NGÀY VỚI NỘI TÂM.
 
   Tôi là nhà văn, nhà báo, một văn nghệ sĩ.  Cả cuộc đời của tôi dành cho một lý tưởng: Bênh vực quyền sống, quyền làm người, quyền được suy tư, quyền được nói lên tiếng nói của mình.
Tự do ngôn luận là một trong những quyền căn bản nhất của bản Tuyên Ngôn
Nhân Quyền năm 1948. Mỗi người có quyền trình bày tư tưởng của mình bằng lời nói, bằng ngòi viết và bằng hành động . Tôi và những người khác, 14 người tất cả, đã ngồi tuyệt thực tượng trưng để nói lên ý nghĩ của mình: chúng tôi muốn có nhân quyền ở đất nước chúng tôi cũng như không còn có những tù nhân chính trị nữa.
Ý kiến của tôi có thể đúng, có thể sai, nhưng tôi có quyền nói lên ý kiến đó. Cùng với quyền đó, tôi lại phải có bổn phận tôn trọng ý kiến người khác, dù là đúng, dù là sai, nhưng tôi không thể bóp nghẹt hay bưng bít nó đi bằng cách này hay cách khác. Đó là quy luật của xã hội tự do dân chủ. Trong thời đại tiến bộ của loài người ngày nay, không thể còn có những người bị bắt bớ, giam cầm chỉ vì tư tưởng và tín ngưỡng của họ.
Những người cầm bút thường hay sống với nội tâm của họ. Một ngày một đêm sống ở ngoài trời chính là lúc sống cho nội tâm nhiều nhất.
Đêm hôm đó ngồi ngoài trời cùng với những người bạn, mới quen nhưng cùng chí hướng, tôi nhìn những ngọn nến thắp sáng trước mặt tôi, giữa đêm khuya trời lạnh. Ngọn lửa lung linh trước những cơn gío của mùa Đông miền Nam Cali khiến tôi liên tưởng đến thân phận con người lung linh như ngọn đèn muốn tắt trước cơn bão tố của bạo lực, Tôi đã nhớ … nhớ rất nhiều.
Tôi đã nhớ đến một ngọn đồi bên kia bờ Thái Bình Dưong , trên vùng cao nguyên Trung phần của đất nước thân yêu của tôi. Ngọn đồi đó ở gần một trại cải tạo, trong khu vực lao động khổ sai của chúng tôi. Vì là một miền rừng núi hoang vu, nên dù đứng xa ở phía nào chúng tôi vẫn có thể nhìn lên ngọn đồi đó. Chúng tôi gọi là “Vườn sắn” nhưng thực ra đó là nơi chôn người, chôn những người tù cải tạo đã chết trong trại tù. Mỗi lần vác cuốc, vác rìu đi lao động, chúng tôi nhìn về Vườn Sắn và tự hỏi phải chăng chuyến đi lên đó sẽ là chuyến đi cuối cùng của cuộc đời mình. Bởi vì chúng tôi đã biết đi tập trung cải tạo là có đi mà ít có về.
Rồi có những ngày, tình cờ ngước mắt nhìn lên ngọn đồi, chúng tôi thấy hình ảnh thê lương trên sườn đồi in rõ trên nền trời xanh biếc: Bốn người tù cải tạo khiêng một cái hòm làm bằng ván sơ sài theo sau là một Vệ binh Công an áo vàng vác súng . Chúng tôi buông cuốc cúi đầu khẽ thở dài. Chúng tôi biết lại có một người bạn vĩnh viễn từ gĩa chúng tôi rồi.
Tôi còn nhớ, nhớ khá nhiều bạn bè của chúng tôi đã an nghỉ trên đồi. Tôi còn nhớ anh Trung Tá Nguyễn Văn Thanh ở Nam Hà về đây, bị đánh chết, cũng nằm ở đó.
Tôi còn nhớ 5 người bị cùm nhiều nhất ở Gia Trung, Người thứ nhất là anh Thiếu tá Trần Văn Kính, sau khi tháo cùm được một ngày, đã chết tức tưởi. Tôi nhớ anh lắm, vì trước khi lìa đời, anh còn nói được một câu : “ Khánh ơi ở lại nhé!” Suốt đời tôi, chắc tôi không thể nào quên câu nói này. Người thứ hai là anh Trung úy Võ Hồng đã chết vì kiết lỵ chỉ vài ngay sau khi được tháo cùm. Còn lại ba người còn sống đến nay, nhưng không phải là quân nhân mà là dân sự, Người thứ nhất là nhà văn Nguyễn Sĩ Tế, Tiến sĩ văn chương Pháp, Anh không chết, nhưng khi được tháo cùm sau 9 tháng kiên giam, tôi thấy anh quay đi một vòng rồi ngã vật xuống như một cái cây bị đốn gốc và đổ nhào. Người ta phải khiêng anh đi cấp cứu.
Người thứ hai là luật sư Mai Văn Lễ, Tiến sĩ kinh tế của Harvard. Anh Lễ không ngã nhào, nhưng sau khi tháo cùm,  anh chống hai tay bò lết, vì hai chân anh đã bị liệt.
Người thứ ba là tôi. Tôi không té, không bò, nhưng tôi phải vịn vào tường mới đi được, vì lúc đó tôi chỉ còn da bọc xương. Thấy tôi lúc đó người ta gọi tôi là “Cái thây ma biết đi” hoặc khôi hài hơn, có anh bạn bảo tôi: : ”Tôi thấy anh đi trên bờ ruộng mà chỉ sợ có ngọn gió nào thổi mạnh là anh sẽ  bay đi như chiếc lá”.
Tôi còn nhớ… những người bạn thân yêu của tôi, những người bạn cầm bút, những nhà văn, nhà thơ, nhà báo, đã bị lùa đi cải tạo vào mùa xuân năm 1976 cũng chỉ vì những gì họ đã viết, vì tư tưởng, vì chánh kiến của họ. Rất nhiều… rất nhiều .. nhưng hỡi ôi, đã có những người gục ngã trước cơn gió của bạo lực.
Hồ Hữ Tường chết ở Hàm Tân, Nguyễn Mạnh Côn chết ở Xuân Lộc. Hiếu Chân chết ở khám Chí Hoà, Dương Hùng Cường chết ở T.20.
Hai người anh kính yêu của tôi là Vũ Hoàng Chương và Trần Việt Sơn đã được thả về để …chết ở nhà sau khi đã quá kiệt lực trong những năm tháng tù đầy . Cả người bạn của tôi, Minh Đăng Khánh cũng đã chết sau khi về nhà vì tê liệt.
Những người còn sống, sau khi thoát nạn, đã tủa đi khắp phương trời bằng cách này hay cách khác. Riêng ở Mỹ này, đã có Nguyễn Sĩ Tế, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Hồ Văn Đồng, cũng như một số người đã sang Âu, sang Úc và tất nhiên cũng còn những người ở lại quê nhà… Chúng tôi những người có may mắn được cầm bút trở lại, chẳng thể nào quên những người anh em mình. Cũng chẳng thể quên bà con, đồng bào mình.
Ở Gia Trung, người tôi nhớ nhất là một người con gái, con của Trung Tá Lò Văn E, Gốc người Thái của miền thượng du Bắc Việt. Anh Lò Van E đi cải tạo đến lúc đó là đã 6 năm trời mà không được tin tức gì về gia đình. Anh sống rất kham khổ thiếu thốn, vì tự ái ít khi chịu nhận sự giúp đõ của bạn bè may măn hơn có gia đình tiếp tế. Rồi một ngày kia, anh nhận được một tin mừng: Đó là lá thư của con gái anh, viết thay cho mẹ, nói rằng trong mấy năm qua mẹ con quá lam lũ khổ sở, không kiếm nổi kiếng ăn, có lẽ vì gốc người thiểu số không quen buôn bán, nhưng bây giờ thì dành dụm được hút tiền rồi, nhất định sẽ cho con gái lên thăm anh và cho anh chút quà.
Khoảng một tháng sau, quả nhiên cô con gái lên thăm cha cô, đến trại thì trời đã chạng vạng tối, nhưng hỡi ôi, đúng lúc cô đặt tờ giấy phép xin thăm trước mặt người Công an giữ nhà thăm nuôi thì cũng là lúc mà trong trại tù, anh Lò Van E đã trút hơi thở cuối cùng, vì bao năm thiếu dinh dưỡng và kiệt lực. Cô con gái chỉ còn được phép nhìn mặt cha lần cuối và nức nở khóc như mưa.
Sáng hôm sau, tôi tình cờ cuốc đất bên con đường đi lên “Vườn Sắn”, Tôi thấy bốn người bạn tù cải tạo đòn sóc khiêng cái quan tài làm bằng ván thông của anh Lò Văn E, và theo sau ngoài anh lính vác súng đi theo như thường lệ, còn có cô con gái của anh. Lần đầu tiên một người bên ngoài được đi theo quan tài của một người tù cải tạo chết trong tù. Trời ơi, tôi làm sao quên nổi hình ảnh đó. Cô con gái đi theo cha lần cuối, mà mặt cô lạnh như băng, mắt cô không còn nhòa lệ nữa, mà thay vào đó là một đôi mắt mở trừng trừng, tôi có cảm tưởng như đôi mắt đó đang tóe ra những tia lửa căm hờn, và công phẫn đén cùng độ. Không, tôi không thể nào quên.
Tôi cũng côn nhớ đến chị Quách Thị Thu Hương đến trại thăm chồng đem theo một đứa con gái còn nhỏ tuổi. Nhưng khi chị đến trại, chưa kịp gặp mặt chồng thì đêm hôm đó, chị ngã bịnh rồi chết luôn ở nhà thăm nuôi. Chị đã thay chồng nằm an giấc ngàn thu trong nghĩa trang của những người tù cải tạo chăng? Tôi không nhìn thấy , nhưng đã nghe thấy những chuyện đau thương, chẳng hạn có người vợ hiền lặn lội đi thăm chồng cải tạo miền Thanh Hoá Nghệ Tĩnh, đến nơi chỉ còn gặp nấm mồ của chồng mới chôn, chị đã cắt tóc rải lên nấm mồ trước khi ra về, cũng như chuyện một người vợ khác đào huyệt lấy xương của chồng đem về miền Nam chôn cất…
Và tôi nhớ… Tôi nhớ đến biết bao người vợ hiền, chung thủy, đã vượt đèo trèo suối, gồng gánh, xách mang trên những nẻo đường rừng xa tắp, lên thăm chồng trọn tình nghĩa phu thê, chỉ cốt đem lại một chút thức ăn, mong chồng đủ sức tiếp tục cuộc sống tù đầy để một ngày kia còn có hy vọng gặp lại được vợ con.
Tôi đến đất Mỹ này chẳng còn gì, ngoài một lòng sắt son khi cầm bút, với chí hướng một dạ thủy chung với những người bạn còn sống hay đã chết; và một hoài bão nhỏ nhoi : Làm thế nào để không còn những cảnh đau thương như vậy nữa trên trái đất này.
15/12/1992.
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.           

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Theo: Văn Thơ Lạc Việt



ĐỨA CON của RỪNG HẠC

Vào một năm trời làm mưa bão dầm dề, núi Kỳ Sơn đổ. Nhiều người cho đó là điềm trời báo trước sự sụp đổ của nhà Chu . Trấn thủ Kỳ Sơn Thiệu Tường dâng biểu tâu lên vua về những thiệt hại do thiên tai gây ra và khẩn xin triều đình mở kho cứu trợ cho dân chúng Kỳ Sơn. U-Vương đã chẳng màng đến lời tâu, còn cười chê Thiệu Tường là người dốt nát không biết cai trị, rồi cách chức.

ĐỨA CON của RỪNG HẠC
                                         
 
                                                                     Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
 
 
     Bao Thành và Kỳ Sơn là hai pháo đài ở phía tây và tây nam của kinh thành để bảo vệ cho kinh đô Kiểu Kinh. Trấn thủ Bao Thành Bao Quýnh và trấn thủ Kỳ Sơn Thiệu Tường là đồng liêu và cũng là chỗ tâm giao. Cả hai đều là đại phu và là những người trung quân ái quốc.
 
     Vào một năm trời làm mưa bão dầm dề, núi Kỳ Sơn đổ. Nhiều người cho đó là điềm trời báo trước sự sụp đổ của nhà Chu . Trấn thủ Kỳ Sơn Thiệu Tường dâng biểu tâu lên vua về những thiệt hại do thiên tai gây ra và khẩn xin triều đình mở kho cứu trợ cho dân chúng Kỳ Sơn. U-Vương đã chẳng màng đến lời tâu, còn cười chê Thiệu Tường là người dốt nát không biết cai trị, rồi cách chức.
 
     Vua tôi trong triều vẫn cứ thản nhiên tiếp tục ăn chơi hưởng lạc. Nhà vua phái nội thị bủa đi tứ phương tìm gái đẹp tuyển vào cung để đờn ca múa hát và phục vụ xác thịt. Triệu Thúc Đái đang giữ chức gián quan, thấy đất nước càng ngày càng nguy ngập, bèn dâng biểu để can ngăn. U-Vương nghe lời Quắc Công dèm pha, cách chức Triệu Thúc Đái đuổi về. Bao Quýnh đang ở Bao Thành nghe tin, tức tốc vào triều để can gián vua. U-Vương giận lắm, sai quân bắt Bao Quýnh tống vào ngục. Từ đó về sau, các quan trong triều không còn ai dám can ngăn vua nữa.
 
     Bao Quýnh ở tù đã ba năm. Phu nhân và con trai ở nhà sống thiếu thốn và bị cô lập. Các đại thần đồng triều cũng như bọn quan lại thân sơ đều sợ hãi mà xa lánh. Lâu rồi, mẹ con không lẽ cứ ngồi ôm nhau mà than khóc. Bà mẹ cuối cùng đành phải liều đẩy đứa con ra đường để tìm cách cứu nước, cứu chồng. Qua bao nhiêu đắn đo suy nghĩ, Bao Quýnh phu nhân hôm nay mới đem những điều mình ấp ủ ra bàn với Hồng Đức, đứa con trai duy nhất của mình hãy còn trẻ. Bà nhỏ nhẹ nói với con:
 
–   Con không ra bên ngoài nên không biết được việc thiên hạ. Qua nhiều năm liên tiếp, hạn hán rồi lụt lội làm mất mùa liên miên. Trời làm cơ cực một phần, nhưng tham quan của triều đình nhũng nhiễu gây thê lương còn nhiều hơn gấp bội. Bọn tham quan vơ vét bóc lột thật thậm tệ. Bá tánh vì thế sống vô cùng lầm than đói khổ. Loạn lạc triền miên. Trai tráng phần bị lùa đi lính, phần thì phiêu bạt tứ xứ để làm ăn kiếm sống. Con gái còn trinh kẻ bị bắt dâng lên cho triều đình, kẻ bị bán làm nô lệ tình dục khắp nơi tại các nước chư hầu. Còn lại bên trong các làng mạc khô cằn là các cụ già và những người không sứt càng thì cũng gẫy gọng. Bên trong triều đình thì Thiên tử hoang dâm vô đạo, ham mê tửu sắc, đêm ngày nghe đàn ca hát xướng. Nhiều khi cả tháng trời vua không thiết triều một lần. Triều thần ít khi trông thấy mặt thiên tử. Mọi việc triều chính giao vào tay bọn Tam Công là Quắc Công, Sái Công, và Doãn Cầu. Một tên làm tổng quản quân đội của thiên triều. Một tên lãnh chúa đám mật vụ côn đồ. Còn tên nữa là chưởng quản tất cả đám quan lại từ trong triều ra đến ngoài quan ải. Cả ba cấu kết với nhau làm thành một mạng lưới chuyên quyền độc đoán. Vì thế mới sinh ra nạn buôn quan bán tước. Có tiền là mua được chức quan. Khi đã có chức quan, chúng vơ vét để bù lại. Toàn thể hệ thống quan lại từ trên xuống dưới đều là những tên tham quyền ham lợi, chỉ biết trên thì nhắm mắt xu nịnh, dưới thì tham lam vơ vét. Bá tánh đói khổ, còn quan lại sống phè phỡn trên sự đói khổ của lê dân. Những người trung trực kẻ thì bị giết, người bị lưu đầy, còn lại hầu hết đều cáo thoái về cầy ruộng. Trong số những người bị đi tù có thân phụ của con đang làm quan đại phu tổng trấn Bao Thành. Chưa bao giờ đất nước sa vào cảnh điêu linh như hiện nay. Cũng chưa bao giờ bá tánh phải lầm than đói khổ như bây giờ. Con phải biết, cứu phụ thân của con là chuyện nhỏ, cứu giang sơn xã tắc này khỏi ách tàn bạo vô luân của tên bạo chúa mới là chuyện lớn phải làm của một trang nam tử như con. Con cần phải hiểu rõ cái thảm cảnh hiện nay của giang sơn bá tánh.
 
     Hồng Đức nhìn mẹ buồn rầu thưa lại:
 
–   Thưa mẹ, mặc dầu con không thiếu quyết tâm báo thù cho cha và cứu dân cứu nước, nhưng con còn nhỏ, cuộc đời chưa từng trải, thiếu kinh nghiệm, lại không quen biết nhiều, làm sao con có thể làm nên việc, nếu không có người lớn bên cạnh?
 
     Người mẹ không phải không hiểu lý lẽ đó. Đặt một gánh nặng quá lớn so với tuổi đời và từng trải trên vai của đứa con, bà không thể nào không lo lắng cân nhắc. Nhưng trong hoàn cảnh đơn lẻ này, bà không còn cách nào khác hơn để giải quyết. Nghe con nói xong, bà quàng tay kéo con trai ngồi sát bên mình, rồi ôn tồn giảng giải:
 
–   Cứu phụ thân con, con làm công việc này một mình đơn độc. Nhưng con đứng lên diệt bạo chúa, mọi người đều hưởng ứng theo con. Ai bảo con không có người bên cạnh. Hơn nữa, cho dù cứu được phụ thân con, ai bảo đảm gia đình mình thoát được những tai họa khác nữa sau này. Chỉ có cứu được giang sơn này thì mọi người mới được sống yên vui hạnh phúc lâu bền. Con phải hiểu như thế.
 
     Hồng Đức không cần suy nghĩ, vội vàng quì xuống đất, nắm lấy bàn tay mẹ, nhìn thẳng vào mắt bà, giọng quả quyết:
 
–   Vâng thưa mẹ, con hiểu ra rồi. Con sẽ làm theo lời mẹ dậy. Con hứa sẽ làm được cả hai điều mẹ mong muốn, vừa cứu cha con, vừa giải phóng bá tánh khỏi ách tham tàn mê muội của hôn quân.
 
     Bao Quýnh phu nhân xúc động ôm đầu đứa con trai ghì chặt vào lòng như chưa bao giờ bà tỏ ra thương con như vậy. Ngày hôm sau, chàng thanh niên Hồng Đức từ giã mẹ ra đi, mang trên vai một gánh nặng hai bên thù nhà và nợ nước.
 
                                                / / /
 
     Hồng Đức đi Bao Thành có ý tìm gặp những thân hữu hoặc thuộc hạ cũ của cha mình khi xưa để mưu việc đại sự, nhưng chuyện đời không đơn giản như chàng nghĩ. Tất cả những người quen biết mà chàng tiếp xúc họ đều từ chối. Không phải họ không có lòng, mà vì họ nhát sợ trước những sự tàn bạo của triều đình.
 
     Suốt mấy tháng trời, sự ra đi của Hồng Đức không đem lại một kết quả nào khích lệ. Đa số đều từ chối. Một vài người hứa suông cho qua chuyện. Chàng cảm thấy thối chí nên muốn trở về bàn bạc lại với mẹ. Điều làm chàng buồn phiền nhất là sợ khi gặp lại mẹ và nhìn thấy vẻ mặt thiểu não của bà. Nhưng bất luận thế nào chàng cũng phải trở về.
 
    Trên đường về, đi đã cả buổi, chàng dừng chân nghỉ mệt. Đang lúc ngồi nghỉ dưới một gốc cây bên bờ sông, bất chợt chàng thấy một cô gái quẩy đôi thùng từ trong xóm ra gánh nước. Cô gái trông còn rất trẻ, chắc chắn chỉ vừa độ tuổi trăng tròn. Một cô gái nhà quê mộc mạc nhưng lại rất xinh đẹp, xuất hiện giữa khung cảnh buổi chiều hè rực rỡ với trời, mây, nước bao la, trông chẳng khác nào một bức tranh thủy mạc sống. Thật tuyệt vời. Cô gái có vẻ lúng túng vì sự có mặt của một chàng trai xa lạ. Nàng vục nước đầy hai chiếc lu sành rồi vội vã quẩy vô xóm. Hồng Đức để cho nàng đi khuất rồi mới theo dấu nước sánh trên mặt đất mà tìm đến nhà. Tới đầu ngõ, chàng bắt gặp một ông gìa đang đứng hóng mát gần một khóm trúc ngoài cổng. Chàng dừng lại lễ phép cúi đầu chào. Thấy cái dáng thư sinh của người khách lạ, ông già lên tiếng trước, hỏi:
 
–   Chẳng hay công tử có việc gì đi qua đây?
 
–   Kính chào lão bá, cháu ở xa đi ngang qua đây mà trời cũng không còn sớm. Cháu có ý kiếm một chỗ trọ qua đêm. Lão bá có biết xin chỉ dùm.
 
     Hồng Đức không kịp chuẩn bị trước cho tình huống bất ngờ này, nên chỉ còn cách nói dối. Nhưng làm sao chàng che mắt nổi một ông già từng trải. Con gái ông vừa gánh nước về. Ông thấy rõ chàng thanh niên theo dấu nước trên đất mà tới đây. Nhìn mặt chàng trai không quen nói láo, sắc diện trở nên bẽn lẽn, thật tội nghiệp, ông già thương hại cái dáng khờ khạo ấy, chỉ mỉm cười độ lượng:
 
–   Chỗ trọ quanh đây thì lão phu không biết. Nhưng nếu công tử không chê bai túp lều tranh này của cha con lão thì công tử cứ tự tiện ở lại đây qua đêm. Chúng tôi rất lấy làm hân hạnh được tiếp đón công tử.
 
     Hồng Đức được lời như cởi tấm lòng. Thấy ông già như có ý muốn gói ghém một lời giới thiệu khéo léo cô con gái trong cách mời mọc, chàng cảm thấy phấn khởi nê nhận lời  không chút do dự:    
 
–   Được như vậy thì tốt quá. Cháu không dám khách sáo. Xin hết lòng đa tạ lão bá.
 
     Chủ khách theo nhau vô nhà, một căn nhà tranh vách đất tồi tàn nhưng ngăn nắp và kín đáo. Ông già tự tay nấu nước pha trà, và sai cô con gái sửa soạn bữa cơm chiều đãi khách. Hai người đàn ông vừa uống trà vừa trò truyện. Biết được Hồng Đức là con quan đại phu Bao Quýnh trấn thủ Bao Thành trước đây, ông già vui mừng giãi bầy tâm sự:
 
–   Gia đình lão phu ở đây lâu rồi. Lão tên là Tự Đại. Hai vợ chồng già không có con trai, chỉ sanh được một đức con gái duy nhất, đặt tên nó là Bao Tự. Chẳng bao lâu tiện nội mất. Lão phu một mình nuôi con. Trời cho nó có chút nhan sắc. Điều này làm cho lão hãnh diện nhưng lại rất lo sợ. Con gái đẹp ở vùng này hiện nay đang bị quan lính săn bắt dâng lên cho thiên tử. Lão phu lo ngaị cho đứa con gái của lão.
 
–   Thưa lão bá, không có cách nào để tránh cho Bao cô nương không bị bắt sao?
 
     Hồng Đức lo lắng cắt ngang. Lão Đại nhấp ngụm trà, trầm ngâm, mắt nhìn mông lung ngoài trời ra chiều tư lự lắm. Lão thở dài úp mở:
 
–   Thực ra thì cũng không phải là không có. Nhưng……..
 
–   Nhưng cái gì? Xin lão bá cho biết tôn ý. Hay lão bá có điều gì khó nói thì thôi cũng không sao.
 
     Không khí bỗng dưng trở nên nặng nề. Hồng Đức cũng e dè, chàng im lặng chẳng còn biết nói gì. Một lúc lâu sau, ông già đổi đề tài câu chuyện. Lão hỏi:
 
–   Lão phu có nghe lệnh tôn bị gian thần ám hại. Chẳng hay việc này có đúng không?
 
–   Thưa lão bá, chuyện này là thiệt. Phụ thân cháu bị bọn tam công hại. Nhà vua chỉ biết nghe lời xu nịnh. Phụ thân cháu bị giam có đến gần ba năm nay rồi.
 
     Ông già chép miệng thở dài:
 
–   Thời buổi này làm dân đã khó, mà làm quan thanh liêm trung trực lại càng khó gấp bội. Những người làm quan như lệnh tôn đây không được mấy người, nhưng rồi dần dần cũng mất cả. Bá tánh lầm tham không còn biết trông cậy vào đâu. Không biết đất nước này rồi sẽ ra sao!!! Ba năm…cũng là lâu rồi đấy.
 
     Ông già ngồi trầm ngâm một lúc rồi lại tiếp tục:
 
–   Phu nhân và công tử đã có dâng biểu trần tình để minh oan cho lệnh tôn bao giờ chưa? Cũng nên thử xem sao.
 
     Hồng Đức rầu rĩ thưa:
 
–   Xin thú thật với lão bá, làm thế không được đâu. Thiên tử đã trở thành điếc đặc đối với những lời ngay thẳng từ lâu rồi. Cháu đã lặn lội mấy tháng nay để tìm xem có phương pháp nào không nhưng vô hiệu. Những chỗ quen biết xưa kia với phụ thân cháu họ đều từ chối. Cũng có người quen biết trong triều nhận giúp đỡ nhưng họ đòi nhiều tiền bạc quá, gia đình cháu thật bất lực. Lão bá có diệu kế gì xin chỉ dậy cho. Cháu mang ơn suốt đời suốt kiếp.
 
     Ông già mỉm cười hiền từ:
 
–   Nói lão phu chỉ dậy thì không dám, và mang ơn thì cũng không cần thiết. Theo ý lão phu, nếu công tử chỉ muốn cứu lệnh tôn thôi thì việc cũng không có gì khó khăn lắm. Còn nếu công tử muốn làm chuyện lớn hơn thì cũng cần phải bỏ ra một chút công sức. Tuy nhiên, dù việc lớn hay nhỏ cũng có thể làm theo cùng một nguyên tắc mà các binh gia thường hay áp dụng. Đó là lấy cái yếu của đối phương làm cái mạnh của mình mà hành động ắt có thể thành công.
 
     Hồng Đức nghe lạ tai muốn biết liền nên nóng lòng hỏi:
 
–   Cháu ngu dốt. Xin lão bá có thể giảng giải rõ hơn một chút được không?
 
–   Có gì đâu mà khó hiểu…. Nhưng thôi, chuyện còn dài. Công tử đi đường xa chắc đã mệt và đói bụng. Nghỉ ngơi một lát rồi ăn uống trước đã.
 
     Mặc cho Hồng Đức ngồi bần thần suy nghĩ, ông già cắt ngang câu chuyện, đứng dậy đi xuống bếp tiếp con gái giọn cơm. Thực ra ông đã có chủ đích rồi, nhưng ông không thể đường đột nói ra nên muốn thăm dò ý kiến của con gái, và cũng cần bàn bạc trước những gì cần thiết.
 
                                                / / /
 
     Ăn uống xong thì trời vừa tối. Chủ khách ngồi uống trà bên ngọn đèn nhựa chai leo lét. Bao Tự đứng hầu bên cạnh cha. Hồng Đức cứ băn khoăn về câu chuyện còn dở dang hồi chiều: cái gì là cái yếu của đối phương, và cái gì là cái mạnh của mình? Chàng muốn thử phân tích cái chiến pháp mạnh, yếu mà các binh gia thường áp dụng ấy xem sao. Chàng trình bầy với ông già:
 
–   Theo cháu thấy, nhược điểm lớn nhất của triều đình hiện nay là vấn đề độc đoán và thối nát. Vua không còn biết nghe lời nói phải. Quan chỉ quen thói xu nịnh. Từ Thiên tử trở xuống ai nấy chỉ biết vơ vét để ăn chơi và hưởng lạc. Hà hiếp bá tánh và vơ vét cho thật nhiều để tận hưởng. Đây là vấn đề trọng yếu phát sinh ra các nguy cơ khác làm suy yếu chế độ. Có thể kể đến như khắp nơi nạn mua quan bán tước trở thành đường lối cơ bản trong việc chọn lựa người làm quan. Do đó, quan lại chỉ là một bọn vô luân, vô đạo, vô tài và vô tướng. Chúng bỏ tiền ra mua được chức quan rồi thì tất nhiên là phải đục khoét và vơ vét để bù lại. Bọn chúng vì phe cánh và vì miếng ăn, đối với nhau cũng như mèo với chó chứ chẳng tử tế gì. Chỉ bằng mặt mà nhiều khi còn coi nhau như thù địch. Chế độ vì thế có thể ví như một cái cây đã rỗng ruột, có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào. Bên ngoài bá tánh bị thiên tai rồi bị bóc lột đến tận xương tủy. Mọi người sống lầm than khổ cực như trâu chó. Thanh niên phải đi lính hay bị bắt làm phu dịch. Con gái đẹp ngoài số bị bắt tiến cung, còn lại hầu hết cũng bị ngay cha mẹ mình bán đi làm gái điếm để nuôi sống gia đình. Nói chung, người dân bất mãn và hoàn toàn mất tin tưởng vào triều đình. Chế độ nào cũng cần phải lấy dân làm gốc. Chế độ này đã mất gốc thì tất nhiên nó sẽ phải sụp đổ. Triều đình hiện nay đã không nhìn thấy điều đó lại còn lơ là mất cảnh giác. Thiên tử và cả triều thần vẫn cứ tưởng họ còn đang vững mạnh! Còn về phía bá tánh, cái mạnh của người dân là gì nếu không phải là hiện nay ai cũng đều có cơ hội lũng đoạn triều đình bằng bất cứ phương tiện nào họ có trong tay. Với tiền bạc, người ta có thể mua và sai khiến được quan viên triều đình trên dưới. Còn gái đẹp chính là chìa khóa có thể qua được bất cứ cánh cửa nào. Nếu có hai thứ đó là có thể đốn gục cái chế độ mục nát này rồi.
 
     Hồng Đức nói hăng say đến nỗi không để ý đến cô con gái rất xinh đẹp của ông già đang đứng gần đó. Chàng giật mình và ngừng lại, cảm thấy đã quá khinh xuất bèn xin lỗi:
 
–   Cháu thật là thất lễ, đã có lời mạo phạm. Xin lão bá và Bao cô nương tha thứ.
 
     Ông già nhìn chàng cười bao dung:
 
–   Không sao. Công tử nói rất đúng. Những nhận xét và phân tích của công tử cũng là những suy nghĩ trong đầu của lão phu. Tuy nhiên cũng còn một khía cạnh khác mà công tử không đề cập đến. Đó là thế lực của các chư hầu. Hiện nay thiên tử yếu mà có nhiều chư hầu mạnh. Tuy vậy không có chư hầu nào đủ sức lấn lướt mà vượt lên, nên họ vẫn cần phải bảo vệ ngôi thiên tử để giữ thế quân bình ổn định. Nếu có cách nào làm cho các chư hầu không còn tin tưởng vào thiên tử nữa thì sự biến mới có thể xẩy ra. Chiến lược là đúng, nhưng cũng cần phải có sách lược thích hợp để vận dụng kế sách.
 
     Lý luận của ông gìa rất mới lạ và lôi cuốn, Hồng Đức càng nghe càng bị thuyết phục. Nhưng ông ngừng lại ở đấy hình như có ý muốn cho chàng có thì giờ tiêu hóa hết những điều mình vừa nói.
 
     Không gian về đêm vốn đã tịch mịch càng trở nên u tịch hơn khi tiếng nói của ông dứt đoạn. Ông già nhấp ngụm trà nóng, mắt vẫn không rời khỏi bát nước trà một hồi lâu rồi mới lại tiếp tục nói mà như đang nói với bát nước trên tay. Ông bỗng vừa lắc lư cả thân mình ra điều thận trọng lắm, vừa thật chậm rãi cố ý gò từng câu từng chữ để thăm dò người đối diện:
 
–   Hoàn cảnh của công tử cũng là hoàn cảnh của nhiều người. Có rất đông bá tánh bị oan ức, bị vùi dập. Lão phu rất hiểu và cảm thông với công tử. Cho phép lão nói thẳng, chẳng hay công tử đã có dự tính riêng cho mình như thế nào chưa?
 
     Hồng Đức lắc đầu thở dài:
 
–   Thưa lão bá, rất tiếc là cháu tài hèn sức mọn, hai bàn tay trắng lại không có kinh nghiệm. Những tính toán đều đã thất bại cả. Cháu xin lão bá cho một lời chỉ giáo và nếu có thể giúp đỡ cho cháu chóng hoàn thành được ý nguyện.
 
     Ông già vẫn giữ giọng trầm đều:
 
–   Giữa công tử và chúng tôi trời đất xui khiến xem ra có chỗ đồng thanh và còn có thể là đồng khí nữa đấy. Công tử có mối thù gia phụ. Gia đình tôi, tiện nội bị triều đình vô cớ thảm sát. Công tử sống ở kinh đô vả lại còn trẻ chắc không biết chuyện xẩy ra tại đây mười mấy năm về trước, lúc ấy đứa con gái này hãy còn phải bế trên tay.
 
     Ông quay sang nhìn Bao Tự, rồi quàng tay kéo con lại sát bên cạnh mình, tỏ một cử chỉ âu yếm khác thường. Trong không gian chìm lắng, ông già lại cất tiếng trầm buồn kể chuyện. Chàng thanh niên trẻ vẫn im lặng chăm chú nghe:
 
–   Chuyện xẩy ra vào lúc giặc Khương Nhung nổi loạn, Tuyên Vương ngự giá thân chinh và bị thua. Quân lính chết rất nhiều. Vua phải thân hành ra đất Thái Nguyên kiểm tra dân đinh để bắt lính bổ sung. Khi trở về ngang qua một cái chợ, vua cho dừng quân để nghỉ. Có lũ trẻ con chơi đùa ngoài chợ hát câu đồng dao thế này:
 
                        Bao giờ thỏ mọc ác tà,
                        Yểm hồ Cơ bặc ắt là mất Chu .
 
     Tuyên Vương nghe thì cả sợ, bèn bắt lũ trẻ mà điều tra. Nhưng lũ trẻ cũng không biết câu đồng dao đó từ đâu mà có. Vua về triều hội bàn với các quan, nhưng mỗi người bàn một cách. Kẻ thì cho là chuyện trẻ con chẳng đáng tin. Người thì bảo rằng ứng về điềm trong nước có loạn lạc vì yểm hồ và cơ bặc ám chỉ cung tên và túi cỏ để đựng tên. Riêng quan thái sử Bá Dương Phụ bói quẻ bàn rằng thỏ là mặt trăng chỉ âm, ác là mặt trời chỉ dương. Thỏ mọc ác tà là dấu chỉ âm thịnh dương suy. Ắt hẳn là sẽ có cái họa đàn bà can thiệp đến chính trị trong nước.
 
     Bất ngờ đúng vào lúc đó, tại hậu cung lại đồn chuyện một cung nữ từ thời tiên đế đã ngoài 50 tuổi đạp phải rãi rồng mà mang thai 40 năm mới sinh được một đứa con gái. Khương hậu, vợ Tuyên Vương, thấy vậy, để giữ tiếng tăm cho hoàng gia, bắt đem đứa trẻ bỏ trôi sông. Một câu chuyện yêu quái như thế không biết từ đâu được thêu dệt rất ly kỳ khiến nhà vua liên tưởng đến cái nạn nữ họa thời Kiệt, Trụ (Thương, Ân). Tuyên Vương sợ hãi bèn hạ lệnh đi khắp mọi nơi hễ ai vớt được đứa con gái ấy đem nộp, dù còn sống hay đã chết, thì được thưởng 300 tấm lụa. Nếu có ai bắt được mà giấu giếm thì cả nhà phải chém đầu.    
 
     Vua cũng nhớ lại câu đồng dao “yểm hồ cơ bặc” ngày trước, nên truyền cho chợ búa khắp trong nước không ai được bán cây cung bằng gỗ dâu (yểm hồ) và túi tên bằng cỏ cơ (cơ bặc) nữa. Ai không tuân lệnh cũng bị chém đầu.
 
     Vợ chồng lão phu không biết lệnh cấm, đem cung dâu và túi cỏ ra chợ bán như thường lệ, vì đây là nghề sinh sống của gia đình lão từ lâu nay. Tiện nội mang đồ bán đi trước một quãng, còn lão phu đùm đề đứa con mới sanh lẽo đẽo theo sau. Vừa đến cửa thành, quan lính xét thấy đồ quốc cấm gùi trên lưng, tiện nội bị bắt liền tức thì. Lão phu ôm đứa con đi sau thấy vậy phải lẩn trốn mới thoát. Vua Tuyên Vương cho là câu hát của lũ trẻ đã ứng nghiệm, ra lệnh chém đầu tiện nội để trừ hậu hoạn. Cha con lão phu phải trốn tránh, đến ở cái xóm Hạc Lâm hẻo lánh này từ ngày đó đến nay.
 
–   Bá mẫu chết thật là oan ức!
 
     Hồng Đức nghe uất ức bèn thốt lên. Ông già cũng ngừng kể. Một lúc lâu sau ông mới đi vào kết luận:
 
–   Ông trời thật không phụ lòng người nên đã cho lão phu gặp được công tử. Chúng ta cùng có chung một kẻ thù, cũng nên phải cùng chung một hành động mới đúng. Lão phu đã già rồi, khó có thể thực hiện ý nguyện được. Lão xin có một đề nghị với công tử.
 
     Ông ngập ngừng có ý thăm dò phản ứng của chàng thanh niên và cũng còn để lựa lời cho thích hợp. Hồng Đức sốt ruột dục:
 
–   Lão bá có đề nghị gì xin cứ dậy bảo. Cháu xin lãnh giáo.
 
–   Có hơi đường đột một chút đấy, nhưng xin công tử tha lỗi cho. Nếu công tử không chê bai, lão phu xin được gởi gắm đứa con gái này cho nó theo hầu để công tử sai bảo trong khi công tử bôn ba lo công việc. Không biết ý công tử thế nào?
 
     Ông già hỏi, nhưng xem ra đã biết trước câu trả lời của Hồng Đức rồi, nên ông quay sang nhắn nhủ Bao Tự đang đứng sát bên cạnh ông:
 
–   Con phải nghe theo lời dậy bảo của công tử cũng như nghe lời cha. Con có biết không?
 
–   Thưa cha con biết.
 
     Từ chiều đến giờ, Hồng Đức mới nghe thấy người con gái nói. Chỉ vỏn vẹn có mấy tiếng. Chàng thật sự không hiểu rõ ý nghĩa trong mấy câu ngắn ngủi của cha con ông già. Ông muốn gả con gái cho mình, hay ông tình nguyện hy sinh con gái mình cho chàng để làm kế cứu cha. Thế nào thì cũng đều là chuyện khó tin. Không dễ dàng như thế chứ! Nếu ông có ý định gả con gái thì ít ra cũng phải có cưới hỏi, và nhất là được sự ưng thuận của hai bên cha mẹ. Không thế nào có chuyện quá hấp tấp đến vô lý thế được. Còn nếu ông mưu tính kế mỹ nhân thì ít ra ông cũng nên tiết lộ cho chàng biết kế hoạch? Nếu ông tình nguyện hy sinh con gái làm mỹ nhân kế để trừ bạo chúa thì chàng cũng khó lòng mà đồng ý được, vì từ lúc gặp Bao Tự ngoài bờ sông, chàng đã bị cái đẹp của nàng hớp hồn mất rồi. Theo cách này thì chàng sẽ vĩnh viễn mất nàng. Chỉ nghĩ đến chuyện phải mất người con gái xinh đẹp này, chàng đã cảm thấy chán nản, mất nghị lực. Một đàng không thể để mất đi cơ hội, một đàng không thể không hoàn thành sứ mạng mẹ chàng trao cho lúc ra đi. Cả hai đều khó cầu toàn. Điều làm chàng thực sự bận tâm là rước Bao Tự về nhà trong hoàn cảnh gia đình như thế này thì có hợp đạo lý không. Việc cứu cha chưa hoàn thành mà đã mải mê chuyện tình cảm riêng tư. Điều đó mẹ chàng chắc chắn không tha thứ, mà người đời cũng sẽ cười chê. Hồng Đức suy tính nhanh trong đầu thấy chỉ còn cách cứ đồng ý đại đi rồi sẽ tính. Chàng hy vọng sẽ tìm ra cách giải quyết. Chàng tự tin, đứng dậy khoanh tay cung kính thưa với ông già:
 
–   Cháu xin phụng mệnh của lão bá. Cháu hứa sẽ chăm sóc tốt cho Bao cô nương.
 
     Sáng hôm sau, Bao Tự theo Hồng Đức lên đường trở về nhà chàng. Ra đến đầu ngõ, nàng ôm cha nói lời từ biệt:
 
–   Con mong sớm có ngày được trở về bên cạnh cha.
 
     Ông già hôn lên mái tóc đứa con gái mà không nói gì. Sau đó ông đưa tay vẫy ra dấu hiệu bảo đi, rồi quay đầu lủi thủi trở vào nhà.
 
                                                            / / /
 
     Quả đúng như Hồng Đức lo ngại. Bao Quýnh phu nhân thấy con trai trở về tay không, lại còn mang theo một cô gái trẻ đẹp, bà buồn rầu không nói gì và tỏ ra lạnh lùng với con. Cũng may mà trên đường về chàng đã biết rõ được vấn đề nên đã hình thành được một kế hoạch đem trình bầy với mẹ nên bà mới an tâm.
 
     Những gì ông già nói với chàng mới chỉ là một nửa của sự thật. Còn lại nửa kia ông khôn khéo dành lại cho con gái nói ra. Nói trắng ra trước tất cả, ông già sợ Hồng Đức không chịu cho con gái ông đi theo. Việc tiến cung của Bao Tự như ông già kế hoạch bỏ đi mất một cơ hội hiếm có.
 
     Theo Bao Tự kể, nàng không phải con ruột của vợ chồng ông già mà chỉ là con nuôi. Nàng chính là đứa trẻ bị ném bỏ ngoài bờ sông. Người đàn bà đẻ ra nàng thực ra là một cung nữ trong triều đình Tuyên Vương. Cung nữ này bị hoàng tử An Kỳ, con út của Khương Hậu, tức em trai của U-Vương làm có bầu. Khương hậu không chấp nhận mối tình chủ tớ đó, nên đã cho giết chết người cung nữ và đem đứa trẻ bỏ ngoài bờ sông Thanh Thủy. Lại còn bầy ra một câu chuyện hoang đường để gạt vua. Đứa bé được vợ chồng ông già cứu sống, đưa về nuôi và nhận làm con. Bà mẹ nuôi là vợ ông già Tự Đại bị chém đầu vì tội bán cung dâu túi cỏ đúng như ông già nói. Như vậy là cả hai người đàn bà mẹ đẻ và mẹ nuôi của Bao Tự đều bị triều đình giết chết. Bao Tự từ khi lớn lên, hiểu chuyện nên thề quyết sẽ trả mối thù này. Dựa vào sự tài khéo, ý chí, và sắc đẹp của Bao Tự, cha con ông già tính kế phải vào tận hang cọp để giết cọp. Sự xuất hiện của Hồng Đức đúng là cơ hội trời cho. Ông già vì thế đã thận trọng và tỉ mỉ đi từng bước để không bị hư việc.
 
     Bao Quýnh phu nhân nghe con trình bầy, sau một đêm suy nghĩ, đến sáng cho gọi Bao Tự vào và hỏi:
 
–   Chuyện cô nương muốn báo thù cho mẹ cô là thế nào?
 
     Bao Tự kính cẩn hỏi lại:
 
–   Chắc phu nhân đã được nghe công tử kể?
 
–   Phải, ta đã nghe, nhưng tại sao cô nương lại phải đi qua gia đình ta mà thực hiện ý định đó? Có phải cô nương muốn gia đình ta phải mắc nợ cô không?
 
     Bao Tự cả sợ, vội vàng qùi xuống thưa:
 
–   Phu nhân đã quá lời rồi. Tiện nữ không dám. Tiện nữ và phụ thân chỉ vì quí mến công tử, và cảm mến công đức của quan đại phu khi người còn ở Bao Thành nên mong làm một chút việc nhỏ đáp đền mà thôi. Kính xin phu nhân chấp nhận.
 
     Mẹ Hồng Đức nghe Bao Tự ăn nói lễ phép và trôi chẩy, rất lấy làm bằng lòng. Bà cho rằng con trai mình hẳn đã đem lòng yêu thương người con gái này, và ngược lại cũng thế. Bà lấy làm đau xót và thương cho cả hai đã phải hy sinh cả cái riêng tư cao quí nhất là hạnh phúc của đời mình. Bà quay mặt đi để dấu hai dòng lệ chẩy trên má.
 
     Vài hôm sau, có quan thái sử Bá Dương Phụ là chỗ thân tình ghé thăm. Bao Quýnh phu nhân ra tiếp đón. Bá Dương Phụ nhác trông thấy Bao Tự ở nhà trong nên có ý hỏi dò:
 
–   Chẳng hay công tử nhà ta mới lấy vợ, sao không cho tại hạ biết để mừng?
 
–   Dạ không phải đâu, xin đại nhân đừng hiểu lầm.
 
     Phu nhân cải chính và nhận Bao Tự là con gái út trước đây gởi tại nhà người dì ở Bao thành nay mới đem trở về nhà, lại có ý nhờ thái sư giúp tiến dẫn Bao Tự vào cung làm cung nữ để hầu hạ vua. Bá Dương Phụ rất mừng vì tin rằng kế này chắc chắn có thể cứu được Bao Quýnh ra. Nhưng ông ta lại muốn lánh mặt, không muốn đứng ra làm trung gian, nên nói với Bao Quýnh phu nhân:
 
–   Kể như chắc ăn rồi đấy, nhưng việc này nên nhờ cậy đến Quắc Công thì tiện hơn.
 
     Bao Quýnh phu nhân đem lụa và vàng bạc đến đút lót cho Quắc Công để nhờ tâu với U Vương rằng Bao Quýnh có tội ở tù đã ngoài ba năm, nay đã già và đã biết hối lỗi. Bao Quýnh xin đại vương khoan hồng và xin tiến đứa con gái út của mình là Bao Tự để hầu hạ đại vương.
 
     Quắc Công bằng lòng nhận vàng bạc, gấm lụa để lo công việc.
 
                                                            / / /
 
     Bao Tự ở trong nhà Bao Quýnh phu nhân đã gần một tháng. Đêm trước ngày được tiến vào cung, nàng nói với Hồng Đức:
 
–   Thiếp hình như đã có thai.
 
–   Đứa bé sau này sẽ là con chúng ta.
 
     Hồng Đức mừng rỡ ôm người yêu vào lòng quả quyết. Rồi lại hỏi:
 
–   Có phải nàng có điều gì không vừa lòng mà từ ngày gặp nàng tới giờ ta thấy nàng lúc nào cũng tỏ ra buồn bã không vui?
 
–   Thiếp được chàng và phu nhân hết lòng thương yêu và săn sóc thế này là hạnh phúc lắm rồi. Thật sự không có gì làm thiếp phàn nàn cả. Nhưng xin chàng hiểu cho, thiếp chỉ có thể cười to lên được khi thiếp chắc chắn trừ được tên bạo chúa kia mà thôi.
 
     Hồng Đức đã hiểu ra và thông cảm được tâm trạng của Bao Tự.
 
     Ngay ngày hôm sau, Quắc Công đưa Bao Tự vào ra mắt U-Vương. Nhà vua nghe Quắc Công tâu trình thì ưng ý, liền lập tức truyền cho Bao Tự vào bệ kiến. Bao Tự hôm nay trông xinh đẹp như một nàng tiên giáng trần. Nàng vốn đã đẹp tự nhiên, lại được trang điểm thật là lộng lẫy nên càng trở nên kiêu kỳ và quyến rũ hơn gấp bội. U-Vương trông thấy là mê liền và cho ở lại trong cung. Vua còn truyền chỉ thả Bao Quýnh, và còn cho phục chức như cũ.
 
     U-Vương được Bao Tự rồi thì hình như quên mất hẳn mình đang là thiên tử, trao triều chính cho tam công để bọn này muốn làm gì thì làm. Nhà vua xây cất cung Quỳnh Đài cho nàng ở và cả ngày tự nhốt mình trong đó như một tên tù của xa hoa và xác thịt. Bao Tự tuy chưa có danh phận gì, nhưng nàng không thèm tới chào hỏi ra mắt hoàng hậu theo đúng lễ nghi hậu cung, còn tìm nhiều cách để trêu tức bà ta. Thân hậu vừa ghen vừa tức giận vô cùng nên cùng con trai là thái tử Nghi Cửu tìm cách hạ nhục Bao Tự. Không dè đây lại là cái kế của nàng giăng ra để triệt hạ hoàng hậu.
 
     Chẳng bao lâu sau, Bao Tự sanh được con trai, đặt tên là Bá Phục. Nàng càng được vua sủng ái hơn. Bao Quýnh trở thành quốc cựu và Hồng Đức trở thành bào huynh của hoàng hậu. Cả hai thỉnh thoảng được phép vào cung thăm mẹ con Bao Tự. Thằng bé Bá Phục được hai người quí mến và coi như hậu tự của dòng họ Bao. Bọn tam công và các quan triều đình đều bị mua chuộc và đứng về phe Bao Tự cả.
 
     Khi Bao Tự đã hoàn toàn lèo lái được nhà vua và có thể khống chế được triều đình, nàng tiến hành bước kế tiếp là bước lên ngôi hoàng hậu. Vấn đề này không khó khăn gì đối với nàng, vì sự thất sủng của Thân hậu chính là bước tiến lên của nàng.
 
     Thân hậu là con người thiếu bao dung, tính tình lại hay ghen tương nhỏ mọn làm vua càng ngày càng chán mà xa lánh, cuối cùng bị thất sủng, rồi bị truất phế và đẩy vào lãnh cung. Thái Tử Nghi Cửu cũng bị chung một số phận và bị đuổi ra khỏi hoàng cung. Sau khi đã phế hậu và thái tử, U-Vương theo công luận của triều đình, lập Bao Tự làm hoàng hậu và Bá Phục làm thái tử. Ý vua đã định, triều đình nhiều người không bằng lòng, nhưng không có ai dám can ngăn vì sợ bị kết tội là phe đảng của Nghi Cửu và bị trị tội. Bá Dương Phụ trưóc kia là bạn bè thâm giao với Bao Quýnh, trước sự việc này cũng bất bình và xin từ chức. Nhiều quan viên khác cũng bắt chước từ quan theo ông.
 
     Bao Tự dẫu được phong làm chánh cung, nhưng nét mặt lúc nào cũng rầu rầu ủ dột. U-Vương truyền nhạc công và cung nữ vào cung đàn ca múa hát để nhà vua và hoàng hậu uống rượu vui chơi. Bao Tự dù thế nào cũng vẫn không tươi nét mặt. U-Vương hỏi:
 
–   Hoàng Hậu không thích ca nhạc thì thích cái gì?
 
–   Thần thiếp không thích gì cả. Chỉ nhớ hôm xưa tay cầm xé tấm lụa. Tiếng lụa xé nghe thấy cũng vui tai.
 
–   Chỉ có vậy thôi à, sao không cho trẫm biết trước?
 
     U-Vương cười rạng rỡ, truyền mỗi ngày mở kho lấy 100 tấm lụa rồi sai cung nữ đứng xé lụa cho Bao Tự nghe. Trò chơi xé lụa vậy mà gây tác dụng không nhỏ. Nó làm hao tốn công quĩ và làm cho bá tánh mang thêm gánh nặng phải phục vụ triều đình. Bao Tự dẫu hằng ngày được nghe tiếng xé lụa, nhưng vẫn không nở một nụ cười. U-Vương thất vọng lại hỏi:
 
–   Hoàng Hậu nghe tiếng xé lụa mà sao vẫn không thấy vui?
 
–   Được hoàng thượng yêu quí thế này thần thiếp vui lắm chứ, tại sao lại không?
 
–   Nàng vui nhưng sao lại không cười?
 
–   Vốn từ xưa tới giờ thần thiếp chưa bao giờ cười cả.
 
–   Thật hả? Vậy thì trẫm nhất định phải tìm ra cách làm ái hậu cười cho bằng được mới thôi. Nhất định!
 
     Nhà vua nhớ lại chuyện hồi nhỏ trong vườn thượng uyển có một đàn khỉ, tính bắt một vài con đem về cung làm trò để mua vui cho hoàng hậu, nhưng đàn khỉ ngày nay đã bị đưa ra khỏi hoàng thành vì chúng phá phách quá chừng. Vua dẫn hoàng hậu ngự giá ra ngoài dân gian tìm đến nơi có đàn khỉ. Đàn khỉ nay vẫn còn và do một người tiều phu chăm nuôi. Người này không có tên. Người ta gọi ông ta là ông Khỉ. Giống khỉ này là một giống khỉ hiếm quí, chúng được hưởng bổng lộc của triều đình, lại được chăm sóc tử tế nên triều đình thường chỉ dùng để làm quà tặng cho các chư hầu và lân bang. Chúng có bộ lông đen mướt, cũng có nhiều con lông vàng rất đẹp, lại rất thông minh, biết làm trò, và nhất là biết bắt chước tiếng người và các động tác của người ta. Bao Tự thấy đàn khỉ cũng tỏ ra thích thú. Vua liền cho bắt bốn con đen đẹp nhất và khôn nhất trong bầy, đem về cho Bao Tự. Vua hãnh diện khoe với triều thần: đây là tứ trụ điều đình của trẫm. Mỗi khi vua ngự triều đều có đem hoàng hậu cùng với đám khỉ theo. Nghị sự xong, vua thường bắt các con khỉ ra làm trò để triều thần giải trí, cốt để các quan tung hô hoàng hậu cho nàng khoái chí mà cười. Khi làm trò, những con khỉ tỏ ra rất tài nịnh bợ, luôn mồm kêu: hoàng thượng vạn tuế, hoàng hậu thiên tuế, thiên thiên tuế. Có một lần, đang lúc các con khỉ làm trò, thấy hay quá, nhà vua quay sang hoàng hậu hỏi ý kiến để xem nên ban thưởng cho chúng như thế nào. Hoàng hậu không nghe rõ nhà vua muốn hỏi gì, tưởng vua muốn hỏi tên các con khỉ, nàng trả lời gọn một tiếng “Hầu” (hầu tức là khỉ). Lập tức vua truyền chỉ phong hầu cho tất cả bốn con khỉ, gọi là Bá Hầu, Công Hầu, Đình Hầu, và Khắc Hầu, và ban hưởng bổng lộc một vạn hộ. Từ đó khỉ cũng được mang hia, đội mão, mặc triều phục. Mỗi khi vua ngự triều đều có Bao Tự ngồi bên cạnh, và dĩ nhiên các con khỉ qúi cũng có mặt và lon ton bên cạnh Hoàng Hậu. Các quan và mọi người trong triều đều phải gọi các con khỉ này theo tước vị đàng hoàng là Vạn Hộ Bá Hầu đại nhân, hay Vạn Hộ Công Hầu đại nhân v.v.
 
     Cái trò khỉ này làm cả triều thần giận tím mặt, nhưng vì sợ vua nên họ vẫn cố gượng cười để làm vừa lòng thiên tử và hoàng hậu. Bao Tự xem trò khỉ nhưng vẫn cứ ngồi trơ, không nở được lấy dù chỉ một nửa nụ cười.
 
     Vẫn không làm được cho hoàng hậu cười, U-Vương thất vọng, một hôm lên tiếng hỏi triều thần:
 
–   Các ái khanh ai có kế gì làm cho Hoàng hậu cười được thì trẫm sẽ thưởng cho một ngàn lượng vàng.
 
     Quắc Công là tên đại thần giỏi nịnh bợ nhất trong đám quan lại, hiến kế cho vua:
 
–   Tâu Hoàng Thượng, tiên vương ngày xưa có lập ra hơn hai mươi cái chòi dưới chân núi Ly Sơn, lại làm mấy chục cái trống thật lớn, phòng khi có giặc thì đốt lửa ở trên chòi và gióng trống lên để cho các chư hầu biết có biến mà đến cứu. Lâu nay thiên hạ thái bình không được nhìn thấy cảnh đốt lửa bao giờ. Nếu hoàng thượng muốn làm cho hoàng hậu được vui thích thì xin hoàng thượng và hoàng hậu ngự giá thưởng ngoạn phong cảnh Ly Sơn một chuyến. Ban đêm hạ thần sẽ cho bầy yến tiệc ở đó để hoàng thượng và hoàng hậu cùng vui hưởng. Đồng thời thần sẽ cho đốt lửa tại các chòi để báo cho các chư hầu đem quân đến. Đùa cợt với các chư hầu một phen đâu có hại gì. Hoàng Hậu thấy vậy chắc sẽ thích lắm.
 
     U-Vương nghe tâu đắc chí vỗ tay khen:
 
–   Ý kiến rất hay! Khanh cứ thế mà làm.
 
     Chẳng phải Quắc Công có sáng kiến mới mẻ gì, mà đó là gợi ý Bao Tự đã mớm cho hắn từ trước: Bữa nào ta được ra chơi ngoài Ly Sơn xem đốt lửa thì vui biết mấy. Đây là bước chót trong kế sách ba bước tiêu diệt nhà Chu mà ông già Tự Đại đã công phu nghiên cứu và dậy cho con gái. Bước thứ nhất là làm khánh tận công khố bằng việc xây cất cung Quỳnh Đài, việc xé lụa để vui chơi, và những yến tiệc quanh năm suốt tháng trong triều đình. Thứ hai là gây bất mãn làm ly gián giữa các đại thần và thiên tử qua việc phong tước cho khỉ ngang hàng với các đại thần. Sau chót là màn đốt lửa tại Ly Sơn để huỷ diệt sự tin tưởng của các nước chư hầu.
 
     Mọi việc được an bài đúng như kế hoạch của Quắc Công đã tâu trình. U-Vương và hoàng hậu ngự giá tới Ly Sơn. Trịnh Bá Hữu là chú của vua, cũng là một đại thần cảm thấy nguy cơ nên lên tiếng can ngăn nhà vua. Nhưng U-Vương nổi giận mắng lại:
 
–   Ngày nay thiên hạ thái bình, cần gì đến các chư hầu cứu viện. Trẫm cùng hoàng hậu không có gì tiêu khiển, chỉ bỡn chơi với các chư hầu một chút có hề gì. Ngày khác có nguy cấp, can dự gì đến nhà ngươi mà nhà ngươi phải lo cho mệt trí.
 
     Màn đêm vừa buông, vua truyền lệnh khai mạc cái trò chơi đế vương của mình. Ánh lửa bập bùng lập tức nổi lên từ các chòi, soi sáng khắp bầu trời. Khói đen phủ kín núi rừng. Trống đánh, chiêng khua vang lừng bốn cõi. Vua và hoàng hậu trên ngự đài vừa uống rượu vừa nhìn tứ phía thưởng thức trò chơi.
 
     Các chư hầu tưởng có biến, lũ lượt vội vã kéo quân về Ly Sơn. Tới nơi thấy cảnh tượng triều đình bầy ra yến tiệc vui chơi để đánh lừa mình, họ nhìn nhau ngơ ngác và hậm hực tức tối. Bao Tự đứng trên lầu nhìn các chư hầu ào ào kéo tới, rồi lại đùng đùng giận dữ bỏ đi thì thích chí vỗ tay cười vang. Nàng mừng đến rơi nước mắt, mơ ước giá mà lúc này đây, không phải tên hôn quân khốn kiếp, mà là Hồng Đức nghe được tiếng cười của nàng. U-Vương nhìn thấy hoàng hậu cười, rất lấy làm đắc chí, mừng rỡ nói:
 
–   Một tiếng cười của hoàng hậu đủ trăm vẻ đẹp. Thật là Trời không phụ ta. Trẫm thật là thỏa mãn. Chuyện này âu cũng là nhờ cao kiến của Quắc Công mới có. Trẫm phải giữ đúng lời hứa với hắn mới được.
 
     Nói rồi, vua truyền lấy vàng đủ ngàn lượng ra thưởng cho Quắc Công.
 
                                                            / / /
 
     Không bao lâu sau, lần này thì có biến thật.
 
     Thân Hầu cai trị đất Thân là cha  của Thân Hậu tức hoàng hậu bị truất phế và thái tử Nghi Cửu là cháu ngoại của Thân Hầu bất mãn với việc phế lập của U-Vương, mượn quân Khuyển Nhung kéo về tấn công kinh đô Kiểu Kinh. Triều đình đang trong lúc thái bình nên không có phòng bị gì. U-Vương thấy có biến lo xanh mặt, bấn loạn cả lên, dậm chân, đập bàn quát hỏi Quắc Công:
 
–   Khanh có kế gì chống giặc không, nói mau?
 
     Quắc Công run sợ quì sụp xuống tâu:
 
–   Xin Hoàng Thượng mau sai người ra đốt lửa ở Ly-Sơn để kêu quân cứu viện của các chư hầu.
 
–   Khanh chỉ có kế đốt lửa là giỏi. Thôi được, đi làm gấp.
 
     Vua truyền chỉ nhưng vẫn cảm thấy nghi ngờ. Quả thật, không một chư hầu nào đem quân đến cứu vì họ sợ lại bị mắc lừa như lần trước. Vua tôi bấy giờ bàn nhau chỉ còn nước chạy là thượng sách. Mọi người bàn chạy. Chỉ có thái sử Trịnh Bá Hữu, chú của vua, người trước đây đã can vua đừng đốt lửa gạt chư hầu, là còn mang quyết tâm cự địch. Ông đích thân sai người đốt lửa lên một lần nữa. Chư hầu vẫn không một ai đến.
 
     Kinh đô Kiểu Kinh trở thành hoàn toàn tuyệt vọng. Một cảnh hỗn loạn chưa từng thấy xẩy ra. Người sợ chết thì bỏ của chạy để giữ lấy thân. Kẻ sợ mất của ở lại giữ của thì mất cả thân lẫn của. Cướp bóc nổi lên khắp nơi. Những tham quan ngày trước bị giết để trả thù vô số kể. Quân địch chưa đến nơi nhưng vua tôi đã bỏ thành mà chạy trước. Bá tánh lũ lượt bồng bế nhau chạy theo.
 
     Trịnh Bá Hữu phò vua đi trước chạy ra Ly-Sơn, giữa đường bị quân Khuyển Nhung chận đánh và bị giết. U-Vương cũng chết trong trận này.
 
     Bao Tự trước khi ra đi, truyền lệnh cho Quắc Công vào lãnh cung để thả Thân Hậu đang bị giam trong đó. Nàng có ý nhờ tay Thân hậu giết U-Vương và Quắc Công, tên loạn thần số một này, vì Thân hậu biết Quắc Công trước kia đã dâng sớ xin truất phế bà ta. Quắc Công nhận lệnh nhưng hắn không thi hành vì sợ nguy hiểm đến tính mạng.  
 
     Khuyển Nhung người đông thế mạnh tiến vào kinh đô Kiểu Kinh như chỗ không người. Bọn man rợ này tha hồ mà vơ vét, cướp bóc, vì chúng phải sống trong một đất nước vô cùng nghèo nàn và lạc hậu. Thiếu thốn và đói ăn triền miên khiến chúng trở nên thèm khát hết mọi thứ. Chúng tàn phá không thương tiếc cả những tiện nghi mà vì lối sống đã quen thói rừng rú, chúng cho là hoang phí và xa xỉ. Kinh đô Kiểu Kinh dưới gót chân của quân chiếm đóng chẳng mấy chốc trở nên tan hoang, trơ trụi.   
 
     Thân Hầu theo quân Khuyển Nhung mà vào thành. Thân phận kẻ rước cướp vô nhà bị đối xử cũng không hơn gì một tên đầy tớ. Ông ta chẳng có quyền hành gì dưới chế độ ăn cướp của Khuyển Nhung ngoài cái quyền ông ta tự ban phát cho mình là thu giọn những đổ nát mà quân chiếm đóng đã gây ra. Ơn huệ độc nhất quân Khuyển Nhung ban cho ông ta là được phép vô lãnh cung cứu con gái ông. Thân Hầu nghe nói U-Vương đã trốn ra Ly-Sơn liền vội vàng đuổi theo để có ý khuyên vua hàng giặc hầu giữ lại ngai vàng, khôi phục địa vị cho con gái và cháu ngoại của ông. Ông gặp vua Khuyển Nhung ở dọc đường, và được nghe kể về chuyện U-Vương đã bị giết như thế nào. Lúc đó ông mới giật mình chợt tỉnh, thở dài thậm thượt và than:
 
–   Mình chỉ muốn mượn oai hùm để răn thiên tử, không ngờ lại thành ra kẻ phản quốc bất trung. Tiếng đời sẽ cười chê khó mà rửa được.
 
     Vua Khuyển Nhung nghe được, cười lên hô hố, chế nhạo Thân Hầu:
 
–   Quốc cựu thật là ngây thơ giống như con gái mới lớn, lúc nào cũng sợ bị dụ khị.
 
     Bao Tự ra khỏi thành, lén tách rời đoàn xa giá, giắt thái tử Bá Phục và một thị nữ trà trộn vào đám đông, ăn mặc như thường dân, theo đoàn người lánh nạn chạy về phía Bao Thành. Dọc đường, hai mẹ con bị Khuyển Nhung bắt. Chúng giết chết thái tử, còn Bao Tự thấy xinh đẹp, chúng định bắt đem về hầu trong trướng của vua Khuyển Nhung, nhưng nàng tự vẫn mà chết.
 
     Hồng Đức đang ở Bao Thành nghe tin kinh thành bị thất thủ, vội trở về để đi tìm Bao Tự. Trên đường chàng chứng kiến bao nhiêu là thảm cảnh của chiến tranh. Những bãi chiến trường còn vương mùi tử khí. Binh khí vương vãi khắp nơi không ai thèm lượm. Xác chết rải rác không có người chôn. Từng đoàn người lôi thôi, lếch thếch, lang thang không định hướng, không được tiếp tế. cũng chẳng được ai giúp đỡ. Mọi người đều phải tự sinh, và không thiếu người đã phải tự diệt. Hồng Đức đi từ sáng tới chiều, hỏi thăm từng người, lật xem từng xác chết trên đường. Cuối cùng chàng may mắn tìm được Bao Tự chết nằm bên bờ một con suối. Xem chừng nàng cũng mới chết chưa bao lâu. Một mũi đao xuyên qua ngực, đúng vào tim. Đao vẫn còn nằm trong đó. Máu khô bết lại nhuộm đỏ hết xiêm y. Chàng cẩn thận lục xét chung quanh tìm Bá Phục, nhưng không thấy. Chàng gói xác Bao Tự lại tươm tất cho lên xe rồi đẩy về xóm Hạc Lâm.
 
     Mái tranh xưa vẫn còn đó nhưng dột nát và tồi tàn đi nhiều. Ông già Tự Đại lọm khọm chống gậy ra nhận xác con gái. Lão đã già đi, tiều tụy và thiểu não, vẻ tinh anh đã biến mất. Hai người chôn xác Bao Tự bên cạnh căn nhà. Ông già lấy từ trong nhà ra một cái thúng nhỏ và một gói đồ. Cái thúng bằng mây đan rất tinh xảo. Gói đồ gồm một tấm nệm gấm nhỏ mầu hồng nhạt, và một vuông mền mỏng bằng lụa quí có thêu hoa ngũ sắc. Ông trao tất cả những thứ ấy cho Hồng Đức và nói:
 
–   Của nó. Nên đem theo cho nó.
 
     Hồng Đức đốt những thứ đó chung cùng với vàng mã khi hạ huyệt. Chàng thắp nhang, đứng trước ngôi mộ, nghẹn ngào nói với ông già:
 
–   Đây là người vợ yêu quí của con. Chúng con đã thành thân và đã có con. Cả hai mẹ con nàng đã vì con mà hy sinh mạng sống.
 
     Ông già không giám nhìn thẳng vào cảnh tượng trước mắt, hai tay ông run run, mắt nhắm nghiền, giọng thều thào như hơi gió:
 
–   Không phải vì một mình công tử không thôi, mà còn vì thiên hạ bá tánh nữa. Bây giờ thì con gái lão đang đoàn tụ với cả hai người mẹ của nó rồi. Nó đã có thể vui cười thoải mái như ý nó. Đây là cái giá phải trả cho một mơ ước đạt thành. Công tử cũng đừng quá đau buồn, nên vui lên mới phải vì các con đã trả được thù nhà và đã đền được nợ nước.
 
     Xóm Hạc Lâm đón đứa con thân yêu của nó trở về. Trời Hạc Lâm vẫn xanh. Rừng cây xanh. Đồi núi xanh. Và dòng sông xanh quanh co uốn khúc. Đứa con của Hạc Lâm có cái tên Bao Tự đã hoàn thành xuất sắc một sứ mạng cao cả. Giờ đây nàng xứng đáng được yên nghỉ giữa cái không gian đầy mầu xanh tươi đẹp này của Rừng Hạc.
 
 
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Theo: Văn Thơ Lạc Việt



BÔNG HỒNG NHUNG THỨ TÁM

Khi đưa Hằng lên phòng, Trí có cái phong cách của một người đàn ông đưa người tình vào khách sạn. Anh thản nhiên đến bên giường, ghé ngồi xuống, tháo giầy tháo vớ, rồi đến bên bà Hằng xoay mặt bà đối diện với anh. Bà Hằng chưa kịp phản ứng thì Trí đã khóa bà lại trong tay anh và hôn tới tấp trên mặt trên cổ bà.

BÔNG HỒNG NHUNG THỨ TÁM
Trần Mộng Tú
 
      Bà Hằng liếc vội vào trong chiếc gương nhỏ, thoa chút má hồng trên má, một mầu son thật nhạt. Bà không dám trang điểm mạnh sợ trông già, bà đã kín đáo ăn mặc trẻ trung hơn số tuổi của mình. Chỉ còn hai mươi phút nữa máy bay đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, người đàn ông trẻ hơn bà mười lăm tuổi sẽ đón bà bên dưới. Bà thấy hồi hộp chen lẫn một chút ngượng ngùng.
    Cả ba tháng nay bà đã e-meo, gửi ảnh, nói điện thoại với Trí. Trí bằng tuổi em út bà, nhưng Trí rất lịch lãm, nhìn trong hình thấy khá sáng sủa, Trí có giọng nói ấâm, không kiểu cách, Trí cho biết đang làm giám đốc một công ty du lịch tư nhân, hùn vốn với hai người bạn. Trí sẵn sàng làm người hướng dẫn viên, người yêu của bà Hằng sau ba tháng hai người biết nhau nhưng chưa biết mặt. Trí nói chưa lập gia đình bao giờ, bà Hằng vừa hoàn tất thủ tục ly dị được sáu tháng, không phải nuôi con nhỏ.
“Thật là tuyệt!” Trí nói tiếp
“Hằng hiểu là tình yêu không có tuổi phải không? Hằng ở trong hình không thể nào ở tuổi 55 được, ở ngoài chắc Hằng còn trẻ nữa”
Hằng giao cửa tiệm One Hour Photo của mình cho một người anh họ, về Việt Nam gặp Trí, với mọi người trong gia đình bà giấu, chỉ nói là nghỉ về thăm quê, thăm họ hàng.
 Trí đón bà Hằng với bó hồng nhung bẩy bông đỏ thẫm. Bà Hằng hơi khựïng lại một chút khi thấy Trí trẻ hơn trong hình rất nhiều, người đàn ông Việt Nam ở tuổi 40 ăn mặc không khác gì những người đàn ông Việt Nam  có tiền ở Mỹ. Quần xám đậm, áo xám nhạt ngắn tay, cà vạt vàng nhạt, hơi nới lỏng (cố ý) một chút để khoe một cái cổ ngăm ngăm hồng, khỏe mạnh.
Trí thuê một chiếc xe Camry còn mới, tự lái. Trí mở máy lạnh tối đa trước khi bà Hằng bước vào xe. Trí nhìn rõ cái bối rối của bà Hằng, Trí nhẹ nhàng trấn an bằng một câu hỏi:
   “Hằng có biết tại sao lại là 7 bông hồng mà không là 8 hay là 10?”
Bà Hằng chưa kịp trả lời thì Trí mỉm cười, giọng ấm áp nói tiếp:
    “Vì Hằng chính là bông thứ 8 rồi. Người Pháp không bao giờ tặng hoa cho phụ nữ ở số chẵn cả, vì họ luôn luôn kể nàng là một bông”
Bà Hằng lặng người đi một giây, từ lúc xuống máy bay đến phút này, bà mới gật đầu chào Trí, chưa nói được tiếng nào. Khi rời Mỹ, bà rất tự tin, bà nghĩ dầu sao bà ở Mỹ lâu năm, tiếp cận đời sống văn minh hơn, nói tiếng Mỹ khá hơn và trẻ hơn những người đàn bà khác cùng tuổi bà ở Việt Nam rất nhiều, Trí sẽ thán phục, và mê bà rất nhanh.
Trí đã lấy sẵn buồng trong Continental cho bà, sau khi làm thủ tục giấy tờ, Trí không hấp tấp nhận phòng, anh cất chìa khóa của bà vào túi áo mình. Với cử chỉ lịch lãm, tự nhiên, anh nâng nhẹ khuỷu tay bà Hằng nói:
“Hằng cần uống một chút gì cho mát trước khi lên phòng”
 Bà Hằng gọi một ly nước dừa tươi, trong khi Trí uống bia. Hai người im lặng nhìn nhau. Đây là lúc cả hai cùng định giá kể đối diện. Trí uống một ngụm bia, nheo mắt nhìn bà Hằng một giây, khẽ mỉm cười, rồi ngửa cổ ra đằng sau hơi duỗi người ra một chút trên ghế, chiếc sơ mi mỏng cho khí hậu nhiệt đới bám sát vào mình chàng, cho bà Hằng nhìn rõ thân thể còn quyến rũ của người đàn ông trẻ, bà bối rối nhìn vào cây hoa bông giấy qua vai Trí. Trí như đọc được tư tưởng của bà Hằng, nói một câu vừa khen vừa trấn an:
 “Hằng trẻ hơn tôi hình dung nhiều”
 Bà Hằng tuy hài lòng, nhưng bắt đầu cảm thấy hơi bất an.
 Khi đưa Hằng lên phòng, Trí có cái phong cách của một người đàn ông đưa người tình vào khách sạn. Anh thản nhiên đến bên giường, ghé ngồi xuống, tháo giầy tháo vớ, rồi đến bên bà Hằng xoay mặt bà đối diện với anh. Bà Hằng chưa kịp phản ứng thì Trí đã khóa bà lại trong tay anh và hôn tới tấp trên mặt trên cổ bà. Khi bà vừa kịp nhập vào đà cuốn hút của Trí, thì  lại đúng lúc Trí buông bà ra. Anh cúi xuống đi vớ đi giầy, nói nhẹ nhàng với bà:
“Em nghỉ một chút cho thoải mái, Tôi sẽ trở lại đón em chiều nay, mình đi ăn, đi chơi.”
 Chữ “em” Trí gọi bà, làm bà quên bẵng đi cái khoảng cách 15 năm giữa bà và Trí.
   Bà Hằng ở lại Việt Nam hai tuần, bà tiêu đến đồng mỹ kim cuối cùng của  số tiền tám ngàn mang về. Trong đó có tiền khách sạn, tiền du lịch, tiền may sắm cho người tình trẻ. Bà không hối hận, bà tự nhủ ” Nếu như Trí có quên bà ngay, sau khi bà rời Việt Nam thì cũng là chuyện tất nhiên, bà nhiều tuổi hơn Trí quá, bà chẳng trông mong gì một mối tình lâu dài. Đây là một sự trao đổi lịch sự. Cả hai cùng biết giá của món hàng mình phải trả”
Nhưng thật sự bà Hằng có hạnh phúc trong hai tuần lễ đó không thì chỉ có mình bà trảï lời được. Cách đây 3 năm, ông Tâm chồng bà, đã về Việt Nam lấy một người con gái hơn con gái đầu lòng của ông bà hai tuổi. Ông Tâm lấy lén lút, và tìm cách cứ vài tháng lại vềâ du lịch Việt Nam một mình. Bà Hằng biết được, ông Tâm ra điều kiện li dị hẳn hay chấp nhận cho ông một cảnh hai quê. Bà Hằng vì tự ái, chọn giải pháp li dị.
Để trả thù, bà đi mỹ viện chỉnh trang lại nhan sắc, đi ghi tên tập thể dục thẩm mỹ, đi học khiêu vũ, và cuối cùng bà nghe lời bè bạn, vào internet tìm bạn phương xa. Phong trào về Việt Nam tìm bạn trai trẻ tuổi hơn mình không còn là vấn đề phải tránh né khi đề cập đến. Đã có nhiều bà bạn hơn bà 5,6 tuổi. Nghĩa là đã sáu mươi vẫn kiếm được người yêu, người bồ kém mình mười tuổi rất thường. Các bà quan niệm đàn bà sống lâu, trẻ dai hơn đàn ông, nhất là đàn bà sống ở Mỹ. Tiền bạc và những tiện nghi vật chất đã giúp các bà không những có bề ngoài trẻ trung mà trong tâm họ cũng quên đi một số năm tháng đã đi qua đời mình.
 Trong hai tuần ở Việt Nam, bà Hằng được Trí chiều chuộng hết sức, coi bà như một người tình bé bỏng. Khi Trí dưa bà lên núi thì bà tưởng chàng là Sơn Tinh, vì chàng vừa leo dốc vừa đỡ bà mà không biết mệt, khi chàng đưa bà xuốùng biển thì bà ngỡ chàng là Thủy Tinh vì chàng bơi giỏi quá, thân thể chàng còn đẹp quá! Bà mơ màng nghĩ kiếp trước có thể bà là Mỵ Nương con của vua Hùng Vương thứ 18 nên kiếp này mới gặp Trí. Chỉ khi Trí tiêu tiền của bà thì bà hơi hốt hoảng, nhưng bà vội nhủ lòng. “Tiền bạc mà làm gì, lúc chết đâu đem theo được, hãy tận hưởng mối tình cuối đời, ta đang mua hạnh phúc mà”
Bà Hằng ngồi trên máy bay trở về Mỹ, nhìn qua khung cửa sổ nghĩ đến Trí đang đi tìm mua một bó hồng nhung 7 đóa để đón một người đàn bà khác trong chuyến bay sắp tới. Bà hình dung ra nét cười nhẹ, cử chỉ lịch lãm, giọng nói ấm áp của Trí khi nói về bông hoa thứ 8 với một người đàn bà ít ra cũng hơn chàng cả 10 tuổi.
Phi đạo xa dần, nhà cửa bé lại, cây cỏ mờ nhạt. Tất cả bỗng biến mất chỉ còn lại những từng khí quyển chồng lên nhau như ngàn chiếc dù trắng, xóa sạch cả núi của Sơn Tinh, cả biển của Thủy Tinh….. . . Bà Hằng ôm ngực kêu lên trong cuống họng:
” Ôi Mỵ Nương!”

Trần Mộng Tú
Theo: Văn Thơ Lạc Việt



TỪ SƠN LA

…Cho đến bây giờ không biết vì lý do nào mà tên thượng úy hầm hừ ấy đã bỏ qua cho chúng tôi. Có thể vì những tấm mộ bia, nghĩ đến những người anh em xấu số của chúng tôi đã chết vì đói lạnh… hoặc là phong thái “đại hùng, đại lực, đại từ bi” của con nhà Phật trong phút giây nào đó đã khơi dậy được “chút tính người còn sót lại” trong y?

TỪ SƠN LA
Trời Sydney năm nay lạnh hơn mọi năm. Đêm đông buốt giá, phải trở dậy kiếm cái heater. Mở đèn lên, nhìn ra ngoài vườn, sương đêm đã đọng thành một màn băng mỏng. Nhìn màn băng mỏng trên sân, ký ức tôi bỗng trở về cái lạnh buốt xương năm 1976, khi tù cải tạo miền Nam năm đầu tiên ra Bắc. Tụi tôi được “chiếu cố” cho ở Sơn La, địa danh nổi tiếng “Nước Sơn La, ma Vạn Bú”. “Sơn La âm u, núi khuất trong sương mù”.
   Tù cải tạo thuộc trại 1, liên trại 2 được phân ra ở trong trại tù Sơn La thời Pháp thuộc. Sau nhiều cuộc biến thiên, nhất là sau vụ ném bom miền Bắc, các trại tù này đã đổ nát, chỉ còn lại cái nền xi măng. Nhà tù đã đổ bây giờ được che tạm bằng ni lông, hoặc lợp bằng tranh mỏng. Sơn La là miền cao nên lạnh sớm. Mới tháng 11 gió bấc đã lồng lộng thổi về. Đến cuối tháng 12, lạnh vào cao điểm… Chậu nước để ngoài sân, qua đêm đã đọng thành băng mỏng bên trên.
Tù thì nóng cũng khổ, lạnh cũng khổ. Nhưng nóng thì đôi khi còn trốn được. Tạt vào một lùm cây hoặc là tạm ngâm mình xuống ao, xuống suối. Còn lạnh thì không trốn vào đâu được, nó theo mình suốt ngày, suốt đêm. Nhất là anh em trong Nam ra cứ yên trí là “học tập một tháng”, nên quần áo đem đi làm gì nhiều cho nặng. Ra ngoài Bắc đụng cái buốt giá của mùa đông thượng du miền Bắc, thêm mưa phùn ẩm ướt nên cái lạnh lại càng thấm thía. Ban đêm cái nền xi măng trong nhà tù nó lạnh như nước đá, mặc đủ thứ áo quần hiện có mà vẫn lạnh, mặc cả áo mưa đi ngủ, có anh chui vào
một cái bao tải vừa kiếm được mà vẫn cứ run. Hóa ra cái lạnh ở ngoài vào thì ít mà cái lạnh ở trong ra thì nhiều. Cái lạnh vì đói cơm nhiều hơn cái lạnh vì thiếu áo.

Hồi đó nằm cạnh bên tôi là hai người bạn tù cùng trong đội rau… Một ông nguyên là dân Thiết Giáp, một ông nguyên là Thượng Tọa (giám đốc nha Tuyên Úy Phật giáo). Ông Thiết Giáp trước đây vốn là một tay hào hoa rất mực.
Ông thuộc loại “Tây con”, học trường danh tiếng Saumur, đánh giặc rất chì, ăn chơi rất bảnh… Đôi lần tâm sự vụn, ổng rút trong ngực áo ra có tấm ví có hình một bà rất đẹp, rất mignonne mà khẽ nói “bà xã
moi”. Đôi mắt đục và nhăn vì đói lạnh của ông chợt sáng lên khi nhìn lại hình ảnh vợ. Mới đây ổng vừa nhận được một gói quà 1kg đầu tiên từ trong Nam gửi ra. Ông hy vọng lắm vì có người nhận được ít thịt khô, ít ruốc chà bông. Gói quà của ông, xem đi xem lại mãi chỉ có một cái áo lạnh và đặc biệt có hai
cái quần slip màu hồng nhạt, chắc là của phái nữ. Tôi không tiện tò mò, hỏi han về việc riêng của bạn nhưng tôi chắc bà xã của bạn phải yêu thương lắm, phải lãng mạn lắm mới gửi món quà để “tưởng nhớ một mùi hương” như vậỵ. Đôi khi rảnh rỗi, ông bạn tù hàng xóm của tôi lại khẽ giở món quà
đặc biệt ra hồi tưởng…
Trước đây ông bạn tôi thường hút Luckỵ. Đi cải tạo ông mang theo một cái pipe Dunhill và vài hộp thuốc Half and Half. Nhưng đã lâu rồi hết thuốc hút pipe, ổng cũng như mọi người khác hút thuốc lào. Quá nửa đời người rồi mới biết cái hấp dẫn của thuốc lào. Nhất là mùa rét, sáng sớm tinh mơ ngồi dậy, hút một điếu đầu tiên trong ngày, cho nó say lơ mơ quên trời, quên đất, quên cảnh lên voi xuống chó, quên luôn cảnh lưu đày tù tội. Ôi phút tuyệt vờị…Thuốc lào hấp dẫn như vậy nên trong tù
đã có thành ngữ “Có thuốc lào là có tất cả”. Nhưng ở miền Bắc cái cần thiết nhất là gạo, ăn còn không đủ thì lấy đâu ra thuốc lào cho tù. Đành trông chờ vào quà của gia đình gửi tới. Nhưng trong những chuyến gửi quà đầu tiên, có mấy ai được  nhận thuốc lào. Thuốc lào thành của hiếm…
Ở trong tù cái gì thiếu cũng chấp nhận được, nhưng thiếu thuốc lào là một thiếu thốn rất lớn lao. Thuốc lào không những làm quên hiện tại mà thuốc lào còn là dấu móc để người tù cải tạo thêm kiên nhẫn đi tiếp cuộc đời tù dằng dặc. Trong trại không có ai có quyền đeo đồng hồ. Phải gửi đồng hồ cũng như những đồ tùy thân có giá ở trại. Ngày ngày đi làm, cuộc sống khổ sai nhọc nhằn, đời tù hun hút, thời gian mịt mờ.
Trong khi đó quy định của trại giam cứ một tiếng rưỡi đồng hồ lao động là có “kẻng” nghỉ 10 phút “hút thuốc, uống nước”. Điếu thuốc lào ở trên một cái đích gần gũi để người tù vươn tới, một đoạn đường dù ngắn nhưng sắp đến nơi. Nó cũng là một an ủi nhỏ sau hơn một giờ cực nhọc. Vì vậy nên dù khó kiếm, dù đắt đỏ, cũng không ai muốn bỏ thuốc lào. Những tay có thuốc lào thấy vậy nên càng ngày càng lên giá. Một phần ăn sáng (một phần tư chiếc bánh mì luộc) trước đổi được 5 điếu thuốc lào, sau
xuống giá còn 3, rồi còn 2 điếu… Người ta sẵn sàng quên đi cái đói để đổi lấy một vài phút say quên.
Anh bạn tù hàng xóm của tôi, nghiền thuốc lào quá nặng, rét đến nơi mà không thuốc hút. Anh liền lấy cái pipe Dunhill nổi tiếng của Ăng lê ra đổi thuốc lào. Được chừng 10 hôm là hết thuốc. Có người mách lấy lá ngải cứu phơi khô thái nhỏ hút vô nghe được lắm. Anh bạn tôi nghe lời, phơi đi phơi lại lá ngải cứu trộn thêm với nước điếu và một chút nước mắm, một chút đường. Hôm hoàn thành thuốc lào
ngải cứu, anh có mời tôi hút thử, cũng thấy say say nhưng không êm bằng thuốc lào, mà rát cổ họng. Ông bạn tù Thượng tọa mới bảo rằng không nên hút cái giống ấy, hao người, hao phổi. Nhưng anh bạn tôi thèm thuốc quá cứ hút thuốc ngải cứu cho đỡ thèm. Một hôm, vừa hút xong, chưa kịp đặt cái điếu cày xuống, máu mũi anh đã chảy ròng  ròng.,..

 Mùa đông đầu tiên ngoài Bắc, anh bạn tù hào hoa một thuở của tôi vừa đói, vừa lạnh, vừa thèm thuốc. Theo anh thì mùa lạnh ở VN khó chịu hơn bên Tây nhiều mà lạnh nhất là hai cái taị “Nhiều khi tôi cứ tưởng hai cái tai lạnh cóng của tôi nó rụng mất rồi”. Anh vừa nói, vừa run lập cập. Một buổi tối trời vừa lạnh, vừa mưa, lán lợp giấy nilong, nước mưa giột tí tách, anh bạn tù của tôi chợt có sáng
kiến mớị Anh lấy chiếc quần slip của vợ gửi cho chụp lên đầu, kéo sụp xuống tận mí mắt, che kín hai taị Trong cái chập choạng của một ngọn đèn dầu hỏa, tôi thấy anh “không giống ai”, mà trên thế giới này chắc không thể có một cái mũ, cái nón nào ly kỳ đến vậỵ Anh nhếch một nụ cười, vừa hài lòng
vừa ngượng ngập và khẽ nói: “Cho nó  ấm hai cái tai mà đỡ nhớ thương vợ con, ông ạ…”
Dạo ấy, tù cải tạo còn thuộc quyền quân quản, thuộc Bộ quốc phòng, chưa thuộc Bộ nội vụ. Quân đội trông nom tù, chưa phải công an. Anh em chưa phải vào các trại tù mà ở trong các lán, có dây thép gai bao quanh và bộ đội canh gác ở ngoài. Buổi tối chưa có lệ vào phòng giam, xích cửa lại, gióng sắt đưa lên giam tù trong đó suốt đêm, sáng mai mới tháo xích, mở cửa, ăn uống, ỉa đái trong đó luôn như các trại tù công an sau này. Nhưng mỗi tuần vài ba lần thế nào quân đội Vi Xi cũng có kiểm tra đột xuất,
mà kiểm tra thường vào ban đêm. Nghe tiếng còi gắt gỏng rít lên là anh em phải vội vàng trở dậy, mắt nhắm mắt mở chạy ra sân đứng xếp hàng 2 để cho cán bộ kiểm soát. Anh “lán trưởng” sau khi kiểm lại số người trong lán, đứng nghiêm báo cáo. –  Báo cáo cán bộ, lán 4 trại 1, 30 người đủ. Tên Thượng úy chính trị viên cầm đèn pin, đứng cạnh một anh lính mang AK tùy tùng, hất đầu ra lệnh:
– Được, cho vào.
Tù hàng hai lần lượt kéo nhau vô lán. Anh bạn tù Thiết Giáp của tôi đang giở thức giở ngủ nên lật đật cứ đội nguyên cái “mũ” không giống ai ra xếp hàng. Khi anh vừa đi qua tên Thượng úy, chợt có tiếng giật giọng:
– Anh kia đứng nại.
Tất cả anh em vô lán hết, chỉ còn NVP Thiết giáp đứng co ro ngoài cửạ Anh em lắng nghe cuộc
đối thoại bên ngoài:
– Cái này là cái gì?
– Dạ… cái quần…
– Ở đâu ra?
– Vợ tôi gửi cho tôi.
– Tại sao mà anh “nại” đội cái quần
của vợ anh…
– Tại trời lạnh quá… mà không có mũ…
– À, anh này bôi bác chế độ. Anh tên gì? Mai
nên nàm việc…

Tên Thượng úy Vi Xi này anh em trong trại đặt tên là “Thượng úy Không No”. Tuần nào sáng thứ Hai, y cũng lên lớp anh em về mọi thứ chuyện trên trời, dưới biển. Nói thì ngọng líu, ngọng lo, “l” đánh ra “n”
nhưng lúc nào cũng thở ra giọng “đỉnh cao trí tuệ”. Một hôm trong đề tài “an tâm học tập, cải tạo” y ta lên tiếng: “Các anh không no, gia đình các anh không no, nhân dân không no, đã có đảng và nhà nước no”. Mọi khi, y ta nói trời trăng mây nước gì, tù cũng cứ ậm ừ, coi như gác bỏ ngoài tai. Bữa ấy, khi vừa nghe y nói tới đó, đám bạn tù cải tạo bỗng phát lên một trận cười rầm rĩ cũng với tiếng vỗ tay vang dậy. Y ta tưởng bở, lại càng đỏ mặt tía tai lên mà nói tiếp…
Nhưng sau này không biết có tên “thối mồm” nào đó mới lý giải cái cười rôm rả và tiếng vỗ tay không ngớt của tù cải tạo cho y. Y ta giận lắm. Giận lắm nên y hành hạ anh em tù sát ván. Một anh bạn tù đói quá, nhổ trộm khoai mì (sắn) mọc trên sườn non. Trước đây, cái tội như thế này chỉ bị cảnh
cáo trước đội, rồi viết kiểm điểm “rút kinh nghiệm” là xong. Kỳ này, chính trị viên “Không no” liền nhốt anh bạn nhổ trộm sắn 1 tuần vào trong cái cũi dây thép gai, một kỳ công của đỉnh cao trí tuệ. Đây là một túp lều, nhưng một túp lều quây bằng dây kẽm gai. Không có tường mái, chỉ có một tấm bạt được coi như mái lềụ Ở trong dây thép gai quấn ngang dọc, chằng chịt cao thấp. Người vô ở trong đó phải cẩn thận lắm không thì bị gai cào  rách lưng, rách mặt, đặc biệt là ngồi không được vì thấp quá, nằm cũng không được vì không đủ chỗ. Lúc nào cũng phải nửa nằm, nửa ngồi cứ lom khom, lom khom…
Chính trong thời điểm này anh bạn tù Thiết Giáp của tôi lên gặp “y ta làm việc”. Khi về NVT mặt mũi chảy dài. Anh cho hay là cán bộ “không no” tuyên bố không cho anh đội cái mũ “thiếu văn hóa” ấy nữa. Anh phải làm kiểm điểm” hứa trước đảng và nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh lệnh của cán bộ”. Buổi tối, bên ngọn đèn dầu tuôn khói mịt mù, anh bạn thiết giáp của tôi thở phào phào ngồi viết kiểm điểm, vừa viết vừa run vì đói lạnh, vì không có cái mũ che tai…
Chợt ông bạn hàng xóm bên phải của tôi là Thượng tọa Thích Thanh Long (nguyên giám đốc nha
tuyên úy Phật giáo) từ từ lên tiếng:
– Đừng có lo, rồi đâu có đó…
Nói xong, ông khẽ lục trong đám quần áo của ông lấy ra một tấm áo nâu dài, tấm áo “Thượng tọa” của ông mà đưa cho ông Thiết Giáp.
– Hãy cứ quấn cái áo này lên đầu cho ấm…
Rồi ta tính…
Chúng tôi, ông Thượng tọa, ông Thiết Giáp, và tôi, là 3 người trong số 1 tổ “tam tam” trong đội rau. Ba người chúng tôi phụ trách một khu rau ở bên bờ suối, cạnh bệnh xá và khu B dưới gốc cây lim già… Chúng tôi cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm… nên hiểu nhau nhiều lắm.
Được làm với ông già này là một điều may mắn lớn. Vì ông Thiết Giáp với tôi, từ xưa đến giờ đâu có biết cày cuốc, trồng rau trồng củ ra làm sao đâu. Ông già Thượng tọa chỉ vẽ cho chúng tôi hết thảy. Từ cách cầm cái cuốc, cái thế đứng khi cuốc phải như thế nào? Cuốc hùng hục “như trâu đánh mả”
như tôi là không được. Cuốc như thế là “cuốc lật” dành cho việc cuốc ruộng, cuốc vườn. Ở đây trồng rau thì cuốc phải “đầm”, nhẹ nhàng, từ tốn như mưa dầm, mưa lâu thấm đất. Cuốc hùng hục như tôi
thì sức đâu mà cuốc cả ngày cả buổi. Ông cụ còn chỉ cách sử dụng các loại cuốc thật nhỏ, chỉ lớn hơn
cái bay thợ nề một chút thôi. Rồi còn ủ phân, pha nước tiểu, tưới bón, trồng trọt…
Mỗi loại rau, mỗi thời kỳ đều tưới bón khác nhau, lúc nhỏ tưới bón khác, lúc lớn phải bón thúc lại khác. Bây giờ chúng tôi đang trồng rau cải ngồn ngộn, những trái su hào no tròn…
Đi tưới nước giữa hai hàng cây cải tốt tươi, tiếng vòi nước hoa sen dội vào lá cải nghe rào rào, ông cụ ung dung làm việc, thần thái an nhiên. Ngoại cảnh hình như không ảnh hưởng được đến ông cụ. Ông giống như một ông già nhà quê thuần hậu, quanh quẩn bên cây lá trong vườn. Ông hình như không lo, không sợ cái gì.
Ông nói ít, cái câu thường thấy ở ông cụ là:
“Đừng có lo, rồi đâu có đó”…
Để cho cái việc của ông bạn Thiết GIáp “đâu có đó” đối phó với anh thượng úy “không no”, ông cụ Thanh Long một ngày chủ nhật sau đó liền cắt cái vạt áo dài nâu “Thượng tọa” của ông lấy vải may cho
ông bạn Thiết Giáp một cái mũ đội đầu. Bàn tay già nua run rẩy (năm ấy 1976 ông cụ đã 63 tuổi) đường kim mũi chỉ cũng thô sơ vụng về nhưng ông bạn Thiết Giáp đón nhận cái mũ mà rưng rưng xúc động. Ông cụ đã cắt chiếc đạo y ra may mũ. Ai cũng tiếc chiếc áo dài theo ông cụ đã lâu, chắc mang nhiều kỷ niệm tu hành của một vị cao tăng, nhưng ông cụ chỉ cười xòa mà nói: “Thì nó cũng chỉ là cái
áo…”
Đã lâu lắm rồi, người địa phương ở Sơn La nói vậy, mới có năm quá lạnh như năm nay. Đúng là “giậu đổ bìm leo”, vào cái lúc mà tù cải tạo ra Bắc, lại đụng ngay một trận rét kinh hồn… Mà xưa nay cái lạnh và cái đói nó có liên hệ “hữu cơ” với nhau. Càng đói thì càng rét – mà càng rét thì càng đói. Anh em ta đã có người “nằm xuống” vì đói lạnh. Vũ Văn Sâm (viết văn, làm nhạc) chết đêm 16 rạng 17 tháng 11 năm 1976 bên bịnh xá, sau cơn gió mùa đông bắc đầu tiên. Đến đầu tháng giêng 1977 (không rõ là ngày 3 hay 13 tháng giêng, tôi nhớ không được kỹ lắm) Ngô Quý Thuyết tòa án quân sự vùng 4 cũng đi luôn, đi
rất êm đềm, rất lặng lẽ. Sáng ra không thấy anh ta dậy nữa, lay chân gọi dậy thì người đã lạnh cứng từ lúc nào rồi. Trong tờ khai của  đội trưởng đội của anh NQ Thuyết, có nói rằng “Anh NQ Thuyết được đội cử nuôi heo, anh đói quá nên thường ăn vụng cám heo. Chắc là bị ngộ độc nên đã
chết”.
Ở xứ thượng du này có cái rất sẵn là đá và cỏ. Những bữa trời quang mây tạnh, trèo lên núi kiếm lá về ủ phân, thấy bát ngát toàn núi là núi. Những chỏm núi gần xa, chập chùng ngút mắt trông giống y như một màng lưới bao la mà mỗi ngọn núi là một mắt lưới. Sơn la: lưới núi. Hay thật, đúng y như thế thật. Tù mà ở trong cái lưới núi này thì chạy đi đâu cho thoát. Vì nhiều núi nên có nhiều loại đá. Một
bạn tù trẻ tuổi ở khu B bên cạnh, Vũ Xuân Th. tay biệt kích dù mũ xanh kiệt hiệt có khá nhiều tài: đóng ciné, điêu khắc, vẽ, đánh bóng chuyền có hạng, mưu sinh kỳ tài… Bây giờ Vũ Xuân Th. kiếm ăn lần hồi những khi rảnh rỗi bằng cách chọn đá marble về gọt thành nõ điếu hút thuốc lào. Nõ điếu made in Vũ Xuân Th. thì khỏi nói, vừa  đẹp vừa có khắc hoa, khắc chữ (theo yêu cầu) vừa kêu ròn rã không thể tả. Giá rẻ thôi: một ký sắn hay 2 cục đường tán 1 cái. Tôi và Vũ Xuân Th. là chỗ “bồ tèo” nên Vũ Xuân Th. có tặng một cái nõ điếu tuyệt vời: rất kêu (cái này là dĩ nhiên rồi) mặt trước có khắc nổi hình một con diều hâu đậu trên cành thông, một bên là một đóa hoa hồng, một bên nữa là khắc năm tháng… Khi đem tặng cái nõ điếu, Vũ Xuân Th. mới “bốc láo” rằng:
-“Một đóa hồng cho đại bàng cô đơn đây”.
-“Đại bàng đại biếc gì nữa ông ơi, đáng lẽ ông phải khắc một con quạ già mắc bẫy”.
Trong khi đó ông bạn già Thượng tọa của tôi cũng đi kiếm đâu được mấy mảnh đá dài dài.
Lúc nào rỗi rãi lại thấy ông cụ ra bờ suối mài mài, đục đục…. Một hôm tôi thấy trong lều dụng cụ của tổ rau tụi tôi, hình dạng hai tấm bia đá thô sơ có khắc tên Vũ Văn Sâm, mất ngàỵ.., Ngô Quý Thuyết mất ngàỵ..

Tôi nhấc tấm mộ bia lên, nhìn ông cụ? Ông cụ ngó mông ra khoảng rừng núi chập chùng mà nói:
“Thì cũng mong đánh dấu được vài nắm xương tàn.”
Một sáng mùa đông vào khoảng nửa buổi, tôi đang lặc lè 2 thùng “ô doa” (arrosoir) tưới nốt cho khoảng vườn rau trước mặt, gần nhà bếp khu B thì bỗng có tiếng gọi khe khẽ, khẩn trương:
– Này, này?
– Ai đấy?
– Vũ Xuân Th. đây.
– Làm gì đấy?
– Bữa này làm “chảo trưởng”. Thổi cơm nhà bếp. Ăn cháy không?
Tại sao mà bạn ta hôm nay lại hỏi một câu “thừa thãi” như thế nhỉ. Tôi và Vũ Xuân Th. đều là dân “volley”. Tôi thì già rồi còn Th. thì đang sức. Trong làng “bóng chuyền” tụi tôi, mỗi khi mà cây nêu lỡ tay
nêu sang lưới bên kia thì dân bóng chuyền kêu bằng “cơm nắm cho tù”, nghĩa là đối phương được biếu không một trái banh ngon lắm, bổ lắm, chắc ăn lắm, ít khi có lắm. Bây giờ chúng ta là tù “chính cống bà lang trọc” rồi, đói lòi xương, vàng mắt mà lại còn hỏi “có ăn cháy không?”. Chừng như nhận ra
sự vô duyên của mình, Vũ Xuân Th. vội nói:
– Chạy ra góc vườn lấy mảnh lá chuối lại đâỵ
– Có ngay.
Sau đó từ cái lỗ mắt cáo của hàng rào nhà bếp khu B, qua đám lá duối và dây leo bìm bìm, tôi nhận được từ bạn ta Vũ Xuân Th. một cái gói lá chuối âm ấm, nóng nóng. Để ngay cái gói này áp sát vào bụng, mà đi về dưới gốc lim già bên bờ suối, nơi cái lều nhỏ của tiểu tổ chúng tôi.. Ôi chao, cái làn da bụng lép kẹp của tôi đang được sưởi ấm, đang được phỉnh nịnh. Cái may mắn này ít khi có lắm. Tôi
phi về như bay. “Tây con” Thiết Giáp thấy tôi mặt mày tươi rói liền ngẩng đầu lên hỏi:
– Cái gì mà hí hửng thế?
Tôi bước vô lều, nhìn trước nhìn sau, rút từ trong bụng ra gói lá chuối còn tươm khó. Mở ra, miếng cháy vàng rộm, nóng hổi, đang bốc hơi.
“Tây con” sáng mắt ra, vội hỏi:
– Ở đâu ra thế?
Tôi chỉ sang khu B mà khẽ nói:
– Bạn vừa cho…
Tôi để phần ông cụ một miếng, ông cụ đang bận tay ngoài chỗ “cây giống”. “Tây con” và tôi chia nhau miếng cháy nóng, vừa ăn rau ráu vừa hít hà. Từ sáng đến giờ, mỗi đứa chúng tôi xách ít ra cũng hàng trăm đôi nước, chân tay, mình mẩy rã rời, bởi vì buổi sáng có cái gì vào bụng đâu. Dạo này hết bột
mì cứu trợ rồi. Cái gọi là “bữa sáng” chỉ là một chén cháo bột khoai mì loãng đầy mùi hôi mốc. Không ra đâu vào đâu. Mùa lạnh nước suối cạn, phải lần xuống dưới lòng suối mới múc được nước. Leo lên
bao bậc đá trơn, tay xách đôi thùng tưới, miệng thở dốc, sức cứ oải dần, tay chân càng lúc càng nặng trĩu, nhấc không muốn nổi. Trời thì lạnh và ẩm. Cái rét thượng du miền Bắc rất thấm, rất sâu. Người Bắc kêu bằng rét ngọt. “Cái  ngọt nó lọt tận xương”, lại thêm xách nước nên áo quần thấm nước suối. Cái lạnh bên ngoài cái đói bên trong nó hành mình tơi tả.
Đang khi sức cùng lực kiệt, đầu váng mắt hoa như thế thì có miếng cháy nóng này…”Ôi món quà từ trên trời rơi xuống”. Chưa có món bánh mì nào trên thế giới có thể sánh được với miếng cháy.
Ông cụ ăn từ tốn, không có ào ào như tụi tôi. Ông cụ làm còn nhiều, còn mạnh hơn tụi tôi nữa mà hình như ông già không thấy mệt mỏi. Lúc nào cũng nhẩn nha, lững thững mà việc gì cũng xong. Ông cụ vẫn nói “từ lúc nhỏ đi tu ở nhà chùa…. thì tôi vẫn làm lụng như thế này, cũng dưa cà như thế này… chỉ tội
nghiệp các ông…” Ông cụ chỉ vẽ cho chúng tôi cách làm vườn, trồng cây, bón tưới…
Những công việc gì khó khăn, vất vả ông cụ giành lấy mà làm. Như cái món lấy phân bắc (phân người) về ủ, ông cụ cũng tự tay làm lấy. Hôm nay, sau khi ăn miếng cháy xong, ông cụ khẽ nheo mắt, tay giơ một nhúm thuốc lào mà nói “hút đi”. Thuốc lào thật, dẻo quánh, thơm nồng, đâu phải thuốc lào “ngải
cứu” hay thuốc lào “lá cải khô”.
 – Hút luôn hở cụ. Hay là xái nhì, xái ba?
– Hút luôn đi.
Trong cái lúc thuốc lào khan hiếm như lúc này, nếu có thuốc lào thật, đâu có dám hút luôn cả điếu. Phải hút xái nhì, có khi xái ba, tức là một điếu thuốc mà hút 2 hay 3 người. Người thứ nhất châm lửa, rít một hơi, người thứ 2 rít một hơi, rồi người thứ 3 hơi cuối cùng. Người nào mà được hút cuối cùng là “đặc biệt”, vì được hưởng cái hậu, được rít kêu lóc cóc… Hôm nay, trúng số rồi. Vừa được ăn “bữa lỡ”, lại có thuốc lào thật rít thẳng tay. Tôi hút xong điếu thuốc lào mà say lừ đừ. Từ mấy bữa nay, hôm nay mới có thuốc lào thật. Còn toàn hút thuốc lào “lá cải già tẩm nước điếu phơi khô”. Ăn xong, hút xong thấy đời sáng láng, phơi phớị Tôi liền tà tà đi ra gần chỗ nhà bếp, đằng hắng lấy giọng mà thưa với bạn ta  rằng: “Tương phùng được buổi hôm naỵ.. Trùng phùng lại nhớ giờ này hôm sau”.
Tôi nghe thấy tiếng cười rinh rích rồi Vũ Xuân Th. vừa cười, vừa nói vọng ra:
– Được rồi, hiểu rồi… ông nội … Cứ
khoảng giờ này ngày mai ông lại tới đây… Nhưng mà khéo léo đấy nhá.   Thế là cứ vào khoảng nửa buổi, 9 giờ rưỡi mười giờ sáng những ngày sau đó, mỗi khi thấy bạn tôi “chảo trưởng” ra cơm, tiếng
xẻng khua xuống chảo gang kêu xoèn xoẹt, là tôi lại lững thững giả vờ bắt sâu bọ, bên bụi ruốị.. rồi lĩnh từ tay bạn ta một gói cháy vừa chín tới mang về…
Nhưng cái thời gian “bồi dưỡng” này không được bao lâu. Chừng hơn nửa tháng sau, bạn tôi Vũ Xuân Th. đã rời khỏi nhà bếp, ra làm công việc khác. Nguồn tiếp tế của tụi tôi bị cắt. “Phúc bất trùng lai họa vô đơn chí”, bạn Thiết Giáp NVP của tụi tôi cũng điều sang đội chăn nuôi.
Cái khu rau này, thượng úy “không no” tuyên bố: “Chỉ cần 2 người cũng đủ. Các anh khắc phục”. Công việc 3 người làm trước đây đã “bá thở” bây giờ còn lại có 2 người. Ông cụ gần như bao giàn hết công việc cũ của NVP nhưng tôi vẫn phải làm thêm. Nhưng điều đáng phàn nàn là trong thời gian bồi dưỡng vừa qua cái bao tử của tôi nó bắt đầu quen ăn “bữa lỡ” hồi 9, 10 giờ sáng rồi. Bây giờ “ăn quen nhịn không quen” cứ nửa buổi là tôi phờ phạc, đói mịt mờ, cất chân, cất không muốn nổi. Thấy tôi rũ rượi như “gà chết” ông cụ một bữa nhìn tôi rồi chắt lưỡi: “Đừng có lo…” Ông cụ cầm con dao, xách cái bị cói
phăng phăng, chừng nửa giờ sau ông cụ về, đặt phịch cái bị vào trong bếp. Trong cái lều nhỏ của tụi tôi, lúc nào bếp cũng cháy lim  dim, vừa để đun nước, hút thuốc vừa để sưởi những lúc nghỉ tay… Bây giờ ông cụ quạt lửa lên, lấy mấy củ sắn ở trong bị ra bỏ vào bếp nướng. Ông cụ bảo tôi ra ngoài coi
“động tĩnh”. Tôi lại bắt đầu mừng vì có đồ ăn, nhưng lại ghê vì tôi biết ông cụ vừa lên trên đồi lấy sắn của trại. Ở các trại tù hoặc các nơi đóng quân của Vi Xi, ở chung quanh thế nào cũng có một số đất đai
thống thuộc. Ở vùng đồng bằng hoặc trung du thì trồng lúa, trồng ngô khoai trồng trà, trên thượng du như Sơn La này thì trồng sắn, trồng ngô, trồng mía. Thứ sắn lưu niên để từ năm này sang năm khác, coi như là nguồn lương thực dự trữ. Đây là thứ cây lương thực dễ trồng nhất trong thiên hạ. Nhổ cây sắn lên lấy một chùm củ. Xong rồi cứ cây  sắn ấỵ lấy dao chặt một gang tay, phải có ít nhất là 3 mắt. Cuốc một nhát cuốc hay lấy dao đào lên, nhét một cái hom lên trên mặt đất. Cứ thế là chừng năm sau, mỗi cái hom lại thành một cây sắn, lại cho một chùm củ. Đất tốt thì củ lớn, đất xấu thì củ nhỏ. Trong những thứ lương thực ở trại tù miền Bắc, sắn được xếp vào hạng bét. Chỉ tiêu, cân đo, đong, đếm của lương thực là 1 gạo ăn 2 ngô, hay là 3 khoai, hay là 4 sắn. Dù là hạng bét nhưng đối với tù đói nhăn răng, nó vẫn là rất quý. Tù mà động đến sắn, ngôi, khoai của trạị.. là xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa”. Nhất là trong khi thượng úy “Không no” cứ như cái bóng ma, lúc ẩn lúc hiện, chuyên môn rình rập theo dõi anh em. Đó là nghề của hắn.  Tôi có một anh bạn cùng khóa, NKB xưa nay tính tình “nhà binh” cho đến tận kẽ răng. “Reglo” số 1, việc làm răng rắc quần áo là ủi thẳng tắp, giầy bottle de saut bóng láng,
huy chương đeo một dề, xe díp bóng ngời nệm trắng tinh tươm. Đi cải tạo ra Bắc bây giờ
bạn tôi, không biết vì không hợp thủy thổ hoặc đói khát ra sao mà răng rụng hết, thành một ông già móm xọm. Nhưng bạn tôi lại thèm đường thèm mật quá. Ở gần khu trại mộc của đội anh có một khu trồng mía. Mía cứ bị bẻ trộm hoài, thượng úy “không no” rình rập mãi mà không bắt được ai. Một bữa,
thượng úy thấy thấp thoáng bóng người trong ruộng mía liền nhảy ra bắt giữ. Gặp ông bạn móm xọm của tôi.
 – Anh vào đây nàm gì? Ăn trộm mía phải không?
– Tôi đi kiếm rau “tàu bay”, tôi đâu có ăn trộm mía.
– Không ăn trộm mía vào đây để làm gì?
Anh bạn tôi liền há mồm ra, chỉ vào hai hàng lợi không răng mà phều phào nói:
– Tôi đâu còn răng mà ăn mía.
Thượng úy “không no” thấy vậy, không còn bắt bẻ vào đâu được nữa nên vùng vằng bỏ đi. Nhưng y ta nhất quyết bắt cho bằng được người ăn cắp mía. Một bữa không biết y ta đến từ bao giờ, cải trang ẩn dạng ra sao mà ông bạn móm của tôi vào chặt một cây mía là bị y ta bắt được ngay tại trận. Y rất
bằng lòng về chiến công “bắt trộm” của mình. Bạn tôi quá thiếu chất đường (cũng như hầu hết các tù cải tạo thèm chất ngọt và thèm mỡ) nên thường lén vô ruộng mía, đem dao chặt vội một vài đẫn, nhét vào người mang về. Lấy dao dóc mía, chẻ mía ra từng miếng nhỏ đưa vào miệng không răng mà nhần, mà ngậm. Nó cũng khỏe lên được phần nào. Còn vỏ mía thì phải chôn xuống đất ngoài vườn.
Ngay bữa bắt được kẻ trộm mía, thượng úy “không no” liền biểu diễn quyền uy của mình bằng cách khác; không có giam tội nhân vào cái cũi dây kẽm gai mà y bắt ông bạn không răng của tôi cầm nguyên một cây mía đứng riêng ở ngoài cổng trạị Y ta nói: “Hãy nhìn cho kỹ đi, thượng cấp của các anh đấy”. Anh em đi làm về đều thấy ông bạn tù gì, cầm cây mía đứng lom khom, cúi mặt không dám nhìn ai. Ai cũng thương anh…. đồng cảm với anh vì đi tù cải tạo trăm người như một đều phải “cải thiện” cách này, cách khác. Con người “một động vật xã hội”, nên “đói là đầu gối phải bò”. Thế thôi, chả ai coi
thường, chả ai bỉ thử anh đâu. Nhưng tôi biết, bạn tôi vốn trọng phép tắc lễ nghi nên bạn tôi đau lắm.
Do vậy nên bây giờ thấy ông bạn già Thượng tọa đi lấy trộm sắn về cho tôi ăn vì tôi thèm quá, đói quá, tôi vẫn cứ ghê ghê trong bụng. Thượng úy “không no” mà bắt được, không biết y ta sẽ hành hạ mình cách nào đây? Nhưng sợ bị bắt là cái lo xa. Còn đói cồn cào ruột gan là cái lo gần. Thế thì ta hãy cứ ăn cái đã. Đang đói bụng mà lại có sắn lùi bếp than thì nhất thế giới rồi. Tôi cứ chạp thẳng cánh. Ông cụ đi lấy sắn, nướng sắn mà ông cụ có ăn bao nhiêu đâu. Tôi ăn phần lớn. Và sau đó cứ vào khoảng 9, 10
giờ sáng, tưới bón xong là ông cụ xách cái bị đi ra. Lúc thì sắn lúc thì khoai, lúc thì củ giong… Tôi cứ có ăn đều đặn.
Bạn “Tây con” Thiết Giáp NVP phải đổi sang đội chăn nuôi, trong cái rủi lại có cái may. Bên ấy có công tác lên rừng đẵn cây chuối hột về cho heo ăn. Được ra ngoài thuộc “diện rộng” đi xa xa, gặp được
‘đồng bàó nên mới có cơ hội kiếm ăn, đổi chác. Vắng mặt tên quản giáo, len lén đem được một cái quần tây, một cái ao pull, một cái kính, một cái bật lửa… đem “quy ra thóc” lấy xôi, lấy cơm mắm… hoặc ‘quy ra thuốc’ lấy thuốc lào… đều được cả, thành ra tụi tôi dạo này có vẻ “phong lưu” hơn trước.
Một bữa lấy sắn về ông cụ đang ngồi trong lều, quạt đang đều tay, sắn đã bắt đầu chín bốc mùi thơm ngậy, tôi đã chực sẵn đến giờ ăn, thì bỗng có tiếng động nhẹ đằng sau. Tôi quay lại thì thấy đôi ủng màu đen đã đứng sau lưng tự lúc nào rồi. Tôi chết sững. Thượng úy “không no” đã tới.
 – Biết ngay mà, cứ vào khoảng 10 giờ nà cái nều này có khóị – Thượng úy “không no” đắc chí.
Tôi cứng họng không biết nói năng gì, tâm thần hoảng hốt. Ông già thượng tọa của tôi, khẽ ngước lên, nhìn thượng úy “không no” rồi điềm đạm nói:
– Cán bộ thứ cho. Anh em chúng tôị.. đói quá… Giọng nói ông bình tĩnh, người ông vẫn ngồi vững vàng, cái tay quạt sắn vẫn đều đặn không thay đổi, không cuống quýt, mà cũng không ngừng nghỉ.
– Như thế này là “nâu” rồi đấy nhá.
Không phải chỉ một hôm nay mà thôi đâu?   Thượng úy “không no” vừa nói vừa quay ra xem xét, kiểm soát căn lều. Chợt y thấy hai cái mộ bia mà ông già Thượng tọa của tôi mới đục xong còn để đó. “Vũ Văn Sâm mất ngàỵ..”, “Ngô Quý Thuyết mất ngàỵ…” Y đọc mộ bia xong nhìn chúng tôi, một anh tù già tóc bạc phơ, một anh tù trung niên xác xơ ốm đói. Hình như có một suy nghĩ gì đó thoáng qua, nên nét mặt y có vẻ đắn đo, xong rồi y lững thững đi ra mà nói:
 – Sau không được thế nữa nhá. “Ninh” tinh.
…Cho đến bây giờ không biết vì lý do nào mà tên thượng úy hầm hừ ấy đã bỏ qua cho chúng tôi. Có thể vì những tấm mộ bia, nghĩ đến những người anh em xấu số của chúng tôi đã chết vì đói lạnh… hoặc là phong thái “đại hùng, đại lực, đại từ bi” của con nhà Phật trong phút giây nào đó đã khơi dậy  được “chút tính người còn sót lại” trong y?
   Phan lạc Phúc



ĐỒNG CHÍ TƯ LÙ

Làm báo nào chứ làm cho bọn Mẹc-Cu thì xin phép tao chê. Ở trong nước bọn báo chí phải làm văn nô cho đảng chả nói làm gì. Ở cái xứ tự do này mà đi làm văn nô cho tụi báo chí bất lương để kiếm miếng ăn thì chó má lắm. Thằng tỵ nạn như mình thà đi rửa nhà cầu mà sống còn hơn chui đầu vô làm cái nghề điếm nhục đó.

ĐỒNG CHÍ TƯ LÙ   

                                                                                           
 
                                                                             Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
 
     Hoàng đến. Hắn vừa liệng tờ báo Mercury tiếng Việt xuống bàn truớc mặt bạn bè vừa lớn tếng đùa dỡn:
 
–   Tin nóng hổi! Tin nóng hổi đây!
 
     Thế là bọn chúng tôi ba đứa đã đủ mặt. Tuần nào cũng vậy, chúng tôi gặp nhau vào cuối tuần để hàn huyên và tán gẫu cho vui. Có thể nói cuộc gặp gỡ hàng tuần như thế này đã trở thành nếp sống riêng của cả ba. Nếp sống này hình thành từ ngày chúng tôi rời khỏi quân trường, trước kia thì những lúc rảnh rỗi, còn bây giờ thì vào mỗi cuối tuần. Cả ba chúng tôi tốt nghiệp cùng một khoá, phục vụ tại cùng một đơn vị, đóng quân tại một vùng trong suốt thời gian 6 năm lính. Cuộc đời vào sinh ra tử đã nối kết chúng tôi lại như một gia đình. Trừ ra quãng thời gian đi tù, sang Mỹ cả ba lại cùng gặp lại và chung sống với nhau trong cùng một thành phố, nên chuyện gắn bó với nhau là điều tất nhiên. Vì thế chúng tôi tự đặt cho mình cái tên là Ba-chàng-ngự-lâm-pháo-thủ theo tên của cuốm phim Les Trois Mousquetaires coi hồi còn là học trò. Đó có lẽ là một định mệnh. Chỉ cần một ly cà phê, một lon nước ngọt, hay một chai la de là đủ để buổi họp bạn kéo dài cho đến khuya. Đủ mọi chuyện để nói: chuyện đời học trò, chuyện trong đơn vị, những mẩu chuyện tình vụn vặt, cả những chuyện thời sự cũng được đem ra trao đổi.   
 
      Bạn bè đã quen tính láu lỉnh của Hoàng xưa nay nên chẳng bao giờ coi điều hắn đùa dỡn là quan trọng, chẳng cần biết tin nóng hổi mà Hoàng muốn loan báo là tin gì, cứ tưởng Hoàng méo mó cái nghề thông tín viên ngày xưa của hắn, một dạo làm cho hãng AP (Associated Press) trước khi nhập ngũ. Theo Hoàng kể, vì hắn có tài chỗ nào chui cũng lọt nên anh chàng Esper văn phòng trưởng của AP sai chạy có cờ. Đó là đặc điểm của nghề làm báo của Hoàng. Chuyện xào tin và phịa tin của bọn báo chí ngoại quốc là chuyện cơm bữa. Đôi khi chính Hoàng cũng phải tham gia vào. Sang Mỹ thỉnh thoảng Hoàng tỏ ý mơ ước được trở lại cái nghề tối ngày chạy rông này. Tôi cứ tưởng Hoàng xạo chuyện như mọi lần nên đùa lại để chế diễu:
 
–   Thì ra ông thầy trở lại nghề làm báo mà tôi không hay. Báo đời hay báo hại đây? Mà từ hồi nào vậy?
 
     Thằng bạn khác là Sơn nóng tính chẳng cần biết ất giáp gì, tiện thể phang liền:
 
– Làm báo nào chứ làm cho bọn Mẹc-Cu thì xin phép tao chê. Ở trong nước bọn báo chí phải làm văn nô cho đảng chả nói làm gì. Ở cái xứ tự do này mà đi làm văn nô cho tụi báo chí bất lương để kiếm miếng ăn thì chó má lắm. Thằng tỵ nạn như mình thà đi rửa nhà cầu mà sống còn hơn chui đầu vô làm cái nghề điếm nhục đó.
 
     Hồi còn ở lính, Sơn ghét cay ghét đắng bọn báo chí phản chiến, nhất là bọn nhà báo Mỹ lúc đó. Từ ngày sang Mỹ, cái ấn tượng này càng đè nặng hơn trên người Sơn. Nói đến bất cứ tờ báo nào của tập đoàn tư bản truyền thông Do Thái Knight Ridder là Sơn muốn nổi sùng ngay. Thấy Hoàng đi vào cầm theo tờ Việt Mercury là Sơn muốn điên lên rồi. Thấy câu chuyện bỗng đâu trở nên gay gắt một cách vô lý, Hoàng cụt hứng, nghệt mặt ra một lúc rồi mới lên tiếng phân trần:
 
– Đừng nóng! Các ông đừng nóng! Các ông lạc đề hết rồi. Thằng này có làm báo làm bổ gì đâu. Có cái tin ngộ ngộ trên báo muốn cho các ông biết chơi thôi.
 
     Hoàng vừa nói vừa cầm tờ báo lên, lật qua lật lại rồi banh ra trước mặt các bạn:
 
–   Các ông thử nhìn kỹ xem ai đây? Có quen không?
 
     Sơn không thèm ngó trong khi tôi dán mắt vào tấm hình đen trắng một đàn ông và một đàn bà trên một phần tư trang báo ở góc trái trang 2. Tôi bỗng kêu lên sửng sốt:
 
–   Thằng Tư Lù tụi bay ơi!
 
–   Đúng rồi, thằng Tư Lù. Mày hãy còn nhận ra nó. Khá đấy.  – Hoàng xác nhận.
 
     Tình hình xem ra đã bớt căng thẳng. Hoàng quay sang nói với Sơn:
 
–   Mày đừng nóng, coi thử đi.
 
     Sơn vẫn chưa hết hậm hực:
 
–   Ừ thì thằng Tư Lù, nhưng rồi làm sao?
 
     Nói thế chứ Sơn cũng phải lấy tay banh tờ báo và dán mắt vào tấm hình. Phải nói là cả bọn tôi đứa nào cũng hết sức ngạc nhiên. Không khí căn phòng trở lại thân mật như bình thường và chuyện trò bỗng sôi nổi hẳn lên:   
 
–   Sao lại là thằng Tư Lù được nhỉ?
 
–   Có cả con chằng lửa nữa. 
 
–   Không, tên con mẹ là Thu Đạm.
 
–   Cũng không đúng, phải nói là đồng chí Tư Lù và đồng chí Con Đĩ Ngựa mới phải.
 
–   Rõ ràng là thằng Tư Lù, mà sao lại thành Nguyễn Tạ?
 
–   Còn là thủ tướng mới rùng rợn nữa chớ.
 
– Tư Lù thành ra Nguyễn Tạ thì có sao, nhưng nó làm thủ tướng thì nghe chuế quá.
 
     Cả ba đứa tôi đều ngạc nhiên trước sự kiện thằng Tư Lù ngày nào, bây giờ trở thành ông thủ tướng Nguyễn Tạ. Không sao giải thích được. Chuyện sâu bọ làm người chỉ xẩy ra ở những xứ mọi rợ thôi chứ không bao giờ có trong các xã hội văn minh như cái nước Mỹ này. Dưới chế độ đồ tể Hồ Chí Minh thì chuyện gì cũng có thể xẩy ra được. Chúng tôi đành phải đi đến kết luận như thế. Hồ Chí Minh làm bồi tầu, Đỗ Mười thiến heo, cạp rằng đồn điền cao xu Lê Đức Anh đều là những thứ sâu bọ làm người cả. Dưới chế độ mọi rợ này, một con người mà tên tuổi bị lem luốc thì nó chỉ việc thay đổi một cái tên khác thôi là xong rồi. Xã hội coi như thằng người có cái tên ngày trước đã chết. Người mình thường nói: chó chết hết chuyện là thế. Vì thế người ta mới thấy bọn cán bộ thay tên đổi họ như thay áo mỗi ngày. Từ thằng to đầu cho đến lũ cán nhí bên dưới, không đứa nào là không mang ít nhất hai, ba tên. Thằng Hồ có đến hàng chục cái tên. Bốn thằng anh em nhà họ Đinh cùng một lỗ chui ra nhưng rồi bốn thằng mang bốn họ khác nhau. Dưới cái chế độ côn đồ này, giết người còn chưa phải là chuyện lớn thì việc thay tên đổi họ thì nào có nhằm nhò gì. Kinh điển Marx dậy: cứu cánh biện minh cho phương tiện không tấy sao!
 
     Thằng Tư Lù ngày nào, bây giờ biến thành thủ tướng Nguyễn Tạ, dưới bầu trời cộng hoà xã hội chủ nghĩa Vietnam không phải là chuyện lạ. Chuyện lạ là một tên du thủ du thực biến thành ông thủ tướng. Thế mới biết chánh sách đổi mới của nhà nước CS Việt Nam nó thần sầu quỉ khốc tới múc nào. Tư Lù, một con người mà mấy bà bạn hàng ngoài chợ thường gọi là thằng Tư, sống lang thang chui rúc trong một cái xó chợ nhỏ nhà quê hẻo lánh gọi là chợ Chọi, chỉ là một tên vô lại. Nhưng kể từ ngày bọn VC nhẩy lên cướp chính quyền, Tư Lù được mang tước hiệu là “đồng chí”, bỗng dưng trở nên sáng chói và uy danh khắp miền Lục Tỉnh. Hiện tượng đó các nhà sử học sau này biết đâu sẽ chẳng đặt ngang hàng huyền thoại Phù Đổng Thiên Vương trong cổ sử nước ta.
 
     Về địa danh có tên là chợ Chọi, đó là một khu đất trống người ta họp để buôn bán mỗi buổi sáng sớm lúc gà chưa cõng con đi đái. Chợ họp chừng bốn năm tiếng đồng hồ là tan rồi. Nó nằm ngay mé sông, cạnh một thị trấn nhỏ gần Ngã Ba Ống Quần (xin đừng lộn với địa danh cũng có tên là Ngã Ba Ống Quần trong tác phẩm Vàng Và Máu của nhà văn Nguyên Vũ). Khu thị tứ này mấy bà nhà quê đã đo đạc tỉ mỉ, tính toán tường tận và qui ra chỉ lớn bằng một cái giạng đái của mấy bà. Ngày xưa, nơi đây không phải là cái chợ, mà là một khu đồng trống, bên cạnh một ngã ba sông. Trên bờ con sông lớn có một cái đồn Tây. Cách đó khoảng vài trăm thước là mấy túp lều tranh trá hình bán buôn giải khát, nhưng kỳ thực là nơi tiếp khách tây của chị em làng chọi. Vì thế khu chợ mọc lên sau này dân địa phương quen thói nôm na gọi là chợ Chọi. Nơi đây có thể nói là địa linh nhơn kiệt, đã sản sinh ra nhiều tay yêng hùng hảo hớn, những tay anh chị của đủ mọi thời đại. Chuyện kể về những bậc yêng hùng này có khi chỉ được truyền tụng giới hạn trong nền văn chương truyền khẩu tại địa phương, chẳng hạn đồng chí Tư Lù (khi chưa trở thành thủ tướng) như đang nói đây thì cứ tính từ chợ Chọi có đường bán kính vài chục dặm, bảo đảm từ già tới trẻ không ai là không biết. Nhưng cũng có chuyện được ghi chép lại trong nền văn chương được gọi là bác học của nước ta. Chẳng hạn như câu chuyện về nhân vật quen gọi là Bác Cáo thì cả nước ai cũng biết.
 
     Bác Cáo vốn là một tay anh chị nổi tiếng. Hắn sinh ra trong một gia đình nghe đâu là khoa bảng ở ngoài Trung. Người ta đồn ông bố thân sinh ra Cáo đã đậu tới thám hoa bảng nhỡn gì đó, rồi ra làm quan cho triều đình tại đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Được ít lâu, đất Nam Kỳ trở thành thuộc địa của tây mũi lõ. Ông bố Cáo trở thành ông quan ta thuộc địa, cai trị dân bản xứ ở mãi tận miệt Năm Căn Cái Nước. Ông quan ta thuộc địa này ăn phải bả tây nên nhiễm được hai cái tật rất tây là uống rượu tây như dân Năm Căn uống nước sông Hậu, và uấn dân ta như tây mũi lõ ngày xưa uấn nô lệ Phi Châu. Một hôm có một nông dân đến gãi đầu gãi tai xin quan giảm thuế vì mùa màng thất bát, lại vợ đau con ốm. Người này đến thật không phải lúc, làm mất hứng quan đang nhậu. Quan liền nọc anh nông dân ra đánh đòn. Đang lúc hơi men chếnh choáng, quan xuống tay quá mạnh chẳng may làm chết người. Thế là quan bị triều đình cách chức. Trước cảnh nhà sa sút, Cáo phải bỏ học, phiêu bạt giang hồ về mãi tận khu chợ Chọi này để lăn lộn kiếm sống. Lúc đó Cáo còn trẻ nên rất xốc vác. Hắn làm đủ nghề: cu ly có, bồi bàn có, đôi khi còn dắt mối tây cho chị em ta từ Cầu Hàn Chợ Lớn về đến chợ Chọi. Ông bố Cáo vì buồn phiền nên đâm ra nát rượu. Ngày nào cũng sáng xỉn chiều say. Chỉ vài năm sau ông bị thối gan mà chết. Cáo trở về thì ông bố đã ngỏm từ bao giờ. Thời gian bôn ba quá cực khổ làm Cáo gầy rộc đi, đen sậm lại, không còn cái dáng vẻ cậu ấm con quan ngày xưa nữa. Sống ở khu chợ Chọi, Cáo mới tròm trèm năm chục mà râu tóc đã bạc phơ. Có người gọi Cáo là cụ, kẻ kêu là bác để tỏ lòng kính trọng, vì dù sao hắn cũng thuộc giòng dõi nhà quan, lại có được cái dáng dấp tiên phong đạo cốt bên ngoài. Người ta vẫn thường nói ở xứ mù thằng chột làm vua. Ở cái chợ nhà quê này chẳng mấy ai có chữ nghĩa, nên Cáo đương nhiên được kể là người có ăn học. Hắn chễm chệ lên ngôi hương thân, và có chút vai vế trong khu vực. Thực ra ngoài mớ tiếng tây Cáo học được ở trường thuộc địa hồi còn bé, mớ kiến thức tả pín lù của hắn chỉ là do lăn lộn trường đời nhiều nên dễ nói phét khiến nhiều người nể nang hắn. Được chút nể vì của người đời, Cáo lên mặt ta đây, tự xưng là Bác với mọi người, bất kể lớn bé già trẻ. Cáo nối nghiệp ông bố được thói nát rượi và hút sách. Nhưng cũng còn được cái là hắn chỉ uống và hút lén lút một mình ở trong nhà. Ra đường Cáo cố giữ vẻ trang nghiêm và mực thước của bậc tôn trưởng. Đặc biệt Cáo đã tiêm nhiễm được ở đâu cái thói cầm nhầm. Để tỏ ra ta đây là người có ăn học, hắn thường đánh tráo thơ văn của người khác nhận làm của mình. Tệ hơn nữa hắn còn cầm nhầm cả vợ bạn. Nhiều người nói Cáo còn là một tên giết người. Hắn ăn vụng biết chùi mép, giết người, cướp vợ bạn, hay làm những hành vi bỉ ổi khác nhưng đều che dấu rất tài tình. Ai nấy đều e dè Cáo, nhưng ngoài mặt vẫn tươi cười vồn vã với hắn vì sợ có chuyện gì lại liên lụy vào thân.
 
     Cáo xứng đáng là bậc tiền bối của đám hậu sinh như Tư Lù. Hai nhân vật này giống nhau ở một điểm là do thời thế tạo nên. Những điểm khác nhau chẳng hạn về thân thế thì có nhiều. Tư Lù không xuất thân nhà quan. Nghe đồn nó sanh ra từ mấy quán nước gần đồn Tây, và trưởng thành ở cái chợ Chọi này. Nửa chữ cắn đôi cũng không biết, nhưng nhờ “kách mệnh”, nó bỗng dưng trở thành một nhân vật được nể vì. Nhiều người cho Tư Lù là thứ sanh phùng thời. Cũng đúng. 
 
     Người ta sinh ra ở đời, ai cũng đều sống có nhà, chết có mồ. Nghĩa là còn sống thì có gốc gác gia đình, dòng họ. Chết đi để lại mồ mả để con cháu nhớ ngày cúng giỗ. Riêng đồng chí Tư Lù, cái khoản gia thế chỉ là con số không. Từ khi được “kách mệnh” giác ngộ và dậy dỗ, nó thường tỏ ra tự hào có tổ tiên là giống khỉ. Hậu duệ của nhà khỉ này trước kia ban ngày sống lang thang chung quang khu chợ Chọi. Đêm đến thì bất kỳ đâu cũng là nhà. Nhà nó có thể là cái chái miếu thờ Thổ Thần trong xóm. Cũng có thể là cái phản thịt của chú Ba Xệ ngoài chợ, hoặc cái sạp của mụ Bẩy Mướp bán bún nước lèo dưới mé sông. Tư Lù sống nửa cuộc đời vô gia cư, vô gia đình, vô bà con dòng họ. Thậm chí đến cái tên cúng cơm cũng vô luôn. Nó không có lấy một thứ giấy tờ gì lận lưng, nên không biết ngày sanh tháng đẻ, không biết cha mẹ là ai. Quê quán thật sự ở đâu nó cũng mù tịt.
 
     Từ ngày giặc cờ đỏ tràn về, Tư Lù bỗng dưng được coi là người có công với cách mạng. Chuyện cũng chỉ là tình cờ, nhưng đã có ông thầy bói mù ở chợ Chọi bốc quẻ nói tiên tri rằng nó là một thằng Xuân Tóc Đỏ thời đại. Trong lúc mọi người chạy giặc, cả đồn cảnh sát, chi khu và căn cứ lính tráng đã rút về tỉnh hết, một mình nó say xỉn, lượm đâu được lá cờ nửa xanh nửa đỏ, vừa đi vừa phất, miệng hát ngêu ngao. VC thấy nó cho  là dân chúng cử đại diện ra nghênh đón quân giải phóng. Nó ở thế chẳng đặng đừng nên tình nguyện hướng dẫn bọn bộ đội tiến vào quận lỵ đã bỏ trống. Tư Lù vì thế trở thành anh hùng cách mạng. Chỉ ít ngày sau, nó được tuyên dương thành tích trong một buổi meeting long trọng chào mừng ngày giải phóng của toàn tỉnh và được tham gia vào phái đoàn Thành Đồng Chống Mỹ Cứu Nước của Miền Nam ra tham quan Hanoi. Khi nó được gọi đến để lấy lý lịch và kê khai thành tích, tên chính trị viên của tiểu đoàn 307 cơ động tỉnh phụ trách công tác tuyên dương cấp tỉnh tiếp đãi Tư Lù như một thượng khách. Sau một tuần trà nước, bánh kẹo, và thuốc lá xã giao, tên bộ đội bắt đầu làm công tác. Hắn rút ra trong túi cuốn sổ tay và cây viết bic để ghi chép rồi ôn tồn hỏi Tư Lù: 
 
–   Đồng chí có giấy tờ gì không?
 
     Tư Lù chưa đoán được sự thể ra sao nên vẫn chưa cảm thấy yên bụng. Nó lí nhí trả lời trong cổ họng:
 
–   Dạ, không có.  
 
–   Có mà không mang theo hay không có?
 
–   Không có.
 
     Tên bộ đội nghĩ trong bụng dù sao Tư Lù cũng chưa tin tưởng cách mạng lắm nên cố tình dịu ngọt với nó để nó yên tâm: 
 
–   Đồng chí không có gì phải sợ. Cách mạng hiểu đồng bào sống trong vùng địch kiểm soát, ai cũng phải mang giấy tờ tùy thân mà đồng bào không muốn. Đồng chí tất nhiên cũng thế thôi. Chẳng hạn khi đồng chí muốn đi đâu thì cũng phải có giấy căn cước thì mới đi lại được. Chẳng lẽ đồng chí không đi đâu bao giờ?
 
–   Dạ tôi không có đi.
 
     Tên bộ đội vẫn giữ giọng thân mật:
 
–   Thôi cũng được. Đồng chí nhớ được gì thì đồng chí cho biết. Đồng chí tên gì?
 
–   Dạ, tên Tư Lù.
 
–   Đây là tên gọi của đồng chí? Tôi muốn hỏi tên họ. Đồng chí họ gì? 
 
–   Dạ không biết. Tôi không có họ. Người ta vẫn gọi tôi là Tư Lù.
 
– Cả tên họ của đồng chí mà đồng chí cũng không biết họ gì. Cha mẹ đồng chí còn sống hay đã chết, ở đâu?
 
–    Tôi không biết. 
 
–    Chết thật!
 
     Tên bộ đội thở dài hơi tỏ vẻ thất vọng. Hắn hỏi thêm về tuổi tác, thân nhân của Tư Lù nhưng nó vẫn ngồi làm thinh. Hắn ngồi cắn bút suy nghĩ trước cái lý lịch mù mơ của người đối diện. Đầu tiên tên bộ đội còn nghi ngại đoán già đoán non Tư Lù có thể là một điệp viên tụi Mỹ cài lại. CIA chắc chắn rất quỉ quyệt nên cần phải đề cao cảnh giác. Hắn tự nhủ. Tuy nhiên, chỉ trong khoảnh khắc hắn đã tìm ra được chân lý. Một lý luận rất logic trong kinh điển Mác chợt loé ra trong cái đầu đặc sệt của tên bộ đội làm hắn bật đứng lên, vui như nhà bác học Achimède đang lúc tắm truồng trên sông Nile, khám phá ra nguyên lý thuỷ tĩnh học. Hắn đập tay lên bàn một cái bịch, rồi nhả vào khoảng không trước mặt một hơi dài sự khoái trá trong lòng hắn:
 
–   Đúng rồi! Đúng rồi! Nhất định là như thế!
 
     Tư Lù không hiểu tên bộ đội này muốn nói đúng là đúng cái gì. Nó hơi hoảng, lo sợ biết đâu hắn lại chẳng nhớ ra một người nào đó trông giống mình mà cơ quan của hắn đang tầm nã. Tên bộ đội vẫn đứng đó. Hắn hí hửng ngắm nghía Tư Lù một lúc từ đầu xuống chân rồi từ từ bước tới trước mặt nó. Hắn biết Tư Lù đang thắc mắc và lo sợ nên làm ra vẻ kẻ cả, đặt tay lên vai Tư Lù và bắt đầu giảng giải về phép biện chứng mà hắn đã được học trước đây:
 
–   Đừng sợ! Đừng sợ! Trường hợp của đồng chí kể như đặc biệt lắm đấy. Đồng chí sống giữa lòng địch mà đã tự giác ngộ được cách mạng, thoát ly tất cả mọi ràng buộc gia đình giống như bác Hồ muôn vàn kính yêu, tự mình lột xác một cách toàn diện và triệt để. Đồng chí phủ định tất cả quá khứ, cũng như mọi liên hệ tình cảm của mình mà không cần đến sự giáo dục của đảng để trở thành một con người cộng sản tinh ròng theo đúng logic, phù hợp với biện chứng của chủ nghĩa Mác bách chiến bách thắng thì thực là trên đời có một không hai đấy. Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí, và thay mặt đảng tuyên dương đồng chí là một người con yêu của tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tuy đồng chí chưa chính thức gia nhập đảng, nhưng tôi tin chắc rằng rồi ra đồng chí sẽ có những bước tiến nhẩy vọt để trở thành một người cộng sản chân chính, một đảng viên gương mẫu. Tôi chúc mừng đồng chí, và một lần nữa, thay mặt đảng, tôi nhiệt liệt hoan nghênh và tuyên dương đồng chí.
 
     Tư Lù ngồi chết trân. Mặt nó nghệt ra, đầu óc lùng bùng vì những thứ chữ nghĩa mà nó chưa hề nghe nói đến bao giờ.  Nào là lột xác. Nào là qui luật. Rồi còn biện chứng, logic, chủ nghĩa Mác vv.. Tuy không hiểu gì, nhưng nhìn vào nét mặt rạng rỡ của tên bộ đội, và bỗng nhiên được ông quan cách mạng này gọi là đồng chí, nó cảm thấy yên tâm với ý nghĩ dữ ít lành nhiều. Tên bộ đội nói xong, sửa lại tư thế đứng nghiêm kiểu nhà binh, giơ tay ra bắt tay Tư Lù. Nó vội vàng đứng dậy, lưng hơi cong xuống, không dám ngẩng mặt lên, mắt chớp chớp, đưa cả hai bàn tay nắm lấy tay tên bộ đội mà lắc. Trong lúc nắm tay tên bộ đội, Tư Lù chợt nhận thấy trong lòng nó trào lên một thứ tình cảm thật khó diễn tả, vừa sung sướng, vừa tự hào, vừa tin tưởng, vừa hy vọng. “Nhờ ơn cách mạng, nhờ ơn đảng”, nó gật gù cái đầu bờm xờm và lẩm bẩm một mình. Nó không nói lên sự cám ơn tên bộ đội bằng lời, nhưng bằng hai con mắt rươm rướm ướt. Nó cảm thấy như cuộc đời của nó như đã biến đổi. Nó thầm cám ơn cách mạng đã giải phóng nó. Đối với nó, tất cả quá khứ từ nay đều tiêu tan hết. Một tương lai mới hiện ra trước mắt nó. Từ nay nó sẽ không còn bị khinh khi, bị gọi tên một cách xách mé: thằng Tư này, thằng Tư nọ nữa. Nó ghét nhất kẻ nào gọi nó xách mé như thế. Nó hình dung ra những kẻ mà chỉ vài ba ngày trước còn chiếm một địa vị trên nó rất cao, rất cao, giờ này đây chỉ còn là những con giun, con kiến dưới chân nó. Mấy mụ bán hàng ở chợ và ngoài bến sẽ hết còn dám xỉ vả nó. Tên xã trưởng già mà thường ngày nó vẫn khép nép vâng vâng, dạ dạ xưng bố xưng con, từ nay nó sẽ bắt phải bỏ cái thói nhìn nó bằng nửa con mắt đi. Bọn sĩ quan trong chi khu và căn cứ nữa, tuy phần lớn có xề xoà tốt bụng thật đấy, còn trẻ măng, cũng cỡ chừng tuổi với nó, nhưng nó vẫn phải khúm núm kêu bằng ông thầy, từ nay sẽ biến mất khỏi cái giang sơn này của nó, hết còn hàng ngày ra ăn uống tại quán bún nước lèo của mụ Bẩy Mướp. Lại còn anh chàng trưởng chi cảnh sát mới thật đáng chết. Xưa nay nó vẫn kính cẩn gọi anh ta là sư phụ. Có lần nó bị sư phụ nhốt một đêm trong đồn vì tội ăn cắp, còn doạ bắt nó đi lính. Nó không sao quên được cái đêm trong căn hầm nóng nực đầy muỗi ấy. Gặp được sư phụ ít nhất nó cũng phải xỉ vả cho mấy câu để trả thù. Nó sẽ bắt mọi người từ nay phải kính trọng nó. Phải rồi, còn cả cái ả bán hột vịt lộn tên Nở ấy nữa. Mỗi khi nó ăn hột vịt, ả tính toán với nó từng đồng từng cắc, không cho thiếu một xu. Ấy vậy mà không hiểu sao trong khoảnh khắc tưởng tượng đó, Tư Lù lại chừa ra cho ả một chút lòng thương hại. Nó cho rằng ả cũng nghèo nên đáng thương hơn là đáng ghét. Sự phân biệt đối xử này có lý do khác chứ không phải mang tính giai cấp mà nó mới giác ngộ được từ tên bộ đội. Đã nhiều lần Tư Lù chọc ghẹo thị Nở nhưng lần nào cũng bị ả cự tuyệt và đuổi đi. Nó đặt cho Nở một cái tên thật văn vẻ là Thu Đạm. Bình thường nó thân mật kêu ả là Con Đĩ Ngựa. Nó bấm bụng phải trả thù cái tội hỗn láo và bần tiện của Con Đĩ Ngựa mới được. Nó nhớ lại lần ăn chạy năm cái hột vịt lộn của Thị Nở. Ả đòi kẹp nó vào háng để đậy cho nó một bài học. Giận Nở thì có giận thật, nhưng sao lúc này nó lại thấy tội nghiệp ả vô cùng. Nó bỗng mơ ước được Con Đĩ Ngựa kẹp vào háng để dậy cho nó bài học ngay vào lúc này thì hay biết mấy. Nó cảm thấy nóng ran ở mặt. Nó nuốt nước miếng ừng ực, nhếch mép cười ruồi và quả quyết trong đầu: vụ này quyết không thể bỏ qua được, nhưng để rồi sau sẽ tính.
 
     Tên bộ đội vui vẻ hiện ra mặt vì hắn vừa mới khám phá ra được một con người cộng sản lý tưởng. Hắn tự cho mình đạt được một chiến công đúng ngày hắn vào giải phóng khu chợ Chọi này. Hắn khám phá ra rằng một con người nếu đã mang sẵn tính giai cấp trong mình, khi gặp điều kiện thì họ lập tức sẽ đột biến, chẳng khó khăn gì. Đó là mỘt bước nhẩy vọt, cũng giống như bước nhẩy vọt từ vượn thành người mà hắn đã được học ở khu rừng già chiến khu D Phước Thành. Cả một mớ lý thuyết hắn dồn vào bụng, nay mới có cơ hội được chứng minh. Quả thật có sức thuyết phục. Thái độ vừa khuất phục, vừa biết ơn của Tư Lù làm tên bộ đội càng tự tin hơn vào sự suy nghĩ của mình. Sự mù tịt về lý lịch của Tư Lù đã không còn phải là vấn đề, mà trái lại còn là động cơ cho tiến trình phát triển đúng với qui luật. Hắn cho đó là một sự lột xác thần kỳ, một mánh lới khôn ngoan để thi hành chánh sách bất hợp tác với ngụy quân, ngụy quyền. Rõ ràng là một hình thức phản kháng đầy trí tuệ đã đem lại hiệu quả. Chỉ với sự kiện này, Tư Lù cũng đáng được kể là đã lập được thành tích, có công lớn đối với cách mạng. Nó xứng đáng được tuyên dương anh hùng chống Mỹ cứu nước, và được tưởng thưởng huy chương Thành Đồng Chống Mỹ. Với Tư Lù, giờ đây nó chỉ cần biết một điều là nó đã có tên tuổi hẳn hoi đối với cách ma.ng. Tên nó là Tư Lù. Đúng hơn nữa là Đồng Chí Tư Lù. Cách mạng gọi nó là đồng chí thì nhất định nó là đồng chí rồi. Nghĩa là nó cũng như những tên bộ đội mang súng, đội nón cối, chân mang dép râu mà nó thấy. Nó tin rằng chắc chắn nó cũng sẽ được khoác khẩu súng trên vai và lúc đó mọi người ở chợ Chợi sẽ phải phục nó sát đất. Chữ “đồng chí” đối với nó thật đáng yêu làm sao! Ngày trước người ta gọi nó là thằng Tư thì nó tưởng đấy là tên cha mẹ đặt cho nó. Còn chữ Lù đi kèm tên Tư thì lại là một câu chuyện truyền tụng khó quên chung quanh khu chợ Chọi, một thành tích có một không hai về nghề ăn quịt của nó. Điều này Tư Lù biết rõ hơn ai hết. Nhiều bà bán hàng ngoài chợ những lúc vắng khách vẫn còn đem ra bàn qua tán lại câu chuyện ăn quịt rất hài hước này của thằng Tư.
 
     Thị Nở, hay Thu Đạm, hay Con Đĩ Ngựa hàng ngày vào mỗi buổi chiều đội thúng hột vịt lộn ra bán ngoài đường cái ngay lối vào chợ. Bữa đó, khi Nở vừa bầy hàng ra xong thì bỗng thằng Tư lù lù vác xác tới. Mỗi khi thấy nó, ả vội vàng lập tức đuổi nó như người ta đuổi tà. Ở chợ ai lại không biết Tư Lù là thằng chuyên môn ăn chạy, nghĩa là ăn xong là chạy, không trả tiền. Hôm ấy Nở chưa kịp ra tay tống khứ Tư Lù thì nó đã xà đến kéo ghế ngồi. Nó hách dịch nói với ả như ra lệnh:
 
–   Cho năm cái vịt lộn. Nhớ chọn mấy cái ấp mề già đấy nhá.
 
     Nở muốn điên liên. Ả nghĩ trong bụng, thằng này hôm nay chán sống rồi, nhưng ả cũng cứ cho nó ngồi yên để xem thử, vì dù sao nó cũng đã lỡ ngồi xuống rồi. Ả trợn mắt nhìn thẳng vào nó rồi lên giọng kẻ cả, hỏi:
 
–   Có tiền không cái đã. Không thì đi chỗ khác chơi cho người ta buôn bán. Đừng có đến đây mà ám. Chưa mở hàng đâu đấy nghe, ông thần nước mặn.
 
     Nó làm bộ thọc tay vào túi quần, lắc lắc mấy cái như ra dấu bảo rằng ta đây có tiền, còn nhe răng cười và trả lời chắc nịch:
 
–   Sao lại không? Yên chí đi. Sòng phẳng mà chị Hai.
 
     Thị Nở cũng là người cả tin. Ả giọn ra cho nó một cái tô đựng năm cái hột vịt lộn còn nóng hổi. Ả dằn mạnh cái tô trước mặt Tư Lù rồi dục:
 
–   Ăn đi. Ăn lẹ lên rồi đi ngay, chỗ người ta làm ăn.
 
     Ả còn không quên nhắc lại một lần nữa:
 
–   Mà phải trả tiền sòng phẳng đó nghe. Không thì cứ để cái xác lại đấy. Không dỡn đâu.
 
     Tư Lù chẳng thèm để ý đến lời đe doạ của Thị Nở. Nó gục đầu xuống, vừa thổi phù phù, vừa ăn một cách rất tự tại. Chỉ trong khoảnh khắc, nó đã nuốt trôi năm cái hột vịt lộn nóng hổi vào bụng, rồi thản nhiên đứng lên đi. Biết mình lại bị một phen nữa mắc lừa, Thị Nở đứng bật dậy, dục hết đồ đạc trên tay xuống bàn. Ả bung người nhẩy bổ ra, đứng chắn trước mặt nó, hét lên như trời gầm:
 
–   Mày lại dám ăn quịt của tao nữa hả, cái thằng trời đánh này? Mày phải trả tiền cho tao đã rồi mới được đi. Không thì mày móc họng mày ra hết cho tao. Lần này tao không tha đâu. Tao nói trước rồi.
 
     Tư lù không còn đường tiến, cũng không còn đường rút lui. Bất thình lình, nó lấy hết sức gạt người đàn bà sang một bên rồi ù té chạy. Thị Nở té chúi xuống, nhưng chồm dậy ngay được. Ả đuổi theo nó, vừa đuổi vừa chửi. Ả chạy một quãng rồi dừng lại vì biết rằng không thể nào đuổi kịp nó. Vả lại ả không dám bỏ lại thúng vịt lộn không có người coi. Thấy Nở đứng lại, nó cũng đứng lại. Thấy ả bước tới, nó lại cắm cổ chạy. Cứ như thế một lúc thật lâu. Người ta chung quanh chợ đổ ra xem đông nghẹt. Con nít coi màn tuồng cút bắt này khoái tỉ, vừa reo hò, vừa vỗ tay bôm bốp. Trước tình trạng đó, thị Nở cũng đành phải bất lực. Ả cảm thấy mắc cỡ với những người đứng coi vì sự nhẹ dạ của mình. Ả đứng lại thách thức thằng Tư:
 
– Mày có giỏi thì lại đây chơi tay đôi với bà. Bà không xé xác mày ra không làm cái giống người.
 
     Nó đứng ở xa cười hăng hắc, hỏi lại để cố ý trêu chọc ả:
 
–   Mày dám?
 
–   Tao không dám thì ai dám?
 
–   Tao lại mà không dám làm gì tao, mất năm cái hột vịt nữa, chịu không?
 
– Thằng chó đẻ! Bắt được mày, tao kẹp mày vào háng bắt mày bú L. tao cho mày chừa cái thói ăn dựt, ăn chạy đi.
 
     Tư Lù nghe vậy cười khoái chí, nó càng trêu chọc thêm:
 
– Thiệt không? Sợ gì mà không dám cho mày bắt. Sướng thấy mồ. Tổ sư cha đứa nào chỉ nói mà không dám làm? 
 
     Người đứng xem cười ồ lên. Đám trẻ con vỗ tay rần rần như pháo tết. Kể từ ngày đó, thằng Tư được đặt cho một chữ nữa ghép vào cái tên Tư thành ra là Tư Lù. Ai gọi sao thì gọi. Nó chỉ cười hề hề, chẳng phân trần, cũng chẳng cải chính. Nó không buồn phiền gì với Con Đĩ Ngựa, trái lại nó càng mơ tưởng đến ả nhiều hơn.
 
     Sau khi Tư Tù đi tham quan thủ đô Hanoi về, nó được bố trí công tác an ninh ngay tại khu vực chợ Chọi. Trong giai đoạn đầu của chánh quyền “kách mệnh”, sự xếp đặt này là đúng người đúng việc, vì không ai xứng đáng được gọi là thổ công ở cái chợ Chọi này hơn nó. Nó biết rành từng gia đình, từng người trong khu vực. Gia đình nào có con, cháu đi lính “ngụy”, làm công chức “ngụy”, gia đình nào có người trước kia đi làm cho Mỹ vv.., từng gia đình, tiền bạc, nhà cửa, ruộng vườn như thế nào nó đều biết rành cả. Nó biết rõ mọi chuyện như nắm trong lòng bàn tay. Nó chỉ dưới quyền một người là tên bộ đội chính trị viên của tiểu đoàn 307. Tên này quyền hành cũng như chủ tịch xã lúc trước, còn Tư Lù phụ trách vấn đề an ninh trong khu vực. Cả hai tên này họp lại dưới danh nghĩa là Ban Quân Quản Chợ Chọi. Với tư cách là thành viên Ban Quân Quản, nó gởi hết vào trại cải tạo những thành phần đáng nghi ngờ đối với chế độ, nói cho đúng hơn là những người nó không ưa, hay nó có thành kiến. Chức vụ mới này cũng cho phép Tư Lù tuyển chọn theo ý nó một đám lâu la để sai khiến. Bọn này quản lý hầu như mọi vấn đề quanh khu chợ Chọi. Chúng gồm có bốn tên đàn ông và một mụ đàn bà. Mụ này không ai khác hơn lại chính là Con Đĩ Ngựa. Trước ngày VC vào, bốn tên lâu la này đều là thứ anh chị ở trong vùng. Mỗi tên bao sân thu hụi chết một lãnh vực buôn bán, chẳng hạn đứa hàng ăn, đứa hàng trái cây vv.. Giang san của đứa nào đứa ấy quản trị ngầm theo một nguyên tắc giữa chúng với nhau là nước sông không phạm đến nước giếng. Vì thế ít khi có đụng độ nào đáng kể giữa bọn chúng. Riêng Con Đĩ Ngựa, sau khi “chính quyền đã về tay nhân dân” rồi thì nó mới hiện nguyên hình là một đồng chí nữ giao liên VC. Ả được giao nắm đầu hội Phụ Nữ Giải Phóng huyện, trực tiếp làm việc với ban quân quản. Khi Tư Lù lên làm lớn, bọn bốn tên tự động qui thuận dưới trướng của nó. Chúng tôn Tư Lù lên làm lãnh đạo và gọi nó là thủ trưởng. Chức thủ trưởng này vậy mà rất có tác dụng.
 
     Từ khi Tư Lù lên chức thủ trưởng, sinh hoạt khu chợ Chọi có phần đi vào nề nếp hơn. Bọn đầu gấu này có mặt chỗ nào là chỗ đó hết ai dám hó hé. Chúng nói gì mọi người phải  tuân theo răm rắp. Chúng ghé hàng quán nào, ăn uống gì, mua bán gì, chủ quán đều phải khép nép mời chào rất lễ phép. Và tất nhiên mua gì chúng không bao giờ nhớ trả tiền. Cũng không ai dám đòi tiền chúng. Có một lần Tư Lù dẫn lũ đàn em vô nhậu tại quán chú Ba Thìn. Ăn uống xong, cả bọn đứng dậy. Tư Lù làm bộ móc tiền định trả làm chú Ba xanh mặt. Chú vội xua tay cười giả lả nói với nó như van xin:
 
–  Có gì đâu, thôi đi. Chuyện nhỏ mà ông Tư.
 
     Tư Lù làm ra vẻ thành khẩn:
 
–   Chú Ba buôn bán mà, tụi tui ăn không của chú sao được.
 
     Ba Thìn là dân Chệt. Chú chỉ cần được yên thân. Thói bợ đỡ đút lót là nghề của dân Chệt làm ăn trên đất người. Chú áp dụng mánh lới rất chệt để mà tâng bốc Tư Lù:
 
–   Cách mạng lo cho dân thì dân giúp đỡ lại cách mạng thôi mà. Có phải không ông Tư?
 
     Sự việc này sau đó trở thành nếp sinh hoạt tự nhiên của người dân buôn bán chung quanh khu chợ Chọi. Tất cả cán bộ, bộ đội, kể cả những kẻ chỉ có hơi hướng với kách mạng đều ngang nhiên ăn uống, mua bán miễn phí. Hậu quả đem lại là cả thị trấn chỉ trong sáu tháng từ sau ngày “giải phóng” đã đoạt ngọn cờ tiên phong, đi đầu trong cuộc chạy đua tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa đói rách. Không còn ai bán buôn. Chợ Chọi lại trở về hoang vu thời tiền Pháp thuộc. Tư Lù một lần nữa được tuyên dương tiên tiến xây dựng nếp sống mới xã hội chủ nghĩa.
 
     Khi người dân chợ Chọi đã quay về với đồng ruộng rồi thì Tư Lù do thành tích, được gia nhập đảng và dược đưa lên làm trưởng đồn công an phường tại thị xã Sóc Trăng. Sau ngày “giải phóng”, tỉnh Ba Xuyên sát nhập vào tỉnh Bạc Liêu và tỉnh lỵ trở thành thị xã Sóc Trăng. Thị xã này có 6 phường. Trong 8 năm trời, Tư Lù lần lượt nắm chức đồn trưởng công an của cả 6 phường trong thị xã. Tính trung bình mỗi phường nó làm đồn trưởng ở đó hơn một năm. Sau cùng nó được đề bạt làm trưởng ty công an thị xã kiêm thị uỷ viên. Dưới sự chăm sóc an ninh tận tình của đồng chí Tư Lù, Sóc Trăng cũng mau chóng tiến lên chủ nghĩa xã hội theo con đường của thị trấn chợ Chọi. Một thị xã lúa gạo trù phú nhất miền Nam chỉ trong 8 năm trời tiến lên tới đỉnh cao chủ nghĩa xã hội phải nói đó là một bước tiến nhẩy vọt. Công đầu làm nên thành tích này không phải do tên Mười Thì, bí thư thị xã, mà là do đồng chí Tư Lù. Thành tích này đã đẩy Tư Lù lên thay tên Mười Thì làm bí thư thị xã.
 
     Tư Lù không thể tưởng tượng có ngày nó lại được làm lớn như thế. Trước đây nó cứ tưởng càng làm lớn càng khó, không ngờ đối với nó lại quá dễ dàng. Mọi thứ công văn giấy tờ trình lên nó, nó chỉ cần hỏi tên cần vụ xem ký chỗ nào rồi cầm cây viết quẹt vào chỗ đó một con giun dài ngoòng là xong. Tuy nhiên tình trạng mù chữ cũng gây khó khăn đôi chút đối với nó. Một là rất dễ bị bịp, và hai là vấn đề sĩ diện đối với dân chúng và thuộc cấp. Trường hợp Mười Thì đã cho nó học được rất nhiều kinh nghiệm.
 
     Mười Thì bắn súng thì giỏi nhưng phải cái mù chữ cho nên hắn chỉ mang quân hàm đến đại tá và làm bí thư thị xã là cao lắm rồi. Trong suốt những năm làm bí thư thị xã, Mười Thì không một lần dám ăn nói hay đọc diễn văn trước đám đông. Những việc này thì lại xẩy ra quá thường đối với cương vị một bí thư, nhưng Mười Thì đều đẩy hết cho tên phó bí thư làm thay. Còn mù chữ bị gạt thì Tư Lù đã chính tai nghe, mắt trông thấy Mười Thì bị gạt nhiều lần. Người gạt Mười Thì không ai xa lạ mà là tên cần vụ của ông bí thư. Thằng ranh con này cũng không phải gạt chuyện lớn gì, mà chỉ kiếm chác bao gạo hoặc ký đường để bán lấy tiền gởi về Bắc nuôi bà mẹ già ngoài đó. Tư Lù biết rành chuyện qua mặt cấp trên của tên cần vụ nhưng nó nghĩ chấp nhất ba cái trò vặt vãnh này thuộc cấp sẽ khinh khi mình và có thể khiến nó hết làm ăn gì được. Tên cần vụ cũng biết thế nên tỏ ra rất khâm phục và biết ơn Tư Lù.
 
     Những cái bất lợi như trên làm Tư Lù suy nghĩ mãi. Con đường thăng quan tiến chức của nó không thể để tình trạng mù chữ phá hỏng được nên nó nghĩ mình phải quyết tâm học. Người thầy đầu tiên khai sáng cho Tư Lù lại là Con Đĩ Ngựa.
 
     Con Đĩ Ngựa đã học hết lớp hai bậc tiểu học. Nó bỏ học ngang xương theo du kích đi làm cách mạng. Ả được bố trí công tác giao liên và theo dõi tình hình địch tại khu vực chợ Chọi. Ít lâu sau khi Tư Lù về làm đồn trưởng công an tại Sóc Trăng, Con Đĩ Ngựa cũng được bố trí về đó. Ả được coi là thành phần có văn hóa nên được giao làm thư ký trong văn phòng bí thư. Do công việc đòi hỏi, Tư Lù và Con Đĩ Ngựa có cơ hội gặp nhau thường xuyên. Chuyện lúc trước ở chợ Chọi không những đã không làm chúng khó xử khi gặp lại nhau, mà trái lại cả hai coi đó như là những kỷ niệm đẹp làm chúng xáp lại với nhau một cách dễ dàng hơn. Chưa đầy hai năm sau chúng chính thức trở thành vợ chồng. Con Đĩ Ngựa đồng thời là người vợ, là tham mưu, và là cố vấn rất đắc lực của Tư Lù. Không những ả giỏi kiếm chác mà còn tỏ ra tinh khôn, biết tới lui những nơi cần tới và nhất là biết việc gì nên làm, việc gì không nên làm. Người ta thường nói khôn chết, dại chết, biết sống. Con Đĩ Ngựa trời cho được cái biết này. Cần làm gì, ả không sợ tốn kém, cũng không tiếc bất cứ một thứ gì, miễn sao con đường hoạn lộ của Tư Lù được hanh thông. Chính ả cũng thừa nhận rằng Tư Lù muốn tiến thân hơn nữa nó cần phải có học. Ả biết cách làm thế nào để Tư Lù đạt được những thứ mơ ước đó. Nhờ công lao của ả, Tư Lù từ bước đầu học i-tờ cho đến khi có trong tay tờ giấy chứng chỉ lớp 12 do chính hiệu trưởng trường trung học phổ thông Hoàng Diệu ký và đem đến tận nhà cho nó. Việc này tuy vậy cũng phải mất 6 năm. Đó là thời gian tối thiểu cho một thần đồng, hay ít nhất là loại người sinh nhi tri.
 
     Bây giờ Tư Lù đã có thể xem duyệt công văn và đọc được diễn văn rồi. Con Đĩ Ngựa lại tính đến bước kế tiếp. Ả phen này phải bôn ba đi Hanoi một chuyến. Rồi như là một chuyện may ngẫu nhiên, Tư Lù bất thình lình được kêu lên thành phố ( Saigon ) làm thủ tục đi Liên Sô du học. Liên Sô thời đó là một nơi đào tạo nhân tài số một cho các nước trong khối xã hội chủ nghĩa. Các đại học ở đây bảo đảm cho tất cả các du học sinh, miễn là có ghi tên học, đều được cấp bằng phó tiến sĩ khi trở về nước. Nhà nước Vietnam sau khi đã làm một bản hạch toán kinh tế, đề ra kế hoạch đào tạo nhân tài đầy sáng tạo mà người trong nước gọi là “dắt bò đi Liên Sô, đem phó tiến sĩ về”. Con cháu cách mạng vì thế ào ào đi Liên Sô. Vài ba năm sau trở về đứa nào cũng đem theo về ít nhất một mảnh bằng phó tiến sĩ. Tư Lù cũng đi Liên Sô du học theo cách thức đào tạo này.
 
     Khi Tư Lù lên máy bay thì nó đã biến thành một nhân vật khác rồi. Cái lý lịch cũng khác đi nhiều rồi cho phù hợp với tương lai đang tới của hắn như câu người Pháp vẫn thường đem ra biện lý: noblesse oblige. Trên hộ chiếu ghi tên nó là đồng chí Nguyễn Tạ. Thằng Tư Lù ngày nào coi như đã chết. Đây là việc đương nhiên nằm trong qui luật của chủ nghĩa Mác bách chiến bách thắng. Hồ Chí Minh sanh ra có tên là Nguyễn Tất Thành. Tên này có nghĩa là nhất định phải thành. Cái thành của chàng thanh niên Tất Thành này mơ ước là trở thành một viên quan thuộc địa như ông bố của hắn. Nhưng khi không thành ông quan thuộc địa, mà chó ngáp phải ruồi, mới thành chủ tịch nước, tên hắn lại đổi thành Chí-Minh, nghĩa là cực kỳ sáng láng. Khi Tư Lù cần phải giao tiếp với lớp thượng lưu trí thức, cái tên Tư Lù đầy dấu tích phèn chua nước mặn của miền sình lầy chợ Chọi Nam Bộ kia tất nhiên không còn hợp thời nữa.
 
     Trong thời gian Tư Lù đi du học, Con Đĩ Ngựa ở nhà tần tảo kiếm chác. Ả chẳng còn biết làm gì cho qua những ngày trống vắng đó ngoài việc thỉnh thoảng bay đi Hồng Kông hay Singapore sửa sắc đẹp. Qua mấy chuyến đi, Con Đĩ Ngựa ngày nào của đất chợ Chọi không mấy chốc đã biến thành nàng công chúa ngủ trong rừng. Cái tên Thị Nở bám đầy cáu ghét phù sa sông Hậu cũng đã đổi thành nàng Thu Đạm mơ mộng. Ở Saigon , ả tới lui cơ quan thành uỷ như đi chợ. Ngoài Hanoi, ả ra vào dinh tổng bí thư như đến chỗ không người. Bữa ra phi trường đón Nguyễn Tạ đi du học về, hai đứa hug nhau và hôn hít ngoài đường ngoài chợ hệt như tây đầm thứ thiệt. Để khoe sự quảng giao của mình, ả õng ẹo hỏi chồng:
 
–   Đồng chí muốn ra Hanoi công tác hay làm trong thành uỷ?
 
     Nguyễn Tạ cũng tỏ ra biết nịnh vợ, nó trả lời:
 
–   Anh chỉ thích phục vụ cho đồng chí Con Đĩ Ngựa của anh thôi.
 
–   Nghiêm túc đấy. Vậy thì thành ủy đi nghe.
 
     Nguyễn Tạ làm trong thành uỷ thật, phụ trách về kinh tế. Thế lực của Con Đĩ Ngựa đã lên cao, bao trùm trên cả nước. Nguyễn Tạ có số thân cư thê. Nó mang đôi hia bẩy dặm để đi làm việc nước. Nó bước những bước vững chắc từ thành uỷ, rồi lên bí thư, và hiện nay là thủ tướng chính phủ. Trong một chuyến đi sang Tầu trước đây, nó đã học được câu “phi thương bất phú” là phương châm cường quốc của người Tầu. Vì thế khi lên nắm chính quyền, Nguyễn Tạ chủ trương phát triển tối đa ngành bán buôn trong nước. Dân ta ai cũng lao đầu vào buôn bán. Khắp hang cùng ngõ hẻm, từ đồng quê đến thị thành, nhà nhà buôn bán, người người buôn bán. Có thể nói người Việt Nam bất kể sang hèn, lớn bé già trẻ, hết 90% đều làm nghề buôn bán. Lê dân bá tánh thì buôn thúng bán mẹt, củ khoai, củ sắn. Viên chức làng xã thì bán đất, bán ruộng cho Đài Loan làm sân golf. Cán bộ cấp trung san bằng phố xá để bán cho Hàn, cho Nhật làm khách sạn. Mấy ông ở trung ương bán biển, bán biên giới cho Tầu, nghe đâu kiếm ăn được lắm. Một điểm rất đặc biệt của nền kinh tế Việt Nam mà trên thế giới không nước nào có là nghề bán thân. Nghề này có xuất xứ từ chợ Chọi. Nay đã phát triển ra địa bàn cả nước, rồi còn xuất khẩu qua nhiều quốc gia trong vùng. Những cô gái xuân tình hơ hớ được xuất khẩu đi nhiều nước. Họ còn được nhà nước đem sang tận Singapore triển lãm để rao hàng. Món hàng đặc sản Vietnam này cũng được quảng cáo rầm rộ trên nhiều tờ báo Đài Loan. Mấy chú ba ham mua sắm đến nỗi khiến nguồn hàng trở nên khan hiếm. Trước tình trạng cầu vượt mức cung này, nhà nước của Nguyễn Tạ đã phải thu vét hàng loại tuổi mới vừa rời vú mẹ chưa được bao lâu để xuất khẩu.
 
     Đường lối lãnh đạo của Nguyễn Tạ tài tình và hữu hiệu đến nỗi khiến nhiều ông tổng thống Mỹ phải thán phục. Ông Clinton đã phải thân hành sang Việt Nam để học hỏi. Còn Bush thì mời mọc cho bằng được Nguyễn Tạ sang Mỹ để cầu thân. Trong bài diễn văn chào mừng Nguyễn Tạ, Bush không tiếc lời khen và hứa hẹn với ông khách quí này: Khi quí vị phát triển quyền buôn bán Tự Do (chứ không phải tự do buôn bán) của quí vị như hiện nay, chúng tôi sẽ cùng đứng chung với quí vị.    
 
     Thời gian ở thăm nước Mỹ, vợ chồng Nguyễn Tạ và bộ hạ không dám đi đến đâu, vì chường mặt ra là bị đồng bào tỵ nạn rượt đuổi. Phái đoàn của Nguyễn Tạ chỉ thấy xuất hiện một lần trong buổi họp báo tại vườn hồng toà Bạch Ốc. Cách toà Bạch Ốc không xa đồng bào ta biểu tình đông nghẹt. Bọn ba chàng Ngự Lâm Pháo Thủ chúng tôi cũng có mặt. Thấy một anh nhà báo Mỹ lăng xăng thu hình, ghi chép gần đó, Hoàng khều nhẹ anh ta hỏi nhỏ:
 
–   Này, lát nữa anh có vô trong kia không?
 
–   Sure.  – Anh nhà báo Mỹ trả lời.
 
     Hoàng cười xã giao:
 
–   Phiền anh có thể giúp tôi việc này không?
 
–   Việc gì? Tôi sẵn sàng.
 
–   Anh làm ơn nói với đồng chí Tư Lù và cả Con Đĩ Ngựa chúng tôi hỏi thăm họ:
 
–   Ai là đồng chí Tư Lù và ai là Con Đĩ Ngựa? Ông với họ thế nào?
 
– Thì là vợ chồng ông thủ tướng Nguyễn Tạ đấy. Chúng tôi hồi xưa ở vùng chợ Chọi Việt Nam có quen biết với họ.
 
–   À thì ra thế.
 
     Anh chàng phóng viên Mỹ nghe Hoàng nói nhưng không tin. Anh ta tưởng tượng đến dư âm cuộc chiến gần nửa thế kỷ trước, có thể hai kẻ thù hôm nay bất ngờ gặp lại nhau. Hoàng đoán biết anh chàng Mỹ nghĩ gì, cố tìm cách giải thích cho anh ta hiểu. Anh ta nhe răng cười thông cảm. Hoàng được trớn nhắc thêm:
 
– À còn chuyện này nữa, anh cũng làm ơn nhắc dùm với ông Bush hộ tôi là ông ta đã đứng lộn chỗ rồi đấy (*).
 
     Anh nhà báo Mỹ thật thông minh. Anh hiểu ra ngay Hoàng muốn nói gì mới kiếm một câu thật hóm hỉnh trả lời Hoàng:
 
– Chả đã làm hai nhiệm kỳ rồi, đâu có ứng cử lại được nữa, có đứng lộn chỗ một tí cũng không sao. Mà đứng bên cạnh Nguyễn Tạ có lợi nhiều hơn cho Chả chứ. Ông thấy có đúng không?
 
     Hoàng thẩy cho anh chàng nhà báo Mỹ một cái cười nhếch mép cùng với một bàn tay giơ lên thay cho câu cám ơn, cũng là câu từ biệt. Bọn chúng tôi kéo nhau đi chỗ khác. Cả ba vừa buồn thấm thía, vừa tội nghiệp đồng bào mình đang giang thân ra giữa trời nắng gió thế này mà biểu tình. Đồng bào thật có lòng và cũng thật đáng thương, ăn quả lừa đã ngán rồi vẫn còn ráng mà ăn.
 
 
 
(*) Trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ 2, Tổng Thống George W. Bush tuyên bố:
“Today, America speaks anew to the peoples of the world: All who live in tyranny and hopelessness can know: the United States will not ignore your oppression, or excuse your oppressors. When you stand for your liberty, we will stand with you. “(Tạm dịch: Hôm nay, một lần nữa nước Mỹ nói với các dân tộc trên thế giới rằng tất cả những ai đang sống trong chuyên chế và vô vọng đều nên biết Hoa Kỳ sẽ không làm ngơ trước việc họ bị áp bức, và tha thứ cho những kẻ đàn áp họ. Một khi các bạn đứng lên vì tự do, chúng tôi sẽ cùng đứng chung với các bạn).
 
 Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất



GIẢ TÌNH NHÂN

Huy theo chân người phụ nữ đến một góc của chợ Bình Tây. Người phụ nữ rẽ vào hàng bán trái cây và đang lựa mua một số trái Thanh Long. Huy vừa trờ tới, người phụ nữ như đã biết mình bị theo dõi, nên vội vã trả tiền, tiếp tục len lõi vào trong đám đông người về hướng nhà lồng chợ.

GIẢ TÌNH NHÂN
 
Lời tác giả: Đây là những công tác thật được tác giả kể lại một cách trung thực . Nhưng vì lý do tế nhị, những địa danh, tên tuổi nhân vật trong chuyện có thay đổi phần nào.
 
Duy Văn Hà Đình Huy
 
Buổi chiều Sàigòn cuối Đông năm 1989 thật nhộn nhịp. Từng đòan người và đủ các loại xe tấp nập trên những đại lộ, đông nhất là khu trung tâm thành phố, bởi nơi đây có chợ Hoa và các cửa hàng để mọi người mua sắm. Huy thả bộ ngang qua tòa Đô Chánh cũ tiến về hướng rạp Rex, định xem có phim nào hay để gởi mình vào ấy một xuất cho thư giản đầu óc sau những ngày làm việc vất vã. Vừa gần đến rạp, Huy chợt thấy một phụ nữ dáng gầy gầy cầm một cái xách tay lớn hơi khác lạ với những cái xách tay bán trong các cửa hàng quốc doanh trong thời bao cấp của chế độ “Xã Hội Chủ Nghĩa”. Vì khoảng cách còn xa để nhận diện được nhau, nên Huy không nhìn ra loại xách tay của người phụ nữ đang có là của nước nào sản xuất, nhưng một điều chắc không phải sản phẩm của các nước cộng sản.
Người phụ nữ đi như chạy về hướng trạm xe buýt trên đường Lê Lợi. Nhìn dáng đi của người này Huy chợt nhớ đến Loan một người bạn đồng nghiệp với mình có lần theo lệnh của cấp trên, hai đứa trong nhiệm vụ phá vở một cụm tình báo của cộng sản xâm nhập vào trường đại học Luật khoa Sàigòn, mục đích theo dõi bắt và sát hại những giáo sư có tinh thần quốc gia.
Không bỏ lỡ cơ hội, Huy thay đổi ý định vào xem phim và quyết theo dõi tìm hiểu về người phụ nữ vừa đi vừa chạy này. Đến trạm xe buýt, người phụ nữ không ngồi trên băng chờ xe như bao nhiều hành khách khác mà đứng lẫn khuất vào trong đoàn người, hai tay ôm tròn cái xách trước ngực. Xe buýt đến. Mọi người lên xe, Huy cũng lên xe và ngồi băng phía sau người phụ nữ. Xe thắng gấp vì phải nhường đường cho một chiếc xe gắn máy do người say rượu quẹo trái luật. Hành khách trên xe chao đảo có khuynh hướng lao người về phía trước phòng lái. Thân người của Huy như bị bứng ra khỏi chổ ngồi và đẩy về phía trước, Huy cố vịn thanh xà ngang trước mặt, để tạo sự thăng bằng, nhưng không cản nổi lực đẩy, tay của Huy đã tuột khỏi xà ngang chạm vào phía sau gáy và phần vai của người phụ nữ .Chiếc túi xách trên tay của người phụ nữ rơi xuống sàn xe và lăn tuột về phía sau chỗ Huy ngồi. Huy nhặt chiếc xách tay đưa lại cho người phụ nữ kèm theo lời xin lỗi. Người phụ nữ nhìn Huy trân trân và quay mặt về phía khác làm cho Huy lúng túng không biết người có chấp nhận sự xin lỗi của Huy không? Lòng Huy cảm thấy khó chịu về việc đụng chạm trước đó.
Nhìn khuôn mặt của người phụ nữ Huy không thể nào nghĩ ai khác ngoài Loan. Huy khẳng định với chính mình. Vì thế Huy quyết định hỏi chuyện. Xe ngừng ở trạm Chợ Lớn, người phụ nữ xuống xe làm ý định của Huy hỏng vở. Nhưng vốn bản tính lì lợm, Huy lại quyết bám mục tiêu, Huy nhảy xuống xe khi xe sắp sửa lăn bánh. Người tài xế xe buýt chửi toan lên bằng những danh từ tục tỉu về hành động phóng xuống xe của Huy. Rồi việc gì cũng qua. Xe chạy.
Huy theo chân người phụ nữ đến một góc của chợ Bình Tây. Người phụ nữ rẽ vào hàng bán trái cây và đang lựa mua một số trái Thanh Long. Huy vừa trờ tới, người phụ nữ như đã biết mình bị theo dõi, nên vội vã trả tiền, tiếp tục len lõi vào trong đám đông người về hướng nhà lồng chợ. Nhưng Huy đã xuất hiện đứng sờ sờ trước mặt. Trong ngạc nhiên, người phụ nữ ngẩng cao mặt và hỏi:
-Ông làm gì thế? Huy ấp úng.
-Dạ thưa tôi không làm gì cả. Tôi thấy bà giống một người bạn trước đây tôi đã quen.
Người phụ nữ nhìn Huy từ đầu đến chân và nói. Người yêu của ông ? Dạ thưa không!
Chỉ là bạn thôi.
-Bạn thôi, nhưng sao ông lại nhớ nhau dai thế ? Người phụ nữ hỏi.
-Vâng, chỉ là bạn. Nhưng đây là người bạn đặc biệt .
Miệng người phụ nữ the the giọng cổ như nói một điều gì không rõ! Sau đó bà bổng nói to: có phải ông là Huy không?
-Vâng tôi là Huy đây. Còn bà có phải Loan không ? Đúng rồi, tôi là Loan của 18 năm về trước với hổn danh “Loan mắt nhung Luật khoa Sàigòn”. Hơn 2 tiếng đồng hồ, ngồi trên xe buýt, tôi thật hồi họp, vì đã biết có người theo dõi, nên cố tìm mọi cách phản tình báo để biết nguyên do, nhưng không ngờ là anh. Huy thay đổi cách xưng hô.
-Nghiệp vụ của chị vẫn còn nhạy bén đấy chứ ! Còn tôi thì bị “cháy” rồi! Cớ đời gì làm tình báo theo dõi người ta lại để cho người ta phát hiện! Huy nói trong dè biểu nghề nghiệp. Chị Loan nhún vai và cười như không đồng tình với câu nói của tôi.
Cả hai chúng tôi rời khỏi nhà lồng chợ Bình Tây vào trong một quán nước kế bên đường, chị cho biết chủ quán là người thân của chị.
Qua trao đổi. Huy được biết chị vẫn chưa lập gia đình, vì cái chết của Trung Úy Tuấn Biệt Động Quân, người chồng sắp cưới của chị năm nào đã làm cho tâm hồn chị đau khổ, nên sống một thân đến giờ. Theo lời tâm sự của chị.
Năm 1972, chị khóc tiễn biệt Trung Úy Tuấn khi chị tròn 22 tuổi, đang học năm thứ hai đại học Luật Sàigòn. Trung Úy Tuấn cùng quê với chị ở Mỹ Tho. Hai người quen nhau từ còn là học sinh trung học Nguyễn Đình Chiểu. Sau Tết Mậu Thân, với khẩu hiệu “ Tổ Quốc Lâm Nguy” của chính phủ miền Nam . Hàng hàng lớp lớp thanh niên hưởng ứng theo lệnh tổng động viên của chính quyền ban ra .Cùng với những người trai thời chiến khác Tuấn xếp bút xếp bút nghiên vào quân ngũ .Anh vào khóa 3/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ra trường phục vụ dưới cờ binh chủng Biệt Động Quân. Đơn vị của Tuấn trấn đóng các vùng biên giới của quân Khu 2 và 3.
Vào tháng 3 năm 1972, Cộng Sản Bắc Việt tung nhiều trận đánh lớn, vào các quân khu của Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt quân khu 1, 2 và 3 nhằm tạo áp lực quân sự để hậu thuẩn nước cờ chính trị của chúng tại Hội Đàm Ba Lê .
Tại quân khu 3, căn cứ hỏa lực Tống Lê Chân, được Việt cộng đánh giá cao về mặt chiến lược và xem như là cái gai chọc vào hai bàn chân của chúng, nếu không hạ được vị trí này chúng sẽ không thể tiến xa hơn theo kế hoạch của Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương đề ra là tạo một vùng “giải phóng” để cho nhóm cái gọi là “ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” phô trương thanh thế với quốc tế. Cho nên Trung Uơng Cục Miền Nam của Việt Cộng tại Mõ Vẹt ( Ba Thu) đã nhận lệnh của Bắc Bộ phủ Hà Nội là bằng giá nào cũng phải triệt hạ cho bằng được căn cứ hỏa lực Tống Lê Chân, dù phải nướng hàng vạn binh lính “cáo Hồ” và bọn Việt cộng miền Nam !
Cộng sản Bắc Việt đã dùng tòan bộ công trường 7 và một trung đòan pháo cùng với vài tiểu đoàn Việt cộng địa phương. Với chiến thuật cổ điển “ Tiền pháo hậu xung” vàø chiến thuật “đào hầm” dùng đặc công đánh bọc phá nhằm tiêu diệt căn cứ này.
( Quân cộng sản Bắc Việt áp dụng lại chiến thuật đánh Pháp ở trận Điện Biên Phủ .Họ dùng lực lượng thanh niên xung phong hoặc, hoặc nhân công phục vụ chiến trường, đào một đường hầm từ trong rừng hoặc trong những cánh đồng hay một ngôi nhà nào đó thông vào trong trại lính và quân của họ theo đường hầm đó vào dùng đặc công đánh phá bộ chỉ huy đầu nảo của quân đối phương)
Mỗi ngày cộng quân pháo kích hàng ngàn quả pháo đủ loại vào trong căn cứ Tống Lê Chân, sau đó dùng chiến thuật biển người xung phong để đánh vào căn cứ do tiểu đoàn 39 Biệt Động Quân Biên Phòng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trấn đóng. Chỉ huy tiểu đòan này là Thiếu Tá Ngôn đã phản công mãnh liệt chống trả từng đợt xung phong của cộng quân. Nhờ pháo binh và phi cơ yểm trợ và nhờ sự đồng tâm tiêu diệt kẻ thù của quân nhân các cấp. Sau 3 tháng chiến đấu trong tình trạng khó khăn về mọi mặt. Cuối cùng theo lênh cấp trên Tiểu Đòan bắt buộc phải mở đường máu rút lui bỏ căn cứ .Tiểu đòan 39 Biệt Động Quân đã gây tổn thất nặng cho cộng quân. Theo báo chí thời đó tường thuật : Sau khi chiếm được căn cứ hỏa lực Tống Lê Chân cộng quân đã nướng hết gần một trung đoàn. Thiệt hại về tiểu đòan 39 Biệt Động Quân cũng không ít. Trung Úy Tuấn đã làm xong nhiệm vụ của một người trai thời chiến một cách hào hùng, sau khi “ chia nhau” hạ 3 tên bộ đội cộng sản định bắt anh bằng một quả lựu đạn M26.
Sau sự hy sinh của Trung Úy Tuấn, chị thật đau buồn cho số phận của mình. Nhưng chị tự nhũ, nếu cứ vì tình cảm bi lụy sẽ không giải quyết được gì cho bản thân và những mơ ước cống hiến cho đất nước. Chị không tiếp tục việc học sau lần thi khảo thí lên năm thứ ba ban tư pháp trường Luật Khoa Sàigòn mà chị đang theo.
Chị về Mỹ Tho, thăm Ba Mẹ các anh chị em của chị và đặc biệt thăm lại mộ phần của Trung úy Tuấn. Vã lại chị cũng muốn hít thở những không khí đồng nội trong lành để nhớ lại thuở còn là cô học sinh nhỏ trường làng mỗi ngày hai buổi đi bộ đến trường tung tăng cùng hoa bướm. Cũng như tìm lại những dư hương của tháng ngày yêu đương nồng ấm bên người yêu.
Sau một năm đầm ấm, hạnh phúc quanh những người thân, cùng tìm lại những kỷ niệm xa xưa của những ngày thơ mộng.
Chị trở lại thủ đô.
Mùa Đông khí hậu Sàigòn không lạnh như Mỹ Tho, có lẽ hơi lạnh bị chắn khuất bởi những tòa nhà cao tầng bao bọc chung quanh trung tâm thành phố. Tuy nhiên về chiều, khi mặt trời đi ngủ, một vài vị trí trong thành phố có vẽ lạnh hơn. Bến Bạch Đằng về đêm khách dạ du phải khoát trên mình một áo len chống lạnh.
Đi lại trên những đại lộ đầy những đèn hiệu quảng cáo đủ màu sắc và các thương hiệu sầm uất, cùng với những con hẽm nhỏ một năm trước đây là những ngõ tắt đưa chị đến trường Luật. Tâm hồn chị trở nên thư thái và như cảm nhận một điều gì đó thay đổi cho chuyến trở lại thủ đô lần này.
Qua một tuần lễ nghĩ tại nhà của người cô họ, chỉ có xem ti vi và nghe radio. Phần lớn những tin tức chị nghe và thấy là những tin nóng bỏng từ các chiến trường. Những cảnh tàn ác của Việt cộng nằm vùng, giết hại dân lành… làm chị phải suy nghĩ, nên đóng góp chút ít gì cho đất nước.
Với một đêm trằn trọc không ngũ đến sáng. Chị quyết định gia nhập vào ngành Nữ Quân Nhân để được chiến đấu bảo vệ dân lành. Đến Trường Nữ Quân Nhân, chị trình tất cả giấy tờ tùy thân cho người nữ hạ sĩ quan tuyển mộ để xin ghi danh gia nhập. Xem qua giấy tờ, người hạ sĩ quan từ chối cho rằng, chị thuộc thành phần tài nguyên quốc gia nên không thể gia nhập vào khóa A tân binh được. Nếu muốn phục vụ, nên ghi danh vào khóa Sĩ Quan Nữ Quân Nhân. Chị đồng ý gia nhập vào khóa Sĩ quan. Nhưng đến giai đọan khám sức khỏe nhập ngũ, chị bị loại vì lý do sức khỏe kém. Thế thì mộng “được chiến đấu bảo vệ dân lành” bị tan vỡ.
Không được vào khóa sĩ quan Nữ quân nhân, chị rất buồn định tìm việc làm để giải khuây, đồng thời có một ít tiền nuôi sống bản thân và giúp đở gia đình. Suốt một tuần đọc báo tìm việc, nộp đơn vào một vài cơ quan. Nhưng cả tháng trời chẳng thấy ai kêu gọi phỏng vấn. Chị chán nản định trở về quê làm quản lý nhà máy xay lúa cho Ba chị.
Tình cờ một buổi trưa, tại một quán nước gần nhà của bà cô họ, anh lính Thủy Quân Lục Chiến vừa uống nước xong trả tiền rời khỏi quán để quên lại tờ báo Quật Cường. Chị gọi người lính để đưa lại tờ báo đã bỏ quên, nhưng người lính đã vội nhanh lên xe máy phóng đi.
Đọc qua trang tìm việc, chị thấy công ty Z của Mỹ cần người biết chút ít tiếng Anh để làm thư ký. Liên lạc qua số điện thoại trên báo chị tìm địa chỉ đến xin việc làm.
Tại Văn phòng X trên đường Nguyễn Kim, cô gái hoa ngàn đồng nội của tỉnh Định Tường với chiếc áo dài trắng trinh nguyên thời sinh viên ngày nào. Nay trong chiếc áo dài màu cúc vàng sặc sở đã làm cho biết bao nhiêu người hiếu kỳ phải để mắt nhìn chị và thầm ru hồn vào lời thơ của thi sĩ Nguyên Sa. “Áo nàng vàng anh về mơ hoa cúc. Áo nàng xanh anh đếm lá sân trường….”
Đậu bài text 50 câu hỏi về trí thông minh và phong cách ứng xử .Chị được nhận vào công ty. Tuy nhiên để làm việc tốt chị phải qua một giai đọan huấn luyện. Hàng ngày chị đến văn phòng học, nhưng không thấy dạy về nghiệp vụ tiếp tân hay sổ sách phần vụ cho một thư ký mà học toàn là những kiến thức căn bản về tình báo, và phản tình báo …
Bởi quá đổi ngạc nhiên, hỏi giảng viên, chị mới hiểu ra rằng chị đang học lớp căn bản tình báo do Cục Trung Ương Tình Báo hướng dẫn.
(Vào thập niên 70, vì nhu cầu công tác, Cơ quan tình báo Miền Nam Việt Nam tuyển mộ nhân viên khế ước qua hình thức mẫu rao vặt tìm việc của những hãng thầu hay công ty Mỹ. Mục đích để bảo mật và giữ kín tông tích. Sau khi một người được tuyển vào công ty hay hãng thầu và biết mình không phải làm công việc thuần túy cho hãng hay công ty, mà làm công việc của một tình báo viên. Người đó có quyền không hợp tác. Nhưng kinh nghiệm cho thấy, phần lớn ai đã được nhận vào điều cũng vui vẻ nhận việc, không bao giờ từ chối.)
Học xong lớp căn bản theo dõi (giám thị) chị làm việc tại A 17 thuộc Phủ Đặc Ủy Tình Báo Trung Ương. (CIO)
Hơn một tiếng đồng hồ, chị và Huy hàn uyên, Huy mới biết được một phần đời của chị có những nỗi đau tình yêu như không thể xóa nhòa và ở chị cũng có tấm lòng yêu tổ quốc như bao người, sẵn sàng chiến đấu chống lại bọn cộng sản vô thần.
Huy nhớ lại vào năm 1973, để phá vở một tổ chức tình báo của việt cộng chuyên trí vận, bắt cóc hay thủ tiêu các giáo sư và giảng viên có tinh thần quốc gia trong đại học Luật Khoa Sàigòn. Nha Nội Chính ( E4) thuộc khối Cảnh Sát Đặc Biệt (N.Đ.B) của Việt Nam Cộng Hòa (giống như F.B.I của Mỹ và S.E.D của Pháp và K.G.B của Liên Bang Sô Viết) mở đầu mối và phân công Huy điều nghiên để phá vỡ tổ chức này của việt cộng. Công việc tuy chỉ gọi là “phá vở” nhưng rất phức tạp. Bởi vì trước năm 1972, sau vụ ám sát sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật. Cở sở tình báo Việt cộng hầu như đã có mặt và ăn sâu vào trong các đại học miền Nam, đặc biệt là các đại học tuyển sinh qua hình thức ghi danh mà không qua thi tuyển như: Luật Khoa, Văn Khoa và Khoa Học. Trong các đại học này, các cơ sở tình báo việt cộng được che chở bởi một số vị giáo sư có uy tín nhưng khuynh tả, trong tổ chức mà chính quyền VNCH gọi là thành phần thứ ba. Ngoài ra, cơ sở tình báo việt cộng còn có sự trợ giúp nghiệp vụ bởi Ban Trí Vận thành ủy Saigon – Gia Định.
Ngày Z, tại một phòng nhỏ bên trái phòng khách của Tổng Hội Sinh Viên Sàigòn
( cũng là phòng nghĩ của Huy) được tin của mật báo viên Hồng Anh cho biết có một cặp tình nhân đang ngồi gần giáo sư VT trong lúc ông xem phim cùng vợ trong rạp Rex. Cử chỉ của cặp tình nhân này có vẽ không để ý gì đến phim ảnh, ngược lại chỉ thường để ý đến cử chỉ của vợ chồng giáo sư VT. (Giáo sư VT dạy môn công pháp quốc tế, ông là người đã từng lên án việt cộng vi phạm hiệp định đình chiến dịp Tết Mậu Thân và tấn công vào các đô thị miền nam giết hại dân lành) Ban Trí vận Thành Ủy Sàigòn – Gia Định đã có truyền đơn hăm dọa khủng bố ông. Nhưng ông vẫn không sợ hải mà còn viết bài đăng báo ngoại quốc tố cáo hành động hèn hạ này của Việt cộng. Nên việt cộng muốn trừ khử ông. Cụm tình báo C21 Trung ương Cục Miền Nam điểu khiển đưa hai nam nữ điệp viên trẻ thuộc phân cục tình báo Gia Định đảm trách kế họach hành động này.
Qua điện đàm, Huy bảo Hồng Anh bám chặt mục tiêu và nhận diện rõ ràng khuôn mặt từng người. Cố làm theo lời chỉ bảo của Huy, nhưng Hồng Anh cũng cho biết cặp tình nhân này dường như đã phát giác ra cô. Vì cô cho biết những hàng ghế gần cuối rạp phần lớn đã trám đầy những cặp tình nhân, họ lợi dụng cơ hội tối nhiều hơn sáng này để âu yếm. Vì đây là xuất hát về đêm, một mình cô lẽ loi trong môi trường này, nên có thể là mục tiêu tốt cho bọn tình báo khả nghi. Nghe qua, Huy bảo cô cố bám chặt mục tiêu và ráng đợi chờ Huy sẽ có kế họach giải tỏa tinh thần cho cô. Huy trình lên cấp trên và xin tiếp ứng cho Huy một nữ nhân viên tình báo để Huy thực hiện kế họach giám thị.
-Sĩ quan điều họp nói: Nữ Thiên Nga được không?
– Huy trả lời: Thiên Nga hay bên nào cũng được miễn là nữ và có khá tốt về nghiệp vụ khoa giám thị.
Mười phút sau, người sĩ quan điều họp nói, bên Thiên Nga không còn nữ nào rỗi rãnh cho anh cả. Nhưng tôi sẽ cho anh một nữ bên A 17 anh có đồng ý không?
-Được. Bao lâu họ đến ? Tôi cần gấp, vì xuất hát sắp hết.
– Năm phút nữa .
– Vâng . Chào thẩm quyền.
Một cô gái trẻ mãnh khảnh có đôi mắt đen láy, đến Tổng Hội Sinh Viên tìm Huy. Chúng tôi đã nhận diện nhau qua trao đổi mật khẩu và biết cô có tên thật là Loan với bí số nghiệp vụ Z12. Hỏi qua tuổi tác biết Loan
lớn hơn tôi 2 tuổi. Huy xin được gọi Loan bằng chi.
Màn kịch “ tình nhân” được diễn ra bởi tôi và chị Loan. Vào rạp chiếu phim chúng tôi ngồi phía sau mục tiêu. Vị trí chúng tôi ngồi cách vợ chồng giáo sư VT một hàng ghế. Sở dĩ chúng tôi chọn vị trí như thế để dễ quan sát 2 mục tiêu cùng một lúc. Trên màn ảnh một cặp tình nhân đang âu yếm ngoài một công viên có nhiều cây rợp mát. Liếc nhìn chung quanh mọi cặp tình nhân cũng đang mơn trớn nhau bằng ngôn ngữ đôi tay và miệng. Không ngoại lệ, Huy cũng kéo chị Loan vào lòng .Đầu chị đặt trên ngực Huy, nhưng đôi mắt của chị vẫn hướng về phía mục tiêu. Mắt Huy cũng thế.
Hơi thở của chị Loan dồn dập và tim đập nhanh. Huy hỏi khẻ chị Loan tại sao thế ? Chị chỉ cười thẹn mà không nói.
Lợi dụng đọan phim có phần sáng, đánh tan cái tối trong phòng, Huy đứng dậy giả vờ đi vào phòng vệ sinh để cố ý nhìn thật kỷ mặt của mục tiêu. Vì thế Huy đã nhận diện được mục tiêu là hai sinh viên đang học trong trường Luật.
Giữa phim thật hấp dẫn, và hồi họp. Phim chiếu vụ cướp và bắt cóc con tin tại một ngân hàng lớn kéo dài hai ngày trời. Cuộc đấu trí giữa cảnh sát và nhóm tội phạm diễn ra căng thẳng, hồi hộp nhưng kết thúc lại không ai ngờ tới. Tất cả đều có bằng chứng ngoại phạm.
Đầu đuôi câu chuyện bắt đầu từ lúc bốn kẻ tội phạm mặc đồ thợ sơn tiến vào sảnh ngân hàng Manhattan Trust, một chi nhánh quan trọng của một thể chế tài chính quốc tế lớn. Chỉ trong vài giây, những tên cướp ngân hàng đã biến nơi đó thành pháo đài với 50 con tin vô tội. Sở cảnh sát New York cử thám tử Keith Frazier và Bill Mithchell tới hiện trường để thương thuyết với tay cầm đầu Dalton Russell nhằm đảm bảo sự an nguy cho các con tin. Nhưng có điều kỳ lạ, dường như bọn tội phạm táo tợn này luôn đi trước cảnh sát một bước và che giấu âm mưu thực sự của vụ này. Frazier dần đoán ra mục tiêu cuối cùng của bọn chúng không phải là tiền.
Trong khi đó Arthur Case, ông chủ ngân hàng bị hại, không muốn cảnh sát can thiệp sâu mà cầu cứu Madeline White, một nữ luật sư, đàm phán với tên tội phạm. Phải chăng ông ta sợ “cháy nhà ra mặt chuột”? Nhưng cô luật sư này lại có đủ bản lĩnh để chơi trên cơ kẻ bắt cóc con tin. Bản thân ngài thanh tra Keith Frazier còn đang gặp rắc rối trong vụ án trước, làm thế nào để anh xoay sở khi phát hiện ra đây là điệp vụ kép với chỉ một manh mối?
Kết thúc bộ phim, thám tử Frazier đi vào căn hộ của mình, cậu em trai của bạn gái anh nằm vật vờ trên ghế, tay ôm một chai rượu hình quả bom. Chi tiết này gợi nhớ đến bộ phim trước của đạo diễn Spike Lee Bamboozled có nội dung về một loại rượu tên là “Da Bomb” được đóng trong chai có hình dáng tương tự như một quả bom.
Đèn rạp bật sáng, mọi người ra về, vợ chồng giáo sư VT lần lượt đứng lên rời khỏi chổ ngồi. Chúng tôi thấy mục tiêu cũng đứng lên và nhanh chân ra trước hướng cửa chính của rạp chiếu phim. Chị Loan và Huy cũng bám theo. Đến cửa, chúng tôi thấy mục tiêu dõi mắt nhìn theo vợ chồng giáo sư VT đi ra bãi xe gắn máy. Trong lúc cô gái liếc mắt quan sát mọi người đang đứng xung quanh, thì người thanh niên tiến chân theo sau vợ chồng giáo sư VT. Huy và chị Loan tay đang trong tay. Huy buông tay chị Loan ra và dặn : Nhớ bám chặt cô gái này nhé chị Loan. Huy theo gã thanh niên ra bãi đậu xe. Gã thanh niên đến chiếc xe gắn máy Honda 67, dỡ yên xe lên như lấy một vật gì bỏ vào túi áo khoác và dẫn xe theo sau vợ chồng giáo sư VT. Trả tiền cho người giữ xe máy xong vợ chồng giáo sư VT định mở máy xe chạy về đường Lê Lợi, nhưng gặp một người bạn, nên chần chờ vài phút nói chuyện qua lại bên ngoài khu giữ xe. Trong khi đó gã thanh niên cũng đã làm xong bổn phận của người gởi xe. Dẫn xe ra ngoài. Nhưng hắn có vẽ lung túng, vì mục tiêu của hắn ta đang theo dõi là vợ chồng giáo sư VT không di chuyển. Để không bị mọi người chú ý, hắn dẫn xe đến gần mục tiêu và đốt thuốc hút giả như chờ đợi ai vậy!. Trong lúc Huy đang bám chặt gã thanh niên, chị Loan cho Huy biết (dĩ nhiên qua điện đàm) cô gái đang tiếp xúc với một người đàn ông lái xe tắc xi . Đồng lúc Huy nhận tín hiệu từ sĩ quan điều họp là phải phá vở đầu mối ngay trước 12 giờ đêm, nếu không vợ chồng giáo sư VT có thể bị nạn. Qua thoại đàm Huy bảo chị Loan chuẩn bị xử dụng vũ khí và để ý thật kỷ gã tài xế xe tắc xi đang nói chuyện với cô gái.
Xe máy vợ chồng giáo sư chạy ngang trước cửa rạp hát hướng về đường Lê Thánh Tôn. Gã thanh niên tốc xe theo. Trong cùng lúc cô gái lên tắc xi cũng về hướng đường đó.Huy chạy ngang rước chị Loan và tăng tốc độ theo phía sau mục tiêu.
10 giờ đêm, thành phố Saigòn vẫn còn náo nhiệt, các toán cảnh sát tuần lưu vẫn còn kiểm tra trên đường phố rất khó cho đối phương hành động.Huy đoán nếu bọn chúng hành động phải chờ qua 10 giờ, và Huy cho sự tiên đoán của mình là đúng nên tự tin hơn để có đủ thời gian đối phó.
Đến đèn đỏ, chị Loan lên thay Huy lái xe. Huy bảo chị Loan lái nên giữ khoảng cách cho đều để dễ bề xử lý súng ngắn khi đụng chuyện. Huy móc khẩu súng P.38 nòng ngắn từ trong bụng ra sọt vào túi quần lên vồ sẳn sàng nhả đạn khi cần.
Đọan ngã tư Hai Bà Trưng và Điện Biên Phủ tiến về hướng ngã tư Hàng Xanh ngoại ô thành phố, đèn đường thưa, người đi đường vắng. Chị Loan cho xe tiến gần song song với xe của vợ chồng giáo sư (vì khỏang đường này chỉ có 2 lane). Chiếc xe tắc xi từ phía sau trườn tới như muốn hút vào cạnh sườn phải của xe máy vợ chồng giáo sư VT, trong khi chiếc xe máy của gả thanh niên cũng đang trờ tới như trợ lực cho chiếc tắc xi .Trong máy điện đàm của Huy, người sĩ quan điều hợp bảo: “phải dứt điểm mục tiêu” . Điểm cuối cùng là tại ngã tư Hàng xanh.
Tới trạm biến điện đối diện quán Mì Cây Nhãn trên đường Điện Biên Phủ, chiếc tắc xi bị nổ lốp tạo một tiếng nổ lớn, xe chao đảo lết một khoảng rồi lủi vào lề. Xe máy của gả thanh niên thế vào vị trí của xe tắc xi , cùng lúc một xe máy khác do một người trung niên từ phía sau lao tới thay vào vị trí xe của gã thanh niên. Huy cảm thấy không ổn và quyết định ra tay bắt gả thanh niên bằng phương thức đụng xe. Huy báo chi tiết cho cảnh sát tỉnh Gia Định và xin trợ lực, đồng thời bảo chị Loan cho xe chạy gần sát phía sau, xe của mục tiêu. Khi xe cảnh sát vừa đến. Chi Loan cho xe vào sát hông trái xe của gả thanh niên, và canh độ khoảng cách chính xác, để khi tăng tốc độ vượt qua mặt, để xe chúng tôi có thể kéo theo xe của mục tiêu. Tiếng máy xe của chúng tôi nổ gầm, chiếc xe máy vọt lên phía trước như con ngựa đua. Hai xe máy vướn vào nhau rồi ngã ầm xuống mặt đường. Huy, chị Loan và gả thanh niên không một ai bị thương nặng, chỉ trầy trụa sơ sài. Vì khi hai xe dính vào nhau tốc độ giảm đến mức thấp nhất nên mức độ thương tích không đáng kể. Cảnh sát đến lập biên bản giải cả hai phía đem về trụ sở.
Đến phòng Cảnh Sát giao thông của Ty Cảnh Sát Gia Định. Huy và chị Loan được tách rời ra khỏi gả thanh niên và ra về, còn gả thanh niên bị giữ lại qua đêm. Hôm đó, dù trời đã khuya, cả hai chúng tôi mệt mỏi và đau nhức bởi những vết trầy trên tay và chân, nhưng Huy và chị Loan vẫn đèo nhau ra bến Bạch Đằng tìm nhai vài con khô mực chấm tương đen, món hải sản mà Huy vốn thích, đồng thời tìm hương vị đêm của sông nước thị thành.
Hôm sau, vào đơn vị. Sĩ quan điều hợp cho biết cô gái và người tài xế cũng đã bị bắt và hiện giao cho Trung Tâm Thẩm Vấn, nếu Huy muốn khai thác đương sự hãy liên lạc với trung tâm.
Cảnh Sát Gia Định cũng cho Huy biết: gã trung niên và vợ chồng giáo sư VT cũng đã bị Cảnh Sát Tuần Lưu xa lộ tạm giữ. Vợ chồng giáo sư VT được cảnh sát bảo vệ về nhà ngay trong đêm, còn gả trung niên hiện đang giao cho F đặc biệt xử lý.
Tổng hợp tin thẩm vấn. Chúng tôi biết được gả thanh niên là một tên đặc công tình báo đội lốt sinh viên. Hắn được lệnh bắt có hai vợ chồng giáo sư VT, lúc giáo sư vừa đến cổng nhà. Vì thế chúng mang theo chiếc tắc xi để tống hai vợ chống vị giáo sư vào trong xe mà không ai có thể biết được.Đó là phương án 1. Phương án 2, nếu như không thể bắt cóc được thì phải hạ sát hai vợ chồng vị giáo sư này trên đọan đường vắng nhất.
Nhân số thực hiện hành động cho công tác này, gồm 4 nhân viên của phân cục tình báo Gia Định thuộc cụm tình báo C21 Việt cộng. Gả thanh niên trẻ và cô gái là 2 nhân viên trực vụ chính, còn gã tài xế và tên trung niên là hai nhân vật phụ trợ lực.
VÔ HIỆU HÓA CỤM TÌNH BÁO MANG ÁM SỐ C21
Bắt được những người định thực hiện công việc bắt cóc hoặc sát hại giáo sư VT xong, nhưng chưa phá vở được đầu mối chính là cụm tình báo C21 của cộng sản đó là một điều trăn trở vô cùng của Trưởng cơ quan GF, Thiếu Tá N.
Một tuần sau khi triệt hạ 4 nhân viên tình báo Việt cộng trong phân cục Gia Định.Thiếu Tá N gọi Huy vào văn phòng làm việc của ông .Người chỉ huy vui vẻ cho biết: việc làm của Huy và chị Loan vừa qua được cấp trên khen thưởng và ông đã đề nghị ban phát huy chương bội tinh. Nhưng cấp trên nói đó chỉ là bước đầu. Cần đi một bước hai nữa là: phải vô hiệu hóa cụm tình báo C21, điều này có nghĩa là phải bắt gọn toàn bộ ban lãnh đạo là những cán bộ nồng cốt của cụm C21. Đó cũng là mong muốn của D1( Chuẩn Tướng T) .Anh có thể làm được điều này? Thiếu Tá N hỏi?
-Dạ thưa thiếu Tá tôi tuân lệnh.
-Anh có thích cô Loan bên A 17 làm việc với anh?
– Huy ấp úng…
– Được nếu anh cần vì nhu cầu công tác, tôi sẽ trình với cấp trên xin cô ấy biệt phái sang đây làm việc với anh.
– Huy vui ra mặt.
– Thiếu Tá N vừa cười vừa nói: Tôi biết anh mà!
Huy chào Thiếu Tá N ra về nghĩ ngơi để chuẩn bị công tác mới. Hôm sau Huy mời chị Loan ăn nhà hàng seafood trong vùng Chợ Lớn. Huy cho chị biết: Huy và chi sắp sửa làm việc chung trong một công tác mới. Chị tỏ vẽ ngạc nhiên và nói: lần công tác trước đây Loan chỉ tăng cường cho anh, theo nhu cầu công tác, chứ Loan không thuộc quân số của đơn vị anh!
-Vâng, chị nói đúng. Nhưng trong tương lai chị sẽ thuộc về đơn vị của Huy. Cấp trên của Huy sẽ xin chị hẳn về bên này. Nếu được thế, chị có vui không. Huy hỏi?
– Chị Loan cũng ấp úng …và hỏi ngược lại Huy. Loan vẫn là người tình của anh trong công tác mới?
– Không hẳn thế, nhưng … làm người tình tâm hồn chi có hạnh phúc không ? Mặt chị Loan đỏ hồng sau câu hỏi của Huy. Chị quay mặt nơi khác để cố tránh những cái nhìn can đảm nhưng dò xét của Huy. Huy cầm tay chị để vào lòng bàn tay của mình và nói: Bàn tay của chị ấm quá! Chị Loan không phản ứng nhưng nhìn Huy thẹn thùng nói: “ Cái anh này!”, rồi đưa mắt vào màn ảnh truyền hình khi đang chiếu cặp tài tử Alen Delon và Bebe đang hôn nhau trong phim Adieux à L’été.
Với hành động trên, Huy không biết chị có cảm nhận gì không ? Chứ Huy cảm thấy nắm tay có nghĩa là một tình yêu nữa bắt đầu…. Khi hai cực nam và bắc chạm vào nhau, sẽ nãy sinh ra những giòng điện tình ái…nắm tay là một nghệ thuật…có nhiều người thích được người khác nắm tay, có nhiều người nắm tay phãi chọn lựa người. Đối với người Huy yêu, Huy thích nhất là nắm tay người đó.
Đầu năm 1973, tình hình chiến sự từ các quân khu có những sự việc làm bất lợi cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Cộng sản miền Bắc đã tung bộ đội chính quy vào áp lực quân sự trên các quân khu 1 và 2 cùng một vài nơi trên lãnh thổ quân khu 3.
Tại thủ đô Sàigòn, phong trào chống chính phủ do những tổ chức cộng sản trá hình như linh mục Trần Hữu Thanh, Ngô Bá Thành, Ni sư Huỳnh Liên … tạo những cuộc biểu tình làm cho không khí chính trị thủ đô vào thời điểm này trở nên nặng nề.
Tiếp tay với các nhóm cộng sản trá hình để làm cho bộ mặt thủ đô Sàigòn thêm nặng nề hơn. Cục tình báo C21 đã chỉ thị và bật đèn xanh cho các thám tử của họ tấn công đồng lọat vào các đại học để “ xây dựng cũng cố và quật khởi” phong trào sinh viên học sinh mà trước đây đã bị đã bị chính quyền miền Nam đập tan.
Cuối tháng 3 năm 1973, bước đầu Cụm tình báo C21 cho tổ chức sinh họat ngày truyền thống kỷ niệm Trần Văn Ơn và kỷ niệm ngày Quốc Tế Phụ Nữ .Đến đầu năm 1974 cộng sản đẩy mạnh phong trào sinh viên cụ thể là biểu tình khu vưc chợ Bến Thành đòi trả tự do cho Huỳnh Tấn Mẫm và các sinh viên khác. Nhóm sinh viên
“ xung kích” của cộng sản dùng cả bom xăng và lựu đạn khói gây rối làm náo động khu vự trung tâm thành phố. Đồng lọat cộng sản cho thành lập “phong trào bảo vệ quyền lợi sinh viên học sinh” họat động vào các trọng điểm như Đại Học xá Minh Mạng, Đại Học Vạn Hạnh, Đại Học Hòa Hảo và các Đại Học khác. Cộng sản còn lập ra một ủy ban gọi là “Ủy Ban Hành Động Công Bằng Xã Hội” tập họp gồm các sinh viên học sinh các tôn giáo . Ủy ban này phối họp với Phong Trào Bảo Vệ Quyền Lợi Sinh Viên Học Sinh ngày 25 tháng 8 năm 1974 vịn cớ ngày “hy sinh của sinh viên Quách Thị Trang” để xuống đường. Mặt khác cộng sản còn dùng các sinh viên của các tôn giáo mít tinh tại nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế chống bắt lính và đòi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức.
Những truyền đơn chống chính phủ Việt Nam Cộng Hòa,đòi Tổng Thống Thiệu từ chức được bí mật rãi đầy trong các đại học Văn Khoa, Khoa Học, đặc biệt là Đại Học Luật Khoa.
Tại trung tâm dự bị đại học trên đường Trần Hoàng Quân quận 10, trong vòng một tuần lễ có 3 vụ rãi truyền đơn. Những vụ rãi truyền đơn thường thấy vào những giờ học của giáo sư Vũ Văn Mẫu và Nguyễn Độ.
Qua sự nghiên cứu của cấp trên, để ngăn chặn và vô hiệu hóa các vụ rãi truyền đơn là phải phá vỡ tận gốc cụm tình báo C21.
Thiếu Tá N, trưởng cơ quan GF gọi Huy vào văn phòng, cố vấn cho Huy thực hiện kế họach và hướng dẫn Huy đến gặp D1. Sau khi trình bày kế họach công tác. D1 nói : tôi kỳ vọng vào anh và Thiếu Tá N. Khi ra khỏi văn phòng của D1, Huy cảm thấy lo lắng, mặc dù từ khi xa rời quân trường Mẹ là Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia và sau khi tốt nghiệp Á khoa khóa 3 Cán Bộ Điều Khiển ở trường Tình Báo Trung Ương, cũng như có thời gian làm việc với vai trò một trưởng đầu ngành đặc biệt của một quận hẻo lánh của tỉnh Tây Ninh. Huy đã có dịp thử lòng can đảm của mình đối với những công tác nguy hiểm, nhưng thành thật mà nói lòng Huy chưa có sự hồi họp nào như lần nhận công tác này.
Thiếu Tá N, nhìn vẽ mặt đăm chiêu của Huy, ông hỏi.
-Anh làm sao thế?
– Thưa Thiếu Tá, tôi hơi lo lắng…
– Anh sợ không hoàn thành công tác?
– Dạ thưa…
-Tôi hiểu anh. Tôi sẽ sát cánh cùng anh. Tôi tin anh là người thông minh và sẽ chiến thắng.
Về đến văn phòng của Thiếu Tá N, Huy đã thấy chị Loan ở đó. Chị mặc chiếc quần Jean Mỹ với chiếc sơ mi trắng dài tay, tóc xõa thẳng dài đến tận mông và má dậm thêm một ít phấn hồng ngọai làm cho khuôn mặt chi đẹp hẳn ra trông giống như
“ Nữ Hoàng Sân Khấu Cải Lương” Thanh Nga trong phim “Xa lộ không Đèn”. Nhìn chị lòng Huy bổng rộn ràng và chợt nhớ đến bài thơ “ Yêu Nhau Cỡi Áo Cho Nhau” của Thái Sơn.
Hồn ta một cõi đam mê
Tóc mây sợi nhỏ vương thề tình em
Em thơ ngây dệt mộng lòng
Thiên thai một chốn lãng du cuộc tình.
Tiếp thu lời dặn của người chỉ huy, Huy và chị Loan nhập cuộc. Ngày 25 tháng 01 năm 1975, Theo tin của cảm tình viên là một sinh viên cùng quê của chị Loan. Chúng tôi biết được tác giả của các vụ rãi truyền đơn trong trung tâm dự bị đại học trên đường Trần Hoàng Quân là do tên Khắc Tân một sinh viên năm thứ hai cầm đầu. Tên này thường có mặt trong giờ dạy của giáo sư Vũ Văn Mẫu cùng với một nữ sinh viên tên Dương thị Quỳnh. Hai sinh viên này lợi dụng giờ giáo sư Mẫu vì ông là người có chân trong thành phần thứ ba ( đó là một nhóm khuynh tả không ưa chính phủ. Nói theo từ ngữ tâm lý chiến thì nhóm nay là nhóm :ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản) . Ông thường có cảm tình với những sinh viên có khuynh hướng thiên tả, ưa quậy chống phá chính quyền. Cục tình báo C21 việt cộng điều nghiên và khai thác triệt để, những lớp học nào có giờ của giáo sư Mẫu thì cho người của họ hành động .
Với sự yểm trợ của cấp trên, Huy quyết định xâm nhập vào toán rãi truyền đơn của tên Khắc Tân. Qua nhiều ngày tiếp cận mục tiêu, chị Loan và Huy biết được quán tính của Khắc Tân mỗi sáng thường ngồi hút thuốc và uống nước ngọt tại vĩa hè trước hàng rào trường Nam Sinh Mù. (đối diện Trung Tâm Dự Bị Đại Học ) Chị Loan đến ngồi gần bàn của hắn, gọi một chai nước ngọt uống và lấy tự điển làm bộ tra từ, nhưng bên trong quyển tự điển là một máy camera technical color được thiết kế kỹ thuật riêng biệt dành cho công tác thu hình tình báo. Hắn hút chưa hết nửa điếu thuốc chị Loan đã lấy xong hình của hắn vào máy. Chị cất quyển tự điển vào cặp sách, vừa uống nước vừa nói chuyện với cô bán hàng. Thỉnh thoảng, chị nhìn hắn và cười đưa tình. Không mấy chốc hai người đã quen nhau. Hai người bạn mới thăm hỏi nhau về gia đình, nguyên quán…và đôi khi bàn về khía cạnh thời sự . Lãnh vực này, tên Khắc Tân có vẻ tâm đắc nên nói tương đối nhiều, trong khi đó chị Loan chỉ có nhiệm vụ là vuốt theo quan niệm của hắn. Hắn cho rằng sinh viên cần phải yêu nước, và nếu như vậy là phải đứng lên lật đổ chính quyền do tổng thống Nguyễn văn Thiệu cầm đầu, và phải đuổi Mỹ ra khỏi miền Nam, để lập một chính phủ mới hợp hiến công bằng hơn. Theo hắn có một chính phủ như thế chỉ có người cộng sản mới thực hiện được. Hắn thao thao bất tuyệt, mà hắn không biết rằng những lời nói của hắn đã lọt trủm vào trong các băng nhựa của chiếc máy thu băng đặc biệt hiệu sony của Nhật nằm trong chiếc áo nịch nhũ hoa của chị Loan. Đôi khi chị Loan ca tụng sự hiểu biết về nhận định của hắn làm hắn trở nên tự đắc. Hắn nói liên tằng không mõi mệt mãi đến khi bạn hắn Dương thị Quỳnh đến, hắn mới thôi.
Hắn và Quỳnh từ giả chị Loan và hứa sẽ gặp lại một nơi khác trong thành phố. Chúng tôi báo cáo sự việc về sĩ quan điều hợp cùng với những chứng liệu đã thu thập.Phân tích chớp nhóang tình hình Thiếu Tá N chỉ thị: Huy cần phải xâm nhập nhanh vào tổ chức, để làm cái nhân cho các tế bào để tế bào phát triển, còn chị Loan là những bó li be gổ tiếp nhận sự sống từ nhân làm cho thân cây được vững và phát triển. Chúng tôi hiểu ý vị chỉ huy và khai triển chỉ thị.
Tại một quán kem trên đường Nguyễn Trung Trực thuộc quận nhất, Khắc Tân và Dương thị Quỳnh gặp chị Loan. Chị giới thiệu Huy với hai người. Khắc Tân bắt tay Huy và nói: trông anh khỏe, rắn chắc quá! Chắc anh không phải là người của thành phố Sàigòn ? Vâng tôi là người ở tỉnh quê, nên có vẽ thô kịch. Cám ơn anh đã có lời khen . Mọi người ăn kem và uống nước lọc. Trong khi uống nước và nói chuyện Khắc Tân nói với chị Loan. Qua một thời gian quen biết, tôi nghĩ Loan là người tốt có thể họp tác với chúng tôi về nhiều công việc cần thiết, nhất là những việc có liên hệ đến tình hình thời cuộc hiện nay. Khắc Tân nhìn Huy và quay nói nhỏ với chị Loan cùng với Dương Thị Quỳnh. Huy cảm thấy khó chịu với thái độ này của Khắc Tân, nhưng cố nén lòng. Huy không hiểu nội dung Khắc tân nói gì! Nhưng chị Loan nói: tôi cam đoan với Khắc Tân, Huy sẽ làm được.Hắn là kẻ nhà quê mà! Cái khó của hắn bây giờ là không có tiền mướn nhà để tiếp tục học Luật ở thành phố Sàigòn này!. Gia đình của hắn nghèo lắm. Loan biết điều này rất rõ.
-Anh có yêu tổ quốc Việt Nam không? Khắc Tân hỏi Huy.
– Tổ quốc ai mà không yêu. Huy trả lời.
– Anh có dám dấn thân để làm một hành động gì đó cho tổ quốc không?
– Tôi sẵn sàng đi vào quân đội cầm súng để bảo vệ đất nước, hay làm một việc gì đó khi đất nước cần. Trước mắt tôi là cố học để tốt nghiệp và sẽ trở thành một người trí thức hữu dụng. Khắc Tân cười nhếch môi và nói: Anh sẽ thực hiện được gì anh muốn. Chúng ta sẽ thực hiện được. Bây giờ chúng ta sẽ là những đôi bạn cùng nhau thực hiện mơ ước. Tôi sẽ gặp lại anh. Khắc Tân và Quỳnh ra khỏi cửa quán kem, trong khi Huy dõi mắt theo họ cho đến khi hai người khuất vào dòng người đông đúc .
Huy nhìn chị Loan cả hai đều nhìn nhau không nói, nhưng ngầm hiểu nhau, bước đầu của kế họach tương đối thành công. Huy nắm lấy tay chị Loan rời quán kem.
Ngày X, tại quán Bún Ốc trên đường Hồng Thập Tự. Khắc Tân gặp Huy và Chị Loan mà theo lời nói của Khắc Tân đây lần gặp cuối để sau đó là hành động. Lần gặp này, ngoài Khắc Tân ra còn có một sinh viên nữa, Khắc Tân gọi sinh viên này là Hoàng Dũng. Trông Hoàng Dũng. Huy thấy như là đã gặp nơi nào một lần rồi. Hoàng Dũng bắt tay Huy và nói nhờ anh Tân tôi mới biết được anh. Tôi nghe anh Tân nói nhiều về hoàn cảnh của anh, nên định gặp anh để giúp anh. Khắc Tân đã nói gì về tôi. Huy hỏi?
-Anh ấy nói anh có tư tưởng tốt yêu quê hương đất nước, anh là một sinh viên nghèo đang khó khăn về nơi ăn chốn ở để học hành. Có đúng không?
– Vâng tôi ở tỉnh về đây học. Sau một năm ba tôi mất do bom mìn chiến tranh khi ông đốn gổ trong rừng, gia đình tôi bị khủng hỏang kinh tế, cuộc sống hàng ngày mẹ tôi phải gồng gánh tất cả nên không thể cung cấp chu toàn cho sự ăn học của tôi. Tôi có dạy kèm một vài em học sinh kiếm tiền phụ vào việc thuê nhà để được tiếp tục việc học, nhưng không đủ chi phí.
– Anh có muốn vào sinh họat với nhóm chúng tôi không? Vào nhóm này, anh sẽ được làm những công việc nhẹ nhưng có tiền, anh khỏi phải dạy kèm trẻ em mà thù lao thì chẳng có bao nhiêu! Hoàng Dũng nói.
– Vâng xin các anh giúp đở tôi. Huy nói.
– Được. Tôi sẽ gặp anh lại, bây giờ tôi và anh Tân có việc phải đi.
Tại căn nhà mang số K trên đường Nguyễn Trãi Hoàng Dũng gặp Huy. Anh dài dòng về hiện tình thời sự và giới thiệu “ Phong Trào Bảo Vệ Quyền Lợi Sinh Viên Học Sinh” với Huy. Hoàng Dũng cũng nói rõ: vào Phong Trào này khi làm tốt Huy sẽ được một số tiền hàng tháng là 10 ngàn đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa.
– Công việc của Phong Trào là như thế nào ? Và làm tốt thì là sao? Huy Hỏi.
– Hòang Dũng : Công việc của Phong Trào đơn giản bước đầu là rãi truyền đơn chống chế độ Cộng Hòa và đòi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức…Làm tốt những việc như thế tổ chức sẽ đánh giáo cao về chất lượng công tác. Anh sẽ được trọng thưởng.
Ngày L, tại Trung Tâm Dự Bị Đại Học Trần Hoàng Quân, hàng ngàn tờ truyền đơn nội dung chống Chế độ VNCH và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bay đầy lớp Cổ Luật của giáo sư Vũ Văn Mẫu do Huy thực hiện. Để tránh sự chú ý của sinh viên khác .Theo lời hướng dẫn của Hoàng Dũng Huy mang truyền đơn bỏ vào cặp sách
(truyền đơn được in khổ nhỏ để dễ bảo mật).Khi gần đến giờ ra về, chuyển những bó truyền đơn ( đã mở sẵn ) xuống ghế và ngồi lên, sau đó đứng lên đi ra nhanh khỏi vị trí. Những lá truyền đơn bay lên tung tóe bởi hàng chục chiếc quạt máy gắn trên trần nhà.)
Việc làm thử thách lần đầu đã trót lọt, Huy báo cáo sự việc về cơ quan đồng thời nhận chỉ thị mới . Về phía Phong Trào. Hoàng Dũng nhiệt liệt khen ngợi Huy và hứa giúp cho Huy nhà ở để học hành đồng thời làm việc cho Phong Trào.
Cũng tại căn nhà mang số K, sau này mới biết là nhà của dân biểu Nguyễn Văn B trong Hạ Nghị Viện của VNCH.
Hoàng Dũng sắp xếp cho Huy một căn phòng nhỏ vừa đủ để chiếc giường và một bàn học. Thế là Huy được thưởng số tiền 10 ngàn đồng và có chỗ cư ngụ. Lòng Huy mừng nhưng cũng rất hồi họp. Vì đây là một công tác tương đối nguy hiểm. Nhưng nếu không phải Huy chắc khó người nào làm nổi, theo sự ước đóan của Thiếu Tá N cấp chỉ huy của Huy.
Qua công tác rãi truyền đơn trong khu Đại Học Dự Bị, Huy phát giác thêm 4 sinh viên nữa cũng làm công tác này. Họ phần lớn là sinh viên theo học năm thứ nhất .
Một ngày nọ, Hoàng Dũng gọi Huy đến một căn nhà mang số E trên đường Nguyễn Cư Trinh. Đến nơi Huy đã thấy có Khắc Tân, Dương Thị Quỳnh và 4 sinh viên cùng rãi truyền đơn với Huy ở Trung Tâm Dự Bị. Mọi người đều chờ Hoàng Dũng đến. Lần này, Hoàng Dũng đến với một người thanh niên khỏang 32 tuổi có nước da ngăm đen. Dũng gọi người thanh niên này là anh Ba và giới thiệu cùng mọi người.
Anh Ba bắt tay từng người và nói với những người có mặt : “Lãnh đạo Phong Trào Bảo Vệ Sinh Viên Học Sinh muốn có cuộc đấu tranh quật khởi, phối họp với các phong trào khác để xuống đường rầm rộ yểm trợ cho “quân giải phóng” ngoài chiến trường. Và Phong Trào Bảo Vệ Sinh Viên Học Sinh là nòng cốt trong công cuộc tranh đấu. Vì thế để chuẩn bị tốt cho cuộc tranh đấu các anh chị sau đây cần phải dự khóa học tập để sau này là cán bộ nòng cốt cho Phong Trào” .Hai người được chon dự khóa học trong đó có Huy.
Huy báo cáo sự việc lên Thiếu Tá N, kế họach được điều nghiên và cơ quan phản gián E 2 cũng đã nhập cuộc để hổ trợ cho Huy.
Gần ba tuần lễ không gặp chị Loan lòng Huy cảm thấy buồn. Thăm hỏi được biết chị Loan đang được cấp trên điều về phòng tổng họp tin tức để ghi nhận sự kiện đầu mối của Huy, nhưng ban ngày vẫn đến lớp bình thường, và cũng vẫn bám chặt Khắc Tân cùng Dương Thị Quỳnh.
Kể từ được Hoàng Dũng cho ở trong nhà đường Nguyễn Trãi quận 5, Huy giống như con chim bị nhốt vào lồng dường như là mọi sự sinh họat của Huy đều có người theo dõi.
Buổi chiều ngày L, Hoàng Dũng qua phòng của Huy cho biết ngày T, sẽ đưa Huy đến một địa điểm bí mật để học tập. Khóa học tập này kéo dài khỏang 2 tuần cho nên Huy cần chuẩn bị tư tưởng.
Buổi trưa ngày T, Huy được người chạy Honda ôm đưa đến một ngôi nhà trong xã Bình Phước Quận Hóc Môn giáp ranh quận Thủ Đức. Nơi đây Huy được chủ nhà cho ăn một bửa cơm và nghĩ tạm vài giờ chờ đêm xuống lên đường. Chủ nhà là một người đàn bà trung niên nói với Huy: cháu làm công tác tốt nên “ Phong Trào ” đã chú ý và đề bạc cháu, ráng cố gắng học tập để giúp nước sau này.
Khoảng 8 giờ đêm, bà đưa Huy qua hai ruộng mía đến một chiếc xuồng câu đậu ven con rạch. Bà bảo xuống xuồng câu, trên đó có sẳn một người thanh niên đang chờ sẵn để đưa Huy đi. Trời càng về đêm càng tối lạ thường, Huy chỉ nghe tiếng nói của người đàn bà chào gả thanh niên ra về dù bà chỉ đứng trên bờ con rạch cách chiếc xuồng câu vài mét. Thỉnh thoảng Huy nghe văng vẳng tiếng chó sủa vang trong xóm xa quanh con rạch. Gã thanh niên đưa cho Huy một bó câu cấm và bảo: Huy đóng vai như là một người đi câu đêm, để qua mắt an ninh xóm ấp tuần tiểu khi gặp.
Xuồng câu ra giữa dòng rạch thẳng hướng về miệt Lái Thiêu. Trời hừng sáng, xuồng câu đến điểm H. Gả Thanh niên và Huy vào một căn chòi. Gả ra lệnh cho Huy ngồi trên chiếc sạp gổ và lấy khăn đen bịt hai mắt của Huy lại và nói với Huy. Đây là lệnh trên anh cần phải thi hành. Trong lòng Huy không đồng ý cách hành xử như thế nhưng vì nhiệm vụ phải cắn răng nhịn chịu.
Từ khi bị bịt mắt Huy giống như người mù, đành phải chịu theo sự hướng dẫn của bọn họ. Tuy không thấy đường, như đầu óc của Huy đoán được là mình bị họ dẫn đi trên một bờ ruộng lúa và những gò đất cao khô.
Ước khỏang một giờ đồng hồ đi đường. Huy được tháo bịt mắt ra thì thấy mình đang ngồi trong một căn hầm. Phòng học là một sàn nhà bằng đất phía trên căn hầm. Huy biết như thế là do người hướng dẫn nói. Thật sự Huy cũng chưa từng thấy bao giờ, vì mỗi khi lên lớp những học viên đều bị bịt mắt. Học viên chỉ dùng tai mình để nghe lời giảng hoặc hướng dẫn của giảng viên mà thôi. Sau khi học xong học viên được hướng dẫn về hầm, khi đó mới được mở mắt ra.
Hai tuần lễ bị hành hạ thể xác khổ cực như thế. Đến lớp thì lại bị “ hiếp dâm “ lỗ tai, vì chỉ nghe toàn là những câu “chuyện chống Mỹ – Ngụy” hoặc những bài học tranh đấu nhằm phá rối nền an ninh của chế độ VNCH, mà Phong Trào Sinh Viên Học Sinh thành thị là mũi xung kích.
Có ba giảng viên phụ trách khóa học. Huy không được nhìn mặt những giảng viên này, nhưng qua giọng nói của một giảng viên dạy về môn “ phương cách vận động kết họp các phong trào Sinh Viên tôn giáo” Huy đã biết được một người đã từng gặp Huy tại căn nhà trên mang số E trên đường Nguyễn Cư Trinh. Đó là anh Ba người mà Hoàng Dũng giới thiệu với Huy.
Sau khi nhận báo cáo mật về nội dung khóa học, chương trình hành động của Phong Trào từ Huy, Thiếu tá N, quyết định đưa 2 tóan xung kích gồm 6 người là những sĩ quan trẻ có võ thuật đóng vai sinh viên vào trận để yểm trợ cho Huy, để phòng những bất trắc có thể xảy ra. Các toán này luôn đặt dưới sự điều động của Huy .Chị Loan cũng được bố trí trở lại với phần nhiệm như là người bạn tình của Huy. Chị và Huy xuất hiện thường xuyên câu lạc bộ sinh viên
Có chị Loan Huy cảm thấy sự cô đơn lẫn mất, tâm hồn phấn chấn cường độ làm việc được tăng cao.
Bên Phong Trào cũng không bỏ cơ hội tiến hành những kế họach đã được cụm tình báo C21 chỉ thị.
Cuối tháng 10 năm 1974, với sự xuất hiện của anh Ba một cán bộ tình báo của Cụm cũng là giảng viên môn “ Phương Thức Vận Động..” trong khóa học mà Huy đã biết được thông qua tiếng nói. Đại Học Luật Khoa dường như không tuần nào được yên ổn. Không cảnh sinh viên cướp microphone để tuyên truyền cho cộng sản thì có màn hăm dọa Ban Đại Diện Sinh Viên v.v
Chiều ngày Y tháng 10 năm 1974, Hoàng Dũng cho người nhắn Huy đến trình diện anh Ba tại một quán cà phê cạnh hồ con Rùa. Huy nhận lệnh từ anh Ba là phải có kế họach cho pháo đại nổ vào phòng Hành Chánh của trường Luật đồng thời vận động Sinh Viên tiến chiếm văn phòng Ban Đại Diện Sinh Viên, cùng lúc 10 ngàn truyền đơn chống chính quyền, chống chiến tranh đòi tổng Thống Nguyễn văn Thiệu từ chức phải được rãi khắp trong khuôn viên trường Luật trong tuần lễ sau cùng của tháng 10. Huy nhận lệnh, nhưng lòng thật lo lắng vì biết luôn có người theo dõi và sẵn sàng thủ tiêu Huy khi bị bại lộ.
Theo kế họach họach định. Khoảng 12 giờ trưa ngày H, khi sinh viên hết giờ ra về và khi có tiếng pháo nổ trên lầu 2 thì thành phần sinh viên điều khiển những quả pháo đại khổng lồ sẽ cho nổ tung văn phòng Hành Chánh.
Sau khi sắp đặt kế họach trình cho anh Ba đồng thời cũng báo cáo về cho Thiếu Tá N, trưởng cơ quan GF. Để có phương pháp đối phó hữu hiệu. Huy đích thân đến gặp riêng vị chỉ huy này bàn thảo kế sách . Huy cũng đã được gặp D1(Chuẩn Tướng T) và ông đã quyết định cho phá vỡ đầu mối, để bắt gọn các nhân viên và cán bộ cụm tình báo C21. Ông đoán rằng: nếu không phá vỡ đầu mối trước 12 giờ ngày H tuần lễ chót của tháng 10, e rằng tông tích của Huy bị lộ, như thế sẽ nguy hại cho chiến lược lâu dài trong đại học.
Một kế họach phá vỡ đầu mối được Thiếu Tá N trình lên D1 đã được chấp thuận.
Thành phần: chính là Huy và các anh em trong đoàn đặc nhiệm. Thành phần ngoai vi: Một trung đội Cảnh Sát Dã Chiến của quận 5. Toán cảnh sát sắc phục có phương tiện là công xa…
11 giờ trưa ngày H như đã định, sinh viên lần lượt ra về anh Ba đến gần Huy nói nhỏ: Huy cẩn thận nhé. Bọn cảnh sát chìm trà trộn trong này nhiều lắm nhé! Ráng cố gắng thành công Phong Trào sẽ tưởng thưởng cho Huy. Anh Ba còn nói thêm, không biết sao hôm nay Cảnh Sát Đồ Bông nó lãng vảng gần khu vực này nhiều quá!
– Dạ em cố gắng, anh yên tâm.
11 giờ 30 phút sinh viên ra về càng đông. Huy và anh Ba đứng trong một góc để điều khiển kế họach. Trong khi đó Huy cũng đã bố trí nhân viên trong Đoàn Đặc Nhiệm đứng lẫn lộn vào các sinh viên trước lối ra vào cửa trường để ra dấu hiệu cho các nhân viên sắc phục đến bắt những sinh viên là nhân viên tình báo trong cụm tình báo C21.
Cứ mỗi cái gãy đầu hay gãy tai của anh em trong Đoàn Đặc Nhiệm thì lại có một tên tình báo viên hay cán bộ Cụm tình báo C21 bị nhân viên công lực tạm giữ. Gần 12 giờ anh Ba nóng ruột quay hỏi Huy: liệu kế họach được thực hiện tốt? Vâng thưa anh có thể thực hiện được, ngọai trừ các toán xung kích hành động chậm trể. Huy nói với anh Ba: hay là anh Ba và Huy ra phía cổng trường để quan sát rõ hơn. Anh Ba đồng ý! Vừa đi gần đến cổng, Huy thấy một nhân viên trong Đoàn Đặc Nhiệm đưa tay trái lên gãy vành tai phải của anh, liền ngay sau đó hai anh Cảnh Sát mặc Sắc phục đến còng tay của Huy và anh Ba tống lên công xa đưa về bót Cảnh sát Quận 5. Huy nhìn anh Ba và ngược lại anh Ba nhìn Huy trong nỗi tuyệt vọng.
Vào phòng điều tra của Ty Cảnh Sát Quận 5. Huy bị thẩm vấn viên tra tấn thẳng tay . Anh Ba cũng thế. Mặt của Huy bị sưng vù bởi cú đấm của anh Trung Sĩ T thẩm vấn viên . Sau màn dàn chào phòng thẩm vấn của Ty Cảnh Sát Quận 5. Anh Ba và Huy được tách rời ra. Một thẩm vấn viên khác đến đưa anh Ba qua một phòng khác . Riêng Huy vẫn bị giữ lại và sẵn sàng chờ nhận tiếp những cú đấm sấm sét không thương tiếc của Trung Sĩ T.
Bị đau, nhưng Huy không một lời tiếc lộ tông tích mình là ai! Trung Sĩ T bắt Huy hai tay chống lên tường và khám xét. Móc hết giấy tờ trong người của Huy.
Huy không biết ông tìm cái gì từ một chiến hữu của ông, khi cái công việc ông đang làm để hàng tháng ông có tiền nuôi sống bản thân và gia đình là do người chiến hữu vừa bị ông tra tấn đem đến.
Điện thoại reo, ông không thèm bắt ông chỉ cấm đầu vào cái mớ giấy tờ là những thẻ sinh viên và những giấy hoãn dịch sức khỏe hoặc học vấn trong cái bốp ông vừa lấy được từ túi quần của Huy. Xem chừng ấy giấy tờ, có lẽ không thỏa mãn tính chuyên nghiệp của ông, nên ông bảo Huy cỡi hết đôi giày để ông tìm chứng tích. Khi Huy cởi xong hai đôi giày đưa cho ông. Ông thấy dưới lớp vãi lụa dùng lót chân có một tấm card. Ông vội mừng và quay sang hỏi Huy: Cái thứ gì anh để trong này? Huy không trả lời câu hỏi của ông mà nhìn thẳng vào mặt của Trung Sĩ T. Huy thấy sắc mặt của ông biến đổi lạ thường. Ông đến gần Huy dịu giọng hỏi: Thiếu Úy là người của mình à ?
-Vâng. Anh đừng lo ngại. Việc anh anh cứ làm. Tôi chỉ trách anh là anh quá hăng say tìm hiểu về cái bóp của tôi mà anh quên nghe những cú phone từ mọi nơi gọi đến can thiệp cho tôi, đôi khi trong đó có cú phone của Chuẩn Tướng Phụ Tá Tư Lệnh Đặc Biệt.
-Trung Sĩ T, ra vẽ bối rối. Ông liên lạc với Thiếu Tá Hữu Trưởng F Đặc Biệt người chỉ huy của ông.
Sau cú phonre liên lạc của Trung Sĩ T. Thiếu Tá Hữu xuống gặp Huy tại phòng thẩm vấn tỏ vẽ hối tiếc và xin lỗi Huy. Đích thân ông đưa Huy khám sức khỏe và dùng bửa với ông.
Huy đã được Thiếu Tá N, trưởng cơ quan GF đề bạc với cấp trên ân thưởng Đệ Tam Đẳng Chiến Công Bội Tinh.
Thế là Cụm tình báo C21 đã bị sa lưới với 20 nhân viên trong đó có bốn cán bộ trung và cao cấp. Anh Ba là cán bộ tình báo nòng cốt của C21 vai trò như là một phái khiển tất cả các mạng lưới gián điệp trong các đại học miền Nam . Hoàng Dũng là Phó Chủ Tịch Phong Trào Bảo Vệ Sinh Viên Học Sinh, Khắc Tân là Tổng Thư Ký Phong Trào Sinh Viên các Tôn Giáo và Dương Thị Quỳnh cán bộ trí vận.
Sau công tác vô hiệu hóa cụm tình báo C21, Huy không còn làm việc với Thiếu Tá N và Đoàn Đặc nhiệm nữa. Cấp trên biệt phái Huy sang Phủ Đặc Ủy Tình Báo Trung Ương nhận công tác mới.Huy cũng được biết vị chỉ huy khả kính, Thiếu Tá N cũng không còn là trưởng cơ quan GF, ông cũng được cấp trên điều sang cơ quan khác.
 
Duy Văn Hà Đình Huy