Nếu
Cho Em Lời Vui
Vườn tao ngộ của quân trường Quang Trung
“Vườn tao ngộ” của quân trường Quang Trung năm xưa trong bài hát của nhạc sĩ Khánh Băng: “Vườn tao ngộ em đến thăm anh…”
Những người yêu nhạc vàng, đặc biệt là yêu các ca khúc viết cho lính, không ai không biết đến ca khúc Vườn Tao Ngộ được nhạc sĩ Khánh Băng viết với bút danh Nhật Hà. Ca khúc này trước năm 1975 cũng được những người quân nhân và người yêu của lính rất yêu thích.Vườn Tao Ngộ thuộc Trung tâm huấn luyện Quang Trung, là nơi mà người yêu, người vợ và gia đình các tân binh đến thăm những người lính trẻ đang được huấn luyện, sau những ngày gian khổ nơi quân trường.
Quân trường Quang Trung nằm trên một khu vực rộng lớn ở khu vực quận 12 ngày nay. Cùng với Trung tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ thì quân trường Quang Trung trải dài từ Xa lộ Đại Hàn đến ngã 4 An Sương qua đến ngã 4 Trung Chánh.Nhắc đến quân trường Quang Trung là nhắc về 3 tháng thao trường của những chàng tuổi trẻ đã vi nước mà xếp bút nghiên theo nghiệp đao binh. Trung tâm huấn luyện Quang Trung là quân trường cấp quốc gia, nơi chuyên đào tạo và huấn luyện đến 80% các tân binh để cung cấp cho các quân, binh chủng của miền Nam.Vườn tao ngộ có tên chính thức là Vườn Cộng Hòa, là khu tiếp tân của quân trường là nơi ghi lại những hình ảnh rộn ràng, cảm động nhất vào mỗi ngày chủ nhật. Nơi đây đã chứng kiến những nụ cười, những giọt nước mắt lưu luyến của người tình, của cha mẹ, anh em, vợ con của người lính. Có thể nói tình yêu trong thời chiến là mối tình thiết tha nhất, vì nó mang cả tâm tình của người hậu phương gửi trao cho người ra tiền tuyến. Người lính không chỉ là người thân, người yêu, họ là niềm hãnh diện của gia đình và các người tình thiếu nữ. Trong cái nắng đổ lửa của quân trường, bóng người tân binh bên những tà áo dịu dàng của các thiếu nữ chợt ngọt ngào như một lời ước hẹn.
Vườn tao ngộ rộng khoảng 3-4 ha, có vài chục gian nhà và vườn hoa, và khi người thân đến thăm quá đông còn phải ngồi trải ra cả bãi cỏ mới đủ chỗ. Ở đây có gian nhà bán tạp hóa, giữa khu là rạp hát to với sân khấu rộng. Còn giữa sân trong cổng là sân khấu có hình giống như tháp eiffel lưng chừng để khán giả ngồi tứ phía xung quanh dự khán đều thấy rõ. Vào tối cuối tuần, sân khấu có tổ chức văn nghệ phục vụ cho thân nhân của tân binh. Vì thân nhân từ tứ phương miền trung, miền tây lặn lội đến thăm nên phải đến vào ngày hôm trước. Vì thế trong này có dựng những dãy nhà tiếp tân cho thân nhân từ xa tá túc qua đêm.
Mỗi ngày chủ nhật, tại vườn tao ngộ này, lính trẻ và thân nhân tha hồ mở lòng tâm sự cho bõ nhớ thương những ngày xa cách… khung cảnh này nhộn nhịp hơn cả ngày hội chợ tết:
Hôm nay ngày chủ nhật, vườn tao ngộ em đến thăm anh,
Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi
Mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên dần…
Để đến được quân trường Quang Trung, thân nhân sẽ đi dọc theo con đường Quang Trung, rồi đường nối dài (nay là đường Tô Ký đi Hóc Môn). Từ những năm thập niên 1960, con đường này ít có cây to che bóng mát, lại rất vắng và thuộc vùng ngoại ô của đô thành nên “nắng đổ xa xôi”, nhưng bấy nhiêu thì đâu có làm chùng lòng được người con gái mang nhiều nỗi nhớ nhung.
Những cách trở đó có đáng là bao nếu so với sau này, sau khi xong 3 tháng quân trường thì người lính mới phải ra đơn vị, đường trần chia 2 lối xa xôi cách trở hơn rất nhiều lần:Ta nhìn nhau bâng khuâng,
đâu biết rằng chuyện đôi ta sẽ vui hay buồn?
Ngày mai ra đơn vị đường trần hai lối mộng thôi từ đây biết ra sao?
Nếu chúng mình ước hẹn, ngày tao ngộ xa quá anh ơi!
Thời gian xin lắng đọng đợi chờ để đôi tim ướp mộng đem tình thương tô thắm đôi môi hồng.
Những người thụ huấn ở quân trường Quang Trung thường rất trẻ, chưa bao giờ biết mùi của tử khí nơi chiến địa, chỉ vừa mới rời mái trường không lâu, nên cuộc đời vẫn còn pha chút sắc hồng, làm sao chịu nỗi những cô đơn hiu quạnh nơi quân trường khắc nghiệt, nắng dãi mưa dầm.
Đây một phong thư xanh trao đến người để quên đi những đêm quân trường sầu cô đơn hiu quạnh, vùi đầu bên chén trà tìm đọc thư em. Khi đó, tình yêu dành cho người em gái nhỏ chỉ vừa xa cách đôi ngày sẽ trở thành niềm an ủi cho người lính. Nếu ngày mai phải dầm mình trên chiến địa hãi hùng, thì lời hứa đợi chờ của người yêu phương xa trở thành động lực để chinh nhân cố gắng, hy vọng và mơ một ngày về trong thái bình: Anh ơi! Dù non sông cách trở.
Xin anh đừng quên bao kỷ niệm ngày nao hai đứa mình cùng nhau chung mái trường tuổi học sinh đẹp như gấm hoa.Anh đi ngày mai trên chiến địa.
Nơi đây, tình yêu em vẫn đợi.
Cầu xin non nước mình được yên vui thái bình, tìm trao ước hẹn hò.Trung tâm huấn luyện Quang Trung được người Pháp thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1953, nằm tại vùng Quán Tre, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định, nên có tên ban đầu là Trung tâm Huấn luyện Quán Tre. Trên danh nghĩa là Quân trường của Quân đội Quốc gia nhưng vẫn do Quân đội Pháp điều hành huấn luyện và Chỉ huy trưởng. Đến năm 1954 mới chuyển cho Quân đội Quốc gia điều hành và huấn luyện.
Ngày 1 tháng 6 năm 1955, Trung tâm được đổi tên thành Trung tâm Huấn luyện số 1. Ngày 1 tháng 6 năm 1957, để kỷ niệm vị Anh Hùng Dân tộc vua Quang Trung, Tổng thống Ngô Đình Diệm ra quyết định cải danh Trung tâm thành Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung. Sau đó con đường nối từ Ngã 5 Chuồng Chó đến trung tâm này cũng được đặt tên là Quang Trung. Cái tên này được giữ nguyên cho đến ngày nay.
Khoảng cuối thập niên 1960, cứ vào mỗi chủ nhật hàng tuần, nhạc sĩ Khánh Băng đều vào quân trường Quan Trung để thăm một người em họ đang thụ huấn tại đây. Ông đã chứng kiến những buổi tao ngộ đầy cảm xúc của các đôi tình nhân nơi đây nên đã ghi lại thành bài hát Vườn Tao Ngộ.
Ca khúc Vườn Tao Ngộ được ca sĩ Giao Linh hát trước năm 1975, rất được công chúng yêu thích. Nhưng phiên bản hay nhất của bài này có lẽ là Tuấn Vũ và Sơn Tuyền với phần hòa âm của Asia
Người Mẹ vĩ đại -Bài Đọc Cảm Động Tận Đáy Tim
Bài Đọc Cảm Động Tận Đáy Tim – Khuyết Danh
Không ai muốn đến gần, nhưng tình yêu của cô bị bịnh aids đã khiến tôi bật khóc!
Thông tin bệnh nhân AIDS chuẩn bị nhập viện sinh con đã khiến cả khoa sản náo loạn. Các y tá đồng thanh nói: “Ai sẽ chịu trách nhiệm trong trường hợp bị lây nhiễm?” Ngay cả một số bác sĩ cũng phản đối: “Nếu bệnh nhân khác bị lây nhiễm qua dụng cụ phẫu thuật và giường chiếu thì phải làm thế nào?”.
Sau một hồi tranh luận, cuối cùng bệnh nhân cũng được sắp xếp vào chiếc giường số 13, phòng cách ly đặc biệt của khoa sản. Khi trưởng khoa phân công trực ban, không ai muốn nhận vào trong đó. Cuối cùng chỉ còn lại tôi – một y tá vừa tốt nghiệp ba tháng, nơm nớp lo sợ bước vào căn phòng. Vừa vào tới phòng, người mẹ sắp sinh mỉm cười với tôi. Tôi cứ nghĩ rằng những phụ nữ mắc loại bệnh này hẳn sẽ phấn son trang điểm lòe loẹt. Nhưng không phải vậy, cô cũng như những người phụ nữ bình thường khác, khuôn mặt hiền từ, mái tóc dài ngang vai, chân đi đôi giày búp bê…“Cảm ơn cô!” Một giọng nói trong veo và nhẹ nhàng, cô là một phụ nữ bình thường nhưng lại mắc căn bệnh không hề bình thường chút nào.
Thì ra người mẹ trẻ tại giường số 13 này là một cô giáo trung học phổ thông. Một hôm trên đường từ trường về nhà, cô bị tai nạn xe hơi. Vì mất quá nhiều máu nên cô phải truyền máu gấp và không may bị nhiễm HIV. Đến tận khi cô đi khám thai, bác sĩ mới phát hiện cô đã mắc phải căn bệnh thế kỷ. Cuộc đời cô đã bước sang một ngã rẽ mới, ảm đạm và mờ mịt với kết cục buồn phía trước. Đáng thương nhất là đứa bé trong bụng, nguy cơ bị lây nhiễm cũng rất cao, xác suất không dưới 20% đến 40%. Người mẹ không còn hệ thống miễn dịch, vì thế các biến chứng trong quá trình sinh là vô cùng nguy hiểm.
Khi chồng cô đến đã khiến cho cả khoa một phen kinh ngạc. Chồng của một phụ nữ bị AIDS thì trông thế nào nhỉ? Khác xa với tưởng tượng của chúng tôi, chồng cô là một nhân viên văn phòng giỏi máy tính, đeo kính cận, cao ráo, lịch sự, và có phong thái rất đĩnh đạc. “Anh à, anh đoán xem con chúng ta sẽ giống em hay giống anh hơn?” Tôi đang trải ga giường, nghe thấy những câu nói nhỏ nhẹ nỉ non của đôi vợ chồng trẻ thì sống mũi cay cay, nước mắt bắt đầu rơm rớm. Thì ra họ là một gia đình hạnh phúc. “Tất nhiên là giống anh rồi, nếu là con gái thì mới giống em chứ!” Cô vợ nghe vậy còn phụng phịu làm nũng ra điều không chịu. Khi tôi bước ra khỏi phòng bệnh, nước mắt tôi chảy dài, trái tim tôi chua xót vô cùng.
Hàng ngày cô ấy phải uống nhiều loại thuốc khác nhau để kiểm soát lượng virus HIV, hầu như ngày nào cũng phải lấy máu và truyền dịch. Hai cánh tay đầy đặn, nõn nà nay đã chi chít những vết kim tiêm. Tôi là y tá mới ra trường, vốn sống còn ít ỏi lại khá “nhát gan”. Nhất là những lúc lấy máu, tôi vẫn thường làm cô ấy đau đến chảy nước mắt, nhưng cô chưa bao giờ nổi cáu với tôi, chỉ âm thầm cắn răng chịu đựng, thỉnh thoảng còn mỉm cười nói ‘không sao’.
Chỉ vài ngày sau khi cô nhập viện, tôi dần dần rất thích cô ấy.
Tuy còn vài ngày nữa mới đến ngày sinh, nhưng cả khoa đã chuẩn bị sẵn sàng. Cô năm nay đã 31 tuổi lại mang trong mình căn bệnh AIDS, nên bệnh viện cả trên lẫn dưới đều trong trạng thái đề phòng cao độ.
Nhưng bản thân cô lại rất bình tĩnh, hàng ngày đều đọc sách và nghe nhạc, còn viết thư tình hoặc vẽ tranh tặng con yêu.
Một hôm tôi đánh bạo hỏi, tại sao cô lại sinh đứa bé ra, rằng cô có biết nguy cơ lây nhiễm là rất cao? Cô vừa mỉm cười vừa trả lời tôi: “Con tôi đã đến với tôi, đó là duyên nợ, hơn nữa tôi không có quyền cướp đi sinh mệnh của bất kì ai.” Tôi do dự, nhưng vẫn quyết đinh hỏi: “Nếu cháu bị nhiễm HIV thì sao?” Cô ấy im lặng một lúc, sau đó tiếp tục nói: “Nếu không thử thì con tôi sẽ không có cơ hội sống nào.” Tâm trạng tôi vừa buồn vừa xót xa, không khí trong căn phòng trở nên ngột ngạt.
Khi tôi chuẩn bị ra ngoài, cô đã nhẹ nhàng nắm lấy tay tôi, đôi mắt rưng rưng và nói:“Tôi muốn nhờ cô một việc, khi tôi sinh con dù có xảy ra chuyện gì, chồng tôi nhất định sẽ cứu lấy tôi. Nhưng tình trạng của tôi cô cũng biết rồi đó, vì thế nếu thực sự xảy ra chuyện xấu, xin hãy cứu lấy con tôi.” Tôi cảm động ôm cô và khóc, cô đúng là một người mẹ thực sự.
Dưới ánh đèn huỳnh quang nhạt màu, cô nằm yên lặng trên bàn mổ, thân dưới không ngừng chảy máu, nước ối vẩn đục đã ộc ra. Điều này có nghĩa là thai nhi đang lâm vào tình trạng nguy hiểm vì thiếu oxy. Thể chất của cô vô cùng đặc thù, không hề có phản ứng với thuốc tê, chỉ có thể chọn mổ sống để lấy thai nhi ra và chấp nhận hy sinh người mẹ. Hai là tiêm thuốc gây mê, nhưng đợi khi thuốc có tác dụng thì em bé trong bụng đã bị ngạt thở hoặc bị sốc vì liều gây mê quá cao, nhưng chỉ như vậy mới có hy vọng cứu được người mẹ. Cả hai trường hợp đều khiến bệnh viện và gia đình lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan.
Cô nắm chặt tay tôi, đôi mắt nhìn tôi như van nài, giọng nói yếu ớt nhưng rất kiên quyết: “Cứu lấy con tôi, nhanh cứu lấy con tôi, không cần phải quan tâm đến tôi…!”Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến cái nhìn tuyệt vọng đến vậy, trong một căn phòng cũng tuyệt vọng như thế. Một người phụ nữ không thể gây tê, cũng không thể gây mê khi mổ đẻ, bao nhiêu bác sĩ đứng đó đều bất lực.
Con dao phẫu thuật nhanh chóng được đưa xuống bụng dưới, lớp da, lớp mỡ, lớp cơ, niêm mạc rồi tử cung… Người mẹ co giật từng cơn, toàn thân giãy giụa, quằn quại, mắt trợn ngược, khuôn mặt biến dạng vì đau đớn, miệng cắn chặt chiếc khăn trắng và rên lên từng cơn xé lòng. Tôi không thể chịu nổi khi chứng kiến những giọt nước mắt của cô rơi xuống lã chã. Và tôi biết, đó không chỉ là đau đớn mà còn là tình yêu của người mẹ. Đến tận hôm nay tôi mới hiểu vì sao làm con phải hiếu thảo với cha mẹ. Bởi mỗi đứa con chào đời là biết bao nhiêu đau đớn, biết bao nhiêu nhọc nhằn, thậm chí là hy sinh cả tính mạng của mẹ. Cuối cùng, thai nhi đỏ hỏn cũng được đưa ra và khóc lên tiếng khóc yếu ớt đầu đời. Người mẹ vừa ngất lịm đi, đột nhiên nghe thấy tiếng khóc của con nên cô cố gắng hé mở đôi mắt liếc nhìn về phía con yêu, nhưng rồi mí mắt sưng húp nặng trịch lại vội vã cụp lại. Tôi vội vàng tháo đai cố định ở chân và tay cho cô, vì gồng mình vật lộn với cơn đau, cổ tay cổ chân cô đều rớm máu. Hai mắt tôi đẫm lệ, trái tim tôi cũng như thắt lại…
Thật khó để tin rằng đây là một người mẹ AIDS, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng nhìn thấy con trai của mình. Đôi mắt cô nhắm lại và sẽ không bao giờ còn mở ra được nữa. Cô bị nhiễm trùng nặng và không thể cầm được máu nên đã mãi mãi ra đi. May mắn là em bé âm tính với virus HIV. Tôi tin rằng ở trên cao kia, cô cũng đang mỉm cười mãn nguyện.
Khi làm vệ sinh phòng bệnh, tôi đã tìm thấy một lá thư dưới gối của cô, bên trong còn vẽ một bức tranh ông mặt trời, bên dưới mặt trời là một đôi tay nhỏ. Cô viết cho con trai rằng: “Con yêu, cuộc sống giống như mặt trời, hôm nay lặn xuống ngày mai nhất định sẽ lại lên.” Tôi không thể ngăn những giọt nước mắt, cuộc sống thật quá mong manh và cũng thật mạnh mẽ. Người mẹ nào mà chẳng thương con? Vậy cớ sao chúng ta lại phải phân biệt đối xử?
Cuối cùng tôi đã hiểu, cô cũng như những người mẹ bình thường khác, dũng cảm để giành lấy sự sống cho con.
Khi đứa bé được xuất viện, cháu nằm yên bình trong vòng tay cha. Ban đầu đứa trẻ khóc rất to, giống như biết mẹ nó sẽ không bao giờ còn quay về nữa. Nhưng nó chợt ngừng khóc khi tôi đặt bức thư lên ngực. Dường như trong lòng bé cũng đang mỉm cười khi nhận lấy cuộc sống vĩnh cửu này. Mai này lớn lên em sẽ biết rằng, mẹ của em là người mẹ vĩ đại nhất trên đời.
Khuyết Danh
Kinh tế thị trường mang lại lợi ích cho người dân và làm lung lay chế độ như thế nào?
RFA Tiếng Việt Bài phân tích của TS. Phạm Quý Thọ
Kinh tế thị trường thúc đẩy tăng trưởng, giảm đói nghèo. Nhưng nếu cải cách đặt sự tồn vong chế độ lên trên lợi ích người dân có thể làm tổn hại quá trình chuyển đổi dân chủ.
Trước “Đổi mới” năm 1986, nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, nông nghiệp lạc hậu của Việt Nam đứng trước nguy cơ sụp đổ, người dân nghèo nàn, kiệt quệ và không có tự do kinh tế.
Ngày nay, sau hơn 30 năm, Việt Nam đã vươn lên là quốc gia có thu nhập trên đầu người ở mức trung bình thấp. Từ năm 2002 đến năm 2018, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng hơn 2,7 lần. Theo ước tính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), quy mô nền kinh tế Việt Nam năm 2020 theo GDP danh nghĩa đạt 340,6 tỷ đô la Mỹ hay 3.498 USD/người, và nếu tính theo sức mua tương đương đạt 1.047 tỷ đô la Mỹ và 10.755 USD/người.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh của Việt Nam trong suốt giai đoạn qua, mặc dù bất bình đẳng cũng gia tăng, đã mang lại lợi ích cho phần lớn dân số, trước hết tác động đến việc xoá đói giảm nghèo. Số người nghèo, tính theo chuẩn nghèo quốc tế, đã giảm liên tục từ khoảng 40 triệu vào năm 1990, xuống còn 14 triệu vào năm 2004 và theo chuẩn nghèo mới (đa chiều) tính đến cuối năm 2019, số nguời nghèo còn khoảng 10 triệu… Như vậy, mặc dù chuẩn nghèo thay đổi theo hướng nâng cao, thì trong một phần ba thế kỷ có hơn 40 triệu người Việt Nam thoát đói nghèo.
Thực tế quá trình chuyển đổi kinh tế cho thấy về sức mạnh của kinh tế tư bản, vốn, năng lực và động lực thị trường cho tăng trưởng. Các nguyên lý của kinh tế thị trường tự do đã từng bước được áp dụng, sở hữu tư nhân được khuyến khích. Hầu như toàn bộ nền kinh tế đang chuyển động theo những nguyên tắc kinh tế như nhau – hoạt động sản xuất kinh doanh hướng đến lợi nhuận, dùng lao động làm công ăn lương và tự do về phương diện pháp lý, các doanh nghiệp phối hợp phi tập trung theo quy luật cung cầu. Đồng thời với việc sử dụng các công cụ, thước đo, chỉ tiêu của kinh tế thị trường, sự can thiệp của nhà nước toàn trị đối với nền kinh tế cũng giảm dần.
Những thay đổi như trên chứng tỏ sức mạnh của kinh tế thị trường đối với sự phát triển đất nước. Tuy nhiên, cách giải thích các thành tựu kinh tế thường gắn với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (ĐCS) về công lao trong giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội có thể khắc phục các mặt trái của thị trường như thể biện minh cho tính chính danh của chế độ khi các lãnh đạo không được bầu bởi tất cả người dân.
Các chế độ chính trị đều phải thay đổi để thích nghi với kinh tế thị trường thúc đẩy tăng trưởng trong bối cảnh toàn cầu hoá, trong đó chế độ Đảng Cộng sản toàn trị ở Việt Nam không là ngoại lệ. Những đặc điểm chủ yếu của mô hình chính trị này là tập trung quyền lực quá mức, tính chính danh của đảng yếu, dựa quá nhiều vào áp bức, và để cho quyền lực cá nhân chi phối các chuẩn mực thể chế. Giữ nguyên chế độ đảng trị với cấu trúc tháp tập trung quyền lực: Tổng bí thư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành trung ương…. quá trình thích nghi của chế độ với sự chuyển đổi kinh tế sang thị trường diễn ra theo hướng thể chế hoá, nghĩa là tạo dựng các quy tắc, chính thức hoặc không chính thức, để ràng buộc các hành vi của con người, đặc biệt đối với quan chức bộ máy cai trị.
Đồng thời với cải thiện môi trường khuyến khích đầu tư, kinh doanh và khởi nghiệp thì quá trình thể chế hoá, tăng cường pháp trị được thực hiện trên các phương diện sau: Một là, xác lập các tiêu chuẩn để chuyển giao quyền lực giữa các thế hệ lãnh đạo. Không quá hai nhiệm kỳ năm năm làm lãnh đạo trong bộ máy công quyền, tổ chức công lập và giới hạn tuổi được quy định trong các văn bản pháp lý, thậm chí trong Điều lệ Đảng CS; Hai là, tuyển chọn, sử dụng cán bộ dựa trên năng lực hơn là quan hệ bè phái, ưu tiên quá trình ‘thử thách’ và kinh nghiệm công tác; Ba là, phân công, phân quyền theo hướng chuyên môn hoá chức năng trong bộ máy nhà nước. Các nhánh quyền lực như chính phủ, quốc hội, tư pháp có nhiều không gian hoạt động hơn; Bốn là, nới lỏng sự tham gia chính trị qua các tổ chức như xã hội dân sự, phi chính phủ, thiện nguyện… nhằm tăng sự hấp dẫn với người dân và củng cố tính chính danh của đảng.
Tuy nhiên, những thay đổi như trên về thể chế chính trị đã không đáp ứng được sự phát triển của kinh tế thị trường. Sự quản lý của Đảng, Chính phủ đối với toàn bộ tài nguyên, đất đai và sự can thiệp quá mức vào nền kinh tế, mà quyền lực công thiếu cơ chế kiểm soát hữu hiệu, là nguyên nhân trực tiếp của chủ nghĩa thân hữu, sự liên kết giữa quan chức và doanh nhân, sinh sôi nạn tham nhũng nghiệm trọng, nạn hối lộ, trục lợi bất chính tràn lan, thất thoát tài sản công, suy thoái đạo đức và lối sống, văn hóa, phá hỏng luật chơi của thị trường. Tình hình nghiêm trọng đến mức đe doạ sự tồn vong của chế độ.
Đảng đang tìm cách cứu vãn chế độ, thoát ra khỏi khủng hoảng. Tuy nhiên, việc “củng cố” nội bộ đảng đồng thời với chống tham nhũng bằng tập trung quyền lực cao hơn, đang đi ngược với quá trình thể chế hoá nêu trên. “Các trường hợp đặc biệt” đã phá vỡ các chuẩn tắc chuyển giao quyền lực; đề bạt cán bộ dựa trên lòng trung thành với lãnh tụ, lý tưởng thay thế cho năng lực kỹ trị; quyền lực của Chính phủ bị kiểm soát chặt chẽ hơn; dân chủ trong Đảng bị hạn chế, các tổ chức xã hội dân sự như hội, đoàn bị hạn chế. Ngoài ra, kỷ luật Đảng đang được siết chặt hơn. Hội nghị Trung ương 3 khoá 13 vừa sửa đổi hoặc ban hành các quy định thực hiện Điều lệ Đảng, quy chế làm việc và phối hợp giữa các cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng, tăng cường quyền lực cho Uỷ ban kiểm tra Đảng…
Những động thái trên là nỗ lực đưa chế độ theo đúng đặc điểm toàn trị mà các nhà nghiên cứu có ảnh hưởng nhất về chủ nghĩa toàn trị đã chỉ ra. Đó là đảng, nhà nước cố gắng động viên toàn thể dân chúng theo ý thức hệ chủ nghĩa xã hội và không khoan nhượng đối với những hoạt động không hướng về mục tiêu của đảng, lãnh đạo toàn diện các cơ quan quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp, công an, quân đội…), tăng cường lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị và quần chúng, đồng thời với kiểm soát truyền thông, các cơ sở học thuật, các cơ sở tôn giáo….
Thực tế chỉ ra rằng, trong cùng bối cảnh toàn cầu hoá, sau những thành công kinh tế nhờ thị trường, chế độ chính trị độc đoán trong các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… đã từng chuyển đổi sang chế độ dân chủ. Tuy nhiên, chế độ đảng CS toàn trị không lựa chọn cách thay đổi này. Quá trình cải cách thể chế chính trị chưa bao giờ suôn sẻ và nhất quán, đặc biệt trong những năm gần đây, còn chứa đựng những mâu thuẫn, chủ trương xây dựng “Đảng mạnh, nhà nước mạnh” hiện nay theo kiểu “thể chế hoá ngược” có thể cản trở chuyển đổi kinh tế sang thị trường.
* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do.