Nhà Thơ Huệ Thu (VTLV)

Nhà Thơ Huệ Thu

hue-thu-2  huethu-1hue-thu-4

 

Sinh trưởng tại Đà Lạt, Định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1980
Hiện sống cùng gia đình tại San Jose, California
Làm thơ từ thời trung học với bút hiệu Trần thị Tiên, Trần Bích Tiên
Hiện giữ mục Thơ Ðường trong tạp chí Nguồn
Có bài trên các tạp chí tại hải ngoại:t ạp chí Thơ, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học , Hợp lưu….
Hiện cộng tác với các trang điện báo: vantuyen.net – quantho.net – saimonthidan.com- trasonthidan.net.
Tác phẩm đã xuất bản:
– Thơ Huệ Thu 1987
– Sương Chiều Thu Đọng (thơ, 1991)
– Mở Ngõ Phù Vân (thơ,1995)
– Lục Bát Huệ Thu (1997)
– Đầu Non Mây Trắng (thơ, 1998)
– Tứ Tuyệt Huệ Thu (thơ,1998)
– Khúc Ca Quy Ẩn (thơ, 2005)
– Hương Mùa Cũ (thơ Đường in chung, 2006)

Sắp xuất bản :
(nhưng đã post trên saimonthidan.com & quantho.net)

Khúc Ca quy ẩn I gồm 400 câu lục bát
Khúc Ca quy ẩn II gồm 400 câu thất ngôn
Cõi thanh bình (Ðầu non mây trắng III) 432 c âu lục bát
Cuối biển mù sương (Ðầu non Mây Trắng II) 424 câu lục bát
Thơ Chuyển thể huệ thu (từ một bài chuyển đủ thể loại)
Ðường thi của huệ
Thơ Ðường Xướng họa

Những tác phẩn của nhà thơ Huệ Thu:

2ht3ht4htsuong-chieu


Hôm Nay Tôi Làm Bài Thơ Này Tự Do

1,

Việt Nam!  Việt Nam!
chưa một lần tôi hô vang
tên Đất Nước tôi với lòng hân hoan trìu mến!
Tôi là người vượt biển
Ngay xưa tôi vượt biển
Đại Dương!  Đại Dương!
biết bao nhiêu thương biết bao nhiêu hờn biết bao nhiêu oán
nhất là những tháng tù nằm ở đảo Côn Sơn!
Việt Nam yêu thương!  Việt Nam yêu thương!
tôi ít nhất có một lần đứt gánh
tôi từng cỡi áo đắp cho con tôi kẻo lạnh
tôi từng nhịn cơm cho con tôi no lòng…
Việt Nam núi sông…nước mắt hai dòng quá ít!

2,
Năm 1979, lần thứ hai, ra tù, tôi đi, đã đến
mấy mươi năm làm én liệng quê người
Việt Nam tôi mây trôi Việt Nam tôi mây trôi…
tôi phải sống để con tôi được sống
con tôi thì cười đâu thấy mẹ khóc đêm đêm?
Ở đây cuộc sống bình yên
tôi có việc làm, con tôi có nơi để học
tôi vẫn nghĩ về Quê Hương khổ nhọc
Má tôi chờ có một ngày tôi về…
Má tôi chờ và Má tôi đã đi
Đi vĩnh viễn đến với Ba đã nằm ngoài nghĩa địa
Việt Nam Việt Nam hỡi ơi biển lệ
Đà Lạt hỡi ơi tôi mất hết rồi!

3,
Suốt ba năm nay, tôi đứng, tôi ngồi
rất ít khi bởi tôi thường nằm liệt chiếu
tuổi ngày một cao chưa có một thời niên thiếu
hồn nhiên như con tôi, quả thật rất buồn
cũng tại vì mình có một Quê Hương
cũng tại vì mình có rất nhiều người thương ở đó!
có những chiều tự dưng trời trở gió
tôi nghĩ đến Má tôi, nghĩ đến bà con
thèm một chén cơm, thèm một bát bún
thèm nghe tiếng dép động hiên nhà
Má ơi con vẫn còn xa…

4,
Trời không cho ai trẻ mãi, ai cũng phải già
nước non tôi bốn mươi năm hơn rồi sao ai cũng thèm thời con nít?
Chưa một người lớn khôn
Chưa một chút buồn nào phai nhạt
phải chăng tại vì mất mát?
Tôi mất Ba tôi trong Chiến Tranh
Tôi mất Má tôi trong Hòa Bình
Tôi mất ngay cả chính mình Tuổi Hồn Nhiên Mơ Mộng
vậy mà tôi phải sống
Tôi muốn con tôi thành người
có nụ cười khi gặp bè gặp bạn!
Tôi thèm một nụ hôn đặt trên vầng trán
của Ba tôi, chẳng hạn, mà…Ba ơi!
đó, thuở tôi thiếu thời…

5,
Cả tháng nay hình như tôi đau nặng
tin quê nhà gửi qua cay đắng…
– người chết ở nhà thương bó chiếu chở về bằng xe gắn máy
– người chết ở trên đường dịp lễ nghỉ về thăm nhà
– người chết vì hút cần sa cho đỡ đói
– người chết không kịp nói…tôi là dân oan!
Tin Trịnh Xuân Thanh giàu nhờ tham ô, trốn mất rồi
Tin về cá chết …tới bây giờ vẫn còn cá chết
Tin Formosa đền cho ngư dân năm trăm triệu đô la làm ô nhiễm môi trường
nhưng được nhà nước trả hoàn gần một tỉ đô la tiền thuế
Dân được gì đâu giữa thời dâu bể!
Ở Yên Bái có người bắn lầm hai cán bộ cốt cán rồi tự sát
Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Fuck, Nguyễn Thị Kim Ngân mừng chết hụt!
Độc Lập, Tự Do, Ấm No, Hạnh Phúc
bọn Tàu ô lúc nhúc đầy đường
Đà Nẵng, Hải Phòng, Nha Trang dễ thương xí xào xí xố…
Bí Thư Thanh Hóa không xấu hổ khi trút tiền cho gái dài chân…
Đại Thắng Mùa Xuân bốn mươi năm hơn đầy tiếng oán tiếng hờn!
Việt Nam Việt Nam Đau Thương Đau Thương!

6,
Tôi biết làm Thơ Đường
Tôi biết làm thơ Lục Bát
Tôi biết làm thơ tám chữ…
Nhưng hôm nay, tôi làm bài thơ này, Tự Do
Tôi cảm ơn Trời đã cho tôi gần hai phần ba đời người được No được Ấm
Tôi san sớt cho quê nhà nhiều lắm, cảm ơn Phật Trời, con vẫn còn dư!
Tôi ước tôi mơ Con Tôi Đọc Bài Thơ Này Tiếp Thêm Sức Mẹ
lau cho mẹ giọt lệ ngày Mẹ lìa đời …!

huệthu




Nhà thơ Song Linh (TT/VTLV 2016)

Nhà thơ Song Linh 

song-linh

Tên : Vũ Đình Long
Bút  hiệu: Song Linh
Sinh năm Kỷ Mão, Bắc Ninh.

Làm thơ từ năm 1960 tại Sài Gòn
Cộng tác với một số báo như : Chiến Sĩ Cộng Hoà, Tiền Phong, Hành Động, Chính Luận, Báo Sống, BA Quân, và Hải Quân.

1975 đi tù
1993 qua Mỹ sang tác lại
1995 dến 2005 phụ trách Tổng Thư Ký Văn Thơ Lạc Việt.
Tác phẩm : Thân phận và tình yêu (thơ) – Nửa đời còn đó (thơ) Ngoài ra còn cộng tác chung với nhiều tác gỉa. Nhóm Cụm Hoa Tình Yêu – Cội Nguồn –  M.P. thi tập 1,2,3,4 v..v..
01  DVD thơ phổ nhạc – 01 CVD – 03 CD Thơ Phổ.
HIện là cố vấn cho Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt.

——————————————————————————————–

Dáng Xưa

Riêng tặng Áo Tím.
Gặp người cứ tưởng hoa xưa
Cũng nghiêng tóc xõa chiều vừa sang đông
Lời ai ngọt ấm bềnh bồng
Đưa ta lạc chốn cõi bồng đêm nao
Bên tôi em tựa vai vào
Bóng đêm mờ nhạt đêm chàovô ngôn
Bây giờ vàng là hoàng hôn
Tóc đôi sợi bạc nửa hồn thương đau
Bên em áo sợi hoa cau
Tay thon tháng chạp cõi sầu nở hoa
Chiều về dáng nhỏ kiêu sa
Thêm say tình vội … hồn ta cõi hồng
Cuộc đời bên có bên không
Tình ta theo bong… chất chồng nỗi đau
Đêm về trải mộng canh thâu
Mi cong cánh phượng … Gối đầu tâm tư
Người về thơ cũng tương tư
Cám ơn chiều mộng tạ từ dáng xưa.

Song Linh
 San Jose 12/2015

Có  Phải TìnhTa Là Khói Sương

Có phải tình yêu là nỗi đau.
Đời hoa từ đó khóc thương sầu
Làm sao và được trăng vừa khuyết
Xin tạ ơn em buổi hẹn đầu

Có phải em về trong giấc mơ
Bước chân nhè nhẹ dưới trăng mờ
Tóc em gói cả hồn thu lại
Mà giọt sương mai mở cánh chờ

Có  phải mùa xuân trong mắt nai
Đường xa dáng mộng , nét trang đài
Gặp nhau sao lại buốn như lá
Phố mở vòng tay, đất thở dài

Có phải tình ta như khòi sương
Mà anh  còn đứng đợi bên đường
Ngày mai mốt nọ đâu là thế
Gió buị mưa nào đong nhớ thương

Anh mãi để lòng mở cánh hoa
Chúa về nói nhỏ… Thế nhưng mà
Anh dang tay với… cầu chư phật
Thượng đế mỉm cười… thôi thứ tha

Song Linh
2016

Tình Khúc 1998

Tháng giêng đội nón vào đông
Tôi xa thành phố tay không sương mù
Tháng hai nhận một lá thư
Quê hương xuân đến lòng nhừ xót xa
Tôi vế nhận việc thángg ba
Mùa xuân còn đó chan hòa nắng tơ
Tháng tư một phút tình cờ
Em qua phố chợ không ngờ gặp nhau
Nhìn em không dám nhìn lâu
Sợ cơn đau đến bắc cầu tháng năm
Hạ về tháng sáu qua thăm
Cơn mưa tháng bẩy chỗ nằm có đôi
Tháng tám tình đã lên ngôi
Ngực thơm bông bưởi gọi mời đăng quang
Đâu ngờ tháng chín vừa sang
Tim tôi khoác áo mầu tang cuộc tình
Tháng mười cô quạnh một mình
Đêm thu hiu hắt tâm tình với trăng
Tháng mười một chút nắng hanh
Hàng cây thở hắt đau cành lá bay
Tôi đi nhặt là đầy tay
Mười hai tháng cuối theo mây bềnh bồng.

Song Linh.

 

 

 

 

Ngày Tháng Tám, Mùa Thu

Ngày tháng tám mùa thu về rất lạ
Em mắt buồn theo cỏ lá heo may
Đường thở dài, vàng nắng áng mây bay
Tình cúi mặt để sầu rêu nhánh lá

Ngày tháng tám mùa thu xanh biển cả
Cánh chim về hong ấm nụ môi hôn
Bài thơ yêu nhung nhớ lại gần hơn
Căn gác nhỏ mở lòng vui đất lạ.

Ngày tháng tám, mùa thu vàng đất trắng
Tay em mềm gối mộng ngát trùng dương
Con sóng vỗ thềm trăng mòn vách núi
Gọi xuân về, mây trắng đẹp trời hương

Ngày tháng tám, Mùa thu trùng xuống thấp
Đất khóc thầm tan vỡ mối tình hoa
Em nói dối, ta buồn như muốn khóc
Con thuyền nào chở hết nỗi lòng ta

Ngày tháng tám, mùa thu về thêm tuổi
Đất mẹ nghèo mọc cách vỗ trời hoang
Và tình ta từ đó cũng lang thang
Khi trước mặt, cuộc đời chưa đáp số.

Song Linh.




Nhà Văn Trịnh Bình An (TT/VTLV 2016)

Nhà văn Trịnh Bình An 

trinh-binh-an

Sinh năm 1962 tại Sài Gòn. Định cư tại Hoa Kỳ năm 1990. Hiện cư ngụ tại tiểu bang Maryland (USA). Hành nghề kỹ sư công chánh. Bắt đầu viết từ năm 2008 trên trang báo điện tử DCVOnline.net.

Hiện cộng tác với Tủ Sách Tiếng Quê Hương trong nhóm phụ trách Tin Sách. Liên lạc: tinsach.trinhbinhan@gmail.com

Vẫn Một Ngọc Cờ

 

 

 

Mến gởi quý Anh Chị bài viết  để nhớ tới ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Và như lời CẢM TẠ CHÂN THÀNH NHẤT tới quý Anh Chị .

Những người đã trải qua gian đoạn đau thương nhất thay cho đứa em này.

Thân mến tba

(Nếu đã đọc rồi, xin vui lòng bỏ qua cho)

Hồn Việt Nào Cho Em

Trịnh Bình An

Có những cuốn phim sau khi coi xong khiến tôi thích thú hoặc bực bội, nhưng cũng có cuốn phim khiến tôi băn khoăn, dường như vui, cũng dường như buồn, cuốn phim đó chính là phim “Hồn Việt”.

“Hồn Việt” là một bộ phim trình bày lịch sử Quốc Kỳ và Quốc Ca của Việt Nam Cộng Hòa – nơi tôi đã sinh ra và lớn lên cho tới ngày mất nước. Đấy chỉ là một bộ phim tài liệu với những dữ liệu thực tế. Lá cờ vàng ba sọc đỏ, quốc kỳ của một chính thể đã bị xóa sổ, không ngờ có ngày tung bay phất phới, đứng ngang hàng với những lá cờ quốc gia khác tại nhiều nơi trên thế giới. Đáng lẽ tôi, một người từng sống trên 10 năm dưới lá Cờ Vàng, phải cảm thấy xúc động và tự hào chứ?  Nhưng không hiểu sao tôi chỉ cảm thấy vui buồn lẫn lộn?

Nếu bảo Việt Nam là người mẹ khổ đau qua những năm tháng chiến tranh, thì Việt Nam Cộng Hòa là cha, người cha đã bị bức tử, người cha tôi đã phải xa khi còn tấm nhỏ. Quá nhỏ để hiểu được chiến tranh đang xảy ra khốc liệt chung quanh, quá nhỏ để hiểu đang có rất nhiều người ngày đêm chiến đấu bảo vệ miền Nam, bảo vệ cuộc sống yên ổn cho hàng triệu sinh mạng trong đó có tôi.

Sẽ chẳng ai trách cứ một đứa con gái nhỏ ngượng ngùng với cha nếu nó đã bị lìa xa cha ngay từ lúc nhỏ.  Cũng thế, hẳn không ai trách nếu tôi thú thực rằng giờ đây, sau hơn 20 năm trên xứ người, tôi cảm thấy chẳng có mấy rung động trước lá cờ ấy dù lý trí vẫn biết rằng đó là lá cờ Tổ Quốc của mình.

Cho tới khi xem Phim “Hồn Việt”, tới đoạn trình bày về lược sử hình thành Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam, tôi bỗng cảm thấy dâng lên trong lòng một nỗi chua xót xen lẫn giận hờn.

Tôi tiếc ngày ấy đã không được dạy bảo kỹ lưỡng về nguồn gốc Quốc Kỳ và Quốc Ca trong những giờ Công Dân Giáo Dục. Tôi chỉ biết chào cờ và hát quốc ca như một thói quen. Giống như một đứa con, chỉ được nguời ta chỉ vào ảnh cha mà bảo “Cha con đó!” chứ không giải thích thêm cha là ai, cuộc đời cha như thế nào, cha đang chiến đấu nghiệt ngã trong những hoàn cảnh nào…

May mắn thay, trong đại gia đình dân tộc, vẫn còn những người anh, người chị đã từng sống với cha, đã từng biết đến cha. Những anh chị ấy đã giữ cha trong trái tim họ cho đến cuối đời. Tôi muốn nói tới những người Việt lưu lạc khắp nơi trên thế giới, những người đã kiên quyết giữ vững lá cờ Việt Nam tự do, đã đấu tranh không mệt mỏi để cuối cùng lá cờ ấy tung bay cùng với những lá cờ khác tại nơi họ cư ngụ.

Những anh chị ấy đã cống hiến tuổi thanh xuân để xây dựng và bảo vệ miền Nam để những đứa trẻ như tôi được thảnh thơi đến trường.  Trên xứ người, những người anh người chị ấy vẫn miệt mài tìm mọi cách gìn giữ những di sản tốt đẹp của đất nước để một ngày nào đó khi chúng tôi – những đứa trẻ đi lạc, muốn quay về sẽ thấy vẫn còn đó mái nhà xưa.

Ngày hôm nay, mỗi khi có những dịp tụ họp đông người, việc chào cờ hay không chào cờ vẫn là một đề tài nhạy cảm, có khi gây tranh cãi. Bên muốn chào cờ cho rằng không thể hưởng niềm vui họp mặt trên xứ sở tự do mà quên đi công lao to lớn của những người đã nằm xuống. Còn bên không muốn chào cờ thì bảo việc cử hành quốc kỳ và quốc ca là nghi lễ trang trọng, nếu làm trong một tiệc dịp tiệc tùng vui chơi sẽ mất đi ý nghĩa và giảm lòng tôn kính.

Cả hai phía đều có lý của họ. Riêng tôi, tôi cho rằng những người thực tâm giữ gìn sự tồn tại của Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam không quanh quẩn trong lý lẽ mà họ chỉ muốn hành động từ tiếng gọi của trái tim.

 

Nếu không là tiếng gọi từ trái tim, Đại Tá Phạm Bá Hoa đã không kiên trì sưu tầm mọi tin tức và hình ảnh về các cuộc tranh đấu của người Việt khắp nơi để cho Quốc Kỳ Việt Nam được công nhận tại các thành phố trên khắp thế giới. Mỗi một chiến thắng là một tin vui làm nức lòng người Việt hải ngoại, và là kiểu mẫu cho những nơi khác noi theo, để rồi chiến thắng nối tiếp chiến thắng. Kết quả là cho tới nay, trên đất nước Hoa Kỳ đã có 16 tiểu bang, 8 quận hạt, 103 thành phố công nhận lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là đại diện của Việt Nam đã công nhận lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là đại diện của Việt Nam.

Nếu không là tiếng gọi từ trái tim, ông Chu Lynh đã không quyết tâm bắt tay vào việc thực hiện cuốn phim “Hồn Việt” dù biết sẽ rất khó khăn, lấy ý nghĩ từ chuyến đi thăm nghĩa trang Biên Hoà năm 2003. Nhìn tấm bia mộ của một người lính, lá cờ nhỏ bé khắc trên ấy bị đục nát chỉ còn dấu vết lờ mờ, ông đau thắt lòng.  Người lính, người đồng đội của ông, cả một đời hy sinh chẳng được gì, đến khi chết chỉ có mỗi lá cờ, vậy mà người ta vẫn nhẫn tâm tước đoạt.

Và nếu không từ tiếng gọi từ trái tim, nhạc sĩ Lê Văn Khoa, người đã đưa âm nhạc Việt Nam đến với thế giới, đã không thể soạn hòa âm phối khí cho bản quốc thiều Việt Nam trở nên sống động tha thiết đến thế. Và những nhạc sỹ Ukraina – những người vừa thoát khỏi địa ngục cộng sản, đã cảm thông, đã bắt nhịp cùng tiếng gọi trái tim ấy để tấu lên một bản quốc thiều hùng tráng gây rúng động lòng người.

Tôi muốn ngừng lại một chút để kể một câu chuyện lý thú về lá cờ hiện nay của nước Nga mà lịch sử của nó có đôi điều tương tợ với lá Cờ Vàng VNCH.

Bắt đầu từ năm 1896, Quốc Kỳ Nga có ba màu: trắng, xanh dương và đỏ. Sau Cách Mạng Tháng Mười 1917, lá cờ ấy bị bỏ đi, thay bằng cờ đỏ búa liềm. Đến năm 1991, khi chế độ cộng sản tan rã, Liên Bang Xô Viết (Soviet Union) trở thành Liên Bang Nga (Russian Federation), cờ đỏ búa liềm bị dẹp bỏ, người Nga quay về với lá cờ ba màu -Триколор (Tricolor) lúc trước.

Có nhiều giải thích cho nguồn gốc ba màu trên quốc kỳ Nga. Một giả thuyết cho rằng đó là huy hiệu trên khiên của vương quốc Grand Ducchy of Moscow. Huy hiệu này có hình thánh Saint George mang giáp bạc, cỡi ngựa trắng, choàng khăn và cầm khiên màu xanh trên nền đỏ. Một gỉa thuyết khác lại cho rằng đấy chính là ba màu trên khăn áo Đức Mẹ Maria.

Như thế, nước Nga – cái nôi sản sinh ra chủ nghĩa cộng sản, cuối cùng đã quay về với lá cờ truyền thống. Một lá cờ với ba màu hòa dịu, ẩn chứa những niềm tin thiêng liêng, có thể đó là lòng dũng cảm quên mình của thánh St. George, cũng có thể là lòng từ ái bao la của Đức Mẹ.

So sánh với lá cờ nước Nga, lá cờ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ cũng có màu sắc hòa dịu với những ý nghĩa nhân ái:  Màu vàng tượng trưng cho dân tộc Việt. Ba sọc đỏ là ba miền Nam Trung Bắc. Tuy người dân thuộc ba miền (ba sọc đỏ) nhưng vẫn sống chung một nhà (nền vàng). Dưới mái Nhà Việt Nam, con dân muôn đời thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Màu đỏ trên nền vàng còn là màu của nhiều lá quốc kỳ Việt Nam qua nhiều triều đại khác nhau.

Khi kể câu chuyện nước Nga tìm về lá cờ dân tộc phải chăng tôi muốn nói đến việc phục hoạt lá cờ vàng truyền thống của nước Việt Nam?

Hoàn toàn không. Lá Cờ Vàng đã được chính quyền của môt số thành phố và tiểu bang Hoa Kỳ công nhận là “Lá Cờ Tự Do và Di Sản” (Heritage and Freedom Flag). Người Việt tị nạn sau khi nhập tịch là nguyện đứng dưới lá cờ của đất nước thứ hai. Việt Nam tuy vẫn là tổ quốc thân yêu nhưng không còn thuộc quyền quyết định của những người chúng tôi. Việc chọn lá cờ nào, bài hát nào cho Việt Nam tương lai sẽ hoàn toàn tùy thuộc vào một chính phủ và một quốc hội không còn cộng sản.

Những người ấy sẽ hiểu biết thấu đáo về lịch sử của những lá cờ để nhìn cho ra lá cờ nào mang “Hồn Việt”, còn lá cờ nào chỉ mang giả trá và thương đau.

Nếu đã nói tới quốc kỳ thì không thể không nhắc tới quốc ca. Nghe ban nhạc Ukraina hòa tấu Quốc Thiều Việt Nam, tôi mới thấy Quốc Ca Việt Nam có giai điệu thật phong phú, khi hùng tráng, khi du dương như một nhắn nhủ thiết tha.

Là một học sinh qua hai chế độ, tôi vẫn không thể quên bài hát Tiến Quân Ca của cộng sản.  Nhạc điệu quân hành nhưng khá nhạt nhẽo, chưa kể trong đó có những lời lẽ khát máu đến ghê người. Một ca khúc tầm thường, thậm chí vô nhân có thể nào xứng đáng làm biểu tượng cho một dân tộc lãng mạn và hiếu hòa như người Việt chăng? Nhưng công bằng mà nói, bài hát Tiến Quân Ca có lịch sử riêng của nó và xứng đáng được ghi nhận như ca khúc của một thời. Những người dân Việt trong tương lai sẽ tìm ra quyết định cho quốc ca cũng như quốc kỳ vậy.

Phim “Hồn Việt” ra đời, hai năm tôi sau mới biết, cũng như tôi đã không biết rõ về Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam sau hơn hàng chục năm.  Thật khá trễ tràng. Cảm giác buồn vui lẫn lộn, vui vì biết được thêm quá khứ anh dũng của cha anh, buồn vì suốt bao lâu nay lơ đãng trước những hy sinh cao cả ấy.

 

Mong sao bộ phim tài liệu “Hồn Việt” sẽ giúp cho những thế hệ sau hiểu rõ về quốc kỳ và quốc ca, từ đó thấy rõ tính cách Việt, mơ ước Việt, tâm hồn Việt thể hiện thế nào qua quốc kỳ và quốc ca, để rồi có quyết định sáng suốt về con đường đi tới của dân tộc.

Tổng Thống Woodrow Wilson từng nói:

The things that the flag stands for were created by the experiences of a great people. Everything that it stands for was written by their lives. The flag is the embodiment, not of sentiment, but of history.

(Những gì một lá cờ biểu tượng, đó là những kinh nghiệm đã được tạo dựng bởi một dân tộc tuyệt vời. Tất cả những gì lá cờ biểu tượng đã được viết nên từ chính mạng sống của họ. Lá cờ là hiện thân, không phải của cảm xúc, mà là của chính lịch sử).

Qua phim “Hồn Việt” tôi thấy lời của Tổng Thống Wilson thật đúng, Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam thực sự đã được viết nên từ mạng sống của biết bao người con dân Việt Nam kiên quyết chiến đấu vì Đất Nước, vì Hòa Bình, vì Tự Do. Tôi dù biết điều ấy trễ nhưng vẫn còn chưa quá muộn. Khi hiểu ra được như thế tôi chợt thấy mình tháo gỡ được mối băn khoăn.

 

Người cha bị bức tử của tôi chưa bao giờ chết. Người vẫn còn đó cùng Lá Cờ Vàng lồng lộng bay trong gió như chuyển trao mọi nỗi bi thương nhưng đồng thời cũng là niềm hân hoan về một Đất Việt, một Dân Việt, và một Hồn Việt muôn đời.

 

Trịnh Bình An – 9/2014

 

Sơ lược về phim “Hồn Việt”

“Hồn Việt” là một phim tài liệu dài 57 phút về quốc kỳ và quốc ca Việt Nam do Vietnam Film Club thực hiện vào năm 2012. Phim gồm có 9 đề mục:

– Lược sử hình thành Quốc Kỳ Việt Nam (cờ vàng ba sọc đỏ)

– Lược sử hình thành Quốc Ca Việt Nam

– Quốc Kỳ theo mệnh nước (đi theo người tỵ nạn sau biến cố 1975)

– Quốc Kỳ Việt Nam tại hải ngoại

– Quốc Kỳ Việt Nam trên thế giới

– Những câu chuyện về Quốc Kỳ Việt Nam

– Quốc Kỳ trong tim người Việt

– Quốc Kỳ và người ngoại quốc

– Trình tấu Quốc Thiều Việt Nam tại Kiev, thủ đô của Ukraina.
Sơ lược về “Viet Nam Film Club”

Vietnam Film Club được thành lập tháng 9 năm 2010 sau một thời gian dài vận động. Nhằm đáp ứng nhu cầu đi tìm sự thật của người Việt, đặc biệt người dân trong nước về lịch sử Việt Nam giai đoạn cận đại, Vietnam Film Club thực hiện các phim tài liệu lịch sử liên quan đến Chiến Tranh Việt Nam, Đảng CS Việt Nam, và những hệ lụy của cuộc chiến. 

VFC website vnfilmclub.com

www.youtube.com/watch?v=ahEblKNhUVw

VFC – “Hồn Việt – Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam”

https://www.youtube.com/watch?v=fGzhDXipo30

VFC – “The Soul of Vietnam – The Vietnamese National Flag and Anthem”

*   Cuốn phim tài liệu có sự đóng góp cuối cùng của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đang đi vào giai đoạn cuối: phim Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, dự trù sẽ phát hành bằng DVD vào tháng 7 năm 2016. Xin mời xem Trailer dưới đây

(8 phút):

https://www.youtube.com/watch?v=7t2P-vBPsnY

*   Nhân tưởng niệm 49 ngày mất của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Vietnam Film Club đã thực hiện Video Nguyễn Ngọc Bích: Tấm Lòng Cho Quê Hương, được phổ biến theo Link dưới đây:

https://www.youtube.com/watch?v=CCHdAzTzhec

 


co-vang

 

Lòng yêu nước bắt đầu từ đâu?

Thỉnh thoảng tôi hỏi chính mình. Mỗi khi đọc tin về những con người dấn thân hy sinh cho đất nước, tôi thấy mình lại phải đối diện với câu hỏi: Thật ra, lòng yêu nước bắt đầu từ đâu?

Rất nhiều năm, tôi chỉ có được những cảm xúc mơ hồ về lòng yêu nước, cho đến khi được xem phim Hồn Việt: Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam. Phim Hồn Việt đã cho tôi hiểu tình yêu nước – tình yêu của những con người đã hy sinh mạng sống để bảo vệ ngọn cờ Dân Tộc.

Tôi may mắn có cơ hội gặp gỡ những anh chị trực tiếp thực hiện phim Hồn Việt. Mỗi người mỗi câu chuyện khác nhau, nhưng dường như đều có chung một điều: dù ở đâu, làm gì, họ luôn canh cánh bên lòng một mối ưu tư về vận mệnh đất nước. Rồi một cơ duyên kỳ lạ đã đưa họ tới với nhau để cùng thực hiện phim Hồn Việt.

Nhờ những anh chị ấy, tôi thấy ra một điều: lòng yêu nước quả có thật!

Có thể ví lòng yêu nước như một thứ cây, bắt đầu từ một hạt giống và sẽ nảy mầm nếu đủ điều kiện. Nhưng cái cây sẽ chết yểu hay lớn mạnh còn tùy thuộc vào việc có được chăm sóc kỹ lưỡng hay không.

Bài viết này xin được coi như cố gắng của một người muốn có một cái nhìn thấu đáo hơn bằng cách đặt câu hỏi với những người đi trước. Tuy những câu hỏi chỉ giới hạn trong khuôn khổ phim Hồn Việt, nhưng vẫn hướng về một tình cảm rộng rãi hơn – tình yêu quê hương.

Phim Hồn Việt có được là nhờ vào sự đóng góp công sức của rất nhiều người, cả người Việt Nam lẫn người ngoại quốc. Tuy nhiên, các câu hỏi sẽ được dành cho bốn người có vai trò quan trọng nhất trong việc thực hiện: Cựu Đại Tá Phạm Bá Hoa, Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích và ông Chu Lynh.

***
van-mot-ngon-co

pham-ba-hoaPhạm Bá Hoa:

Cựu Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, là tác giả của những hồi ký chính trị: Đôi Dòng Ghi Nhớ: hồi ký chính trị Việt Nam Cộng Hòa 1963-1975, Ký Sự Trong Tù, Tôi Là Một HO, Quê Hương & Quân Ngũ, Việt Nam 2001-2006. Ông đã viết Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ (2004) liệt kê các thành phố, tiểu bang Hoa Kỳ đã chính thức công nhận và vinh danh Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa là Lá Cờ Tự Do và Di Sản – Heritage and Freedom Flag của cộng đồng người Việt. Ông cũng là người viết kịch bản cho phim Hồn Việt.

Trịnh Bình An (TBA):  Ông đã bỏ công sưu tập lịch sử Quốc Kỳ và thành lập một trang báo điện tử lưu trữ những tài liệu liên quan đến Quốc Kỳ tại hải ngoại. Ông có thể cho biết nhờ đâu mà “trận chiến dựng lại quốc kỳ” đã thắng trận vẻ vang như thế?

Phạm Bá Hoa: Đầu tiên là Nghị Quyết số 3750 ngày 19/2/2003, thành phố Westminster chánh thức công nhận quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ của Cộng ĐồngViệt Nam tị nạn cộng sản. Sự khởi đầu nào cũng có những khó khăn, nhưng với sự vận động từ âm thầm đến công khai, và cuối cùng là thành công rực rỡ. Thành phố thứ nhì là Garden Grove công nhận ngày 11/3/2003 với Nghị Quyết số 8486-03. Hai thành công trên đây được phổ biến rộng rãi trên internet, giúp Cộng Đồng chúng ta tại nhiều địa phương nỗ lực vận động với cơ quan dân cử. Chỉ 5 tháng sau, Louisiana là tiểu bang đầu tiên công nhận ngày 15/7/2003 bằng Luật số 839. Tính đến ngày 4/12/2014, có 134 cơ quan hành chánh Hoa Kỳ công nhận quốc kỳ chúng ta, gồm: 18 tiểu bang, 8 Quận hạt và 108 thành phố.

Sau khi hai thành phố đầu tiên công nhận, tôi tiếp tay phổ biến và cổ vũ cho công cuộc này. Tôi cho rằng, đấy là một trong hai trận chiến mà Cộng Đồng tị nạn cộng sản chúng ta đang chiến đấu. Trận Chiến Nhân Quyền đang diễn tiến, trong khi Trận Chiến Dựng Lại Quốc Kỳ vừa mới bắt đầu nhưng khí thế mạnh hơn. Với tôi, sự thành công có thể nói là ngoạn mục này bắt nguồn từ tinh thần trách nhiệm của mỗi công dân đối với quê hương Việt Nam, dẫn đến tinh thần tự phát đấu tranh dù sống xa quê hương đến nửa vòng trái đất. Mỗi khi nhìn thấy lá Quốc Kỳ tung bay trong gió – tôi nghĩ – không ai nén được sự xúc động mạnh mẽ từ sâu thẳm tâm hồn, bởi đó là biểu tượng của Hồn Thiêng Sông Núi, của Dân Chủ Tự Do.

TBA: Là một người cựu tù nhân từng chịu nhiều năm trong các trại lao động khổ sai của cộng sản, có khi nào ông nghĩ tới ngọn cờ vàng, và lúc đó ông cảm nhận thế nào về câu hát “dù cho thây phơi trên gươm giáo” trong Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa?

Phạm Bá Hoa: Ngày 2/9/1975, khi bị giam tại trại tập trung Long Giao (tình Long Khánh), họ bắt chúng tôi dự lễ chào cờ ngày quốc khánh của họ. Khi họ hát câu “thề phanh thây uống máu quân thù..” tôi liền so sánh với câu trong Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa “dù cho thây phơi trên gươm giáo, thù nước lấy máu đào đem báo…”, nhận thấy sự tàn bạo của họ ngay trong lời hát.

Bài quốc ca của chúng ta tiêu biểu ý chí của người công dân hy sinh vì tổ quốc, trong khi cộng sản buộc công dân của họ phải mổ bụng và uống máu quân thù. Tàn bạo quá! Ghê tởm quá! Cộng Sản Việt Nam chiến đấu không vì con người, mà họ chiến đấu theo lệnh của Cộng Sản Quốc Tế, mà cộng sản quốc tế có tham vọng thống trị toàn thế giới, và tất cả chỉ biết tuân lệnh họ. Nói cách khác, lãnh đạo cộng sản quốc tế là chủ, cả nhân loại chỉ là những bầy thú vật không hơn không kém.

Hiện nay, hầu hết báo giấy cũng như báo online cho rằng, Nhà nước Hồi Giáo ISIS là tàn bạo. Tôi cho rằng nhà nước Hồi Giáo đúng là rất dã man, nhưng các chế độ cộng sản còn dã man tàn bạo hơn nhiều, mà Cộng Sản Việt Nam là trường hợp điển hình. Trong những năm 1945-1946, chỉ riêng tại Nha Mân tỉnh Sa Đéc, lúc đó tôi 15-16 tuổi, làm thư ký cho đại đội trưởng du kích xã, người này hoàn toàn mù chữ. Đại đội có hai trạm gác dọc theo sông Nha Mân, khám xét tất cả người ngoài xã và các ghe xuồng qua lại. Hễ nhìn thấy ba màu xanh trắng đỏ (màu của quốc kỳ Pháp) dù rải rác bất cứ trên áo quần hay đồ vật, lập tức họ trói ngay người có vật ấy lại. Ngay đêm đó hoặc đêm hôm sau, những con người này bị giết chết, xác liệng xuống sông hoặc cột vào dọc cây tre rồi thả trôi sông. Trong thời gian dài, người dân hai bên sông không dám ăn tôm tép vì loại này háu ăn thịt người chết. Ghê tởm quá!

Đầu năm 1947, tôi trốn lên Sài Gòn…

***
le-van-khoaLê Văn Khoa:

Hơn 60 năm phục vụ nghệ thuật và giáo dục, nhạc sĩ / nhiếp ảnh gia Lê Văn Khoa đã làm việc với nhiệt tâm và tận tụy hiếm có. Ông đã dấn thân vào sáng tác nhạc giao hưởng với nguyện vọng đưa âm nhạc Việt Nam giới thiệu ra thế giới. Ông là người soạn hòa âm và phối khí cho Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa và thu xếp việc trình diễn với ban nhạc Ukraine. Đây là một phần quan trọng của phim Hồn Việt.

TBA:  Được biết Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa đã được trình diễn tại Ukraine năm 2012. Xin ông cho biết ai là người đã khởi xướng việc này?

Lê Văn Khoa:  Anh Chu Lynh, hay nói rộng ra là anh em trong nhóm thực hiện phim Hồn Việt: Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam.

TBA:  Ông đã trình diễn bản Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa tại những nơi nào khác nữa? Nếu so sánh với buổi trình diễn tại Ukraine thì có gì khác biệt?

Lê Văn Khoa: Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa đã trình diễn nhiều lần ở California từ năm 1982, ở Texas, Washington D.C. và ở Úc. Chúng tôi dùng bài Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa làm lễ chào quốc kỳ trước khi bắt đầu chương trình âm nhạc ở các nơi này. Quốc Thiều đã được tôi soạn cho dàn nhạc giao hưởng (symphony orchestra). Hai ban nhạc diễn hành của trường trung học La Quinta và Bolsa Grande đã trình diễn trên mẫu hạm Midway nhân ngày kỷ niệm 30 tháng Tư năm 2010. Cùng năm đó Kyiv Symphony Orchestra trình diễn ở Washington D.C. Nhưng ở Ukraine thì khác, vì là ban quân nhạc chính thống, nên âm thanh và hào khí có khác nhau.

TBA:  Tại sao chọn ban quân nhạc?

Lê Văn Khoa: Nhiều người Việt Nam khắp nơi khi nghe bài Quốc Thiều trong phim Hồn Việt đã rơi lệ, nhưng ít ai biết những tình tiết bên trong của việc thực hiện. Tôi xin kể lại sơ lược như sau.

Khi anh Chu Lynh gọi điện thoại đề nghị tôi việc thực hiện bài Quốc Thiều, có lẽ anh chưa có ý niệm rõ rệt về cách trình diễn của các ban nhạc.  Nó không đơn giản như mình đi nghe nhạc trong phòng trà. Hơn nữa, đây là bản Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa! Tôi hỏi anh: “Anh muốn trình diễn với dàn nhạc giao hưởng hay ban quân nhạc?”

Tôi nghĩ bất cứ người nào gặp câu hỏi này cũng ngập ngừng với nhiều đắn đo. Cá nhân tôi cũng nghĩ tới các khó khăn nên mới hỏi câu đó. Một mặt, tôi muốn anh chọn dàn nhạc giao hưởng vì nhạc tôi có sẵn, liên hệ cũng có sẵn vì tôi có mối giao tình tốt đẹp với giới nhạc giao hưởng Ukraine từ năm 2005. Mặt khác, tôi lại muốn anh chọn ban quân nhạc. Nhưng nếu chọn ban quân nhạc, gánh nặng tôi sẽ nhiều hơn bội phần. Sau khi cân nhắc, chúng tôi quyết định nhờ ban quân nhạc. Thời gian thực hiện khá gấp rút nên tôi dồn hết nỗ lực vào việc hòa âm, phối khí và tìm kiếm ban nhạc.

TBA: Việc tìm kiếm ban nhạc và trình diễn sau đó thế nào?

Lê Văn Khoa: Viết nhạc giao hưởng thì tôi quen hơn quân nhạc, nhưng tôi cố vận dụng sự hiểu biết của mình để làm tròn nhiệm vụ. Với ước muốn không thực tế, tôi muốn được một ban quân nhạc tầm vóc quốc gia để trình diễn quốc thiều của một quốc gia, nên đề nghị Taras Myronyuk (người giúp tôi thực hiện nhiều chuyến thu thanh ở Ukraine với Kyiv Symphony Orchestra and Chorus) thử tiếp xúc với ban nhạc của Phủ Tổng Thống Ukraine (The Ukrainian National Presidential Orchestra).

Không ngờ lời đề nghị của Taras được chấp thuận. Tôi rất mừng, nhưng cũng rất lo biết đâu sẽ có bàn tay phá hỏng. Do đó, một mặt yêu cầu những người liên hệ giữ kín việc này, mặt khác đánh lừa sự chú ý của phe muốn phá, nên cùng lúc tôi thực hiện một chuyến thu thanh với dàn nhạc của Hội Hiếu Nhạc Kyiv (Kyiv Philharmonic Orchestra). Việc lo xa của tôi không phải là thừa! Ngay buổi chiều trước ngày trình diễn, Taras báo cho tôi biết ban nhạc có ý muốn hủy bỏ buổi trình diễn. Họ không nêu rõ lý do nhưng có đề cập đến bài Quốc Thiều của mình. Tôi linh cảm có bàn tay thọc gậy. Không thể để thất bại, tôi bàn thảo với Taras cách nào để “thoát hiểm”.  May sao, cuối cùng mọi sự cũng được giải quyết êm thắm.

TBA:  Là nhạc sĩ soạn hòa âm, phối khí Quốc Thiều Việt Nam Cộng Hòa cho ban nhạc giao hưởng, ông thấy bản nhạc ấy có thật chuyển tải được Hồn Việt?

Lê Văn Khoa: Về bài quốc ca, tôi có vài ý nghĩ rất nhỏ. Quốc ca của bất kỳ nước nào trên thế giới, nguyên thủy nó chỉ là một bài hát, có thể hào hùng, có thể nghiêm trang, có thể bi ai. Khi bài hát ấy được chọn làm quốc ca, người ta ban cho nó cái hồn thiêng của dân tộc. Bài Tiếng Gọi Sinh Viên của Lưu Hữu Phước được ban cho Hồn Việt ngay lúc được chọn làm bài Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa. Từ đó nó trở thành biểu tượng bằng âm thanh của người Việt tự do. Khi viết hòa âm cho bài Quốc Ca, tôi thêm âm thanh vào giai điệu đơn như người ta tô màu cho bức tranh trắng đen. Tôi dùng âm thanh để chuyển tải những yêu thương, trân quý, nêu những nét hòa nhã lẫn hào hùng của dân tộc đến người nghe.

Tuy nhiên âm nhạc là môn nghệ thuật trừu tượng nên không phải ai cũng có nhận thức giống nhau. Hơn nữa, người nghe quốc ca hay quốc thiều mà xúc động hay thờ ơ, theo tôi, còn tùy lòng yêu thương đất nước của người đó tới mức độ nào. Ta nghe bài Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa, sự xúc động dâng lên ngút ngàn. Những gắn bó với quê hương, nhất là quê hương không còn ở trong tầm với, đã làm cho ta tức tưởi, quặn thắt tâm hồn. Có người yêu quê hương, sẵn sàng chết để bảo vệ quê hương mình. Cùng lúc đó có người đem bán đất nước để mưu cầu lợi riêng, vì họ không có tình, không có hồn đối với quê hương họ.

Hồn Việt chỉ có trong lòng người yêu nước Việt.

Quốc Ca, Quốc Thiều chỉ có thể khơi dậy tình yêu quê hương khi con người thực lòng yêu quê hương.

***
nguyen-ngoc-bichGiáo sư Nguyễn Ngọc Bích:

Từng là giáo sư tại nhiều đại học Hoa Kỳ và Quyền Tổng Giám đốc Giáo Dục Song Ngữ trên toàn Hoa Kỳ (1991-1993). Ngoài dạy học và làm truyền thông, ông còn là một nhà biên khảo và dịch giả có uy tín về văn thơ Việt Nam. Là tác giả của khoảng 40 cuốn sách nhiều thể loại, và có mặt trong gần 50 tập thơ và sách giáo khoa. Ông cũng là producer cho phim Hồn Việt.

TBA:  Ông từng giữ chức vụ Giám Đốc Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA). Với kinh nghiệm lâu năm trong ngành truyền thông, ông đánh giá thế nào về khả năng phổ biến rộng rãi của phim “Hồn Việt” với những thế hệ trẻ trong khi họ không lớn lên dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa?

Nguyễn Ngọc Bích:  Có người cho cái cờ chỉ là một biểu tượng.  Đúng!  Nhưng tôi tuyệt đối không khuyên ai nên coi nhẹ một biểu tượng như lá cờ của một quốc gia.  Cộng Hòa Pháp tính đến nay đã là nền Đệ Ngũ Cộng Hòa (Cinquième République), tại sao lá cờ “tam tài” xanh trắng đỏ của Pháp vẫn chỉ là một lá cờ từ năm 1789 đến giờ? Lá cờ, hay đúng hơn là chữ “màu cờ,” định nghĩa chúng ta là ai.  Nó hiển nhiên không thể chỉ là một miếng vải với các màu sắc trên đó. Nó đánh động đến một cái gì thật là sâu thẳm ở trong ta.

Trước nhất, khi có ai hỏi: Màu vàng và ba gạch đỏ nghĩa là gì, chúng ta không thể bảo là nó vô nghĩa được.  Chúng ta cần phải tìm hiểu, và tìm rồi, sẽ có người nói: màu vàng là màu đất và màu đỏ là màu máu, ba vạch là ba miền Trung-Nam-Bắc, dòng máu của ba miền đi song song, hòa hợp trên mảnh đất của cha ông.  Đó có thể là một câu trả lời khá ý nghĩa. Song cũng có thể có người trả lời chi tiết hơn: Ba vạch liền là quẻ “càn” trong Kinh Dịch, tức tượng trưng cho Trời.  Mà Trời trên nền vàng thì rõ ràng là “Trời Nam”, một tên gọi của nước ta có từ thời nhà Lê thế kỷ XV (“Thiên Nam” như trong Thiên Nam Dư Hạ Tập hay Thiên Nam Ngữ Lục). Màu vàng còn là màu cờ truyền thống của Việt Nam, có ít nhất từ đời Hai Bà Trưng (40-43 theo Công Nguyên). Đến đời Bà Triệu cũng “đầu voi phất ngọn cờ vàng” (Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca). Rồi đến thời Lê Lợi với khởi nghĩa Lam Sơn, chúng ta vẫn còn bài hát: “Nước non Lam Sơn, nước non Lam Sơn. Bóng cờ bay phấp phới! Khắp nơi cờ vàng, khắp nơi cờ vàng. Muôn hồn quân Nam!” (*)

Như vậy, Hồn Việt đi với Cờ Vàng đã không phải chỉ có từ thời Bảo Đại, hay từ thời Thành Thái, như một vài người chủ trương, mà nó bàng bạc trong tiềm thức của dân ta từ cả hai ngàn năm nay rồi.  Một sự gắn bó như vậy gần như trong cốt tủy, trong xương máu của chúng ta rồi.

Lá cờ với một lịch sử hàng ngàn năm như vậy tự nó đã có giá trị trường tồn của nó.  Phim Hồn Việt của Vietnam Film Club chỉ là tiếp nối vào một câu chuyện mà không gì hủy được.  Tuổi trẻ Việt Nam sau này, dù không sống một ngày nào với chế độ Việt Nam Cộng Hòa, sẽ thắc mắc về nó, và một khi tìm hiểu ra rồi thì sẽ yêu thương nó thôi.  Đó là trường hợp một Lê Trung Thành, một Nguyễn Phương Uyên, một Đặng Chí Hùng,… dù các em đó được sinh ra nhiều năm sau 1975, trong một môi trường được học tập để ghét bỏ nó. (**)

TBA:  Ông cũng là người sáng lập Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ với nhiều cuốn sách có đóng góp lớn vào nền văn học người Việt hải ngoại, trong đó có bộ lịch sử “Nhìn Lại Sử Việt”5 Tập của Lê Mạnh Hùng. Ông có nghĩ rằng tới một lúc nào đó, trong những bộ sách lịch sử VN, sẽ cần một chương dành riêng cho Quốc Kỳ và Quốc Ca VNCH?

Nguyễn Ngọc Bích:  Theo tôi nghĩ, một chương sách dành riêng cho quốc kỳ và quốc ca có lẽ nên nằm trong chương trình công dân giáo dục của nước đó thì hơn.  Chứ riêng lịch sử thì phải khách quan và nói đến lá quốc kỳ qua nhiều giai đoạn khác nhau, thậm chí có lúc đối nghịch nhau, như khi đất nước bị chia đôi thì có hai lá cờ khác nhau, hai bài quốc ca khác nhau.  Chưa nói đến cái khôi hài của người Cộng Sản mà có lúc, như vào tháng 8 năm 1975, họ xin vào Liên Hiệp Quốc dưới danh nghĩa hai nước CS Việt Nam, một ở miền Bắc (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) và một ở miền Nam (Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam), với hai lá cờ khác nhau và hai bài quốc ca khác nhau. Nghĩa là chính họ sẵn sàng duy trì sự xẻ đôi đất nước, cốt chỉ nhắm được hai phiếu cho khối Cộng Sản ở LHQ.  Và tới ngày nào chúng ta có một cuốn công dân giáo dục mới thì chúng ta đã có sẵn tài liệu do giáo sư Nguyễn Ngọc Huy sưu tầm và viết mang tên Tiến Trình Hình Thành Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam.

***

chu-lynhChu Lynh:

Là một cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã từng đi tù qua 15 trại tập trung của cộng sản. Ông là editor cho các cuốn phim: Di Sản Nguyễn Ngọc Huy, A Fighter for Democracy in Vietnam, Sự Thật về Hồ Chí Minh, Ho Chi Minh the Man and the Myth, Đại Họa Mất Nước, Hồn Việt, The Soul of Vietnam, và gần đây là các phim tài liệu trên Youtube của Vietnam Film Club, và trong năm 2015 sẽ là phim Thảm Họa Bắc Thuộc hiện đang trong giai đoạn hoàn tất.

TBA: Điều gì đã khiến Vietnam Film Club khởi sự cuốn phim đầu tiên với đề tài về Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam?

Chu Lynh: Năm 2003, tôi có về Việt Nam và ghé thăm nghĩa trang Quân Đội Biên Hoà. Tôi không có tin tức chính xác về tình trạng nghĩa trang nên khi vào đã bị bộ đội canh giữ làm khó dễ. Nhưng cuối cùng tôi cũng đã tìm cách chụp hình và quay phim mà họ không biết được. Thời điểm đó, nghĩa trang là một cảnh tượng hoang phế và bị tàn phá khắp nơi, một sự tàn phá có chủ đích mang tính thù hận. Điển hình là trên ngôi mộ của một người lính, nơi sơn lá cờ vàng đã bị đục nát. Hình ảnh đó đi vào tâm trí tôi khi trở lại Hoa Kỳ.

Đúng 10 năm sau, ngay sau khi vận động thành lập được Vietnam Film Club, thì đề tài về Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam được các thành viên hưởng ứng cho cuốn phim đầu tiên của tổ chức. Với tôi, phim Hồn Việt ra đời không phải là chuyện tình cờ. Có một tương quan nào đó thật khó hiểu, như một trợ lực vô hình theo sát và giúp đỡ chúng tôi suốt chặng đường thực hiện khá gian nan.

TBA: Xin ông cho biết đôi nét về Vietnam Film Club: nhân sự điều hành, vấn đề tài chánh, và nhất là phương hướng hoạt động?

Chu Lynh: Chúng tôi không phải là một tổ chức được đào tạo chuyên nghiệp hay được chính thức tài trợ chi phí. Cho tới nay, Vietnam Film Club chưa kêu gọi đóng góp tài chánh trong cộng đồng hải ngoại, cũng chưa tổ chức gây quỹ. Tất cả thành viên đều tự nguyện và tự túc về mọi phương diện. Về nhân sự, chúng tôi có một số thành viên cốt cán. Tuy nhiên, chúng tôi quan tâm đến việc thiết lập một sự liên kết như một mạng lưới với những nhân vật trong cộng đồng Việt Nam khắp nơi, để được hỗ trợ về tài liệu, phương tiện di chuyển, giới thiệu phỏng vấn các nhân chứng, các nhà nghiên cứu, hay tổ chức các buổi ra mắt phim tại địa phương. Như thế, mặc nhiên cuốn phim sau khi hoàn tất là tổng hợp của những đóng góp từ nhiều người trong cộng đồng người Việt hải ngoại và cả người trong nước. Khi thực hiện các phim tài liệu, chúng tôi nhắm vào đối tượng trong nước, những người đã bị chế độ cộng sản bưng bít sự thật lịch sử hơn nửa thế kỷ nay.

TBA: Là editor cho Vietnam Film Club, điều gì đã thôi thúc ông đi cho đến bước cuối cùng của cuốn phim?

Chu Lynh: Khi về thăm nghĩa trang Biên Hoà, nhìn hàng chục ngàn ngôi mộ hoang phế trong một khung cảnh rộng lớn, không ai không thấy quặn lòng. Tình đồng đội, sự hy sinh của những người lính. Xin mượn lời nhà văn Huy Phương đã viết trên blog của anh sau khi xem phim Hồn Việt: “Họ đã chết cho mình được sống. Họ bị tàn phế để mình được lành lặn. Họ ở lại trong đau khổ và đói khát để mình được ra đi sống sung túc nơi xứ người”. Chúng ta mang món nợ lớn với họ, và nhất là món nợ với đất nước. Việc làm này có thấm vào đâu so với sự hy sinh máu đào của những người lính đã nằm xuống trong cuộc chiến tranh vừa qua.

TBA:  Theo ông, thông điệp chính của phim Hồn Việt gởi đến người xem là gì?

Chu Lynh: Những gì đã thuộc về lịch sử phải được tôn trọng. Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam được hình thành từ trong lịch sử xa xưa, nhờ công lao của tiền nhân, nhờ những người đã nằm xuống để bảo vệ đất nước. Không thể chối bỏ lịch sử, để vay mượn một lá cờ của ngoại bang làm Quốc Kỳ hay sáng tác một bản nhạc sắt máu làm bản Quốc Ca cho đất nước Việt Nam như cộng sản đã làm. Vừa nhục mạ tồ tiên, vừa phản bội quê hương.  Đó là những gì mà phim Hồn Việt mong được gởi đến mọi người.

TBA: Riêng với cá nhân ông, sau khi phim Hồn Việt hoàn tất, được phổ biến rộng rãi với kết quả rất đáng mừng, thì điều gì còn đọng lại trong ông?

Chu Lynh: Phim Hồn Việt sau khi ra mắt, đã được đón nhận nồng nhiệt như một hiện tượng hiếm có trong cộng đồng người Việt hải ngoại và cả trong nước, thể hiện qua các email, điện thoại, các nhận xét trên trang YouTube, và các bài viết trên internet. Đặc biệt, khá nhiều người đã khóc khi nhìn lá Cờ Vàng trong phim mà cứ tưởng đã chết theo số phận của Việt Nam Cộng Hòa sau năm 1975, nay lại tung bay khắp thế giới. Tôi hy vọng, phim Hồn Việt đã đốt nóng ngọn lửa tình tự quê hương trong tim họ và ít nhiều đã thắp sáng lịch sử khi trưng dẫn những tài liệu và nhân chứng lịch sử quý giá.

Điều gì còn lại trong tôi sau cuộc bể dâu của dân tộc?

Đó là niềm lạc quan về tuổi trẻ Việt Nam. Với kiến thức và lương tri, biết dựa vào những bài học của quá khứ, tuổi trẻ Việt Nam sẽ biết cách kiến tạo một tương lai tốt đẹp cho đất nước.

***

40 Năm – Vẫn Một Ngọn Cờ

Phạm Bá Hoa, Lê Văn Khoa, Nguyễn Ngọc Bích và Chu Lynh, bốn người, bốn góc độ khác nhau nhưng cùng hướng về Lá Cờ Vàng. Nguyên do nào đã thúc đẩy cả bốn người cùng quyết tâm thực hiện cho bằng được bộ phim về Quốc Kỳ – Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa?

Do lòng yêu nước thôi thúc, hay do Hồn Việt trong họ đã lên tiếng?

Riêng với tôi, một người lớn lên sau cuộc chiến rồi trôi dạt đến xứ người, những câu chuyện của họ là những đốm sáng chỉ đường trên con đường đi tìm về cội nguồn dân tộc. Tôi biết mình sẽ chẳng bao giờ hiểu hết tâm tư của những người đi trước, nhưng từ đây, mỗi khi hướng về Lá Cờ Vàng, tôi thấy ở đó những cố gắng không ngừng của những người con đất Việt: Suốt 40 năm, họ đã chung tay giữ vững một Ngọn Cờ, giữ vững một tinh thần Tự Do, giữ vững một nền đạo đức truyền thống, và hơn hết, giữ vững một Tâm Hồn Việt Nam.

***

Phụ Chú:

(*) Ca khúc “Nước Non Lam Sơn” của nhạc sĩ Hoàng Quý (1920 – 1946).

(**) Sinh viên Lê Trung Thành trong một bài viết năm 2008, sau khi đã tìm hiểu cội nguồn của Quốc Kỳ VNCH đã kết luận: “…đó đã từng là một Quốc Kỳ của nhiều chế độ trước đó, đồng thời mang đầy đủ nguyện vọng dành độc lập, ý thức chống giặc ngoại xâm và yêu chuộng tự do của cả một dân tộc.”

Uyên sử dụng giấy trắng A4, dùng bút sáp màu và màu đỏ tô thành lá cờ; phía dưới lá cờ có ghi chú thích bằng bút sáp màu đen dòng chữ: “1890 – 1920: Đại Nam quốc kỳ từ thời vua Thành Thái tới vua Khải Định; 1948 – 1975: Cờ quốc gia Việt Nam” (trích “Bài bào chữa của luật sư Hà Huy Sơn cho Nguyễn Phương Uyên 16/5/2013”)

Đặng Chí Hùng – một người trẻ dấn thân đấu tranh, đã phát biểu về Lá Cờ Vàng: “Lá cờ vàng ba sọc đỏ chính là lá cờ của Việt Nam Tự Do, đó không phải là của riêng một chế độ hay của riêng một chính phủ nào mà là của chung cho cả dân tộc Việt. Lá Cờ Việt Nam Tự Do là linh hồn của cả dân tộc Việt.

 




Nhà Thơ Lê Tuấn (TT/VTLV 2016)

Nhà Thơ Lê Tuấn

letuan

Sinh năm 1948 tại Hà Nội.
1954 theo gia đình di cư vào miền Nam.
Năm 12 tuổi theo học tại trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tầu
Năm 18 tuổi chính thức vào quân đội.
Thích làm thơ và thường hay viết lách từ khi còn đi học, làm thơ rất nhiều nhưng chưa bao giờ in sách.

Sau năm 1975

Cùng nổi trôi theo vận nước, đi tù 8 năm từ miền Nam ra miền Bắc.
Năm 1994
Định cư theo diện HO tại San Jose cho đến ngày nay.

Hiện tại “Retire”
Sinh hoạt văn học nghệ thuật cho vui.

  image-4 image-3 image-2 image-1                        

 

Nợ Em 

Anh vẫn còn nợ em
Lá thu rơi bên thềm
Hàng cây nghiêng bóng đổ
Buổi chiều vàng nhẹ êm.

Nợ em thoáng mây bay
Vòng ôm nhánh sông đầy
Bãi bờ xưa gặp lại
Nỗi đau nào có hay.

Nợ em ngày rong chơi
Tiếng phố vui gọi mời
Ly cà phê từng giọt
Nhỏ xuống đời chơi vơi.

Anh vẫn còn nợ em
Nụ hôn quen gợi thèm
Chiều công viên ghế đá
Bài tình ca êm đềm.

Nợ em cả vần thơ
Mênh mông một mặt hồ
Hắt hiu rừng lá đổ
Sương khói nhẹ như mơ.

Nợ em nỗi u hoài
Tìm đâu bóng tương lai
Xót xa đời hiu quạnh
Anh nợ em. Tình dài.

Aet. Lê Tuấn 

 

 

Ta và Em 

Ta và em, cùng đau lòng uất hận
Hận chiến tranh, hận Cộng Sản vô thần
Hận những tháng ngày lưu đầy biệt xứ
Em bơ vơ giữa nhịp sống nhân quần.

Ta và em, bao chua xót đắng cay
Đau nỗi đau của thân phận làm người
Tim ưá máu, nhìn lá cờ cuốn lại.
Tự Do mất đi, để lại kiếp lưu đầy.

Ta và em, bao ngăn cách đường về
Bị tù đây nơi điạ ngục trần gian
Nơi loài người, với trái tim nhuộm đỏ
Khối óc mù loà, vì chủ nghĩa Mác Lê.

Ta và em, đã vượt qua ngàn dậm
Qua đau thương, qua cả nỗi âu lo
Vượt biển Đông, vượt muôn trùng bão táp
Đến bến bờ, một đất nước Tự Do.

Ta và em, cùng quay đầu nhìn lại
Nắng Sài Gòn, sao mờ bóng tương lai
Hồn Sông Núi, cơn đau tim rướm máu
Mơ Tự Do. Trong đêm vắng thở dài.

AET. Lê Tuấn 

                          

 

 

 

Bóng người xưa Hồn đá vẫn tôn thờ.

Bước khẽ thôi cho đất nằm yên nghỉ
Để rừng hoang che khuất bóng trong mưa
Hồn phế tích, ngả nghiêng trong thành cổ
Bom đạn thu tàn phá chiến tranh xưa.

Chiều phố núi ta về thăm chốn cũ
Rừng hoang vu thoáng hiện bóng chinh nhân.
Chiến trường đó nơi địa đầu giới tuyến
Nén nhang buồn lan tỏa ngọn phong vân.

Chiều giới tuyến, sau bao năm cách biệt
Ta về thăm, bia một đá hoang sơ
Đất im lặng, cỏ buồn phơi sắc úa
Bóng người xưa, hồn đá vẫn tôn thờ.

Người nằm đó, nghe hồn thiêng sông núi
Chợt bồi hồi, ngọn gió núi khóc than.
Người chiến sĩ, người trai hùng bất diệt
Sáng muôn đời. Hồn Vị Quốc Vong Thân.

AET Lê Tuấn

Truyện Ngắn của nhà thơ Lê Tuấn.

Những tháng cuối năm 1972.

Chiến dịch: Dành Dân Lấn Đất.

AET. Lê Tuấn
Những tháng cuối năm 1972. Tình hình chiến sự trở nên rất sôi động. Cả hai bên tham chiến đang chuẩn bị cho một chiến dịch Dành Dân Lấn Đất. Trên những trang báo hàng ngày, những bản tin thời sự nóng bỏng nhất vẫn là những gì liên quan đến Hiệp Định Paris. Một hiệp định 4 bên, nhưng trên thực tế đó chỉ là một hiệp định hai bên, đang bàn thảo gay go giữa Mỹ và Cộng Sản Bắc Việt.
Theo tinh thần căn bản của Hiệp Định Paris là chấp nhận một giải pháp da beo, bằng những vùng đất trái độn, vùng đất nào được cắm cờ đại diện của phe nào thì vùng đất đó thuộc quyền của bên đó chiếm đóng.
Cuối cùng thì Hiệp Định Paris đã được ký kết vào tháng 1 năm 1973. Đây cũng chính là một cơ hội để người Mỹ tháo chạy khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam.
Chính vì giải pháp da beo của hiệp định Paris, cho nên những tháng cuối năm 1972 tình hình chiến sự đã trở nên rất sôi động. Trong địa bàn hoạt động của Đại đội 3, Tiểu đoàn 338 Địa phương Quân, trực thuộc Tiểu Khu Hậu Nghĩa, bao gồm 4 Chi Khu rất nổi tiếng đó là Trảng Bàng, Củ Chi, Đức Hòa và Đức Huệ.
Tháng 6 năm 1972, Đại đội 3/338 ĐPQ, do Trung úy Phi làm đại đội trưởng và tôi đại đội phó. Đơn vị chúng tôi được tiểu đoàn điều động đến đóng quân tại Ấp Bình Thủy 1, nhầm bảo vệ vành đai cho Chi Khu Đức Hòa. Trên con đường Hương lộ nối dài từ Đức Hòa đến Hốc Môn, con đường này chạy xuyên qua một địa danh cũng khá nổi tiếng trong sử học, đó là khu vực (Mười Tám Thôn Vườn Trầu), và con đường này cũng chạy ngang qua một vùng rộng lớn đó là bưng Mũi lớn (vùng nước ngập hoang dại, đầy cỏ năng, một loại cỏ ống thân tròn, rất thích nghi trong vùng đầm lầy ngập nước. Cỏ năng thường được người dân gặt hái bằng ghe xuồng, đem về phơi khô đập dập để đan thành những tấm đệm cói, hình thức như chiếc chiếu, hay những túi xách, những bao tải, đây là một việc làm rất phổ biến của người dân địa phương).
Địa danh Mũi Lớn đã gợi nhớ lại trong tôi một trận chiến mà chính tôi đã tham dự. Vào cuối năm 1969 hay đầu năm 1970, lâu ngày tôi đã quên mất. Một hôm tôi được lệnh cùng với hai trung đội nằm ứng chiến tại một bãi đáp trực thăng trong Chi Khu, anh em chúng tôi đang nằm dài trên bãi cỏ nghỉ ngơi, vừa hút thuốc lá vừa nói chuyện tếu, nhìn đồng hồ đã gần 2 giờ chiều, tôi nghĩ chắc không có chuyện gì xẩy ra, lâu lâu có một ngày nghỉ thoải mái. Gần 2 giờ trưa tôi đang nằm mở màng vừa định chợp mắt một chút, thì tôi chợt nghe Trung Sĩ Tốt truyền tin gọi tôi.
-Ông thầy có lệnh chuẩn bị hành quân.
Tôi cầm lấy ống nghe và được biết đây là lệnh của BCH Tiểu Đoàn.
Thiếu tá tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho đơn vị tôi sẽ dưới quyền điều động của Phòng 3 Tiểu Khu, người trực tiếp ra lệnh cho tôi chính là Thiếu Tá trưởng phòng 3 Tiểu Khu.
Ông ra lệnh cho đơn vị tôi phải sẵn sàng, sẽ có trực thăng đến bốc.
Tôi ra lệnh cho 2 trung đội trưởng chuẩn bị hành quân trực thăng.
Khoảng 15 phút sau, hai chiếc trực thăng đáp xuồng sân Chi Khu Đức Hòa.
Trực thăng đã bốc đơn vị tôi, bay thẳng đến bưng Mũi Lớn.
Từ trên cao chúng tôi đã nhìn thấy một vùng nước bao la và những đám cỏ năng mọc
um tùm từng khu vực. Trực thăng hạ xuống thấp dần, sức mạnh của cánh quạt đã hất tung mặt nước và làm cho đám cỏ năng nằm rạp xuống.
Tiếng của Thiếu tá trưởng phòng 3 từ trên trực thăng quan sát.
Ông ra lệnh như hét vào trong máy.
-Anh có thấy VC đang nhảy xuống nước.
Tiếng súng bắt đầu nổ, tiếng cánh quát của trực thăng vần vũ, viên phi công cho trực thăng hạ thấp xuống sát mặt nước đổ quân.
Tôi và tất cả anh em đều nhảy ra khỏi trực thăng.
Vừa nhảy xuống, nước đã ngập lên tới ngực. Chúng tôi đã xác định mục tiêu phía trước. Vì tiếng ồn của trực thăng, tôi phải hét lên ra lệnh cho tất cả lính giàn thành hàng ngang. Tất cả đơn vị đã tản ra thánh một hàng ngang, trườn người trên cỏ năng và tiến lên.
Những tràng đạn M16 đã nổ liên tục, cánh quạt của trực thăng bay vần vũ trên đầu, sức mạnh của nó đã thổi tung mặt nước và những ngọn cỏ năng nằm rạp theo.
Những tên du kích VC lặn dưới nước không chịu được lâu đã vội ngoi đầu lên, họ chưa kịp lên tiếng đầu hàng thì đã gục ngã trước lằn đạn M16.
Tiếng của Thiếu tá trưởng phòng 3 từ trên trực thăng quan sát.
Ông hét lên trong máy truyền tin ra lệnh cho tôi phải bắt sống
Tôi một tay cầm ống nghe truyền tin, một tay cầm súng.
Tôi đã hét muốn bể cả cuống họng, ra lệnh bắt sống nhưng không một người lính nào nghe theo, vì tiếng ồn của trực thăng vì tiếng súng, tất cả đã tạo thành một âm thanh hỗn loạn, tiếng nói của tôi không đủ sức, chỉ một số anh em đứng gần tôi nghe lệnh, họ đã cùng tôi hét to lên, lệnh bắt sống.
Tiếng trực thăng, tiếng súng và mùi khói của thuốc súng đã tạo thành một tình huống thật phấn kích. Người lính chỉ còn biết tuân theo một phản xạ tự nhiên đó là bóp cò súng, khi bất ngờ nhìn thấy đối phương vừa chồm lên khỏi mặt nước.
Tất cả đã quá muộn, một trận chiến xẩy ra quá bất ngờ, quá nhanh gọn, không đầy một tiếng đồng hồ. Tổng số có 8 du kích bị thiệt mạng, một vùng nước trong xanh mầu da trời, bây giờ đã nhuộm đỏ mầu máu.
Đó cũng là quy luật rất vô tình của chiến tranh.
Tiểu đội du kích này đã thiết lập một căn cứ trú ẩn tại nơi đây từ lâu. Họ đã khéo léo chui vào giữa bụi cỏ năng (một bụi năng có một chu vi rất lớn, đôi khi 4 người vòng tay nhau mới ôm hết một bụi năng). Từ giữa đám cỏ năng, họ đã cắt sát mặt nước tạo thành một khoảng trống, họ sử dụng cây chàm cắm xuống nước và phía trên làm thành một cái xạp có thể nằm ngủ từ 2 dến 3 người, trên xạp cũng là nơi để nấu ăn.
Những cọng cỏ năng ở chung quanh còn xanh tươi, họ khéo léo kéo hai bên vào nhau
rồi đan bện lại, tạo thành một mái che mưa che nắng, hình thức như một tổ chim.
Nhìn từ phía ngoài thì bụi năng vẫn xanh tươi, rất khó phát hiện ra bên trong là nơi chú ẩn. Thật là không may cho họ lần này vì máy bay trực thăng bay thấp, sức gió của cánh quạt đã làm lộ rõ nơi trú đóng, vì vậy đơn vị du kích này đã bị xóa sổ.
Thiếu Tá trưởng phòng 3 Tiểu Khu tỏ ra bực bội vì đơn vị tôi không bắt sống được du kích nào, ông ra lệnh cho trực thăng bay về Tiểu Khu.
Bỏ lại tôi và 2 trung đội ở lại thu dọn chiến trường, chúng tôi lục lạo mọi nơi, lặn cả xuống nước mò tìm súng AK47 và B40. Tổng kết lại trận chiến, đơn vị tôi đã tịch thu được 6 khẩu AK47 và 2 khẩu B40, một số đạn và tài liệu, ngoài ra còn hai chiếc ghe nhỏ, mà toán du kích này sử dụng làm phương tiện di chuyển, đã bị bắn gần bể nát không sử dụng đươc.
Phải lội nước tìm đường trở vế đơn vị. Để tránh bị địch tấn công bất ngờ và cũng để giữ an toàn cho đơn vị, tôi ra lệnh cho anh em đi hàng một, chọn ra hai người lính bơi lội giỏi đi trước dẫn đường.
Sự im lặng lại trở về giữa đất trời bao la, mênh mông một vùng nước trong xanh, chúng tôi mò mẫm trong vùng nước ngập và cỏ năng mọc qua đầu, thỉnh thoảng tôi lại nghe tiếng người lính dẫn đầu nói: “coi chừng có hố bom rất sâu”, chúng tôi lại phải đi vòng theo miệng hố bom. Vùng đất này là vùng oanh kích tự do, đôi khi đã bị B52 trải thảm, vì vậy nơi đây có nhiều hố bom rộng lớn và khá sâu, nếu sơ ý có thể lọt xuống hố bom, vướng rễ cây và cỏ năng, rất khó bơi thoát thân.
Trời càng về chiều ánh nắng càng dịu đi, tạo thành một bầu không khí rất thoáng mát, và thật thanh bình. Những âm thanh hỗn loạn và mùi thuốc súng của trận chiến vừa qua gần như tan biến mất, không còn để lại dấu vết nào, chỉ còn nghe tiếng lội nước bì bõm, và thỉnh thoảng nghe tiếng chim le le và tiếng vịt trời vỗ cánh bay, bầu trời càng lúc càng mờ dần, anh em chúng tôi đã nhìn thấy mập mờ, một gò đất và thấp thoáng những ngọn tre xanh.
Cuối cùng chúng tôi đã lội bộ về tới đơn vị. Sau khi kiểm tra lại quân số tôi bàng hoàng đau sót vì thiếu mất một người lính.
Tôi hỏi Chuẩn úy Tính trung đội trưởng
-Anh biết tên ai không, Chuẩn úy Tính cho tôi biết người lính mất tích là binh nhất Vận (biệt danh Hai đen). Vận là người dân địa phương rất quen thuộc với đồng ruộng và bơi lội giỏi, thường hay lội theo những con rạch để bắt cá bằng tay không.
Sáng hôm sau tôi cho người, mượn ghe của dân trở lại vị trí hôm qua để tìm.
Trong thời gian này người dân trong Ấp cũng biết tin về trận chiến hôm qua.
Chính quyền Ấp đã thông báo cho dân đi lấy xác các du kích, đem về cho thân nhân nhận dạng và chôn cất. Thật là đau buồn khi anh em đã phát hiện dưới hố bom nơi binh nhất Vận đã tử trận. Hai Đen đã chết ngồi dưới hố bom sâu, chân và ba lô sau lưng bị vướng chằng chịt cỏ năng và rễ cây, chính những bụi cỏ này đã giữ chặt thân xác anh ở lại để cùng chết với 8 người du kích Việt Cộng.
Sau này anh em còn cho tôi biết thêm một chi tiết về cái chết của Hai Đen. Lý do chính là Hai Đen quá tự tin vào khả năng bợi lội của mình, nên đã tự ý tách ra đi riêng một bên không theo hàng một,  cho nên khi bị sụp xuống hố bom, không ai nhìn thấy vì khi ấy trời qúa tối.
Vào khoảng xế trưa người dân dã đem tất cả 8 du kích về Ấp Bình Thủy cho thân nhân nhận dạng và chôn cất.
Kể từ hôm ấy, tôi không có cảm tình với Thiếu tá trưởng phòng 3 Tiểu Khu, lâu ngày tôi đã quên tên ông. Tôi biết sau trận chiến này, ông đã được gắn những huy chương danh dự. Riêng cá nhân tôi cũng được Tiểu Khu ban thưởng một Anh Dũng Bội Tinh, cái huy chương này tôi đã quên nó từ lâu, sau cái chết của người lính ngồi dưới hố bom.
Tôi nghĩ nếu huy chương này mang một ý nghĩa thật sự của nó, thì nó phải được gắn một cách long trọng trên nắp quan tài của người lính chết trận.
Đó cũng chính là quy luật của chiến tranh, mà cả hai bên tham chiến đều phải tuân theo. Súng đạn thì vô tình, chỉ có những chủ thuyết, những ý thức hệ lệch lạc mới đem con người đến chiến tranh để rồi tàn sát lẫn nhau.
Như tôi đã viết ở phần đầu câu chuyện. Những ngày tháng cuối năm 1972,tình hình chiến sự rất sôi động. Ban đêm đơn vị tôi phải đi phục kích, nằm bờ ngủ bụi canh phòng cho người dân được một giấc ngủ bình yên không bom đạn. Ban ngày đơn vị tôi phải đi phá mô, do VC ban đêm lén lút đắp mô ngăn chận giao thông, gây tâm lý bất ổn trong dân, công việc thường làm nhất trong giai đoạn này là đi tháo gỡ cờ của Việt Cộng. Trong giai đoạn dành dân lấn đất, VC thường lén lút cắm cờ trên các vị trí cao nhất trong khu vực, chúng thường cắm cờ trên ngọn cây Cau và trên những ngọn Tre.
Với mục đích tranh dành lãnh thổ, để hy vọng rằng sau khi Hiệp Định Paris được ký kết, chúng sẽ nhận đây là vùng đất của Cộng Sản. Ngoài việc cắm cờ chúng còn thường  xuyên đắp mô trên Hương Lộ, ngay cả những con đường đất trong Ấp, nhầm mục đích gây hoang mang trong dân.
Mỗi khi phát hiện khu vực bị cắm cờ, tôi thường đem một đơn vị nhỏ đến tháo gỡ, cách thức thường làm nhất của tôi là nhắm bắn từng phát cho lá cờ gẫy đổ rơi xuống đất.
VC thường gài lựu đạn và mìn bẫy dưới lá cờ, và cả gốc cây chung quanh khu vực, tốt nhất là phải bắn thăm dò trước khi bước đến, đây cũng là biện pháp bảo vệ an toàn cho lính và cho dân chúng.
Âm mưu dành Dân Lấn Đất mà VC đang thực hiện trong thời gian chuẩn bị ký kết
Hiệp Địng Paris, đã bị lực lượng ĐPQ và Nghĩa Quấn dẹp tan.
Tôi chợt nghĩ vào thời điểm năm 2013. Nếu như Việt Nam có một hiệp địng nào tương tự như Hiệp Định Paris 1973. Chấp nhận một giải pháp trái độn, một hình thức da beo. Phía bên nào cắm lá cờ của mình, thì vùng đất đó sẽ được thừa nhận là vùng đất của bên có lá cờ làm biểu tượng. Tôi nghĩ tất cả người dân Việt Nam, sẽ đồng loạt cắm cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, khi đó lá cờ VNCH sẽ tung bay trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Để nói cho Cộng Sản biết rằng.
Nơi đây chính là vùng đất Tự Do.
Một buổi sáng sớm tôi đang ngồi trên bao cát của bờ thành hút thuốc lá, nhìn làn khói thuốc bay tỏa vào không gian, một làn gió lành lạnh nhẹ lướt qua, thời tiết tháng 12 trời sẽ lạnh nhiều hơn vào ban đêm và buổi sáng. Tôi nhìn xa về cuối thôn, những khoảng ruộng đã gặt hái xong, bây giờ chỉ còn lại những gốc rạ vàng khô, và phía xa kia là những hàng tre xanh thắm, cả một vùng rộng lớn không một bóng người dân.
Chiến tranh đã cướp mất, sự thanh bình yên ấm của một vùng thôn quê hiền hòa.
Tôi đang suy nghĩ miên man, thì người lính gác cổng chạy vào báo tin.
-Ông thầy có người đẹp đến thăm.
Tôi hỏi ai vậy. Người lính trả lời:
-Em gái hậu phương, ông cứ ra ngoài sẽ biết.
Tôi bước ra ngoài phía cổng.
Thấp thoáng một bóng dáng thôn nữ, tay cầm nón lá đang tiến về phía đơn vị.
Bóng dáng người con gái đi dần về phía cổng, tôi đã nhận ra hình bóng đó là ai. Lan thường mặc bộ áo bà ba, hôm nay nàng mặc một chiếc áo bà ba mầu mạ non, hai bên hông xẻ hơi cao để lộ một làn da trắng mịn, cái quần đen bóng láng, ôm sát đôi mông căng tròn, biểu lộ một sức sống mãnh liệt của tuổi con gái dậy thì. Hôm nay nàng rất đẹp, cái đẹp tự nhiên của một thôn nữ, chen lẫn với cái đẹp xuân thì rất gợi tình, đầy nữ tính của con gái.
Đã gần 2 tháng nay Lan không đến thăm tôi, hôm nay không hẹn trước Lan bất ngờ đến thăm. Cứ mỗi lần đến thăm Lan thường ở lại với tôi vài ngày, và cả hai chúng tôi lại có dịp quấn quít bên nhau.
Tôi đón Lan từ cổng đi vào trong đồn, ngang qua hầm chỉ huy đại đội.
Lan mỉn cười và gật đầu chào mọi người.
Trung úy Phi đang ngồi chơi Domino với 2 Chuẩn úy trung đội trưởng.
Phi vừa nói vừa cười.
-Tối nay thằng Tuấn nó sẽ pháo kích, tụi mình phải chui vô hầm né đạn.
Mọi người cùng cười.
Tôi và Phi là hai người bạn, chúng tôi quen thân nhau từ những ngày đầu, khi cả hai vữa thuyên chuyển về Tiểu Khu Hậu Nghĩa, và cả hai cùng về Tiểu Đoàn 338, khi ấy BCH Tiểu Đoàn 338,  đang đóng quân tại Chi Khu Đức Huệ. Nằm ngay trong khu vực của nhà máy đường Hiệp Hòa, một nhà máy rất lớn từ thời Pháp để lại, nhưng đã ngưng hoạt động từ lâu.
Tôi đưa Lan vào trong căn hầm trúng ẩn của tôi, vừa bước qua cửa hầm tôi đã vòng tay qua lưng nàng, ôm chặt vòng eo thon gọn và quay người Lan về phía mính, tôi ôm chặt Lan và đặt lên mồi nàng một nụ hôn thật say đắm.
Lan đẩy nhẹ tôi ra và nói:
-Làm gì gấp vậy anh.
Tôi vừa cười vừa trả lời:
-Lính mà em.
Buổi chiều tối hôm đó, chúng tôi có một bữa nhậu thật ngon, một nồi cháo gà do Lan nấu và mấy xị rượu đế loại ngon. Và dĩ nhiên tối hôm đó chúng tôi lại nằm bên nhau như một đêm tân hôn.
Qua câu chuyện tâm tình, Lan cho biết gần hai tháng qua, nàng phải lên Tây Ninh ở nhà người bà con. Vì tình hình chiến sự càng ngày càng gay go hơn. Lan cho tôi biết 3 ngày nữa Lan phải rời xa tôi không biết bao giờ mới gặp lại. Tôi hỏi tại sao nhưng Lan không trả lời câu hỏi. Lan chỉ nói:
-Thôi đừng nhắc đến, chúng ta cứ vui như không có chuyện gì xẩy ra, em sẽ ở lại bên anh 2 ngày, đến ngày thứ 3 thì em phải về nhà.
Trong đêm cuối cùng nằm bên tôi, hình như Lan ôm tôi chặt hơn, nàng đòi hỏi nhiều hơn, như cố níu kéo một điều gì đó sắp tan biến đi. Tôi có một linh tính như, đây là lần cuối chúng tôi được nằm bên nhau.
Tiếng con gà trống nuôi trong đồn cất tiếng gáy vang, hình như nó đã gân cả cổ, để cất lên một tiếng gáy nghe rất oai hùng. Từ những bụi tre xanh thẳm trong thôn xóm, tiếng gà gáy vang vọng đáp lại.
Chúng tôi cùng thức dậy, đun nước sôi pha café. Trời còn mờ sáng, tôi ngồi trên cái thùng đạn pháo binh cũ, đốt một điếu thuốc đầu tiên trong ngày, trên tay là ly café còn bốc khói, lan tỏa một hương vị thơm phức, mặc dù đây chỉ là loại café hạng bét.
Lan nhìn tôi, rồi lên tiếng:
-Hôm nay em phải về nhà vì tối mai. Nàng bỏ lửng câu nói.
Tôi vội hỏi:
-Tối mai làm sao?
Lan bưng ly café bước đến ngồi cạnh bên tôi, nàng ngồi im lặng nhìn xa xăm, một lúc sau Lan nói thật khẽ vào tai tôi:
-Tối mai ba em cho người về nhà bắt em phải ra mật khu. Em không muốn, nhất là em không muốn xa anh, nhưng cả gia đình em đếu muốn như vậy.
Nghe đến đây tôi thật bàng hoàng, tự nhiện nỗi buồn lại chợt đến.
Nhà Lan không đâu xa, chỉ cách nơi tôi và Lan đang ngồi vài thửa ruộng. Tôi nhớ lại những ngày đầu chúng tôi mới quen nhau. Một buổi sáng tôi cùng đơn vị, sau một đêm đi phục kích, trên đường trở về đồn, chúng tôi dừng chân bên Hương Lộ, nơi đây dân địa phương gọi là Quán Đôi, bởi vì tại ngã 4 này có hai quan lợp tôn nằm gần nhau, cả hai đều bán tạp hóa và dĩ nhiên có bán rượu đế, beer, nước giải khát và café .
Tôi đang ngồi hút thuốc uống café bên trong quán, thi một chiếc xe lôi (loại xe Honda, hay xe đạp, có kéo theo một cái thùng xe phía sau, có thể chở được nhiếu người) Chiếc xe lôi dừng lại trước quán, cho vài người bước xuống xe, trong đó có bóng dáng một thiếu nữ, mặc bộ bà ba mầu xanh da trời, nhìn thoáng qua tôi đã nhận ra một cô thôn nữ còn quá trẻ, đang ở tuổi dậy thì, đôi tám trăng tròn. Dáng người hơi thấp, mái tóc đen óng xõa ngang vai, thân hình đẫy đà cân đối, nét mặt thật tươi với ánh mắt trong sáng và nụ cười luôn nở trên môi. Cô gái bước vào quán, một vài người lính trầm trồ nhìn theo, cô gái hình như quá quen thuộc với chủ quán, nên hai người nói chuyện với nhau.
Tôi đưa mắt nhìn Tư người lính mang máy truyền tin ngồi cạnh tôi, ngụ ý như hỏi ai đó?
Tư cho tôi biết đó lá cô Lan, nhà ở gần đồn của mình, Tư còn nói nhỏ với tôi.
-Cô Lan chưa có thẻ căn cước nghe ông thầy.
Tôi hỏi:
-Nghĩa là sao Tư.
Tư cười nhìn tôi rồi trả lời, cổ mới 16 tuổi, chưa đến 18 làm sao có căn cước.
Tôi chợt hiểu ý ghĩa mà Tư muốn nhắc cho tôi biết, nên thận trọng.
Tôi vừa nhìn về phía Lan thì bất chợt Lan cũng đang nhìn tôi.
Tôi mỉm cười và gật đầu chào. Cô gái bẽn lẽn quay đi nơi khác.
Kể từ hôm đó mỗi lần có dịp ghé Quán Đôi, tôi thường hỏi thăm về Lan.
Rồi từ đó chúng tôi quen nhau. Tôi đến với Lan thật tình cờ và Lan đã đón nhận tình yêu này cũng thật tình cờ. Như một tiếng xét ái tình, hay một trận cuồng phong của dục vọng mà cả hai đều trong giai đoạn hưng phấn nhất của tuổi trẻ.
Em là bóng đổ chiều rơi
Là chai rượu cạn chơi vơi lối về.
Tôi đã đến với Lan thật nhẹ nhàng, như một cơn say đầy cảm hứng vào một buổi chiều mưa, tại một vùng thôn quê thật thanh bình.
Tôi đang suy nghĩ miên man về những ngày đầu mới quen biết Lan.
Lan đứng lên cầm lấy chiếc nón lá và nói:
-Thôi em phải đi về.
Tôi chợt giật mình nhìn Lan. Tôi cầm lấy tay Lan, như muốn níu kéo, như muốn cố giữ lấy một cái gì đó sắp tuột khỏi tầm tay.
Tôi đưa Lan ra cổng. Bóng Lan đi, mờ khuất dần như tan biến vào hàng tre xanh thẫm cuối thôn.
Tình hình hành quân lại sôi động, những tin tức VC đắp mô, cắm cờ đang liên tục xẩy ra. Càng về cuối năm Cộng quân lại càng đẩy mạnh chiến dịch Dành Dân Lấn Đất mạnh mẽ hơn. Hôm nay Đại Đội tôi nhận lệnh từ BCH Tiểu Đoàn cho biết, theo như tin tình báo của Chi Khu. Đêm nay sẽ có khoảng một trung đội Chính quy của VC, sẽ phối hợp với du kích địa phương, về hoạt động trên Hương Lộ, rất gần với vị trí Quán Đôi. Chúng sẽ đào đường đắp mô và cắm cờ, mục đích ngăn chận giao thông trên con đường huyết mạch này, đó là Hương Lộ nối liền từ Đức Hòa với quận lỵ Hốc Môn. Chúng muốn tạo  tiếng vang trong dân.
Đêm nay, tất cả Đại Đội sẽ hành quân từ đồn Bình Thủy tiến về vị trí Quán Đôi , bố trí nằm phục kích trên đoạn đường này. Chúng tôi chỉ để một trung đội ở lại giữ đồn, cùng với khẩu súng cối 60 ly và khẩu đại liên M60.
Trời vừa chạng vạng tối đại đội chia làm 3 cánh quân tiến về hướng Quán Đôi.
Chúng tôi cố gắng di chuyển một cách bí mật, nhưng tôi tin chắc, không thể nào qua được mắt người dân và nhất là bọn nằm vùng. Bọn du kích địa phương biết chắc là đêm nay, ở quanh khu vực đồn Bình Thủy sẽ không còn người lính nào. Có nghĩa là bọn du kích đã nắm vững được tình hình trong đêm nay.
Khi ra đến vị trí phục kích nằm dọc theo Hương Lộ (con đường từ Đức Hòa chạy về Quận Hốc Môn) . Chúng tôi vừa ngồi nép mình vào một bụi tre bên vệ đường.
Bảy Lì đem ra một bi-đông rượu đế, rót một ly. Bảy vừa nói vừa đưa cho tôi.
-Uống một ly cho ấm bụng ông thầy ơi!
Tôi nhìn Bảy nói:
-Mày lúc nào cũng rượu.
Nói vậy nhưng tôi cũng cầm ly rượu uống một hơi. Chất rượu hình như đã làm dòng máu trong tôi bừng cháy lên, tôi và Bảy Lì cùng với Tư truyền tin, người mang máy cho tôi đêm nay, cả 3 chúng tôi uống thêm vài ly rượu.
Tôi chợt nhớ đến Lan, người bạn gái đã đến và thông báo cho tôi biết.
Đêm nay VC, sẽ cho người về bắt Lan đem ra vùng mật khu. Họ bắt Lan phải từ bỏ vùng đất tự do. Mặc dù Lan không thích.
Tôi nghĩ tại sao mình lại hèn nhát, không dám đứng ra ngăn chận hành động này. Tại sao những người lính Quốc Gia, lại không dám đương đầu với Cộng Sản, để dành lại những người dân yêu chuộng tự do.
Tôi càng nghĩ đến điều này, thì dòng máu nóng của một sĩ quan, dòng máu hào hùng của một Thiếu Sinh Quân trong QLVNCH, càng sôi sục bởi ngọn lửa căm hờn.
Không cho phép tôi hèn nhát, tôi phải làm một điều gì đó để ngăn chận hành động này của VC, không cho phép họ bước chân đến vùng đất Tự Do, để dành dân lấn đất.
Tôi đứng dậy hỏi:
-Ê hai đứa có chịu chơi không, cùng đi với anh trở về nhà cô Lan.
Bảy Lì nói:
-Sợ gì ai.
-Tôi sẽ đi với ông
Cả Tư cũng lên tiếng.
Từ suy nghĩ này, tôi đã trình bày hết mọi sự việc cho Trung Úy Phi.
Tôi không ngờ là Phi đã đồng ý với kế hoạch này của tôi. Phi hứa với tôi là sẽ yểm trợ hết mình nếu có gì xẩy ra.
Kế hoạch của tôi rất táo bạo, tôi sẽ về lại nhà Lan. Nghĩa là tôi phải lội bộ hơn 3 cây số, đi trong đêm nay để trở lại gần đồn Bình Thủy.
Cùng đi với tôi chỉ có hai người lính. Tư mang máy truyền tin và Bảy Lì, cả hai người lính này đều gan dạ và liều lĩnh.
Tôi căn dặn cả hai đứa, mang thêm lựu đạn và thêm băng đạn M.16.
Tôi cũng mang theo cây súng M16 ngoài cây súng Cold 45 lúc nào cũng mang bên hông
Tôi kiểm tra lại hệ thống truyền tin, liên lạc với BCH và Trung đội trừ bị đang phòng thủ trong đồn.
Ánh trăng khuyết, đang tỏa sáng mập mờ trong đêm. Ba người chúng tôi hiên ngang tiến bước, len lỏi trong các bụi tre trong thôn. Tiếng chó sủa nối tiếp nhau vì bóng dáng chúng tôi xuất hiện trong đêm.
Trời càng về đêm ánh trăng càng tỏa sáng hơn, mặc dù đêm này không phải ngày trăng rằm, nhưng ánh sáng của nó cũng đủ soi rọi một vùng thôn dã, đang chìm lắng trong giấc ngủ bình yên.
Tôi liên lạc trung đội trưởng ở trong đồn, thông báo cho Chuẩn úy Hào biết, 3 người chúng tôi đang tiến gần vế hướng đồn và gần nhà cô Lan.
Chuẩn úy Hào trả lời:
-Anh yên tâm tụi này sẵn sàng yểm trợ khi cần.
Tôi nhắc lại:
-Anh biết vị trí nhà cô Lan.
Hào trả lời tôi:
-Mọi người đều biết 5/5.
Bảy Lì vẫn lầm lũi, tay cầm khẩu M16 đi trước, tôi và Tư theo sát phía sau.
Đôi lúc 3 người chúng tôi, phải chui qua những bụi tre rậm rạp, mà tàn lá của nó đã che khuất cả ánh trăng, tạo thành một khoảng tối không nhìn thấy gì. Tôi chợt nghĩ nếu ngay lúc này. VC tấn công thì chúng tôi không thể nào trở tay kịp.
Chúng tôi vừa đến vuông tre trong khu đất nhà Lan.
Tôi ra hiệu dừng lại, nói nhỏ với Bảy:
-Em quan sát thật kỹ trước khi đột nhập vào trong. Coi chừng tụi nó đã có mặt bên trong nhà.
Nhà của Lan, là một căn nhà mái ngói lâu đời. Nằm giữa một vuông dất hơi cao hơn những thửa ruộng quanh nhà.
Chung quanh vuông đất, trồng cây tre làm hàng rào, những bụi tre già này, đã mọc ở đây từ bao đời, nên gốc tre rất lớn và rất rậm rạp. Nó tạo thành một bức tường thành bằng tre khà vững chắc.
Bên hông nhà là cổng ra vào, đi thẳng ra là mấy thửa ruộng khô, Phía bên phải lối ra vào   là một cây rơm lớn, và một chuồng trâu. Phía sau nhà là chuồng heo và gà, vịt.
Tôi ra lệnh cho Bảy ra phía cổng, đứng ở vị trí đó quan sát và canh gác.
Tôi nói với Tư truyền tin án ngữ phía sau. Còn tôi sẽ vào trong nhà.
Từ phía sau bước vào trong nhà, ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu, cũng đủ soi sáng cảnh vật trong phòng. Sự xuất hiện bất ngờ của tôi, đã làm cho hai Mẹ con Lan thật sự hốt hoảng.  Chỉ một thoáng qua Lan nhận ra tôi, nàng nở một nụ cười và trong ánh mắt của Lan, tôi đã nhận ra một niềm vui bất ngờ. Riêng bà Má của Lan, bà đang tròn xoe đôi mắt nhìn tôi, với ánh mắt thật sự hốt hoảng và đầy lo sợ, bởi vì hơn ai hết, bà đã biết chỉ một thoáng chốc nữa thôi. Chồng bà hay con trai của bà sẽ trở về, gia đình bà sẽ tràn ngập niềm vui đoàn tụ, bà sẽ thật sự hạnh phúc.
Bà không ngờ rằng làm sao tôi có thể biết được tin tức này, để rồi xuất hiện đúng vào giờ phút này. Bà cũng không thể biết được, chính cô con gái của bà, đã thông báo cho tôi. Bà rất lo sợ, vì Bà biết chắc rằng chỉ một thời gian ngắn nữa thôi.
Một trận chiến sẽ nổ ra ngay tại nơi đây, máu sẽ tuôn chảy trong căn nhà này, dòng máu đó không biết là của bên nào. Có thể là của người Chồng hay con Trai của bà, hay dòng máu này là của chính tôi.
Bà ngồi sững sờ trên bộ ván gỗ, bộ ván có một bề dầy, gần cả gang tay, bộ ván này cũng chính là nắp căn hầm trú ẩn của gia đình. Ở vùng này mỗi nhà dân đều có một căn hầm trú bom đạn. Bà ngồi trên bộ ván, hai chân buông thòng xuống trước cửa hầm, như một tư thế sẵn sàng chui xuống hầm bất cứ lúc nào.
Tôi lên tiếng chào Bà, với lời hỏi thăm, coi như không có truyện gì xẩy ra.
Bà không trả lời, vẫn im lặng nhìn tôi, và nhìn chung quanh như quan sát xem, tôi đến đây với bao nhiêu người lính. Tôi nghĩ chắc là bà rất ngạc nhiên, vì không thấy người lính nào ngoài tôi, tôi mặc kệ Bà với những âu lo riêng tư.
Tôi và Lan bược ra trước cửa chính, chúng tôi ngồi trên bực thềm nhà.
Lan khẽ nói:
-Sao anh liều quá vậy.
Tôi mỉm cười trả lời:
-Anh không sợ, vì dù sao cũng có em bên cạnh.
Mặt trăng đêm nay chỉ là vầng trăng khuyết trên bầu trời, nhưng ánh trăng cũng đủ soi sáng cảnh vật.
Tôi nhìn Lan, nàng ngồi dựa sát bên vai tôi.
Tôi nói với Lan:
-Phải chi đừng có chiến tranh.
Nhũng buổi tối trăng sáng như thế này chắc là vui lắm. Những đôi tình nhân, có thể đi dạo dưới ánh trăng thật đẹp, và thật nên thơ như đêm nay.
Bất ngờ một tràng đạn M.16 nổ vang, xé tan màn đêm yên tĩnh.
Tiếp theo là một loạt đạn AK.47. Tiếng súng nổ vang trời.
Lan băng mình qua cửa ra vào, chui ngay xuống hầm trú ẩn cùng với bà Mẹ.
Tôi vụt đứng lên, nấp bên cây cột nhà.
Tôi đưa khẩu M.16 về hướng bụi tre, bắn một tràng đạn, yểm trợ cho Bảy.
Tôi nhìn thấy Bảy chạy về hướng tôi. Bảy nói thật nhanh:
-Tôi bị thương rồi.
Tôi nói:
– Đưa súng đây Bảy, chạy rút về đồn ngay.
Bảy phóng mình qua bụi tre, chạy trên thửa ruộng khô phí sau, vế hướng đồn.
Tôi cầm hai khẩu M.16 kẹp vào hai bên hông, lia một tràng đạn về phía cổng.
Tôi vừa bắn vừa rút lui. Lúc đó Tư truyền tin cũng theo sát bên tôi.
Cả hai chúng tôi cùng chui qua bụi tre phóng ra phía thửa ruộng khô.
Tôi và Tư chạy băng qua một thửa ruộng, phóng người qua một bờ ruộng khá cao.
Tôi và Tư truyền tin nằm lại, tiếp tục bắn yểm trợ cho Bảy rút về đồn.
Một loạt đạn AK.47 bắn về hướng chúng tôi.
Tôi cầm ống nghe truyền tin, thông báo cho BCH Đại Đội là tôi đang chạm địch.
Tôi ra lệnh cho khẩu súng cối 60 ly, trong đồn bắn cho tôi vài trái sáng.
Đồng thời ra lệnh cho khẩu Đại Liên trong đồn bắn một tràng về phía bưng.
Cánh dù hỏa châu của súng cối vừa bung ra, ánh sáng soi rõ mọi cảnh vật.
Tôi không thấy bóng dáng một tên VC nào.
Tôi bắn thêm vài tràng đạn về hướng bụi tre nhà Lan.
Tôi và Tư truyền tin rút quân về đến đồn.
Trong lúc vừa chạy, tôi vừa phải trả lời những câu hỏi liên tiếp từ BCH Đại Đội và
BCH Chi Khu Đức Hòa. Tất cả đã vào chung một tần số liên lạc với tôi.
Tôi thông báo là không cần tăng viện, chúng tôi đã rút về đồn an toàn.
Trung úy Phi có ý định xin lệnh Chi Khu, cho rút quân vế yểm trợ, nhưng tôi trả lời là không cần, vì chúng tôi đã vào trong đồn an toàn.
Do đó Đại Đội 3/338 vẫn nằm im tại vị trí phục kích.
Tôi xin pháo binh Chi Khu, bắn yểm trợ cho tôi vài trái hỏa châu.
Bảy Lì đã chạy về đồn trước tôi, Bảy đang được Y Tá Hội băng bó vết thương.
Một viên đạn AK47 đã xuyên qua bàn chân của Bảy Lì, vết thương đã được cầm máu
và băng bó.
Tôi hỏi Bảy:
-Có sao không?
Bảy rít một hơi thuốc lá, vừa cười vừa nói:
-Không sao đâu ông thầy. Sáng mai em đi bệnh viện là ổn thôi. Tôi nghe Bảy nói như vậy thì cũng yên tâm.
Tôi trình bày qua tình hình địch, và đề nghị pháo binh Chi Khu bắn chận, vài trái
105 ly, loại đạn nổ chụp về hướng bưng Mũi Lớn. Vì tôi nghi ngờ là VC sẽ rút quân chạy vế hướng này.
Hai trái hỏa châu 105 ly của pháo binh Chi Khu vừa thắp sáng trên khu vực đồn.
Chúng tôi có thể quan sát rất rõ tình hình địch quân, tất cả rất im lìm không một động tĩnh nào. Tôi nghe từ hưởng bưng tiếng nổ của pháo 105 ly vọng về.
Trời sáng dần, tiếng con gà trống nuôi trong đồn lại gân cổ gay một tiếng rất hùng dũng.
Xa xa từ những rặng tre già trong thôn, tiếng gà gáy vang lên nối tiếp nhau.
Một làn sương mù, xuống thấp là đà trên mặt ruộng khô, làn gió hơi lạnh thổi về, thời tiết vào những ngày cuối năm, cũng khá lạnh vào buổi sáng sớm. Tôi khoác thêm một chiếc áo trận, châm lửa đốt điếu thuốc RuBy quân tiếp vụ, một làn khói thơm phức lan tỏa vào không gian.
Trung sĩ Hội, ý tá đại đội, lấy xe Honda 67, chở Bảy Lì vô bệnh viện.
Sau này Bảy đã tường thuật lại đầu đuôi câu truyện cho tôi nghe.
Bảy nói:
-Em đứng núp trong bóng tối của bụi tre ngay cổng ra vào. Từ trong bóng tối em quan sát phía ngoài rất rõ, trên tay là khẩu M16, choàng dây ngang vai, mũi súng luôn hướng vế trươc, và ngón tay luôn đặt trên có súng.
Không ngờ VC, nó di chuyển rất êm, nó cũng men theo khoảng tối dọc theo bụi tre.
Bất ngờ VC xuất hiện ngay trước mặt, một phản ứng tự nhiên là bóp cò súng.
Tên VC cũng bóp có súng, nhưng rất may, là mũi súng của nó đang chúi xuống đất.
Cả hai làn đạn đều bắn ra cùng một lúc.
Tên VC này chắc đã lãnh đủ những viên đạn M.16 gim vào người. Còn Bảy Lì, bị đạn AK47 gim vào chân.
Tôi đã hiểu tại sao, toán du kích này khi đến nhà Lan, họ lại thiếu đi cảnh giác. Bởi vì họ đã tin vào tình hình khu vực, chính họ cũng nhìn thấy tất cả đại đội của tôi đã đi xa.
Họ yên trí rằng, không còn một người lính nào trong khu vực này.
Họ không thể hiểu được, chính tôi là một yếu tố bất ngờ, đã đem họ đến một tình huống bất lợi. Họ đã không thực hiện đươc ý định ban đầu, mà còn nếm thêm mùi thất bại.
Theo tin tình báo của Chi Khu, đơn vị du kích này đã bị tổn thất nặng. Một chết tại chỗ đươc đồng bọn mang đi, một chết trên đường rút lui và một số bị thương, có thể do đạn pháo binh của Chi Khu bắn nổ chụp.
Sau này tôi còn biết thêm chi tiết nữa: Căn nhà ngói cổ của gia đình Lan, đã không bị thiệt hại nào, do cả hai phía tham chiến đều không muốn gây ra.
Vài tháng sau đó BCH/Tiểu Đoàn thuyên chuyển tôi về đóng quân tại Chi Khu Đức Huệ. Trong thời gian này, tôi nhận được tin Lan đã theo gia đình vào mật khu.
Hiệp Định Paris đã được ký kết vào tháng 1 năm 1973. Mấy tháng đầu tình hình chiến sự có vẻ lắng động đôi chút. Nhưng sau đó bản Hiếp Định này gần như đã bị xé bỏ, tình hình chiến sự càng ngày càng gay go hơn.
Tôi đã được BCH Tiểu Đoàn 338/ ĐPQ. Thuyên chuyển về làm Đại Đội trưởng ĐĐ.4/338. Bảo vệ vòng đai cho Chi Khu Đức Huệ. ĐĐ.4 do tôi chỉ huy, đóng quân tại một tiền đồn hẻo lánh, nằm về phía bên kia sông Vàm Cỏ Đông, một vùng đất hoang vu không một bóng người.
Hết. 

Inline image 1    Inline image 2
Hậu Nghĩa

Tôi viết câu chuyện ngắn này, như một kỷ niệm khó quên trong đời lính.

          Một người lính Địa Phương Quân. Không phải là những đơn vị hào hùng trong QLVNCH. Tuy nhiên người lính ĐPQ, luôn gắn bó rất chân tình với người dân.

Trăm năm trong cõi vô thường.
Ta ngồi viết lại đoạn trường vô thanh.
Cho người chiến sĩ vô danh
Bước vào huyền thoại, hóa thành vĩ nhân.
Vòng quay Nhật, Nguyệt xoay vần.
Ta đem viết lại, bao thân phận người.

Tôi xin mượn ý tưởng của bài thơ này, để nói lên ý nghĩa vô thường của đời sống. Đời nhà binh sớm họp tối tan. Chiến tranh thật là vô nghĩa, chỉ vì những chủ thuyết lệch lạc, vô thần mà Cộng Sản đã đem đến, gây chia rẽ, huynh đệ tương tàn, cho dân tộc Việt Nam. Có biết bao chiến sĩ vô danh, họ đã phải hy sinh, để rồi họ bị quên lãng, không để lại một âm vang nào trong chiến sử. Đây chính là đoạn trường vô thanh, không ngôn từ diễn đạt. Tôi muốn cùng các bạn, chúng ta hãy viết ra những cảm nghĩ của mình, để đem người chiến sĩ vô danh, vào trong huyền thoại của lịch sử. Cho những thế hệ mai sau, còn tìm lại niềm tự hào của người lính QLVNCH.

CTSQ. Lê Tuấn.

          Inline image 5                Inline image 6
Lê Tuấn ĐĐ/Trưởng/ĐĐ 4/TĐ 338 ĐPQ/Hậu Nghĩa                            AET. Lê Tuấn

Mùa hè đỏ lửa 1972




Nhà Văn Ninh Thuận (TT/VTLV 2016)

Nhà Văn Ninh Thuận.

 

Tên thật : Nguyễn Tâm Thuận, sinh sống tại Nam Cali.

Cựu nử Sinh Đồng Khánh Huế- Ra Trường SPQN năm 1970 ( XLTV Hiệu Trưởng Trường An Thường/ Bình Định- 1971 vào Sài Gòn Phụ Tá GS Tâm trông coi Hồ sơ Thăng Thưởng của các GS các trường Trung Tiểu Học Tư Thục Sài Gòn Gia Định. Sau 75 làm Giám Thị Marie Curie- Năm 77 về Trường cấp 1,2, 3 Thánh Mẫu Gia Định (Lam Sơn)

Năm 87 sang định cư tại Litlle Sài Gòn làm nghề tự do buôn bán và theo học Golden West College

Năm 2005 sau khi con cái thành tài ra viết sách báo và hàng năm ra mắt sách để lấy tiền giúp TPBVNCH, đồng môn SPQN ở quê nhà gặp hoàn cảnh khó khăn.

Những tác phẩm đã ra mắt:

-Truyện Ngắn ” Những Mảnh Đời 1,2,3,4 ” và Audio Books, Tình Yêu Của Biển, Đời Song Quanh Ta

– Truyện Dài: Nước Mắt Buồn Vui; Hồi Ký Mảnh Đời Của Minh-Nỗi Lòng & Khát Vọng ( Song ngữ Anh Việt)

– Thi Phẫm : Mảnh Đời; Vào Đời: Quê Hương; Sử Việt.

Những tác phẩm sẽ ra mắt:

– Truyện Ngắn : 5,6,7…

-Truyện Dài : Đời; Bạn Tri Âm, Nỗi Lòng của Thúy.

Đã là phóng viên các báo: Việt Satelite,Việt Herald, Sài Gòn Times; Việt Báo, Viễn Đông, Việt Mỹ, Thời Luận …

ninhthuan_nhungmanhdoi4rsm-ninh-thuan

Những Đoản Khúc Nursing Home

-Ông cụ vì tuổi già sức yếu, nên toàn thể cơ thể rất suy nhược. Chúng tôi sau một thời gian điều trị đã tìm ra căn nguyên, thời gian chữa trị rất lâu, chính sách Medicare không kham nổi trả tiền cho nhà thương. Vậy chúng tôi quyết định chuyển hồ sơ bệnh lý và cụ xuống Nursing Home ở Santa Ana điều trị. Tại đó Bác sĩ sẽ tiếp tục chữa tri. Nhân viên, y tá sẽ săn sóc tập luyện cho cụ từ từ đi đứng lại, nhưng với điều kiện chính đương sự phải hợp tác tích cực với nhân  viên thì việc đi đứng mới tiến triển thuận lợi…Sau gần hai tháng chữa trị tại bệnh viện, bệnh tình chú Lịnh, chú của Loan vẫn không ngồi dậy đi đứng được và không được khả quan cho lắm. Bác sĩ đưa đến quyết định khi gặp người nhà của Loan:

Thế là sau đó chú Lịnh được chuyển đến Nursing Home điều trị. Bận rộn nhiều việc, và hơn nữa lo chuẩn bị nhà cửa đón Tết, nên mấy hôm sau theo địa chỉ người nhà cho biết, Loan mới lái xe đi thăm chú. Khu Nursing Home nằm sát mặt đường, chỗ đậu xe rất khó khăn. Sau mấy vòng lái xe qua lại, nàng mới tìm được chỗ đậu xe. Bước vào văn phòng hỏi thăm, Loan được hướng dẫn lối đến phòng chú Lịnh một cách rõ ràng. Nàng đi qua một hành lang dài giữa hai dãy phòng, rồi quẹo phải mới đến phòng chú Lịnh bên trái… Tò mò Loan nhìn vào các phòng ăn, thấy các ông bà cụ đủ sắc dân, nào là Mỹ, Mễ, Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tàu… và nhiều nhất vẫn là Việt Nam, ngồi trên những chiếc xe lăn trước những bàn ăn đang chuyện trò, ăn uống. Thỉnh thoảng Loan bắt gặp những cử chỉ trìu mến, những ánh mắt thân thương của con cháu đang vỗ về hay đút từng muổng thức ăn cho các cụ. Loan tự nhủ:

-Các cụ vào đây mà con cháu dành thì giờ đến săn sóc, thì cảm động quá! Chắc các cụ cũng được ấm lòng trước sự hiếu để của con cháu. Xứ Mỹ này vì sinh kế và không có điều kiện chăm sóc cho các cụ, thì ít nhất cũng phải thường xuyên đến thăm viếng các Người cho đở tủi tuổi già và bệnh tật ập đến là hay vô cùng!

Qua đây, Loan nhớ đến anh Bác Sĩ  tên Đức quen thân với ông anh của Loan tâm sự:

-Tôi được nên vóc nên hình, học tới nơi tới chốn như ngày hôm nay là nhờ sự hy sinh vô bờ bến của mẹ tôi đã dành trọn cho tôi. Khi ba tôi mất sớm, mẹ tôi đã một đời buôn tảo bán tần nuôi tôi nên người, rồi lo cho tôi sang xứ Mỹ hít thở không khí Tự Do. Mẹ vừa là cha vừa là mẹ đùm bọc nuôi nấng tôi mấy chục năm nay. Sau một thời gian tôi học hành thành tài, tôi ra làm việc, có địa vị danh vọng với đời. Nay mẹ tôi đau ốm bệnh tật, tôi là một Bác sĩ, nên tôi có thể chăm lo thuốc thang cho Người. Vì vậy tôi thu xếp công việc, tạm nghỉ một thời gian để phụng dưỡng mẹ già. Mẹ tôi như ngọn đèn trước gió, không biết tắt lúc nào. Đây là dịp tôi làm phận sự người con trả ơn công sinh thành dưỡng dục của Người để khỏi ân hận về sau. Vì thế dù làm bao nhiêu tiền, tôi tạm gác lại… Xứ Mỹ là xứ của cơ hội, nay mình tạm gác lại, rồi sau này khi tròn chữ hiếu mình tiếp tục làm cũng không muộn! To thuyền thì to sóng, chạy theo vật chất, biết mấy cho vừa lòng mình. Mình cảm thấy đủ và yên ổn với suy nghĩ của mình là hạnh phúc rồi! Mỗi người có một cách sống riêng, như một thi sĩ tiền bối đã nó

  Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

  Người khôn, người  đến chốn lao xao!…

-Thời xưa theo tích Tàu mình học có các gương Nhị Thập Tứ Hiếu thì nay tại xứ Mỹ tất bật này với câu nói thường nhật  Xứ của tiền bạc, của việc làm, của những cái bills chờ thanh toán,  tình người thì khan hiếm, nhưng đâu  phải không có những gương hiếu hạnh mà mình mới bắt gặp?!  Loan tròn mắt thán phục ý chí đạo hiếu của  Bác Sĩ Đức trong ý nghĩ…

Mãi suy tư, Loan đi qua những cụ già bản xứ đang rên xiết trên những chiếc xe lăn cô độc, hay những cụ già như không còn sức sống nằm rũ xuống trên những cánh tay ốm yếu, già nua khẳng khiu…Những khuôn mặt ngơ ngác, tóc tai rũ rượi tay chân buông xuôi, những đôi mắt thất thần… theo chân và ám ảnh Loan suốt quãng đường đến phòng chú Linh đưa nàng nhớ đến câu thơ của Nguyễn Công Trứ…

   Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe,

        Trần có vui sao chẳng cười khì?!…

Thật vậy, con người sinh ra là phải chịu không nhiều thì ít cảnh khổ ở đời… Nhỏ thì lo học, lớn lên lo làm ăn kiếm tiền để nuôi sống bản thân và gia đình. Nếu gia đình được toại nguyện hạnh phúc thì dù chịu trăm đắng ngàn cay ngoài đời và trong việc làm cũng là người sung sướng. Nhưng nếu hoàn cảnh trớ trêu, không như ý thì vui là vui gựợng kẻo mà! Theo thời gian, đau ốm bệnh tật tuổi già kéo đến sồng sộc khi nào không biết! Nếu tuổi già có gia đình chăm sóc là phước đức ông bà để lại. Còn buồn nào hơn khi sống trong bức tường chỉ biết nói chuyện với chăn mềm giá lạnh, cô đơn vây kín… Sống trong buồn tủi và rồi nhắm mắt xuôi tay không có người thân bên cạnh cũng xong một kiếp người! Loan thở dài ngao ngán…

Bước chân vào phòng, Loan bắt gặp một khuôn mặt hốc hác, tay chân khẳng khiu với những vết xanh tím đen trên tay ông chú thân yêu, đó là dấu tích những lần vô thuốc và nước biển. Chú nằm trên giường thiêm thiếp mắt nhắm nghiền, miệng há hốc với hơi thở nặng nề. Nếu không nghe hơi thở yếu ớt, đứt quảng… thì đó chỉ là một con người hồn lìa khỏi xác mất rồi! Loan tần ngần đứng bên cạnh giường, đưa đôi mắt nhìn chú xót xa. Yên lặng bao trùm căn phòng, khiến Loan nghe rõ tiếng nhịp đập của con tim mình. Mười phút nặng nề trôi qua, một bà đứng tuổi đẩy xe lăn một người vào phòng…

-Không biết bệnh nhân này là đàn ông hay đàn bà để mình tiện xưng hô và hỏi chào?! Loan tự nhủ. Thật vậy, một hình hài khô đét, tóc cắt ngắn, khuôn mặt xương xẩu với đôi mắt sâu hoắm như không còn sức sống trong bộ áo quần xanh rộng thùng thình của bệnh viện nằm rũ trên xe. Xe đến bên chiếc giường trống, người đàn bà xốc nách đở bệnh nhân lên giường một cách khó khăn. Loan nhanh nhẹn bước tới phụ một tay với bà ta cho bệnh nhân nằm ngay ngắn. Sau khi ổn định, Loan lên tiếng bắt chuyện:

-Xin lỗi, bà là người thân của bệnh nhân!

– Dạ không phải, tôi chỉ là người trông coi bệnh nhân thôi! Trước đây, tôi ở trong chương trình săn sóc tại gia, ăn lương nhà nước săn sóc cho bà Hai được hơn năm nay. Nhưng nay bà ấy đau ốm nhiều, gia đình đưa bà Hai vào đây chạy chữa thuốc men, chính phủ không trả lương cho tôi. Con gái bà ấy bận đi làm, không thường xuyên săn sóc cho mẹ được, nên mướn tôi chăm lo cho bà Hai suốt ngày, đến chiều tối tôi mới về. Chiều đi làm về, cô ấy bới thức ăn, và vào thăm bà Hai ở lại mãi đến tối mới về. Tội nghiệp, cô ấy có hiếu với mẹ lắm. Cô đã mua đủ thứ nài ép bà cụ ăn, nhưng bà ấy đâu ăn uống gì được!

Xây qua nhìn Loan, và liếc nhìn chú Linh, người đàn bà tò mò lên tiếng nói một hồi…

-Cô bà con với ông cụ hả? Tội nghiệp ông cụ lắm! Cứ nằm thiêm thiếp không nhúc nhích ăn uống gì được! Cô Trâm, con gái ông cụ cũng hiếu hạnh lắm. Chiều đi làm về là đều đặn ghé thăm cụ. Buổi trưa cô ấy bảo chồng lấy giờ ăn trưa thăm cha già bệnh tật. Nghe đâu cậu Hòa, chồng cô Trâm làm gần đây nên chạy tới chạy lui hoài. Cô Trâm cho tôi tiền ăn quà và nhờ tôi ghé mắt thăm chừng ông cụ. Nhưng tôi từ chối nhận tiền, vì tôi đâu có nặng nhọc gì giúp ông cụ đâu, người đồng hương giúp đỡ nhau chút đỉnh có hề hấn gì cho cam!

-Tôi là cháu gọi ông cụ bằng cậu. Thôi trăm sự nhờ bà ghé mắt trông hộ cậu tôi với . Thật là quý hoá và cám ơn bà rất nhiều… Tôi cũng bận bịu công ăn việc làm, nên thỉnh thoảng mới vào thăm cậu được!

Hai người đang to nhỏ trò chuyện thì một chị sồn sồn ùa vào phòng góp chuyện:

-Tôi mới nghe loáng thoáng cô là cháu vào thăm ông cụ há? Mấy người nằm phòng này thật có phước. Con cháu hiếu hạnh, ngưòi thân và bạn bè tấp nập đến thăm viếng. Không như cái phòng xéo xéo phòng này, lạnh ngắt như tờ, nghe đâu bà cụ có mấy người con là bác sĩ,  kỷ sư gì đó mà lấy vợ có con rồi lập trang thờ bà, bỏ bê mẹ già đau yếu bệnh tật mỏi mòn trông ngóng tin con thăm viếng… Với giọng bùi ngùi, chị Hoa tiếp lời:

-Bà cụ tâm sự với tôi, chồng bà chết khi bà mới 28 tuổi, nhưng bà ở vậy nuôi ba đứa con trai. Bà đã hy sinh thời xuân sắc để nuôi dưỡng các con học hành và lo cho chúng vượt biên. Khi thành tài chúng lấy vợ có con rồi quên bà luôn ! Trước khi vào đây, bà còn mạnh khỏe muốn bồng ẩm cháu, nhưng mấy cô con dâu học thức đỏng đảnh chê bà già vụng về không cho bà đụng đến cháu. Bà sống âm thầm bên lề cuộc sống con cháu . Thế rồi bà ngã bệnh, chúng tống khứ bà vào viện dưỡng lão. Chúng viện cớ bận công ăn việc làm, không săn sóc cho mẹ già được! Bà đã buồn rầu than thân trách phận -vô phước, vô phần… Nghe đâu các ông các bà trí thức ấy không có thì giờ vào thăm mẹ già vì chanh đã hết nước. Nhưng đi du lịch, đàn đúm thì nhanh chân đi liền! Những người vô học, không biết đạo lý, cư xử không trọn nghĩa thì có thể tha thứ được! Nhưng cha mẹ một đời hy sinh nuôi cho ăn học thành tài mà cư xử với đấng sinh thành không trọn nghĩa, trọn tình thì như loài cầm thú, đáng cho người đời nguyền rủa, Trời tru, đất diệt! Sao Trời chưa trừng phạt cái thứ trí thức rõm, cái thứ bất hiếu như thế sống nhởn  nhơ như vậy cho chật đất!

-Có thể kiếp này họ được hưởng thành quả kiếp trước. Lưới Trời tuy cao lồng lộng, nhưng không bỏ sót ai làm trái với luân thường đạo nghĩa đâu! Con trai nghe lời vợ thì là chuyện thường nghe. Tôi còn nghe bà cụ nằm cách đây hai phòng bị con gái nghe lời chồng đối xử tệ bạc với mẹ mình là điều hiếm đấy nhé! Bà cụ đã tức tối khóc lóc kể chuyện… số là bà cụ có một mẹ một con, bà đã từ chối bao nhiêu đám thanh niên ve vãng… Bà ở vậy ôm nuôi con khi chồng chết trận, lúc bà Tám mới nửa chừng xuân. Bà đã bương chải lo làm ăn và có một số vốn kha khá. Sau 30 tháng tư 75, hai mẹ con đi vượt biên. Trời thương, chuyến đi trót lọt. Sang đây bà Tám tiếp tục lao động chân tay thật cật lực, và cho con ăn học thành tài. Con ra trường mới có cơ hội đứng tên mua nhà với số tiền bà đã dành dụm được. Ngày tháng êm ả trôi qua, con gái bà đến tuổi lấy chồng- một kỷ sư cầu đường, nhưng bà đâu ngờ, đúng là thằng kỷ sư  đào mỏ… Sau một thời gian sống chung với bà, nhiều bất hòa thằng rể quý cố dàn dựng… Hương, con gái bà nghe lời thằng chồng yêu qúy đã nhẹ nhàng mời bà ra khỏi nhà một cách tàn nhẩn, không một chút lòng nhân! Thằng rể còn vênh váo mặt nói không biết có phải tiền của bà down mua nhà hay không? nhưng Hương, vợ nó đứng tên, và hàng tháng vợ chồng nó trả tiền nhà là nhà của chúng nó thôi! Bà lặng lẽ khăn gói ra khỏi nhà đứa bất nhân, và đi mướn phòng ở. Nay bà đau yếu nên vào đây tá túc, xem như không có con cháu thăm viếng. Bà Tám nay hơi mạnh có thể một thời gian ngắn nữa sẽ về phòng trọ của bà, nhưng không biết ai đón bà về đây?!

-Đây số địện thoại của tôi, khi nào bà Tám về, chị gọi điện thoại báo trước tôi một ngày, tôi sẽ thu xếp công chuyện đón bà ấy về! Nghe mấy chị kể chuyện ở đây nhiều hoàn cảnh trái ngang mà đau lòng ghê! Loan mau mắn lên tiếng.

-Ở đây nhiều chuyện thương tâm lắm, kể mấy ngày cũng không hết chuyện. Không những người Việt Nam mình có con tệ bạc, mà bà Phi bên kia cũng bị con đưa vào đây bỏ chợ. Nghe đâu con bà ấy cũng dân học thức, họ không thèm tới thăm viếng, nhưng được cái thỉnh thoảng có gởi quà bánh vào nên cũng được an ủi phần nào !

– Ông Mỹ đằng kia, nghe đâu con cũng bác sĩ mà cũng để ông ấy nằm thở dốc, không vào đây chăm sóc cha già bệnh hoạn, lại viện cớ bận chăm sóc bệnh nhân.

Tiếng nói chuyện lao xao làm chú Lịnh mở mắt ra nhìn quanh… Loan nhanh chóng đến bên chú cầm tay Người hỏi thăm sức khỏe thật ân cần, nàng chỉ mấy gói quà bánh lỉnh kỉnh, và bình Hoa Lan xinh đẹp như muốn đem không khí Tết đến với người chú thân thương…

-Cháu đem tí quà chú dùng tạm trong mấy ngày Tết, cháu thấy chú không có cái radio để nghe tin tức cho vui; hôm sau cháu sẽ mang cái radio nhỏ vào biếu chú.

-Cháu vào thăm là chú vui rồi, đừng bày đặt quà bánh làm gì mất công, chú chưa muốn ăn gì cả, sau này sẽ hay! Không biết ở đây, người ta có cho mang hoa vào không, vì sợ bệnh nhân bị dị ứng, cháu mang về để chưng Tết đi ! Và nữa, chú còn mệt lắm, nên không dậy nổi mở đài được, cháu đừng bày đặt mua bán gì mà tốn tiền vô ích! Với giọng thều thào, Loan ghé sát vào mặt chú mới nghe rõ lời chú nói.

Hai chú cháu, chuyện trò một lát, Loan thấy chú còn mệt nên để chú nghỉ ngơi. Gần một giờ sau, Loan chào chú ra về và không quên chào hai người đàn bà:

-Xin chào hai bà, hai bà đừng buồn chuyện thiên hạ mà mệt ! Bàn tay có ngón ngắn ngón dài, con người cũng thế, kẻ xấu người tốt khôn cùng. Gieo gió thì sẽ gặt bão, tôi về sẽ viết những câu chuyện hai bà kể, và lần sau vào thăm chú tôi, tôi sẽ tặng sách hai bà đọc.

-Cô về bình yên, hẹn gặp cô sau, hai người đàn bà tranh nhau nói.

-Tôi thích đọc sách lắm, hy vọng lần sau sẽ đọc sách cô viết. Chúng tôi sẽ kể thêm nhiều chuyện cho cô viết!

Tiển Loan về là những khuôn mặt ốm yếu, xanh xao của các cụ già thất thần trên những chiếc xe lăn và những nỗi buồn của thế tục:  sinh, lão, bệnh, tử và của ái, ố, hỷ, nộ vây quanh cuộc sống…

Cuộc đời cõi tạm chẳng bền đâu!
Mới tuổi thanh xuân đã bạc đầu.
Vạn vật  sắc không rồi biến hóa.
Mờ mờ ảo ảo có gì đâu! 

Nhân tình thế sự cõi phù du,
Chớ để cho nhau nỗi hận thù.
Lão bệnh tử sinh vòng lẩn quẩn,
Ai rồi cũng đến chố thiên thu.

Vợ chồng con cháu nghĩa ân sâu,
Trọn đạo thủy chung đạt nguyện cầu.
Vật đổi sao dời dù khổ nạn,
Sắt son một dạ chớ quên nhau…

Nguyễn Ninh Thuận

 




Biểu tượng của Apple ?

Tại sao biểu tượng của Apple là quả táo bị cắn dở một miếng?

Logo của hãng Apple là quả táo có một vết cắn dở, những người thực sự hiểu được hàm ý bên trong nó là rất ít! Tại sao biểu tượng của Apple là quả táo bị cắn dở một miếng, đến ngày hôm nay, tình cờ đọc thấy, mới hiểu, vết cắn trên quả táo, lại ẩn chứ một sự thực đáng buồn, rất đáng buồn
http://www.vnhot.net/uploads/76/d/128/14657870147643.jpg
Logo Apple xuất phát từ một câu chuyện trong chiến tranh thế giới II. Đó là một khởi đầu vĩ đaị: Các nước đồng minh phát ra một mã ULTRA hành động tuyệt mật, hao tổn tâm sức, đã dò ra mã tối cơ mật của máy mật mã Đức, bởi một thanh niên trẻ trường Đại học Cambridge đã sáng chế ra chiếc máy tính đầu tiên của thế giới, hơn nữa còn làm vỡ mật mã bí mật mà Đức luôn cho rằng bất khả xâm phạm, hoàn toàn làm chủ được các lực lượng tàu ngầm bí mật của Đức, và cuối cùng là tiêu diệt lực lượng hải quân Đức, thất bại đầu tiên của Đức, đã góp phần tạo ra tính quyết định。
http://www.vnhot.net/uploads/76/d/128/14657870146353.jpg
Turing
Sau chiến tranh, Turing trở lại Cambridge, sống một cuộc sống đồng tính bí mật, khi đó đồng tính luyến ái được coi là một trọng tội ở Vương quốc Anh. Năm 1952, ông đã có quan hệ tình dục với một người đàn ông 19 tuổi tên Post và đã bị bắt. Chính phủ Anh đã cho ông hai lựa chọn —- hoặc là ở tù hoặc là chấp nhận liệu pháp thí nghiệm hormon y học, để tiêu diệt ‘những kết tinh đồng tính’. Ông đã chọn liệu pháp hormon, nhưng việc điều trị khiến ông đau đớn, hơn nữa vú tiếp tục sưng lên。
Ngày 08 Tháng Sáu năm 1954, Turing 42 tuổi, là giai đoạn huy hoàng của sáng tạo đỉnh cao. Vào một buổi sáng, khi nữ quản gia đi vào phòng ngủ của ông phát hiện chiếc đèn bàn vẫn sáng, có một quả táo với một vết cắn dở trên đầu giường, Turing ngủ trên giường, tất cả mọi thứ đều rất đỗi bình thường. Nhưng lần này, Turing đã mãi ngủ thiết đi và không thức dậy nữa…..
Sau khi giải phẫu học, pháp y kết luận rằng cái chết là do nhiễm độc tính quá cao từ xyanua, rằng quả táo đã được ngâm trong dung dịch xyanua. Nhưng thế giới bên ngoài đồn đải rằng, cái chết là một sự tự sát khi Turing không còn chịu đựng được nổi đau đớn và nhục nhã khi ở trong phòng thí nghiệm một mình, nên đã tự bố trí cái chết cho mình bằng cách tiêm chất độc vào quả táo rồi cắn một miếng. Nổi đau chỉ vọn vẹn một vài phút, là ông đã qua đời. Chỉ có bốn người tham dự đám tang của ông, mẹ ông là một trong số họ, một thế hệ thiên tài, và cứ như thế kết thúc một cuộc đời. Ông qua đời khoảng 4 năm sau đó, Anh quốc đã bãi bỏ pháp lệnh định tội đồng tính luyến ái。
Turing xứng đáng là cái tên luôn được lịch sử nhớ đến, không phải nhờ vào hành động giải mã ULTRA của ông mà quan trọng bởi vì ông là người tiên phòng cho công nghệ máy tính đóng góp xuất sắc để mở ra một thời đại thông tin. Khoảng 20 năm sau khi ông qua đời, Steve Jobs fan của Turing đã đặt cho công ty cái tên là Apple, và dùng biểu tượng trái táo bị cắn dở một miếng làm lô gô



Nhà Văn Chu Tấn (TT/VTLV 2016)

Nhà Văn Chu Tấn

 

chu-tan
Sinh năm 1939 tại Nam Định Bắc Việt
1958 Theo học khóa 7 sĩ quan trừ bị Thủ Đức
1963 Từ binh chủng pháo binh đổi sang quân chủng không quân
1968 -1969  Giám đốc tại bộ Thông Tin- Chủ bút nguyệt san Lý Tưởng  Bộ Tư Lệnh Không Quân
1972 Tốt nghiệp đại học văn khoa Sài Gòn.
1973 Cấp bậc Trung Tá không quân- Tham mưn phó chiến tranh chính trị sư đoàn 4 KQ Cần Thơ.
1975-1984 Tù cộng sản Việt Nam, qua nhiều trại cải tạo từ Nam ra Bắc.
1987 Vượt biên đến định cư tại San Jose Hoa Kỳ
1989 Sáng lập viên Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính trị Việt Nam
1990- 1996  Chủ Tịch Hội Văn Nghệ Sĩ Việt Nam Tự Do (2 nhiệm kỳ)
1995 Sáng lập viên Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại
1997-2000 Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu Cộng Đồng Việt Nam Bắc California
Tác Phẩm đã xuất bản:- Tiếng hát trên cánh đồng xanh 1972 (Tuyển tập truyện ngắn)
– Thắp Sáng Quê Qương 1991(-Tuyển Tập Thơ Văn Hội Văn Nghệ Sĩ  Việt Nam Tự Do- Viết chung)
–  Vận Động Lịch Sử 1991 (Biên Luận Chính Trị -Viết chung)

Tác Phẩm sẽ xuất bản:

Tuyển Tập  Chu Tấn  – Đạo Học -Văn Hóa- Chính Trị.
Sống thuyết Nhân Chủ Việt Nam.
Đạo Sống Việt
Sống Việt Tinh Hoa
Sống Việt Thông Luận.
Sống Việt Đại Toàn.

*****

Nhận Định Về Hai Bài Thơ Ghen  Trên Thi Đàn Việt Nam

 

Nửa thế kỷ trước đây, “Thi đàn” Việt Nam đã xuất hiện một bài thơ “Ghen” của thi sĩ Nguyễn Bính đã từng làm say mê người đọc, thì ở cuối thế kỷ 20 và đầu  thế kỷ 21 này, cũng nẩy sinh một bài thơ “Ghen” của thi sĩ Chu Toàn Chung là cháu nội của Danh Sĩ Chu Mạnh Trinh ,người nổi tiếng trong văn học nước nhà ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.Trong bài này xin quí vị yêu thơ và thích thơ và nhất là những “tâm hồn đồng điệu” cùng thưởng thức 2 bài thơ “ghen”, một của thi sĩ  Nguyễn Bính  và một của thi sĩ Chu Toàn Chung.

BÀI THƠ GHEN CỦA THI  SĨ NGUYỄN BÍNH:

Trong thất tình của con người (Hỷ Nộ,Ái Ố Lạc, Ai,Dục=Mừng, Giận,Yêu, Ghét,Vui,Buồn, Tham muốn) chúng ta không thấy người xưa đề cập đến ghen, có lẽ vì “Ghen” là một phạm trù tình cảm đặc biệt .Ghen tuy bắt nguồn từ “Yêu”-Có Yêu nên mới ghen,-nhưng ghen lại chi phối  gần như trọn vẹn cả thất tình ! Thực vậy, khi đã ghen,thì người ta dễ nổi cơn “thịnh nộ” ,ghét cay ghét đắng kẻ tình địch! Và đồng thời lo sợ kẻ tình địch cướp mất người yêu của mình! Nếu thắng được tình địch thì vui mừng,(Hỷ lạc) nếu bị thua kẻ rình địch thì bi ai buồn khổ suốt đời, có khi đi đến tự tử! Nhưng động cơ chính yếu của ghen lại chính là “Tham dục”muốn chiếm hữu trọn vẹn người mình yêu!.

Bài thơ Ghen của thi sĩ Nguyễn Bính hầu như ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần đọc qua và đều cảm thấy thích thú và mỉm cười vì thấy thi sĩ sao mà ghen quá đỗi,quá thể.

Tác giả mở đầu bài thơ ghen bằng cách nói thẳng với người tình:

“Cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi”

Đã là người yêu của thi sĩ thì không được quyền “cười” với ai, và cũng không được “nhìn” ai và chỉ được quyền cười, được quyền nhìn ngắm thi sĩ mà thôi…Điều này cũng dễ hiểu,vì tâm lý những kẻ đang yêu đều không muốn người tình của mình cười nói thân mật với những người khác .Như vậy là em chưa yêu tôi sao?Em chưa trân trọng với tình yêu của chúng ta sao? Em đừng cười với ai nữa nhé! Nụ cười của em đáng gí hơn ngàn vàng sao em lại có thể cười với“thế nhân”như thế được? tia nhìn của em mới trìu mến làm sao! Ai được em nhìn ngắm thì quả là một đẵc ân mà ngoài anh ra, còn ai xứng đáng với cái nhìn đó của em?

Thi sĩ Nguyễn Bính nổi tiếng về những bài thơ bình dị,chất phác nói lên tâm hồn của những người “nhà quê” .Có người chê thơ Nguyễn Bính dễ dãi “như vè”, nhưng đây là một sai lầm lớn.Tuy thơ Nguyễn Bính không gọt rũa chau chuốt,bong bẩy, nhưng tác giả  có bút pháp và cách nhìn riêng đi thẳng vào tâm hồn  người đọc, nên rất nhiều người đọc thơ Nguyễn Bính ,say thơ Nguyễn Bính, thuộc nằm lòng thơ Nguyễn Bính.Nêu chỉ là “vè”thì làm sao cảm được lòng người sâu đến như thế ?T

Trong thơ Nguyễn Bính còn chứa cả một cái hồn của quê     hương dân tộc ,điển hình như bài thơ Chân Quê:

Hoa chanh nở ở vườn chanh
Thày u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.Hai nhà phê bình thơ khá nổi tiếng là Hoài Thanh và Hoài Chân trong cuốn Thi Nhân Việt Nam đã viết về Nguyễn Bính như sau: “Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta. Ta vẫn thấy trong vườn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình đơn giản của ta. Giá Nguyễn Bính sinh ở thời trước, tôi chắc người đã làm  những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm…”

Nhà văn Vũ Bằng thì cho rằng: “Nguyễn Bính là một thi sĩ suốt đời mắc bệnh tương tư như chính thi sĩ đã xác nhận:

 “Nắng mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

Theo nhà văn Vũ Bằng thì thi sĩ ăn ở 2 điểm:

Anh đã nói lên tiếng nói chân thật của lòng với lời lẽ bìnhthường của dân gian không úy kỵ  không kênh kiệu.

Anh đã nhắm đúng vào một cái bệnh chung của loài người là cái bệnh tương tư, người dân mất nước tương tư quê hương,người con gái lấy chồng tương tư dòng sông cũ, người đàn ông không được yêu thương tương tư người yêu lý tưởng, người bị tình phụ tương tư người đã phụ mình …Có thể nói tất cả văn thơ tiền chiến của Nguyễn Bính đều nhắm vào bệnh đó và anh nổi bật cũng vì bệnh đó .Sở dĩ như thế chính vì anh mắc cái bệnh đó thật,vì ai biết Nguyễn Bính đều không chối cãi được điều này: Bắt gặp ai anh cũng mê, mê người thương mình, mê luôn cả người không thương mình,mê người có thể yêu thương được, và mê luôn cả người không  có quyền yêu thương! Yêu quá lố, mê quá xá, rút cuộc không làm gì được thì tương tư…”

Bản chất Nguyễn Bính là người nhà quê, song Nguyễn Bính cũng là người “trót dan díu với kinh thành” nên cái ghen của nguyễn Bính cũng rất thành thị:

Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai
 Đừng hôn dù thấy bó hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nay ngủ
Đừng tắm chiều nay bể lắm ngừơi

Cái ghen của Nguyễn Bính là cái ghen của người thành thị, song cũng chính người thành thị khó mà chấp nhận dược cái ghen qúa lố  của tác giả! Đã đành là thi nhân có quyền hư cấu hay cường điệu, nhưng ở đây tác giả đã đi quá xa, ghen gì mà ghen đến độ “cấm” người yêu không được ôm bó hoa tươi, không được “ôm gối chiếc” khi ngủ, nhất là không được tắm biển, khi đông người, thì cái ghen đó đã trở thành quá lố, phi lí hoàn toàn không thể chấp nhận được

Có người lại cho rằng cái ghen của Nguyễn Bính không thực , hay chỉ là cái ghen của thời phong kiến kiểu “chồng chúa vợ tôi”! Chứ thời đại vệ tinh chúng ta thì lối ghen kể trên đã trở thành lạc hậu! Nếu bài thơ này được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp thì người ngoại quốc sẽ chê người Việt Nam quá cổ hủ lỗi thời.

Đối với những người sống cùng thời với Nguyễn Bính,hay biết Nguyễn Bính quá rõ thì lại mỉm cười cho rằng: Nguyễn Bính một con người đa cảm một thi nhân theo triết thuyết “đam mê” thì chỉ có thơ tình của Nguyễn Bính là thực thôi còn ngoài ra có cái gì thực nữa đâu!

Nguyễn Bính lại là người mắc bệnh tương tư chỉ vì chàng quá nghèo, lại quá đam mê nên không ai dám yêu chàng (Vì không ai yêu nên suốt đời mắc bệnh tương tư?) mà đã không có người yêu thì TÌNH YÊU của tác giả chỉ là “ái tình bản thảo” có thực bao giờ đâu! Người yêu đã không có thực hay không thực có thì “ghen” chẳng qua cũng chỉ là cái “ghen tưởng tượng” “ghen bản thảo” đó mà! Đối với ái tình bản thảo, đối với “cái ghen trong thơ” mà chúng ta cho là “phi lý” hay “không thực” nếu tác giả còn sống chắc tác giả cũng lấy làm lạ : “Thơ của mình chỉ là sản  phẩm của tưởng tượng mà người đời lại cho là thật ,để rồi tranh cãi nhau giữa chân và  giả! Chẳng lẽ thơ mình hay đến thế sao?”

Theo đa số người vẫn cho rằng: “Đàn bà hay ghen hơn đàn ông” vì vậy mới có câu:

“Ớt nào mà ớt chẳng cay

Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng”

Nhưng khi đọc thơ ghen của Nguyễn Bính mới thấy rằng: cái ghen của đàn ông mới là cái ghen tối đa:

Tôi muốn mùi hương của nước hoa
Mà cô thường sức chẳng bay xa
Chẳng làm ngây ngất người qua lại
Dẫu chỉ qua đường khách lại qua
Tôi muốn những đêm đông giá lạnh
Chiêm bao đừng lẩn khuất bên cô
Bằng không tôi muốn cô đừng gặp
Một trẻ trai nào trong giấc mơ”

Cái ghen của Nguyễn Bính không dừng lại ở chỗ đó mà còn tiến xa hơn nữa :

Tôi muốn làn hơi cô thở nhẹ
Đừng làm ẩm áo khách chưa que.
Chân cô in gót trên đường bụi
Chẳng đấu chân nào được dẵm lên!

Ghen mà cả đến làn hơi của người yêu cũng giữ độc quyền! Ghen đến mức dấu chân người yêu trên đường bụi cũng không cho ai được dẵm lên thì cái ghen đó đã trở thành cực kỳ phi lý hay trở thành tuyệt đối rồi!

Chính tác giả cũng biết mình ghen như thế là “quá lố” “ quá phi lý” quá sai ! Nhưng thi sĩ không phải như người tỉnh cơn mơ, cơn say “Tỉnh cơn ghen” …Ở đây  tác giả giải nghĩa cái ghen của mình  và đi đến đúc kết  lớn hơn:

Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu quá mất
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của riêng tôi!

Điểm lại bài thơ ghen của Nguyễn Bính từ đầu ta thấy tác giả đua ra một loạt những mệnh lệnh nào tôi muốn…cô đừng…..

Từ chỗ không được cười, không được ngắm nhìn người khác…đến không được nghĩ đến ai, không được ôm hôn bó hoa tươi, không được ôm gối chiếc ngủ…không được tắm khi biển đông ngừoi, không được sức nước hoa… hay nếu có, thì nước hoa đó không làm ngây ngất người qua lại, dù họ chỉ là khách qua đường…cũng không được luôn!Ban đêm ngủ ngừơi yêu không được quyền mơ…, nếu mơ …thì cấm không được gặp một chàng trai trẻ nào trong…mộng! Thậm chí làn hơi cô thở nhẹ …cũng không được làm ẩm áo khách chưa quen….và dấu chân người tình đi trên đường…không ai được dẵm lên!

Sở dĩ có những đòi hỏi quá quắt ,những mệnh lệnh tình yêu buộc cô nhân tình của thi sĩ khắt khe như vậy…chỉ vì QUÁ YÊU, QUÁ SI TÌNH.Nguyễn Bính  quan niệm NGƯỜI YÊU LÀ TẤT CẢ Nhưng tất cả của riêng chàng thôi!

Nói tóm lại, cái ghen của Nguyễn Bính là “CÁI GHEN TUYỆT ĐỐI” VÀ CHIẾM HỮU HOÀN TOÀN NGƯỜI YÊU TRÊN CÁC MẶT TƯ TƯỞNG,TÌNH CẢM VÀ TRONG MỌI SINH HOẠT HÀNG NGÀY.

BÀI THƠ GHEN CÓ NHAN ĐỀ NHẮC NHỞ EM CỦA CHU TOÀN CHUNG:

Cũng một đề tài “GHEN” song thi sĩ Chu Toàn Chung có lối diễn tả khác:

          “Em giờ bên ấy có vui không
          Nhớ giữ dùm anh cặp má hồng
          Đừng để nắng hè vương mái tóc
          Hay buồn vời vợi mắt mùa đông

Mở đầu bài thơ, tác giả đã thăm hỏi người yêu ,thi sĩ tỏ ra rất “ga lăng” săn sóc người yêu.Nếu Nguyễn Bính gọi người yêu bằng “Cô nhân tình”  thì trái lại Chu Toàn Chung thương yêu trìu mến  gọi người yêu bằng em hay trang trọng hơn gọi là Người (chữ người viết Hoa).

Văn hào Victor Hugo quan niệm:” Yêu là tin một nửa” vì có ai yêu mà không băn khoăn thắc mắc, không phập phồng lo sợ mất người yêu? Khi đang yêu cho dù tự tin đến đâu những kẻ yêu nhau vẫn e ngại một người thứ ba, một tình địch nào đó đến tán tỉnh người mình yêu, nhất là xa mặt cách lòng…

Nếu Nguyễn Bính “ghen” bằng cách đưa ra những mệnh lệnh tình yêu thì Chu Toàn Chung chỉ khéo léo tế nhị đưa ra ngững lời nhắc nhở, cho dù là điều tối kỵ chăng nữa, thi sĩ cũng không bao giờ có lời nói, cử chỉ làm “phật ý” người yêu hay làm người yêu “tự ái” .Trái lại còn tôn vinh người yêu nữa.

“Cẩn thận nghe em cả nụ cười
              Đề phòng kẻ lạ ngắm môi tươi
              Và điều tối kỵ anh thường nhắc
              Đừng để cho ai tán tụng người

Từ những kiếp xa xôi nào,Thi sĩ và Giai nhân bao giờ cũng là kẻ “NÒI TÌNH ĐỒNG ĐIỆU” ( Chũ dùng của Thi Sĩ Chu mạnh Trinh)

               Giai nhân danh sĩ mấy người
               Bốn phương tâm sự một trời cố đô

(Thơ Vũ Hoàng Chương)

Thi sĩ có người yêu tuyệt vời nhan sắc, khi nàng đi ra ngoài biết bao nhiêu người chiêm ngưỡngNàng chẳng là “vưu vật” của thế gian sao? Nhà thơ thầm lo lắng là phải:

Những lúc em đi dạo một mình
               Sơ sài trang điểm đủ vừa xinh
               Vì em lộng lẫy anh thừa biết
               Đá cũng thầm ghen chuyện chúng mình

Như tất cả mọi người yêu trên thế gian “có yêu nên mới ghen” có yêu nên sợ mất người yêu! Yêu là tham lam ích kỷ, yêu là phập phồng lo sợ,yêu là tham dự vào một cuộc hành trình không biết có nguy hiểm không nhưng đầy bất trắc! Nàng Kiều khi xưa yêu Kim Trọng cũng hết sức lo lắng:

“Bây giờ tỏ mặt đôi ta
                Biết đâu rồi nữa chẳng làchiêm bao?

(Kiều)

Theo quan điểm và thi pháp giữa Nguyễn Bính và chu Toàn Chung có khác biệt song cả hai thi sĩ có một điểm giống nhau là không muốn người mình yêu đêm nằm mơ thấy một “đối tượng” khác .

“Em cũng đừng ra tựa gố mai
                Kẻo anh hàng xóm ngó sang hoài
                Về đêm khi ngủ em đừng để
               Giâc mộng thiên thần nhập bóng ai

Với Chu Toàn Chung yêu không phải là ích kỷ, mà còn là “DÂNG HIẾN VÀ TÔN VINH” người mình yêu.Đây là điểm rất đẹp và cũng rất nhân bản, rất người của Chu Toàn Chung .Nhưng đâu phải chỉ một mình thi sĩ biết ngưỡng vọng người yêu, biết đâu một tình địch nào khác cũng đang tìm đến để tán tỉnh ngưỡng vọng người mình yêu thì sao? Nếu yêu đồng nghĩa với ân cần nhắc nhở …như sợ tình yêu chắp cánh bay cao…Tình càng say đắm, càng trở nên mong manh ….Thi sĩ như sợ mất đi nhũng gì quí báu nhất đời:

Này nữa Anh cần nhắc nhở thêm
                     Phòng Em thường trực nhớ buông rèm
                     Bởi Anh không muốn người qua lại
                     Dừng bước nghiêng mình ngưỡng vọng Em”

Nhắc nhở thì vẫn nhắc nhở, song thi sĩ Chu Toàn Chung vẫn tràn đầy tin tưởng là một ngày không xa người yêu sẽ cùng mình tái ngộ. Thi sĩ tự hỏi mình, không biết nhắc nhở như vậy có là một hình thức ghen hay không? Hình như mình cũng đang “Ghen”?

 

“Nhắc nhở em yêu thế đủ rồi
                      Chờ ngày Hoàng hậu trở về ngôi
                      Hình như anh cũng ghen rồi đấy
                      Ghen để em cười nở ngát mội.”

Điểm lại toàn bài thơ “NHẮC NHỞ EM” của thi sĩ Chu Toàn Chung tuy nhan đề bài thơ có khác, nhưng thực chất vẫn là bài thơ “GHEN”

Nếu cái ghen của Nguyễn Bính là cái ghen có tính cách “phi lý không thực” không thể đem áp dụng ngoài đời mà chỉ là sản phẩm của tưởng tượng….cái ghen lãng mạn ,hướng về Tyết Đối chiếm hữu toàn diện người mình yêu …thì trái lại cái ghen của Chu Toàn Chung không cực đoan, không phi lý, hay quá lố mà là cái ghen tiềm ẩn bên trong của tất cả mọi người chúng ta …Cái ghen của Chu Toàn Chung là cái ghen rất tế  nhị, khéo léo, Thi sĩ không hề cấm đoán đe dọa người yêu vi yêu theo thi sĩ là ngưỡng vọng, dâng hiến và tôn thờ …thì làm sao dám cấm đoán người mình yêu?Và cấm đoán người khác?Tác gỉa chỉ khéo léo nhắc nhở thôi. Đặc biệt thơ Chu Toàn Chung mỗi lần nhắc nhở là một lần tôn vinh….

Nếu chúng ta đặt mình vào phái nữ là người yêu của tác gỉa  chẳng hạn ta sẽ thấy rất cảm động ví có người yêu biết đến giá trị mình ,biết trân quí tình yêu (và còn biết ghen nữa…) nhưng là cái ghen tế nhị, đáng yêu và đáng tư hào biết mấy!

Trong phạm vì bài này, chúng tôi mời độc giả thưởng thức 2 bài thơ cùng một chủ đề “GHEN” song có nhiều điểm khác nhau ngoài ra người viết không làm công việc so sánh đối chiếu xem “ai tài hơn ai”? Vì trên phương diện nghệ thuật, thi hứng,bút pháp, cách cấu tứ,cách xử dụng từ hoa,mỗi người một khác,nhất là khi quan điểm sáng tác,mỗi người lại không giống nhau thì thật khó nếu không muốn nói là không thể nào, định giá người này hơn người kia, khi không có tiêu chuẩn nào để định giá! Làm như vậy là bất công và bất kính với tất cả cả các thi sĩ! Nói cách khác,ai thích bài thơ nào là tùy ý mỗi người. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nói, cùng một  đề tài ghen, song thi sĩ Nguyễn Bính và Chu Toàn Chung đứng trên hai quan điểm khác nhau: một bên lãng mạn, tuyệt đối hóa và chiếm hữu toàn diện,một bên tương đối,cận nhân tình, dâng hiến  ngưỡng vọng và tôn vinh tình yêu….

Hai bài thơ‘GHEN”như hai bông hoa Quívà Đẹp đầy sắc hương của nền Văn hóa Văn Nghệ Việt Nam.

San Jose Thung Lũng Hoa Vàng

CHU TẤN

 




Nhà Thơ Hồng Hà (TT/VTLV 2016)

Nhà Thơ Hồng Hà.

 

Tên thật Vũ Hồng Hà, bút hiệu Hồng Hà, Thu Hoài
Tốt nghiệp trường sư phạm văn Nha Trang – Việt Nam
Tốt nghiệp trường bác sỹ chỉnh xương  tại San Jose, CA
CEO công ty Nutrition & Beauty, LLC,  San Jose, CA – USA

_ak38381

Ngõ Cụt

Tôi lạc bước vào ngõ hẻm
Vừa hẹp vừa sâu,
nghe đâu cuối đường là quán nhỏ
không bán đường, nước ngọt hay hoa quả

Vài cuốn sách
cái xe cũ – hình như là đồ hiệu
lắm kẻ ngó vào nhưng ngại dừng chân
Người cao, sợ phải uốn éo cho vừa
đành quay lui trong nuối tiếc
Người thấp, không biết nên mang guốc hay giày da cao
để không dị hợm
Ngõ hẻm hay ngõ cụt?
khi âm thanh, ánh sáng nơi đó rất lung linh
và nội thất cũng đầy huyền ảo
Ban ngày hé mở chào bình minh
tối về lạc lối giữa màn đêm
với vườn thơ đầy mộng ảo
Cuối cùng tôi gặp em
như nàng tiên cá trong cổ tích
Nàng hiện lên chòang vai ôm hôn tôi thắm thiết
rồi chuồi xuống vẫy vùng,
và chìm lặn vào đại dương cách biệt.
Tôi rã rời
bước đi khật khưỡng
lòng vòng trong ngõ cụt…
02/05/2013
Hồng Hà

 

 

 

 

Sự Sống Không Chỉ Là Hơi Thở

Anh ơi,
Nhớ làm gì quá khứ nhục nhằn
để tương lai phủ lấp mây đen!
Quá khứ nhục nhằn
đã kết chấm hết lúc nửa đêm của ngày hôm qua rồi anh ạ.

Khi cuộc sống quanh ta,
nàng thơ gối đầu ngủ vùi trên cánh tay vệ sỹ
Và anh có biết
sau lớp mây kia còn lấp ló một vầng trăng?
Là vầng trăng khuyết giữa bầu trời đầy sao, lung linh, lơ lửng….

Nhưng anh ơi, xin đừng say
Vì say ham bắt bóng trăng mà dương gian sớm mất một thi tài Lý Bạch
Hãy là một phi hành gia vững chải
vượt không gian,
đi vào trong Trăng
ghì lấy chị Hằng
để minh chứng sự sống không chỉ là hơi thở

Nếu không có một phi thuyền,
xin hãy trộn xi măng nhiều vào trong cát
để xây một lâu đài
Đặt cửa chính ở Đông Nam, cửa sổ hướng về Tây Bắc
để mỗi sáng mùa hè,
chào đón mặt trời từ hừng đông trên bãi biển
và đêm đông ôm nàng thơ xinh đẹp cùng ngắm nhìn trăng soi bên cửa sổ
Lâu đài hạnh phúc muộn màng giữa trần gian bội bạc
Và lần nữa minh chứng sự sống không chỉ là hơi thở.

Hồng Hà 

 

Tôi Rất Muốn


    Tôi rất muốn đến thăm miền sa mạc
Cùng nô đùa giữa trời nắng chang chang
Co ro lạnh khi đêm khuya sương xuống
Thò đầu ra (Ngoài lều), đếm sao dưới trăng vàng

Tôi rất muốn lang thang chiều phố lạ
Bên ai, nhìn lữ khách… bụi đường xa
Tựa vai nhau bước đều trên biển vắng
Ngắm hoàng hôn, mây tím bóng chiều tà

Tôi rất muốn lên tận cùng đỉnh dốc
Từ nơi đây nhìn xuống phố người đông
Vẽ trong trí từng cành hoa, khóm  cỏ
Và thu hình đâu đó một dòng sông…

    Tôi rất muốn bên ai cùng thi họa
Đuổi khó, xua đau, ca khúc nghê thường
Diù bước nhật khoan du dương tiếng nhạc
Ngây ngất say tình, ân aí yêu thương

Thứ tôi muốn chỉ là điều giản dị
Biết bao người có được chẳng thiết tha
Xài hạnh phúc như món hàng xa xỉ
Trong khi tôi, quí hơn cả ngọc ngà!!!

Hồng Hà

 

 

 

 

Vô Đề II

Nhớ lần tôi trở lại quê xưa
Cảm xúc sao nói hết cho vừa
Hình ảnh trẻ thơ ngày đến lớp
Nay giữa sân trường phảng phất đưa

Mấy chục năm xưa cũng lối này
Người đi kẻ ở ai có hay
Đường xưa ngõ cũ nay khác lạ
Xa rồi thuở ấy, tuổi thơ ngây

Ngắn ngủi làm sao hỡi cuộc đời
Sang, hèn, đẹp, xấu … bạn hiền ơi
“Ngày đi” ví được mang tiền nhỉ
Sẽ mua tấm vé, chốn Nước Trời

“Thế giới vô thần” vẫn thế thôi
“Trần gian-Địa ngục” quá đủ rồi
Chúng ta hiệp ý…. chung lòng nhé
Yên bình quê mẹ……. ấm bạn, tôi.
10-10-2016
Hồng Hà

 

 




Nhà Thơ Thư Khanh (TT/VTLV 2016)

Nhà Thơ Thư Khanh

thu-khanh

Thư Khanh (bút hiệu) sinh tại NAM ĐỊNH – miền Bắc Việt Nam. Bố là công chức ngành Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp .

-Bố đi tù Lý Bá Sơ. Ông Nội trong danh sách đấu tố ! –

May mắn nên đã trốn thoát lên Hà Nội và cả nhà di cư vào Nam năm 1954 .

– Vào Nam : Thư Khanh học tại trường Trưng Vương Sài Gòn – Sư Phạm Sài Gòn . Rồi được bổ đi dạy học tại các trừờng Công Lập Sài Gòn .

Kết hôn với PHAN LẠC GIANG ĐÔNG – có hai con trai và1 cháu nội  ( trai ) .

Sang Mỹ theo diện H.O của chồng

* THƯ KHANH đã tập tành làm thơ từ khi mới quen với Phan Lạc Giang Đông . Nhưng sáng tác nhiều là sau năm 2001 – sau khi Phan Lạc Giang Đông mất ( năm 2001)  : THƯ KHANH nhận phụ trách chương trình  Đọc Thơ Cho Nhau Nghe trên đài phát thanh : Sài Gòn HD Radio của thi sĩ Quốc Nam tại Seattle . Số thơ Hiện nay có trên 1412 bài thơ posted trên Web vantholacviet .org và Sài Môn Thi Đàn ,và báo giấy ĐẤT ĐỨNG của nhà văn NHẬT THỊNH& KHUÊ DUNG tại Nam CALIFORNIA .

Thơ đã in: TRĂN TRỞ

————————————————————————————————–

Ngắm Em 

 Ngắm em …- không rượu mà say ,
Bởi khuôn mặt ngọc nét mày liễu cong .
Bởi say đôi má căng hồng ,
Làn da tuyết điểm cổ tròn kiêu sa …
Miệng cười hoa vỡ thiết tha ,
Vòng eo tròn lẳn – nhấp nhô trái đào .
Mắt tình lóng lánh  vì  sao ,
Làn mi xanh  …tả biết bao cho vừa .
Nói năng “ Ngọc thốt “ : dạ thưa ,
Từng lời dịu ngọt như thơ anh làm .
*

Từ ngày anh gặp được Nàng ,
Anh say …- Say cả Sắc Hương mất rồi !!!

THƯ KHANH ( Seattle- 12- 13- 2015 )

 

 

Sáng Tinh Khôi 

Sáng sớm mở cửa ra
Thấy mình như trẻ lại
Vạn vật thay áo mới
Mặt trời dạo trên đồi .
-Đôi chim ca lảnh lót
Thông đánh nhịp cùng vui
Cành đào đang chớm nụ
Gió rì rào đơm hơi .

*

Nhánh sông dài trong vắt
Đôi mắt Ai chờ Ai …
Ta bỗng nhìn ngây dại
Buồm căng về xa xôi …
Biển xanh  hoa sóng nở
Khuôn mặt ngọc …Ai chờ …

THƯ KHANH

( Seattle- 12- 1st– 2015

                                                                                                                                                 

Ngày Sinh Nhật Em Anh Không Về Được

 

Ngày sinh nhật em – anh không về được .
Nắng quân trường thao tác …rã mồ môi
Đôi giày đinh ba tháng trời – lau vội
Áo treizy bụi bám đỏ – lên mùi
Chiếc khăn thêu em tặng anh ngày nọ
Kỷ niệm đầu – anh vẫn để ba lô
Quyển nhật ký ghi từng ngày thương nhớ
Vẫn dầy thêm dòng mực tím mong chờ
– Ngày cuối tuần anh mừng vui như Tết
Về Sài Gòn là tức tốc thăm em
Dưới gốc me … bóng Nàng đợi chung tình
Em kiều diễm – nhoẻn nụ cười má lúm …
– Dang đôi tay cho hôn vào má lúm
Gió thì thầm khen đôi bạn uyên ương
Ơi Tình yêu ! Trời đất cũng nghê thường
Chùm mây trắng bỗng dưng như trẻ lại
Đôi chim trên cao …hát bài hát mới
Đậu trên cành ríu rít chẳng bay đi …
– Thương quá đi em …Chiều tắt gần kề
Nắng hoàng hôn Sài Gòn …tuyệt đẹp …
Gió hiu hiu níu hoài không muốn tắt
Quán nước dừa … cô bé đợi đôi ta
Áo bà ba cô bé rất hiền hoà
Nụ cười mỉm mang theo nhiều dí dỏm
Cô bé Miền Nam vừa ngoan vừa đảm
Thay mẹ nuôi em vất vả từng ngày
Đôi mắt Nàng vướng vất chút thơ ngây
Già trước tuổi bởi chiến tranh tan nát !
Rồi …
– Chả lẽ chúng ta không vào quán
Suốt cả tuần HUẤN NHỤC khát mang theo
Khát môi em – hương vị ngọt tình yêu
Và khát cả ly dừa xiêm  mát lịm …
*
Ơi em yêu !
Ngày Quân Trường HUẤN NHỤC
Lỡ không về mang quà tặng cho em
Ngày sinh nhật em …
Nào có bao giờ quên
Và càng nhớ khi anh không về được !
THƯ KHANH-

(Seattle – 5- 18- 2013 – gửi về Phan Lạc Giang Đông với kỷ niệm xưa 1968)

 

 

 

DĂM VẦN THƠ

(Kính tặng thi sĩ CHINH NGUYÊN và thi sĩ Quốc Nam – Trưởng Ban tổ chức :

Quốc Tế Đại Hội Văn Nghệ Sĩ Việt Nam – vào ng ày 14+15+16 th áng 4- 2016 t ại San Jose nước Hoa Kỳ )
Đầu đã bạc nhưng lòng chưa bạc
NỢ  VĂN CHƯƠNG còn gắn bó keo sơn .
Từng Ngày Đêm – MÓN NỢ VĂN CHƯƠNG
Cùng NỢ NƯỚC THÙ NHÀ chưa trả được .
*
Chưa trả được lòng ta còn áy náy .
Còn chập chờn trong giấc ngủ – chưa say .
-“ Này chị này anh – Này Em …
chung một bàn tay

Thề Quyết Chí thành công – Giương cao cờ Chiến Thắng !”.

THƯ KHANH ( Seattle – 9- 23- 2016 )

 




Nhà Văn TS Nguyễn Hồng Dzũng (TT/VTLV 2016)

Nhà Văn TS Nguyễn Hồng Dzũng

 

hongdung

Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng sinh tại Quảng Ngãi, định cư tại Hoa Kỳ theo diện Tỵ nạn Chính trị. Tốt nghiệp Electronics Engineer in San Jose State University & Doctor of Philosophy in Business Administration in Southern California University. Công việc: SMT & QA Engineer & Product Manager cho các hãng Solectron Inc, Wellex Manufacturing Company, Pemstar Electronics Inc. Giảng sư Trường Đại học California State University Hayward, Project Diversity Screening Committee choThành phố San Jose, Quản Trị hệ Thống Vegetarian Di Lac. Sinh hoạt Cộng đồng: Phó Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành NgườiViệt tại miền bắc California (Federation of Vietnameses American in Northern California), Phó Chủ Tịch Hội Văn Thơ Lạc Việt Hải Ngoại; Chủ Tịch Tổ Chức Văn Hóa Việt Mỹ (Vietnamese American Culture Foundation VACF), Sáng lập viên Trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng (The Practical Buddhism College). Chủ bút Báo Hoa Cành Nam. Chủ biên và bình luận thời sự về Chính trị, Văn hóa, Giáo dục trênHệ thống Direct T.V truyền hình Viên Thao. Và  hệ thống truyền thông Calitoday Media.

 

Tác phẩm đã xuất bản:

-Nước Mắt của Biển (1992)
-PhápVũ (2008)
-TườngVân (2010)
-Búp Sen Hừng Sáng (2011)
-Chuyến Đi Biền Biệt (2012)
-Quang Trung Hồn Việt (2013)
-Kinh Thơ Diệu Pháp Liên Hoa (2015)
-Lam Sơn Hồn Việt (2016)
-Ngàn bài bình luận
-Lịch Sử Việt Truyền Hình

Tác phẩm sẽ in:

-Thân Chứng
-Hoa Nghiêm Trường Thi
-Duy Ma Cật Trong Thời Đại Kỷ Thuật Số
-Kim Cang Kinh Thi Phẩm

 

tac-pham-nhdung_6  tac-pham-nhdung_4  tac-pham-nhdung_3  tac-pham-nhdung_1

CHỮ NHO

PHƯƠNG TIỆN CHỐNG ĐỒNG HÓA TỪ THỜI BẮC THUỘC

Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng

 

Đất nước, con người, văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ hay đình chùa miếu mạo xưa nay nếu không nằm trong quy luật vô thường, ẩn hiện, tương đối thì không bao giờ có cái thường và tuyệt đối. Nếu không có cái thường và tuyệt đối, thì ngày nay ta chẳng bao giờ được gặt hái một kết quả  cao thượng, vì vậy mà sự vô thường và cái tương đối là sự tiến hóa của muôn loài, bao gồm Tổ quốc và Dân tộc từ ngàn xưa đến tận ngày nay.

Nếu chúng ta lấy mốc thời gian khởi thủy dòng Việt tộc từ họ Hồng Bàng với mười tám đời vua Hùng Vương truyền ngôi trên đất nước Văn Lang (1) thì năm tháng khởi thủy nhất định vẫn là một sự bàn cãi của các sử gia chưa được thống nhất. Theo sách sử ghi chép thì vua Hùng Vương thứ mười tám có người con gái Mị Nương xinh đẹp đến tuổi cập kê nên Thục Phán là vua nước Âu Lạc muốn hỏi làm vợ, Vua Hùng không gả khiến cho Thục Phán tức giận gây chiến, Vua Hùng Vương cậy mình có tinh binh dõng tướng mà lơ là việc quốc phòng liền bị Thục Phán khởi binh đánh thắng năm 257 trước Tây lịch, sát nhập Văn Lang vào Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương đóng đô ở Phong Khê, xây thành Cổ Loa tại Đông Anh, Hà Nội.

Bấy giờ ở nước Tàu có vua Tần Thỉ Hoàng thống nhất thiên hạ khắp phương Bắc nên muốn bành trướng đất nước về phương nam bèn sai tướng Đồ Thư đem binh đánh lấy đất Âu Lạc cùng các bộ tộc Bách Việt. An Dương Vương chống cự không lại nên chấp nhận thần phục nhà Tần. Đồ Thư chia đất vừa lấy được ra làm ba quận là Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận; người dân Bách Việt không quy phục nên chống lại người Tàu, giết chết Đồ Thư. Bấy giờ vương triều nhà Tần phương bắc suy vi, giặc giã nổi lên chống triều đình và quan quyền nên loạn lạc xãy ra khắp cùng trong thiên hạ.

Đất Âu Lạc của An Dương Vương phát triển trở lại và cậy có nỏ thần trong thành Cổ Loa nên ỷ y không lo canh phòng, Quan Thái Úy quận Nam Hải là Triệu Đà lập mưu với ý đồ thôn tính Âu Lạc mà không thành công nên dùng kế kết nghĩa hòa thân bằng cách cho con trai là Trọng Thỉ sang cưới Mị Châu tức con gái An Dương Vương để làm nội gián. Sau khi biết nỏ thần là bảo vật chống giặc nên Trọng Thỉ tráo đổi và quay về Nam Hải tường trình việc quân bị. Triệu Đà biết rõ cơ mật liền đem quân đánh lấy Âu Lạc năm 207 trước Tây lịch, lập ra nước Nam Việt, xưng là Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung.

Thời điểm Triệu Đà lập quốc thì nhà Tần suy yếu, Lưu Bang nhà Hán đang phát triển vương triều, nước Tàu đại loạn, bản thân Triệu Đà là người Tàu, làm quan cho nhà Tần nhưng muốn kiến tạo Nam Việt là quốc gia độc lập tự chủ ở phương nam nên thiết lập triều chính, pháp luật, văn hóa, chữ viết giống với người phương bắc. Trong suốt 70 năm trị vì, Triệu Đà đã áp dụng những tập tục phong hóa gần như tương đương với vương triều nhà Tần, nhà Hán bên Tàu, đặc biệt là cách viết chữ Hoa  [花] một loại chữ tượng hình, tượng thanh vuông vức rất đẹp như các đóa hoa nên được gọi là chữ Hoa. Năm 137 trước Tây lịch thì Triệu Đà băng hà hưởng đại thọ 121 tuổi, truyền ngôi cho Triệu Văn Vương, Triệu Minh-vương, Triệu Ai-vương và cuối cùng là Triệu Dương-vương cả thảy được bốn đời. Triệu Dương Vương làm vua được chừng một năm thì vua Vũ Đế nhà Hán bên Tàu sai Phục ba tướng quân Lộc Bác Đức và Dương Bộc đem năm đạo quân đánh lấy Nam Việt, triều đình chống lại mãnh liệt nhưng bị thua và bị sát hại tất cả, nước Nam Việt bị người Tàu đô hộ từ năm 111 trước Tây lịch, đổi tên là Giao Chỉ Bộ.

Mục đích của triều đình nhà Hán là muốn thôn tính Nam Việt, sát nhập vào nước Tàu hay còn gọi là đồng hóa cùng dòng tộc nhà Hán với nhau. Đây là tính tự nhiên của một dân tộc nhỏ hơn về diện tích, ít dân hơn về chủng tộc, thiếu văn minh hơn về nhân văn trong sự giao tiếp thường nhật. Tuy nhiên người Hán không đủ sức để làm việc này bởi lẽ số binh lính và quan lại người Tàu không nhiều để áp đảo số lượng dân chúng tại địa phương nên thiểu số phải phục tùng đa số, do vậy mà cuối cùng là những kẻ xâm lược muốn tồn tại phải chấp nhận theo học, thực hành những gì mà dân bản xứ đang sử dụng tại địa phương. Người Nam Việt chẳng những không mất đi bản sắc dân tộc mà còn được tiếp nhận thêm một số tập tục, cách thức hay ho của những kẻ muốn sang đồng hóa.

Các quan lại người Hán dùng Hán [漢]tự trong các văn kiện, sớ sao, ấn chỉ v.v..nhưng không cần phải cưỡng bức bởi vì chữ Hán bấy giờ tức chữ Hoa trước kia đã được lưu chuyển, giao dịch công văn, ngôn tự truyền đạt từ thời vua Vũ vương Triệu Đà nên từ tầng lớp thượng lưu trí thức đến các hương mục, sĩ tứ thứ dân đều không bị áp lực cưỡng chế, thỏa mái trong thông tri và phát âm theo địa phương mà kẻ xâm lược lại ngẫn ngơ không hiểu nỗi.

Trên thực tế đồng hóa giữa hai dân tộc với nhau diễn ra trong hình thức hòa trộn nền văn hóa, kẻ nào mạnh hơn, nền văn hóa hấp dẫn hơn, đông dân hơn thì đối tượng kia ít dân hơn, lạc hậu, không có bản sắc văn hóa riêng sẽ bị phụ thuộc. Tiếng nói là một công cụ quan trọng nhất để định hình một dân tộc, trong cùng một nhóm, một bộ tộc hay một cộng đồng thì ngôn ngữ gốc là một sợi dây vô hình nhưng thiêng liêng thần thánh tuyệt vời trói buộc những con dân của bộ tộc thành một sắc thái đặc thù riêng biệt. Mất đi ngôn ngữ chính gốc sẽ là hiện tượng đồng hóa với dân tộc mà mình đang sử dụng ngôn ngữ đó, nên bản sắc dân tộc gốc sẽ bị mai một và biến mất theo thời gian. Do đó, tiếng nói là một thành tựu của văn hóa, bảo tồn tiếng Việt là bảo tồn giống nòi, bảo tồn văn hóa và con người thuần chủng.

Từ năm 111 trước Tây lịch người Hán thực hiện ý đồ thôn tính Nam Việt bằng nhiều kiểu xuyên qua ngành học thuật, văn hóa, cách sống v.v.. nhưng ngôn ngữ vẫn là phương tiện truyền đạt dễ dàng làm cho sự đồng hóa giữa hai dân tộc tiến nhanh hơn; tuy vậy tổ tiên chúng ta đã phát hiện thâm ý này sớm hơn những mưu mô của đám quan lại nhà Hán, bởi lẽ từ thời Triệu Đà, tiếng Hoa được sử dụng trong nền giáo dục đại chúng như sổ sách, công văn, chiếu chỉ đều được viết bằng tiếng Hoa, ông cha ta đã dùng văn tự mà không phát âm theo Tàu, ngược lại nói và đọc theo âm Nam Việt thuần chủng. Ví dụ chữ “Việt Nam” khi viết đều giống nhau nhưng lúc phát âm thì chỉ có người Nam Việt đọc là Việt Nam còn người Tàu có nghe cũng không hiểu, trừ khi đọc theo âm Quảng Đông là “Dụyt nàm”.

Trước khi người Hán muốn đồng hóa dân tộc Nam Việt thì chữ viết theo hình vuông được người dân đặt tên là chữ Nho [儒], nghĩa là chữ của kẻ có học hành, có kiến thức. Cũng nên lưu ý rằng chữ Hoa có từ thời thượng cổ, đời nhà Thương, chế tác qua các triều đại trước đời nhà Hán cả năm bảy thế kỷ theo sự  cấu tạo bởi sáu nguyên tắc gọi là lục thư gồm Tượng hình, Chỉ sự, Hình thanh, Hội ý, Chuyển chú, Giả tá.

-Tượng hình là dùng phương pháp vẽ sự vật và hình ảnh để tạo ra chữ viết. Ví dụ chữ mục [目] là mắt phải vẽ sao cho giống con mắt.

-Chỉ Sự là ta suy tưởng ra rồi theo khái niệm trừu tượng về những sự vật vô hình. Ví dụ chữ tam [三] là ba có ba gạch ngang.

-Hội ý là chữ được nối từ hai loại Tượng hình và Chỉ sự ở trên, thêm vào nét chấm, phết thì ra chữ mới. Ví dụ chữ vương [王]có thêm dấu chấm trên đầu là chữ chủ [主] hay dấu chấm bên phải là thành chữ ngọc [玉]. Chữ lâm [林]là rừng dùng hai chữ mộc [木] ghép lại ngụ ý nhiều cây hợp lại tạo thành rừng.

Hình thanh là dùng phần dấu hiệu chỉ ý nghĩa và phần khác thì chỉ âm. Khi muốn viết chữ khác thì có thể thay đổi hình và giữ âm lại. Ví dụ chữ hà [河] là sông gồm bộ thủy cọng với chữ khả thành ra chữ hà.

-Chuyển chú là những chữ cùng chung bộ chữ, có ý nghĩa tương đồng, bổ sung cho nhau.  Ví dụ các loại chim bay đều dùng bộ điểu [鳥] rồi thêm vào cho ra các chữ thuộc về loài có cánh, biết bay như chim phụng [鳳]hoàng. Chữ trường [張]là dài và chữ trưởng [長]là lớn tức là trưởng thành. Do đó hai chữ trường và trưởng cùng một ý nhưng thêm nét cho rõ nghĩa.

– Giả tá là loại chữ mượn âm của chữ đã có sẵn để đặt ra chữ mới cho một sự vật vừa xuất hiện, nói lên ý nghĩa mới chứ không tạo chữ mới. Ví dụ chữ lệnh [令] trong mệnh lệnh mượn làm chữ huyện lệnh. Chữ đạo [道]là con đường cũng viết thành chữ đạo lý [道理]hay đạo đức [道德].

Người Nam Việt từ thời Triệu Đà đã mượn lối viết lục thư nêu trên làm phương tiện truyền thông giao dịch từ triều đình trung ương đến các quan lại địa phương và dần dần lan rộng ra quần chúng. Chữ Nho chính là chữ Hoa nghĩa là chữ đẹp đẽ, vốn chỉ những người học hành, những người có kiến thức, thường được dùng để nói về Nho gia, Nho giáo, Nho học, Nho sinh. Từ khi đạo Khổng, đạo Lão truyền bá vào nước ta với các pho sách Tứ thư(2), ngũ kinh(3), người Việt gọi là sách Nho bởi vì văn hóa Việt bị ảnh hưởng về tôn chỉ của đức Khổng Tử để xây dựng con người và xã hội qua việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; và muốn đạt mục đích trên, ta cần giữ luân lý Tam cương (vua đối với quân thần, cha đối với con, vợ đối với chồng), nam giới cần có Ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), nữ giới cần có Tam tòng (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) và Tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh). Bởi vậy mà người theo học thuyết này cũng được gọi là đạo Nho.

Từ thời đại Hồng Bàng, nước ta cũng có những ký hiệu để biểu thị truyền thông như hình chim cò, hoa sao, nhật nguyệt. Tuy nhiên chúng ta chưa có đủ thời gian phát triển chữ viết thành một hệ thống riêng lẽ thì thời kỳ Triệu Đà từ năm 257 trước Tây lịch lại phổ biến chữ Hoa nên dân ta có được một phương tiện giao dịch phong phú, còn gì tốt cho bằng. Hơn nữa tổ tiên chúng ta cần giao thiệp, buôn bán qua lại với nước Tàu nên chữ Nho phát triển rất nhanh để dùng làm phương tiện đàm thoại bằng chữ viết là chuyện bình thường. Có thể ý muốn của Triệu Đà phổ biến chữ Hoa cho dân chúng sử dụng mang mục đích đồng hóa và đô hộ toàn dân thành một khối, nhưng sức mạnh văn hóa của Nam Việt đã khiến cho triều đình và quan lại phải nương theo phong tục, tập quán, ngôn ngữ và cả niềm tin của tòan dân mà giao thoa trong cai trị để hòa nhập, cuối cùng con cháu Triệu Đà bị Việt hóa và trở thành dòng giống bách Việt.

Từ khi Hán Vũ Đế bên Tàu sai Phục ba Tướng quân Lộc Bác Đức và Dương Bộc đánh chiếm Nam Việt, nước ta bị nhà Hán đô hộ từ năm 111 truớc Tây lịch, đổi tên là Giao Chỉ Bộ nên có người gọi chữ Hoa hay chữ Nho thành ra chữ Hán, thói quen đó đã thành thông lệ cho đến ngày nay, bởi dòng tộc Hán lớn mạnh ở phương Bắc do Lưu Bang hình thành nên mặc nhiên người đời cho đó là chữ của Hán tộc.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao từ năm 111 trước Tây lịch nước Nam Việt bị các triều đại phương bắc thay nhau cai trị, dân tộc Hán đã muốn đồng hóa người dân phương Nam thành một quận huyện của Tàu, muốn biến cả một đất nước thuộc dòng họ Bách Việt thành một bộ tộc trong đại gia đình Hán tộc, muốn xóa sổ dòng giống Lạc Hồng trên bản đồ thế giới, nhưng rốt cuộc sau một ngàn năm thống trị, người dân Nam Việt lại nổi lên giành lấy chủ quyền mà điển hình là Bà Trưng năm 39 sau Tây lịch, Bà Triệu năm 258; đến cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm của Ngô Vương Quyền năm 938 đuổi quân nam Hán về lại phương bắc, lập nên một thời kỳ tự chủ lâu dài với bản sắc dân tộc không hề thay đổi. Cả một ngàn năm cai trị dân Nam, đáng lẽ nền văn hóa Nam Việt dễ  thường bị nền văn hóa Hán tộc đồng hóa; nhưng điều kỳ diệu là dân tộc Nam Việt chẳng những không hề suy suyển mà còn tiếp thụ cái hay của các tập tục, phong hóa, nghệ thuật để biến thành cái rất “Ta”, rất nhuần nhuyễn hợp người phương Nam, lưu truyền được phong tục và tiếng nói riêng biệt, giữ được hồn dân tộc không bị lai căn.

Chiếc chìa khóa thần kỳ này chính là tổ tiên ta đã khai dụng chữ Nho để học hỏi và truyền tin với nhau, nhưng khi phát âm luôn dùng tiếng thuần Việt, vì vậy mà cả ngàn năm đó tổ tiên chúng ta vẫn giao tiếp thỏa mái với người Hán bằng loại chữ Nho, tức chữ Hán theo cách gọi phổ thông, nhưng khi nói chuyện thì dứt khoát là dùng tiếng Việt phiên âm hay còn gọi là âm Hán Việt; kẻ sĩ có học trong trường ốc hay chiếu chỉ văn sớ cung đình cũng sử dụng âm Hán Việt chứ chưa bao giờ dùng ngôn ngữ Quảng Đông, Phúc Kiến hay Triều Châu để đối thoại lẫn nhau. Các quan lại người Tàu sang cai trị nước ta cũng dùng bút đàm để liên lạc chứ cũng ít kẻ siêng năng ráng sức học ngôn ngữ bản xứ. Do đó mà hai dân tộc dù có ở chung nhau trong một quận huyện cũng chẳng bao giờ hòa hợp với nhau, giống như nước với dầu có khi nào mà dung hòa thể nhập? Đồng hóa thì tương tự như nước với sữa, nhưng dân Nam Việt là nước còn Hán tộc là dầu mà lại là dầu lửa thì muôn đời khó hòa quyện lẫn nhau. 

Các đế quốc thực dân chiếm những nước thuộc địa đều áp chế sự đồng hóa ngôn ngữ, bởi vì chừng khoảng vài trăm năm sau thì các đế chế đó sẽ xóa ngôn ngữ bản địa mà thay thế bằng ngôn ngữ thực dân. Chúng ta nhìn nước Phi Luật Tân sau thời kỳ đô hộ bởi Tây Ban Nha và Hoa Kỳ thì ngôn ngữ dân tộc là Tagalog, một loại ngôn ngữ chính thống Filipino cũng bị thay thế bằng tiếng Anh. Nước Ba Tây bị Bồ Đào Nha chiếm làm thuộc địa từ thế kỷ thứ XV, sang thế kỷ thứ XVII cả nước nói tiếng Bồ Đào Nha mà tiếng bản địa Ba Tây trở thành cổ ngữ!. Một số quốc gia Châu Phi như Togo, Sénegan bị Pháp đô hộ và tiếng Pháp trở thành ngôn ngữ chính thống, các loại ngữ tộc Togo, Sénegan ngày nào không một ai nhắc tới. Riêng với dân tộc Việt Nam đã bị Pháp đô hộ từ năm 1858, tiếng Pháp đã phổ biến trong các trường học sơ cấp, trung cấp từ sau khi thế chiến thứ nhất chấm dứt năm 1918; Lớp thanh niên đã bắt đầu sử dụng tiếng Pháp trong sinh hoạt, học hành, buôn bán lên đến 50%; nếu như không có những cuộc đối kháng chống Pháp nổ ra như các phong trào Văn Thân (4), Cần Vương (5),  Đông Kinh Nghĩa Thục (6), cuộc Tổng khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng (7) nổi lên chống lại thực dân Pháp thì việc đồng hóa ngôn ngữ do Phú Lang Sa (8) đề xướng dễ gì thất bại chua cay?

Tổ tiên của chúng ta từ miền nam sông Dương Tử di cư xuống phương nam nên rất hiểu những ý đồ thâm độc của bọn người phương Bắc. Chính sự hiểu biết đó mà cha ông chúng ta đã đề ra những phương cách hữu hiệu ngăn ngừa kiểu đồng hóa ngôn ngữ trước khi đồng hóa dân tộc, các kế sách hay ho dùng để gìn giữ được tiếng nói riêng biệt của nước Nam trong suốt chiều dài hơn ngàn năm bị ngoại bang thống trị là sự khôn ngoan tuyệt vời bảo toàn trọn vẹn lãnh thổ đến hôm nay.

Cũng từ sự hiểu biết đó mà trong huyết quản sâu thẳm của người phương Nam ít chịu sự khuất phục hay điều động từ người phương Bắc, vì vậy mà ý thức đối kháng đã chảy trong từng động mạch, từng sớ thịt của từng người dân Nam khiến cho dù ngàn năm đô hộ giặc Tàu mà tinh thần tự chủ, ý chí bất khuất của dân Việt lúc nào cũng hừng hực cháy. Sự mâu thuẩn giữa kẻ mạnh muốn xóa bỏ văn hóa, ngôn ngữ bản địa lại gia tăng sự hiềm khích, phản đối của dân tộc bị trị, đổ thêm dầu vài lửa cho cuộc trường kỳ kháng chiến chống ngoại xâm. Đó chính là bức rào ngăn cản sự đồng hóa sau ngàn năm thống trị đất Nam Việt bởi nhà Tần, nhà Hán từ phương bắc dòm xuống phương nam.

Chữ Nho là do người Việt đặt tên với hàm ý là người có học, ngưòi Tàu sẽ không biết ý nghĩa này; chữ tự nghĩa là chữ sau này dùng vào các âm ghép như Hán tự, văn tự chứ không dùng Hán Nho, văn Nho dù cùng một nghĩa như nhau. Mượn chữ viết để truyền tin là việc làm đúng đắn, bởi vì bất cứ nền văn minh nào được phát hiện thì con người vận dụng và thừa hưởng là điều thiên kinh địa nghĩa, tổ tiên ta không ngại ngùng trước việc vay mượn chữ Hoa để sử dụng trong chuyện giao tế, thông tin, nhưng quy ước cách đọc là một sáng tạo độc đáo. Mỗi chữ viết, tổ tiên ta đặt một âm Việt tương đương, vừa dễ nhớ, vừa liên tưởng đến vật dụng hàng ngày đặng mau thuộc mặt chữ. Âm Việt của chữ Hoa mà sau này đổi thành chữ Hán gọi là âm Hán Việt tức chữ Nho, vì đọc theo tiếng mẹ đẻ thì tất nhiên dễ dàng hơn học tiếng Quảng đông. Văn hào Nguyễn Du chắc không nói được tiếng Tàu nhưng có thể đọc được tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân (9) bằng chữ Nho nên sáng tác ra Đoạn Trường Tân Thanh tức truyện Kiều, một tác phẩm thi ca tuyệt trần trong kho tàng văn học nước nhà, chắc chắn sẽ sống mãi với nhân gian mà nhà văn Phạm Quỳnh của thập niên 40 trong thế kỷ XX từng nói: “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước Việt còn” là một minh chứng cho kết quả cao thượng.

Một ngàn năm giặc Tàu đô hộ nước Nam Việt nhưng không đời nào tiêu diệt được ngôn ngữ bản địa, trái lại tiếng Việt lại càng thêm phong phú tạo ra các tác phẩm thi ca, nhạc kịch, liễng đối quá thâm trầm, ý nhị, âm vận lại du dương khiến người nghe tưởng như lời hát vi vu trong gió. Sự sáng tạo chữ Nho của cha ông chúng ta đã giúp cho Nam Việt tránh được tình trạng bị người Hán đồng hóa đã đành, mà nguy cơ mất đất, mất chủ quyền trong thời gian một ngàn năm Bắc thuộc không hề xãy ra. Nền văn hóa lâu đời của Việt tộc rất phong phú, dồi dào nên khó thay thế bằng một loại văn hóa ngoại lai, tinh thần xã hội và kỷ cang gia đình đã bắt rễ từ thời đại Hồng Bàng nên không thể xen kẻ bất kỳ hình ảnh khác lạ nào vào cuộc sống bình dị, mộc mạc của dân quê. Cái đình làng vốn có hàng ngàn năm trước dù nằm âm thầm dưới gốc cây đa nhưng là một cơ sở kháng sinh mãnh liệt cho bất kỳ loại ký sinh ngoại lai nào xâm nhập vào đời sống dân dã đã có từ thời Hùng Vương.

Vô hiệu hóa những âm mưu đồng hóa của người Hán là những tư duy tuyệt đỉnh của tổ tiên chúng ta. Dùng chung một ngôn ngữ là con đường đồng hóa rồi sát nhập vào nước lớn mau lẹ nhất, nhưng điều này không hề xãy ra trên lãnh thổ nước Việt xưa là bởi dân ta có chữ Nho để sử dụng, có chữ Hoa để bút đàm, cả hai phương tiện này là dòng chảy xuyên suốt đầy cảm thông giữa kẻ thống trị và kẻ bị trị nhưng lại không bao giờ hòa quyện với nhau, do đó mà chuyện đồng hóa còn lâu mới thực hiện được đối với một dân tộc có cá tính riêng, có ý chí bất khuất kiên cường, và có kinh nghiệm sống dưới nỗi hà khắc bất công bởi Bắc thuộc cả một ngàn năm đằng đẳng chua cay.

San Jose February 8-2016

___________________________________________  

Ghi Chú:

(1)Văn Lang tên nước đầu tiên của Việt Nam được thành lập và  cai trị bởi các vua Hùng.

(2) Tứ Thư là bốn tác phẩm kinh điển của Tàu gồm: Đại Học , Trung Dung Luận ngữ và Mạnh Tử

(3) Ngũ Kinh là 5 pho kinh gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu

(4) Phong trào Văn Thân là một phong trào quần chúng do các nho sĩ Việt Nam lãnh đạo với mục tiêu “bình Tây, sát tả” để cứu nước. Phong trào này khởi phát từ năm 1864 bằng cuộc bãi thị của sĩ tử trong kỳ  thi Hương tại các trường miền Bắc và miền Trung nhằm phản đối triều đình nhà Nguyễn  Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhượng 3 tỉnh miền Đông của Nam phần cho Pháp.

(5) Cần Vương do ông Tôn Thất Thuyết – một đại thần thuộc phe chủ chiến – đưa vua Hàm Nghi ra ngoài, phát hịch Cần Vương chống Pháp năm 1888. 

(6) Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), do ông Lương Văn Can huy động để  bỏ lối học từ chương, du nhập những tư tưởng mới từ Nhật hoặc các nước tiến bộ để phát triển văn hoá, thúc đẩy sử dụng chữ quốc ngữ thông qua các hoạt động giáo dục

(7) Tổng khởi nghĩa Yên Bái:  cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quốc Dân Đảng vận dụng khởi xướng ngày 10 tháng 2 năm 1930 chống Pháp.

(8) Phú Lang Sa: France, Pháp thuộc, giặc Tây

(9) Thanh Tâm Tài Nhân tên thật là Từ Văn Trường, một nhà văn đời nhà Thanh thế kỷ  XVII tác giả tiểu thuyết Kim Vân Kiều. Cụ Nguyễn Du đi sứ sang Tàu đọc được tác phẩm này nên sáng tác ra Đoạn Trường Tân Thanh tức Truyện Kiều.

 

Tài liệu:

-Lịch sử cổ đại Việt Nam; Đào Duy Anh

An Dương VươngTừ điển bách khoa Việt Nam

-Từ điển điện tử wikipedia.org/wiki/Chữ_Nho

                -Việt Sử Toàn Thư Phạm Văn Sơn, 1960.

                -http://www.taphopdongtam.org/baiviet/phubientapluc.html

               -Đại Nam liệt truyện, ghi chép về gia phả nhà Nguyễn, 

               -Lê quý dật sử, Bùi Dương Lịch 

Đại Nam Quốc sử Diễn ca  Đỗ Văn Ninh
-The Institute for Vietnamese Culture & Education

 




Nhà văn Nguyên Thanh Xuân (TT/VTLV 2016)

Nhà Văn Nguyễn Thanh Xuân

 

inviteh

Thanh Xuân là một đứa con gái sinh trưởng và lớn lên tại thành phố Đalat trong một gia đình mười hai anh chị em với người cha làm Trưởng Ty Thú Y kiêm Phó Trưởng Ty Nông Nghiệp.

Từ nhỏ Thanh Xuân được đi học trường Mến Thánh Giá , Đà lạt, sau được đổi tên là trường tiểu học Thiên-Hương do các bà sơ dòng Mến Thánh Giá thành lập.

Khi đến tuổi vào trung học, Thanh Xuân được thi đậu vào Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân năm 1970 học lớp đệ thất.  Đến năm 1975, khi đất nước bị rơi vào tình trạng khói lửa, bắt đầu từ tháng 3, những tỉnh lỵ miền trung mất dần theo bản đồ và bị cộng sản chiếm đóng.  Khoảng giữa tháng tư, dân chúng ở Đà Lạt kéo nhau bỏ chạy tuy rằng không có một tiếng súng nổ.  Gia đình cha mẹ Thanh Xuân và mấy anh chị em đi đường xe đò chạy về Nha Trang bỏ lại sau lưng ngôi nhà yêu quý và bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu.  Năm đó Thanh Xuân vừa học hết lớp 11C (C tượng trưng cho môn văn chương) trường Bùi Thị Xuân.

Sau khi Viet Nam đã rơi vào tay cộng sản ngày 30 tháng tư năm 1975, cả gia đình cha mẹ anh chị em đang ở Saigon và trú ngụ tại nhà người chị thứ Ba nằm trên đường Công Lý gần phi trường Tân Sơn Nhất.

Tháng tư 1975 cả gia đình bị kẹt lại Saigon với niềm đau buồn của người dân bị bỏ rơi.  Thanh Xuân đã ghi tên vào học năm cuối lớp 12A tại trường Nguyễn Thượng Hiền và thi đậu tú tài toàn phần năm 1976.  Vì lý do gia đình cha cô làm cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thời trước 1975 (bọn cộng sản liệt kê vào thành phần con ngụy) cho nên Thanh Xuân không được tuyển vào đại học.

Tuổi mới 18, cô mang một tâm hồn mơ mộng như tất cả những người con gái Việt Nam trong lứa tuổi này, nhưng trong một xã hội như cộng sản thì họ chỉ muốn vinh danh dân lao động cho nên ép buôt tất cả những thanh niên thiếu nữ trong lứa tuổi 17, 18, nếu không đi học thì phải đi về vùng kinh tế mới khai phá đất để trồng trọt phát triển kinh tế cho nhà nước.

Chính vì thế khoảng cuối tháng chín năm 1977, gia đình người chị lớn âm thầm thu xếp một chuyến đi vượt biển qua đường Rạch Giá, hai người em được chọn để mang theo làThanh Xuân và người chị kế Thanh Loan.  Sự lựa chọn để dấn thân trong một cuộc ra đi mạo hiểm mà người ta thường nói: “Một sống, hai chết” đã làm cho Thanh Xuân trở nên gan dạ, chấp nhận cái chết nếu đi không lọt.

Con thuyền định mệnh đã rời Rạch Giá vào một đêm không có trăng nên tối mịt, sau năm ngày năm đêm trôi dạt trên biển khơi đã được tắp vào một đảo bỏ hoang chỉ dành cho dân tị nạn lúc bấy giờ, đó là đảo Paula Tengah nằm gần Maylasia.  Trại tị nạn lúc bấy giờ có khoảng hơn 1000 người đang chờ giấy tờ đi định cư xứ người.

Trong danh sách những người chọn đi Mỹ, gia đình Thanh Xuân thuộc diên có làm cho Mỹ thời trước và có thể nói và đọc Anh ngữ lưu loát cho nên thời gian chờ đợi chỉ có ba tháng (so với những người khác đã chờ đợi hơn một năm mà vẫn chưa thấy được gọi tên).

Đầu năm 1978, Thanh Xuân và gia đình đã đặt chân đến Mỹ, định cư tại Mountain View, California dưới sự bảo lãnh của người anh rễ và chị dâu.

Thanh Xuân bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới lạ, ban ngày đi làm cho một hảng điện tử và ban đêm đi học ở Foothill College, sau đó chuyển qua San Jose State University học về kinh doanh, và hiện đang làm địa ốc tại Intero Real Estate Almaden về buôn bán nhà cửa.

Năm 1985, Thanh Xuân lập gia đình với một người Mỹ Ed Cutshaw và có ba người con trai.  Năm 1989 nhờ sự bảo lãnh của phu quân, Thanh Xuân đã đem cha mẹ và 4 chị em còn lại qua đoàn tụ tại San Jose.

Năm 2009, khi thân phụ qua đời, Thanh Xuân đi với con trai út về Việt Nam thăm quê hương lần đầu tiên sau 25 năm xa quê hương đất tổ.  Khi trở về Mỹ, cô có một cảm hứng dâng tràn và viết hai tác phẩm đầu tay bằng hai thứ tiếng Anh và Việt ngữ với chủ đề: “Con đường đi đến giàu sang và hạnh phúc” và cuốn thứ nhì “Bí ẩn của sự thành công”.  Hai cuốn sách xuất bản qua nhà xuất bản Mỹ và đã được đưa vào thư viện toàn cầu (library of congress) và đang hiện bán qua Amazon hoặc Barn and Nobble.

Sách của cô thuộc diện tâm linh và nói rất nhiều về những định luật của vũ trụ như luật thu hút, luận nhân quả, luận cho và nhận.v.v.

Nguyện vọng của Thanh Xuân là bằng cách nào cho người đời sống và biết cách áp dụng những định luật này trực tiếp vào những lối suy nghĩ và hành động của mình mỗi ngày để tạo cho mình một cuộc sống như những ước mơ mình có sẵn.

Cô còn nói rằng mỗi người, vật hay sinh vật đang sống trong thế giới vũ trụ đều phải theo như nhau, không một ai hay một vật gì có thể đi ngược chiều.  Nếu biết cách đi thuận buồm xuôi gió thì cuộc sống trở nên đẹp vô cùng.

Thế thì tại sao con người chúng ta luôn tìm kiếm hoài mà không thấy hạnh phúc?  Tại sao bao nhiêu người mơ ước được cuộc sống giàu sang nhưng mãi hoài vẫn loay hoay cơm gạo áo tiền, sống chật vật và thiếu thốn?  Nếu bạn nào chưa hài lòng với cuộc sống hiện tại và muốn thay đổi cuộc đời, hãy tìm đọc sách của Thanh Xuân. Website:  www.xuanthanhnguyen.com hoặc vào Amazon www.amazon.com tìm tựa đề : ”A Road to Wealth and Happiness” or “ The secret to success” by Nguyen Thanh Xuan.

con-duong-di-toi-sang-giau               bi-an-su-thanh-cong

Quê Hương Việt Nam trong ký ức
Nguyễn Thanh Xuân

 

Quê hương tôi trước 1975, một hình ảnh đẹp nên thơ cho dù trong thời chinh chiến, cho dù mãnh đất quê hương Việt Nam đã bị dày xéo bởi bom đạn khói lửa như những lớp hằn trên con lưng con ngựa hoang.  Riêng tôi, có lẽ tôi chưa lớn đủ để có nhận thức được bao nỗi hoang mang lo lắng từng ngày của mẹ cha, những ưu tư của mẹ tôi nhớ đứa con trai lớn đang đi ra chiến trường không trở về thăm nhà trong những dịp tết.

Tôi còn nhớ năm 1967 khi tôi được 9 tuổi, một năm trước biến cố Mậu Thân 1968, cảnh chết chóc mỗi ngày trên Tivi và cảnh tan tóc ở cố đô Huế.  Năm đó gia đình tôi cũng hay tin anh hai tôi tử trận, ba má tôi đau buồn mà người đau khổ nhất là má tôi, bà thương anh tôi vì đó là con trai đầu lòng, má tôi khóc sưng cả mắt.

Đám tang của anh ở Sài Gòn, vìcả gia đình tôi lại ở Đà Lạt cho nên chỉ có người chị thứ ba và má tôi đi đưa đám tang của anh với một vài người thân.  Gia đình năm đó mất đi một người anh nên vắng tiếng cười, tuy tôi chỉ mới 9 tuổi, chưa đủ tuổi để hiểu được sự mất mác lớn lao đến dường nào.

Năm kế là biến cố tết Mậu Thân, Đà Lạt không ngoại lệ, mỗi ngày tôi đi học về thấy xác Việt Cộng nằm phơi trên đồi, máu me còn chưa khô.  Tôi vừa sợ vừa buồn vì không hiểu tại sao lại con người có thể giết nhau khi cùng một giống nòi.  Quê hương tôi đẹp quá nhưng cảnh tang tóc khắp nơi, gia đình nào cũng có ít nhất một người con hy sinh vì tổ quốc.  Hình ảnh mẹ ôm con chạy loạn ngoài miền trung mỗi ngày chiếu trên tivi ám ảnh vào trong đầu óc tôi.  Ngoài những buổi sáng đi học, những buổi trưa dài tôi thường đi vào rừng thông lượm củi đem về cho má tôi nấu bếp.  Những buổi trưa hè lang thang bắt bướm, bắt dế hoặc thả diều trên sân banh.

Quê hương Việt Nam của tôi, chiến tranh càng ngày càng khốc liệt khi tiến dần đến năm 1972, mùa hè đỏ lửa ở Quảng Trị, từng thị trấn một bị chiếm đóng và mất đi dần dần trên bản đồ, từ miền trung chạy đến miền nam và cuối cùng năm 1975, Viêt Nam đã hoàn toàn ngã gục trong hơi thở cuối cùng khi Sài Gòn thất thủ và giọng ca của Bill Cosby với bản nhạc White Christmas vang lên vào tháng tư như một dấu hiệu cho tất cả mọi người sự bỏ cuộc.

Trãi qua 10 năm lớn lên trong thời chinh chiến, năm 1975 tôi vừa mới 17 tuổi, tuổi đẹp nhất của thời con gái, tuổi vừa biết yêu và biết mơ mộng viễn vông.

Tôi thường ngồi lặng lẽ một mình để suy ngẫm về cuộc đời, tôi chưa biết yêu chàng trai nào, chỉ biết yêu quê hương và mẹ cha.  Khi gia đình phải rời bỏ Đà Lạt để về Sài Gòn năm 1975, tôi nhớ mái nhà xưa của tôi với căn phòng nhỏ, tôi nhớ cảnh mưa dầm trên Đà Lạt những ngày lội sình đi chợ với má tôi.  Tôi nhớ chiếc xe đạp mini màu đỏ và những con dốc đường Võ Tánh và hàng thông xanh.

Phải tôi là một cô gái trưởng thành hơn một chút thì đã là người yêu của lính rồi, ngôi trường Chiến Tranh Chính Trị và Võ Bị giáp lưng ngay sau sân trường Bùi Thị Xuân và cách nhau có một hàng rào kẻm gai.  Trường nữ trung học lại gần ranh giới của mấy anh chàng sinh viên trường võ bị trở thành những huyền thoại cho nhiều cuộc tình đẹp.

Tôi thường lén nhìn trộm những chàng trai oai hùng trong bộ đồng phục khi họ đi ra phố vào cuối tuần.  Dĩ nhiên mấy người chị của tôi cũng có vài người bạn phi công ghé nhà chơi, nhưng tuổi tôi lúc đó chưa được ai ngó ngàn đến.  Tôi chỉ lấp ló và nhìn trộm những anh chiến sĩ oai hùng này và mơ tưởng đến một ngày nào mình cũng sẽ sánh vai đi bên cạnh một người lính đẹp trai đó.

Quê hương tôi tuy dập vùi với chiến tranh nhưng nếu nói về tình yêu thì phải nói là một quê hương nhiều tình yêu nhất.  Bài hát “Những đồi hoa sim” nói lên cái chết của người em gái hậu phương thay vì người binh sĩ.  Bài ca “Anh không chết đâu anh” với giọng ca nức nở của Thanh Lan làm bao nhiêu người đổ lệ.  Quê hương của tôi chứa chan đầy tình yêu, đầy sự chia ly, kẻ ở người đi, hình ảnh người mẹ quê với đồng lúa chiều, hình ảnh khói lam chiều lan dần trong ống khói của từng nhà, hoặc tiếng chó sủa trong đêm làm cho người mẹ có cảm giác lo âu không biết Việt Cộng có về bắt con trai bà đi theo chúng.

Tình yêu quê hương nói rất nhiều về tình mẹ thương cho con trai đi đánh trận nơi xa và trông đợi con từng ngày.  Tình quê hương nói về những người chiến sĩ lấy trăng làm đèn để viết thư tình cho em gái hậu phương.  Tình cảnh của cô gái cầm trong tay tấm thẻ bài, quấn trên đầu vành khăn tang trắng, đứng bên ngôi mộ người yêu với dòng lệ tuôn tràn.

Hình ảnh của quê hương tôi với những nét mặt u buồn của người thua trận, khi mấy anh lính Việt Nam Cộng Hòa phải bỏ súng khi thấy đoàn xe tăng của Cộng Sản lăn vào đường phố Sài Gòn. Tôi không thể nào cầm được nước mắt khi chứng kiến một vài người lính trẻ vào nhà xin quần áo thường dân để thay bộ áo lính còn đóng đầy bụi ngoài chiến trường.

Nói về quê hương và tình yêu thì không bút mực nào tả cho xiết.  Tôi đã là một cô gái xuân thì đang ở tuổi mộng mơ thì phải trút bỏ chiếc áo dài trắng, xếp bút nghiên để bỏ nước ra đi trong một đêm tối.  Bước lên chiếc ghe nhỏ để vượt biên bằng đường biển.  Tôi đã bỏ lại sau lưng quê hương tôi, cha mẹ và anh chị em tôi để lên chiếc tàu định mệnh.

Đêm hôm đó, vào khoảng cuối mùa thu năm 1977 tại Rạch Giá, trời tối đen như mực vì họ lựa ngày không có trăng để dễ dàng tránh mặt bọn công an.  Bổn phận của tôi chỉ là một đứa con gái quêgiả vờ xách gào mên cơm đem xuống ghe cho mấy người đánh cá ăn.  Tôi chỉ việc đi lầm lũi trong chiếc áo bà ba cũ kỷ, không cần ngẩng đầu lên nhìn ai, cứ việc đi và khi nhảy được vào ghe rồi thì có người trong đó mở hầm đựng cá để nhảy xuống.

Sau khi vào hầm cá, có một người đậy nấp lại chỉ để hở một khe nhỏ đủ để thở.  Tôi còn nhớ rỏ mùi tanh tưởi trong hầm làm tôi khó chịu nhưng tôi cố gắng nhắm mắt và lẩm nhẩm đọc kinh cầu nguyện trong khi nước mắt chảy dài vừa lo sợ vừa thương quê hương, thương cha mẹ.

Đầu óc tôi quay lại như một cuốn phim dĩ vãng với tuổi thơ mà Phạm Duy từng phổ những bài hát nói về tuổi hồng, thời đi xe đạp với tà aó trắng.  Tôi thiếp đi trong một phút chốc để thấy đỡ buồn nôn vì sự chật chội tanh tưởi trong hầm cá.

Cuốn phim quay lại như một giấc mơ tuyệt đẹp, có những ngày hè tôi được má tôi dẫn về quê ngoại ở Bến Lức.  Nhà tôi anh chị em đông nên mỗi lần hè đến má tôi chỉchọn một đưá và tiếp tục mỗi năm sau đến lượt đứa kế tiếp.  Tôi thứ 11 trong gia đình nếu tính theo thứ, ba má tôi có 14 đứa con, nhưng nếu đếm theo những nhân vật còn sống thì chỉ có 12 anh chị em thôi.  Người Việt Nam thường có câu “Nhà đông con là nhà có phúc”, cho nên má tôi rất hãnh diện có được 12 đứa con xinh xắn, anh em trai thì khôi ngô tuấn tú, chị em gái thìđẹp mặn mà và thỉnh thoảng được đóng vai trò hoa khôi như chị thứ ba của tôi.

Mùa hè năm 1965 tôi được về Bến Lức thăm bà con bên ngoại, năm đó tôi chỉ lên bảy.  Nắm tay theo má tôi đi từ chuyến xe đò này qua chuyến xe đò khác, khi đến quê ngoại tôi là cánh đồng lúa bay thẳng cánh.  Từ ngoài lộđi vào trong làng phải đi qua những con đê sình lầy trơn trợt, phải đi bằng chân đất mới không trợt té.  Tôi rất sợ vì chưa bao giờđi như thế này nhưng có má tôi dẫn dắt nên tôi cảm thấy an tâm.  Từ đằng xa tôi nhìn thấy bóng cây dừa vàđàn vịt đang lội dưới ao, cảnh thanh bình quá, không một tiếng ồn ào chỉ trừ tiếng sáo diều quanh quẩn đâu đây.  Đây không phải là bức tranh vẽ hay trí tưởng tượng mà chính là cảnh vật thật, quê ngoại của tôi đẹp nhưng buồn quá.

Ngước mắt lên trời tôi thấy một vài con diều bay, có lẽ của một vài đứa trẻđang vui chơi thả diều ngoài ruộng.

Khi đến nhà bà ngoại, con chó mực chạy ra mừng nhưđã quen với má tôi từ xưa, tiếng một bà già vọng ra từ cửa trước: “Phải con Vận vềđó không?”, má tôi dạ lớn rồi kéo tay tôi tiến gần lại và thúc dục: “Con chào bà ngoại đi con.”

Tôi lúng túng nói không ra hơi vì thấy bà tôi ăn trầu và ngồi trên võng với gương mặt khóđăm đăm, sau này má tôi cắt nghĩa với tôi là mấy bà nhà quê rất tốt bụng, thương con cháu vô cùng nhưng họ luôn tỏ vẻ chay đá vì hờn giận con cái không về thăm thường xuyên hơn.

Tôi cũng ngạc nhiên khi nghe bà gọi tên má tôi là Vận, sau này má tôi cũng giải thích làông bà ngày xưa hay sợ gọi tên đẹp thì không tốt cho người đó vì ma quỷ sẽ hờn ghen vàám hại.

Tôi thích quê ngoại nhưng má tôi thường nói bà không thích ở dưới quê vì bà không muốn lấy chồng nông phu và các con bà phải ra ruộng cấy lúa mà không được đi học.  Bà quyết tâm lên thị thành và kiếm được công việc làm trong một nhà in sách ở Sài Gòn.  Mỗi ngày bán sách cho những người yêu thích đọc sách và cũng nhờ vậy gặp được ba tôi, một chàng trai trẻ mêđọc sách.

Thời đó còn là thời Pháp thuộc, ba tôi có khuôn mặt khôi ngô làm cho ai cũng lầm tưởng ông là người Pháp hay ít nhất cũng lai một phần.

Tình yêu của ba má tôi chớm nở bắt đầu từ cuốn sách “Gánh nặng cang thường” và “Ngọn cỏ gióđùa” của tác giả Hồ Biểu Chánh.  Vì hai cuốn sách này mà hai người gặp nhau và yêu nhau tha thiết.  Má tôi kể lại cho các con nghe chuyện tình của hai người, khi ba tôi mua hai cuốn sách đem vềđọc, trong cuốn Gánh nặng cang thường có nhiều trang bị lộn xộn và thiếu vài trang, ba tôi đem lại nhà sách để than phiền và đổi sách.  Cơ hội đầu tiên của một cô gái quê được nói chuyện với một anh chàng đẹp trai và trí thức, và từđó má tôi đã yêu thầm nhớ trộm người thanh niên đẹp trai này.

Thế là hai người yêu nhau và làm đám cưới một năm sau.  Ba má tôi thương yêu nhau như hình với bóng, từ thời Việt Minh, thời Nhật Bản, rồi đến thời Pháp thuộc, hai vợ chồng nương tựa, chung thủy sống với nhau qua nhiều thời đại.  Từ ruộng nương đến thành thị, từ thời thanh bình đến thời chiến, cả hai bồng bế con cái đi tìm nơi sinh sống.

Khi ba tôi bị Việt Minh bắt vì có người chỉ điểm làông đã từng làm việc cho Tây, cũng là một ngày ba mươi tết năm Ất Dậu 1946, má tôi sau hay tin ba tôi bị bắt, bà chuyển bụng và hạ sinh chị ba tôi ởmiền quê ngoại Bến Lức chỉ cómột bà mụ đỡđẻ, loay hoay với đứa con gái mới sinh và đứa con trai đầu lòng mới lên một, bà bồng chống con thơđi tìm chú tôi ở Sài Gòn để nhơ2chú giúp đỡđi tìm ba tôi.

Tình yêu của ba má tôi dài như cuốn tiểu thuyết của Hồ biểu Chánh, tình yêu đậm đà và ngọt ngào chan chứa đầy tình quê hương như một cuốn phim lịch sử.

Khi ba tôi nhận được giấy phép làm cho sở Thú Y vàđược chuyển lên Đà Lạt để làm Trưởng Ty Thú Y và Phó Trưởng Ty Nông Nghiệp năm 1956, gia đình tôi dọn về vàđịnh cư tại thành phố này, trong số những đứa con sinh sau trong đó có tôi sinh trưởng và lớn lên tại đây.

Những ngày sống ởĐà Lạt được xem như thời huy hoàng và hạnh phúc nhất của gia đình tôi, thời tổng thống NgôĐình Diệm và đến thời tổng thống Thiệu.

Đà Lạt là nơi tôi được sinh ra và lớn lên, một thành phố đầy mộng mơ và tình tứ.  Khi đi học trong trường, chị em chúng tôi được mệnh danh là “Con ông bà Thú Y”, chúng tôi rất hãnh diện vô cùng.

Năm 1975 đất nước bắt đầu cảnh loạn ly, khi gia đình tôi di tản bằng đường đèo để đến Nha Trang, rồi từđó vào Sài Gòn cũng là những tuần lễ cuối cùng của thời Việt Nam Cộng Hòa.

 

*****

 

… Tiếng động lớn và có người mở nấp hầm làm tôi giật mình để trở lại với thực tế là mình đang nằm trong một chiếc ghe bé nhỏ chòng chành trên biển cả.

“Mọi người có thể lên bong được rồi vì chúng ta đã ra được hải phận quốc tế an toàn rồi”

Nhiều tiếng thở phào hòa lẫn với vài tiếng reo hò, ánh mặt trời chói chan trên bong tàu làm đôi mắt tôi cay xè, tôi đưa mắt tìm kiếm thì thấy người hai chị tôi, anh rễ và đứa cháu gái mới lên năm.  Mừng mừng tủi tủi tôi ôm chầm chị khóc ròng.

Thế là cuộc sống thay đổi như lật một trang sử mới, tôi khóc thật nhiều vì vui mừng mình đã thoát tay bọn cộng sản, nhưng đau khổ vì mình đã bỏ một quê hương yêu dấu và cha mẹ lại sau lưng.

Tôi muốn quay đầu trở lại nhưng không được nữa, nhìn nước biển đen nhánh như mực tàu và mặtnước biển chấm với chân trời, không thấy đất liền.  Con tàu còn lênh đênh giữa biển rộng mênh mông, tương lai sẽđi vềđâu?  Hàng ngàn câu hỏi bấn loạn trong đầu, cổ khô, miệng đắng, tôi cúi đầu nuốt vào những nỗi đau thương.  Tình yêu quê hương chưa bao giờ thấm thía như lúc này, tình yêu cha mẹ và anh chị em chưa bao giờ được đánh giá cao hơn bao giờ.  Đúng vậy, trong cuộc sống chỉ khi nào mình mất trong tay rồi thì mình mới thấy giá trị thật của nó.

Quê hương tôi chan chứa đầy tình yêu, đậm đà tình ruột thịt máu mủ, đầy những vết hằn vì chiến tranh và tan tóc, nhưng vẫn là một mảnh đất linh thiêng của bao nhiêu đồng bào, tổ tiên đã đổ xương máu.  Quê hương Việt Nam ơi, tiếng quốc ca còn văng vẳng như mỗi buổi sáng thứ hai chào cờ trước sân trường Bùi Thị Xuân.

Tiếng nước biển gầm thét làm cho chiếc tàu bé nhỏ chòng chành như muốn lật, sau 5 ngày 5 đêm vật lộn với tử thần, chiếc tàu bé nhỏ trung thành cũng đưa 27 người trong ghe và chị em tôi đến đảo Pulau Tengah gần Malaysia.

Khi tàu tôi đến gần bờ biển, vài người trong hội Red Cross ra dấu cho chúng tôi dừng lại và không được tiếp tục vào bờ.  Ngồi trên tàu chờ đợi mấy tiếng đồng hồ sau mới được cập vào bờ.

Ai cũng nhảy xuống tàu để vào làm thủ tục giấy tờ, chỉ còn tôi ngồi lại trên tàu. Bổng nhiên òa khóc nức nở vì bắt đầu thức tỉnh với thực tế phủ phàng.  Tôi đã xa quê hương tôi vĩnh viễn, tôi đã xa cha mẹ tôi vĩnh viễn.  Tiếng khóc nức nở hòa điệu với tiếng sóng đang rì rào như vỗvề, tôibước chân xuống đất liền với một cảm giác mát rượi của cát, với tay hất một chút nước để rửa mặt, nước biển mặn và nước mắt pha trộn làm cho cặp mắt cay xè như ai chà xát muối.  Nhìn bóng dáng bơ phờ của tôi trong mặt nước đang bị sóng đánh vỡ tan nhưđang cố tình xóa đi những dĩ vãng.

Tôi ngước nhìn lại góc chân trời xa tắp bên kia biển đông, tôi vẫy tay chào Việt Nam, chào cha mẹ mà không biết bao giờ mình sẽ trở về.  Từ giã quê hương, xin chào tạm biệt quê hương dấu yêu.

 




Nhà thơ Đông Anh (TT/VTLV 2016)

Nhà Thơ Đông Anh.

Cựu Chủ Tịch Sáng Lập Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt.
Đông Anh là bút hiệu của Nguyễn Đình Tạo,
quê quán tại Huyện Đông Anh trước thuộc tỉnh Phúc Yên,
sau thuộc ngoại thành HàNội.

Năm 1954 theo học khóa Cương Quyết Phụ Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, ra trường tháng 10 năm 1954.

Đơn vị sau cùng là Tiểu Khu Lâm Đồng

Tù Cộng Sản 9 năm.

Vượt biên tới Galang năm 1985.

Qua Mỹ năm 1986. Hiện định cư tại San Jose, California.

Tác phẩm đã xuất bản:
Chín Năm Tù Ngục 1989
Chim Di Trú 1997
Hoa Giáp Đông Anh 2000
Ngựa Vực Hồn Thơ 2002
Vui Tuổi Hạc 2007

Dòng Kỷ Niệm viết chung với Chinh Nguyên 2011
Hiện là Cố Vân Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt.

Trước 1975 Trung tá Quân lực VNCH

——————————————————————————

Ðọc Bài Thơ Cũ

Vào năm 1959 Băng Ðình và tôi cùng chung một đơn vị, Tiểu đoàn 3/12 sư đoàn 4 dã chiến, chúng tôi cùng sống trong một dãy cư xá dành cho các sĩ quan độc thân tại trường Bộ Binh Thủ Ðức vì đơn vị chúng tôi được cử về làm tiểu đoàn thao diễn và an ninh cho trường sau kỳ thao dượt Ðông Phong ở Phan Thiết.

Cứ mỗi buổi chiều, sau khi nghỉ việc và cơm chiều tại câu lạc bộ, chúng tôi ngồi trên hành lang nhìn ra đường và vũ đình trường mà nói chuyện tào lao. Thôi thì đủ thứ chuyện, hết chuyện đời đến chuyện thơ. Ðọc cho nhau nghe những vần thơ mới hình thành, bình luận cùng nhau những vần thơ xướng họa. Rất tiếc là không có giọng ngâm nên chúng tôi cứ đọc “rống” lên gây rất nhiều phiền toái cho mấy anh hàng xóm độc thân khác.

Bài Mưa Chiều Hời đã được chúng tôi đọc đi đọc lại gần như thuộc lòng. Rất tiếc cho cây quế giữa rừng. Rất cảm phục mối tình của Trần Khắc Chung với nàng công chúa cùng họ. Miền Nam sớm nắng chiều mưa, khiến thi nhân như hòa nhịp với thời tiết lạ xứ Hời mà nhớ về quê Bắc xa xăm:

Người đi mây trắng xây thành
Miền Nam mưa nắng một mình người thôi

Bài thơ như một bài hành khi xung trận để mở rộng biên cương. Như bài hát tả nỗi lòng cô phụ bỏ hết lại đằng sau dấn thân vào nơi gió cát xứ người. Những mưa rơi chiều Hời. Những gió bay biên địa. Những sầu muộn mong manh. Những ánh tà dương ngăn ngắt. Tất cả đã khiến cho sự hy sinh của nàng công chúa thêm thê lương, mối tình của Huyền Trân thêm ray rứt. Nhân đó tôi cũng có đôi vần ca ngợi bài thơ của BÐ ghi ở phần sau.

Năm 1990, khi liên lạc với nhau tại Mỹ, tôi hỏi lại bài thơ xưa thì được BÐ trả lời tất cả đã mất hết rồi, mất theo hành trình đốt sách của kẻ thù. Chúng tôi rất buồn, rất tiếc.

Bỗng đầu năm 2003 anh gọi điện thoại cho tôi khoe rằng đã tìm thấy bài thơ. Bài thơ này tìm lại được cũng kỳ bí như huy hiệu con Phượng Hoàng(*), biểu tượng đầu tiên của Trung Tâm Quốc Gia Ðiện Ảnh Việt Nam mà BÐ làm giám đốc khi xưa.

Nhận được bài thơ, tôi muốn chia xẻ với các bạn yêu thơ, với bằng hữu. Nhưng nếu chỉ đăng lên không thôi, e rằng không hết ý. Do vậy mới có vài lời dông dài này.

Ðông Anh

Tháng Tư  năm 2016
* Băng Ðình đã viết về biểu tượng Phượng Hoàng qua chuyện Phượng trong Còn Một Chút Này sắp in.

 

 

Mưa Chiều Hời

Huyền Trân một sớm lìa kinh khuyết
Rượu tiễn run môi lạnh tiếng đàn
Ô Lý hai châu còn chật hẹp
Một trời Chiêm Việt mấy quan san
Gió mưa ướt nẻo Ðồ Bàn
Rưng rưng lệ đổ hai hàng máu khô
Ðá tường chìm khuất cung vua
Biết đâu lá biếc mùa thu ngả mình
Quê xưa trời có đẹp
Năm mầu mây thanh bình
Người xưa giờ có chép
Những vần thơ xinh xinh
Một đi là mãi mãi
Mưa rơi vào tâm tình
Mong chi ngày trở lại

Còn chi mộng tuổi xanh
Ðêm đêm nhầu chăn gối
Trăng úa rụng bên mành
Tay Chiêm Vương vội vã
Tình Chiêm Vương mong manh
Thân gửi ngoài biên địa
Hồn mơ về Long Thành
Có mùa xuân minh mị
Có mùa hè nắng xanh
Có mùa thu sầu muộn
Có mùa đông buồn tênh

Mộng đẹp dài canh vắng
Tay ai chuốc chén quỳnh
Tin đâu về náo nức
Chiêm Việt dứt đao binh
Phụ Vương một hẹn sầu đôi trẻ
Ô Lý hoang vu lạt chữ tình
Lịch sử thêm tươi mầu má thắm
Riêng lòng ai chết những mầm xanh
Người đi mây trắng xây thành
Miền Nam mưa nắng một mình người thôi
Mưa bay buồn những chiều Hời
Nhỏ thưa tiếng địch não người biệt ly
Sắc chìm hương lạt thâm khuê
Âm u đá tháp dặm về mù sương
Heo may thổi lạnh đêm trường
Xiêm y sô lệch phấn hương nhạt nhoà
Mây vẫn trôi về Bắc
Sầu chưa thôi nở hoa
Mưa lụt trời Chiêm Quốc
Tơ run trên phím ngà
Ðiệu Nam Bình ai oán
Van mùa mưa mau qua
Gấm the nào ấm được
Những chiều mưa nhớ nhà
Vó câu mờ sắc áo
Chiều dâng tím nẻo xa
Khắc Chung còn ruổi ngựa
Hồn chìm đáy ly ca
Mưa vẫn dài thương nhớ
Ngăn ngắt ánh dương tà
Huyền Trân lệ đổ tràn vai áo
Giữa gấm hoa ngồi khóc tuổi hoa
Mắt lệ mỏi mòn trông hướng cũ
Những ngày qua tiếp những ngày qua
Rừng thu sơ xác lau già
Trong sương nghe vẳng tiếng gà sang canh
Hồn khuya nhẹ gót đầu cành
Lung linh nến cháy sử tình hắt hiu

BĂNG ÐÌNH
 

10-vui-tuoihac   8-chin-nam-tu-nguc   6-hoagiapdong-anh

(Gửi Băng Ðình, người viết Mưa Chiều Hời)

Khắc Chung rong ruổi trên lưng ngựa
Theo bóng Huyền Trân nắng chập chờn
Một mối tình si muôn dặm thẳm
Ngàn trùng gió cát lạnh mưa tuôn
Người đi về phía hoàng hôn
Ðể vầng trăng khuyết mỏi mòn kinh đô
Qua Chiêm đem mối tình hờ
Lược trâm bỏ lại ngẩn ngơ hoàng thành

Lưu lạc xứ người thân lạc bóng
Giữa rừng cây quế nghẹn chua cay
Chiều thu chợt biến thành sương phụ
Ðợi lửa lên giàn hương phấn phai
Bỗng dập dồn vó ngựa
Từ biên địa qua đây
Ðưa nàng về cố quốc
Mưa Hời quyện khói bay
Thuyền chao tình sóng vơi đầy
Lướt đi trong cõi trời mây mịt mù
Ngàn sau tình sử, áng thơ
Lung linh ánh nến đọc Mưa Chiều Hời

ĐÔNG ANH

 




Chuyên Một Linh Mục

CHUYỆN MÔT LINH MỤC

“Bọn trẻ đã tập họp lại với nhau và bắt đầu khoe những thứ mà chúng đã lượm được. Ngoài những cái bọc nylông thông thường, có đứa khoe lượm được cái chân gà, hay một món đồ ăn được gói kỹ. Bỗng dưng có con bé khoảng 10 tuổi la to:
– Hôm nay nhà tao không phải đói rồi.!” Sống ở xã hội VNCS làm sao mà đành tâm với cảnh này !!!!!!!!!!!
Mời đọc câu chuyện có thực của một linh mục hóa thân vào thế giới trẻ em nghèo khổ. DgN

luom-racluom-rac-1

Chuyện Một Linh Mục.

Đây là câu chuyện linh mục gỉa vờ đi bán vé số, ăn xin và lượm rác với các em nhỏ để biết thân phận của các em như thế nào và tìm cách cải thiện đời sống của các em

Linh mục kể:

– Tôi bừng tỉnh và như quên đi cái hôi thối, tôi lao vào trong đống rác như bao đứa trẻ khác. Khoảng hơn hai tiếng, chúng tôi đã “quần nát” cái đống rác. Tôi lượm cũng gần đầy cái bao bố. Thế là tôi đã lẽo đẽo theo các em để bán vé số và ăn xin trên các đường phố Sài Gòn được hai ngày! Không biết bao nhiêu lần giở khóc giở cười. Có lẽ giờ này nếu bạn bè hay gia đình có gặp tôi thì họ cũng không thể nào nhận ra được. Tôi đã biến thành một người nghèo nàn, đen đủi, đơ dáy và hôi hám như những mảnh đời bất hạnh lê lết hết từ quán ăn này đến quán ăn khác. Để được theo các em đi ăn xin và bán vé số không phải là dễ. Tôi đã phải lân la làm quen và giúp các em rất nhiều, tôi đã lấy được niềm tin của các em và gia đình các em. Tôi đã ăn và ở chung với họ. Tôi đã cho họ thấy được tôi thực sự muốn sống cảnh màn trời chiếu đất với họ để có thể hiểu và cảm thông nỗi khổ của họ! Tối hôm nay là tối cuối cùng tôi theo các em, như dự tính ban đầu, hôm nay tôi sẽ không ngủ trong các ngôi nhà bằng giấy, trong thế giới của kẻ chết, mà tôi đã chia sẻ ở trên (Bài “Tôi Đến Thăm Em”) nhưng tôi sẽ theo một nhóm trẻ mồ côi lang thang về ngủ ở khách sạn “ngàn sao” toạ lạc dưới chân cầu Chữ Y bên Khánh Hội. Chiều hôm đó tôi đã được phép theo nhóm trẻ mồ côi lang thang. Dẫu tôi cũng đã biết các em từ trước qua hai ngày đi bán vé số và ăn xin, tuy nhiên trước khi tôi đi cụ trưởng làng dặn tôi: – Cháu cẩn thận nhé, tụi nó không có hiền giống như tụi nhỏ bên này đâu! Khoảng 3 giờ chiều, tôi hoà nhập với các em tại công viên bên cạnh Nhà Thờ Đức Bà. Tôi nhập ngay vào với bọn nó một cách dễ dàng. Bọn trẻ đang bàn kế hoạch cho tối hôm nay, chúng quyết định sẽ không đi ăn xin nữa mà sẽ đi lượm ống lon, và ve chai tại đống rác bên quận 4. Nghe chúng nói đến đó tôi đã rùng mình run sợ, tôi thật sự sợ cái mùi hôi thối bốc lên từ rác, nhất là tim tôi thì yếu, không biết có thể sống nổi không. Tôi ngước lên nhìn tượng Mẹ trước nhà thờ đọc một kinh Kính Mừng xin mẹ cầu bầu cùng Chúa cho con.. Trong bóng đêm, cảnh đống rác thật hãi hùng, cao như dãy núi. Tiếng người cười nói, tiếng cãi nhau, tiếng chửi rủa hoà lẫn vào nhau, cả hàng trăm người cứ như là những bóng ma di động. Mùi hôi thối nồng nặc, tôi rùng mình run sợ. Lại đọc thêm một kinh Kính Mừng. Thấy tôi tỏ vẻ ngần ngại, con bé đứng cạnh tôi thét lên: – Nhảy vô đi cha nội, đứng đó là đói, lấy gì ăn.! Tôi bừng tỉnh và như quên đi cái hôi thối, tôi lao vào trong đống rác như bao đứa trẻ khác. Khoảng hơn hai tiếng, chúng tôi đã “quần nát” cái đống rác. Tôi lượm cũng gần đầy cái bao bố. Bọn trẻ đã tập họp lại với nhau và bắt đầu khoe những thứ mà chúng đã lượm được. Ngoài những cái bọc nylông thông thường, có đứa khoe lượm được cái chân gà, hay một món đồ ăn được gói kỹ. Bỗng dưng có con bé khoảng 10 tuổi la to: – Hôm nay nhà tao không phải đói rồi.! Nói xong nó lôi trong cái bao của nó ra một cái đầu chó! Tôi đứng đó mà nước mắt tuôn trào, cứ như là trong mơ. Đến phiên tôi, tôi không kể gì mà chỉ đưa cho thằng bé “trưởng nhóm” cái bao bố và nói là cho hết tụi nó. Em vẫn cười tươi bên… rác Chắc cũng khoảng nửa đêm, khi chúng tôi trở lại chân cầu chữ Y bên Khánh Hội. Các em chắc mệt mỏi, lăn ra ngủ ngay. Riêng tôi không biết vì quá mệt mỏi hay là quá xúc động không tài nào ngủ được. Tôi cứ nằm nhìn trăng chiếu xuyên qua các khe hở của thành cầu. Trăng đêm nay sáng quá, nhưng đời các em thì thật tối! Đêm nay là đêm đầu tiên trong đời tôi hiểu được ý nghĩa của “màn trời chiếu đất”. Tôi trằn trọc, nước mắt cũng không còn để mà rơi. Tôi muốn thét lên, thét lên thật to, nhưng lại dằn lòng đau xót. Sáng hôm sau, tôi thật sự mỏi mệt và kiệt sức. Tôi đứng dậy, lê từng bước nặng nhọc ra khỏi gầm cầu, đón taxi để quay về Khách Sạn, nhưng không một chiếc nào ngừng. Nỗi mệt mỏi và đau nhức trong thể xác tôi, không tài nào so sánh với nỗi đau tinh thần, nước mắt tôi cứ tuôn trào. Nếu như mọi khi, tôi ăn mặc lịch sự thì Taxi đã nối dài thành hàng để chào mời tôi rồi, nhưng hôm nay tôi tiều tụy và nghèo nàn. Cũng chẳng trách gì được những anh lái Taxi, vì họ cũng làm thuê cả mà. Cuối cùng tôi cũng đã thuyết phục được một cụ già chạy Honda ôm chở tôi về. Honda dừng trước cửa khách sạn, tôi vừa bước xuống đã bị anh bảo vệ xua đuổi, nhưng khi nhận ra tôi là khách quen, anh ta cười bẽn lẽn và xin lỗi. Cụ già đứng ngoài chờ tôi vào Khách Sạn lấy tiền. Tôi đến bàn tiếp tân, xin chìa khoá phòng 205. Cô tiếp tân mọi ngày niềm nở với tôi lắm, bỗng dưng hôm nay cáu gắt lạ thường, cô nói và liếc nhìn tôi thật khó chịu: – Ông tìm ai! Chủ nhân phòng 205 đi ra ngoài rồi!! Tôi giở chiếc mũ lụp xụp ra, mùi hôi bốc lên, và mỉm cười nói với cô bé: – Thưa cô, tôi là chủ nhân của căn phòng 205 đây!! Cô nhìn tôi, tí nữa thì té lăn ra khỏi ghế, cô đứng bật giậy và hỏi tôi: – Anh Thông, anh có sao không? Bị cướp giật à?! Tôi nói cho cô biết tôi không sao, chỉ mệt mỏi và muốn lên phòng nghỉ. Cô cầm chìa khoá phòng và còn dẫn tôi lên đến tận cửa… Tôi nhờ cô lấy 50 ngàn trả cho cụ già chạy xe ôm. Tôi lao vào phòng cởi quần áo và lăn ra ngủ! Một giấc ngủ bình yên và hạnh phúc! Lạy Chúa, không có khoảng cách nào lớn hơn giữa lòng người với người, giữa các con tim của nhân loại. Cái hố sâu ngăn cách giữa giàu sang và nghèo đói đã làm cho lòng người chai đá, làm cho con tim họ dửng dưng trước những đau khổ và bất hạnh của người khác. Xin Chúa hãy thay thế quả tim bằng đá khô cằn của chúng con bằng quả tim bằng da bằng thịt, trái tim với những vòng chảy không ngừng của những giọt máu yêu thương. Xin cho chúng con biết chia sẻ với anh em những ân huệ chúng con lãnh nhận từ Chúa, Amen. LM Martino Nguyễn Bá Thông –




Họa Sĩ Nguyễn Cát Tường

Họa Sĩ Nguyễn Cát Tường

A-NguyenCatTuong-HoaSi-8-18-2014Rev

LE MUR NGUYỄN CÁT TƯỜNG :

Mt ha sĩ, mt nhà to mu tài danh ca đt nước

Thanh Thương Hoàng

Thú thực khi còn nhỏ, vào những năm 1942, 1943 (khi đó tôi mới ngoài 10 tuổi) tôi đã mê đọc sách, nhất là những cuốn truyện của các nhà văn Vũ Trọng Phụng, Nhất Linh, Khái Hưng và những cuốn truyện Tầu rồi tới kiếm hiệp, trinh thám…vv… Tôi không chú ý ( vì chẳng “hấp dẫn”gì với tôi) những tờ báo nổi tiếng thời ấy                  ( thời tiền chiến trước năm 1945) với nội dung đả phá cái cũ (hủ lậu) quảng bá cái mới trong nếp sống dân tộc như báo PHONG HÓA NGÀY NAY. Thỉnh thoảng ông Bố tôi đem về nhà mấy tờ báo này, tôi chỉ lật vài trang xem mấy cái tranh khôi hài châm biếm (humour) với hai nhân vật chính Lý toét, Xã xệ. Tôi cũng chẳng để ý tới tên tác giả. Ông Bố tôi thường mua cho tôi báo CẬU ẤM CÔ CHIÊU chuyên đăng những bài, những tranh vui về tuổi thơ – mà bây giờ tôi cũng quên mất những mục, những bài đã làm bọn nhỏ chúng tôi (hồi đó) say mê thích thú. Sau này lớn lên tôi cũng chỉ biết tới tên một số họa sĩ nổi danh mà thôi. Tuy nhiên thỉnh thoảng tôi nghe trong đám bạn họa sĩ (cùng lớp tuổi tôi) nhắc tới tên một họa sĩ có tên là Le Mur. Tôi tưởng ông này là “ông Tây” hay ít ra cũng là “dân Tây”nên thú thực tôi không có cảm tình mấy và cũng chẳng tìm hiểu về ông làm gì. Khi bước vào làng văn làng báo Saigon tôi mới được biết nhiều hơn về một số họa sĩ tên tuổi “thời tiền chiến” và tranh của họ quý và mắc hơn vàng như các ông bà Nguyễn Gia Trí, Lê Thị Lựu, Lê Phổ, Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái vv…nhưng vẫn ít thấy tên ông Le Mur Nguyễn Cát Tường.

Mấy chục năm sau, tôi sang Mỹ sống, mới đây tình cờ được coi một đĩa (DVD) thâu hình buổi trình diễn trang phục phụ nữ của Họa sĩ Le Mur Nguyễn Cát Tường (do các bà cựu nữ sinh trường Trưng Vương trình diễn) nhân cuộc triển lãm và hội thảo về báo Phong Hoá Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn do Nhật báo Người Việt (Quận Cam) và Đài truyền hình STBN tổ chức. Cuộc triển diễn về trang phục phụ nữ của ông Le Mur Nguyễn Cát Tường được tổ chức nguyên một buổi thật tuyệt vời. Xem hết cuốn băng quả thật là một sự bất ngờ, tôi cứ tưởng những người đẹp VN đang biểu diễn thời trang thế kỷ 21. Đây là một nhân tài của đất nước, một họa sĩ, một nhà tạo mẫu trang phục cho nữ giới nước nhà, đã đi trước thời đại gần một thế kỷ. Ông tên thật là Nguyễn Cát Tường nên lấy bút danh Le Mur (tiếng Pháp cái tường). Về tiểu sử cũng như sự nghiệp của ông xin coi phần cuối của bài này.

Vì sự tò mò và nhất là muốn tìm hiểu một nhân tài trải qua ngót thế kỷ, các “tác phẩm” của ông, các công trình sáng tạo của ông tới ngày nay (qua buổi trình diễn vừa rồi) vẫn “sống” và “sống” một cách huy hoàng lộng lẫy trải rộng khắp nước Mỹ và cả thế giới (vì cho tới bây giờ (năm 2016) những bộ quần áo theo “mẫu” của Le Mur vẫn được các bà các cô trưng diện trong những buổi hội hè đình đám. Những chiếc áo dài tha thướt, những chiếc quần trắng, quần mầu, những chiếc khăn choàng cổ vẫn lộng lẫy duyên dáng gợi cảm, chẳng những không lạc hậu chút nào mà còn tôn cao vẻ đẹp đặc biệt của người phụ nữ VN.

 

Ông Lemur Nguyễn Cát Tường tốt nghiệp trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương, năm “1933” Năm “1932” đã có tranh khôi hài (vui cười) trên báo Phong Hóa. Sau khi ông Nguyễn Tường Tam mua tờ báo, ông vẫn tiếp tục gửi tranh khôi hài đăng trên báo…

Nhà văn Nhất Linh giao cho ông phụ trách mục “Vẻ đẹp riêng tặng các bà các cô”. Tuổi mới ngoài 20 sau khi tốt nghiệp hội họa vào đời ông Tường đã có những tham vọng lớn về cải cách trang phục phụ nữ nước nhà cho hợp với trào lưu phụ nữ thế giới. Chúng ta nên nhớ vào thời điểm đó (những năm đầu thế kỷ 20) các cụ ông cụ bà ta còn chịu ảnh hưởng nặng nề chế độ phong kiến. Các cụ ông trong lễ lạc tết nhất thì mặc áo the dài đầu đội khăn đen xếp, còn các cụ bà thì mặc áo tứ thân mặc váy đầu đội nón quai thao để răng đen. Nếu là nhà giầu thì đi hài, còn thuộc giới trung lưu thì đi guốc gỗ sơn mài đen gót bằng, thấp. Ông đã tạo ra những kiểu giầy cao gót mũi nhọn cho tới ngày nay vẫn thịnh hành, cả Đông và Tây phương. Ông Cát Tường muốn đem cái sở học của mình ở nhà trường kết hợp văn hóa Đông phương với văn hóa Tây phương (mà ông đã học đã đọc được qua sách báo của Pháp) để sáng tạo những “mốt” áo quần giầy dép mới thích hợp với phụ nữ Việt Nam. Phải nói đây là một việc làm táo bạo có thể nói là một cuộc cách mạng về trang phục phụ nữ. Vào thời đại đó việc làm này quả vô cùng khó khăn trở ngại. Nhất là táo bạo khi ông sáng tạo các kiểu “xú-chiêng”, quần lót cho phái nữ. Chỉ dẫn cách luyện tập cho bộ ngực thon gọn đẹp. Theo ông phụ nữ thích làm dáng làm đẹp để  giữ chồng bảo vệ hạnh phúc gia đình. Chúng ta nên nhớ các bà các cô thời đó, trừ một số nhỏ mà người ta gọi là “phụ nữ tân thời” ở thành phố, còn tất cả đều mang yếm và mặc váy, đầu vấn khăn hoặc chùm khăn mỏ quạ. Ông còn hướng dẫn các bà các cô đánh phấn bôi son thích hợp với da và khuôn mặt mình, cách vấn tóc, chải rẽ đầu ngôi sao cho hợp với khuôn mặt, mặc đồ hai mảnh tắm biển, tập thể dục thể thao. Ông quan tâm rất nhiều đến quần của các bà các cô. Ông cho đây chính là điều cần thiết để tôn vinh cái đẹp và sức quyến rũ của phụ nữ VN. Ông đã tỉ mỉ vẽ những cái nhỏ nhất nhưng cần thiết cho những chiếc quần này. Chính ông là người tạo ra mốt áo hở cổ với hình trái tim, hình lá sen, kiểu hình chéo một bên vai (sau gọi là Raglan), hình hở phần cổ và trên ngực với giải khăn mầu quấn quanh cổ. Thời đệ nhất cộng hòa bà Ngô Đình Nhu phát động phong trào phụ nữ mặc áo dài hở cổ mà người ta gọi là ”áo bà Nhu” do bà “sáng chế”. Thực sự là bà Nhu đã “phác” theo mẫu của họa sĩ Le Mur Nguyễn Cát Tường. Thời gian đó bà Ngô Đình Nhu cũng bị dư luận đả kích nặng nề (thật oan cho bà). Cả quần ống loe cũng vậy. Ông Tường kết hợp Đông Tây tạo mốt mới thích hợp với cẳng đùi phụ nữ Việt Nam sao cho gọn gàng hấp dẫn. Thế mà mãi tới thập niên 50 (thế kỷ 20) chiếc quần ống loe mới được phổ biến rộng rãi thông dụng trong dân gian. Ông Tường cũng không quên “bầy việc” cho giới mày râu trong những bộ “com – lê” kết hợp Đông Tây tới nay vẫn còn là “mốt” thông dụng sang trọng lịch sự. Phải nói đây là một cuộc cách mạng táo bạo nên ông Tường đã gặp phải các thế lực thủ cựu chống đối dữ dội. Họ diễn thuyết, viết báo, vẽ tranh đả kích ông, chế nhạo ông đủ điều. Ông phải quyết tâm và can đảm lắm mới thoát khỏi trận “đánh phá” này. Ngoài những tài kể trên ông Le Mur còn là người mở phòng trà đầu tiên ở Hà Nội (cũng là cả nước) và ông cũng không quên giới bình dân lao động nghèo khổ phải đạp xe xích lô mưu sinh khi đưa ý kiến và vẽ mẫu cải tiến để “mỹ thuật hóa” chiếc xích lô đạp.

Có thể nói họa sĩ, nhà tạo mẫu tài năng xuất chúng Le Mur Nguyễn Cát Tường đã đi trước thời đại ngót một trăm năm. Những mẫu áo quần ông tạo ra tới ngày nay vẫn còn hợp thời. Từ chiếc áo dài hở cổ, chiếc quần lụa trắng cải cách, chiếc quần tây gọn gàng gợi cảm (nhưng đứng đắn) những chiếc áo ngắn cộc tay có viền “ren” quanh cổ áo, ống tay áo, mặc trong nhà hay làm việc đều mới, lạ, đẹp, gọn gàng sẽ còn tồn tại lâu dài với người phụ nữ VN, và người ngoại quốc cả nam lẫn nữ cũng rất mê những bộ trang phục này.

Tới đây tôi cũng xin có một “nhận xét nhỏ” góp vào bài viết này. Theo tôi nhận xét thì những chiếc áo Bà Ba của nữ giới Miền Nam chúng ta cũng “thoát thai” từ những chiếc áo hở cổ của họa sĩ Le Mur. Bằng chứng: những ảnh phụ nữ miền Nam chụp những năm đầu thế kỷ 20 các áo dài hay áo Bà Ba đều kín cổ cả. Kể cả các quần hai ống từ đùi xuống tới chân khá rộng gọi là “quần Mỹ a”. Sau đó tôi thấy khắp miền Nam các cổ áo Bà Ba của các bà các cô đều hình trái tim hoặc hình vuông hở cổ và một phần ngực.

Họa sĩ Le Mur NGUYỄN CÁT TƯỜng rất xứng đáng để quý bà quý cô và cả chúng ta vinh danh và biết ơn ông.

THANH THƯƠNG HOÀNG

(3.9.2016)

[pdf-embedder url=”http://vantholacviet.com/wp-content/uploads/NguyenCatTuong-HoaSi-8-18-2014Rev-copy.pdf” title=”nguyencattuong-hoasi-8-18-2014rev-copy”]




Mạnh Thường Quân

Việt Cộng đã và đang bán đất biên giới và biển đảo cho Trung Cộng.Biển Đông đang dậy sóng vì những giàn khoan dầu mà người Việt hải ngoại và thề giới tự do đang nhìn về Biển Đông để thấy Việt Cộng nhu nhược và đánh lừa cả thế giới để bán biển đảo cho Trung Cộng với đường vẽ 9 đoạn rồi 10 đoạn.

SÁCH BÁN TRÊN INTERNET PAYPAL :

Việt Cộng đã và đang bán đất biên giới và biển đảo cho Trung Cộng.
Biển Đông đang dậy sóng vì những giàn khoan dầu mà người Việt hải ngoại và thề giới tự do đang nhìn về Biển Đông để thấy Việt Cộng nhu nhược và đánh lừa cả thế giới để bán biển đảo cho Trung Cộng với đường vẽ 9 đoạn rồi 10 đoạn.

Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt xin mời quý vị tham dự bưổi ra mắt tác phẩm “Đại Đế Quang Trung –Nguyễn Huệ: Trận Đánh Cuối Cùng chấm Dứt Hoạ Bắc Thuộc” để người Việt chúng ta học hỏi tinh thần Quang Trung và đoàn kết” Diên Hồng” hầu tiêu diệt nội thù Việt Công và cùng đứng lên chống ngoại xâm Bắc Phương.
Tác phẩm “Đại Đế Quang Trung – Trận Đánh Cuối Cùng chấm Dứt Hoạ Bắc Thuộc” đánh thẳng vào ý đố bá quyền Trung Cộng và kêu gọi đoàn kết dân tộc chống giặc phương Bắc.

Gía 20.00 Mỹ Kim, ngòai USA thêm 20.00 Mỹ Kim tiền Bưu điện đi quốc ngoại.
Quý vị có thể liên lạc nhà thơ Chinh Nguyên e-mail :cnchinhnguyen7@gmail.com

Xin quý vị vào link dưới để mua sách hoặc bảo
trợ cho sinh ho
ạt Văn Thơ Lạc Việt:

https://www.paypal.com/cgi-bin/webscr?cmd=_s-xclick&hosted_button_id=S5YH6RTJT6GEC

————————————————————————

 

VĂN THƠ LẠC VIỆT
LỜI CÁM ƠN VÀ XIN LỖI.
Buỗi tiệc được thành công như mong muốn của ban tổ chưc nhờ được sự hổ trợ của quí vị và những mạnh thường quân, và truyền thông báo chí.

Thành thật cám ơn quí vị trưởng bối, quí vị đại diện hội đoàn, quí văn nghệ sĩ, quí truyền thông báo chí quí thân hữu chiến hữu, và anh chị em thành viên đã tới dự buổi tiệc .

 

Đặc biệt cám ơn báo Phụ Nữ Cali (chị Cao Anh Nguyệt), Thằng Mõ (Anh Lê Văn Hải), TinVietNews (Nhà Báo Cao Sơn), Đài Phố Đêm (Anh Phạm Xuân Nam), Little SàiGòn Radio (Nghệ Sĩ Mai Hân), Hệ thống radio Viên Thao (NV Đỗ Vẵn Trọn), và chương trình TV Dân Sinh (Anh Phạm Phú Nam) đã giúp phổ biến chương trình trên hệ thống truyền thông.

Các quí anh chị MC TS Nguyễn Hồng Dzũng, Chị Kim Phượng Anh Hoàng Thưởng (LL SV Sĩ Quan Thủ Đức), Ký gỉa Cao Sơn, Ký giả Thư Sinh, và Nghệ sĩ Kiều Loan đã giúp điều hành chương trình 20 năm thành lập và phát giải Văn Thơ Lạc Việt 2012.

Tôi mong rằng quí vị bỏ qua những lỗi lầm chẳng đặng đừng nếu có của ban tổ chức,  và nối tay đoàn kết để cùng đưa Văn Thơ Lạc Việt tiến lên trong tương lai với mục đích giữ lại nền văn hoá nhân vị yêu thương mà chúng ta đã xem như một món quà quý giá duy nhất đã mang theo sau năm 75.

Trân trọng

Chinh Nguyên

 

 

Vài hình ảnh  PHÁT GIẢI VĂN THƠ của VT Lạc Việt   07-15-12

 

http://www.photoshop.com/users/longuyen_vnaf68/albums/4c498dbc3fca42fb9f4728242c363195?wf=slideshow

San Jose (Ý Dân): Khoảng 300 quan khách đã đến tham dự tiệc kỷ niệm 20 năm thành lập Văn Thơ Lạc Việt và  Phát Giải Văn Thơ Lạc tại nhà hàng Phú Lâm, San Jose vào 6 giờ chiều ngày 15-7-2012 vừa qua.

Trong thành phần khách tham dự chúng tôi nhận thấy có nhà báo lão thành Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh, các văn thi hữu gồm có Ðông Anh, Trường Giang, Chu Tấn, Thanh Thương Hoàng,Nguyễn Phước Ðáng, Song linh,  Ngọc Bích, Lê Diễm, Hồng Hà, Kiều Loan, Thanh Xuân, Kim Hà v.v. cùng đại diện các hội đoàn và giới truyền thông.

Sau nghi thức khai mạc, thi sĩ Chinh Nguyên, chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt gời lời chào mừng , cảm tạ quan khách và xin bỏ qua những sơ suất của Ban Tổ Chức.

Tiếp đến nhà báo lão thành Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh , hơn 90 tuổi,cố vấn của Hội với hình dáng tiều tụy vì sức khoẻ suy yếu ngỏ lời chúc mừng hội và khen ngợi việc làm duy trì và phát hụy văn hoá VN của ông Chinh Nguyên, nguyên là học trò yêu qúi của cụ.

Thi Sĩ Ðông Anh, cố vấn hội cho biết rất cám ơn một số văn thi hữu đến từ xa như Canada , Nam Cali và Hoa Thịnh Ðốn. Ông cho biết Văn Thơ Lạc Viêt  hoạt động từ năm 1992 đến nay là 20 năm và giải Văn Thơ Lạc Việt năm nay là lần thứ 3. Ông cho biết hội rất nghèo, vì thế ông rât cám ơn các mạnh thường quân đã giúp đở hội trong công tác duy trì và phát huy văn hoá VN.

Nhà báo Lê Văn Hải, phó chủ tịch hội cho biết Giải văn thơ Lạc Viêt lá nhằm khuyến khích các văn thi hữu thi đua sáng tác .Sau đó, ông Hải đã công bố  những người trúng giải gốm có:

Về Văn:

–  Giải Nhất :Bà Tâm Ngọc ( Nguyễn Mộng Giang) ở San Jose với truyện ngắn “Sống Chết Cho Tình Yệu “

–  Giải Nhì : Bà Lê Ngọc Huyền ở Canada với truyện ngắn  “ Giáng Sinh trên miền đất trọ”

–  Giải Ba :Bà Trần Khải Thanh Thủy, ở Sacramento , vắng mặt ,với truyện ngắn “Ở nơi đất  nước mặt trời lặn “

–  Giải Khuyến Khích: Hồng Thúy vắng mặt với truyện ngắn :”Cám ơn chị Viêt Nam ”.

 

Về Thơ:
K
hông có giải nhất và nhì

–  Giải Ba :Ông Trần Ðông Phong  do ông Phan Phi Ô đai diện lảnh với bài thơ:” Lòng Vòng”

–  Giải Khuyến Khích : Ông Từ Thanh Hà ở Texas vắng mặt với bài thơ “Hoa nở trên quê hương”

Ðược biết tổng cộng tiền mặt cho các giải văn thơ trao tặng cho các người trúng giải là 1700 mỹ kim và một số hiện vât .

Buổi tiệc sau phần văn nghệ, xổ số đã chấm dứt vào 9 giờ 30 tối cùng ngày.

Nguyen Van Binh
dacsanydan@att.net

dacsanydan@yahoo.com

——————-
Vài hình ảnh trong Facebook vê 20 năm thành lập và phát giải Văn Thơ Lạc Việt 2012

http://www.facebook.com/chinh.nguyen.33483

Lời  mở đầu

Kính chào quí vị trưởng bối, quí vị đại diện hội đoàn, quí văn nghệ sĩ, quí truyền thông báo chí quí thân hữu chiến hữu và anh chị em.

Tôi đại diện ban điều hành Văn Thơ Lạc Việt xin kính chào quí vị và mong rằng cái tình thân hữu này sẽ liên kết mãi đễ chúng ta có những ngày vui như hôm nay.

Kính thưa quí vị. Tôi biết quí vị tới với Văn Thơ Lạc Việt vì cái tình, mà nợ tiền thì dễ trả mà nợ tình thì khó trả. Tôi xin khất…Kiếp sau..!

Tôi mong rằng quí vị bỏ qua những lỗi lầm chẳng đặng đừng nếu có của ban tổ chức và nối tay đoàn kết để cùng đưa Văn Thơ Lạc Việt tiến lên trong tương lai với mục đích giữ lại nền văn hoá nhân vị yêu thươngmà chúng ta đã xem như một món quà quý giá duy nhất đã mang theo sau năm 75.

Kính thưa quí vị. Vì tình người quí vị tới với Văn Thơ Lạc Việt, Vì tình thày trò, thày tới với trò trong ngày lễ lớn mặc dù thày bệnh. Thày tôi đã cố gắng tới với Văn Thơ Lạc Việt và muốn có vài lời chào mừng quí vị, nên tôi nhường vài phút cho thày được chào đón quí vị. Tôi

nghĩ đây là lần cuối ông xuất hiện trước quí vị, vì năm sau chân mềm tay mỏi có muốn cũng không được nữa.

Thày hom hem xương da
Con đã đà tóc pha
Đau nửa đời biệt xứ
Gánh thời gian đi qua.

Thày tôi là trưởng nhóm giám khảo trong kỳ thi giải Văn Thơ lạc Việt năm nay sau khi Thi sĩ Hà Thượng Nhân qua đời. Trước 75 ông là Phó giám đốc Việt Tấn Xã. Mặc dù báo chì có từ lâu nhưng ông là người mở khoa báo chí đầu tiên cho Miền Nam Việt Nam. Năm nay ông đã hơn 90 và hơn 70 năm làm nghề báo.

Xin giới thiệu với quí vị Thày tôi bình luận gia Sơn Điển Nguyễn Viết Khánh người của “Nói Trước Thời cuộc”.

Con xin thày bỏ hết tất cả chuyện thế giới chính chị, chính em mà chỉ nên nói chuyện vui ngày hôm nay.

Hôm nay là ngày hội của Văn Thơ Lạc Việt.
Xin giới thiệu quí vị ban điều hành Văn Thơ Lạc Việt :

Nhà Thơ Dông Anh Cố Văn Trực Tiếp của Văn Thơ Lạc Việt
Chủ nhiệm báo Thằng Mõ, nhà báo Lê Văn Hải, phó chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt
và trưởng ban kế hoạch .
Nhà thơ Hồng Hà Phụ tá trưởng ban kế hoạch.
Nhà Văn Thanh Xuân : Tổng Thư ký .
Nhà thơ Cẩm Vân : Thủ Quỹ.

Quí vị thành viên trực tiếp giúp Văn Thơ Lạc Việt :

Nữ nghệ sĩ : Kiều Loan ái nữ cố thi sĩ Hoàng Cầm.
Nhà Báo Thư Sinh Chị Mộng Hoa, Nhà Báo Cao Sơn, Mỹ Thanh .

——————————————————–

 

http://www.youtube.com/watch?v=5BKqkmK4RHA

Văn Thơ Lạc Việt 2012.

Thi đàn Lạc Việt được thành lập năm 1992, sau kỷ niệm 15 năm đổi tên là Văn Thơ Lạc Việt. Năm nay kỷ niệm 20 năm thành lập Lạc Việt, Một hội văn học nghệ thu…

Chinh Nguyên
Theo: Văn Thơ Lạc Việt




Thành thật cám ơn qí vị đã hổ trợ VănThơ Lạc Việt.

Thành thật cám ơn qí vị đã hổ trợ VănThơ Lạc Việt.

Quí vị order bất cứ  tác phẩm nào của Văn Thơ Lạc Việt trên web site Văn Thơ Lạc Việt là đã gián tiếp hổ trợ sinh hoạt của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, hầu gìn giữ nền văn hóa nhân vị, tự do ngôn luận, để chống đối nền văn hóa phá sản của Cộng Sản bán nước tại quốc nội.

Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt.
Chinh Nguyên. 

 

Kính chào quí vị .

Xin quý vị vào link dưới để mua sách, hoặc bảo trơ
cho sinh hoạt Văn Thơ Lạc Việt:

 

https://www.paypal.com/cgi-bin/webscr?cmd=_s-xclick&hosted_button_id=S5YH6RTJT6GEC
Từ đó quí vị có thể mua bất cứ tác phẩm nào, Văn Thơ Lạc Việt sẽ
gởi thẳng tới địa chỉ của quí vị không qua trung gian.

Nếu quí vị muốn biết thêm chi tiết và gặp trở ngại trong vần đề mua tác phẩm xin liên lạc với
Chinh Nguyên e-mail : cnchinhnguyen7@gmail.com
Tele : (408) 279-2532 (Phone nhà)
(408) 594-9274 (Cell phone)

 

—————————————————————————————————-

 

Vũ Ngọc Đĩnh sinh năm 1933 tại Hà Nội

Di cư vào Nam : 1954

Dạy học, viết báo, biên tập viên trưởng Tin Tức Đài Phát Thanh Saigon, đài Phát thanh Voice of Freedom (Saigon).

Sau tháng Tư 1975 đi tù về tội “ hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân 80-88”, tiếp tục viết.

Danh sách hổ trợ in tác phẩm của
Nhà Văn Vũ Ngọc Đĩnh.
“Đại Đế Quang Trung Trận Đánh Cuối Cùng Chấm Dứt Họa Bắc Thuộc”

Sô TT , Họ và tên                              Hổ trợ                         Ghi chú

1/ Mr. Tony Đinh (21 Centery)          $300.00           Chinh Nguyên đã nhận
2/ Mr. Phạm Đức Vượng                   $200.00           Chinh Nguyên đã nhận
3/ Mr. Chu Tấn                                  $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
4/ Mr. Thư Sinh                                 $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
5/ Mr. Thanh Thương Hoàng              $100.00           Chinh Nguyên đã nhận .
6/ Mr. Đông Anh                                $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
7/ Mr. Giao Chỉ                                  $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
8/ Mr. Nguyễn Phi                              $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
09/ Mr. Chinh Nguyên                        $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
10/ TS Nguyễn Hồng Dzũng               $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
11/ BS Hồng Hà                                 $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
12/ Mrs Nguyễn Thanh Xuân              $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
13/ GS Nguyễn Cao Can                    $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
14/ Mr. Lê Đình Thọ                           $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
15/ Mr. Đỗ Hữu Nhơn                        $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
16/ Nhà Báo Kiều Mỹ Duyên             $100.00           Đã gởi tặng tác gỉa
17/ Thằng Mõ Mr. Lê Văn Hải       $1000.00         Người quan trọng, bao chót.

 

 

NHỮNG TÁC PHẨM của
Nhà văn : VŨ NGỌC ĐĨNH

Đã xuất bản :

(trước 1975)

  • Mười Hai Sứ Quân tiểu thuyết lịch sử
  • Máy cưa máy khoan truyện
  • Trên tháp chuông nhà thờ truyện
  • Một màn xiếc truyện
  • Bàn tay trên cỏ truyện
  • Tình trên non cao dịch “La Maison de Petrodava”của C.Virgil Georghiu

nhà xuất bản Âu Cơ-Saigon, ký tên Lê Vũ

  • Niki truyện con chó tác giả Roumanie không nhớ tên

 

Đã xuất bản

(sau 1975)

  • Mười Hai Sứ Quân * tiểu thuyết lịch sử,nxb Trẻ tp HCM-1999
  • Bắn Rụng Mặt Trời * tiểu thuyết lịch sử nhà Trần phá Nguyên Mông ,nxb Trẻ tp HCM-2000
  • Hào Kiệt Lam Sơn (Lê Lợi đuổi Minh)tiểu thuyết lịch sử-1995
  • Ứng Vận Thần Vũ (Lê Đại Hành Hoàng đế phá Tống)tiểu thuyết lịch sử; nxb Văn Hóa Thông Tin tp. HCM-2005
  • Đôi Hài Tiên truyện thần tiên VN **
  • Chiếc Mõ Sừng Trâu truyện thần tiên VN
  • Ngọn Đèn Lưu Ly truyện thần tiên VN
  • Thủy Thủ Khăn Vàng truyện thần tiên VN
  • Cô Gái Tật Nguyền truyện thần tiên VN
  • Miếng Da Ếch truyện thần tiên VN
  • Chiếc Chiếu Thần truyện thần tiên VN
  • Hoa Trường Mộng truyện thần tiên VN
  • Ống Sáo Thần Kỳ truyện thần tiên VN ( 9 truyện thần tiên này xb năm 1993, nxb Văn Hóa tp.HCM
  • Tự Điển Anh-Việt Bộ Giáo Dục và Đào Tạo-Trung Tâm Ngôn Ngữ và Văn Hóa VN-nxb Thế Giới-1994
  • Tự Điển Pháp Việt nxb Thế Giới-1995 –Công ty Phát hành Sách FAHASA tp HCM
  • Tự Điển Thương Mại Anh-Pháp-Việt -2003 , Nhà Xuất Bản Thống Kê – Hội Ngôn Ngữ Học thành phố HCM
  • Musashi Giang Hồ Kiếm Khách tác giả Eiji Yoshikawa; tiểu thuyết kiếm đạo kiệt xuất của Nhật Bản 2000 trang,dịch theo bản tiếng Pháp, nxbVăn Học tp.HCM 2008

* Hai bộ tiểu thuyết lịch sử (mỗi bộ 8 tập – 3000 trang) Mười Hai Sứ Quân, Bắn Rụng Mặt Trời, đã được Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ ghi tên và bảo vệ tác quyền trên toàn thế giới cho tác giả ;

 

** Bộ 9 truyện thần tiên (tổng cộng 2000 trang)

 

Các tác phẩm chưa xuất bản :

  • Ca Dao & Tục Ngữ Dẫn Giảng 6100 trang
  • Ca Dao thời Cộng sản 500 trang
  • Lý Thường Kiệt Phạt Tống-Phá Tống , tiểu thuyết lịch sử 1615 trang khổ lớn
  • Lịch sử & các thành cổ VN
  • Bảo Toàn & Ngày gặp lại
  • Sao Mai Đã Mọc, Này Cai Ngục…
  • Buồn Cười Chả Được
  • Tiếng Hát Bên Trong Cửa tiểu thuyết
  • KÀMA SÙTRA bộ sách kinh điển của Ấn độ về đạo đức và thực hành tình dục có từ trước công nguyên, viết lại bằng tiếng Phạn cổ thế kỷ thứ 4 sau công nguyên, giáo sư học giả Alain Daniélou dịch trọn bộ sang tiếng Anh , bản duy nhất trên thế giới không cắt bỏ một dòng một chữ nào, nxb Park Street Press-Rochester, Vermon USA, bản dịch tiếng Việt của VNĐ năm 1997.
  • Núi Hồn Tanios Le Rocher de Tanios, tác giả là nhà văn nhà báo người Liban,

từng chu du hơn 60 nước trong đó có cả VN thời chiến, tác phẩm viết bằng tiếng Pháp,là tiểu thuyết lịch sử vùng Trung đông, được giải Văn học Goncourt năm 1993, tác giả được ghi nhận là “nhà kể chuyện kiệt xuất”, VNĐ dịch xong năm 1999.

  • Những Âm Thanh Nhức Buốt Ngàn Đời
  • Sao Mai Đã Mọc, Này Cai Ngục…
  • Chửi
  • Đại Đế Quang Trung –(Quang Trung đả bại Đại Thanh Càn Long–Trận đánh cuối cùng kết thúc nghìn năm Bắc thuộc)
  • Ngô vương Quyền
  • Hai Bà Trưng

Ba cuốn cuối (14-15-16 đang tiếp tục viết (2013))




Nhạc Sĩ ANH BẰNG

ns-anh-bang

Anh Bằng (tên thật Trần An Bường (5/5/1926 – 12/11/2015) là một nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam với số lượng sáng tác khoảng 650 tình khúc để lại cho đời. Ông là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu dòng của dòng nhạc vàng và nhạc hải ngoại, là người đã sáng lập Trung tâm Asia vào năm 1980.

Ngoài những tác phẩm của chính ông, Anh Bằng còn là một trong nhóm ba người hợp tác soạn nhạc với bút hiệu Lê Minh Bằng.

Tên thật là Trần An Bường. Sinh năm 1925 tại Hà Nội, sau 1954 sống tại Sài Gòn, hiện định cư tại Hoa Kỳ. Năm 1965 – 1975 cùng hai nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ lập nhóm sáng tác ký tên chung là Lê Minh Bằng

Anh Bằng tên thật An Bường, sinh năm 1925 tại thị trấn Điền Hộ thuộc tỉnh Ninh Bình gần ranh giới tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội khoảng 100 cây số về phía Nam. Ông theo học Trung học ở Hà Nội trước khi theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống ở Sài Gòn cho đến năm 1975.

Trong thời kì 1954 – 1975, nhạc sĩ Anh Bằng rất nổi tiếng với nhiều tác phẩm sáng tác và phổ nhạc. Các tác phẩm như Nếu vắng anh (phổ từ bài Cần thiết của nhà thơ Nguyên Sa), Khúc Thụy du (phổ từ bài thơ cùng tên của Du Tử Lê), Người thợ săn và đàn chim nhỏ… đã được các ca sĩ Tuấn Ngọc, Ngọc Lan, Khánh Ly… thể hiện rất thành công.

Năm 1975, Anh Bằng cùng gia đình di tản sang Mỹ ở độ tuổi 50, và vẫn tiếp tục hoạt động âm nhạc với Trung tâm sản xuất và phát hành băng nhạc cassettes Dạ Lan (1981 – 1990).

Năm 1966, Anh Bằng cùng với hai nhạc sĩ khác là Lê Dinh và Minh Kỳ thành lập một nhóm sáng tác nhạc, kí chung tên là Lê Minh Bằng. Các hoạt động chính của nhóm bao gồm:

Mở lớp dạy nhạc có tên là “Lớp Nhạc Lê Minh Bằng” tại địa chỉ số 102/8 đường Hai Bà Trưng, Tân Định, Sài Gòn. Ba nhạc sĩ thay phiên nhau giảng dạy về lý thuyết (nhạc lý, ký âm) và thực hành (luyện giọng, xướng âm).

Thành lập ban nhạc “Sóng Mới”, chuyên trình diễn trên đài phát thanh Sài Gòn.
Cố vấn cho giám đốc hãng đĩa hát Asia là ông Nguyễn Tất Oanh trong việc lựa chọn bài hát và ca sĩ.
Phụ trách trong việc tổ chức chương trình “Tuyển Lựa Ca Sĩ” được tổ chức hàng tuần ở rạp hát Quốc Thanh, do Đài Phát Thanh Sài Gòn thực hiện.

Sáng tác, xuất bản, và phổ biến nhiều ca khúc mới dưới nhiều bút hiệu khác nhau: Lê Minh Bằng, Vũ Chương, Mạc Phong Linh, Mai Thiết Lĩnh, Mai Bích Dung, Dạ Ly Vũ, Dạ Cầm, Giang Minh Sơn, Hoàng Minh, Trần An Thanh, Tây Phố, Trúc Ly, Tôn Nữ Thụy Khương, Phương Trà, Huy Cường… Trong đó tác phẩm nổi tiếng nhất có lẽ là Chuyện tình Lan và Điệp.

Những ca khúc thịnh hành của Anh Bằng :

* Nếu Vắng Anh
* Hẹn Anh Ðêm Nay
* Chuyện Giàn Thiên Lý (theo thơ Yên Thao)
* Bướm Trắng
* Nỗi Lòng Người Ði
* Anh Biết Em Ði Chẳng Trở Về (thơ Thái Can)
* Tango Dĩ Vãng
* Sài Gòn Thứ Bảy
* Nửa Ðêm Buốt Giá
* Tình Yêu Tuyệt Vời
* Lời Tình Băng Giá
* Trả Em Cay Ðắng Mộng Vàng
* Dù Nắng Có Mong Manh
* Nhớ Sài Gòn (cùng Trúc Giang)
* Tâm Hồn Cô Ðơn
* Cô Bé Môi Hồng
* Chuyện Người Con Gái Ao Sen
* Người Thợ Săn Và Ðàn Chim Nhỏ
* Mất Nhau Mùa Ðông
* Từ Ðộ Ánh Trăng Tan (thơ Ðặng Hiền)
* Khúc Thụy Du (thơ Du Tử Lê)
* …

Những ca khúc sáng tác chung dưới tên Lê Minh Bằng:

* Ðêm Ngoại Ô
* Ðêm Nguyện Cầu
* Nó
* Tình Là Sợi Tơ
* …




Tiếng Việt Hiện Đại 1

Tiếng Việt Hiện Đại 1: Tình Yêu Phai Nhạt

Tôi nhìn đồng hồ hai cửa sổ không người lái trên tay, bây giờ đã 6 giờ sáng. Bật kênh phát sóng số 3 nghe bản thông tin, TV tiên đoán hôm nay có khả năng mưa. Tình hình Ai-Cập đã bớt căng vì công an, quân đội, kể cả lính gái và lính thủy đánh bộ kiểm soát đường phố khắp nơi.   Một tướng lãnh đọc bài nói loan báo an ninh đã được bảo quản, tình trạng đất nước tốt, báo cáo tốt, các quan chức nhà nước sẵn sàng làm việc nghiêm túc trở lại để phục hồi đất nước. Vẫn còn quá sớm để thức dậy, nhất là hôm nay Thứ Bẩy  tôi không phải động não đi quảng trường quy hoạch quy trình cho nhân viên được quán triệt phương án, thế nhưng tôi vẫn ráng động viên cơ thể đứng dậy,  bước ra khỏi giường.
          Xuống dưới nhà, tôi vào bếp bắc nồi vừa chiên con sâu mỡ, vừa pha cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc cùng một lúc cho tranh thủ  thì giờ. Pha xong, tôi vất xác cà phê ngay vào thùng rác, không dám đổ xuống bồn rửa bát sợ gây ra sự cố, ống nước bị ùn tắc. Mang ly cà phê nóng ra sau vườn nhâm nhi trong khi đọc báo, ngắm cây xanh tốt vì đất được phân bón cải cách, hoặc viết lách vào sáng sớm cuối tuần là cái thú thư giãn của tôi. Căn hộ tôi không được hoành tráng mấy thế nhưng nó xa phi khẩuđảm bảo yên lặng cho chất xám của tôi được tăng trưởng kiệt suất khi tôi muốn viết lách. Nhà tôi ở núi non xa cách thành thị như thế này thì chắc chắn nhà nước chẳng bao giờ giải phóng mặt bằng để xây đường cao tốc.
          Ngày xưa mới lấy nhau thì không sáng nào hai vợ chồng không dậy sớm ngồi thủ thỉ với nhau. Bây giờ sau 27 năm lấy nhau thì căn hộ vắng vẻ, sáng nào tôi cũng ngồi một mình, còn nàng thì vẫn tiếp tục đánh giấc cho đến 8, 9 giờ mới dậy. Sinh hoạt hai vợ chồng vì thế cách ly hẳn.
          Tôi còn nhớ rất rõ tình cảm mật thiết nàng dành cho tôi khi lần đầu tiên chúng tôi mới gặp nhau. Ở cuộc gặp lần thứ hai, nàng đã nhờ chị của nàng ở bên  (cùng đi nhà thờ với tôi) làm rõ gia cảnh tôi, biết rằng tôi chưa có đối tượng. Vì thế, dù rằng chỉ mới là bạn sơ hữu, nàng nói là nàng muốn liên hệ tình cảm với tôi. Mừng như bắt được vàng, tôi bảo nàng cởi áo ra (lúc ấy đã là buổi đêm). Vừa nghe xong nàng tát cho tôi một bạt tai nháng lửa. Tôi ngạc nhiên quá đỗi nhưng chỉ cần  vài giây suy nghĩ  là tôi đoán ngay lý do tại sao nàng tát tôi: nàng kẹt ở lại Việt Nam tháng 4-1975, chỉ sang Paris năm 1980 nên dùng chữ liên hệ tình cảm, có nghĩa là “muốn làm quen với anh”. Tôi thì đi ngày 30-4-1975  nên đâu có bao giờ nghe chữ ấy, chỉ biết chữ “liên hệ tình dục” nên khi nàng nói liên hệ tình cảm, tôi nhanh nhẩu đoảng nghĩ ngay là nàng muốn liên hệ tình dục do đó mới bảo nàng cởi áo ra! Vì vậy mà tôi ăn tát! Đối với các cô khác thì đã  point final tình bạn, không thể nào cho nó triển khai thêm, thế nhưng nàng là người dễ dãi, và nhất là dễ gì tìm được một con trai chảnh như tôi nên sau khi nghe giải thích sự tình, nàng bỏ tất cả bức xức, tha thứ cho tôi.
          Hai chúng tôi giao lưu thư từ và trao đổi điện thoại thường xuyên. Nàng là dân trường Tây, lại ở Paris nên viết thư dùng những từ tiếng Pháp làm nhiều lúc tôi phải tìm tự điển hay tư liệu để tra cứu. Mắt tôi kém, lúc nào cũng cần phải đeo kính để hiển thị thơ nàng. Tuy rằng ởParis, nàng nỗ lực bố trí có cơ hội là sang Mỹ thăm tôi. Khi còn bé tôi ước mơ lớn lên sẽ làm nghệ nhân hay chủ nhiệm, thế nhưng lúc quen nàng thì đời sống tôi thất bại. Tôi không thuộc loại người có đỉnh cao trí tuệ  mà chỉ là một người thợ quèn. Ấy thế mà nàng không sốc khi biết nghề nghiệp thật sự của tôi, còn yêu và xem tôi như tôi là một siêu sao! Xa nhau cả đại dương, tôi năng nổ viết thư cho nàng. Nhận đượcthư tôi nàng phản hồi ngay lập tức. Vài tháng sau, trong một lá thư, tôi đề xuất chúng tôi nên lấy nhau. Câu đáp án của nàng là bằng lòng. Còn sáu tháng nữa mới học xong đại học ở Paris mà nàng bỏ ngang không học nốt làm cho tôi ngạc nhiên khôn xiết khi một tuần sau tôi nhận điện thoại đột xuất của nàng báo hiện đang ở Sân bay Los Angeles! Ra đón nàng ở Sân bay, gần Trung Tâm Quản Lý Bay Dân Dụng, tôi không khỏi trào nước mắt khi thấy nàng đứng một mình với một chiếc valise to tổ bố. Nàng ôm chầm lấy tôi và nói:
          -Em ra trễ vì phải trình giấy tờ ở Hải Quan. Em đi máy bay yên lắm vì tổ lái tốt. Em đăng ký mua vé máy bay hôm kia, bảo cô bán vé khẩn trương tìm vé cho em.  Gia tài em còn lại chỉ có cái hộ chiếu trong tay và cái valise này. Em bỏ học, bỏ việc làm bán phần với thu nhập chẳng là bao nhiêu, bỏ doanh nghiệp xuất khẩu em làm cho người quen, bỏ cả chứng minh nhân dân Tây bên Pháp, bỏ hết tất cả để sang  thi công sống với anh. Em có mang học bạ bên Pháp sang để chuyển ngữ, em sẽ đi học tiếp bên  nên anh đừng lo em bỏ học.
          Ngừng một lúc, nàng tiếp:
          -Em muốn anh quản lý đời em. Thế anh có tiếp thu em không?
          Quá cảm động với tình yêu nàng dành cho tôi, dù rằng tôi là người vạm vỡ, ngày xưa là vận động viên của Viện Ung Bứuvận động viên bóng đá, từng dùng dây thừng kéo những xe đò quá tải, tôi khóc òa và ôm chầm lấy người bạn gái thân thương, hứa rằng sẽ trọn đời yêu và nuôi nấng nàng. Nếu nghề chính của tôi không đủ nuôi hai đứa, tôi sẽ tìm nghiệp dư, tìm đủ mọi cách kiếm sống, quyết không bao giờ để nàng đói. Khi độc thân tôi có một con chó và một chiếc xe gắn máy, mua với một giá bèo. Từ ngày lấy vợ, tôi bán chiếc xe gắn máy để khỏi phải đội mũ bảo hiểm. Tôi giải phóng luôn con chó để có thì giờ tiêu khiển với nàng.
          Những năm tháng đầu và cho cả đến thời gian gần đây, đời sống vợ chồng tôi thật hạnh phúc. Hai chúng tôi lúc nào cũng có ý tưởng nhất quán, không bao giờ gây gỗ nhau.  Nàng mê tôi còn hơn Alain Delon, chiêu đãi tôi ngày này qua ngày khác. Thế nhưng từ ngày nàng bắt đầu xem phim bộ hay Paris By Night, nàng bắt đầu sao lãng, bỏ bê tôi, không thèm đi tham quan với tôi mà chỉ liên hệ với những cô khác cùng sở thích. Đã thế, nàng còn chỉ đạo tôi làm việc nhà nữa chứ!
          Một lần tôi mổ răng về nhà nằm liệt giường sự cố, cần cứu hộ. Nàng hỏi tôi có muốn ăn cháo thì để nàng nấu. Tính tôi không thích người khác mệt nhọc vì mình, không muốn vợ phải vất vả vì tôi nên tôi mới bảo nàng là không cần nấu, tôi ăn mì gói là món ăn chủ đạocũng được rồi vì mì gói cũng đủ chất lượng. Tôi ăn mì gói một ngày, hai ngày, ba ngày thì không sao, nhưng đến ngày thứ tư, thứ năm thì ngán đến tận cổ, muốn tranh thủ ăn lắm nhưng nuốt không trôi, thế mà nàng vẫn không nấu gì cho tôi ăn. Qua đến ngày thứ sáu, tôi mới hỏi nàng sao không thấy nấu cháo gà, cháo thịt cho tôi ăn thì nàng lý giải chính tôi là người nói  với nàng  không cần nấu nên nàng để dành thì giờ rảnh rỗi xem hát đôi, hát tốp của những ca sỹ trên sân khấu đại trà tiên tiến của Paris By Night! Cứ theo chế độ dinh dưỡng nàng dành cho tôi như thế này, thay vì thổi cơm tốc độ cho tôi ăn thì không nấu niếng gì hết cho tôi đói,  chẳng mấy chốc tôi sẽ là hành khách trong bài “Con đò đưa xác”.
          Hơn 27 năm sống với nhau, sau khi đã tốn bao nhiêu công sức nâng cấp một người ở chợ Bàn Cờ  như tôi (nhà tôi gần Hội Chữ Thập Đỏ), vợ tôi không còn mê tôi nữa. Tôi đã tư duy định leo lên máy bay lên thẳng rồi khi ở trên không, nhẩy ra ngoài máy bay tự tử để cho vợ tôi thấy hệ quả khi nàng không còn yêu tôi. Thế nhưng một ông bạn già Phó Tiến Sĩ của tôi 70 tuổi, đã về hưu, tuần vừa rồi cảnh báo tôi không nên phí đời giai như vậy. Ông ta muốn dẫn tôi  đến nơi này đàn ông có giá trị hơn vàng vì số đàn bà gấp ba lần đàn ông. Tôi đến thì ông ta đảm bảo bao nhiêu bà sẽ hồ hởi tranh giành chém giết nhau để dành lấy tôi. Ông ta làm việc ở ba nơi. Chỗ nào họ cũng  trả tiền ông ta đến nhẩy đầm với mấy bà vì nơi nào đàn ông cũng đều khan hiếm trầm trọng, không đủ người để nhẩy.  Khi đến nơi làm việc, lúc nào ông ta cũng không có thì giờ nghỉ ngơi vì hết bà này đến bà khác dành giật nhẩy với ông ta. Đã thế, họ còn cho ông thêm tiền bồi dưỡng! Tôi không cần nhẩy giỏi, chỉ biết cơ bản là đủ. Nếu tôi nhận lời đi theo ông ta thì tôi nhất định sẽ không còn buồn vì vợ bỏ bê tôi. Ngược lại tôi sẽ hưng phấn  vì các em gái này sẽ thống nhất tranh nhau o bế tôi, không rời tôi nửa bước, không cho tôi về nhà sớm. Ngoài ra, ở đó họ còn dùng máy điện tính, máy quét, thỉnh thoảng hư cần người sửa. Tôi sửa được mọi sự, đến đó vừa nhẩy đầm vừa sửa phần cứng, phần mềm cho họ thì họ lại càng yêu mến, đời sống tôi sẽ được hoàn toàn thoải mái vô tư.
          Tôi chưa biết xử lí ra sao vì hôm qua ông ta mới nói cho tôi biết nơi ông ta làm: Viện Dưỡng Lão Cao Cấp Thành phố với tuổi trung bình của hội viên là 73 tuổi.
Nguyễn Tài Ngọc
http://saigonocean.com/index. php/en/
March 2011
TaiNgoc



PHÁT HIỆN ĐÁNG KINH NGẠC

Yeu
Một bài viết rất hay chúng ta nên đọc. tế bào ung thư sợ nhất là tình yêu. Lòng thù hận, khổ đau, phiền muộn, ghen tuông, đố kỵ chính là cơ hội phát triển tế bào ung thư.

Bệnh tật bị đẩy lùi một cách vô điều kiện là nhờ ‘yêu và được yêu’.

Vậy thì còn chờ gì nữa chúng ta hãy mở cửa tâm hồn để yêu và được yêu. Trước khi đọc bài viết xin mời quý vị đọc qua bài thơ tôi viết về với chủ đề (Tình Yêu là ân sủng)

 

Tình yêu là ân sủng

Ta bước lên vùng cô liêu tỉnh thức
Đem cô đơn vào thánh địa tâm linh
Nơi sâu kín tình yêu là ân sủng
Là bình an, yên nghỉ của tâm hồn.

Người ẩn sĩ, cả đời tìm chân lý
Ngồi suy tư bên cội gốc hư vô
Bỗng nhận ra có điều gì rung động
Từ trong tim bừng sáng một tình yêu.

Ta tắm mát trong dòng sông bản thể
Xoá sạch bụi trần, cho thân xác lâng lâng
Rồi nằm xuống cho tình yêu mời gọi
Bởi vì em là nguồn cội muôn loài.

AET Lê Tuấn

PHÁT HIỆN ĐÁNG KINH NGẠC
 Có thể bạn chưa tin nhưng nghiên cứu mới tại Mỹ cho thấy điều mà tế bào ung thư sợ nhất không phải là hóa trị hay bất kỳ loại thuốc trị ung thư nào.
Sau khoảng thời gian tiếp xúc với nhiều bệnh nhân từ nhiều quốc gia trên thế giới, Tiến sĩ David Hawkins – một bác sĩ rất nổi tiếng tại Mỹ cho biết, chỉ cần nhìn thấy bệnh nhân là ông biết người đó vì sao bị bệnh. Bởi trên cơ thể người bệnh không xuất hiện chữ “yêu”, thay vào đó là “khổ, hận, phiền muộn”.
Điều này có thể khiến nhiều người trong chúng ta không tin nhưng đây là kết luận hoàn toàn dựa trên cơ sở khoa học. Sau 20 năm nghiên cứu về cơ và vận động học, tiến sĩ Hawkins đã phát hiện ra “ý nghĩa của thang bậc chỉ số rung động trong cơ thể con người từ 1 đến 1000”. Tần số rung động chính là từ trường mà mọi người thường hay nói.
Theo đó, những người có suy nghĩ tiêu cực thường rất hay bị bệnh. Đó là những người có chỉ số rung động dưới 200.
Rất nhiều người bị bệnh vì không được yêu, ở họ chỉ thấy nỗi khổ và phiền muộn.
Phát hiện mới tại Mỹ cho thấy điều mà tế bào ung thư sợ nhất chính là “tình yêu”.
  
Từ góc độ y học ông cho rằng, ý niệm có ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe con người. TS Hawkins đã từng làm bệnh án cho hàng triệu người, các chủng loại người khác nhau trên toàn thế giới, tất cả đều cho một đáp án giống nhau.
Chỉ cần tần số rung động thấp hơn 200 là người đó sẽ bị bệnh. Trên 200 sẽ không bị bệnh, những suy nghĩ có tần số rung động trên 200 gồm có:
– quan tâm đến người khác,
– giàu lòng từ bi, nhân ái, hướng thiện,
– bao dung, độ lượng, v.v.
Đây đều là những đức tính có tần số rung động rất cao, đạt đến mức 400 – 500.
Mặt khác, người có tính căm ghét, phẫn nộ, hay chỉ trích, trách móc, đố kị, đòi hỏi người khác, luôn tư lợi cá nhân, ích kỷ, không màng đến cảm nhận của người khác sẽ có tần số rung động rất thấp. Tần số rung động thấp là nguyên nhân dẫn đến các bệnh như ung thư, tim v.v.
Lý giải cho điều này, tiến sĩ Hawkin cho biết những người hay oán giận, chỉ trích, hận thù người khác, tần số của họ chỉ là 30, 40. Trong quá trình trách móc người khác sẽ làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của họ vì thế tần số rung động sẽ giảm thấp hơn 200, những người này có nguy cơ bị mắc rất nhiều loại bệnh.
Chỉ số rung động cao nhất là 1000, thấp nhất là 1. Tiến sĩ Hawkin cho biết trong cuộc đời của mình, ông chưa gặp ai có tần số rung động đạt ở mức cao nhất, 1000. Những người mà ông ấn tượng nhất cũng chỉ đạt mức 700. Năng lượng trong cơ thể họ rất dồi dào. Khi những người này xuất hiện, họ sẽ làm ảnh hưởng đến từ trường của cả khu vực xung quanh.
Nghiên cứu về chỉ số rung động của tiến sĩ David R.Hawkins.
Lấy ví dụ, như khi bà tu sĩ Trisara lên nhận giải thưởng Nobel Hòa bình, không khí cả hội trường rất tốt, tần số rung động rất cao, từ trường của bà làm cho cả hội trường đều cảm nhận được năng lượng tràn ngập sự tốt đẹp và cảm động từ bà.
Khi người có năng lượng cao xuất hiện, từ trường của họ sẽ làm cho vạn vật trở lên tốt đẹp hơn. Còn với người có suy nghĩ tiêu cực, không chỉ làm tổn hại chính họ mà còn làm cho từ trường xung quanh cũng bị xấu đi.
Một trường hợp cụ thể nhất về tác động của tình yêu với các tế bào ung thư chính là nghệ sỹ chơi đàn Violoncelle Sean của Nhật Bản. Khi bị bệnh ung thư, ông đã không ngừng chiến đấu với bệnh tật nhưng xem ra tình trạng ngày một nặng hơn.
Cuối cùng, ông quyết định thay đổi tâm trạng và chuyển sang yêu từng tế bào ung thư trong cơ thể mình. Ông lạc quan với cuộc sống, mọi việc ông đều luôn thấy vui vẻ và biết ơn các tế bào ung thư. Ông thấy cảm giác này rất tuyệt. Sau đó, ông đã quyết định yêu mọi thứ trong cuộc sống, bao gồm cả mỗi con người và mỗi sự việc.
Kết quả hết sức bất ngờ và nằm ngoài sức tưởng tượng của tất cả mọi người, toàn bộ các tế bào ung thư đã không còn nữa. Sau này, ông trở thành bác sĩ trị liệu nổi tiếng tại Nhật Bản. Đây chính là bản chất của cuộc sống: Tình Yêu.

Các nhà khoa học cho biết, căn nguyên của bệnh tật là do trong cơ thể người bệnh thiếu tình yêu thương. Bệnh tật bị đẩy lùi một cách vô điều kiện là nhờ ‘yêu và được yêu’.

 




Cái chết của tâm hồn người Việt Nam

da dieu 1

Cá chết tại Việt Nam chỉ là mặt nổi của vấn đề đang được che dấu vì thực chất còn nhiều cái chết đang bị che đậy dưới ách thống trị của đảng cộng sản VN đó là những cái chết của tâm hồn VN, cái chết của lương tâm, cái chết của luân thường đạo lý, cái chết của lý trí (nhìn thấy nhưng sợ mất miếng cơm manh áo nên phải ngậm miệng là ngơ) và cái chết của sử lệ thuộc chính trị (lệ thuộc Tầu Cộng lệ thuộc Việt Cộng do đó sẵn sàng làm Hán ngụy, bán nước cầu vinh)

Cái chết của tâm hồn người Việt Nam

image

 Trong chuyến thăm vùng biển Vũng Áng, Hà Tĩnh, chứng kiến cảnh chết chóc tràn bờ, Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt nhận định: “Tôi thấy cái chết của biển cũng như của cá nó chỉ là cái ngọn vấn đề, cái chính gây ra cái chết này là do cái chết của tâm hồn con người. Tôi thấy có ít nhất có bốn cái chết: cái chết của lương tâm, cái chết của luân lý, cái chết của lý trí, cái chết của chính trị.” 

image

 

Lương tâm là ơn Chúa ban cho người ta để người ta phân biệt được điều gì tốt điều gì xấu, khi làm điều tốt thì lương tâm thanh thản, an ủi còn khi làm điều xấu lương tâm cắn rứt. Nhưng khi lương tâm chết rồi nó không còn cắn rứt nữa. Cho nên khi làm điều xấu mà nó không còn cắn rứt nữa thì lương tâm đó chết rồi. 

Luân lý là những chuẩn mực, quy luật để hành xử cho đúng đạo lý. Khi cư xử không còn theo đạo lý nữa, không còn biết đâu là xấu – tốt thì luân lý đó chết rồi, nó không bị chi phối bởi những chuẩn mực đạo đức, không còn quy tắc đạo lý nữa.

image

Lý trí là sự hiểu biết để giúp người ta biết phân định những giá trị cao thấp khác nhau như Đức Thánh Cha nói rằng: “thời gian lớn hơn không gian, toàn phần lớn hơn một phần”. Bây giờ người ta chọn một phần mà quên đi toàn phần thì cái đó là cái chết của lý trí không còn phân định được và chọn các giá trị thấp mà bỏ các giá trị cao. 

Chính trị chính là nghệ thuật tổ chức sắp xếp để cho mọi người được hạnh phúc. Khi việc mưu cầu hạnh phúc cho con người đã chết thì biển chết, cá chết là hậu quả.” Lời nhận định của một nhà lãnh đạo tôn giáo quả thật rất sâu sắc và chí lý.

image

Đất nước VN đang đối phó với cái chết thể lý do nhiễm độc mà ai cũng thấy sờ sờ trước mắt, ngay trên mâm cơm nhà mình mỗi ngày. Nhưng sự nhiễm độc này chưa tàn phá và chết chóc cho bằng sự nhiễm độc trong tâm hồn mà Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp trong bài giảng ngày 13.06, lễ thánh Antôn tại Trại Gáo, Vinh đã nói: “Hôm nay người dân VN với mâm cơm đầy nghi nan, không biết đâu là thực phẩm bẩn – sạch và ranh giới giữa chúng rất mong manh. Một số người ham lợi nhuận, vì đồng tiền đã bán rẻ lương tâm, chế biến những thực phẩm bẩn đem bán trên thị trường.” 

Hai vị chủ chăn cùng chung một nhận định về cái chết trong tâm hồn con người. Đây là thứ chất độc đáng sợ hơn cả! Bởi độc bên ngoài, theo thời gian người ta có thể cùng chung tay loại trừ nó, nhưng độc tố hận thù trong lòng khiến người ta hại nhau, giết nhau một cách thản nhiên thì không còn thời gian để cứu vớt. 

image

Máu độc trong tâm hồn là hậu quả một nền giáo dục độc tôn do Đảng Cộng Sản VN Vô Thần cai trị hơn 70 năm ngoài Miền Bắc và hơn 40 năm trong Miền Nam. Một nền giáo dục mà theo lời nhận định của Đức Cha Phaolô là “đã bị nhiễm bẩn” bởi lòng bạo lực, thù hận và ích kỷ. Bao thế hệ trẻ VN dưới mái trường XHCN đã được “dạy” cho biết về lòng thù hận đối với Mỹ, Ngụy. Tôi còn nhớ như in ngày mình được học về lòng căm thù “thằng Ngụy”. Đầu óc non nớt trẻ thơ chưa hiểu “thằng Ngụy” là thằng nào mà nó phải đáng nguyền rủa như thế! Tôi đem thắc mắc ấy về hỏi Cha tôi, vốn là một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, Cha tôi cười chua chát và chỉ vào mình: 

“Là thằng này đó con!”

image

Những khái niệm về sự quảng đại, lòng bao dung, ơn tha thứ là những mệnh đề khó hiểu. Bởi thế, khi cá chết trắng Miền Trung, bao gia đình đớn đau tuyệt vọng, đói khát lầm than, nhiều người đến làm từ thiện thì họ lại nêu ra câu hỏi: “làm từ thiện để làm gì?”, trên một chương trình truyền hình hẳn hoi. 

Sự im lặng, làm ngơ của nhà cầm quyền trước tình trạng nhiễm bẩn môi trường biển, cá chết hàng loạt hơn 70 ngày qua không phải là ngẫu nhiên. Họ thừa cơ sở dữ liệu để có thể tuyên bố nguyên nhân trong 1 ngày, nhưng cố tình che đậy. Đó chính là thứ độc hại trong tâm hồn mà CS đã chủ mưu từ khi lên cầm quyền.

image

Giả như tuyên bố nhanh nhà máy Formosa là thủ phạm thì chẳng khác nào thừa nhận việc làm phi nhân của mình khi vì lợi lộc của một nhóm lợi ích mà gây thiệt hại cho toàn dân. Nếu chỉ mặt Formosa cũng đồng nghĩa việc thừa nhận hối lộ, để làm ngơ cho Trung cộng hoàn toàn thao túng trên đất Việt. 

Vì lẽ, Cộng sản xây dựng học thuyết không phải trên lòng yêu thương, tình đồng loại hay sự dấn thân cho lợi ích cộng đồng mà hoàn toàn ngược lại. Sức mạnh của người Cộng sản hình thành trên nền tảng của lòng ích kỉ, tính thù hận và óc vụ lợi. Lúc mới hình thành, người Cộng sản đã dựa vào hạt gạo tình thương của nhân dân để mà sống, đến khi phát triển, có chỗ dựa thì họ quay sang đề phòng nhân dân và hoàn toàn xa rời nhân dân.

 

water red smoke sea moon

Đến khi nắm quyền lực trong tay, họ tồn tại bằng cách duy trì lòng thù hận, giáo dục về lòng thù hận và phát triển lòng thù hận. Lòng thù hận luân chuyển trong lòng chế độ như một thứ máu độc, nó kích thích tính ích kỉ, sự dửng dưng và vô cảm trước nỗi đau đồng loại. Và chưa bao giờ mà thứ máu độc này lại hoành hành trên dân tộc Việt Nam như bây giờ. 

Và một khi chất độc tâm hồn đã gây cái chết trong lòng người, thì mọi thứ độc tố bên ngoài chỉ còn là phụ tùy.

GNsP

22.06.2016

 
image



4 mẩu chuyện làm thức tỉnh lòng người.

Hanh phuc
(Trích trên net work)

Cuộc sống chính là triết lý để ta suy ngẫm, chúng ta sẽ học được những bài học thật ý nghĩa ngay chính trong cuộc sống hiện tại. Tôi chợt nhớ đến một định luật tự nhiên của Trời Đất, đo là định luật (Lực và phản Lực) bất cứ một lực nào đẩy về phía trước thì đều có một lực tương đồng đẩy lùi về phía sau. Từ đó ta suy ngẫm ra, bất cứ một hành động nào tạo ra đều có một sự phản hồi cho hành động đó, đôi khi chúng ta không để ý đến những trên thực tế nó vẫn tồn tại. Ví như một lời nói ân tình nghe thật êm tại nó có tác dụng xoa dịu hệ thần kinh làm ấm lòng người nghe, ngược lại một lời nói hằn học nó có tác dụng gây ra giận dữ làm hại đến tâm gan.


Hãy Yêu người, yêu đời, cho đi yêu thương thì nhận lại thương yêu để rồi khi “nhắm mắt ra đi” vẫn còn lại trong thương tiếc của nhiều người….

Cuộc sống  là  triết lý để ta suy ngẫm…
4 mẩu chuyện làm thức tỉnh người đọc.

 

1- Chuyện thứ nhất: Duyên nợ đời người.

Xưa, có một chàng tên Thư Sinh, anh và bạn gái đã đính ước và chuẩn bị hôn lễ. Thế nhưng trước đó ít ngày, cô gái lại lấy người khác.Thư Sinh bị lâm bệnh nặng. Vừa khi đó, một du khách đưa Thư Sinh chiếc gương soi.Thư Sinh nhìn thấy xác một cô gái trôi dạt vào bờ biển, trên người cô ta không một mảnh vải che thân.
Người đầu tiên đi qua chỉ thoáng nhìn, lắc đầu rồi…đi. Người thứ 2 đi qua cởi chiếc áo khoác đắp lên người cô gái. Người thứ 3 đi qua bèn đào hố và xây mộ cho cô gái và cho biết cô gái xấu số đó chính là bạn gái anh ta trong kiếp trước.

“Anh là người qua đường thứ 2 đã đắp áo cho cô gái. Đến nay, cô gái gặp chỉ là để trả..nợ lòng tốt  của anh thôi! Còn người mà cô ấy phải báo đáp cả đời đó chính là người thứ 3 đã chôn cất cô cẩn thận, người đó chính là chồng hiện tại của cô gái“.. Thư Sinh nghe xong liền tỉnh ngộ mọi chuyện.

 

Chuyện thứ 2: Tấm lòng trẻ thơ.

Một bà mẹ đơn thân vừa chuyển nhà, bà phát giác hàng xóm là một gia đình nghèo với bà góa và hai con. Một hôm bị cúp điện, bà đành thắp nến cho sáng. Lúc sau, có tiếng người gõ cửa, bà mở cửa ra…thì chính là con của hàng xóm. Đứa bé nói: “Kính chào Dì, Dì có thêm cây nến nào không?” Bà ta thầm nghĩ: “Gia đình này nghèo đến nỗi cả nến cũng không có ? Tốt nhất không cho,vì cứ cho như thế họ sẽ ỷ lại không chịu mua”.
Bà liền trả lời : “Không có!”. Đúng lúc bà ta đang đóng cửa, đứa bé cười và nói: “Con biết là nhà dì không nhiều nến..”. Nói xong, nó lấy trong túi 2 cây nến và thưa: “Mẹ con sợ dì sống một mình thiếu nến..và sai con đem  tặng dì 2 cây vì cúp điện lâu lắm”… Bà ta vừa tự trách vừa cảm động rơi nước mắt  ôm chặt đứa bé!

 
3- Chuyện thứ ba: Chúng ta chỉ bất tiện khoảng 3 giờ thôi!

Ngày nọ…tôi may mắn mua được vé về quê ngoại cùng chồng, nhưng khi lên xe thì nhìn thấy một  cô đang ngồi ở ghế của chúng tôi.Chồng tôi bảo tôi ngồi ở cạnh cô đó và chàng thì đứng. Tôi phát giác chân phải của cô này bị tật..có chút trở ngại, lúc đó tôi hiểu ra tại sao chồng tôi làm như thế. Chồng tôi đứng như vậy từ  Đà Nẵng ra Huế mà không hề đòi lại chỗ của mình.
Khi đến nơi tôi nói với giọng điệu buồn xót xa: “Nhường ghế là việc nên làm, thế nhưng đường quá xa… sao anh không nói cô này luôn phiên đổi chỗ đứng và anh ngồi một lúc chứ?”.

Chồng tôi nhẹ nhàng nói: Cô này bị tật sẽ chịu cả đời.. còn anh chỉ mỏi chân có 3 tiếng thôi mà em!
Nghe chồng nói vậy, tôi quá  xúc động tự nghĩ:” Được chồng vừa tốt bụng vừa lương thiện là mãn nguyện lắm rồi!”.. và lòng tôi trở nên ấm áp thêm nhiều.

Chuyện thứ 4: Luật nhân quả.

Một đêm khuya đầu Xuân, lúc mọi người đều ngủ say thì đôi vợ chồng tuổi đã cao bước vào khách sạn, đáng buồn.. là khách sạn hết phòng.
Nhân viên tiếp tân không đành lòng để cặp vợ chồng này phải lủi thủi tìm khách sạn khác, anh liền dẫn họ vào căn phòng và thưa: “Đây không phải là phòng tốt nhất nhưng ít nhất 2 bác cũng không phải đi tìm nơi khác nữa”.

Cặp vợ chồng thấy căn phòng tuy nhỏ nhưng sạch nên quyết định ở lại.
Hôm sau, khi trả tiền phòng thì anh nói: “Hai Bác không cần trả tiền…vì phòng đó là phòng của cháu! Xin chúc hai Bác có cuộc du lịch vui vẻ”.
Thì ra, anh ta đã ngủ qua đêm tại quầy tiếp tân và  nhường phòng cho họ. Cặp vợ chồng cảm động và nói: “Chàng trẻ à, cậu là nhân viên khách sạn tốt nhất mà chúng tôi gặp…Cậu sẽ được đền đáp”. Chàng trai cười rồi tiễn cặp vợ chồng.. và nhanh chóng quên chuyện này.

Bỗng một ngày, anh ta nhận được bức thư, trong đó có tấm vé đi du lịch New York, chàng xin phép chủ và đi. Khi đến đúng địa chỉ ghi trong thiệp  là căn biệt thự to lớn sơn mầu xanh. À thì ra… 2 người mà anh ta tiếp đón trong đêm khuya đó chính là vợ chồng nhà tỷ phú! Ông bà này còn mua tặng một tiệm rượu lớn  giao cho anh làm quản lý.

Kết luận: NHÂN-QUẢ đều do mỗi người nắm giữ, khi chưa xác định được mục tiêu  của đời.. thì hãy dùng tấm lòng của mình để làm việc gì đó. Mỗi một cá nhân đều là một nhân viên phục vụ, những điều lớn lao đều bắt nguồn từ việc ta phục vụ cho người khác: Phục vụ  người khác nhiều bao nhiêu thì kết quả chúng ta nhận được càng nhiều bấy nhiêu!
Trên đường đời, có lúc ta cười sảng khoái, nhưng cũng có khi buồn đến nhỏ lệ!. Vui lúc thành công.. thì xin đừng tuyệt vọng khi gặp thất bại.
Giàu sang phú quý đến.. thì vui nhưng xin đừng khổ đau buồn chán khi thất bại nghèo túng! Trên  đời không cần điều quá cao, chỉ cần làm việc bằng sự chân thật là đủ:
– Nếu muốn có bạn tốt, thì ta phải đối tốt với người khác.
– Nếu muốn vui vẻ và hạnh phúc, xin hãy cố gắng làm việc thiện giúp người khác, không lâu  bạn sẽ nhận ra mình cũng đầy đủ và sung sướng!
Yêu người, yêu đời, cho đi yêu thương thì nhận lại thương yêu và rồi “nhắm mắt ra đi” trong thương tiếc của nhiều người….




Địa Lý Việt Nam !!

Tran Hung Dao

Đây là một bài viết rất hay của nữ Kiến trúc sư Trần Thanh Vân một người đã trưởng thành và được đào tạo trong chính quyền cộng sản nhưng đã có cách nhìn cao rộng trong sáng với lòng yêu quốc gia sâu xa. Mọi chính thể đều tan biến theo thời gian, chỉ có quốc gia mãi mãi vẫn trường tồn.
Địa mạch Việt Nam: Là một cấu trúc Âm Dương hoàn chỉnh.

Nếu chúng ta dùng cây compa chấm vào điểm giữa bản đồ VN (Miền Trung) khoanh một vòng tròn chúng ta sẽ nhận ra chữ S phân định Âm Dương thật rõ ràng, đó chính là dấu hiệu của Lưỡng Nghi là khởi thủy của vũ trụ “lưỡng nghi sinh tứ trụ, tứ trụ sinh bát quái) đây chính là vùng lãnh thổ mà Người Tầu đã thèm muốn từ mấy ngàn năm qua, từ thời Cao Biền qua chiếm nước ta và trù yểm vào những long huyệt quý hiếm của Việt Nam, nếu trung cộng chiếm được vùng đất có một địa thế cấu trúc âm dương hoàn chình là Việt nam, thì trong tương lai chúng sẽ chiếm luôn thế giới.

Đây là một bài viết rất hay những ai có quan tâm đến tiền đồ dân tộc Việt thì nên đọc bài viết này để mở rông tầm hiều biết. Tôi xin gửi lời cám ơn và ngưỡng mộ KTS Trần Thanh Vân, bài viết của chị đã nói lên bản chất thâm độc của Tầu Cộng và phân tích rõ về yếu tố địa lý phong thủy của nước Tầu và nước Việt Nam rất hay.

 Địa lý VN !

Tôi không ngờ một KTS học lên từ miền Bắc rồi đào tạo ĐH ở Trung Cộng về nước làm việc cho chế độ CS miền Bắc bao nhiêu năm,mà KTS Trần Thanh Vân lại có một tinh thần tự học với tầm suy nghĩ cao rộng kết tinh trong đó lòng yêu nước sâu xa,thật đáng trân trọng biết bao!

Tôi thật ngưỡng mộ chị KTS Trần Thanh Vân!

Xin trân trọng chuyển đến quý bạn hiền 1 bài viết của chị về bản chất của bọn bành trướng Bắc Kinh và về Phong Thủy Địa thế của Việt Nam ! Rất hay và rất tâm huyết!

TTN

Bài này – phần đầu KTS Thanh Vân đã viết từ 2008 -có nhắc nhở bọn Lãnh Đạo khi làm Kỷ Niệm Thăng Long 2010. Cô này về Dịch Lý và Phong Thủy ( 2 kỳ thư của Cổ Trung Hoa – mà các Khoa Học Gia Tây Phương rất ngưỡng mộ – Máy Tính phát sinh từ căn bản Âm Duơng ) rất căn bản và thâm sâu – có ” lòng yêu nước ” rất đáng trân trọng. Cũng như Cô tôi tin Địa Thế của VN về Phong Thủy – duy nhất trên Thế Giới có Hình Tượng ( logo) của Âm Dương: Nếu lấy Compas để tâm điểm là Huế vẽ Vòng Tròn thì chữ S là vạch chia Âm Dương gồm Tứ Tượng : Thái Dương là phần đất liền trong đó có Thiếu Âm là Biển Hồ – Biển Đông là Thái Âm với Đảo Hải Nam là Thiếu Dương!.

 

This is an article written by Architect Tran Thanh Van who has had a lot of experience in the Geology and Structure of the land mass in Asia, i.e. the “Phong Thuy” of China and VN, etc…. Tran Thanh Van believes the reason that China has always wanted to occupy VN is because the Chinese Government thinks that North VN with Ha Long Bay is the tail of a giant Dragon, whose head is the Peak of Himalaya Mountain Ranges. Tibet (Tay Tang) the peak of Fansipan (the Sa-Pa area) and the Northwest VN (the “Bauxit” mines) are parts of this giant Dragon. The Chinese believes that if they take over the control of the land where this Dragon lies, then they can take control of the entire world!….They are now trying to accomplish this ambition!

 

KTS Trần Thanh Vân
TÔI BIẾT GÌ VỀ TRUNG QUỐC?

Lâu nay mọi người vẫn nghĩ rằng tôi là một Kiến trúc sư cảnh quan có hiểu chút ít về phong thủy Thăng Long, âu cũng là chuyện bình thường, cho nên những vấn đề gì liên quan đến phong thủy của Kinh đô Thăng Long xưa và Hà Nội mở rộng ngày nay thì họ hay hỏi tôi, ngoài ra tôi không biết điều gì khác. Tôi cũng tự nghĩ như vậy, nên không muốn chen vào những lĩnh vực nhạy cảm mà tôi không thông thạo như kinh tế, xã hội, đặc biệt là các vấn đề an ninh, chính trị và thời sự quốc tế!

Cách đây vài tháng, khi xây dựng chương mục Địa linh của Chương trình văn hóa 1000 năm Thăng Long, một nhóm nghiên cứu của Ban khoa giáo Đài truyền hình trung ương đến gặp tôi để lấy tài liệu về Địa mạch và Hồn cốt Thăng Long. Giữa chừng câu chuyện, họ hỏi tôi “Chị nghiên cứu đề tài này lâu chưa?” Tôi lưỡng lự giây lát, rồi trả lời họ: “Khoảng chừng đã 55 năm”

– “Cái gì? 55 năm?”
– “Vâng! từ ngày còn là con bé con”.

Thế rồi tôi kể cho họ nghe những câu chuyện khiến tôi phải chứng kiến, phải tìm hiểu từ ngày tôi còn nhỏ.. Vào đại học, tôi làm đơn thi Bách khoa vô tuyến điện hoặc Tổng hợp Lý toán, nhưng lại bị phân công theo ngành Kiến trúc. Sau này, tôi học phong thủy cho biết để hành nghề kiến trúc sư, càng ngày tôi càng ý thức được đó là cái nghiệp đời người của tôi. Vâng, đúng là nghiệp đời người đặt tôi vào tình huống liên tiếp phải va chạm với những sự thật và tôi không thể không theo đuổi đến cùng sự thật đó. Xin nhắc lại rằng kiến thức của tôi bắt nguồn từ những sự thật, từ những điều mắt thấy tai nghe, không phải từ lý thuyết.

Sự thật và trải nghiệm

Tôi xin mở đầu câu chuyện nghiêm túc này bằng mối “quan hệ” của tôi với vấn đề Trung Cộng mà tôi sắp kể ra, đó là lý do thôi thúc tôi phải đi sâu tìm hiểu bản chất của mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa này. Có thể có những nhà nghiên cứu chiến lược lâu năm có cách nhìn khác và chưa công nhận những điều tôi sắp nói, nhưng với trách nhiệm của một công dân, một người con đất Việt, tôi như là một nhân chứng có thể khẳng định rằng ít ai có cơ hội để “hiểu” Trung Cộng hơn tôi. Cho nên, dù đã có thời gian dài tôi tránh nhắc tới những chuyện đó, nhưng càng tránh tôi càng thấy phải nói ra hôm nay để mọi người cùng biết.

Đúng vậy, tôi không chỉ từng có kỷ niệm 5 năm du học ở Thượng Hải, cái thời mọi người hay hát “Việt Nam – Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông / Chung một Biển Đông, thắm tình hữu nghị…”; trước đó tôi đã có hai kỷ niệm sâu đậm và rất hãi hùng liên quan đến Trung Quốc.

 

       Kỷ niệm thứ nhất: Cải cách ruộng đất năm 1953

Ngày ấy tôi còn nhỏ lắm. Vùng quê ngoại Đức Thọ Hà Tĩnh, nơi chúng tôi theo mẹ tản cư về đã hết yên ổn của vùng tự do thời kháng chiến và bắt đầu chịu cảnh máy bay bắn phá. Nhưng, cuộc “bắn phá” tàn khốc hơn lại chính là những cuộc đấu tố địa chủ và Việt gian phản động trong mọi làng xã ở Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Ông ngoại tôi là một thầy thuốc Đông y giỏi có tiếng, chuyên nghề xem mạch bốc thuốc và ông tôi đã cứu sống nhiều người nên được dân trong vùng nể trọng gọi bằng thầy. Tiền bạc chắc chẳng có nhiều, nhưng mùa nào thức nấy, trong nhà ông ngoại tôi không bao giờ thiếu của ngon vật lạ do gia đình bệnh nhân mang đến tág¡ ơn cứu mạng như rổ lạc đầu mùa, cân đỗ xanh, thúng gạo nếp, mớ khoai lang, nải chuối chín, có khi còn có cả con gà sống thiến hay chục trứng tươi… Nhà chỉ có hơn một mẫu ruộng, ông ngoại tôi giao hẳn cho mấy người bà con trong họ trồng cấy và không thu tô, nhưng trong CCRĐ ông tôi vẫn bị quy là địa chủ, mà là địa chủ cường hào.

Mẹ tôi nguyên gốc là cô gái làng dệt lụa Tùng Ảnh ở Đức Thọ, đã theo ông ngoại ra sinh sống ở Hà Nội nhiều năm và có cửa hàng bán tơ lụa ở Hà Nội. Đêm toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, mẹ tôi đã bỏ lại hết nhà cửa và tài sản, đưa chúng tôi tản cư về Đức Thọ Hà Tĩnh, vận động nhiều nữ thanh niên bỏ nghề dệt lụa, xây dựng một nghề mới là xe sợi, nhuộm sợi và đan áo rét cho bộ đội. Cặm cụi làm việc đó, mẹ tôi vừa nuôi sống cho gia đình và bản thân, vừa đóng góp tích cực cho kháng chiến. Tôi còn nhớ bài hát “Áo mùa đông” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác vào những ngày đó: “Gió bấc heo may / xào xạc rung cây lá lá bay / một mùa đông bao người đan áo…” chính là nói về công việc của mẹ tôi và các chị, các cô trong Hội phụ nữ kháng chiến cứu quốc. Vào những ngày đó, ở vùng tự do nghèo nàn Thanh Nghệ Tĩnh làm gì có len để đan áo, sáng kiến xe sợi bông, nhuộm sợi thành các màu xanh, màu nâu, màu cỏ úa rồi đan thành áo gửi ra chiến trường, đã được ca ngợi như một chiến công lớn.

Nhưng trong CCRĐ thì công cũng thành tội, có một người bạn thân hồi nhỏ của mẹ tôi là Bí thư bộ xã đã treo cổ tự tử vì bị truy bức quá, lập tức mẹ tôi bị gán tội là trùm Quốc dân đảng đã giết ông Bí thư đó để bịt đầu mối hoạt động gián điệp và mẹ tôi liền bị lôi ra đấu tố. Cay đắng hơn cả là người được Đội cải cách bôì dưỡng để đứng lên đấu tổ mẹ tôi hăng nhất lại là một bà bạn cũng tản cư từ thành phố về và đã được mẹ tôi đưa vào tổ đan áo binh sĩ.

 

Cha tôi đang ở vùng ATK của chiến khu Việt Bắc nghe tin đó thì hoảng hốt, vội vào Hà Tĩnh đón chị em tôi lên Việt Bắc để lánh nạn. Vừa đặt chân đến Chợ Chu – Định Hóa – Thái Nguyên thì tôi được nghe câu chuyện họ vừa xử bắn bà Nguyễn Thị Năm ở thôn Đồng Bẩm huyện Đại Từ. Một vụ xử bắn oan nghiệt đối với một người phụ nữ từng có công lớn mà đến nay mọi người vẫn còn nhớ.

Trong các xó xỉnh của Việt Bắc hôì đó, người ta bàn tán về hoạt động của các chuyên gia Trung Quốc sang giúp ta kinh nghiệm phát động quần chúng đấu tranh giảm tô và đòi ruộng đất về chia cho dân cày mà Việt Bắc và vùng tự do Liên khu 4 được chọn làm điển hình.

Sau này, khi ông ngoại tôi đã mất rồi, đại gia đình có dịp gặp nhau ôn lại chuyện cũ, mọi người đều bảo nhau hãy nén lòng quên nỗi đau buồn đó đi.

     Kỷ niệm thứ hai: Trời phạt

Chưa hết hoang mang về chuyện bức hại chém giết lẫn nhau trong CCRĐ, thì chúng tôi được ném vào “Trận đồ bát quái” của tháng hữu nghị Việt – Trung – Xô.

 

Liên Xô thì ở tận đẩu tận đâu xa xôi lắm, nhưng Trung Cộng thì ở ngay bên cạnh. Suốt ngày hễ gặp nhau ngoài đường dù chưa quen biết là người ta cũng liền nắm tay nhau hát múa rộn ràng. Hòa bình lập lại, Chính phủ về tiếp quản Thủ đô, thì trên đường phố Hà Nội cũng xuất hiện rất nhiều chuyên gia Trung Cộng. Còn nhỏ xíu nhưng tôi dễ dàng nhận ra họ vì cái áo kiểu Tôn Trung Sơn rộng thùng thình dài đến gần đầu gối, cái quần xanh công nhân cũng rộng thùng thình và cái mũ lưỡi trai bằng vải cũng mầu xanh như vậy. Tòa dinh thự hoành tráng của Hoàng Trọng Phu trước Vườn hoa Canh nông và các biệt thự kế tiếp trên phố Hoàng Diệu và phố Khúc Hạo trở thành Đại sứ quán và khu dành riêng của người Trung Cộng. Mỗi buổi sáng sớm họ đứng kín nửa Vườn hoa Canh nông tập thể dục và hô “I, ơ, xan, xư” ầm vang khu phố Cột Cờ.

Ngày đó gia đình tôi ở gần kề các Đại sứ quán. Là con bé mới học đến cấp 2, tôi không thể hiểu nổi những chuyện đã xẩy ra, nhưng tôi có thói quen ghi nhật ký. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn giữ được những trang nhật ký trẻ thơ ghi tỷ mỷ kỷ niệm về lễ mít tinh ngày 1/1/1955 nhân dân Thủ đô chào đón T.Ư Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc trở về, đặc biệt trong cuốn nhật ký cũ ấy, tôi có ghi lại kỷ niệm về một người con gái Trung Cộng tên là Khương Nãi Tuệ, chị ta được tôi tặng hoa và tặng khăn quàng đỏ trong buổi chiêu đãi Đoàn văn công Tề Tề Cáp Nhĩ do Chủ tịch UBND thành phố Trần Duy Hưng tổ chức tại Cung thiếu nhi Hà Nội tối hôm 10/9/1955 và cả câu chuyện chiều hôm sau, ngày 11/9/1955, chị Văn công Khương Nãi Tuệ bị chết trong cơn lốc Hồ Tây, khi chị ta đang đóng vai Sen Chúa trong điệu Múa Hoa Sen, trên chiếc sân khấu ghép tạm cạnh Đầm Trị – Phủ Tây Hồ.

 

Khương Nãi Tuệ chết, mang theo chiếc khăn quàng đỏ do tôi tặng. Cùng chết trong tai nạn đó còn có nghệ sĩ thổi sáo Phùng Tử Tồn và hai người nữa.. Mộ của họ mai táng ở nghĩa trang Bất Bạt huyện Ba Vì…

Sau cơn lốc khủng khiếp đó, tôi hay rơi vào tâm trạng ngẩn ngơ vì luyến tiếc chiếc khăn quàng đỏ thì ít mà vì sợ hãi như thể tôi có liên can tới cơn lốc làm lật úp ba chiếc thuyền và hại chết cô nghệ sĩ múa thì nhiều, nên tôi hay đi lang thang nghe ngóng chuyện người lớn. Rất nhiều câu chuyện nhỏ to đập vào tai tôi về một âm mưu yểm huyệt Hồ Tây nhưng bất thành và những người tham gia vào âm mưu đó đã bị Trời phạt. Ngày đó Trung Cộng và Việt Nam thân nhau lắm, nên người ta chỉ dám xầm xì nửa kín nửa hở và một cô bé con như tôi không sao hiểu nổi thứ tình hữu nghị quái gở gì mà “người bạn lớn thân thiết” lại tìm mọi cách làm hại “đứa em tội nghiệp” vừa thoát khỏi chiến tranh chống Pháp và đang rơi vào cuộc chiến tranh chống Mỹ?

Mấy chục năm sau, để giải tỏa tâm lý cho tôi quanh chuyện chiếc khăn quàng đỏ, nhà ngoại cảm Phan Oanh làng Xuân Đỉnh tặng tôi một bài thơ dài, trong đó có mấy câu: “Tâm con trẻ hồn nhiên không xấu / Dấu nhà Trời ai thấu được đâu / Một dải khăn đào kết một cái cầu / Để hồ thẳm nước sâu / Bà là nhịp cầu giữ yên non nước…”.

Du học ở Trung Cộng

 

Tuổi trẻ hồn nhiên với nhiều ham thích đã có lúc cuốn hút tôi, khiến tôi tạm quên đi cảm giác hoang mang lẫn sợ hãi hồi nhỏ.

Năm 1960 tôi tốt nghiệp phổ thông trung học, được miễn thi đại học, tôi được cử đi học ngoại ngữ để sang Trung Cộng theo học ngành kiến trúc. Niềm háo hức khiến tôi và các bạn cùng lứa sung sướng trong cảnh được “ăn cơm Bác Mao”, được chăm sóc dạy dỗ ân cần, lúc ốm đau được đầu bếp nấu những món ăn theo ý thích rồi mang đến tận phòng riêng phục vụ tận tình.

Những năm tháng đó, mọi sinh hoạt vật chất và tinh thần của chúng tôi đều được chăm sóc đặc biệt. Học Kiến trúc thì được học vẽ mỹ thuật trong 3 năm đầu, học kỳ nào chúng tôi cũng được thầy giáo là một hoạ sĩ danh tiếng dẫn đi vẽ dã ngoại ở các khu danh lam thắng cảnh cách Thượng Hải hàng trăm cây số, như các thành phố Hàng Châu, Vô Tích, Tô Châu và ở hẳn đấy vài tuần. Ông họa sĩ già hai bàn tay lấm mầu nhem nhuốc tận tình hướng dẫn chúng tôi cầm bút lông chấm phá các mảng mầu xanh đỏ, còn vợ ông thì đi theo chăm sóc chồng và cần mẫn gọt những trái lê trái táo bê đến từng góc vườn chia cho đám học trò chúng tôi. Ngoài ra, những ngày ở trong trường chúng tôi luôn luôn được hưởng ưu đãi hơn người, riêng tôi vì ham thích âm nhạc nên còn được giữ chìa khoá một căn phòng có chiếc Piano sang trọng để tự do luyện tập. Đó là những thứ mà khi ở nhà với cha mẹ, tôi chưa bao giờ dám mơ tới.

Chưa bao giờ tôi tự đặt cho mình câu hỏi: “Có phải họ đang vỗ béo chúng tôi để sau này về nước chúng tôi sẽ trở thành hạt giống cho họ gieo mầm bành trướng phá hoại đất nước mình hay không?” Chưa bao giờ tôi tự hỏi như thế cả, nhưng trong lòng không thể không gợn lên những thắc mắc vô cớ. Tôi biết Trung Cộng ngày đó còn nghèo lắm, các bạn sinh viên Trung Cộng phải ăn ở chen chúc trong những căn phòng chật chội của ký túc xá, bữa cơm của họ chỉ có chiếc bánh bao không nhân, một bát cháo hoa loãng và vài miếng ca-la-thầu.

Ngược lại tôi và chị bạn gái người Sài Gòn tập kết thì được hai cô bạn người Thượng Hải nữa ở cùng trong một ngôi nhà dành riêng cho giáo viên và trợ giảng. Đó là một tòa nhà 2 tầng có nhiều phòng, chúng tôi ở tầng hai cùng các giáo viên nữ, còn tầng một dành cho giáo viên nam. Đã là giáo viên và trợ giảng đại học, nhưng họ còn rất trẻ và đều chưa có gia đình riêng. Tôi hay lui tới thăm nom họ và ái ngại thấy họ sống rất đạm bạc. Hóa ra họ phải nhịn ăn nhịn mặc để nuôi chúng tôi. Tôi phát hiện biết có một thầy giáo bị bệnh gan và tiểu đường rất cần bồi dưỡng nhưng tiêu chuẩn tem phiếu không đủ cung cấp, thầy luôn luôn bị ngất xỉu, thấy vậ­y tôi hay đi mua thêm các thức ăn mang đến biếu thầy. Chúng tôi trở thành người thân của các thầy cô giáo. Có những buổi chiều ngày thứ 7, khi 2 cô bạn Thượng Hải đã về nhà, tôi và chị bạn Sài Gòn xuống ghế đá trên vườn hoa ngồi hóng gió, thì các thầy cô giáo lân la đến bên chúng tôi, họ tâm sự, chuyện trò và cho chúng tôi biết rất nhiều chuyện bí mật trong trường và trong xã hội, tôi có cảm giác như đất nước này sắp có đại loạn.

Rồi đại loạn đến thật, cách mạng văn hóa nổ ra, đại đa số học sinh trung học và sinh viên đều bỏ học, xuống đường tham gia Hồng vệ binh. Chúng tôi phải chứng kiến cảnh suốt ngày Hồng vệ binh đi phá phách, hò hét, rạch quần áo, cắt tóc người qua đường và báo chữ to xuất hiện khắp mọi nơi. Thê thảm hơn là chính mắt chúng tôi được chứng kiến các Giáo sư trong trường đã từng giảng dạy chúng tôi tận tình, bị làm nhục ngay trong sân trường bằng cách phải đeo các biểu ngữ bằng giấy báo dán trên lưng hoặc đội những chiếc mũ có chóp nhọn, ghi những dòng chữ tục tĩu.

Là một đứa con gái xuất thân trong một gia đình có nền giáo dục truyền thống ở Việt Nam, tôi không sao chấp nhận nổi thứ triết lý cách mạng cho phép học trò đấu tố thầy, hành hạ và sỉ nhục thầy như vậy. Nhận thức về một nước Trung Hoa có truyền thống văn hóa lâu đời, hơi phong kiến một chút, nhưng rất nề nếp và rất có kỷ cương đã hoàn toàn sụp đổ trong tôi. Đây là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi phải chứng kiến hiện tượng vô đạo và bất nhân đáng sợ đó. Rất lâu về sau tôi vẫn không thể hàn gắn được vết thương như những nhát chém trong tim mình, về hình ảnh những Giáo sư đáng kính của chúng tôi bị hành hạ lên bờ xuống ruộng bởi chính những người bạn sinh viên đã từng học tập ca hát bên chúng tôi. Trong số đó, tôi biết, có người không muốn hành xử đê tiện như vậy, nhưng nếu họ đi ngược lại phong trào chung, thì chính họ bị lôi ra đấu tố.

 

Chúng tôi rất sợ bị liên lụy nên nín lặng quan sát và nhìn nhau thầm hỏi: “ Họ đang cắn xé nhau, đến bao giờ thì họ cắn mình đây?”

Đó là giữa năm 1966, đúng lúc chúng tôi làm xong đồ án tốt nghệp, trường học gần như không hoạt động, chúng tôi không được bảo vệ luận án tốt nghiệp mà chỉ được cấp bằng có đóng dấu nhưng không có chữ ký. Chúng tôi khăn gói vội vàng rút về nước. Tất cả bạn học và thầy giáo đã bị đưa đi ra khỏi trường, một số đi lao động quản thúc ở vùng nông thôn nào đó, một số khá đông đang là Hồng vệ binh ngày ngày đi đập phá hò hét hoặc đả đảo ai đó. Cảnh Trường đại học Đồng Tế, ngôi trường được xếp loại nhất nhì Trung Cộng, do người Đức thành lập đã gần 100 năm trở nên hoang vắng buồn thảm đến lạnh sống lưng. Giáo sư nổi tiếng Lý Đức Hóa, người từng được nhiều giải thưởng Quốc tế và bà vợ Bác sĩ người Đức của ông không biết đã trôi dạt đi đâu? Lúc chúng tôi lên xe để ra ga về nước, chỉ có mấy ông bà cấp dưỡng từng chăm sóc bữa cơm hàng ngày lặng lẽ gật đầu đưa tiễn chúng tôi, mắt họ rơm rớm lệ.

Đến lúc đó thì tình cảm trong tôi hoàn toàn mất phương hướng và tôi thực sự hiểu rằng người dân lao động Trung Cộng rất tốt, giới trí thức Trung Cộng cũng thật tốt, các bạn học của tôi cũng tốt lắm. Nhưng các nhà cầm quyền? Tôi không sao hiểu nổi các nhà cầm quyền và thứ “tình hữu nghị” mà suốt ngày họ ra rả trên đài phát thanh và trên báo chí. Tôi rất muốn tìm hiểu xem cái gì là động lực thúc đẩy họ? Nhưng điều đó nằm ngoài khả năng của tôi.

Chúng tôi rời Thượng Hải buồn bã và vội vàng như ma đuổi…

Thời kỳ đã trưởng thành

Chúng tôi về đến nhà đúng vào lúc máy bay Mỹ đang đánh phá Miền Bắc ác liệt. Không khí cả nước có chiến tranh cuốn hút chúng tôi, khiến chúng tôi tạm quên đi những cảm giác khó chịu của những ngày cuối cùng sống trên đất Thượng Hải. Ngày ấy sinh viên từ nước ngoài về vẫn chưa nhiều, nên hôm đầu tiên về nhận công tác ở Bộ Kiến trúc, chúng tôi đã được Bộ trưởng Bùi Quang Tạo đón tiếp ân cần. Bộ trưởng khuyên chúng tôi vứt bỏ lối sống cậu ấm cô chiêu ở nước ngoài và sớm thích nghi với khẩu hiệu “Ba sẵn sàng” của thanh niên thời chiến.

Sau đó, mỗi người đến nơi sơ tán ở các làng quê theo địa chỉ riêng của từng đơn vị công tác. Viện Quy hoạch đô thị của tôi ở huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên.

Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương rất đẹp, nhưng chỉ đẹp ban ngày. Còn đêm đến, khi ngồi tư lự một mình bên ngọn đèn dầu trong nhà dân, những ký ức thời trẻ thơ và những kỷ niệm ở Thượng Hải lại ập về khiến tôi suy nghĩ nhiều lắm.

Lúc này đã đủ lớn để có những chính kiến của riêng mình, nhưng tôi không thể nói ra với ai. Tôi ở cùng nhà với mấy chị tốt nghiệp ở thành phố Kiev về, chúng tôi quý nhau và luôn giúp đỡ nhau, còn “Liên Xô xét lại” và “Trung Cộng giáo điều” thì mặc kệ họ, miễn là họ vẫn đang giúp ta những chiếc máy bay Mic bay trên bầu trời và những phong lương khô để chống đói.

Dù sao, 5 năm ở Thượng Hải cũng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp hơn kỷ niệm xấu, tôi cố tự lý giải rằng sự cố đã xẩy ra là do sự quá đà của một nhóm người hãnh tiến nào đó. Khoảng 10 năm tiếp theo, không thể liên lạc thư từ với bạn học cũ, nhưng tôi theo dõi và nuôi trong lòng chút hy vọng đổi thay của một đất nước đã nuôi tôi ăn học thời sinh viên, ở đó tôi từng có những thầy giáo và bạn học thân thiết. Khi nghe tin ông Đặng Tiểu Bình được phục chức, tôi những tưởng tình hình sẽ khá hơn, nhưng tôi chưa kịp mừng thì liền xẩy ra cuộc tấn công biên giới đầu năm 1979 do ông Đặng Tiểu Bình chỉ huy để “Cho Việt Nam một bài học”. Không chỉ có thế, mười năm sau lại thấy cuộc tàn sát đẫm máu nội bộ của Sự kiện Thiên An Môn cũng do Đặng Tiểu Bình chỉ huy, tôi thực sự thất vọng và hiểu rằng những người cầm đầu nhà nước Trung Cộng thời nào cũng vậy, họ chống nhau, phá nhau chỉ vì tranh cướp quyền lực và càng lộ rõ thói cường quyền, tàn bạo kiểu thời Trung cổ của họ mà thôi.

Trung Quốc hôm nay?

Sau 60 năm thành lập nước CHND Trung Hoa, chẳng tìm hiểu kỹ thì ai cũng biết Trung Cộng đã thay đổi rất nhiều và rất đáng kính nể. Tuy vậy, khi tôi trở lại thăm trường cũ, thăm thầy giáo và thăm bạn học cũ, thì tôi hiểu: ngoài bộ mặt hào nhoáng đầy khí thế của một Trung Cộng đại nhảy vọt mà họ đang ra sức quảng bá, vẫn còn có một Trung Cộng khác rất âm thầm, u uất và đau đớn của tầng lớp trí thức và những người dân lương thiện ở trên khắp nước Trung Hoa đã từng bị chà đạp, bị sỉ nhục và chịu nhiều đắng cay trong nửa thế kỷ qua. Tầng lớp này không ít đâu, con số có thể đến hàng trăm triệu hoặc hơn và đang sống trên khắp miền của đất nước họ. Chính quyềện tại đang áp đảo họ, khiến họ phải câm lặng, nhưng chính quyền không thể thu phục được lòng họ và họ sẽ bùng lên bất cứ lúc nào.

Đến Thượng Hải, tôi thấy Thượng Hải thay đổi rất nhiều. Nhưng khi tôi về thăm trường cũ, đến thăm thầy cô giáo cũ vẫn đang sống trong “Đồng Tế tân thôn” bên cạnh trường và thăm nhà riêng một vài bạn học cũ, tôi thấy một cuộc sống khác hẳn. Họ rất nghèo nàn và thật khắc khổ. Có bạn vừa gặp tôi, liền ôm hai vai tôi và khóc nức nở. Đây không phải vì họ cảm động, vì mừng vui hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Họ khóc vì gặp lại chúng tôi là gặp lại nhân chứng của một thời nhục nhã và đáng xấu hổ. Tôi đọc được tình cảm đó khi tôi xem bộ phim truyện “Nghiệp chướng” nói về những éo le và mất mát đeo đẳng suốt đời lớp thanh niên trí thức Thượng Hải, trong đó có rất nhiều người từng là bạn tôi. “Nghiệp chướng” là cái giá rất đắt mà những người cầm đầu đất nước này đã gây ra cho bao gia gia đình trí thức để rồi đến lúc họ sẽ phải trả. Một người bạn tôi nói vơí tôi: “Tôi từng là Hồng vệ binh và đang là nạn nhân của Hồng vệ binh suốt đời. Đó là lũ con tôi, cháu tôi hôm nay”.

Có trong tay cuốn địa chỉ và số điện thoại của bạn cũ ở khắp nơi, chúng tôi đã dành ra gần 2 tháng đi thăm bạn và để quan sát sự thay đổi của nước Trung Hoa. Nhưng khắp Trung Cộng hôm nay, ngoài những người rất câm lặng, rất đau khổ như tôi vừa nói, còn lớp người Trung Cộng thứ ba đang vừa là chỗ dựa vừa là gánh nặng uy hiếp Nhà nước Trung Cộng: Bọn này đông lắm. Đó là lũ lưu manh mạnh vì gạo bạo vì tiền. Đáng tiếc, các vị trong chính quyền Nhà nước Trung Hoa đã từng có thói quen dùng bọn lưu manh này làm “chỗ dựa” để đối phó với các lực lượng thù địch, nhưng khi không cần nữa hoặc không sử dụng được nữa thì họ tiêu diệt “chỗ dựa” đó đi.

Tôi nhớ lại ngày chúng tôi chuẩn bị về nước năm 1966, bà Giang Thanh nổi lên oai phong y như Võ Tắc Thiên ngày xưa, cạnh bà có 3 kẻ thân cận là Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên và Trịnh Xuân Kiều, tạo thành một “Bộ tứ trụ” điều khiển gần một tỷ dân. Nhưng thời nay còn có rất nhiều người cao thủ hơn bè lũ bốn tên thời đó. Thời nay có các băng đảng lưu manh kết hợp với công an và chính quyền hình thành hệ thống Mafia ở khắp mọi nơi. Sự kiện triệt phá Mafia ở thành phố Trùng Khánh vừa qua là một thí dụ. Không thể tin được trong một đô thị hiện đại của một quốc gia hùng mạnh mà bọn lưu manh côn đồ bị truy bắt trong một đợt đã lên đến ngót 2000 tên, trong số đó có cả Giám đốc Sở Tư pháp và nhiều sĩ quan công an.

Cuôí cùng, có thể quan sát “Trung Cộng hùng cường hôm nay” bằng cách quan sát những người Trung Cộng đang xuất hiện ở Việt Nam ngày càng nhiều với vai trò lao động chui. Những người này có thể vì đói khát quá hoặc vì đã là tội phạm bị giam cầm lâu quá, nay được đưa sang đây để sống cuộc đời phá phách, trộm cắp, lừa đảo và để tìm cách lấy vợ sinh con và sẽ là lực lượng nằm vùng nội ứng cho các cuộc tấn công của quân chính quy sau này.

Lũ người này có đáng sợ không? Làm cách nào để dẹp chúng? Thiết nghĩ mọi người đều hiểu.

TÔI HIỂU GÌ VỀ TRUNG QUỐC?

Sau khi đã biết quá rõ mục tiêu truyền kiếp của nhà cầm quyền Trung Hoa suốt mấy ngàn năm là trấn áp nội bộ, tranh chấp quyền lực và chiếm bằng được đất nước ta, tôi quyết định xin về hưu từ năm 1992 với nhiều lý do riêng, một lý do trong đó là muốn tập trung thời gian vào nghiên cứu các lý thuyết về phong thủy địa mạch, thứ lý thuyết mà từ năm 1955 tôi đã “không may” bị tận mắt chứng kiến.

Chúng ta phải cám ơn các nhà truyền giáo Phương Tây, đặc biệt là các giáo sĩ Bồ Đào Nha có công đầu về việc sử dụng chữ gốc La-tinh để phiên âm tiếng Việt trong việc truyền đạo vào nước ta ở thế kỷ XVI-XVII như Francisco de Pina, đến người biên soạn cuốn từ điển Việt-Bồ-La đầu tiên là Alexandre de Rhodes (1651) và nhất là người có công hoàn chỉnh chữ quốc ngữ ở thế kỷ XIX để trở thành chữ viết chính thống của nước ta đầu thế kỷ XX là Bá Đa Lộc – Pierre Joseph Georges Pigneau de Béhaine. Cám ơn các vị Giáo sĩ đã góp phần giúp ta thoát ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa nô dịch Trung Hoa. Nhưng đây cũng là một sơ hở khiến lớp trí thức trưởng thành trong thế kỷ XX đã lãng quên một số cơ sở quan trọng của khoa học Phương Đông, trong đó có Phong thủy, Địa mạch và Kinh Dịch.

 
Sau 17 năm nghỉ việc ở Bộ Xây dựng, tôi đã cố bù lại những lỗ hổng mà lớp trí thức ở lứa tuổi của tôi đã mắc phải. Lúc này tôi đã có nhiều thời gian để hiểu rõ trong cấu trúc phong thủy địa mạch của nước ta có một thứ mà nhà cầm quyền Trung Cộng rất thèm muốn. Họ thèm muốn vì họ không có và họ hiểu rằng làm chủ được cái đó là họ chiếm được nước ta và chiếm được nước ta là họ làm chủ được cả thế giới. Tôi nói nhà cầm quyền thèm muốn chứ không phải nhân dân, bởi vì thực hiện mộng bá quyền, người dân lương thiện Trung Cộng không hề được hưởng lợi.

Hệ Địa mạch nước Trung Hoa: Chiếc bánh sandwich

Một đất nước rộng lớn mà các lớp đất, đá, núi, sông… chồng xếp thành từng lớp như cái bánh sandwich
                 Nước Trung Hoa hình quẻ chấn 

Theo phân tích và tổng kết hệ thống đã công bố tháng 5/2005 của KTS Lý Thái Sơn, thì đó là một thứ liên kết rời rạc của hệ Tam đại càn long sẽ bị trôi tuột đi bất cứ lúc nào, đó là một nước Trung Hoa có các khu vực Bắc Hoàng Hà, khu kẹp giữa Hoàng Hà và Trường Giang, khu Nam Trường Giang, tạo thành một quẻ Chấn gồm hào một liền và hào hai gãy, hào ba gãy có nghĩa là sấm sét, không ổn định, dễ vỡ tung; cũng như khu Đông và khu Tây là hai vệt thẳng đứng, không có mối quan hệ về kinh tế, phong tục tập quán, sắc tộc và có thể tách ra thành 4 hoặc 5 quốc gia độc lập.
Mặt khác, ngay cả đến dân tộc Đại Hán cũng là kết quả của một quá trình chiến tranh và đồng hóa lẫn nhau, vì người Hán nguyên gốc rất ít, nhưng người ta có chính sách cưỡng chế người dân tộc khác biến thành người Hán, nên họ bị phản đối và ở nước Trung Hoa chưa bao giờ hết nội chiến. Ở Trung Hoa không có hai chữ “ĐỒNG BÀO” và trên đất nước này không có cụm từ sức mạnh đoàn kết toàn dân.. Hiện nay không chỉ Đài Loan là quốc gia độc lập mà Tây Tạng, Tân Cương, Hồng Kông, Ma Cao… đang như các quốc gia bị Bắc Kinh đô hộ. Nếu tách được ra thì các quốc gia đó sẽ giàu có và trù phú hơn nhiều. Còn Bắc Kinh thì luôn phải dùng biện pháp đàn áp. Họ đã đàn áp ở ngay giữa Thủ đô như sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và đàn áp dã man các vùng xa xôi như  Tây Tạng, Tân Cương trong năm 2008 và 2009.

Tuy vậy, các thế hệ cầm quyền Trung Hoa từ thời cổ đến nay đều đã nghiên cứu kỹ phong thủy địa mạch và họ ý thức được rằng có một cách vãn hồi được điểm yếu cấu trúc trượt của chiếc bánh sandwich là phải làm chủ đường kinh mạch lợi hại đi từ đỉnh Everest cao gần 9000m của dãy Hymalaya qua cao nguyên Tây Tạng, qua cao nguyên Vân Nam, qua đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, xuống vịnh Hạ Long rồi đi đến đáy đại dương sâu nhất thế giới gần 11Km ở vịnh Mindanao Philippin. Đó cũng là mạch đất độc đáo nối từ “Cổng Trời” đầy thiên khí đến “Địa Huyệt” đầy của cải có độ cao chênh nhau ngót 20Km và là đường kinh mạch quan trọng nhất thế giới. Nếu họ làm chủ được đường kinh mạch này thì không những họ có gọng kìm xiết chặt chiếc bánh sandwich đó, không cho nó trôi trượt đi, mà họ còn có thể mau chóng làm chủ cả thế giới. Bởi vậy, lúc này họ đang cố sức “củng cố nơi họ đã là chủ và chiếm thêm nơi họ chưa chiếm được” để thực hiện ước nguyện bá chủ toàn cầu.

* Sau hàng ngàn năm với nhiều thủ đoạn, cao nguyên Vân Nam rộng 390.000Km2 có 26 dân tộc đến nay đã bị họ khống chế hoàn toàn, người dân tộc Di, dân tộc Choang mỗi ngày một ít, người Hán đã di cư về đây trên 20 triệu và thành phố Côn Minh hiện đại hơn ba triệu dân ngày nay là thành phố của người Hán (người Hán thật thì ít, người Hán mới bị đồng hóa thì nhiều).

* Ngược lại, khu tự trị Tây Tạng, nóc nhà của thế giới và là Thủ đô của Đạo Phật, vốn là một quốc gia độc lập văn minh, đã bị chính thức lệ thuộc vào Trung Hoa từ năm 1914 đến nay. Thật xấu hổ và nhục nhã cho một cho một chính thể, một Nhà nước suốt ngày hô hào “đoàn kết các dân tộc” lại đang đàn áp và hủy diệt người Tây Tạng, đập phá chùa chiền đến mức người đại diện cho Đạo Phật và là linh hồn của dân tộc Tạng là Đức Đa Lai Lạt Ma phải đi lưu vong, việc đó đã khiến Ấn Độ và các quốc gia Tây Á không thể làm  ngơ và đang ở bên dân tộc Tạng. Điều đó cũng có nghĩa là Nhà nước Trung Cộng sẽ không thể đạt được cái họ muốn (Tây Tạng).
Cung điện Tây Tạng Potola

Còn ở Việt Nam chúng ta? Lịch sử bốn ngàn năm của nước ta là lịch sử chống ngoại xâm. “Ngoại xâm” đây là chỉ giặc Phương Bắc, bởi vì Phương Đông, Phương Tây và Phương Nam gần như không có. Hơn hai ngàn năm qua thì giặc ngoại xâm đã bị chỉ đích danh những những nhân vật cụ thể như Triệu Đà, Mã Viện, Cao Biền… Bởi thế ta rất cần biết tại sao họ quyết chiếm nước ta và tại sao họ không thể chiếm nổi?

Địa mạch Việt Nam: Khúc quan trọng trong địa mạch toàn cầu

Trong quá trình địa kiến tạo vỏ trái đất, có những nếp gấp lớn tạo ra dãy núi cao đóng vai trò đường kinh mạch trọng yếu xuyên qua nhiều quốc gia như phần trên đã phân tích. Sau Tây Tạng, Vân Nam, thì đồng bằng Bắc Bộ nước ta là phần rất quan trọng của mạch đất này (đọc Đại địa mạch quốc gia). Dãy Hymalaya chạy vòng vèo như hình con rồng lớn, đoạn đến nước ta là dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phan Xi Pan cao 3143m, đến Việt Trì mạch đất lặn xuống, tỏa ra và qua sông Đà lại xuất hiện cụm Ba Vì cao 1226m, điểm nhấn của THĂNG LONG NÚI CHẦU SÔNG TỤ. Trước khi Vua Lý Thái Tổ chọn nơi này dựng Kinh đô Thăng Long thì người Trung Hoa đã dòm ngó vùng đất kỳ bí này và Cao Biền tấu thư kiểu tự là một trong những kết quả tìm kiếm công phu nhất. Theo báo cáo của Cao Biền, một người tài giỏi gốc Mãn Châu thì vùng đất nhỏ bé này tụ hội rất nhiều linh khí đất trời và sản sinh ra nhiều hiền tài, ông ta tìm thấy 632 huyệt chính, huyệt phát đế và 1617 huyệt bàng, huyệt phát quan, nên một mặt ông ta theo lệnh vua Đường Y Tông yểm phá các báu huyệt để tiêu diệt hiền tài của nước ta, mặt khác ông ta hiểu giá trị của vùng đất này, nên đã xây thành Đại La, mưu đồ thực hiện mộng bá vương và đã bị vua Đường trị tội.. Âm mưu yểm huyệt Thăng Long chưa bao giờ ngơi nghỉ trong đầu các nhà cầm quyền Trung Hoa và hành động thô bạo ngày 11/9/1955 mà tôi vô tình chứng kiến có làm cho họ thận trọng hơn.

Hiện nay họ biết không thể ngang nhiên đổ bộ vào Thủ đô, họ đi vòng vèo từ phía Tây qua Lào, qua Cam pu chia và họ đang chiếm Bauxite Tây nguyên, còn tại Trung tâm Thủ đô, họ đang nhờ bàn tay nào phá Thủ đô của ta? Tinh ý, chúng ta sẽ biết.

Địa mạch Việt Nam: Vùng Biển Đông, yết hầu của Đông Nam Á

Không phải ngẫu nhiên vô cớ mà trên vịnh Bắc Bộ rộng lớn của chúng ta còn có vịnh Hạ Long bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, ngay sát Cảng Vân Đồn lại có vịnh Bái Tử Long, và ngoài khơi xa của Hải Phòng có đảo Bạch Long Vĩ, ngoài ra còn có nhiều đảo có tên liên quan đến Rồng như Hòn Rồng, Long Châu, thôn Cái Rồng…, cái tên Long liên quan đến phần đuôi của con Rồng lớn xòe ra ở đồng bằng Bắc Bộ, đi xuống nước ở Cảng Vân Đồn và kết thúc ở đáy Đại dương thuộc vịnh Mindanao thuộc Philippin. Có lẽ đây cũng chính là cái chốt trọng yếu khiến Trung Quốc quyết tâm xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh và ngang nhiên công bố đường lưỡi bò chín đoạn trên Biển Đông vào tháng 5/2009, vi phạm trực tiếp đến 5 quốc gia Đông Nam Á và nền an ninh cả thế giới. Đây là sản phẩm kế thừa của chính quyền Quốc dân Đảng từ năm 1947, điều đó cũng cho thấy thời nào cũng vậy, mưu đồ bá quyền của chính quyền nhà nước Trung Quốc không thay đổi. Chắc hẳn lúc này không chỉ các nước Việt Nam, Philippines, Brunei, Indonesia và Malaysia ý thức được đường lưỡi bò này vi phạm đến chủ quyền của mình, mà gần như cả thế giới đã nhận ra mưu đồ chiếm cứ con Rồng lớn nhất thế giới của nhà nước Trung Hoa, bởi vì chiếm cứ được cái yết hầu này là họ chiếm được cả Châu Á và một khi chiếm được Châu Á rồi thì bước đi tiếp sẽ ra sao? Thế giới, trong đó có Mỹ, Nhật, Ấn Độ và các nước Châu Âu có để cho họ làm điều đó không ?

Địa mạch Việt Nam: Cấu trúc Âm Dương hoàn chỉnh

Đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi đầu tiên của Nhà nước Văn Lang, nhưng hình chữ S của Con Rồng đất nước Việt Nam ngày nay đã tạo nên một thế cân bằng Âm Dương rất hoàn chỉnh. Như sự ví von của nhà thơ Xuân Diệu, thì Đất nước ta như một con tàu / Mũi thuyền ta đó mũi Cà Mau.
Núi chầu sông tụ Thăng Long theo hình thế Âm Dương 

Điều đó cho thấy từ mấy ngàn năm trước cái nôi đồng Bằng Bắc Bộ đã vững như bàn thạch, từ thế kỷ XVI trở lại đây, khi đất nước đã phát triển xuống phía Nam thì con thuyền đất nước đã đủ tư cách rẽ sóng ra khơi và điều đó cũng cho thấy đã là con thuyền thì các phần mũi thuyền, thân thuyền và đuôi thuyền không thể tách rời nhau. Bởi vậy hơn lúc nào hết, chúng ta cần ý thức được sự sống còn của vận mệnh đất nước, để xác định thái độ và hành động của mình..

LỜI CUỐI BÀI

Để kết thúc bài viết, tôi muốn quay lại những dòng mở đầu, rằng tôi không có chút năng khiếu nào trong những vấn đề kinh tế, xã hội và an ninh chính trị, nhưng do nghề nghiệp và do số phận, tôi đã có dịp hiểu rất sâu vào cốt lõi của vấn đề kinh tế và chính trị trong mối quan hệ với Trung Cộng hiện nay. Bởi vậy tôi muốn khuyên tất cả mọi người, nhất là các vị sinh ra sau tôi và chưa có dịp trải nghiệm như tôi, là hãy tỉnh táo để thoát ra khỏi cõi u mê của sự hoang tưởng trong mối quan hệ với Trung Cộng. Cha ông ta đã trải qua hàng ngàn năm mới đưa ra được lời dạy bảo và bản thân tôi phải trải qua hơn 55 năm để chiêm nghiệm và thấm nhuần lời dạy bảo của cha ông.

Tôi biết, lúc này đã có rất nhiều người suy nghĩ như tôi hoặc sâu sắc hơn tôi, nhưng vẫn còn khá đông người đang lầm lẫn và ảo tưởng, không ít người còn rất sợ vía người bạn lớn vĩ đại Trung Hoa, tôi không trách họ vì đôi lúc chính tôi cũng tin ở họ và nể sợ họ lắm. Nhưng xin mọi người hãy bình tâm và suy ngẫm xem cái gì tạo nên sức mạnh của họ và cái gì đang giết chết sức mạnh đó?

 

Đông dân là một sức mạnh

Đúng vậy, ngày tôi đang học ở Thượng Hải thì Trung Cộng mới xây xong cầu Trường Giang, họ rất tự hào nói rằng, chỉ cần toàn dân Trung Hoa, mỗi người tiết kiệm một cái bánh bao là đủ xây một cái cầu Trường Giang. Đó là một việc làm tốt.

Trong thế vận hội 2008 ở Bắc Kinh, họ xây dựng Sân vận động Tổ Chim độc đáo hết 432 triệu USD, nếu chia cho 1,3 tỷ dân thì họ phải cắt xén của mỗi người 0,32 USD, việc đó có vẻ cũng vẫn tốt.

Hiện nay họ đang làm nhiều việc ghê gớm hơn như xây dựng đại hàng không mẫu hạm trên Biển Đông và các căn cứ hải quân… tôi nghĩ họ cũng sẽ làm được đủ để dọa nạt chúng ta và các nước trong vùng,

Mô hình hàng không mẫu hạm ở vũ Hán

Có điều, một thảm họa đông dân mà Nhà nước không vì dân thì Nhà nước sẽ khốn đốn. Có ai biết rằng trên đất nước Trung Hoa vĩ đại đang có 200 triệu người sống lang thang không nhà cửa và đặc biệt hệ thống băng đảng Mafia ở hầu hết các thành phố lớn như Thẩm Quyến, Thượng Hải, Quảng Châu… đang chia cắt quyền lực của đất nước họ hay không? Việc tầy trời này thiết nghĩ cũng không cần nhiều lời và chính là việc của các nhà chiến lược.

Vậy thì mọi nỗ lực của họ có thể có một kết thúc có hậu hay không?

  KTS Trần Thanh Vân