68 năm âm nhạc Lam Phương

Phạm Đức Tiến & Nguyễn Quốc Khải

16-10-2017

68 nam am nhac Lam Phuong

Khoảng 700 người đã tham dự Chương Trình Lam Phương, Tình Người và Tình Quê tại Schlesinger Concert Hall, Alexandria, Virginia vào chiều Chủ Nhật, 15-10-2017. Điều này cho thấy Nhạc Sĩ Lam Phương vẫn được nhiều người yêu âm nhạc ngưỡng mộ cho dù ông năm nay đã 80. Chương trình kéo dài 4 giờ bao gồm 40 bài do chính Nhạc Sĩ Lam Phương chọn lọc và trao cho 8 ca sĩ trình bầy: Anh Dũng, Diễm Liên, Hà Thanh Xuân, Hồ Hoàng Yến, Mạnh Quỳnh, Ngọc Hạ, Thanh Tuyền, và Thế Sơn. Ban nhạc Hoàng Thi Thi từ bên California qua. Âm thanh: Kỹ Sư Việt Anh. MC là Ô. Hoàng Vi Kha. Lời dẫn: Ô. Đào Trường Phúc và Nguyễn Thu Thủy. Ông bầu của chương trình là BS Nguyễn Tấn Phước, cháu của Nhạc Sĩ Lam Phương. Lâu lắm vùng thủ đô Hoa Kỳ mới có một chương trình ca nhạc Việt Nam khá vĩ đại và đặc biệt như thế này.

 

Xem trọn bài

 

Phóng-sự với hình ảnh từ SBTN

Chiều Nhạc Thính Phòng: “Tinh Người & Tinh Quê” Kỷ Niệm 68 Năm Sáng Tác Của Nhạc Sĩ Lam Phương

 




Lời tự thuật của Thi sĩ HỮU LOAN, tác giả “MÀU TÍM HOA SIM”

Hữu Loan

HuuLoan-DoiTimHoaSimTôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.

 

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.

 

Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..

 

Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …

 

Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.

 

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …

 

Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.

 

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.

 

Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …

 

Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.

 

Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

 

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

 

Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …

 

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi …

 

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

 

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.

 

Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.

 

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

 

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

 

Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

 

Màu tím hoa sim

(Nguyên văn của tác giả)

 

Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng

Có em chưa biết nói

Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân

xa gia đình

Yêu nàng như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn

nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân

đôi giày đinh

bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến binh

Mấy người đi trở lại

Nhỡ khi mình không về

thì thương

người vợ chờ

bé bỏng chiều quê…

 

Nhưng không chết

người trai khói lửa

Mà chết

người gái nhỏ hậu phương

Tôi về

không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

thành bình hương

tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh

ngắn chưa đầy búi

Em ơi giây phút cuối

không được nghe nhau nói

không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa

một mình đèn khuya

bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

ngày xưa…

 

Một chiều rừng mưa

Ba người anh trên chiến trường đông bắc

Được tin em gái mất

trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về rờn rợn nước sông

Đứa em nhỏ lớn lên

Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị

Khi gió sớm thu về

cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim

những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt

Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau

Chiều hoang tím có chiều hoang biết

Chiều hoang tím tím thêm màu da diết

Nhìn áo rách vai

Tôi hát trong màu hoa

Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

 

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệrớm

Tím tình ơi lệ ứa

Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành

Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn

Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím

Tôi ví vọng về đâu

Tôi với vọng về đâu

Áo anh nát chỉ dù lâu…

 

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)

 

Hữu Loan

 

© Hữu Loan

 




Sự bế tắc của ngôn ngữ

Bùi Quang Vơm

Đọc bài viết của nhà báo Phạm Toàn được báo Vietnamnet trích đăng với tựa đề:

Không nên quá kiêu ngạo nghĩ mình mãi là thầy“, thú thật là tôi có cảm giác bế tắc như đụng đầu vào bức tường chặn lối lên phía trước, trông thấy ẩn hiện, nhưng không có cách nào qua để bắt lấy nó. Loáng thoáng hiểu điều ông muốn nói, chờ để được giải thích, hoặc sẽ có gì rõ hơn ở phía sau, nhưng đọc mãi, cho đến hết, cuối cùng không thấy có và cảm giác bế tắc tới uất ức, bất lực. Những triết lý trừu tượng, tối nghĩa, những khái niệm mông lung lơ lửng.

Có thể một nhà giáo uy tín và nổi tiếng mà  khó khăn trong cách diễn đạt ý tưởng của mình? Thế thì làm sao là làm nghề giáo được? Làm sao truyền dậy?

Câu trả lời nằm ở chỗ khác?!

Làm thế nào để có một nền giáo dục đa chiều trong một chế độ chính trị độc quyền chân lý? Làm sao khai phóng tư duy trong một thế giới thông tin bị sàng lọc một chiều? Làm sao thông với vũ trụ trong một không gian đóng kín?

Ông Phạm Toàn cố diễn đạt một cái gì đó. Người ta cố gắng hiểu rằng cái gì đó là cái vĩnh cửu vượt ra khỏi giới hạn của thời gian, nghĩa là nền giáo dục không lấy triết lý đương thời làm khung khổ. Cái đương thời rồi sẽ chết, hoặc ít nhất cũng biến hoá, trong khi nền tảng của nền giáo dục có căn bản bất biến. Cái bất biến đó là bản năng tự hoàn thiện mình bằng năng lực tự nhiên của con người. Năng lực tự nhiên và bản năng tự hoàn thiện là cái vẫn tồn tại sau tất cả những áp lực nhân tạo chỉ xuất hiện trong một không gian và thời gian nhất định có hạn.

Nói cho rõ ra thì là thế này: Hãy vượt ra ngoài sự trói buộc bởi tư duy giáo dục cộng sản để quay trở lại với bản chất con người. Có phải Nhà giáo định nói vậy không?

Đấy có thể là điều mà nhà giáo Phạm Toàn muốn «bắn» tới những đồng nghiệp có trách nhiệm của ông? Nhưng giáo dục là sự minh bạch, rành mạch, rõ ràng và chuẩn xác về phương pháp tư duy. Ông muốn mọi người phải hiểu và phải làm một điều đang bị cấm kỵ bởi những thế lực quyết định sinh mệnh của họ và của chính ông. Nhưng ngay nói thẳng những điều đó ra, ông cũng còn chưa dám. Nói những điều không giám nói, thì những điều nói ra trở thành tối nghĩa và khó hiểu. Muốn nói về màu đen, nhưng sử dụng ngôn ngữ dùng để diễn tả một mầu không đen, và lại muốn trách người xem sao không thấy nó đen. Đó là bi kịch cuả ước vọng khai phóng, cũng chính là bi kịch của nền giáo dục thờicộng sản hiện đại trong lốt nhà giáo dục.

Không biết có ai cùng cảm giác bế tắc khi đọc bài viết của nhà giáo Phạm Toàn không, xin đọc ở đây:

«Không nên quá kiêu ngạo nghĩ mình mãi là thầy.

Nhà giáo Phạm Toàn đã khẳng định như vậy trong bài viết gửi tới hội thảo giáo dục 2017 do Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Quốc hội tổ chức sáng 23/9. VietNamNet xin trích đăng bài viết này.

Vấn đề

Chúng ta đang bàn bạc về sự nghiệp giáo dục của dân tộc.

Chúng ta đang bàn bạc về công việc lớn lao này trong nỗi lo lắng và tinh thần trách nhiệm.

Lo lắng và trách nhiệm đè nặng lên vai từng cá nhân có mặt ở hội thảo này và chúng ta còn gánh nặng cả những nỗi ưu tư của biết bao con người vắng mặt tại đây, trong đó có những nhà khoa học và có cả những phụ huynh có con em đi học.

Và không chỉ có thế, vắng mặt hôm nay nhưng luôn luôn có mặt, còn là tổ tiên chúng ta, những ân nhân đã giao lại đất nước này cho chúng ta và còn là cả những bé em sẽ ra đời trên mảnh đất thiêng liêng này, những thế hệ của trăm năm, của nghìn năm sau.

Không ai buộc chúng ta phải lo lắng và phải có trách nhiệm như vậy. Tự chúng ta từng người từng người mang nỗi lo và trách nhiệm đó, đơn giản vậy thôi.

Chúng ta nhất trí trong nỗi lo và tinh thần trách nhiệm.

Nhưng chúng ta lại rất khó nhất trí trong giải pháp cứu nguy, chấn hưng sự nghiệp giáo dục của dân tộc.

Và nỗi bất đồng to lớn nhất lại rơi vào một điều cốt lõi của mọi điều cốt lõi: tư duy về giáo dục.

Cái bất biến của giáo dục

Chọn lựa thứ nhất là đi tìm một cái nút bấm mà nếu tác động vào điều bất biến đó thì mọi việc sẽ hanh thông.

Chọn lựa thứ hai là sa đà vào những điều khả biến với vẻ ngoài đầy hấp dẫn, nhưng sẽ làm ta rơi vào một cái bẫy mê hồn trận.

Chọn lựa thứ nhất dẫn nhà giáo dục và các lực lượng xã hội khác đến với trẻ em – người học như một mục tiêu bất biến. Nó bất biến vì nó nằm trong tầm tay xử trí của nhà giáo dục.

Chọn lựa thứ 2 dẫn các nhà cải cách đến những vấn đề thuộc về thể chế, nằm ngoài tầm tay xử lý của nhà giáo dục.

Cả hai lựa chọn đều là hai cuộc đại phiêu lưu. Không có lựa chọn nào dẫn đến thành công “thần tốc” hết. Nhưng chọn lựa thứ nhất sẽ tạo ra một sự thâm canh – cũng hệt như thâm canh trong sản xuất nông nghiệp – trong khi chọn lựa thứ 2 cũng tương tự như đi tìm cách thay đổi chế độ tô thuế.

Có điều “thâm canh” trong sự nghiệp giáo dục sẽ tạo ra một cái nền màu mỡ, để một trăm năm nữa (có khi lâu hơn thế) sẽ có những sản phẩm mà những bậc thầy ngày hôm nay không sánh kịp. Con hơn cha, trò hơn thầy, đó là mơ ước của công cuộc thâm canh vào cái bất biến cần được tư duy đổi mới giáo dục nhận ra ngay ngày hôm nay: trẻ em.

Nghịch lý cõng người khổng lồ

Nhà cải cách giáo dục đúng sẽ thành công nếu trong tư duy giáo dục và dạy học họ luôn nghĩ rằng mình đang cõng trên vai những người khổng lồ. Không nên quá kiêu ngạo để luôn luôn nghĩ mình mãi là thầy, mãi mãi là người khổng lồ để các em đứng lên vai.

Ấy thế nhưng, ở nơi đây và vào lúc này, họ vẫn đang là thầy. Nghịch lý là ở chỗ đó. Khi tư duy để tìm cách cứu nguy nền giáo dục hiện thời, chúng ta luôn luôn đứng trước hai cách chọn lựa.

Diễn đạt theo cách khác sẽ nói như sau: nhà cải cách giáo dục như những chú lùn có sứ mệnh tạo ra những con người cao ráo hơn mình. Khi chúng ta đang nhắc lại những khái niệm như tự do hoặc khai phóng vô tình hay hữu ý, ta đang thực hiện một phương thức bất biến chi phối công việc đào tạo những người khổng lồ.

Vì thế, đừng có nghĩ nền giáo dục được ta lên kế hoạch chấn hưng sẽ đào tạo những học trò có vài ba năng lực nào đó cộng với dăm bẩy giá trị nào đó rập theo tiêu chuẩn biến động của những chốn vu vớ nào đó.

Một cách khiêm nhưng đủ tự tin như một nghịch lý, chúng ta hãy tổ chức sự trưởng thành của cái đối tượng bất biến mà chúng ta đang phục vụ bằng việc vun trồng bằng chính bàn tay tầm thường của chúng ta ở đây và ngay lúc này.

Mục tiêu tổ chức sự trưởng thành của trẻ em, đến lượt nó, cũng thành một điều bất biến trong tư duy giáo dục. Không phải là tổ chức cuộc chạy đua học giỏi mà tổ chức sự trưởng thành về tâm hồn, về trí tuệ, về lối sống của một nhân cách đúng nghĩa.

Những sản phẩm mang tầm vóc trưởng thành đó sẽ phải là những con người có một năng lực bất biến – năng lực tự học – và tự học để tự lập thành người Việt Nam chính hiệu.

Lộ diện giải pháp

Cuối cùng, “trăm dâu đổ đầu tằm”, dù chọn đi theo cách tư duy nào và theo lý thuyết trời biển gì đi nữa thì cũng phải trình ra xã hội bộ chương trình và bộ sách giáo khoa.

Đến lượt chúng, những công cụ này cũng sẽ phải thể hiện một tầm tư duy giáo dục dựa trên những điều bất biến.

Đặt câu hỏi đơn giản hơn: chương trình và sách giáo khoa có tuổi thọ dài, thậm chí rất dài hay là chúng cứ bị thay đổi luôn soành soạch theo tuổi đời từng dự án?

Xin nói luôn để đỡ mất công chờ đợi: Chương trình và sách giáo khoa cũng phải bất biến. Điều này hoàn toàn trái với những phát ngôn đương thời cho rằng sách giáo khoa trên thế giới cũng chỉ tuổi thọ dăm mười năm.

Ta hãy cùng lý giải về tính bền vững của chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa cho học sinh phổ thông. Chúng sẽ bền vững và có tuổi thọ dài vì những lý do sau:

– Chúng thể hiện cách học của người học, cách học thể hiện ở các thao tác tư duy, là điều bất biến.

– Những vật liệu dùng để tổ chức cách học của học sinh đều mang tính phổ thông và đó là điều bất biến.

– Sách giáo khoa phải giúp giáo viên dễ thực hiện nhiệm vụ tổ chức việc học của trẻ em – một định nghĩa khác về nghề “dạy học” xưa nay.

Tư duy sáng sủa

Càng dấn thân vào sự nghiệp giáo dục, càng thấy mọi chuyện không dễ dàng và càng không thể xong trong ngày một ngày hai.

Vì thế, việc tư duy về giáo dục cần phải rất sáng sủa.

Không được lẫn lộn giữa khái niệm Chương trình tổng thể với chỉ một việc biên soạn chương trình và sách giáo khoa phổ thông.

Và ngay cả khi rút gọn việc viết sách giáo khoa như là cốt lõi của cái tổng thể thì cũng cần xử lý nghiêm cẩn.

Thời Khổng Tử, sách giáo khoa nằm trong tay vài ba ông “Tử”, và thế là đủ.

Thời Pháp thuộc cũng còn đơn giản: những tên tuổi đọng lại không nhiều, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Huy Lục, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận, và Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Tố cùng với Brachet, Don Lafferanderie. Hết.

Sau năm 1945, cả ngành giáo dục vẫn mới chỉ có một ban thu thư lèo tèo. Dẫu sao, các ban tu thư thời đó đều có uy tín.

Ngày nay, chẳng ai có đủ uy tín để xử lý riêng một khái niệm tích hợp.

Và ai có đủ uy tín để bảo đảm sách đang viết chưa xong, có xong cũng chưa qua thực nghiệm… liệu có đủ độ tin cậy để được thực nghiệm và đem dùng theo lối cuốn chiếu.

Hãy nghĩ lại!

Hãy để các nhóm và các cá nhân tự do đóng góp để có thêm những người lùn cùng công kênh những người khổng lồ.

Hãy minh bạch các sản phẩm – mạng internet có sẵn để mọi người lùn cùng bớt lùn.

Hãy tập sống dân chủ vì dân chủ cũng là cái bất biến trong tư duy người, còn bao trùm lên cả tư duy giáo dục nữa.» (hết dẫn).

Nếu cảm giác bế tắc không phải là của riêng tôi, thì tôi nghĩ nút mở của nó là cái đã xảy ra với Gíao sư Tương Lai và cựu Đại sứ Nguyễn Trung.

7/10/2017

Bùi Quang Vơm




Ký ức, thời gian dưới ngòi bút của Kazuo Ishiguro, Nobel Văn Học năm nay

Thu Hằng 

RFI   – Phát thứ sáu, ngày 06 tháng 10 năm 2017

Ký ức, thời gian dưới ngòi bút của Kazuo Ishiguro

Nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro, tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017, trả lời phỏng vấn bên ngoài nhà riêng tại Luân Đôn, ngày 05/10/2017.REUTERS/Toby Melville

“Bằng những cảm xúc dạt dào, văn chương của ông (Kazuo Ishiguro) đánh thức góc sâu thẳm, huyền bí trong chúng ta về mối liên hệ với thế giới” “Hãy lấy một chút từ Jane Austen, một chút từ Franz Kafka, thêm một phần của Marcel Proust và bạn có được điều gì đó giống phong cách viết của Kazuo Ishiguro”. Bằng những từ ngữ trên, Viện Hàn Lâm Thụy Điển nhận xét về tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017, nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro.

Theo cha mẹ đến Anh Quốc từ năm 6 tuổi, Kazuo Ishiguro (sinh ngày 08/11/1954 tại Nagasaki) chưa từng nghĩ một ngày sẽ theo nghiệp văn chương. Ông từng mơ biểu diễn ghi-ta trên sân khấu nhạc rock hơn là cầm bút, vì 5 tuổi, cậu bé Kazuo đã biết chơi piano và 14 tuổi, đã chơi thành thạo ghi-ta.

Suốt thời thanh niên trong những năm 1970, Kazuo Ishiguro không đoái hoài đến văn chương vì “có rất ít nhà văn gây phấn khích, ngoài Kerouac và Beat Generation”, như ông từng thổ lộ với tạp chí L’Express năm 1997 khi giới thiệu với độc giả Pháp cuốn The Unconsoled(tạm dịch : Kẻ không khuây khỏa).

Cuối cùng, ông chọn con đường văn chương khi bắt đầu “đối chiếu giữa cuộc sống ở Anh với nhiều sự kiện diễn ra trong nước Nhật ngày trước. Năm 23 tuổi, tôi muốn trưởng thành và muốn làm sống lại ký ức của quê hương mình mà tôi có cảm giác đang biến mất”. (L’Express, 1997).

Tốt nghiệp trường đại học Kent năm 1978 và nhận bằng thạc sĩ khóa sáng tác văn chương của trường đại học East Anglia năm 1980, ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ năm 1982 với tác phẩm đầu tay A Pale View of Hills (tạm dịch : Những ngọn đồi xa mờ), đoạt giải thưởng Winifred Holtby của Viện Văn Học Hoàng gia Anh, tiếp theo là An Artist of the Floating World(1986). Cả hai tác phẩm gợi lại một nước Nhật thời hậu chiến, chật vật đứng lên từ đống đổ nát, về số phận của các nhân vật bị coi là “phản quốc”.

Từ đó đến nay, ông viết thêm nhiều cuốn tiểu thuyết khác, với chất lượng khá ổn định : The Remains of the Day (tạm dịch : Tàn dư ngày ấy, 1989, đoạt giải Booker), The Unconsoled (tạm dịch : Kẻ không khuây khỏa, 1995), When We Were Orphans (tạm dịch : Khi chúng ta mồ côi, 2000), Never Let Me Go (Mãi đừng xa tôi, 2005) và The Buried Giant (Người khổng lồ ngủ quên, 2015) và một tập truyện ngắn Nocturnes : Five Stories of Music and Nightfall (Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông, 2009).

Cuốn tiểu thuyết Never Let Me Go (Mãi đừng xa tôi) được Time Magazine xếp vào danh sách 100 cuốn sách tiếng Anh hay nhất từ năm 1923 đến năm 2005. The Remains of the Day được James Ivory chuyển thể thành phim cùng tên năm 1993 với hai diễn viên chính Anthony Hopkins vào vai quản gia Stevens tận tụy, lịch thiệp chấp nhận chối bỏ và chôn sâu cả tình yêu thầm lặng với cô Kenton (Emma Thompson) dành cho ông. Năm 2010, khát khao tình yêu, hạnh phúc trong thế giới “giả tưởng” của ba nhân vật Kathy, Ruth và Tommy có chung một số phận được định đoạt trong Mãi đừng xa tôi được Mark Romanek đưa lên màn ảnh nhỏ.

Hai tác phẩm được chuyển thể thành phim này cùng với cuốn The Unconsoled nằm trong danh sách ba tác phẩm cần đọc, theo nhật báo Le Figaro, nhân dịp công bố tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017.

Bìa ba tác phẩm của nhà văn Kazuo Ishiguro được Nhã Nam xuất bản tại Việt Nam.RFI / Tiếng Việt

Tác phẩm của Kazuo Ishiguro : 10 năm có mặt tại Việt Nam

Riêng tại Việt Nam, tiểu thuyết gia Kazuo Ishiguro không phải là một tên tuổi xa lạ. Ba trong số tám tác phẩm của ông đã được Nhà xuất bản Nhã Nam kết hợp với Hội Nhà Văn biên dịch và phát hành : Mãi đừng xa tôiDạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông,Người khổng lồ ngủ quên.

Trả lời RFI tiếng Việt, anh Nguyễn Xuân Minh, phụ trách bản quyền của Nhã Nam, giải thích thêm về tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017.

RFI : Nhà xuất bản Nhã Nam dịch và phát hành ba tác phẩm của nhà văn Kazuo Ishiguro từ cách đây vài năm, dĩ nhiên trước khi ông được trao giải Nobel Văn Học 2017. Những điểm nổi bật nào của nhà văn Anh gốc Nhật đã thu hút Nhã Nam ?

Nguyễn Xuân Minh : Tác phẩm đầu tiên của Kazuo Ishiguro mà Nhã Nam xuất bản là tác phẩm Mãi đừng xa tôi, không phải là vài năm trước mà là 10 năm trước, từ những năm đầu tiên Nhã Nam mới thành lập. Sau đó, đến năm 2015, chúng tôi ra tiếp một tập truyện ngắn của ông tên là Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông. Và gần đây nhất, chúng tôi mới ra tác phẩm, và cũng là tác phẩm mới nhất của ông, Người khổng lồ ngủ quên.

Tác giả này đã được Nhã Nam khai thác từ những năm đầu tiên. Vì khi đó chúng tôi có quan niệm muốn giới thiệu những tác giả văn chương đương đại, có phong cách đặc biệt, đến với độc giả Việt Nam, bởi vì khi đó, thị trường sách văn học Việt Nam, trong thời điểm 10 năm trước, không được phong phú như bây giờ. Chúng tôi cảm thấy cần có trách nhiệm giới thiệu những tác giả xuất sắc của văn chương thế giới, như Ishiguro, Ian McEwan, Salman Rushdie, Margaret Atwood và Mugakami đến với độc giả Việt Nam.

Khi đó, cùng với Ian McEwan, Ishiguro là một trong hai tác giả người Anh mà chúng tôi lựa chọn, vì chất văn chương rất đặc trưng của nước Anh. Dù ông là người gốc Nhật, nhưng ảnh hưởng của gốc gác đối với văn chương của ông không nhiều, mà ông viết rất đặc trưng chất Anh. Chính vì thế, chúng tôi đã muốn giới thiệu tác giả này với độc giả Việt Nam từ 10 năm trước.

RFI : Có nhiều ý kiến cho rằng văn phong của Kazuo Ishiguro mang phong cách cổ điển, đôi khi quá trau chuốt về câu chữ. Liệu điều này có phải là một trở ngại để thu hút nhiều độc giả Việt Nam hơn, khi mà hiện nay nhiều tác phẩm được viết với phong cách nhẹ nhàng đang rất “ăn khách” ?

Nguyễn Xuân Minh : Về mặt đón nhận, khi chúng tôi xuất bản Mãi đừng xa tôi lần đầu tiên, chúng tôi nhận được nhiều lời khen và nhận xét tích cực từ giới phê bình và độc giả yêu văn chương. Tuy nhiên, cũng như nhiều tác giả văn chương đương đại khác rất nổi tiếng trên thế giới, khi mà xuất bản tại Việt Nam, các tác phẩm này đều khá kén chọn độc giả và không phải có nhiều người biết đến tác phẩm Mãi đừng xa tôi. Một phần cũng do khi đó, công tác truyền thông của Nhã Nam chưa tốt lắm nên chúng tôi lấy làm tiếc là không có nhiều người biết đến tác phẩm này. Đấy cũng là một phần nguyên nhân khiến chúng tôi đã không nghĩ đến xuất bản tiếp các tác phẩm của Ishiguro.

Đến năm 2013-2014, chúng tôi nhận được một vài tác phẩm mới do người đại diện của tác giả gửi đến, vì Nhã Nam là đơn vị đầu tiên xuất bản Ishiguro tại Việt Nam, nên khi có tác phẩm mới, họ gửi đến. Chúng tôi đọc thử và cảm thấy là văn phong và câu chuyện của ông đều rất tuyệt vời và chúng tôi nghĩ là không thể không tiếp tục xuất bản, nên chúng tôi tiếp tục mua bản quyền thêm ba cuốn của Ishiguro : Dạ Khúc, Người khổng lồ ngủ quên và cuốn nổi tiếng nhất của ông là cuốn được giải Booker là The Remains of Day, tạm dịch là Tàn dư ngày ấy. Cuốn này là cuốn đạt giải cao nhất của ông và khá dầy và tương đối khó dịch nên chúng tôi hy vọng có thể xuất bản được vào năm 2018.

RFI :Độc giả Việt Nam đón nhận các tác phẩm của nhà văn Anh gốc Nhật này như thế nào ?

Nguyễn Xuân Minh : Trước khi ông được giải Nobel, cũng có một bộ phận độc giả yêu văn chương nước ngoài, yêu văn chương Anh rất thích tác phẩm này (Xin đừng xa tôi) và cũng có nhiều người đã gửi thư và gửi tin nhắn cho chúng tôi, yêu cầu chúng tôi xuất bản thêm các tác phẩm của ông. Tuy nhiên, như tôi đã nói ở trước là văn chương của ông khá kén độc giả. Con số bán hàng ở Việt Nam cho thấy chưa phải là có nhiều người thực sự đọc và yêu thích Ishiguro.

Thực ra, mỗi khi có một cuốn sách quan trọng được xuất bản, chúng tôi đều cố gắng tổ chức chương trình tọa đàm, những buổi ra mắt để giới thiệu sách đến với độc giả. Ví dụ khi cuốn Mãi đừng xa tôi được xuất bản lần đầu, chúng tôi cũng có một buổi tọa đàm, giới thiệu tác phẩm này ở Hội Đồng Anh (Hà Nội). Có khá đông đảo phóng viên và bạn đọc đến tham dự buổi ra mắt này. Buổi đó khá là lớn.

Sau khi ông được giải Nobel, tất nhiên chúng tôi hy vọng rằng cuốn sách này sẽ được nhiều độc giả biết đến hơn và được đọc rộng rãi ở Việt Nam.

***

Kazuo Ishiguro (dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng), Mãi đừng xa tôi, NXB Văn Học, Nhã Nam, 2013, 434 trang.

Kazuo Ishiguro (dịch giả An Lý), Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông, NXB Nhã Nam, 2013, 294 trang.

Kazuo Ishiguro (dịch giả Lan Young), Người khổng lồ ngủ quên, NXB Văn học, Nhã Nam, 2017, 460 trang.

*********

Nguồn:

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20171006-nobel-van-hoc-2017-ky-uc-thoi-gian-duoi-ngoi-but-cua-kazuo-ishiguro

Cuốn The Remains of the Day có thể mua trên Amazon, paperback,  với giá $9.60:

https://www.amazon.com/Remains-Day-Kazuo-Ishiguro/dp/0679731725/ref=sr_1_1?s=books&ie=UTF8&qid=1507403861&sr=1-1&keywords=Kazuo+Ishiguro%29




Không ai ngăn nổi lời ca

Sông Lô Lê Nam Sơn

Chúng tôi 4 người gồm: Thụy Uyển, Lữ Du, Đặng Lâm và tôi được “Hội văn hóa nghệ thuật” người Việt ở thành phố Chemnitz mời đến tham dự buổi sinh hoạt văn hóa giao lưu với chủ đề “Chiều Thơ Tình Thu” được tổ chức vào ngày 15.10.2017 tại thành phố này.

Chemnitz là một thành phố thuộc Đông Đức cũ đã từng bị đổi tên, như Sài Gòn của VN bị đổi tên thành Hồ Chí Minh, thành phố Chemnitz bị đổi tên thành Karl Marx kể từ 1953 khi chế độ CS đông Đức nắm chính quyền, mãi cho đến 1990 sau khi nước Đức thống nhất, nhà nước Cộng Hòa Liên Bang Đức mới lấy lại tên đích thực của nó. Đây là một thành phố có khoảng 250.000 cư dân và là thành phố lớn thứ ba của tiểu bang Sachsen thuộc Cộng hòa Liên bang Đức, sau thành phố Leipzig và thành phố Dresden. Có khoảng trên 1000 người Việt sinh sống tại đây.

Nhân đây tôi cũng xin nói thêm để những ai chưa sống ở nước Đức có thể biết về cuộc sống và sinh hoạt của người Việt tại Đức là như thế nào. Có 3 dạng người VN khác nhau sinh sống ở Đức: Dạng thứ nhất là những thuyền nhân, ra đi bằng con đường vượt biên sau năm 1975. Dạng người này cho đến nay có khoảng 40 ngàn người, hầu hết định cư ở Tây Đức cũ và Berlin , nhìn chung họ có đời sống ổn định và con cái của họ đa số học hành giỏi, tương đối thành đạt do được sinh ra và lớn lên ở Đức. Thế hệ thứ hai này được người Đức đánh giá là một điển hình tốt cho sự hội nhập với xã hội, văn hoá Đức hơn cả những cộng đồng ngoại quốc khác sống ở nước này.

Dạng thứ hai là những người từ phía Bắc và Trung Việt Nam đi lao động tại Đông Đức từ thời Đông Đức còn là một nước xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay những người thuộc dạng thứ hai này cũng đã có giấy tờ và có cuộc sống ổn định, nhìn chung, hầu hết họ là những người buôn bán nhỏ, sống loanh quanh trong cộng đồng với nhau, cần cù, chăm chỉ kiếm tiền và cũng như dạng người thứ nhất, họ dồn tất cả tiền bạc vào việc đầu tư cho tương lai của con cái.

Dạng thứ ba là những người qua Đức từ sau năm 1990, họ ra đi bằng đủ mọi con đường khác nhau nhưng đa số cho đến nay vẫn chưa có giấy tờ hợp pháp. Số người này cũng đã lên đến khoảng 40 ngàn người. Vì không có giấy tờ, không được phép đi làm chính thức nên cuộc sống nhiểu bất ổn, có một số bị trục xuất về nước.

Số người Việt sinh sống bên phía đông hầu hết còn bị lệ thuộc và chi phối bởi Sứ Quán CSVN tại Đức, họ đã thành lập những hội đoàn như hội Đồng Hương, hội Doanh nghiệp, hội Cựu chiến binh, hội phụ nữ v.v.. theo chỉ thị của Sứ Quán. Nói chung, họ là những người còn “tình nghĩa” với cái gọi là nhà nước CHXHCNVN, nên chi khi khách du lịch VN, nhất là khách du lịch VN đến từ Hoa Kỳ cũng đừng ngạc nhiên khi vào một nhà hàng VN của họ mà thấy có treo cờ đỏ sao vàng và hình ông Hồ một cách trân trọng cũng như cho thực khách nghe những nhạc đỏ.

Chúng tôi đến với “Hội văn hóa nghệ thuật” để tham dự buổi sinh hoạt văn hóa giao lưu chủ đề “Chiều Thơ Tình Thu” trong hoàn cảnh không mấy thuận cho lắm, nên chi trước khi đồng ý tham dự, chúng tôi có đề nghị ban tổ chức là không treo cờ, không có mặt sứ quán hay đại diện của sứ quán cũng như phô trương những hình ảnh tuyên truyền ca tụng chế độ tại hội trường và không ngờ những đề nghị của chúng tôi được BTC đồng ý.

Với chủ trương dùng văn hóa văn nghệ để giao lưu, không áp đặt, nhưng mang tính chính nghĩa và thuyết phục là một hình thức đấu tranh trong nhiều cách đấu tranh với những mong muốn sao cho đất nước VN thân yêu của chúng ta thoát khỏi chế độ độc tài CS, sớm có được tự do dân chủ và quyền con người được tôn trọng mà trước sau chúng tôi vẫn luôn tâm niệm như vậy. Thế là ngoài những sáng tác, những giọng ngâm cùng tiếng hát mà 4 anh em chúng tôi lần lượt trình bày cho mỗi tiết mục, đến một tiết mục kế tiếp của mình với giọng ca có sức lôi cuốn lạ thường, Thụy Uyển đã hát vang lên với niềm tin mãnh liệt vào sự thật vào chính nghĩa và cô đã chinh phục được hầu hết khán giả qua một nhạc phẩm đấu tranh mang tình tự quê hương dân tộc “Gánh Cả Quê Hương của nhạc sĩ Chiêu Khiêm, bài hát chấm dứt với tràn vỗ tay như không dứt và kể tứ lúc ấy Thụy Uyển đã trở nên nhân vật đầy thiện cảm và gần gũi với hầu hết mọi người. Cảm ơn Thụy Uyển rất nhiều, mong Thụy Uyển luôn chân cứng đá mềm trên bước đường đấu tranh phía trước.

 




Những video Mạn đàm Truyện Kiều

1- Mạn đàm Truyện Kiều Phần 1 (Giới thiệu Tiểu sử Thi hào Nguyễn Du)

2- Mạn Đàm truyện Kiều Phần 2 (Thanh Minh)

3- Mạn đàm Truyện Kiều Phần 3 (Kiều gặp Kim Trọng)

4- Mạn đàm Truyện Kiều Phần 4 (Kiều bán mình chuộc cha)
5- Mạn đàm Truyện Kiều Phân đoạn 5 (Kiều gặp Tú Bà)
6- Mạn đàm Truyện Kiều Phân đoạn 6 (Kiều gặp Sở Khanh)
7- Mạn đàm Truyện Kiều Phân đoạn 7 (Kiều gặp Thúc Sinh)
8- Mạn đàm Truyện Kiều Phân đoạn 8 (Kiều gặp Hoạn Thư)
9- Mạn đàm Truyện Kiều (Kiều gặp Từ Hải)
10- Mạn đàm Truyện Kiều (Kiều Báo Ân – Báo Oán)
http://cuocsongthica.blogspot.com/2017/10/nhung-video-clips-man-am-truyen-kieu.html



Ra mắt sách “Con Đường Phượng Vĩ”

     Ra mắt sách “Con Đường Phượng Vĩ”

Chiều Chù nhật 8 tháng 10, hồi 2PM tại Hội trường Câu Lạc Bộ Mây Bốn Phương đường số 2, thành phố San José, bắc California, buổi Ra mắt tác phẩm Con Đường Phượng Vỹ của Nhà Văn Tôn Nữ Áo Tím, đã được tổ chức và khai mạc với sư tham dự của hàng trăm đồng hương và thân hữu, có người đến từ Texas, Nam Cali và các thành phố phụ cận.

 
Thời tiết đẹp, không khí ấm áp, dễ chịu, nhưng vào cùng ngày giờ này có nhiều sinh hoạt khác tại địa phương, nên một số bạn bè của tác giả đã gọi phone xin lỗi, rất tiếc đã không đến tham dự được.
 
Tác giả Tôn Nữ Áo Tím là ái nữ của Nhà Văn Hoàng Diệp,- Thư ký Viện Đại học Huế ngày xưa – Cựu Nữ sinh Đồng Khánh và Đại học Huế, Tôn Nữ Áo Tím được sinh ra trong một gia đình mà các Anh Chị Em đều có máu Văn nghệ, ca hát, làm thơ, viết văn. Tác phẩm Con Đường Phương Vĩ của Cô là là tập truyện đầu tay với một số truyện ngắn, tuỳ bút với dòng văn chương bình dị nhưng mang đầy những suy tư về cuộc sống, nhất là hình ảnh cuộc đổi đời đầy cay nghiệt sau khi CS chiếm trọn miền Nam. Nhà Văn Song Nhị, Diên Nghị và Ngô Đức Diễm đã giới thiệu tác phẩm, Tác giả với những dòng cảm nghĩ thật đẹp.
 
Sau đây là một số hình ảnh chúng tôi ghi lại  xin được gửi đến Quí Bạn Xa gần, để gọi là chia chút niềm vui với tác giả Tôn Nữ Áo Tím, về một buổi Ra măt tác phẩm khá thành công, vào thời điểm mà chuyện ra mắt sách bây giờ càng ít thu hút người tham dự.
 
                      












 



Tưởng niệm cố nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm tại San Jose

Tưởng niệm cố nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm tại San Jose

Văn thơ Lạc Việt tổ chức buổi tưởng niệm cố nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm tại San Jose ngày 30 tháng 9 tại CLB Mây Bốn Phương.

Chương trình gồm có:

1 Lời Tưởng niệm bác Vũ Đức Nghiêm TS Hồng Dũng
2 Đọc Thay lời điếu NS Vũ Đức Nghiêm của Bác Diệu Tần TS Hồng Dũng
3 Khúc ca dịu dàng Kim Thư
4 Một mình ngồi yên Lê Nguyễn
5 Tâm tư chiều Thu Sa
6 Hương lan vườn xưa Hoàng Lan
7 Ngâm thơ trích đoạn (Trời Hương Phấn Cũ) Chị Minh Thúy
8 Thấp Thoáng Như Giấc Mơ Văn Quân
9 Trên đồi cao Bạch Tuyết
10 Bâng khuâng nhớ tình xưa Thanh Hà
11 Từ ngục tù xông lên Hợp ca
12 Ngâm thơ (NT Ngô Đình Chương) Ngẩu Hồ
13 Thời gian còn lại Bảo Ngọc
14 Vùng trời kỷ niệm Kiều Liên
15 Đà lạt thành phố sương mù Mai Hương
16 Gọi người yêu dấu Hoàng Lan
17 Muôn trùng xa em về Nguyên Hồng
18 Lời ru thương Vũ Thơ Trinh

 




Thư Mời Tham Dự Tiệc Phát Giải Văn Thơ Lạc Việt 2016

banner-2016  12360337_10206907852488879_3141174382717768368_n  ban-dieu-hanh-vtlv

Thưa Quý Văn Thi Thữu, Quý Đồng hương còn yêu mến tiếng Mẹ,
Trong mục đích bảo tồn và phát huy tiếng Việt, vì ngôn ngữ là hồn, nhất là trong giai đoạn lịch sử cần thiết hiện tại, vì cổ nhân lại có câu: Hồn mất trước, nước mất sau!
Nên những sinh hoạt văn học nghệ thuật �bảo vệ Hồn� rất đáng được khuyến khích, chính vì thế Văn Thơ Lạc Việt đã góp tay trong công tác này đã hơn 20 năm nay, với giải thưởng sáng tác văn thơ hàng năm.
Giải thưởng này đã trở thành một sinh hoạt văn nghệ truyền thống, được nhiều người ủng hộ và tham gia nhất. Đã trở thành một giải thưởng văn học uy tín nhất của người Việt hải ngoại. Nhiều người trông chờ nhất vào mỗi dịp cuối năm.
Năm nay buổi phát giải được tổ chức lúc 4 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 18 tháng 12 năm 2016, tại Nhà hàng Phú Lâm, số 3082 Story Dr. San Jose.
-Ngoài những nghi thức phát giải phải có, là phần văn nghệ phụ diễn phong phú, đặc sắc với trên 10 giọng ca vàng của Lạc Việt, đang được yêu mến nhất của miền Thung Lũng Hoa Vàng, tặng sách cho quý Mạnh Thường Quân và dạ vũ. MC: Hồng Dũng & Hạnh Thảo.
-Vì tiệc vào những ngày cuối năm, ngoài 7 món ngon, kèm theo rượu vang, với những trò chơi có thưởng xả xui, xổ số, nhiều phần thưởng giá trị và phần dạï vũ đặc sắc. Hy vọng sẽ là buổi tiệc vui vẻ và ý nghĩa nhất đưa tiễn những ngày cuối cùng của năm, để đón mừng năm mới.

Trân trọng kính mời.
Lê Văn Hải, Trưởng ban tố chức, Phó chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt.

Xin ủng hộ 40 đô la cho mỗi người tham dự.

12341087_1074761692560121_1609087504444643627_n  12310581_10206907852448878_3793152343204861255_n  thiep-moi-trao-giai-vtlv-2016
nv-pt-kim-dung  nv-phuong-hoa  nv-phuong-hoa
nt-duong-hong-anh  nt-tuyet-van  nt-tan-khoa
Xin liên lạc để giữ cho trước:
Chinh Nguyên (669) 251-5366,
Lê Tuấn (408) 888-1113,
Thanh Xuân (408) 679-1400,
Hồng Dzũng (408) 886-1199.




Phân Ưu Nhà Văn Vũ Ngọc Đĩnh

PHÂN ƯU NHÀ VĂN ĐỐI KHÁNG CỘNG SẢN TẠI QUỐC NỘI:

VŨ NGỌC ĐĨNH.

Chinh Nguyen's photo.

Kính dâng hương hồn Anh Vũ Ngọc Đĩnh
Thế là Anh đã nhắm mắt, xuôi tay, chưa tròn nguyện ước .

Tôi đang layout cuốn “Ca dao thời Cộng Sản” của anh và đang cầm trọn vẹn mấy cuốn bản thảo anh trao để in và phát hành tại quốc ngoại :

Bảo Tòan.
Cười chả được.
Chui.
Hồn Nước trong các tòa thành cồ VN.
Lý Thường Kiệt.
Những âm thanh nhức buốt ngàn đời.
Sao Mai đã mọc.
Tiếng hát bên trong cửa.

Biết nói với anh sao đây …!!!

Cầu mong Anh :
chốn vĩnh hằng nghìn thu an giấc,
nồng nàn hương thảo Nam Sơn,
tiêu dao thâm thú ta bà,
ươm mầm tinh hoa đất Việt.

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Anh đã đi…! Ai cười, ai rưng lệ…!
Đời chia ly không muốn cũng đành thôi.

Hội Ðồng Cố Vấn
Ban Ðiều Hành
Toàn Thể Thi Văn Hữu và Nhạc Sĩ & Nghệ Sĩ
Hội Viên khắp nơi thuộc
CƠ SỞ VĂN THƠ LẠC VIỆT.

Chinh Nguyên
Quỳnh Chi Tiêu Cẩm Tú.
Nhà Văn Uyên Thao
Nhà văn Trịnh Bình An
Chu Lynh
Nhà Văn Chu Tấn.
Nhà Văn Trần Nhu
Nhà Báo Việt Hải LA
Nhà văn Kiều Mỹ Duyên
Nhà văn Bích Huyền
Nghệ Sĩ Như Hảo
Nhà văn Phạm Bá Hoa.
Nhà thơ Thư Khanh.
Nhà thơ Quốc Nam.
Nhạc sĩ Phạm Mạnh Đạt.
Nhà Văn Thanh Xuân.

Chinh Nguyen's photo.  Chinh Nguyen's photo.
Chinh Nguyen's photo.Chinh Nguyen's photo.



18 Tin Sách June 2016

tin-sach-18




VFC Brochure 2016

vfc-brochure-2016




17 Tin sách Feb 2016

tin-sach-17




KỶ YẾU GIÁO SƯ NGUYỄN NGỌC BÍCH

KỶ YẾU GIÁO SƯ NGUYỄN NGỌC BÍCH
MỘT TẤM LÒNG CHO QUÊ HƯƠNG

Kính thưa quý cộng đồng, tổ chức, đoàn thể chính trị, văn hóa, giáo dục, xã hội, truyền thông, văn nghệ sĩ và thân hữu của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích

Kính thưa quý vị

Suốt 41 năm tại hải ngoại, không ít người Việt Nam yêu nước đã phục vụ quên mình cho lý tưởng tự do dân chủ của dân tộc Việt Nam; tuy nhiên, phải công nhận rằng ít người đã cống hiến một cách tích cực, liên tục và phong phú trong nhiều lãnh vực như Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích. Ông đã thành lập hay góp phần thành lập và lãnh đạo nhiều tổ chức chính trị, cơ sở văn hóa, giáo dục, xã hội và truyền thông.  Dù hoạt động đa dạng và đa diện, mục đích chính của Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích cũng chỉ nhằm đưa đất nước thoát khỏi ách độc tài Cộng Sản, xây dựng một Việt Nam tự do, dân chủ, nhân bản, thịnh vượng cho các thế hệ hôm nay và đời đời con cháu mai sau.

Bên cạnh tài năng, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích còn là một nhà đạo đức gương mẫu. Đức tính hài hòa, nhân hậu của ông rất dễ dàng nhận thấy. Con đường tranh đấu đầy khó khăn, nhưng cuối ngày, trên môi ông vẫn một nụ cười bao dung và thông cảm. Đức tính đó đã làm Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích trở thành điểm hẹn của những người yêu nước Việt đang mưu tìm một hướng đi chung.

Ra đi là để trở về. Tối ngày 2 tháng Ba, 2016, hạt giống lành mà Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích  gieo xuống đã nở thành hoa trên cõi đời này. Giáo sư đã trở về ngay trên chính vòm trời gần 41 năm trước ông đã ra đi.

Để tưởng nhớ Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, một nhà ngoại giao, nhà chính trị, nhà văn hóa, nhà giáo dục, Kỷ Yếu Nguyễn Ngọc Bích: Một Tấm Lòng Cho Quê Hương sẽ được thưc hiện và phát hành vào dịp tuần 49 ngày của giáo sư.  Chiều tưởng nhớ và phát hành kỷ yếu sẽ được tổ chức từ lúc 2 giờ chiều đến 6 giờ chiều, thứ Bảy 14 tháng 5, 2016 tại Providence RECenter 7525 Marc Drive, Falls Church, Virginia 22042. Mọi chi tiết  xin liên lạc Ds Nguyễn Mậu Trinh, trinh.nguyenmau@gmail.com301-461-8490.

Ban Biên Tập Kỷ Yếu trân trọng kính mời quý vị đóng góp phần nội dung. Vì quan hệ rộng rãi của giáo sư, xin vui lòng giới hạn bài viết ngắn nhất một trang và dài không quá 5 trang khổ sách 6″x9″. Bài viết, ngoài bút hiệu, xin kèm theo tên thật, địa chỉ, số phone và gởi về địa chỉ  email của Ban Biên Tập Kỷ Yếu:kyyeugsnguyenngocbich@gmail.com  trước ngày 26 tháng 3, 2016.

Trân trọng kính chào
Chủ Biên
Trần Trung Đạo

——————————————————————-

Kính gởi Quý Văn Hữu,
Trong nỗi tiếc thương và đau buồn vì sự ra đi đột ngột của GS Nguyễn Ngọc Bích, xin quý văn hữu cùng tưởng nhớ tới người anh hiền hòa và tận tụy của chúng ta . Xin vào các trang điện tử dưới đây để đọc các bài viết về hoạt động của GS Nguyễn Ngọc Bích  và xin chuyển email này tới các thân hữu của quý văn hữu. Xin chân thành đa tạ tấm lòng của quý văn hữu .
Thân mến
Trịnh Bình An



Tác Giả Đoàn Tuyết Thu (TT/VTLV 2016)

doan-tuyet-thu

Tuyết Thu Đoàn, sinh ngày 17 tháng 11 tại Nha Trang,

vào Sài Gòn từ năm 1970.
Cựu giáo sư tại Việt Nam.
Hiện đang sinh sống tại Arizona, USA. 

 

 

Những Mùa Trăng

Mùa trăng cuối cùng cuả tháng chạp năm âm lịch. Trong chúng ta chắc ít ai đếm thử có bao nhiêu muà trăng ý nghĩa trong cuộc đời mình?

… Trở về muà trăng năm nào, nơi ngôi nhà cuả gia đình tôi ở thành phố biển Nha Trang. Ngôi nhà lớn hướng ra mặt biển. Từ khoảng sân phủ sỏi trắng, ôm quanh căn nhà, trời xanh trải xa tít trong tầm mắt. Vào đêm trăng sáng tôi lắng nghe đựơc tiếng sóng vỗ ì ầm của biển nằm cách quãng ngắn trước mặt, về phía hướng đông.

Mùa trăng Trung Thu, mấy anh chị em tôi, trừ anh cả đã vào quân đội, chuẩn bị rất nhiều chiếc lồng đèn để chờ trăng lên phá cỗ. Đèn bươm bứơm, đèn tàu bay,đèn ngôi sao to thật to. Có cả những chiếc đèn xếp đủ màu với hình dáng khác nhau được cô tôi mua về. Hai hàng cây nối dài từ cổng lớn vào đến cuối sân trước là nơi chúng tôi giành nhau chỗ treo đèn cuả mỗi đứa.

Trăng lên, tròn to, sáng vằng vặc. Trăng lên từ biển. Ánh trăng trải rộng trên khắp ngọn cây làm những chiếc lồng đèn như những cô vũ công đỏm dáng lắc lư nhè nhẹ trong chiếc áo màu xanh đỏ.Trăng lấp lánh ánh bạc trên mặt biển thăm thẳm. Chúng tôi bắt đầu thắp sáng những chiếc lồng đèn. Mừơi mấy anh chị em, cả những đứa em con cô, con chú bắt đầu nối đuôi nhau hát vang dưới ánh trăng vàng. Muà trăng cuả tuổi thơ tôi. Ký ức về muà trăng năm nào ở ngôi nhà lớn ấy, chắc chắn không một ai trong anh chị em tôi có thể quên. Có lẽ, đấy là thời gian hạnh phúc nhất đối với lũ trẻ chúng tôi.

…Và rồi cũng dưới ánh trăng. Vuông sân nhỏ ở ngôi nhà cuối cùng gia đình tôi sống trước khi rời xa quê hương. Tiếng đàn guitar, tiếng hát, tiếng đuà vui cuả chị em tôi. Dẫu trong cảnh gian nan, đói kém cuả khoảng đời nhiều thay đổi. Ở tuổi mười sáu, mười tám, các em tôi đã thoát ra khỏi những hạn hẹp cuả cuộc sống để cất vang tiếng hát. Trăng.Tiếng đàn dặt dìu những khúc tình ca nổi tiếng, em tôi hát say sưa. Cuốn sách chép nhạc bià đen được cô em tài hoa cuả tôi nắn nót chép từng nốt nhạc. Các em tôi kẻ đàn, người hát cùng các bạn một thời hoa niên khiến cung bậc nên những khúc hát ru hôm nay sưởi ấm miền kỷ niệm. Khúc tình ca dưới trăng cuả một thời đầy dấu ấn tươi đẹp.
Đã qua rồi bao nhiêu muà trăng sáng trên cuộc đời cuả mỗi chị em chúng tôi. Mỗi đứa mỗi phận. Đứa còn, đứa nay về cõi xa xăm. Những muà trăng ngày cũ trở thành chứng nhân cho quãng đời thanh xuân đằm thắm cuả chị em tôi.

…Hôm nay, muà Trăng cuối cùng cuả năm

Trăng vẫn như muôn muà cũ. Trăng hồn nhiên buông lơi ánh vàng trên cây cỏ. Trăng có đếm dùm tôi bao kỷ niệm đã ở cùng trăng? Nhớ cô em nay khuất bóng thiên đường cuả tôi cười thật to. Khi có lần về thăm quê nhà, nghe cậu em con người dì ngây ngô hỏi :”Chị Nguyệt ơi, trăng ở Mỹ ,trăng Việt Nam có cùng là một không?”

…Có lẽ, bây giờ tôi có thể thay em trả lời câu hỏi ấy, em nhỉ? Trăng ngày xưa đã thành vầng trăng muôn đời cuả kỷ niệm Trăng vằng vặc ánh vàng hôm nay buồn hơn, ngậm ngùi hơn vì thiếu mất em!

Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng cuội già ôm một mối mơ… Cuội già có ôm dùm tôi giấc mơ đầm ấm năm xưa để tôi còn nghe dưới trăng tiếng guitar dìu dặt năm nào?

 

 

Kể cho cháu nghe

Kể cho cháu nghe chuyện ngày xưa ở quê hương của bà nhé!

Cháu ạ!

Mai này khi cháu đã lớn bằng mẹ cháu bây giờ, có lẽ quê hương cuả chúng ta thay đổi nhiều lắm. Cháu sẽ không thấy được những chiếc cầu cheo leo, bắc qua con lạch đưa dòng nước đậm phù sa đến các khu vườn cây trái trĩu quả.

Ngày còn bé, bà từng vừa sợ, vừa tò mò thích thú bước theo nhịp lắt lẻo cầu tre trên sông nước quê ngoại của bà. Mấy anh chị em cười nắc nẻ theo từng bước ngập ngừng cuả dân thành thị về quê. Quê ngoại bà sông lạch dẫn nước đến tận đất vườn nhà. Bà đã cùng các ông bà ngày ấy lội xuống đià đầy cá, rồi cũng tham gia tát đìa. Cá nhiều vô kể cháu ạ! Chính vì được thiên nhiên ưu đãi, đất miền tây trù phú cá sông, tôm ngọt nên tâm tình người miền nam cũng rất đỗi hào phóng, sởi lởi.

Mấy mươi năm qua nhanh quá,thế hệ đi trước ở quê xưa cũng chẳng còn lại mấy người. Ngôi nhà lớn, xây cất bằng gỗ quý theo kiểu ba gian hai chái của tổ tiên bên ngoại cũng không còn nguyên vẹn qua bể dâu thời cuộc. Nhưng cháu ạ, bà vẫn nhớ mồn một trong trí những bữa cơm chiều đầy tiếng cười, đầy yêu thương của những ngày hè bà theo cha mẹ về thăm quê ngoại Sau hàng mấy mươi năm dài, bà vẫn nhớ như in bữa tiệc tôm càng sông tươi xanh, nướng trên bếp lửa hồng được nhen từ vỏ, gáo dừa khô. Khi hoàng hôn vừa chập choạng bóng dưới các tán cây, than đã kịp đỏ hồng, nổ tí tách, tung toé những tàn lửa nhỏ như pháo hoa. Bếp than nhen trên khoảnh đất rộng trước cửa bếp, đối diện hồ chứa nước mưa nhà ngoại của bà. Tôm vừa lưới về, còn ngoe nguẫy càng, đem nướng than toả thơm nức mũi, lan khắp vườn. Ánh lửa bập bùng soi chưa rạng mặt người nhưng ấm áp trong tiếng nói cười râm ran. Bà như được tắm trong tình yêu chan chứa của những tấm lòng quê mộc mạc. Mùi thơm tôm nướng trên than gáo dừa đặc sắc theo bà mãi đến hôm nay. Không những bà lưu giữ trong tâm món ngon quê nhà nay không sao tìm lại được nơi xứ người. Bà còn nâng niu, gìn giữ những hình bóng thân quen xưa cũ và dư âm tiếng tình yêu ở mảnh vườn một thời xum xuê trái ngọt quê ngoại trong ký ức, như tài sản tinh thần vô giá không phải ai cũng có được.

Bà sẽ kể cho cháu nghe nhiều câu chuyện ngày bà còn thơ nơi quê cũ . Bà mong cháu thấm đẫm tình yêu quê hương qua câu chuyện của bà. Vì dẫu cháu không sinh ra trên mảnh đất quê nhà nhưng nơi cháu, dòng máu Việt vẫn ấm nóng tuôn chảy trong tim mỗi ngày, phải không cháu của bà?

Đoàn Tuyết Thu 

 

 

 

NẮNG CÓ CÒN VÀNG.

Vẫn nắng đầu ngày sao dường như chẳng ấm.
Còn gió ngang trời mà sao tóc thôi bay.
Mười ngón tay ngoan choàng qua từng cơn nhớ
Chỉ thấy trống không ùa vào tận cuối trời.

Nắng vẫn còn quanh trên đường bay của gió.
Héo chiếc lá khô vừa rơi xuống đêm qua.
Nắng vẫn chưa đủ xua tan ngàn sương đọng.
Nên tưởng rằng ai vừa khóc cạn đêm thâu.

Nắng chắc tắt rồi phía sau lưng quên lãng
Khi người mang đi chiều nhạt của một ngày.
Sao chẳng giữ nắng hong vơi dần nỗi nhớ
Người có về không để sưởi ấm tay buông.

Chắc tại nắng thưa nên yêu thương chợt vắng.
Chỉ còn mùa đi lặng lẽ giữa phố chờ.
Chỉ còn dáng xưa phai mờ trong trí nhớ.
Khi trâm lược buồn bỏ hờ hững bên gương

Đoàn Tuyết Thu

 

 

TÔI … 

Tôi nằm ngủ quên trên chiếc sô-pha trắng.
Mơ thấy một đời tôi chẳng có nỗi buồn.
Mơ thấy tôi ngày tóc bím đôi xinh xắn.
Tay ôm gấu bông ngồi hát dưới hiên nhà.

Tôi mơ thấy tôi hồn nhiên như mây trắng.
Lòng như trời xanh trải ngát bốn mùa trôi .
Tôi nghe tiếng tôi nhẹ nhàng như hơi thở.
Của cánh vàng bay con bướm nhẹ vào đêm .

Tôi tìm thấy tôi ngây ngô như thuở tóc.
Cắt ngắn ngang mày che lúng liếng mắt trong.
Tay thuôn tháp bút giữ lời tình chân thật.
Môi chẳng ngại ngần trao câu nhớ tinh khôi.

Rồi nhận ra tôi đang ngồi im lặng khóc. .
Thấy bóng thời gian pha trắng lọn tóc phai.
Tay thôi níu giữ bao nhiêu điều mộng mị.
Tôi thấy cuối trời quạnh quẽ buổi sang đông

 

Đoàn Tuyết Thu

 

 

 

 

RẤT LÂU, EM ĐÃ CHỜ… 

Anh biết không,
Ngoài kia mùa hạ về, đang nồng oi lắm.
Mặt trời chói chang hong cháy chiếc lá vàng.
Gió chiều bay bay ghé ngang thềm nắng hắt.
Bất chợt thấy lòng ai nhớ ai…

Anh biết không ,
Em gặp giữa hạ vàng bóng ngày xưa hai đứa.
Con phố hun hút dài thưa vắng ngựa xe.
Cây cao phượng đỏ, cây bằng lăng nở tím.
Chầm chậm thả nghiêng tình rơi xuống đời nhau.

Anh biết không,
Mùa hạ nơi xa, vạt nắng tàn nhắc hoài mùa hạ cũ.
Quán nhỏ cà phê, anh và em lặng lẽ bên nhau.
Tiếng yêu thương chân tình mà anh trao rất khẽ.
Em nghe ngoài trời mùa hạ bỗng sang thu.

 

Anh biết không,
Bốn mùa luân chuyển mang hạ xưa xa mất.
Mang đi yêu thương vừa mới bước vào tình.
Em cứ vẫn đợi mai này mùa trở bước.
Mang trả phượng hồng mùa hạ, thưở ta yêu.

 

Đoàn Tuyết Thu

 

 




tin-sach-so-10-feb-2015

tin-sach-so-10-feb-2015




16-tin-sach-dec

16-tin-sach-dec




15-tin-sach_sept-oct-2015

15-tin-sach_sept-oct-2015




14-tin-sach

14-tin-sach




13-tin-sach_may-june-2015

13-tin-sach_may-june-2015




12-tin-sach-april-2015

12-tin-sach-april-2015




11-tin-sach_pdf

11-tin-sach_pdf