Tháng 11/1963: Dòng họ Ngô Đình và Kennedy

 

Bùi Văn Phú – DCV

02/11/2017

Ông Diệm bị giết trên xe thiết giáp ngày 2/11/1963

Đúng 54 năm trước, vào ngày 1/11, Tổng thống đầu tiên của nền Cộng hòa Việt Nam là Ngô Đình Diệm đã bị một nhóm tướng lãnh, dưới sự lãnh đạo của Trung tướng Dương Văn Minh, đảo chánh.

 

Sáng ngày hôm sau, ông Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu, cũng là bào đệ, đã bị bắn và đâm chết khi hai ông đang ở trong một xe thiết giáp của quân đội.

Khi đảo chánh thành công, báo chí lúc bấy giờ dưới sự kiểm soát của Hội đồng Quân nhân Cách mạng, đã đưa tin anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm tự tử.

Sự thực là hai ông bị giết sau khi đã đầu hàng và đang được áp tải đưa về Bộ Tổng tham mưu là bản doanh của phe đảo chánh.

Tổng thống John F. Kennedy trước khi bị ám sát chết ở Dallas, Texas ngày 22/11/1963

 

Theo sử gia Richard Reeves viết trong cuốn President Kennedy, xuất bản năm 1993, tân đại sứ Hoa Kỳ là Henry Cabot Lodge biết về âm mưu giết ông Diệm và ông Nhu của phe đảo chánh và phía Mỹ đã chần chừ không muốn cho hai ông đi ra nước ngoài, vì khi được yêu cầu một tướng Mỹ nói phải mất 24 tiếng đồng hồ mới có máy bay, trong khi căn cứ không quân của Hoa Kỳ ở Philippines chỉ cách Sài Gòn chừng 3 giờ bay.

Washington có muốn giết ông Diệm và Nhu hay không và ai đã trực tiếp ra lệnh giết anh em dòng họ Ngô Đình?

 

Đại úy Nguyễn Văn Nhung, cận vệ riêng của Tướng Dương Văn Minh, là kẻ chủ mưu hay chỉ là kẻ thừa hành nhận lệnh từ cấp trên và cấp trên đó là Tướng Mai Hữu Xuân, người được Tướng Minh điều động đi đón hai ông từ nhà thờ Cha Tam, hay Đại úy Nhung trực tiếp nhận lệnh giết từ Tướng Minh?

 

Hai tháng sau khi đảo chánh thành công, Tướng Minh bị Tướng Nguyễn Khánh chỉnh lý, tức là bị đảo chánh, thì Đại úy Nhung cũng chết trong trại nhảy dù Hoàng Hoa Thám là nơi ông đang bị giam và thẩm vấn về vai trò liên quan đến cái chết của ông Diệm và Nhu. Cái chết của Đại úy Nhung nhiều người cho là bị thủ tiêu hơn là tự ý treo cổ tự tử.

Mấy tháng sau khi ông Diệm và Nhu bị giết, một người trong dòng họ Ngô Đình còn ở lại Việt Nam là Ngô Đình Cẩn, từng giữ vai trò cố vấn chỉ đạo miền Trung cho chính phủ Diệm, cũng đã bị hành quyết.

 

Sau khi đảo chính, ông Cẩn vào tòa lãnh sự Mỹ ở Huế để xin tị nạn trước sự căm hận nổi lên của dân chúng.

Ông yêu cầu được đưa ra nước ngoài, nhưng khi được đưa từ Huế vào Sài Gòn ông bị Sứ quán Mỹ giao lại cho phe đảo chánh.

Đầu năm 1964 ông bị đem ra toà và bị án tử hình. Ông bị xử bắn trong nhà giam Chí Hòa ngày 9 tháng 5-1964.

 

Năm 2000, tại một hội nghị về Việt Nam ở Đại học Texas Tech, Lubbock, khi gặp Đại tướng Nguyễn Khánh tôi có hỏi ông về bản án dành cho Ngô Đình Cẩn.

Ông cho biết lúc đó tuy ông là lãnh đạo và muốn giảm án cho ông Cẩn, nhưng quyền ân xá nằm trong tay Tướng Dương Văn Minh, vì ông là quốc trưởng. Tướng Minh đã không ân xá cho ông Cẩn.

 

Về cái chết của anh em ông Diệm, theo cựu Đại tá Dương Hiếu Nghĩa viết trong loạt bài đăng trên báo Người Việt ở Nam California, từ ngày 30/3/1996, thì Đại úy Nhung trực tiếp nhận mật lệnh giết hai ông từ riêng Tướng Dương Văn Minh. Ông Nghĩa lúc đảo chánh là thiếu tá và có đi theo đoàn xe đón anh em ông Diệm, Nhu ở nhà thờ cha Tam.

 

Đầu năm 1996, khi tham dự một hội nghị về chiến tranh Việt Nam, giai đoạn 1954-65, tổ chức tại bảo tàng của Sư đoàn 1 (The Big Red One) ở ngoại ô Chicago, trong bữa ăn sáng đầu tiên, gặp cựu giám đốc CIA William Colby tôi có hỏi ông ai đã ra lệnh giết anh em ông Diệm, ông nói đó là lệnh của Tướng Dương Văn (Big) Minh.

Colby là người ủng hộ ông Diệm trong thời gian ông làm trưởng cơ quan CIA tại Sài Gòn cho đến năm 1962.

 

Trong bài diễn thuyết tại hội nghị, ông Colby nhận định là ông Diệm không phải là người của Mỹ đưa về Việt Nam, mà thực sự là do ý muốn của người Pháp và ông Diệm đã không coi Hoa Kỳ là đồng minh thực sự muốn giúp Nam Việt Nam.

Theo ông Colby, việc không tham gia tổ chức tổng tuyển cử năm 1956 là quyết định của riêng ông Diệm chứ người Mỹ không có ảnh hưởng hay thúc ép gì

Tướng Minh tự quyết định hay nhận lệnh từ phía Mỹ để giết anh em ông Diệm thì đến nay chưa có tài liệu hay bằng chứng xác minh.

 

Các tài liệu đã được công bố cho thấy Tổng thống Kennedy đồng ý với kế hoạch đảo chánh, qua Công điện 243 gửi cho Đại sứ Henry Cabot Lodge ngày 24/8/1963, là quyết định của những nhà ngoại giao Mỹ gồm George Ball, W. Averell Harriman, Roger Hilsman và Michael V. Forrestal, phụ tá của Tổng thống Kennedy với nội dung đồng ý loại bỏ ông Nhu khỏi chính trường và nếu ông Diệm ngoan cố thì Hoa Kỳ cũng không thể bảo đảm an toàn cho bản thân ông.

Liên quan đến cuộc đảo chánh, từ nhiều thập niên qua đã có bằng chứng là Lucien Conein, nhân viên CIA làm con thoi giữa phe đảo chánh và Đại sứ Lodge, đã đưa cho các tướng đảo chánh nhiều triệu tiền Việt sau khi đảo chánh thành công.

 

Tổng thống Diệm có người anh là Giám mục Ngô Đình Thục, có em dâu là bà Ngô Đình Nhu. Nếu họ đã không rời Việt Nam trước đảo chánh, chắc cũng không thoát khỏi cái chết, vì chỉ trong vòng vài tháng ba người anh em dòng họ Ngô Đình đã bị giết chết.

Tại Hoa Kỳ, sau khi Tổng thống Kennedy bị ám sát năm 1963, đến năm 1968 thì người em là Thượng Nghị sĩ Robert Kennedy cũng bị ám sát chết khi đang vận động tranh cử tổng thống ở Los Angeles, California.

 

Cái chết của Tổng thống Kennedy đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra, từ âm mưu của Cuba, của Liên Xô, của các nhóm mafia, của tình báo CIA hay của giới lãnh đạo quân sự Mỹ muốn leo thang chiến tranh tại Việt Nam nên đã giết Kennedy.

Lee Harvey Osward, tay súng bắn chết Tổng thống Kennedy, đã hành động đơn phương hay có bàn tay nào đứng sau? Tại sao Jack Ruby, chủ một hộp đêm lại giết Osward ngay tại sở cảnh sát, trước ống kính truyền hình?

 

Tuần qua, nhiều hồ sơ liên quan đến cái chết của John F. Kennedy đã được giải mật, tuy nhiên cũng không có thêm bằng chứng mới để xác minh rõ hơn nguyên do đưa đến vụ ám sát.

Cho đến nay vẫn còn nhiều câu hỏi về việc ai đã thực sự ra lệnh giết Tổng thống Diệm, cũng như vẫn còn nhiều bí ẩn đằng sau vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy ở Dallas trưa ngày 22/11/1963, chỉ 3 tuần sau khi ông Diệm bị giết.

 

Cách đây hơn một thập niên, trong một dịp thăm Bảo tàng Tổng thống Lyndon B. Johnson ở Austin, Texas tôi thấy có một tấm hình rất lớn với ông Diệm và ông Nhu nằm chết trong vũng máu trên sàn xe thiết giáp và cạnh đó có hình Tổng thống Diệm tiếp Phó Tổng thống Johnson trong một lần ông đến thăm Sài Gòn.

 

Theo các tài liệu mới được giải mật, với cái chết của John F. Kennedy chỉ ba tuần sau khi Ngô Đình Diệm bị giết, Tổng thống Lyndon B. Johnson, người kế vị lãnh đạo Hoa Kỳ, coi đó là quả báo.

Có tin vào quả báo hay không thì những cái chết của anh em dòng họ Ngô Đình và dòng họ Kennedy đã đẩy Hoa Kỳ và Việt Nam vào một nghiệp chướng của lịch sử.

 

© 2017 Buivanphu




Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm

Thụy Khuê

Nhân Văn Giai Phẩm là phong trào đòi hỏi tự do dân chủ của văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc, có tầm vóc lớn lao, khởi xướng đầu năm 1955 và bị chính thức dập tắt vào tháng 6 năm 1958.

Từ 1959 cho đến nay, hai nguồn tư liệu tương đối đầy đủ về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) vẫn chỉ là: Cuốn Trăm hoa đua nở trên đất Bắc(THĐNTĐB) của Hoàng Văn Chí, do Mặt Trận Tự Do Văn Hoá, in ở Sài Gòn năm 1959 và cuốn Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận (BNVGPTTADL) của Nxb Sự Thật, in ở Hà Nội, cùng năm 1959.

 

Từ thập niên 90 trở đi, ở ngoài nước, có thêm một số tư liệu mới, rải rác dưới dạng tự thuật, bút ký… của những nhà văn đã tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm như Phùng Quán, Phùng Cung, Hữu Loan, Hoàng Cầm… và hồi ký Trần Dần (Văn Nghệ, Californie, 2001). Những tư liệu này góp phần làm sáng tỏ thêm về Nhân Văn Giai Phẩm, giúp các nhà nghiên cứu sau này có thể xây dựng lại bối cảnh toàn diện của phong trào tranh đấu cho tự do sáng tác độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX.

 

Ngày 13/4/1999, trong dịp nhà thơ Lê Đạt sang Pháp lần thứ nhì, chúng tôi đã đề nghị ghi âm ông, mong ông soi rõ những chỗ chưa được các tài liệu trước nói đến, hoặc nói sai. Buổi nói chuyện -được thu thanh với chủ đích giữ lại làm tài liệu văn học sử- vừa mang tính cách cá nhân, vừa có tính cách hệ thống về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Chúng tôi đã đồng ý với nhà thơ là sẽ chỉ công bố tài liệu sau khi ông qua đời, bởi lúc đó ông cho biết, ông không có ý định viết hồi ký.

 

Đầu năm 2004, nhân dịp kỷ niệm 50 năm trận Điện Biên Phủ 1954-2004, chúng tôi dự định làm một chương trình đặc biệt kỷ niệm 50 năm phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (nếu coi 1954 như thời điểm manh nha sự gặp gỡ giữa các văn nghệ sĩ chủ trương phong trào), vì vậy đã cố gắng liên lạc với nhà thơ Lê Đạt qua điện thoại viễn liên Paris-Hà Nội, nhưng không thể thực hiện một cuộc phỏng vấn mới, bởi chỉ qua vài lời đối thoại là đường dây bị nhiễu ngay. Sau nhiều tháng phân vân, cuối cùng, với sự đồng ý của nhà thơ Lê Đạt, chúng tôi quyết định phát thanh trên RFI, toàn bộ buổi nói chuyện thu thanh ngày 13/4/1999 tại Paris, do đó mà tập tài liệu văn học sử này đến với người nghe và người đọc sớm hơn dự tính.

 

Đây là lần đầu tiên, một tư liệu trực tiếp qua lời thuật của một thành viên cột trụ trong Nhân Văn Giai Phẩm được công bố. Bên cạnh nhân chứng của Lê Đạt, còn có nhân chứng của hai nhân vật chủ chốt khác trong phong trào, đó là buổi phỏng vấn ngắn nhà chính trị và văn hoá Nguyễn Hữu Đang, ghi âm qua điện thoại viễn liên Paris-Hà Nội tháng 8/1995, nhân dịp chúng tôi hỏi ông về việc ông tổ chức ngày lễ Độc Lập 2/9/1945. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng có thể ghi âm được ông Nguyễn Hữu Đang. Tất cả những cố gắng về sau đều vô hiệu: bởi chỉ nói vài câu là đường dây điện thoại bị nhiễu ngay. Những buổi nói chuyện với nhà thơ Hoàng Cầm được ghi âm tản mạn trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2000, và truyền thanh trên RFI, trong những dịp khác nhau. Các bạn sẽ lưu ý thấy sự trả lời của Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm qua điện thoại viễn liên Paris-Hà Nội, không đạt mức độ tự do triệt để như trường hợp trò truyện trực tiếp với Lê Đạt ở Paris. Nhưng tựu trung cả ba chứng nhân cùng đồng quy ở điểm nói thẳng, nói thật cho nên có những câu hỏi cùng đặt ra cho Hoàng Cầm và Lê Đạt ở những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau nhưng những câu trả lời gần như tương tự. Phần phát biểu của nhà thơ Lê Đạt, cho đến nay, là chứng từ quan trọng và đầy đủ nhất về lịch sử Nhân Văn Giai Phẩm.

 

*  *  *

Hoàng Văn Chí, tức Mạc Định, soạn giả Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (Mặt Trận Tự Do Văn Hoá xuất bản tại Sài Gòn) cho biết: “Ở Hà Nội ra đi đầu năm 1955, tôi đã hẹn với các bạn ở lại là hễ có dịp sẽ nói lên tiếng nói của họ”, “Tôi làm việc một mình”, “Tôi liên lạc được với một ủy viên trong Ủy ban kiểm soát đình chiến. Họ đi Hà Nội như đi chợ. Mỗi tuần họ cắp về Sài Gòn cho tôi tất cả báo chí xuất bản ở Hà Nội”, ” Tôi làm việc trong hai năm 56-58″. “Bộ Thông tin và nói chung, chính quyền Sài Gòn không hề giúp. Lý Trung Dung đến chào Bộ Thông tin, yêu cầu mua cho một số, nhưng chẳng mua một cuốn nào”. “Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hoá ở Việt Nam là một chi nhánh của một tổ chức quốc tế, tên là Congress for Cultural Freedom, trụ sở trung ương ở 104 boulevard Haussmann, Paris. Bác sĩ Lý Trung Dung làm chủ tịch. Tội nghiệp, chỉ vì làm chủ tịch Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hoá mà phải đi cải tạo đến nay (1986) chưa được thả”. “Trước khi đưa in, Lý Trung Dung nghe nói có người gần ông Diệm ngờ rằng tôi soạn cuốn Trăm hoa đua nở là có ý xúi dục trí thức miền Nam bắt chước trí thức miền Bắc nổi lên chống lại chế độ. Vì vậy nên Lý Trung Dung bàn với tôi nên để bút hiệu Mạc Định là soạn giả. Chỉ ký tên Hoàng Văn Chí vào bài Tựa” (Phỏng vấn cụ Hoàng Văn Chí, Từ Nguyên thực hiện, bán nguyệt san Tự Do số 50, ngày 16/11/1986, phát hành tại Bỉ).

 

Hoàng Văn Chí đã nói rõ lý do và điều kiện ra đời của tập THĐNTĐB. Nhưng tại sao Hoàng Văn Chí lại đặc biệt lưu ý đến phong trào Nhân Văn Giai Phẩm? Ai là những người “ở lại” mà Hoàng Văn Chí đã hứa sẽ nói lên tiếng nói của họ? Nếu tìm sâu hơn về liên hệ gia đình giữa Hoàng Văn Chí và Phan Khôi, có thể chúng ta thấy câu trả lời: Sở Cuồng Lê Dư có ba người con gái -và vì bà Lê Dư là em ruột Phan Khôi– cho nên ba cô này là cháu ruột Phan Khôi. Cô đầu gả cho Vũ Ngọc Phan, cô thứ nhì lấy Hoàng Văn Chí và cô út là vợ Tướng Nguyễn Sơn. Riêng nữ sĩ Hằng Phương, vợ nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, đã viết bài đả kích thậm tệ Nhân Văn Giai Phẩm. Và rất có thể, người em ruột Hằng Phương, tức bà Hoàng Văn Chí, là một trong những động cơ thúc đẩy Hoàng Văn Chí thu thập tài liệu và viết về Nhân Văn Giai Phẩm.

 

Tác phẩm của Hoàng văn Chí, cho đến nay vẫn là tác phẩm hoàn chỉnh nhất về phong trào. Phần lớn những tác nhân chính đều có mặt, với một tiểu sử khá chính xác và những bài viết tiêu biểu của họ trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm. Nhược điểm duy nhất: vì không phải là người trong cuộc, và ông đã rời miền Bắc từ đầu năm 1955, khi phong trào mới manh nha, cho nên có những điểm sai mà ngày nay qua chứng nhân của những người trong cuộc, chúng ta có thể đính chính lại được.

 

Tập tài liệu tựa đề Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận do Nxb Sự Thật (nay là Nxb Chính Trị Quốc Gia), in tháng 6, năm 1959, tại Hà Nội, là cuốn sách tập hợp những bài viết hoặc diễn văn tố cáo, lên án, buộc tội Nhân Văn Giai Phẩm. Cuốn sách có một chương nhỏ, in lại “những lời thú tội” của các thành viên Nhân Văn Giai Phẩm, còn toàn thể dành cho phía công tố “phát hiện tội”, với những lời lẽ vô cùng khiếm nhã, khó thể mường tượng được, từ miệng, hoặc từ ngòi bút của giới được gọi là “trí thức văn nghệ sĩ” đối với các đồng nghiệp và bạn hữu của mình đã tham gia Nhân Văn Giai Phẩm. Nó ghi lại một thời kỳ mà nhân cách con người đã đạt tới đáy sâu của sự tha hoá.

 

Tập tư liệu dày 370 trang này còn hữu ích về mặt lịch sử và văn học sử, nó mở ra nhiều khía cạnh của vấn đề NVGP: về tầm vóc của phong trào, về không khí đàn áp thời đó, về mức độ khốc liệt của lớp đấu tranh Thái Hà mà sau này, nhà thơ Lê Đạt sẽ mô tả một cách tường tận.

 

Những bài luận tội có tính cách hạ nhục NVGP của 83 văn nghệ sĩ, và các đoàn thể, báo chí, nhân dân cũng như các vị trong ban chấp hành trung ương Đảng, với những tên tuổi như: Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Phạm Huy Thông, Trần Hữu Tước, Đặng Thai Mai, Nguyễn Huy Tưởng, Hồng Cương, Nguyễn Văn Bổng, Hoài Thanh, Hoàng Trung Thông, Hồ Đắc Di, Vũ Đức Phúc, Quang Đạm, Bàng Sĩ Nguyên, Ngụy Như Kontum, Hằng Phương, Lương Xuân Nhị v.v… phản ảnh rất rõ nhân cách của người tố. Ví dụ cách viết của Nguyễn Huy Tưởng, Đặng Thai Mai, không giống cách viết của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Phạm Huy Thông… Cho nên, có thể nói, chính với những “văn bản tố”, các tác giả đã để lại nhân cách trí thức của mình trong ký ức dân tộc. Sau cùng nhờ cách sắp xếp thứ tự “những tên đầu sỏ” trong cuốn sách mà chúng ta biết được thứ tự “tội” nặng, “tội” nhẹ, cùng hoạt động của mỗi người.

*  *  *

Hành trình Nhân Văn Giai Phẩm

Với những tư liệu và nhân chứng hiện hành, ngày nay chúng ta có thể tóm tắt lịch trình hoạt động của phong trào NVGP như sau:

Tháng 3/1955, trong quân đội, nổi lên một phong trào tranh đấu do Trần Dần, Tử Phác chủ trương (với sự cộng tác của Lê Đạt, Hoàng Cầm và các văn nghệ sĩ khác…): Một mặt, lên tiếng phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Một mặt, đưa ra đề nghị cải cách chính sách văn nghệ trong quân đội, chủ yếu đòi trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ.

 

Tố Hữu viết:

“Cuộc tấn công vào chế độ ta và Đảng ta đã bắt đầu trên mặt trận văn nghệ từ đầu năm 1955, ngay khi hoà bình vừa lập lại.

Trong khi bọn gián điệp còn giấu mặt chờ đợi thời cơ, và bọn tờ-rốt-kít Trương Tửu, Trần Đức Thảo tích cực chuẩn bị lực lượng ở trường Đại học, thì bọn Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, hai tên phản Đảng ẩn nấp trong báo Văn Nghệ của Hội Văn Nghệ cùng bọn Trần Dần, Tử Phác cũng là những tên phản Đảng trong phòng Văn nghệ quân đội, đã kết thành một bè phái chống Đảng trong Văn nghệ.

Như lời thú nhận của Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc là do cái bè phái ấy sắp đặt, để đánh vào sự lãnh đạo và đường lối văn nghệ của Đảng, đường lối phục vụ chính trị cách mạng, phục vụ công nông binh, và để đề xướng cái “điệu tâm hồn” ruỗng nát của chủ nghĩa cá nhân tư sản, mở cửa cho lối sống tự do sa đọa.

 

Đương nhiên cái “điệu tâm hồn” ấy của Lê Đạt xướng lên không thể nào hoà được với cái điệu lớn của cách mạng, và cũng rất tự nhiên nó chỉ hoà được với “tiếng sáo tiền kiếp” lóc gân của tên mật thám Trần Duy.

Cũng lúc ấy, bọn Trần Dần , Tử Phác -những đứa con hư hỏng của Hà nội cũ- nay lại trở về với “cảnh cũ người xưa” bỗng cảm thấy đời sống trong quân đội “nghẹt thở”, chỉ vì thiếu cái tự do trở lại đời sống trụy lạc cũ. Đối với chúng, đời sống trong quân đội cách mạng chỉ còn là “những sợi dây xích trói buộc phải phá mà ra”. Được tiêm thêm ít nhiều chất phản động của Hồ Phong, Trần Dần gióng lên “tiếng trống tương lai” chửi cán bộ chính trị là “người bệnh”, “người ròi”, “người ụ”. Cùng Tử Phác, khiêu khích những anh em khác, hắn tổ chức một cuộc đấu tranh “buộc lãnh đạo thực hiện mọi yêu cầu” của họ.

 

Họ đòi thực hiện những gì? “Trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ. Thủ tiêu chế độ chính trị viên trong các đoàn văn công quân đội. Thủ tiêu mọi chế độ quân sự hiện hành trong văn nghệ quân đội. Thành lập trong quân đội một chi Hội văn nghệ trực thuộc Hội văn nghệ, không qua Cục Tuyên Huấn và Tổng Cục Chính Trị”. Tóm lại là thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và kỷ luật của quân đội đối với họ” (Tố Hữu, Nhìn lại 3 năm phá hoại của nhóm “Nhân Văn-Giai Phẩm”, BNVGPTTADL, trang 22-24). Vì vụ việc này, Trần Dần bị giam trong trại từ 13/6 đến 14/9 để kiểm thảo. Trong thời gian bị giam, Trần Dần viết trường ca Nhất định thắng mà Hoàng Cầm và Lê Đạt đều có bản thảo.

 

Cùng thời điểm đó, báo Nói Thật của Hoàng Công Khanh trích đăng bài Sự chia tay giữa văn nghệ và chính trị của Lỗ Tấn.

 

Nhưng phải đến tháng 2 năm 1956, phong trào mới chính thức công khai, với sự xuất hiện của Giai phẩm mùa xuân, do Hoàng Cầm và Lê Đạt chủ trương, đăng các tác phẩm của Trần Dần, Văn Cao, Sĩ Ngọc, Tử Phác, Phùng Quán, Nguyễn Sáng, Tô Vũ… Giai phẩm mùa xuân, ngoài bài Nhất định thắng của Trần Dần xem như cái sườn chính, còn có bài thơ Ông bình vôi của Lê Đạt, và Cái chổi quét rác rưởi của Phùng Quán. Lúc đó, Trần Dần và Tử Phác, đang tham gia cải cách ruộng đất tại Yên Viên, Bắc Ninh, và theo Hoàng Cầm thì Trần Dần không hề biết việc đăng bài thơ Nhất định thắng. Bài thơ của Trần Dần đã gây tai họa cho nhà thơ và tờ giai phẩm. Báo vừa phát hành, Lê Đạt bị gọi ngay lên Tuyên huấn để kiểm thảo. Giai phẩm mùa xuân bị tịch thu. Trần Dần và Tử Phác bị bắt. Trần Dần cứa cổ tự vận nhưng không chết[1].

 

Hồng Cương viết: “Nhân cơ hội đó, tất cả các lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội đều ngóc đầu dậy chống lại sự lãnh đạo của Đảng và chính phủ. Bọn phản động trong Công Giáo hành động phá rối trật tự ở Nghệ An, Nam Định v.v…” (sđd, trang 17).

 

Tuy vậy, nhà cầm quyền miền Bắc vẫn chưa có thái độ dứt khoát với những người làm Giai phẩm mùa xuân.

Ngày 26/5/1956, Mao Trạch Đông phát động phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng“. Ngày 28/6/1956, Ba Lan nổi dậy. Theo chính sách của Tàu, Đảng Lao động (tiền thân của đảng Cộng sản) cũng nới rộng chính sách văn hóa chính trị: Tháng 8/1956, Hội Văn Nghệ đứng ra tổ chức lớp 18 ngày, học tập dân chủ trong văn nghệ, học tập chống tệ sùng bái cá nhân (Staline) của Liên Xô. Trong lớp học này, sự phê phán chính sách văn nghệ của nhà nước khá mạnh mẽ, đặc biệt Nguyễn Hữu Đang đứng ra đọc bài tham luận “nảy lửa” chỉ trích đường lối văn nghệ của Đảng.

 

Ngày 29/8/1956, Giai Phẩm Mùa Thu (tập I) ra đời, có bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi, bài Bệnh sùng bái cá nhân trong lãnh đạo văn nghệ của Trương Tửu…

Ngày 15/9/1956, bán nguyệt san Nhân Văn số 1, do Hoàng Cầm, Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, chủ trương, với Phan Khôi chủ nhiệm và Trần Duy thư ký toà soạn, ra đời với những bài chủ chốt: Con người Trần Dần của Hoàng Cầm, bài thơ Nhân câu chuyện mấy người tự tử của Lê Đạt, và bức tranh Nguyễn Sáng vẽ Trần Dần với vết sẹo trên cổ…

30/9/1956 Nhân Văn số 2.

8/10/1956 tái bản Giai Phẩm Mùa Xuân.

15/10/1956 Nhân Văn số 3, đăng bài Nỗ lực phát triển dân chủ của Trần Đức Thảo…

 

Cuối tháng 10/1956, Giai phẩm mùa thu (tập II) ra đời, có những bài Những người khổng lồ của Trần Duy, Chống tham ô lãng phí của Phùng Quán, Cũng những thằng nịnh hót của Hữu Loan…

Đồng thời ở đại học, các giáo sư Trương Tửu, Trần Đức Thảo… huy động sinh viên cho ra tờ Đất Mới số 1, với Phùng Quán, Bùi Quang Đoài… Đất Mới ra được một số thì bị đình bản.

 

Hồng Cương viết: “Sự chống đối của chúng không còn tính chất văn nghệ nữa mà đã trở thành một cuộc chống đối vế chính trị công khai. Nhóm Giai Phẩm chống Đảng về văn nghệ đã biến thành nhóm phá hoại chính trị trắng trợn “Nhân Văn-Giai Phẩm”. (…) Từ Nhân Văn số 4 trở đi (…) thì chúng đã chuyển hẳn sang chống đối về chính trị, kích động quần chúng biểu tình chống lại Đảng và chính phủ ta nhân lúc Quốc Hội ta đang họp.” (sđd, trang 18-19).

 

05/11/1956 Nhân Văn số 4, đăng bài Thành thật đấu tranh cho tự do dân chủ của Trần Duy, Con ngựa già của chúa Trịnh của Phùng Cung…

10/11/1956 Hungary nổi dậy.

20/11/1956 Nhân Văn số 5, đăng bài Bài học về Ba-lan và Hun-ga-ri của Lê Đạt, ký tên Người Quan Sát, bên cạnh bài xã luận Hiến pháp Việt nam 1946 và Hiến pháp Trung hoa của Nguyễn Hữu Đang. Thi sĩ máy của Như Mai…

Tháng 11/1956 Giai phẩm mùa thu tập III đăng các bài Văn nghệ và chính trị của Trương Tửu, Muốn phát triển học thuật của Đào Duy Anh…

Tháng 12/1956 Giai phẩm mùa đông, đăng bài Nội dung xã hội và hình thức tự docủa Trần Đức Thảo; đăng tiếp Văn nghệ và chính trị của Trương Tửu…

09/12/1956, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bãi bỏ quyền tự do báo chí.

15/12/1956, Lệnh đóng cửa Nhân Văn, số 6 đang in, bị chận lại.

Từ 20 đến 28/2/1957, Đại hội văn nghệ lần thứ hai họp tại Hà Nội với gần 500 đại biểu, Trường Chinh kêu gọi đấu tranh “đập nát” phong trào NVGP.

 

Tuy vậy, Đảng Lao Động vẫn giữ thái độ tương đối hòa hoãn với văn nghệ sĩ, bởi vì bên Trung quốc vẫn còn đang tiếp tục phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, cho nên đến đầu tháng 4/1957 Hội Nhà Văn chính thức được thành lập (trước đây là Hội Văn Nghệ), Tô Hoài làm Tổng thư ký, kiêm giám đốc nhà xuất bản Hội Nhà Văn và một số thành viên cũ của Nhân Văn như Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh vẫn được bầu vào ban chấp hành. Ngày 10/5/1957, hội cho ra tuần báo Văn, với Nguyễn Công Hoan (chủ bút), Nguyễn Tuân (phó chủ bút), Nguyên Hồng (tổng thư ký). Ban đầu báo Văn cũng đi theo đường lối chính thống. Nhưng khi trên báo Học Tập (của đảng) Thế Toàn lên tiếng chê báo Văn “nghèo nàn”, “xa rời thực tế cách mạng”, Nguyên Hồng trả lời trên báo Văn số 15 (16/8/1957), phê bình Thế Toàn là “quan liêu”, “trịch thượng”, Văn dần dần thay đổi thái độ, chẳng bao lâu một số cây bút cũ trong NVGP lại thấy xuất hiện trên báo Văn. Văn số 21(27/9/1957) đăng bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán, số 24(18/10/57), đăng kịch thơ Tiếng hát của Hoàng Cầm, số 28 (15/11/1957), đăng bài Hãy đi mãi của Trần Dần. Số 30 (29/11/1957) in hý hoạ của Trần Duy chế giễu chế độ văn nghệ của Đảng.

 

Cuối năm 1957, Mao Trạch Đông hạ lệnh đánh phái hữu. Theo Hoàng Cầm: Huy Cận và một người nữa được cử đi học tập ở Trung Quốc trở về: Đảng liền thay đổi đường lối, chủ trương đàn áp mạnh hơn. Tờ Văn ngừng ở số 36(10/1/1958), có đăng bài Ông Năm Chuột của Phan Khôi.

 

Để “trừ khử nọc độc Nhân Văn”, Đảng tổ chức hai lớp học tập đấu tranh chống “bọn NVGP” ở Thái Hà Ấp, mà tài liệu chính thức gọi là hai cuộc “hội nghị”:

“Đầu năm 1958, có hai cuộc hội nghị của anh chị em công tác văn nghệ, nghiên cứu nghị quyết của Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, kết hợp với hai bản Tuyên Ngôn và Tuyên Bố của hội nghị các Đảng Cộng Sản và các Đảng Công Nhân họp ở Mạc Tư Khoa cuối năm 1957. Hội nghị đầu, tháng 2 năm 1958, gồm 172 người dự. Hội nghị sau, tháng 3 năm 1958, gồm 304 người dự.

Qua hai cuộc hội nghị ấy, tất cả những “nhân vật” bỉ ổi đã được phát hiện (…) Cái ổ chuột “Nhân Văn- Giai Phẩm” bị vạch trần trước ánh sáng của dư luận.

 

Qua sự phát hiện của hai cuộc hội nghị nói trên, chúng ta được biết nhóm phá hoại “Nhân Văn Giai Phẩm” bao gồm những tên đầu sỏ, những “cây bút” đã viết “hoặc nhiều hoặc ít” cho “Nhân Văn Giai Phẩm” như:

Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Trần Duy, Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm, Sĩ Ngọc, Chu Ngọc, Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Phùng Quán, Hoàng Tích Linh, Trần Công, Trần Thịnh, Phan Vũ, Hoàng Huê, Huy Phương, Vĩnh Mai, Như Mai tức Châm Văn Biếm, Hữu Thung, Nguyễn Khắc Dực, Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Yến, Thanh Bình, Yến Lan, Nguyễn Thành Long, Trần Lê Văn, Lê Đại Thanh v.v…

 

Nhưng đó không phải là tất cả (còn những tên chưa ra mặt). Và cũng không phải tất cả những “cây bút” trên đây đều có những hành động phá hoại giống nhau, hoặc phá hoại với những mức độ giống nhau. Có bọn đầu sỏ, có bọn phụ hoạ…” (sđd, trang 309-310).

Những tên tuổi trên đây có lẽ đã không xếp đặt một cách tình cờ mà theo một trật tự “tội” nặng, nhẹ, đã được thẩm định từ trước.

Theo Lê Đạt, thực chất hội nghị đầu là dành cho 172 đảng viên, đi để học tập cách “phát hiện” và tố giác, để chuẩn bị cho hội nghị sau (gồm 304 người, cả đảng viên lẫn quần chúng và những người ngoài đảng tham gia NVGP), dốc toàn lực đấu tranh chống NVGP.

 

“Trận chiến đấu chống bọn phá hoại NVGP” đã kết thúc bằng hội nghị của ban chấp hành hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam, họp lần thứ ba tại Hà Nội ngày 4/6/1958 với bài báo cáo tổng kết của Tố Hữu, và Nghị quyết của của ban chấp hành hội Liên Hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam lên án “bọn” NVGP. Ngày 5/6/1958, tại Hà Nội, hơn 800 văn nghệ sĩ thảo bàn nghị quyết gọi là “Nghị quyết của 800 văn nghệ sĩ” phụ hoạ với nghị quyết của Hội Liên Hiệp. Sau đó trong tuần lễ từ 21/6 đến 3/7/1958, các ban chấp hành Hội Nhạc Sĩ, Hội Mỹ Thuật, Hội Nhà Văn, lần lượt thi hành các biện pháp kỷ luật đối với các thành viên của Hội đã tham gia NVGP:

Hội Nhà Văn khai trừ Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh ra khỏi ban chấp hành.

Hội Mỹ Thuật, cảnh cáo Sĩ Ngọc, “chấp nhận cho Sĩ Ngọc và Nguyễn Sáng rút khỏi ban chấp hành”.

Hội Nhạc Sĩ “chấp nhận cho Văn Cao, Nguyễn Văn Tý rút khỏi ban chấp hành”.

 

Cả ba hội quyết định:

– Khai trừ Phan Khôi, Trương Tửu, Thụy An ra khỏi Hội Nhà Văn, Trần Duy ra khỏi Hội Mỹ Thuật.

– Khai trừ trong thời hạn một năm Hoàng Cầm và Phùng Quán ra khỏi hội nhà văn. Khai trừ ba năm Trần Dần, Lê Đạt ra khỏi Hội Nhà văn, ba năm Tử Phác và Đặng Đình Hưng ra khỏi Hội Nhạc sĩ. Và cảnh cáo một số hội viên khác đã tích cực hoạt động trong nhóm NVGP.

 

Đó mới chỉ là biện pháp kỷ luật của các hội văn nghệ đối với các thành viên của hội. Ngoài ra, người ta cũng chỉ biết sơ lược một số dữ kiện khác, như Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, Phùng Cung (bị bắt tháng 5/61)… bị kết án từ 12 đến 15 năm tù. Các giáo sư đại học như Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh… bị cách chức và bị quản thúc. Còn những biện pháp trừng phạt đối với toàn bộ văn nghệ sĩ, trí thức, sinh viên và quần chúng đã ít nhiều tham gia, đã đọc, đã mua báo, hoặc đã ủng hộ phong trào NVGP, thì hiện nay chưa có một ước lượng nào gần với sự thật.

 

Mục đích hoạt động của phong trào

Theo lời buộc tội của Tố Hữu, công tác được “phân phối” như sau:

– Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm hoạt động ở Hội Nhà Văn.

– Trần Duy, Sĩ Ngọc, Nguyễn Sáng ở Hội Mỹ Thuật.

– Chu Ngọc, Hoàng Tích Linh ở Hội Nghệ Sĩ Sân Khấu

– Tử Phác, Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Đặng Đình Hưng ở hội Âm Nhạc.

Tố Hữu cho rằng: Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, là những “nhà tư tưởng của phong trào”. Thụy An, Nguyễn Hữu Đang liên lạc, huy động và khuyến khích anh em. Trần Thiếu Bảo (chủ nhà in Minh Đức) in các Giai phẩm, giúp đỡ tiền bạc và phương tiện để phát hành báo Nhân Văn. Nhà in Minh Đức còn là trụ sở của các cuộc họp báo Nhân Văn và Đất Mới.

 

Theo lời buộc tội của Nguyễn Đình Thi, thì chủ trương của NVGP dựa trên 6 điểm:

  1. Cho chủ nghĩa Cộng Sản là không nhân văn, là chà đạp con người. Coi những người cộng sản là chà đạp con người. Coi những người cộng sản là những người khổng lồ không tim (Trần Duy). Văn học xã hội chủ nghĩa là công thức, giả tạo, đẻ ra những thi sĩ máy (Như Mai). Đòi quyền tự do cá nhân, tự do sống đời sống tình cảm riêng tư cuả mỗi con người: “Đem bục công an máy móc đặt giữa tim người. Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước” (Lê Đạt).

 

  1. Phản đối chuyên chính, đòi dân chủ, tự do trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá. Đả kích mậu dịch, quản lý hộ khẩu, các bộ máy nhà nước. Đòi tự do đối lập.

 

  1. Chống sùng bái cá nhân. Cho sự lãnh đạo của Đảng là Đảng trị, là độc đoán, mâu thuẫn với quyền lợi căn bản của con người. Bài Ông bình vôi của Lê Đạt có những câu:

“Những kiếp người sống lâu trăm tuổi

Y như một cái bình vôi

Càng sống càng tồi

Càng sống càng bé lại.”

 

  1. Đề cao chủ nghĩa quốc gia, tư sản, đả kích Liên xô, cho sự giáo dục con người ở Liên xô là rập khuôn, văn học nghệ thuật Liên xô là công thức.

 

  1. Chống chính sách cải cách ruộng đất.

(Xin mở ngoặc: Ngày 30/10/1956, trước Mặt Trận Tổ Quốc Hà Nội, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc bài diễn văn quan trọng tựa đề “Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo”, nội dung phân tích những sai lầm của chế độ, đi từ sai lầm cải cách ruộng đất ở thôn quê, sang sai lầm trong chế độ mậu dịch ở thị thành, đến chính sách kinh tế mang tính cách bóc lột. Ông truy nguyên nguồn gốc những sai lầm và trình bày những nguyên tắc mới để sửa sang lại guồng máy luật pháp, chính trị, văn học, kinh tế).

  1. Về văn nghệ, chủ trương phát triển “Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng”. Chối bỏ sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao khẩu hiệu “Trả lại văn nghệ cho văn nghệ sĩ”.

 

(6 điểm kê khai theo bài tố cáo của Nguyễn Đình Thi, sđd, trang 114).

Những nguy cơ xụp đổ chế độ cũng được bàn đến, Hồng Cương viết:

 

“Hạ được tập thơ Việt Bắc và hạ được Tố Hữu xuống là hạ được cả giá trị văn nghệ kháng chiến xuống và hạ được sự lãnh đạo văn nghệ của Đảng và Chính phủ xuống. (…) Chúng vu khống chế độ ta là cộng sản thời trung cổ (communisme du moyen âge), là cộng sản phong kiến (communisme féodal), chế độ ta là cộng sản suy đồi (dégénérescence du communisme), chúng xuyên tạc và nguyền rủa chỉnh huấn của ta là đồi trụy tinh thần (avilissement de l’esprit), là nô dịch hoá tư tưởng (esclavage de la pensée). Chúng chế giễu chính sách đãi ngộ của ta là “bổng lộc” vua ban, huân chương của ta là “mề đay” của đế quốc. Không khác gì Phan Khôi đã ví chế độ ta với một triều đại phong kiến nào đó.” (Hồng Cương, sđd, trang 128, 129).

 

Chính Hữu trong bài tố cáo Lê Đạt, nói đến cái họa Nhân Văn số 5: “… Lê Đạt đã viết “Bài học về Ba-lan và Hung-ga -ri” trong Nhân Văn số 5, ký tên “Người quan sát” đăng ngay bên cạnh bài xã luận kích động quần chúng của Nguyễn Hữu Đang “Hiến Pháp Việt Nam 1946 và Hiến pháp Trung Hoa”, trong đó có những đoạn nói đến quyền công dân được tổ chức biểu tình tuần hành thị uy. Bài của Lê Đạt đưa ra những nhận định nguy hiểm cho tình hình nước ta lúc đó: “… Nhưng tốc độ và mức độ sửa chữa không kịp với đòi hỏi của tình thế và yêu cầu của quần chúng nên càng thúc đẩy sự công phẫn và phong trào đấu tranh tự phát của quần chúng…” Hai bài báo đó là những lời kêu gọi làm loạn. Đạt và nhóm Nhân Văn đã hỗn xược buộc Đảng và chính quyền ta phải chọn lấy một trong hai con đường: hoặc “lập tức” mở rộng tự do dân chủ, để cho chúng và bọn thù địch khác phá hoại, và cải thiện “ngay” sinh hoạt cho nhân dân, nếu không quần chúng sẽ biểu tình.” (Chính Hữu, sđd, trang 130, 131).

*  *  *

Những người xây dựng nên phong trào

Nhiều người đã khuất, thế hệ trẻ ngày nay ít ai biết rõ về con người, về những hoạt động của họ. Những nhà văn mà Hoàng Văn Chí ghi lại tiểu sử và tác phẩm trong cuốn THĐNTĐB, được nhiều người biết đến hơn. Qua những bài buộc tội trong tập tài liệu BNVGPTTADL, chúng ta cũng có thể biết thêm được về tư tưởng và hành động của mỗi cá nhân và “tội trạng” nặng nhẹ của mỗi người.

Thụy An là người phụ nữ duy nhất -ở trong hay ở ngoài phong trào- bị kết án là “gián điệp”. Bà là một trường hợp đặc biệt, theo Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang, bà không ở trong NVGP, vậy mà tên bà được nêu lên hàng đầu trong “hàng ngũ phản động” với nhãn hiệu “Con phù thuỷ xảo quyệt” và những lời lẽ độc địa nhất dành cho bà: “Như vắt ngửi thấy máu, Thụy An như rắn bò tới các câu lạc bộ Hội Nhà văn phun nọc độc mạt sát chế độ ta bần cùng hoá nhân dân” (Bàng Sĩ Nguyên, sđd, trang 120).

Vụ án Thụy An có phải là một vụ án chính trị? Hay là một sự quy kết oan uổng? Lê Đạt sẽ soi tỏ một số nghi vấn chung quanh sự kiện này.

 

Trước hết Thụy An là ai? Thụy An hay Thụy An Hoàng Dân tên thật là Lưu Thị Yến. Cho đến nay chúng ta chỉ biết sơ về bà qua những gì Vũ Ngọc Phan đề cập đến trong Nhà văn hiện đại : Là một nhà thơ, nhưng bà là người đi tiên phong trong địa hạt tiểu thuyết với cuốn Một linh hồn (1943). Nhà phê bình họ Vũ nhận định: “Một linh hồn cũng đáng kể là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của phụ nữ Việt Nam từ trước đến nay, tác giả đã giàu tưởng tượng, truyện lại xây dựng một cách vững vàng, chắc chắn”. Bà đã từng làm chủ nhiệm những tờ Đàn Bà Mới (Sài Gòn), Phụ Nữ Tân Văn (Sài Gòn), và Đàn Bà (Hà Nội). Là phóng viên chiến tranh, bà đã tham dự nhiều cuộc nhảy dù ra mặt trận để cung cấp tài liệu cho báo chí. Bà đã từng giữ chức giám đốc Việt Tấn Xã.

 

Mới đây chúng tôi liên lạc với nhà văn kiêm nhà báo Bùi Thụy Băng, con trai thứ nhì của Thụy An, hiện làm chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Atlanta Việt báo, ông vừa hoàn tất tập tài liệu “Thụy An, 1945, 1954, 1975”. Tập tài liệu đồ sộ này sẽ được đăng dần trên Atlanta Việt báo và trên mạng Intrenet. Qua Bùi Thụy Băng, chúng tôi được biết thêm những chi tiết sau đây: Lưu Thị Yến sinh năm 1916 tại Hà Nội, là con ông bà Lưu Tiến Ích và Phùng Thị Tôn, quê gốc làng Hoà Xá, quận Vân Đình, tỉnh Hà Đông. Thủa nhỏ học trường Hàng Cót, Hà Nội. Năm 1929, 13 tuổi, Yến đã được đăng thơ trên tờ Nam Phong. 16 tuổi được giải thưởng văn chương của Triều đình Huế. Vào khoảng 1930-32, cô Yến được cha mẹ cho học tư thêm với một ông thầy người Quảng Bình. (Trong điện thư ngày 15/9/2004, ông Bùi Thụy Băng cho biết: “Người thày giáo đề cập ở đây là Tướng Võ nguyên Giáp. Năm 1930, ông ngoại của tôi đã mướn người thầy giáo sử địa Võ Nguyên Giáp về nhà kèm má tôi học. Năm 1933, má tôi theo thầy vô Nam – có thể để đi sang Trung hoa. Nhưng má tôi lại gặp ba tôi ở Sài Gòn và hai người lấy nhau”). Và trong bài tiểu sử Thụy An, Bùi Thụy Băng viết:

 

“Ông thầy giáo trẻ ấy đã bị trò Yến cùng các bạn trêu chọc là “Anh đồ Nghệ”. Hơn thế, Yến còn làm thơ nhạo báng dí dỏm:

…Khéo ghét anh đồ xứ Nghệ

Hơn mình mấy tí tuổi đầu (trích “Sao lại mùa thu ” của Thụy An) (…)

Hơn thế nữa, chính người thầy giáo trẻ ấy lại là một chiến sĩ hoạt động trong bóng tối. Chúng ta hãy lắng nghe lời thơ giới thiệu của Thụy An về người anh hùng đó:

 

… Hung hãn vọng vào tiếng bể

Hờn căm rít ngọn gió Lào

Anh mang trùng dương giận dữ

Anh mang hoang dại khô khan.

và như:

Mắt anh hừng trí bốn phương

Tay run nắm hồn dân tộc

Tóc xòa vương hận núi sông

Môi bậm tay tai nghe rên xiết

Áo cơm dọa dưới cùm gông!…

Thật sự, Thụy An đã hấp thụ tư tưởng cách mạng qua Thầy đồ Nghệ

… Rồi anh bắt đầu dẫn dắt

Dạy em khui lửa bất bình

Oán hận réo sôi lòng đất

Công lý tù đầy uất uất

Miếng cơm nghẹn họng nhân sinh… (Sao lại mùa thu)”.

(Trích tiểu sử Thụy An, do Thụy Băng viết).

 

Người chồng của Thụy An là giáo sư Bùi Nhung, em ruột ông Bùi Kỷ và bà Trần Trọng Kim. Bùi Nhung có bút hiệu là Băng Dương. Thụy An sinh được 6 người con: An Dương (1934), Thụy Băng (1937), Thư Linh (38), Dương Chi (39), Ngọc Trinh (43) và Châu Công (45). Ông Bùi Nhung hai lần làm giám đốc đài phát thanh Hà Nội từ 48-49, và 51-52; rồi giám đốc đài phát thanh Hải Phòng năm 1954. Thụy An – Băng Dương sống ly thân từ 1949, nhưng không ly dị vì cả hai đều theo đạo công giáo. Người ta cũng nói đến quan hệ giữa bà và ông Đỗ Đình Đạo, một nhân vật quan trọng của Việt Nam Quốc Dân Đảng cùng cái chết có nhiều nghi vấn của ông Đỗ Đình Đạo.

 

Trong thời kỳ NVGP, Phan Khôi nhận Thụy An là con nuôi. Theo cả hai bên nhân chứng, buộc tội cũng như bênh vực, thì bà thường xuyên ra vào các hội văn nghệ, bà đã có ảnh hưởng không nhỏ đối với một số văn nghệ sĩ tham gia NVGP. Bà liên lạc, nâng đỡ tinh thần, tích cực giúp đỡ anh em Nhân Văn, đặc biệt gia đình Lê Đạt. Theo Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang thì Thụy An không viết gì cho báo Nhân Văn. Nhưng có thể Thụy An viết cho báo khác, vì Vũ Đức Phúc trong bài tố cáo, có nói đến “những nhân vật như một anh nghiện hút, ăn cắp (trong “Ông Năm Chuột” của Phan Khôi), một con đĩ, một tên ăn cướp (trong “Bích-xu-ra” của Thụy An), một tên việt gian cao cấp, một tên sĩ quan trong quân đội địch trung thành với đế quốc (trong “Trường hợp tòng quân của thiếu uý Lâm” cũng của Thụy An), lại trở thành những người đáng thương, đáng yêu, những người yêu nước đáng học tập” (BNVGPTTADL, trang 118).

 

Trả lời câu hỏi: Thụy An bị bắt ở đâu? Bùi Thụy Băng, trong cuộc nói chuyện điện thoại với chúng tôi, ngày 16/12/2004, cho biết: “Tôi nghe nói bà cụ tôi bị bắt ở Hoà Xá. Nhưng theo lời ông cụ tôi thì bị bắt ở Phủ Lý. Tại sao lại như vậy? Bởi vì khi thấy lâm nguy, biết mình bị theo dõi, Thụy An thường di chuyển giữa Hà Nam-Phủ Lý (quê chồng) và Hoà Xá-Vân Đình (quê mình) để trốn tránh”.

 

Thụy An bị giam tại Hoả Lò Hà Nội từ tháng 3/1957 đến đầu năm 1960, bà bị đưa ra tòa, rồi sau đó bị  chuyển đi trại giam khác. Vào Hoả Lò chưa được 3 tháng bà đã tự chọc mù một mắt. Con người đã viết những câu thơ “Tay run nắm hồn dân tộc, tóc xòa vương hận núi sông” lại một lần nữa ký tên dưới hành động của mình: lần này dưới những chữ đòi tự do, dân chủ cho dân tộc vừa lấy lại được quyền tự chủ.

 

Việc bà chọc mắt, được nhiều người thân xác nhận, trong đó có Lê Đạt. Bùi Thụy Băng cho biết: “Trong số những bài viết về bà cụ tôi, có bài của Trần Minh, tựa đề “Nhân văn giai phẩm, một tư trào, một tội ác” đăng trong Giai phẩm (Việt Báo) xuân Tân Tỵ 2001, là chính xác nhất. Với những chi tiết mà chính tôi trước đây cũng không biết: Vào Hoả Lò chưa được 3 tháng thì bà cụ tôi chọc mắt. Lý do là bởi phải ra toà án nhân dân, đứng trước lá cờ đỏ sao vàng, người ta bắt bà cụ tôi phải cúi xuống, nhưng bà cụ không cúi. Vào nhà giam, không có bút viết, thì bà cụ tôi lấy cái đinh guốc, viết lên tường lời phản kháng chọc mù mắt để không phải nhìn thấy chế độ này nữa. Sau này có một người cũng bị giam tại căn phòng đó, đọc được và ghi lại, một vài nhà văn có chép lại câu này trên sách báo”.

 

Ngày 21/1/1960 bà bị đưa ra toà cùng với Nguyễn Hữu Đang và bị kết án 15 năm tù. Tháng 10/1974 Thụy An được thả theo  diện “Đại xá chính trị phạm trong hiệp định Paris”, cùng diện với Nguyễn Hữu Đang. Được trả về quản thúc ở nguyên quán làng Hoà Xá, trên xe tù bước xuống, Thụy An bị ném đá. Năm 1976, nhờ em trai, là Lưu Duy Trác xin cho vào Nam đoàn tụ với gia đình, bà được vào sống với mẹ tại Gia Định.

 

Về biệt hiệu Thụy An Hoàng Dân, Bùi Thụy Băng giải thích: Phan Khôi và Thụy An là hai người bạn vong niên từ lâu, Thụy An kém Phan Khôi khoảng gần 30 tuổi. Biệt hiệu Chương Dân của Phan Khôi và Hoàng Dân của Thụy An, là cùng để tưởng niệm đến một người anh hùng, có tên là Chương Hoàng Dân hay Hoàng Chương Dân.

 

Trong “sổ đoạn trường”, Nguyễn Hữu Đang, đứng thứ nhì sau Thụy An. Ông sinh ở Thái Bình, sớm tham gia các phong trào ái quốc. Trước 1942, ông hoạt động trong phong trào Truyền Bá Quốc Ngữ. Năm 1942, khi ảnh hưởng Việt Minh lên cao, ông tham gia Văn Hóa Cứu Quốc. Từ 1954, Nguyễn Hữu Đang liên lạc mật thiết với Trần Thiếu Bảo (sau này là chủ Nxb Minh Đức). Trong thời kỳ toàn quốc kháng chiến, ông đứng ra tổ chức Thanh Niên Xung Phong và sau đó làm Thanh tra Bình dân học vụ. Năm 1947, Nguyễn Hữu Đang chính thức vào Đảng. Nhưng vài năm sau, ông bắt đầu chán nản, tự ý bỏ cơ quan. Năm 1951, ông ly khai Đảng, và từ đó, khi ở Cầu Bố, khi ở Hậu Hiền, ông lên tiếng đả kích đảng, chống đối cách mạng. Vai trò của Nguyễn Hữu Đang trong tờ Nhân Văn sẽ được xác nhận rõ ràng qua lời tường thuật của Lê Đạt. Theo lời buộc tội của Mạnh Phú Tư thì “Nguyễn Hữu Đang là linh hồn của tờ Nhân Văn, Đang tìm kiếm, kiếm giấy, thu xếp việc ấn loát và viết bài, nhưng lại ký tên người khác, che lấp những nguồn tài chính, những người cung cấp phương tiện bằng hình thức nêu danh những người góp tiền in báo có một nhân lên gấp mười”. (Mạnh Phú Tư, sđd, trang 50). Lê Đạt sẽ trở lại những thông tin này, với cái nhìn của người trong cuộc. Trong bản tự kiểm thảo, Trần Dần cũng đã xác định: “Nếu không có Đang, không ai có thể tập hợp anh em được. Sẽ không có tham luận với những đề nghị: gặp Trung ương, ra báo… mà cũng sẽ không có tờ Nhân Văn”.

 

Theo Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang bị bắt trong lúc đang xẩy ra lớp đấu tranh Thái Hà, trên đường tìm cách vào Nam.

Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, ba nhà thơ cùng nhạc sĩ Tử Phác, là những người dấy lên phong trào. Tuy vậy Hoàng Cầm dường như vẫn được nhà cầm quyền xử nương nhẹ hơn; vì Hoàng Cầm nổi tiếng từ trước kháng chiến? vì Hoàng cầm là tác giả những bài thơ hào hùng trong kháng chiến? hay vì Hoàng Cầm có thái độ cam chịu hơn? Do đó Trần Dần, Lê Đạt trở thành hai khuôn mặt nhà thơ “phản động nhất nước”.

 

Hoàng Cầm sinh năm 1921 tại làng Lạc Thổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hải Dương. Trước kháng chiến ông đã nổi tiếng với ba vở kịch thơ Viễn khách, Kiều LoanLên đường. Trong kháng chiến, thơ Hoàng Cầm càng nổi bật với các bài Đêm liên hoan, Tâm sự đêm giao thừa, và trường ca Bên kia sông Đuống. Thời kỳ NVGP, Hoàng Cầm là người đầu tiên xin ra khỏi quân đội, cùng với Lê Đạt xây dựng nên các tờ Giai Phẩm và Nhân Văn. Hoàng Cầm giữ vai trò liên lạc và cổ động các văn nghệ sĩ, thúc giục Văn Cao làm thơ cho Giai Phẩm, ông đem bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần ra in v.v… Những sáng tác của ông trong thời kỳ này không nhiều, được ghi lại có bài thơ “Em bé lên 6 tuổi” viết về hoàn cảnh đau thương của một em bé con địa chủ, bố bị đấu tố, mẹ bỏ đi Nam:

“Chị Đội bỗng lùi lại

nhìn đứa bé mồ côi,

cố tìm vết thù địch,

chỉ thấy một con người”.

 

Và vở kịch thơ Tiếng hát, mượn hình ảnh tiếng hát để nói về nghệ thuật và tự do, để xác định “không thể cưỡng bức được nghệ thuật”. Bài viết có tính cách tiêu biểu của Hoàng Cầm trong giai đoạn này là bài Con người Trần Dần, in trong Nhân Văn số 1, biện hộ cho Trần Dần. Nhưng tác phẩm chủ yếu của ông là Về Kinh Bắc, viết sau Nhân Văn, trong thời gian 57-58, phản ảnh ý chí quật cường của nhà thơ trước cơn bão tố dập vùi.

 

Trần Dần là một trường hợp đặc biệt bất phục tòng và đã chịu sự trù dập nặng nề. Hăng say tham gia kháng chiến, thời kỳ Điện Biên Phủ, ông viết Người người lớp lớp. Yêu người con gái ở phố Sinh Từ, gia đình đã di cư vào Nam, bất chấp sự ngăn cấm của đảng, Trần Dần vẫn kết hôn với người yêu. Những câu thơ “Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa, trên màu cờ đỏ” đã trở thành biểu tượng của một thời.

 

Bị bắt. Cứa cổ. Trần Dần biểu dương bi kịch NVGP. Mấy tháng sau, Đảng phát động “Trăm hoa đua nở”: trên Giai phẩm mùa thu tập I, Phan Khôi viết bài Phê bình lãnh đạo Văn nghệ, bênh vực Trần Dần, và bài Ông bình vôi bênh vực Lê Đạt. Trên Nhân Văn số 1, Hoàng Cầm viết bài Con người Trần Dần, và Nguyễn Sáng vẽ chân dung Trần Dần với vết sẹo trên cổ. Đảng phải xét lại trường hợp Trần Dần: Trần Dần được thả và ngày 2/10/56 Hội Văn Nghệ phải viết bài tự kiểm thảo đăng trên các báo. Đến cuối năm 1957, báo Văn in bài Hãy đi mãi của Trần Dần, tính cách tranh đấu vẫn còn quyết liệt:

“Tôi có thể mặc thây ngàn tiếng chửi tục tằn

Trừ tiếng chửi sống không sáng tạo”.

 

Trong bài tự kiểm thảo, Trần Dần viết: “Những sáng tác của tôi đều là cái loại đả kích vào các chính sách của Đảng cả. Nếu đọc cả một đống như thế, người ta sẽ cảm thấy sự lãnh đạo của Đảng là một sự ngột ngạt không thể nào sống nổi”. “Người sáng tác phải có quyền và có gan như người viết sử thời xưa, vua chém đi 6 người, đến người thứ 7 vẫn chép sử đúng như sự thật, vua đành chịu vậy”, (trích Những lời “thú tội” của Trần Dần, sđd, trang 312).

 

Lê Đạt là người duy nhất, từ trong nội bộ của đảng đứng lên đòi hỏi tự do dân chủ. Là một cán bộ hoạt động ở ngành Tuyên huấn, Lê Đạt được xếp vào loại “đầu sỏ”, “nguy hiểm” như Nguyễn Hữu Đang.

 

Theo lời tố của Xuân Diệu: “Đã rõ rệt như ban ngày, tập Giai phẩm mùa xuân 1956 phất lá cờ đầu tiên chống Đảng, chống chế độ, và Lê Đạt là nhà lý luận trong đó. Lê Đạt mở đầu Giai phẩm với cái tuyên ngôn: “Trích thơ gửi người yêu” (…) và bài thơ tuyên ngôn thứ hai “Mới” đăng trong Giai phẩm (…) Lê Đạt đưa ra cái tà thuyết rạch đôi các sự vật làm hai: hễ cái gì mới là cách mạng, hễ cái gì cũ là đeo kính vào viện hàn lâm, là mệt mỏi, lối mòn, vết già nua, lề đường han rỉ..(…) Lê Đạt là một người chủ chốt của báo Nhân Văn, tham mưu cho cả tờ báo, tự tay sửa chữa nhiều bài đả kích chế độ ta rất cay độc (…) Đứng lên lập nhóm Giai phẩm mùa xuân. Cùng với Nguyễn Hữu Đang làm bộ óc của báo Nhân Văn, đứng làm “nhà lý luận” của bọn chống Chế độ (…) Sau khi báo Nhân Văn bị cấm, Lê Đạt liên lạc cấu kết với Thụy An, Lê Đạt đóng vai trò quan trọng trong việc lũng đoạn Hội Nhà Văn, Lê Đạt tích cực dùng ngòi bút viết lối văn hai mặt; Lê Đạt luôn luôn giữ một cương vị đứng chủ trường phái; mãi đến trong lớp học văn nghệ lần thứ hai (tháng 3 và 4/1958) vẫn còn tìm cách quay quắt. Cho nên, xét Lê Đạt, ta phải nhìn thấy cho hết, rằng Lê Đạt chống đối ta, phá hoại ta từ trong bản chất giai cấp thù địch” (trích bài Những biến hoá của chủ nghĩa cá nhân trong thơ Lê Đạt, trong tập Dao có mài mới sắc của Xuân Diệu, 1963, các trang 86, 87, 89 và 95).

 

Chính Lê Đạt cũng xác nhận vai trò của mình trong bài tự kiểm thảo: “Tôi tham gia Nhân Văn với ý thức là người lãnh đạo lý luận của tờ báo vì tôi cho tôi vững vàng hơn Nguyễn Hữu Đang. Ban biên tập lúc đó gồm có 4 người: Nguyễn Hữu Đang, Trần Duy, Hoàng Cầm và tôi. Để tấn công quan điểm vô sản chuyên chính của Đảng, tôi vận động Thanh Châu viết bài Mậu Dịch, tôi góp ý, vẽ tranh một người đẽo chân cho vừa giày mậu dịch. (…) Nhân Văn bị đóng cửa nhưng tư tưởng Nhân Văn, tư tưởng chống đối vẫn chưa hết. Sau một thời gian các báo ngớt đánh, tình hình trở lại bình thường, chúng tôi lại vẫn gặp nhau đả kích Đảng, cho là độc đoán”. (trích Những lời “tự thú” của Lê Đạt, sđd, trang 318, 319).

 

Thơ Lê Đạt trong thời kỳ NVGP, có những câu đã in sâu vào ký ức dân tộc:

Đem bục công an đặt giữa trái tim người

Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước

Có những lời lẽ tiên tri:

Lịch sử muôn đời duyệt lại

Không ai lừa được cuộc đời

 

Trần Thiếu Bảo, chủ trương Nxb Minh Đức, trách nhiệm ấn loát và phát hành những tờ Nhân Văn, Giai Phẩm, Đất Mới, quê quán ở Thái Bình. Ông mở hiệu sách Minh Đức (sau trở thành nhà xuất bản) ở Thái Bình, đến 1954, rời về phố Phan Bội Châu, Hà Nội. Trần Thiếu Bảo không theo cách mạng ngay từ đầu và có tiếng là Mạnh Thường Quân đối với văn nghệ sĩ. Cùng với Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, tổ chức lễ kỷ niệm Vũ Trọng Phụng (thời ấy, Vũ Trọng Phụng còn bị liệt vào thành phần phản động). Theo lời buộc tội, Nxb Minh Đức đã “lợi dụng chuyện khai thác vốn cổ” để tái bản những sách “có hại” của Tự Lực Văn Đoàn như Tiêu sơn tráng sĩ v.v… Nxb Minh Đức cũng là trụ sở các cuộc họp báo Nhân Văn.

 

Trương Tửu-Nguyễn Bách Khoa, là nhà phê bình, nhà văn, giáo sư đại học và lý thuyết gia. Ông bước vào làng văn với loạt bài phê bình những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn trên báo Loa, Hà Nội, năm 1935. Là nhà phê bình đầu tiên sử dụng phương pháp phê bình Mác xít một cách có hệ thống và có tính sáng tạo, đặc biệt trong những tác phẩm như: Nguyễn Du và truyện Kiều (Hàn Thuyên, 1942), Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (Hàn Thuyên 1944), Kinh thi Việt Nam, (Hàn Thuyên 1950)… Ông còn là tác giả những tập tiểu thuyết tranh đấu và xã hội. Khi Mặt trận Dân Chủ của Việt Minh bắt đầu hoạt động, Trương Tửu viết bài đả kích Mặt Trận Dân Chủ trên các báo Quốc Gia và Thời Thế. Trương Tửu tuyên bố: “Văn nghệ không làm chính trị để giữ sự độc lập của trí thức”. Cùng với Nguyễn Đức Quỳnh, ông thành lập nhóm Hàn Thuyên theo khuynh hướng Cộng Sản Đệ Tứ, in sách của Lương Đức Thiệp, Thái Văn Tam, Nguyễn Tế Mỹ, Nguyễn Hải Âu, Hồ Hữu Tường và Nguyễn Bách Khoa (tức Trương Tửu). Năm 1945 , Hồ Hữu Tường ra Bắc gặp Trương Tửu, thành lập Ủy Ban Văn Hoá Bắc Bộ. Ngày 10/9/1945, Trương Tửu cho xuất bản cuốn Tương lai văn nghệ Việt Nam, trong đó ông đã nhắc đến “cái hôm nay đen tối và chật hẹp”, và mượn lời André Gide, khuyên các văn nghệ sĩ, hãy “reo rắc vào tâm trí mọi người chất men bất phục tòng và phản kháng”. Tuy vậy khi toàn quốc kháng chiến, ông cũng theo cách mạng trong 9 năm. Sau 54, ông dạy học.

 

Trong thời kỳ NVGP, Trương Tửu viết hai bài quan trọng “Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ” và bài “Văn nghệ và chính trị“. Hoài Thanh tố cáo: “Trong ba tập Giai phẩm liên tiếp nó đả kích thậm tệ vào toàn bộ cán bộ Đảng phụ trách công tác văn nghệ, phủ nhận tính chất mác xít, tính chất vô sản của Đảng. Vẫn một lối huênh hoang và bịp bợm cũ, nó làm như chỉ có nó mới là triệt để cách mạng. Một mặt nó bóp méo, bịa đặt sự việc để vu khống… Một mặt khác nó xuyên tạc lời nói của các lãnh tụ. Nó trích dẫn lời Mác đả kích chính quyền phản động cũ để gián tiếp đả kích chính quyền ta”. (Hoài Thanh, Thực chất của tư tưởng Trương Tửu, BNVGPTTADL, trang 66).

 

Nguyễn Vĩnh tố cáo: “Trong bài “Bệnh sùng bái cá nhân trong giời lãnh đạo văn nghệ” (Giai phẩm mùa thu, tập I), Trương Tửu giả vờ công nhận “Đảng lãnh đạo văn nghệ là một tất yếu lịch sử” để rồi đòi trả lại “quyền điều khiển chuyên môn cho những người chuyên môn”. Trong bài “Văn nghệ và chính trị “, Trương Tửu tiến lên một bước, xuyên tạc bài “Tổ chức Đảng và văn học có đảng tính” của Lê nin (…) Làm như vậy, Trương Tửu có thâm ý tách rời văn nghệ ra khỏi chính trị, xúi dục văn nghệ sĩ thoát ly đường lối văn nghệ của Đảng, thoát ly sự lãnh đạo của Đảng” (Nguyễn Vĩnh, sđd, trang 115, 116).

 

Bàng Sĩ Nguyên phát hiện: “Tửu đã nói gì khi giảng dạy? Tửu đã vu khống Đảng là hiện tượng tha hoá. Trường đại học có Đảng trị. Có Đảng cụ thể và Đảng trừu tượng, cụ thể bao giờ cũng có sai lầm, vậy mỗi giai đoạn cần có một Đảng mới”. (…) Con người mới là con người ở nông thôn chống thu mua, ở thành thị chống mậu dịch, trí thức chống chính sách báo chí. Tửu gây ý thức thoát ly sự lãnh đạo của Đảng. Cụ thể là tấn công vào cán bộ lãnh đạo của Đảng trong đại học. Tửu đề cao quá đáng Vũ Trọng Phụng (…) để nói rằng “không có Đảng lãnh đạo nhà văn vẫn viết được những tác phẩm có giá trị và văn nghệ sĩ còn sáng suốt hơn Đảng, cố vấn cho Đảng, phát hiện vấn đề cho Đảng biết.” (Bàng Sĩ Nguyên, sđd, trang 119-120).

 

Trần Đức Thảo, triết gia, giáo sư đại học. Đỗ vào trường Normale Supérieure rue d’Ulm ở Pháp năm 1936, thủ khoa ban văn chương. Đậu thạc sĩ (agrégé) triết học. Thời kỳ ở Pháp, ông cộng tác với J.P. Sartre, tham gia nhóm Les Temps Modernes. Sau này ông kiện Sartre về một cuốn sách viết chung mà Sartre không muốn xuất bản. Những năm 44-45, ông hoạt động cho Hội Việt kiều. Phạm Huy Thông, giáo sư thạc sĩ, bạn học cùng thời với Trần Đức Thảo ở Pháp, được cử viết bài đánh Trần Đức Thảo. Phạm Huy Thông cho biết: Khi phái đoàn Việt Minh Đồng Chí Hội sang Pháp năm 1946, Trần Đức Thảo đả kích phái đoàn, cho chính sách ngoại giao của Việt Minh là đầu hàng và phản bội, và đảng Cộng Sản Pháp có đầu óc đế quốc thực dân. Trần Đức Thảo chống lại hiệp định sơ bộ 6/3/1946. Năm 1949, tại Đại Hội Hoà Bình Thế Giới ở Paris, Trần Đức Thảo lên tiếng cảnh cáo đại biểu Liên Xô và đại biểu Pháp là phản bội các dân tộc thuộc địa.

 

Phạm Huy Thông viết: “Ngay từ năm 1945, Thảo công kích những người đem tư tưởng Mác xít truyền bá cho kiều bào, công nhân, cho rằng công nhân không có văn hoá, không tiếp thu được, hay tiếp thu “máy móc” thì “nguy hiểm” (!). Còn đối với đảng Cộng Sản Pháp, thì Thảo có một lập luận phản động rằng: đảng Pháp, tuy có uy tín đấy, nhưng trình độ lý luận Mác xít khó lòng cao, vì hầu hết những cương vị cao trong đảng đều do công nhân nắm (!)” (Phạm Huy Thông, sđd, trang 69). Năm 1951, Trần Đức Thảo trở về nước, làm giáo sư đại học. Năm 1956, ông tham gia phong trào NVGP. Phạm Huy Thông viết về người bạn cũ của mình: “Thật ra “thành tích” học thuật cũng như “thành tích” chính trị của Thảo ở Pháp trước đây, nhìn lại toàn là những “thành tích” bất hảo (…). Trong thư gửi hội nghị học tập của trường đại học, Hoàng Cầm có viết: “Tôi nhớ rất rõ: trước Nhân Văn số 4, trong một buổi họp ở nhà Trần Duy, 55 đường Trần Quốc Toản, lần đầu tiên Trần Đức Thảo đến họp. Vấn đề hôm ấy do Trần Duy nêu ra là: Ta nên chuẩn bị cái hướng số 4 như thế nào? Một số như Trần Dần và tôi phát biểu là: “Thêm một bài về tự do dân chủ thôi!” Trần Đức Thảo nói: “Tôi thấy cần phải bớt vấn đề văn nghệ đi, nếu cần thì rút bớt cả sáng tác, để bàn nhiều về chính trị, vì tình hình trong nước và thế giới có nhiều tài liệu khác nữa”.

 

Ta thấy đường lối chính trị của nhóm Nhân Văn là do Trần Đức Thảo trực tiếp và chủ yếu vạch ra. (Về vai trò của Trần Đức Thảo trong tờ Nhân Văn, Lê Đạt sẽ xác định lại.)

 

Mượn cớ “phát huy tự do dân chủ” Thảo đã bày vẽ cho chân tay của mình trong sinh viên đả kích sự lãnh đạo của Đảng ở nhà trường (…), giáo sư Nguyễn Lân, phụ trách môn giáo dục học, trường đại học sư phạm đã phát biểu: “Tôi còn rùng mình khi nghĩ đến hoạt động của bọn Trần Đức Thảo. Nếu bọn chúng thực hiện được ý muốn thì không những giáo sư đảng viên, mà đầu của những người lương thiện trung thành với chế độ như tôi cũng đều treo lên ngọn cây.” (Phạm Huy Thông, sđd, trang 74 và 134).

 

Sau khi Nhân Văn bị cấm, Trần Đức Thảo vẫn tiếp tục hoạt động, che chở và giúp đỡ các sinh viên. Ông mở diễn đàn tự do ở đại học để truyền bá tinh thần tự do dân chủ. Hai bài viết quan trọng của ông trong thời kỳ NVGP là bài Nội dung xã hội và hình thức tự do đăng trong Giai phẩm mùa đông tập I, lên án những sai lầm trong cải cách ruộng đất và bài Nỗ lực phát triển tự do dân chủ đăng trên Nhân Văn số 3, tháng 10/1956, được coi như bản đề cương tranh đấu cho tự do dân chủ của nhóm NVGP.

 

Trần Đức Thảo viết:

 

“Cái tự do mà họ tức là những người lao động trí thức và chân tay muốn phát triển là tự do của toàn dân phê bình lãnh đạo. Cái tự do đó là quyền của người công dân đã được hoàn toàn công nhận và bảo đảm trong chế độ ta. Tự do không phải là cái gì có thể ban ơn. Người trí thức hoạt động văn hóa cần tự do như khí trời để thở, có tự do thì mới đẩy mạnh được sáng tác văn nghệ, nghiên cứu khoa học, cải tiến kỹ thuật. Phát triển tự do là nhu cầu thiết thân, đồng thời là nhiệm vụ số một của người trí thức cũng như của toàn dân. Hình thức tự do là tự do cá nhân, cá nhân phục tòng tập thể nhưng tập thể cũng phải có cá nhân xây dựng. Xét đến tình hình thế giới mới đây, lý tưởng tự do cá nhân lại là lý tưởng của những ngày tiến tới, lý tưởng của chủ nghĩa Cộng Sản bây giờ, đã bắt đầu trở thành một thực tế lịch sử ở Liên Xô”, ký tên Trần Đức Thảo.

 

Học giả Đào Duy Anh đóng góp tiếng nói của mình trong Giai phẩm mùa thu tập III, với bài Muốn phát triển học thuật, nội dung phân tích những sai lầm trong nguyên tắc dùng chính trị để lãnh đạo học thuật. Ông viết: “Sự xâm phạm của những cán bộ chính trị vào địa hạt chuyên môn, cố nhiên là rất trở ngại cho công tác chuyên môn, nhất là công tác nghiên cứu khoa học. Cái điều kiện không thể thiếu được để cho học thuật phát triển là tự do tư tưởng, tự do thảo luận. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh hai hình thức hạn chế tự do tư tưởng tác hại nặng nhất đối với học thuật là bệnh giáo điều và biến chứng của nó là bệnh sùng bái cá nhân. Ở nước ta thì các bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân lại còn trầm trọng hơn khiến người ta, vô luận bàn về vấn đề gì, cũng đều phải bắt đầu dẫn những đề án của Marx, Engel và Lénine, hoặc những ý kiến của Staline hay các lãnh tụ khác. Bệnh giáo điều và bệnh sùng bái cá nhân lại dẫn thẳng đến cái tệ tư tưởng độc tôn, hễ thấy ai có ý kiến gì vượt ra ngoài những công thức cũ, những khuôn khổ sẵn thì người ta chụp ngay cho những cái mũ dễ sợ như danh hiệu “cải biến chủ nghiã” chẳng hạn, để bịt mồm, bịt miệng người khác.

 

Tư tưởng không tự do thì không thể tự do thảo luận được. Mặc dầu không ai cấm tranh luận, các nhà lãnh đạo vẫn thường nói nên mở rộng tranh luận, nhưng trong thực tế thì sự tranh luận đã bị thủ tiêu từ gốc rồi. Nghiên cứu hay nghị luận một vấn đề gì, người người chỉ nơm nớp lo sợ, không khéo thì trật ra ngoài đường lối tư tưởng chính thống độc tôn. Đối với những người ấy công tác học thuật trở thành trò xiếc leo dây.Con đường học thuật phải là con đường cái thênh thang cho mọi người tự do đi lại chứ không phải là sợi dây căng cho mọi người làm xiếc. Phải trừ bỏ những bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân để trả lại tự do cho học thuật”.

Phan Khôi, chủ nhiệm báo Nhân Văn. Nhà văn và nhà cách mạng lão thành Phan Khôi như một vị tiền bối đứng ra che chở cho các anh em văn nghệ trẻ. Cùng thời với Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh… Phan Khôi sinh năm 1887 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, là con trai Tri phủ Phan Trân, và là cháu ngoại Tổng đốc Hoàng Diệu. Năm 1907, Phan Khôi ra Hà Nội tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, ít lâu sau, phong trào bị đàn áp, ông trở lại Quảng Nam, hoạt động trong phong trào Văn Thân cùng với Huỳnh Thúc Kháng. Bị Pháp bắt, Phan Khôi học tiếng Pháp trong tù. Ra tù, ông bắt đầu cuộc đời viết văn làm báo.

 

Trong nửa thế kỷ, từ Nam ra Bắc, ngòi bút sắc bén của Phan Khôi tung hoành trên các báo: Nam Phong, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Pháp Thời Báo, Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn, Trung Lập, Thực Nghiệp Dân Báo, Hữu Thanh, Phụ Nữ Thời Đàm, Tràng An, Sông Hương… Từ 1920 đến 1925, ông dịch Kinh Thánh cho Hội Tin Lành. Tác phẩm đầu tiên của Phan Khôi là tập Nam Âm Thi Thoại, ký bút hiệu Chương Dân, in năm 1920 ở Hà Nội (năm 1936, tái bản tại Huế, đổi tên là Chương Dân Thi Thoại). Bài thơ Tình già của Phan Khôi đăng lần đầu tiên trên báo Phụ Nữ Tân Văn, tháng 3/1932, được coi như bài thơ mở đường cho phong trào thơ mới.

Bởi địa vị văn học, địa vị cách mạng và thái độ đối lập của Phan Khôi, cho nên ông có một vị trí riêng và đồng thời ông cũng đã phải chịu những sự phỉ báng nặng nề thô bỉ.

 

Về hoạt động chính trị, Phan Khôi luôn luôn là một khuôn mặt đối lập với Việt Minh. Tháng 6/1946, phái đoàn Trung ương của Việt Minh về Quảng Nam, mở cuộc mít tinh để giải thích Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, Phan Khôi lên diễn đàn, công kích hiệp định sơ bộ. Tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng, Phan Khôi được bầu làm chủ nhiệm chi bộ Nam Ngãi. Nguyễn Công Hoan viết: “Đêm 12/7, trong khi hắn (chỉ Phan Khôi) đương họp bàn với bọn đầu sỏ Quốc Dân Đảng ở 80 đường Quan Thánh, thì xẩy ra việc Công an ta đến khám toà báo Việt Nam của đảng ấy tại trụ sở ấy. Bọn phản động ở trong nhà nổ súng ra để chống cự. Tức thì Công an buộc lòng phải bắt bớ người. Trong số những người bị bắt có Phan Khôi.

 

Song, Phan Khôi lại một lần nữa được Chính phủ tha cho về để suy nghĩ tội lỗi mà hối cải.” (Nguyễn Công Hoan, Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời kỳ toàn quốc kháng chiến, báo Văn Nghệ số đặc biệt thứ hai chống NVGP, số 12, tháng 5/1958, trang 14).

 

Về thái độ của Phan Khôi đối với Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Công Hoan viết:”Cách mạng tháng Tám cải tử hoàn sinh cho hai mươi nhăm triệu nhân dân Việt Nam, trong đó có Phan Khôi. Nhưng cái tên già này rất vô ơn với Cách mạng tháng Tám.

 

Cho đến năm hoà bình, 1954, chưa bao giờ hắn viết, hoặc nói mà dùng danh từ “Cách mạng tháng Tám”. Chính hắn đã khoe điều ấy bằng cả sự hằn học với người tâm phúc của hắn. Hắn nói rằng trước kia hắn dùng ba tiếng “cướp chính quyền”, mà cũng ngượng mồm. Hắn nói rằng lúc đó, Pháp đổ rồi, Nhật hàng rồi, chính phủ Trần Trọng Kim tê liệt rồi, chính quyền bỏ rơi, thì ta “lượm” được, chứ “cướp” ở tay ai?” (bài đã dẫn, Văn Nghệ, trang 12)

 

Về thái độ của Phan Khôi đối với Hồ Chí Minh, Nguyễn Công Hoan viết: “Hôm họp Hội nghị văn hoá, Hồ chủ tịch có đến. Khi nói về tiểu thuyết, Người có một nhận xét để khuyên nhủ anh em cầm bút là “tiểu thuyết của ta có vạch được tội ác của chế độ phong kiến và đế quốc, nhưng chưa đề ra phương pháp cải tạo. Như vậy là kém phần xây dựng”. Trong khi mọi người rất phục Hồ chủ tịch sáng suốt cả về lĩnh vực văn nghệ, thì tên Quốc Dân Đảng già, vốn bản chất là đối kháng, dè bỉu Hồ chủ tịch, cho là Người chỉ giỏi chính trị, chứ không biết về văn nghệ. Hắn bàn tán với bạn hữu rằng Hồ chủ tịch nói sai. “Văn nghệ chỉ có nhiệm vụ trình bày, còn xây dựng là nhiệm vụ của chính trị, của nhà cầm quyền” (bài đã dẫn, Văn nghệ, trang 15).

 

Phan Khôi không tự ý đi theo kháng chiến mà “bị mời” đi kháng chiến, Đào Vũ viết: “Kháng chiến bùng nổ. Phan Khôi đi theo kháng chiến. Nói cho đúng hơn, chúng ta đưa Phan Khôi đi theo kháng chiến từ đầu chí cuối”, “tôi biết rằng cơ quan đối với y bao giờ cũng dành những ưu tiên lớn”, theo Nguyễn Công Hoan,“Phan Khôi đi với kháng chiến, không lúc nào hắn không ngớt chửi bới kháng chiến”, Đào Vũ viết: “Phan Khôi bấy nay không ưa gì Đảng của chúng ta. Vốn là hay xỏ xiên vặt, y gọi Đảng ta là “cái Đảng” thế này thế khác. Có người vặn lại: sao lại gọi là “cái Đảng”, tiếng “cái” ấy có cần thiết gì đâu? Phan Khôi sẽ thủng thỉnh trả lời: tiếng “cái” ấy cũng như “le, la, les” của tiếng Pháp mà thôi.” (Đào Vũ, Tính cách vô lại và bộ mặt chính trị nhơ nhớp của Phan Khôi ngày nay, Văn Nghệ số 12, tháng 5/1958).

 

Là nhà Hán học, nhưng lý luận khúc triết và đanh thép theo phương pháp luận phương Tây, những bài bút chiến của Phan Khôi với Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh… đã gây không khí sôi nổi trên văn đàn những năm 30. Tài năng, nhân cách và kiến thức đã đưa Phan Khôi lên địa vị “Ngự sử văn đàn” của thời ấy.

 

Khi toàn quốc kháng chiến. Miễn cưỡng lên Việt Bắc, Phan Khôi dịch sách chữ Hán, chữ Pháp, sang tiếng Việt.

Thời kỳ NVGP, Phan Khôi đứng ra nhận chức Chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Nhân Văn để bao che cho các cây bút trẻ. Trong bài Phê bình lãnh đạo Văn Nghệ, với tác phong Ngự sử văn đàn, Phan Khôi nghiêm khắc lên án chế độ quản lý tư tưởng: Ông chỉ trích Trường Chinh ăn nói bừa bãi, chất vấn gắt gao Tố Hữu, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, những người chủ chốt trong việc kết tội Trần Dần. Sau khi tách bạch hai giai cấp: Lãnh đạo văn nghệ và Quần chúng văn nghệ, Phan Khôi phê bình triệt để ba vấn đề thực tiễn:

 

1 -Vấn đề tự do của văn nghệ sĩ: Sau khi đưa ra những dẫn chứng cụ thể về việc lãnh đạo nghiệt ngã bắt bẻ người viết phải theo đúng đường lối, Phan Khôi hỏi lãnh đạo: chính trị muốn đạt đến cái mục đích của nó thì cứ dùng khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị không được hay sao mà phải cần dùng đến văn nghệ sĩ, rồi ông cánh cáo: “Lãnh đạo đã xâm phạm mỗi ngày một hơn vào quyền riêng nghệ thuật của văn nghệ sĩ.”

 

Những lời khẳng khái nổi tiếng của Phan Khôi: “Nhược bằng bắt hết mọi người viết, phải viết theo lối với mình thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết”. Hoặc phê Đảng: “Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu!”

 

2 -Về vụ Giai phẩm mùa xuân, Phan Khôi chất vấn ban chủ toạ hội Văn nghệ:“Hỏi độc tội một Trần Dần thôi là cái ngón chính tri tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa những người trong Giai Phẩm, cái ngón ấy đã thành công”.

“Tôi còn nhớ có vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ Người viết hoa, lấy lẽ rằng chữ Người viết hoa chỉ để xưng Hồ chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ Người không phải để xưng Hồ chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như ở trong chiêm bao, chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê mỗ tố cáo ông Nguyễn mỗ trước ngai vàng: “Trong phép viết chỉ có chữ nào thuộc về Hoàng thượng mới phải đai, thế mà tên Nguyễn mỗ viết thư cho bạn dám xài những chữ không phải thuộc về Hoàng thượng. Nhân may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình đang ngồi ở trong phòng họp hội Văn nghệ”.

 

3 -Về vụ giải thưởng văn học năm 54-55, ba tác phẩm Mưa sao của Xuân Diệu, Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng và Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh đều chiếm giải. Phan Khôi phê bình: “Cả ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong ban trung khảo. Nếu ở trong ban trung khảo mà thôi còn khá, thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở ban sơ khảo nữa, sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn sạch tiếng. Một người nào có con em đi thi thì người ấy có được cắt cử cũng phải hồi tỵ, không được chấm trường. Bây giờ đến cả chính mình đi thi mà cũng không hồi tỵ, một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã liêm chính cả rồi, một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái miệng đã bị vú lấp.”

 

Phan Khôi viết truyện Ông bình vôi, ngẫu hứng từ bài thơ Ông bình vôi của Lê Đạt, chủ đích bênh vực Lê Đạt, đồng thời nhạo báng lãnh tụ, gọi lãnh tụ là Ông Cọp, Ông Trưởng, Ông Đầu Rau, Ông Tre, Ông Bình Vôi… như những bài vị mà người dân thường phải để chân dung trong nhà. Trong bài Ông Năm Chuột, Phan Khôi đòi hỏi phải trả văn nghệ lại cho văn nghệ, chuyên môn cho chuyên môn qua lời người thợ bạc: “người ta cái gì biết ít thì nên nghe chứ không nên nói, tôi không nói chuyện văn chương chữ nghĩa với ông, cũng như ông không dạy nghề làm thợ bạc cho tôi.”

 

Theo bài viết của Đoàn Giỏi đăng trên báo Văn Nghệ số ra ngày 15/8/1958 thì tháng 12 năm 1957, Phan Khôi còn đưa đến nhà xuất bản Hội Nhà Văn một tập bản thảo dầy, tên là Nắng chiều gồm nhiều bài bút ký, tạp văn, viết từ đầu kháng chiến Việt Bắc đến năm 1957. Đoàn Giỏi trích một số đoạn để đả kích, nhờ vậy mà độc giả biết được đại cương nội dung những tác phẩm đó. Theo Đoàn Giỏi, ngay trong hai bài đầu, tựa đề Cầm vịtTiếng chim, Phan Khôi đã khẳng định “Xã hội không có đấu tranh giai cấp, của ai người nấy ăn. Vấn đề đấu tranh giai cấp chỉ là kiểu rình phần ăn của kẻ khác”. Về bài viết Cây cộng sản, Đoàn Giỏi tự hỏi: Tại sao Phan Khôi lại đem cây cứt lợn, cũng gọi là cây chó đẻ, và cây bọ xít, toàn là những tên không nhã tý nào hét, để gọi nó là Cây cộng sản và cỏ cụ Hồ? Đến bài giới thiệu Nguyễn Trường Tộ, Phan Khôi viết: “Vua thì như thế, còn đám quan liêu từ triều đình đến các tỉnh phần nhiều là hủ nho, đám sĩ phu ở dân gian càng đông hơn, cũng đều hủ nho. Dưới vua, hai hạng người này nắm quyền lợi một nước trong tay họ, họ cấu kết với nhau để giữ lấy quyền lợi thì còn ai mà làm gì được”. Đoàn Giỏi bị kiểm thảo về tội vờ đả kích Phan Khôi để công bố những nét đại cương của một tác phẩm bị cấm. Bản thảo tập Nắng chiều hiện nay còn hay mất? Đó là một nghi vấn văn học chưa được soi tỏ.

Paris 12/2004

————-

[1] Một nhà phê bình (xin giấu tên), cho biết: Trần Dần bị mật giam ở một nơi gần Hà Nội. Vì sợ bị thủ tiêu, cho nên ông đã phải dùng dao cạo cứa cổ, với chủ ý làm ầm lên. Chính tướng Nguyễn Chí Thanh đã ra lệnh “cứu” Trần Dần.

 

Nghe thêm: (nếu không nghe được, vui lòng áp dụng cách nêu tại ĐÂY)

10-09-1995: Nguyễn Hữu Đang nói về Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm

24-03-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 1): Bước đường manh nha

01-05-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 2): Vai trò của Thụy An, Nguyễn Hữu Đang và Phan Khôi

08-05-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 3): Nội dung tờ Nhân Văn và sự đình bản

15-05-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 4): Lớp đấu tranh Thái Hà và Quyết định kỷ luật

22-05-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 5): Kỷ luật 3 năm kéo dài 40 năm

29-05-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 6): Hoàng Cầm, Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính, Trần Đức Thảo và Đào Duy Anh

05-06-2004 Lê Đạt – Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (phần 7): Sự tìm tòi một con đường mới cho thơ ca Lê Đạt

14-01-1996 Hoàng Cầm: Thơ Hiện đại và sinh hoạt sáng tác của các nhà thơ trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm

21-02-1998 Hoàng Cầm: 30 năm hành trình vào sa mạc sau thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm

28-02-1998 Hoàng Cầm: Hoàn cảnh sinh sống sau thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm và tình trạng xuất bản sau khi phục hồi

20-12-2003 Hoàng Cầm nói chuyện về hành trình sáng tác từ thời thơ ấu đến bài thơ Đêm liên hoan

27-12-2003 Hoàng Cầm nói chuyện về hoàn cảnh sáng tác hai bài thơ Tâm sự đêm giao thừa và Bên kia sông Đuống

03-01-2004 Hoàng Cầm nói chuyện về thời kỳ làm báo Giai Phẩm và Nhân Văn

10-01-2004 Hoàng Cầm: Từ Nhân Văn đến đổi mới

26/06/2008 Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy, thư ký tòa soạn báo Nhân Văn, lên tiếng sau 50 năm im lặng (phần 1)

12/07/2008 Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy, thư ký tòa soạn báo Nhân Văn (phần 2)

19/07/2008 Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy, thư ký tòa soạn báo Nhân Văn (phần 3)

26/07/2008 Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy, thư ký tòa soạn báo Nhân Văn (phần 4)

 

Nguồn: Thuykhue.free.fr




Hình ảnh buổi trình diễn của CLB Âm Nhạc & Trần Quảng Nam & Trúc Hồ

Adobe Spark Page




Phù Nam: Huyền thoại và những vấn đề lịch sử

Tác giả: Vũ Đức Liêm

Bất cứ quốc gia dân tộc hiện đại nào cũng tìm kiếm cho mình một nền văn hóa, văn minh, hay một vương quốc khởi đầu qua việc kết nối với một thực thể mờ ảo trong quá khứ. Đó là nơi huyền thoại dựng nước bắt đầu, và cũng là nơi chứng kiến sự va chạm giữa các diễn ngôn lịch sử. Phù Nam là một câu chuyện như thế ở Đông Nam Á.

Trong số các nền văn hóa kim khí quan trọng trên lãnh thổ Việt Nam, từ đó phát triển các xã hội phức tạp và hình thành nhà nước: Đông Sơn/ Cổ Loa, Sa Huỳnh/Champa, Óc Eo/ Phù Nam, thì Phù Nam ít được chú ý hơn cả. Bao trùm lên nó là huyền thoại về vương quốc được hình thành đầu tiên ở Đông Nam Á, với cảng thị sầm uất như Óc Eo, trung tâm tôn giáo, chính trị như Angkor Borei. Dù chỉ tồn tại khoảng từ thế kỷ I đến thế kỷ VII CN, vương quốc này không chỉ là trung tâm của kết nối giao thương giữa các cộng đồng khu vực với Ấn Độ, Trung Hoa mà còn đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong diễn ngôn chính trị-lịch sử ở thời kỳ hiện đại bởi vì dựa vào những cứ liệu lịch sử không rõ ràng của giai đoạn này mà chủ nghĩa dân tộc Campuchia tìm cách khẳng định sự hiện diện của dân tộc Khmer hàng nghìn năm trước ở vùng hạ lưu Mekong.

Bài viết này lập luận rằng Phù Nam không thể là sản phẩm chiếm hữu, độc quyền của một quốc gia dân tộc nào cả. Thực tế, nó là một thực thể lịch sử đứng giữa các đường biên hiện đại ở hạ lưu Mekong mà một phần di sản của nó đã trở thành bộ phận không tách rời của nước Việt Nam. Thực tế lịch sử đó cần phải được tôn trọng. Lịch sử của Phù Nam cũng chính là một phần của lịch sử Việt Nam.

Xem trọn bài




Về người con gái út của ông bà Ngô Đình Nhu

Cách đây 5 năm, ngày 16/4/2012, nhiều tờ báo ở Rome (Italia) và các trang mạng xã hội đã đăng tin, bình luận về cái chết thương tâm của một người phụ nữ trong một vụ tai nạn giao thông, Người đó là Ngô Đình Lệ Quyên, con gái út của ông Ngô Đình Nhu.

Bà Ngô Đình Lệ Quyên (ảnh: internet)
Bà Ngô Đình Lệ Quyên (ảnh: internet)

Ngô Đình Lệ Quyên sinh năm 1959 tại Sài Gòn, là con gái út của ông Ngô Đình Nhu và bà Trần Lệ Xuân, người từng được mệnh danh là Đệ nhất phu nhân của Chính quyền Sài gòn cũ. Gia đình ông bà Nhu có 4 người con, 2 gái, 2 trai là: Ngô Đình Lệ Thủy, Ngô Đình Trác, Ngô Đình Quỳnh và Ngô Đình Lệ Quyên.

Ngô Đình Lệ Quyên là một người phụ nữ sống kín đáo và khép mình với báo chí, nên những thông tin về bà đến với độc giả rất ít ỏi. Không giống như các anh, chị của mình, khi thể chế của ông Ngô Đình Diệm bị sụp đổ, Ngô Đình Lệ Quyên mới 4 tuổi, nên bà hầu như không có ký ức gì nhiều về quãng thời gian khi gia đình, dòng họ ở trên đỉnh cao quyền lực. Ký ức tuổi thơ của bà là những ngày tháng sống lưu vong ở châu Âu, hết Paris đến Rome.

Năm 1963, khi anh em ông Diệm – Nhu bị lực lượng của các tướng lĩnh làm đảo chính sát hại, bà Trần Lệ Xuân và con gái đầu Ngô Đình Lệ Thủy đang ở Mỹ. Bà đã nhanh chóng đưa con rời khỏi nơi đây vì cho rằng: “không thể chấp nhận lưu trú tại một đất nước mà chính phủ của nó đã đứng sau lưng âm mưu đảo chính”. Sau cuộc đảo chính, các con của ông Nhu cũng được phép rời Sài Gòn đến gặp mẹ tại Paris, nơi bắt đầu cuộc sống lưu vong của mấy mẹ con.

Thời gian này người anh của ông Diệm và ông Nhu là Ngô Đình Thục đang làm giám mục ở Tòa thánh Vatican. Trong hoàn cảnh không còn chỗ nương tựa, bà Trần Lệ Xuân đã đưa 4 người con đến xin tị nạn tại Rome, cậy nhờ giám mục Ngô Đình Thục giúp đỡ.

Nhiều người cho biết: lúc còn ở Việt Nam hay khi sống lưu vong ở nước ngoài, giám mục Ngô Đình Thục luôn rất yêu thương các cháu, con của chú Nhu nên ở nơi đất khách quê người này ông là thân nhân, cũng là chỗ dựa duy nhất của mẹ con bà Trần Lệ Xuân. Người ta nói, nhà cửa, tiện nghi của mẹ con bà Lệ Xuân ở La Mã đều do giám mục Ngô Đình Thục  mua sắm, ông còn cung cấp tiền bạc cho các cháu ăn học.

Ngô Đình Lệ Quyên theo học trường Đại học Rome và lấy bằng Tiến sĩ Luật tại đây rồi trở thành một luật sư ngành công pháp quốc tế rất nổi tiếng. Tuy nhiên,  bà chỉ được mời thỉnh giảng tại Đại học Rome chứ  không thể làm giáo sư chính thức, bởi một trong những điều kiện bắt buộc ở Đại học Rome là giáo sư giảng dạy trong trường phải có quốc tịch Italia, trong khi Ngô Đình Lệ Quyên lại kiên quyết không xin gia nhập quốc tịch nước này.

Ngô Đình Lệ Quyên đã về sống và làm việc ở Rome từ những năm 1990. Đây cũng là nơi người anh trai Ngô Đình Trác sinh sống, còn anh trai Ngô Đình Quỳnh thì làm việc cho một công ty Mỹ có trụ sở ở Vương quốc Bỉ.

Đối với bà Trần Lệ Xuân , những năm gần cuối đời khi sức khỏe suy yếu, bà cũng chuyển từ Paris sang Italia sống gần các con trong một ngôi nhà ở Rome, nên năm 2011 khi bà qua đời, con trai, con gái cùng các cháu nội ngoại đều có mặt.

Ngô Đình Lệ Quyên từng làm Giám đốc phụ trách vấn đề di dân của tổ chức Caritas, một tổ chức thiện nguyện thuộc Tòa thánh Vatican. Theo những người quen biết với Lệ Quyên thì người phụ nữ này có một gương mặt đặc biệt giống cha là ông Ngô Đình Nhu. Năm 20 tuổi người ta bảo Lệ Quyên trông giống cha như đúc. Bà không chỉ có nét mặt giống cha mà còn giống cả về tính cách. Bà có cá tính rất đặc biệt, rất cương quyết  và nổi tiếng là người cứng đầu. Có lẽ bởi vậy, nên hai mẹ con bà Trần Lệ Xuân và Ngô Đình Lệ Quyên thường  xảy ra xung khắc, không hòa hợp với nhau trong quan điểm sống.

Ngô Đình Lệ Quyên lấy chồng người Ý nhưng vẫn giữ họ mình chứ không mang họ chồng. Bà cũng cho con lấy họ bên ngoại, đặt tên cho con trai duy nhất là Ngô Đình Sơn. Ông chồng người Ý của Lệ Quyên cũng phải chấp nhận.

Ở tổ chức Caritas, nơi Ngô Đình Lệ Quyên làm Giám đốc phụ trách vấn đề di dân, bà được biết đến như một người lãnh đạo cương quyết, nhưng ăn nói nhỏ nhẹ, khiêm nhường và có lối sống rất chuẩn mực. Nữ Giám đốc này đóng góp vai trò to lớn trong chính sách của Caritas nên được nhiều nhân viên của tổ chức này kính trọng.

Ngô Đình Lệ Quyên dấn thân vào những công việc giúp đỡ người nghèo và người khốn khó, làm việc với lòng hăng say và tin tưởng. Bà luôn bênh vực những người di dân nghèo khó. Từ năm 2002 đến 2007, Lệ Quyên từng là thành viên Ủy ban Di dân thuộc Caritas châu Âu và sau đó là Chủ tịch ủy ban này.

Ngô Đình Lệ Quyên nổi tiếng ở Rome và ở Caritas vì rất cứng đầu trong việc không xin nhập quốc tịch Italia, mặc dù nếu có quốc tịch Italia, con đường sự nghiệp của bà sẽ tươi sáng hơn rất nhiều. Lệ Quyên đã chối bỏ con đường đó để làm công tác thiện nguyện, sống một cuộc đời khá ẩn dật.
Dẫu vậy, vì những đóng góp nổi bật của bà cho đất nước Italia nên năm 2008 theo đề nghị của Bộ Nội vụ, Tổng thống nước này  đã ký sắc lệnh cấp quốc tịch Italia cho bà. Đây là một vinh dự mà chi một số ít người ngoại quốc có được ở đất nước Italia.

Ngô Đình Lệ Quyên sống rất giản dị và thân thiện với người xung quanh. Ở Italia, Lệ Quyên thường đi làm bằng xe mô tô. Chính vì vậy mà ngày 16/4/2012 bà đã tử nạn trong một tai nạn giao thông. Theo tin từ các phương tiện truyền thông thì vụ tai nạn xảy ra lúc 8h30 ở ngoại ô Rome, khi Lệ Quyên trên đường vào trung tâm thành phố làm việc. Sau cú va chạm giữa chiếc xe máy của bà với một xe bus chở học sinh đi ngược chiều, hậu quả là xe máy của bà chui vào gầm xe bus, còn bản thân bà thì bị hất văng ra khoảng 7m. (Cũng có một số nguồn tin nói rằng, chiếc xe máy do Lệ Quyên điều khiển đã bị ngã ở vùng ven nội thành Rome, bà bị một chiếc xe buýt chở học sinh cán phải và tử vong tại chỗ).

Ngày 16/4/2012 và mấy ngày sau đó, nhiều tờ báo ở Rome và các trang mạng xã hội đã đưa tin, bình luận về cái chết thương tâm của Ngô Đình Lệ Quyên. Lãnh đạo thành phố Rome đã có lời chia buồn sâu sắc đến gia đình bà. Một số trang tin cho biết, Phó Thị trưởng thành Rome, Sveva Belviso phát biểu: “Tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc nhất đối với cái chết bất ngờ của bà Ngô Đình Lệ Quyên, một người phụ nữ đã hết sức chuyên nghiệp trong công việc trên cương vị trưởng bộ phận giúp di dân tại Caritas, hỗ trợ những người khó khăn trong xã hội”. Trang web của tổ chức Caritas cũng dành những dòng chữ thương tiếc trang trọng để nói về Ngô Đình Lệ Quyên. Cùng với đó, gia quyến bà cũng nhận được nhiều lời chia buồn từ các chức sắc tôn giáo, quan chức địa phương và những người đã nhận được sự giúp đỡ của bà.

Nhiều người nói gia đình bà Trần Lệ Xuân có một “lời nguyền tháng Tư” vì nhiều người trong gia đình đều chết vào tháng Tư, theo đó người con gái đầu Ngô Đình Lệ Thủy mất tháng 4/1967, bà Trần Lệ Xuân tháng 4/2011,  và nay là Ngô Đình Lệ Quyên. Có người còn nói rằng, tháng Tư là thời điểm trước thềm Phật đản, và rằng điều này liên quan đến Luật Nhân – Quả …

Đó có thể chỉ là những lời đồn đoán. Dẫu sao, bằng sự dấn thân, với những gì đã đóng góp cho xã hội, sự giúp đỡ tận tâm cho những người nghèo khổ, cái chết của Ngô Đình Lệ Quyên cũng để lại cho nhiều người sự xót thương, nhớ tiếc.

 

Ngô Xuân tổng hợp

https://ngotoc.vn/Nghien-cuu-Trao-doi/Ve-nguoi-con-gai-ut-cua-ong-ba-Ngo-Dinh-Nhu-274.html




Triển lãm tranh sơn dầu lần thứ 10 – San Jose




Trở về, đi tới

NS Tuấn Khanh

Trong một chuyến đi quốc nội, vô tình đoàn người đang xếp hàng lấy vé ra máy bay bỗng xuất hiện vài người khách Trung Quốc. Đó là những người khách hết sức ung dung. Họ ăn nói lớn tiếng, cười to và tự nhiên, không khác gì dân bản xứ. Hàng dài người Việt đang xếp hàng im lặng nhìn. Mỗi người một suy nghĩ.

Bất chợt 2 người khách Việt nói với nhau:

-“Không biết mình qua Trung Quốc có tự nhiên được vậy không?”.

Lời tán gẫu nhỏ, nhưng lại đủ cho vài người chung quanh nghe.

 

Đột nhiên ai nấy đều cười.

Những nụ cười khôn cùng ý nghĩa. “Thì tụi nó qua đây, tự nhiên như nước nó rồi còn gì”, một người khác nói bâng quơ, nhưng như muốn tất cả những người Việt còn lại cùng nghe.

Trên mỗi gương mặt Việt lại có một nụ cười. Cũng thật khó tả.

Một người đàn ông lớn tuổi, đầu bạc trắng, cắt ngắn, đi dọc với tôi, kể rằng vừa rồi ông gặp một người khách Trung Quốc. Câu chuyện về ranh giới quốc gia, khác biệt dân tộc, chiến tranh… lại nổ ra.

Người Trung Quốc rất tự tin, nói rằng từ nhỏ, ông ta đã được học về lịch sử, nói rằng Việt Nam thuộc về Trung Quốc từ ngàn năm, nhưng sau đó làm phản và tách ra. Vì vậy chuyện phải quay trở về mẫu quốc là điều tất nhiên.

-“Tụi tao có một tỷ người học thuộc điều đó, tụi mày chỉ có một trăm triệu, cãi không lại tụi tao đâu”,

người khách Trung Quốc này cười lớn. Dù không ác ý, nhưng sự diễn đạt rất thật của ông làm tôi lẫn người đàn ông Việt tóc bạc khi kể cho nhau nghe, đều nao lòng.

Nếu như quả có một cuộc trở về định mệnh như vậy, thật xót xa cho lịch sử hàng ngàn năm của cha ông Việt đã chống chọi, bứt xiềng gông cho con cháu hôm nay.

Một cuộc trở về như vậy, có lẽ chỉ có một ít người muốn, còn tất cả còn lại đều đau đớn, căm gan. Nhưng hôm nay, dường như mọi thứ đang “đi tới” chứ không phải “trở về”.

Cuối tháng 10, ba chiếc tàu chiến Trung Quốc ghé cảnh Cam Ranh. Chính quyền tỉnh Khánh Hòa huy động người dân và đoàn thể ra phất cờ tiếp đón binh lính Trung Quốc.

 

Chiếc tàu dẫn đầu là Tương Đàm 531, tên gọi của chiếc chiến hạm đã tấn công Gạc Ma năm 1988, thảm sát 64 binh sĩ quân đội nhân dân Việt Nam khi không có khả năng kháng cự. Nhiều năm sau cuộc chiến Gạc Ma, chiến hạm này đã được bán cho Bangladesh, nhưng vì cái tên Xiangtan/Tương Đàm gợi nhớ về chiến công hiển hách năm 1988, nên khi đóng tàu mới, chiến hạm Tương Đàm lại ra đời như niềm kiêu hãnh của ngành hải quân Trung Quốc. Điều khác nhau duy nhất là chiếc Tương Đàm cũ, có số hiệu 556, còn chiếc mới có số hiệu 531.

Khi ca sĩ Khánh Ly hát ở Sài Gòn, mọi sự ngăn cấm của các quan chức đều dựa trên ý rằng:

“không muốn gợi nhớ về một quá khứ không tốt”.

Sau năm 1975, hơn 15.000 đầu sách của hai nền Cộng hòa miền Nam Việt Nam bị đốt, bị cấm và bị truy lùng vì cho là:

“gợi lại hình ảnh và văn hóa đồi trụy”.

Hàng chục ngàn bài hát cùng các văn nghệ sĩ miền Nam bị cấm, cô lập như kẻ thù. Thậm chí có người đã phải vào tù vì có “tội lỗi với nhân dân”…

 

Ấy nhưng Tương Đàm, cái tên đẫm máu người Việt ngang nhiên mang quá khứ đi vào hiện tại, từ Gạc Ma vào nơi quan yếu của Việt Nam, Cam Ranh, lại được chính quyền mở champagne chào đón.

Chắc những người được lệnh chào đón ba chiếc tàu chiến Trung Quốc cũng không biết rằng, vào lúc này, Bắc Kinh đã hoàn thành xong vành đai chiến lược để bao vây đảo Trường Sa của Việt Nam.

 

Phi đạn và chiến đấu cơ của Trung Quốc tạo nên một vòng hỏa tuyến đảo đá Chữ Thập, Su Bi, Châu Viên, Vành Khăn, Gaven, Tư Nghĩa, Gạc Ma.

Từ đây, Trung Quốc có khả năng uy hiếp trực tiếp Sài Gòn, Cam Ranh và Trường Sa. Tờ Focus Taiwan đưa tin này, mới đây, vào ngày 18/10/2016.

Người Trung Quốc chắc không còn nói chuyện Việt Nam trở về, mà hình như họ chọn cách đi tới, vì mọi thứ đều đã thuận lợi.

 

Hôm nay thì chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã chính thức có chính sách mỗi ngày cho 100 xe Trung Quốc lái thẳng vào Việt Nam. Một sự ưu ái khá lạ lùng và sẽ sớm là chuyện của các cửa khẩu ở những vùng khác noi theo, mà chắc con số 100 xe mỗi ngày sẽ dần chỉ là thông báo ước lệ.

Không lâu nữa, năm 2018, bởi những ràng buộc bởi Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), một loại thỏa ước thương mại mà Bắc Kinh lập ra để đối đầu với TPP của Mỹ, từ Trung Quốc, các loại động vật sống dùng để nhân giống; nhiều loại thịt, nhiều loại thuỷ hải sản đông lạnh và hoa quả sẽ được miễn thuế 0% khi vào Việt Nam. Thật đúng lúc, giữa lúc bốn tỉnh miền Trung chịu nạn biển nhiễm độc, lũ lụt tàn phá hoa màu, nhà cửa, giới chăn nuôi khánh kiệt… thì ngay lúc họ chuẩn bị hồi phục, đã bị nhấn chìm trong cơn đại hồng thủy nhập khẩu 0% từ Trung Quốc.

 

Tôi có kể với bạn về chuyện người Trung Quốc học lịch sử rằng Việt Nam phải trở về mẫu quốc?

Có một sự thay đổi nhỏ, có màu máu và nước mắt, là chính quyền Cộng sản Trung Quốc đang sốt ruột đi tới thật nhanh, chứ không đợi ai đó trở về.

Cuộc đi tới này lộng lẫy và man rợ không kém gì các đạo quân của Thành Cát Tư Hãn tràn tới:

Cỏ không thể mọc, con người chỉ còn biết quỳ xuống và ngửa mặt khóc than vì sao đất nước chúng ta lại đến nông nỗi như vầy.

 

Trong chuyến thăm Trung Quốc đầu tháng 9 năm nay, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã hứa là sẽ sớm quyết việc thanh toán thương mại Việt Nam – Trung Quốc bằng đồng Nhân dân tệ.

Còn bà phó Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Nguyễn Thị Hồng, người tháp tùng thủ tướng, thì hân hoan nói rằng chuyện này không khó, vì lâu nay các tỉnh phía Bắc đã “thử” làm như vậy rồi.

Không biết Quốc hội Việt Nam có biết về việc này không?

Liệu Quốc hội mới có ít hơn những kẻ ngủ gục, chơi game và xin nghỉ sớm để lên tiếng về những hiểm họa như vậy?

 

Bất kỳ ai có một học vấn tối thiểu cấp trung học, cũng đều hiểu việc Nhân dân tệ hóa nền kinh tế Việt Nam mang đến nguy cơ lệ thuộc như thế nào.

Đặc biệt, Trung Quốc đang “đi tới” rất ào ạt trong sự hân hoan của những kẻ như bà Nguyễn Thị Hồng, và trong với bối cảnh vô cùng thuận lợi khi hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đồng bộ hô to chương trình chống đô-la hóa bằng quyết định 2589/QĐ-NHNN, hạ lãi suất tiền gừi bằng đô-la.

 

Trung Quốc đang biến nhiều quốc gia Châu phi trở thành những chư hầu kinh tế, cũng bằng cách dùng nhân dân tệ hóa như vậy.

Hiện tại Zimbabwe, Angola và Nam Phi đã trở thành những quốc gia lệ thuộc kinh tế nặng nề vào Trung Quốc khi áp dụng thanh khoản bằng đồng Nhân dân tệ.

 

Bạn nghĩ rằng chỉ là vấn đề thương mại?

Áp lực kinh tế này, cũng đã trở thành áp lực chính trị khiến Nam Phi 3 lần từ chối cấp visa cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, chỉ vì muốn ve vuốt Bắc Kinh.

Đại hội những người đoạt giải Nobel Hòa Bình tại Cape Town ở Nam Phi vào năm 2014, kể cả thị trưởng của thành phố cũng đã tuyên bố hủy hội nghị, nhằm tố cáo vì Pretoria đã cúi đầu trước Trung Quốc.

 

Campuchia cũng vậy, trong vòng xoáy trở thành chư hầu của Bắc Kinh để chống lại Việt Nam, chính quyền này cũng đã ướm việc chính thức thanh toán bằng đồng Nhân dân tệ, khởi đầu bằng du lịch.

Trong câu chuyện mà người đàn ông nói giọng Bắc, tóc bạc, kể với tôi về cuộc trò chuyện với người Trung Quốc. Giọng cười của ông rất sảng khoái. Một người biết ông, nói nhỏ với tôi rằng ông đã cùng gia đình tìm đường định cư ở nước ngoài rồi. Có lẽ, vì vậy mà giọng cười của ông rất nhẹ nhàng, tiếng cười của một người đứng ngoài một nồi nước sôi sùng sục, hé nắp nhìn vào.

 

Nhưng tôi và hàng triệu con người khác – những người ở trong nồi – chắc không thể an nhiên được như ông. Vì bởi chúng ta là những người ở lại, là những người không có khả năng ra đi hay đã quyết chọn sống còn trên mảnh đất này. Tôi chắc rằng sẽ không có nhiều những kẻ muốn “trở về” trong chiếc nồi đóng kín nắp ấy.

Nhưng chúng ta lại chứng kiến một cuộc đi tới, chà xát mọi thứ, không có sự xót thương di sản cha ông để lại.

Cuộc đi tới của những chiến hạm Trung Quốc, của những đoàn xe tự do đi lại trên đất nước này, những đợt cuồng phong áp thuế 0% dẫm nát nông dân Việt Nam, và có thể có cả những đồng Nhân dân tệ mà chúng ta sẽ cầm trên tay để làm quen, không còn xa nữa.

 

Tôi vừa leo ra khỏi nắp nồi ấy, bằng hy vọng và sự thật về quê hương của mình. Và tôi nhận thấy mình có một niềm tin mới, rằng sẽ không có một sự “trở về” hay “đi tới” nào cả.

Dân tộc này, đất nước này không thể đi vào khốn khó, nếu người người cùng nuôi hy vọng và nhìn bằng sự thật về đất nước mình, dân tộc mình, và cùng nhau leo ra khỏi nắp nồi đóng kín đó, trước khi quá muộn.




NGÔ ĐÌNH DIỆM (1901-1963)

 

Ông là con thứ tư trong một gia đình chín anh chị em mà bốn người đã bị giết vì lý do chính trị. Thân phụ là Ngô Đình Khả làm Thượng thư bộ Lễ trong triều đình Thành Thái, nhà vua Việt Nam đã bị Pháp lưu đày sang đảo Réunion năm 1916 cùng với hoàng tử kế vị là vua Duy Tân vì cả hai đều mưu đồ chống Pháp. Ngô Đình Khả có hai thành tích đáng kể: thứ nhất là sáng lập trường Quốc Học là trường trung học đệ nhất cấp đầu tiên (thời Pháp gọi là École Primaire Supérieure tức Cao đẳng Tiểu học) vừa dạy bằng tiếng Việt vừa dạy bằng tiếng Pháp ở Huế; thứ hai là không chịu cùng với các đại thần trong triều đình tuân lệnh Khâm sứ Ferdinand Lévecque ký tên chung trong tờ biểu yêu cầu vua Thành Thái thoái vị năm 1907. Vì việc này, ông bị giáng chức và phải về hưu không được lãnh tiền hưu dưỡng. Cũng do việc này, ông đã được dân gian truyền tụng trong câu: “Đày vua không Khả, đào mả không Bài”.

Ngô Đình Diệm học rất giỏi, làm luận văn tiếng Pháp ở trường Quốc Học được chấm hạng nhì. Sau khi đậu bằng Thành Chung Trung học đệ nhất cấp), ông trở về nhà học thêm La-tinh và chữ Nho, hai năm sau 18 tuổi được mời vào dạy trường Quốc Tử Giám. Năm 20 tuổi thi và được nhận vào trường Hậu Bổ tức là trường đào tạo quan chức. Ba năm sau ông đậu thủ khoa trong số hai mươi người tốt nghiệp, đi tập sự trong hai năm thì được cử làm tri huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Năm 1929, mới 28 tuổi, ông được bổ nhiệm làm Tuần phủ tỉnh Phan Thiết. Ông Diệm làm quan nổi tiếng thanh liêm và cương trực, được nhiều người kính phục.

Năm 1932, khi Bảo Đại về nước chính thức cầm quyền dưới chế độ bảo hộ của Pháp, Ngô Đình Diệm được bổ nhiệm làm Thượng thư bộ Nội Vụ với sứ mạng thực hiện cải cách bộ máy hành chánh để thiết lập nền quân chủ lập hiến.
Chỉ ba tháng sau, ông xin từ chức vì đề nghị của ông thành lập Viện Dân Biểu với quyền lập pháp không được chính quyền bảo hộ chấp thuận. Hành động này cho thấy thái độ không nhân nhượng về chính trị của ông Diệm khiến giới ngoại giao Mỹ thường gọi ông là con người – all-or-nothing (được tất cả hay không có gì, nói theo kiểu Việt Nam là ‘được ăn cả ngã về không’).

Năm 1945 Mặt trận Việt Minh giành chính quyền, Ngô Đình Diệm cùng với một số người thân trong gia đình bị Việt Minh bắt ở Tuy Hoà, Phú Yên, bị giam giữ tại tỉnh miền núi Tuyên Quang, theo tài liệu của Mỹ, tại Hà Nội, Ngô Đình Diệm gặp Hồ Chí Minh. Ngô Đình Diệm hỏi chủ tịch Hồ Chí Minh lý do giết anh trai của ông thì được Hồ Chí Minh giải thích rằng đó một sai lầm do đất nước đang rơi vào tình trạng hỗn loạn. Sau đó, Hồ Chí Minh mời Ngô Đình Diệm giữ chức thủ tướng vì biết rằng ông là một người có tài lãnh đạo. Ngô Đình Diệm trả lời rằng ông chỉ đồng ý lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh với điều kiện ông được Việt Minh thông báo về tất cả mọi hành động và biết riêng mọi quyết định của họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối yêu cầu này do đó Ngô Đình Diệm không chấp nhận hợp tác với Hồ Chí Minh, ông được trả tự do theo lệnh ân xá vào năm 1946.

Sau đó Ông trở thành Thủ tướng cuối cùng của Quốc gia Việt Nam và là Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa.
Từ năm 1957 đến năm 1962 Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát hai lần nhưng ông may mắn thoát chết. Lần đầu tiên do một người cộng sản dưới lốt thành viên Cao Đài thực hiện ngày 22/2/1957 tại hội chợ Tây Nguyên, lần thứ hai do hai phi công là đảng viên Đại Việt Quốc dân đảng ném bom vào dinh Tổng thống ngày 27/2/1962.
Ngô Đình Diệm bị lật đổ và giết chết bởi các tướng lĩnh dưới quyền ngày 1 tháng 11 năm 1963, Hiện tại, mộ ông Diệm và ông Nhu đặt tại nghĩa trang Lái Thiêu, Thuận An, Bình dương, Mộ hai ông nằm hai bên mộ mẹ – bà Phạm Thị Thân.

Ảnh: Tổng thống Ngô Đình Diệm ngủ trưa khi đi thăm Tây Nguyên, tháng 2/1957.
Người chụp: Phóng viên JOHN DOMINIS của tạp chí LIFE.

Theo FB https://www.facebook.com/lsvnqa/photos/a.140966742615506.29228.133331390045708/1055173721194799/?type=3&theater

Thánh lễ cầu nguyện cho cụ cố TT Ngô Đình Diệm và thân nhân tại nghĩa trang Lái Thiêu.

 




Hành trình 150 ngày xuyên quốc gia và chiếc xe máy

Thật khó tin nhưng chàng trai này đã ‘phượt’ xe máy từ Sài Gòn đến Paris, vượt 20.000km trong 150 ngày

Làng du lịch bụi Việt Nam vừa viết lên câu chuyện kỷ lục mới: hành trình 150 ngày xuyên quốc gia và chiếc xe máy biển số Việt Nam đã lăn bánh tại thủ đô Paris (Pháp).

Trần Đặng Đăng Khoa (1987, ngụ Gò Công, Tiền Giang) vừa hoàn thành chặng đường đi xe máy từ Sài Gòn tới Paris, thủ đô nước Pháp. Trên trang Facebook cá nhân của anh, nội dung thông báo về thành tích này nhận được sự tán dương và ngưỡng mộ của cộng đồng người Việt Nam khắp năm châu.

Chuyến đi được bắt đầu từ ngày 01.06.2017, và sau 150 ngày rời Sài Gòn, Khoa đã đặt chân tới Paris. Đây là cuộc hành trình được Khoa ấp ủ trong nhiều năm và chuẩn bị mọi thứ kỹ lưỡng trong “nhiều năm liền”.

Xem trọn bài




Tô Kiều Ngân và “mặc khách Sài Gòn”

 

Nhà thơ ngâm sĩ Tô Kiều Ngân (1926-2012).

Trong thập niên 80’ thế kỷ trước, khi phụ trách một chương trình sinh hoạt văn học nghệ thuật cho đài phát thanh – lúc ấy ông Vũ Quang Ninh là giám đốc chương trình đài Việt Ngữ của cơ sở truyền thông đầu tiên của người Việt hải ngoại tại miền Nam California – tôi có làm một chương trình 15 phút gọi là Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật, ngoài phần tin tức mỗi chương trình có mục nói về một nhân vật nổi tiếng trong giới văn nghệ sĩ tại miền Nam trong khoảng 20 năm lịch sử 1954-1975; hai người phụ trách chính, vừa viết bài vừa trình diễn, là Viên Linh và Khúc Lan. Chương trình rất giản dị: ngoài phần tiểu sử người nghệ sĩ được nói đến, ví dụ nghệ sĩ Hồ Điệp – giọng ngâm vàng trong không gian âm thanh – chúng tôi nhắc đến tiểu sử của bà, nói đến một hay hai chương trình bà đã là nhân vật chính, ví dụ Ban Tao Đàn của thi sĩ Đinh Hùng, chúng tôi còn phát thanh lại ít nhất là một đoạn thơ do bà đã trình diễn, đã ngâm lên.

Chương trình bắt đầu và tiến triển mỗi tuần một lần, một năm khoảng 50 lần, và kéo dài khoảng hai năm, và chúng tôi đã có một bộ vừa văn bản vừa băng nhựa, đĩa nhựa, chân dung ngâm vịnh với thơ và nhạc, của gần trăm văn nghệ sĩ. Có thể gọi bộ đó là một cuốn sổ nhân văn, gồm tiểu sử và tác phẩm nhiều văn nghệ sĩ, ngày nay, khi những dòng chữ này được viết ra, có ít ra là 108 nhân vật trong giới văn học nghệ thuật Việt Nam trong và ngoài nước, phần lớn cho tới ngày nay, là những người đã quá cố.

Nhìn lại sinh hoạt văn học nghệ thuật của hơn 40 năm ở hải ngoại, và nhân đó, 20 năm ở miền Nam, thật là đồ sộ, chỉ tiếc là người Việt hải ngoại không có một hàn lâm viện, không có một hội văn nghệ sĩ có gốc nguồn lâu bền từ quá khứ, đó là một điều vô cùng đáng tiếc. Nét chính của sự thiếu sót này căn nguyên lớn là là lực phá hoại tự thân của lưu dân, và nhất là chủ trương và hoạt động được tài trợ của những kẻ gây ra cuộc lưu vong. Nhưng không vì thế mà không có những người yêu văn hóa, cộng với các thành phần xã hội ngưỡng mộ tiền nhân vì nước, không hành động hay kém đi hoạt động. Có nhiều công trình vẫn thành hình.

 

Hãy xét về Tháng Mười, chỉ trong Tháng Mười, nhiều tài liệu cho thấy chúng ta có thể tìm ra được và kể ra được công trình của những trí thức văn nghệ sĩ như sẽ kể ra dưới đây.

Chỉ trong Tháng Mười, chúng ta có:

Tạ Trọng Hiệp, Tháng Mười 1996

Bùi Giáng, Tháng Mười 1998

Hà Thượng Nhân, Tháng Mười 2011

Tô Kiều Ngân, Tháng Mười 2012

Xa hơn nữa chúng ta nếu đã có tuổi, có thể còn biết đến những người đã ra đi lâu hơn:

Bàng Bá Lân, Tháng Mười 1988

Quang Dũng, Tháng Mười 1988

Trần Văn Tuyên, Tháng Mười 1976

Đỗ Tốn, Tháng Mười 1973

 

Cứ làm như thế từng tháng một, chúng ta sẽ có việc làm cả năm. Trong tám người kể trên có 5 thi sĩ.

Mục này đã từng viết về các thi sĩ Bàng Bá Lân, Hà Thượng Nhân, lần này chúng ta nhớ đến một người song hành vừa trình diễn thơ, ngâm thơ, và cũng làm thơ nhưng không nhiều, đó là Tô Kiều Ngân.

 

Người ta gọi ông là thi sĩ, cũng thường gọi ông là ngâm sĩ, vì ông làm cả hai việc, mà ngâm thơ trên làn sóng đài phát thanh là việc ông làm thường xuyên mỗi tuần. Ông tên khai sinh là Lê Mộng Ngân, sinh năm 1926 tại Huế, khoảng giữa thập niên 50 nổi tiếng qua làn sóng phát thanh bằng giọng ngâm thơ và tiếng sáo của ông hơn là bằng ngòi bút. Đó là một người hoạt động thi ca hơn là sáng tác thơ văn. Những năm đó Ban Tao Ðàn là một hiện tượng sinh hoạt văn nghệ rất được hâm mộ, không riêng với một Tô Kiều Ngân mà còn với những người trong ban, ngoài Đinh Hùng còn có Thanh Nam giữ phần biên tập, còn có Quách Đàm, Hồ Điệp, Hoàng Thư, Hoàng Oanh. Ngoài tiếng sáo và giọng ngâm, Tô Kiều Ngân còn cùng nhà văn Thanh Nam chủ trương tờ tuần báo Thẩm Mỹ và cộng tác thường xuyên với tờ Tiểu Thuyết Thứ Năm hay Tiểu Thuyết tuần san. Về thơ ông xuất bản được thi phẩm “Ngàn Năm Mây Trắng.”

 

Sau 1975 và thật muộn màng, phải hai năm sau khi ra đi vĩnh viễn Tháng Mười, 2012, tác phẩm “Mặc Khách Sài Gòn” của ông mới được ra đời. Đây là một ấn phẩm trang nhã do Nhã Nam xuất bản, bìa mộc mạc màu gỗ, với chân dung các nhân vật nghệ sĩ được viết đến ở bên trong, Tô Kiều Ngân may mắn thay còn để lại cho bằng hữu và người đọc người nghe, nói chung là giới thưởng ngoạn và yêu chuộng nghệ thuật còn lại, tác phẩm tâm huyết của ông nhan đề “Mặc Khách Sài Gòn.”

Ông giải thích như sau trong “Lời Nói Đầu:”

“Mặc Khách Sài Gòn” là từ chỉ các văn nhân thi sĩ cùng những người hoạt động nghệ thuật, mong muốn đem tài hoa, tim óc ra tô đẹp cho đời. Chữ “khách” hàm ý chỉ những người của đám đông, được nhiều người lưu tâm hay ngưỡng mộ. Mặc Khách Sài Gòn khá đông, mỗi người một vẻ, không chỉ một lúc mà viết hết được, nên chỉ xin giới hạn trong một số người mà tác giả may mắn quen biết, giao du hoặc cùng hoạt động chung trong một môi trường nghệ thuật.” Những người được thể hiện qua ngòi bút của Tô Kiều Ngân qua những bài viết nhan đề như sau. Nhan đề mang tính văn nghệ, nên người điểm sách sẽ ghi chú bên cạnh cho rõ hơn:

 

-Nhà văn An Nam khổ như chó: Viết về nhà thơ Nguyễn Vỹ (trang 7)

-Ai xuôi vạn lý: Viết về nhạc sĩ Lê Thương, tác giả ba bản Hòn Vọng Vu.

-Để ta tròn một kiếp say: Viết về Vũ Hoàng Chương.

-Trời cuối thu rồi em ở đâu: Viết về thi sĩ Đinh Hùng.

-Thương về năm cửa ô xưa: Viết về họa sĩ Tạ Tỵ, tác giả bài thơ nổi tiếng về Hà Nội.

-Tấm thân với mảnh hình hài: Viết về thi sĩ Bùi Giáng.

-Cho tôi về Ký Con: Ký Con là tên con phố ở Sài gòn, nơi Mai Thảo sống trong căn nhà phố dùng làm tòa soạn tạp chí Sáng Tạo.

-Chưa bao giờ buồn thế; Một lời nhạc của Cung Trầm Tưởng.

-Về yêu hoa cúc: Một nửa câu thơ của Nguyên Sa: Tóc nàng vàng tôi về yêu hoa cúc.

-Gối đầu trên đại bác: Hoàng Trúc Ly

-Lao vào lửa: Thụy Vũ

-Cánh đồng con ngựa chuyến tàu: Một câu thơ của Tô Thùy Yên.

 

Ba bài sau cùng trong tập sách viết về Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng và Phạm Thiên Thư.

Tác giả Tô Kiều Ngân tên thật là Lê Mộng Ngân, ra đời tại Huế năm 1926, mất tại Sài Gòn, Tháng Mười 2012.

Cuốn “Mặc Khách Sài Gòn” dày 270 trang, do Hồng Đức xuất bản, Nhã Nam tổng phát hành, trình bày nhã nhặn, giản dị mà phong cách rất sang. Cảm ơn cô Quỳnh Hương, con gái tác giả Tô Kiều Ngân, đã gửi cho chúng tôi cuốn sách này từ 2014, nay mới có dịp nói đến.

 

(Viên Linh)

https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/vien-linh-kieu-ngan-va-mac-khach-sai-gon/




Nam Phương Hoàng Hậu

NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT DUY NHẤT MẶC ÁO VÀNG TRONG TRIỀU ĐÌNH

Năm 1932 vua Bảo Đại về nước sau mười năm học tập ở Pháp. Bảo Đại (sinh 1913) là một ông vua đẹp trai, có Tây học, ham thích thể thao, săn bắn và âm nhạc, là hình ảnh lý tưởng của con gái Việt Nam, đặc biệt là con gái Huế thời bấy giờ và mãi nhiều năm về sau. Nhiều nhà quyền quý, có con gái đều nhắm đến vị Hoàng đế trẻ tuổi này.

 

Sau ngày Bảo Đại về nước, bà Từ Cung – mẹ đẻ của vua Bảo Đại, đã chọn cô Bạch Yến con ông Phó bảng Nguyễn Đình Tiến quê ở làng Chí Long (Phong Điền, Thừa Thiên) để chuẩn bị tiến cung. Cô Bạch Yến được dạy đàn ca, thơ phú, dạy ăn nói, đi lại cho đúng với lễ nghi trong cung cấm. Hằng ngày cô được tắm gội bằng sữa dê để giữ làn da đẹp. Nhưng rồi thật bẽ bàng, cuối cùng cô Bạch Yến đã không được Bảo Đại lưu ý.

Bởi vì Bảo Đại đã yêu cô Nguyễn Hữu Thị Lan (sinh 1914), con một nhà hào phú Nam bộ là ông Nguyễn Hữu Hào (gốc Gò Công). Bà còn là cháu ngoại ông Lê Phát Đạt, tức Huyện Sỹ – người giàu nhất Nam bộ đầu thế kỷ XX, Nguyễn Hữu Thị Lan là người nổi tiếng xinh đẹp, từng ba năm liền đạt giải hoa hậu Đông Dương.

Tuy nhiên, với quyết định này của nhà vua, đã khiến Thái Hậu Từ Cung vô cùng phiền lòng, còn triều đình như phải đối mặt với một cơn sóng dữ.

Xem trọn bài




Kỷ niệm 70 năm hội họa của họa sĩ Trương Thị Thịnh

Họa sỹ Trương Thị Thịnh sinh năm 1928 tại Huế, là một họa sỹ tài hoa, Tranh Trương Thị Thịnh có phong cách ấn tượng và trữ tình, kết hợp nhuần nhuyễn kỹ thuật Đông – Tây. Bà còn được biết đến như một họa sĩ có biệt tài về vẽ chân dung.

Cha mẹ của Họa sỹ Trương Thị Thịnh gốc miền Nam, tên cha Trương Văn Phước (Bình Dương) và mẹ Ca Thị Hương (Châu Đốc). Ba của Họa sỹ Trương Thị Thịnh làm công chức (1920-1930) vào thời Pháp thuộc, nhưng vì ba thích phiêu lưu nên đưa gia đình đi ra miền Trung hướng về điểm dừng chân là Huế. Họa sỹ Trương Thị Thịnh còn có 2 người chị gái là Trương Mỹ Chánh và Trương Mỹ Thiện và 2 em gái Trương Mỹ Ngọc, Trương Thị Hồng Liên, hai em trai là Trương Hồng Sơn và Trương Hồng Quang.

Xem Tiểu sử

http://hotruong.net/Nguoi-ho-Truong-duong-dai/hoa-sy-truong-thi-thinh-1097.html

 




Áo dài Việt Nam qua các thời kỳ

Khi nói đến khía cạnh thẩm mỹ, văn hóa và trang phục truyền thống của người Việt Nam, người ta thường nghĩ ngay đến tà áo dài và chiếc nón lá, thật vậy, trải qua từng thời kỳ, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quá trình phát triển lịch sử, tà áo dài Việt Nam tồn tại cùng với thời gian, được xem là trang phục truyền thống mang tính lịch sử lâu đời của người Việt.

Áo dài Việt Nam – những chặng đường lịch sử.

Ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc áo dài Việt với hai tà áo thướt tha trong gió đã được tìm thấy qua các hình khắc trên mặt trống đồng và hiện vật Đông Sơn cách ngày nay hằng nghìn năm (2879.BC-258.BC):

Trang phục Việt cổ thể hiện trên kiếm đồng Đông Sơn.

.

Truyền thuyết kể lại rằng khi cưỡi voi xông trận, Hai Bà Trưng (40-43.AD) đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng. Do tôn kính hai bà, phụ nữ Việt xưa tránh mặc áo hai tà mà thay bằng áo tứ thân.

Theo thời gian, trong khoảng từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, để có dáng dấp trang trọng và mang vẻ quyền quý hơn, phụ nữ nơi thành thị đã biến tấu kiểu áo ngũ thân từ chiếc áo dài tứ thân nhằm thể hiện sự giàu sang cũng như địa vị xã hội của người phụ nữ. Giống như một quy luật, trang phục cũng đi liền với diễn biến của lịch sử, chiếc áo dài ngũ thân vẫn không thể là điểm dừng của trang phục truyền thống Việt Nam.

 

Xem toàn bài




Phan Thanh Giản, nỗI đau trăm năm

Phan_Thanh_Gian

Từ thời lập quốc dân tộc Việt Nam trãi qua nhiều gian khổ chống ngoại xâm giữ nước, dù bị ngàn năm Bắc thuộc, gần 100 năm thuộc điạ cuả Pháp, Dân tộc Việt Nam giành lại độc lập, tự do. Từ thời Cổ Đại khi Ngô Quyền (899 – 944) xưng vương năm 939, biên giới giữa nước ta và Chiêm Thành là dãy Hoành Sơn, nằm phiá nam tỉnh Hà Tĩnh ngày nay. Di tích lịch sử phần lớn ở miền Bắc là cái nôi văn hóa, để mở rộng bờ cõi về phiá nam vua Lê Đại Hành (970-1005) đánh Chiêm Thành năm 982 (Nhâm ngọ).

Chiến tranh rồi cũng có lúc hiếu hòa qua cuộc hôn nhân Việt- Chiêm năm 1306 (Bính ngọ) vua Chế Mân (Simhavarman lll) cưới Huyền Trân Công Chúa, sính lễ là hai Châu Ô và Châu Rí (Lý) mở rộng tới Quảng Nam và các triều đại kế tiếp dần dần chiếm phần đất cuối cùng của Chiêm Thành…Chúa Nguyễn nghĩ đến vùng đồng bằng Chân Lạp (Chen-La Cambodia). Năm 1620 Sãi Vương gả công chúa thứ 2 Nguyễn Phúc Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chey-Chetta ll, cũng vì nhu cầu đất đai mở rộng biên giới. Qua nhiều lần tranh chấp nội bộ người Chân Lạp gây chiến tranh với Việt Nam, người Việt đã chiến thắng, từ năm 1757(Đinh sửu) cương thổ nước ta chính thức được hình thành cho tới ngày nay.

Trong cuộc Nam tiến những đợt di dân từ miền ngoài đến miền Nam khai phá rừng hoang, lập nên ruộng đồng, làng mạc, nhờ phù sa sông Cửu Long nên ruộng đất phì nhiêu sản xuất nhiều lúa gạo là vựa lúa nuôi sống miền Nam giữ một vài trò vô cùng quan trọng trong nông nghiệp. Nhờ phong thổ, khí hậu sông nước, làm chơi ăn thiệt nên đời sống người miền Nam phóng khoáng và giọng nói cũng nhẹ nhàng hơn, văn học từ đó cũng phát triển theo mang những nét đặc thù qua thi ca, hò nam bộ, cãi lương, ca vọng cổ … đóng góp cho văn học nước nhà thêm phong phú. Thời xa xưa các bậc khoa bảng đều xuất thân ở miền Trung và Bắc, vì thời đó phương tiện lưu thông chưa phát triển. Từ miền Nam muốn dự các kỳ thi phải về Kinh Đô Huế đường xá xa xôi. Phan Thanh Giản là người đầu tiên đậu tiến sĩ xuất thân từ miền Nam, cũng là người mang nỗi đau vì để mất các tỉnh miền Nam vào tay thực dân Pháp, chết cũng không yên bị đục bia tiến sĩ, cách chức rồi phục hồi danh dự, Từ năm 1975 hai trường trung học mang tên Phan Thanh Giản ở Cần Thơ và Đà Nẵng đều bị đổi tên? Để trả lại sự thật cho lịch sử, chúng ta có bổn phận phải chia xẻ nỗi đau của Phan Thanh Giản dù ngài đã mất cách đây 150 năm (1867-2017).

Xem trọn bài



Thi sỹ Phạm Tăng

Vũ Thư Hiên

Ai cũng biết Phạm Tăng hoạ sỹ và thi sỹ, nhưng ít người biết một Phạm Tăng đầy tính khôi hài. Xin đăng lên đây bài thơ “Paris muôn thuở” của họa sỹ Phạm Tăng, trong đó tác giả chơi chữ Tây và Việt một cách rất “tếu”.

PARIS MUÔN THUỞ

 

Có gì lạ ở Pa-ri?

Mà dân du khách hết đi lại về

Ép-Phen (1) giống mụ đầm xoè

Dạng chân vén váy đứng tè sông Sen (2) .

Mấy tầng sắt thép đan chen,

Trèo lên tận đỉnh mà xem Bú-Lồn(3)

Giữa Ê-Toan(4) , bãi Đờ-Gôn(5) ,

Cao sừng sững Khải Hoàn Môn tượng đài.

Săng-Li-Dê(6) lộ hàng hai

Bùng binh Con-coọc(7) , tháp Ai(8) thẳng đờ

Trắng phau Mông-Mạc(9) nhà thờ

Leo lên, lụt xuống mệt phờ cả râu.

Xúm nhau Bãi Tẹc(10) phía sau

Nghệ nhân dựng cọc, phết màu cu-lơ(11)

Bảo tàng danh tiếng Lu-Vơ (12)

Chành chảnh ba góc Tháp phô giữa vườn.

Người xem rúc rúc luồn luồn

Mò mò mẫm mẫm tới buồng Li-Da(13)

Trầm trồ khen gái Mô-Na

Nụ cười bí hiểm” quả là đáng mê!

Vén-xì(14) , nghệ thuật cao ghê

Trẻ lên cơn hứng, già dê cũng uỳ(15) !

Điện thờ Thánh mẫu Pa-ri(16)

Tháp chuông nhắc nhở tình si chàng gù(17)

Con chiên, cha cố, bà sờ.

Trai, ôm, gái ấp, kẻ rờ, người xem.

Cô-lông(18) trắng, cô-lông đen,

Từng dàn ríu rít bờ Sen(19) đón mời

Khách chơi đứng, khách chơi ngồi.

Chụp dăm tấm ảnh, mỉm cười thật…duyên!

Pi-Gan(20) là chốn động tiên

Tiên đen, tiên trắng có tiền là mua

Vạch đùi, tốc váy diễn sô,

Chổng mông, dạng háng, tiên cô hốt tiền!

Dạo sông Sen, có du thuyền,

Cưỡi Ba-tô Mút(21) , sướng rên đùng đùng.

Phố phường người chật, xe đông.

Mê-trô vác cặc(22) chạy rông dưới hầm.

Chen vai, sát..nách tây đầm.

Hít hà cho đã một lần Pa-ri…

Hoan hô E ép-phờ-i (23)

“Pa-ri muôn thuở cực kỳ giàu, sang

Ngày xưa ông Mít(24) họ hàng

Giờ nay Xí-rắc(25) lại càng dễ thương:

Vàng thoi, bạc cục rắc đường.

Biếu không du khách bốn phương ăn, sài!

Pa-ri chính hiệu bồng lai.

Ăn ngon, chơi đã, biếu ngoài buộc-boa (26)

Tha hồ lượm dưới trốt-toa(27)

Kinh Thành Ánh Sáng Gô-loa(28) dát vàng(29) !!

Nhắn riêng du khách Việt Nam:

Trăm năm kết nghĩa đá vàng với Tây

Chân đi đạp xuống mặt giầy

Tránh sao cho khỏi trát đầy chất thơm !!

Về nhà vợ gắt: “Mắm tôm???

Mùi chi nặng? Hẳn mùi chồn Pa-ri?

Giữ làm hương vị chuyến đi?”

 

T.T.

Tên gì ký tắt trên đây?

Thưa rằng: Chính mỏa(30) – thằng Tây trọc đầu!

 

Trong ảnh: (từ trái sang) Quản Phúc Cảnh, Phạm Tăng, Vũ Thư Hiên

Pham Tang- Vu Thu Hien

Chú thích là do chúng tôi thêm vào để cho những bạn không rành Paris.

1- Tháp Eiffel.

2- Sông Seine

3- Rừng nhỏ Boulogne

4- Quảng trường Étoile

5-Tổng thống De Gaulles

6- Đại lộ Champs Élysées

7- Quảng trường Concorde

8-Tháp Ai Cập, Obélisque deLuxor

9-Nhà thờ Thánh Tâm, khu Montmartre

10-Place des Ternes

11-Couleur, màu

12-Bảo tàng Le Louvre

13-Phòng có tranh Mona Lisa

14-Danh họa Leonardo di Venci

15-Oui, ừ

16-Nhà thờ Đức Bà ở Paris, Notre Dame de Paris

17-Nhân vật Quasimodo trong Những Người Khốn Khổ của Victor Hugo

18-Colombe, chim bồ câu

19-Sông Seine

20-Phố gái điếm Pigalle

21-Bateau mouche, thuyền ruồi

22-Carte, vé

23-RFI, đài phát thanh

24-Tổng thống Mitterrand

25-Tổng thống Chirac

26-Pourboire, tiền típ

27-Trottoir, vỉa hè

28-Gaulois, tổ tiên dân Pháp

29- Vàng, cứt chó

30- mỏa,tôi

 

 

 




Ai có quyền viết sử VN?

TRẦN TRUNG ĐẠO

9/23/2017

Từ hậu bán thế kỷ 19 đến nay, có bao nhiêu cuộc chiến, trong đó các bên đã đổ máu, diễn ra trên đất nước Việt Nam?

Câu trả lời tùy thuộc vào người bạn hỏi là ai.
Nếu bạn hỏi một sử gia người Mỹ có thể ông hay bà sẽ trả lời, Chiến tranh Việt Nam (Second Indochina War hay Vietnam War) là cuộc chiến tranh chống CS bành trướng xuống vùng Đông Nam Á bắt đầu từ ngày 1 tháng 11, 1955 khi Nhóm Cố Vấn Quân Sự Hoa Kỳ (U.S. Military Assistance Advisory Group) được thành lập tại Sài Gòn và chấm dứt khi Thượng sĩ Max Beilke, người lính tác chiến cuối cùng bước lên chiếc C-130 tại phi trường Tân Sơn Nhất để về quê anh ở Minnesota ngày 29 tháng 3, 1973.
Đối với các sử gia Mỹ, cuộc xung đột quân sự tại Việt Nam là xung đột giữa Mỹ một bên và CSVN một bên. Việt Nam Cộng Hòa chỉ là một phần phụ thuộc vào Mỹ.

Nếu bạn hỏi Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng CSVN, ông ta sẽ trả lời cuộc chiến “chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa CS trên toàn lãnh thổ Việt Nam chính thức bắt đầu vào tháng Giêng, 1930 tại Cửu Long, Hương Cảng và chấm dứt vào sáng 30 tháng Tư, 1975.”

Đối với Nguyễn Phú Trọng, chính bí thư thứ nhất đảng Lao Động (CS) Lê Duẩn, trong tác phẩm Dưới Lá Cờ Vẻ Vang Của Đảng đã xác định cuộc chiến từ sau 1954 đến 1975 là chiến tranh của đảng Cộng Sản. Trong diễn văn đọc tại Sài Gòn đầu tháng 5, 1975 Lê Duẩn khẳng định “Vinh quang này thuộc về đảng Lao Động Việt Nam quang vinh, người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.” Lê Duẩn không che giấu mục đích của đảng CSVN từ khi thành lập vào năm 1930 cho đến nay, tuy khác nhau về chiến lược của mỗi thời kỳ và hoạt động dưới nhiều tên gọi nhưng hoàn toàn nhất quán về tư tưởng và mục đích chính trị: Chiếm Việt Nam bằng bạo lực và cai trị Việt Nam bằng sắt máu.

Tuy nhiên, nếu bạn tìm được cách vào tù để hỏi Trần Huỳnh Duy Thức có thể anh sẽ trả lời khác. Cuộc chiến giành độc lập và tự do cho dân tộc Việt Nam bắt đầu vào ngày 1 tháng 9, 1858, khi quân Pháp dưới quyền Đô Đốc Charles Rigault de Genouilly tấn công Đà Nẵng chính thức mở đầu cuộc chiến tranh vì độc lập tự do và cuộc chiến đó vẫn còn đang tiếp diễn cho đến hôm nay.
Người viết tin anh Trần Huỳnh Duy Thức trả lời như thế, bởi vì trong Con đường Việt Nam, anh khẳng định “sẽ không có sự độc lập nếu không có tự do. Và sẽ không có độc lập dân tộc nếu không có độc lập cá nhân. Điều này là chân lý.”

Đúng vậy, độc lập cá nhân có quan hệ hỗ tương và nhân quả với độc lập dân tộc và do đó, cuộc chiến chống Thực Dân Pháp và cuộc đấu tranh chống độc tài CS là một cuộc vận động vì độc lập, tự chủ, dân chủ, tự do liên tục của lịch sử dân tộc Việt Nam.

Đó là con đường đầy máu nhuộm, đầy hy sinh nhưng rạng ngời chính nghĩa.
Bộ máy tuyên truyền của đảng CS nhuộm đỏ nhận thức người dân Việt Nam bằng lý luận chỉ có đảng CSVN mới là đảng duy nhất thật sự mang lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam.
Không phải.

Đừng quên rằng, bảy mươi mốt năm trước khi đảng CSVN thành lập năm 1930, con đường chiến đấu vì độc lập, tự do của toàn dân tộc Việt đã bắt đầu. Bắt đầu với máu của Đô Đốc Lê Đình Lý bị trọng thương ở Đà Nẵng, bằng thanh gươm của Tổng Đốc Võ Duy Ninh tự sát sau khi thành Gia Định thất thủ, được tiếp tục lót bằng sự hy sinh của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Trương Công Định, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Phan Đình Phùng, Tôn Thất Thiệp, Tôn Thất Đạm, Nguyễn Duy Hiệu, Tống Duy Tân, Đinh Công Tráng, Hoàng Hoa Thám và vô số anh hùng dân tộc khác.

Đừng quên rằng, bốn mươi năm trước khi Hồ Chí Minh đặt chân trở lại Việt Nam lần đầu năm 1941, các tư tưởng dân chủ khai phóng của Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Duy Tân Nhật Bản đã được các nhà cách mạng Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và các nhà cách mạng của phong trào Duy Tân truyền bá khắp ba miền. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do các nhà tân học miền Bắc như Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ đề xướng được đông đảo đồng bào ủng hộ. Phong trào Đông Du do cụ Phan Bội Châu kêu gọi đã thúc giục hàng trăm người Việt yêu nước như Lương Ngọc Quyến, Hoàng Trọng Mậu lên đường sang Nhật theo học tại các trường đại học quân sự Nhật.

Đừng quên rằng, hai mươi năm trước khi đảng CSVN ra đời đã có rất nhiều đảng phái chính trị chống thực dân Pháp được thành lập như Việt Nam Quang Phục Hội do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo, đảng Lập Hiến của nhà cách mạng Bùi Quang Chiêu, Thiên Địa Hội của Phan Xích Long, Việt Nam Quốc Dân Đảng do nhà cách mạng Nguyễn Thái Học lãnh đạo. Các tổ chức cách mạng đó có khác nhau về phương pháp thực hiện nhưng đều đặt cơ sở trên nền tảng dân tộc và hướng tới một chế độ Cộng Hòa. Hai nhà cách mạng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh chỉ khác nhau về đường lối tiến hành cách mạng chứ không khác nhau về mục đích và thể chế chính trị sau khi cách mạng dân tộc thành công. Ngay từ thời điểm đó, hai cụ Phan cũng đã khẳng định chế độ Cộng Hòa là con đường thời đại và là chế độ mang lại tự do, dân chủ và thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam. Cương lĩnh của Việt Nam Quang Phục Hội do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo vạch rõ mục tiêu của cách mạng là “đánh đuổi thực dân Pháp giành lại nước Việt Nam độc lập, thành lập Cộng Hòa Dân Quốc Việt Nam.”

Đừng quên rằng, chín mươi năm trước khi Tạp chí Cộng Sản ra đời 1955, mấy mươi tờ báo đã được phát hành khắp nước như Gia Định Báo (1865), Tiếng Dân (1876), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Đông Dương Tạp Chí (1913), Nam Phong Tạp Chí (1917), An Nam Tạp Chí (1926), Phụ Nữ Tân Văn (1929), Tiểu Thuyết Thứ Bảy (1934) và nhiều báo Pháp Ngữ. Dù khác nhau lập trường chính trị, lề lối điều hành nhưng tất cả đều nhằm thúc đẩy tiến trình khai dân trí tại Việt Nam.

Đừng quên rằng, năm 1945, theo tài liệu chính thức của đảng CSVN, tổng số đảng viên CS chỉ vào khoảng năm ngàn người trong khi con số người Việt yêu nước bị tù đày trên Côn Đảo qua nhiều thời kỳ, đã lên đến hai trăm ngàn người. Điều đó cho thấy, dù số lượng đảng viên CS có tăng dần, đại đa số những thế hệ Việt Nam chống Pháp là những người không Cộng Sản. Bức ảnh bi thương của ba chiếc đầu Đặng Đình Nhân, Nguyễn Trị Bình và Nguyễn Văn Cốc đựng trong rọ sau khi bị chém ngày 8 tháng 7 năm 1908 trong vụ Hà Thành Đầu Độc là một trong vô số bằng chứng hùng hồn truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam.
Nhưng tại sao CS thắng?

CS thắng chỉ vì họ không từ chối bất cứ một thủ đoạn nào dù bất nhân đến bao nhiêu, không hề tính toán cân nhắc phải chết hay phải giết chết bao nhiêu người, miễn là đạt được mục đích CS hóa Việt Nam. Song song đó, đảng CS áp dụng một chính sách tuyên truyền tẩy não, lợi dụng lòng yêu nước, bưng bít thông tin một cách tinh vi và tàn nhẫn nhất trong lịch sử loài người.

Một trong những ông tổ tuyên truyền thời hiện đại là Joseph Goebbels cũng đã phải bái phục bộ máy giết người và hệ thống tuyên truyền CS. Trong diễn văn khá dài đọc trước đại hội đảng Quốc Xã vào tháng Chín, 1935, Joseph Goebbels phân tích chủ trương tuyên truyền CS “bắt đầu với nguyên tắc cứu cánh biện minh cho phương tiện”, và tố cáo đó là “sự giả dối và vu khống, khủng bố con người và quần chúng, trộm cắp và đốt phá, đình công, phá hoại, gián điệp…” Tuyên truyền CS, theo Goebbels nhằm “ám sát cá nhân, ám sát con tin, giết người tập thể là các phương pháp được CS ưa thích để loại bỏ đối kháng…” Joseph Goebbels nghiên cứu và tố cáo chính sách tuyên truyền tẩy não, trấn áp, khủng bố CS nhưng trong thực tế y đã áp dụng hầu hết các biện pháp CS với một mức độ dã man không kém.

Các đảng phái quốc gia Việt Nam không làm được điều đó. Họ nhân ái quá. Họ Việt Nam tính quá. Chính vì lòng nhân ái và Việt Nam tính đó mà phần đông những nhà cách mạng độc lập và dân chủ đã chết, không chỉ chết dưới máy chém thực dân mà còn do CS thủ tiêu như Đức Huỳnh Giáo Chủ, Trương Tử Anh, Phạm Quỳnh, Khái Hưng, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp v.v..
Và hôm nay, một trăm năm mươi chín năm từ buổi sáng ngày 1 tháng 9, 1858 ở Đà Nẵng những Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga v.v.. lại tiếp tục con đường Phạm Hồng Thái, Lương Ngọc Quyến, Tôn Thất Thiệp đã đi, để viết nên trang sử độc lập tự do cho mỗi người Việt Nam và cho dân tộc Việt Nam.

Không ai có quyền viết sử Việt Nam ngoài chính dân tộc Việt Nam đang chịu đựng dưới ách độc tài CS. Con đường có thể còn xa nhưng là con đường chính sử. Chuyến xe có thể phải chậm vì chạy bằng máu của chính mình nhưng là chuyến xe tự chủ, không nô lệ cho bất cứ một ngoại bang nào.

Trần Trung Đạo

(23 tháng 9, 2017)




Phương pháp giáo dục của Hướng Đạo

HƯƠU HIỀN LÀNH – TÔN THẤT LÔI

https://www.facebook.com/thaithuan259/posts/601288406926161

Huong dao - Ton That Loi

Uỷ viên Huấn Luyện của HĐ Thừa Thiên, một trong tứ trụ (4 Thiếu đoàn lớn): Lê Mộng Ngọ (DCC), Phan Mạnh Lương (DCC), Lê Cương và Tôn Thất Lôi (ALT).

 

Phong trào Hướng Đạo do Huân tước Baden Powell người Anh khởi xướng, bắt đầu từ một cuộc cắm trại thí nghiệm trên đảo Brownsea Island năm 1907 với 20 thiếu niên, sau đó lan rộng khắp nước Anh, rồi phát triển ra khắp các nước trên thế giới và đã tỏ ra có một khả năng phi thường trong việc giáo dục thanh thiếu niên.

Phong trào đã quy tụ dưới lý tưởng, nguyên tắc và phương pháp chung hàng triệu Hướng đạo sinh.

Đến nay trên thế giới Phong trào giáo dục Hướng đạo đã có mặt trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ với số Hướng đạo sinh trên 30 triệu người và trên thế giới cũng đã có khoảng 500 triệu (*) người thuộc nhiều thế hệ đã là Hướng đạo sinh.

 

Tại sao Hướng đạo thu được kết quả, trong khi nhiều tổ chức khác thất bại, hoặc không có ảnh hưởng sâu rộng như thế ?

Tại sao Hướng đạo đã trở thành một hiện tượng của thế kỷ 20 ?

Tại sao y phục Hướng đạo, vài hoạt động Hướng đạo, lối tổ chức Hướng đạo đã được nhiều đoàn thể bắt chước vay mượn ?

 

Kết quả ấy là nhờ giá trị vững chắc của phương pháp hợp với thực trạng tâm lý của thiếu thời, nhờ ở tính chất bất vị lợi của tổ chức. Hướng đạo không chỉ là một phương pháp giáo dục mà trở thành một phong trào thanh thiếu niên, một hệ thống tổ chức sống động, một tình huynh đệ quốc tế, một lý tưởng sống.

Hướng đạo không phải là một học thuyết, một triết lý, Hướng đạo nhất định không phải là một đảng phái chính trị, một đoàn thể tôn giáo, Hướng đạo có những đặc điểm phải theo đúng tất cả, giá trị không chỉ ở một vài hình thức dễ trông thấy, mà ở nơi tất cả chương trình hoạt động, nơi sự tiến triển nhiều mặt của cá nhân, nơi đời sống lý thú của đoàn thể.

Hãy tìm hiểu đặc điểm của Phong trào này:

 

I- ĐẶC ĐIỂM CỦA PHONG TRÀO GIÁO DỤC HƯỚNG ĐẠO

1- Hướng đạo là một phong trào giáo dục:

Đây là đặc điểm cơ bản nhất của Hướng đạo. Hướng đạo không phải là một hội đoàn thể thao hay giải trí như có thể có người lầm tưởng, dù rằng trong Hướng đạo có nhiều sinh hoạt vui chơi, thể thao, giải trí, nhưng những trò chơi, những sinh hoạt đó được dùng để đạt tới mục tiêu giáo dục, tự nó không phải là một cứu cánh, hay nói cách khác việc học hỏi kiến thức hay kỹ thuật đặc biệt trong sinh hoạt Hướng đạo chỉ là một phương tiện để đạt tới một cứu cánh và cứu cánh đó chính là giáo dục.

Giáo dục theo nghĩa rộng có thể xem như là một quá trình nhằm phát huy toàn vẹn các khả năng của con người.

 

Cụ thể là chúng ta khêu gợi một cách rộng rãi ở trẻ tinh thần danh dự và ý thức trách nhiệm bằng cách giúp trẻ phát triển:

– Tính khí và trí tuệ

– Tài thủ công và tài tháo vát

– Tráng kiện và sức khỏe

– Ý chí phục vụ tha nhân

 

Huynh trưởng phải quyết tâm giúp các em rèn luyện đặc biệt là rèn luyện tính khí.

Tính khí là sự kết hợp của nhiều đức tính thuộc trí tuệ và đạo đức như hiếu kỳ, dũng cảm, trung thực, liêm chính. Hướng đạo chúng ta còn thêm vào 5 cái “Tự” nữa là: Tự lực, Tự giác, Tự tin, Tự trọng và nhất là Tự chủ có nghĩa là làm chủ bản thân.

Như vậy, mục đích tối hậu của phong trào Hướng đạo là giáo dục. Hướng đạo kết nạp trẻ để giáo dục họ trở nên những công dân tốt chứ không dùng họ làm công cụ phục vụ cho mục đích khác như xã hội, chính trị hay tôn giáo…

 

Công tác giáo dục của Hướng đạo nhằm vào đối tượng thanh thiếu nhi được phân chia thành 4 ngành như sau:

– Ngành Ấu : Từ 8 đến 11 tuổi

– Ngành Thiếu : Từ 11 đến 16 tuổi

– Ngành Kha : Từ 16 đến 18 tuổi

– Ngành Tráng : Từ 18 trở lên

 

2- Hướng đạo đào tạo người công dân tốt cho đất nước:

Mục đích của giáo dục Hướng đạo là đào tạo những thanh thiếu niên có tính khí lành mạnh, tháo vát, tự chủ, có sức khỏe, có ý chí để phục vụ tha nhân để trở thành người công dân toàn vẹn, có tinh thần trách nhiệm cho xã hội, đặc biệt là cho đất nước dân tộc, chuẩn bị cho đoàn sinh giữ một vai trò xứng đáng trong cộng đồng xã hội.

 

Tóm lại phong trào Hướng đạo góp phần vào việc giáo dục thanh thiếu niên bằng cách giúp họ phát huy toàn vẹn các khả năng về thể chất, trí tuệ, xã hội và tinh thần để trở thành người công dân tốt.

Như vậy hội Hướng đạo của mỗi quốc gia có bổn phận đào tạo công dân tốt cho quốc gia mình.

 

3- Hướng đạo đặt căn bản trên sự tự nguyện:

Nguyên tắc căn bản trong việc kết nạp đoàn sinh của giáo dục Hướng đạo là tự ý gia nhập.

Trẻ tự nguyện trở thành Hướng đạo vì tự mình cảm thấy thích chớ cha mẹ hay các trưởng Hướng đạo đều không thể bắt buộc trẻ nếu tự nó không muốn.

 

Đây là đặc điểm làm cho Hướng đạo khác hẳn với nhiều đoàn thể và cũng làm thấy rõ quan niệm của Hướng đạo đối với nhân vị. Nói đến nhân vị là nói đến tự do quyết định của con người. Nhân vị tỏ rõ giá trị mình nơi sự nhận định tự do quyết định và sự đảm đương trách nhiệm mình cho xứng đáng với tự do ấy.

Hướng đạo đặt sự tín nhiệm nơi trẻ, không những trông cậy và hy vọng nơi phần trong sạch cao đẹp của trẻ, mà còn đề cao danh dự của trẻ. Thái độ ấy ngược hẳn với bao nhiêu lối giáo dục và huấn luyện khinh thường trẻ và bắt buộc trẻ vào những khuôn mẫu có khi không hợp với thực trạng tâm sinh lý của trẻ, quá khả năng hay không kêu gọi được sự hợp tác chân thành của trẻ. Trẻ Hướng đạo tự tình nguyện sống theo luật, không chịu sự miễn cưỡng ràng buộc nào, do một uy lực tinh thần hay vật chất nào.

 

Trẻ tìm được hứng thú, trẻ lấy làm kiêu hãnh khi gia nhập phong trào, khi lấy danh dự mình mà hứa… “Tôi lấy danh dự tôi hứa sẽ cố gắng hết sức…”.

Chìa khóa của giáo dục Hướng đạo là phát huy tinh thần danh dự và ý thức trách nhiệm của trẻ để trẻ tự nguyện gia nhập.

Tóm lại Phong trào Hướng đạo mang tính cách tự nguyện, việc gia nhập phong trào đối với trưởng cũng như đoàn sinh là một hành động tự nguyện.

 

4- Hướng đạo không phân biệt đối xử khi gia nhập:

Phong trào Hướng đạo mở ra cho mọi người không phân biệt giai cấp, chủng tộc, quốc tịch và tín ngưỡng. Đây cũng là một đặc điểm cơ bản, vì trong Hướng đạo không có kỳ thị đối xử về bất cứ phương diện nào, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Mọi người tự nguyện gia nhập đều được bình đẳng.

 

5- Hướng đạo không tham gia chính trị đảng phái:

Quy trình Hướng đạo nêu rõ: Hướng đạo không hoạt động và cổ động về mặt chính trị. Tính cách không chính trị của phong trào Hướng đạo theo chính sự giải thích của Hướng đạo thế giới có nghĩa là Hướng đạo không bao giờ tham dự vào việc tranh đấu giành quyền hành, giành chính quyền là mục tiêu cuối cùng của chính trị và là đường lối hành động của các đảng phái chính trị.

 

Nói cụ thể là Hướng đạo không tham gia chính trị đảng phái, không ủng hộ bất cứ một phe nhóm, một cá nhân nào trong mục đích giành lấy chính quyền. Nhưng Hướng đạo không đứng ngoài, tách ra khỏi các thực tế chính trị của Quốc gia.

 

Trong lễ Tuyên hứa, trong các cuộc cắm trại, Hướng đạo sinh phải nghiêm chỉnh chào Quốc kỳ, hát quốc ca, vì như đã nói trên Hướng đạo, nhằm mục đích giáo dục công dân của ngày mai, tập cho đoàn sinh nếp sống trong một xã hội dân chủ, giúp thanh thiếu niên trở thành những công dân xứng đáng có trách nhiệm trong xã hội mai sau. Việc giáo dục công dân này không thể tiến hành mà không có một nhận thức sắc sảo về thực tế chính trị của đất nước.

 

6- Hướng đạo là một đoàn thể giáo dục mang tính chất độc lập:

Phong trào Hướng đạo có Luật và Lời hứa, có những mục tiêu và phương pháp giáo dục riêng của mình mà không ai có thể thay đổi hay thêm bớt gì cả.

Đừng hiểu sai lầm rằng độc lập là không tuân theo pháp quyền của nhà nước. Trên thế giới mọi quốc gia đều có pháp quyền riêng của mình, và tất cả các hội đoàn hoạt động trong nước đều phải tuân theo pháp luật của quốc gia đó.

 

Phương pháp giáo dục Hướng đạo đào tạo công dân tốt cho đất nước tất yếu phải giáo dục cho trẻ ý thức biết tôn trọng pháp luật của quốc gia, quyết tâm rèn luyện chí khí để sau này phục vụ tốt cho xã hội, quốc gia mình.

 

II- ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HƯỚNG ĐẠO

Để tiến tới mục tiêu và đạt được mục đích giáo dục, phong trào Hướng đạo sử dụng một Phương pháp giáo dục đặc biệt.

 

Phương pháp giáo dục Hướng đạo là một hệ thống tự giáo dục tuần tự kết hợp bởi nhiều yếu tố bao hàm một tổng hợp gồm nhiều phần tử quan hệ chặt chẽ với nhau, liên kết thành một tổng thể mạch lac. Do đó trong giáo dục Hướng đạo chỉ có một Phương pháp Hướng đạo, không thể nói có nhiều phương pháp riêng rẽ, vì chỉ có thể nói đến Phương pháp Hướng đạo khi nào các yếu tố đó được kết hợp thành một hệ thống giáo dục mạch lạc.

Hãy lần lượt phân tích đặc điểm của từng yếu tố:

 

1- Hướng đạo dùng Luật và Lời hứa Hướng đạo để giáo dục trẻ:

Luật và Lời hứa Hướng đạo là khí cụ để diễn đạt các nguyên tắc chỉ đạo của phong trào, một trong những đặc điểm cơ bản của Hướng đạo là mỗi thành viên tự nguyện cam kết vào Lời hứa và Luật Hướng đạo.

Ở đây không bàn đến khía cạnh nguyên tắc đạo đức bao hàm trong Lời hứa và Luật Hướng đạo, mà chỉ nói tới công cụ sư phạm của Luật và Lời hứa. Nói một cách khác Luật và Lời hứa dưới góc độ này được dùng như một phương tiện tự giáo dục. Luật và Lời hứa Hướng đạo không có tính cách tiêu cực như các luật lệ khác, mà có tính cách tích cực: không cấm điều dở nên tránh mà trái lại khuyên bảo điều hay nên làm. Luật chỉ mô tả một Hướng đạo sinh lý tưởng. Mười điều luật là mười mẫu người Hướng đạo sinh tiêu biểu. Ai theo đúng mới là Hướng đạo sinh.

 

Phong trào Hướng đạo khác với những đoàn thể thanh thiếu niên khác ở chỗ là các thành viên của phong trào từ em Thiếu sinh nhỏ bé nhất đến Trưởng Ủy viên lão thành nhất đều chung Lời hứa và 10 điều Luật. Có điều rất sáng tạo là mỗi lứa tuổi hiểu và thi hành Luật theo trình độ của mình.

 

Cũng là trung thành với Tổ quốc, các em Thiếu sinh phải nghiêm chỉnh lúc chào Quốc kỳ, hát quốc ca, cố gắng học hành để mai sau xây dựng đất nước, các Tráng sinh có trách nhiệm cao hơn: phải chiến đấu dưới cờ để bảo vệ đất nước, giữ vững bờ cõi, không bao giờ làm tay sai cho ngoại bang, không là kẻ bán nước.

Cũng là điều luật thứ 10, Thiếu sinh hiểu rằng phải sạch sẽ, vệ sinh, không trộm cắp, không chửi thề… Tráng sinh thì phải hiểu thêm: không ham mê tửu sắc, không có tà tâm, không tham nhũng, phải ăn nói lịch sự…

Huynh trưởng Hướng đạo là người tự nguyện phục vụ việc giáo dục đoàn sinh theo phương pháp Hướng đạo lại càng phải thực hiện đúng Luật và Lời hứa Hướng đạo qua tác phong, thái độ, cử chỉ, nếp sống, cách thức làm việc, tinh thần trách nhiệm và tinh thần cộng tác để làm gương mẫu cho các em noi theo. Nói chung là tùy theo lứa tuổi mà hiểu và thực hành Luật theo đúng trình độ của mình.

Trong quá trình tự rèn luyện, Lời hứa và Luật là một quy tắc danh dự mà mỗi người cố gắng noi theo trong cách hành động và suy nghĩ của mình.

 

Huynh trưởng Hướng đạo phải luôn luôn nhắc nhủ đoàn sinh hiểu rằng: HĐS phải thuộc nằm lòng Luật, Lời hứa và Châm ngôn Hướng đạo, hiểu rõ ý nghĩa và đem thi hành những điều ấy trong đời sống hằng ngày vì Luật, Lời hứa và Châm ngôn Hướng đạo là Kim chỉ nam hướng dẫn các em vững tiến trên đường đời, là thước đo tinh thần Hướng đạo của đoàn sinh để theo dõi sự tiến bộ của từng người.

 

2- Hướng đạo dùng trẻ để dạy trẻ:

Một đặc điểm nữa của phương pháp giáo dục Hướng đạo là dùng trẻ để dạy trẻ. Đặc điểm này là do tài nhận xét và biết khai thác của BP. Chúng ta biết trẻ thường kết nhau lại thành bè lũ hay phe nhóm, làm thành những xã hội cỏn con riêng biệt, có luật lệ, có tập tục, có tiếng lóng ngôn ngữ riêng, những xã hội mà người lớn không xâm nhập được. Những trẻ sống trong đám như thế có bí danh như đoàn viên một hội kín, triệt để tuân theo mệnh lệnh của kẻ cầm đầu. Chúng có tinh thần đoàn kết và kỷ luật. Chỉ tiếc mục tiêu và những hoạt động của những đám ấy có thể đưa chúng đến chỗ hư hỏng.

 

BP đã lợi dụng lối kết hợp ấy, lập ra phép hàng đội tự trị để trẻ em huấn luyện trẻ em, thỏa mãn xu hướng tự nhiên của trẻ. Mục đích đã được thay đổi: trò chơi, các hoạt động đều hướng đến ích lợi cho trẻ. Đây là chìa khóa vàng đã đem đến thành công rực rỡ cho phương pháp giáo dục HĐ.

Tế bào quan trọng nhất trong tổ chức HĐ là:

– Đàn trong ngành Ấu

– Đội trong ngành Thiếu

– Tuần trong ngành Kha

– Toán trong ngành Tráng

 

Ở Thiếu đoàn, Thiếu trưởng chọn một em có đủ năng lực trong số đoàn sinh có kinh nghiệm sinh hoạt HĐ nhiều nhất để làm Đội trưởng. Đội trưởng tự chọn lấy Đội phó của mình.

Đội có tên riêng có đời sống riêng, có những đặc thù cá tánh riêng biệt. Đội là một cộng đồng nhỏ trong đó mỗi đoàn sinh giữ một vai trò rõ rệt trong sinh hoạt thường xuyên của Đội, như giữ chức vụ thủ quỹ, thư ký, phụ trách bảo trì lều trại, phụ trách cất giữ vật dụng khác…

 

Đội có đời sống tự trị như: Họp Đội, Xuất du, lập Dự án Đội … để các em tự quản trị sinh hoạt của mình, cùng nhau soạn thảo, phát họa những dự án để cùng thực hiện.

Đội dự phần trong sinh hoạt dân chủ của Đoàn. Các Đội góp ý kiến để quyết định sinh hoạt của Đoàn qua cơ chế như Hội đồng Đội, Hội đồng Đội trưởng, Hội đồng Đoàn.

 

Trong Đoàn, Đoàn trưởng không nên giữ vai trò chỉ huy và lãnh đạo mà chỉ nên làm cố vấn thúc đẩy.

Một Đoàn HĐ như vậy có một lề lối sinh hoạt dân chủ như một quốc gia nhỏ bé, trong đó Hội đồng Đoàn là Quốc hội hay cơ quan lập pháp, Hội đồng Đội trưởng là cơ quan hành pháp thi hành các quyết định của Hội đồng Đoàn. Qua cách sinh hoạt trong Đội và Đoàn mỗi đoàn sinh nhận thức trách nhiệm và bổn phận của mình trong cộng đồng. Đội và Đoàn là những cộng đồng nhỏ đầu tiên có một tổ chức, một sự phân công, một hình thức sinh hoạt dân chủ, giúp đoàn sinh làm quen với nếp sống trong một cộng đồng dân chủ, luyện tập khả năng hợp tác với kẻ khác, khả năng lãnh đạo, khả năng tổ chức, quyết định cũng như rèn luyện chí khí.

Phương pháp hàng đội như vậy là một yếu tố chủ yếu của phương pháp Hướng đạo và được áp dụng cho tất cả các ngành từ Ấu đến Tráng với những thích nghi cần thiết cho hợp với lứa tuổi của mỗi ngành.

 

3- Hướng đạo dùng chương trình hấp dẫn để huấn luyện:

Để lôi cuốn trẻ ham thích học hỏi BP lập nên hệ thống đẳng cấp và chuyên hiệu làm cho trẻ em ham thích mãi, tiến bộ mà không biết.

 

Tiến trình đẳng thứ HĐ là cái thang về kỹ năng thủ thuật mà trẻ phải tiến lên dần dần, từng nấc một. Cứ dần dần học tập kỹ năng HĐS sẽ leo lên các nấc đẳng thứ thể hiện bằng các huy hiệu HĐ Hạng nhì, HĐ Hạng nhất, HĐ Hiệp sĩ hoặc được quyền gắn lên đồng phục những huy hiệu chuyên môn, nhờ đó mà việc huấn luyện cứ tiếp diễn mãi, thúc giục trẻ có dịp thử thách tài năng và chí khí của mình.

 

Hệ thống huy hiệu của HĐ có ích lợi không phải nhỏ: dạy cho trẻ tháo vát, sửa soạn cho trẻ tìm nghề nghiệp thích hợp với năng khiếu của mình. Chương trình sinh hoạt phải thật sự hấp dẫn và được sắp xếp từ dễ đến khó.

Đây là cách thức huấn luyện trẻ về nhiều phương diện, đào tạo những con người quân bình và hòa diệu, biết nhận định giá trị của mọi điều.

 

4- Hướng đạo dùng Trò chơi làm đòn bẩy chính yếu trong giáo dục:

Đối với trẻ chơi là một nhu cầu thiết yếu để nẩy nở, là bản tính thiên nhiên của trẻ, chơi là sống, sống thật sự đời sống của trẻ thơ. Chơi là một cách tranh đấu, một cách dự bị tranh đấu do bản năng tạo ra để lần lần đưa chúng vào cuộc tranh đấu thật sự, lớn lao và khó khăn là cuộc đời.

Giáo dục Hướng đạo không cho trò chơi là một hoạt động giải trí, một trò vui chốc lát cho trẻ em. Hướng đạo coi trò chơi là một phương tiện quan yếu để giáo hóa, một phương pháp giáo dục tốt và hay nhất.

Trẻ em ham thích gì ? Chúng thích hoạt động, thích tiếp xúc với sự vật xung quanh, chạy nhảy sờ mó, nếm ngửi, cân nhắc mọi vật. Tuổi trẻ là tuổi thám hiểu tạo vật.

 

Nếu khéo chọn trò chơi, các em sẽ đạt được nhiều kết quả không ngờ cho tính tình và thể chất. Dùng trò chơi chúng ta đã khiến trẻ để ý đến sức khỏe mà chưa bao giờ các em nghĩ tới. Nhờ chơi mà những em lôi thôi, thiếu trật tự nhất, lại thành ra thích trật tự vì thiếu trật tự thì không trò chơi nào thắng được. Khi chơi các em không xem cái nóng cái lạnh, mệt nhọc và khát nước ra gì, coi thường tất cả những chỗ sướt da khi chơi lớn, không để ý đến lòng tự ái bị tổn thương khi chơi toàn đội. Chơi trò chơi luyện giác quan buộc các em phải cố gắng chú ý. Cho các em có dịp đóng vai vị anh hùng, thúc giục các em noi gương vị anh hùng ấy, cố gắng thực hành đức tính của vị anh hùng. Nếu khéo biết giữ lấy tinh thần cuộc chơi, khéo xen vào các lúc nghỉ ngơi các trò chơi nhẹ nhàng, xen các trò chơi im lặng vào các trò chơi ồn ào thì tác dụng giáo dục không phải là nhỏ.

 

Hướng đạo lại cần cho trẻ chơi để hiểu trẻ. Việc hiểu trẻ rất cần thiết cho công cuộc giáo huấn. Huynh trưởng cần biết rõ tánh tốt tật xấu của mỗi đoàn sinh để tìm phương bổ cứu, nhưng thường ngày khó hiểu rõ bộ mặt thật của các em. Đứng trước người lớn, thường trẻ con tự kiềm chế, hay làm bộ hiền lành, chỉ trong lúc chơi, vì say sưa với trò chơi, mãi lo thắng cuộc trẻ em không còn nghĩ đến việc “đóng tuồng” mới lộ chân tướng ra, nhờ thế Trưởng mới rõ ưu khuyết điểm của các em để giáo dục từng em một.

Tóm lại mọi hoạt động Hướng đạo đều mang hình thức trò chơi, kể cả khi học kỹ năng, làm việc thiện hằng ngày, kể cả phần tinh thần như Luật, Lời hứa, Châm ngôn.

 

5- Hướng đạo giáo dục bằng thực hành:

Hướng đạo giáo dục bằng thực hành. Đối với trẻ, Hướng đạo không nói lý thuyết, không có lý luận, trong buổi họp hay đi cắm trại Đoàn trưởng chỉ có một phút đồng hồ để đề cập bằng lối bóng gió đến vấn đề tinh thần. Hướng đạo dạy mà không giảng, nghĩa là dạy làm chớ không dạy nói. Hướng đạo đặt nặng việc thực hành về cả các mặt: đạo đức, trí tuệ và sức khỏe.

 

Thực tiễn kinh nghiệm với khoảng 500 triệu trẻ em kinh qua giáo dục Hướng đạo trong gần một thế kỷ đã chứng minh rằng giáo dục kiểu này mang lại hiệu quả cao nhất.

Trong sinh hoạt Hướng đạo đoàn sinh học hỏi những công việc mà mình ưa thích bằng những trò chơi, bằng cách quan sát thí nghiệm, tiếp xúc với thực tế. Đó là điểm khác biệt lớn so với phương pháp cổ điển của nhà trường. Thay vì một bài học lịch sử, đơn vị HĐ tổ chức một trò chơi lớn dùng bối cảnh lịch sử, sử dụng những diễn biến, những trận chiến liên quan đến chủ đề, hay dựng lên một vở kịch, một câu chuyện bằng tranh … Những sưu tập bằng cây cỏ, dấu vết thú rừng v.v… thay thế những bài học vạn vật. Có những trò chơi luyện giác quan, luyện tập óc quan sát, suy luận, khuyến khích tinh thần đồng đội…

Mỗi sinh hoạt trong Hướng đạo đều nhằm đạt tới một mục tiêu giáo dục rõ rệt.

 

6- Hướng đạo dùng đời sống ngoài trời để giáo dục trẻ:

Sinh hoạt ngoài trời cũng là một đặc điểm quan trọng trong giáo dục HĐ.

Không phải tất cả sinh hoạt Hướng đạo đều xảy ra ngoài trời, nhưng đời sống Hướng đạo cho đoàn sinh nhiều cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên.

 

Ngoài việc giúp rèn luyện một cơ thể lành mạnh, dẻo dai, những sinh hoạt ngoài trời giúp rất nhiều trong việc rèn luyện chí khí và phát triển trí tuệ. Những thử thách mà thanh thiếu niên phải đương đầu khi sống ngoài thiên nhiên kích thích những khả năng sáng tạo và thích ứng để vượt qua trở ngại. Đó là cơ hội mà đời sống tiện nghi thị thành ít có khả năng đem lại. Về mặt phát triển tinh thần xã hội và cộng đồng, các buổi thám du, cắm trại giữa thiên nhiên đòi hỏi phải tổ chức đời sống sát cánh bên nhau trong những thử thách, những giây phút gian lao, đó là những cơ hội tốt để thắt chặt tình đoàn kết, tinh thần đồng đội giúp HĐS thấy rõ thế nào là ý nghĩa và tầm quan trọng của đời sống cộng đồng. Hơn nữa, những dịp tiếp xúc với thiên nhiên giúp đoàn sinh mở rộng tâm hồn và tầm nhìn của mình để hướng đến những giá trị tinh thần.

 

BP cho rằng: “Mặt trời, nước lạnh, không khí và sự vận động là thức ăn cần thiết cho thể chất. Cảnh trời cao đất rộng, núi non hùng vĩ, một cuộc sống mạo hiểm giữa thiên nhiên là chất bổ cho tinh thần.”

Như vậy chúng ta có thể thấy thiên nhiên là một môi trường hết sức thuận tiện cho công cuộc phát triển hài hòa và toàn diện của đoàn sinh.

 

7- Hướng đạo giáo dục bằng thói quen tốt, thói quen làm việc thiện:

BP cho rằng: “Con người dù xấu đến đâu cũng còn có 5% phần tốt. Nếu biết bồi dưỡng cho các phần tốt đó ngày càng nẩy nở thì các phần xấu dần dần sẽ biến đi, và con người đó sẽ trở nên tốt”. Do đó Hướng đạo coi trọng việc duy trì và phát triển thói quen tốt: thói quen tìm tòi, xem xét, suy nghiệm phát triển trí thức, giúp ích lớn lao cho khối óc và tri tuệ, thói quen lao động chân tay giúp giữ gìn sức khỏe và là trợ lực đáng kể cho đạo đức lẫn trí thức, thói quen tằn tiện của mình, của người, của xã hội và đặc biệt thói quen làm việc thiện hằng ngày. Thói quen làm việc thiện dần dà gây nên tâm lý nghĩ thiện. Thói quen này đi vào tâm thức trẻ nhỏ làm phát huy mạnh mẽ tâm địa vị tha, hướng trẻ luôn nghĩ đến người khác, nhờ vậy phát triển tinh thần xã hội nơi trẻ. Thói quen làm việc thiện hằng ngày hướng trẻ đến tinh thần giúp ích.

 

Nói đến giúp ích, Hướng đạo có quan niệm riêng. Theo BP sự giúp ích không chỉ là những bài học thuộc lòng, không chỉ là những lời nói suông, mà được tỏ rõ trong những hoạt động hằng ngày, quan trọng tùy theo tuổi, tùy theo trường hợp. Làm một điều vui cho kẻ khác, làm một việc thiện hằng ngày, tham gia công việc kiến thiết ở địa phương, bảo vệ xứ sở… Hướng đạo quan niệm sự giúp ích phải được sửa soạn chu đáo. HĐS phải biết giúp ích, đủ sức để giúp ích. Những hoạt động Hướng đạo mà đôi người xem thường hay lầm tưởng đó là mục tiêu như thắt gút, truyền tin, cứu thương, quan sát là những cách sửa soạn.

 

Thiện chí đâu có đủ ! Thiện chí mà thiếu tài năng còn đưa đến kết quả tai hại.

Thêm nữa sự giúp ích chỉ có giá trị khi thực hiện ngoài bổn phận, không phải vì lợi vì danh hay vì áp lực nào mà có, mà chỉ vì tình thương yêu.

Như vậy nhờ phát triển những thói quen tốt và làm việc thiện hằng ngày huynh trưởng Hướng đạo đã chuẩn bị cho đoàn sinh sẵn sàng để phục vụ tốt cho cộng đồng xã hội, cho đất nước quê hương.

 

8- Hướng đạo giáo dục từng trẻ một:

Giáo dục Hướng đạo có tính cách toàn diện nhưng lại là lối giáo dục từng trẻ một. Hướng đạo không un đúc trẻ theo một khuôn mẫu nhất định, mà giáo dục phải bắt đầu từ thực tế phức tạp của từng người một.

Mục đích quan trọng của Hướng đạo là giúp trẻ có chí khí, cho trẻ có đời sống riêng biệt, với tự do quyết định và can đảm lãnh trách nhiệm làm người của mình. Hướng đạo muốn mỗi trẻ thành một nhân vị đầy đủ. Đặc điểm này làm Hướng đạo khác hẳn với các đoàn thể thanh niên khác.

 

ướng đạo không chú trọng đến số đông. HĐ không có tham vọng quy tụ rất nhiều trẻ, vì lẽ không đủ huynh trưởng, và huynh trưởng cũng không có đủ thì giờ và tài sức để trông nom một lần nhiều trẻ được. Vì vậy một đơn vị HĐ phải có số đoàn sinh giới hạn không thể vượt qua. Ấu đoàn không thể quá 24 sói, Thiếu đoàn không thể quá 32 em, Kha đoàn không thể quá 30. Nhờ vậy đoàn trưởng mới theo dõi cá tính từng đoàn sinh cùng với tiến bộ của mỗi người.

Như vậy giáo dục HĐ là một quá trình giáo dục theo dõi sự tiến triển, sự tăng trưởng cá nhân để giáo dục từng đoàn sinh một.

 

9- Hướng đạo giáo dục bằng gương sáng của Trưởng:

Huynh trưởng Hướng đạo là những người tự nguyện phục vụ việc giáo dục trẻ em theo phương pháp Hướng đạo càng phải thực hiện đúng Luật, Lời hứa và Châm ngôn HĐ qua tác phong, thái độ, cử chỉ, nếp sống, cách thức làm việc, tinh thần trách nhiệm và tinh thần cộng tác để làm gương mẫu cho các đoàn sinh noi theo, vì “gương sáng” là phương tiện giáo dục hữu hiệu nhất.

 

10- Giáo dục Hướng đạo phát triển khả năng lãnh đạo của đoàn sinh:

BP chủ trương rằng càng tìm kiếm nhiều cách vun trồng những cơ hội lãnh đạo cho các em, thì hạt giống lãnh đạo ở các em càng dễ dàng tăng trưởng bấy nhiêu.

 

Những yếu tố đã nêu trên chứng tỏ rất có ảnh hưởng vào sự phát triển khả năng lãnh đạo của trẻ em.

Đối với huynh trưởng, việc cần nhất là làm sao cho các em có được nhiều kinh nghiệm lãnh đạo. Thật sự cơ hội lãnh đạo đã có ngay trong cả Đoàn lẫn Đội: cần giao phó công tác làm sao giúp các em phát triển tài năng lãnh đạo, và dần dần tập các em đảm nhiệm ở mức độ ngày càng cao hơn.

 

Đối với các em còn ít dịp lãnh đạo, cơ hội lãnh đạo có thể là ngắn ngủi như điều hành một buổi trình diễn cho phụ huynh, hoặc thưc thi một chương trình của đoàn giao phó.

Nên nhớ rằng, không chỉ những em có chức vụ mới được phát triển tài năng lãnh đạo, mà cả với những em HĐS mới, kỹ năng lãnh đạo cũng phải được phát triển.

 

11- Đồng phục HĐ, một công cụ đa dụng trong giáo dục HĐ:

Đồng phục HĐ là một công cụ đa dụng. Khi đã khoác đồng phục vào trẻ nhớ rằng mình là một HĐS, và nhớ rằng mọi người đều biết mình sẽ hành động xử sự theo cách HĐ. Đồng phục, biểu lộ cho thấy em HĐS ấy đang tin tưởng và quyết tâm theo đuổi lý tưởng HĐ. Do đó HĐS hãnh diện khi mặc đồng phục, nhất là khi trên áo còn mang những huy hiệu chứng tỏ em đã thành đạt đến mức nào về kỹ năng, thủ thuật và tài lãnh đạo.

Đồng phục HĐ còn có tác dụng xóa sự phân biệt giữa các trẻ em thuộc các từng lớp xã hội khác nhau.

Đồng phục luôn nhắc nhở rằng em thuộc vào một cộng đồng huynh đệ thế giới trong đó có hằng triệu trẻ như em có cùng chung một lý tưởng và cùng chung một chương trình sinh hoạt.

 

Mặc đồng phục nghiêm túc gây được tinh thần Đội, tinh thần Đoàn mà còn gây được cảm tình đối với huynh trưởng, phụ huynh và với bà con trong cộng đồng xã hội mà em tiếp xúc.

 

Đồng phục HĐ đẹp, rất hấp dẫn đối với trẻ mới vào đoàn.

Đồng phục HĐ gọn gàng đứng đắn, rất đa dạng, không những để sinh hoạt ngoài trời như vui đùa, trèo non vượt suối mà còn dùng được trong lễ nghi, tiếp tân.

Giá trị công hiệu của đồng phục càng tăng khi các trưởng, các Ủy viên HĐ cũng mặc đồng phục nghiêm túc như các em.

Do đó, thói quen cho đoàn sinh mặc đồng phục đứng đắn, nghiêm túc làm nẩy nở tinh thần tự trọng và ảnh hưởng lớn đến thanh danh của phong trào.

 

III- PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HƯỚNG ĐẠO MANG TÍNH CHẤT KHOA HỌC

Những yếu tố cấu tạo nên Phương pháp giáo dục Hướng đạo đã trình bày trên hoàn toàn dựa vào tâm sinh lý của trẻ:

Tin vào danh dự của trẻ, tôn trọng trẻ, BP tin vào Lời hứa “Tự nguyện tuân theo Luật HĐ” của trẻ. BP dùng 10 điều luật với nội dung tich cực để giáo dục trẻ.

Trẻ thích tập họp thành phe nhóm để sinh hoạt với nhau, BP lập ra phép Hàng đội tự trị với mục đích hữu ích để trẻ em huấn luyện trẻ em.

 

Trẻ thích làm chỉ huy, thích mang huy chương, huy hiệu, BP bày ra chương trình đẳng thứ hấp dẫn để huấn luyện làm cho trẻ ham thích, tiến bộ mãi mà không biết.

Trẻ thích chơi, BP dùng trò chơi làm đòn bẩy chính yếu trong giáo dục HĐ, dùng trò chơi làm phương tiện để giáo hóa trẻ.

 

Trẻ thích sinh động HĐ giáo dục bằng thực hành làm trẻ thích học, mau biết và nhớ lâu.

Trẻ thích phiêu lưu mạo hiểm, BP dùng khung cảnh thiên nhiên để huấn luyện: cắm trại, thám du…

BP tin rằng: mầm tốt càng phát triển sẽ dần dần lấn át các mầm xấu, HĐ giáo dục bằng thói quen tốt, thói quen làm việc thiện.

 

Mỗi trẻ có những đặc điểm riêng biệt, BP chủ trương giáo dục từng trẻ một, giúp trẻ có chí khí để trở nên “Nó”.

Muốn các em tốt, trước hết mình phải tốt. BP khuyên Trưởng phải là gương sáng của đoàn sinh.

BP cho rằng: “Càng tìm kiếm nhiều cách vun trồng những cơ hội lãnh đạo cho các em thì hạt giống lãnh đạo ở các em càng dễ tăng trưởng”.

 

Đồng phục HĐ, một công cụ đa dụng trong giáo dục HĐ.

Như vậy, Phương pháp giáo dục Hướng đạo mang tính chất khoa học vì giáo dục Hướng đạo hoàn toàn phục tùng những quy luật tự nhiên của bản chất trẻ nhỏ, để đạt đến mục tiêu tối hậu là giáo dục trẻ thành những công dân tốt, những phần tử xứng đáng đang cần cho xã hội, cho quê hương đất nước.

 

HƯƠU HIỀN LÀNH – TÔN THẤT LÔI




Chuyện ít biết về thi sĩ Bùi Giáng

Vũ Đức Sao Biển

thi si Bui Giang

Bùi Giáng và nhà thơ Lê Minh Quốc năm 1995

 

Đọc thơ Bùi Giáng, dễ thấy ông gồm thâu được ba tố chất: thi tiên, thi thánh, thi Phật và trên hết ông sống một đời chẳng vướng bận hay bị ràng buộc vào những tập quán, lề thói của xã hội.

Nằm ngủ trên nền đất ướt

Thi sĩ Bùi Giáng sống thật thoát tục, nghĩa là ở đâu, ông cũng sống được. Ông Bùi Luân ở nước ngoài về, tìm thăm anh ruột Bùi Giáng vào một đêm mưa tháng 7.1991. Ông Luân nhớ lại: “Sài Gòn đang mùa mưa; mấy con hẻm lầy lội; tôi khó nhọc lắm mới tìm ra nơi anh cư ngụ. Đang băng qua vườn cây tối om để vào nhà, thì tôi vấp suýt té nhào: Ôi, chính là anh. Anh đang ngủ. Anh ngủ mê man trên đất ướt nhèm. Tôi gọi tên anh thật lớn, thật nhiều lần. Tôi cũng xưng tên tôi ra; thật lớn, thật nhiều lần.

– Luân về đó hả? Luân về đó hả? Luân về đó hả?

Anh lặp đi, lặp lại ba lần cũng thật lớn; rồi lại thiếp đi… Tôi có cảm tưởng như anh hỏi tên tôi rồi gọi lên trong mơ, trong mê. Tôi tìm cách dìu anh vào nhà… Tôi ngỡ anh say; song không có mùi rượu. Anh tiếp tục ngủ. Tôi trở về quán trọ”.

Con người Bùi Giáng thật sướng, chẳng vướng hệ lụy nào, chẳng bị ràng buộc nào, kể cả những tập quán, lề thói của xã hội. Ông muốn làm gì thì làm, muốn nói câu gì thì nói, muốn ghẹo ai thì ghẹo. Ông mua một cây thuốc rê, loại do bà con ở Quảng Nam làm giống như chiếc gối ôm của trẻ con, nhét vào một cái bao vải làm gối. Khi cần hút thuốc, ông xé một miếng giấy từ quyển tập để làm thơ vò cho mềm đi rồi cho tay xuống “gối” bứt thuốc rê quấn vào làm ra điếu thuốc. Ông ăn mặc tuềnh toàng như đại khất cái, đôi mắt kiếng gãy gọng cũng không thèm thay. Ưng vào bất cứ nơi nào, ông cũng vào được.

Ta đã hái nhành hoa kia của đá.

Và đã trao cho nham thạch phiêu bồng.

Dù vậy, thơ Bùi Giáng vẫn hiện ra những câu bay bổng tuyệt vời, như có như không giữa một đời trần tục.

Còn đất trắng mờ sương gieo giọt nhỏ/Trút cho đời vũ trụ mọc hoang liêu.

Hay: Em về mấy thế kỷ sau

Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?

Ta đi, gởi lại đôi dòng

Lá rơi có dội vào trong sương mù?

Làm thơ khi có rượu

Cũng giống như Lý Bạch, ông chỉ làm thơ khi có chút rượu vào. Người ta bảo ông điên; ông cũng tự nhận mình là điên. Ông điên một cách vi vu; lúc nào cũng có thể uống rượu được. Cuộc rượu của ông cũng giản dị, chỉ là rượu đế; có mồi càng tốt, không mồi cũng chẳng sao. Chữ dùng của ông thường nói là “uống rượu qua loa”. Ấy là vì ông hiểu sẽ có một ngày ông phủi tay trước cuộc đời:

Gió lay lắt bốn phương về dồn tụ

Bụi thu mờ ai phủi với hai tay.

Ai đã gặp, đã sống và đã chơi với nhà thơ Bùi Giáng đều biết ông là con người nghịch ngợm một cách rất dễ thương. Đường ĐT 610 – con đường đi từ quốc lộ 1 lên khu đền tháp Mỹ Sơn (H.Duy Xuyên, Quảng Nam), nối vùng đông và vùng tây Duy Xuyên đi qua làng ông ở ngày xưa vốn là đường đất đỏ, đổ đá lởm chởm. Nhà Bùi Giáng cách đường ĐT 610 chừng một trăm mét. Buổi sáng, ông ra cái giếng nước trước nhà tắm rửa tử tế, mặc bộ quần áo đẹp rồi ra đường… đứng đón mấy chị gánh mít chín đi bán.

Bùi Giáng thường hỏi: “Mít ở mô gánh bán rứa hỉ?”. Chị bán mít nào trả lời: “Mít ở Phú Đa” hay “Mít ở Kiểm Lâm xuống đây anh” là Bùi Giáng có thể đón lại mua mở hàng cho. Còn ai trả lời: “Mít ni bên Đại Lộc qua đây, ngon lắm!” thì dù là mít ngon thiệt tình nhưng Bùi Giáng vẫn không thèm mua. Có người thắc mắc hỏi ông tại sao vậy. Bùi Giáng giải thích: Mít Phú Đa hay mít Kiểm Lâm gánh xuống là mít đi theo đường bộ. Còn mít bên Đại Lộc qua là “mít qua đò”. Ngày ấy, giữa hai huyện Duy Xuyên và Đại Lộc không có cây cầu, người ta phải đi đò buôn bán. Mít qua đò nói lái theo kiểu Quảng Nam là… mò qua đít. Và hễ đã mò qua đít thì Bùi Giáng dứt khoát không mua!

Thơ ông minh triết một cách kỳ lạ. Chê ai, ông chê tràn; khen ai, ông khen nức nở. Tính cách Quảng Nam mà, không khoan nhượng ngay với suy nghĩ của mình. Con người có đôi mắt ấy nhiều khi viết ra những câu thơ thần bút khiến người ta kinh ngạc.

Trong linh hồn một bông hoa

Hình như có cõi người ta đàng hoàng

Ở trong một phút lang thang

Có hồn dâu biển đa đoan cơ trời.

Ngay trong những bài thơ nói về sự đau đớn, Bùi Giáng cũng nói với một giọng điệu minh triết, chừng mực.

Đi về gót hẹn điêu linh

Suốt bờ cõi lạnh sương thình lình gieo

Đi về hồng lệ tuôn theo

Mắt màu thu nhạt gió leo chân trời.

Nhiều người cho rằng muốn thể hiện chất Phật thì thơ (hoặc ca từ nhạc) phải có các thuật ngữ niết bàn, luân hồi, vô ngã, vô thường, vô tướng, sám hối, giải thoát, cát bụi, hương sen… Bùi Giáng không vậy. Ông không sử dụng một thuật ngữ nào trong kinh điển đạo Phật nhưng thơ của ông vẫn hàm chứa Phật tính cao cường, Phật lực mênh mông.

Ngày sẽ hết, tôi sẽ không ở lại

Tôi sẽ đi và chẳng biết đi đâu

Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi

Vì nơi đây, tôi sống đủ vui sầu.

Trong thơ Bùi Giáng, có nụ cười khoan dung, cởi mở tràn đầy Phật tính của ngài Di Lặc. Bọn trẻ thấy ông ăn mặc lạ lùng, tóc tai lãng mạn, ban đầu thường sợ hãi. Hễ ông đến thì bọn trẻ lại thụt lùi, muốn chạy. Nhưng không, ông chỉ mong được chơi với chúng:

Các con đi bước thụt lùi

Xa xa nhìn thấy ông Bùi chịu chơi.

Đạo Phật coi tấm thân của con người là cái túi để đựng xương thịt, vốn chỉ là tạm bợ, hữu hạn. “Sinh ký, tử quy” –Sống gửi, thác về. Ngày con người chết đi mới là ngày đại hoan hỉ. Bùi Giáng cũng có quan điểm gần với tư duy ấy. Ông viết:

Thân là máu, thịt và xương chia biệt

Quả tim mềm sao quá dễ tổn thương

Tình cao quý vẫn là dây oan nghiệt

Ngắn vô cùng lần phùng ngộ với vô biên.

 




Tượng nhà Bác Ngữ Học Petrus Trương Vĩnh Ký

Phạm Thế Trung Sculptor

TƯỢNG nhà Bác Ngữ Học Petrus Trương Vĩnh Ký bản chánh bằng thạch cao trên giai đoạn hoàn tất cao 7f rưỡi và sẽ đưa vào hãng đúc đồng vào tuần lễ đầu tháng 11.2017

tuong Petrus Ky




Bây Giờ Là Mùa Thu – Tôi đi tìm dĩ vãng

Văn Quang

Viết từ Sài Gòn

 

MuaThu-VQ

 

Thật ra 99.9% ca khúc “bất hủ” của Trịnh Công Sơn được sáng tác vào thời trước 75 ở Sài Gòn và Huế. Cho nên ngày nay khi người ta “vinh danh” Trịnh Công Sơn chính là vinh danh nền văn hóa của Miền Nam VN vào thời trước 75.

Bây giờ là mùa thu ở Sài Gòn và cũng là mùa lá rụng ở Rừng Phong trên đất Mỹ. Buổi chiều ngồi trong căn chung cư nhỏ hẹp nghèo nàn nhìn mưa dăng nhẹ ngoài khung trời ngoài kia, tôi bỗng muốn thoát khỏi mình trở lại sống với những ngày xưa. Những ngày xưa có bạn bè, có mộng ước xa vời, có yêu thương giận hờn, có quá nhiều thứ như ở một thế giới khác.

Tôi ngồi vào computer đi tìm dĩ vãng. Gõ bàn phím vào những bài hát về Mùa Thu, bỗng hiện ra đầy đủ cả lời ca tiếng hát, những cuốn phim xưa, những danh ca tài tử đi mãi vào lòng người, đi mãi vào bất tận trong ký ức. Tôi bay bổng vào đó để gặp lại những người tôi đã từng quen, đã từng là bạn, đã từng kề vai nhau một thời xa vắng. Ở đây, tôi chỉ gặp những người đã từng có mặt trên các sân khấu ca nhạc và trong những cuốn phim đã từng chiếu ở VN trước năm 1975, gọi chung là những người trong “làng giải trí” mà tôi đã quen hay đã từng coi nhau như bạn bè.

Xem trọn bài

 




Nữ danh ca Dalida từng đến và hát tại Sài Gòn

Film Screening “Dalida”

14 giờ ngày 25.6.1962, danh ca Dalida đến phi trường Tân Sơn Nhất bằng máy bay phản lực của Hãng Air France. Không rõ từ nguồn tin nào, các fan đã có mặt đón tiếp nồng nhiệt “giữa tiếng vỗ tay đượm nhiều thân ái”.

Tuần báo Kịch ảnh số 18 phát hành ngày 30.6.1962 cho biết thêm: “Dalida cao chừng 1,65 m, mặc bộ đồ xanh giản dị, đôi bông tai lớn kiểu Y Pha Nho nổi bật trên nền tóc hung đỏ bới cao. Cặp mắt màu nước biển và đôi môi son lợt đều ngời sáng”. Đáng chú ý, chuyến đi này, ngoài 4 nhạc công, còn có cả chàng họa sĩ đẹp trai Jean Sobieski mới 25 tuổi, người gốc Ba Lan nhưng sinh tại Pháp, chưa nổi tiếng gì. Cả hai cặp kè như hình với bóng. Họ có mối quan hệ thế nào? Thiên hạ tha hồ đồn đoán bởi trước đó, ngày 25.4.1961, Dalida đã ly dị chồng là Lucien Morisse.

 

Ngay chiều tối hôm đón Dalida quay lại Sài Gòn, ông L’Épine – đại diện khách sạn Caravelle, đã mời Ban Biên tập báo Kịch ảnh, gồm nhà báo Quốc Phong, nhà văn Mai Thảo và đạo diễn Hoàng Anh Tuấn đến khách sạn nhằm mục đích “nghệ sĩ gặp nghệ sĩ” có tính cách “trong nhà với nhau”.

 

Từ sân bay, Dalida cùng Sobieski về đến khách sạn Caravelle lúc 20 giờ, niềm nở mời mọi người lên phòng riêng số 606 ở lầu 6. “Bây giờ các anh đang ở trong nhà của tôi, tôi là chủ nhà, nay, các anh có thể tự tiện vì chủ nhà Dalida rất quý khách”, cô nói. Trong lúc trò chuyện, cô cho biết dù đã chia tay Lucien Morisse, không còn là vợ chồng nhưng là “hai người bạn thân nhau nhất trên đời”. Chuyện ly dị của họ xem ra cũng “ngớ ngẩn” lắm: sau 5 năm yêu nhau, họ chính thức kết hôn tại Tòa hành chính Quận 13 Paris, nhưng chỉ sau 3 tháng, do chồng bận việc, một mình Dalida đi Côte d’Azur biểu diễn. Tại đây, cô đã gặp Sobieski trong một hộp đêm và “tiếng sét ái tình” đã nổ ra. Biết chuyện, Lucien Morisse chủ động đề nghị ly dị. Dalida “phải lòng” Sobieski cũng rất lạ đời. “Trong khi mọi người xem Dalida là nhân vật quan trọng, một minh tinh ghê gớm thì Sobieski chỉ đặt nàng vào địa vị người mà chàng yêu”, đạo diễn Hoàng Anh Tuấn nhận định.

Dalida in Saigon-1962(2)

Nhà báo Quốc Phong hỏi: “Dalida cho biết bí mật thành công của cô, để tôi nói lại cho các ca sĩ Vietnam nghe”. Dalida trả lời: “Bí quyết gồm 2 điểm: luyện giọng và gặp dịp may. Con số đem lại may mắn cho tôi là 421”. Tại sao? Cô giải thích: “Tháng 4.1956, tôi đến hát thử cho Bruno Coquatrix – Giám đốc Nhà hát tạp kỹ Olympia và ban giám khảo nghe. Lúc đó, Eddie Barclay – nhà sản xuất băng đĩa, Lucien Morisse – Giám đốc điều hành Đài Europe 1 đang nhậu nhẹt trong một quán cà phê trên đường Caumartin, gần Olympia. Bruno lôi họ đến nghe tôi hát cho vui nhưng họ không chịu. Cuối cùng, Bruno đánh cá nếu họ thua Bruno trong một ván gieo xúc xắc kiểu 421 thì phải tới nghe; bằng không, Bruno sẽ đãi thêm một chầu rượu nữa. Bruno thắng. Cả hai phải đến nghe, khi tôi ca bản L’Étranger au paradis, họ chịu liền. Thế là một “vị” chọn bài hát, còn một “vị” thâu đĩa. Nhờ những đĩa hát của Eddie Barclay mà tôi nổi tiếng”.

 

Dalida (1933 – 1987) tên thật là Yolanda Cristina Gigliotti sinh tại Ai Cập trong gia đình gốc Ý. Năm 1954, Dalida đoạt giải Hoa hậu Ai Cập và đến Paris thử “thời vận” bằng nghề ca hát trong các phòng trà Villa d’Este và Drap d’Or. Rồi sau đó, cô cực kỳ nổi tiếng cả thế giới với hàng loạt ca khúc: Besame Mucho, Bambino, Histoire d’un amour, Paroles… Paroles… đoạt vô số giải thưởng âm nhạc. Dalida có thể hát bằng rất nhiều thứ tiếng, không chỉ tiếng Pháp, Ý và còn cả tiếng Đức, Ả Rập, thậm chí là tiếng Nhật. Tổng cộng hơn 125 triệu đĩa hát của Dalida đã được bán ra trên toàn thế giới trong đó Bambino đã trở thành đĩa bạch kim vào năm 1964 và đĩa kim cương năm 1981. Cô cũng tham gia rất nhiều phim: Parlez-moi d’amour, Ménage à L’Italienne, Comme sur des roulettes…

 

Những ngày tại Sài Gòn, Dalida đã thực hiện 4 chương trình “dạ hội” chủ đề: “Tất cả cái đẹp trong cái mới”, diễn ra tại rạp Rex và khách sạn Caravelle. Trong buổi diễn đầu tiên tại rạp Rex, với giá vé là 250 đồng/chiếc, ký giả của báo Kịch ảnh đã đến thưởng thức, sau đó, có bài tường thuật trên báo Kịch ảnh số 19 ra ngày 7.7.1962: “Dalida mặc cái “robe” rất giản dị màu hoa cà, tóc để xõa và không có món trang sức nào cả. Với dàn nhạc 5 người, suốt 13 bài liền Dalida đã chiếm trọn lòng tôi, nắm lấy con tim tôi và dìu tôi đến những bến bờ rung cảm mới lạ… Khán giả vỗ tay tán thưởng, Dalida lại trở ra, cười rất tươi và gửi đến tất cả một nụ hôn gió thật duyên dáng. Không một phút trống, Dalida lại tiếp tục hát luôn 5 bài nữa, trong số có bài Parlez-moi d’amour quen biết. Dalida đã thấm mệt nhưng không vì thế mà kém phần linh động và không “hết mình” cho khán giả. Hát hết bài, Dalida chạy vào hậu đài rồi lại chạy ra cười, hôn gió gửi chúng tôi, rồi chắp tay xá, rồi cười, rồi lại hát nữa. Không nói mà thật ý nhị, thật thiện cảm. Dành bản nhạc Bambino quen biết để kết thúc, Dalida đã làm hài lòng tất cả mọi người. Ngay sau đó, đại diện Hội Hồng Thập tự lên nói lời cảm ơn, ca sĩ Thanh Lan cũng xuất hiện với bó hoa tươi thắm tặng Dalida. Tấm màn nhung buông xuống giữa lúc pháo tay nổ ran, nổ mãi không thôi. Bất ngờ, màn lại kéo lên, Dalida lại trở ra, hát thêm bài Les Gitans rất hay”.

Dù chỉ đến biểu diễn tại Sài Gòn một lần, nhưng Dalida đã chinh phục được tình cảm của công chúng, tất nhiên do tài năng, ngoài ra còn gì nữa? Đạo diễn Hoàng Anh Tuấn cùng nhà văn Mai Thảo dạy cô tập phát âm tiếng Việt để có thể thưa gửi với mọi người bằng tiếng Việt đã kể lại: “Nhìn Dalida chăm chú theo dõi, đoạn tròn miệng đọc lại những tiếng có, không, cám ơn, chào mạnh giỏi… người ta thấy toát ra một khía cạnh đẹp đẽ nữa của tâm hồn Dalida. Cái khía cạnh chân thực, tha thiết và nồng nàn, cộng với một niềm vui sống tràn đầy và một bản chất hồn nhiên, cởi mở của Dalida, tạo thành bí quyết thành công rực rỡ. Điều mà người ta nhận thấy – và điều này là châu báu quý giá nhất của Dalida, còn quý giá hơn cả tiếng hát của nàng – là danh vọng không hề đổi khác con người Dalida, danh vọng không đẩy nữ danh ca quốc tế này vào một cái thứ tháp ngà kiêu hãnh, là cái mặt trái đáng ghét thường thấy ở phần lớn những nghệ sĩ được đông đảo quần chúng ái mộ. Ở điểm này, Dalida xứng đáng là Dalida, xứng đáng với cái phong thái, cái tư cách, cái thái độ phải có của một danh ca quốc tế”.

 

Thêm một điều lý thú cũng ít ai ngờ là bấy giờ, người Sài Gòn đã rất nhanh nhạy nhằm đáp ứng nhu cầu ái mộ của công chúng bằng dịch vụ: “Ai muốn có lưu bút kỷ niệm của Dalida trên đĩa hát hay hình ảnh, có thể tới tiệm Alpha Radio, 157 đường Tự Do, Sài Gòn từ 16 – 18 giờ ngày 3.7.1962”.

 

Về sự kiện, nữ danh ca Dalida – người đã từng được thành phố Paris lấy tên đặt cho một quảng trường gần nhà, đã đến Sài Gòn trong thập niên 1960, khi lướt web, tôi còn tìm thấy một vài hình ảnh ghi lại khoảnh khắc đó. Với tôi, thú vị vẫn là bức cô điều khiển chiếc xe bò, ngồi cạnh một nông dân miền Nam, chụp tại Gò Vấp, Sài Gòn.

Dalida in Saigon-1962

Dalida điều khiển xe bò tại Gò Vấp, Sài Gòn

 




Doãn Quốc Sỹ, kẻ sĩ thời đại chúng ta

Nguyễn Mạnh Trinh

Với nhiều người bản xứ , hình như dư âm của cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn nên văn chương và văn hóa Việt nam được đặc biệt chú ý.

Tôi có một người bạn cùng lớp Creating & Writing học viết văn người Mỹ gốc Ý rất thích thú với văn chương Việt Nam. Một bữa anh khoe với tôi tuyển tập “Việt Nam: A traveler’ s literary companion” do John Balaban và Nguyễn Quý Đức chủ biên và rất đặc biệt chú ý tới nhà văn Doãn Quốc Sỹ với truyện ngắn “The Stranded Fish” ( Con cá mắc cạn). Anh còn khoe đã được dự một cuộc seminar với hai giáo sư Doãn Quốc Sỹ và Lê Hữu Mục tháng 6 năm 1999 tại University St Thomas ở Houston với đề tài “ Living Two Cultures: A conference for Vietnamese – Americans”. Và anh hỏi tôi một câu: Bạn nghĩ thế nào về nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Nhà văn? Nhà giáo? Một người hoạt động chính trị? Hay một người yêu nước bị chế độ đương thời đầy ải khi ở trong nước? Và một nhà văn luôn hướng về tương lai ở hải ngoại …

Doan Quoc Sy

Xem trọn bài