Nhi Nữ mà yên cương rong ruổi, tỏ lộ gan vàng dạ sắt,
Anh Thư song gươm dáo xông pha, phô bày chí khí phi thường.
Sáu mươi ngả tiến quân, đánh tan tành giặc Hán,
Trăm nẻo đường vây kín, hãm thái thú họ Tô.
Trời PHONG CHÂU phất phới ngọn cờ tự chủ
Thành MÊ LINH rạng ngời nền bá nghiệp vương.
Ba năm GIAO CHÂU thịnh trị
Ngàn đời ÂU LẠC lưu phương.
Nào ngờ nước Nam chưa qua vận bể dâu
Giặc Hán chưa buông tham vọng
MÃ VIỆN vội vã lên đường.
Móng nền tự chủ còn non yếu
Khó ngăn bầy lang sói điên cuồng.
Tự cổ kim thịnh suy mấy độ
Trường đấu tranh thắng bại lẽ thường.
Tận trung với Nước, dòng SÔNG HÁT sóng gào, thương tiếc Anh Thư tuẩn tiết,
Hết dạ thương Dân, đất MÊ LINH rung chuyển, thấm ơn Liệt Nữ TRƯNG VƯƠNG.
Hơn một ngàn năm Ngài hằng linh hiển cứu Dân độ Nước,
Trải muôn vạn đời, toàn dân thành kính hương khói miếu đường.
Cột Đồng MÃ VIỆN tịch mịch, vùi sâu trong cát bụi,
Sóng xanh SÔNG HÁT uy linh, tỏa sáng khắp muôn phương.
Nước biếc non xanh phơi phới ân sâu nghĩa nặng,
Trời cao đất rộng lồng lộng uy đức Anh Hùng.
Chúng Con nay
Nhân ngày Thánh hóa
Dâng nén Tâm Hương
Hướng lòng tưởng niệm.
Ghi tạc Công Ơn
Cúi xin phù trợ
Cho Con Dân thoát đọa đày tan tác
Cho Đất Nước sớm Dân Chủ Phú Cường !
Uống nước nhớ nguồn
Nhân ngày Giỗ Thánh
Chúng con kính cẩn
Dâng tấc lòng thành.
THƯỢNG HƯỞNG !
********
(Võ Đại Tôn cúi đầu chấp bút)
TRUNG-TÁ HỒ ĐỨC NHỊ
Chùm Thơ Cao Mỵ Nhân
QUÊN BẴNG TÌNH NHAU
Anh đừng đợi em thứ sáu
Cửa nhà thờ vắng chiên ngoan
Cha đang nghe nhạc hoà tấu
Tập bài thánh ca mê hoang
Em nghe giọng mình mê đắm
Lời tình thơ thật thanh cao
Lệ rơi cơ hồ ướt đẫm
Khiến đôi gò má xanh xao
Chúa quên em đang sầu khổ
Buồn thương đôi mắt hững hờ
Thánh kinh sao không nhắc nhở
Em đành thổ lộ vào thơ
Trang thơ cất trong Kinh thánh
Kiếp này quên tới đời sau
Giọt sầu lung linh, lấp lánh
Chúng mình quên bẵng tình nhau…
ĐI TRÊN BỜ MÊ
Em tỉnh giấc ba lần
Đêm cuối mùa trời khô
Nhưng sao người ướt sũng
Mồ hôi và lệ thơ
Giấc mơ dài liên tục
Thấy người chị qua đời
Đã hai năm tiếng khóc
Nín lặng nỗi buồn vơi
Đi trên một bờ sông
Bấp bênh viền đá tảng
Dòng nước chảy mịt mùng
Lỡ sa chân, rớt thẳm
Mơ rồi tỉnh lại mơ
Chị cùng em đi tiếp
Đoạn cuối hồn lửng lơ
Trên bờ mê khủng khiếp
Khi thức hẳn mê hoang
Chị rời xa cõi thế
Đầy lòng sợ kinh hoàng
Mất hút trong mơ tan…
CAO MỴ NHÂN
BÊN BỜ SÔNG
Riverside
Thương nhớ hoài
Đôi bờ vắng
Ngày hẹn sai
Trên dòng sông
Sắc cầu vồng
Phai mầu áo
Giữa thinh không
Anh ở đâu
Tiếng chim sầu
Vừa rớt xuống
Đáy lòng sâu
Nơi hồn mưa
Năm tháng thừa
Thơ ướt át
Giấc tình trưa …
CAO MỴ NHÂN
SÓNG DỘI CHÂN TƯỜNG
Người về cuối biển, đầu sông
Để tôi ở lại với mông mênh buồn
Mùa xuân cũng bỏ đi luôn
Vội chi người hỡi, thả hồn lênh đênh
Mây đang cuộn khói bồng bềnh
Vòng tay tôi rỗng bóng hình lặng câm
Đầu sông, cuối biển trăm năm
Biết rồi , đừng nói thêm lần nữa nghe
Trùng dương sóng dội cận kề
Chân tường vẳng vọng, thầm thì đắm say
Tình yêu không dừng nơi này
Chúng mình không có một ngày bên nhau
Người về, hò hẹn kiếp sau
Thời gian dằng dặc, hơi đâu mà chờ
Bao la biển gọi sông hồ
Mình tôi ôm ấp hồn thơ não nề …
.
CAO MỴ NHÂN
ĐOẢN CA
CAO MỴ NHÂN
Mới ra giêng có nửa tháng, mà sao đất trời cũ như đã cuối năm. Mình ngồi sưởi nắng ở vườn sau, cái khuôn viên ” xơ xác điêu tàn vì ai ” của mình nó bỗng lạt phai như lâu lắm rồi không có ai chăm sóc cây cảnh.
Mình thèm một chuyến đi chơi xa, hay là xa nhà, xem thử lòng dạ thế nào …
Ô hay, có ai động tới lòng dạ mình đâu mà muốn xem thử chứ, vẫn mông mênh thanh bình, tĩnh lặng…
Chỉ có một cách viết thư hay làm thơ tình là thú vị nhất, với một tác giả chuyên dệt mộng đan mơ như mình .
Bèn bắt chước những bài thơ ngắn, đúng ra là những bài thơ nhỏ như người ta hay nói về thơ 3 câu của Nhật Bản, nào Hài cú hay Haiku, còn gọi Đoản ca tanku, số chữ và số câu ít thôi, nhưng phải đầy đủ ý nghĩa.
Viết ngay đề tài Lạt Phai cho dễ ” lý luận ” .
Ta sẽ lạt phai nhau
Như hoa rơi sân trước
Hay lá rụng vườn sau
Anh sẽ lạt phai em
Khi mùa xuân xa vắng
Em càng nhớ nhung thêm
Thơ sẽ lạt phai anh
Em đâu còn hiện diện
Cuộc tình đã mong manh
Tới đoạn này thì chắc chắn anh lắc đầu rồi, đầu năm mà viết những lời thơ ” gở”, làm thơ cũng như những câu chúc tụng đầu năm, mới …khá được.
Thí dụ : Chúc mừng năm mới, vạn sự tốt lành, thăng tiến mọi mặt … chẳng hạn .
Thì có gì đâu, thơ cũng có thể đổi trắng thay đen như lòng dạ con người vậy.
Vì thơ là những câu nói gọn, được trau truốt văn hoa để tránh huỵch toẹt, nôm na thôi.
Các nhà phê bình văn học, hay không cần ” nhà ” cho to chuyện, quý vị ” người ” nhặt cỏ cho vườn thơ sẽ bảo :
Chỉ cần tác động làm sao cho ” đi vào lòng người ” trong đó bao gồm cả ý lẫn lời .
Vậy tư tưởng ” lạt phai ” hinh thức đơn giản, đừng nặng phần trình diễn khuôn dáng bài thơ mang vẻ Haiku VN.
Trời sẽ lạt phai mây
Nắng không vương nơi hẹn
Trống rỗng một vòng tay
Tưởng thế là đủ rồi, kết thúc bài haiku tập toạng của tôi được rồi, bài thơ lấy bối cảnh nơi hẹn không có nhau nên nghĩ lạt phai, bài hoàn tất OK, dù phạm sai chính tả dùng ” lạt phai ” làm động từ gián tiếp, chứ chữ “sẽ” trợ động từ là chính, cũng đạt tầm xoàng, vui vẻ .
Song, như trên tôi đã trình bày, mới ra Tết, tôi cũng hơi cữ tiếng ” lạt phai “, cần chút mầu sắc đậm đà cho hên chứ.
Tất cả lạt phai thôi
Riêng trái tim vĩnh cửu
Tươi thắm mầu son bôi …
Bài đã 5 đoạn bình thường như các bài thơ đã thể hiện lâu nay, với mình chỉ 4,5 ” khổ thơ” tức đoạn, đã tạm thấy dài .
Bởi vì ngoại trừ danh tác “Đoạn Trường Tân Thanh ” của thi hào Nguyễn Du ra, gọi là dài nhất, mấy ngàn câu.
Kế tới ” Đoạn Trường Vô Thanh ” của Thi sĩ một thời là thiền sư, thủa trước 1975 .
Thì thời nay, hiện tại ở hải ngoại này, có một dật sĩ tên Võ Thạnh Văn, đã viết xong ấn bản ” Kinh Vô Thường ” với 10,000 câu ( mười ngàn câu ) lục bát bay bướm hết biết .
Tôi trộm nghĩ chắc chắn tôi chẳng bao giờ viết nổi 100 câu, chớ đừng nói tới 10 ngàn câu đến nỗi phải phân giai đoạn ra là: quyển thượng và quyển hạ.
Hay là 10 tập nhỏ gọi 10 tập Cát Bụi, mỗi tập 1000 câu ( một ngàn câu), chu choa mệt khẳm .
Biết mình không có sở trường vậy, tôi đành chấp nhận thực tế, tức là chỉ giới hạn mình viết trong phạm vi vừa đủ sức mình thôi.
Vả chăng, ” Đoạn Trường Tân Thanh ” cụ Nguyễn Du bày tỏ lập trường xã hội nhà Minh bên Tàu, để ám chỉ, gởi gấm tâm tư tình cảm cụ ” hoài Lê” trong đó.
Thi sĩ Phạm Thiên Thư với “Đoạn Trường Vô Thanh ” không phản bác tình trạng xã hội thời ông lớn lên, trưởng thành nơi đạo tràng Pháp Hoa Saigon.
Ý nhà thơ họ Phạm muốn chứng tỏ lớp hậu sinh sau cụ Nguyễn, vẫn có thể viết lục bát hàng ngàn câu.
Nội dung tập thơ nêu trên, cũng vẫn xài các nhân vật của cụ Nguyễn Du, nhưng biến diễn thành xã hội VN kiểu Bắc kỳ quốc : các vai nữ mặc váy lĩnh, áo tứ thân, khăn mỏ quạ …
Đặc biệt hàng thần Từ Hải không còn là một anh hùng thảo khấu nữa, mà trở thành thiền sư nông dân.
Cuối cùng, đang nơi cuộc sống này, ” Kinh Vô Thường ” của Võ Thạnh Văn lại vô hình, vô dạng, vô ngôn các nhân vật, chỉ có giọng nói mơ hồ của người dẫn truyện, tác giả độc thoại ngôn ngữ kinh, hoá cho nên khách viễn du cứ việc tán thưởng theo ý mình, khoảng khoát …
Trở lại tâm hồn lang bạt trong bát ngát không gian, tôi ngẫm nghĩ: e chỉ còn chút tình người lởn vởn, lan man giữa cát bụi mịt mờ…
Nhưng sao cái tình người ấy lại cứ còn vương vấn đó đây ?
Lý do cái tình người vô hình, vô dạng, vô thanh nhưng không khi nào vô cảm cả.
Không thể dùng vật dụng, vật chất nào đập vỡ nó được, nó, tình người cứ vĩnh cửu trong tâm tư…khiến chỉ còn cách cho nó phát ra ngôn ngữ, là các bộ môn văn học nghệ thuật, trong đó có thơ ngàn xưa, hôm nay và mãi mãi …