Xin Chào Việt Nam – Nghệ sỹ Violin JMI KO




Thiệp mời lễ Trao giải Văn Thơ Lạc Việt năm 2017

 




Rồi mẹ Nấm sẽ về

 

Đỗ Cao Cường

Chú lênh đênh trên biển

Cô thuyền cứ lắc lư

Chú lại bị say sóng

Phải làm sao bây giờ?

Chú dạt tới Nha Trang

Thăm hai người bạn nhỏ

Nhưng trong lòng thấy sợ

Vừa mừng lại vừa lo

Vì trong đôi mắt cháu

Có ngọn lửa căm hờn

Thôi đừng buồn nữa nhé

Tuổi thơ không có tội

Lịch sử còn ghi sai

Người đời sao biết được

Mẹ cháu là anh hùng

Tội lắm tuổi thơ ơi!

Cố gắng lo học bài

Bơm đầy mực vào nhé

Đừng để nhòe trang sách

Còn địu em tới trường

Thế giới này buồn lắm

Sống một mình cho vui

Gặp bạn tốt ta chơi

Bạn xấu thì ta tránh

Nửa đêm đừng tỉnh giấc

Đòi mẹ: mẹ, mẹ ơi!

Lệ đầm đìa trên gối

Mẹ ở đâu bây giờ?

Các cháu có làm sao

Mẹ Nấm sao sống nổi

Sẽ chẳng ai mua thuốc

Chỉ có mẹ có bà

Mẹ Nấm ở bên kia

Bốn bức tường lạnh ngắt

Cơm chan cùng nước mắt

Thèm một tiếng gọi Con

Thôi đừng buồn nữa nhé

Tuổi thơ chỉ có một

Màn đêm rồi sẽ tắt

Để nhường ánh bình minh

Mai dân mình tỉnh giấc

Rồi mẹ Nấm sẽ về

 

Ngày 17/11/2016

 

(Quán Cafe Trịnh – 50 Xuân Thủy – Sài Gòn)




Vấn đề biên giới VN dưới thời quân chủ

Từ Chính Sách Hòa Thân của Các Vua Nhà Lý đến Hoàng Triều Cương Thổ Thời Quốc Trưởng Bảo Đại:

 

image020

Phạm Cao Dương

 

Nam quốc sơn hà Nam Đế cư

 

Thơ cổ đời Lý, thời Lý Thường Kiệt chống quân Nhà Tống (1076)

 

            Sau khi tác phẩm Bảo Đại – Trần Trọng Kim và Đế Quốc Việt Nam được xuất bản vào đầu năm 2017, nhiều độc giả đã liên lạc với tác giả bầy tỏ sự thắc mắc về danh xưng “Đế Quốc Việt Nam”, danh xưng đã được Vua Bảo Đại và Chính Phủ Trần Trọng Kim lựa chọn làm quốc hiệu chính thức của nước Việt Nam đầu tiên độc lập sau 80 năm dài thuộc Pháp.  Đây là một thắc mắc không phải là không có lý do vì hai chữ “đế quốc” trong ngôn ngữ Việt Nam hiện tại thường được hiểu theo nghĩa xấu của nó và được dùng cho các đại cường quốc thuộc địa thời Thế Kỷ 19 và 20, còn Việt Nam thì chỉ là một nước nhỏ còn đang phải tự mình tranh đấu giành độc lập và tiến bộ cho chính mình mà chưa xong, nói chi đến chuyện làm đế quốc.  Tự nhận như vậy là không biết phận mình, là lộng ngôn.  Đế quốc theo các vị này hiểu là đồng nghĩa với bạo lực, với nước lớn bắt ép nước nhỏ, là xâm lăng, đô hộ, là chiếm đóng nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhân lực và thị trường để làm giàu cho mình.  Nói tới đế quốc là người ta nghĩ tới Trung Hoa dưới các Triều Đại Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh…và luôn cả hiện tại ở Đông Á, Đế Quốc La Mã thời xưa ở Âu Châu, rồi Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha thời Cận Đại, sau đó là Đế Quốc Anh, Đế Quốc Pháp, rồi Đế Quốc Nhật, sau chót, đúng hay không đúng, Đế Quốc Mỹ…mà người ta phải chống lại như chống tội ác. Thực sự danh xưng đế quốc trong quốc hiệu Đế Quốc Việt Nam hoàn toàn không mang ý nghĩa này mà chỉ là “nước có hoàng đế” theo nghĩa đầu tiên Đào Duy Anh ghi trong Hán Việt Từ Điển của ông, là nơi Hoàng Đế nước Nam cư ngụ, nơi Nam Đế cư, theo bài thơ cổ tương truyền là của Lý Thường Kiệt dẫn trên. Vua Bảo Đại vì mang danh vị là hoàng đế nên nước của ông gọi là đế quốc.  Jules Silvestre qua tác phẩm về lịch sử Việt Nam xuất bản ở Paris năm 1889 đã lấy nhan đề là L’Empire d’Annam et le Peuple Annamite, kế đến Charles Gosselin với tác phẩm L’Empire d’Annam, xuấn bản năm 1904, rồi Yoshiharu Tsuboi với tác phẩm L’Empire Vietnamien Face à la Chine et la France, 1847-1885 [i], xuất bản năm 1987.   Đơn giản chỉ có thế.  Đế Quốc Việt Nam chỉ có nghĩa là núi sông, là đất nước Vua Việt Nam (và các thần dân của ông) ở, là “sơn hà Nam Đế cư” theo như sách Trời đã định rõ ràng, thời xưa, là “Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư” và là “có sách Trời định phận”[ii] thời Bảo Đại-Trần Trọng Kim, để phân biệt với nước Tầu ở phương Bắc. Thế thôi.

 

Hiểu như trên tuy nhiên chỉ là đơn giản theo nghĩa của từ điển.  Muốn có một nhận định đầy đủ hơn người ta phải trở về với lịch sử Việt Nam ngay từ những buổi đầu với Lý Bôn, người được biết nhiều hơn qua đế hiệu Tiền Lý Nam Đế, Thế Kỷ Thứ 6, liên tục đến thời Hoàng Đế rồi sau này là Quốc Trưởng Bảo Đại với chính sách Hoàng Triều Cương Thổ của ông với tất cả những vấn đề phức tạp cho một bài viết. Ở đây tác giả chỉ ghi lại hai điểm cơ bản, rõ hơn hai vấn đề chính yếu, liên hệ đến quốc hiệu này mà thôi.  Đó là vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc dưới thời các triều đại quân chủ Việt Nam và vấn đề an ninh lãnh thổ và khai thác các miền đất mới trên Cao Nguyên Miền Nam hay Cao Nguyên Miền Trung hay Tây Nguyên ở thời hiện đại.

 

I. Biên Giới Việt-Trung qua Các Triều Đại Quân Chủ Việt Nam và Chính Sách của Các Hoàng Đế Việt Nam Đối Với Các Sắc Dân Miền Núi

 

 “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ?

 

Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần.                                                                  

 

Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương bắc                                                                  

 

trình bày cho rõ điều ngay, lẽ gian. Nếu ngươi dám đem                                                                

 

một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì tội                                                          

 

phải tru di”.

 

Vua Lê Thánh Tông

 

dụ Thái Bảo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy (1473) [iii]

 

            Do thực tại địa lý, do hoàn cảnh nhân văn và lịch sử và do những quan niệm về chính trị, vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc là một vấn đề vô cùng  phức tạp và tế nhị.  Vấn đề này đã được đặt ra ngay từ những ngày đầu của lịch sử dân tộc Việt Nam và tồn tại cho đến tận ngày nay.  Trong phần này người viết trình bày một cách tổng quát vấn đề biên giới Việt – Trung qua các triều đại quân chủ trong lịch sử Việt Nam, với nội dung gồm có ba phần: phần thứ nhất nói về tính cách phức tạp của biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc phần thứ hai nói về chủ trương và sách lược bảo vệ lãnh thổ của các triều đại Việt Nam ở miền biên giới này và phần thứ ba dành cho một số những cuộc tranh chấp điển hình.

 

1. Tính cách phức tạp của vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc

 

            Khi tìm hiểu vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, đặc tính đầu tiên người ta phải ghi nhận là đây là miền cư trú của các sắc dân được coi là thiểu số, khác vời các miền đồng bằng là nơi cư trú của người Việt hay người Kinh.  Ở đây các sắc dân này đã không sống lẫn lộn với nhau mà riêng biệt, mỗi sắc dân một khu riêng thành từng khu vực dưới sự lãnh đạo của các thổ tù trưởng riêng của họ.  Đặc tính thứ hai là cho đến thời kỳ Pháp thuộc, giữa Việt Nam và Trung Quốc không có đường biên giới rõ ràng như người ta quan niệm ngày nay mà chỉ có những vùng biên giới mà thôi.   Đặc tính này bắt nguồn không những từ thực tại địa lý ở nơi tiếp giáp giữa hai quốc gia mà còn do những yếu tố nhân văn, lịch sử và quan niệm về chính trị của các triều đại trị vì nữa.  Có nhiều lý do ta có thể kể sau đây:

 

Trước hết là về địa lý:  Giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa không có núi cao hay sông lớn có thể dùng làm ranh giới thiên nhiên.  Những sông hay những núi được viện dẫn như những đường phân thủy chỉ là những đồi hay sông nhỏ, có khi chỉ được biết tới một cách mơ hồ và đã trở thành đầu mối của những tranh chấp.  Điển hình là sự lẫn lộn hay cố tình lẫn lộn giữa sông Đổ Chú và một sông nhỏ khác ở thượng nguồn của sông Chảy trong vụ tranh chấp về biên giới giữa hai châu Vị Xuyên và Thủy Vĩ thuộc trấn Tuyên Quang của Việt Nam và phủ Khai Hóa thuộc tỉnh Vân Nam của Trung Hoa vào năm 1728.  Cũng vậy, với các núi Xưởng Chì hay Diên Xưởng, núi Tụ Long mà người viết dám chắc là các giáo sư sử địa hiếm người biết đến ngay cả nghe đến các địa danh này.  Các rặng núi lớn có hình cánh cung ở phía đông của sông Hồng thay vì nằm ngang theo hướng tây – đông để làm ranh giới giữa hai nước lại xòe ra theo hình nan quạt và mở rộng về phía bắc khiến cho sự xâm nhập từ phương bắc xuống trở thành dễ dàng.  Nhiều sông của Trung Quốc lại có nguồn từ trên đất Việt Nam hay ngược lại.  Tính cách núi liền núi, sông liền sông của địa lý chính trị ở biên giới Hoa Việt này không những đã làm cho việc ngăn chặn các cuộc xâm lăng qui mô của người Tàu từ phương bắc xuống trở thành vô cùng khó khăn cho người Việt, mà còn làm cho ranh giới giữa hai nước không bao giờ ổn định.

 

Về phương diện nhân văn, miền biên giới Việt – Trung không phải là nơi cư trú của người Việt hay người Tàu mà là của nhiều sắc dân thiểu số của các miền núi như Tày, Nùng, Thổ, Mán… – Những dân này đã ở cả hai phía, ranh giới cư trú thường không rõ ràng.  Nhiều nhóm đã từ Trung Quốc di cư xuống Việt Nam qua nhiều giai đoan lịch sử khác nhau.  Những con số được ghi trong tác phẩm Địa Dư Các Tỉnh Bắc Kỳ của các soạn giả Đỗ Đình Nghiêm, Ngô Vi Liễn và Phạm Văn Thư, xuất bản năm 1930 ở Hà Nội, dưới thời Pháp thuộc, có thể cho ta một khái niệm về tính cách thiểu số của người Việt cư ngụ ở miền này so với các dân quen gọi là thiều số. Trước hết là ở tỉnh Lạng Sơn. Trong số 85.300 cư dân của tỉnh này, người Kinh hay người Việt chỉ có 3.120 người tức 3.7%, trong khi con số người Thổ là 38.900 người hay 46%, người Nùng là 37.500 người hay 44%, và người Hoa là 3.800 hay 4%.[iv]  Ở Cao Bằng, trên tổng số dân là 87.000 người, số người Kinh chỉ có 1.200 người hay 1,4%, còn người Thổ là 39.930 người hay 46%, người Nùng 38.750 người hay 44.5%, còn lại là người Tàu.  Còn ở Hà Giang thì trong tổng số dân là 69.600 người, người Kinh chỉ có 1.000 người, tức 1,4%, so với 20.600 người Thổ hay 29.6%, còn lại là người Lô Lô, 30%, người Mán, 14%…  Các miền giáp ranh giữa các tỉnh này và các tỉnh miền Nam Trung Quốc do đó đã trở thành những vùng biên giới giữa hai nước.  Sự tùy thuộc vào nước này hay nước kia một phần nằm trong tay các thổ tù trưởng tức các lãnh tụ của các dân địa phương và sự trung thành của họ từ đó tùy theo chính sách của chính quyền trung ương đối với họ.

 

Về quan niệm chính trị của các triều đình liên hệ, vì là những miền đất ở xa kinh đô của cả hai nước Hoa, Việt, các vùng biên giới này được coi như những miền đất “cơ mi” hay “ky mi” là những miền đất làm phên giậu cho triều đình trung ương.-   Đây là  một hình thức cai trị lỏng lẻo nhằm liên kết những miền đất xa xôi thay vì cai trị trực tiếp trong chế độ hành chánh thời cổ, ít nhất từ thời nhà Đường của Trung Quốc mà Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca đã tả rõ trong câu “Cơ mi các bộ man hoang ở ngoài.” Các thổ tù trưởng do đó được cha truyền con nối cai trị lãnh thổ riêng của mình với điều kiện tuân phục triều đình trung ương, một điều kiện tượng trưng cho quyền lực tối cao của quốc gia của người Việt hay các Hoàng Đế Nước Nam.  Vượt lên trên các địa phương, quan hệ giữa các triều đình Trung Quốc và các triều đình Việt Nam cũng mang phần nào tính cách phong kiến của Á Đông theo đó Việt Nam chỉ là một chư hầu của Trung Quốc, lãnh thổ Việt Nam cũng là lãnh thổ Trung Quốc.  Điều này thường được thể hiện qua lời nói hay các thơ văn của các sứ giả Trung Quốc khi được các vua Việt Nam hỏi thăm về sức khỏe sau những cuộc hành trình tới kinh đô Việt Nam.  Việt Nam thường được người Tàu gọi là Giao Chỉ, hiểu ngầm là Giao Chỉ Quận, là một quận của nước Tàu qua tước phong các vua Tàu phong cho các vua Việt Nam là Giao Chỉ Quận Vương kể từ thời Vương Liễn nhà Đinh, kèm theo với danh vị Tiết Độ Sứ là một chức quan của người Tàu, kể cả sau khi tước vị An Nam quốc vương đã được phong cho vua Lý vào năm 1174 và Việt Nam chính thức trở thành An Nam Quốc và kéo dài rất lâu về sau này.  Thái độ phong kiến luôn luôn coi Việt Nam là Giao Chỉ quận này đã giúp cho các hoàng đế Trung Quốc giữ được thể diện mỗi khi phải nhượng bộ và trao trả lại những đất mà họ đã chiếm của Việt Nam, vì theo họ, trong thiên hạ đất nào chẳng là đất của thiên tử, dân nào chẳng là dân của thiên tử.  Rõ rệt nhất và gần với ta nhất là trong sắc văn của vua nhà Thanh viết vào năm Ung Chính thứ sáu, năm Bảo Thái thời Vua Dụ Tông nhà Lê (1728), gửi cho vua Việt Nam về việc trả lại vùng mỏ đồng Tụ Long cho Việt Nam, đoạn chính có viết: “Mới đây Ngạc Nhĩ Thái (Tổng Đốc Vân Nam và Quý Châu thời đó) đem bản tâu của quốc vương (vua Việt Nam thời đó) tiến trình, lời lẽ ý tứ trong bản tâu tỏ lòng cung kính, trẫm (vua Thanh) rất vui lòng khen ngợi.  Vả lại, 40 dặm ấy nếu thuộc vào Vân Nam thì là nội địa của trẫm, nếu thuộc vào An Nam thì vẫn là ngoại vi của trẫm, không có chút gì phân biệt cả. Vậy chuẩn cho đem đất ấy ban thưởng cho quốc vương (vua Việt Nam) được đời đời giữ lấy.” [v]  Nói cách khác sự phân chia biên giới giữa hai nước Hoa, Việt mang nặng tính cách lịch sử và quan niệm chính trị cổ thời. Đó là những giới hạn có tính cách hành chánh nhiều hơn là phân ranh quốc tế.

 

2. Chủ trương và sách lược bảo vệ lãnh thổ ở các miền biên giới của các triều đại quân chủ Việt Nam

 

Chủ trương này được xác định rất rõ ngay từ thời nhà Lý qua bài thơ Nam Quốc Sơn Hà được truyền tụng là của Lý Thường Kiệt và được khẳng định bởi các triều đại kế tiếp sau này.–  Trong bài Nam Quốc Sơn Hà tác giả đã khẳng định sự cương quyết của triều đình nhà Lý là sẽ không dung tha bất cứ kẻ nào dám xâm phạm vào lãnh thổ nước mình. Nhưng đó là một thứ tuyên ngôn nói với người ngoài, với kẻ địch, một kẻ địch lớn hơn và mạnh hơn gấp bội nước Việt Nam thời đó.  Lê Thánh Tông, bốn thế kỷ sau, năm Hồng Đức thứ tư (1473), khi dụ Thái Bảo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy đã nghiêm khắc khẳng định: “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần.  Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương bắc trình bày cho rõ điều ngay, lẽ gian.   Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì tội phải tru di.” [vi]” Lời dụ này vừa là một nghiêm lệnh, vừa là một sách lược điều đình.  Đó là không được nhượng bộ dù là nhượng một thước núi, một tấc sông, vì đó là của cha ông để lại, phải cương quyết tranh biện bảo vệ đến cùng không cho kẻ địch lấn dần ngay tự bước đầu ở mức độ địa phương.  Nếu kẻ địch không nghe thì triều đình sẽ sai sứ sang biện bạch phải trái theo phương thức ngoại giao.  Còn kẻ nào dám đem dù là một tấc đất dâng cho giặc thì không phải chỉ là bị tử hình mà thôi, mà còn bị tru di nghĩa là giết ba họ nữa.  Đây là hình phạt nặng nhất của thời quân chủ, một tội dành cho những kẻ khi quân, phản quốc.

 

Thực thi chủ trương và đường lối kể trên, các nhà cầm quyền quân chủ Việt Nam đã phải đương đầu vừa với các thổ châu mục của mình, vừa với các quan lại địa phương Trung Quốc ở miền giáp ranh với những địa điểm tranh chấp và với triều đình Trung Quốc.

 

            Đối với các thổ mục địa phương, các chính sách được dùng là vừa uyển chuyển, vừa khoan dung, phủ dụ, vừa kết thân, vừa cứng dắn, nghiêm khắc trừng phạt với mục tiêu trước sau không đổi là giữ vững biên cương.  Đối với các quan lại và triều đình Trung Quốc thì nhún nhường, khéo léo, lựa những danh sĩ thông minh, lanh lẹ, có tài biện luận, đồng thời kiên trì tranh đấu, không bỏ cuộc, cố gắng duy trì sự tranh chấp, không nhượng bộ để thiệt thòi cho nước mình hầu có thể đặt vấn đề lại sau này.

 

Để bảo đảm sự trung thành của các thổ mục địa phương, ngoài chính sách cai trị lỏng lẻo, để cho các châu mục cha truyền, con nối như các họ Hoàng, họ Vi, họ Nùng, họ Chu, họ Giáp, họ Thân, họ Hà, họ Đèo… tự trị trong các lãnh thổ của họ, các vua nhà Lý còn dùng hôn nhân để ràng buộc họ chặt chẽ hơn với triều đình trung ương, không phân biệt kinh thượng.  Việc các vua nhà Lý gả các công chúa cho các châu mục miền núi đã được ghi nhận trong chính sử Việt Nam khá nhiều như  năm 1029 Lý Thái Tông gả Công Chúa Bình Dương cho châu mục Lạng châu là Thân Thiện Thái, năm 1082, dưới thời Lý Nhân Tông, Công Chúa Khâm Thánh được gả cho châu mục Vị Long là Hà Di Khánh, năm 1142, dưới thời Lý Anh Tông,  Công Chúa Thiều Dung  được gả cho Dương Tự Minh là thủ lãnh châu Phú Lương, năm 1167, cũng dưới triều Lý Anh Tông, Công Chúa Thiên Cực được gả cho châu mục  Lạng Châu là Hoài Trung Hầu… Trước đó Tống Sử hay một sách khác thời nhà Tống cũng chép là tổ tiên của họ Thân, trước mang họ Giáp, là Giáp Thừa Quí lấy con gái của Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ, con Thừa Quí là Thiệu Thái, lại lấy con gái của Đức Chính, tức Lý Thái Tông, rồi con Thiệu Thái là Cảnh Long, lại lấy con Nhật Tôn, tức Lý Thánh Tông…  Ngược lại, Lý Thái Tông lại chọn con gái Đào Đại Di ở châu Chân Đăng đưa về làm hoàng phi.

 

Đối với những lãnh tụ đã làm phản như trường hợp cha con Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao, các vua Nhà Lý cũng tỏ ra rất khoan dung.  Mở đầu, năm 1038, khi Nùng Tồn Phúc xưng đế chống lại triều đình, Lý Thái Tông thân chinh đi đánh bắt được Tồn Phúc đem về kinh xử trảm, con là Trí Cao và vợ là A Nùng chạy thoát được và trở về lập ra nước Đại Lịch, tiếp tục chống lại vào năm 1041.  Lý Thái Tông lại thân chinh đi đánh, bắt được Trí Cao nhưng thương tình cha và anh đã bị giết nên không những tha cho về lại còn sai sứ đến tận nơi phong hàm thái bảo.  Sau đó mẹ con Trí Cao lại xưng đế, làm phản, chống lại cả hai triều Tống và Việt nhưng cuối cùng bị đánh thua phải bỏ chạy sang nước Đại Lý rồi chết ở đó.  Hai lần làm đại nghịch nhưng các triều đình Việt Nam đương thời và sau này vẫn tỏ ra rất khoan nhượng với họ Nùng và những người liên hệ, bằng cớ là ở Cao Bằng các vua Việt Nam vẫn để cho người địa phương lập đền thờ cả hai mẹ con Nùng Trí Cao.  Hai đền này nằm trên hai ngọn núi trong số bốn ngọn bao bọc chung quanh tỉnh Cao Bằng là núi Kỳ Cầm ở phía bắc (đền thờ Nùng Trí Cao), và núi Kim Phả ở phía đông (đền thờ A Nùng, gọi là đền Bà Hoàng), cho đến năm 1930 hãy còn. Chính sách được gọi là hòa thân này cộng thêm với vị trí gần gũi với kinh đô Thăng Long của người Việt hơn là kinh đô của người Tàu và chắc chắn các đường tiếp tế các sản phẩm của miền đồng bằng và miền biển, nhất là muối từ châu thổ Sông Hồng chắc chắn đã là những tác tố vô cùng trọng yếu của sự trung thành của các châu mục với các triều đình Việt Nam hơn là với triều đình Trung Quốc.

 

Trong cách tranh biện để bảo vệ lãnh thổ quốc gia, người ta thấy công tác đã được thực hiện ở hai cấp địa phương và trung ương.  Ở địa phương các thổ mục đóng vai trò chính yếu. Vì là người địa phương, những người này nắm vững tình hình từ địa lý thiên nhiên qua từng con sông, từng ngọn suối, từng trái đồi, từng cột mốc… đến tình hình dân cư với những ruộng nương, nhà cửa, đền thờ của họ, biết rành rẽ hơn những quan lại được cử từ miền xuôi lên.  Không những thế, vì được tự trị, những lãnh thổ được trao cho họ đã được họ coi là phải cẩn trọng giữ gìn.  Chỉ đến khi cần phải tranh luận phải trái giữa hai triều đình trung ương, vai trò của các nhà trí thức, các sứ thần do triều đình trung ương chỉ định mới được đặt ra.

 

3. Một số những cuộc tranh chấp điển hình

 

Với chủ trương bảo vệ “từng thước núi, từng tấc sông”, các triều đại quân chủ Việt Nam một mặt đã cương quyết đấu tranh để bảo vệ những phần đất đã có, mặt khác đã kiên trì đòi lại những lãnh thổ đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm, ngoại trừ hai trường hợp nhượng đất quá nhiều dưới thời Hồ Quí Ly hay dâng đất dưới thời Mạc Đăng Dung.   Cả hai trường hợp này, đặc biệt là trường hợp Mạc Đăng Dung, những người chủ trương đã bị hậu thế lên án nặng nề. Cả hai triều đại này đều bị gọi là ngụy, không phải chỉ vì có nguồn gốc là do sự thoán nghịch mà ra mà còn là vì những hành động bị coi như là phản quốc nữa.   Sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược, đã viết về Mạc Đăng Dung như sau:

 

            “Mạc Đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cởi trần ra trói mình lại, đi đến quì lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quí cho một thân mình và một nhà mình, ấy là một người không biết liêm sỉ…. Cho nên dẫu có lấy được giang sơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh vực mặc lòng, một cái cơ nghiệp dựng bởi sự gian ác hèn hạ như thế thì không bao giờ bền chặt được. Cũng vì cớ ấy cho nên con cháu họ Lê lại trung hưng lên được.”[vii]”

 

            Trên bình diện tích cực, trong phần cuối của phần này, ta nhìn lại ba trường hợp điển hình trong đó các vua quan Việt Nam nói riêng, và người Việt Nam nói chung, đã tỏ ra hết sức kiên nhẫn và cương quyết trong công cuộc bảo vệ biên cương của nước mình.  Đó là là các cuộc đấu tranh để đòi lại châu Quảng Nguyên, các châu Vật Dương, Vật Ác thời nhà Lý và vùng mỏ đồng Tụ Long trong những giai đoạn sau này.

 

Quảng Nguyên là tên cũ của một châu thuộc tỉnh Cao Bằng, từ thời nhà Lê được đổi thành Quảng Uyên.  Dưới nhà Lý, để trả đũa việc Lý Thường Kiệt và Tôn Đản sang đánh các châu Khâm, châu Liêm và châu Ung thuộc các tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc vào năm 1075, năm 1076 nhà Tống sai Quách Quì sang đánh Đại Việt.  Bị quân Đại Việt chống trả kịch liệt lại không hợp thủy thổ, quân Tống bị thiệt hại nặng nề phải rút lui, nhưng vẫn giữ các châu Quảng Nguyên, Tư Lang, Tô, Mậu và huyện Quang Lang. Trong số các châu huyện này Quang Lang và Quảng Nguyên là quan trọng hơn cả vì Quang Lang, sau này được nhà Lê đổi là Ôn Châu là cổ họng của châu Ung, còn Quảng Nguyên là nơi có nhiều mỏ vàng và mỏ bạc. Để thu hồi lại hai châu này, nhà Lý đã dùng cả quân sự lẫn ngoại giao.  Huyện Quan Lang đã được Lý Thường Kiệt chiếm lại không lâu sau đó, có lẽ cùng lúc với các châu Tô Mậu và Môn.   Riêng châu Quảng Nguyên, việc đòi lại phức tạp hơn vì khả năng sản xuất vàng bạc của địa phương này.  Ở đây đường lối ngoại giao đã được sử dụng.  Hai lần nhà Lý đã sai sứ bộ sang thương nghị.  Lần thứ nhất không thành công vì các quan địa phương nhà Tống viện cớ lời biểu của vua Lý có dùng chữ húy của triều Tống nên không nhận.  Lần thứ hai, sứ bộ do Đào Tông Nguyên cầm đầu, đem theo năm con voi làm đồ cống với lời yêu cầu nhà Tống trả lại các đất quân Tống đã chiếm.  Nhà Tống ưng thuận với điều kiện nhà Lý trả lại tất cả những dân các châu Khiêm, Liêm và Ung đã bị quân của Lý Thường Kiệt và Tôn Đản bắt về Đại Việt trước đó.  Nhà Lý ưng thuận và Quảng Nguyên đã trở về với Đại Việt.  Sự hoàn trả Quảng Nguyên cho Đại Việt đã làm cho nhiều người bên nhà Tống bất mãn. Hai câu thơ châm biếm: “Nhân tham Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyên kim” có nghĩa là vì tham voi Giao Chỉ nên mất vàng Quảng Nguyên mà các tác giả Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca dịch sang thơ là “Tham voi Giao Chỉ, mất vàng Quảng Nguyên” đã được họ làm để kể lại trường hợp này.  Thắng lợi này xảy ra vào năm 1079 dưới thời Lý Nhân Tông.

 

Thành công trong việc đòi lại châu Quảng Nguyên và một số đất khác ít năm sau, Việt nam đã không thành công trong việc đòi lại các động Vật Dương, Vật Ác từ trước đã bị các thổ mục họ Nùng dâng cho nhà Tống, mặc dầu sứ bộ nhà Lý do Lê Văn Thịnh, vị thủ khoa của khoa thi đầu tiên của người Việt cầm đầu đã tranh luận gay gắt.  Phản bác lại chủ trương của các quan nhà Tống cho rằng các đất này là của Tống vì do các thổ mục địa phương dâng cho nhà Tống vì họ qui phục nhà Tống, Lê văn Thịnh lý luận rằng “Đất thì có chủ; bọn thuộc lại giữ đất đem dâng nộp và trốn đi, thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Coi giữ đất cho chủ lại tự ý lấy trộm tất không tha thứ được, mà ăn hối lộ và tàng trữ của ăn trộm pháp luật cũng không dung. Huống chi, bọn chúng lại có thể làm nhơ bẩn cả sổ sách của quí vị hay sao?”

 

Không những quyết tâm bảo vệ lập trường, các vua quan Đại Việt còn tỏ ra rất kiên trì.       Các cuộc thương nghị đã diễn ra cả thảy sáu lần những đều bị nhà Tống khước từ, cuối cùng đã bị bỏ dở.

 

Thắng lợi trong việc đòi lại được mỏ đồng Tụ Long xảy ra vào năm 1728, năm Bảo Thái thứ 9, thời Vua Trần Dụ Tông.  Thắng lợi này có thể coi là điển hình nhất trong nỗ lực bảo vệ lãnh thổ của các triều đại quân chủ Việt Nam.

 

Để kết luận ta có thể nói là trong suốt mười thế kỷ tồn tại, các triều đại gọi là quân chủ Việt Nam đã luôn luôn quan tâm đến sứ mạng vô cùng thiêng liêng của họ là bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền lãnh thổ của dân tộc.  Đây là một việc làm vô cùng khó khăn, trường kỳ và tế nhị, đôi khi nguy hiểm, trong đó từ vua quan, nho sĩ trí thức, hoàng phi, công chúa… đến các dân thiểu số ở các vùng biên giới xa xăm đều đã cùng nhau đóng góp những phần không nhỏ cho nỗ lực chung.  Điều đáng chú ý ở đây là trong chính sách hoà thân của các triều đình thời đó, các vua đã hy sinh luôn cả hạnh phúc cá nhân và gia đình của chính mình, đem các công chúa gả cho các thổ tù trưởng ở những vùng biên cương hẻo lánh, xa xôi vào lúc giao thông liên lạc còn vô cùng khó khăn, hiểm trở.  Nỗi nhớ thương, đau đớn, xót xa khó có thể tưởng tượng là lớn lao và sâu xa đến chừng nào.  Nói như vậy nhưng ta cũng không nên quên tình cảm và sự can đảm của các thổ tù trưởng miền biên giới dành cho Triều Đình Việt Nam.  Giữa triều đình Trung Quốc, mạnh hơn, các thổ tù trưởng này đã lựa chọn triều đình Việt Nam và từ đó họ đã gặp phải không ít khó khăn.   Cuối cùng là các nhà trí thức. Vai trò của những nho sĩ được trao cho trách nhiệm đi sứ để biện minh cho chủ quyền của nước mình cũng không phải là một việc làm đơn giản, dễ dàng, không vất vả và không nguy hiểm.  Lời dặn dò gần như là cảnh cáo của Lê Thánh Tông dành cho Thái Bảo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy năm Hồng Đức thứ tư (1473) được dẫn trên đây, đã nói lên điều đó.  Nhưng cuối cùng thì, ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi, họ đã thành công trong sứ mạng thiêng liêng, cao cả của mình khiến người sau khi đọc đến những đoạn này không chỉ kính phục mà thôi mà còn ngậm ngùi, thương xót nữa.

 

II. Từ Vị Trí Chiến Lược của Các Cao Nguyên Miền Nam đến Danh Xưng Hoàng Triều Cương Thổ Thời Cựu Hoàng Bảo Đại (1949-1955)

 

            Thời năm 1945, qua quốc hiệu Đế Quốc Việt Nam, lãnh thổ và chính sách chỉ được dùng chứ chưa được định rõ. Phải đợi đến thời Hậu Đế Quốc Việt Nam, đúng hơn thời Quốc Gia Việt Nam với Cựu Hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng và với sự thành lập Hoàng Triều Cương Thố, vấn đề mới thật sự trở nên rõ ràng.

 

Hoàng Triều Cương Thổ là một địa danh mới, tiếng Pháp là Domaine de la Couronne, đơn giản được hiểu là miền đất biên cương của triều đại đang trị vì hay xa hơn về lịch sử là miền đất bao gồm các châu gọi là cơ mi, là phên giậu của triều đình.  Hiểu theo nghĩa hẹp, địa danh này chỉ các Cao Nguyên Miền Nam trải rộng từ phía tây của tỉnh Quảng Bình cho đến thượng nguồn của Sông Đồng Nai, còn hiểu theo nghĩa rộng thì bao gồm luôn cả các khu vực cư trú của các dân thiểu số thượng du miền Bắc, Thái, Thổ, Nùng, Mán, Mèo, Lô Lô, Mường… Tất cả đều trực thuộc Quốc Trưởng chứ không thuộc hệ thống hành chánh miền suôi.  Đây là vùng đất còn hoàng vu, là nơi cư trú của các sắc dân thiểu số, chưa mấy tiến bộ mà người Việt cho đến tận sau này vẫn gọi là Mọi.  Đây cũng là một miền đất mới rất phong phú về đất đai, giàu về tài nguyên thiên nhiên và là vùng đất cao, có vị thế chiến lược, được ví như mái nhà của cả ba xứ Đông Dương với vùng ba biên giới của ba nước Việt, Mên, Lào, là nơi con Đường Mòn Hồ Chí Minh đã đi xuyên qua và các thế lực quốc tế luôn tìm cách xâm nhập trong suốt cuộc chiến 30 năm của Thế Kỷ 20. Đ1ung hay không đúng, ai làm chủ được vùng này là làm chủ được cả ba xứ Đông Pháp là nhận định của nhiều người.  Đây là vùng đất mới, chưa được người Việt chú ý tới và lên khai thác, nhưng lại được Vua Bảo Đại quan tâm đặc biệt và yêu thích, một phần có thể là do ông được Khâm Sứ Charles, người đã dỡ đầu ông trong suốt thời gian ông du học bên Pháp và vì là nơi ông thường đến để săn bắn và ẩn mình, tránh sự dòm ngó, nghi ngờ của người Pháp sau khi ông bị thất bại trong nỗ lực cải tổ thời đầu thập niên 1930.  Hai thành phố quen thuộc của thời này, sau trở thành những nơi nghỉ mát nổi tiếng của Miền Nam là Đà Lạt và Ban Mê Thuột.  Riêng Đà Lạt một thời đã trở nên nơi cư trú thường trực và làm việc của Cựu Hoàng thay cho Huế không còn là kinh đô nữa.  Nên biết là sự thành lập Hoàng Triều Cương Thố trên lý thuyết phần nào là dựa trên Hiệp Định Élysée, ngày 8 tháng 3 năm 1949 vì theo khoản I về “Vấn Đề Thống Nhứt Việt Nam” của hiệp định này, nguyên văn như sau:

 

“Đối với các dân-tộc không thuộc về giống người Việt-Nam, mà khu vực cư trú lịch-sử vẫn ở trên lãnh-thổ Việt-Nam và theo truyền-thống vẫn      quy thuận Hoàng-Triều, thì Hoàng-Đế Việt-Nam sẽ ban bố những quy-chế riêng biệt cho đại biểu các dân-tộc đó.  Các quy-chế nầy sẽ ấn định với sự    thỏa-thuận của Chánh-phủ Pháp, vì Chánh-phủ Pháp có bổn-phân riêng biệt đối với các dân-tộc thiểu-số.  Những quy-chế ấy đồng thời phải đảm bảo  quyền-lợi tối-cao của nước Việt-Nam, và sự tiến hoá của các dân-tộc trong sự tôn trọng tục lệ cổ-truyền của họ” [viii]

 

Nên để ý là trái với cái nhìn của nhiều người, vấn đề được đặt ra, theo đúng nguyên văn trong bản hiệp định, rõ ràng không phải là quyền lợi, là tài nguyên thiên nhiên và các quyền lợi về kinh tế vật chất, chính trị hay quân sự của người Pháp, mà là con người, là “các dân tộc không thuộc giống người Việt-Nam” và “sự tiến hóa của các dân-tộc trong sự tôn trọng tục lệ cổ-truyền của họ”, coi như “bổn phận riêng biệt đối với các dân-tộc thiểu số” của nước Pháp, một vấn đề mang bản chất nhân bản phù hợp với truyền thống giữ tinh thần hòa hiếu với các dân tộc thiểu số từ nhiều thế kỷ của các vua chúa Việt Nam và hợp với ý muốn của Cựu Hoàng Bảo Đại, người thường ưa thích lui tới và cư ngụ ở hai thành phố Đà lạt và Ban Mê Thuột trong những năm cuối của thời làm Hoàng Đế và sau này, và có nhiều cảm tình với các sắc dân Thượng như đã nói ở trên.

 

Cho tới khi Việt Nam bị chia đôi, Hoàng Triều Cương Thổ bao gồm hai phần.  Phần thứ nhất là các khu tự trị Mường (ở Hoà Bình), Thái (ở Phong Thổ, Lai Châu, Sơn La), Mèo (ở Lào Kay, Hà Giang), Thổ (ở Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn), Nùng ở Hải Ninh, Móng Cái.  Phần thứ hai gồm 5 tỉnh Đồng Nai Thượng, Lang Biang, Pleiku, Darlac, Kontum.  Tất cả được thành lập dựa theo Dụ Số 6, ngày 15 tháng 4 năm 1950 và Quy Chế 16 ngày 21 tháng 5 năm 1951 của Quốc trưởng Bảo Đại với 9 nguyên tắc căn bản dựa trên quyền lợi tối cao của nước Việt Nam và sự tiến hóa chung của các dân tộc thiểu số trong sự tôn trọng các tục lệ cổ truyền của các dân tộc này.  9 nguyên tắc này là:

 

1.  Quyền lợi tối cao của Quốc Gia Việt Nam được bảo đảm cùng với quyền lợi của các sắc tộc thiểu số.

 

2.  Cao nguyên thuộc Quốc trưởng.

 

3.  Người Thượng cần tham gia vào việc phát triển cao nguyên.

 

4.  Tôn trọng hệ thống bộ lạc và và chức sắc kế truyền của người Thượng.

 

5.  Thành lập Hội Đồng Kinh Tế.

 

6.  Thành lập Toàn Án Phong Tục Thượng.

 

7.  Bảo đảm quyền sở hữu đất đai của người Thươọng.

 

8.  Phát triển cơ cấu dịch vụ xã hội ở Cao Nguyên như y tế, giáo dục.

 

9.  Thành lập đơn vị quân sự riêng biệt cho người Thượng với ưu tiên phục vụ ở cao nguyên.

 

Những nguyên tắc phải nói là tiến bộ cho một chính sách đối với các sắc dân Thượng mà là chung cho tất cả các dân thiểu số trong một quốc gia đa chủng như ở Việt Nam.  Tiếc thay nó đã bị bãi bỏ bởi Thủ Tướng, sau này là Tổng Thống Ngô Đình Diệm, trong các năm 1955 và 1958 với chính sách Việt hóa nhằm thống nhất lãnh thổ và hành chánh, khai thác và phát triển miền cao nguyên, đã đưa tới những bất mãn và chống lại trong các sắc dân miền Thượng với sự hỗ trợ của người Chàm và nhiều thế lực quốc tế với những mục tiêu và âm mưu khác nhau mà các dân Thượng chỉ là nạn nhân.  Cụ thể là các Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc Thượng (Front de Liberation des Montagnards – FLM), Phong Trào BAJARAKA (tên viết tắt của tên của 4 sắc tộc lớn là Bahnar, Jarai, Rhadé và Kaho), cuộc nổi loạn của 5 trại Lực Lượng Đặc Biệt và Mặt Trận Thống Nhất Đấu Tranh của Các Dân Tộc Bị Áp Bức FULRO (Front Unifié de Lutte des Races Opprimées) thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa ở miền Nam.  Sau năm 1975, trái với mọi hứa hẹn trong thời chiến, tình trạng của các dân Thượng ở Các Cao Nguyên Miền Nam cũng không khá hơn, nếu không nói là càng ngày càng tệ đến độ nhiều người Thượng phải bỏ hẳn rừng núi thân yêu của họ, chạy sang Miên và được Hoa Kỳ thu nhận, trong Phong Trào Di Cư Vĩ Đại của người Việt cuối Thế Kỷ 20. [ix]

 

Để kết luận, ta có thể nói việc lựa chọn quốc hiệu cho quốc gia là một việc làm trọng đại, không thể chỉ do một cá nhân thực hiện một cách vội vã, nông nổi một cách vô ý thức nhằm thỏa mãn tự ái dân tộc mà là một sự lựa chọn chính trị ở tầm mức quốc gia, quốc tế, bao trùm mọi sinh hoạt từ lịch sử đến văn minh, văn hóa, xã hội, chủng tộc… có tính cách chiến lược lâu dài.  Sự lựa chọn phải được thực hiện có suy tư, có ý thức, có cân nhắc bởi nhiều người với kinh nghiệm của nhiều thế hệ.  Riêng ở Việt Nam, vấn đề các sắc dân thiểu số ở các vùng biên giới là một vấn đề vô cùng quan trọng ít ai để ý tới.  Hoàng Đế Bảo Đại và Thủ Tướng Trần Trọng Kim với những căn bản học vấn, hiểu biết và kinh nghiệm mà hai ông có được chắc chắn đã phải khổ công suy nghĩ nhiều trước khi khi lựa chọn danh xưng Đế Quốc Việt Nam làm quốc hiệu cho nước mình, vì ngoài danh xưng “đế quốc” người ta còn có danh xưng “vương quốc”, tiếng Pháp là royaume, tiếng Anh là kingdom mà nhiều nước đã dùng và dùng cho đến tận ngày nay.  Chưa hết, thay vì Việt Nam người ta còn có Đại Nam, Đại Việt, Đại Việt Nam, An Nam vân vân… Nên để ý tên Việt Nam đã có từ thời Gia Long là tên của nước Nam thống nhất trải dài từ Ải Nam Quan cho đến mỏm Cà Mau và cũng là quốc hiệu được nhiều người đương thời dùng trong đó có cả Trần Trọng Kim qua nhan đề của cuốn sử của ông. Việc dùng danh xưng Việt Nam làm quốc hiệu của hai ông chắc chắn phải nhằm biểu lộ chủ trương thống nhất đất nước, thâu hồi các miền đất đã mất trong đó có xứ Nam Kỳ và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng.  Điều hai ông đã làm và đã thành công. Có điều vấn đề các Cao Nguyên Miền Nam lại được đặt ra sau đó với những mưu toan của các thế lực quốc tế phức tạp và hiểm độc hơn và một sự “xẻ dọc Trường Sơn” nhằm tách rời vùng này ra khỏi lãnh thổ Việt Nam bằng cách này hay bằng cách khác là một nguy cơ chiến lược lâu dài người ta cần phải để ý, giống như sự bành trướng của Trung Hoa ngoài Biển Đông mà việc khai thác các quặng bauxite là một thí dụ điển hình./

 

Phạm Cao Dương

 

Những ngày cuối năm 2015,

 

sửa lại và bổ khuyết đầu Thu 2017

 

Trích từ (Trước Khi Bão Lụt Tràn Tới Bảo Đại – Trần Trọng Kim và ĐẾ QUỐC VIỆT NAM)

 

Amazon tái bản và phát hành.

 

Chú Thích

 

[1]    L’Harmattan xuất bản và được Nguyễn Đình Đầu dịch sang tiếng Việt, Trần Văn Giàu giới thiệu, Ban Khoa Học Xã Hội Thành Phố Hồ Chí Minh xuất bản, 1990.  Qua bản dịch này danh xưng “l’Empire Vietnamien” được dịch là “Nước Việt Nam”.

 

[1]    Lời trong bài Đăng Đàn Cung, quốc ca chính thức cũng được lựa chọn trong thời này.

 

[1]   Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập II, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích.  Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã hội, 1993, tr. 462.

 

[1]   Đỗ Đình Nghiêm, Ngô Vi Liễn và Phạm Văn Thư, Địa Dư Các Tỉnh Bắc Kỳ. Hà Nội, Lê Văn Tân, 1930, in lần thứ tư, tr 61.

 

[1]   Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, tập hai.  Hà Nội: Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia, Viện Sử Học, Nhà Xuất Bản Giáo Dục 1998, tr. 468-469.

 

[1]   Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập II, Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích.  Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã hội, 1993, tr. 462.

 

[1]  Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển II.   Saigon: Bộ Giáo Dục, Trung Tâm Học Liệu, 1971, tr.17.

 

 

 

[1]  “Công-Điệp của Tổng-Thống Cộng-Hòa Pháp-Quốc gởi Cựu Hoàng-Đế Việt-Nam”, trong Kỷ Niệm Thống Nhứt Việt Nam. Saigon, Tháng 6, 1949, tr. 22.-  “Échange de Lettres du  Mars 1949, Le Président de la République, Président de l’Union Francaise, à S.M. Bao Dai, trong Georges Taboulet, La Geste Francaise en Indochine. Paris: Adrien-Maisonneuve, 1956, tr. 920.

 

[1]  Riêng về hoạt động của Đảng Cộng Sản, tác giả Phan An, trong bài viết nhan đề “Cộng Đồng Người Việt ở Tây Nguyên” đăng trong Tạp Chí Xưa & Nay, sồ 457, tháng 3 năm 2015, trang 6, cho biết:

 

“Từ sau năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, một số cán bộ của Đảng được phân công lên hoạt động tuyên truyền cách mạng cho các cộng đồng Việt và các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Những làng Việt ở Tây Nguyên đã sớm trở nên cơ sở cách mạng, nơi nuôi dưỡng, tá túc của các cán bộ Đảng trên vùng đất Tây Nguyên.  Làng Lạc Giao, và một số làng Việt của phu đồn điền cao su ở Bình Phước, là những làng có cơ sở cách mạng và các hoạt động cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ trước năm 1945.”

 

 

 

Ngoài các tài liệu dẫn trên, để hiểu rõ thêm về các sắc dân miền Thượng Cao Nguyên Miền Nam, nhất là về văn hóa và cuộc sống của họ, quý vị độc giả có thể tìm đọc thêm các tác phẩm sau đây:

 

Les Frontières du Vietnam, Histoire des Frontières de la Péninsule Indochinoise, Ouvrage publié avec le Concours du Centre National de la Recherche Scientifique. Travaux du Centre d’Histoire et Civilisations de la Péninsule Indochinois publié sous la direction de P.B. Lafont. Paris, L’Harmattan, 1989 với nhiều tác giả:  Pierre-Bernard  Lafont, Nguyễn Thế Anh, Philippe Langlet, Quách Thanh Tâm, Charles Fourniau, Po   Dharma…

 

Condominas, Georges, Nous Avons Mangé la Forêt de la Pierre-Gémie Gôo.  Paris, Mercure de France, 1957.

 

Hiskey, Gerald C. Window on the War, An Anthropologist in the Vietnam Conflict. Lombock, Texas Texas Tech University Press, 2002.

 

Po Dharma, Từ Mặt Trận FLM đến Phong Trào Fulro, Cuộc Đấu Tranh của Dân Tộc Thiểu Số Miền Nam Đông Dương (1955-1975).  Paris-San Jose, International Office of Champa (IOC), 2007

 

Viện Dân Tộc Học, Sổ Tay về Các Dân Tộc ở Việt Nam. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1983.

Cuối cùng là những bài viết của Tiến Sĩ Nguyễn Văn Huy từ Đại Học Paris VII được phổ biến trên nhiều trang mạng điện tử.  Riêng tác giả của bài viết này, Phạm cao Dương, cũng có hai bài viết ngắn, nhan đề “Les Proto Indochinois” in trong Introduction à la Connaissance de la Péninsule Indochinoise, Travaux du Centre d’Histoire et   Civilisations de la Péninsule Indochinoise.  Paris, 1983, tr. 141-145 và bài “Notes sur la   Pénétration des Vietnamiens en Pays Mois au Début de la Période Coloniale d’après Quelques Rapports des Inspecteurs des Affaires Indigènes” in trong Asie du Sud-Est           Continentale, Actes du XXXIX Congrès International des Orientalistes, Section Organisée par Pierre-Bernard Lafont. Vol.2.  Paris: L’Asiathèque, 1976.  Bài này nói về sự xâm nhập của người Việt vào cac xứ Thượng vào buổi đầu của Thời Thuộc Địa, vào lúc người Thượng còn xuất hiện ngay cả ở Thủ Dầu Một chứ chưa đến nỗi bị co cụm  trong xứ của họ như sau này.




Tại sao tôi phải nói sự thật?

LS Võ An Đôn

 

Image may contain: 6 people

 

Ai sinh ra trên đời này cũng muốn mình có một việc làm cao quý, được người khác nể trọng. Không ai dại dột đến mức đi nói xấu nghề nghiệp mình đang làm. Nói xấu nghề nghiệp của mình nghĩa là nói xấu bản thân mình.

 

Việc tôi nói “Luật sư chỉ làm cảnh cho đẹp phiên tòa, để người khác nhìn vào tưởng phiên tòa có dân chủ. Sự thật thì luật sư Việt Nam chỉ có vai trò duy nhất là Cò chạy án, để lừa dân lấy tiền”.

 

Đây là sự thật phũ phàng mà mọi người sống trong xã hội này đều biết và nhận thấy. Tôi nói ra sự thật này với tấm lòng mong muốn cho nghề luật sư ở Việt Nam được tốt đẹp hơn, để công lý và công bằng đến với mọi người.

 

Sau khi tôi viết nhiều bài về đề tài luật sư chạy án, đồng nghiệp ở khắp nơi ném đá dữ dội, họ chửi, họ nguyền rủa, họ nói tôi là kẻ phản bội, nói xấu luật sư và bị Đoàn luật sư đưa ra kỷ luật.

 

Tôi biết trước việc này sẽ xảy ra nhưng phải nói, vì nếu tôi không nói thì lương tâm tôi cắn rứt không chịu được. Nếu tôi bị kỷ luật rút thẻ luật sư thì tôi vẫn không hối hận việc mình đã nói.

Đoàn luật sư phải hiểu rõ nói thật thì khác nói xấu: nói thật là nói ra những điều có thật mọi người đều biết, còn nói xấu là chuyện không nói có !

 

https://www.facebook.com/profile.php?id=100008231020747&hc_ref=ARTUnXTi3EELL9dYyTKCSr-Vd-stKQRC7VLKeJguyCGw7OWj2dilVaYzvfmA3uk5F8M&fref=nf

 

TÔI BỊ TƯỚC THẺ LUẬT SƯ

Hôm qua 26/11/2017, Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư họp quyết định kỷ luật tôi với hình thức: xóa tên khỏi danh sách Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên.

Quyết định này có hiệu lực ngay, kể từ đây ước mơ làm luật sư bào chữa cho dân nghèo và người cô thân yếu thế của tôi coi như chấm dứt, để lại nhiều vụ án oan đang làm dở dang.

Đoàn luật sư cho rằng tôi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, trả lời phỏng vấn các báo đài nước ngoài và nói xấu luật sư, để xóa tên tôi khỏi danh sách Đoàn luật sư là mang tính áp đặt, vô căn cứ.

Đoàn luật sư không làm tròn nghĩa vụ cao cả của mình là bảo vệ luật sư, mà làm theo sự chỉ đạo từ phía an ninh, kỷ luật tôi gấp gáp ngay trong ngày chủ nhật, không có mặt tôi. Nhằm mục đích không cho tôi tham gia bào chữa cho blogger Mẹ Nấm, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 30/11/2017.

Những luật sư quyết định xóa tên tôi khỏi danh sách Đoàn luật sư gồm: luật sư Ngô Thiên Phương (Chủ tịch Hội đồng kỷ luật) và luật sư Ngô Minh Tùng (thành viên Hội đồng kỷ luật) đề nghị hình thức kỷ luật đối với tôi. Luật sư Nguyễn Hương Quê (Chủ nhiệm Đoàn luật sư) và luật sư Nguyễn Tâm Hoàng (Phó Chủ nhiệm Đoàn luật sư) bỏ phiếu quyết định xóa tên tôi khỏi Đoàn luật sư.

Mong cộng đồng hãy lên tiếng bảo vệ tôi, để tôi trở lại làm luật sư bào chữa cho dân nghèo, người cô thân yếu thế và tù nhân lương tâm.

 

Image may contain: text




Thành Gia Định còn lại dấu tích gì giữa Sài Gòn?

TTO
Hai tòa nhà hai bên đường Lê Duẩn – Đinh Tiên Hoàng của thành Ông Dèm do Pháp xây dựng cách đây hơn 140 năm trên khu vực cổng thành gia Định xưa – Ảnh: M.C

 

Tất cả các sử liệu đều ghi: 8-3-1859, 19 ngày sau ngày thành Gia Định thất thủ, theo lệnh tướng De Genouilly, 32 ổ thuốc nổ đã phá tung nhiều đoạn tường thành Gia Định. Dinh thự kho tàng lẫn thóc lúa trong thành đều bị đốt phá.

Địa chí Sài Gòn viết: “Kho thóc thành Gia Định cháy mãi hai năm mà khói còn nghi ngút”.

Từ ngày bi thương đó, thành Gia Định không còn gì?

Vẫn còn đến mấy chục năm sau

Tại sao quân Pháp phải phá thành? Rất đơn giản, dù chiếm được thành nhưng quân Pháp không thể ở yên trong ngôi thành nhỏ mà họ đánh chiếm nhanh chóng này khi liên tục bị những đội dân quân “ứng nghĩa” đe dọa đột kích bất kỳ lúc nào; cũng như hàng vạn quân nhà Nguyễn đang từ Huế vô, từ miền Tây lên tái chiếm thành.

Tuy nhiên, hàng chục năm sau đó, khu vực này vẫn là bãi chiến trường tan hoang và hình dáng ngôi thành Gia Định vẫn còn khá rõ các đoạn tường thành trong các bản đồ thành phố Sài Gòn của Pháp như bản đồ 1867, 1870.

Thậm chí trong bản đồ Sài Gòn – Chợ Lớn 1883, 24 năm sau ngày thành Gia Định thất thủ  (1859), hình dáng ngôi thành ấy vẫn còn nguyên vẹn.

Nhưng đã lác đác có những chấm vuông đen (ký hiệu những tòa nhà lớn của bản đồ) xuất hiện trong thành.

Bản đồ Sài Gòn 1867 cho thấy thành Gia Định vẫn còn xuất hiện với đầy đủ đường nét chính tường thành cũng như hình dáng các pháo đài bốn góc thành (nhưng có lẽ các pháo đài này bị phá hủy phần tháp canh phía trên). Và không hề có một công trình nào được xây dựng ở đây – Ảnh tư liệu
So sánh với hình dáng hình dáng thành Gia Định (góc phải ảnh phía trên) do Trần Văn Học vẽ năm 1815. Nguyễn Đình đầu chú giải – Ảnh tư liệu
Bản đồ do người Pháp vẽ 1883, hình dáng thành Gia Định vẫn còn (màu hồng trong hình) – Ảnh tư liệu

 

Những bản đồ sau nữa tuy hình dáng ngôi thành Gia Định vẫn còn nhưng khu vực này đã xuất hiện rõ hình ảnh một tòa thành khác của quân Pháp.

Những tòa nhà mới đã được xây dựng bên trong khuôn viên thành Gia Định, hình thành một ngôi thành khác (góc phải trên cao của hình vẽ) – Tranh vẽ 3D của của Đại úy hải quân Pháp Favre – Tranh tư liệu

 

Đây là bức vẽ công phu của Đại úy hải quân Pháp Fauvre dựa trên bản đồ 2D trước đó nhưng ông đã mất rất nhiều thời gian đi khắp thành phố Sài Gòn lúc ấy, đến từng ngôi nhà, dinh thự để vẽ bức vẽ Sài Gòn 3D đầu tiên (và có lẽ duy nhất về Sài Gòn cho đến nay) rất chính xác, với mô tả các tòa nhà, dinh thự lớn của Sài Gòn lúc ấy.

Tất cả các tài liệu đều nói tranh này vẽ năm 1881. Tuy nhiên căn cứ vào hình vẽ, có lẽ tác giả đã vẽ sau năm 1895 vì trong hình vẽ, hai tháp chuông nhà thờ Đức Bà (làm thêm năm 1895) đã có (liệu bức vẽ 1881 nhưng vẽ bổ sung sau không?).

Quan trọng hơn, ít nhất đến thời điểm đó, tường thành Gia Định vẫn hiện ra lồ lộ và bao phủ các ngôi nhà bên trong do Pháp mới xây dựng.

Thành Ông Dèm giờ vẫn còn đó giữa Sài Gòn

Thật ra, từ nền thành Gia Định xưa, năm 1870 bản thiết kế một ngôi thành mới của hai kiến trúc sư người Pháp là Varaigne và  A. Dupommier đã được vẽ và thi công, 11 năm sau khi các khối kiến trúc lớn của thành Gia Định bị nổ tung.

Vật liệu xây thành lấy từ gạch, sắt của thành Gia Định vẫn còn ngổn ngang nơi đây

Bản vẽ này cho thấy thành mới chiếm diện tích chỉ bằng gần một nửa thành cũ, chu vi chỉ khoảng 1.400m; hiện nằm khớp trong bốn con đường: Lê Duẩn, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Tuy nhiên, hàng loạt các các cuộc tập kích của người dân Gia Định liên tục diễn ra, thậm chí sát vách thành Gia Định từ dân đất Hộ (Đa Kao) cách đó hơn cây số khiến việc xây thành mới kéo dài đến ba năm, năm 1873 mới xong; đặt tên Martin des Pallières là tên một tướng Pháp, Charles Gabriel Félicité Martin des Pallières (1823 – 1876).

Thành mới này gồm ba khối kiến trúc chính: hai khối nhà dài một trệt một lầu hai bên cổng và một khối nhà một trệt hai lầu xây cao hẳn trên nền đất (kiểu thành và mẫu nhà với hệ thống lam quả trám phía trước chống nóng này được một số kiến trúc Sài Gòn sau đó, như Bệnh viện Quân đội Pháp gần đó – nay là Bệnh viện Nhi đồng 2 – làm theo).

Tuy nhiên, phía ngoài tòa thành mới này vẫn còn hệ thống lũy đất quanh thành nên trong các bản đồ, hình vẽ trước 1900 hầu như đa số còn vẽ nguyên hình dáng thành Gia Định xưa (từ 1900, hệ thống lũy đất này mới bị san bằng nên các bản đồ sau đó không còn thấy hình dáng  thành Gia Định xưa nữa.

Cổng thành Ông Dèm lúc mới xây dựng xong trên đường Lê Duẩn hiện nay. Trước cổng thành vẫn còn mênh mông cỏ (ảnh chụp từ góc ngã tư Lê Duẩn – Tôn Đức Thắng hiện nay) – Ảnh tư liệu

 

Hai tường thành Ông Dèm trên đường Lê Duẩn, hai bên đường Đinh Tiên Hoàng hiện nay – Ảnh: M.C

 

Cổng thành Ông Dèm nhìn thẳng từ ngã tư Lê Duẩn – Tôn Đức Thắng hiện nay. Từ cổng nhìn vô, chúng ta có thể thấy khu nhà lính Pháp phía sau – Ảnh tư liệu

 

Hai tường thành Ông Dèm trên đường Lê Duẩn, hai bên đường Đinh Tiên Hoàng hiện nay – Ảnh: M.C

 

Khu nhà lính Pháp ở ngay sau cổng. Khu nhà này nếu còn nằm gần và nằm gần ngã tư Nguyễn Thị Minh Khai – Đinh Tiên Hoàng hiện nay, chưa sang khu vực sân Hoa Lư hiện nay  – Ảnh tư liệu

 

Thành Martin des Pallières là nơi đóng quân đầu tiên của Trung đoàn dã chiến Nam Kỳ (Régiment de marche de Cochinchine) thành lập năm 1869 trước đó.

Năm 1890, trước hàng loạt cuộc khởi nghĩa diễn ra khắp nơi của dân Việt, trung đoàn này phát triển thành ba trung đoàn số 8, 10 và 11.

Riêng Trung đoàn 11  (11ème régiment d’infanterie de marine – 11ème RIM) đóng ở thành Martin des Pallières.

Năm 1900, trung đoàn này đổi tên là Trung đoàn bộ binh thuộc địa 11 (11ème régiment d’infanterie coloniale – 11ème RIC). Người dân Sài Gòn lúc đó và đến 1955 vẫn gọi đó là Thành Ông Dèm (phiên âm từ chữ số 11 – onzième).

Bao nhiêu thăng trầm lịch sử tiếp tục diễn ra ở thành Gia Định xưa

Thật trớ trêu khi khu thành người Pháp chiếm được của người Việt 1859, 86 năm sau lại thành nơi quân Nhật giam giữ lính Pháp, người Pháp ở Sài Gòn sau cuộc đảo chính 9-3-1945.

(Xin nói thêm, Trung đoàn bộ binh thuộc địa 11 là đơn vị chủ lực của quân đội Pháp ở Nam Kỳ, đã từng được đặt tên cho một con đường khu trung tâm Sài Gòn thời thuộc Pháp – nay là đường Trần Phú. Đây cũng là lực lượng được quân Anh vô Sài Gòn giải giới quân Nhật đã thả, trang bị vũ khí để cùng quân Anh nổ súng chiếm lại Sài Gòn trong ngày Nam bộ kháng chiến 23-9-1945).

Năm 1954, quân đội Pháp rút, bàn giao thành Ông Dèm cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Ngay sau đó vài tháng, đây lại là khu vực giao tranh giữa quân đội Sài Gòn lực lượng Bình Xuyên chống chính phủ khi quân Bình Xuyên nổ súng tấn công thành.

1955, khi nắm quyền Tổng thống VNCH, Ngô Đình Diệm đổi tên thành Ông Dèm ra thành Cộng Hòa và trở thành nơi đóng quân của Tiểu đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống, rồi nhanh chóng nâng lên thành Liên đoàn, Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Tổng thống với trang bị vũ khí, khí tài (pháo, xe tăng, xe thiết giáp, súng phòng không) cực mạnh, tương đương một sư đoàn.

Chính lực lượng này ngày 11-11-1960 đã kháng cự quyết liệt quân đảo chính, bảo vệ được Phủ Tổng thống dù trước đó, quân đảo chính đã chiếm Bưu điện SG, Bộ Tổng tham mưu, Căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt, Tổng nha Cảnh sát và Nha Cảnh sát đô thành, Bộ Tư lệnh Thủ đô…

Trong cuộc đảo chính ngày 1-11-1963, dù Trung tá Nguyễn Ngọc Khôi, chỉ huy trưởng Lữ đoàn Liên binh Phòng vệ Tổng thống Phủ bị bắt nhưng quân đảo chính dù tấn công dữ dội vẫn không chiếm được thành. Mãi rạng sáng ngày 2-11-1963, lực lượng này mới buông súng theo lệnh tổng thống Ngô Đình Diệm khi ông bị bắt.

Thành Cộng Hòa trong tay lực lượng đảo chính sau trong cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963 – Ảnh tư liệu
Tòa nhà hai bên thành Cộng Hòa đầy vết đạn bắn trong cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 – Ảnh tư liệu

 

Đây là thời điểm quyết định số phận thành Ông Dèm – thành Cộng Hòa.

Sau đảo chính, Liên binh Phòng vệ Phủ Tổng thống bị quân đảo chính giải thể.

Một tháng rưỡi sau, 14-12-1963, Hội đồng Quân nhân Cách mạng (VNCH) giao khu thành Cộng Hòa cho Bộ Quốc gia Giáo dục VNCH để lập khu Đại học với ĐH Văn khoa, ĐH Nông lâm súc, ĐH Dược.

Tòa nhà lính ở phía sau bị phá, thành Cộng Hòa bị cắt làm hai, thông đường Đinh Tiên Hoàng với đường Cường Để (nay là Tôn Đức Thắng).

Năm 1966, khu vực nhà ăn cuối thành Cộng Hòa trở thành Đài truyền hình VNCH kênh 9 và Đài truyền hình ARFVN kênh 11 (nay là khu vực Đài truyền hình TP.HCM).

Và thành Ông Dèm – thành Cộng Hòa xưa nay còn lại hai tòa nhà hai bên đường Đinh Tiên Hoàng (Q.1, TP.HCM), ngay trên trục đường trung tâm TP.HCM Lê Duẩn. Đến nay đã 143 năm (1873-2016).

https://tuoitre.vn/thanh-gia-dinh-bi-san-bang-con-lai-dau-tich-gi-giua-sai-gon-1053328.htm

 




Một Thời Viết Lách

 

Ngô Viết Trọng

15/11/2017

Tác giả bắt đã nhận Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2017. Ông sinh năm 1944 tại Thừa Thiên, Huế, cựu học sinh Nguyễn Tri Phương, Quốc Học. Trước 1975, là cảnh sát quốc gia. Cựu tù cải tạo. Làm rẫy vùng kinh tế mới. Đến Mỹ theo diện HO từ 1993, ông có 12 cuốn sách đã xuất bản. Bài viết mới là tự truyện của một “ông nhà văn kiêm thằng bỏ báo” như bạn hữu thân tình gọi tác giả.

 

***

 

Tôi đến đất Mỹ lúc tuổi đã ngoài năm mươi. Sau khi hưởng trợ cấp xã hội được một thời gian, cơ quan xã hội yêu cầu những người chưa tới tuổi 65 muốn được tiếp tục hưởng trợ cấp phải kiếm một việc làm hoặc phải đi học một lớp học nào đó. Trình độ Anh ngữ của tôi quá kém, tuổi tác lại cao nên rất khó kiếm ra việc. Đành phải chọn việc đi học thôi!

 

Nhưng đi học lại khổ theo nỗi đi học! Trí óc tôi lúc bấy giờ như đã cùn lụt, cứ học trước quên sau. Tôi đã cố gắng hết mình để đọc bài vở, để luyện giọng nhưng vẫn như không. Cái lưỡi lẫn đôi tai của tôi đều bất lực tệ hại. Cũng tú tài, cũng mang danh sĩ quan một thời như ai mà giờ lâm tình cảnh như vậy tôi làm sao khỏi tủi thân! Không còn đói rách, không bị chèn ép, đày đọa như hồi sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa nhưng tâm trí tôi vẫn chẳng mấy khi được thoải mái.

 

May sao, tình trạng ấy đã không kéo dài. Không lâu sau đó tôi đã kiếm được một công việc ít cần đến Anh ngữ. Đó là việc dọn rác ở một warehouse xe lunch do một người Việt trẻ làm chủ. Công việc hàng ngày của tôi là dọn dẹp rác ở sân bãi đậu xe. Đây là một sân bãi rộng, đậu gần một trăm xe lunch – xe đi bán đồ ăn trưa ở các công sở, công trường hay trường học. Các xe đi bán sớm, muộn, gần, xa, nhiều, ít khác nhau nên họ cứ đi đi về về lai rai khiến công việc của tôi thường kéo dài suốt ngày. Vất vả nhất là những ngày nắng gắt và những ngày mưa gió lạnh lẽo. Còn may là nỗi vất vả ấy cũng có chút đền bù. Ngoài lương hàng tháng, tôi được độc quyền lượm lon nhôm, vỏ chai ở warehouse đem bán. Món lợi tức phụ này đủ cho tôi đổ xăng nhớt và mua sách báo giải trí. Nhờ có việc làm, tinh thần tôi dần ổn định trở lại. Những ngày nghỉ thỉnh thoảng tôi cũng đi dự những buổi tiệc tùng do những bạn cũ hay những người làm xe lunch mời. Sau mỗi bữa tiệc như thế thường kéo theo một buổi chơi văn nghệ bỏ túi như hát karaokê, ngâm thơ, kể chuyện hài… Dần dần tôi đã làm quen với các buổi ra mắt truyện hoặc thơ của một số văn nghệ sĩ. Lúc bấy giờ Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại mới thành lập ở Sacramento đã nâng cảnh sinh hoạt văn nghệ của cộng đồng người Việt ở đây rộn ràng phấn chấn lên nhiều. Nguồn sinh khí văn nghệ từ những buổi sinh hoạt này đã khơi dậy trong tôi nhiều cảm hứng. Qua những tác phẩm ấy tôi đã gặp những mẩu truyện, những vần thơ rất gần gũi với mình. Nó cũng tương tự những chuyện tôi từng gặp thời đang ở tù và mười mấy năm sống ở vùng kinh tế mới. Tôi cũng từng gánh chịu nhiều cay đắng, uất ức như mấy tác giả trên, sao không trang trải những nỗi niềm đó với thiên hạ cho lòng nhẹ bớt? Thế là tôi cũng muốn trở thành một văn nghệ sĩ tài tử.

 

Từ thời học trò tôi đã là một tay nghiện đọc sách. Tôi mê nhất là các loại sách lịch sử và truyện Tàu. Thấy bất cứ cuốn sách lạ nào, kể cả sách truyện tranh, tôi đều tìm cách đọc cho được. Tôi cũng từng thử viết truyện, làm thơ nhưng lơ mơ chưa thành. Nay có cơ hội trở lại với cái thú văn chương đó tôi mừng lắm. Bước đầu tôi sáng tác vài bài thơ, kế đến tôi ghi lại vài đoạn bút ký về những ngày tháng tù tội sau 30/4/1975 gởi đăng trên vài tờ báo địa phương. Nội dung những bài viết này dựa trên những chuyện thật đã xảy ra nên cũng được một số độc giả ưa thích. Sự cổ võ, khích lệ của những người quen biết khiến tôi càng hứng chí. Nhưng suy nghĩ lại tôi không khỏi tự thẹn: Đã quá nửa đời người, sống ở Mỹ trải mấy năm mà chưa nói được tiếng Mỹ, chưa hội nhập được với xã hội mới còn đòi làm nhà văn nhà thơ cái nỗi gì? Lâu lâu viết một bài cho vui theo kiểu tài tử còn được chứ muốn trở thành một văn nghệ sĩ thứ thiệt thì quả là ảo mộng! Chút năng khiếu viết lách đâu đã đủ? Trước hết là làm sao khỏi bận tâm chuyện áo gạo, chuyện bệnh tật… Kế đến là phải có thì giờ. Không có thì giờ để chọn lời lựa lẽ, trau chuốt câu kéo mạch văn sẽ vụng về, rời rạc!

 

May thay, cuối cùng tôi cũng kiếm được một công việc như ý: nghề bỏ báo! Ở Sacramento lúc ấy có tờ nhật báo Sacramento Bee là nhật báo phổ biến rộng rãi nhất. Người bỏ báo (carrier) thường chỉ làm việc về đêm, ban ngày được rảnh rỗi hoàn toàn. Có điều bất tiện là nghề này quanh năm không có ngày nghỉ, không có phép thường niên. Những ngày thứ bảy, chủ nhật và các ngày lễ lớn công việc lại nặng gấp rưỡi, gấp đôi ngày thường. Do đó, rất trở ngại cho người bỏ báo khi cần việc phải đi đâu xa. Mặc kệ nó, tôi chẳng cần đi đâu nữa! Miễn sao hằng ngày có nhiều thì giờ rảnh để viết lách là thỏa nguyện rồi! Thế là tôi giã từ việc dọn rác để gia nhập nghề bỏ báo.

 

Từ đó, cứ một hai giờ khuya tôi đến một warehouse báo để nhận báo rồi đem phát tận nhà cho những khách hàng được liệt kê sẵn trong một danh sách do warehouse ấy cung cấp. Tiền công tính theo số lượng báo đã giao nhiều hay ít. Vì muốn kiếm được một số tiền tương đương với việc dọn rác, tôi phải gắng nhận bỏ nhiều báo. Do đó, công việc tôi lúc nào cũng vất vả, gấp gáp. Hằng ngày, tôi phải giao báo xong trước 6 giờ sáng để nhiều khách hàng kịp đọc trước khi đi làm. Thời gian còn lại trong ngày tôi có thể chở vợ đi chợ, chở con cái đi học và lai rai viết lách. Thay thế món lợi tức phụ “lượm lon chai”, việc bỏ báo lại cho tôi một món lợi tức phụ khác vào dịp lễ Noel và Tết Tây – một khoản tiền “tip” cũng kha khá.

 

Thật ra đó chỉ là cái nhìn chung chung. Vì ham có nhiều thì giờ để viết lách tôi đã hấp tấp khi quyết định thay đổi việc làm. Bước vào thực tế tôi mới rõ cái thời huy hoàng của nghề bỏ báo đã hết. Nó đã trở thành một nghề “ăn lưng đọi làm lọi lưng” và đang trên đà tuột dốc.

 

Hồi ấy, tiền công bỏ một tờ báo khoảng 11, 12 xu trong khi một gallon xăng giá khoảng một đồng. Mười năm sau công bỏ một tờ báo chỉ nhích lên khoảng 13, 14 xu trong khi một gallon xăng đã tăng lên gần ba đồng. Trước kia khách hàng mua báo rất nhiều. Càng về sau, khi ngành internet càng phát triển, khách hàng mua báo càng giảm xuống. Họ chuyển sang theo dõi tin tức trên internet vừa nhanh vừa sớm vừa đầy đủ hơn. Khách hàng càng thưa thớt tất nhiên việc giao báo càng mất công hơn.

 

Một sự thay đổi khác, trước kia khi bỏ báo nếu bị khách hàng phàn nàn báo thiếu, báo rách hay báo ướt liền có người của warehouse đi bỏ bổ khuyết ngay, carrier không thiệt hại gì. Sau này hễ carrier nào bị khách hàng phàn nàn bất cứ lý do gì warehouse đều khấu trừ của carrier ấy 2 đồng mặc dù tờ báo chỉ có giá trị 25 xu hay 45 xu. Nhiều carrier nản quá, lần lượt bỏ đi tìm nghề khác. Cuối cùng chỉ còn hạng yếu kém ngôn ngữ, đặc biệt là trường hợp của tôi còn quá tiếc rẻ “thời gian rảnh để viết lách” đành phải bám nghề.

 

Về mặt an ninh, tôi cũng phạm một lỗi lầm đáng kể. Ban đầu tôi cứ tưởng việc bỏ báo chỉ cực bởi vụ thức khuya dậy sớm thôi. Vào cuộc rồi tôi mới biết nghề này không phải chỉ cực khổ vì chuyện thức khuya dậy sớm mà còn rất dễ gặp nguy hiểm nữa. Ông HO Triệu Văn Tú đã bị đâm chết khi đang bỏ báo. Một người khác bỏ báo xong trên đường về nhà buồn ngủ quá đâm xe vào một gốc cây mà chết.

 

Chuyện bị cướp xe thường xảy ra đều đều… Nhưng lỡ rồi, việc dọn rác đã có người thay, mình rút lui thì càng lâm vào ngõ bí! Tôi đành tự trấn an có người có ta ngại nỗi gì? Đã làm việc trong bóng tối mình cứ luôn đề phòng là xong! Họa hoằn lắm mới xảy chuyện rủi ro một lần, chẳng lẽ mình cũng mang số con rệp?

 

Nhưng dè dặt cẩn thận mấy tôi vẫn không sao thoát khỏi sự quấy nhiễu của đám vạc ăn sương. Để giữ mình, lúc nào tôi cũng phải lấy tinh thần “nể tình Mỹ đen” làm phương châm ứng xử. Khi bị chận xin một điếu thuốc lá, khi bị xin một đồng bạc, khi lại bị xin một hai tờ báo. Lần nào cũng dùng dằng mất khá nhiều thì giờ. Dĩ nhiên khi đã “phải” cho vài tờ báo sau đó tôi phải ráng chạy xe trở về warehouse xin tờ khác để bỏ bù cho khách hàng. Vì thế, cứ thấy bóng người xuất hiện là tôi đã hoảng. Tôi sợ luôn cả những người đi thể dục buổi sáng…

 

Đề phòng con người đã đành, carrier còn phải đề phòng luôn cả những con chó nữa. Chuyện carrier bị những con chó lạc quấy nhiễu kể không xiết. Tôi cũng một lần bị nó cắn vào chân, phải đi khám bác sĩ, chích thuốc ngừa.

 

Chuyện gây ấn tượng mạnh nhất trong tôi là 2 lần bị cướp xe.

 

Thói quen của carrier là luôn nổ máy xe trong thời gian bỏ báo cho đỡ mất thì giờ. Đêm đó khoảng 2 giờ khuya, tôi ngừng xe trước nhà một khách hàng . Khi bước lại gần bậc cửa để quăng tờ báo tôi chợt thấy một bóng người đang chạy vụt lại xe tôi. Chưa kịp hô hoán tiếng nào chiếc xe của tôi đã phóng chạy. Tôi sững sờ giây lát rồi đành gõ cửa nhà khách hàng mượn phone báo tin sự việc cho warehouse biết đồng thời nhờ họ báo cào với cảnh sát.

 

Nhiều ngày sau đó tôi phải vất vả dùng các phương tiện tạm để tiếp tục làm công việc. Chừng nửa tháng sau cảnh sát gọi báo cho tôi biết chỗ để đến nhận xe về. Cuối cùng, tiền thuê thô xe, tiền trả chỗ đậu, tiền sửa chữa xe bị hư hại do kẻ cướp phá phách cộng lại cũng mất hết vài tháng lương bỏ báo.

 

Sáu tháng sau, một đêm khác cũng khoảng 2 giờ khuya, xe tôi lại bị cướp một lần nữa. Lần này tôi mới rời xe được mấy bước bỗng thấy một chiếc xe chạy ngược chiều sà lại sát xe tôi. Tôi giật mình quay lại nhưng một tên cướp từ xe kia đã phóng lên ngồi vào ghế tài xế của xe tôi. Với phản ứng tự nhiên, tôi mở được cánh cửa sau của xe nhưng tên cướp vẫn phóng xe chạy. May tôi buông tay kịp, nếu không, ít lắm cũng gãy tay dập mặt! Nay nhớ lại chuyện đó tôi vẫn còn rùng mình.

 

Gần một tháng sau chiếc xe ấy cũng được “hoàn cựu chủ” và tôi lại phải gánh chịu một khoản phí tổn tương đương khoản phí tổn lần trước!

 

Thế mà mọi người còn cho như vậy là còn tôi có phước vì cả hai lần của mất mà thân vẫn an. Họ khuyên tôi nếu gặp lại những trường hợp như thế tốt nhất là “xuôi tay cho mệ nuốt” để tránh tai họa.

 

Ngoài vấn đề an ninh bản thân bị đe dọa, tôi cũng còn gặp nhiều chuyện cười ra nước mắt, xin kể vài vụ sau đây:

 

Mới bước vào nghề bỏ báo được mấy tháng tôi đã gặp một trận lụt. Chiếc xe tôi đi cũ kỹ, móp méo nhưng máy xe lại rất tốt. Hôm ấy mưa rất lớn, trời có bão. Các đài truyền thông, truyền hình đều thông báo ai không có việc cần thiết không nên ra đường. Với tinh thần trách nhiệm, tôi vẫn lái xe đến warehouse làm việc. Khi ra ngoài thấy cây cối nghiêng đổ nghênh ngang, nước lên lênh láng, nhiều đoạn đường bị ngập, tôi đã chột dạ. Nhưng tôi vẫn tiếp tục đi. Tới warehouse tôi thấy báo cũng vừa chở tới. Lúc đó chỉ mới có vài ba carrier. Đã có báo, làm xong sớm nghỉ sớm chứ ngần ngại gì nữa? Tôi cẩn thận bọc từng tờ bằng bao nylon cho khỏi ướt rồi xuất hành. Trời vẫn tiếp tục mưa gió và nước vẫn tiếp tục lên.

 

Tới địa điểm bỏ báo tôi mới thấy những lối vào nhà khách hàng đều khác hẳn ngày thường. Những nhà hơi thấp đều có chất quanh bao cát để ngăn nước. Nhiều đoạn đường nước lên cao gần lút bánh xe. Tôi rất lo sợ vì xe tôi có thể bị tắt máy giữa đường. Nhưng may, chiếc xe méo mó của tôi vẫn hiên ngang vượt qua mọi trở ngại. Khi bỏ báo cho khách hàng cuối cùng xong, tôi mừng lắm. Cũng lúc đó tôi mới để ý đến thân thể mình đang ướt đẫm từ trong ra ngoài dù tôi vẫn mặc áo mưa. Khi lái xe về tới nhà, tôi sung sướng quá, vội tắt máy, vô nhà rửa ráy sơ sài, thay áo quần rồi lên giường đắp mền ngủ một giấc.

 

Tới chiều thì mưa gió đã ngừng, nước đã hạ. Tôi chợt nhớ có một chút việc cần phải ra ngoài. Khi đề máy xe tôi ngạc nhiên thấy nó cứ kêu rẹt rẹt mà không chịu nổ. Thế là tôi phải nhờ thợ máy đến coi. Người thợ coi xong cho biết máy xe đã bị hỏng hoàn toàn vì bị ngâm nước lâu quá. Anh ta nói “Khi mới về nếu ông cứ để máy tiếp tục nổ một hồi cho các cơ phận khô ráo thì đâu đến nỗi!”. Sự thiếu hiểu biết về máy móc của tôi đã làm chiếc xe máy còn rất tốt trở thành chiếc xe phế thải.

 

Mấy hôm sau tôi nhận được một giấy khen của tòa báo kèm cái check “25 đồng tiền thưởng”. Hôm bão lụt ấy ngót một nửa số carrier đã không đi giao báo. Số còn lại hầu hết giao báo rất trễ. Tôi là người duy nhất bỏ báo đầy đủ, không bị khách hàng nào phàn nàn! Mỗi lần nhớ lại cái phần thưởng “đặc biệt” đó tôi không khỏi tức cười!

 

Một chuyện khác, tôi vốn có tật riêng là hay mắc tiểu vô trật tự. Ban đầu, nhờ bỏ báo ban đêm, tôi đã lợi dụng bóng tối để giải quyết nỗi rắc rối của mình. Nhưng cầm dao lâu ngày cũng đứt tay, có một lần tôi đã bị một khách hàng bắt quả tang. Tuy được thông cảm bỏ qua nhưng từ đó tôi không dám sử dụng quái chiêu ấy nữa. Tôi đã nghĩ ra một cách giải quyết khác kín đáo hơn. Bình thường, trong khi bỏ báo, gặp lon nhôm chai nhựa tôi đều lượm bỏ vào xe. Lúc cần thiết, tôi tắt đèn ngồi trong xe tiểu vào một cái lon. Xong việc lại bật đèn, quay kính xe xuống đổ nước ra đường. Không ngờ lần kia có một viên cảnh sát đậu xe dọc đường mà tôi không để ý.  Có lẽ thấy tôi tắt đèn ngồi trong xe hơi lâu, ông ta đã âm thầm theo dõi. Chưa đổ xong lon nước thì chiếc xe cảnh sát đã trờ tới. Khổ nỗi cái lon tôi dùng lại là cái lon bia! Tôi phải ấm ớ giải thích một hồi, may có sẵn một đống vỏ lon trên xe làm chứng việc mới ổn. Sau vụ này tôi luôn cảnh giác với cảnh sát và biết được họ vẫn luôn tắt đèn đậu xe ở những nơi khó ngờ hoặc chạy xe ban đêm không bật đèn nữa…

 

Lại một lần khác, khi đang bỏ báo tôi bị đau bụng bất ngờ. Trong khu vực route báo tôi không quen nhà nào nên không biết đi tiêu nhờ vào đâu. Nhà tôi xa quá, đành phải liều nín nhịn để tiếp tục làm công việc. Nhưng rồi không may tức nước vỡ bờ. Tôi đang khốn khổ với cái quần dơ dáy, gắng bỏ cho xong những tờ báo cuối cùng thì một khách hàng nữ xuất hiện vừa nhặt báo vừa vẫy gọi tôi:

 

-Boy, boy, come here!

 

Khách hàng mua báo đa số chẳng biết mặt mũi người bỏ báo lớn nhỏ trẻ già thế nào nên vẫn gọi là “boy” cả. “Boy tôi” lúc bấy giờ đang ở hàng ngũ sáu bó, thuộc lớp “boy ông nội ông ngoại” rồi. Vì trong mình đang dơ dáy quá, tôi giả lơ như không nghe. Nhưng người đàn bà vẫn tiếp tục miệng kêu “boy, boy” tay vẫy lia lịa. Sợ bà ta có thể hiểu lầm mình đã làm điều gì mờ ám sinh rắc rối, tôi đành phải quay lại. Tới gần tôi mới biết bà ta gọi tôi lại chỉ để tặng 10 đồng tip. Tôi nhận tiền, cám ơn rồi vội phóng đi ngay. Không biết bà ta có cảm nhận được “nỗi khổ” của tôi lúc đó không…

 

Vụ làm khổ tôi lâu nhất là vụ xe lấy rác đình công. Trong khu vực tôi bỏ báo, xe rác vẫn thường lấy rác mỗi tuần một lần như các nơi khác. Thùng rác thường chứa đồ hư, đồ bỏ đã mốc meo, đôi khi có cả thịt cá, xác súc vật… nên rất dễ sình thúi. Vì thế, khi các thùng rác đã được trưng ra đường thì chẳng ai muốn lại gần. Kể cả những người hay đi bộ thể dục đến ngày lấy rác họ cũng phải nghỉ để tránh. Nhưng bọn bỏ báo chúng tôi thì không thể tránh được! Lần đó chúng tôi dính phải vụ công nhân lái xe rác đình công đấu tranh đòi tăng lương! Ngày đầu ngày thứ hai còn gắng chịu được, sang ngày thứ ba thứ tư  chúng tôi phải mang khẩu trang để xông trận! Mùi rác nó lợm tởm đến độ bỏ báo xong về nhà nuốt cơm cũng không vô! Hơi thúi bốc khắp vùng đến nỗi những kẻ hay lang thang về đêm thời gian đó cũng biệt tăm. Đã có vài carrier chịu không nổi đành liều bỏ việc. Cũng may tình trạng dở khóc dở cười đó chỉ kéo dài đúng một tuần lễ!

 

*

 

Từ khi bước vào nghề bỏ báo, nhờ rảnh nhiều nên tôi đã viết được nhiều hơn. Những việc xảy ra trong thời gian bỏ báo ấy đã nhiều lần trở thành những đề tài ngộ ngộ để tôi khai thác. Khi đưa một truyện lên báo xong, hôm sau thế nào tôi cũng được trực tiếp nghe những người trong cuộc nhận xét, bình phẩm.

 

Trong đám đồng nghiệp của tôi có khá nhiều dân trí thức. Nhà giáo, viên chức hành chánh, sĩ quan cấp tá, cấp úy trong quân đội VNCH đều có đủ. Chính nhờ lĩnh hội được những lời nhận xét, bình phẩm trực tiếp này mà tôi đã bổ khuyết, sửa chữa được khá nhiều sai sót. Họ cũng gợi ý, bổ túc giúp tôi hoàn thành những truyện ký trong tù, những truyện ngắn xã hội. Có người còn khuyến khích tôi ra một cuốn sách để kỷ niệm. Đó cũng là điều mong ước của tôi. Những lời khuyên ấy đã khiến tôi càng hứng chí. Mới viết được tám chín truyện tôi đã ướm thử độ dày của nó. Qua nhiều lần ướm đi ướm lại, thấy nó vẫn còn quá mỏng, tôi càng thấy nôn nóng.

 

Trong lúc loay hoay tìm kiếm đề tài, tôi sực nhớ đến môn học lịch sử – môn sở trường của tôi.

 

Từ thuở nhỏ tôi đã ham đọc sách sử ký. Tôi đã tìm đọc hầu hết các bộ chính sử của Việt Nam của các sử gia xa xưa như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ… cho đến các bộ sử của các sử gia gần đây như Trần Trọng Kim, Phạm Văn Sơn… Ngoài ra, thấy bất cứ cuốn sách nào liên quan đến các nhân vật lịch sử tôi đều tìm cách đọc cho được. Do đó, những nhân vật phi thường, những chiến công lừng lẫy… và cả những vết tích ô nhục trong sử Việt hầu như còn in đậm trong trí óc của tôi. Tại sao không khai thác những điều hiểu biết ấy?

 

Ai cũng biết một số điển tích tự nó đã chứa sẵn những ý nghĩa sâu sắc, cao xa. Nó có thể là một tấm gương cao đẹp của một bậc anh hùng vì nước quên thân. Nó cũng có thể là một hành vi đê tiện của một tên bán nước hại dân bị người đời nguyền rủa. Tô vẽ, khơi sáng lại những tấm gương cao đẹp hoặc xấu xa ấy để thiên hạ noi theo hoặc xa lánh cũng bổ ích cho đời lắm chứ! Thế là tôi thử phóng tác vài truyện ngắn lịch sử.

 

Không ngờ những truyện sử này còn được nhiều độc giả hoan nghênh, lưu ý hơn cả những truyện tôi viết trước đó. Được chú ý nhất là truyện “Chú Tiểu Chùa Cổ Pháp” viết về nhân vật Lý Công Uẩn. Những truyện này chính là nhân duyên nối kết tôi với anh Tô Hòa Dương, một người anh tinh thần, người sau này đã hết lòng giúp đỡ tôi trên con đường sáng tác văn học.

 

Nhờ thêm mấy truyện sử này, tôi đã nâng tập truyện tương lai lên khoảng 250 trang. Thế là hết lo chuyện “nửa đường đứt gánh”, mừng ơi là mừng! Tôi bèn chọn tựa đề của một truyện ngắn đắc ý nhất để làm tựa đề tập sách: “Vết Hằn Mùa Xuân.”

 

Sau đó tôi nhờ người vẽ bìa, lay out, trình bày cuốn sách để đem đi in. Ban đầu tôi chỉ có ý định in khoảng ba trăm cuốn. Mình yếu tài chánh, nhà cửa lại chật, nếu in nhiều không tiêu thụ hết biết chứa vào đâu? Khi hỏi nhà in, họ tính một cuốn khoảng năm sáu đồng khiến tôi đâm hoảng. May sau đó họ lại cho biết nếu in số lượng lớn hơn thì tiền công in sẽ được giảm xuống. Sau khi bàn nghe mấy người bạn góp ý hơn thiệt, tôi quyết định in luôn một ngàn hai trăm cuốn. Biết mình còn cơ hội khác nữa không? Phải liều bị đòn thôi!

 

Chi phí trước sau cho việc in cuốn sách đầu tiên của tôi  ngót nghét 3.000 đồng!

 

Đã lỡ chi một số tiền khá lớn so với hoàn cảnh eo hẹp của gia đình, tôi phải lo tìm cách gỡ gạc ít nhiều. Sách chưa in xong tôi đã nhờ Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị VN ở Sacramento và một số bạn bè giúp đỡ. May mắn là hội CTNCT đã sốt sắng nhận lời đứng ra tổ chức một buổi ra mắt sách. Các báo Việt ngữ ở địa phương cũng sốt sắng hỗ trợ các phương tiện cổ động, giới thiệu tác phẩm. Tuy vậy, tôi vẫn luôn bồn chồn lo lắng mất ăn mất ngủ suốt thời gian ấy.

 

Đầu năm 2001, tập truyện Vết Hằn Mùa Xuân của tôi đã được ra mắt độc giả ở Sacramento. Buổi ra mắt sách đã thành công ngoài dự tính. Hơn hai trăm đồng hương đã tham dự ủng hộ. Số tiền mua sách thu được cũng khá, sau khi trừ chi phí cho cuộc tổ chức, số còn lại cũng vượt trên một nửa số tiền vốn đã bỏ ra. Sự thành công này là một niềm khích lệ lớn giúp tôi thêm tự tin để hăng hái tiếp tục viết lách.

 

Thiết tưởng cũng nên nói sơ lược vài dòng về việc xuất bản sách tiếng Việt ở đất Mỹ. Khác với ở VN, xuất bản một cuốn sách tiếng Việt ở Mỹ, rất hiếm có tác giả nào thu lại được vốn nếu chỉ gởi nhờ các nhà sách bán. Ai không có một chỗ dựa “thiết thực” mà xuất bản một tác phẩm tức là đã chấp nhận một sự hi sinh. Những người đủ khả năng thì hi sinh một chút cũng không sao, hi sinh để thỏa mãn niềm vui riêng, hi sinh để giải tỏa tâm tình… Ở Mỹ có người Việt nào sống nổi bằng công việc sáng tác văn chương thuần túy đâu? Để thu lại được ít nhiều số vốn đã bỏ ra, các tác giả phải được sự ủng hộ của độc giả qua các buổi ra mắt sách. Nhưng muốn tổ chức một buổi ra mắt sách không dễ dàng gì. Trước hết, phải có một bộ sậu ít nhất cũng bốn năm người phối hợp cùng nhau làm việc. Trong số đó ít nhất cũng phải có một người có tài tổ chức điều hành tổng quát, phải có một người ăn nói lưu loát nắm vững được nội dung tác phẩm ra mắt để giới thiệu với độc giả. Và cũng cần có một địa điểm thuận tiện cho độc giả đến dự. Phần đông số văn nghệ sĩ vẫn xuất bản sách được là nhờ họ may mắn có sẵn một công việc làm ăn khác. Thuận lợi nhất là người làm việc ở các ngành truyền thông, báo chí, tác phẩm của họ dễ dàng được rao truyền rộng rãi. Hoặc ít nhất, người viết sách cũng phải có nhiều bạn bè thuộc hạng mạnh thường quân hoặc hạng có uy tín với đồng hương tiếp tay. Những người này có thể tạo phương tiện giúp tác giả đi ra mắt sách bất cứ nơi nào thuận lợi.

 

Hoàn cảnh của tôi chật hẹp hơn nhiều. Nghề bỏ báo không có ngày nghỉ. Muốn đi đâu năm bảy ngày phải cậy người bỏ báo thế. Phải trả tiền công gấp ba tiền công của mình vẫn chưa chắc kiếm ra người giúp. Nếu người bỏ báo thế sơ suất, lôi thôi chuyện gì carrier cũng có thể bị mất việc. Khi liều lĩnh tổ chức một cuộc ra mắt sách ở xa, dù thành công về mặt tài chánh đi nữa phần thu vào cũng khó bù đắp nổi phần chi ra. Suy tính như vậy nên tôi đành thủ phận “gà què ăn quẩn cối xay”.

 

May một điều, tôi vốn hiền lành chất phác, ăn ở rất ít mất lòng ai. Khi sinh hoạt trong cộng đồng tôi cũng được nhiều người mến chuộng. Do vậy, các hội đoàn, đoàn thể ở địa phương đã nhiều lần giúp tôi tổ chức các buổi ra mắt sách. Nhờ bà con thương, lần ra mắt nào cũng tương đối thành công. Lúc này hai tiếng “nhà văn” đã quen gắn liền với tên tuổi tôi. Đối với tôi, được kèm hai tiếng “nhà văn” đáng hãnh diện ấy cũng có chút khá tức cười. Thực tế tôi vẫn là một anh bỏ báo lam lũ phải chạy hộc gạch đêm này qua đêm khác để kiếm sống.

 

Thật khó quên những hình ảnh trái nghịch ngộ nghĩnh trong những ngày ra mắt sách ấy. Buổi khuya tôi là một anh bỏ báo lôi thôi lếch thếch, lượm từng cái lon hoặc ngửa tay nhận vài đồng tiền tip của khách hàng, buổi chiều tôi lại thành một nhà văn mặc veston đàng hoàng, trịnh trọng đóng vai chính trong một buổi sinh hoạt văn hóa! Cũng truyền thông báo chí phỏng vấn, cũng văn nghệ ca nhạc rềnh ràng như ai! Cảnh đó lâu lâu tái diễn một lần – cũng là kỷ niệm đẹp đấy chứ! Vì những hình ảnh trái nghịch ngộ nghĩnh đó, các đồng nghiệp của tôi vẫn hay gọi đùa tôi là “ông nhà văn – thằng bỏ báo”! Cách gọi đó cũng làm tôi thích thú. Tiếng “thằng” ở đây không có ý chế diễu, khinh lờn mà chỉ hàm ý thân thương, đùa bỡn đầy khích lệ. Thực tế khách hàng mua báo không hề biết mặt mũi carrier ra sao, lớn nhỏ thế nào nên khi cho tiền tip hay dặn bảo điều gì họ đều gọi “boy, boy” ráo trọi. “Boy” diễn ra “thằng” đâu có sai lệch mấy!

 

*

 

Như trên đã nói, chính những truyện sử đầu tiên của tôi đã giúp tôi gặp được một người bạn tri kỷ, một người anh tinh thần tuyệt vời, đó là anh Tô Hòa Dương.

 

Anh Tô Hòa Dương là con trai của nhà văn Bình Nguyên Lộc. Sau khi đọc các truyện ngắn lịch sử đầu tay của tôi, anh hết sức khen ngợi. Anh bảo tôi viết truyện sử rất hấp dẫn và khuyên tôi nên chuyển hướng viết về thể loại tiểu thuyết lịch sử.

 

Tiểu thuyết lịch sử là thể loại tiểu thuyết viết về các nhân vật hay các sự kiện quan trọng đã xảy ra thật trong lịch sử. Nội dung các tác phẩm này thường tái hiện bối cảnh xã hội của một thời kỳ đặc biệt nào đó, hoặc khơi sáng công lao của một vị anh hùng chống ngoại xâm hay dẹp nội loạn, hoặc tán dương lòng tiết liệt của một bậc anh thư, hoặc vạch trần cái ác, cái xấu của một chế độ cai trị, một bạo chúa, một gian thần v.v… Ngoài mục đích phục vụ văn học nghệ thuật, tiểu thuyết lịch sử còn có thể tải theo một thông điệp khác. Nói chung, viết tiểu thuyết lịch sử là vẽ lại những bức tranh của quá khứ, trong đó hai thái cực thiện và ác, chính và tà thường được tô đậm nét để người đời nhìn vào mà noi theo hay xa lánh.

 

Theo anh Dương, thể loại tiểu thuyết lịch sử hiện nay rất cần thiết cho việc giáo dục công dân. Nó có thể trở thành nhịp cầu đưa độc giả đến gần với chính sử – một môn học thuở nhỏ chúng ta vẫn ít ưa vì nó khô khan khó nuốt. Một vị anh hùng, một bậc anh thư, một nghĩa cử cao thượng, một hành động hi sinh vì dân vì nước trong tiểu thuyết lịch sử nếu được diễn tả sống động có thể gợi ý khiến độc giả phải tìm hiểu sự thật qua chính sử. Khi đã gần gũi với chính sử, đã biết được sự hi sinh xương máu to lớn của các bậc tiền nhân trong công cuộc dựng nước và giữ nước, chắc chắn lòng yêu nước của ta sẽ bị khơi động, sẽ mạnh mẽ, thiết tha thêm! Người càng hiểu biết lịch sử nước nhà thì tinh thần yêu nước càng sâu đậm.

 

Người Tàu đã sử dụng những tiểu thuyết lịch sử của họ như một phương tiện để xâm nhập văn hóa vào các nước khác. Các tiểu thuyết lịch sử của họ như Tây Du Ký, Đông Châu Liệt Quốc, Hán Sở Tranh Hùng, Tam Quốc Chí, Thuyết Đường, Thủy Hử v.v… đã được phổ biến rộng rãi khắp Việt Nam. Từ các rạp hát cố định đến các gánh hát lưu diễn cũng chuyên diễn các tuồng Tàu… Nó ảnh hưởng mạnh đến nỗi có nhiều người Việt, nhất là trong giới bình dân, có thể kể chuyện về Hàn Tín, Quan Công, Nhạc Phi, Võ Tòng rất rành rọt mà lại không biết gì về Trưng Trắc, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Quang Trung… Đó là một điều đáng buồn cho người Việt mình. Nước ta không thiếu anh hùng, liệt nữ từng xả thân vì nước vì dân, tạo nên không biết bao nhiêu trang sử hiển hách, tại sao chúng ta không khai thác điều đó? Tại sao không tái hiện, không điểm tô, mỹ thuật hóa những trang sử đó để dễ đưa tên tuổi những anh hùng liệt nữ của ta thâm nhập vào lòng quốc dân?

 

Những ý tưởng của anh Tô Hòa Dương nêu ra đều quá đúng. Để đáp ứng tinh thần đó, tôi đã cố gắng rất nhiều trong việc nghiên cứu và sáng tác.

 

Năm 2002 tôi khai sinh được tập tiểu thuyết lịch sử đầu tiên: “Tình Hận” (tái bản năm 2005 đổi thành “Lý Trần Tình Hận”). Tập truyện này nói về những cuộc tình cực kỳ éo le giữa các nhân vật nổi tiếng của họ Lý và họ Trần đã diễn ra trong giai đoạn chuyển tiếp ngai vàng giữa hai họ này. Tiêu biểu là cuộc hôn nhân đầy bi kịch giữa vị vua cuối cùng của nhà Lý (Lý Chiêu Hoàng) và vị vua mở đầu cơ nghiệp nhà Trần (Trần Cảnh).

 

Năm 2003 tôi xuất bản tập truyện ngắn “Ngõ Tím” viết về chuyện tù, chuyện vùng kinh tế mới.

 

Năm 2004 tôi cho ra đời tập tiểu thuyết lịch sử thứ 2: “Công Nữ Ngọc Vạn”. Công nữ Ngọc Vạn là con gái của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Sau khi kết hôn với vua Chân Lạp là Chey Chetta 2, bà đã khéo léo thuyết phục vị vua này thu nhận và biệt đãi di dân người Việt. Sự sai lầm của ngài đã tạo điều kiện cho di dân Việt đâm chồi mọc rễ trên phần đất Thủy Chân Lạp (vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh). Chính đám di dân này đã trở thành hạ tầng cơ sở vững chắc để về sau giúp các chúa Nguyễn trên bước đường Nam Tiến. Kết quả là toàn bộ vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh, trong đó có vựa lúa lớn nhất Đông Nam Á gồm các vùng châu thổ sông Cửu Long và châu thổ sông Đồng Nai đã được thu về cho Tổ quốc Việt Nam!

 

Năm 2005 tôi ra tập tiểu thuyết lịch sử thứ 3: “Dương Vân Nga: Non Cao & Vực Thẳm”. Truyện viết lại cuộc đời thăng trầm của một giai nhân đa tình đã làm hoàng hậu hai triều vua. Khi vị vua đầu Đinh Bộ Lĩnh bị ám sát, hoàng hậu vì yêu một viên tướng giỏi là Lê Hoàn, bà đã không ngần ngại đem cơ nghiệp của chồng – tức là ngai vàng mà người con trai nhỏ của bà đang ngồi – dâng cho viên tướng này. Thế là viên tướng này trở thành vị vua mới, bà lại được phong làm hoàng hậu một lần nữa. Tuy vậy, vị vua mới đã không quên tìm cách tiêu diệt hết dòng họ vị vua cũ – trong số đó có cả con trai của bà – để phòng hậu hoạn! Vực thẳm của Dương Vân Nga chính là ở điểm này.

 

Năm 2006 tôi cùng ba bạn văn khác ra tập truyện “Khuấy Bụi Thời Gian”.

 

Năm 2007 tôi khai sinh được tập truyện dài xã hội “Thăm Thẳm Trời Xanh” là tập truyện đắc ý nhất của tôi.

 

“Thăm Thẳm Trời Xanh” dày ngót 500 trang, viết về nỗi oan khiên tày trời của một cô giáo sau cuộc đổi đời 1975. Chồng cô là một sĩ quan VNCH không may bị thương vào cuối cuộc chiến, được đưa về điều trị ở bệnh viện Cộng Hòa. Vì vướng bận công vụ cùng mấy đứa con dại, cô chưa kịp đi thăm chồng thì miền Nam sụp đổ. Sau đó tin tức về người chồng của cô cũng biệt mù luôn. Cô giã từ nghề giáo, ôm ba đứa con trở về sống với cha mẹ chồng ở xã Thiện Trường. Nhưng lúc đó cha mẹ chồng cô cũng lâm tình trạng kiệt quệ. Vì áp lực của chính quyền, cô phải tham gia làm việc với Hợp tác xã nông nghiệp ở địa phương. Cô luôn bị cán bộ hợp tác xã kỳ thị, chèn ép. Dù phải thức khuya dậy sớm làm việc hết mình nhưng cô vẫn không sao đủ nuôi nổi lũ con. Nhờ có chút vốn do chính cha mẹ ruột giúp, cô giáo liều đi buôn mong kiếm thêm chút ít. Nhưng vốn tính thật thà, cô đã bị sa bẫy công an, vừa bị sạch vốn vừa bị làm nhục. Cô định tự tử nhưng rồi nghĩ đến lũ con thơ nên lại phải ráng sống. Cha mẹ chồng cô đã lần lượt qua đời. Một thời gian sau bất ngờ người chồng của cô trở về trong khi cô đang đi làm với hợp tác xã. Lúc đó cô mới rõ chồng cô đã bị cụt cả hai chân. Sau đêm ở lại nhà, nửa đêm anh biến mất chỉ để lại một mảnh giấy với mấy lời mắng nhiếc cô vợ không đoan chính. Cô không thể tìm lại được chồng để thanh minh đành nuốt nước mắt chịu khổ mà sống để nuôi các con. Một thời gian sau, nhờ một người bạn cũ đang cặp bồ với một cán bộ lớn giúp đỡ, cô đã đem các con vượt biển thành công. Sống ở quê người, cô đã gắng quên chuyện cũ để xây dựng tương lai cho các con. Khi các con đã trưởng thành, cô đề nghị với các con hợp tác để về VN tìm lại người cha bất hạnh của chúng. Không ngờ các con của cô đều tỏ ra hững hờ. Thất vọng quá, cô định tự lo một mình với sự giúp đỡ của một người bạn ở Việt Nam. Thế nhưng khi cô đi khám sức khỏe để về quê tìm chồng thì người ta phát hiện cô đã mắc bệnh ung thư gan thời kỳ cuối. Cô đành uất nghẹn kêu trời vì không còn cơ hội nào để giãi bày nỗi oan với người chồng nữa…

 

Tôi cho đây là tập truyện đắc ý nhất của mình vì ngoài những tình tiết đã lược thuật trên, tôi còn ghi lại được những sinh hoạt khá trung thực (do những người trong cuộc kể lại) về cái Hợp Tác Xã Nông Nghiệp ở chính quê tôi. Chính quyền xã đã vì cố tranh cho được cái danh “tiên tiến” mà làm toàn những việc “trời ơi” gieo rắc không biết bao nhiêu cảnh đói rách, đau khổ cho dân…

 

Năm 2009, tôi ra tập tiểu thuyết lịch sử thứ tư: “Trần Khắc Chung”. Năm 1306 vua Trần Anh Tông đã gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Vua Chiêm đã dâng châu Ô và châu Rí (Thừa Thiên ngày nay) để làm sính lễ. Nhưng chỉ một năm sau thì vua Chế Mân qua đời. Vua Anh Tông nghe tục Chiêm Thành thường hỏa thiêu hoàng hậu cùng vua khi vua mất nên rất sợ công chúa Huyền Trân cũng sẽ bị hỏa thiêu. Vua Trần bèn sai Trần Khắc Chung sang Chiêm lập mưu cướp công chúa về. Chung vốn là một viên quan có tài nhưng thiếu đạo đức nên nhiều người không ưa. Vì thời gian sang Chiêm lo tính việc này hơi lâu nên những người ghét Trần Khắc Chung lên án ông đã lợi dụng dịp này để làm chuyện mờ ám. Không ngờ chuyện đó về sau càng được thêu dệt để trở thành huyền thoại một cuộc tình lãng mạn Khắc Chung – Huyền Trân. Thật ra đó là một nỗi oan lớn của Huyền Trân công chúa! Không thể có chuyện một người đàn bà mới sinh đẻ, chồng mới chết chưa được mấy tháng đã chạy theo trai! Một chuyện hoàn toàn bịa đặt. Tôi đã nghiên cứu các tài liệu chính sử, đã đối chiếu về tuổi tác và sự liên hệ giữa Trần Khắc Chung với Huyền Trân công chúa để chứng minh điểm này hầu minh oan cho công chúa.

 

Năm 2010 tôi lại ra tập truyện ngắn “Lãng Đãng Hồn Xưa”. Cũng viết về chuyện tù, chuyện xã hội.

 

Năm 2011 tôi ra tập tiểu thuyết lịch sử thứ năm: “Chế Bồng Nga: Anh Hùng Chiêm Quốc”. Tái hiện lại một thời kỳ oanh liệt của dân tộc Chiêm, một bộ phận không thể tách rời của nước Việt ngày nay. Lịch sử đã chứng minh đa phần dân Việt ở miền Trung đều có pha trộn ít nhiều dòng máu Chiêm trong huyết quản. Hiểu được điều đó, ta cũng nên coi lịch sử Chiêm Thành chính là một phần của lịch sử Việt Nam vậy. Thể hiện tinh thần đó cũng là một cách chận đứng âm mưu xúi giục chia rẽ giữa các thành phần dân tộc để thôn tính nước Việt của giặc Tàu.

 

Năm 2013 tôi ra tập tạp bút “Xưa Và Nay” gồm các đoạn hồi ký, các bài tiểu luận “đọc chuyện xưa xét việc nay” và một số truyện ngắn.

 

Năm 2014 tôi ra tập tiểu thuyết lịch sử thứ sáu: “Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng”. Tập truyện này tái hiện cuộc khởi nghĩa chống giặc Đông Ngô rất bi tráng của vị nữ anh hùng họ Triệu. Người Tàu vốn có tinh thần tự cao tự đại, luôn coi khinh các dân tộc khác, hay dùng các tiếng Di, Địch, Man, Rợ để gọi các dân tộc ấy. Ngoài ra, người Tàu còn hay xuyên tạc về đức hạnh, về hình hài của các lãnh tụ các dân tộc chống lại họ. Người Tàu đã gọi xách mé Bà bằng cái tên “Triệu Ẩu” – đồng nghĩa với “Mụ Triệu”. Họ đã miêu tả Bà giống như một quái nhân vô đạo: nào hung dữ giết hại chị dâu, nào vú dài ba thước… với mục đích hạ uy tín của Bà đối với dân Việt. “Đầu Voi Phất Ngọn Cờ Vàng” ngoài việc khơi sáng cuộc khởi nghĩa oai hùng của Bà Triệu còn tìm cách để hóa giải những điều xuyên tạc vô lý của người Tàu đối với vị nữ anh hùng này!

 

Hầu hết các tiểu thuyết lịch sử của tôi đều được anh Tô Hòa Dương góp ý bổ túc, điểm xuyết thêm. Anh đã không ngại bỏ công viết một số lời tựa hoặc bài giới thiệu những tác phẩm đó với độc giả bốn phương.

 

Tính đến năm 2014, tôi đã sáng tác được 12 tác phẩm gồm các truyện ký trong tù, truyện xã hội, truyện lịch sử và tiểu luận. Trong số này có 7 tập truyện dài gồm 6 tiểu thuyết lịch sử và 1 truyện dài xã hội. Hai tập tiểu thuyết lịch sử Lý Trần Tình Hận và Công Nữ Ngọc Vạn được phổ biến khá rộng, đến cả trong nước.

 

Nhưng lẽ đời có lúc lên dốc tất phải có lúc xuống dốc. Cảnh sinh hoạt văn nghệ của cộng đồng người Việt ở Sacramento rộn ràng phấn chấn được một thời gian rồi cũng xìu xuống. Nhiều văn nghệ sĩ đã lần lượt gác bút. Các cuộc ra mắt văn thơ càng về sau càng thưa thớt người tham dự…

 

Khi tôi ghi lại đoạn bút ký này thì người anh tinh thần của tôi – anh Tô Hòa Dương – không còn nữa. Tôi cũng đã giã từ nghề bỏ báo. Trước kia hầu như tôi luôn chật vật với công việc. Đêm lo bỏ báo, ngày lo chở con đi học, chở vợ đi chợ, thế mà tôi lại sáng tác khá đều tay. Gần như mỗi năm ra được một tác phẩm.

 

Bây giờ tôi đã hoàn toàn rảnh rỗi, vậy mà ba bốn năm nay tôi vẫn chẳng ra thêm được một cuốn sách nào! Một phần do số độc giả từng ủng hộ, khuyến khích tôi trên con đường viết lách nay đã tiêu mòn khá nhiều. Kẻ đã vào lòng đất, kẻ đã vào nhà dưỡng lão, kẻ đã di chuyển đi nơi khác… Lớp hậu bối thì chẳng mấy ai còn quan tâm tới dòng văn chương tiếng Việt! Phần khác là ngành Internet đã cung cấp những phương tiện đọc và nghe quá thuận lợi khiến độc giả càng xa rời cái thú cầm một quyển sách để đọc như trước. Đó là một thực tế mà những người viết lách phải đối diện! Viết được gì cũng đành để đó đã. In sách lúc này có mà ốm đòn! Tôi lúc này đọc nhiều hơn viết. Thỉnh thoảng tôi đọc lại chính những tác phẩm của mình. Cũng là dịp để tôi bổ túc, sửa chữa lại những khiếm khuyết trong các tác phẩm đó. Tôi mong khi đất nước Việt Nam thanh bình trở lại, các tác phẩm của tôi sẽ được trở về với cố quốc, đóng góp một phần nhỏ trong công cuộc xây dựng lại nền văn hóa dân tộc.

 

Ngô Viết Trọng




Lần theo dấu chân Nguyễn Tuân và “Phở” ở Helsinki

VÕ XUÂN QUẾ

 

Phần Lan và ẩm thực Phần Lan qua ngòi bút Nguyễn Tuân

Mười năm trước, khi tìm tư liệu viết sách “Phần Lan-Ngôi sao phương bắc”[1], tôi bất ngờ đọc được những câu văn rất hay về Phần Lan của nhà văn Nguyễn Tuân:“Xứ Phần Lan rừng thông trùng trùng xanh ngắt, nước hồ biếc biếc, phụ nữ da trắng một màu tượng tuyết, gái trai quần áo len ngũ sắc người nào cũng như nai nịt sắp biểu diễn điền kinh. Mình thành ra lạc lõng vào một thế giới vật chất nó sạch sẽ quá, sạch đến cái mức tạo cho tôi một thứ nghi ngờ nơi đây là một ấn tượng giả tạo.”Càng bất ngờ hơn khi được biết đó là đoạn mở đầu trong tùy bút “Phở” nổi tiếngđược cố nhà văn tài hoa viết khi “đi họp Hội nghị Hòa bình thế giới”ở Helsinkinăm 1955. Nguyễn Tuân kể với nhà văn Phan Hồng Giang rằng: “Ở xa quê hương nhớ cái gì? … Nhớ cái mùi vị không nơi nào trên trái đất này có – mùi vị phở – rồi viết ra”[2]. Nhưng, hai năm sau“Phở”mới được đăng trong 2 số đầu tiên trên Tạp chí “Văn” của Hội nhà văn Việt Nam, số 1 và số 2 ra ngày 10.5 và 17.5.1957, tức chỉ một tháng sau ngày Hội ra đời[3].

Chuyến đi của Nguyễn Tuân tới Phần Lan diễn ra cách đây đã hơn 62 năm, song ai đã từng một lần đến đất nước này khi đọc đoạn văn trên đều dễ dàng nhận thấy nhà văn Nguyễn Tuân đã miêu tả rất đúng cảnh sắc và con người Phần Lan, cụ thểlà Helsinki vào mùa hè. Bởi chỉ có vào mùa hè rừng thông mới “xanh ngắt” và nước hồ mới “biếc biếc một màu”, còn vào mùa đông thiên nhiên Phần Lan chỉ có màu trắng toát của tuyết hoặc màu xám xỉn, tối mờvớicây cối trụi lá vào những ngày không có tuyết và thiếu vắng ánh sáng mặt trời.Song sự sạch sẽ và ngăn nắp của phố phường nơi đây thì vẫn như xưa, thậm chí còn sạch hơnvào thời Nguyễn Tuân đến.

 

Chưa dám chắc Nguyễn Tuân là người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến Phần Lan, song tôi tin rằng ông là nhà văn Việt Nam đầu tiên có mặt ở xứ sở Ông Già Tuyết vào những ngày đêm trắng và viết về Helsinki cũng như ẩm thực của nước này.

Này, các cậu có thấy món ăn ở Phần lan có nhiều cái rất kỳ quặc không. Thịt bò rán, lại phiết mứt công-phi chua ngọt sắt lên trên. Cam chanh lại ăn kèm với cá gỏi. Cơm lại ướp vào tủ nước đá, mình thấy đĩa cơm có khói, lúc ăn buốt đến chân răng. Nghệ thuật ẩm thực tôi gọi tên là lối nấu nướng của trường phái lập thể. Cho nên tôi càng thấy cần phải trở về với món quà cổ điển rất tính chất dân tộc của ta, tức là phở.” Thật ra, món “thịt bò rán” mà nhà văn được thưởng thức ở đây là thịt tuần lộc được ăn với mứt làm từ quả việt quất[4] – món đặc sản nổi tiếng nhất của Phần Lan mà thường chỉ có khách quý mới được chiêu đãi.Chỉ vì nó không hợp với khẩu vị của Nguyễn Tuân cũng như nhiều người trong đoàn nên các vị thấy lạ và không ngon.

 

Công bằng mà nói, do điều kiện thiên nhiên và khí hậu nên ẩm thực của Phần Lan không đa dạng và nổi tiếng như nhiều dân tộc khác. Chẳng thế mà nửa thế kỷ sau Nguyễn Tuân, hai nguyên thủ châu Âu còn có những nhận xét nặng lời hơn về ẩm thực Phần Lan khiến dư luậnnước này cũng như truyền thông thế giới xôn xao. Trong buổi tiệc khánh thành Cơ quan An toàn Lương thực của EU ở Parma (Italia) năm 2005, thủ tướng Silvio Berlusconi đã nói không úp mở: Không thể nào so sánh  thịt nướng từ Parma với thịt tuần lộc hun khói”. Trước đó, vào năm 2001, vị thủ tướng này còn phát biểumột cách hài hước rằng: “Người Phần Lan thậm chí không biết prosciutto (thịt nướng thái mỏng) là gì”. Còn Tổng thống Pháp, Jacques Chirac thì lại bị “vạ miệng”với nhận xét: “Sau Phần Lan, Anh là nước có món ăn dở nhất”. Giới truyền thông cho rằng chính vì câu nói đó của ông Jacques Chirac mà Pháp đã mất phiếu ủng hộ của Phần Lan nên quyền tổ chức Thế vận hội Olympic 2012 thuộc về người Anh, mặc dù Pháp được coi là nước có nhiều ưu thế hơn trong cuộc đua.

Mặc dù đoạn mở đầu viết về Phần Lan trong “Phở” như đã dẫn ở trên chỉ là màn dạo đầu, là cái cớ để nhà văn phóng bút phiếm đàm và ngợi ca món ăn “quốc hồn quốc túy” của Việt Nam mà ông yêu thích, song nó đã khiến nhiều người Việt ngưỡng mộ và yêu thích Nguyễn Tuân nghiện lây món phở, đến với Helsinki và lần theo “dấu vết” của nhà văn.

Trong một bài bút ký, Nguyễn Lê Hồng Hưng đã viết: “Hồi nhỏ tôi đọc tùy bút của nhà văn Nguyễn Tuân, ông viết về phở rất tuyệt và tôi biết ăn phở từ sau khi đọc xong tùy bút của ông. Tuy nhiên tôi thích thú cảnh ông tả về Hen-xanh-ky, tức là Helsinki, thủ đô nước Phần Lan.” …“Vì kính trọng nhà văn tiền bối, một con người tài hoa, đã bôn ba vượt đại dương hàng tháng trời nơi các nước xa xôi, tham dự Hội nghị Hoà bình thế giới để giới thiệu văn hoá nước nhà tới miền Bắc cực này. Mỗi khi lên phố Helsinki tôi hay để ý tìm lại dấu vết của người xưa. Trước tiên tôi tìm trong bản đồ thành phố những hồ nước có vần O hoặc Ö nhưng hổng thấy và không đọc ra hồ nước nào có âm Ô-ta-ni-ê-mi[5]. Khắp Phần Lan có hàng ngàn hồ nước, xung quanh Helsinki ít ra cũng có vài ba chục hồ (Nguyễn Lê Hồng Hưng – Thủ Đô Helsinki)[6]. Một du khách khác đến với Helsinki đã viết: “Đối với tôi, Helsinki còn gắn liền với tên tuổi một người Việt khác chỉ qua một bài tùy bút về phở viết tại đây trong những ngày tác giả héo hắc nhớ món ăn quốc hồn quốc túy của dân tộc: Nguyễn Tuân[7].”

  Hội nghị Hòa bình Thế giới và việc lưu trữ ở Phần Lan

Tròn 60 năm Tùy bút “Phở” đến với bạn đọc và 30 năm ngày mất của Nguyễn Tuân, tôi đọc lại “Phở” ở Helsinki và quyết định lần theo dấu vết của nhà văn và đoàn đại biểu Việt Nam năm nào ở nơi này.

Có lẽ không quá lời khi nói rằng: nếu không có “Phở” thì ngày nay rất nhiều người cũng như tôi không biết gì về Hội nghị Hòa bình Thế giới 1955(HNHB) mà Việt Nam cũng có đoàn đại biểu trong đó có nhà văn Nguyễn Tuân cũng như một số người nổi tiếng khác tham dự. Ngược lại nếu không tham dự Hội nghị hòa bình thế giới và nếu món ăn Phần Lan ngon, hợp khẩu vị với Nguyễn Tuân thì chưa chắc chúng ta đã có tùy bút “Phở” nổi tiếng như đã thấy. Không biết Ủy ban Hòa bình thế giới của Việt Nam và các cá nhân trong đoànhiện còn lưu giữ những tư liệu về sự kiện ấy không, song thử lần tìm qua Google và hỏi những người quen Phần Lan hoạt động trong phong trào hòa bình ở Helsinki, tôi không thu đượcthông tin hữu ích gì về hội nghị đó. Cuối cùng tôi gửi câu hỏi tới địa chỉ hỏi đáp thông tin của Thư viện Helsinki (http://www.kysy.fi/kysy), nơi tôi từng hỏi nhiều thông tin cho cuốn sách Phần Lan-Ngôi sao phương bắckhi không tìm được trên mạng và từ thư viện.

Thật không ngờ sau haituần gửi câu hỏi đi, tôi nhận được thư trả lời, giới thiệu tôi liên lạc vớiLưu trữ nhân dân Phần Lan.Tôi liền gửi email tới cơ quan này và chỉ một ngày sau tôi nhận được email trả lời của một thủ thư từ Lưu trữ nhân dân Phần Lan. Thưcho biết cơ quan này có lưu giữ nhiều tư liệu các loại về HNHB. Trong email, người viết còn hướng dẫn tôi một cách tỉ mỉ cáchtìm tư liệu vềHNHB trên trang mạng của Lưu trữ nhân dân cùng vớiđịa chỉ và thời gian làm việc của cơ quan này để tôi có thể đến tra cứu trực tiếp nếu muốn.

Lưu trữ nhân dân là nơi lưu giữ những tư liệu cũ nhất của các tổ chức, nghiệp đoàn lao động ở Phần Lan từ năm 1890 đến nay. Cơ quan có 3300m giá tư liệu, 14 000 đầu sách, 10 000 băng, 1 100000 tấm ảnh, 7000 áp phích và 570 tác phẩm nghệ thuật. Trong email vị thủ thư cho biết, trong số hơn 1 triệu tấm ảnh ở đây có hàng trăm ảnh chụp ở HNHB (106 ảnh đã được scan và đưa lên mạng). Anh ta dặn vì tư liệu tôi cần tìm không có sẵn ở phòng đọc mà được giữ ở kho xa nên nếu muốn đến tra cứu và đọc trực tiếptôi phải hẹn trước để họ kịp chuyển từ kho về.

Thế là trong thời gianchờ đến Lưu trữ nhân dântra cứu, tôi đọc lại “Phở” và hồi hộp hy vọng sẽ được mục kích những tư liệu, hình ảnh về hoạt động của đoàn đại biểu Việt Nam tại HNHB, như Nguyễn Tuânđãviết (nhất là tư liệu liên quan đến nhà văn).

Đúng hẹn, tôi đến phòng đọc của Lưu trữ nhân dân.Vị thủ thư chỉ cho tôi những tư liệu cần tìm đang xếp trên giá, một vài tập được để lên bàn cùng với một đôi găng tay trắng bằng vải mỏng.Nhìn đôi găng tay vải tôi chợt nghĩ, so với Lưu trữ Vatican mà tôi từng có dịp đến sưu tầm tư liệu về chữ Quốc ngữ cách đây hơn 15 năm, việc tìm tư liệu ở đây dễ dàng và đơn giản hơn, song phải dùng găng tay mới được tiếp xúc với tư liệu thì lại nghiêm cẩn hơn[8]. Tất cả tư liệu liên quan đến HNHB, từ giấy mời, thẻ vào hội nghị, thư chúc mừng, biên bản hội nghị, thông cáo báo chí, danh sách thành viên các đoàn đại biểu, chỗ ở các đoàn, các cuộc gặp của các đoàn bên lề hội nghị, danh sách những người tham gia phục vụ hội nghị (phiên dịch, tiếp tân) với số ngày làm việc tới chi phí các khoản trong thời gian hội nghị cùng với những tấm ảnh kèm theo các ghi chú rõ ràng lưu giữ trong 5 tập được gói buộcchu đáo.

Phải mất gần trọn một ngày tôi mới lần giở hết được 5 tập và đọc lướt qua tất cả để tìm những thông tin liên quan, cần thiết trong đó. Tuy văn bản, tư liệu ghi chép cũng như hình ảnh liên quan đến đoàn đại biểu Việt Nam không nhiều như tôi mong đợi, song những gì tìm được cũng góp phần làm sáng tỏ hơn một số điều mà nhà văn Nguyễn Tuân đã viết trong “Phở” và giúp tôi biết thêm về HNHB cũng như hoạt động của đoàn Việt Nam tại hộinghị này.

Về thời gian, các tư liệu hội nghị cho biết:HNHB diễn ra trong thời gian từ 22-29/6/1955 (tức bảy ngày). Còn trong “Phở”,Nguyễn Tuân không nói đoàn đại biểu Việt Nam đến Helsinki và rời đi khi nào mà chỉ viết: “Chúng tôi ở đây mười ngày mỗi ngày họp trả tiền ăn mỗi người là sáu đồng đô la, nó là cái tiêu chuẩn đã khá cao của đoàn đại biểu ta đi hoạt động quốc tế.” Thật thú vị là trong tư liệu lưu giữ có một mẩu giấy bằng nửa tờ A4 (xem ảnh), trên đó có ghi rõ(bằng chữ in và đánh máy): chuyến tàu hỏa đưa đoàn đại biểu Việt Nam cùng với đoàn Liên Xô và Trung Quốc, gồm 106 người đến ga Helsinki lúc 23 giờ 30 phút (được sửa lại bằng mực xanh viết tay với 20 phút) ngày 19.6. Và trong một tư liệu khác lại có ghi: “Ngày 30.6 đoàn Việt Nam rời Helsinki”. Thông tin trên hai tư liệu này kết hợp với thời gian diễn ra hội nghị đã cho biết đoàn Việt Nam ở Helsinki từ ngày 19.6-29.6.1955, tức đúng “mười ngày” như Nguyễn Tuân viết trong “Phở”.

Như vậy cùng với việc xác định được thời gian của đoàn Việt Nam ở Helsinki, chúng ta còn khẳng định được đoàn Việt Nam đến Helsinki bằng tàu hỏa. Có lẽ vì Nguyễn Tuân viết: “Từ hôm xách va ly ra tàu qua nước này nước khác, thế là mấy tháng rồi; ở nhà đã hoàn thành tiếp quản Hải phòng rồi, đất đai miền Bắc giải phóng toàn bộ rồi…” mà nhiều người nghĩ rằng Nguyễn Tuân và đoàn đại biểu Việt Nam đã đến Helsinki bằng tàu biển:“đã bôn ba vượt đại dương hàng tháng trời”như tác giả tôi đã dẫn trên đây. Nguyễn Tuân cũng không cho biết đoàn Việt Nam xuất phát từ Hà Nội ngày nào nên chúng ta không biết được đoàn đã đi từ Hà Nội đến Helsinki mất bao lâu? Nhưng trong phần chú thích dưới một bức ảnh chụp đoàn Việt Nam, in trong bản tin số 3, ngày 23.6 bằng tiếng Pháp của hộinghị có viết: “Đoàn đại biểu Việt Nam gồm 20 thành viên chính thức và 5 quan sát viên đến Helsinki sau chuyến đi 12 ngày, chuyến đi đã đưa họ từ Bắc Kinh đến thủ đô Phần Lan”[9]. Như vậy là cùng với mẩu giấy đã dẫn ở trên, tư liệu này đã giúp khẳng định đoàn Việt Nam đến Helsinki bằng tàu hỏa.

Hội nghị được tổ chức ở Tòa nhà Hội chợ Helsinki (Messuhalli, nay là chợ trong nhà) với sự tham gia của 1841 đại biểu từ 68 nước trên khắp các châu lục. Danh sách đại biểu chính thức của hội nghị được xếp theo lĩnh vực hoạt động. Đoàn Việt Nam gồm 12 đại biểu do bác sĩ Lê Đình Thám,Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội làm trưởng đoàn và 4 quan sát viên. Trong số thành viên chính thức của đoàn Việt Nam có một số nhân vật đáng chú ý như: Dương Đức Hiền, Tổng thư ký Đảng Dân chủ, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nguyễn Xuân Thủy (Xuân Thủy), Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Lê Văn Thiêm, Trưởng khoa khoa học, Đại học Hà Nội và Nguyễn Tuân, Tổng thư ký Hội Văn học và Nghệ thuật Việt Nam[10]. Nguyễn Tuânlà 1 trong 62 nhà văn của tất cả các đoàn tham gia hội nghị, trong đócó một số nhà văn quen biết với độc giả Việt Nam như: Alexander Fadeev và Constantin Fedin (Liên Xô), Nazim Hikmet (Thổ Nhĩ Kỳ). Ngoài ra, rải rác trong một số tư liệu khác, tôi còn đọcđược một số tên người Việt Nam như: Nguyen Xuan Tu, Tran Van Chuong, Pham Khac Quang, Phan Van Chuong, Nguyen Thi Vinh, song không có chức vụ ghi kèm giống như trong danh sách các thành viên chính thức có trong bản tin số 2 của Hội nghị.

Trong thời gian hội nghị, các đoàn đại biểu đã tham dự ngày lễ hội Hạ chí (Juhannus) ở Helsinki và Espoo. Một tư liệu cho biết chiều tối ngày 26/6 đoàn Việt Nam cùng với đoàn Trung Quốc, một số đại biểu đoàn Ấn Độ và một số đại biểu đoàn Pháp đã đến đón đêm hội hạ chí ở Otaniemi.Chắc tham gia sự kiện này nên nhà văn Nguyễn Tuân đã viết: “Quanh hồ khu Ô-ta-ni-ê-mi, chúng tôi ngồi dưới rừng thông xanh phân tích với nhau xem tại sao lòng dạ mấy người đang thấy nhớ thương một cái gì xa xôi lắm… Có người bèn chỉ tay thẳng xuống nền cỏ bờ hồ Phần Lan, buông thõng một câu: “Bây giờ có ngay một gánh phở đỗ bên bờ hồ này, thì tớ đả luôn sáu bát!”.

Tôi cũng được ngắm nhìn một số tấm ảnh đen trắng chụp cảnh mọi người đang ăn uống, tuy đã hơn 60 năm, song chất lượng vẫn còn tốt, đủ để nhận rõ những gì mà Nguyễn Tuân miêu tả là không quá lời: “Mỗi ngày ăn ba bữa, khẩu phần thừa thãi bổ béo; nghi thức lúc ăn thật là trang trọng: đồ sứ, pha lê, khăn bàn trắng muốt, quanh bàn ăn chốc chốc lại cử nhạc, những chị đưa món ăn trông đẹp như rượu rót trong các truyện thần thoại phương Bắc này. Tôi hào hứng làm việc liền liền ở Hội nghị Hòa bình thế giới, cơ thể nhịp đều, tâm trí có nhiều sáng kiến.”

Trong danh sách 146 chủ tịch, điều khiển các phiên họp của Hội nghị, có ba người Việt Nam là Lê Đình Thám,Phan Van Chuong (Phan văn Chương) và Pham Khac Quang (Phạm Khắc Quảng). Trong số hàng trăm tấm ảnh được lưu giữ, có một số ảnh chụp đoàn Việt Nam, người xuất hiện nhiều nhất đoàn là Lê Đình Thám, trong đó có ảnh ông đang đọc tham luận tại hội nghị. Bản tin số 3 (bằng tiếng Pháp) của hội nghị có in bài phát biểu của ông Lê Đình Thám và lời chào mừng của Ủy ban bảo vệ Hòa bình Thế giới của Việt Nam gửi hội nghị. Một số tư liệu khác cho biết trong thời gian hội nghị, đoàn Việt Nam có các cuộc gặp với đoàn Algeri(ngày 23.6). Bản tin ngày 28.6 đưa tin các đoàn Việt Nam, Kampuchia và Pháp có cuộc gặp gỡ và cuối buổi gặp hai đoàn Việt Nam và Kampuchia đã tặng quà lưu niệm cho đoàn Pháp.

Một tư liệu của hội nghị còn cho biết trong hội trường người ta dựng một cây thông thẳng tắp cao hàng chục mét được đưa từ rừng ở một làng cách Helsinki gần 100km về để biểu thị lòng hiếu khách của nước chủ nhà. Sau khi hội nghị kết thúc, cây thông này sẽ được cắt ra từng mẩu nhỏ và tặng cho các đoàn làm kỉ niệm. Không biết đoàn Việt Nam có nhận và mang về vật lưu niệm đó không?

Thay cho lời kết

Không ngờ nhờ công tác lưu trữ được coi trọng và bảo quản chu đáo, cộng với sự phục vụ hết tận tình của thủ thư thuộc cơ quan Lưu trữ nhân dân Phần Lan mà tôi đã tìm được một số thông tin, tư liệu về Nguyễn Tuân và đoàn đại biểu Việt Nam tham gia hội nghị hòa bình thế giới ở Helsinki cách đây hơn nửa thế kỷ. Tiếc rằng những tư liệu này không thấy được nói đến trong tiểu sử của một số người nổi tiếng, từng là thành viên tham dự hội nghị đó, chẳng hạn như: Dương Đức Hiền, Xuân Thủy, Lê Văn Thiêm, nhất là trưởng đoàn Lê Đình Thám. Tôi thầm nghĩ nếu như Nguyễn Tuân không phải là một thành viên trong đoàn đại biểu Việt Nam đến Helsinki tham dự Hội nghị và ẩm thực Phần Lan hợp với khẩu vị Nguyễn Tuân cũng như các đại biểu khác của đoàn chắc hẳn chúng ta không được thưởng thức một bài tùy bút nổi tiếng như “Phở”.

Từ việc tìm tư liệu cho bài viết này tôi chợt nhớ cách đây không lâu khi bản dịch Truyện Kiều bằng tiếng Nga được xuất bản, một đồng nghiệp viết rằng: cho đến nay Truyện Kiều đã được dịch ra hàng chục thứ tiếng nước ngoài. Tôi có hỏi người đồng nghiệp có biết “hàng chục” thứ tiếng đó là những tiếng nào không? Vị đồng nghiệp trả lời: chỉ nghe mọi người nói/viết thế.Hình như chúng ta chưa có dữ liệu đầy đủ về các tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra tiếng nước ngoài? Trong khi từ ngân hàng dữ liệu của Trung tâm trao đổi văn học Phần Lan (FILI) người ta có thể tìm được tất cả các tác phẩm văn học Phần Lan được dịch ra tiếng nước ngoài từ năm 1839 đến nay.

Helsinki 5-11.2017

___________

  1. Chú thích: Các ảnh trong bài sưu tầm từ Lưu trữ nhân dân Phần Lan ở Helsinki (Kansanarkisto – http://www.kansanarkisto.fi).
  2. Phụ Lục

Danh sách một số đại biểu chính thức trong đoàn đại biểu Việt Nam (trích lục từ Bản tinHội nghị) lưu giữ tại Lưu trữ nhân dân.

Political Figures (Các nhà chính trị)

  1.   Duong Duc Hien (Democratic Republic of VN), General Secretary of the Democratic Party; Member of the Permanent Committee of the National Assembly.
  2.   Ho Thi Giang (Democratic Republic of VN), Member of the Popular Regional Assembly of Thai Meo.
  3.   Le Đinh Tham (Democratic Republic of VN), Member of the Permanent Committee of the National Assembly
  4.   Le Huy Van (Democratic Republic of VN) Member of the National Assembly
  5.   Lo Van Hac (Democratic Republic of VN), Vice-President of the Administrative Committee of the autonomous region of Thai Meo
  6.   Nguyen Xuan Thuy (Democratic Republic of VN), General Secretary of the United National Front; Deputy to the National Assembly

Bussinessman (Doanh nhân)

  1.   Nguyen Van Tinh (VN), Industrialist and Merchant at Hai Phong
  2.   Vu The Nhai dit Nam Tjai (VN) Hanoi Industrialist

Trade Union (Nghiệp đoàn)

  1.   Nguyen Van Hao (democratic Republic of VN) Member of the Excutive Committee of the General Confederation of Workers.

Scientists (Các nhà khoa học)

  1.  Le Van Thiem (Democratic Republic of VN), Dean of the Faculty of Science of Hanoi University.

Men of Letters (Nhà văn)

  1.  Nguyen Tuan (Democratic Republic of VN), Writer, General Secretary of the Association of Writers and Artists.

Lawyers (Luật sư)

  1.  Bui thi Cam (VN) Doctor of Law, lawyer at Saigon.

 

[1]Võ Xuân Quế, Phần Lan-Ngôi sao phương bắc, Nhà xuất bản Thế Giới và VIVAFIN, xuất bản lần thứ nhất 2007, tái bản 2008, 2010, xuất bản lần thứ hai 2017.

[2]http://www.honvietquochoc.com.vn/bai-viet/1028-vai-ky-niem-nho-voi-nha-van-nguyen-tuan.aspx

[3]Xem: http://lainguyenan.free.fr/BienNien/index.html

[4]Việt quất đen (mustikka),  hoặc việt quất đỏ (puolukka).

[5]Ô-ta-ni-ê-mi (Otamiemi-tiếng Phần Lan) là một khu vực ven biển (không phải hồ như Nguyễn Tuân tưởng) thuộc Espoo, giáp Helsinki, nơi phái đoàn Việt Nam và Ấn Độ được đưa đến dự đêm Hạ chí.

[6]http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=22068.

[7]http://hakylam.com/?p=203

[8]Vào Lưu trữ Vatican tìm tư liệu chỉ được phép mang theo giấy trắng và bút chì.

[9]Con số này dựa theo thông báo trước thời gian hội nghị, trong đó 75 quốc gia cho biết sẽ gửi đoàn đến tham dự (đoàn Việt Nam đăng ký 20 đại biểu chính thức, 5 quan sát viên. Song theo danh sách đai biểu ghi trong bản tin số 2, ngày 22.6, đoàn Việt Nam chỉ có 12 đại biểu chính thức). Còn theo tuyên bố của Ban thư ký Hội nghị ngày 29.6, có 68 quốc gia tham dự với 1841 đại biểu.

[10]Xin cảm ơn nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân và Nguyễn Đức Mậu đã giúp chúng tôi xác minh được trường hợp ông Lê Đình Thám và chức vụ của nhà văn Nguyễn Tuân.

 

http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/lan-theo-dau-chan-nguyen-tuan-va-pho-o-helsinki

 




Hịch tướng sĩ thế kỷ 21

Ta cùng các ngươi
Sinh ra phải thời bao cấp
Lớn lên gặp buổi thị trường.
Trông thấy:
Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng
Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước
Nhật đưa rô bốt na nô vào thám hiểm lòng người
Scôtlen dùng công nghệ gen chế ra cừu nhân tạo.
Thật khác nào:
Đem cổ tích mà biến thành hiện thực
Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa
Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ, mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng la đét.
Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.
Các ngươi ở cùng ta,
Học vị đã cao, học hàm không thấp
Ăn thì chọn cá nước, chim trời
Mặc thì lựa May Mười, Việt Tiến
Chức nhỏ thì ta… quy hoạch
Lương ít thì có lộc nhiều.
Đi bộ A tít, Cam ry
Hàng không Elai, Xi pic.
Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận
Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dô dô”.
Lại còn đãi sỹ chiêu hiền
Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít.
Lại còn chính sách khuyến khoa
Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng.
Thật là so với:
Thời Tam quốc bên Tàu, Lưu Bị đãi Khổng Minh,
Buổi hiện đại bên Nga, Pu tin dùng Mét vê đép,
Ta nào có kém gì?
Thế mà, nay các ngươi:
Nhìn khoa học chậm tiến mà không biết lo
Thấy công nghệ thụt lùi mà không biết thẹn
Giáo sư ư? Biết “Thần đèn” chuyển nhà mà chẳng chạnh lòng
Tiến sỹ a? Nghe “Hai lúa” chế tạo máy bay sao không tự ái?
Có người lấy nhậu nhẹt làm vui
Có kẻ lấy bạc cờ làm thích
Ham mát xa giống nghiện “u ét đê”
Ghét ngoại ngữ như chán phòng thí nghiệm
Chỉ lo kiếm dự án để mánh mánh mung mung
Không thích chọn đề tài mà nghiên nghiên cứu cứu
Ra nước ngoài toàn muốn đi chơi
Vào hội thảo chỉ lo ngủ gật
Bệnh háo danh lây tựa vi rút com pu tơ
Dịch thành tích nhiễm như cúm gà H5N1
Mua bằng giả để tiến sỹ, tiến sy
Đạo văn người mà giáo sư, giáo sãi.
Thử hỏi học hành như rứa, bằng cấp như rứa, thì mần răng hiểu được chuyện na niếc na nô?
Lại còn nhân cách đến vậy, đạo đức đến vậy, thì có ham gì bút bút nghiên nghiên.
Cho nên:
“Tạp chí hay” mà bán chẳng ai mua
“Công nghệ tốt” mà không người áp dụng.
Đề tài đóng gáy cứng, chữ vàng, mọt kêu trong tủ sắt
Mô hình xây tường gạch, biển xanh, chó ị giữa đồng hoang.
Hội nhập chi, mà ngoại ngữ khi điếc, khi câm?
Toàn cầu chi, mà kiến thức khi mờ, khi tỏ?
Hiện đại hóa ư? vẫn bám đít con trâu
Công nghiệp hóa ư? toàn bán thô khoáng sản
Biển bạc ở đâu, để Vi na shin nổi nổi chìm chìm?
Rừng vàng ở đâu, khi bô xít đen đen đỏ đỏ?
Thật là:
“Dân gần trăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”!
Nay nước ta:
Đổi mới đã lâu, hội nhập đã sâu
Nội lực cũng nhiều, đầu tư cũng mạnh
Khu vực có hòa bình, nước ta càng ổn định
Nhân tâm giàu nhiệt huyết, pháp luật rộng hành lang
Thách thức không ít, nhưng cơ hội là vàng!
Chỉ e:
Bệnh háo danh không mua nổi trí khôn
Dịch thành tích chẳng làm nên thương hiệu.
Giỏi mánh mung không lừa nổi đối tác nước ngoài
Tài cờ bạc không địch nổi hắc cơ quốc tế.
Cặp chân dài mà nghiêng ngả giáo sư
Phong bì mỏng cũng đảo điên tiến sỹ.
Hỡi ôi,
Biển bạc rừng vàng, mà nghìn năm vẫn mang ách đói nghèo
Tài giỏi thông minh, mà vạn kiếp chưa thoát vòng lạc hậu.
Nay ta bảo thật các ngươi:
Nên lấy việc đặt mồi lửa dưới ngòi pháo làm nguy;
Nên lấy điều để nghìn cân treo sợi tóc làm sợ
Phải xem đói nghèo là nỗi nhục quốc gia
Phải lấy lạc hậu là nỗi đau thời đại
Mà lo học tập chuyên môn
Mà lo luyện rèn nhân cách
Xê mi na khách đến như mưa
Vào thư viện người đông như hội
Già mẫu mực phanh thây Gan ruột, Tôn Thất Tùng chắc cả trung đoàn
Trẻ xông pha mổ thịt Bổ đề, Ngô Bảo Châu cũng dăm đại đội
Được thế thì:
Kiếm giải “Phiu” cũng chẳng khó gì
Đoạt Nô ben không là chuyện lạ
Không chỉ các ngươi mở mặt mở mày, lên Lơ xút, xuống Rôn roi
Mà dân ta cũng hưng sản, hưng tâm, vào Vi la, ra Rì sọt.
Chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu
Mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng,
Chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí,
Mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm.
Chẳng những tên tuổi ta không hề mai một,
Mà thương hiệu các ngươi cũng sử sách lưu truyền.
Trí tuệ Việt Nam thành danh, thành tiếng
Đất nước Việt Nam hóa hổ, hóa rồng
Lúc bấy giờ các ngươi không muốn nhận huân chương, phỏng có được không?
Nay ta chọn lọc tinh hoa bốn biển năm châu hợp thành một tuyển, gọi là Chiến lược
Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời ta dạy bảo thì suốt đời là nhà khoa học chính danh.
Nhược bằng không tu thân tích trí, trái lời ta khuyên răn thì muôn kiếp là phường phàm phu tục tử.
Vì:
Lạc hậu, đói nghèo với ta là kẻ thù không đội trời chung
Mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn trừ hung, không lo rửa nhục
Chẳng khác nào quay mũi giáo mà đầu hàng, giơ tay không mà thua giặc.
Nếu vậy rồi đây khi nước Việt hóa hổ, hóa rồng, ta cùng các ngươi há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất này nữa?
Cho nên mới thảo hịch này
Xa gần nghiên cứu
Trên dưới đều theo!




Khi ‘Tiếng Việt’ được viết thành ‘Tiếq Việt’

Chúng ta nghĩ sao nếu chữ ‘luật giáo dục’ phải viết là ‘luật záo zụk’, ‘nhà nước’ là ‘n’à nướk’… Nhưng đó là cách viết cải tiến mà PGS-TS Bùi Hiền đề xuất trong một cuốn sách mới xuất bản gần đây. Điều này gây ra nhiều tranh luận không chỉ trong giới chuyên môn mà cả những người đang sử dụng tiếng Việt.

 

Chữ viết của tiếng Việt hiện tại chưa hợp lý?

Đó là cuốn sách Ngôn ngữ ở Việt Nam – Hội nhập và phát triển (tập 1) dày 2.200 trang, do nhà xuất bản Dân trí phát hành, nhân Hội thảo ngữ học toàn quốc được tổ chức tại Trường ĐH Quy Nhơn hồi tháng 9. Trong rất nhiều bài viết của các nhà ngôn ngữ học, có bài “Chữ quốc ngữ và hội nhập quốc tế” của tác giả Bùi Hiền với đề xuất cải tiến chữ viết tiếng Việt gây nhiều tranh cãi.

Khi 'Tiếng Việt' được viết thành 'Tiếq Việt' - ảnh 1
PGS-TS Bùi Hiền NVCC

 

PGS-TS Bùi Hiền (Nguyên Hiệu phó trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội, nguyên phó Viện trưởng Viện Nội dung & Phương pháp dạy – học phổ thông) cho biết: “Từ năm 1924, khi toàn quyền Đông Dương ký nghị định cho phép dạy chữ quốc ngữ bắt buộc ở cấp tiểu học, trải qua gần một thế kỷ, đến nay chữ quốc ngữ đã bộc lộ nhiều bất hợp lý, nên cần phải cải tiến để giản tiện, dễ nhớ, dễ sử dụng, tiết kiệm thời gian, vật tư…”.

Những bất hợp lý mà PGS Bùi Hiền đưa ra, đó là hiện tại, chúng ta sử dụng 2, 3 chữ cái để biểu đạt một âm vị phụ âm đứng đầu. Ví dụ C – Q – K (cuốc, quốc, ca, kali), Tr – Ch (tra, cha), S – X (sa, xa)… Bên cạnh đó, lại dùng 2 chữ cái ghép lại để biểu đạt âm vị một số phụ âm đứng cuối vần như Ch, Ng, Nh (mách, ông, tanh…).
“Đó là những hiện tượng không thống nhất, không theo một nguyên tắc chung nào dẫn đến khó khăn cho người đọc, người viết, thậm chí gây hiểu nhầm hoặc không hiểu được chính xác nội dung thông tin. Người học như trẻ em hay người nước ngoài, cũng rất hay mắc lỗi do sự phức tạp này mang lại”, tác giả Bùi Hiền chia sẻ.

Từ đó, PGS Hiền kiến nghị một phương án làm cơ sở để tiến tới một phương án tối ưu trình nhà nước. Chữ quốc ngữ cải tiến của tác giả Bùi Hiền dựa trên tiếng nói văn hóa của thủ đô Hà Nội cả về âm vị cơ bản lẫn 6 thanh điệu chuẩn, nguyên tắc mỗi chữ chỉ biểu đạt một âm vị, và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái tương ứng biểu đạt. Sẽ bỏ chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành và bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latin như F, J, W, Z. Bên cạnh đó, thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có trong bảng trên, cụ thể: C = Ch, Tr; D = Đ; G = G, Gh; F = Ph; K = C, Q, K; Q = Ng, Ngh; R = R; S = S; X = Kh; W =Th; Z = d, gi, r. Vì âm “nhờ” (nh) chưa có kí tự mới thay thế, nên trong văn bản trên tạm thời dùng kí tự ghép n’ để biểu đạt.

PGS-TS Bùi Hiền cho biết: “Đề xuất của tôi có nhiều nhà ngôn ngữ họ thấy hợp lý vì chữ viết mới có một nguyên tắc thống nhất. Nhưng cũng có nhiều ý kiến phản bác vì cho rằng nếu cải tiến vậy sẽ phức tạp, có nhiều hệ lụy. Ví dụ kho tư liệu đồ sộ cũ chuyển sang chữ viết mới thì sẽ xử lý như thế nào. Và để thay đổi sẽ phải mất rất nhiều thời gian: thay đổi nhận thức, thay đổi cách học, cách dạy, sách giáo khoa cũng phải thay đổi, các văn bản, sách, báo, rồi lập trình chữ viết trên máy tính… Phải thay đổi từng bước một. Nhưng chỉ cần mất 1-2 năm là quen dần”.

Bù lại, theo PGS Hiền, cải tiến theo cách này sẽ thống nhất được chữ viết cho cả nước, loại bỏ được hầu hết các thiếu sót, bất cập không nhất quán trước đây gây khó khăn cho người dùng (dẫn mắc lỗi chính tả), giản tiện được bộ chữ cái khi từ 38 chữ cái chỉ còn 31, dễ nắm được quy tắc, dễ nhớ. Ngoài ra, còn tiết kiệm được thời gian, công sức, vật tư trong quá trình tạo lập các văn bản trên giấy, trên máy tính.

Sẽ mất đi sự tinh tế trong cách viết, đọc và phát âm của tiếng Việt
Chia sẻ về vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, PGS-TS Nguyễn Hữu Hoành, Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam cho biết, vấn đề này đã được các nhà ngôn ngữ học trao đổi, đề cập rất nhiều trong những năm qua chứ không riêng gì đề xuất của PGS-TS Bùi Hiền.
“Tuy nhiên, không thể thay đổi được và cũng không nên thay đổi, vì chữ viết liên quan đến văn hóa, lịch sử và rất nhiều vấn đề khác. Ngay cả tiếng Anh, một ngôn ngữ phổ biến có nhiều chữ đọc và viết bất hợp lý mà cũng không ai nghĩ đến việc cải tiến. Đến nay, trải qua nhiều thế kỷ, tiếng Việt đã định hình và chữ quốc ngữ đã tồn tại cả thế kỷ với kho tư liệu đồ sộ từ lúc hình thành đến bây giờ”, PGS-TS Nguyễn Hữu Hoành nhìn nhận.

GS-TS Bùi Khánh Thế (chuyên ngành ngôn ngữ học, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học và đào tạo Trường ĐH Ngoại ngữ-Tin học TP.HCM ), cũng cho rằng, từ năm 1997, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM đã tổ chức hội thảo Chữ quốc ngữ và sự phát triển chức năng xã hội của tiếng Việt, với 32 bài viết từ các chuyên gia ngôn ngữ. Từ đó đến nay cũng có rất nhiều hội thảo, chuyên đề đề cập tới việc nên giữ hay cải tiến.
Nói về đề xuất của PGS-TS Bùi Hiền, giáo sư Bùi Khánh Thế cho biết: “Có một số bất hợp lý, chẳng hạn ký tự q lại thay thế cho chữ ng, z thay gi, c thay tr, ch… Chưa kể làm vậy sẽ mất đi sự tinh tế trong cách viết, đọc và phát âm của tiếng Việt. Từ lúc hình thành cho đến nay, tiếng Việt có nhiều âm thay đổi nhưng chữ viết vẫn giữ nguyên. Đó chính là sự bền vững cần có, chỉ những gì bất hợp lý mới mất đi”.
Theo GS-TS Bùi Khánh Thế, càng đổi mới thì càng bị rối. Đó là chưa kể, sẽ phải tốn rất nhiều thời gian, công sức và kinh phí để thay đổi. Vì thế, đối với chữ quốc ngữ, nên tìm cách chú ý khắc phục những cái khó, hơn là cải tiến.

 

Một ví dụ PGS-TS Bùi Hiền đưa ra được viết bằng 2 kiểu chữ hiện thời và cải tiến

 

LUẬT GIÁO DỤC

Điều 7. Ngôn ngữ dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác; dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số; dạy ngoại ngữ.
1. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục, Thủ tướng chính phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác.
2. Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, giúp cho học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
3. Ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần đảm bảo để người học được học liên tục và có hiệu quả.

Một ví dụ về chữ viết hiện tại và chữ viết cải tiến theo đề xuất của PGS-TS Bùi Hiền /// M.Q

Một ví dụ về chữ viết hiện tại và chữ viết cải tiến theo đề xuất của PGS-TS Bùi HiềnM.Q

https://thanhnien.vn/giao-duc/khi-tieng-viet-duoc-viet-thanh-tieq-viet-903068.html



Người thi sỹ tài hoa trong “Vang bóng một thời”

Khuất Bình Nguyên

Không phải ngẫu nhiên mà cậu Sen kẻ Bưởi – cái biệt danh thân thiết người đời gọi Tô Hoài, lại chọn Nguyễn Tuân làm nhân vật chủ chốt trong thiên hồi ký Cát bụi chân ai nhiều dí dỏm, chua cay và không biết bao nhiêu là não nùng trần ai của ông. Thảo nào mà tôi cũng như bao người khác đã và đang mê đọc Nguyễn Tuân, đặc biệt là Vang bóng một thời ngay từ khi còn trẻ. Nhưng càng về già, khi thấu hiểu lẽ đời và ở cái tuổi người ta ai nấy đều muốn tìm lại sự thanh bình của quá khứ giữa thời buổi ồn ã của xã hội thị trường, lại càng muốn đọc. Sự trải nghiệm dư vị đắng cay của lòng trung thực cũng như sự thật phũ phàng về tráo trở của người đời thì càng yêu thêm những giá trị nhân bản trong văn chương Nguyễn Tuân tỏa ra từ cái ánh sáng lấp lánh yêu thương và nhiều khi mờ tỏ của cái ngày xưa dường như mới xảy ra ngày hôm qua và cái ngày nay của lương tâm con người, làm nên vẻ đẹp kỳ lạ có một không hai trong văn chương Việt Nam hiện đại.

Tôi đọc sách Tùy viên thi thoại của Viên Mai ở quyển 2 thiên thứ 28 thấy ông ấy kể lại trong mơ một kẻ ăn mày bận áo mão đời xưa nói rằng: Văn các đời Ngụy, Tấn là thơ trong văn.Thơ các đời Tống, Nguyên là văn trong thơ. Nhiều nhà văn lớn cổ kim đông tây, trong văn của họ có thơ và họ là nhà thơ trữ tình đích thực trên chiếu trải văn xuôi mọi thời đại. Nguyễn Tuân là một người như thế trong Vang bóng một thời.

Nghe nói lúc sinh thời, ông Nguyễn Tuân cũng làm thơ. Kịp khi người bạn vong niên tóc trắng da đồng của tôi – nhà thơ Ngô Thế Oanh có chép tay cho ba bài thơ của ông Nguyễn lên trên mặt sau của mấy tờ lịch cũ. Bài SayKhúc tương tư viết theo thể lục bát, song thất lục bát đăng trên tờ An Nam tạp chí số 5 ngày 1 tháng 12 năm 1932. Và bài Giăng liềm viết về sự hồi sinh của Điện Biên Phủ theo thể thơ tự do đăng trên báo Văn học số 22 ngày 25 tháng 12 năm 1958. Cách nhau đúng 26 năm! Tôi giật mình sửng sốt vì không nghĩ đó là Nguyễn Tuân. Nếu như ông Nguyễn lấy nghiệp viết thơ làm chính thì không biết có được ngồi gần cùng chiếu với ông Tản Đà để mà nợ men gấp mấy nợ tình, cõi trần ướm hỏi Lưu Linh mấy chàng hay không ? Nhưng sự đời lại không bao giờ có chữ nếu như thế xảy ra. Cái mệnh của ông Nguyễn là làm thơ trên những dòng văn xuôi chải chuốt vô tiền khoáng hậu mà tôi được thấy.

Trên đường đi tìm cái đẹp của thời xưa yêu dấu như những áng mây cách xa chừng vài chục năm thôi, từng trang của Vang bóng một thời được viết nên bởi một tâm hồn thi sỹ tài hoa. Nguyễn Tuân viết truyện ngắn của ông không phải bằng sự lạnh lùng thường thấy của người viết văn xuôi mà bằng cảm xúc thiết tha hòa quyện tự nhiên với nghệ thuật lựa chọn ngôn từ điêu luyện vốn là đòi hỏi nghiêm cẩn và trước tiên của thi ca đã làm nên chất thơ vừa dạt dào cảm xúc vừa kiêu bạc sang trọng mà trang nhã một cách quý phái. Người ta thường nhấn mạnh cái chất khinh bạc cùng với biểu hiệu ông vua tùy bút. Nhưng trong văn ông còn đậm đà cảm xúc trữ tình say đắm của một thi nhân. Hãy xem một đôi dòng ông viết trong truyện Thả thơ: Và trên trần, có một gia đình đang lúng túng vì sự hiu quạnh … Trời đất ôi! Trên mấy gốc tre cằn không đủ gây thành bụi ấm, trận gió thanh bạch cứ lào rào thổi mãi và cảnh cô quạnh ấy của cha con quan phủ vào buổi xế chiều bên cạnh cái lâu đài quyền lực với tường thành, lầu canh đang phai tàn giống như chính cuộc đời của họ. Tiếng trống phủ trên lầu canh cứ điểm những tiếng vô vị vào một tư thất lạnh lẽo … Có những đêm mưa to gió lớn làm nhòe đi tiếng trống phủ cầm canh. Vâng. Nhòe đi tiếng trống phủ cầm canh. Đã như một câu thơ nguyên vẹn mất rồi.

Văn chương Nguyễn Tuân là sự trang trải giữa cái sang trọng với sự tràn ngập của cảm xúc trữ tình được đặt trên nền tảng và sự soi sáng của chủ nghĩa nhân văn.

Có người chê Bạch Cư Dị hồi ở Hàng Châu, thơ nhớ nhung kỹ nữ nhiều hơn là thơ nhớ nhân dân. Lời bàn người xưa cho là thô lậu ấy chẳng thể cản trở được sự trường tồn của văn chương Hương Sơn cư sỹ! Văn của Vang bóng một thời cũng thế. Nghệ thuật thi ca của Nguyễn Tuân là đi tìm cái đẹp thanh cao ở những kiếp đời trần tục cay đắng nhất. Nguyễn Tuân nâng niu trân trọng với cảm xúc về cái đẹp thanh nhã và sự lương thiện ở những phận người thất thế, đen bạc và cùng cực. Người hỏng thi. Lại là của Khoa thi cuối cùng. Thấy dặm hòe vùng Sơn Nam Hạ ngả màu vàng thì lòng bắt đầu bận bịu. Dưới mảnh trời sụt sùi hoa hòe nở đều, làm ấm lại lòng người sỹ tử đi thi trên những con thuyền nhỏ li ti đi về như lá tre rụng mùa thu giữa xứ đồng chiêm nước ngập nuốt hẳn bờ. Cảnh sắc tựa như san sẻ, neo về nỗi buồn không lấy lại. Tại nhà trọ ở thành Nam, người hỏng thi vẫn chơi sang bằng việc uống hết ba bình rượu cúc vào một đêm dài nhất trong một đời người … Với người tử tù chờ thi hành án chết thì hỏi còn vương vấn và khí phách nỗi gì? Vậy mà Nguyễn Tuân đã tìm ra vẻ đẹp vừa ngang tàng vừa khoáng đạt của một bậc nho gia. Chữ viết đẹp lắm, vuông lắm như nhân cách của ông Huấn Cao vào lúc đời thường thường rất khảnh. Chỉ viết chữ cho người tri kỷ. Mà có chữ ấy treo lên là một vật báu trên đời. Tôi đọc nhiều lần Chữ người tử tù, chẳng hiểu sao lại bâng khuâng nhớ nhà thơ được đời gọi là bậc thánh Cao Bá Quát mà cách đây đã lâu tôi về tận quê ông ở làng Sủi, bên kia sông Hồng, trèo lên bệ cao đánh chiếc khánh đá cổ phát ra cho đủ 9 tiếng trầm buồn, cũng như leo lên núi Sài Sơn tìm bài thơ Cao Chu Thần đã viết. Nguyễn Tuân dựng lại cảnh người tử tù Huấn Cao viết chữ mang một giọng điệu sử thi: Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ vẳng tiếng mõ trên vọng canh, dưới ánh sáng đỏ rực của bó đuốc tẩm dầu, Người tử tù đã viết chữ trên khuông lụa trắng để viên cai ngục phải chắp tay vái với dòng nước mắt nghẹn ngào cảm phục về tài năng và nhân cách. Người tử tù trở thành người bề trên dạy bảo kẻ đương quyền kia hãy tìm nơi lương thiện mà sống. Chữ người tử tù là bài thơ hay nhất về chữ tượng hình. Cũng như thế, ông Nguyễn Tuân dựng lên khung cảnh huyễn hoặc trong sự chuẩn bị và đối thoại hết sức bình thản của những kẻ cướp giang hồ với những cái tên dân dã: bọn Huần, Cai Xanh, Phó Kinh, Lý Văn … mà ông thân ái gọi là Những kẻ bất đắc chí được gói gọn trong 3 chữ Nghèo – Cực – Khái đi lấy chỗ tiền bạc của bọn bất nghĩa đem chia cho anh em khác nghèo như mình. Cả những thứ vũ khí cũng được gọi bằng những tên thật nhã: bút chì, bút chùng… Nguyễn Tuân không mô tả trực tiếp vụ cướp mà chỉ muốn người ta nhìn thấy cái vẻ đẹp tình người của tiếng bạc ấy.

Tìm ra cái đạo lý làm người và vẻ đẹp dung dị mà cao sang của những việc sinh hoạt đời thường như uống trà, đúng hơn là uống trà tàu và việc đánh bạc bằng thơ; cảm hứng thi ca của Nguyễn tìm thấy vẻ đẹp của những kẻ hết thời, thất thế. Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm. Đánh Thơ, Thả Thơ … Những quan viên đang tại vị bây giờ, những người mà Nguyễn Tuân gọi là cái xã hội đàn ông mặc áo xanh ẩm ướt, không hiểu có giật mình và đỏ mặt khi đọc những truyện ấy trong sự thích thú ngấm ngầm hay không?

Có người so sánh Edgard. A. Poe với Nguyễn Tuân và cho rằng văn của Poe cảm xúc sơ sài thôi. Văn của Nguyễn Tuân cảm xúc lại vô cùng tinh tế. Tôi không dám chắc điều này. Bởi sự kinh dị đầy linh ứng của Poe trong nguyên bản tiếng Anh. Có điều rõ ràng là hầu hết các câu chuyện của Vang bóng một thời thật giản dị. Nguyễn Tuân tựa vào cái cốt chuyện giản dị không khêu gợi bằng những tình tiết éo le ấy để từ đó dọc theo con đường đi tìm cái đẹp phần nhiều trong nỗi hoài nhớ ngày xưa nhằm bày tỏ và đôi lúc dâng lên như lên đồng cảm xúc thi ca về vẻ đẹp muôn thuở của con người mà ta lại dễ dàng nhận thấy đó là cảm xúc và tình yêu đôi khi thiên vị cho văn hóa của cả một vùng đất với những đặc trưng riêng không gì pha trộn được. Vì lẽ ấy, văn của Nguyễn Tuân sẽ còn lại mãi.

Tôi đọc Vang bóng một thời thấy dường như phảng phất văn hóa xứ Đoài ở đâu đây. Cái xứ sở nghèo túng nhàn nhạt pha trộn giữa cái xưa cũ của mới ngày hôm qua với cái bóng dáng nghìn năm chưa mất của sông núi và cõi đời đâu đó vẫn còn ẩn hiện tới bây giờ. Đó là bài thơ ẩn chứa một tiếng thở dài của nơi tôi sinh ra và bị nhiễm vào cái đó từ buổi thiếu thời. Không có ở đâu nhiều đình chùa cổ và sự tích làm người như ở nơi đây. Đó là nơi muôn năm của cái cũ. Cái tàn lọng của quá khứ cứ che bóng người đi ở xứ sở này. Nguyễn Tuân thật kỳ tài khi viết về điều đó. Mặc dù ông không phải là người Sơn Tây. Văn hiến xứ Đoài chính là cái tàn lọng của quá khứ ấy che cái bóng nhiều huyền thoại và lãng tử trong văn chương Vang bóng một thời. Trên đỉnh non Tản. Chữ người tử tù và nhất là Ngôi mả cũ.

Hồi năm 1940, nhà văn Thạch Lam coi Ngôi mả cũ là truyện hay nhất của tập. Tôi không đồng với ý đó của ông. Nhưng rõ ràng câu chuyện ấy mang đậm phong vận xứ Đoài, trên cái chiếu đất dằng dặc mùi côi cút ở rừng Hưng Hóa. Ở thành Sơn Tây, người ta vẫn thường nghe thấy tiếng kèn tàu, loa đồng và trống trận nổi lên trong thành xây đá tổ ong của tỉnh Sơn, nơi quân cờ đen tế cờ thu quân. Rồi thì cái đoạn đường vỏn vẹn chừng trên dưới 30 dặm bây giờ vẫn còn đó mà xa xôi hoài niệm quá chứng với những cái tên xóm tên làng đến giờ còn chưa đổi. Làng Vòng. Làng Nhổn. Trạm Trôi. Phủ Hoài. Sơn … Qua con mắt thi sỹ Nguyễn Tuân mà hình dung ra cái đằng đẵng của con đường xứ Đoài cát bụi và xiêu diêu ấy. Cả cái bến đò sông Hát cổ xưa đã bị đất và cỏ vùi kín tự bao giờ mà sao Vang bóng một thời còn cho các nhân vật của mình đi qua thật là chậm chạp trong thấp thoáng bóng nước, bóng mây của thời xưa cũ. Cũng phải thôi. Vì cách thời ấy không xa, trong một cuốn du ký có tên là Một chuyến du hành đến đàng ngoài của một người phương Tây – William Dampiere viết năm 1688 nói rằng từ phố Hiến phải mất 2 ngày mới lên được Kẻ Chợ. Có người bảo với tôi truyện ngắn Trên đỉnh non Tản là thiên tùy bút, là bài thơ đặc sắc nhất về đồng đất xứ Đoài, nơi con người trong mỗi thôn làng sống chung với huyền thoại ngấm vào giọng nói của họ còn lại mãi từ ngàn xưa. Là bởi vì theo Nguyễn Tuân, trong bốn vị tứ bất tử của nước Nam ta thì người hay biến hóa nhiều nhất và tàng hình lẫn vào đám người trần mắt thịt là thánh Tản Viên. Và ông Phủ Quốc chỉ lỡ miệng nói mấy câu: đứng ở mái Nam đền Thượng nhìn xuống trông được cả khói của kinh thành Thăng Long… mà thánh phạt vì lộ thiên cơ phải lăn đùng ra chết. Viên đá cuội vô tri đã hai lần mang sứ mệnh con người trong Vang bóng một thời. Lần trước là Hương cuội làm cái cớ cho mấy vị hàn nho uống rượu ngâm thơ. Lần này đá cuội mang trộm từ đỉnh núi Tản về trong tay viên Phủ Quốc vừa lăn ra chết đập ra có mùi hương đượm của quả men rượu ủ trấu … Vỏ đá cuội còn lại đem thả vào bát nước mưa kinh niên uống thấy say ngát vô cùng! Rõ thật là Nguyễn Tuân. Và tôi biết trong mỗi người đàn ông xứ Đoài bây giờ vẫn còn giấu một mảnh vỏ đá như thế, mỗi khi họ bước vào một cuộc thành bại ở đời. Chao ôi! Bóng dàng thời xưa của văn hiến xứ Đoài cư như che lọng trong Vang bóng một thời. Văn chương của thi sỹ Nguyễn Tuân đã bảo tồn giá trị văn hóa của cả một dải đất phía tây Kinh thành Thăng Long giờ đã ít nhiều mai một. Sực đến khi Cát bụi chân ai ra đời, ông Tô Hoài viết: Cuộc đời phóng túng và nếp nhà quan các cụ nội đại thần trị nhậm đất Sơn Tây, đã in đậm, đã mờ chồng lên ngày tháng đời con đời cháu tự bao giờ … Chữ người tử tù, Đỉnh non Tản và tất cả vang bóng của ông đều phảng phất Sơn Tây. Tôi không chắc hẳn là như thế. Lúc sinh thời, không thấy nói cụ tú Hải Văn, tú tài khoa thi sau cùng, thân phụ Nguyễn Tuân đã từng trị nhậm ở đất này … Chỉ thấy Nguyễn hay cùng Tô Hoài, Nguyên Hồng lên Sơn, thường ngồi bên hào nước của tòa thành đã đổ nát dưới thời gian và dưới gốc cây sữa đã quá nhiều cằn cỗi quên cả nở hoa theo mùa ở nơi nửa tỉnh nửa quê. Nhưng tìm làm chi cái nguồn gốc xa mờ đó của văn chương. Hãy để quá khứ yên lặng như thế. Cũng giống như chúng ta không còn ai tìm nữa ai là người nguyên mẫu của Tóc chị Hoài. Mặc dầu, ở Sà Goông, có người đàn bà nhận thầm qua bao nhiêu mưa nắng năm trường trong đời người và trong cách trở Bắc Nam là bóng dáng ấy đấy thôi. Cũng như thân phận của cô đào Chu Thị Năm, người cùng thời với ca nương Quách Thị Hồ, dõi theo chàng Nguyễn lên chiến khu Việt Bắc thời kháng Pháp. Chàng đi đâu nàng cũng biết và thường gửi vàng cho chàng tiêu pha … Người ấy đã mờ hẳn, đừng có mà tìm ở phố Khâm Thiên vì cuộc bể dâu, ta chỉ còn tên phố bây giờ …?

Trở về với văn chương Nguyễn Tuân, đâu chỉ để yêu một thời đã qua. Cuối thế kỷ 20 và tràn sang thế kỷ 21, một số người muốn đi tìm góc tối của cái ban ngày. Vết sẹo sau lưng của bức tượng thờ muôn thuở. Mùi xú khí giả tưởng của hoa tử đinh hương. Treo cái tục tĩu vào cổ tượng đài vốn được coi là thiêng liêng … Tức là mỹ học của việc đi tìm cái xâú xí trong cái đẹp. Một con đường khác ngược lại với con đường của Nguyễn Tuân. Mặc dầu con đường của Nguyễn không phải lúc nào cũng êm xuôi cả. Ví như tôi hơi ngờ ngợ khi người ta cố gắng gắn vào cái ý nghĩa xã hội nào đấy của Bữa tiệc máu hay Chém treo ngành. Trong Vang bóng một thời, chỉ có một lần duy nhất, ông Nguyễn Tuân đã để chủ nghĩa duy mĩ của mình đi hơi xa một chút. Xa đến mức thiếu chút nữa người đọc cảm thấy cái đẹp của Chém treo ngành ở cái đoạn đao phủ Bát Lê tập chém người bằng cách vừa chém chuối vừa hát, hay việc mô tả chẻ đôi cây tre đực dài ra cặp cổ người tử tù như lối cặp gắp chả chim mà nướng … Nói thế để cho hết nhẽ. Không ai phản đối và cũng không việc gì phải phản đối mỹ học đi tìm cái xấu xí trong cái đẹp. Nhưng văn chương tuyệt đối không phải là nơi tôn thờ sự tục tĩu tầm thường, đi ngược lại những giá trị  nhân bản của con người. Người xưa từng nói: Nhờ văn mà kinh luân được quốc gia. Chỉnh lý được pháp độ. Làm vẻ vang cho sự nghiệp. Làm giàu đẹp cho văn tự… Sự tục tĩu tầm thường mang dáng vẻ của sự phá cách, liệu có làm được những điều ấy chăng? Người viêt văn chưa kịp làm được việc góp phần chấn hưng đất nước mà có thể, rất có thể lại làm trầm trọng thêm những tai ương của thời cuộc trong cơn bế tắc của chính người viết. Tất cả người cầm bút không ai mong muốn điều  đó.

Sang năm 2017, đúng 30 năm Nguyễn Tuân trở về giời. Cuộc đời ông xê dịch bốn biển là nhà mà lại còn thiếu quê hương nữa. Không biết giờ này ông đang ở đâu? Cái tín ngưỡng của người Việt chúng ta muôn đời quan niệm rằng: người cõi âm ở chung với người trên dương thế.Ngày tết lễ, họ ở ngay trong nhà ngày xưa. Nhưng Nguyễn Tuân có biết bao nhiêu nhà.

Nhà số 49 Hàng Bạc. Bao lâu rồi nó vẫn khép nép đứng ở góc này bởi số 47 nhô ra một chút. Cạnh đó, nhà 51 lại được trùng tu bởi một dự án giữa tỉnh Toulouse-Pháp với Ủy ban Hà Nội. Có treo biển đồng hẳn hoi. Không hiểu họ có nhớ sát vách 51 là nơi sinh thành của một trong những văn tài đặc sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại hay không? Phía trước tầng trệt của rìa bên phải nhà 49 là quầy bán ngọc và sửa chữa đồ trang sức bằng bạc. Rìa bên trái là lối nhỏ đi vào phía trong sâu lắm. Một lối kiến trúc đặc sản của nhà phố cổ Hà nội. Có chừng 5 hộ dân đang ở. Không một  ai biết được cái vinh dự họ được ở trong ngôi nhà, cách đây hơn 100 năm-năm 1910- Nhà văn Nguyễn Tuân đã cất tiếng khóc  chào đời ở đây. Một đôi vợ chồng già ở ngay phòng đầu tiên của số 49. Như là nghiệp chướng của chủ nghĩa xê dịch, chủ nhân của 12 thước vuông ấy nghe nói là người Nam Bộ. Bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc từ 1954-1955; Giờ lại trở thành dân phố cổ của kinh thành Thăng Long xưa, ngày ngày chắp nối quãng đời còn lại bắc cầu cho hai thế kỷ mịt mù sương khói. Đối chính diện bên kia đường là đình Kim Ngân – Số 42 Hàng Bạc. Ngôi đình được lập ra mấy thế kỷ trước làm nơi thu bạc nén cho sinh hoạt Hoàng Thành. Bây giờ ở ngôi đình này, cứ 20 giờ đêm thứ 4, thứ 6 và chủ nhật hang tuần đều có hát ca trù – lối hát thơ đặc biệt của người Việt, bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 15 gắn với sự ra đời của cây đàn đáy. Người ta có hẳn một tờ bướm màu rượu vang đỏ giới thiệu ca trù bằng tiếng Anh. Cái thứ tiếng không có dấu – phương tiện của mấy ông thực dân, giờ đây rất quen thuộc với người phố cổ. Chẳng khác gì trẻ con mặc váy thổ cẩm, đeo vòng bạc ở phố núi gần nhà thờ đức mẹ Mân Côi trên Sa pa nói sõi tiếng Anh như tiếng Mèo. Catru – a form of Vietnamese traditional music, was recognized by UNESCO in 2009 as a world intangible culture heritage. Dường như, một lần nữa, trời đất lại chiều lòng cái xê dịch của ông Nguyễn mang tiếng tom chát bị ngắt quãng đến mức xót xa bởi 3 dây đàn đáy, nghe như nhấc lên đặt xuống của thân phận con người; cái thứ nghệ thuật vừa thượng lưu vừa trần tục đời thường lúc sinh thời ông Nguyễn rất thích, về ngay trước cửa nhà nơi ông đã sinh ra.

Cách một ngày nữa là rằm tháng 8. Không khí tết trung thu đã có mặt dểnh dang ở sân đình Kim Ngân. Người ta treo những chiếc nón quai thao với quai nón là những rải lụa buông dài đủ màu mà phần nhiều là màu hồng và màu thanh thiên. Đây đó, đặt một vài đầu sư tử nhiều màu theo kiểu truyền thống có nhẽ có từ thời Nguyễn Tuân. Tôi bước vào trong đình đặt mấy đồng bạc lẻ lên bàn thờ lễ, cầu may được thấy Nguyễn Tuân. Dường như, ở bên số 49, Nguyễn Tuân tay cầm gậy song, mặc bộ áo cánh lụa màu cậy nhà Phật, vốn là quà tặng của một người nhận thầm là Tóc chị Hoài tặng cho nhà văn sau năm 1975. Trời mùa này ở phố cổ Hà Nội dâng lên một màn sương khói của tiết thu se lạnh. Từ đình Kim Ngân này, sớm mai trời còn nhạt mặt người, nhà văn của chúng ta có thể đi bộ ra Ô Quan Chưởng để đợi bóng những cô hàng rượu từ bến Bồ Đề sang đây. Nhà văn sẽ nhập vai vào nhân vật của mình có tên gọi Bố Ô làm người ăn mày rượu đáng yêu trong truyện Yêu Ngôn như ông đã viết. Bây giờ ông không phải sang sông đến xóm Thượng Cát nghe đào nương hát ca trù trong những quán bình dân rách rưới và ẩm ướt của Một đêm họp đưa ma Phụng nữa. Uống rượu bằng bát gỗ ở Ô Quan Chưởng xong, lại về đình Kim Ngân nghe con cháu Quách Thị Hồ hát ca trù nhấc lên đặt xuống phận người như những ngày xưa. Có tiếng hỏi. Bốn biển là nhà. Ngài thường ngự tại đâu? Ông Nguyễn bảo. Cũng tùy. Nhưng thường ở bên số 90 Trần Hưng Đạo. Ở bên ấy còn để chiếc va li da cũ màu nâu nhạt trên nóc tủ sách. Dường như đó là chiếc va li trong thiên tùy bút cùng tên viết tặng bà Tuệ, vợ Ông từ hồi ở tỉnh Thanh. Cả những chiếc ấm đất đặt dưới sàn gỗ và trên những bức họa đang phôi pha dần theo năm tháng. Thi thoảng đi taxi qua mặt hồ Hoàn Kiếm lên Hàng Bạc nghe hát ca trù.

106 năm. Kể từ khi ông sinh ra. Cuộc đời có biết bao nhiêu xê dịch – Cái con người có lúc đã không biết sợ thời gian nữa. Tự nhận là kẻ không có dĩ vãng. Lắm khi lặng lẽ nhìn vào buổi chiều trơ trẽn mà cảm thán hình như buổi chiều nào cũng đều không có hoàng hôn. Nhưng lại mắc bệnh chơi mưa như thiên tùy bút Chiếc va li mới đã viết: Mỗi lần ở đâu đó gặp mưa lại tưởng như mình già thêm một ít. Con người tưởng như sớm nắng chiều mưa ấy, lại là người ngay từ khi mới cầm lấy sự bút nghiên đã cảm nhận sâu sa cái cao cả và lương tâm của người viết văn đi tìm cái đẹp. Một người viết văn để yêu sống, để tìm nhân loại, đi tìm mình trong nhân loại, để được thấy nhân loại trong mình mình. Đó là lời tâm sự nghề văn say đắm và trang trọng nhất mà ông Nguyễn đã từng nói. Nguyễn Tuân đã ra đi xa lắm. Ba mươi năm rồi. Chỉ còn lại văn chương ghi dấu ấn nhà văn như là một thi sỹ trong Vang bóng một thời đã không mệt mỏi tụng ca và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống như một phần nhân loại mang tên Việt Nam vẫn còn lại mãi cho muôn đời sau.

Mùa thu, 2016




Lịch sử và ý nghĩa của ngày lễ Tạ ơn

Lễ Tạ ơn (Thanksgiving) là một ngày lễ hằng năm tại Hoa Kỳ và Canada. Có ý nghĩa lúc đầu là tạ ơn Thiên Chúa đã cho sống no đủ và an lành.

thanksgiving
Lễ Tạ Ơn như đem những người sống trên đất nước Hoa Kỳ trở về với những ngày đầu của tổ tiên họ… Lễ hội này đầu tiên tại Bắc Mỹ được tổ chức tại Newfoundland bởi Martin Frobisher và nhóm Thám hiểm Frobisher năm 1578, để mừng tạ Chúa đã cho sống sót, qua cuộc hành trình dài và nhiều bão tố từ Anh.

Chuyện kể rằng, mùa đông đầu tiên quá lạnh, thật vô cùng khắc nghiệt, đến với họ. Thực phẩm lại thiếu thốn trầm trọng. Tháng 12 năm ấy có sáu người qua đời, qua tháng Giêng có tám người, tháng Hai tăng lên 17 người, và 13 người qua đời trong tháng Ba. Những người này đã âm thầm chôn cất những thi hài trong đêm tối vì sợ Thổ Dân (Native Indians) biết được có thể tấn công họ chăng! May mắn thay, không có một xung đột nào đáng kể giữa Người Da Đỏ và Người Hành Hương như họ dự đoán. Trái lại Thổ Dân rất thân thiện và tận tình giúp đỡ những Người Hành Hương trong cuộc sống mới về việc dạy cách trồng tỉa, săn bắn, nấu nướng các thứ hoa quả lạ…

Tháng Tư họ cùng nhau trồng bắp dưới sự chỉ dẫn của một Người Da Đỏ tên là Squanto. Những luống bắp nầy quyết định sự sống còn của họ trong mùa Đông sắp tới. Họ vui mừng vì mùa Xuân và mùa Hè năm 1621 thật quá tuyệt đẹp! Bắp lên tươi tốt hứa hẹn một vụ mùa no nê như lòng họ mơ ước. Mùa Đông lại về, nhưng bây giờ không còn là một đe dọa nữa. Mùa màng đã gặt hái xong, họ có dư thực phẩm để sống qua những ngày đông giá rét. Cũng không còn sợ lạnh vì đã làm được 11 cái nhà vững chắc đủ chỗ để quây quần sum họp. Họ quyết định tổ chức một Hội Ngày Mùa (Harvest Festival) để tạ ơn Thượng Đế cho họ sống sót qua mùa đông đầu tiên. Đó là lễ Tạ Ơn đầu tiên trên đất Mỹ. Ngày tháng chính thức của “First Thanksgiving” nầy không được chép lại, chỉ biết đầu tháng 11 năm 1621.

Thực phẩm chính trong Lễ Tạ Ơn nầy gồm: Bắp, bí đỏ, chim, vịt, ngỗng và gà tây. Họ cũng mời khách là các Thổ Dân. Tù trưởng Massasoit dẫn 90 dũng sĩ đến dự “party” và cũng đem biếu Thống Đốc của nhóm Người Hành Hương lúc bấy giờ là Bradford năm con nai nhân ngày Lễ Tạ Ơn đó. Họ ăn uống vui chơi suốt một tuần lễ.

Lịch sử ngày Lễ Tạ Ơn của người Mỹ cũng thăng trầm, trôi nổi theo vận nước của họ. Các tiểu bang thuộc địa đầu tiên không thống nhất được ý kiến chung về một ngày Lễ Tạ Ơn. Họ giữ ngày lễ tùy ý mà họ cho là thích hợp. Khi cuộc cách mạng giành độc lập từ tay Người Anh thành công họ mới nghĩ đến một Lễ Tạ Ơn chung cho 13 tiểu bang. Tổng Thống đầu tiên của nước Mỹ, George Washington, kêu gọi dân chúng giữ ngày thứ năm 26 tháng 11 năm 1789 làm ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên cho toàn quốc (First National Thanksgiving). Nhưng sau đó lễ tạ ơn cũng không được mọi người công nhận theo một ngày tháng nhất định. Dầu vậy, càng ngày càng có nhiều người đưa ra ý kiến nên có một ngày nhất định, đưa lễ Tạ Ơn thành quốc lễ (National Holiday) và đưa quyền quyết định cho chính phủ Liên-Bang.

Một trong những người có công trong việc thúc đẩy việc thành hình ngày Lễ Tạ Ơn là bà Sarah Josepha Hale. Vào năm 1837 bà Sarah trở thành chủ bút của một tạp chí phụ nữ nổi tiếng có tên “Godey’s Lady’s Book”. Bà đã viết hàng trăm lá thư gởi đến các nghị sĩ Quốc Hội và những người có thế lực lúc bấy giờ hầu vận động đưa ngày Thanksgiving vào quốc lễ. Trong thời kỳ nội chiến (Civil War) năm 1861, bà viết một tâm thư kêu gọi hai phe buông súng một ngày để giữ Lễ Tạ Ơn, nhưng không phe nào chịu nghe cả. Bà thất vọng!

Mãi đến năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln nhận thấy chiến tranh đã đến hồi kết thúc nên chỉ định ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc. Chẳng may ông bị ám sát, Andrew Johnson lên làm Tổng Thống, tiếp tục truyền thống cũ, nhưng đổi lại ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm Lễ Tạ Ơn. Rồi trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến 1941, Tổng Thống Franklin Roosevelt chỉ định ngày thứ năm của tuần lễ thứ ba trong tháng 11 làm lễ Tạ Ơn thay vì thứ năm trong của tuần lễ thứ 4. Nhưng lần nầy Roosevelt bị các thương gia và các đảng viên Đảng Cộng Hòa chống đối dữ dội, cho rằng Tổng Thống đã đi ngược lại truyền thống cũ. Hai năm sau Tổng Thống Roosevelt rút lại quyết định và đặt ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc mãi cho đến ngày hôm nay.

Lễ Tạ Ơn là dịp để chúng ta đếm các ơn lành Trời ban. Nhìn lại những ngày tháng tại quê nhà, cuộc hành trình tị nạn đầy gian nan vừa qua và những thành quả mà Người Mỹ Gốc Việt đạt được ngày hôm nay để chúng ta dâng lên Thượng Đế lời Tạ Ơn sâu xa nhất. Tạ ơn Trời vì Ngài đã ban cho ta sự sống, hơi thở, sức khoẻ và bao nhiêu là ân huệ. Chúng ta cũng nên cảm ơn nhau. Cảm ơn thân quyến, bạn bè, những người thân quen và ngay cả những người chưa từng biết về sự chan hòa của họ trong cuộc sống của mỗi chúng ta trong cộng đồng nhân loại.




Con gái Hà Nội ở đâu?

Mẹ tôi nể phục mấy cô gái Hà Nội lắm. Dưới con mắt của người nhà quê ra Hà Nội làm việc vặt, bà thấy các thiếu nữ nơi đây ứng xử khôn khéo, nói năng lễ độ, và khuôn phép lắm. Đó là chưa kể thêu thùa may vá, nữ công gia chánh,… Nói chung là đảm. Mỗi khi thấy mấy cô Sài Gòn tân thời quá, tự nhiên quá, bà lại chép miệng, con gái Hà Nội đâu có thế. Bà nói riết, nói riết…, khiến tôi ngờ…bà muốn thằng con của bà nên đi tìm một thiếu nữ Hà Nội.

 

Nhưng thế giới của tôi lại khác. Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Sài Gòn, bạn bè Sài gòn, trong đầu tôi, nếu có, cũng chỉ là con gái Sài Gòn cho hợp… thủy thổ.

 

 

Tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những

tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học.

 

 

Mà con gái Bắc (di cư 54) hồi đó gớm lắm, vờn qua vờn lại, làm duyên, đá lông nheo, õng ẽo  làm điêu đứng con trai Nam Kỳ đến là khổ. Một thanh niên xứ Biên Hòa đã phải cay đắng thế này:

“ Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc

Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền,

Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang,

Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt…”

Tôi không có ý kiến gì về bài thơ trên, mà cũng chẳng dại gì có ý kiến. Mấy bà mấy cô Bắc Kỳ đọc bài thơ trên có nổi cơn tam bành rủa xả, thì chắc cũng chỉ mình rủa mình nghe thôi, chứ tác giả, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên chết rồi, chết trong một chiếc xe hơi cũ kỹ ở sân chùa bên California.

Dù sao cũng nên đọc tiếp thêm vài câu nữa mới thấy “cảm thương” cho tác giả:

“…Ta vẫn nhớ dặn dò lòng tha thiết,

Nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ

Nên yêu đương bằng gương mặt khờ khờ

Nên hùng hổ để đợi giờ thua thiệt…”

Những ngày sau 75, trên tivi Sài Gòn là những đoàn quân “chiến sĩ gái”, bước theo nhịp quân hành, chiếu cận cảnh với đôi mắt rực lửa căm hờn, giọng nói lanh lảnh. Cảm giác đầu tiên của tôi với các cô gái Bắc Kỳ (thứ thiệt) là…ớn lạnh. Tôi cười, “Đấy con gái Hà Nội của mẹ đấy…”. Bà cụ lại thở dài, chép miệng… “Hồi trước đâu có thế…”.

Dĩ nhiên, mẹ tôi không thể phát hiện cái trò đánh lận rẻ tiền của thằng con, tỉnh bơ xem tất cả các cô Bắc Kỳ đều là các cô Hà Nội.

Thực ra trong đầu tôi cũng có một chút gì đó mơ hồ về con gái Hà Nội. Biết tả thế nào nhỉ! Có thể là hình ảnh dịu dàng đằm thắm của cô Liên trong Gánh Hàng Hoa, hay thiếu nữ tân thời một cách bảo thủ, không sao thoát ra khỏi vòng lễ giáo của cô Loan trong Đoạn Tuyệt. Tôi cảm được nỗi cô đơn của Loan khi thả bộ trên bờ đê Yên Phụ,… Đại loại là tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học.

Cũng chẳng dừng ở đấy đâu. Khi đọc “Tuấn, chàng trai nước Việt”, một thứ tiểu thuyết hồi ký của Nguyễn Vỹ, tôi biết thêm rằng, các cô nữ sinh Hà Nội cũng lãng mạn ra rít. Họ kín đáo lập ra hội “Ái Tino”. Tino Rossi là ca sĩ người Pháp lừng danh thưở đó, và là thần tượng của vô số thiếu nữ, chẳng riêng gì thiếu nữ Hà thành. Cái “hội” kín đáo, chỉ lèo tèo dăm ba cô thế thôi, nhanh chóng tan hàng, và rồi mạnh ai người nấy tam tòng tứ đức, xuất giá tòng phu, công dung ngôn hạnh… Cái “lãng mạn tân thời” chỉ là đóm lửa, và họ nhanh chóng quay lại với sự thanh lịch, nề nếp theo giáo dục của gia đình.

Năm 1980, lần đầu tiên tôi ra Hà Nội công tác. Anh bạn đồng nghiệp trạc tuổi, tốt nghiệp từ Đông Đức, chở tôi trên chiếc Simson lòng vòng Hà Nội. Nơi đầu tiên tôi muốn ghé thăm là phố Khâm Thiên. Anh bạn tròn xoe mắt, “Làm gì còn hố bom mà ghé thăm”. Tôi chợt hiểu vì sao anh bạn ngạc nhiên, nhưng không thể giải thích. Môi trường giáo dục trong Nam ngoài Bắc khác nhau.

Cái máu phóng đãng đã dẫn tôi đến phố Khâm Thiên, chứ không phải bom rơi đạn lạc ở đó. Đến, dù chỉ để nhìn vài căn nhà xiêu vẹo, cũng thỏa đôi chút tò mò về một thời vang bóng. Phong lưu tài tử giai nhân, đúng, nhưng không phải cách phong lưu của Vân Hạc trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố. Anh chàng Vân Hạc khi chờ kết quả thi, ra vào chốn ả đào để vui say bè bạn, để trấn an nhau, để bốc nhau, để chờ ngày bảng vàng ghi tên.

Tôi nhớ đến kiểu cách phong lưu của Cao Bá Quát, một tay chơi thứ thiệt, khi làm sơ khảo trường thi, tiếc bài thi hay mà phạm húy, đã dùng muội đèn để sửa. Việc lộ, bị kết án giảo giam hậu, ông phải đi dương trình hiệu lực, nghĩa là đi làm phục dịch cho phái đoàn đi công tác nước ngoài. Con người tài hoa này, mang theo nỗi cô đơn đến phố ả đào giải sầu bên chén rượu, làm vài bài hát nói, đào nương hát, mình gõ nhịp…

“Giai nhân nan tái đắc

Trót yêu hoa nên dan díu với tình

Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh

Rầu rĩ lắm xuân về oanh nhớ…”

Cũng lần đầu ở Hà Nội, buổi chiều chập choạng tối, lang thang ở phố Huế, tôi thấy một bà đi xe đạp ngược chiều, bị cảnh sát ngoắc lại. Bà năn nỉ thông cảm? Không. Bà phân bua? Không. Bà cãi tay đôi với cảnh sát rằng, nhất định mình đúng. Lương và nhu yếu phẩm phân phối còn không đủ sống, đâu dễ gì chịu nộp phạt. Đôi co với nhau mà cả hai vẫn một mực xưng hô…đồng chí. Tôi phì cười. Hà Nội có những điều không nằm trong trí tưởng tượng của một người Sài Gòn, lần đầu ra Hà Nội như tôi.

Bây giờ, Hà Nội khác xa rồi. Hà Nội nhiều nhà cao tầng, cầu vượt. Hà Nội nhiều xe hơi hơn, Hà Nội giàu hơn. Hà Nội không còn những cảnh cãi tay đôi với cảnh sát buồn cười như thế nữa.  Hà Nội văn minh hơn, nhưng có thể họ phải “cãi tay đôi” với chính mình, khi mà còn những cảnh thanh niên thiếu nữ “ à la mode” hái hoa, giẵm hoa bẻ cành để chụp ảnh, hay gào thét tung hô thần tượng minh tinh Hàn Quốc. Đó là chưa kể bún mắng cháo chửi, rải rác vẫn còn đâu đó. Thương hiệu chăng? Tôi chịu! Ăn ngon mà nghe chửi, thôi thà ăn độn dễ nuốt hơn.

Tôi có bà bạn già (hơn tôi) là dân Hà Nội mấy đời. Cha bà là một trong số rất ít người xong bậc đại học thời Tây. Sau 54, nhà đông con, xoay sở không nổi, ông bố định cho 2 đứa con lớn tạm nghỉ học, đi làm rồi học bổ túc sau. Nhưng bà mẹ thì không, nhất quyết không. Bà đến gặp ông bà bác sĩ nhà bên mượn…tiền để các con tiếp tục ăn học. Họ cùng ở trong thành như bà, không vướng bận con cái, còn chút của ăn của để, đồng ý cho vay tín chấp, một thứ tín chấp tình người, thời nay khó tìm. Tôi hiểu ra, dân trí thức Hà Nội xưa có kiểu chơi “chẳng giống ai” (lúc này). Họ kín đáo giúp đỡ nhau trong những tình huống khắc nghiệt. Trong họ dường như  chất “nhân” và lòng tự trọng được rèn luyện qua giáo dục, giấy rách phải giữ lấy lề. Mực đen và bão tố không thể vấy bẩn hay phá sập.  Những năm sau 75, trong Sàigòn tôi cũng thấy vài trường hợp như thế.

Bà bạn (già) này, về chuyên môn, thì kiến thức mênh mông chứ chẳng vừa. Ăn nói nhẹ nhàng, nhưng quyết liệt khi cần. Vậy mà cư xử thì cứ dạ dạ,..cám ơn. Bà nói chuyện với tôi cũng thế, cũng dạ dạ,..cám ơn.  Tôi cười, sao chị khách sáo thế. “Không phải đâu, tôi được giáo dục trong nhà từ nhỏ như thế. Các anh chị em tôi cũng đều như vậy chứ chẳng riêng tôi. Hồi đi học, chỉ vì dạ dạ…cám ơn mà chúng tôi bị phê bình là tiểu tư sản. Ông bà cụ dạy con nghiêm khắc lắm. Tôi là con gái, đi học về là phải tập tành bếp núc, ăn trái chuối là phải bẻ đôi. Ở trường là chuyện khác, còn về nhà là đâu ra đó, vào khuôn phép.”. Tôi cũng nhận ra sự  “khách sáo chân thành” của bà, chứ không phải khách sáo đãi bôi.

Dạo sau này, vì công việc tôi thường ra Hà Nội. Đi ăn hàng với bè bạn ở đó thì không sao, nhưng hễ đi một mình là bị chặt (giá), dù chỉ là chai nước tinh khiết, 10.000 đồng ở quán ven đường phố cổ. Bị chặt riết thành quen. Tôi nhủ thầm, lần nào ra Hà Nội mà không bị chặt coi như trúng số.

Dù tôi cũng có vài người bạn thân ở Hà Nội, nhưng giữa tôi và Hà Nội, dường như vẫn còn khoảng cách nào đó. Tôi đến Hà Nội như một kẻ xa lạ, đến như đi nước ngoài không cần visa.

Sài Gòn dễ hội nhập. Cứ ở Sài Gòn là thành người Sài Gòn. Chưa thấy mình là người Sài Gòn, ở lâu thêm chút nữa cũng biến thành người Sài Gòn. Sài Gòn đồng hóa con người nhanh lắm.

Nhưng Hà Nội có lẽ khác, người ta đồng hóa Hà Nội như vũ bão, đồng hóa cạnh tranh từ nhiều nguồn khác nhau để tạo ra một văn hóa Hà thành hiện đại khó mô tả. Còn người Hà Nội (thứ thiệt) đành phải co cụm, khép kín, và giáo dục con cái theo cách riêng của họ để bảo tồn…di sản. Giáo dục từ gia đình mới tạo ra gốc rễ, chứ  không phải là quy tắc ứng xử, hay giàu sang, quyền thế.

Hà Nội nhiều hồ. Hà Nội đẹp vì hồ vào những buổi sáng thật sớm, khi trời còn nhá nhem. Sáng lên, Hà Nội biến mất. Con gái Hà Nội (xưa) chắc cũng thế. Cuộc đời dâu bể đã làm họ biến mất, nhưng thực ra cũng chỉ lẩn quất, âm thầm đâu đó thôi.

Năm ngoái, đi ngang qua ngõ nhỏ trong khu phố cổ, tôi ghé tiệm tạp hóa mua chai nước lạnh. Bà bán hàng dễ cũng gần 70, đưa chai nước: “Thưa, của ông đây, giá 5.000. Cám ơn ông…”. Tai tôi lùng bùng. Trong tiềm thức có cái gì nghe quen quen, đọc đâu đó rồi. Đã dợm chân đi, nhưng cũng quay lại: “Thưa bà, bà là người Hà Nội?”. “Vâng ạ, nhà tôi ở  ngõ này đã ba đời rồi, từ thời ông nội tôi ra làm quan ở đây”.

Mẹ tôi nói đúng về con gái Hà Nội. Họ hiếm hoi, ẩn mình như giọt nước đọng ở mặt dưới của lá cây sau cơn mưa. Có duyên mới gặp, phải tìm mới thấy.

Vũ Thế Thành




Trường vẽ Gia Định

Năm 1917 trường vẽ Gia Định là trường Mỹ Thuật duy nhất được xếp vào loại “trường Trung học đệ nhất cấp” và được nhận là hội viên của “Hiệp hội Trung ương trang trí Mỹ thuật Paris”.

Năm 1940, trường vẽ Gia Định được đổi tên thành “Trường Mỹ nghệ thực hành Gia Định” (Ecole des Arts appliqués de Gia Định). Năm 1945 nhiều học sinh của “Trường vẽ Gia Định” xếp bút nghiên để đi kháng chiến như: Huỳnh Công Nhãn, Hoàng Trầm… Thời gian này, trường cũng tạm ngưng hoạt động.

Năm 1954, chính quyền VNCH cho thành lập trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn. Cái mốc lịch sử quan trọng về đào tạo mỹ thuật ở Sài Gòn thời kỳ này là chủ trương nâng cấp về đào tạo của 2 trường: Quốc gia Cao Đẳng Mỹ thuật Sài Gòn và Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là trường vẽ, trường Mỹ nghệ Gia Định).

 

Năm 1975, hai trường nói trên được nhập làm một. Ngày 29-9-1981, trường được đổi tên thành “Trường Đại học Mỹ Thuật TP.HCM”.

 

Được biết ngôi trường cũ kiến trúc trăm tuổi đã không còn tồn tại từ trước năm 1975. Phần đập bỏ hiện nay là phần xây dựng sau này. Dù biết công trình đã cũ thì phải bỏ để xây cái mới an toàn, hiện đại và phục vụ hoạt động tốt hơn, nhưng lịch sử của ngôi trường là nơi đã và đang đào tạo biết bao thế hệ nghệ sĩ, họa sĩ tài danh ở miền Nam trong cả trăm năm vẫn khiến nhiều người lưu luyến.

 

Xem trọn bài




Cẩm nang cho những du khách muốn thăm viếng Việt Nam

 

Từ Thức

Một người bạn nói: ông là người Việt, sống ở ngoại quốc, hiểu cả người Việt lẫn người nước ngoài, nên làm một cẩm nang cho những du khách muốn thăm viếng Việt Nam.
Mới đầu, thấy đó là một ý hay. Làm thử vài trang dưới đây, không biết có nên làm tiếp không, không biết có giúp gì cho du khách để hiểu VN hơn hay không.

– Nếu ăn tiệm, thấy ngon, đừng khen. Người ta sẽ tăng giá gấp hai.
– Mua hàng, phải trả giá. Trả giá bao nhiêu cũng hớ. Nhưng nên an ủi: có người còn hớ hơn mình.
– Để quên iPhone hay ví tiền, đừng quay trở lại, hỏi có ai lượm được không. Bạn đang ở VN, không ở Nhật.
– Đi đường, chỉ nên đeo nhẫn hay đồ trang sức giả. Có thể bị mất ngón tay, nhưng không mất nhẫn… thật.
– Đừng lễ phép, chào hỏi, cám ơn, xin lỗi. Đó là dấu hiệu của người yếu. Không có chỗ sống cho người yếu trong một xã hội toàn những người hùng.
– Nếu mất giấy tờ, khi khai báo, phải biết điều. Người công chức ngồi trước mặt bạn đã tốn nhiều tiền mới được ngồi đó. Hãy giúp họ thu lại số tiền đã bỏ ra đầu tư. Đơn của bạn cũng chẳng có ai xét, nhưng nếu biết điều, đỡ mất công chờ đợi.
– Khi có người hỏi: có biết bác Hồ không, đừng kể lể những điều bạn biết về ông Hồ qua Wikipedia. Khổ lắm, biết rồi, nói mãi. Người ta chỉ nhắc khéo bạn đã quên chi tiền.
– Gặp một người lần đầu, cứ nói: chào tiến sĩ. Rất hiếm người không phải là tiến sĩ. Hay ít nhất phó tiến sĩ, nhưng người Việt không thích làm phó cho ai cả.
– Nếu gặp một ông tiến sĩ có trình độ thấp hơn học sinh tiểu học, đừng ngạc nhiên. Có thể ông ta chưa học xong tiểu học.
– Nếu người ta đưa một tờ giấy khổ lớn, chằng chịt những chữ, đừng nghĩ đó là một thực đơn. Đó là một danh thiếp, liệt kê bằng cấp, chức vụ…
– Đừng hỏi chức vụ này nghĩa là gì, bằng cấp kia của trường nào. Chính đương sự cũng không biết.
– Nếu muốn tơ lụa hay đặc sản Việt Nam làm kỷ niệm, đừng mua tại chỗ, vác nặng mệt xác. Chờ khi về, mua trong một tiệm Tàu cạnh nhà.
– Đừng làm gì, nói gì, nếu không muốn bị phiền phức. Nên nhớ ở nước bạn, người dân có quyền làm bất cứ điều gì luật pháp không cấm; ở Việt Nam chỉ có quyền làm những gì luật pháp cho phép.
– Đừng làm gì, ngay cả khi luật pháp cho phép. Nhiều người ở tù mọt gông vì tưởng luật pháp làm ra để áp dụng.
– Muốn biết ai thuộc giai cấp nào trong xã hội, nên nhìn móng tay họ. Câu nói nổi tiếng: tôi làm thối móng tay mới xây được nhà cửa. Nếu thấy ai có móng tay thối, nên bày tỏ sự kính trọng. Đó ít ra là một chủ tịch xã, chủ một dinh cơ, lớn gần như dinh Tổng thống Mỹ.
– Nếu bạn thấy một người diện complet, cà vạt trong khi trời nóng như lửa, nói những câu ngớ ngẩn khiến thiên hạ ôm bụng cười, đừng nghĩ đó là những anh hề. Đó là những đỉnh cao trí tuệ loài người, đang mô tả một thiên đường XHCN trong tương lai.
– Đừng ngạc nhiên khi thấy một người làm 100 dollars mỗi tháng, xài iPhone trên một ngàn đô, xe hơi trên trăm ngàn. Tại sao không? Why not?
– Thấy hàng trăm người tụ tập ồn ào, đừng nghĩ họ biểu tình đòi nhân quyền hay tranh đấu cho môi sinh. Họ đang tranh nhau chỗ trong một tiệm McDonal’s, Starbucks.
– Thấy hàng ngàn người ngoan ngoãn xếp hàng cả buổi, đừng nghĩ họ chờ vào thư viện, coi triển lãm… Họ chờ giờ mở cửa H&M hay GAP.
– McDonald’s, H&M… đối với bạn là những tiệm bình dân, ăn cho mau, mặc cho tiện trong khi lao động tốt. Với người Việt, đó là những nơi sang trọng, dấu hiệu của thành đạt. Cái gì dính dáng tới ngoại quốc cũng sang trọng. Chụp được cái hình nằm chờ trước cửa H&M là bằng chứng bạn thuộc thành phần ưu tú trong xã hội.
– Nếu thấy một người quỳ gối, hôn chân một người khác, người quỳ gối là người Việt. Vì không thể có chuyện ngược lại. Đó là một hành động vinh quang, nếu người ngoại quốc là tỷ phú. Là một niềm hãnh diện, nếu người ngoại quốc là…. người ngoại quốc.
– Thử nêu tên Mandela, Gandhi: nhiều người trẻ nghĩ đó là một hiệu quần áo Tây, và hy vọng có ngày mở tiệm ở VN để được xếp hàng chầu chực. Nhưng họ sẵn sàng kể cho bạn tất cả những giai thoại về thần tượng Jack Ma, một thương gia Tàu trở thành tỷ phú nhờ cấu kết với nhà nước, bán hàng giả.
– Đi Air VN, nếu chờ quá một giờ trước W.C, đừng nghĩ có người táo bón bên trong. Nhân viên hàng không đã khóa cửa để lấy chỗ chở đồ lậu.
– Tại sao nhiều người Việt, kể cả người có chức sắc, bị bắt vì ăn trộm ở các cửa hàng nước ngoài? Bởi vì họ biết xài, biết hàng hóa ngoại quốc có phẩm chất.
– Tại sao ở Nhật có những bảng lớn, viết bằng tiếng Việt, nơi công cộng: “Ăn cắp là xấu”? Bởi vì ngày nay tiếng Việt được dùng tại khắp nơi trên thế giới.
– Bạn thắc mắc: tại sao phải để 10 dollars vào sổ thông hành khi qua hải quan. Sự thực, không bắt buộc phải để 10 dollars. Người ta bịa đặt ra để nói xấu chế độ. Hai mươi đô cũng được. Nhưng chuyện đó là chuyện giữa người Việt. Bạn không cần làm. Người Việt giỏi bắt nạt nhau, nhưng rất nể người ngoại quốc.
– Bạn nghe thường xuyên chữ “đéo”. Đừng tra từ điển. Chỉ nên biết đó là một chữ rất thơ mộng, rất lịch sự, trang nhã. Nếu không, tại sao họ xài trong bất cứ cơ hội nào?
– Muốn băng qua đường, đừng chờ xe cộ ngưng lại. Cứ nhắm mắt lao đầu đi. Nếu gặp tai nạn, biết ngay. Đây cũng nằm trong chiến dịch bôi xấu chế đô. Chuyện có người băng qua đường mà KHÔNG bị thương tích hay mất mạng xảy ra mỗi ngày, tại sao không báo nào loan tin? Vả lại, theo triết lý Đông phương, chết sống là số mệnh.
– Tại sao ở VN có nhiều nơi dành cho Tàu, cấm người Việt? Bởi vì nếu cho người Việt vào, đâu còn là khu Tàu?
– Tại sao thí mạng hàng triệu người, nói là để tranh đấu cho độc lập, ngày nay nước Việt thành nước Tàu? Bởi vì, khi tranh đấu, không ai nói rõ là dành độc lập cho ai, cho người Việt hay người Tàu.
– Người ta nói nước Việt đang trở thành Tàu? Đó là tuyên truyền để chống phá chế độ. Trên thực tế, người Việt vẫn đông hơn người Tàu. Trên TV, thỉnh thoảng vẫn có những chương trình văn hóa Việt Nam. Lố lăng thực, lai căng thực, nhưng Việt Nam.
– Tại sao người Việt chặt hết cây, phá hết rừng để gây lũ lụt, nhà trôi, người chết ngập đồng? Bởi vì gỗ bán được giá.
– Tại sao khi đốn rừng, người ta không trồng cây để thay, như ở các nước khác? Bởi vì người Việt không ngu như thiên hạ. Trồng cây, mấy chục năm mới lớn. Đổ mồ hôi trồng cho thằng cán bộ phe khác nó chặt à? Nếu lúc đó, hết CS, trồng cây cho phản động nó chặt à?
– Tại sao rừng núi VN có nhiều sinh vật quý, hiếm, ngày nay gần như tuyệt chủng? Bởi vì nhậu thịt bò, thịt chuột, thịt chó, thịt mèo mãi cũng chán.
– Tại sao người ta chặt cây, đốn rừng mà ít người phản đối? Bởi vì theo túi khôn của người Việt “ăn cây nào, rào cây đó”. Anh đã hái trái cây ở ngoài đường bao giờ chưa? Nếu có trái, thằng khác nó cũng hái trước rồi.
– Tại sao xúc cát… Thôi, đừng hỏi vớ vẩn nữa. Anh là bạn tôi hay bạn của cây, của rừng, của cát?
– Người bị tai nạn hay bị đả thương nằm chờ chết trên đường, tại sao không ai dừng lại? Bởi vì coi người bị xe cán chết hoài cũng chán. Nhân viên công lực? Bạn đã thấy có ai sắp chết rút tiền tặng công an, cảnh sát?
– Đừng thắc mắc tại sao người Việt hung bạo, tìm mọi cớ để đánh nhau vỡ đầu, bể trán. Suốt đời, họ bị những người có quyền đè nén, đánh giết nhau là một cách để xả hơi.
– “Những người con gái buồn không nói. Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì?” (Xuân Diệu). Họ tự hỏi sẽ được xuất cảng đi đâu: Trung quốc, Đài Loan, Đại Hàn..
– Tại sao tàn nhẫn với trẻ con? Bởi vì khùng hay sao mà đi kiếm chuyện với thằng tàn nhẫn, khỏe, hung bạo, quyền thế hơn mình.
– Tại sao tàn nhẫn với đàn bà? Tại sao không? Bớp tai một cô bán hàng, không ai làm phiền, hôm sau nổi tiếng. Van Gogh bỏ cả đời vẽ tranh, chết mới nổi danh.
– Tại sao khi người Việt quét sân, hay xả rác ra đường hay đùn sang hàng xóm? Bởi vì nếu giữ rác trong nhà thì quét dọn làm gì?
– Tại sao có quán lấy nước rửa chân pha trà cho khách? Bởi vì mỗi người một sở thích. Có người thích trà hoa lài, trà sen, có người thích trà rửa chân.
– Tỷ số thất nghiệp chính thức ở VN là 2,3%, trong khi ở các nước tân tiến 5 hay 10%, có tin được không? Cố nhiên là phải tin, nếu không làm thống kê làm gì? Số thất nghiệp thấp, vì VN là một nước bình đẳng, nghề nào cũng được coi trọng, cũng được nhìn nhận. Đánh giầy là một nghề, ăn xin là một nghề, rước mối là một nghề. Đánh ghen mướn, đòi nợ thuê, đánh bả chó…
– VN đứng thứ 175 trên 180 nước về tự do báo chí? Luận điệu của phản động. Ở VN, trên lý thuyết cũng như trên thực tế, báo chí được hoàn toàn tự do ca tụng chế độ. Bạn đã thấy dư luận viên nào gặp khó dễ hay đi tù khi hành nghề chưa?
– VN bị xếp hạng trong những nước đội sổ về nhân quyền, tự do tôn giáo, về lương bổng… So what? Nếu ai cũng ngang nhau thì xếp hạng làm gì? VN cũng đứng đầu nhiều địa hạt. Thí dụ: tỷ số người bị ung thư, thành phố ô nhiễm. Sài Gòn là một trong những thành phố nguy hiểm nhất thế giới. VN là một trong ba nước có tiềm năng xuất cảng nô lệ, đàn bà mại dâm lớn nhất thế giới.
– Cùng với Trung Quốc, VN là một trong hai nước sản xuất và tiêu thụ nhiều phong bì nhất tính trên đầu người.
– Tại sao Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Đài, Anh Ba Sàm… nằm tù hàng chục năm? Bởi vì họ làm chính trị, chống nhà nước. Tại sao VN nói không có tù nhân chính trị? Bởi vì khi vào tù, họ trở thành thường phạm.
– Tự do tôn giáo? VN là nước tự do nhất thế giới. Cán bộ muốn thành sư, hôm sau cạo đầu thành sư. Ai không tin tôn giáo, cứ tự do vác súng đi hỏi tội linh mục.
– Tại sao ai cũng muốn dân chủ, nhưng VN vẫn là một nước độc tài? Bởi vì người nọ chờ người kia. Nếu anh làm, anh đi tù, người khác hưởng. Tiện nhất là chờ Tây, Mỹ nó làm giùm. Tây, Mỹ không hiểu sao nó thích buôn bán hơn là làm dân chủ. Khi nào Mỹ nó thay đổi, hết ham dollars, VN sẽ có dân chủ. Đó là vấn đề của Mỹ, không phải của người Việt.

Paris, tháng 11/2017




Hội thoại về giải Văn Thơ Lạc Việt – 3 tháng 12/2017




Hình ảnh giáo dục xưa

Education in ancient VN




Một người Sài Gòn đã thiết kế Sài Gòn từ thành Gia Định

Có thể khẳng định các trục đường khu trung tâm Sài Gòn trước và sau khi Pháp chiếm Gia Định 1859  cũng như hiện nay hầu hết theo hướng các cạnh thành Gia Định. Thiết kế, quy hoạch này của một người Sài Gòn từ năm 1790: Trần Văn Học.
Đường Bangkok (Mạc Đĩnh Chi hiện nay) chụp từ đại lộ Norodom (đường Lê Duẩn hiện nay) cuối thế kỷ 19 được xây dựng từ bức tường thành Gia Định bị Pháp đánh chiếm 1859. Dãy nhà  ngói, nhà lá bên trái ảnh hiện là khuôn viên trụ sở Tòa lãnh sự Hoa Kỳ ở TP.HCM – Ảnh tư liệu

 

Thậm chí, nhiều con đường lớn của đô thị Sài Gòn xưa, khu trung tâm TP.HCM hiện nay đã có trước khi Pháp vô 69 năm.

Đường phố trung tâm Sài Gòn do công trình sư Trần Văn Học thiết kế

Trần Văn Học là một võ tướng có công rất lớn với chúa Nguyễn Ánh từ khi bôn tẩu đến lúc lên ngôi Gia Long; từng đưa mẹ Nguyễn Ánh cùng gia quyến chạy sang Cao Miên khi Tây Sơn truy đuổi; đưa hoàng tử Cảnh đi cầu viện nước ngoài… nhưng cuộc sống lại khá bình lặng, đến mức cả sử sách, tư liệu lịch sử không rõ ông sinh ra và mất năm nào.

Chỉ chắc chắn một điều, Trần Văn Học là người huyện Bình Dương, Gia Định, cụ thể là dân khu vực ngã năm Bình Hòa (Q. Bình Thạnh, TP.HCM) hiện nay và khi mất, chôn ở nơi đây.

Trong quá trình bôn tẩu, ông từng đến Xiêm (Thái Lan), Ấn Độ, Pháp, Bồ Đào Nha, Philippines, Malaysia…  và là người Việt đầu tiên vẽ bản đồ Sài Gòn – Gia Định xưa theo phương pháp phương Tây.

Là võ tướng nhưng ông không chỉ biết chữ Nho mà còn còn giỏi quốc ngữ và tiếng Latin nên luôn là trợ tá đắc lực của Nguyễn Phúc Ánh trong thông ngôn, dịch sách, nhất là các sách kỹ thuật phương Tây và kiêm cả việc chế tạo hỏa xa (một thứ chiến cụ), địa lôi và các loại binh khí.

Năm 1790, Nguyễn Phúc Ánh cho xây thành Gia Định (thành Bát Quái) từ thiết kế của hai sĩ quan công binh Pháp Olivier de Puymanel, Le Brunt và giao Trần Văn Học “phác họa đường sá và phân khu phố phường” đường trong thành năm 1790 (để dễ phân biệt, xin lấy tên thành Phiên An – thành Quy để phân biệt với thành Gia Định xây năm 1836 – thành Phụng).

Chúa Nguyễn Ánh còn giao ông chịu trách nhiệm quy hoạch phố thị nằm ngoài thành lũy.

Bản đồ Gia Định – Sài Gòn – Bến Nghé do Trần Văn Học vẽ 1815. Khu vực trong và ngoài thành Bát Quái (Phiên An –  trung tâm tâm đô thị Sài Gòn) là những con đường ngang dọc vuông vức mà hiện chúng ta đang đi. Từ hai thành Phiên An, Gia Định, các trục lộ chính tỏa bốn hướng giờ vẫn còn: Hai Bà Trưng (giữa thành, qua Phú Nhuận, xuống Gò Vấp và quay lại thành), đường Nguyễn Trãi (đi Chợ Lớn), đường Nguyễn Thị Minh Khai (bên trái thành đi miền Tây, phải thành đi miền Đông, ra xa lộ Hà Nội, QL1), Cách Mạng Tháng 8 (đi Campuchia),  Nguyễn Tất Thành (đi Q.7, Nhà Bè, Cần Giờ).

Khi Pháp chiếm xong Gia Định, các trục đường do ông vẽ ngay lập tức trở thành trục lộ chính của đô thị Sài Gòn.

Tranh vẽ 3D của của đại úy hải quân Pháp Favre năm 1881 (có thể năm 1895 vì đã có tháp chuông Nhà thờ Đức Bà) cho thấy các các đường phố Sài Gòn hoàn toàn song song, vuông vức với quy hoạch đường phố trong và ngoài thành Gia Định trước khi Pháp vô. Thậm chí những con đường mới cũng mở theo quy cách khoảng cách giữa các con đường bằng nửa một cạnh thành (khoảng 200-250m) – Tranh tư liệu

Chẳng hạn con đường từ giữa cổng thành Gia Định đi thẳng ra sông Sài Gòn đặt tên là đường Citadelle (đường Thành – nay là đường Tôn Đức Thắng).

Các con đường xung quanh thành cũng trở thành đường (xin ghi tên hiện nay để bạn đọc không rối) Nguyễn Bỉnh Khiêm, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Duẩn.

Đại lộ Norodom (đường Lê Duẩn hiện nay) nhìn từ Dinh toàn quyền (khu vực hội trường Thống Nhất hiện nay) thời thuộc Pháp. Đây vốn là con đường chạy trước thành Gia Định trước khi bị Pháp chiếm 1859 – Ảnh tư liệu
Đến nay đoạn đường chạy ngang cổng chính thành Gia Định là đường Lê Duẩn vẫn là một trong những con đường đẹp nhất Sài Gòn – Ảnh: M.C.
Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa hiện nay (đoạn chạy qua hội trường Thống Nhất, tức dinh Độc Lập trước 1975) vốn là một cạnh thành Phiên An 1790 – Ảnh: M.C.

Hoặc đường  Đồng Khởi (thời Pháp là đường Catinat) có từ trước khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn và nay vẫn là một trong những con đường “vàng” của TP.HCM, vốn là con đường chúa Nguyễn từ thành ra bờ sông Sài Gòn nghỉ mát và tắm (có tên xưa là Bến Ngự).

Khu trung tâm Sài Gòn, ít nhất 26 con đường của nhà thiết kế Trần Văn Học sau khi Pháp vô đã mang số thứ tự 1-26 (đến 1-2-1865, đề đốc De La Grandière đặt tên đường và đường số 16 tên Catinat).

Khu trung tâm Sài Gòn thời thuộc Pháp: đường chạy dọc bên trái ảnh là đường Hai Bà Trưng hiện nay; đường bên phải là đường Phạm Ngọc Thạch (dưới), Đồng Khởi (trên); đường ngang giữa ảnh là đường Lê Duẩn… đều nằm trong tổng thể ngang – đông nam, dọc – tây bắc của thành Gia Định. Nhà thờ Đức Bà nằm trong khuôn viên xưởng chế tạo (súng đạn – xưởng thợ) – Ảnh tư liệu

Quy hoạch Sài Gòn từ thành Gia Định 1790 giờ vẫn đang xài

Các trục đường do ông thiết kế năm 1790 (vẽ năm 1815) hiện nay vẫn còn là những trục lộ chính của một TP.HCM hiện đại, hướng ra miền Trung, về miền Tây, đi Campuchia và xuống khu vực Nhà Bè, Cần Giờ.

Vị trí thành Phiên An (thành Quy) và thành Gia Định (thành Phụng) xưa và nay - Đồ họa; T.Thiên
Vị trí thành Phiên An (màu đỏ – thành Quy – Gia Định phế thành) và thành Gia Định (màu xanh – thành Phụng) trong đường phố khu trung tâm TP.HCM hiện nay – Đồ họa: T.Thiên
Vị trí thành Phiên An (thành Quy) và thành Gia Định (thành Phụng) trên bản đồ hiện nay (2016) - Đồ họa; T.Thiên
Các trục đường, cạnh thành Phiên An (thành Quy) và thành Gia Định (thành Phụng) hoàn toàn khớp với các đường phố trung tâm TP.HCM trên bản đồ hiện nay (2016) – Đồ họa: T.Thiên

Phố xá, khu nhà ở, khu buôn bán sắp đặt linh hoạt theo hệ thống sông nước vùng Sài Gòn xưa thể hiện rất rõ sự sáng tạo của một nhà quy hoạch tầm cỡ.

Và những hình dáng của Sài Gòn xưa ấy giờ vẫn đang là khung sườn chạy tốt của khu trung tâm TP.HCM hiện nay.

Đường Nguyễn Thị Minh Khai đi về hướng Chợ Lớn, miền Tây (phía trước), ngược lại về miền Đông (sau) vốn là trục lộ chính giữa thành Gia Định (thành Phụng) – Ảnh: M.C.

Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện vẫn là một trong những con đường đẹp nhất Sài Gòn, vốn là con đường chạy dọc cạnh thành Gia Định (thành Phụng) hướng đông bắc, hướng ra cổng sau thủy xưởng (đóng tàu) của nhà Nguyễn (nay là xưởng Ba Son – cuối đường trong hình) – Ảnh: M.C.

 

1792, Trần Văn Học vẽ họa đồ thành Mỹ Tho và đường phố quanh thành. Không dừng lại ở đó, năm 1821, vua Minh Mạng sai ông vẽ bản đồ núi sông, đường sá các trấn của tỉnh Gia Định, đến Tây Ninh (tỉnh Gia Định thời Gia Long bao gồm cả tỉnh Bình Dương, Tây Ninh hiện nay), biên giới với Chân Lạp (Campuchia) với lời dụ kèm theo 100 quan tiền thưởng trước: “Ngươi không còn sống bao lâu, há chẳng nghĩ đến việc lưu danh hậu thế?”.

Nhưng chỉ ít lâu sau ông mất. Dự tính của vua Minh Mạng không thành.

Dịp 300 năm Sài Gòn – TP.HCM 1998, Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật TP.HCM tổ chức hội thảo “Vai trò khoa học và kỹ thuật của Trần Văn Học trong lịch sử 300 năm thành phố”.

“Ông được đánh giá là người rất có tài vẽ địa đồ, họa đồ kỹ thuật. Đem so sánh bản đồ Sài Gòn 1799 của Dayot với bản đồ Gia Định 1815 của Trần Văn Học thì về kỹ thuật đồ bản như trắc địa hay tỉ lệ, bản đồ của ông Học chính xác hơn nhiều…” (Địa chí Văn hóa TP.HCM)

Danh sách các di tích tại Cochinchin (Nam Kỳ) thời Pháp do Học viện Viễn Đông – Pháp (École Francaise d’ Extrême – Orient) được toàn quyền Đông Dương phê chuẩn ngày 19-5-1925, mộ Trần Văn Học ở xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định xếp thứ 9.

Sự nhầm lẫn hơn nửa thế kỷ

Tuy nhiên, lúc ấy và cả ở miền Nam trước 1975 đều “đổi” ông từ họ Trần thành họ Nguyễn. Thậm chí trước 1975, đường Nơ Trang Long mang tên đường Nguyễn Văn Học, BV Nhân dân Gia Định mang tên BV Nguyễn Văn Học.

Theo tờ trình của ông H. Mauger, quản thủ Viện Bảo tàng Sài Gòn và kỷ yếu của Học viện Viễn Đông của Pháp, Vương Hồng Sển viết: “Trước kia Pháp gọi là “tombeu du Maréchal Nguyễn Văn Học”. Nay truy ra không có công thần nào triều Nguyễn có tên họ như vậy. Có chăng là ông Trần Văn Học, tác giả bức địa đồ tỉnh Gia Định họa năm 1815?” (Sài Gòn năm xưa).

Nhà nghiên cứu Nghiêm Thẩm giải thích “sở dĩ H. Mauger ghi Trần Văn Học họ Nguyễn, vì ông nghe những người ở xung quanh ngôi mộ cổ nói vậy. Nhưng tra kỹ trong Đại Nam chính biên liệt truyện, chỉ thấy có giám thành Trần Văn Học, và không thấy chép việc ông Học được phép vua cho mang họ Nguyễn (quốc tính) bao giờ”.

Nghiêm Thẩm nhận định: “Chắc vì ông Học không có con hay thân nhân và cũng vì các người ở gần khu mộ nhớ lộn họ của ông nên ông H. Mauger mới ghi sai. (Công trình sư Trần Văn Học – Tạp chí Văn hóa – SG, 1962).

Một người Sài Gòn khác cũng từng quy hoạch Sài Gòn trước Trần Văn Học

Đó là Nguyễn Cửu Đàm (?-1777), người Gia Định, một danh tướng – nhà doanh điền thời chúa Nguyễn; được lịch sử ghi nhận là nhà quy hoạch Sài Gòn đầu tiên khi khép kín thành phố bằng ba mặt sông rạch (rạch Thị Nghè – bắc, sông Sài Gòn – đông, rạch Bến Nghé – nam) và một mặt thành lũy (lũy Bán Bích – bắc), tạo thể thống nhất về địa lý – kinh tế – xã hội – quốc phòng.

Theo Địa chí Văn hóa TP.HCM, “Sài Gòn đã là thành phố từ khi Nguyễn Cửu Đàm xây Lũy Bán Bích năm 1772″ vì khi ấy phố xá, thương cảng đã được bảo vệ bởi một vách thành dài 15 dặm”.

Cũng năm 1772, kênh Ruột Ngựa do ông sai đào. Địa chí văn hóa TP.HCM dẫn Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức: “Nguyên xưa từ Rạch Cát ra phía Bắc đến Lò Gốm thì có một đường nước đọng móng trâu, ghe thuyền đi lại không được… Nguyễn Cửu Đàm có đào con kênh thẳng như ruột ngựa nên mới đặt tên ấy. Kênh này sau đó đã giúp cho thuyền bè qua lại giữa Sài Gòn với miền Tây thêm thuận lợi”.

 

https://tuoitre.vn/mot-nguoi-sai-gon-da-thiet-ke-sai-gon-tu-thanh-gia-dinh-1055221.htm




Kỷ niệm về BS Tôn Thất Niệm (vừa mất)

Trần Thị Vĩnh Tường

Năm 1956-62, gia đình tôi nửa ở Saigon nửa ở Đà Lạt. Ba tháng hè bố cho mấy chị em lên Đà Lạt, 35C đường Thống Nhất, xế nha Địa Dư. Hai nhóc có một trò chơi thần tiên là lao từ dốc xuống chân đồi, đoạn cuối hồ Than Thở vắng người tha hồ hò hét. Một thần tiên khác, buổi tối bố cho lên xe traction đi mua bánh mì nóng. Ngoài trời lạnh run cầm cập nhưng trong ánh điện vàng và hơi ấm từ lò nướng, ủ bánh mì vàng ròn thơm và rất nóng trong áo, thiên thần trên trời nhìn xuống suýt soa lác cả mắt rụt rè xin nửa cái, em trai bẻ cho ngay.

 

Một tối, mang bánh mì về mợ cho hay anh Niệm vừa mới ghé cho trẻ con chocolat ăn với bánh mì. Chocolat lúc đó đắt lắm, không bao giờ ăn thỏa thuê đâu nhé. Lần đầu tiên ăn bánh mì nóng kẹp chocolat chảy tan.

Một hôm, “anh Niệm” cùng người bạn đến bố tôi để hát. Lúc đó tôi chưa hát sõi nhưng gia đình ai cũng hát. Nếu trời sinh ra bố tôi giỏi cơ khí đến nỗi chỉ nghe tiếng máy xe biết hư cái gì, thì cũng phú cho ông một giọng hát ma chê quỉ hờn. Ông bảo “Ma cũng phải sợ ba” thì tôi tin răm rắp.

 

Bố tôi thích hát “Gạo Trắng Trăng Thanh” của Hoàng Thi Thơ cặp Ngọc Cẩm- Nguyễn Hữu Thiết nổi tiếng hát với giọng Quảng mà người Đà Lạt ưa lắm. Ông cũng phát âm giọng Quảng “gạo tắng tong mà nên duyên mặng mà…” mà mợ tôi tấm tắc cho là “duyên dáng khó tả”.

Còn hai chị véo von Ngày Về của Hoàng Giác

“Năm tháng phai mờ lời hẹn ước – trong gió sương hình người tình mến

Oán trách ai quên lời thề lúc ra đi thôi ước mơ chi ngày mai”

 

Nên khi chú Niệm hát thì chị lấp ló nhẩm theo.

“Trông bốn phương mờ hàng lệ thắm – mơ đến em một ngày đầm ấm

Nhớ phút chia phôi cùng ai dứt đau thương tìm đến em nay còn đâu”

 

 

Giọng ông bồi hồi chậm rãi, trìu mến tha thiết như tia nhìn cũng không vào ai mà gửi khoảng không. Về sau, nghe Anh Ngoc, Duy Trác và mới đây Trọng Tấn hát Ngày Về, thì tôi càng tin chắc rằng bài hát này chỉ hợp với giọng đàn ông, chất giọng của người có sự ân cần và từ tâm trong sâu thẳm… mà… đàn bà (chúng tôi) đôi khi… thiếu (Amen)

 

Ba tôi là công chức nên hai năm sau đổi đi tỉnh khác. Từ đó, không bao giờ gặp lại chú Niệm và cũng không biết ông là bác sĩ Tôn Thất Niệm. Ở California trong một buổi tiệc, khi ông cất tiếng thì đúng giọng nói ngày xưa. Người ta có thể thay đổi, kể cả giải phẫu thẩm mỹ, trừ giọng nói. Chắc ông không nhớ bé con áo len đỏ “tròn như một cuộn len”.

 

Ba tôi khuất đã 20 năm, chị Tư tôi mất 11/2015. Nhạc sĩ Hoàng Giác vừa qua đời tháng 9/2017. Và hôm nay, Tôn Thất Niệm.

Là bác sĩ, ông dư biết cả sự chết cũng có ích cho đời sống, thay thế già nua kiệt quệ bằng trẻ trung tươi mát.

Là nghệ sĩ, ông cũng biết cái chết là phát mình vĩ đại nhất mà thượng đế trên cao ban cho loài người

Trẻ con như tôi còn điên cuồng tin là những tài hoa không chết, sẽ còn sống nhiều trăm năm nữa vĩnh cửu ở đâu đó trong ký ức của những người muốn nhớ.

 

Sẽ đến chào ông lần cuối. Chào người tình nhân của trí tuệ.

Cũng chào Tuổi Thơ chào Đà Lạt, chào Bố của con, Chị của em… cùng

“Nhấp chén men say còn vương bóng quê hương dừng bước tha hương lòng đau …”

ÔI NHỮNG NGƯỜI TÌNH NHÂN TRÍ TUỆ …

NĂM THÁNG CÓ PHAI MỜ LỜI HẸN ƯỚC…?

 

Rồi ra sẽ gặp nhau cả đấy mà…

“Lưng trời âu yếm bay tìm đàn

Lòng nguyện giờ đây quên quên hết”

 

15/11/2017

https://www.facebook.com/FuschiaArt/posts/1491643367582779

https://www.nguoi-viet.com/cao-pho/bac-si-y-khoa-ton-niem/

 

 




Mạng xã hội

 

Truong Huy San

 

Dữ liệu rất quan trọng cho công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách. Nhưng sử dụng các số liệu từ Đức, Hàn Quốc… thậm chí từ Trung Quốc để so sánh với Việt Nam cũng giống như so sánh hai số hạng không cùng đại lượng (mét so với kg).

 

Người Đức, người Mỹ… sử dụng mạng xã hội (MXH) đôi khi chỉ để đáp ứng những nhu cầu bạn bè trong từng group nhỏ. Người Việt Nam sử dụng MXH ngoài những nhu cầu thông thường, còn là để thực hiện các quyền Hiến định – quyền tự do ngôn luận, bày tỏ chính kiến; quyền làm công tác từ thiện, giúp đỡ người yếu thế. Những quyền mà báo chí nhà nước và không gian chính trị của Việt Nam không có khả năng cung cấp.

 

Tự do biểu đạt chính kiến quan trọng đến nỗi, tổng thống của một quốc gia tự do như D. Trump cũng phải sử dụng MXH để tuyên ngôn khi ông không còn tin báo chí. Đừng so với Trung Quốc, chỉ trong một quốc gia mà việc người dân chỉ trích lãnh đạo, chỉ trích chính quyền được coi là “văn hoá” thì quốc gia đó mới có cơ may được coi là văn minh, chính quyền của quốc gia đó mới được coi là chính quyền mạnh.

 

Với những tiến sỹ rừng như ông Trương Minh Tuấn thì tôi không chấp, tôi rất tiếc khi nghe phát biểu của PTT Vũ Đức Đam. Ông có một trí nhớ tuyệt vời, một khả năng diễn thuyết rất thuyết phục, nhưng ông đã mơn trớn các đại biểu có chức có quyền trong quốc hội thay vì giúp phần lớn trong họ nắm được MXH là môi trường sống của thế giới ngày nay. Nó chứa chấp đủ thứ dịch bệnh của loài người nhưng nó cũng giúp chính loài người từng bước loại bỏ các dịch bệnh đó và nuôi nấng từng mầm tích cực.

 

Chỉ từ khi có internet, Việt Nam mới tốt lên như vậy và chính quyền mới mạnh như vậy (dù bị chỉ trích nhiều hơn, dù nhiều người chỉ trích chính quyền không muốn thế).

Dân trí của Việt Nam như ông nói, chưa bằng Thái và tất nhiên là chưa bằng Đức. Nhưng vì sao. Chưa có một quốc gia nào (tôi không tính Trung Quốc và Bắc Hàn) mà Bộ Luật Hình Sự chứa đựng nhiều điều luật để đe doạ người sử dụng MXH như Việt Nam. Tuy nhiên, các công cụ này chủ yếu nhắm vào những người sử dụng MXH để “nói xấu lãnh đạo và tuyên truyền chống chế độ”. Danh dự, nhân phẩm và bí mật đời tư của thường dân, trong thi hành luật, chưa bao giờ được ưu tiên bảo vệ.

 

Đừng lẫn lộn các khái niệm trong an ninh mạng. Những gì thuộc về bí mật quốc gia phải thuộc trách nhiệm của những người được giao nắm giữ nó. Có thể vận đông ý thức của công dân trừ những vụ việc nhân danh bí mật quốc gia để lén lút chia chác tài sản của dân. Trong thời đại ngày này, quốc gia nào cũng phải có ý thức lập nhiều tầng dữ liệu (cái gì local, cái gì international). Còn thông tin cá nhân thì kể từ khi ta mua vé máy bay, mua hàng trên Alibaba, xin visa… từng cá nhân đã chấp nhận tiết lộ bí mật đời tư của mình, đừng đổ hết cho MXH.

Cũng không nên dùng con số doanh thu quảng cáo 300 triệu USD (như anh Đam nói) hay 100 triệu (như anh Tuấn nói) để kích thích dạ dày quốc hội. Facebook, Google không kinh doanh ở VN, họ kinh doanh toàn cầu. Ngay cả các cường quốc cũng vẫn còn đang phải tranh cãi việc đánh thuế như thế nào. Các nhà cung cấp dịch vụ internet phải tuân thủ luật thương mại điện tử nhưng các quốc gia cũng phải tuân thủ các cam kết “tránh đánh thuế hai lần”.

 

Đành rằng, thu được đồng thuế nào từ con số 300 triệu đó đều tốt. Nhưng chỉ chăm bẵm vào những con số đó là đã để lá che mất rừng. Thử tính, nếu người dân Việt đã bỏ ra 300 triệu USD quảng cáo trên MXH toàn cầu thì doanh thu có đóng thuế cho ngân khố quốc gia phải tăng lên đến nhường nào.

 

Đành rằng, để MXH phát triển thì việc nhũng nhiễu dân sẽ không còn như chỗ không người nữa; việc đưa con đàn cháu đống vào bộ máy quyền lực sẽ bị săm soi; công trình nghìn tỷ đắp chiếu sẽ không thể che mắt dân cho đến khi mục nát… Nhưng, cầm quyền thì phải nhận ra rằng, MXH không chỉ đang chỉ trích chính quyền – giúp Chính phủ tu sửa để rồi vừa có quyền vừa có dân – mà còn đang chỉ trích những thói hư tật xấu trong xã hội, đang “khai dân trí và chấn dân khí” chứ không chỉ mắng nhiếc nhau. Hãy vì lợi ích bền lâu của Việt Nam, đừng vì những mục tiêu ngắn hạn.

 

PS: Những ai hay lấy Đức ra làm ví dụ thì nên đoc kỹ cái này:

www.bmjv.de

 

https://www.facebook.com/Osinhuyduc/posts/1452749764760200

 




Ngày “THANK YOU, AMERICA” – San Jose

IRCC & Dân Sinh Media

Kính mời quý vị tham dự ngày:

THANK YOU, AMERICA

Lúc 9:30AM đến 12:30PM
Thứ Bẩy Ngày 18 Tháng 11 Năm 2017
Tại Phòng Hội Quận Hạt Santa Clara, 70 West Hedding Street, San Jose.

Chúng tôi kính mời quý vị – đặc biệt là bạn bè, thân nhân, con dâu con rể người Mỹ của gia đình quý vị- cùng đến tham dự ngày họp mặt rất ý nghĩa này.
Chương trình gồm có:

Những nghi lễ hào hùng và trình chiếu phim chủ đề Thank You America rất đặc biệt.
Giải khát cà phê-nước trà và ăn trưa với croissant hay bánh mì hoàn toàn miễn phí do Lee Sanwiches bảo trợ.
Xem những tiết mục trình diễn rất ngoạn mục và hết sức hấp dẫn của Nhạc Viện Thái Bình
Xem những tiết mục trình diễn độc đáo của The San Jose Saxophone Choir.

Xin mời quý vị đến sớm lúc 9:30Am đề uống cà phê và hàn huyên bạn hữu, sau đó thưởng ngoạn chương trình đến 12:30pm, rồi ăn trưa trước khi ra về.

Tất cả hoàn toàn miễn phí và vào cửa tự do.

Trân trọng kính mời.




Sinh Hoạt VTLV năm 2017