Một chuyện tình đẫm lệ thời chinh chiến. Thật đáng thương cho những người đã sinh ra và lớn lên trong cuộc chiến quốc cộng tương tàn thảm khốc.
Chị biết anh vì hai gia đình ở chung xóm gần chợ Gia Định. Chị cũng là bạn cùng lứa với em anh từ trường tiểu học cho đến lúc vào trường Trưng Vương. Anh học Khoa Học Sài Gòn. Thỉnh thoảng anh dừng chân ở quán nhà chị ở đầu ngõ, chào hỏi vu vơ, nói đôi ba câu chuyện. Kêu chị là bé dù anh chỉ hơn chị chừng 5 tuổi. Vậy mà chị lại thích, chị có cảm giác mình thật bé bỏng khi đứng bên cạnh anh thật cao lớn, cần sự che chở của anh.
Năm lên lớp 11, chị thấy anh vắng mặt một thời gian ngắn, qua nhỏ bạn biết anh động viên vào Thủ Đức. Rồi anh lại hiên ngang xuất hiện sau đó với bộ đồ hoa dù và nón Beret đỏ. Cuộc tình bắt đầu, với người yêu là một Thiên Thần Mũ Đỏ.
Ở tuổi 17, chị lớn dần trong tình yêu trầm lặng của anh, trở thành một thiếu nữ chín chắn, trong khi đó đời sống nội tâm cùng sự lo sợ triền miên đôi khi khiến chị cảm thấy lạc lõng giữa chúng bạn ở lứa tuổi ô mai.
Niên học 1974-1975, chị bước vào năm thứ nhất Văn Khoa. Anh vẫn miệt mài với đơn vị ở những chiến trường xa. Những lá thư yêu thương anh gửi chị chỉ ghi cái địa chỉ KBC 4794 lạ hoắc. Cuối tháng Hai 1975, anh bất ngờ có mấy ngày về phép. Đêm trước ngày trở lại đơn vị, anh đưa chị đi ăn chè góc Bạch Đằng/ Nguyễn Huệ. Ngồi quán chè, cùng nhìn ra sông Saigon, chị bỗng nghe anh nói bằng một giọng nhẹ nhàng, “Ngày mai anh trở ra lại mặt trận. Em ở nhà bình an. Chuyến đi này không biết bao giờ anh về thăm em được. Tình hình rất căng. Đôi khi anh nghĩ may ra anh bị thương thì chúng mình mới có cơ hội để thành vợ chồng!”
Lẫn trong tiếng nói, chị tưởng như bên tai mình có hơi thở của anh. Vị ngọt của muỗng chè bỗng trở thành vô vị nơi cuối lưỡi. Chị quay lại nhìn anh. Hai bàn tay tìm nhau. Không, không thể chờ đến khi anh bị thương… Nhận ra bàn tay mình run rẩy trong tay anh, chị nói “Thôi mình về đi anh”.
Khi lặng lẽ rời quán chè bờ sông, anh không cầm tay chị. Chắc anh không hiểu sao buổi hẹn hò bỗng bị chị cắt ngắn, đòi về. Nhìn vẻ thất vọng một cách tội nghiệp trên khuôn mặt sạm đen của anh, chị thấy thương anh chi lạ. Phải cố gắng lắm chị mới có thể nói với anh bằng giọng bình tĩnh: “Mình về nhà trọ của anh đi, em có chuyện muốn nói.”
Ngay khi cánh cửa phòng riêng của anh trong nhà trọ vừa khép lại, chị đứng trước anh, nhìn anh, rồi nói như sợ không còn cơ hội nào khác “Đêm nay em sẽ ở lại đây. Em muốn chúng mình thuộc về nhau đêm nay. Em không muốn chờ đợi thêm nữa.” Không chờ cho anh kịp phản ứng, chị rơi mình vào vòng tay anh, mặt đầm đìa nước mắt. Cả hai xớ rớ ngồi cạnh giường, luống cuống đến tội nghiệp. Bên cho với tê tái khắc ghi. Bên nhận trong nghiệt ngã đắn đo. Sau đó, cả hai dựa sát vào nhau; anh trầm tư ôm vai chị, che chở trìu mến, chị ngã đầu trên tay anh, nhìn lên trần nhà, mủi lòng, mặc cho nước mắt tự nhiên tuôn trào. Thương anh, thương mình, lo sợ cho số kiếp con người mong manh. Chị biết chị vừa đi ngược sự giáo dục gia đình, nhưng chị không cảm thấy nuối tiếc, vì chị nhận rõ một khi tình yêu và hy sinh để trở thành một thì không có gì tuyệt đẹp hơn là giờ phút bên nhau trong hiện tại. Y như câu truyện “Một Thời Để Yêu Một Thời Để Chết.” * “Này em khăn áo vẫn còn nếp nhầu Lược gương đâu có nỡ nào quên bóng hình Này em, chăn gối vẫn còn ấm nồng Chỉ người năm cũ như bóng trăng gầy liệm cuối sông…” Đêm đầu tiên và cuối cùng có nhau, chị biết đơn vị dù của anh đang hành quân vùng cao nguyên.
Ngày 10 tháng Ba năm 1975, Ban Mê Thuột thất thủ. Sau đó có tin Pleiku, Kontum bị rút bỏ. Từ vùng hành quân, anh nhờ lính hậu cứ nhắn tin cho chị biết. Và đó là lần cuối cùng chị được tin anh.
Cuối tháng 3, chị được biết TĐ của anh cùng chung số phận với Lữ Đoàn 3 ND, đánh cho đến người cuối cùng ở Khánh Dương, rồi phân tán mỏng. Trên đường rút quân, đơn vị đã không tìm thấy anh. Mất tích? Tử thương? Bị bắt làm tù binh? Quả là tội nghiệp cho một thiếu nữ như chị, với chỉ danh nghĩa người yêu của lính, xuôi ngược chạy tìm tin tức của anh, từ hậu cứ TĐ đến Bộ Tư Lệnh SĐ, hoặc ủ rũ chờ đợi, nghe ngóng tin tức ở nhà anh.
Ngày 29 tháng 4, người anh cả của chị, một sĩ quan HQ, chạy nhanh về nhà, hối thúc cha mẹ, thằng em trai và chị ra bến Bạch Đằng, lên thuyền rời nước. Như một người máy trôi theo dòng đời, chị ra đi mà lòng quặn đau, bất định, biết rằng từ đây mọi người vĩnh viễn mất nước. Và chị, vĩnh viễn xa rời và mất luôn cả anh.
Ngày đến trại Fort Chaffee, tiểu bang Arkansas, chị mới biết mình có thai được trên 2 tháng. Trong khi cả gia đình chị bấn loạn, cá nhân chị vừa lo lắng vừa hân hoan với mầm sống của anh trong người. Qua bao nhiêu gian nan, cam go chịu khổ chịu cực, chịu cảnh gái chưa chồng nhưng có con, chị can đảm vượt thoát mọi thử thách, mọi e dè để cuối cùng định cư ở Fort Polk, tiểu bang Louisiana với một người chồng Mỹ vào năm 1984. Chị cố tạo cho mình một vườn hoa trái nơi chị nhận làm quê hương thứ hai, nhưng đa số là trái ngang trái trắc trở, trái sầu trái đắng, trái chua trái cay, là tiềm ẩn từ bao thôi thúc vương vấn, bao bùi ngùi luyến thương của mất nhau, hoài nhau không thể chối từ mà cũng chẳng thể vứt bỏ vì đó là những bám víu giúp chị can đảm sinh tồn.
* Gần cuối thập niên 80, tôi tình cờ gặp chị trong một phiên trực tại phòng cấp cứu của Bệnh Viện Baynes Jones Army Community tại Fort Polk, tiểu bang Louisiana, nơi vốn là bản doanh của sư đoàn 5 cơ giới Hoa Kỳ đã có mặt tại chiến trường VN. Con gái chị, với khuôn mặt Việt Nam, khoảng 13-14 tuổi, té xe đạp, không bị thương tích nặng ngoại trừ vài vết thương trầy trụa ngoài da. Nhìn thấy tôi là một bác sĩ người Việt, chị mừng rỡ bắt chuyện. Kể từ đó, thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau đôi lần, cũng tại bệnh viện quân đội Mỹ, có luôn cả người chồng Mỹ của chị là một thiếu tá hồi hưu từng tham chiến 2 lần tại Việt Nam.
Vài năm sau chồng chị qua đời vì bệnh tim, chị trở thành bệnh nhân của tôi tại phòng mạch tư. Đó cũng là thời gian tôi khám phá chị bị ung thư vú và chuyển chị qua bác sĩ chuyên khoa. Trong một lần nói chuyện dài hơn, chị mở lời tâm sự về chuyện tình của chị trong chiến tranh VN, về người cha của con gái chị. Chị cho biết chị cầu nguyện hàng ngày hầu mong biết tin tức về anh, sống chết như thế nào sau trận đánh ở Khánh Dương, nhưng không mấy hy vọng cũng như đã từng cố gắng tìm kiếm qua các cộng đồng người Việt tỵ nạn trong bao năm qua. Không lâu sau đó, chị rời vùng Fort Polk trở về sinh sống với cha mẹ chị ở Springdale, tiểu bang Arkansas.
* Chào bác sĩ. BS. còn nhớ tôi không?? Tôi là Kim Tiên đây… Vâng, đúng rồi đó. Vâng. Cám ơn BS. Bố mẹ tôi bình yên… Con gái tôi vừa vào năm thứ nhất Đại học cộng đồng tại đây. Dạ cám ơn BS. Chắc cháu sẽ vui khi biết BS vẫn còn nhớ đến cháu và gởi lời thăm… Thưa BS. hiện tại ung thư của tôi ở giai đoạn cuối, các bác sĩ bên này cho biết tôi còn sống được khoảng 6 tháng nữa… Dạ. Cám ơn BS… Dạ không sao! Tôi muốn báo một tin rất vui cho BS. biết là tôi vừa tìm được tin tức của cha con gái của tôi rồi… Cám ơn BS chung vui với chúng tôi. Vâng, anh ấy vẫn còn sống tại Việt Nam… Dạ, tôi may mắn tìm ra được em gái của anh, cũng qua Mỹ với chồng theo chương trình H.O cuối năm 1991. Nhờ trời thôi BS ạ… Dạ, qua chương trình Nhịp Cầu Thân Yêu của đài Little Sài Gòn loan báo… Thưa BS., chính tôi cũng không biết được tình trạng của anh ra sao! Em gái của anh nhất định không chịu nói nhiều. Chỉ cho địa chỉ một người trung gian… Nên tôi quyết định về VN một chuyến, trước là để thăm mộ bên nội ngoại của tôi, sau sẽ tìm đến thăm anh… Dạ, tôi cùng đi với một người bạn thân quen trong nhà thờ, tôi không thể chờ con gái tôi cùng đi chung vì cháu rất bận học, mà tôi thì không còn bao nhiêu thì giờ nữa… Dạ có gì tôi sẽ cho BS biết sau… Cám ơn BS. Tôi sẽ cố gắng giữ gìn sức khỏe trong chuyến đi.
Gần một tháng sau, chị gọi điện thoại cho tôi, nói nhanh giữa những cơn thở nặng và xúc động. Câu chuyện nhiều lúc bị ngắt khoảng bởi những im lặng và tiếng sụt sùi. *
“Sài Gòn là đây sao em? Đường không còn lối người chen chân. Sài Gòn là đây sao em? Lạ sao giọng nói người không quen! Biết mấy tâm sự đành lãng quên. Xôn xao kỷ niệm lạc lối tìm…” Sau nhiều ngày bận rộn đi thăm bà con gần xa và viếng mộ đại gia đình ở Thủ Đức, chị mệt mỏi trở về Sài Gòn, ngỡ ngàng bước cô đơn giữa lòng phố đầy người.
Ngày rời Sài Gòn với mảnh giấy ghi địa chỉ của anh do một người bà con với em của anh cho, chị đi xe khách đến Ninh Hòa. Từ bến xe, chiếc honda thồ chở chị đi tiếp trên con đường đất đến một làng khá xa thị xã. Đường về lối mới sao chật hẹp thu nhỏ, hoàn toàn xa lạ trong tâm trí, không một hương thơm vương vấn. Không một tiếng gọi quen thuộc. Không một câu hò ạ ơ. Và trời cũng chẳng mưa để làm ướt lòng người trở về. Ngược lại trời đổ nắng đến hoa cả mắt, nóng cháy cả người kèm theo bụi đường đỏ làm chị ngột ngạt giữa bao nhung nhớ chất chứa màu kỷ niệm của thuở tình tự.
Sau vài lần ngưng dọc đường hỏi thêm chi tiết, xe ngừng trước một căn nhà nhỏ xơ xác, tội nghiệp với mái tôn đổi màu theo thời gian, có vài bụi chuối xung quanh cùng hàng cây dâm bụt phía trước. Không chần chờ, chị bước vội vào nhà. Đập ngay vào mắt là một thân hình cao, gầy gò ngồi trên một sạp tre, lưng xoay ngược hướng chị đi vào, bên cạnh là một cặp nạng. Chị ngập ngừng lên tiếng, kêu nhẹ tên anh.
Thân hình ấy quay nhanh về hướng chị, cùng lúc quờ quạng chụp tìm đôi nạng gỗ. Trước mắt chị là một hình hài với chân phải cụt lên tận đầu gối, áo quần xốc xếch, tóc tai bung xung. Chị bật khóc chạy đến gần, trong một thoáng kịp nhìn thấy 2 vũng mắt lõm sâu không có tròng mắt. Chị đột nhiên khuỵ người xuống trên sàn đất, như thể toàn sức lực dành cho chuyến đi bỗng cạn kiệt. Cùng lúc ấy, bóng một người đàn bà đi nhanh từ bếp nâng chị dậy.
Anh bị thương nặng ở chân trên đường rút quân, cố gắng lết xa khỏi trận chiến và ẩn núp trong bụi rậm. Ngày hôm sau, địch tìm thấy anh và bắt anh làm tù binh. Anh nghĩ vết thương ở chân phải có thể lành nếu được chữa trị với trụ sinh và đăng bột, nhưng tên y sĩ trại tù chọn cách dễ là tháo khớp gối. Sau đó anh còn bị đạn nổ trong khi nhóm lửa rừng sưởi ấm ở trại tận bên Cao Miên, khiến cả 2 con mắt của anh bị hư nặng tuy vẫn nhìn thấy rất mờ. Vì vậy anh được thả cho rời trại sớm. Trên đường khổ sở, một mình thất thểu về lại làng phố, anh bỗng gặp một người đàn bà chưa một lần quen biết, hiện tại là vợ của anh, đem anh về nhà săn sóc. Chồng trước của bà là một người lính Địa Phương Quân tử trận 2 năm trước ngày mất nước.
Trong vài năm sau đó, đôi mắt anh làm độc kinh niên nên bác sĩ đành phải múc bỏ cả hai bên. Biết tính của anh chỉ muốn nhắc đến những giai đoạn quan trọng của trận cuối và trong thời gian khi còn là tù binh, chị không thắc mắc hỏi thêm, cũng chẳng cắt ngang cuộc độc thoại của anh bằng một giọng nói trầm tĩnh của chấp nhận số phận đã an bài, của một cam chịu không lối thoát. Chị có cảm tưởng anh chỉ thổ lộ lần duy nhất này rồi sẽ không bao giờ nhắc lại, như chôn sâu vĩnh viễn nỗi oan khiên vào bóng tối đời anh. Đời anh là một nỗi buồn khôn nguôi kết trái sầu tủi từ thuở anh trở thành kẻ chiến bại và phế nhân. Anh cố tình làm ra vẻ thản nhiên như không hề muốn chị phải đau đớn, dày vò tự trách số phận quá nghiệt ngã, cùng khốn, lỡ làng!
“Trách chi người ai lỗi ai Trách chi người mi ướt cay Trách chi người thôi đã xa nhau kiếp này… Mùi thơm khăn áo ngây ngất đi vào cổ tích tôi”
Chị yên lặng ngồi nghe, tiếng được tiếng không, tê tái cõi lòng, nhớ lại năm xưa có lần anh thì thầm bên chị, “may ra anh bị thương thì chúng mình mới có thể trở thành vợ chồng.”
Thế nhưng tuyệt đối chưa một lần chị nghĩ đến anh có thể bị thương trong cuối cuộc chiến, và cũng chưa hề nghĩ anh đã phải trải qua những giai đoạn khổ sở cùng cực như vậy. Từ một nam nhân oai hùng ngày xưa, nay anh là một phế nhân với những vết thương tàn phá nặng nề trên cơ thể. Đôi mắt ngày xưa, nơi chị thường hay nhìn vào để tìm hình ảnh của tình yêu và sức sống của tuổi trẻ mình, nay chỉ là 2 mí mắt nhíp gần nhau nằm sâu trong một khoảng màu trắng ở giữa. Giờ đây chị mới hiểu vì sao em gái của anh tránh không cho chị biết nhiều về anh. Chị bỗng cảm thấy gần gũi với vợ của anh, thầm cám ơn rằng ơn Trên sắp đặt cho anh tìm được ánh sáng dịu hiền giữa đường qua sự săn sóc, cứu vớt, nuôi nấng, bao bọc, che chở, yêu thương của người vợ này. Như một bà tiên hiện ra nguyên vẹn để dẫn dắt, cưu mang, nâng đỡ chàng Thiên Thần Mũ Đỏ của chị trong sa cơ thất thế, khi cánh dù bị chà đạp, tan tác trong cuộc đổi đời.
Chiều hôm ấy, chị không từ chối khi vợ anh mời chị ở qua đêm tại đây, cả hai cùng nhau tâm sự dưới một ngọn đèn vàng úa duy nhất của nhà, nhất là sau khi nghe chị cho biết anh từng là người yêu đầu đời của chị. Càng về khuya, chuyện trò càng cởi mở hơn, bấy giờ chị mới từ tốn cho vợ chồng anh biết là chị có thai với anh ngay trong đêm trước khi anh rời Sài Gòn về lại đơn vị cuối tháng 2, 1975. Con gái của anh sinh vào cuối tháng 11, 1975; chị đặt tên cho con là Kim Ngân, ghép từ nửa tên của chị và nửa tên của anh, nay con gái được 19 tuổi và đang học đại học gần nhà. Vợ anh liên tục nắm chặt tay chị và kéo chị ngồi sát vào mình, một cử chỉ che chở, chia xẻ, thông cảm và đầy thân thiện trong suốt câu chuyện. Anh hoàn toàn im lặng, hai tay ôm đầu mình. Thỉnh thoảng 2 vai có rung nhẹ. Mãi sau khi chị dứt, anh mới nhẹ nhàng hỏi là con gái có biết câu chuyện giữa anh và chị, và biết anh là cha không. Con gái anh, chị trả lời, chỉ biết cha nó là một sĩ quan Nhảy Dù, tử trận và mất xác khi cuộc chiến VN gần đến hồi kết thúc. Ngay cả mục đích đi tìm anh trong chuyến về VN của chị, chị cũng hoàn toàn dấu con gái. Chỉ một điều duy nhất chị không tiết lộ cho anh và vợ anh biết là chị đang bị ung thư vào giai đoạn cuối.
Tối hôm đó, sau khi đọc kinh cầu nguyện cám ơn, chị có một giấc ngủ thật an lành dù lạ nhà, một phần có lẽ vì đi đường quá mệt, phần kia vì chị đã đạt được mục tiêu chính của chuyến đi.
Sau bao nhiêu cầu xin, bao nhiêu thấp thỏm đợi chờ mong mỏi tin tức, nguyện vọng ấp ủ từ bao năm qua nay được đáp ứng và trở thành sự thật. Trước đây, bao thương nhớ, bao hình ảnh về anh và sự mất anh trong đời, những suy sụp tinh thần của một người đàn bà di tản mang thai, những oan trái mòn mỏi trong xót xa; những gian khó thử thách trong đời sống mới, những gượng cười trong lệ sầu; những năm nuôi dạy con một mình; những cô đơn tinh thần khi sống bên cạnh người chồng Mỹ với bao dị biệt văn hóa, ngôn từ; những mệt mỏi thể xác qua bao lần xạ trị, hóa trị, thuốc cũ thuốc mới, những sợi tóc xanh phai màu rơi rụng; những đau đớn chán nản khi căn bệnh trở nặng; những lo âu suy tính về tương lai con gái rồi đây sẽ mồ côi mẹ… tất cả đã tạo cho chị một tình trạng trầm cảm nặng nề. Nhưng giờ đây, chị vô cùng mãn nguyện tìm thấy anh, nhìn thấy anh bằng xương bằng thịt, biết anh đã sống sót qua chiến tranh, dù bị tàn phế trầm trọng nhưng bù lại anh có một người bạn đường luôn bên cạnh, săn sóc yêu thương anh. Hơn nữa anh còn có đứa con gái và đứa con trai.
Sáng hôm sau, đứa con trai của anh, nhỏ hơn con của chị gần 3 tuổi, ở nhà ông bà ngoại cạnh trường trung học huyện, về kịp chào chị trước khi chị lên đường. Chị cũng đã kín đáo trao tặng tất cả số tiền lớn còn lại cho vợ anh đêm qua. Chị có hứa với vợ chồng anh là chị sẽ kể cho con gái của anh tất cả câu chuyện giữa anh và chị, không một dấu diếm, luôn cả thương tật của anh và hoàn cảnh hiện tại của vợ chồng anh. Để trả lời câu hỏi của vợ anh, bằng một giọng mong manh sâu tận đáy lòng, chị run run xúc động cho biết sẽ trở về lại thăm vợ chồng anh nếu sức khỏe cho phép. Sau khi chào tạm biệt vợ chồng anh và chúc nhau an lành, hai người đàn bà ôm xiết chặt nhau, mắt chớm lệ, gần gũi trong cảm thông trân quý. Anh vẫn đứng yên bên khung cửa trước nhà, chan hòa trong ánh sáng ấm ban mai. Chị vội bước nhanh đến chiếc xe thồ đang đợi. Xe rồ máy chở chị đi. Không nhìn lui, bình an trong lòng, chị ngước nhìn trời. Một màu xanh tuyệt đẹp. Không mây.
* “Sài Gòn ngày xưa đâu em? Mộng mơ ngày tháng tuổi hoa niên. Sài Gòn ngày xưa đâu em? Từng con đường phố mình thân quen Dĩ vãng đâu về, buồn ngẩn ngơ. Bao nhiêu mong đợi lạc bến chờ” Chị Kim Tiên đã không về lại VN lần thứ hai. Chị chết trong bình an vào giữa tháng 5, 1994. Cháu Kim Ngân điện thoại cho tôi biết, theo lời yêu cầu của Mẹ, cháu đang sửa soạn về thăm cha trong mùa hè này, mang theo chiếc xe lăn cũ của Mẹ cùng một số tiền lớn từ bảo hiểm nhân thọ của mẹ để lại cho cha.
Ước mong cháu Kim Ngân sẽ nuôi nấng và gìn giữ chuyện cổ tích của cha và mẹ mình.
Mission Viejo, CA Vĩnh Chánh
Việt Nam 33 năm sau “Đổi mới” (12.1986 – 12.2019)
Việt Nam 33 năm sau “Đổi mới” (12.1986 – 12.2019):
Thủ đoạn lừa đảo nhân dân và trí trá với đảng viên!
Âu Dương Thệ
15-12-2019
Ngày 6.12.2019 Thủ tướng Đức bà Merkel đã tới viếng các nạn nhân tại Trại tập trung Auschwitz (Ba Lan). Nơi đây, trong Thế chiến thứ 2 dưới chế độ Quốc xã, Hitler tôn thờ chủ nghĩa quốc gia cực đoan, đã giết hại trên 1,1 triệu người. Tại đây bà Merkel đã đọc một diễn văn quan trọng. Trong đó, cũng như hai Thủ tướng Đức trước, bà đã đề cao lương tri và tinh thần trách nhiệm của người lãnh đạo một Nước Đức Mới. Đó là tôn trọng những giá trị dân chủ và pháp quyền, dám can đảm nhìn nhận thẳng thắn những tội ác của chế độ độc tài Hitler. Một số đoạn rất đáng chú ý (lược dịch):
“Hôm nay tại đây, đứng trước quí vị, nói với tư cách là Thủ tướng Đức, tôi thấy thật không dễ dàng. Tôi cảm thấy cực kỳ xẩu hổ trước những tội ác dã man, những gì đã diễn ra do người Đức đã hành động. Những tội ác này đã vượt qua tất cả những gì có thể hình dung được. Thật là khủng khiếp về những gì mà phụ nữ, đàn ông và trẻ em đã phải trải qua ở đây…Vì từ ngữ nào có thể diễn tả nổi sự đau buồn đến như thế, khiến bao nhiêu người đã bị hành hạ, đày ải và thủ tiêu?…Nhưng im lặng không được phép là câu trả lời duy nhất của chúng tôi. Nơi đây ràng buộc trách nhiệm chúng tôi, phải cảnh thức hồi tưởng. Chúng tôi phải nhớ lại những tội ác đã diễn ra ở đây và phải nói đúng tội danh của nó!…
Nhớ lại những tội ác, vạch rõ thủ phạm và trân trọng tưởng nhớ tới các nạn nhân. Đó là trách nhiệm không bao giờ chấm dứt. Trách nhiệm này không thể nào san sẻ được, nó liên hệ trực tiếp tới đất nước tôi. Ý thức trách nhiệm này là bổn phận của chúng tôi, nó là phần liên đới chặt chẽ tới hình ảnh của đất nước chúng tôi, đó là một thái độ tự nhiên của một xã hội có ý thức và tự do, cùng với dân chủ và tôn trọng pháp quyền”. (Bundeskanzleramt, 6.12.19)
Sau khi chế độ Hitler tan rã, nước Đức đã can đảm và kiên tâm đấu tranh trở thành một Nước Đức Mới – Trước hết là ở Tây Đức. Từ một đống tro tàn, hận thù với các lân bang, Tây Đức đã mau chóng chỉ sau khoảng hai thập niên, đối nội đã trở thành quốc gia tân tiến, tôn trọng các giá trị dân chủ, tự do, pháp trị của một xã hội Dân chủ đa nguyên (DCĐN). Đối ngoại Tây Đức đã xóa hận thù với các lân bang, là thành viên tích cực trong Liên minh Âu châu (EU). Biết chọn Hoa Kỳ làm đồng minh khiến Liên Xô (cũ) không dám đụng tới. Nhờ thế, cuối cùng Đông Đức đã thống nhất với Tây Đức không tốn một viên đạn từ trên 30 năm nay. Nay Nước Đức Mới là cường quốc kinh tế thứ ba, thứ tư trên thế giới, các công dân được quyền hành xử các quyền tự do căn bản và xã hội phồn vinh.
***
Còn VN từ sau Thế chiến Thứ hai thì như thế nào? Nhờ lòng yêu nước và sự đấu tranh của nhân dân nên chế độ thực dân đã chấm dứt. Nhưng thay vì để lương tri hướng dẫn thực hiện dân chủ và tôn trọng tự do thực sự cho mọi người, thì Hồ Chí Minh đã vội nuốt lời hứa. Sau khi nắm quyền ở miền Bắc ông đã dùng những thủ đoạn cực kỳ gian xảo để buộc chặt đất nước trong chủ nghĩa Marx-Lenin, coi là “đũa thần”; lấy bạo lực, đấu tranh giai cấp, đàn áp các người khác chính kiến là những tiêu chuẩn giá trị trong xã hội.
Vì thế đã diễn ra cuộc nội chiến dài tàn khốc và dã man chưa từng có trong lịch sử dân tộc, với sự tiếp tay từ bên ngoài. Bao nhiêu triệu người cùng là đồng bào máu mủ đã bị giết hại trên các chiến trường Nam-Bắc. Hàng trăm ngàn người bị bị đấu tố, nhục hình, bắt con cháu tố cáo cha mẹ, ông bà. Hàng triệu người bị giam cầm trong các trại tập trung, trại cải tạo, trở thành thuyền nhân phải bỏ thân quyến và quê hương ra đi! Cao điểm của chính sách tàn bạo chưa từng có trong lịch sử dân tộc là từ 1975, khi chế độ toàn trị toàn thắng ở miền Nam!
Những tội ác khủng khiếp như vậy đối với chính đồng bào ruột thịt của mình chẳng khác những tội ác tày trời của Hitler với người Do thái.Nhưng cho tới hôm nay chưa có một nhân vật nào đương quyền của CSVN dám can đảm công khai nhìn nhận và xin lỗi trước nhân dân. Trái lại, trước sau họ vẫn phản ứng theo quán tính, tiếp tục ngụp lặn trong độc tài, đàn áp và tham nhũng; vì thế đã bỏ lỡ nhiều cơ hội canh tân đất nước!
***
Đúng vào dịp này 33 năm trước, số phận chế độ toàn trị và cả những người cầm đầu nó đang rơi vào thế cực kỳ hiểm nguy, như sợi chỉ treo ngàn cân. Bên ngoài Bắc kinh tiếp tục dùng chiến tranh gây áp lực ở biên giới phía Bắc và tiếp tay Pol Pot để CSVN bị sa lầy. Không những thế, VN còn bị Hoa Kỳ (HK) và các nước Tây phương phong tỏa thương mại và tẩy chay ngoại giao. Nguy hiểm nữa là Liên Xô khi đó, mụ đỡ tinh thần và vật chất cho CSVN, cũng đang rơi vào tình trạng tổng khủng hoảng. Giữa khi ấy ở trong nước nạn đói khủng khiếp không kém thời 1945, tiền Đồng bị mất giá với nạn lạm phát phi mã 700-800%. Nhân dân bất mãn. Cán bộ, đảng viên mất niềm tin.
Vì thế đúng vào những ngày này 33 năm trước, tại Đại hội 6 (15-18.12.1986) Trường Chinh thề thốt “Lấy dân làm gốc”, Nguyễn Văn Linh long trọng tuyên bố “Đổi mới hay là chết”! Sau đó họ còn hồ hởi tuyên bố “Cởi trói” cho người cầm bút và tôn trọng quyền phản biện của các chuyên viên và trí thức. Từ Hội nghị Đại biểu toàn quốc 1.1994 Đỗ Mười đã hứa đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp! Nay Nguyễn Phú Trọng cũng hô hoán như thế. Nhưng hơn ba thập niên sau, mặc dầu Liên Xô đã tan rã, chủ nghĩa Marx-Lenin đã bị vất vào sọt rác, nhưng dịp kỉ niệm 100 năm chế độ Xô-viết người cầm đầu chế độ Nguyễn Phú Trọng vẫn còn ngủ mơ, lảm nhảm nói sảng rằng: “Tinh thần Cách mạng Tháng 10 và những thành quả lịch sử cũng như những cống hiến to lớn của nhân dân các dân tộc trong Liên bang Xô-viết đối với loài người mãi mãi không bao giờ phai mờ, mãi mãi sẽ còn ghi đậm trong tâm trí của mọi người có lương tâm trên toàn thế giới”. (Diễn văn của Nguyễn Phú Trọng tại lễ Kỉ niệm 100 năm Cách mạng Tháng 10 Nga (1917-2017), Nhân dân 5.11.17)
Nay đất nước đang chuyển sang năm 2020. Nhưng sau 33 năm gọi là “Đổi mới” đó, VN đang đứng ở vị thế nào? Trí thức được mở miệng? Các quyền căn bản của nhân dân được tôn trọng? Việt Nam đã trở thành một nước công nghiệp tiên tiến, hay đang trở thành bãi rác chứa chất thải độc hại do các công ty nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước tự do thải ra? Các quan đỏ nắm quyền lực đang phục vụ nhân dân, hay chỉ lo tham nhũng đất đai và tiền bạc? Biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ, hay đang để người “Bạn” Tập Cận Bình của Nguyễn Phú Trọng cày nát biển Đông?
Giữa lúc triều đại Tập Cận Bình cổ súy chủ nghĩa tân đế quốc theo đuổi tham vọng “Thực hiện giấc mộng vĩ đại cùa Trung quốc”, khiến nước này đang như con hổ đói. Tại Hội nghị cấp cao kỷ niệm 70 năm thành lập NATO (3-4.12.2019) ở London, mặc dù còn có nhiều khác biệt, nhưng NATO đã chính thức coi chính sách tăng cường hải quân-không quân và uy hiếp biển Đông của Cộng sản Trung quốc (TQ) là một “thách đố” nghiêm trọng tới an ninh thế giới!
Nhưng mới đây Nguyễn Phú Trọng lại vẫn nhu nhược và ngờ nghệch cho công bố “Sách trắng Quốc phòng 2019” với chính sách 4 không: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nuớc này để chống nuớc kia; không cho nuớc ngoài đặt căn cứ quân sự, hoăc sử dụng länh thổ Việt Nam để chống lại nuớc khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”. (tr. 25, QPVN 2019).
Tại Diễn đàn Hương sơn ở Bắc kinh (BK) lần thứ 9 ngày 21.10.19 trước sự hiện diện của bộ trưởng quốc phòng nhiều nước và các chuyên viên quốc tế, trong diễn văn khai mạc Bộ trưởng Quốc phòng Trung quốc Ngụy Phượng Hòa đã lập lại quan điểm của Tập Cận Bình: Biển Đông là “phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung quốc”. Trong khi đó cũng tại Hội nghị này, Bộ trưởng Quốc phòng CSVN Ngô Xuân Lịch không dám phản bác thẳng thắn chính sách đế quốc của Ngụy Phương Hòa, nhưng lại ấp úng, chỉ lập lại chủ trương 4 không và kêu gào những điều hoàn toàn không có thực trong quan hệ giữa hai nước: “Trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và phát huy truyền thống đoàn kết, hữu nghị, những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc cần được kiên trì xử lý theo tinh thần thỏa thuận cấp cao giữa lãnh đạo hai nước” (BBC,VOA, Reuters 22.10.19).
Chẳng những thế ngày 10.12.19 Đại sứ TQ Hùng Ba còn được mời tới Học viện Chính trị Quốc gia HCM “giảng bài cho lớp đào tạo cán bộ quy hoạch cấp chiến lược Việt Nam”. Trong đó ông đã lên tiếng như chỉ bảo cho 100 học viên là Ủy viên Trung ương tương lai sẽ nắm giữ các chức vụ then chốt tại Đại hội 13 vào đầu năm 2021: “Là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, hai nước Trung-Việt có con đường phát triển tương tự, tiền đồ và vận mệnh tương quan, việc tăng cường giao lưu kinh nghiệm quản lý Đảng và quản lý đất nước giữa hai Đảng trong tình hình mới có ý nghĩa chiến lược quan trọng!” (đài Bắc kinh 14.12.19)
Từ tháng 7.2019 bá quyền BK lại ngang ngược cho mấy chục tàu hải quân TQ cày nát biển Đông, thuộc khu vực lãnh hải của VN. Trong khi nhiều tổ chức xã hội dân sự, nhân sĩ, trí thức, thanh niên và cả đảng viên tiến bộ đòi phải đưa những đòi hỏi sai trái và ngang ngược của BK ra kiện tại Tòa án Quốc tế, thì Nguyễn Phú Trọng lại ra lệnh báo chí xuyên tạc và bôi nhọ, và để công an đe dọa khủng bố và bắt giam nhiều người dân chủ! Đồng thời không cho phép Quốc hội (QH) được công khai thảo luận về sự xâm lấn của BK! Vì thế trong khi đất nước đang phải đối diện đương đầu với chủ trương bành trướng xâm lược hiện nay của Tập Cận Bình thì việc thực hiện chính sách quốc phòng-ngoại giao 4 không này, rõ ràng không phải là “ngăn địch từ xa” mà chính là mời kẻ thù vào nhanh hơn, thả cửa cho con hổ đói Trung quốc lộng hành. Do đó chính sách quốc phòng-ngoại giao 4 không này sẽ dẫn tất yếu tới cái không thứ 5, đó là không bảo vệ được chủ quyền biển-đảo, tài nguyên và quốc phòng của VN!
Những người cầm đầu chế độ toàn trị cũng không dám nhìn thẳng vào thực trạng tang thương của đất nước và cơ cực của nhân dân, do chính những sai lầm và tàn bạo do họ gây ra. Nguyễn Phú Trọng đã từng mở miệng: “Dân chủ như thế là cùng”, “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Nhưng giữa khi ấy hình ảnh 39 thanh thiếu niên VN bị chết đông lạnh trong các container trên đường đi tìm cuộc sống mới đã làm thế giới bàng hoàng và đau buồn về một nước đang phải sống dưới chế độ đứng đầu về chà đạp nhân quyền, kìm kẹp báo chí!
Sau 33 năm đổi mới giả hiệu, chế độ toàn trị độc tài gian ác tưởng như vẫn vững chắc. Nhưng thực sự nó đang biến dạng từ chế độ độc tài của một đảng trở thành chế độ độc tài cá nhân với sự tiếp tay và thỏa hiệp giữa một số nhóm lợi ích với các đại gia đỏ đang thao túng chính trị, chiếm đất vàng, xây biệt điện và tham nhũng tiền bạc. Họ đang dùng quyền-tiền để buôn bán và tham nhũng, từ thượng tầng trong Bộ chính trị, Trung ương đảng, các Ban trong đảng, các Bộ trong chính phủ tới các thành ủy, tỉnh ủy trên toàn quốc. Sự tha hóa đạo đức cùng cực của tầng lớp cán bộ có quyền đã khiến số đảng viên bất mãn ngày càng gia tăng, khinh bỉ thành phần lãnh đạo. Vì thế Nguyễn Phú Trọng đã phải ra Quyết định số 102/QĐTW 15.11.17 cực kỳ phản động: “Đảng viên sẽ bị kỉ luật bằng hình thức khai trừ, nếu đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, “đa nguyên, đa đảng”; bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước”.
Hiện nay chính người cầm đầu chế độ Nguyễn Phú Trọng lại tiêu biểu nhất về tha hóa đạo đức trong thao túng quyền lực. Ông Trọng thề thốt “nhốt quyền lực”, “nêu gương”, “minh bạch” … nhưng các lần lấy phiếu tín nhiệm lại không dám công bố kết quả. Các lớp “đào tạo cán bộ cấp chiến lược” đã cài cắm gần 200 cán bộ sẽ được đưa vào Trung ương đảng Khóa 13 (đầu 2021) để nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong Đảng và Chính phủ (CP), nhưng lại giấu nhẹm danh sách những người này, chỉ có Nguyễn Phú Trọng và những người trong phe nhóm biết! Từ nhiều năm nay do đầu óc cực kỳ bảo thủ và suy thoái đạo đức, nên ông Trọng đã tự xếp mình là “người đặc biệt” cực kỳ tham nhũng quyền lực. Vì thế mặc dầu từ gần một năm nay tuy bị bệnh nặng, không còn đủ sức khỏe để đảm đương việc nước, đang phải nhờ người dìu, sắp trở thành ngọa long hoàng đế đỏ, nhưng vẫn cố bám cả hai ghế Tổng bí thư (TBT) và Chủ tịch nước (CTN)!
***
Nói cho cùng, trong chính trị có nhiều loại người lãnh đạo, nhưng trong đó có hai loại người cầm quyền nổi bật nhất. Những người lãnh đạo biết dùng lương tri để hướng dẫn tri thức và hành động để xây dựng hạnh phúc cho nhân dân và đưa đất nước đi lên. Và những người cầm đầu chỉ lấy gian xảo và tàn ác làm kim chỉ nam cho các hành động của mình để xây dựng và bảo vệ quyền lực và tiền bạc bất chính!
Nước Đức đã đổi mới, đã thay đổi toàn diện và triệt để là do dứt khoát biết thay đổi chế độ chính trị. Từ chế độ Quốc xã độc tài, tôn thờ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhưng từ sau Thế chiến Thứ hai đã dứt khoát chọn và thực hiện chế độ Dân chủ đa nguyên. Còn tại VN chế độ độc tài vẫn ngự trị và áp dụng chủ nghĩa sai lầm Marx-Lenin, nên trước sau không thể đổi mới được. Đây là một sự thực không ai có thể phủ nhận được. Từ Đại hội (ĐH) 6 (12.1986) tới nay 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng đã lừa đảo nhân dân và đảng viên, trương cờ “Đổi mới”, nhưng thực tình họ vẫn là những người độc tài, tôn thờ chủ nghĩa Marx-Lenin đã bị lịch sử vất vào sọt rác!
Đây là kết luận qua những dẫn chứng rất cụ thể và rõ ràng trong sách nghiên cứu “Việt Nam “Đổi mới”?! Hay: Treo đầu dê, bán thịt chó” !” trên 700 trang vừa phát hành ở Hoa Kỳ. Trong đó xuyên qua 11 chương, tác giả đã phân tích và dẫn chứng theo phương pháp khoa học, trình bày rõ ràng về các nguyên nhân và những công thức sai lầm đã khiến chủ trương gọi là “Đổi mới” đã đi đến thất bại; đồng thời nêu rõ những hậu quả vô cùng tai hại cho đất nước. Nhưng hiện nay sự tranh giành quyền lực và tiền bạc giữa các phe nhóm ngày càng tàn bạo và quỉ quyệt; vì thế theo qui luật “cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu” đang mở ra cơ hội tốt để thoát khỏi nạn độc tài, đưa đất nước thực sự thành một Nước Việt Nam Mới!
Để độc giả tiện theo dõi, toàn bộ ba chương cuối sẽ được phổ biến trong ba lần liên tiếp. Mở đầu loạt bài này, dưới đây là toàn bộ Chương 9:
Chương chín: Kết quả thực tiễn trên 30 năm “Đổi mới”
I. Mô hình “đổi mới” trên 30 năm qua
Sau trên 30 năm “Đổi mới” từ 1986 trải qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng và xuyên qua 7 ĐH (từ ĐH 6 tới ĐH 12). Không biết bao nhiêu Nghị quyết đã được ban hành đề ra mục tiêu là, đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng trong cuộc họp nội các vào cuối năm 2014 sau gần 30 năm tiến hành “đổi mới”, Nguyễn Tấn Dũng lại than, “sao lại cứ phải đứng sau 6 nước ASEAN? Chúng ta có đuổi kịp được ASEAN-6 không? Không có lý do gì chúng ta không cải thiện được để bằng ASEAN-6”? [1] Trong thực tế nhiều mặt VN còn đi sau cả Campuchia và Lào.
Sau gần 30 năm đổi mới, lợi tức đầu người /năm của VN vào năm 2014 mới chỉ 2.052 USD, tức là VN mới chỉ bước vào những nước đang phát triển ở mức trung bình thấp. Trong khi đó Singapore lên tới56.287 USD, Mã lai á là 10.830 USD, Thái lan là 5.561 USD và Nam dương là 3.515 USD.PGS, TS Phạm Quý Thọ thuộc Học viện Chính sách và phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận xét, “chỉ tiêu này của nước ta tụt hậu so với Hàn quốc chừng 30 đến 35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái lan chừng 20 năm, Indonesia và Philippines chừng từ 5 đến 7 năm. Đến năm 2038 VN mới có thể bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới có thể bắt kịp Thái Lan”. [2]
Nếu xét về mặt diện tích và dân số thì VN không phải là nước nhỏ. Với dân số gần 94 triệu (2017) VN đứng thứ 13 trên thế giới[3]; với diện tích trên 331.114 km² VN đứng thứ 65. Nhưng về mặt kinh tế, xã hội (phát triển con người -HDI) hiện nay VN lại đứng thứ 116 trong tổng số gần 200 nước và ốc đảo trên giới.[4] Nhiều người cầm đầu chế độ toàn trị thường đổ lỗi cho rằng, VN là một nước nhược tiểu, đất hẹp, dân không đông và tài nguyên không nhiều. Đây là những khẳng định cực kỳ sai lầm để trốn tránh trách nhiệm. Một số các nước trong khu vực như Nam Hàn diện tích chỉ trên 99.000km², 50,6 triệu người, nhưng lợi tức đầu người 2015 trên 27.000 USD đang là nước giầu mạnh, công nghiệp cao. Nhật có dân số gần gấp rưỡi VN, diện tích xấp xỉ với VN, tài nguyên thiên nhiên không nhiều, nhưng từ lâu đã trở thành cường quốc kinh tế, lợi tức đầu người năm 2015 là gần 37.000 USD. Về dân số và diện tích giữa VN và Đức không chênh lệch bao nhiêu; nhưng Đức, cũng như Nhật, từ đống tro tàn sau Thế chiến thứ 2 đã nhanh chóng vượt lên thành cường quốc kinh tế đứng thứ ba, thứ bốn trên thế giới.
Những câu hỏi trung tâm rất nghiêm túc cần được đặt ra là, tại sao nhiều nước ngay trong khu vực khi bước vào thời kì phát triển kinh tế thì cũng ở trình độ ngang ngửa như VN, nhưng nay đã bỏ xa VN để trở thành các nước công nghiệp hàng đầu, lợi tức cao gấp mấy chục lần VN? Người dân không chỉ sống sung túc mà còn được tôn trọng nhân phẩm. Phải chăng các mô hình chính trị, kinh tế, giáo dục và văn hóa là những nền tảng căn bản cho sự tiến lên hưng thịnh, hạnh phúc và văn minh, hay sự tụt hậu, nghèo đói và tha hóa đạo đức của một xã hội? VN đang áp dụng mô hình chính trị-kinh tế nào, có những đặc điểm gì?
Trong suốt trên 30 năm cải cách kinh tế chưa bao giờ VN theo mô hình kinh tế thị trường hiện đại như ở các nước Tây phương. Mô hình phát triển của VN là “Kinh tế thị trường Định hướng XHCN”. Mô hình này có một số đặc tính căn bản khác biệt hoàn toàn với các nền Kinh tế thị trường hiện đại ở các nước Tây phương trong các lãnh vực then chốt:
Chế độ độc đảng: ĐCS, cụ thể là Bộ chính trị (BCT) và Ban bí thư (BBT), trước sau vẫn chỉ huy toàn bộ và trực tiếp các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa- giáo dục, tôn giáo và xã hội.
Công hữu toàn dân về đất đai (ĐCS là chủ nhân trong đất đai)
Doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo
Kinh tế tư nhân nội địa tuy được công nhận, nhưng chỉ ngồi rìa, đứng bên lề trước thế lực mạnh của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và sức ép của FDI (công ti nước ngoài).
Như thế cho thấy mô hình phát triển kinh tế của VN từ 1986 tới nay vẫn còn giữ căn bản mô hình kinh tế của chế độ toàn trị như ở Liên Xô cũ, với một số biến thể, mặc dầu chế độ toàn trị ở Liên Xô đã tan rã từ 1991. Trong đó ĐCSVN vẫn là người cầm trịch không chỉ trong chính trị, tư tưởng và văn hóa, mà cả trong kinh tế-xã hội.Mỗi ĐH vẫn đưa ra kế hoạch ngũ niên do ĐCS độc quyền từ các khâu hoạch định, đường lối tới các biện pháp…Nhưng dĩ nhiên trong giai đoạn và điều kiện Chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên toàn thế giới đang tan rã ngay từ cái nôi, nên những người cầm đầu CSVN bắt buộc phải dùng những từ ngữ và ngôn ngữ mới, để tạo những hi vọng mới, để tỏ ra họ là những người thức thời và nhờ thế mới có thể biện minh cho sự tiếp tục cầm quyền độc tôn!
Mô hình phát triển kinh tế này chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại và đối lập với nhau. Nó được thực hiện trong thời kì CNXH theo ý thức hệ Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận, thế giới CS tan rã. ĐCSVN cũng rơi vào thế sợi chỉ treo ngàn cân. Suốt trên 30 năm đổi mới từ 1986, đặc biệt từ giữa thập niên 90 khi thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ và thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, mô hình phát triển kinh tế của chế độ toàn trị dựa trên một số cơ sở làm tiền đề đặt trọng tâm cho phát triển kinh tế. Đó là:
Nhân công rẻ
Khai thác nông sản
Khai thác khoáng sản
Ưu đãi cho tư bản nước ngoài vào đầu tư
Tranh thủ nguồn vốn ODA trong xây dựng hạ tầng
Đặt trọng tâm trong xuất cảng
Nhưng các cơ sở trên phải được đặt trong một khung kiên cố, nói thẳng ra là bị nhốt trong một cái lồng, đó là CNXH với tư tưởng Marx-Lenin làm chỉ đạo và trong cái lồng này, ĐCSVN chỉ huy độc quyền trực tiếp và toàn diện từ tổ chức, thực hiện, giám sát các hoạt động kinh tế-xã hội. ĐH 12 đã làm công việc tổng kết 30 năm thực hiện chính sách đổi mới (1986-2016) qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng.
Mặc dù những người đứng đầu luôn mở miệng khẳng định là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết và đường lối. Nhưng khi họ phải đối diện với những kết quả rất xấu thì lại không dám nhận đã chọn lí thuyết sai, ở đây là chủ nghĩa Marx-Lenin. Họ lờ đi hoặc nhận lỗi qua loa, nhưng đổ lỗi chính vì những lí do bên ngoài. Thái độ rất chủ quan, giáo điều, lừa dối và tô vẽ cho rằng, 30 năm đổi mới không chỉ tạo ra những thành tích tuyệt vời trong kinh tế-xã hội, mà cả trong lãnh vực chính trị cũng đã có nhiều cải cách theo hướng “lấy dân làm gốc” và dân chủ hơn ngàn lần các nước Dân chủ đa nguyên… Tiêu biểu nhất cho lập trường này là Báo cáo Chính trị và Kinh tế-Xã hội tại ĐH 12 của TBT Nguyễn Phú Trọng ngay vào ngày đầu của ĐH 12.[1] (Xem Chương tám, IV).
***
Trong dịp này một số chuyên viên trong nước từ gần với đảng hay đứng vị thế độc lập của những người người làm công tác khoa học, trong đó có cả một số chuyên viên VN ở nước ngoài, đã công bố các bài nghiên cứu hoặc trả lời phỏng vấn liên quan tới chủ đề kết quả 30 năm đổi mới.
Trước hết phải nói tới nhận định rất thắng thắn của cựu bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh ngay trước ĐH 12 khi ông còn là Bộ trưởng và Ủy viên Trung ương (UVTU), như đã trình bày ở Chương tám, IV:
“ 70 năm qua, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp trong hệ thống chính trị gần như không thay đổi”. Và “Một hệ thống chính trị phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh, nay đã không còn phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, thậm chí là rào cản, trở ngại cho sự phát triển”. [2]
Chia sẻ quan điểm nàyGS Vũ Dương Ninh, Đại học Quốc gia Hà nội (HN), cho biết, trước đó 5 năm Nghị quyết của ĐH 11 (1.11) -khi đó Nguyễn Phú Trọng được bầu làm TBT- đã lập lại mục tiêu là,đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng ĐH 12 đã phải nhìn nhận rằng, mục tiêu này không thể đạt được.[3]Ngay cảnguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN, GS TS Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu của chế độ toàn trị , từng là UVTU suốt ba nhiệm kì từ ĐH 8-10 và có chân trong Hội đồng Lí luận Trung ương (TU) -một cơ quan cố vấn về tư tưởng và chính trị cho TUĐ, BCT và BBT-, trong một bài phân tích rất dài 14 trang trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 1, 1.15 với tựa đề “Những đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong 30 năm đổi mới”. Ông đã liệt kê các quyết định của đảng xuyên qua 6 Đại hội từ 1986 tới ĐH 11 (2011) với việc sử dụng “kinh tế tri thức” và đầu tư của nước ngoài nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp tới xuất nhập cảng. Ông ca tụng các quyết định này và coi đó là những biện pháp sáng suốt của ĐCS, nhằm đưa VN, từ một nước đi sau và công nghiệp hóa muộn, có thể đạt mục tiêu “rút ngắn quá trình công nghiệp hóa đất nước bằng sức mạnh của thời đại và sức mạnh nội sinh của đất nước”. Nhưng cuối cùng trong phần kết luận Đỗ Hoài Nam phải nhìn nhận kết quả thực tiễn sau 30 năm đổi mới là, “nhìn trên tổng thể, phần lớn nông dân và người dân đô thị đang trong tình trạng nghèo tương đối, trong đó không ít người đang thực sự nghèo theo nghĩa tuyệt đối”.
Ông nêu ra câu hỏi về nguyên nhân, tại sao không đạt mục tiêu, mặc dầu các quyết định đều được coi là sáng suốt? Trong đó Đỗ Hoài Nam đã cố tình dùng các thuật ngữ trừu tượng và trình bày ngoắt nghéo, như “nguyên nhân cơ bản là, nền tảng cho sự rút ngắn này chưa được tạo lập một cách đầy đủ và vững chắc. Đó là nền kinh tế thị trường đầy đủ và hiện đại (xét cả mặt kết cấu lẫn mặt thể chế của nền kinh tế này), cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại; là khoa học và công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao; là hệ thống công ti tư nhân dựa trên sở hữu cổ phần được quản trị hiện đại, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước [và] quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và chuỗi phân phối toàn cầu và cuối cùng là vai trò vừa là bà đỡ, vừa là nhạc trưởng của Nhà nước bảo đảm co sự rút ngắn”. (tr.15)
Tuy cố tình trình bày vòng vo và tránh né không dám nêu đích danh thủ phạm đã gây ra thất bại, nhưng nhà khoa bảng XHCN hàng đầu Đỗ Hoài Nam đã gián tiếp nhìn nhận, đó là kế hoạch xây nhà trên cát; hay dùng hình tượng chuyện con nhái muốn to bằng con bò để diễn tả ý muốn công nghiệp hóa và hiện đại hóa VN thật nhanh như Nhật bản, Đại Hàn và các nước Tây phương, nhưng lại thiếu đủ mọi thứ và không có những điều kiện cần thiết; trong đó thiếu cả “ nhạc trưởng”, tức Nhà nước hiện đại trong thể chế DCĐN. Trong khi nhiều nước theo DCĐN cũng chỉ trong khoảng thời gian 30 năm đã chuyển thành công đất nước họ, từ lạc hậu chậm tiến sang công nghiệp hiện đại. Nhưng VN dưới chế độ toàn trị vẫn dẫm chân tại chỗ. Nghĩa là, chính thể chế độc tài toàn trị đã là nguyên nhân chính đưa đến thất bại trong việc canh tân đất nước và xây dựng hạnh phúc cho nhân dân trong suốt 30 năm!
Trong toàn bài, Đỗ Hoài Nam có dẫn chứng là, ngay từ ĐH 7 đã quyết định “cần đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để” (tr. 5); nghĩa là phải đối mới cả hệ thống chính trị. Nhưng khi kết luận tuy phải nhìn nhận các thất bại, nhà khoa bảng Đỗ Hoài Nam đã không giữ được tinh thần khoa học và thẳng thắn như cựu Bộ trưởng Bùi quang Vinh, nên không một lần nào dám nói thẳng là, trong suốt quá trình 30 năm, trước sau vẫn là chế độ độc tài toàn trị. Đó mới chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới thất bại!
Chế độ toàn trị đã chọn ý thức hệ sai lầm dẫn tới độc tài hà khắc, làm triệt tiêu sự phản biện rất cần thiết của một hệ thống xã hội dân sự độc lập. Vì thế toàn bộ hệ thống công quyền trở thành trì trệ và bất cập, chống lại sự canh tân và phát triển của đất nước.Đây là nhận định của PGS, TS Trần Đình Thiên nguyên là Viện trưởng Viện Kinh tế VN, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Kinh tế VN, khi nói về nguyên nhân thất bại trong kinh tế:
“ĐCS lãnh vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện”, mức độ chưa trưởng thành của Nhà nước pháp quyền, sự thiếu vắng các tổ chức dân sự đúng nghĩa, của các tổ chức phản biện xã hội độc lập, có ảnh hưởng mạnh mẽ, thậm chí là quyết định, đến kết quả hoạt động quản trị công”. [4] “Trong nhiều trường hợp, tình trạng không cụ thể hóa mục tiêu định hướng, né tránh thảo luận cấu trúc logic của khái niệm “Định hướng XHCN” (ĐHXHCN), lặng lẽ giả định nó, coi như một tiền đề định sẵn, đã có những ảnh hưởng to lớn”. [5]
Thực tế này cũng được GS Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật bản) trình bày cặn kẽ hơn, khi ông so sánh sự phát triển kinh tế-xã hội của VN với một số nước trong khu vực thì rõ ràng khác biệt nhau cả một trời một vực.Theo tài liệu của Ủy ban LHQ về kinh tế và xã hội châu Á – Thái bình dương (ECAFE), năm 1954 thu nhập đầu người của miền Nam VN là 117 USD, xấp xỉ với Thái Lan (108) và cao hơn Indonesia (88) vào hai năm trước đó. Nhưng 60 năm sau, vào năm 2014 thu nhập đầu người của VN chỉ bằng một phần ba Thái Lan và một nửa Indonesia…Trong khi “Hàn quốc chỉ mất 16 năm (từ 1971-1987) để chuyển từ nước thu nhập trung bình thấp lên trung bình cao và chỉ mất thêm 10 năm nữa để tiến lên hàng các nước tiên tiến. Đài loan trở thành nền kinh tế tiên tiến vào năm 1995, chỉ tốn 12 năm kể từ giai đoạn thu nhập trung bình cao”. [6]
Sau hơn 40 năm hòa bình trong đó hơn 30 năm gọi là đổi mới, nhưng VN vẫn lẹt đẹt thuộc những nước có thu nhập trung bình thấp và đang có nguy cơ phải ngụp lặn lâu dài ở mức này. Ông Thọ còn nêu ra viễn tượng kinh tế VN vào năm 2020. Hiện nay theo phân loại của Ngân hàng thế giới, bình quân đầu người từ 1.000 đến 12.000 USD là nước có thu nhập trung bình, trên 12.000 USD là nước thu nhập cao. Do đó một nước được gọi là công nghiệp phải ở mức trên 12.000 USD. VN hiện nay mới gần 2.000 USD. Đến năm 2020 có lẽ cũng chỉ đạt được khoảng 3.000-3.500 USD, tức là thuộc các nước có mức trung bình thấp. [7]
Nông nghiệp: Bỏ rơi nông dân và nông thôn!
Chủ trương công nghiệp hóa nông nghiệp, nhưng sau 30 năm đổi mới vẫn là cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau!
VN là một nước nông nghiệp, vào thập niên 80 của thế kỉ trước có tới 80% dân số sống và phụ thuộc vào nghề nông. Đồng bằng sông Hồng và nhất là Đồng bằng Cửu long là hai thúng gạo nuôi dân và xuất cảng để tạo cơ sở và ngân sách cho xây dựng công nghiệp, phát triển bền vững cho toàn quốc. Nếu hiểu thấu đáo thế mạnh này của VN và có được một tầm nhìn xa thì một nhà nước sáng suốt không chỉ tìm cách làm phục hồi nông nghiệp, mà còn phải canh tân, công nghiệp hóa mọi khâu trong nông nghiệp. Từ tạo kiến thức trồng trọt cho nông dân, đem điện nước, đường xá, trường học và y tế về thôn xã, trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân, và có những chính sách khuyến khích nông dân tự nguyện hợp tác để sử dụng kĩ thuật canh tác mới nhằm gia tăng năng suất và tăng lợi tức cho nông dân, tức là gia tăng sức mua và đầu tư của 80% dân số. Ngoài ra nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản để làm tăng giá trị các mặt hàng này; khuyến khích và hỗ trợ nông dân tự thành lập các trung tâm hiện đại lưu trữ gạo, rau trái và các tổ chức của nông dân theo dõi thị trường nông nghiệp trên thế giới để tạo thương hiệu có uy tín cho các sản phẩm nông nghiệp của VN và có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế.
Các chính sách trên đây không phải là những điều mới lạ, trái lại đã được thực hiện thành công ở nhiều nước phương Tây dưới nhiều tên gọi nổi tiếng, như “Chương trình xanh” trong ngành nông nghiệp, như Hòa lan, Đức, Pháp, Hoa Kỳ và Gia nã đại. Đúng ra là một nước đi sau, nên VN cỏ thể học hỏi nhanh chóng và hiệu quả kinh nghiệm và kĩ thuật của các nước này.
Sau chiến thắng 1975 những người cầm đầu say mê với thành tích con đường XHCN đã dẫn tới chiến thắng vẻ vang trong chiến tranh thì tất yếu cũng sẽ dẫn tới thắng lợi thần kì trong kinh tế! Đây là tư tưởng rất lạc quan từ Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng tới hầu hết các ủy viên BCT khi ấy. Vì thế mô hình kinh tế theo XHCN đã được thi hành cấp tốc và triệt để trong nông nghiệp với các Hợp tác xã (HTX), trong thương nghiệp với xóa bỏ tư sản mại bản kinh tế tư nhân và thành lập các thương nghiệp quốc doanh, trong công nghiệp với hàng loạt doanh nghiệp quốc doanh. Nhưng sau đó không lâu, mô hình phát triển theo XHCN đã dẫn tới bế tắc toàn diện. Nông dân không chịu làm ăn, thương nghiệp nhà nước không có hàng để bán, các DNNN ngồi chơi. Dẫn tới nạn đói khủng khiếp vào giữa thập niên 80, khiến cho hàng triệu người rơi vào cảnh đói và khủng hoảng lương thực trầm trọng như thời 1945. Trong khi các cán bộ cao cấp được hưởng các chính sách ưu đãi từ nhà cửa, xe đưa đón tới chế độ ăn uống ngon và đầy đủ; còn người dân thì không có cả thịt, cá, vải, thuốc men và các nhu yếu phẩm hàng ngày.[8] Nhóm cầm đầu giáo điều mới thấy là không thể tiếp tục mô hình tập thể hóa nông nghiệp HTX theo kiểu Liên Xô và TQ được nữa, nếu không thì nông dân và thị dân sẽ nổi loạn.
Nhưng sau ĐH 6 (12.86) phải đợi thêm hơn một năm, sau những tranh cãi gay gắt giữa các phe trong BCT và TU, mới ra được Nghị quyết (NQ) 10 ngày 5.4.1988, được gọi là Khoán 10. Tuy vậy đảng xuyên qua nhà nước của đảng vẫn tiếp tục giữ độc quyền công hữu ruộng đất, nông dân vẫn phải thuê ruộng (xem Chương một, III và Chương hai, V). Tuy đây chỉ là chính sách đổi mới nửa vời, nhưng đã làm cho nông dân gắn bó siêng năng với đồng ruộng, thửa vườn, cái ao và gia súc. Nhờ thế sản lượng nông nghiệp đã gia tăng mạnh và liên tiếp trong nhiều năm. Khiến cho từ khủng hoảng lương thực với nạn đói trầm trọng, từ 1989 đã trở thành một nước xuất cảng gạo.
Trước khi có Khoán 10, sản suất lúa cả nước chỉ khoảng 13 triệu tấn, hàng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn.[9] Năm 2017 sản lượng lúa đã đạt khoảng 42,84 triệu tấn.[10] Trong những năm gần đây số gạo xuất khẩu đã lên tới gần 8 triệu tấn, đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng gạo.[11]Nhưng nay sau hơn 30 năm nông dân và nông nghiệp tại VN vẫn phải đối diện gay gắt trong nhiều vấn đề. Nhiều chuyên viên trong nước ta thán là, tại sao VN đang là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, nhưng đại đa số nông dân vẫn rất nghèo, ngay cả nông dân Đồng bằng Cửu long, vựa thóc của cả nước? Trong khi ấy ngay sau Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì tháng 1.94 (Khóa 7), tại Hội nghị trung ương (HNTU) 7 (7.94) đã đưa ra nghị quyết với tham vọng “phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn gắn với đô thị hóa nông thôn”.[12]
Tại sao giá gạo của VN vẫn thấp hơn nhiều gạo Thái lan và cho tới nay sau mấy chục năm xuất khẩu, nhưng gạo của VN vẫn chưa có thương hiệu uy tín trên thị trường quốc tế, chỉ bán được cho một số nước với giá thấp? Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách tam nông (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) coi “nông nhiệp là mặt trận hàng đầu”, nhưng tại sao máy móc và kĩ thuật canh tác vẫn rất lạc hậu, tiếp tục lối làm ăn thô sơ con trâu đi trước cái cày đi sau? Tại ĐH 10 (2006) những người cầm đầu toàn trị thổi lên tiêu chí từ “ăn no” sang “ăn ngon”! UVTU Đỗ Hoài Nam khi ấy đã cho biết, ĐH 10 đã ra NQ khẳng định đưa “nền nông nghiệp VN phải hình thành được một số sản phẩm chủ lực, mũi nhọn có lợi thế phát triển, có phẩm chất tốt, chất lượng cao và qua chế biến sâu, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới để có giá trị gia tăng cao”. Ông còn cho biết thêm, tại HNTU 7 Khóa 10 đã ra NQ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng này và lãnh đạo vẫn tuyên bố, nông nghiệp là mũi nhọn.[13]
Nhưng tại sao tới nay vẫn thường diễn ra “được mùa mất giá” cho nông dân? Tại sao sau hơn 30 năm vẫn không lập được các trung tâm lưu trữ gạo hiện đại và không thiết lập được công nghiệp chế biến nông sản; trong khi đó lại bỏ hàng ngàn tỉ đồng xây các cảng để chỉ nằm đắp chiếu, hay bỏ ra cả hàng trăm tỉ hoang phí để xây các tượng đài cho các nhà độc tài của Đảng? Sau 30 năm đổi mới, nhưng tại “Diễn đàn nông nghiệp” do CP tổ chức vào giữa tháng 10. 2016 lại vẫn lập lại, phải tạo một thương hiệu quốc tế tốt cho gạo xuất khẩu của VN! Nhưng nhiều chuyên gia đã chua chát nói thẳng: “Thương hiệu gạo, có đâu mà mất!” [14]
Một sản phẩm (công nghiệp hay nông nghiệp) phải có chất lượng tốt, được tín nhiệm của khách hàng, người tiêu dùng tín nhiệm và sẵn sàng trả giá cao. Họ sẽ tiếp tục tìm thương hiệu này. Thí dụ như trong sản phẩm xe hơi và điện tử, người tiêu dùng thường thích xe hơi Toyota, Mercedes và Samsung…. vì có phẩm chất tốt. Nhưng sau gần 30 năm xuất cảng gạo, gạo của VN vẫn không có thương hiệu có uy tín trên thị trường nông sản thế giới. Đầu năm 2016 nhiều chuyên viên và ngay cả các cán bộ phụ trách nông nghiệp cũng đã ta thán và nhìn nhận tình hình rất bất lợi này trong việc xuất cảng các nông sản của VN… Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu, bộ Công thương Trần Thanh Hải cho biết, năm 2015 gạo VN chiếm trên 50% tổng số gạo nhập khẩu của TQ, nhưng tại các siêu thị và cửa hàng lại không tìm ra gạo mang thương hiệu VN. Trong khi ấy, gạo Campuchia lại chễm chệ trên các cửa hàng. Chè, cà phê, hạt tiêu… là các nông sản xuất khẩu lớn của VN, nhưng vị thế cũng tương tự. Cựu Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II (thành phố HCM) Vũ Trọng Khải cho biết, nguyên nhân đang gây bất lợi cho quyền lợi của nông dân, là vì các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở VN đều là DNNN, nên vẫn giữ tâm lí thờ ơ cha chung không ai khóc! [15]
Tại Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới 30.9.16 với sự hiện diện của tân TT Nguyễn Xuân Phúc, được biết sau 30 năm thực hiện chủ trương lấy nông nghiệp làm mũi nhọn để xây dựng “nông thôn mới” nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân, nhưng tới tháng 9.16 mới chỉ có 2.045 xã (23%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.[16] Liệu con số đưa ra có chính xác không, không ai biết. Nhưng sau 30 năm mới chỉ có gần ¼ xã ở nông thôn tên toàn quốc đạt tiêu chuẩn nông thông mới. Đây là nhìn nhận thất bại trong việc cải thiện đời sống mấy chục triệu nông dân!
Trong khi chính phủ Nguyễn Tấn Dũng bảo đảm để nông dân được hưởng lãi ít nhất là 30% so với giá thành, nhưng dịp này tại QH bộ trưởng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao đức Phát lại cho biết, “giá thành 1 kg lúa là 4.100đ/kg như vậy giá thu mua lúa phải đạt 5.400đ/kg thì người trồng lúa mới lãi 30%. Nhưng hiện nay giá lúa khô loại thường nông dân cũng chỉ bán được 4.500đ, lúa hạt dài khoảng 4.800đ”. Nghĩa là chỉ đạt được 10% lãi. Bà Phạm Chi Lan cho biết, từ 2007 khi VN gia nhập WTO thì đầu tư cho nông nghiệp đã giảm rất mạnh và liên tục, “trước khi VN gia nhập WTO thì tỷ trọng đầu tư toàn xã hội vào nông nghiệp nhất là đầu tư của Nhà nước cũng còn tương đối cao chiếm tới 13,8% trong tổng mức đầu tư, nhưng sau vài năm tham gia vào WTO thì mức đầu tư vào nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 6,4% trong tổng mức đầu tư phát triển”.Đây rõ ràng là thái độ trọng công, khinh nông và bỏ nội, trọng ngoại của những người làm chính sách. Theo bà, chính sách bỏ rơi nông dân và nông nghiệp của chính quyền CSVN hoàn toàn trái ngược với các nước khác, “hầu hết các nước khi hội nhập họ đều lo bảo hộ nông sản, nhưng VN thì ngược lại buông nông sản, buông nông nghiệp và ngành này phải tự bơi tự bươn chải”. Trong khi ấy “ nguồn lực đầu tư dồn quá nhiều cho DNNN, quá nhiều cho các Tập đoàn Kinh tế để rồi họ gây biết bao vấn đề cho nền kinh tế hiện nay”. [17]
Thái độ khinh nông dẫn tới các chính chính sách bỏ rơi nông dân đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp đã giảm liên tục từ giữa thập niên 90. Trong dịp tổng kết 30 năm đổi mới vào dịp ĐH 12 nhiều chuyên gia về nông nghiệp thảo luận trên các cơ quan truyền thông. Họ sử dụng ngay lí luận của chế độ toàn trị là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết đúng hay sai. Khi “Tổng kết thực tiễn” trong 30 năm đổi mới trong nông nghiệp họ đã nhận thấy rất rõ, tốc độ trăng trưởng trong nông nghiệp không tăng, trái lại đã giảm liên tục từ kế hoạch ngũ niên này sang kế hoạch ngũ niên khác.
Theo Tổng Cục Thống kê, khu vực nông, lâm và thủy sản tăng 0,65%, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 6 năm.[19] Các con số trên giải thích tình trạng chung trong sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp đã bị bỏ rơi, nông dân không được giúp đỡ các mặt cần thiết, nên năng suất lao động trong nông nghiệp rất thấp và giảm liên tục. Trong bản Báo cáo 2016 của Ngân hàng Thế giới (WB) về phát triển nông nghiệp của VN đã xác nhận lối canh tác chậm tiến, lạc hậu thiếu cơ giới hóa nông nghiệp và lạm dụng thuốc trừ sâu, nông dân thất nghiệp gia tăng, chất lượng xấu.[20] WB còn cho biết, những năm gần đây mỗi năm nông nghiệp VN phải chịu thiệt hại khoảng 1 tỉ USD vì mất thị trường xuất khẩu do không tuân thủ các qui định vệ sinh an toàn thực phẩm.[21]
Cuối tháng 8.16 bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn (NN&PTTN) đã họp tổng kết 3 năm tái cơ cấu trong nông nghiệp (2013-15) có mặt Phó TT Trịnh Đình Dũng và bộ trưởng Nông nghiệp Nguyễn Xuân Cường. Các viên chức này xác nhận, không có chuyển biến thuận lợi, vì ruộng đất vẫn bị xé nhỏ cho nên không thể công nghiệp hóa nông nghiệp.[22] Ngân hàng Thế giới cho biết, đất nông nghiệp chia theo đầu người ở VN rất thấp, “chỉ đạt bình quân 0,07 hecta, thấp hơn nhiều so với tỉ lệ 0,27 hecta mỗi người tại Thái lan .[23] TS Lê Đăng Doanh nêu rõ một nguyên khác khiến các sản phẩm nông nghiệp có giá trị rất thấp và nông dân nghèo, vì nền nông nghiệp VN chưa phát triển được công nghiệp gia công chế biến là làm tăng thêm giá trị gia tăng. [24]
Chính vì thế đời sống của mấy chục triệu nông dân tiếp tục trong cảnh đói nghèo, ngay cả ở Đồng bằng Cửu long, vựa thóc cả nước. Họ dẫn chứng, một gia đình nông dân hai vợ chồng và hai con mức thu nhập từ 8 công ruộng ba vụ mỗi năm được tổng cộng 40 triệu đồng. Nếu chia theo đầu người thì mỗi người chỉ được 10 triệu đồng/năm, tức trung bình chỉ được 840.000đ/tháng, tương đương với 40 USD/tháng. Trong khi đó mức thu nhập đầu người bình quân năm 2013 ở VN là 1.960 USD, tức khoảng 150 USD/tháng.[25] Như thế mức chênh lệch giầu nghèo giữa thành thị và thôn quê rất lớn.
Nhìn tổng thể về kết quả 30 năm gọi là “đổi mới” xuyên qua 6 ĐH và bao nhiêu HNTU và các nghị quyết về công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu XHCN đã từng đóng góp ý kiến cho BCT và BBT trong nhiều nhiệm kì đã phải nhìn nhận tình trạng dẫm chân tại chỗ:
“Sự phát triển của nông nghiệp chủ yếu vẫn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết và phương thức canh tác truyền thống, dựa vào đất đai và lao động thủ công và vẫn nặng về sản xuất lúa gạo phẩm chất thấp, chưa chịu tác động mạnh mẽ của công nghiệp, công nghệ và dịch vụ, nhất là công nghệ cao. Lao động trong nông nghiệp vẫn còn gần 50% lao động toàn xã hội, trong đó trên 90% là chưa qua đào tạo và dân số sống ở nông thôn vẫn còn khoảng 70%”. [26]
Tại QH ngày 22.10.15 bộ trưởng Kế hoạch&đầu tư Bùi Quang Vinh cho biết: “Nhìn lại bao nhiêu năm, nông nghiệp bây giờ vẫn còn tình trạng con trâu đi trước cái cày theo sau. Ruộng của chúng ta chia manh mún, bé tí, từ máy bay nhìn xuống, ruộng, kể cả ở đồng bằng sông Cửu Long, chia nát bét, ô ruộng bé tí bằng căn nhà này thôi. Ngày xưa ruộng thẳng cánh cò bay thì bây giờ nó đã phân đất cho hộ gia đình tự cứu lấy mình trong giai đoạn trước, bây giờ nó đang cản trở lại nền sản xuất lớn…Một cân ngô và một cân đậu tương ở VN đắt gấp ba lần so với Mỹ sản xuất. Cánh đồng của họ thẳng cánh cò bay, một công lao động bằng máy móc bằng 1.000 người VN, nên giá thành ngô của họ chỉ bằng một phần ba giá thành ngô VN. Cho nên họ có sức cạnh tranh”.[27] Các điều kiện vô cùng bất lợi này đã dẫn tới năng suất lao động ở VN trong mọi lãnh vực, kể cả trong nông nghiệp rất thấp. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 2013 năng suất lao động của VN thuộc nhóm thấp nhất châu Á-Thái bình dương; thấp hơn Singapore 15 lần, Nhật 11 lần, Nam hàn 10 lần; chỉ bằng 1/5 Mã lai, 2/5 Thái lan.[28]
Tại “Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về chiến lược tam nông” ngày 27.11.18 chính Nguyễn Xuân Phúc đã xác nhận kết quả trên 30 năm trong chính sách tam nông là thất bại trong mọi lãnh vực, thua cả Thái lan và Campuchia: “Việc áp dụng tiến bộ khoa học trong nông nghiệp còn yếu, giá thành sản phẩm cao, chủ yếu là xuất thô, chưa qua chế biến, chưa đột phá trong nâng cao giá trị gia tăng; cơ cấu sản xuất còn manh mún, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn nhiều, việc xây dựng thương hiệu nông nghiệp còn yếu kém..”. [29]Mức đầu tư khoa học trong nông nghiệp ở VN chỉ bằng 1/10 Thái lan và 1/7 Phi luật tân. Nếu so với Nam Hàn thì con số này chỉ bằng 1/600.[30]
Mặc dầu vậy Nguyễn Xuân Phúc không dám nhìn thẳng sự thực về sự bỏ rơi nông dân và nông thôn trong suốt trên 30 năm “đổi mới” của những người cầm đầu chế độ toàn trị. Trong Hội nghị trên ông Phúc lại trút trách nhiệm là nông dân ỷ lại: “Chúng ta đang nói tập trung làm nông nghiệp, nông thôn mà nông dân chúng ta có tinh thần ỷ lại thì không bao giờ thành công!”[31]
Nguyên nhân và hiểm họa
Sau 30 năm đổi mới, nhưng tình hình nông nghiệp và đời sống mấy chục triệu nông dân vẫn ở tình trạng rất lạc hậu và đói nghèo. Nhiều chuyên viên, trong đó có cả những cán bộ cao cấp, đã dẫn chứng và cắt nghĩa, như trình bày ở trên, về các nguyên nhân dẫn tới tình hình rất bi đát hiện nay cho 70% dân số. Trong đó tổng hợp lại nổi bật hai nguyên nhân căn bản.
Nguyên nhân hàng đầu rất quan trọng khiến bao nhiều triệu nông dân triền miên rơi vào tình trạng “được mùa mất giá” và vẫn phải lao động theo cách con trâu đi trước cái cày đi sau, vì chính sách vô trách nhiệm của chế độ toàn trị, nhắm mắt rập khuôn theo kiểu DNNN trong nông nghiệp.Việc chế độ cho thành lập các Tổng công ti lương thực I và II vàHiệp hội Lương thực (VFA) chính là cách độc quyền trong nông, lâm và thủy sản. Các DNNN này gần như độc quyền trong việc định giá thóc gạo và thường cấu kết với các thương lái để ép giá nông dân phải bán nông sản theo giá bất lợi.[32] Chế độ toàn trị không tin vào nông dân và không sáng suốt nhận ra được tầm quan trọng của nông nghiệp VN trong việc phát triển đất nước, nên đã không tạo cho giới nông dân những điều kiện và cơ hội cần thiết để tự canh tân sản suất, tự tổ chức những cơ sở thiết yếu trong các khâu canh tác, chế biến và tìm thị trường để các nông sản VN có thương hiệu tốt, khả năng cạnh tranh cao, bán được giá trên thị trường quốc tế….
Các Tổng công ti lương thực nhà nước được độc quyền và được ưu đãi nên chỉ làm việc theo tinh thần công chức, sáng xách ô đi tối xách về, không tha thiết tới quyền lợi của mấy chục triệu nông dân…Không những thế còn thỏa hiệp với nhau và với các đại quan đỏ để tham nhũng và bóc lột nông dân! Đây là thái độ khinh thường nông dân và bỏ rơi nông thôn của nhóm cầm đầu toàn trị trong suốt mấy thập kỉ vừa qua! Chính vì thế cho tới nay mấy chục triệu nông dân vẫn bị nghèo đói và nông nghiệp không ngóc đầu lên được!
Một nguyên nhân quan trọng khác khiến nông nghiệp VN vẫn lạc hậu và nông dân vẫn phải chịu cảnh đói nghèo là do trước sau đảng vẫn ngang ngược coi đất đai thuộc công hữu, vẫn giáo điều nhắm mắt theo ý thức hệ Marx-Lenin. Chính từ khi Nguyễn Phú Trọng làm TBT đã cố tình ngăn cản và chống lại cả quyết định của ĐH 11 đòi sửa lại Luật Đất đai cho phù hợp với quyền lợi của nhân dân.Theo Tổng thanh tra CP thì có đến trên 70% các vụ khiếu kiện là về đất đai.[33]Ở nông thôn nông dân vẫn phải thuê ruộng đất của nhà nước, đại đa số ruộng đất bị chia cắt ra rất nhỏ và không có những biện pháp khuyến khích nông dân canh tác chung cùng có lợi. Nên không thể sử dụng các máy móc nông nghiệp hiện đại từ các khâu làm đất, cấy hạt giống, phân bón, trừ sâu tới gặt hái… Phần lớn các phương tiện canh tác cũ đã lạc hậu vẫn được sử dụng. Đây là lí do khiến năng suất nông nghiệp thấp và dẫn tới đời sống vẫn đói nghèo cùa bao nhiêu triệu nông dân chiếm tới trên 2/3 dân số VN. Mặc dù nông dân VN rất siêng năng và cần cù!
Tóm lại, cuộc sống đói nghèo của nông dân VN suốt gần 70 năm dưới chế độ toàn trị bắt nguồn từ một nguyên nhân căn bản là, thực hành chủ thuyết Marx-Lenin với chính sách coi ruộng đất là thuộc độc quyền của Đảng. Tức là trong thực tế ĐCSVN đã trở thành tên địa chủ độc nhất trên toàn quốc; nó tái lập biện pháp phát canh thu tô của địa chủ trước đây. Chỉ có điều khác là, trước đây địa chủ cho nông dân thuê ruộng đất, nhưng phải trả tiền thuê ruộng đất cho địa chủ. Nay thì ĐCS đóng vai trò này của địa chủ, nhưng với những chính sách tham lam và độc ác hơn, tuy rằng vẫn hô lớn chống địa chủ bóc lột!
***
Ngoài thái độ và chính sách khinh nông của nhà cầm quyền, cũng như sự thiếu năng lực của cán bộ, hiện nay nông nghiệp VN còn đứng trước nguy cơ của biến đổi khí hậu trên toàn cầu do những hậu quả của CO2, đặc biệt là Đồng bằng Cửu long, vựa lúa nuôi dân cả nước. “Bát cơm vàng” đang có nguy cơ biến mất. Khu vực này bao gồm 13 tỉnh, với 12,3 % diện tích và 20% dân số, đóng góp tới 27% GDP cả nước. Hai tỉnh Cà mâu và Kiên giang là khu đất thấp hơn cả mức nước biển. Trong mùa mưa nếu thủy triều cao khoảng một mét thì có nguy cơ đồng ruộng bị chìm trong nước mặn, không thể canh tác. Nạn sụt lún sẽ càng gia tăng. Trong khi ấy từ trước tới nay sông Cửu long là nguồn cung cấp không chỉ hải sản, mà còn đem phù sa làm phì nhiêu đồng ruộng. Nhưng hiện nay TQ đã xây nhiều đập thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu long, khiến cho lưu lượng nước bị giảm.
Theo dự báo của Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và nhiều chuyên viên quốc tế, với tình hình gia tăng nhiệt độ trên thế giới tiếp tục như hiện nay thì tới cuối thế kỉ này nhiệt độ ở Đồng bằng Cửu long có thể tăng thêm 1,3-2,8°C, mưa sẽ tăng 4-8%, nước biển dâng từ 66 cm tới 99cm. Nếu nước biển dâng cao thêm 1m có thể làm cho 39% diện tích Đồng bằng Cửu long bị ngập, 35% dân số bị ảnh hưởng. Đây là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu. Nếu tình hình này diễn ra sẽ làm 22 triệu người mất nhà cửa và thiệt hại lên tới 10% GDP.[34]
III. Đầu tư nước ngoài: Khinh trong trọng ngoài,
dẫn tới kinh tế lệ thuộc FDI và công nghiệp nội bị bỏ rơi
Sau khi HK và các nước Tây phương hủy bỏ chính sách cấm vận kinh tế và thương mại với VN từ đầu thập niên 90, chế độ toàn trị CSVN đứng trước hoàn cảnh rất ngặt nghèo. Khi ấy Liên Xô đã sụp đổ, tức là HN mất toàn bộ khu vực “thị trường truyền thống” suốt mấy chục năm từng là chủ lực giao thương và viện trợ cho VN. Trong khi ấy tái lập bang giao với TQ mới bắt đầu và chưa có gì vững chắc. Trong hoàn cảnh đó, muốn tái thiết đất nước chỉ còn cách mở cửa buôn bán với Tây phương, đặc biệt với cựu thù Mĩ. Đây là giai đoạn chủ trương làm bạn với tất cả! Hà nội đưa ra mục tiêu kinh tế đối ngoại là tìm cách thu hút mời các công ti nước ngoài đầu tư trực tiếp vào VN xây dựng các xí nghiệp để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu (Foreign Direct Investment -FDI). Họ cho rằng, đây là chính sách khôn ngoan “đi tắt đón đầu”, như một đòn bẩy để đưa nền kinh tế vốn rất tụt hậu của VN có thể chuyển nhanh sang phát triển canh tân đất nước, nhờ vốn và kĩ thuật hiện đại của các công ti này.
Về lí thuyết, chủ trương này bao gồm một số mục tiêu chính:
Tạo công ăn việc làm và nâng cao trình độ chuyên môn cho công nhân VN
FDI hợp tác với các doanh nghiệp VN, chuyển giao kĩ thuật công nghiệp hiện đại và giúp công nghiệp VN phát triển kiến thức quản trị
Thu được các nguồn ngoại tệ mạnh để làm vốn cho phát triển kinh tế
Các sản phẩm của FDI xuất cảng sẽ mang lại số thuế lớn cho ngân sách quốc gia
Các FDI sẽ sử dụng các kĩ thuật hiện đại, nên tránh làm bãi rác công nghệ
Tuy Luật đầu tư cho nước ngoài đầu tiên ra đời từ 1988 (QH thông qua 29.12.1987)[35], nhưng phải đợi tới giữa thập niên 90 sau khi VN và HK bình thường hóa quan hệ ngoại giao thì các các công ti FDI mới dồn dập vào làm ăn ở VN.[36]Điều 27 Luật đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài năm 2005 qui định các lãnh vực được ưu đãi, trong đó Khoản 3 ghi rõ “Sử dụng công nghệ cao, kĩ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái.”. [37] Tuy nhiên phải đợi tới sau khi VN gia nhập WTO vào cuối năm 2006 thời Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng (TT) thì các công ti lớn quốc tế mới đổ hàng tỉ USD đầu tư vào VN. Chỉ riêng 9 tháng đầu 2008 vốn đăng kí đầu tư nước ngoài vào VN đã lên tới 57 tỉ USD. Trong đó có 8 dự án có vốn đăng kí trên 1 tỉ USD/dự án.[38] Tới cuối 2012 có tất cả 14.364 dự án đang hoạt động với tổng số vốn đăng kí lên tới 212,846 tỉ USD. Trong đó chủ yếu là các công ti FDI với 100% vốn nước ngoài chiếm tới 79,61% tổng số dự án và 66,51% tổng vốn đăng kí; số công ti FDI liên doanh với tư nhân VN và DNNN chỉ chiếm 17,86% tổng số dự án và 25,92% tổng vốn đăng kí.
Trong dịp tổng kết 30 năm chính sách đối với FDI (1988-2018) một số cơ quan và chuyên viên đã phân tích các hoạt động và kết quả của FDI đối với kinh tế VN. Thứ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, VN “đã thu hút được trên 25.000 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 320 tỉ đô la Mỹ”.[39] Theo TS Vũ Thành Tự Anh, Đại học Fulbright VN, đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ba thập niên qua “đang tạo ra khoảng 70% giá trị xuất khẩu, 50% giá trị sản xuất công nghiệp và 20% GDP của cả nước”.[40]Trong khi FDI chiếm trên 2/3 tổng xuất khẩu và ½ tổng giá trị sản xuất công nghiệp của VN thì “hệ số chuyển giao công nghệ” của các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội lại “thấp nhất trong khu vực ASEAN, thua cả Lào và Campuchia”. Chính sự kiện này đã được Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ông Vũ Tiến Lộc xác nhận trong cuộc Hội thảo ở HN ngày 30. 8.18. [41]
Nói một cách khác, vai trò của các doanh nghiệp FDI đang đóng vai trò then chốt có tính cách quyết định cho tương lai của kinh tế VN, nhưng hầu như không có chuyển giao công nghệ với các doanh nhiệp tư nhân VN. Nguy hiểm nữa là, rất nhiều xí nghiệp FDI đã sử dụng các máy móc cũ và có trình độ công nghiệp rất thấp, ngày càng đe dọa môi trường sinh thái của VN, điển hình như thảm họa cá chết hàng loạt phủ trắng ven biển các tỉnh miền Trung do đại công ti Formosa gây ra năm 2016. Điều này hoàn toàn trái ngược với các mục tiêu đãđưa ra của nhà cầm quyền toàn trị VN xuyên qua các Luật đầu tư cho các doanh nghiệp nước ngoài tại VN trong hơn 30 năm qua.
Cũng theo báo cáo vào đầu năm 2018 của VCCI, “mỗi năm có khoảng từ 40-50% doanh nghiệp FDI kê khai lỗ, trong đó, có rất nhiều doanh nghiệp lỗ liên tục trong nhiều năm, thậm chí có doanh nghiệp lỗ lũy kế đến mức âm vốn chủ sở hữu, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, kể cả việc mở rộng quy mô kinh doanh. Một số địa phương thu hút nhiều doanh nghiệp FDI như thành phố HCM, Bình Dương, tỉ lệ doanh nghiệp FDI kê khai lỗ lên đến 50-60%, trong đó có nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ trong nhiều năm”.[42] Tình hình rất lạ lùng như thế phải hiểu theo nhiều mặt. Đó là: 1. Những đóng góp thuế thực sự của FDI vào ngân sách quốc gia ở mức rất thấp. 2. Mức chuyển giao kĩ thuật công nghệ cho các doanh nghiệp nội địa rất thấp. 3. Sử dụng các máy móc cũ nên đang tạo nguy hại về môi trường.
Mặc dầu tình hình phát triển của các công ti FDI đi ngược lại với các chủ chương và chính sách của chế độ toàn trị trong việc thu hút đầu tư của nước ngoài, vậy tại sao họ vẫn được mở rộng làm ăn ở VN? Những nghịch lí này của FDI đang diễn ra ở VN trong suốt mấy thập niên qua. Tại sao các nghịch lí ngày không được cải thiện, ngược lại còn đang mở rộng từ thời Nguyễn Tấn Dũng và đang gia tăng từ khi Nguyễn Xuân Phúc làm TT? Những người cầm đầu chế độ toàn trị có làm chủ động trong các chính sách đối với FDI, hay đã bị lệ thuộc và bị sai khiến bởi các nhóm lợi ích cấu kết với các công ti FDI từ ngay trong giai đoạn hoạch định chính sách?
Các công ti FDI tại VN phân loại theo hình thức đầu tư (2012)
TT
Hình thức đầu tư
Số dự án
Tổng vốn đăng kí (triệu USD)
Tỉ trọng (%)Số dự án Tổng vốnđăng kí
1
100% vốn nước ngoài
11.370
141.582,33
79,16 66,62
2
Liên doanh
2.566
55.162,65
17,86 25,92
3
Hợp đồng BOT, BT, BTO
14
5.857,32
0,10 2,75
4
Hợp đồng hợp tác kinh doanh
218
5.469,09
1,52 2,57
5
Công ti cổ phần
195
4.677,21
1,36 2,20
6
Công ti mẹ con
1
98,01
0,01 0,05
Tổng số
14.364
212.846,61
100 100
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, 2013. Xuất xứ: NCKT 4.2013,tr. 47
Nhà nước CS ưu đãi tối đa cho các công ti FDI về nhiều mặt, như đất đai lập công xưởng, được ưu đãi thuế rất thấp các năm đầu, lương công nhân thấp; nhập khẩu máy móc, mua sắm trang thiết bị và hàng từ công ti mẹ hưởng chế độ giảm thuế đặc biệt, giành ưu đãi cho họ chuyển lợi nhuận về công ti mẹ. Ngoài ra để thu hút FDI, mỗi địa phương còn được quyền đưa ra các biện pháp ưu đãi cao hơn; ngoài việc miễn giảm tiền thuế đất, tiền sử dụng đất lên tới 50% theo NQ 62 của CP, còn gia hạn thêm thời gian miễn giảm thuế từ 3-6 năm.[43] Chế độ toàn trị cho lập nhiều Khu chế suất và Khu công nghiệp giành riêng cho các công ti FDI. Các công ti FDI tập trung hoạt động trong lãnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu, như giầy dép, quần áo, linh kiện điện tử. Khi chương trình mở rộng các đô thị được ban hành, nhiều công ti FDI đã tìm cách hợp tác với các DNNN để lợi dụng chính sách ưu đãi của NHNN trong việc vay với lãi suất rất thấp những số tiền rất lớn lên tới 135.000 tỉ đồng (>8,4 tỉ USD) vào khu vực bất động sản. Như các dự án Nam Thăng long-Ciputra, Hồ Tràm của một công ti Canada (4,2 tỉ USD), Starbay của British VirginIslands (1,65 tỉ USD) và Khu công nghiệp Thủ thiêm của Singapor (1,2 tỉ USD) khi ấy. Họ còn lợi dụng sự dễ dãi và khuyến khích của chính quyền trung ương và các địa phương, nên nhiều năm -nhất là thời Nguyễn Tấn Dũng- đã ồ ạt lập 78 sân golf với tổng số vốn đăng kí là 13,3 tỉ USD và chiếm một diện tích 26.170 ha ở 39 thành phố/tỉnh. Ngoài ra cũng trong thời gian này còn có 66 dự án khác xây sân golf.
Chính TCCS đã đăng bài của hai chuyên gia kinh tế của Cơ quan Phát triển của LHQ ở VN tường thuật cách biến đất nông nghiệp thành các sân golf làm nơi giải trí của các nhà tư bản nước ngoài và các quan đỏ. Theo qui định của Nhà nước thì tiền bồi thường cho đất nông nghiệp rất thấp. Không những thế đất xây sân golf còn được coi là dùng vào thể thao, “nên được hưởng mức thuế đất ưu đãi”. Vì thế nhiều công ti FDI đã lợi dụng dùng một phần đất sân golf để xây “khách sạn, nhà hàng và giải trí”. Họ đầu cơ xây các sân golf, khách sạn và các khu giải trí với các ưu đãi cao nhất để hi vọng có thể thu hồi vốn và có lời nhanh. Trong việc xây dựng các khu vực bất động sản, nhiều công ti FDI đã dùng uy tín và mánh lới là công ti ngoại quốc, có quan hệ tốt với các quan đỏ có quyền lực, nên nhiều khi họ chỉ cần xây móng xong là đã rao bán. Người mua (thường là cán bộ có máu mặt) sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn đặt cọc trước. Như vậy là các công ti FDI đã dùng tiền của người mua nhà để xây nhà, họ chỉ phải bỏ ra số vốn rất ít nhưng hưởng lợi nhuận rất cao. Có dư luận cho rằng, dự án Ciputra và Keangnam (Đại hàn) thuộc loại đầu cơ như vậy.[44] Đây chính là cách làm ăn móc ngoặc, làm giầu nhanh bất chính giữa các quan đỏ với nhiều công ti nước ngoài.
Một hiện tượng rất phổ biến là, nhiều doanh nghiệp FDI đã khai lỗ nhiều năm liên tiếp, trong khi đó họ vẫn gia tăng đầu tư tại VN. Như ở Khu chế suất tại Bình dương số doanh nghiệp FDI khai lỗ năm 2010 là 754/1490, chiếm tỉ trọng 50,6%; trong đó có tới 200 doanh nghiệp mức lỗ cao hơn cả vốn. Tại Sài gòn và Đồng nai số doanh nghiệp FDI khai lỗ cũng lên tới 60% và 52,2%. Tại Lâm đồng số doanh nghiệp FDI khai lỗ là 104/111. Mánh lới phổ thông thứ hai của các công ti FDI là khai giá các tài sản như máy móc, thiết bị, nguyên liệu, dịch vụ, phí bản quyền… cao hơn nhiều so với giá thực tế. Mặc dầu đa số máy móc chuyển sang VN đều thuộc loại trình độ kĩ thuật cũ và gây ô nhiễm cao. Đây là thuộc vào các vốn đầu tư, từ đó họ có lợi thế để tính thuế. Họ còn khai vay tiền các ngân hàng với lãi suất rất cao, hoặc các chi phí cho dịch vụ như quản lí, quảng cáo, tiếp thị, đào tạo, thuê chuyên gia. Đây là những chi phí đầu vào. Từ đó vào cuối mỗi năm họ có thể khai lỗ, hoặc lời rất ít để được miễn thuế hoặc chỉ đóng thuế rất ít. Năm 2009 có 760/1.358 (56%) công ti FDI khai lỗ. Các thủ đoạn này làm ngân sách nhà nước thất thu hàng năm rất lớn.[45]
Một hiện tượng phổ thông khác là, đại đa số các công ti nước ngoài hoạt động tại VN theo hình thức 100%, không thích liên kết với các doanh nghiệp VN vì nhiều lí do, từ bí mật nghề nghiệp, khác biệt ngôn ngữ tới sự phân hóa quá nhỏ của các doanh nghiệp tư VN. Đặc biệt nhất là, nhà cầm quyền CS rất cần ngoại tệ qua sự đầu tư của các công ti FDI nên không dám có những chính sách rõ ràng -như TQ và một số nước Á châu- để các công ti FDI phải tích cực hợp tác với doanh nghiệp tư nhân VN. Vì thế các doanh nhân, doanh nghiệp VN và công nhân mất các cơ hội tốt để học tập kĩ thuật, cách quản trị và điều hành các hãng xưởng theo trình độ mới.
Không chỉ chèn ép giới kinh doanh tư nhân VN, các công ti FDI còn tìm cách bóc lột hàng triệu công nhân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, với sự làm ngơ hoặc tiếp tay nhà cầm quyền CS. Tính tới năm 2012 có 283 Khu công nghiệp trên 58 tỉnh/thành phố, chiếm diện tích 76.000 hecta. Trong đó miền Đông Nam Việt nhiều nhất với 88 khu công nghiệp ( 31,1%), Đồng bằng sông Hồng 24,7%, Đồng bằng Cửu long 17,7%, Miền Trung 15,5%. Chia theo tỉnh/thành phố thì Đồng nai có 30 Khu công nghiệp, Bình dương 25, Sài gòn 19, Hà nội 11…Riêng Đồng bằng Cửu long có 51 Khu công nghiệp và 200 cụm công nghiệp chiếm diện tích 25.000ha, nhưng mới sử dụng khoảng 20%. Nhiều Khu công nghiệp bị qui hoạch treo phí phạm đất canh tác.[46] Số lao động làm trong các Khu công nghiệp tăng rất nhanh. 1995 mới có 50.000 công nhân, năm 2000 đã tăng lên 201.000, năm 2007 lên tới 1,04 triệu và 1,765 triệu công nhân vào năm 2011. Bình quân số công nhân làm trong các khu công nghiệp gia tăng hàng năm từ 10-15%.
Trong khi số công nhân gia tăng rất nhanh thì Nhà nước CS không có chính sách để các doanh nghiệp FDI có chương trình xây dựng cư xá cho công nhân. 80% công nhân phải thuê phòng trọ ở bên ngoài. Nếu tính theo tỉ lệ và diện tích các phòng trọ thì thật khủng khiếp: Số công nhân phải sống trong phòng rộng dưới 3m² chiếm tới 19%, 3-5m² (21,4%), 5-7 m² (10,6%),8-10m² (22%), 11-20m² (22,4%); số công nhân có phòng trọ trên 20m² chỉ có 5,9%. Rất nhiều trường hợp 3 công nhân phải thuê 1 phòng 10-12m², giá thuê 250.000-300.000đ/tháng (2012). Không chỉ phải ở trong các phòng trọ chật chội, thiếu tiện nghi, thiếu vệ sinh như các chuồng gà; còn thiếu các nhà trẻ, trường học, trạm y tế, chợ, siêu thị, giải trí…Đấy là chưa kể chính sách “hộ khẩu” đã khiến cho con cái công nhân không được thu nhận vào các trường học. Điều này ảnh hưởng vô cùng bất lợi cho hàng trăm ngàn thiếu niên.[47]
Cuộc sống lam lũ của hàng triệu công nhân, đa số là phụ nữ và con thơ, trong các khu công nghiệp giành cho các công ti FDI là những hình ảnh sống động nhất và tồi tệ nhất như thời Cách mạng Công nghiêp hai thế kỉ trước, với cảnh bóc lột của thời kì tư bản rừng rú. Trong đó có sự cấu kết công khai giữa vua chúa cầm quyền và bọn tư bản bóc lột. Nhưng rất oái ăm và lạ lùng là, tình trạng vô nhân đạo này lại tái diễn vào đầu Thế kỉ 21 tại VN trong khuôn khổ chế độ XHCN; trong đó những người cầm đầu luôn luôn vỗ ngực, đó là chế độ bảo vệ người lao động, bảo vệ quyền làm người!
Không những thế nhiều công ti FDI vi phạm qui luật lao động, thậm chí vi phạm cả luật hình sự đối với công nhân VN. Như ngược đãi công nhân, làm tới 12 giờ/ngày, đánh đập công nhân. Nhiều công ti Nam hàn đã vi phạm. Các vụ đình công diễn ra khá phổ biến trong các công ti của Đài loan và Nam hàn. Năm 2010 xẩy ra 62 vụ đình công ở Sài gòn, trong đó 37 vụ trong các công ti FDI. Trong số này 21 vụ ở các công ti Nam hàn.[48] Số các công ti của Nam Hàn, Đài loan, Hồng kông và Nhật chiếm một tỉ lớn của FDI hoạt động ở VN. Điều này có thể hiểu, các nước này không chỉ là láng giềng mà còn có nền văn hoá tương đồng với VN, hiểu rõ tâm lí và tập quán của người Việt, đặc biệt một số các nước này không coi trọng nhân quyền và quyền lợi của công nhân ngay ở trong nước họ!
Một hình ảnh “thân dân” rất kịch cỡm đã được TT Nguyễn Xuân Phúc dàn cảnh trong chuyến thăm công nhân tại một công ti FDI ở Đồng nai vào cuối tháng 10.2017. Đây cũng là công ti mà hơn một năm trước, khi mới nhận chức TT ông Phúc đã thăm. Nay ông trở lại để xem có tiến bộ hay không. Tại đây TT đã hỏi công nhân về tình hình lao động và cuộc sống hàng ngày của họ. Khi tới bàn ăn của công nhân ông hỏi: “Bữa ăn từ 16.000-23.000 đồng có đảm bảo chất lượng không? Sau giờ làm việc, công nhân có thời gian để sinh hoạt văn hóa, thể thao hay không? Mức lương và cuộc sống có đảm bảo không?”[49] Tại sao Nguyễn Xuân Phúc không tổ chức một cuộc thăm bất ngờ ở một công ti FDI khác để biết các bữa ăn trưa thịt ôi canh ủng chỉ với giá hai ba ngàn đồng; hay đi thăm các phòng trọ như ổ chuồng gà giành cho công nhân?
Theo bộ Kế hoạch và đầu tư, tới cuối 2017 có 128 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam. Lần đầu tiên Nam Hàn đang dẫn đầu với tổng vốn đăng ký 57,1 tỷ USD (chiếm gần 18,2%), thứ hai là Nhật bản với 46,3 tỷ USD, tiếp đến là Singapore và Đài loan.[50]
Tờ Quân đội Nhân dân (QĐND) cũng cho biết, hiện các công ti FDI đang sử dụng khoảng 30% lực lượng lao động công nghiệp”.[51] Nhưng mặt khác, khu vực FDI đang bộc lộ những mặt trái gay gắt; như gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng, nạn chuyển giá bất hợp pháp, sử dụng công nghệ lạc hậu. BCT đưa ra mục tiêu là, dùng FDI để lan tỏa công nghiệp hiện đại cho kinh tế tư nhân nội địa, nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), các công ti FDI “chỉ mua khoảng 26,6% thiết bị, đầu vào từ DN Việt Nam, còn lại là nhập khẩu và nhập từ công ty mẹ. Điều này chứng tỏ, DN Việt Nam đang được hưởng lợi rất ít từ hiệu ứng lan tỏa do dòng vốn FDI mang lại qua quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất”. Trong báo cáo “Việt Nam tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của DN vừa và nhỏ (DNVVN)-Bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế” Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cũng xác nhận, “các DNVVN của Việt Nam chủ yếu là nhà cung cấp cấp ba (gián tiếp), được mô tả như là ngành sản xuất các nguyên liệu đầu vào, nguyên liệu đơn giản và ít giá trị gia tăng”.[52]
***
Nếu so sánh giữa chủ trương (lí thuyết) và kết quả thực tiễn trong việc thực hiện chính sách FDI gần ba thập kỉ qua của chế độ toàn trị CSVN thì càng thấy rõ sự khác biệt rất rõ rệt như trắng với đen giữa mục tiêu và kết quả:
– Chủ trương dùng FDI để thúc đẩy công nghiệp VN phát triển. Nhưng oái oăm đại đa số các FDI chỉ làm ăn riêng, cho nên đến nay nhiều doanh nghiệp tư VN đã không làm được cái đinh ốc!
– Chủ trương dùng FDI để VN có “công nghiệp xanh”. Nhưng nay nhiều FDI đang biến VN thành bãi rác thải công nghiệp độc hại, không những thế họ chỉ chuyển vào VN các máy móc có trình độ kĩ thuật rất thấp.
– Chủ trương bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân trong các công ti FDI, nhưng thực tế hàng triệu công nhân VN đang bị bóc lột và bạc đãi!
Tự vỗ ngực là những người lãnh đạo CS giầu kinh nghiệm, biết rõ tâm đen của các giới tư bản, nhưng tại sao họ lại trải thảm đỏ mời gọi FDI, thế rồi bị sỏ mũi? Họ nghĩ rằng có thể tương kế tựu kế? Nhưng nếu xét qua nhiều giai đoạn tham gia của FDI ở VN thì cho thấy, họ bị chạy theo, rất bị động chứ không chủ động. Những sự cố về ô nhiễm môi trường đã xẩy ra và các hậu quả vô cùng tai hại của nó, cũng như lương bổng bị bóc lột và đời sống đói rách của hàng triệu công nhân cho thấy, khi lập kế hoạch mời FDI họ ở thế bị động, cứu đảng và cứu mình để nắm quyền nên phải nhắm mắt làm liều.
Lời xác nhận của Nguyễn Phú Trọng trong vụ Formosa: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”. (Xem Chương chín, V). Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị không chỉ giới hạn trong lãnh vực môi trường, mà có giá trị cả trong các lãnh vực khác, như chờ đợi FDI chuyển vào VN những công nghệ với kĩ thuật tiên tiến, hay bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân.
Sự tăng trưởng về vốn đầu tư vào VN hay kim ngạch xuất khẩu gia tăng của FDI không đồng nghĩa với những lợi ích cho VN. Nhiều khi đi ngược lại các mục đích ban đầu của CSVN: Xuất khẩu gia tăng nhưng nhập khẩu cũng gia tăng; gia tăng số lượng công ti FDI nhưng lại giảm số công ti FDI hợp tác với doanh nghiệp tư VN và các thiết bị đưa vào VN có trình độ kĩ thuật thấp, đang biến VN thành nơi tiêu thụ các máy móc lỗi thời, nguy hiểm nữa là thành bãi rác đầy chất độc công nghiệp. Điều cực kỳ nguy hiểm nữa là, sự kiện ngày càng lớn mạnh của FDI dẫn tới hậu quả, ngày càng òi ọp của doanh nghiệp tư nhân VN và kinh tế VN càng lệ thuộc bên ngoài!
Cuối tháng 11.18 tại cuộc Hội thảo đánh giá hiệu quả chính sách thu hút và ưu đãi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các thập niên vừa qua do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức, nhiều chuyên viên đã lên tiếng cảnh báo về những hệ lụy vô cùng bất lợi trong nhiều lãnh vực cả trước mắt và lâu dài của chủ trương “quá sính ngoại” của chế độ toàn trị đối với các công ti FDI. Chuyên viên ngân hàng Phạm Xuân Hòe nhận xét, “khối FDI được rất lớn, còn VN chỉ được mấy đồng lương còi cho người lao động. Trong khi ô nhiễm môi trường không biết phải chi bao nhiêu cho đủ và người công nhân cũng luôn phải đối mặt với rủi ro”. [53]
***
Trước đây cũng như hiện nay một số nước Âu châu cũng như Á châu lấy xuất cảng làm trọng tâm. Trong giai đoạn đầu mãi lực nội địa không cao, vốn ít; nên để tạo điều kiện phát triển nhanh hơn, các quốc gia này cần vốn của cả bên ngoài. Nhưng mục tiêu lâu dài vẫn phải lấy nội lực làm chính. Đây là những suy nghĩ sáng suốt và thực tế. Bởi vì hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp tới đồng tiền bát gạo. Ta không thương ta thì chẳng ai đoái hoài. Tâm lí chung là không ai giúp một cách vô công, có đi có lại. Nhưng phải hiểu tâm lí và động cơ của các nhà tư bản. Đối với họ, lợi nhuận là tiêu chí giá trị cao nhất, nơi nào thu hoạch có lời cao, thuế thấp cùng các ưu đãi khác thì họ sẽ đổ xô tới; nếu không còn thì họ lại bỏ đi tìm nơi khác. Chính tâm lí này của các giới tư bản đã được cựu Phó TT Đức và cựu Chủ tịch Đảng Dân chủ Xã hội Đức F. Müntefering mô tả; ông đã ví giới này như các đàn cào cào, châu chấu, nơi nào có ăn thì cả đàn tới, khi hết rồi thì cả đàn lại bay đi nơi khác kiếm ăn![54]
Như trước đây ở Nhật, Đài loan và Đại hàn và hiện nay ở TQ, một mặt họ khuyến khích tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư ở nước họ. Xuyên qua nguyên tắc hợp tác, các FDI được giành một số ưu đãi nhất định trong hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thời phải thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ và các thỏa thuận với các quốc gia này. Trong đó ngoài nhiệm vụ đóng thuế sòng phẳng, còn phải chuyển giao công nghệ tân tiến và đào tạo chuyên môn cho người lao động bản xứ.
Cách vận hành của một nền kinh tế lấy xuất cảng làm trọng tâm có đặc điểm là, các công ti FDI dùng công nhân bản xứ với lương bổng thấp, nhờ đó giá thành các hàng hóa thấp, nên các sản phẩm này có thể bán chạy ở nhiều nước công nghiệp. Nhờ thế các công ti FDI hưởng lợi nhuận rất cao. Trong khi đó nhà nước sẽ thu ngoại tệ để tăng mức ngoại hối và thu được thuế từ các hàng xuất khẩu; nhờ đó ngân sách quốc gia được gia tăng để có thể đầu tư và canh tân đất nước tiến tới tự lập tự cường. Nhưng các mục tiêu và cách thực hiện đường lối kinh tế này chỉ thành công trong một số điều kiện nhất định, ắt có và đủ. Đó là phải có một hệ thống chính trị tốt, trong đó những người nắm vận mệnh đất nước phải có tinh thần trách nhiệm cao, có tầm nhìn sâu rộng; quốc hội, hệ thống tòa án phải có thực quyền; các công chức phải chí công vô tư; có hệ thống báo chí độc lập và các đoàn thể xã hội dân sự được tự do hoạt động. Mặt khác phải có các chính sách khuyến khích và bảo vệ các giới doanh gia và tư thương nội địa trong việc bỏ vốn và sáng kiến vào các hoạt động sản suất và kinh doanh để làm giầu cho chính mình và đất nước.
Nếu chỉ thích hoàng nhoáng bề ngoài, thích giả dối; gộp nhập trên 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng nămtừ FDI vào GDP để trưng diện là lợi tức đầu người ở VN đang tăng nhanh. Nhưng đó chỉ là giả dối, vì phần lớn thu nhập của các công ti FDI lại được chuyển nhanh về công ti mẹ ở mẫu quốc. Cả phần thuế của FDI vào ngân sách quốc gia cũng rất thấp; vì họ được ưu đãi thuế, trốn thuế bằng cách khai lỗ, hay chỉ phải trả mức thuế rất thấp!
Cân nhắc giữa quyền lợi quốc gia và sự phân công quốc tế cùng có lợi cho các bên, thì nếu sự đầu tư của nước ngoài đem lại những lợi ích thiết thực cho việc phát triển nhanh và bền vững cho đất nước, sẽ là một việc rất đáng hoan nghênh. Không nên có thái độ bài ngoại quá khích, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hóa. Bế quan tỏa cảng chỉ làm trì trệ đất nước thêm. Nhưng mục tiêu này chỉ có thể thành công, nếu có một chính quyền có tầm nhìn xa trông rộng, biết cân nhắc ưu và khuyết điểm của kế hoạch xây dựng đất nước; có chính sách mở cửa thích hợp, biết sử dụng vốn tư bản nước ngoài, công nghệ tân tiến nước ngoài và kiến thức quản trị và trình độ chuyên môn cao của họ. Đó là tạo những điều kiện ắt có và đủ cho việc canh tân VN. Nhưng suốt trên 30 năm qua các điều kiện trên đều không có!
Tư doanh VN bị bạc đãi và bị chèn ép
Từ trước tới nay, đặc biệt dưới thời Nguyễn Tấn Dũng làm TT, các NQ của nhiều ĐH đảng và chính sách kinh tế của chính phủ đều nhấn mạnh phát triển nội lực. Nghĩa là về mặt lí thuyết, các doanh nghiệp VN (DNNN và tư nhân) phải là nồng cốt cho phát triển kinh tế. Các Luật về Doanh nghiệp tư nhân 2000 và 2005 qui định về hoạt động của kinh tế tư nhân trong nước. Nhưng trong thực tế thì lại hoàn toàn khác. Trong khi các công ti nước ngoài FDI ngày càng bung ra chiếm lãnh thị trường và các DNNN được giành ưu đãi trong tín dụng và đất đai, lại nắm độc quyền nhiều lãnh vực được coi là huyết mạch của nền kinh tế. Còn các doanh nghiệp tư nhân nội địa lại không ngóc đầu lên được, phải chịu đựng một cổ hai ba tròng, vừa bị các DNNN chèn ép, lại bị các công ti FDI cạnh tranh, đồng thời còn bị các quan đỏ móc túi và trấn áp.
Có nhiều con số khác nhau về doanh nghiệp tư nhân VN từ nhỏ, trung bình đến lớn (tính theo số công nhân và vốn đầu tư). Theo Cục Quản lí đăng kí kinh doanh của bộ Kế hoạch và đầu tư, tính tới Quí 1/2014 có tất cả 789.813 doanh nghiệp tư nhân VN đã đăng kí, trong đó 296.206 doanh nghiệp đã phải đóng cửa hoặc phá sản. Riêng từ khi VN gia nhập WTO (2007) số doanh nghiệp tư nhân gia tăng cao, mỗi năm có trên 50.000 doanh nghiệp được thành lập.[55] Nhưng đồng thời số doanh nghiệp ngưng hoạt động hoặc phá sản cũng rất cao. Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN ngày 13.4.16, có đến 428.000 doanh nghiệp tư nhân VN phải ngừng hoạt động hoặc giải thể trong giai đoạn 2007-2015, tương đương với 45,5% tổng số doanh nghiệp được thành lập kể từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000 đến nay. [56]
Xét về qui mô lao động thì các doanh nghiệp VN ngày càng có khuynh hướng nhỏ đi. Vào năm 2002 một doanh nghiệp có trung bình 74 lao động, đến 2007 chỉ còn 47 lao động, nhưng tới 2012 lại giảm chỉ còn khoảng 32 lao động. Vào năm 2012 số doanh nghiệp vừa là lớn chỉ chiếm khoảng 4,3%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 29% và siêu nhỏ chiếm 66,8% (dưới 10 lao động). Năm 2002 số doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm 53,1% đã tăng lên 66.8% vào năm 2012. Tình hình chung rất đặc biệt là, trong suốt 10 năm (2002-2011) rất ít doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ phát triển thành doanh nghiệp vừa hoặc lớn. Nhưng ngược lại, tỉ lệ các doanh nghiệp vừa lại biến thành nhỏ và siêu nhỏ lại gia tăng. Thành thử nhiều chuyên viên đã rất chua chát phải nêu câu hỏi, tại sao các doanh nghiệp tư nhân VN “không lớn lên được”? [57]
Cũng vào giai đoạn này đã có bài thơ rất chua chát và mỉa mai, vì sao đất nước không lớn lên được với tựa đề “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” của Thạc sĩ Trần Thị Lam, một nữ giáo viên trung học ở Hà Tĩnh, được phổ biến rất rộng rãi và được phổ nhạc. Bài thơ được phổ biến vào dịp sau biến cố thảm họa môi trường do Formosa ở Hà tĩnh gây ra, 4.2016.[58] (Xem phần sau).
Viện trưởng Viện Kinh tế VN Trần Đình Thiên nêu câu hỏi, tại sao Nhà nước vẫn nói là kinh tế chuyển dịch tốt, nhưng công nghiệp VN vẫn yếu?Ông dẫn chứng, công nghiệp chế biến, chế tạo là lãnh vực then chốt trong phát triển kinh tế, nhưng sau 30 năm chỉ tăng 1,6%.Ông dẫn chứng nguyên nhân dẫn tới tụt hậu vì các chính sách sai lầm. Theo ông, “trong thời đại công nghệ cao mà lĩnh vực chế biến chế tạo chỉ tăng như vậy thử hình dung công nghiệp Việt Nam giậm chân tại chỗ hay thụt lùi ghê gớm so với thế giới? Ta thích công nghiệp khai khoáng, xây dựng, tập trung gia công còn lĩnh vực tạo năng lực cốt lõi là chế biến chế tạo lại rất yếu”. Ông trách là, Nhà nước CS đã quá chiều chuộng các công ti FDI, dẫn tới hậu quả là nay tùy thuộc quá nhiều vào họ.[59] Trong khi đó theo chuyên gia Phạm Chi Lan, chế độ toàn trị đã không tạo một sân chơi bình đẳng giữa các hoạt động kinh tế. Trong khi các Doanh nghiệp nhà nước, các công ti FDI và “doanh nghiệp tư nhân thân hữu” được biệt đãi (tiếp cận các nguồn lực, quyền kinh doanh, đầu tư công/mua sắm của chính phủ, bảo hộ để né cạnh tranh…) thì đại đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vị thế rất bất lợi, nên không lớn lên được và dễ bị đào thải. [60]
Tới 2014 cả nước có khoảng gần 3000 doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ và hoạt động rất yếu. Ngay bộ Công thương cũng cho biết, công nghiệp phụ trợ phải sử dụng tới 80% nguyên liệu nhập khẩu, lại chỉ tập trung vào các hoạt động đơn giản như đóng gói, bao bì. Các ngành công nghiệp phụ trợ như giầy dép, dệt may… phần lớn nằm trong tay các công ti FDI. Các công nhân VN chỉ làm công tác gia công; trong khi ấy phần chính nguyên liệu phải nhập cảng, nhất là từ TQ. [61] Trong khi nhóm cầm đầu toàn trị thề thốt là công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế thì nhiều chuyên viên đã chỉ trích và cảnh báo nghiêm khắc là, “hiện nay VN đang trở thành quốc gia có nền công nghiệp gia công toàn diện”, tức là chỉ đi làm thuê và làm những công việc phụ thuộc cho các công ti FDI.[62] Ngoài các nguyên nhân không có sân chơi bình đẳng và bị chén ép, các doanh nghiệp tư nhân VN còn bị cán bộ nhũng nhiễu, hàng năm phải tiếp nhiều phái đoàn thanh tra, muốn được yên thì phải trao “phong bì”! Tiến sĩ Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, đã cho biết, theo số liệu từ một cơ quan nghiên cứu có tới 73% doanh nghiệp phải lót tay cho cán bộ. [63]
Ngay tại QH vào cuối năm 2015 (22.10.15) Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư Bùi Quanh Vinh vừa than thở vừa trách móc là: “Một đất nước muốn tự chủ kinh tế thì doanh nghiệp của nước ấy phải phát triển. Doanh nghiệp nội địa phát triển thì mới hỗ trợ cho khu vực FDI, và tiếp thu công nghệ của nước ngoài… Nhiều doanh nghiệp FDI, như Nhật Bản, muốn chuyển giao công nghệ, nhưng doanh nghiệp chúng ta không có nền tảng để nhận. Chúng ta kêu ca doanh nghiệp FDI không chuyển giao công nghệ là do có hai mảng. Thứ nhất họ không chuyển giao, và thứ hai, họ có chuyển giao thì chúng ta cũng không có đủ năng lực tiếp nhận”.[64]
Trong buổi tọa đàm với Hội Doanh nhân trẻ VN vào cuối năm 2018 TS Trần Đình Thiên, nay là thành viên Tổ tư vấn kinh tế của TT, đã phải chua chát nhận xét, sau trên 30 năm “đổi mới” nhưng doanh nghiệp tư nhân VN chỉ đóng góp 8% GDP; trong khi đó đóng góp của FDI lên tới 20% và DNNN khoảng 27-28%. Theo ông, ở trong một nước phát triển kinh tế thực sự với nội lực làm chủ yếu dựa trên kinh tế thị trường thì khu vực doanh nhân nội địa đóng góp đến 60-70%, nếu mạnh thì đến 80-90%. Nhưng ở VN sau trên “30 năm phát triển kinh tế thị trường rực rỡ mà chỉ có 8%”. Một trong những lí do chính là doanh nghiệp tư nhân VN đang bị bạc đãi và chèn ép. Ông dẫn chứng, trong khi các doanh nghiệp FDI chỉ phải chịu mức thuế trung bình là 11% thì các doanh nghiệp VN phải đóng thuế trung bình lên tới 29%, cao hơn gần 3 lần so với FDI![65]
Nói chung lại, trong suốt ba thập niên theo mô hình Kinh thế Thị trường định hướng XHCN sở dĩ các xí nghiệp tư nhân VN không thể vươn lên được vì nhiều nguyên nhân: Bị chế độ toàn trị bỏ rơi và khinh rẻ, bị các DNNN và FDI chèn ép; không được đối xử bình đẳng trong việc tiếp nhận các nguồn lực kinh tế từ vay tiền, lãi suất, thuế vụ tới đất đai. Ngoài ra còn phải thường xuyên bị cán bộ các cơ quan đảng và nhà nước nhũng nhiễu!
Hai trường hợp điển hình về chính sáchcủa Nhà nước CSVN với các công ti FDI
Nguyễn Xuân Phúc ưu đãi Samsung
Từ tháng 2.17 Lee Jae-yong 49 tuổi, Phó chủ tịch công ti Samsung phải ngồi tù ở Nam Hàn, là người giầu thứ 3 của Nam Hàn với 6,6 tỉ Euro. Ông phải tù 5 năm vì các tội hối lộ, che dấu và khai man. Ông đã hối lộ một số tiền rất lớn cho cựu Tổng thống bà Park để mong sớm trở thành Chủ tịch Samsung. Nhiều cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người ở Nam Hàn phản đối quan hệ bất chính và tệ trạng tham nhũng- hối lộ giữa chính phủ và Samsung. Bà Park cũng bị cách chức Tổng thống. Cha ông là Lee Kun-hee (72t) năm 2009 cũng bị kết án 3 năm tù với các tội tương tự, nhưng không bị ngồi tù; từ 3 năm qua sau khi bị nhồi máu cơ tim trở thành hôn mê nhưng vẫn là Chủ tịch Samsung. Đầu tháng 2. 2018 Tòa án trả tự do cho ông với điều kiện. Tập đoàn Samsung chiếm tới 20% tổng sản lượng kinh tế của Nam Hàn, có 490.000 nhân viên. Trong quí 3/2017 đã đạt lợi nhuận 11,2 tỉ € (12,91 tỷ USD ), cao nhất từ trước tới nay. Dự đoán trong tương lai mức lợi nhuận còn cao hơn nữa.[66]
Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc tại trụ sở chính phủ ngày 6.10.17 Tổng giám đốc Samsung Electronics Hàn quốc Shin Jong Kyun đã cho biết, sau 10 năm đầu tư vào VN đến nay tổng vốn đầu tư của Samsung đã lên tới 17 tỷ USD. Samsung dự kiến sẽ xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm 2017, chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu của VN. Ông còn nhấn mạnh, các nhà máy đặt tại VN có quy mô lớn nhất, hiện đại nhất của Samsung.[67] Đây là cuộc gặp lần thứ hai của đại diện Samsung với Nguyễn Xuân Phúc trong năm nay và có lẽ lần này CP xác nhận giành ưu đãi sử dụng đất và thuế nhiều hơn nữa cho Samsung.
Cho tới trước khi cuộc gặp này Samsung đã nhận được nhiều ưu đãi đầu tư từ Chính phủ CS: “Hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 30 năm, miễn 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo”. Ngoài ra, “các địa phương cũng đã giành cho Samsung các ưu đãi về tiền thuê đất, tiếp tục cho Samsung được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo sau giai đoạn 9 năm đó”.[68] Các đại diện của Samsung vẫn chưa thỏa mãn với các ưu đãi này, nên họ đòi được đãi ngộ cao hơn sau việc gia tăng đầu tư. Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc ngày 26.7.17 một đại diện Samsung ở Thái nguyên đã đề cao sự đầu tư của Samsung và cam kết “xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm nay”, tương đương với gần ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.[69]
Với mức kim ngạch xuất cảng gia tăng cao và nhanh như vậy, nên Nguyễn Xuân Phúc có thể dùng nó để phô trương thành tích tăng trưởng kinh tế của VN dưới quyền của ông! Vì thế ông đã hứa với đại diện Samsung là sẽ ra lệnh cho “Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ sớm cấp chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao cho Samsung VN vì đã đạt được các tiêu chí cần thiết”.[70]Sớm nhận được giấy chứng nhận “Doanh nghiệp công nghệ cao” là nỗ lực hàng đầu của Samsung từ lâu. Vì khi đó Samsung sẽ nhận được những ưu đãi cao nhất về đất đai và thuế.[71]
Trong kì họp cuối năm của QH đã có dư luận cho là, việc tăng trưởng quí 3/2017 tăng đột biến lên tới trên 7% là nhờ sự đóng góp quan trọng của hai đại công ti FDI Samsung và Formosa.[72]Có lẽ để giải quyết gánh nặng của nợ công ngày một chồng chất trong khi mức tăng trưởng kinh tế càng đi xuống, nên từ khi làm TT, Nguyễn Xuân Phúc còn dành ưu đãi đặc biệt cho các công ti FDI hơn cả người tiền nhiệm, đặc biệt cho Samsung. Cho nên Samsung đã đầu tư dồn dập vào VN để mở rộng các hoạt động kinh doanh trong năm 2016-2017. Chỉ trong nửa đầu năm 2017, các công ty Samsung đạt doanh thu 27,4 tỷ USD (622.000 tỷ đồng); lợi nhuận sau thuế đạt 3,1 tỷ USD (70.600 tỷ đồng).[73] Nếu tính toàn năm 2017 Samsung đã đạt được lợi nhuận ròng là 5,8 tỉ USD, trong khi ấy chỉ mới phải đóng thuế 186 triệu USD cho nửa năm 2017.
Trong cuộc gặp PTT Vương Đình Huệ ngày 17.11.17 ông Shim Wonhwan, Tổng giám đốc Tổ hợp Samsung VN, cho biết, hiện công ti đã có ba trung tâm sản suất tại VN ở Bắc ninh, Thái nguyên và Sài gòn, tổng số lao động đang làm việc trong các nhà máy của Samsung tại VN là 180.000 người (bao gồm cả 20.000 người làm bảo vệ và nhà ăn). Con số này không kể các nhân viên làm việc trong các đơn vị cung ứng của Samsung.[74] Trong đó số phụ nữ còn trẻ chiếm tới 75% .[75] Như vậy Samsung ở VN đứng thứ hai chỉ sau Samsung mẹ ở Nam Hàn, đồng thời là công ti FDI lớn nhất ở VN. Samsung tại VN tập trung sản xuất máy điện thoại cầm tay tối tân và các máy truyền hình có kĩ thuật cao nhất trên thế giới, xuất khẩu sang khoảng 120 nước.
Samsung hiểu được vai trò cực kỳ quan trọng của họ trong nền kinh tế VN, nên họ đang tìm mọi cách ép chính quyền CSVN phải gia tăng ưu đãi, đồng thời chèn ép công nhân VN. Điều này có thể thấy rõ trong cách đối xử với các đại diện của Samsung của các giới chức cao cấp VN. Vài năm trước các đại diện của Samsung thường gặp trực tiếp Bộ trưởng 4 T và được phổ biến rộng rãi trong các cơ quan báo đảng. Nhưng hiện nay cả TT lẫn Phó TT gặp trực tiếp các đại diện của Samsung. Điều này chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh đã tiên đoán trước đây vài năm, “Chính quyền có những ưu đãi để thu hút Samsung và Samsung có thể đòi các ưu đãi đặc biệt cao hơn mức bình thường vì họ biết vị thế của mình”. [76]Do được miễn và giảm thuế tối đa nên trong những năm qua, Samsung đã “tiết kiệm” được hàng tỷ USD tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Với thuế suất rất thấp, VN thực sự đã trở thành “thiên đường thuế” của tập đoàn này. Đây cũng là lý do mà Samsung ngày càng rót nhiều tiền đầu tư cũng như chuyển nhiều hoạt động sản xuất vào VN.[77]
***
Trước những đòi hỏi của phía VN là Samsung nên để các doanh nghiệp VN tham gia, trong cuộc hội thảo “30 năm lan tỏa vốn FDI” 7.10.17 ông Bang Hyun Woo, Phó tổng giám đốc Samsung VN đã nói thẳng, “các sản phẩm của Samsung đang được xuất khẩu đi toàn cầu và những linh kiện mà chúng tôi sử dụng đòi hỏi phải rất tin tưởng, liên quan đến chất lượng vô cùng cao. Nói là doanh nghiệp VN ngay bây giờ có thể tham gia vào chuỗi cung ứng này vô cùng nan giải”. Có lần Samsung còn trách móc là, công nghiệp VN chậm tiến đến mức chưa làm được cả cái ốc! Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng đã nhận xét:
“Câu chuyện cái đinh ốc bùng lên trong nước từ tháng Chín. Báo chí đăng tin công ty Samsung điện tử thú nhận cơ xưởng ráp máy điện thoại của họ ở Bắc ninh không tìm ra xí nghiệp nào của người VN có thể cung cấp những cây đinh xoắn trôn ốc, còn gọi là ốc vít.”. Nhưng rốt cuộc, có 67 doanh nghiệp cung cấp các linh kiện cho SEV; đại đa số là các doanh nghiệp của người Ðại hàn, Nhật bản, Singapore, Mã lai. Chỉ có bốn doanh nghiệp VN cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho SEV, mà việc chính của họ là làm bao bì, in ấn. Ông Shim Won Hwan, tổng giám đốc Samsung ở VN mới, nói tại một hội thảo ở HN vào tháng Chín vừa qua rằng, “không doanh nghiệp VN nào ‘nắm bắt’ được cơ hội, họ chỉ cung ứng được những sản phẩm in ấn, bao bì!” Còn những thứ “cao cấp” như cái đinh ốc vít, người VN làm không được theo tiêu chuẩn của Samsung! Họ cũng không kiếm mua được những bộ phận “sạc” điện cho cell phone do người VN làm”.[78]
Tới giữa năm 2017 chính báo Infonet của bộ 4T cho biết, mới chỉ có 25 doanh nghiệp VN tham gia chuỗi cung ứng cấp 1 cho Samsung. [79] Nhưng khi giải trình trước Quốc hội tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội vào 1-11.17, bộ trưởng bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đề cập đến vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ lại cho biết, hiện có khoảng 30 doanh nghiệp cung cấp linh kiện điện tử trực tiếp cho Samsung tại VN và đều là các doanh nghiệp FDI, chứ chưa có bất kỳ doanh nghiệp nội địa nào.[80]Trong khi đó khi làm việc với đại diện Samsung ở Thái nguyên ngày 26.7.17 để xét việc giành ưu đãi thuế đặc biệt cho Samsung Nguyễn Xuân Phúc đã hết lời khen ngợi là, hiện đã có “215 nhà cung cấp là doanh nghiệp VN” và “tỉ lệ nội địa hóa của Samsung VN đạt 57%”.[81] Ông Phúc đưa ra con số cao gấp nhiều lần về việc các doanh nghiệp tư VN tham gia hệ thống xí nghiệp phụ trợ cho Samsung là để có cớ xếp Samsung vào Luật Công nghệ cao? Một điều rõ ràng nhất là, Samsung VN nhập khẩu từ Samsung mẹ ở Hàn quốc hầu như toàn bộ các máy móc và linh kiện điện tử. Đây cũng là lí do chính khiến mức nhập khẩu hàng hóa vào VN của Nam Hàn đã gia tăng rất mạnh trong vài năm gần đây.
Gần 200.000 công nhân VN, đại đa số là phụ nữ trẻ chỉ làm gia công, phải lao động rất vất vả dưới những điều kiện nghiêm ngặt, nhưng lương bổng lại rất thấp. Lê Đăng Doanh đã nhận xét, “năng suất lao động của công nhân VN làm đạt 80% năng suất lao động, trong khi tiền lương chỉ bằng khoảng 10%”. Phần lớn các phụ nữ này đã bỏ quê ra tỉnh để làm công nhân cho Samsung. Cuối tháng 11.17 Tổ chức phi chính phủ Thụy Điển IPEN -một tổ chức phi vụ lợi có uy tín quốc tế, chuyên về bảo vệ sức khỏe và môi trường- phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển ở HN (CGFED), đã công bố Bản báo cáo về điều kiện làm việc của nữ công nhân ở các nhà máy điện tử của Samsung tại VN. Theo báo cáo này, IPEN và CGFED đã phỏng vấn 45 nhân viên Samsung và đưa ra nhận xét:
“Tiếng ồn ở khu sản xuất cao hơn nhiều so với cho phép của VN, tất cả nhân viên được phỏng vấn đều cảm thấy mỏi mệt trầm trọng và chóng mặt, sẩy thai ở người lao động diễn ra thường xuyên..”. Công nhân phải đứng làm việc suốt 8-12 giờ, công nhân mang thai cũng phải lao động như vậy. Nhiều công nhân bị sổ mũi, rối loạn tiêu hóa, đau chân…Báo cáo còn cho biết, hàng ngày công nhân bị Samsung kiểm soát quá nghiêm ngặt, “thời gian nghỉ ngắn và nếu muốn đi vệ sinh thì lại phải được cho phép ra vào đặc biệt”.Báo cáo đưa ra yêu cầu, “phải điều tra bổ sung về việc rò rỉ hóa chất. Bởi người lao động đang làm việc trong môi trường mở tiếp xúc với nhiều loại hóa chất đa dạng nhưng lại không nhận thức được về những rủi ro hóa chất trong công đoạn lắp ráp”.[82]
Ngay hôm sau đại diện Samsung đã lên tiếng phủ nhận các lời cáo buộc trên. Samsung “công nhận có sử dụng hóa chất trong một số công đoạn, nhưng đều áp dụng các biện pháp để công nhân không bị phơi nhiễm nhờ thiết bị thoát khí, cùng việc đeo thiết bị bảo hộ”. [83] Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội cho biết, vào tháng 7.17 đã thanh tra ở hai trung tâm của Samsung ở Bắc ninh và Thái nguyên và cho biết, phụ nữ mang thai từ tháng thứ 7 được nghỉ. Theo Bộ, các cáo buộc khác trong Bản báo cáo của IPEN là “chưa thuyết phục”. Nhưng Bộ xác nhận Samsung đã vi phạm pháp luật về qui chế lao động. “Samsung chia thời gian làm việc thành hai ca. Ca ngày 8-20h, ca đêm từ 20h đến 8h sáng hôm sau và đưa vào nội quy lao động, luân phiên làm việc 4 ngày liên tục sẽ được nghỉ 2 ngày”. Qui định này trái với Luật lao động 2012. Theo đó giờ làm việc không quá 8h/ngày và không quá 48h/tuần; giờ làm việc ban đêm từ 22h-6h sáng hôm sau; giờ làm thêm không quá 30h/tháng, 200h/năm. [84]
Nếu giữ thái độ khách quan và thận trọng thì những lời xác nhận trên của Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội có lẽ mới chỉ là một phần rất nhỏ của sự thực. Vì trong quá khứ đã chứng minh nhiều lần, các cơ quan thanh tra của đảng cũng như chính phủ không thể tin cậy.Như trong các vụ PMU 18, Vinashin và Formosa các cơ quan thanh tra của nhiều cơ quan đã thanh tra, nhưng rốt cuộc đều có báo cáo tốt! Tuy nhiên những điều nêu trong Báo cáo này trái ngược với khen ngợi của Nguyễn Xuân Phúc vài tháng trước. Khi ông thăm công ti Samsung ở Thái nguyên đã nói là, “đời sống công nhân, người lao động ngày càng được nâng cao, trong đó công ty quan tâm đến khu ăn ở, giải trí, lao động nữ…”[85]
***
Không ai phủ nhận công ti Samsung là một trong những công ti điện tử hàng đầu trên thế giới hiện nay. Nó cũng là một trong vài công ti lớn nhất của Nam Hàn và đóng góp phần quan trọng cho sự phát triển và hưng thịnh kinh tế của nước này. Nhưng đó không phải là công lao riêng của Samsung mà còn là cả nửa triệu công nhân của công ti ở Nam Hàn và của nhân dân Nam Hàn nói chung. Trong đó không thể quên được những cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người phản đối chính sách bạc đãi công nhân và hối lộ của các Ban giám đốc công ti này.
Mặc dầu chế độ toàn trị ở VN giành rất nhiều đặc ân để Samsung chỉ trong vài năm trở thành nhà đầu tư FDI lớn nhất hiện nay ở VN kể cả về vốn và kim ngạch xuất khẩu. Nhưng Samsung có thực sự phục vụ phát triển kinh tế VN theo những mục tiêu đề ra của chế độ toàn trị trong việc thu hút FDI vào VN hay không? Đó là để các xí nghiệp VN cùng tham gia trong các khâu sản xuất để nâng cao trình độ kĩ thuật và quản trị, bảo vệ quyền lao động của hàng trăm ngàn công nhân và đóng góp vào sự phát triển kinh tế của VN.
Mặc dầu trong những năm gần đây Samsung ở VN đạt được lợi nhuận hàng năm nhiều tỉ Mĩ kim, phần chính là vì nhà cầm quyền ở trung ương và địa phương đã ưu đãi thuế rất cao từ xuất cảng tới nhập cảng các sản phẩm. Nhưng ngược lại số xí nghiệp tư nhân VN tham gia với Samsung có thể đếm trên đầu ngón tay. Gần 200.000 công nhân, phần lớn là phụ nữ trẻ, phải chịu những điều kiện lao động rất bất lợi, từ lương bổng tới các bảo hiểm xã hội. Nói chung là công ti tư nhân VN chỉ đứng bên lề và công nhân VN chỉ đóng vai làm gia công cho Samsung. Đây là chính sách đem con bỏ chợ của chế độ toàn trị. Nó thể hiện rõ ràng đây là chủ chương đầu cơ đầy rủi ro và rất phiêu lưu.
Những người đứng đầu Samsung nắm bắt được những nhược điểm của những người cầm đầu chế độ toàn trị CSVN là trình độ quản trị kinh tế rất yếu, nền kinh tế đang đứng trước vực thẳm, nhưng chỉ thích đề cao thành tích bề ngoài, cơ chế và cán bộ tham nhũng và bất lực. Vì thế chỉ trong ít năm Samsung đã trở thành trụ cột của kinh tế VN, hiện nay chiếm tới hơn ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của VN. Nhưng trong thực tế những thành công này chỉ đem lại lợi ích riêng rất lớn và rất nhanh cho Samsung. Do sự gia tăng xuất khẩu rất lớn của Samsung nên Nguyễn Xuân Phúc đã hô hoán là kinh tế VN đang phục hồi, đạt tăng trưởng cao nhất sau nhiều năm. Nhưng nếu tính toán nghiêm túc sẽ thấy Samsung không đóng góp quan trọng vào ngân sách quốc gia của VN. Vì Samsung được hưởng các ưu đãi thuế rất cao. Ngoài ra mức xuất khẩu gia tăng thì mức nhập khẩu của Samsung cũng gia tăng rất mạnh.
Tóm lại, mặc dầu những mục tiêu trong việc mời gọi Samsung đầu tư tại VN đã không đạt được, nhưng nhà cầm quyền CSVN vẫn liên tiếp giành từ ưu đãi này tới đặc quyền khác cho Samsung.Sự hoạt động càng bung ra của Samsung càng chứng tỏ có sự tiếp tay của những người có thế lực nhất trong chế độ. Chính các sự kiện này đã dẫn tới câu hỏi, tại sao trong giai đoạn Nguyễn Phú Trọng đang hô hoán đốt lò chống tham nhũng, nhưng một công ti nổi tiểng về hối lộ như Samsung -ngay cả ở chính quốc Nam Hàn- lại đang được nâng đỡ và chiều chuộng hết mức ở VN? Nguy hiểm cực kỳ khác nữa là, nền kinh tế VN đang ngày lệ thuộc nhiều mặt vào một công ti lớn nước ngoài. Điều này có thể dẫn tới những hậu quả rất nguy hại cho cả kinh tế lẫn chính trị VN! Chính sách đối với Samsung nói riêng và với các công ti FDI nói chung từ Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng tới Nguyễn Xuân Phúc không phải là mã tìm mã, nhưng đúng là ngưu tìm ngưu!
Nguyễn Phú Trọng ưu ái Formosa
Tại sao ông Trọng lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa,
giữa lúc hàng triệu nhân dân là nạn nhân do thảm họa cá chết hoàng loạt?
Ngay từ đầu tháng 4.16 đại diện sở Nông nghiệp-phát triển nông thôn (NN-PTNT) Hà tĩnh cho biết, “cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xã Kỳ anh) vào ngày 7.4. Ngày 11.4, sau khi công ty Grobest tại xã Kỳ phương (thị xã Kỳ anh) cấp nước biển vào ao nuôi khoảng 6 giờ đồng hồ thì xảy ra hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt. Đến ngày 14.4, ngao nuôi tại 2 xã Kỳ hà và Kỳ ninh tiếp tục bị chết, gây thiệt hại khoảng 4,71 tỉ đồng”.[86] Khi ấy Phó phòng Kinh tế và đô thị thị xã Kỳ anh Nguyễn Thị Thủy cũng cho biết, “địa bàn xã Kỳ lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày”. [87]
Các địa danh này là khu vực nằm cạnh Khu công nghiệp Vũng áng khổng lồ của công ti Đài loan Formosa Hà tĩnh (FHS). Đến giữa tháng 4 các tin dồn dập cùng những hình ảnh nhiều loại cá lớn nhỏ chết hàng loạt rất khủng khiếp và kinh hoàng suốt mấy trăm cây số dọc duyên hải từ các tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, Thừa thiên-Huế do chính các báo lề đảng như Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động, Dân trí, VTV, VNNet… phổ biến đã tràn ngập dư luận các tỉnh ven biển miền Trung làm nhân dân rất hoang mang lo lắng. Hàng chục ngàn ngư dân không dám ra biển đánh cá, người dân cả nước không dám ăn cá, dịch vụ du lịch các bãi biển miền Trung thu hút hàng triệu du khách VN và ngoại quốc lo lắng bị mất khách!
Mãi tới ngày 19.4 Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn) mới đến Hà tĩnh kiểm tra về nguyên nhân cá chết và cho biết, “cá chết là do chất độc gây ra nhưng chưa xác định đó là chất gì”.[88] Điều này có nghĩa là phải khẩn trương nghiêm túc điều tra tiếp để tìm ra nguyên nhân gây ra nạn cá chết hàng loạt, tàn phá và hủy hoại môi trường thiên nhiên và de dọa cuộc sống của hàng triệu ngư dân và những người sinh sống bằng dịch vụ du lịch.
Giữa khi ấy báo chí đưa tin, “Tổng bí thư kiểm tra tiến độ dự án Formosa”.[89] Nhiều người nghĩ rằng, vì vừa được tái cử TBT nên Nguyễn Phú Trọng đã nhạy cảm trước nỗi lo sợ và sự bất bình của nhân dân về thăm Hà tĩnh và khu công nghiệp gang thép Formosa để thúc đẩy cuộc điều tra về vụ cá chết hàng loạt. Nhưng thật là thất vọng và sai lầm lớn, ngày 22. 4 Nguyễn Phú Trọng cầm đầu phái đoàn cao cấp của đảng và chính phủ gồm Nguyễn Văn Bình, UVBCT, Trưởng Ban Kinh tế TU; Nguyễn Văn Nên, Bí thư TUĐ, Chánh Văn phòng TU và lãnh đạo nhiều Ban, Bộ, ngành TU về thăm Hà tĩnh. Ông giành toàn thời gian tới thăm khu công nghiệp gang thép và cảng nước sâu Sơn dương Formosa Hà tĩnh. Dự án này rất khổng lồ với mức đầu tư giai đoạn 1 lên tới 10,5 tỉ USD.[90] Ban giám đốc của FHS đã hoan hỉ báo cáo cho Nguyễn Phú Trọng biết, nhà máy sản xuất thép, nhiệt điện, cầu cảng đã bắt đầu hoạt động!
Ban giám đốc FHS còn hãnh diện báo cáo với ông Trọng, từ tháng 12. 2015 FHS đã cho ra lò sản phẩm thép cuộn cán nóng đầu tiên và đến nay đã có hơn 7.000 tấn thép cuộn được xuất ra thị trường trong và ngoài nước. “Dự kiến, tháng 6. 2016 sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động lò cao số 1. Khi đi vào hoạt động, đây sẽ là nhà máy luyện gang thép lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện nay”.[91]Nguyễn Phú Trọng và phái đoàn cao cấp rất chăm chú và ngưỡng mộ thành quả kinh doanh của FHS. Trong dịp này tuyệt đối từ Nguyễn Phú Trọng tới các nhân vật cao cấp trong phái đoàn không ai đả động một câu hỏi nào với Ban giám đốc Formosa đến thảm khốc cá chết hoàng loạt đang bùng nổ từ đầu tháng 4 khởi đầu từ cảng Sơn dương thuộc khu công nghiệp Vũng Áng của FHS khiến cho nhân dân cả nước đang lo lắng và bất bình “Cá chết trắng biển miền Trung” ![92] Ông Trọng và phái đoàn cũng không đến thăm các nạn nhân! Tại sao người cầm đầu chế độ CS vẫn vỗ ngực là bảo vệ quyền lợi người lao động, nhưng lại chẳng thèm ngó tới thảm trạng của ngư dân, trong khi ấy lại khen ngợi và vuốt ve tỉ phú Dollar nước ngoài? Chả lẽ người đứng đầu chế độ toàn trị lại không biết thảm trạng môi trường ngay chính nơi ông tới thăm đã diễn ra từ hơn ba tuần?
Chỉ một ngày sau Đinh Thế Huynh, Thường trực BBT và khi đó được coi là kế nghiệp ông Trọng, cũng có mặt tại Quảng trị, không xa Hà tĩnh. Ông đã chỉ họp với lãnh đạo Quảng trị về tình hình kinh tế, xã hội, quốc phòng-an ninh và xây dựng đảng; bàn cả việc tôn tạo, nâng cấp Khu tưởng niệm Lê Duẩn. Ông còn giành thời gian đi thăm Nghĩa trang Trường sơn. Nhưng người đứng thứ hai trong đảng cũng tuyệt nhiên không thèm đả động tới thảm trạng “Cá chết trắng biển miền Trung” và cũng chẳng thèm tới thăm hỏi dân chài, những nạn nhân ở Quảng trị sinh sống ra làm sao từ khi xẩy ra đại nạn cá chết hàng loạt![93]
Ngày 17.4 giữa lúc tiếng than và nỗi bất bình của nhân dân về “Cá chết trắng biển miền Trung”, tân TT Nguyễn Xuân Phúc đã giành chọn ngày thăm Quảng trị, nhưng cũng không có thì giờ đi thăm các nạn nhân ngư dân đau buồn, chỉ giành toàn thời gian thăm Nghĩa trang Trường sơn, Nhà lưu niệm Lê Duẩn và Thành cổ Quảng trị.[94] Việc cố tình chọn những địa chỉ trên tới thăm viếng đã cho thấy ông Phúc vẫn chỉ muốn khơi dậy hận thù giữa các tầng lớp nhân dân mặc dầu đã sau 41 năm “chiến thắng”, thay vì “hòa giải dân tộc” như những lời ngon ngọt trước đây. Ông Phúc cũng cố quên lời khuyên chân thành và thực tế của cố TT Võ Văn Kiệt là, kỉ niệm ngày “giải phóng”“có hàng triệu người vui, nhưng cũng có hàng triệu người buồn”!
Trước nỗi bất bình và lo âu của nhân dân cả nước, vì đâu mà nạn cá chết diễn ra từ cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng thuộc Formosa suốt gần ba tuần mà vẫn không tìm ra được nguyên nhân; ngày 25.4 tờ Tuổi trẻ đã có cuộc phỏng vấn ông Chu Xuân Phàm, Trưởng văn phòng Formosa tại HN, về vụ cá chết hàng loạt bắt đầu từ bờ biển Khu công nghiệp Formosa. Ông Phàm đã trả lời thẳng băng:
“Trước khi xây dựng dự án này thì công ty phải xin phép Nhà nước VN. Nhiều khi được cái nọ mất cái kia, đây là tôi nói thật lòng. Hôm nay nhà nước mình muốn cho ngư dân đánh bắt ở đây hay là chọn cái nhà máy thép ở đây, đương nhiên Nhà nước phải có sự cân nhắc. Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây. Nhưng bây giờ mà nói tôi không thể xây dựng nhà máy thép ở đây mà không ảnh hưởng đến con cá, con tôm. Đương nhiên mình cố gắng làm một nhà máy đạt được tiêu chuẩn quy định của nhà nước. Có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”. Rồi ông đưa ra kết luận rất tỉnh bơ và đầy thách thức, coi việc hàng triệu nhân dân miền Trung đang bị điêu đứng không đáng quan tâm bằng sự tồn tại của Formosa: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm Thủ tướng cũng không giải quyết được…”[95]
Tại sao Trưởng văn phòng Formosa tại HN đã có những phát biểu rất phách lối, khiêu khích gây sốc như vậy khi trả lời phóng viên Tuổi trẻ vào sáng 25-4? Có phải chính thái độ rất thờ ơcủa TT, vô cảm trước hàng trăm ngàn nạn nhân của tai nạn cá chết hàng loạt; đặc biệt là sự ưu ái tới thăm Ban giám đốc Fomosa ngày 22.4 của Nguyễn Phú Trọng, người cầm đầu chế độ toàn trị, làm họ tin rằng, họ có chỗ chống lưng rất vững chắc, không chỉ ở HN mà còn cả BK nên chẳng ai có thể làm gì Formosa được?
Từ sau trận đánh ngã “Đồng chí X” ông Trọng đang trở thành người hùng nên ai cũng sợ? Vì thế không thèm nhắc tới đại nạn “Cá chết trắng biển miền Trung”, lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa. Thử hỏi như thế thì bọn quan cấp dưới bố bảo không dám nêu đích danh Formosa ra tố. Chính vì thế, Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản, bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Phạm Khánh Ly cho biết, “đoàn công tác không vào kiểm tra tại khu công nghiệp Vũng áng được, vì đây là khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài, đoàn không có thẩm quyền”.[96] Như vậy Ban giám đốc Formosa đã coi khu công nghiệp của mình giống như sứ quán của một nước bất khả xâm phạm.[97] Họ cho ai vào, làm gì, làm đến đâu trong các công xưởng của họ là quyền riêng của họ. Các cơ quan điều tra của VN nếu có vào cũng chỉ làm những gì họ cho phép mà thôi!Chính vì thế Formosa đã dám nói công khai, “không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ sự liên can” của công ty trong vụ việc này, và giới chức VN đã “liên tục vào bên trong công xưởng tiến hành kiểm tra hệ thống xử lý nước thải, lấy mẫu nước thải” kể từ 22.4 tới nay, tức là sau chuyến thăm của Nguyễn Phú Trọng!
Chính vì vậy chỉ một ngày sau khi Nguyễn Phú Trọng thăm Formosa, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cũng nói giống như tin trên đây của Ban giám đốc Formosa. Ông cho biết về kết quả kiểm tra bước đầu, nguyên nhân do môi trường nước, qua phân tích mẫu những chỉ số thì không có gì bất thường trừ một số mẫu ở Huế mang tính cục bộ.[98] Tuyên bố này hoàn toàn ngược lại với nhận định của Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn Hà tĩnh vào đầu tháng 4 cho biết, “hiện tượng cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xá Kỳ anh) vào ngày 7.4”. Và cũng trái với sự xác nhận của Phó phòng Kinh tế và đô thị (Kỳ anh) Nguyễn Thị Thủy “địa bàn xã Kỳ Lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn Dương của khu kinh tế Vũng Áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày” -như nói ở trên!
Lí do quan trọng khác khiến đại diện Formosa tại HN dám phát biểu khiêu khích “gây sốc” ngày 25.4 là có lẽ họ tin rằng, có cả BK đứng đằng sau. Formosa Hà tĩnh tuy là công ti Đài loan, nhưng trong những năm gần đây tuyển chọn công nhân nước ngoài phần rất lớn là từ TQ. Ngoài ra vốn đầu tư của Formosa mẹ từ Đài loan đang giảm mạnh và nhường cho một số công ti từ TQ. Khi giàn khoan HD 981 xâm nhập trái phép thềm lục địa VN vào giữa 2014 đã xẩy ra va chạm lớn khiến hàng ngàn công nhân TQ đã phải bỏ về nước, nhưng sau đó Nguyễn Phú Trọng đã phải xin lỗi Tập Cận Bình và số công nhân này lại trở lại Formosa làm việc (xem Chương bẩy, IV). Về mặt an ninh quốc phòng, khu vực Vũng áng Hà tĩnh nằm đối diện không xa đảo Hải nam của TQ. Trong kế hoạch bành trướng công khai ngang ngược của BK trên biển Đông thì khu công nghiệp Vũng áng Formosa có thể trở thành tay trong cực kỳ quan trọng khi tình thế cho phép BK ra tay!
Sau phát ngôn gây chấn động, Chu Xuân Phàm đã bị Formosa sa thải để làm dịu dư luận. Nhưng nội dung lời phát biểu của cựu đại diện Formosa đã tự để lộ những hoạt động của công ti này không thèm đếm xỉa gì tới luật pháp VN, vì tin rằng đã có chân trong ủng hộ đang giữ những chức cao nhất. Dùng sức mạnh tiền bạc nhiều tỉ USD trong vài năm vừa qua Formosa có thái độ phách lối và cách hoạt động như kiểu quốc gia trong một quốc gia: “Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây”, “có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”, “muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi!” Rõ ràng với tuyên bố trên Formosa đã gián tiếp thừa nhận, thời gian qua Formosa đã xả nước thải với những hóa chất có chất độc cực mạnh làm tàn phá môi sinh trên biển.
Theo tờ Tuổi trẻ thì Tổng cục môi trường xác nhận là, “Formosa có vi phạm khi thực hiện việc súc xả đường ống nhưng không thông báo cho địa phương”. Ngày 25.4 báo này còn liệt kê 45 loại hóa chất Formosa nhập cảng để súc rửa đường ống. Vẫn theo Tuổi trẻ, “GS,TS Lê Huy Bá (chuyên gia độc học môi trường) cho biết nhận định ban đầu của ông về danh sách các loại hóa chất được sử dụng tại Formosa gồm nhiều chất độc và cực độc. Trong đó có các chất chống gỉ, chất làm sạch bề mặt kim loại, chất tẩy”. “Theo quy định, khi súc xả đường ống, Formosa có trách nhiệm phải thông báo cho địa phương việc súc xả đường ống diễn ra từ thời điểm nào tới thời điểm nào, nhưng Formosa không thông báo, cũng không báo cáo các cơ quan ở địa phương về việc súc rửa đường ống”.[99] Tờ VNNet còn cho biết, “1 thợ lặn Formosa tử vong, 5 người nhập viện” khi lặn xuống biển nơi đường ống của Formosa dẫn ra.[100] Tập đoàn Formosa xuất thân từ Đài loan với vốn đầu tư nhiều tỉ USD cũng đã từng vi phạm pháp luật ở nhiều nơi trên thế giới. Ngay ở Đài loan Tập đoàn này cũng đã bị phạt vì gây thiệt hại môi trường. “Chẳng hạn hồi tháng 7.2010, Formosa bị cho là “gây ô nhiễm không khí vùng miền Trung Đài loan” sau một vụ cháy công nghiệp tại nhà máy ở Mai Liao của họ”.[101]
***
Trong khi nhiều cơ quan chính quyền địa phương ngay trong những ngày đầu đã đưa ra những nhận định khá rõ ràng về nguyên nhân đưa đến đại nạn làm cá chết hàng loạt, nhưng suốt trên ba tuần nhiều bộ trưởng, thứ trưởng không chỉ trốn tránh không thực hiện trách nhiệm điều tra nghiêm túc và minh bạch, lại còn tìm cách bao che cho Formosa, hoặc đưa ra những tin và lập luận rất mâu thuẫn nhau, thậm chí cực kỳ ngớ ngẩn. Ba tuần sau đến lượt cá biển ở khu Bình trị thiên-Huế bị chết, tờ Công an nhân dân ngày 26.4 đưa tít “Nước biển vùng cá chết được xác định nhiễm kim loại nặng”: “Chiều 26-4, Sở Tài nguyên&Môi trường tỉnh Thừa thiên- Huế đã có kết quả phân tích mẫu nước lấy tại khu vực đầm Lập an, cửa biển Lăng cô (thị trấn Lăng cô, huyện Phú lộc) vào thời điểm xuất hiện cá chết tràn lan…Riêng các thông số gồm tổng hàm lượng nitơ tính theo amoni (NH4+-N), hàm lượng kim loại nặng crôm (Cr) vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển cũng như quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặn. Theo đánh giá ban đầu của cơ quan chức năng tỉnh Thừa thiên- Huế, khả năng chất độc trong môi trường nước gây sự cố cá chết hàng loạt xuất hiện từ vùng biển phía Bắc của tỉnh”.[102]
Nhưng trong cuộc họp báo tối 27.4 thứ trưởng bộ Thiên nhiên và môi trường Võ Tuấn Nhân đã làm trên 200 nhà báo lề phải vừa thất vọng, vừa rất bất bình về thái độ vô trách nhiệm và lấp liếm. Sau cuộc họp kín nhiều tiếng đồng hồ của đại diện nhiều bộ và cơ quan do bộ trưởng Bộ Tài nguyên-môi trường Trần Hồng Hà chủ trì, khiến các nhà báo phải chờ đợi đến cả nửa ngày. Nhưng cuối cùng Trần Hồng Hà đã đẩy thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mở “Buổi họp báo chỉ diễn ra trong 6 phút”. Trong đó ông khẳng định “Formosa vô can”. [103] Sau khi đưa ra 2 giả thuyết về nguyên nhân làm cá biển chết hàng loạt (hóa chất độc và “hiện tượng thủy triều đỏ”), ông Nhân khẳng định: “Đến nay, qua kiểm tra và thu thập chứng cứ, chưa có bằng chứng để kết luận về mối quan hệ liên quan của Formosa và các nhà máy đến vấn đề cá chết hàng loạt. Qua số liệu quan trắc và đánh giá của cả các cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, môi trường nước biển chưa phát hiện các thông số môi trường vượt quy chuẩn quy định”.[104] Sau đó ông Nhân chuồn mất!
Trong cuộc gặp riêng Võ Tuấn Nhân, tờ Thanh niên đã tường thuật câu hỏi và trả lời của Thứ trưởng này bảo vệ cho Formosa thật là kì lạ:
“ Thưa ông, trong 2 nhóm nguyên nhân thì nhóm thứ nhất nói có thể do độc tố thải ra từ hoạt động của con người, vậy cụ thể độc tố là gì? Có độc tố nào trùng với hơn 40 loại hóa chất mà Formosa được phép nhập khẩu vào VN để súc rửa đường ống không ?
– Chúng tôi chưa phát hiện ra…- Tôi xin khẳng định, về mặt pháp luật, họ vẫn hoạt động đúng theo pháp luật nước ta. Về mặt xả ra môi trường, liên quan đến hiện tượng cá chết hàng loạt ở các tỉnh ven biển miền Trung, đến nay chưa đủ căn cứ để kết luận.
Ông có thể cho biết kết quả phân tích mẫu nước và mẫu cá của Bộ?
– Cái này nói ra phải có căn cứ giấy tờ cụ thể, rất dài, rất nhiều thông số”.[105]
Trong khi giữ thái độ câm và điếc không thông tin chính xác và nguội lạnh trước những bức xúc của nhân dân cả nước, nhưng Võ Tuấn Nhân lại rất thính tai và năng động trước câu hỏi của một nữ phóng viên về tin không tốt cho chế độ, về nguy cơ ngành du lịch có thể bị tê liệt và yêu cầu bà tắt máy ghi âm. Bà hỏi:
“Thưa ông, trong cái kiểm nghiệm gần đây nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa thiên – Huế, chỗ có một loạt các bè cá chết, thì họ có nói trong nước kiểm nghiệm ra có kim loại nặng. Vấn đề ở đây là trong thời gian tới, chúng tôi muốn là mình có thể trong một thời gian ngắn, vì mùa du lịch sắp tới rồi, mà cá thì…”
“Nghe tới đây, ông Võ Tuấn Nhân liền khoát tay ra hiệu dừng lại và nói: “Tắt máy. Tắt máy nghe. Xin lỗi. Không, không, để anh nói riêng với em. Đừng hỏi câu đó. Hỏi câu đó tổn hại cho đất nước của mình. Nhá. Em hỏi câu đó làm tổn hại cho đất nước của mình”.[106]
Không chỉ trên 200 nhà báo lề phải hoàn toàn thất vọng về “cuộc họp báo 6 phút” của thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mà nhiều nhà khoa học cũng đã kịch liệt chỉ trích những lời tuyên bố rất lếu láo của ông. GS-TS Vũ Trọng Hồng, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy lợi, nói thẳng: “bộ Tài nguyên-Môi trường là cơ quan chức năng được nhà nước giao nhiệm vụ, nhưng kết luận như vậy là không hợp logic diễn biến của vụ việc”.
Nhưng ngày hôm sau trong cuộc họp nội các giả thuyết “thủy triều đỏ” bị bác bỏ. Có lẽ trước sự bất bình ngày càng mãnh liệt của nhân dân về cuộc “Họp báo 6 phút” tối trước, nên TT Nguyễn Xuân Phúc đã vội vàng để bộ trưởng Tài nguyên&Môi trường Trần Hồng Hà phải bay ra Hà tĩnh ngày 28.4 thị sát viêc xả thải của Formosa để nhằm xoa dịu dư luận. Tại đây Trần Hồng Hà đã tuyên bố, “pháp luật VN không chấp nhận việc đặt ống ngầm xả thải”. Như thế ông đã phủ nhận lời của người dưới quyền ông là Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân chỉ vài ngày trước. Ngoài ra ông Hà còn nhận khuyết điểm để cuộc điều tra chậm chạp…[107]
***
Tại sao mới chỉ vài năm trước Nguyễn Phú Trọng đã trách móc và rao giảng “đạo đức cách mạng” tại Hội nghị Cán bộ toàn quốc với sự tham dự của trên 1000 cán bộ cao cấp ngày 27.2.12: “ Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không? “ và “ người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh”., “mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai?”[108]
Nhưng chỉ trong vài năm ngồi trong lâu đài quyền lực và hưởng thịt, cá loại ngon, sạch không phải trả tiền, nên lòng Nguyễn Phú Trọng đã nguội lạnh, vô cảm trước ngư dân thất nghiệp chịu cảnh đói rách vì thảm họa cá biển và nhân dân nhiều nơi có thể bị ăn cá và mắm độc. Chẳng những thế ông vẫn đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc tỉ phú Dollar Formosa Hà tĩnh và khen ngợi cách làm ăn của họ, chẳng thèm đoái hoài tới tiếng than ngất trời của dân lành, mặc dầu gần một tháng vẫn không có cơ quan nào của đảng lẫn nhà nước tìm ra nguyên nhân cá chết hàng loạt!
Trong một xã hội pháp trị theo Dân chủ đa nguyên thì khi một cá nhân, tổ chức hay xí nghiệp đang bị điều tra, người có trách nhiệm trong nhà nước không được phép có những hành động gây cản trở hoặc can thiệp công cuộc điều tra. Trong vụ cá chết hàng loạt ở duyên hải nhiều tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4 và tập đoàn Formosa đang trở thành đối tượng điều tra của các cơ quan có thẩm quyền. Nhưng người cầm đầu chế độ là TBT Nguyễn Phú Trọng đã cố tình lại thăm và gặp Ban giám đốc Formosa ngày 22.4 và còn khen ngợi thành quả kinh doanh của công ti Đài loan này. Như thế Nguyễn Phú Trọng đã lợi dụng uy quyền riêng để cản trở, làm đình hoãn cuộc điều tra và còn tạo cơ hội để Formosa xóa sạch các tang chứng !
Trong dịp này nhiều tổ chức, nhân sĩ và chuyên viên đã công khai lên tiếng:
“Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bao bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo”.[109]
Những ngày Chủ nhật trong tháng 5 nhân dân các giới -đi đầu là trí thức, thanh niên và đảng viên tiến bộ- đã xuống đường ở HN, Sài gòn và nhiều nơi khác đòi “Trả lại biển xanh cho chúng tôi, chúng tôi chọn tôm cá”. Mọi người đang đồng thanh đòi:
– Nhân dân muốn biết rõ nhanh và công khai thủ phạm đã gây ra thảm trạng cá chết hàng loạt. Phải chấm dứt ngay những nguyên nhân gây ra thảm họa môi trường!
– Bồi thường thiệt hại cho ngư dân và các cơ sở du lịch!
– Công khai các cơ quan và cá nhân nào đã cố tình làm chậm, làm sai, đánh lạc dư luận và phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân!
***
Sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung ba tháng, nhưng tại HNTU 3 vào đầu tháng 7.2016 trong suốt 5 ngày họp đã không có nói tới chủ đề cực kỳ nóng bỏng này.Mặc dầu đây là thảm họa môi trường lớn nhất ở VN, gây thiệt hại sức khỏe, tài sản và môi trường sống trực tiếp cho hàng triệu người dân bốn tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị và Thừa thiên-Huế; đồng thời còn tạo những nguy hại lâu dài về nhiều mặt cho nhân dân cả nước. HNTU này diễn ra sau khi Ban giám đốc Formosa công khai xin lỗi trong cuộc họp báo ngày 30.6. và nhận bồi thường 11.500 tỉ đồng, tương đương 500 triệu USD.[110]Nhưng ở đây Formosa không chỉ là thủ phạm duy nhất, vì nhiều cơ quan Đảng và Nhà nước đã cấp giấy phép đầu tư, hoạt động và kiểm soát công ti Formosa cũng đều là thủ phạm. Vì chính các cơ quan này đã lơ là và vô trách nhiệm trong các lãnh vực phụ trách, nên đã để cho Formosa làm ăn như một vua con trong vùng. Trong cuộc họp báo ngày 30.6 các Bộ trưởng đã cố tình tránh né không làm rõ cơ quan và người phải chịu trách nhiệm.[111]
Trong khi ấy các cuộc biểu tình của nhiều giới vào ba cuối tuần từ đầu tháng 5.16 với các khẩu hiệu “Cá cần nước sạch”, “Nước cần minh bạch” đã bị công an mật vụ chế độ toàn trị ngăn cấm, đàn áp và chụp mũ.Trong cuộc họp báo ngày 30.6 lần đầu tiên các quan chức hiện diện xác nhận, Formosa là thủ phạm gây ra thảm trạng môi trường ở miền Trung; nhưng cùng lúc họ lại vẫn kết án gay gắt những cuộc biểu tình của nhân dân đòi Formosa phải sớm công khai minh bạch về nguyên nhân dẫn tởi thảm trạng môi trường. Dịp này Trương Minh Tuấn, Bộ tưởng 4 T vẫn chụp mũ: “Tôi cũng nói thẳng rằng, có thế lực thù địch đã lợi dụng tình trạng cá chết này để công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thậm chí kích động để gây mất trật tự công cộng, gây bất an trong nhân dân”.[112]
Mãi hơn nửa năm sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung, ngày 17.10.16 trước các “đại biểu cử tri” tại Ba đình, Hoàn kiếm, tức những đảng viên ngoan ngoãn chỉ biết xu nịnh và bốc thơm, Nguyễn Phú Trọng đã không sợ bị chất vấn nên đã bộc lộ:
“Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”.[113]
Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị đã nhìn nhận cung cách suy nghĩ, quyết định và hành động công việc nước theo lối ăn xổi ở thì, bóc ngắn cắn dài, xuất phát từ bệnh kiêu ngạo quyền lực, không cần nghe ý kiến của các chuyên viên cũng như nhân dân. Lời xác nhận này có khác nào như người chủ nhà đã xây nhà mà không xây cầu tiêu, không lập hệ thống dẫn nước thải! Xây nhà máy sản xuất thép không tính tới chất thải độc hại! Xây hàng trăm đập thủy điện không tính tới việc đồng ruộng mất nước, nhân dân thiếu nước sinh hoạt, nhưng khi mưa lũ lại trở thành đại họa cho nhân dân! Bất kể tới lời can ngăn của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều tướng lãnh và chuyên viên những người cầm đầu chế độ toàn trị đã cho BK xây các nhà máy khai thác Bauxit ở Tây nguyên từ năm 2009 bất kể tới hậu quả môi trường và an ninh quốc phòng! Nay tới Formosa!
Đây là sự thông minh hay chính là sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của Nguyễn Phú Trọng và các đại quan đỏ trong BCT?Chính Phạm Văn Đồng, TT đầu tiên và lâu đời nhất của chế độ toàn trị đã phải nhìn nhận là, sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của những người cầm đầu đã gây ra những hậu quả thảm khốc cho nhân dân trong giai đoạn đó.
Tình trạng này hiện nay còn tệ hại hơn, ngay Nguyễn Phú Trọng đã phải nhìn nhận!Ông Trọng còn nói “bây giờ chúng ta phải trả giá”. Nhưng “chúng ta” ở đây là ai? Có phải Nguyễn Phú Trọng và các đại quan trong BCT và TUĐ đang sống vương giả và ngồi trong những biệt thự an toàn ? Chính thái độ ăn xổi ở thì và bệnh kiêu ngạo quyền lực của họ đã dẫn tới công ti Formosa gây thảm họa môi trường cho bao nhiêu triệu nhân dân bốn tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4. 2016 và đang phải hứng chịu cảnh thất nghiệp, bệnh tật và đói nghèo. Họ chia sẻ sự cơ hàn với nhân dân như thế nào?
Khi thảm họa môi trường do Formosa gây ra sau mấy tuần hàng triệu nhân dân điêu đứng lo âu, nhưng TT Nguyễn Xuân Phúc, Thường trực BBT Đinh Thế Huynh khi đi qua những vùng này vẫn ngoảnh mặt làm thinh; còn người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng lại đủng đỉnh tới thăm hỏi và khen ngợi Ban giám đốc Formosa và chẳng thèm màng tới nạn nhân của Formosa! Còn Chủ tịch nước Trần Đại Quang thì trước sau vẫn im thin thít. Trong buổi QH khai mạc Kì họp thứ 2 ngày 20.10.16 Ủy viên BCT, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) -cánh tay dài của ĐCS- Nguyễn Thiện Nhân cho biết, “đến nay vẫn chưa có cơ quan, tổ chức và cá nhân nào trong hệ thống quản lý Nhà nước có liên quan đứng ra nhận lỗi và chịu trách nhiệm”.[114] Mặc dầu Nguyễn Xuân Phúc vẫn lớn tiếng là “Chính phủ phục vụ”! Rõ ràng là thái độ cao ngạo quyền lực từ cấp lãnh đạo trở xuống!
Nếu tứ trụ Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Thị Kim Ngân thực tình nghiêm túc với chính mình, khi đối chiếu với những tiêu chuẩn cao vòi vọi để chọn lựa cán bộ cao cấp mà chính họ đã đưa ra trong HNTU 11 (5.15) thì chính họ phải thấy hết sức rõ ràng là, họ đã hoàn toàn vô trách nhiệm trước thảm họa môi trường do Formosa gây ra!
“Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!” Lời nhìn nhận trên của TBT Nguyễn Phú Trọng có tầm quan trọng đặc biệt. Nó bạch hóa lối suy nghĩ cực kỳ thiển cận và phong thái hành động vô trách nhiệm của những người có quyền lực cao nhất trong chế độ toàn trị khi quyết định mời gọi các công ti nước ngoài đầu tư vào VN. Đây là những quyết định ở cấp cao nhất là BCT và BBT và được sự cố vấn của các Ban trong đảng và các Bộ trong CP. Các quyết định liên quan tới chương trình FDI nói chung, đặc biệt các công trình FDI có vốn đầu tư cao mang tầm vóc chiến lược, không chỉ có ý nghĩa thuần kinh tế, mà nó còn liên hệ trực tiếp tới nhiều lãnhvực chính trị, an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân.
Nhưng khi để Formosa đầu tư cả chục tỉ USD vào VN, Bộ chính trị đã quyết định theo tiêu chuẩn nào? Nguyễn Phú Trọng đã trả lời: “Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu”.Như vậy là các tỉ Dollar đã làm họ chóa mắt, nên đã vội vàng nhắm mắt bỏ qua các yếu tố cực kỳ quan trọng khác là an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân. Như vậy khi quyết định mời Formosa vào đầu tư, những người có quyền lực trong BCT đã đặt sự tồn tại của chế độ và cái ghế của chính họ, ích kỉ cá nhân lên hàng đầu. Chỉ mong càng có nhiều Dollar vào càng nhanh càng tốt!Chương trình FDI là một chủ trương rất lớn được đề cao trong các ĐH đảng, nhưng trong thực hành thì BCT đã vô trách nhiệm cùng cực, hoàn toàn không có một kế hoạch đúng đắn và khoa học để tạo những lợi ích thực sự cho đất nước và tránh những hậu quả tai hại cho nhân dân. Chính điều này người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng đã công khai xác nhận như trên!
Nay trong khi hàng triệu người dân phải hứng chịu hậu quả do thảm họa môi trường, phải trả giá bằng thất nghiệp, bệnh tật mà nguyên do từ những quyết định sai lầm và thái độ cực kỳ vô trách nhiệm của BCT, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng. Nhưng khi nhân dân đòi những người có quyền lực đã tiếp tay gây ra thảm họa môi trường phải có những chính sách đền bù thích đáng và biện pháp nghiêm khắc với Formosa, thì bọn quan độc ác này đã không biết ăn năn, không chịu xin lỗi, lại còn cho báo chí và chính quyền địa phương chụp mũ xuyên tạc, cho công an ngăn cản và đe dọa “không bảo đảm an ninh cho người đi khiếu kiện”[115]Chẳng những thế Nguyễn Phú Trọng còn để công an giam giữ và tòa án nhân dân bỏ tù nhiều người đi biểu tình! Họ phục vụ đất nước, bảo vệ quyền lợi nhân dân, hay đã tự chuyển biến xấu chỉ lo phục vụ quyền lợi riêng cho chính mình, nên đã sẵn sàng bảo vệ các nhà đại tư bản nước ngoài? Nếu còn lương tâm có lẽ ông Trọng nên đọc bài thơ của cô giáo Trần Thi Lam ở Hà Tĩnh đã sáng tác vào dịp này:“Đất nước mình ngộ quá phải không anh?”
Chỉ trong 20 câu thơ không chỉ trách móc những người có trách nhiệm với đất nước đã làm cho nhân dân phải đói khổ, nhục nhằn, môi trường bị tàn phá, còn bị khinh rẻ và đàn áp. Bài thơ còn nhắc nhở mỗi cá nhân, trước những nguy vong của đất nước phải can đảm cùng nhau gánh vác trách nhiệm làm thay đổi tình hình. Bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” là lời gọi rất chân thành và thúc giục mọi người, mọi giới hãy can đảm cùng nhau lên đường làm nhiệm vụ của người công dân VN là làm lại lịch sử, đưa dân tộc ta tới quang vinh trong Thế kỉ 21!
Mô hình phát triển theo “Kinh tế Thị trường
định hướng Xã hội chủ nghĩa”
Kết quả thực tiễn: Doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ, lãng phí nguồn ODA, bùng nổ nợ công, tham nhũng và lợi ích nhóm
Trong suốt thời kì từ 1986 tuy đề cao là “đổi mới” trong kinh tế, nhưng sợi chỉ đỏ trong các lãnh vực công nghiệp trước sau vẫn là DNNN. Trước đây thường được gọi là Quốc doanh. Nay vì tình thế bất đắc dĩ nên phải nhìn nhận sự hiện diện của các loại kinh tế tư nhân VN và FDI; tuy nhiên trước sau hệ thống DNNN được xếp vào thành phần tối ưu và giữ trọng trách “chủ đạo”, tức là làm nền tảng cho các hoạt động kinh tế. Chính sách này có thể ví như một con bạch tuộc. Trong thời hùng mạnh nó vươn các chân tới mọi hang cùng ngõ hẻm, nay yếu sức nên phải rút chân ra một số nơi, nhưng vẫn quyết bám chặt ở những địa bàn hiểm yếu. Cách thay đổi nhỏ giọt và trong điều kiện ngặt nghèo như thế thể hiện tư duy và tâm lí vẫn như cũ của một số người có quyền lực liên quan tới các hoạt động kinh tế. Ở đây là chủ nghĩa Marx đầy thành kiến đối với các sinh hoạt kinh tế của tư nhân, đặc biệt thành phần tư bản. Ở đây cũng là tuân thủ tư tưởng giành và giữ quyền lực độc quyền cho ĐCS của Lenin đã thực hiện ở Nga và Liên Xô cũ trước đây và được HCM vận dụng vô điều kiện trong việc cướp và giữ chính quyền độc quyền cho ĐCS từ 1945. Điều này phản ảnh tâm lí không tin dân và không dám nhìn nhận những thành công không thể chối cãi của nhiều quốc gia đã từ bỏ các DNNN và trao lại các hoạt động kinh tế cho nhân dân.
Căn cứ vào các Nghị quyết của các ĐH và các Luật về DNNN, hệ thống DNNN có nhiệm vụ vừa hướng dẫn vừa kiểm soát toàn bộ sinh hoạt kinh tế và trực tiếp dưới quyền lãnh đạo của ĐCS, trong thực tế là BCT và BBT. Các bộ và cơ quan của CP có nhiệm vụ thi hành các quyết định của BCT trong các DNNN. Nhờ vậy, hệ thống DNNN giữ vai trò như một bộ máy tuần hoàn trong cơ thể truyền dinh dưỡng, dưỡng khí và máu cho các bộ phận. Nó còn giữ nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là định hướng và kiểm soát nền kinh tế trong cái khung của một chế độ toàn trị. Muốn như vậy thì hệ thống DNNN phải nắm các động mạch chính của nền kinh tế-tài chánh. Như hệ thống ngân hàng, các lãnh vực công nghiệp liên quan tới quốc phòng, an ninh như truyền thông (báo chí, điện thoại…), chế tạo vũ khí, khai thác quặng mỏ, dầu khí, xây dựng các hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, phi trường, hải cảng và các trung tâm điều phối nông, lâm, thủy sản…
Mục tiêu và quan điểm này đã được trình bày trong nhiều ĐH từ 1986. Nó thể hiện rõ hơn trong ĐH 8 (1996) khi họ đưa ra chủ trương đầy tham vọng là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với kinh tế tri thức để “đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. [116]Đặc biệt nó được định nghĩa và xác định lãnh vực hoạt động rất rõ ràng trong Báo cáo Chính trị tại ĐH 9 (2001):
“Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật”.[117]
Những người cầm đầu Đảng khi ấy đã đưa ra tham vọng rất cao là, KTNN không chỉ giữ “chủ đạo” trong việc tạo mặt vật chất làm phương tiện thiết yếu để bảo vệ chế độ; cả về mặt chất lượng và đạo đức nghề nghiệp, các DNNN còn là những đơn vị kinh tế có trình độ công nghệ kĩ thuật hàng đầu, năng suất lao động cao và tạo ra được những sản phẩm có chất lượng tốt. Không những thế, vẫn theo tham vọng của họ, sự hoạt động của các DNNN không chỉ đem lại sự phồn vinh cho xã hội mà còn làm gương mẫu trong việc “chấp hành pháp luật”!Họ đã vẽ ra một bức tranh tuyệt vời về Kinh tế Nhà nước (KTNN) xuyên qua các DNNN! Khi nuôi tham vọng cực kỳ cao này họ đã ngủ mơ, nhưng cũng có thể họ đã quá tự tin theo tâm lí kiêu ngạo CS, bất kể các qui luật khoa học và bất chấp cả những kinh nghiệm thất bại từ các mô hình Nhà nước làm kinh tế trong thời kì trước đây ở VN cũng như ở nhiều nước CS trước đây.
Để thực hiện giấc mộng kê vàng này, trong ĐH 9 họ quyết định thành lập các Tập đoàn kinh tế từ sự sát nhập các Tổng công ti và công ti DNNN:
“Trong 5 năm tới, cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp mà Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế”.[118]
Mô hình Tập đoàn kinh tế bắt chước các Cheabol của Nam Hàn. Có lẽ ý tưởng này được thành hình sau các cuộc đi thăm Nam Hàn của nhiều chính trị gia cấp cao của đảng, đặc biệt là Đỗ Mười vào năm 1995. Sự phát triển nhanh chóng và cức mạnh của nhiều Cheabol Nam Hàn đã gây cho họ những ấn tượng mạnh. Vì thế họ cũng muốn thành lập một số Tập đoàn kinh tế như những “quả đấm thép” trong kinh tế. Chủ trương này dựa trên Luật DNNN năm 2003. [119]Theo Điều 9 của Luật này, việc thành lập các Tập đoàn và Tổng công ti cũng như bổ nhiệm các Ban quản trị các DNNN thuộc quyền TT và các Bộ. Như thế các cơ quan CP như một cơ quan tổng chỉ huy KTNN, đặt trực tiếp dưới quyền TT. Đấy là mặt tổ chức nhân sự.
Chế độ toàn trị còn giành những ưu đãi đặc biệt cho DNNN cả về vốn tư bản, đất đai và các tài nguyên. Các DNNN được sửdụng ngân sách quốc gia, được vay tiền của các ngân hàng với lãi suất rất thấp, có quyền phát hành (bán) trái phiếu ở trong và ngoài nước với sự bảo lãnh của Nhà nước, không phải trả tiền đất để xây các xí nghiệp, được hưởng ưu đãi quan thuế trong việc xuất nhập khẩu sản phẩm, chỉ phải đóng thuế mức rất thấp so với các doanh nghiệp tư. Quan trọng khác nữa, các DNNN được độc quyền sử dụng các nguồn vốn ODA, tổng số lên tới 78 tỉ USD trong gần ba thập niên qua.
Với việc hưởng các ưu đãi và độc quyền đó, có thể ví các DNNN như những đứa con cưng của một tỉ phú, vừa có tiền bạc lại đầy quyền lực, được nuông chiều đủ thứ, lại còn được bảo vệ không ai dám đụng chạm tới, kể cả pháp luật! Các cậu công tử này đâu cần phải học hành, đâu cần phải lao động, chỉ việc ngồi mát ăn bát vàng! Đây không phải là chuyện giả tưởng hay bức tranh siêu thực, nhưng lại là một sự thực 100% suốt mấy thập kỉ ở VN dưới chế độ toàn trị!
Độc quyền trong chính trị đã tác hại nguy hiểm như thế nào ở nhiều nước. Độc quyền cả chính trị lẫn kinh tế còn gây thiệt hại khủng kiếp hơn nữa cho người dân. Hình ảnh kinh tế kiệt quệ, nhân dân sống trong nghèo khổ, trong khi cán bộ trung và cao cấp hưởng giầu sang và tham nhũng ở cựu Liên Xô và Đông Âu cho tới cuối thập niên 80 không ai có thể quên được.
Tại VN sự độc quyền của các DNNN đã tiêu giệt yếu tố cạnh tranh, khiến toàn bộ kinh tế không thể vươn lên được. Vì cạnh tranh lành mạnh là yếu tố tối cần thiết để thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tiến lên, đồng thời bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Nhưng ở VN trong khi các doanh nghiệp tư bị chèn ép thì các DNNN ngồi chơi xơi nước, lãng phí tiền bạc, tài nguyên và thời gian! Vào cuối 2013 các tập đoàn và tổng công ti nhà nước chiếm thị phần áp đảo trong toàn bộ kinh tế. Như Tập đoàn Điện (bao gồm EVN và PVN) chiếm 80% thị phần, Tập đoàn Than và khoáng sản 98%, Tập đoàn Dầu khí 100%, Tập đoàn vận tải đường sắt (100%), Tổng công ti hàng không VN (61,4%), Tập đoàn viễn thông (gồm VNPT và Viettel) (81,5%).[120]
Số liệu tài chính tổng hợp của các Tập đoàn và Tổng công ti Nhà nước
Nguồn: Bộ Tài chính (dẫn tại Matheson, 2013, tr. 7; Thời báo VN, 2014)
Dưới những điều kiện của chế độ toàn trị, mọi quyết định từ chính trị, kinh tế, pháp luật tới văn hóa xã hội chỉ là quyết định của một số người có quyền lực trong BCT. Trên họ không còn ai hết, không có những cơ chế kiểm soát công khai và nghiêm túc, không có báo chí độc lập và hệ thống một xã hội dân sự độc lập. Nên những người này có thể ban bố các chính sách, đạo luật theo ý muốn của họ và khi cần thiết có thể giải thích tùy tiện, vo tròn, bóp méo và thậm chí làm vô hiệu hóa các luật pháp hay quyết định trước đây của chính họ, nếu thấy rằng nó bất lợi hay nguy hiểm cho địa vị và quyền lực của họ. Điều này càng dễ xẩy ra khi đụng chạm tới quyền-tiền, hai động lực có sức lôi cuốn rất mạnh thúc đẩy lòng tham của con người, nhất là những người có điều kiện biến quyền lực thành tiền bạc, hoặc dùng tiền bạc để mua quyền lực!
Cách tổ chức và điều hành của hệ thống DNNN, nhất là từ gần hai thập niên vừa qua với việc ra đời các tập đoàn và tổng công ti nhà nước, là những dẫn chứng cụ thể rõ rệt nhất về sự liên hết như hình với bóng của quyền lực và tiền bạc dưới chế độ toàn trị ở VN.Các giám đốc và hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) của các tập đoàn và tổng công ti nhà nước do TT chỉ định. Các cơ quan này có quyền hành rất lớn trong mọi quyết định liên quan tới hoạt động của tập đoàn và tổng công ti. Từ việc chọn lựa nhân sự then chốt, đầu tư, vay tiền, gọi thầu tới việc liên kết kinh doanh với bên ngoài. Họ đều là những cán bộ có thế lực, nhưng hầu như không có kiến thức và kinh nghiệm quản trị các công ti lớn. Một khi quyền nhiều, nhưng trách nhiệm rất ít thì dễ sinh ra lạm dụng những gì có lợi cho bản thân, gia đình và vây cánh. Từ đó dẫn tới những lãng phí hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng, tự do xà xẻo các công trình. Muốn làm giầu bất chính nhanh và gọn gàng thì phải lập phe cánh che chở và bảo vệ lẫn nhau. Qua đó sẽ hình thành các nhóm lợi ích.Vì quyền lợi ích kỉ, các nhóm này sẽ lợi dụng quyền lực kết hợp với nhau ngay từ giai đoạn soạn thảo các kế hoạch có lợi cho phe cánh của mình.
Trong vụ PMU 18 thứ trưởng Giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến cùng cánh vế với bộ trưởng Giao thông vận tải Đào Đình Bình đã lôi kéo cả con rể TBT Nông Đức Mạnh vào làm. Nhờ vào uy quyền lớn nên họ đã được giao nhiều dự án xây dựng hạ tầng với số vốn cả hàng ngàn tỉ đồng từ nguồn ODA và lập ra các công ti con làm sân sau để thân nhân và vây cánh thao túng. Sự thỏa hiệp đen tối quyền lực và chia chác tiền bạc trong vụ Vinashin lại càng khủng khiếp hơn nữa. Nguyễn Tấn Dũng dùng uy quyền TT để giao cho người đồng hương Phạm Thanh Bình làm Giám đốc Vinashin, được Ngân hàng Nhà nước cung cấp vốn cả hàng trăm ngàn tỉ đồng, đẻ ra hàng trăm công ti con, đầu tư vào những công trình ngoài cả lãnh vực đóng tàu thủy, như mở cả ngân hàng và công ti du lịch…Sau nhiều năm làm ăn thua lỗ khổng lồ lên tới cả gần 100.000 tỉ đồng, nhưng Nguyễn Tấn Dũng vẫn bình chân như vại. Hai người có quyền lực nhất khi ấy là Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã ngấm ngầm thỏa hiệp với nhau hai ghế TBT và TT, như đã trình bày trong Chương sáu, XI.
PVN và vụ án Đinh La Thăng
Tập đoàn đầu khí VN (Petro VN, PVN) là một công ti Nhà nước lớn nhất. Năm 2015 đạt tổng doanh thu là 293.439 tỉ đồng, đóng góp vào NSNN là 93.000 tỉ đ. trong tổng số thu NSNN là 911.100 tỉ đ.; nghĩa là chiếm tới gần 12% tổng thu của NSNN.[122] Như vậy PVN đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế VN. Năm 2017 PVN khai thác 15,52 triệu tấn dầu thô, 9,89 tỉ m³ khí; sản xuất 20,58 tỉ kWh điện, 1,65 triệu tấn phân đạm, 6, 24 triệu tấn xăng dầu. [123]
Theo Quyết định 924-QĐ-TTg ngày 18.6.2010 đây là Tập đoàn độc quyền trong khai thác, vận chuyển, chế biến, lưu trữ dầu hỏa và khí đốt; ngoài ra còn độc quyền các dịch vụ về dầu khí ở trong và ngoài nước. Quyết định trên còn giành cho PVN độc quyền kinh doanh, phân phối các sản phầm dầu khí và các nguyên liệu hóa chất dầu khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị và sản phầm dầu khí; khảo sát, thiết kế, xây dựng, khai thác, sửa chữa các công trình, phương tiện phục vụ dầu khí dân dụng. Không những thế PVN còn có quyền đầu tư, sản xuất, chế biến, kinh doanh nhiên liệu sinh học, điện và phân bón; đầu tư khai thác than và khoáng sản tại nước ngoài. Đặc biệt nữa, PVN còn được hoạt động kinh doanh cả những lãnh vực ngoài dầu khí, như: đầu tư, kinh doanh bất động sản; kinh doanh khách sạn, du lịch; đầu tư, khai thác, kinh doanh các cảng, vận tải biển, sông và hàng không và đường bộ…[124]
Như thế cho thấy PVN không chỉ là một “vua” trong lãnh vực dầu khí mà còn bao thầu cả trong nhiều lãnh vực khác! Từ khi trở thành tập đoàn lớn nhất, PVN trong nhiều năm liên tiếp đã “sai phạm rất nghiêm trọng” trong việc sử dụng vốn, đầu tư hàng chục ngàn tỉ đồng vào nhiều lãnh vực nhưng không có hiệu quả, phải nằm đắp chiếu và thua lỗ. Nhất là dưới thời Đinh La Thăng làm Giám đốc và Bí thư đảng ủy Tập đoàn PVN (2005-2011) và các người kế vị những năm sau này. Như trong Thông báo của Ủy ban Kiểm tra TU ngày 27.4.17 do Trưởng ban và UVBCT Trần Quốc Vượng công bố.[125]
Khi đó là thời có nhiều quyền lực của các UVBCT, như TT Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng (CTQH và TBT), Nguyễn Sinh Hùng (Phó TT thứ nhất và CTQH, Trương Tấn Sang (Trưởng ban Kinh tế TU, Thường trực BBT và CTN), Tô Huy Rứa (Trưởng ban Tuyên giáo và Trưởng ban Tổ chức), Nguyễn Xuân Phúc (Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng CP, Phó TT)…Điều vô cùng ngạc nhiên là, mặc dầu đã xẩy ra nhiều sai phạm rất nghiêm trọng trong suốt nhiều năm, nhưng Đinh La Thăng vẫn trở thành ngôi sao sáng chính trị liên tiếp trên 10 năm: Là UVTU từ khóa 10 (2006), sau khi thôi Giám đốc PVN lại lên nắm chức bộ trưởng Giao thông vận tải (2011-16), UVBCT Khóa 12 và Bí thư Thành ủy thành phố HCM (tới tháng 5.17), đại biểu QH các khóa 11-14 (tới 5.17).
Vì vậy một số câu hỏi rất quan trọng được nêu ra trong các hoạt động sai phạm rất nghiêm trọng của PVN, từ thời Đinh La Thăng làm giám đốc và cả những người kế vị, nhưng tại sao vị thế chính trị của ông vẫn lên như diều trong thời gian rất dài đến cả chục năm liên tiếp? Vì nó hoàn toàn đi ngược lại những tiêu chí chọn lựa và giao phó công việc cho “những cán bộ cấp chiến lược” theo HNTU 11 Khóa 11 (5.15) dưới quyền Nguyễn Phú Trọng đã đề ra:
“Kiên quyết không để lọt vào BCHTU những người có một trong các khuyết điểm, như: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng, có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm… tham nhũng, tiêu cực lớn …không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giầu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc” [126]
Ông Trọng đã từng nhấn mạnh, công tác cán bộ là then chốt của các then chốt. Chả lẽ suốt thời gian rất dài như vậy Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Tô Huy Rứa và Nguyễn Xuân Phúc….ở những địa vị cao như vậy cả trong đảng lẫn chính phủ lại không biết rõ những sai phạm nghiêm trọng trong PVN và Đinh La Thăng?
Phải phân biệt ở đây một số trường hợp: Nếu họ không biết những gì đã xẩy ra tại PVN thì chứng tỏ họ không đủ khả năng đảm nhiệm các trọng trách. Nhưng nếu biết mà không dám nói, chứng tỏ họ làm bù nhìn. Không những thế, nếu biết những cán bộ cao cấp đã làm những “sai phạm rất nghiệm trọng” như Đinh La Thăng mà không dám cách chức lại còn cất nhắc, chứng tỏ họ càng vô trách nhiệm và chỉ lo củng cố quyền lực, chểnh mảng nhiệm vụ, không cương quyết bảo vệ tài sản của đất nước và quyền lợi của nhân dân!
Nắm các địa vị quan trọng trong đảng và chính phủ, họ phải chịu trách nhiệm chính trị, trách nhiệm về pháp luật và lương tâm đạo đức, vì đã để cho Đinh La Thăng và nhiều cán bộ cao cấp trong PVN hoạt động sai phạm nghiêm trọng liên tiếp trong nhiều năm. Do đó đúng ra Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và các UVBCT đầy quyền lực nêu trên phải công khai nhận trách nhiệm chính trị trước nhân dân và phải xin từ chức. Không những thế, họ còn phải chịu trách nhiệm về mặt luật pháp đối với những thiệt hại cực lớn cho ngân sách quốc gia và các tài sản của nhà nước.
Họ chủ trương DNNN làm chủ đạo và giành nhiều ưa đãi, lại không có cơ chế luật pháp nghiêm minh, không có báo chí độc lập theo dõi, có khác nào như mời cán bộ tham nhũng thả cửa hôi của. Vì thế tập đoàn PVN là doanh nghiệp nhà nước lớn nhất đã có thể dễ dàng làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng trong nhiều năm. Sự hoạt động của các tập đoàn, trong đó có PVN, thuộc quyền của BCT và CP, trong đó hai người đứng đầu là TBT Nguyễn Phú Trọng và TT Nguyễn Tấn Dũng phải là hai người chịu trách nhiệm cao nhất cả về mặt chính trị lẫn mặt pháp luật. Vì các nghị quyết của các HNTU và quyết định của CP đều qui định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể cũng như cá nhân phụ trách. Chính Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần tuyên bố, cơ quan nào để xẩy ra lãng phí và tham nhũng nghiêm trọng thì người đứng đầu cơ quan phải chịu trách nhiệm trước đảng và nhân dân!
Riêng trường hợp của Nguyễn Phú Trọng, một mặt ông trương cờ với những tiêu chí thật cao trong việc lựa chọn cán bộ cấp chiến lược vào cấp cao nhất. Như “Ủy viên BCT, BBT phải là những đồng chí thật tiêu biểu của Ban chấp hành trung ương (BCHTU) về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” và không “tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm”.[127]Nhưng mặt khác, chính ông lại dùng các thủ đoạn để giành cho riêng mình được xếp vào “trường hợp đặc biệt”, đồng thời cô lập Nguyễn Tấn Dũng bằng cách mua chuộc những thân tín của ông Dũng, trong đó cho Đinh La Thăng vào BCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM.
Nhưng sau khi đã nắm vững ghế TBT thêm một nhiệm kì thì ông liền ra tay thanh toán những đối thủ để trừ hậu hoạ, thậm chí đưa cả đối thủ ra xét xử theo những bản án đã định sẵn. Thủ đoạn nham hiểm này không làm sạch bộ mặt của ông Trọng, mà chỉ bôi đen thêm. Một người nổi tiếng lợi dụng địa vị để tham nhũng quyền lực trong suốt hơn thập kỉ vừa qua thì không thể chống tham nhũng quyền lực và tiền bạc được. Tay đã nhúng chàm! Vì tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc như bóng với hình, chúng nương tựa nhau, bảo vệ nhau. Đây mới là nguy cơ của mọi nguy cơ đưa chế độ toàn trị từng bước nhưng chắc chắn rơi sâu xuống vực thẳm! Quyền và tiền như đổ dầu vào lửa. Tới một thời điểm thích hợp không còn xa, những quan tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc không thể chung sống và cũng không thể nhượng bộ nhau!
Tại HNTU 5 Khóa 12 (5-10.5.17) Đinh La Thăng đã bị cách chức UVBCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM. Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra câu hỏi về tình trạng ngày càng thua lỗ và tham nhũng trong các DNNN: “Vì sao những hạn chế, yếu kém nêu trên đã được chỉ ra từ lâu nhưng qua nhiều nhiệm kỳ đến nay tình hình vẫn chậm chuyển biến, thậm chí có mặt còn trầm trọng hơn?”
Là người cầm đầu BCT thì đúng ra, Nguyễn Phú Trọng phải là người tiêu biểu nhất “của BCHTU về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý”. Đây là những điều kiện chính ông đã đặt ra làm nguyên tắc chọn người vào BCT! Nhưng các DNNN đã được BCT dưới quyền của ông cho tung hoành hoạt động suốt bao nhiều năm qua, nay Nguyễn Phú Trọng lại làm bộ ngây thơ đặt câu hỏi, “vì sao” các DNNN đi đến nông nỗi như ngày hôm nay! Điều này chứng tỏ Nguyễn Phú Trọng đã đóng kịch giả bộ, làm như người mù lòa không nhìn thấy nguyên nhân; hoặc thừa nhận vai trò bất lực, chỉ ngồi làm bù nhìn như ông bình vôi, càng già, càng ngồi lâu, càng tồi!
Giả vờ quên thực tế, bỏ qua những chuyện tầy đình trước sau vẫn là thái độ và mánh lới cực kỳ lươn lẹo của người cầm đầu chế độ toàn trị. Chính khi BK gia tăng chính sách bành trướng và thôn tính ở biển Đông, Nguyễn Phú Trọng đã gạt phăng và nói tỉnh bơ tại QH, “tình hình biển Đông không có gì mới!”. Hay khi xẩy ra thảm trạng môi trường cá chết trắng trên bãi biển miền Trung do công ti Formosa gây ra thì Nguyễn Phú Trọng vẫn thản nhiên lại thăm Ban giám đốc công ti này và sau đó lại còn nói tỉnh bơ như một người bàng quang: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!”
Đối với những người hiểu biết và có lương tri không ai có thể hiểu được những lời tuyên bố trên thật vô cùng lạ lùng như thế. “Bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” của người cầm đầu chế độ toàn trị là như thế!!! Chính điều này Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra làm tiêu chuẩn để chọn lựa và đánh giá các UVBCT !!!
***
Tổng kết lại, phân tích cặn kẽ và nghiêm túc về thái độ, hành động và tư duy diễn tiến từ ĐH 6 (1986) tới ĐH 12 (2016) của những người cầm đầu toàn trị từ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông đức Mạnh đến Nguyễn Phú Trọng có thể tóm lược là: Tuy miệng luôn luôn phải nói “đổi mới”, nhưng trong thâm tâm vẫn tin tuyệt đối vào chủ nghĩa Marx-Leninn và đi theo con đường của Bác đã chọn.Theo họ, đó là “sáng suốt” và “uống nước nhớ nguồn”, không phản bội người khai sáng và những thế hệ đã hi sinh, như thế là vừa khôn ngoan, vừa giữ được đạo lí của người đi sau! Bất đắc dĩ phải thay đổi một vài điều ở lãnh vực này hay lãnh vực khác chỉ là vì tình thế theo tiêu chí “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”!
Trong đó trước sau họ vẫn không thèm đoái hoài tới nguyện vọng và khát vọng rất chính đáng và bức thiết của nhân dân là hòa giải dân tộc thực sự để Bắc-Nam cùng nhau phát triển nội lực, để xây dựng lại quê hương từ đống tro tàn do bạo lực, hận thù từ những cuộc chiến tranh tàn khốc và giai giẳng để lại, tiến lên thành một quốc gia giầu mạnh, nhân dân được hưởng hạnh phúc, sống có nhân phẩm và tự do dân chủ! Họ cũng không thèm đếm xỉa tới những thay đổi sâu sắc của thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ, các nước CS Đông Âu tan dã và TQ trỗi dậy trở thành tân đế quốc đang đe dọa trực tiếp VN, các nước trong khu vực và thế giới!
Trên đây là nền tảng căn bản về thái độ, cách hành động và tư duy của những người cầm đầu chế độ toàn trị suốt trên 30 năm qua. Trong đó hai nhân vật có trách nhiệm cao nhất là Đỗ Mười và Nguyễn Phú Trọng, vì họ đã và đang nắm độc quyền lâu và tàn bạo nhất!
Họ không đủ trình độ kiến thức, sự sáng suốt cần thiết và thái độ chân thành đáng lẽ ra phải có, để nhận ra và hiểu rằng, mỗi thời đại phải có những cái nhìn mới, những bước đi thích hợp; nếu người đi trước làm sai thì thế hệ sau phải có trách nhiệm và can đảm thay đổi. Châm ngôn VN có câu “con hơn cha là nhà có phúc”! Cũng với tinh thần này, đáng lẽ ra họ phải dứt khóat chấm dứt sự dối trá, lừa đảo và từ bỏ những ý thức hệ đã bị thực tiễn chứng minh là sai lầm; đồng thời thực tâm chọn con đường mới để kiến thiết đất nước và gây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Đấy mới chính là sáng suốt, biết đền bù tương xứng những sự hi sinh của bao nhiêu triệu người đã từng tin vào họ.
Nhưng vì quá giáo điều nên họ đã không nhận ra được sự tiến hóa rất chính đáng và tự nhiên của nhân loại. Khi xã hội bộ lạc-du mục không còn thích hợp thì chuyển sang chế độ định cư, lập làng xã, chọn cách tổ chức thích hợp để xây dựng xã hội mới. Khi chế độ phong kiến trở thành lạc hậu và tàn bạo, cản đường tiến hóa của nhân dân thì quyết giã từ nó; khi chế độ toàn trị theo Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận thì nếu sáng suốt, họ phải quyết chuyển sang DCĐN, tôn trọng các giá trị con người, khuyến khích những sáng tạo và tham gia tích cực của mọi thành phần.
Vì bảo thủ mù quáng nên họ vẫn cố giữ thái độ và tư duy cũ đã lỗi thời và hoàn toàn sai lầm. Vì thế họ đã cấm đoán, đàn áp đảng viên và nhân dân nói khác, nghĩ khác và hành động khác. Họ sẵn sàng tiếp tục sử dụng cả dối trá, tàn bạo, thậm chí cả nhân danh người đã khuất để biện minh cho các hành động cực kỳ sai lầm và độc ác. Đến khi bị kẹt cứng (khi Liên Xô sụp đổ) họ lôi cả HCM làm lá chắn để bảo vệ quyền lực và tiền bạc cho cá nhân, gia đình và vây cánh!
Công thức để thực hiện “đổi mới” suốt trên 30 năm qua chỉ loay hoay trên thái độ và tư duy cũ. Đó là: Chủ nghĩa Marx-Lenin + Đi theo con đường của Bác đã chọn. Họ bắt mọi người phải tin theo và làm như họ. Thậm chí còn ra lệnh cho các nhà khoa bảng XHCN không được suy nghĩ khác và phải khẳng định rằng, chỉ có CNXH theo Marx-Lenin như Bác đã chọn là đúng muôn đời! Đỗ Mười đã ra lệnh như vậy. Cựu CTN Nguyễn Minh Triết từng hô “bỏ Điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Nguyễn Phú Trọng đã ngạo mạn phán rằng, “đi lên CNXH là nguyện vọng của nhân dân” và mạt sát các trí thức và chuyên viên đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp là “suy thoái đạo đức”!
Chính vì vậy từ Đỗ Mười tới Nguyễn Phú Trọng, là hai người chính nắm quyền trên 30 năm qua, phải dựng lên bộ máy công an trị hà khắc và sử dụng trí trá, độc ác, giả nhân giả nghĩa để tham nhũng quyền lực và tiền bạc cho chính họ và phe nhóm!
Sử dụng những thủ đoạn và phương pháp gian trá, độc đoán để thực hành các ý thức hệ sai lầm và những hành động cực kỳ mù quáng và tàn bạo suốt trên 30 năm qua đã chứng minh rất rõ ràng: Họ đã tự đánh mất tư cách, cực kỳ vô trách nhiệm đối với đảng viên và nhân dân, kể cả với hàng triệu người đã hi sinh. Vì thế sự cầm quyền và tồn tại của họ và phe nhóm là hoàn toàn bất chính, phản lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân và đi ngược với trào lưu của thời đại!
______________________________
Thân mời đọc tiếp Chương kết: Các nguyên nhân, người chịu trách nhiệm và hậu quả của “Đổi mới” lừa bịp.
Chương cuối: Phải dứt khoát đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx-Lenin, mọi người quyết phá rào cản độc tài, cùng nhau đứng lên nắm lấy cơ hội kiến tạo một Nước Việt Nam Mới: Những điều nên nhớ, nên tránh và nên làm!
Và Mục lục toàn bộ sách và lời Dẫn nhập.
Ngày 6.12.2019 Thủ tướng Đức bà Merkel đã tới viếng các nạn nhân tại Trại tập trung Auschwitz (Ba Lan). Nơi đây, trong Thế chiến thứ 2 dưới chế độ Quốc xã, Hitler tôn thờ chủ nghĩa quốc gia cực đoan, đã giết hại trên 1,1 triệu người. Tại đây bà Merkel đã đọc một diễn văn quan trọng. Trong đó, cũng như hai Thủ tướng Đức trước, bà đã đề cao lương tri và tinh thần trách nhiệm của người lãnh đạo một Nước Đức Mới. Đó là tôn trọng những giá trị dân chủ và pháp quyền, dám can đảm nhìn nhận thẳng thắn những tội ác của chế độ độc tài Hitler. Một số đoạn rất đáng chú ý (lược dịch):
“Hôm nay tại đây, đứng trước quí vị, nói với tư cách là Thủ tướng Đức, tôi thấy thật không dễ dàng. Tôi cảm thấy cực kỳ xẩu hổ trước những tội ác dã man, những gì đã diễn ra do người Đức đã hành động. Những tội ác này đã vượt qua tất cả những gì có thể hình dung được. Thật là khủng khiếp về những gì mà phụ nữ, đàn ông và trẻ em đã phải trải qua ở đây…Vì từ ngữ nào có thể diễn tả nổi sự đau buồn đến như thế, khiến bao nhiêu người đã bị hành hạ, đày ải và thủ tiêu?…Nhưng im lặng không được phép là câu trả lời duy nhất của chúng tôi. Nơi đây ràng buộc trách nhiệm chúng tôi, phải cảnh thức hồi tưởng. Chúng tôi phải nhớ lại những tội ác đã diễn ra ở đây và phải nói đúng tội danh của nó!…
Nhớ lại những tội ác, vạch rõ thủ phạm và trân trọng tưởng nhớ tới các nạn nhân. Đó là trách nhiệm không bao giờ chấm dứt. Trách nhiệm này không thể nào san sẻ được, nó liên hệ trực tiếp tới đất nước tôi. Ý thức trách nhiệm này là bổn phận của chúng tôi, nó là phần liên đới chặt chẽ tới hình ảnh của đất nước chúng tôi, đó là một thái độ tự nhiên của một xã hội có ý thức và tự do, cùng với dân chủ và tôn trọng pháp quyền”. (Bundeskanzleramt, 6.12.19)
Sau khi chế độ Hitler tan rã, nước Đức đã can đảm và kiên tâm đấu tranh trở thành một Nước Đức Mới – Trước hết là ở Tây Đức. Từ một đống tro tàn, hận thù với các lân bang, Tây Đức đã mau chóng chỉ sau khoảng hai thập niên, đối nội đã trở thành quốc gia tân tiến, tôn trọng các giá trị dân chủ, tự do, pháp trị của một xã hội Dân chủ đa nguyên (DCĐN). Đối ngoại Tây Đức đã xóa hận thù với các lân bang, là thành viên tích cực trong Liên minh Âu châu (EU). Biết chọn Hoa Kỳ làm đồng minh khiến Liên Xô (cũ) không dám đụng tới. Nhờ thế, cuối cùng Đông Đức đã thống nhất với Tây Đức không tốn một viên đạn từ trên 30 năm nay. Nay Nước Đức Mới là cường quốc kinh tế thứ ba, thứ tư trên thế giới, các công dân được quyền hành xử các quyền tự do căn bản và xã hội phồn vinh.
***
Còn VN từ sau Thế chiến Thứ hai thì như thế nào? Nhờ lòng yêu nước và sự đấu tranh của nhân dân nên chế độ thực dân đã chấm dứt. Nhưng thay vì để lương tri hướng dẫn thực hiện dân chủ và tôn trọng tự do thực sự cho mọi người, thì Hồ Chí Minh đã vội nuốt lời hứa. Sau khi nắm quyền ở miền Bắc ông đã dùng những thủ đoạn cực kỳ gian xảo để buộc chặt đất nước trong chủ nghĩa Marx-Lenin, coi là “đũa thần”; lấy bạo lực, đấu tranh giai cấp, đàn áp các người khác chính kiến là những tiêu chuẩn giá trị trong xã hội.
Vì thế đã diễn ra cuộc nội chiến dài tàn khốc và dã man chưa từng có trong lịch sử dân tộc, với sự tiếp tay từ bên ngoài. Bao nhiêu triệu người cùng là đồng bào máu mủ đã bị giết hại trên các chiến trường Nam-Bắc. Hàng trăm ngàn người bị bị đấu tố, nhục hình, bắt con cháu tố cáo cha mẹ, ông bà. Hàng triệu người bị giam cầm trong các trại tập trung, trại cải tạo, trở thành thuyền nhân phải bỏ thân quyến và quê hương ra đi! Cao điểm của chính sách tàn bạo chưa từng có trong lịch sử dân tộc là từ 1975, khi chế độ toàn trị toàn thắng ở miền Nam!
Những tội ác khủng khiếp như vậy đối với chính đồng bào ruột thịt của mình chẳng khác những tội ác tày trời của Hitler với người Do thái.Nhưng cho tới hôm nay chưa có một nhân vật nào đương quyền của CSVN dám can đảm công khai nhìn nhận và xin lỗi trước nhân dân. Trái lại, trước sau họ vẫn phản ứng theo quán tính, tiếp tục ngụp lặn trong độc tài, đàn áp và tham nhũng; vì thế đã bỏ lỡ nhiều cơ hội canh tân đất nước!
***
Đúng vào dịp này 33 năm trước, số phận chế độ toàn trị và cả những người cầm đầu nó đang rơi vào thế cực kỳ hiểm nguy, như sợi chỉ treo ngàn cân. Bên ngoài Bắc kinh tiếp tục dùng chiến tranh gây áp lực ở biên giới phía Bắc và tiếp tay Pol Pot để CSVN bị sa lầy. Không những thế, VN còn bị Hoa Kỳ (HK) và các nước Tây phương phong tỏa thương mại và tẩy chay ngoại giao. Nguy hiểm nữa là Liên Xô khi đó, mụ đỡ tinh thần và vật chất cho CSVN, cũng đang rơi vào tình trạng tổng khủng hoảng. Giữa khi ấy ở trong nước nạn đói khủng khiếp không kém thời 1945, tiền Đồng bị mất giá với nạn lạm phát phi mã 700-800%. Nhân dân bất mãn. Cán bộ, đảng viên mất niềm tin.
Vì thế đúng vào những ngày này 33 năm trước, tại Đại hội 6 (15-18.12.1986) Trường Chinh thề thốt “Lấy dân làm gốc”, Nguyễn Văn Linh long trọng tuyên bố “Đổi mới hay là chết”! Sau đó họ còn hồ hởi tuyên bố “Cởi trói” cho người cầm bút và tôn trọng quyền phản biện của các chuyên viên và trí thức. Từ Hội nghị Đại biểu toàn quốc 1.1994 Đỗ Mười đã hứa đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp! Nay Nguyễn Phú Trọng cũng hô hoán như thế. Nhưng hơn ba thập niên sau, mặc dầu Liên Xô đã tan rã, chủ nghĩa Marx-Lenin đã bị vất vào sọt rác, nhưng dịp kỉ niệm 100 năm chế độ Xô-viết người cầm đầu chế độ Nguyễn Phú Trọng vẫn còn ngủ mơ, lảm nhảm nói sảng rằng: “Tinh thần Cách mạng Tháng 10 và những thành quả lịch sử cũng như những cống hiến to lớn của nhân dân các dân tộc trong Liên bang Xô-viết đối với loài người mãi mãi không bao giờ phai mờ, mãi mãi sẽ còn ghi đậm trong tâm trí của mọi người có lương tâm trên toàn thế giới”. (Diễn văn của Nguyễn Phú Trọng tại lễ Kỉ niệm 100 năm Cách mạng Tháng 10 Nga (1917-2017), Nhân dân 5.11.17)
Nay đất nước đang chuyển sang năm 2020. Nhưng sau 33 năm gọi là “Đổi mới” đó, VN đang đứng ở vị thế nào? Trí thức được mở miệng? Các quyền căn bản của nhân dân được tôn trọng? Việt Nam đã trở thành một nước công nghiệp tiên tiến, hay đang trở thành bãi rác chứa chất thải độc hại do các công ty nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước tự do thải ra? Các quan đỏ nắm quyền lực đang phục vụ nhân dân, hay chỉ lo tham nhũng đất đai và tiền bạc? Biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ được bảo vệ, hay đang để người “Bạn” Tập Cận Bình của Nguyễn Phú Trọng cày nát biển Đông?
Giữa lúc triều đại Tập Cận Bình cổ súy chủ nghĩa tân đế quốc theo đuổi tham vọng “Thực hiện giấc mộng vĩ đại cùa Trung quốc”, khiến nước này đang như con hổ đói. Tại Hội nghị cấp cao kỷ niệm 70 năm thành lập NATO (3-4.12.2019) ở London, mặc dù còn có nhiều khác biệt, nhưng NATO đã chính thức coi chính sách tăng cường hải quân-không quân và uy hiếp biển Đông của Cộng sản Trung quốc (TQ) là một “thách đố” nghiêm trọng tới an ninh thế giới!
Nhưng mới đây Nguyễn Phú Trọng lại vẫn nhu nhược và ngờ nghệch cho công bố “Sách trắng Quốc phòng 2019” với chính sách 4 không: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nuớc này để chống nuớc kia; không cho nuớc ngoài đặt căn cứ quân sự, hoăc sử dụng länh thổ Việt Nam để chống lại nuớc khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”. (tr. 25, QPVN 2019).
Tại Diễn đàn Hương sơn ở Bắc kinh (BK) lần thứ 9 ngày 21.10.19 trước sự hiện diện của bộ trưởng quốc phòng nhiều nước và các chuyên viên quốc tế, trong diễn văn khai mạc Bộ trưởng Quốc phòng Trung quốc Ngụy Phượng Hòa đã lập lại quan điểm của Tập Cận Bình: Biển Đông là “phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung quốc”. Trong khi đó cũng tại Hội nghị này, Bộ trưởng Quốc phòng CSVN Ngô Xuân Lịch không dám phản bác thẳng thắn chính sách đế quốc của Ngụy Phương Hòa, nhưng lại ấp úng, chỉ lập lại chủ trương 4 không và kêu gào những điều hoàn toàn không có thực trong quan hệ giữa hai nước: “Trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và phát huy truyền thống đoàn kết, hữu nghị, những vấn đề còn tồn tại trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc cần được kiên trì xử lý theo tinh thần thỏa thuận cấp cao giữa lãnh đạo hai nước” (BBC,VOA, Reuters 22.10.19).
Chẳng những thế ngày 10.12.19 Đại sứ TQ Hùng Ba còn được mời tới Học viện Chính trị Quốc gia HCM “giảng bài cho lớp đào tạo cán bộ quy hoạch cấp chiến lược Việt Nam”. Trong đó ông đã lên tiếng như chỉ bảo cho 100 học viên là Ủy viên Trung ương tương lai sẽ nắm giữ các chức vụ then chốt tại Đại hội 13 vào đầu năm 2021: “Là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, hai nước Trung-Việt có con đường phát triển tương tự, tiền đồ và vận mệnh tương quan, việc tăng cường giao lưu kinh nghiệm quản lý Đảng và quản lý đất nước giữa hai Đảng trong tình hình mới có ý nghĩa chiến lược quan trọng!” (đài Bắc kinh 14.12.19)
Từ tháng 7.2019 bá quyền BK lại ngang ngược cho mấy chục tàu hải quân TQ cày nát biển Đông, thuộc khu vực lãnh hải của VN. Trong khi nhiều tổ chức xã hội dân sự, nhân sĩ, trí thức, thanh niên và cả đảng viên tiến bộ đòi phải đưa những đòi hỏi sai trái và ngang ngược của BK ra kiện tại Tòa án Quốc tế, thì Nguyễn Phú Trọng lại ra lệnh báo chí xuyên tạc và bôi nhọ, và để công an đe dọa khủng bố và bắt giam nhiều người dân chủ! Đồng thời không cho phép Quốc hội (QH) được công khai thảo luận về sự xâm lấn của BK! Vì thế trong khi đất nước đang phải đối diện đương đầu với chủ trương bành trướng xâm lược hiện nay của Tập Cận Bình thì việc thực hiện chính sách quốc phòng-ngoại giao 4 không này, rõ ràng không phải là “ngăn địch từ xa” mà chính là mời kẻ thù vào nhanh hơn, thả cửa cho con hổ đói Trung quốc lộng hành. Do đó chính sách quốc phòng-ngoại giao 4 không này sẽ dẫn tất yếu tới cái không thứ 5, đó là không bảo vệ được chủ quyền biển-đảo, tài nguyên và quốc phòng của VN!
Những người cầm đầu chế độ toàn trị cũng không dám nhìn thẳng vào thực trạng tang thương của đất nước và cơ cực của nhân dân, do chính những sai lầm và tàn bạo do họ gây ra. Nguyễn Phú Trọng đã từng mở miệng: “Dân chủ như thế là cùng”, “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”. Nhưng giữa khi ấy hình ảnh 39 thanh thiếu niên VN bị chết đông lạnh trong các container trên đường đi tìm cuộc sống mới đã làm thế giới bàng hoàng và đau buồn về một nước đang phải sống dưới chế độ đứng đầu về chà đạp nhân quyền, kìm kẹp báo chí!
Sau 33 năm đổi mới giả hiệu, chế độ toàn trị độc tài gian ác tưởng như vẫn vững chắc. Nhưng thực sự nó đang biến dạng từ chế độ độc tài của một đảng trở thành chế độ độc tài cá nhân với sự tiếp tay và thỏa hiệp giữa một số nhóm lợi ích với các đại gia đỏ đang thao túng chính trị, chiếm đất vàng, xây biệt điện và tham nhũng tiền bạc. Họ đang dùng quyền-tiền để buôn bán và tham nhũng, từ thượng tầng trong Bộ chính trị, Trung ương đảng, các Ban trong đảng, các Bộ trong chính phủ tới các thành ủy, tỉnh ủy trên toàn quốc. Sự tha hóa đạo đức cùng cực của tầng lớp cán bộ có quyền đã khiến số đảng viên bất mãn ngày càng gia tăng, khinh bỉ thành phần lãnh đạo. Vì thế Nguyễn Phú Trọng đã phải ra Quyết định số 102/QĐTW 15.11.17 cực kỳ phản động: “Đảng viên sẽ bị kỉ luật bằng hình thức khai trừ, nếu đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự”, “đa nguyên, đa đảng”; bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước”.
Hiện nay chính người cầm đầu chế độ Nguyễn Phú Trọng lại tiêu biểu nhất về tha hóa đạo đức trong thao túng quyền lực. Ông Trọng thề thốt “nhốt quyền lực”, “nêu gương”, “minh bạch” … nhưng các lần lấy phiếu tín nhiệm lại không dám công bố kết quả. Các lớp “đào tạo cán bộ cấp chiến lược” đã cài cắm gần 200 cán bộ sẽ được đưa vào Trung ương đảng Khóa 13 (đầu 2021) để nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong Đảng và Chính phủ (CP), nhưng lại giấu nhẹm danh sách những người này, chỉ có Nguyễn Phú Trọng và những người trong phe nhóm biết! Từ nhiều năm nay do đầu óc cực kỳ bảo thủ và suy thoái đạo đức, nên ông Trọng đã tự xếp mình là “người đặc biệt” cực kỳ tham nhũng quyền lực. Vì thế mặc dầu từ gần một năm nay tuy bị bệnh nặng, không còn đủ sức khỏe để đảm đương việc nước, đang phải nhờ người dìu, sắp trở thành ngọa long hoàng đế đỏ, nhưng vẫn cố bám cả hai ghế Tổng bí thư (TBT) và Chủ tịch nước (CTN)!
***
Nói cho cùng, trong chính trị có nhiều loại người lãnh đạo, nhưng trong đó có hai loại người cầm quyền nổi bật nhất. Những người lãnh đạo biết dùng lương tri để hướng dẫn tri thức và hành động để xây dựng hạnh phúc cho nhân dân và đưa đất nước đi lên. Và những người cầm đầu chỉ lấy gian xảo và tàn ác làm kim chỉ nam cho các hành động của mình để xây dựng và bảo vệ quyền lực và tiền bạc bất chính!
Nước Đức đã đổi mới, đã thay đổi toàn diện và triệt để là do dứt khoát biết thay đổi chế độ chính trị. Từ chế độ Quốc xã độc tài, tôn thờ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhưng từ sau Thế chiến Thứ hai đã dứt khoát chọn và thực hiện chế độ Dân chủ đa nguyên. Còn tại VN chế độ độc tài vẫn ngự trị và áp dụng chủ nghĩa sai lầm Marx-Lenin, nên trước sau không thể đổi mới được. Đây là một sự thực không ai có thể phủ nhận được. Từ Đại hội (ĐH) 6 (12.1986) tới nay 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng đã lừa đảo nhân dân và đảng viên, trương cờ “Đổi mới”, nhưng thực tình họ vẫn là những người độc tài, tôn thờ chủ nghĩa Marx-Lenin đã bị lịch sử vất vào sọt rác!
Đây là kết luận qua những dẫn chứng rất cụ thể và rõ ràng trong sách nghiên cứu “Việt Nam “Đổi mới”?! Hay: Treo đầu dê, bán thịt chó” !” trên 700 trang vừa phát hành ở Hoa Kỳ. Trong đó xuyên qua 11 chương, tác giả đã phân tích và dẫn chứng theo phương pháp khoa học, trình bày rõ ràng về các nguyên nhân và những công thức sai lầm đã khiến chủ trương gọi là “Đổi mới” đã đi đến thất bại; đồng thời nêu rõ những hậu quả vô cùng tai hại cho đất nước. Nhưng hiện nay sự tranh giành quyền lực và tiền bạc giữa các phe nhóm ngày càng tàn bạo và quỉ quyệt; vì thế theo qui luật “cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu” đang mở ra cơ hội tốt để thoát khỏi nạn độc tài, đưa đất nước thực sự thành một Nước Việt Nam Mới!
Để độc giả tiện theo dõi, toàn bộ ba chương cuối sẽ được phổ biến trong ba lần liên tiếp. Mở đầu loạt bài này, dưới đây là toàn bộ Chương 9:
Chương chín: Kết quả thực tiễn trên 30 năm “Đổi mới”
I. Mô hình “đổi mới” trên 30 năm qua
Sau trên 30 năm “Đổi mới” từ 1986 trải qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng và xuyên qua 7 ĐH (từ ĐH 6 tới ĐH 12). Không biết bao nhiêu Nghị quyết đã được ban hành đề ra mục tiêu là, đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng trong cuộc họp nội các vào cuối năm 2014 sau gần 30 năm tiến hành “đổi mới”, Nguyễn Tấn Dũng lại than, “sao lại cứ phải đứng sau 6 nước ASEAN? Chúng ta có đuổi kịp được ASEAN-6 không? Không có lý do gì chúng ta không cải thiện được để bằng ASEAN-6”? [1] Trong thực tế nhiều mặt VN còn đi sau cả Campuchia và Lào.
Sau gần 30 năm đổi mới, lợi tức đầu người /năm của VN vào năm 2014 mới chỉ 2.052 USD, tức là VN mới chỉ bước vào những nước đang phát triển ở mức trung bình thấp. Trong khi đó Singapore lên tới56.287 USD, Mã lai á là 10.830 USD, Thái lan là 5.561 USD và Nam dương là 3.515 USD.PGS, TS Phạm Quý Thọ thuộc Học viện Chính sách và phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận xét, “chỉ tiêu này của nước ta tụt hậu so với Hàn quốc chừng 30 đến 35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái lan chừng 20 năm, Indonesia và Philippines chừng từ 5 đến 7 năm. Đến năm 2038 VN mới có thể bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới có thể bắt kịp Thái Lan”. [2]
Nếu xét về mặt diện tích và dân số thì VN không phải là nước nhỏ. Với dân số gần 94 triệu (2017) VN đứng thứ 13 trên thế giới[3]; với diện tích trên 331.114 km² VN đứng thứ 65. Nhưng về mặt kinh tế, xã hội (phát triển con người -HDI) hiện nay VN lại đứng thứ 116 trong tổng số gần 200 nước và ốc đảo trên giới.[4] Nhiều người cầm đầu chế độ toàn trị thường đổ lỗi cho rằng, VN là một nước nhược tiểu, đất hẹp, dân không đông và tài nguyên không nhiều. Đây là những khẳng định cực kỳ sai lầm để trốn tránh trách nhiệm. Một số các nước trong khu vực như Nam Hàn diện tích chỉ trên 99.000km², 50,6 triệu người, nhưng lợi tức đầu người 2015 trên 27.000 USD đang là nước giầu mạnh, công nghiệp cao. Nhật có dân số gần gấp rưỡi VN, diện tích xấp xỉ với VN, tài nguyên thiên nhiên không nhiều, nhưng từ lâu đã trở thành cường quốc kinh tế, lợi tức đầu người năm 2015 là gần 37.000 USD. Về dân số và diện tích giữa VN và Đức không chênh lệch bao nhiêu; nhưng Đức, cũng như Nhật, từ đống tro tàn sau Thế chiến thứ 2 đã nhanh chóng vượt lên thành cường quốc kinh tế đứng thứ ba, thứ bốn trên thế giới.
Những câu hỏi trung tâm rất nghiêm túc cần được đặt ra là, tại sao nhiều nước ngay trong khu vực khi bước vào thời kì phát triển kinh tế thì cũng ở trình độ ngang ngửa như VN, nhưng nay đã bỏ xa VN để trở thành các nước công nghiệp hàng đầu, lợi tức cao gấp mấy chục lần VN? Người dân không chỉ sống sung túc mà còn được tôn trọng nhân phẩm. Phải chăng các mô hình chính trị, kinh tế, giáo dục và văn hóa là những nền tảng căn bản cho sự tiến lên hưng thịnh, hạnh phúc và văn minh, hay sự tụt hậu, nghèo đói và tha hóa đạo đức của một xã hội? VN đang áp dụng mô hình chính trị-kinh tế nào, có những đặc điểm gì?
Trong suốt trên 30 năm cải cách kinh tế chưa bao giờ VN theo mô hình kinh tế thị trường hiện đại như ở các nước Tây phương. Mô hình phát triển của VN là “Kinh tế thị trường Định hướng XHCN”. Mô hình này có một số đặc tính căn bản khác biệt hoàn toàn với các nền Kinh tế thị trường hiện đại ở các nước Tây phương trong các lãnh vực then chốt:
Chế độ độc đảng: ĐCS, cụ thể là Bộ chính trị (BCT) và Ban bí thư (BBT), trước sau vẫn chỉ huy toàn bộ và trực tiếp các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa- giáo dục, tôn giáo và xã hội.
Công hữu toàn dân về đất đai (ĐCS là chủ nhân trong đất đai)
Doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo
Kinh tế tư nhân nội địa tuy được công nhận, nhưng chỉ ngồi rìa, đứng bên lề trước thế lực mạnh của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và sức ép của FDI (công ti nước ngoài).
Như thế cho thấy mô hình phát triển kinh tế của VN từ 1986 tới nay vẫn còn giữ căn bản mô hình kinh tế của chế độ toàn trị như ở Liên Xô cũ, với một số biến thể, mặc dầu chế độ toàn trị ở Liên Xô đã tan rã từ 1991. Trong đó ĐCSVN vẫn là người cầm trịch không chỉ trong chính trị, tư tưởng và văn hóa, mà cả trong kinh tế-xã hội.Mỗi ĐH vẫn đưa ra kế hoạch ngũ niên do ĐCS độc quyền từ các khâu hoạch định, đường lối tới các biện pháp…Nhưng dĩ nhiên trong giai đoạn và điều kiện Chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên toàn thế giới đang tan rã ngay từ cái nôi, nên những người cầm đầu CSVN bắt buộc phải dùng những từ ngữ và ngôn ngữ mới, để tạo những hi vọng mới, để tỏ ra họ là những người thức thời và nhờ thế mới có thể biện minh cho sự tiếp tục cầm quyền độc tôn!
Mô hình phát triển kinh tế này chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại và đối lập với nhau. Nó được thực hiện trong thời kì CNXH theo ý thức hệ Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận, thế giới CS tan rã. ĐCSVN cũng rơi vào thế sợi chỉ treo ngàn cân. Suốt trên 30 năm đổi mới từ 1986, đặc biệt từ giữa thập niên 90 khi thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ và thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, mô hình phát triển kinh tế của chế độ toàn trị dựa trên một số cơ sở làm tiền đề đặt trọng tâm cho phát triển kinh tế. Đó là:
Nhân công rẻ
Khai thác nông sản
Khai thác khoáng sản
Ưu đãi cho tư bản nước ngoài vào đầu tư
Tranh thủ nguồn vốn ODA trong xây dựng hạ tầng
Đặt trọng tâm trong xuất cảng
Nhưng các cơ sở trên phải được đặt trong một khung kiên cố, nói thẳng ra là bị nhốt trong một cái lồng, đó là CNXH với tư tưởng Marx-Lenin làm chỉ đạo và trong cái lồng này, ĐCSVN chỉ huy độc quyền trực tiếp và toàn diện từ tổ chức, thực hiện, giám sát các hoạt động kinh tế-xã hội. ĐH 12 đã làm công việc tổng kết 30 năm thực hiện chính sách đổi mới (1986-2016) qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng.
Mặc dù những người đứng đầu luôn mở miệng khẳng định là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết và đường lối. Nhưng khi họ phải đối diện với những kết quả rất xấu thì lại không dám nhận đã chọn lí thuyết sai, ở đây là chủ nghĩa Marx-Lenin. Họ lờ đi hoặc nhận lỗi qua loa, nhưng đổ lỗi chính vì những lí do bên ngoài. Thái độ rất chủ quan, giáo điều, lừa dối và tô vẽ cho rằng, 30 năm đổi mới không chỉ tạo ra những thành tích tuyệt vời trong kinh tế-xã hội, mà cả trong lãnh vực chính trị cũng đã có nhiều cải cách theo hướng “lấy dân làm gốc” và dân chủ hơn ngàn lần các nước Dân chủ đa nguyên… Tiêu biểu nhất cho lập trường này là Báo cáo Chính trị và Kinh tế-Xã hội tại ĐH 12 của TBT Nguyễn Phú Trọng ngay vào ngày đầu của ĐH 12.[1] (Xem Chương tám, IV).
***
Trong dịp này một số chuyên viên trong nước từ gần với đảng hay đứng vị thế độc lập của những người người làm công tác khoa học, trong đó có cả một số chuyên viên VN ở nước ngoài, đã công bố các bài nghiên cứu hoặc trả lời phỏng vấn liên quan tới chủ đề kết quả 30 năm đổi mới.
Trước hết phải nói tới nhận định rất thắng thắn của cựu bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh ngay trước ĐH 12 khi ông còn là Bộ trưởng và Ủy viên Trung ương (UVTU), như đã trình bày ở Chương tám, IV:
“ 70 năm qua, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp trong hệ thống chính trị gần như không thay đổi”. Và “Một hệ thống chính trị phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh, nay đã không còn phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, thậm chí là rào cản, trở ngại cho sự phát triển”. [2]
Chia sẻ quan điểm nàyGS Vũ Dương Ninh, Đại học Quốc gia Hà nội (HN), cho biết, trước đó 5 năm Nghị quyết của ĐH 11 (1.11) -khi đó Nguyễn Phú Trọng được bầu làm TBT- đã lập lại mục tiêu là,đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng ĐH 12 đã phải nhìn nhận rằng, mục tiêu này không thể đạt được.[3]Ngay cảnguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN, GS TS Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu của chế độ toàn trị , từng là UVTU suốt ba nhiệm kì từ ĐH 8-10 và có chân trong Hội đồng Lí luận Trung ương (TU) -một cơ quan cố vấn về tư tưởng và chính trị cho TUĐ, BCT và BBT-, trong một bài phân tích rất dài 14 trang trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 1, 1.15 với tựa đề “Những đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong 30 năm đổi mới”. Ông đã liệt kê các quyết định của đảng xuyên qua 6 Đại hội từ 1986 tới ĐH 11 (2011) với việc sử dụng “kinh tế tri thức” và đầu tư của nước ngoài nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp tới xuất nhập cảng. Ông ca tụng các quyết định này và coi đó là những biện pháp sáng suốt của ĐCS, nhằm đưa VN, từ một nước đi sau và công nghiệp hóa muộn, có thể đạt mục tiêu “rút ngắn quá trình công nghiệp hóa đất nước bằng sức mạnh của thời đại và sức mạnh nội sinh của đất nước”. Nhưng cuối cùng trong phần kết luận Đỗ Hoài Nam phải nhìn nhận kết quả thực tiễn sau 30 năm đổi mới là, “nhìn trên tổng thể, phần lớn nông dân và người dân đô thị đang trong tình trạng nghèo tương đối, trong đó không ít người đang thực sự nghèo theo nghĩa tuyệt đối”.
Ông nêu ra câu hỏi về nguyên nhân, tại sao không đạt mục tiêu, mặc dầu các quyết định đều được coi là sáng suốt? Trong đó Đỗ Hoài Nam đã cố tình dùng các thuật ngữ trừu tượng và trình bày ngoắt nghéo, như “nguyên nhân cơ bản là, nền tảng cho sự rút ngắn này chưa được tạo lập một cách đầy đủ và vững chắc. Đó là nền kinh tế thị trường đầy đủ và hiện đại (xét cả mặt kết cấu lẫn mặt thể chế của nền kinh tế này), cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại; là khoa học và công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao; là hệ thống công ti tư nhân dựa trên sở hữu cổ phần được quản trị hiện đại, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước [và] quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và chuỗi phân phối toàn cầu và cuối cùng là vai trò vừa là bà đỡ, vừa là nhạc trưởng của Nhà nước bảo đảm co sự rút ngắn”. (tr.15)
Tuy cố tình trình bày vòng vo và tránh né không dám nêu đích danh thủ phạm đã gây ra thất bại, nhưng nhà khoa bảng XHCN hàng đầu Đỗ Hoài Nam đã gián tiếp nhìn nhận, đó là kế hoạch xây nhà trên cát; hay dùng hình tượng chuyện con nhái muốn to bằng con bò để diễn tả ý muốn công nghiệp hóa và hiện đại hóa VN thật nhanh như Nhật bản, Đại Hàn và các nước Tây phương, nhưng lại thiếu đủ mọi thứ và không có những điều kiện cần thiết; trong đó thiếu cả “ nhạc trưởng”, tức Nhà nước hiện đại trong thể chế DCĐN. Trong khi nhiều nước theo DCĐN cũng chỉ trong khoảng thời gian 30 năm đã chuyển thành công đất nước họ, từ lạc hậu chậm tiến sang công nghiệp hiện đại. Nhưng VN dưới chế độ toàn trị vẫn dẫm chân tại chỗ. Nghĩa là, chính thể chế độc tài toàn trị đã là nguyên nhân chính đưa đến thất bại trong việc canh tân đất nước và xây dựng hạnh phúc cho nhân dân trong suốt 30 năm!
Trong toàn bài, Đỗ Hoài Nam có dẫn chứng là, ngay từ ĐH 7 đã quyết định “cần đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để” (tr. 5); nghĩa là phải đối mới cả hệ thống chính trị. Nhưng khi kết luận tuy phải nhìn nhận các thất bại, nhà khoa bảng Đỗ Hoài Nam đã không giữ được tinh thần khoa học và thẳng thắn như cựu Bộ trưởng Bùi quang Vinh, nên không một lần nào dám nói thẳng là, trong suốt quá trình 30 năm, trước sau vẫn là chế độ độc tài toàn trị. Đó mới chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới thất bại!
Chế độ toàn trị đã chọn ý thức hệ sai lầm dẫn tới độc tài hà khắc, làm triệt tiêu sự phản biện rất cần thiết của một hệ thống xã hội dân sự độc lập. Vì thế toàn bộ hệ thống công quyền trở thành trì trệ và bất cập, chống lại sự canh tân và phát triển của đất nước.Đây là nhận định của PGS, TS Trần Đình Thiên nguyên là Viện trưởng Viện Kinh tế VN, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Kinh tế VN, khi nói về nguyên nhân thất bại trong kinh tế:
“ĐCS lãnh vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện”, mức độ chưa trưởng thành của Nhà nước pháp quyền, sự thiếu vắng các tổ chức dân sự đúng nghĩa, của các tổ chức phản biện xã hội độc lập, có ảnh hưởng mạnh mẽ, thậm chí là quyết định, đến kết quả hoạt động quản trị công”. [4] “Trong nhiều trường hợp, tình trạng không cụ thể hóa mục tiêu định hướng, né tránh thảo luận cấu trúc logic của khái niệm “Định hướng XHCN” (ĐHXHCN), lặng lẽ giả định nó, coi như một tiền đề định sẵn, đã có những ảnh hưởng to lớn”. [5]
Thực tế này cũng được GS Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật bản) trình bày cặn kẽ hơn, khi ông so sánh sự phát triển kinh tế-xã hội của VN với một số nước trong khu vực thì rõ ràng khác biệt nhau cả một trời một vực.Theo tài liệu của Ủy ban LHQ về kinh tế và xã hội châu Á – Thái bình dương (ECAFE), năm 1954 thu nhập đầu người của miền Nam VN là 117 USD, xấp xỉ với Thái Lan (108) và cao hơn Indonesia (88) vào hai năm trước đó. Nhưng 60 năm sau, vào năm 2014 thu nhập đầu người của VN chỉ bằng một phần ba Thái Lan và một nửa Indonesia…Trong khi “Hàn quốc chỉ mất 16 năm (từ 1971-1987) để chuyển từ nước thu nhập trung bình thấp lên trung bình cao và chỉ mất thêm 10 năm nữa để tiến lên hàng các nước tiên tiến. Đài loan trở thành nền kinh tế tiên tiến vào năm 1995, chỉ tốn 12 năm kể từ giai đoạn thu nhập trung bình cao”. [6]
Sau hơn 40 năm hòa bình trong đó hơn 30 năm gọi là đổi mới, nhưng VN vẫn lẹt đẹt thuộc những nước có thu nhập trung bình thấp và đang có nguy cơ phải ngụp lặn lâu dài ở mức này. Ông Thọ còn nêu ra viễn tượng kinh tế VN vào năm 2020. Hiện nay theo phân loại của Ngân hàng thế giới, bình quân đầu người từ 1.000 đến 12.000 USD là nước có thu nhập trung bình, trên 12.000 USD là nước thu nhập cao. Do đó một nước được gọi là công nghiệp phải ở mức trên 12.000 USD. VN hiện nay mới gần 2.000 USD. Đến năm 2020 có lẽ cũng chỉ đạt được khoảng 3.000-3.500 USD, tức là thuộc các nước có mức trung bình thấp. [7]
Nông nghiệp: Bỏ rơi nông dân và nông thôn!
Chủ trương công nghiệp hóa nông nghiệp, nhưng sau 30 năm đổi mới vẫn là cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau!
VN là một nước nông nghiệp, vào thập niên 80 của thế kỉ trước có tới 80% dân số sống và phụ thuộc vào nghề nông. Đồng bằng sông Hồng và nhất là Đồng bằng Cửu long là hai thúng gạo nuôi dân và xuất cảng để tạo cơ sở và ngân sách cho xây dựng công nghiệp, phát triển bền vững cho toàn quốc. Nếu hiểu thấu đáo thế mạnh này của VN và có được một tầm nhìn xa thì một nhà nước sáng suốt không chỉ tìm cách làm phục hồi nông nghiệp, mà còn phải canh tân, công nghiệp hóa mọi khâu trong nông nghiệp. Từ tạo kiến thức trồng trọt cho nông dân, đem điện nước, đường xá, trường học và y tế về thôn xã, trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân, và có những chính sách khuyến khích nông dân tự nguyện hợp tác để sử dụng kĩ thuật canh tác mới nhằm gia tăng năng suất và tăng lợi tức cho nông dân, tức là gia tăng sức mua và đầu tư của 80% dân số. Ngoài ra nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản để làm tăng giá trị các mặt hàng này; khuyến khích và hỗ trợ nông dân tự thành lập các trung tâm hiện đại lưu trữ gạo, rau trái và các tổ chức của nông dân theo dõi thị trường nông nghiệp trên thế giới để tạo thương hiệu có uy tín cho các sản phẩm nông nghiệp của VN và có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế.
Các chính sách trên đây không phải là những điều mới lạ, trái lại đã được thực hiện thành công ở nhiều nước phương Tây dưới nhiều tên gọi nổi tiếng, như “Chương trình xanh” trong ngành nông nghiệp, như Hòa lan, Đức, Pháp, Hoa Kỳ và Gia nã đại. Đúng ra là một nước đi sau, nên VN cỏ thể học hỏi nhanh chóng và hiệu quả kinh nghiệm và kĩ thuật của các nước này.
Sau chiến thắng 1975 những người cầm đầu say mê với thành tích con đường XHCN đã dẫn tới chiến thắng vẻ vang trong chiến tranh thì tất yếu cũng sẽ dẫn tới thắng lợi thần kì trong kinh tế! Đây là tư tưởng rất lạc quan từ Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng tới hầu hết các ủy viên BCT khi ấy. Vì thế mô hình kinh tế theo XHCN đã được thi hành cấp tốc và triệt để trong nông nghiệp với các Hợp tác xã (HTX), trong thương nghiệp với xóa bỏ tư sản mại bản kinh tế tư nhân và thành lập các thương nghiệp quốc doanh, trong công nghiệp với hàng loạt doanh nghiệp quốc doanh. Nhưng sau đó không lâu, mô hình phát triển theo XHCN đã dẫn tới bế tắc toàn diện. Nông dân không chịu làm ăn, thương nghiệp nhà nước không có hàng để bán, các DNNN ngồi chơi. Dẫn tới nạn đói khủng khiếp vào giữa thập niên 80, khiến cho hàng triệu người rơi vào cảnh đói và khủng hoảng lương thực trầm trọng như thời 1945. Trong khi các cán bộ cao cấp được hưởng các chính sách ưu đãi từ nhà cửa, xe đưa đón tới chế độ ăn uống ngon và đầy đủ; còn người dân thì không có cả thịt, cá, vải, thuốc men và các nhu yếu phẩm hàng ngày.[8] Nhóm cầm đầu giáo điều mới thấy là không thể tiếp tục mô hình tập thể hóa nông nghiệp HTX theo kiểu Liên Xô và TQ được nữa, nếu không thì nông dân và thị dân sẽ nổi loạn.
Nhưng sau ĐH 6 (12.86) phải đợi thêm hơn một năm, sau những tranh cãi gay gắt giữa các phe trong BCT và TU, mới ra được Nghị quyết (NQ) 10 ngày 5.4.1988, được gọi là Khoán 10. Tuy vậy đảng xuyên qua nhà nước của đảng vẫn tiếp tục giữ độc quyền công hữu ruộng đất, nông dân vẫn phải thuê ruộng (xem Chương một, III và Chương hai, V). Tuy đây chỉ là chính sách đổi mới nửa vời, nhưng đã làm cho nông dân gắn bó siêng năng với đồng ruộng, thửa vườn, cái ao và gia súc. Nhờ thế sản lượng nông nghiệp đã gia tăng mạnh và liên tiếp trong nhiều năm. Khiến cho từ khủng hoảng lương thực với nạn đói trầm trọng, từ 1989 đã trở thành một nước xuất cảng gạo.
Trước khi có Khoán 10, sản suất lúa cả nước chỉ khoảng 13 triệu tấn, hàng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn.[9] Năm 2017 sản lượng lúa đã đạt khoảng 42,84 triệu tấn.[10] Trong những năm gần đây số gạo xuất khẩu đã lên tới gần 8 triệu tấn, đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng gạo.[11]Nhưng nay sau hơn 30 năm nông dân và nông nghiệp tại VN vẫn phải đối diện gay gắt trong nhiều vấn đề. Nhiều chuyên viên trong nước ta thán là, tại sao VN đang là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, nhưng đại đa số nông dân vẫn rất nghèo, ngay cả nông dân Đồng bằng Cửu long, vựa thóc của cả nước? Trong khi ấy ngay sau Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì tháng 1.94 (Khóa 7), tại Hội nghị trung ương (HNTU) 7 (7.94) đã đưa ra nghị quyết với tham vọng “phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn gắn với đô thị hóa nông thôn”.[12]
Tại sao giá gạo của VN vẫn thấp hơn nhiều gạo Thái lan và cho tới nay sau mấy chục năm xuất khẩu, nhưng gạo của VN vẫn chưa có thương hiệu uy tín trên thị trường quốc tế, chỉ bán được cho một số nước với giá thấp? Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách tam nông (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) coi “nông nhiệp là mặt trận hàng đầu”, nhưng tại sao máy móc và kĩ thuật canh tác vẫn rất lạc hậu, tiếp tục lối làm ăn thô sơ con trâu đi trước cái cày đi sau? Tại ĐH 10 (2006) những người cầm đầu toàn trị thổi lên tiêu chí từ “ăn no” sang “ăn ngon”! UVTU Đỗ Hoài Nam khi ấy đã cho biết, ĐH 10 đã ra NQ khẳng định đưa “nền nông nghiệp VN phải hình thành được một số sản phẩm chủ lực, mũi nhọn có lợi thế phát triển, có phẩm chất tốt, chất lượng cao và qua chế biến sâu, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới để có giá trị gia tăng cao”. Ông còn cho biết thêm, tại HNTU 7 Khóa 10 đã ra NQ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng này và lãnh đạo vẫn tuyên bố, nông nghiệp là mũi nhọn.[13]
Nhưng tại sao tới nay vẫn thường diễn ra “được mùa mất giá” cho nông dân? Tại sao sau hơn 30 năm vẫn không lập được các trung tâm lưu trữ gạo hiện đại và không thiết lập được công nghiệp chế biến nông sản; trong khi đó lại bỏ hàng ngàn tỉ đồng xây các cảng để chỉ nằm đắp chiếu, hay bỏ ra cả hàng trăm tỉ hoang phí để xây các tượng đài cho các nhà độc tài của Đảng? Sau 30 năm đổi mới, nhưng tại “Diễn đàn nông nghiệp” do CP tổ chức vào giữa tháng 10. 2016 lại vẫn lập lại, phải tạo một thương hiệu quốc tế tốt cho gạo xuất khẩu của VN! Nhưng nhiều chuyên gia đã chua chát nói thẳng: “Thương hiệu gạo, có đâu mà mất!” [14]
Một sản phẩm (công nghiệp hay nông nghiệp) phải có chất lượng tốt, được tín nhiệm của khách hàng, người tiêu dùng tín nhiệm và sẵn sàng trả giá cao. Họ sẽ tiếp tục tìm thương hiệu này. Thí dụ như trong sản phẩm xe hơi và điện tử, người tiêu dùng thường thích xe hơi Toyota, Mercedes và Samsung…. vì có phẩm chất tốt. Nhưng sau gần 30 năm xuất cảng gạo, gạo của VN vẫn không có thương hiệu có uy tín trên thị trường nông sản thế giới. Đầu năm 2016 nhiều chuyên viên và ngay cả các cán bộ phụ trách nông nghiệp cũng đã ta thán và nhìn nhận tình hình rất bất lợi này trong việc xuất cảng các nông sản của VN… Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu, bộ Công thương Trần Thanh Hải cho biết, năm 2015 gạo VN chiếm trên 50% tổng số gạo nhập khẩu của TQ, nhưng tại các siêu thị và cửa hàng lại không tìm ra gạo mang thương hiệu VN. Trong khi ấy, gạo Campuchia lại chễm chệ trên các cửa hàng. Chè, cà phê, hạt tiêu… là các nông sản xuất khẩu lớn của VN, nhưng vị thế cũng tương tự. Cựu Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II (thành phố HCM) Vũ Trọng Khải cho biết, nguyên nhân đang gây bất lợi cho quyền lợi của nông dân, là vì các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở VN đều là DNNN, nên vẫn giữ tâm lí thờ ơ cha chung không ai khóc! [15]
Tại Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới 30.9.16 với sự hiện diện của tân TT Nguyễn Xuân Phúc, được biết sau 30 năm thực hiện chủ trương lấy nông nghiệp làm mũi nhọn để xây dựng “nông thôn mới” nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân, nhưng tới tháng 9.16 mới chỉ có 2.045 xã (23%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.[16] Liệu con số đưa ra có chính xác không, không ai biết. Nhưng sau 30 năm mới chỉ có gần ¼ xã ở nông thôn tên toàn quốc đạt tiêu chuẩn nông thông mới. Đây là nhìn nhận thất bại trong việc cải thiện đời sống mấy chục triệu nông dân!
Trong khi chính phủ Nguyễn Tấn Dũng bảo đảm để nông dân được hưởng lãi ít nhất là 30% so với giá thành, nhưng dịp này tại QH bộ trưởng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao đức Phát lại cho biết, “giá thành 1 kg lúa là 4.100đ/kg như vậy giá thu mua lúa phải đạt 5.400đ/kg thì người trồng lúa mới lãi 30%. Nhưng hiện nay giá lúa khô loại thường nông dân cũng chỉ bán được 4.500đ, lúa hạt dài khoảng 4.800đ”. Nghĩa là chỉ đạt được 10% lãi. Bà Phạm Chi Lan cho biết, từ 2007 khi VN gia nhập WTO thì đầu tư cho nông nghiệp đã giảm rất mạnh và liên tục, “trước khi VN gia nhập WTO thì tỷ trọng đầu tư toàn xã hội vào nông nghiệp nhất là đầu tư của Nhà nước cũng còn tương đối cao chiếm tới 13,8% trong tổng mức đầu tư, nhưng sau vài năm tham gia vào WTO thì mức đầu tư vào nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 6,4% trong tổng mức đầu tư phát triển”.Đây rõ ràng là thái độ trọng công, khinh nông và bỏ nội, trọng ngoại của những người làm chính sách. Theo bà, chính sách bỏ rơi nông dân và nông nghiệp của chính quyền CSVN hoàn toàn trái ngược với các nước khác, “hầu hết các nước khi hội nhập họ đều lo bảo hộ nông sản, nhưng VN thì ngược lại buông nông sản, buông nông nghiệp và ngành này phải tự bơi tự bươn chải”. Trong khi ấy “ nguồn lực đầu tư dồn quá nhiều cho DNNN, quá nhiều cho các Tập đoàn Kinh tế để rồi họ gây biết bao vấn đề cho nền kinh tế hiện nay”. [17]
Thái độ khinh nông dẫn tới các chính chính sách bỏ rơi nông dân đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp đã giảm liên tục từ giữa thập niên 90. Trong dịp tổng kết 30 năm đổi mới vào dịp ĐH 12 nhiều chuyên gia về nông nghiệp thảo luận trên các cơ quan truyền thông. Họ sử dụng ngay lí luận của chế độ toàn trị là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết đúng hay sai. Khi “Tổng kết thực tiễn” trong 30 năm đổi mới trong nông nghiệp họ đã nhận thấy rất rõ, tốc độ trăng trưởng trong nông nghiệp không tăng, trái lại đã giảm liên tục từ kế hoạch ngũ niên này sang kế hoạch ngũ niên khác.
Theo Tổng Cục Thống kê, khu vực nông, lâm và thủy sản tăng 0,65%, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 6 năm.[19] Các con số trên giải thích tình trạng chung trong sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp đã bị bỏ rơi, nông dân không được giúp đỡ các mặt cần thiết, nên năng suất lao động trong nông nghiệp rất thấp và giảm liên tục. Trong bản Báo cáo 2016 của Ngân hàng Thế giới (WB) về phát triển nông nghiệp của VN đã xác nhận lối canh tác chậm tiến, lạc hậu thiếu cơ giới hóa nông nghiệp và lạm dụng thuốc trừ sâu, nông dân thất nghiệp gia tăng, chất lượng xấu.[20] WB còn cho biết, những năm gần đây mỗi năm nông nghiệp VN phải chịu thiệt hại khoảng 1 tỉ USD vì mất thị trường xuất khẩu do không tuân thủ các qui định vệ sinh an toàn thực phẩm.[21]
Cuối tháng 8.16 bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn (NN&PTTN) đã họp tổng kết 3 năm tái cơ cấu trong nông nghiệp (2013-15) có mặt Phó TT Trịnh Đình Dũng và bộ trưởng Nông nghiệp Nguyễn Xuân Cường. Các viên chức này xác nhận, không có chuyển biến thuận lợi, vì ruộng đất vẫn bị xé nhỏ cho nên không thể công nghiệp hóa nông nghiệp.[22] Ngân hàng Thế giới cho biết, đất nông nghiệp chia theo đầu người ở VN rất thấp, “chỉ đạt bình quân 0,07 hecta, thấp hơn nhiều so với tỉ lệ 0,27 hecta mỗi người tại Thái lan .[23] TS Lê Đăng Doanh nêu rõ một nguyên khác khiến các sản phẩm nông nghiệp có giá trị rất thấp và nông dân nghèo, vì nền nông nghiệp VN chưa phát triển được công nghiệp gia công chế biến là làm tăng thêm giá trị gia tăng. [24]
Chính vì thế đời sống của mấy chục triệu nông dân tiếp tục trong cảnh đói nghèo, ngay cả ở Đồng bằng Cửu long, vựa thóc cả nước. Họ dẫn chứng, một gia đình nông dân hai vợ chồng và hai con mức thu nhập từ 8 công ruộng ba vụ mỗi năm được tổng cộng 40 triệu đồng. Nếu chia theo đầu người thì mỗi người chỉ được 10 triệu đồng/năm, tức trung bình chỉ được 840.000đ/tháng, tương đương với 40 USD/tháng. Trong khi đó mức thu nhập đầu người bình quân năm 2013 ở VN là 1.960 USD, tức khoảng 150 USD/tháng.[25] Như thế mức chênh lệch giầu nghèo giữa thành thị và thôn quê rất lớn.
Nhìn tổng thể về kết quả 30 năm gọi là “đổi mới” xuyên qua 6 ĐH và bao nhiêu HNTU và các nghị quyết về công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu XHCN đã từng đóng góp ý kiến cho BCT và BBT trong nhiều nhiệm kì đã phải nhìn nhận tình trạng dẫm chân tại chỗ:
“Sự phát triển của nông nghiệp chủ yếu vẫn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết và phương thức canh tác truyền thống, dựa vào đất đai và lao động thủ công và vẫn nặng về sản xuất lúa gạo phẩm chất thấp, chưa chịu tác động mạnh mẽ của công nghiệp, công nghệ và dịch vụ, nhất là công nghệ cao. Lao động trong nông nghiệp vẫn còn gần 50% lao động toàn xã hội, trong đó trên 90% là chưa qua đào tạo và dân số sống ở nông thôn vẫn còn khoảng 70%”. [26]
Tại QH ngày 22.10.15 bộ trưởng Kế hoạch&đầu tư Bùi Quang Vinh cho biết: “Nhìn lại bao nhiêu năm, nông nghiệp bây giờ vẫn còn tình trạng con trâu đi trước cái cày theo sau. Ruộng của chúng ta chia manh mún, bé tí, từ máy bay nhìn xuống, ruộng, kể cả ở đồng bằng sông Cửu Long, chia nát bét, ô ruộng bé tí bằng căn nhà này thôi. Ngày xưa ruộng thẳng cánh cò bay thì bây giờ nó đã phân đất cho hộ gia đình tự cứu lấy mình trong giai đoạn trước, bây giờ nó đang cản trở lại nền sản xuất lớn…Một cân ngô và một cân đậu tương ở VN đắt gấp ba lần so với Mỹ sản xuất. Cánh đồng của họ thẳng cánh cò bay, một công lao động bằng máy móc bằng 1.000 người VN, nên giá thành ngô của họ chỉ bằng một phần ba giá thành ngô VN. Cho nên họ có sức cạnh tranh”.[27] Các điều kiện vô cùng bất lợi này đã dẫn tới năng suất lao động ở VN trong mọi lãnh vực, kể cả trong nông nghiệp rất thấp. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 2013 năng suất lao động của VN thuộc nhóm thấp nhất châu Á-Thái bình dương; thấp hơn Singapore 15 lần, Nhật 11 lần, Nam hàn 10 lần; chỉ bằng 1/5 Mã lai, 2/5 Thái lan.[28]
Tại “Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về chiến lược tam nông” ngày 27.11.18 chính Nguyễn Xuân Phúc đã xác nhận kết quả trên 30 năm trong chính sách tam nông là thất bại trong mọi lãnh vực, thua cả Thái lan và Campuchia: “Việc áp dụng tiến bộ khoa học trong nông nghiệp còn yếu, giá thành sản phẩm cao, chủ yếu là xuất thô, chưa qua chế biến, chưa đột phá trong nâng cao giá trị gia tăng; cơ cấu sản xuất còn manh mún, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn nhiều, việc xây dựng thương hiệu nông nghiệp còn yếu kém..”. [29]Mức đầu tư khoa học trong nông nghiệp ở VN chỉ bằng 1/10 Thái lan và 1/7 Phi luật tân. Nếu so với Nam Hàn thì con số này chỉ bằng 1/600.[30]
Mặc dầu vậy Nguyễn Xuân Phúc không dám nhìn thẳng sự thực về sự bỏ rơi nông dân và nông thôn trong suốt trên 30 năm “đổi mới” của những người cầm đầu chế độ toàn trị. Trong Hội nghị trên ông Phúc lại trút trách nhiệm là nông dân ỷ lại: “Chúng ta đang nói tập trung làm nông nghiệp, nông thôn mà nông dân chúng ta có tinh thần ỷ lại thì không bao giờ thành công!”[31]
Nguyên nhân và hiểm họa
Sau 30 năm đổi mới, nhưng tình hình nông nghiệp và đời sống mấy chục triệu nông dân vẫn ở tình trạng rất lạc hậu và đói nghèo. Nhiều chuyên viên, trong đó có cả những cán bộ cao cấp, đã dẫn chứng và cắt nghĩa, như trình bày ở trên, về các nguyên nhân dẫn tới tình hình rất bi đát hiện nay cho 70% dân số. Trong đó tổng hợp lại nổi bật hai nguyên nhân căn bản.
Nguyên nhân hàng đầu rất quan trọng khiến bao nhiều triệu nông dân triền miên rơi vào tình trạng “được mùa mất giá” và vẫn phải lao động theo cách con trâu đi trước cái cày đi sau, vì chính sách vô trách nhiệm của chế độ toàn trị, nhắm mắt rập khuôn theo kiểu DNNN trong nông nghiệp.Việc chế độ cho thành lập các Tổng công ti lương thực I và II vàHiệp hội Lương thực (VFA) chính là cách độc quyền trong nông, lâm và thủy sản. Các DNNN này gần như độc quyền trong việc định giá thóc gạo và thường cấu kết với các thương lái để ép giá nông dân phải bán nông sản theo giá bất lợi.[32] Chế độ toàn trị không tin vào nông dân và không sáng suốt nhận ra được tầm quan trọng của nông nghiệp VN trong việc phát triển đất nước, nên đã không tạo cho giới nông dân những điều kiện và cơ hội cần thiết để tự canh tân sản suất, tự tổ chức những cơ sở thiết yếu trong các khâu canh tác, chế biến và tìm thị trường để các nông sản VN có thương hiệu tốt, khả năng cạnh tranh cao, bán được giá trên thị trường quốc tế….
Các Tổng công ti lương thực nhà nước được độc quyền và được ưu đãi nên chỉ làm việc theo tinh thần công chức, sáng xách ô đi tối xách về, không tha thiết tới quyền lợi của mấy chục triệu nông dân…Không những thế còn thỏa hiệp với nhau và với các đại quan đỏ để tham nhũng và bóc lột nông dân! Đây là thái độ khinh thường nông dân và bỏ rơi nông thôn của nhóm cầm đầu toàn trị trong suốt mấy thập kỉ vừa qua! Chính vì thế cho tới nay mấy chục triệu nông dân vẫn bị nghèo đói và nông nghiệp không ngóc đầu lên được!
Một nguyên nhân quan trọng khác khiến nông nghiệp VN vẫn lạc hậu và nông dân vẫn phải chịu cảnh đói nghèo là do trước sau đảng vẫn ngang ngược coi đất đai thuộc công hữu, vẫn giáo điều nhắm mắt theo ý thức hệ Marx-Lenin. Chính từ khi Nguyễn Phú Trọng làm TBT đã cố tình ngăn cản và chống lại cả quyết định của ĐH 11 đòi sửa lại Luật Đất đai cho phù hợp với quyền lợi của nhân dân.Theo Tổng thanh tra CP thì có đến trên 70% các vụ khiếu kiện là về đất đai.[33]Ở nông thôn nông dân vẫn phải thuê ruộng đất của nhà nước, đại đa số ruộng đất bị chia cắt ra rất nhỏ và không có những biện pháp khuyến khích nông dân canh tác chung cùng có lợi. Nên không thể sử dụng các máy móc nông nghiệp hiện đại từ các khâu làm đất, cấy hạt giống, phân bón, trừ sâu tới gặt hái… Phần lớn các phương tiện canh tác cũ đã lạc hậu vẫn được sử dụng. Đây là lí do khiến năng suất nông nghiệp thấp và dẫn tới đời sống vẫn đói nghèo cùa bao nhiêu triệu nông dân chiếm tới trên 2/3 dân số VN. Mặc dù nông dân VN rất siêng năng và cần cù!
Tóm lại, cuộc sống đói nghèo của nông dân VN suốt gần 70 năm dưới chế độ toàn trị bắt nguồn từ một nguyên nhân căn bản là, thực hành chủ thuyết Marx-Lenin với chính sách coi ruộng đất là thuộc độc quyền của Đảng. Tức là trong thực tế ĐCSVN đã trở thành tên địa chủ độc nhất trên toàn quốc; nó tái lập biện pháp phát canh thu tô của địa chủ trước đây. Chỉ có điều khác là, trước đây địa chủ cho nông dân thuê ruộng đất, nhưng phải trả tiền thuê ruộng đất cho địa chủ. Nay thì ĐCS đóng vai trò này của địa chủ, nhưng với những chính sách tham lam và độc ác hơn, tuy rằng vẫn hô lớn chống địa chủ bóc lột!
***
Ngoài thái độ và chính sách khinh nông của nhà cầm quyền, cũng như sự thiếu năng lực của cán bộ, hiện nay nông nghiệp VN còn đứng trước nguy cơ của biến đổi khí hậu trên toàn cầu do những hậu quả của CO2, đặc biệt là Đồng bằng Cửu long, vựa lúa nuôi dân cả nước. “Bát cơm vàng” đang có nguy cơ biến mất. Khu vực này bao gồm 13 tỉnh, với 12,3 % diện tích và 20% dân số, đóng góp tới 27% GDP cả nước. Hai tỉnh Cà mâu và Kiên giang là khu đất thấp hơn cả mức nước biển. Trong mùa mưa nếu thủy triều cao khoảng một mét thì có nguy cơ đồng ruộng bị chìm trong nước mặn, không thể canh tác. Nạn sụt lún sẽ càng gia tăng. Trong khi ấy từ trước tới nay sông Cửu long là nguồn cung cấp không chỉ hải sản, mà còn đem phù sa làm phì nhiêu đồng ruộng. Nhưng hiện nay TQ đã xây nhiều đập thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu long, khiến cho lưu lượng nước bị giảm.
Theo dự báo của Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và nhiều chuyên viên quốc tế, với tình hình gia tăng nhiệt độ trên thế giới tiếp tục như hiện nay thì tới cuối thế kỉ này nhiệt độ ở Đồng bằng Cửu long có thể tăng thêm 1,3-2,8°C, mưa sẽ tăng 4-8%, nước biển dâng từ 66 cm tới 99cm. Nếu nước biển dâng cao thêm 1m có thể làm cho 39% diện tích Đồng bằng Cửu long bị ngập, 35% dân số bị ảnh hưởng. Đây là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu. Nếu tình hình này diễn ra sẽ làm 22 triệu người mất nhà cửa và thiệt hại lên tới 10% GDP.[34]
III. Đầu tư nước ngoài: Khinh trong trọng ngoài,
dẫn tới kinh tế lệ thuộc FDI và công nghiệp nội bị bỏ rơi
Sau khi HK và các nước Tây phương hủy bỏ chính sách cấm vận kinh tế và thương mại với VN từ đầu thập niên 90, chế độ toàn trị CSVN đứng trước hoàn cảnh rất ngặt nghèo. Khi ấy Liên Xô đã sụp đổ, tức là HN mất toàn bộ khu vực “thị trường truyền thống” suốt mấy chục năm từng là chủ lực giao thương và viện trợ cho VN. Trong khi ấy tái lập bang giao với TQ mới bắt đầu và chưa có gì vững chắc. Trong hoàn cảnh đó, muốn tái thiết đất nước chỉ còn cách mở cửa buôn bán với Tây phương, đặc biệt với cựu thù Mĩ. Đây là giai đoạn chủ trương làm bạn với tất cả! Hà nội đưa ra mục tiêu kinh tế đối ngoại là tìm cách thu hút mời các công ti nước ngoài đầu tư trực tiếp vào VN xây dựng các xí nghiệp để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu (Foreign Direct Investment -FDI). Họ cho rằng, đây là chính sách khôn ngoan “đi tắt đón đầu”, như một đòn bẩy để đưa nền kinh tế vốn rất tụt hậu của VN có thể chuyển nhanh sang phát triển canh tân đất nước, nhờ vốn và kĩ thuật hiện đại của các công ti này.
Về lí thuyết, chủ trương này bao gồm một số mục tiêu chính:
Tạo công ăn việc làm và nâng cao trình độ chuyên môn cho công nhân VN
FDI hợp tác với các doanh nghiệp VN, chuyển giao kĩ thuật công nghiệp hiện đại và giúp công nghiệp VN phát triển kiến thức quản trị
Thu được các nguồn ngoại tệ mạnh để làm vốn cho phát triển kinh tế
Các sản phẩm của FDI xuất cảng sẽ mang lại số thuế lớn cho ngân sách quốc gia
Các FDI sẽ sử dụng các kĩ thuật hiện đại, nên tránh làm bãi rác công nghệ
Tuy Luật đầu tư cho nước ngoài đầu tiên ra đời từ 1988 (QH thông qua 29.12.1987)[35], nhưng phải đợi tới giữa thập niên 90 sau khi VN và HK bình thường hóa quan hệ ngoại giao thì các các công ti FDI mới dồn dập vào làm ăn ở VN.[36]Điều 27 Luật đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài năm 2005 qui định các lãnh vực được ưu đãi, trong đó Khoản 3 ghi rõ “Sử dụng công nghệ cao, kĩ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái.”. [37] Tuy nhiên phải đợi tới sau khi VN gia nhập WTO vào cuối năm 2006 thời Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng (TT) thì các công ti lớn quốc tế mới đổ hàng tỉ USD đầu tư vào VN. Chỉ riêng 9 tháng đầu 2008 vốn đăng kí đầu tư nước ngoài vào VN đã lên tới 57 tỉ USD. Trong đó có 8 dự án có vốn đăng kí trên 1 tỉ USD/dự án.[38] Tới cuối 2012 có tất cả 14.364 dự án đang hoạt động với tổng số vốn đăng kí lên tới 212,846 tỉ USD. Trong đó chủ yếu là các công ti FDI với 100% vốn nước ngoài chiếm tới 79,61% tổng số dự án và 66,51% tổng vốn đăng kí; số công ti FDI liên doanh với tư nhân VN và DNNN chỉ chiếm 17,86% tổng số dự án và 25,92% tổng vốn đăng kí.
Trong dịp tổng kết 30 năm chính sách đối với FDI (1988-2018) một số cơ quan và chuyên viên đã phân tích các hoạt động và kết quả của FDI đối với kinh tế VN. Thứ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, VN “đã thu hút được trên 25.000 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 320 tỉ đô la Mỹ”.[39] Theo TS Vũ Thành Tự Anh, Đại học Fulbright VN, đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ba thập niên qua “đang tạo ra khoảng 70% giá trị xuất khẩu, 50% giá trị sản xuất công nghiệp và 20% GDP của cả nước”.[40]Trong khi FDI chiếm trên 2/3 tổng xuất khẩu và ½ tổng giá trị sản xuất công nghiệp của VN thì “hệ số chuyển giao công nghệ” của các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội lại “thấp nhất trong khu vực ASEAN, thua cả Lào và Campuchia”. Chính sự kiện này đã được Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ông Vũ Tiến Lộc xác nhận trong cuộc Hội thảo ở HN ngày 30. 8.18. [41]
Nói một cách khác, vai trò của các doanh nghiệp FDI đang đóng vai trò then chốt có tính cách quyết định cho tương lai của kinh tế VN, nhưng hầu như không có chuyển giao công nghệ với các doanh nhiệp tư nhân VN. Nguy hiểm nữa là, rất nhiều xí nghiệp FDI đã sử dụng các máy móc cũ và có trình độ công nghiệp rất thấp, ngày càng đe dọa môi trường sinh thái của VN, điển hình như thảm họa cá chết hàng loạt phủ trắng ven biển các tỉnh miền Trung do đại công ti Formosa gây ra năm 2016. Điều này hoàn toàn trái ngược với các mục tiêu đãđưa ra của nhà cầm quyền toàn trị VN xuyên qua các Luật đầu tư cho các doanh nghiệp nước ngoài tại VN trong hơn 30 năm qua.
Cũng theo báo cáo vào đầu năm 2018 của VCCI, “mỗi năm có khoảng từ 40-50% doanh nghiệp FDI kê khai lỗ, trong đó, có rất nhiều doanh nghiệp lỗ liên tục trong nhiều năm, thậm chí có doanh nghiệp lỗ lũy kế đến mức âm vốn chủ sở hữu, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, kể cả việc mở rộng quy mô kinh doanh. Một số địa phương thu hút nhiều doanh nghiệp FDI như thành phố HCM, Bình Dương, tỉ lệ doanh nghiệp FDI kê khai lỗ lên đến 50-60%, trong đó có nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ trong nhiều năm”.[42] Tình hình rất lạ lùng như thế phải hiểu theo nhiều mặt. Đó là: 1. Những đóng góp thuế thực sự của FDI vào ngân sách quốc gia ở mức rất thấp. 2. Mức chuyển giao kĩ thuật công nghệ cho các doanh nghiệp nội địa rất thấp. 3. Sử dụng các máy móc cũ nên đang tạo nguy hại về môi trường.
Mặc dầu tình hình phát triển của các công ti FDI đi ngược lại với các chủ chương và chính sách của chế độ toàn trị trong việc thu hút đầu tư của nước ngoài, vậy tại sao họ vẫn được mở rộng làm ăn ở VN? Những nghịch lí này của FDI đang diễn ra ở VN trong suốt mấy thập niên qua. Tại sao các nghịch lí ngày không được cải thiện, ngược lại còn đang mở rộng từ thời Nguyễn Tấn Dũng và đang gia tăng từ khi Nguyễn Xuân Phúc làm TT? Những người cầm đầu chế độ toàn trị có làm chủ động trong các chính sách đối với FDI, hay đã bị lệ thuộc và bị sai khiến bởi các nhóm lợi ích cấu kết với các công ti FDI từ ngay trong giai đoạn hoạch định chính sách?
Các công ti FDI tại VN phân loại theo hình thức đầu tư (2012)
TT
Hình thức đầu tư
Số dự án
Tổng vốn đăng kí (triệu USD)
Tỉ trọng (%)Số dự án Tổng vốnđăng kí
1
100% vốn nước ngoài
11.370
141.582,33
79,16 66,62
2
Liên doanh
2.566
55.162,65
17,86 25,92
3
Hợp đồng BOT, BT, BTO
14
5.857,32
0,10 2,75
4
Hợp đồng hợp tác kinh doanh
218
5.469,09
1,52 2,57
5
Công ti cổ phần
195
4.677,21
1,36 2,20
6
Công ti mẹ con
1
98,01
0,01 0,05
Tổng số
14.364
212.846,61
100 100
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, 2013. Xuất xứ: NCKT 4.2013,tr. 47
Nhà nước CS ưu đãi tối đa cho các công ti FDI về nhiều mặt, như đất đai lập công xưởng, được ưu đãi thuế rất thấp các năm đầu, lương công nhân thấp; nhập khẩu máy móc, mua sắm trang thiết bị và hàng từ công ti mẹ hưởng chế độ giảm thuế đặc biệt, giành ưu đãi cho họ chuyển lợi nhuận về công ti mẹ. Ngoài ra để thu hút FDI, mỗi địa phương còn được quyền đưa ra các biện pháp ưu đãi cao hơn; ngoài việc miễn giảm tiền thuế đất, tiền sử dụng đất lên tới 50% theo NQ 62 của CP, còn gia hạn thêm thời gian miễn giảm thuế từ 3-6 năm.[43] Chế độ toàn trị cho lập nhiều Khu chế suất và Khu công nghiệp giành riêng cho các công ti FDI. Các công ti FDI tập trung hoạt động trong lãnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu, như giầy dép, quần áo, linh kiện điện tử. Khi chương trình mở rộng các đô thị được ban hành, nhiều công ti FDI đã tìm cách hợp tác với các DNNN để lợi dụng chính sách ưu đãi của NHNN trong việc vay với lãi suất rất thấp những số tiền rất lớn lên tới 135.000 tỉ đồng (>8,4 tỉ USD) vào khu vực bất động sản. Như các dự án Nam Thăng long-Ciputra, Hồ Tràm của một công ti Canada (4,2 tỉ USD), Starbay của British VirginIslands (1,65 tỉ USD) và Khu công nghiệp Thủ thiêm của Singapor (1,2 tỉ USD) khi ấy. Họ còn lợi dụng sự dễ dãi và khuyến khích của chính quyền trung ương và các địa phương, nên nhiều năm -nhất là thời Nguyễn Tấn Dũng- đã ồ ạt lập 78 sân golf với tổng số vốn đăng kí là 13,3 tỉ USD và chiếm một diện tích 26.170 ha ở 39 thành phố/tỉnh. Ngoài ra cũng trong thời gian này còn có 66 dự án khác xây sân golf.
Chính TCCS đã đăng bài của hai chuyên gia kinh tế của Cơ quan Phát triển của LHQ ở VN tường thuật cách biến đất nông nghiệp thành các sân golf làm nơi giải trí của các nhà tư bản nước ngoài và các quan đỏ. Theo qui định của Nhà nước thì tiền bồi thường cho đất nông nghiệp rất thấp. Không những thế đất xây sân golf còn được coi là dùng vào thể thao, “nên được hưởng mức thuế đất ưu đãi”. Vì thế nhiều công ti FDI đã lợi dụng dùng một phần đất sân golf để xây “khách sạn, nhà hàng và giải trí”. Họ đầu cơ xây các sân golf, khách sạn và các khu giải trí với các ưu đãi cao nhất để hi vọng có thể thu hồi vốn và có lời nhanh. Trong việc xây dựng các khu vực bất động sản, nhiều công ti FDI đã dùng uy tín và mánh lới là công ti ngoại quốc, có quan hệ tốt với các quan đỏ có quyền lực, nên nhiều khi họ chỉ cần xây móng xong là đã rao bán. Người mua (thường là cán bộ có máu mặt) sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn đặt cọc trước. Như vậy là các công ti FDI đã dùng tiền của người mua nhà để xây nhà, họ chỉ phải bỏ ra số vốn rất ít nhưng hưởng lợi nhuận rất cao. Có dư luận cho rằng, dự án Ciputra và Keangnam (Đại hàn) thuộc loại đầu cơ như vậy.[44] Đây chính là cách làm ăn móc ngoặc, làm giầu nhanh bất chính giữa các quan đỏ với nhiều công ti nước ngoài.
Một hiện tượng rất phổ biến là, nhiều doanh nghiệp FDI đã khai lỗ nhiều năm liên tiếp, trong khi đó họ vẫn gia tăng đầu tư tại VN. Như ở Khu chế suất tại Bình dương số doanh nghiệp FDI khai lỗ năm 2010 là 754/1490, chiếm tỉ trọng 50,6%; trong đó có tới 200 doanh nghiệp mức lỗ cao hơn cả vốn. Tại Sài gòn và Đồng nai số doanh nghiệp FDI khai lỗ cũng lên tới 60% và 52,2%. Tại Lâm đồng số doanh nghiệp FDI khai lỗ là 104/111. Mánh lới phổ thông thứ hai của các công ti FDI là khai giá các tài sản như máy móc, thiết bị, nguyên liệu, dịch vụ, phí bản quyền… cao hơn nhiều so với giá thực tế. Mặc dầu đa số máy móc chuyển sang VN đều thuộc loại trình độ kĩ thuật cũ và gây ô nhiễm cao. Đây là thuộc vào các vốn đầu tư, từ đó họ có lợi thế để tính thuế. Họ còn khai vay tiền các ngân hàng với lãi suất rất cao, hoặc các chi phí cho dịch vụ như quản lí, quảng cáo, tiếp thị, đào tạo, thuê chuyên gia. Đây là những chi phí đầu vào. Từ đó vào cuối mỗi năm họ có thể khai lỗ, hoặc lời rất ít để được miễn thuế hoặc chỉ đóng thuế rất ít. Năm 2009 có 760/1.358 (56%) công ti FDI khai lỗ. Các thủ đoạn này làm ngân sách nhà nước thất thu hàng năm rất lớn.[45]
Một hiện tượng phổ thông khác là, đại đa số các công ti nước ngoài hoạt động tại VN theo hình thức 100%, không thích liên kết với các doanh nghiệp VN vì nhiều lí do, từ bí mật nghề nghiệp, khác biệt ngôn ngữ tới sự phân hóa quá nhỏ của các doanh nghiệp tư VN. Đặc biệt nhất là, nhà cầm quyền CS rất cần ngoại tệ qua sự đầu tư của các công ti FDI nên không dám có những chính sách rõ ràng -như TQ và một số nước Á châu- để các công ti FDI phải tích cực hợp tác với doanh nghiệp tư nhân VN. Vì thế các doanh nhân, doanh nghiệp VN và công nhân mất các cơ hội tốt để học tập kĩ thuật, cách quản trị và điều hành các hãng xưởng theo trình độ mới.
Không chỉ chèn ép giới kinh doanh tư nhân VN, các công ti FDI còn tìm cách bóc lột hàng triệu công nhân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, với sự làm ngơ hoặc tiếp tay nhà cầm quyền CS. Tính tới năm 2012 có 283 Khu công nghiệp trên 58 tỉnh/thành phố, chiếm diện tích 76.000 hecta. Trong đó miền Đông Nam Việt nhiều nhất với 88 khu công nghiệp ( 31,1%), Đồng bằng sông Hồng 24,7%, Đồng bằng Cửu long 17,7%, Miền Trung 15,5%. Chia theo tỉnh/thành phố thì Đồng nai có 30 Khu công nghiệp, Bình dương 25, Sài gòn 19, Hà nội 11…Riêng Đồng bằng Cửu long có 51 Khu công nghiệp và 200 cụm công nghiệp chiếm diện tích 25.000ha, nhưng mới sử dụng khoảng 20%. Nhiều Khu công nghiệp bị qui hoạch treo phí phạm đất canh tác.[46] Số lao động làm trong các Khu công nghiệp tăng rất nhanh. 1995 mới có 50.000 công nhân, năm 2000 đã tăng lên 201.000, năm 2007 lên tới 1,04 triệu và 1,765 triệu công nhân vào năm 2011. Bình quân số công nhân làm trong các khu công nghiệp gia tăng hàng năm từ 10-15%.
Trong khi số công nhân gia tăng rất nhanh thì Nhà nước CS không có chính sách để các doanh nghiệp FDI có chương trình xây dựng cư xá cho công nhân. 80% công nhân phải thuê phòng trọ ở bên ngoài. Nếu tính theo tỉ lệ và diện tích các phòng trọ thì thật khủng khiếp: Số công nhân phải sống trong phòng rộng dưới 3m² chiếm tới 19%, 3-5m² (21,4%), 5-7 m² (10,6%),8-10m² (22%), 11-20m² (22,4%); số công nhân có phòng trọ trên 20m² chỉ có 5,9%. Rất nhiều trường hợp 3 công nhân phải thuê 1 phòng 10-12m², giá thuê 250.000-300.000đ/tháng (2012). Không chỉ phải ở trong các phòng trọ chật chội, thiếu tiện nghi, thiếu vệ sinh như các chuồng gà; còn thiếu các nhà trẻ, trường học, trạm y tế, chợ, siêu thị, giải trí…Đấy là chưa kể chính sách “hộ khẩu” đã khiến cho con cái công nhân không được thu nhận vào các trường học. Điều này ảnh hưởng vô cùng bất lợi cho hàng trăm ngàn thiếu niên.[47]
Cuộc sống lam lũ của hàng triệu công nhân, đa số là phụ nữ và con thơ, trong các khu công nghiệp giành cho các công ti FDI là những hình ảnh sống động nhất và tồi tệ nhất như thời Cách mạng Công nghiêp hai thế kỉ trước, với cảnh bóc lột của thời kì tư bản rừng rú. Trong đó có sự cấu kết công khai giữa vua chúa cầm quyền và bọn tư bản bóc lột. Nhưng rất oái ăm và lạ lùng là, tình trạng vô nhân đạo này lại tái diễn vào đầu Thế kỉ 21 tại VN trong khuôn khổ chế độ XHCN; trong đó những người cầm đầu luôn luôn vỗ ngực, đó là chế độ bảo vệ người lao động, bảo vệ quyền làm người!
Không những thế nhiều công ti FDI vi phạm qui luật lao động, thậm chí vi phạm cả luật hình sự đối với công nhân VN. Như ngược đãi công nhân, làm tới 12 giờ/ngày, đánh đập công nhân. Nhiều công ti Nam hàn đã vi phạm. Các vụ đình công diễn ra khá phổ biến trong các công ti của Đài loan và Nam hàn. Năm 2010 xẩy ra 62 vụ đình công ở Sài gòn, trong đó 37 vụ trong các công ti FDI. Trong số này 21 vụ ở các công ti Nam hàn.[48] Số các công ti của Nam Hàn, Đài loan, Hồng kông và Nhật chiếm một tỉ lớn của FDI hoạt động ở VN. Điều này có thể hiểu, các nước này không chỉ là láng giềng mà còn có nền văn hoá tương đồng với VN, hiểu rõ tâm lí và tập quán của người Việt, đặc biệt một số các nước này không coi trọng nhân quyền và quyền lợi của công nhân ngay ở trong nước họ!
Một hình ảnh “thân dân” rất kịch cỡm đã được TT Nguyễn Xuân Phúc dàn cảnh trong chuyến thăm công nhân tại một công ti FDI ở Đồng nai vào cuối tháng 10.2017. Đây cũng là công ti mà hơn một năm trước, khi mới nhận chức TT ông Phúc đã thăm. Nay ông trở lại để xem có tiến bộ hay không. Tại đây TT đã hỏi công nhân về tình hình lao động và cuộc sống hàng ngày của họ. Khi tới bàn ăn của công nhân ông hỏi: “Bữa ăn từ 16.000-23.000 đồng có đảm bảo chất lượng không? Sau giờ làm việc, công nhân có thời gian để sinh hoạt văn hóa, thể thao hay không? Mức lương và cuộc sống có đảm bảo không?”[49] Tại sao Nguyễn Xuân Phúc không tổ chức một cuộc thăm bất ngờ ở một công ti FDI khác để biết các bữa ăn trưa thịt ôi canh ủng chỉ với giá hai ba ngàn đồng; hay đi thăm các phòng trọ như ổ chuồng gà giành cho công nhân?
Theo bộ Kế hoạch và đầu tư, tới cuối 2017 có 128 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam. Lần đầu tiên Nam Hàn đang dẫn đầu với tổng vốn đăng ký 57,1 tỷ USD (chiếm gần 18,2%), thứ hai là Nhật bản với 46,3 tỷ USD, tiếp đến là Singapore và Đài loan.[50]
Tờ Quân đội Nhân dân (QĐND) cũng cho biết, hiện các công ti FDI đang sử dụng khoảng 30% lực lượng lao động công nghiệp”.[51] Nhưng mặt khác, khu vực FDI đang bộc lộ những mặt trái gay gắt; như gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng, nạn chuyển giá bất hợp pháp, sử dụng công nghệ lạc hậu. BCT đưa ra mục tiêu là, dùng FDI để lan tỏa công nghiệp hiện đại cho kinh tế tư nhân nội địa, nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), các công ti FDI “chỉ mua khoảng 26,6% thiết bị, đầu vào từ DN Việt Nam, còn lại là nhập khẩu và nhập từ công ty mẹ. Điều này chứng tỏ, DN Việt Nam đang được hưởng lợi rất ít từ hiệu ứng lan tỏa do dòng vốn FDI mang lại qua quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất”. Trong báo cáo “Việt Nam tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của DN vừa và nhỏ (DNVVN)-Bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế” Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cũng xác nhận, “các DNVVN của Việt Nam chủ yếu là nhà cung cấp cấp ba (gián tiếp), được mô tả như là ngành sản xuất các nguyên liệu đầu vào, nguyên liệu đơn giản và ít giá trị gia tăng”.[52]
***
Nếu so sánh giữa chủ trương (lí thuyết) và kết quả thực tiễn trong việc thực hiện chính sách FDI gần ba thập kỉ qua của chế độ toàn trị CSVN thì càng thấy rõ sự khác biệt rất rõ rệt như trắng với đen giữa mục tiêu và kết quả:
– Chủ trương dùng FDI để thúc đẩy công nghiệp VN phát triển. Nhưng oái oăm đại đa số các FDI chỉ làm ăn riêng, cho nên đến nay nhiều doanh nghiệp tư VN đã không làm được cái đinh ốc!
– Chủ trương dùng FDI để VN có “công nghiệp xanh”. Nhưng nay nhiều FDI đang biến VN thành bãi rác thải công nghiệp độc hại, không những thế họ chỉ chuyển vào VN các máy móc có trình độ kĩ thuật rất thấp.
– Chủ trương bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân trong các công ti FDI, nhưng thực tế hàng triệu công nhân VN đang bị bóc lột và bạc đãi!
Tự vỗ ngực là những người lãnh đạo CS giầu kinh nghiệm, biết rõ tâm đen của các giới tư bản, nhưng tại sao họ lại trải thảm đỏ mời gọi FDI, thế rồi bị sỏ mũi? Họ nghĩ rằng có thể tương kế tựu kế? Nhưng nếu xét qua nhiều giai đoạn tham gia của FDI ở VN thì cho thấy, họ bị chạy theo, rất bị động chứ không chủ động. Những sự cố về ô nhiễm môi trường đã xẩy ra và các hậu quả vô cùng tai hại của nó, cũng như lương bổng bị bóc lột và đời sống đói rách của hàng triệu công nhân cho thấy, khi lập kế hoạch mời FDI họ ở thế bị động, cứu đảng và cứu mình để nắm quyền nên phải nhắm mắt làm liều.
Lời xác nhận của Nguyễn Phú Trọng trong vụ Formosa: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”. (Xem Chương chín, V). Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị không chỉ giới hạn trong lãnh vực môi trường, mà có giá trị cả trong các lãnh vực khác, như chờ đợi FDI chuyển vào VN những công nghệ với kĩ thuật tiên tiến, hay bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân.
Sự tăng trưởng về vốn đầu tư vào VN hay kim ngạch xuất khẩu gia tăng của FDI không đồng nghĩa với những lợi ích cho VN. Nhiều khi đi ngược lại các mục đích ban đầu của CSVN: Xuất khẩu gia tăng nhưng nhập khẩu cũng gia tăng; gia tăng số lượng công ti FDI nhưng lại giảm số công ti FDI hợp tác với doanh nghiệp tư VN và các thiết bị đưa vào VN có trình độ kĩ thuật thấp, đang biến VN thành nơi tiêu thụ các máy móc lỗi thời, nguy hiểm nữa là thành bãi rác đầy chất độc công nghiệp. Điều cực kỳ nguy hiểm nữa là, sự kiện ngày càng lớn mạnh của FDI dẫn tới hậu quả, ngày càng òi ọp của doanh nghiệp tư nhân VN và kinh tế VN càng lệ thuộc bên ngoài!
Cuối tháng 11.18 tại cuộc Hội thảo đánh giá hiệu quả chính sách thu hút và ưu đãi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các thập niên vừa qua do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức, nhiều chuyên viên đã lên tiếng cảnh báo về những hệ lụy vô cùng bất lợi trong nhiều lãnh vực cả trước mắt và lâu dài của chủ trương “quá sính ngoại” của chế độ toàn trị đối với các công ti FDI. Chuyên viên ngân hàng Phạm Xuân Hòe nhận xét, “khối FDI được rất lớn, còn VN chỉ được mấy đồng lương còi cho người lao động. Trong khi ô nhiễm môi trường không biết phải chi bao nhiêu cho đủ và người công nhân cũng luôn phải đối mặt với rủi ro”. [53]
***
Trước đây cũng như hiện nay một số nước Âu châu cũng như Á châu lấy xuất cảng làm trọng tâm. Trong giai đoạn đầu mãi lực nội địa không cao, vốn ít; nên để tạo điều kiện phát triển nhanh hơn, các quốc gia này cần vốn của cả bên ngoài. Nhưng mục tiêu lâu dài vẫn phải lấy nội lực làm chính. Đây là những suy nghĩ sáng suốt và thực tế. Bởi vì hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp tới đồng tiền bát gạo. Ta không thương ta thì chẳng ai đoái hoài. Tâm lí chung là không ai giúp một cách vô công, có đi có lại. Nhưng phải hiểu tâm lí và động cơ của các nhà tư bản. Đối với họ, lợi nhuận là tiêu chí giá trị cao nhất, nơi nào thu hoạch có lời cao, thuế thấp cùng các ưu đãi khác thì họ sẽ đổ xô tới; nếu không còn thì họ lại bỏ đi tìm nơi khác. Chính tâm lí này của các giới tư bản đã được cựu Phó TT Đức và cựu Chủ tịch Đảng Dân chủ Xã hội Đức F. Müntefering mô tả; ông đã ví giới này như các đàn cào cào, châu chấu, nơi nào có ăn thì cả đàn tới, khi hết rồi thì cả đàn lại bay đi nơi khác kiếm ăn![54]
Như trước đây ở Nhật, Đài loan và Đại hàn và hiện nay ở TQ, một mặt họ khuyến khích tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư ở nước họ. Xuyên qua nguyên tắc hợp tác, các FDI được giành một số ưu đãi nhất định trong hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thời phải thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ và các thỏa thuận với các quốc gia này. Trong đó ngoài nhiệm vụ đóng thuế sòng phẳng, còn phải chuyển giao công nghệ tân tiến và đào tạo chuyên môn cho người lao động bản xứ.
Cách vận hành của một nền kinh tế lấy xuất cảng làm trọng tâm có đặc điểm là, các công ti FDI dùng công nhân bản xứ với lương bổng thấp, nhờ đó giá thành các hàng hóa thấp, nên các sản phẩm này có thể bán chạy ở nhiều nước công nghiệp. Nhờ thế các công ti FDI hưởng lợi nhuận rất cao. Trong khi đó nhà nước sẽ thu ngoại tệ để tăng mức ngoại hối và thu được thuế từ các hàng xuất khẩu; nhờ đó ngân sách quốc gia được gia tăng để có thể đầu tư và canh tân đất nước tiến tới tự lập tự cường. Nhưng các mục tiêu và cách thực hiện đường lối kinh tế này chỉ thành công trong một số điều kiện nhất định, ắt có và đủ. Đó là phải có một hệ thống chính trị tốt, trong đó những người nắm vận mệnh đất nước phải có tinh thần trách nhiệm cao, có tầm nhìn sâu rộng; quốc hội, hệ thống tòa án phải có thực quyền; các công chức phải chí công vô tư; có hệ thống báo chí độc lập và các đoàn thể xã hội dân sự được tự do hoạt động. Mặt khác phải có các chính sách khuyến khích và bảo vệ các giới doanh gia và tư thương nội địa trong việc bỏ vốn và sáng kiến vào các hoạt động sản suất và kinh doanh để làm giầu cho chính mình và đất nước.
Nếu chỉ thích hoàng nhoáng bề ngoài, thích giả dối; gộp nhập trên 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng nămtừ FDI vào GDP để trưng diện là lợi tức đầu người ở VN đang tăng nhanh. Nhưng đó chỉ là giả dối, vì phần lớn thu nhập của các công ti FDI lại được chuyển nhanh về công ti mẹ ở mẫu quốc. Cả phần thuế của FDI vào ngân sách quốc gia cũng rất thấp; vì họ được ưu đãi thuế, trốn thuế bằng cách khai lỗ, hay chỉ phải trả mức thuế rất thấp!
Cân nhắc giữa quyền lợi quốc gia và sự phân công quốc tế cùng có lợi cho các bên, thì nếu sự đầu tư của nước ngoài đem lại những lợi ích thiết thực cho việc phát triển nhanh và bền vững cho đất nước, sẽ là một việc rất đáng hoan nghênh. Không nên có thái độ bài ngoại quá khích, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hóa. Bế quan tỏa cảng chỉ làm trì trệ đất nước thêm. Nhưng mục tiêu này chỉ có thể thành công, nếu có một chính quyền có tầm nhìn xa trông rộng, biết cân nhắc ưu và khuyết điểm của kế hoạch xây dựng đất nước; có chính sách mở cửa thích hợp, biết sử dụng vốn tư bản nước ngoài, công nghệ tân tiến nước ngoài và kiến thức quản trị và trình độ chuyên môn cao của họ. Đó là tạo những điều kiện ắt có và đủ cho việc canh tân VN. Nhưng suốt trên 30 năm qua các điều kiện trên đều không có!
Tư doanh VN bị bạc đãi và bị chèn ép
Từ trước tới nay, đặc biệt dưới thời Nguyễn Tấn Dũng làm TT, các NQ của nhiều ĐH đảng và chính sách kinh tế của chính phủ đều nhấn mạnh phát triển nội lực. Nghĩa là về mặt lí thuyết, các doanh nghiệp VN (DNNN và tư nhân) phải là nồng cốt cho phát triển kinh tế. Các Luật về Doanh nghiệp tư nhân 2000 và 2005 qui định về hoạt động của kinh tế tư nhân trong nước. Nhưng trong thực tế thì lại hoàn toàn khác. Trong khi các công ti nước ngoài FDI ngày càng bung ra chiếm lãnh thị trường và các DNNN được giành ưu đãi trong tín dụng và đất đai, lại nắm độc quyền nhiều lãnh vực được coi là huyết mạch của nền kinh tế. Còn các doanh nghiệp tư nhân nội địa lại không ngóc đầu lên được, phải chịu đựng một cổ hai ba tròng, vừa bị các DNNN chèn ép, lại bị các công ti FDI cạnh tranh, đồng thời còn bị các quan đỏ móc túi và trấn áp.
Có nhiều con số khác nhau về doanh nghiệp tư nhân VN từ nhỏ, trung bình đến lớn (tính theo số công nhân và vốn đầu tư). Theo Cục Quản lí đăng kí kinh doanh của bộ Kế hoạch và đầu tư, tính tới Quí 1/2014 có tất cả 789.813 doanh nghiệp tư nhân VN đã đăng kí, trong đó 296.206 doanh nghiệp đã phải đóng cửa hoặc phá sản. Riêng từ khi VN gia nhập WTO (2007) số doanh nghiệp tư nhân gia tăng cao, mỗi năm có trên 50.000 doanh nghiệp được thành lập.[55] Nhưng đồng thời số doanh nghiệp ngưng hoạt động hoặc phá sản cũng rất cao. Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN ngày 13.4.16, có đến 428.000 doanh nghiệp tư nhân VN phải ngừng hoạt động hoặc giải thể trong giai đoạn 2007-2015, tương đương với 45,5% tổng số doanh nghiệp được thành lập kể từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000 đến nay. [56]
Xét về qui mô lao động thì các doanh nghiệp VN ngày càng có khuynh hướng nhỏ đi. Vào năm 2002 một doanh nghiệp có trung bình 74 lao động, đến 2007 chỉ còn 47 lao động, nhưng tới 2012 lại giảm chỉ còn khoảng 32 lao động. Vào năm 2012 số doanh nghiệp vừa là lớn chỉ chiếm khoảng 4,3%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 29% và siêu nhỏ chiếm 66,8% (dưới 10 lao động). Năm 2002 số doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm 53,1% đã tăng lên 66.8% vào năm 2012. Tình hình chung rất đặc biệt là, trong suốt 10 năm (2002-2011) rất ít doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ phát triển thành doanh nghiệp vừa hoặc lớn. Nhưng ngược lại, tỉ lệ các doanh nghiệp vừa lại biến thành nhỏ và siêu nhỏ lại gia tăng. Thành thử nhiều chuyên viên đã rất chua chát phải nêu câu hỏi, tại sao các doanh nghiệp tư nhân VN “không lớn lên được”? [57]
Cũng vào giai đoạn này đã có bài thơ rất chua chát và mỉa mai, vì sao đất nước không lớn lên được với tựa đề “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” của Thạc sĩ Trần Thị Lam, một nữ giáo viên trung học ở Hà Tĩnh, được phổ biến rất rộng rãi và được phổ nhạc. Bài thơ được phổ biến vào dịp sau biến cố thảm họa môi trường do Formosa ở Hà tĩnh gây ra, 4.2016.[58] (Xem phần sau).
Viện trưởng Viện Kinh tế VN Trần Đình Thiên nêu câu hỏi, tại sao Nhà nước vẫn nói là kinh tế chuyển dịch tốt, nhưng công nghiệp VN vẫn yếu?Ông dẫn chứng, công nghiệp chế biến, chế tạo là lãnh vực then chốt trong phát triển kinh tế, nhưng sau 30 năm chỉ tăng 1,6%.Ông dẫn chứng nguyên nhân dẫn tới tụt hậu vì các chính sách sai lầm. Theo ông, “trong thời đại công nghệ cao mà lĩnh vực chế biến chế tạo chỉ tăng như vậy thử hình dung công nghiệp Việt Nam giậm chân tại chỗ hay thụt lùi ghê gớm so với thế giới? Ta thích công nghiệp khai khoáng, xây dựng, tập trung gia công còn lĩnh vực tạo năng lực cốt lõi là chế biến chế tạo lại rất yếu”. Ông trách là, Nhà nước CS đã quá chiều chuộng các công ti FDI, dẫn tới hậu quả là nay tùy thuộc quá nhiều vào họ.[59] Trong khi đó theo chuyên gia Phạm Chi Lan, chế độ toàn trị đã không tạo một sân chơi bình đẳng giữa các hoạt động kinh tế. Trong khi các Doanh nghiệp nhà nước, các công ti FDI và “doanh nghiệp tư nhân thân hữu” được biệt đãi (tiếp cận các nguồn lực, quyền kinh doanh, đầu tư công/mua sắm của chính phủ, bảo hộ để né cạnh tranh…) thì đại đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vị thế rất bất lợi, nên không lớn lên được và dễ bị đào thải. [60]
Tới 2014 cả nước có khoảng gần 3000 doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ và hoạt động rất yếu. Ngay bộ Công thương cũng cho biết, công nghiệp phụ trợ phải sử dụng tới 80% nguyên liệu nhập khẩu, lại chỉ tập trung vào các hoạt động đơn giản như đóng gói, bao bì. Các ngành công nghiệp phụ trợ như giầy dép, dệt may… phần lớn nằm trong tay các công ti FDI. Các công nhân VN chỉ làm công tác gia công; trong khi ấy phần chính nguyên liệu phải nhập cảng, nhất là từ TQ. [61] Trong khi nhóm cầm đầu toàn trị thề thốt là công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế thì nhiều chuyên viên đã chỉ trích và cảnh báo nghiêm khắc là, “hiện nay VN đang trở thành quốc gia có nền công nghiệp gia công toàn diện”, tức là chỉ đi làm thuê và làm những công việc phụ thuộc cho các công ti FDI.[62] Ngoài các nguyên nhân không có sân chơi bình đẳng và bị chén ép, các doanh nghiệp tư nhân VN còn bị cán bộ nhũng nhiễu, hàng năm phải tiếp nhiều phái đoàn thanh tra, muốn được yên thì phải trao “phong bì”! Tiến sĩ Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, đã cho biết, theo số liệu từ một cơ quan nghiên cứu có tới 73% doanh nghiệp phải lót tay cho cán bộ. [63]
Ngay tại QH vào cuối năm 2015 (22.10.15) Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư Bùi Quanh Vinh vừa than thở vừa trách móc là: “Một đất nước muốn tự chủ kinh tế thì doanh nghiệp của nước ấy phải phát triển. Doanh nghiệp nội địa phát triển thì mới hỗ trợ cho khu vực FDI, và tiếp thu công nghệ của nước ngoài… Nhiều doanh nghiệp FDI, như Nhật Bản, muốn chuyển giao công nghệ, nhưng doanh nghiệp chúng ta không có nền tảng để nhận. Chúng ta kêu ca doanh nghiệp FDI không chuyển giao công nghệ là do có hai mảng. Thứ nhất họ không chuyển giao, và thứ hai, họ có chuyển giao thì chúng ta cũng không có đủ năng lực tiếp nhận”.[64]
Trong buổi tọa đàm với Hội Doanh nhân trẻ VN vào cuối năm 2018 TS Trần Đình Thiên, nay là thành viên Tổ tư vấn kinh tế của TT, đã phải chua chát nhận xét, sau trên 30 năm “đổi mới” nhưng doanh nghiệp tư nhân VN chỉ đóng góp 8% GDP; trong khi đó đóng góp của FDI lên tới 20% và DNNN khoảng 27-28%. Theo ông, ở trong một nước phát triển kinh tế thực sự với nội lực làm chủ yếu dựa trên kinh tế thị trường thì khu vực doanh nhân nội địa đóng góp đến 60-70%, nếu mạnh thì đến 80-90%. Nhưng ở VN sau trên “30 năm phát triển kinh tế thị trường rực rỡ mà chỉ có 8%”. Một trong những lí do chính là doanh nghiệp tư nhân VN đang bị bạc đãi và chèn ép. Ông dẫn chứng, trong khi các doanh nghiệp FDI chỉ phải chịu mức thuế trung bình là 11% thì các doanh nghiệp VN phải đóng thuế trung bình lên tới 29%, cao hơn gần 3 lần so với FDI![65]
Nói chung lại, trong suốt ba thập niên theo mô hình Kinh thế Thị trường định hướng XHCN sở dĩ các xí nghiệp tư nhân VN không thể vươn lên được vì nhiều nguyên nhân: Bị chế độ toàn trị bỏ rơi và khinh rẻ, bị các DNNN và FDI chèn ép; không được đối xử bình đẳng trong việc tiếp nhận các nguồn lực kinh tế từ vay tiền, lãi suất, thuế vụ tới đất đai. Ngoài ra còn phải thường xuyên bị cán bộ các cơ quan đảng và nhà nước nhũng nhiễu!
Hai trường hợp điển hình về chính sách
của Nhà nước CSVN với các công ti FDI
Nguyễn Xuân Phúc ưu đãi Samsung
Từ tháng 2.17 Lee Jae-yong 49 tuổi, Phó chủ tịch công ti Samsung phải ngồi tù ở Nam Hàn, là người giầu thứ 3 của Nam Hàn với 6,6 tỉ Euro. Ông phải tù 5 năm vì các tội hối lộ, che dấu và khai man. Ông đã hối lộ một số tiền rất lớn cho cựu Tổng thống bà Park để mong sớm trở thành Chủ tịch Samsung. Nhiều cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người ở Nam Hàn phản đối quan hệ bất chính và tệ trạng tham nhũng- hối lộ giữa chính phủ và Samsung. Bà Park cũng bị cách chức Tổng thống. Cha ông là Lee Kun-hee (72t) năm 2009 cũng bị kết án 3 năm tù với các tội tương tự, nhưng không bị ngồi tù; từ 3 năm qua sau khi bị nhồi máu cơ tim trở thành hôn mê nhưng vẫn là Chủ tịch Samsung. Đầu tháng 2. 2018 Tòa án trả tự do cho ông với điều kiện. Tập đoàn Samsung chiếm tới 20% tổng sản lượng kinh tế của Nam Hàn, có 490.000 nhân viên. Trong quí 3/2017 đã đạt lợi nhuận 11,2 tỉ € (12,91 tỷ USD ), cao nhất từ trước tới nay. Dự đoán trong tương lai mức lợi nhuận còn cao hơn nữa.[66]
Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc tại trụ sở chính phủ ngày 6.10.17 Tổng giám đốc Samsung Electronics Hàn quốc Shin Jong Kyun đã cho biết, sau 10 năm đầu tư vào VN đến nay tổng vốn đầu tư của Samsung đã lên tới 17 tỷ USD. Samsung dự kiến sẽ xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm 2017, chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu của VN. Ông còn nhấn mạnh, các nhà máy đặt tại VN có quy mô lớn nhất, hiện đại nhất của Samsung.[67] Đây là cuộc gặp lần thứ hai của đại diện Samsung với Nguyễn Xuân Phúc trong năm nay và có lẽ lần này CP xác nhận giành ưu đãi sử dụng đất và thuế nhiều hơn nữa cho Samsung.
Cho tới trước khi cuộc gặp này Samsung đã nhận được nhiều ưu đãi đầu tư từ Chính phủ CS: “Hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 30 năm, miễn 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo”. Ngoài ra, “các địa phương cũng đã giành cho Samsung các ưu đãi về tiền thuê đất, tiếp tục cho Samsung được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo sau giai đoạn 9 năm đó”.[68] Các đại diện của Samsung vẫn chưa thỏa mãn với các ưu đãi này, nên họ đòi được đãi ngộ cao hơn sau việc gia tăng đầu tư. Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc ngày 26.7.17 một đại diện Samsung ở Thái nguyên đã đề cao sự đầu tư của Samsung và cam kết “xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm nay”, tương đương với gần ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.[69]
Với mức kim ngạch xuất cảng gia tăng cao và nhanh như vậy, nên Nguyễn Xuân Phúc có thể dùng nó để phô trương thành tích tăng trưởng kinh tế của VN dưới quyền của ông! Vì thế ông đã hứa với đại diện Samsung là sẽ ra lệnh cho “Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ sớm cấp chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao cho Samsung VN vì đã đạt được các tiêu chí cần thiết”.[70]Sớm nhận được giấy chứng nhận “Doanh nghiệp công nghệ cao” là nỗ lực hàng đầu của Samsung từ lâu. Vì khi đó Samsung sẽ nhận được những ưu đãi cao nhất về đất đai và thuế.[71]
Trong kì họp cuối năm của QH đã có dư luận cho là, việc tăng trưởng quí 3/2017 tăng đột biến lên tới trên 7% là nhờ sự đóng góp quan trọng của hai đại công ti FDI Samsung và Formosa.[72]Có lẽ để giải quyết gánh nặng của nợ công ngày một chồng chất trong khi mức tăng trưởng kinh tế càng đi xuống, nên từ khi làm TT, Nguyễn Xuân Phúc còn dành ưu đãi đặc biệt cho các công ti FDI hơn cả người tiền nhiệm, đặc biệt cho Samsung. Cho nên Samsung đã đầu tư dồn dập vào VN để mở rộng các hoạt động kinh doanh trong năm 2016-2017. Chỉ trong nửa đầu năm 2017, các công ty Samsung đạt doanh thu 27,4 tỷ USD (622.000 tỷ đồng); lợi nhuận sau thuế đạt 3,1 tỷ USD (70.600 tỷ đồng).[73] Nếu tính toàn năm 2017 Samsung đã đạt được lợi nhuận ròng là 5,8 tỉ USD, trong khi ấy chỉ mới phải đóng thuế 186 triệu USD cho nửa năm 2017.
Trong cuộc gặp PTT Vương Đình Huệ ngày 17.11.17 ông Shim Wonhwan, Tổng giám đốc Tổ hợp Samsung VN, cho biết, hiện công ti đã có ba trung tâm sản suất tại VN ở Bắc ninh, Thái nguyên và Sài gòn, tổng số lao động đang làm việc trong các nhà máy của Samsung tại VN là 180.000 người (bao gồm cả 20.000 người làm bảo vệ và nhà ăn). Con số này không kể các nhân viên làm việc trong các đơn vị cung ứng của Samsung.[74] Trong đó số phụ nữ còn trẻ chiếm tới 75% .[75] Như vậy Samsung ở VN đứng thứ hai chỉ sau Samsung mẹ ở Nam Hàn, đồng thời là công ti FDI lớn nhất ở VN. Samsung tại VN tập trung sản xuất máy điện thoại cầm tay tối tân và các máy truyền hình có kĩ thuật cao nhất trên thế giới, xuất khẩu sang khoảng 120 nước.
Samsung hiểu được vai trò cực kỳ quan trọng của họ trong nền kinh tế VN, nên họ đang tìm mọi cách ép chính quyền CSVN phải gia tăng ưu đãi, đồng thời chèn ép công nhân VN. Điều này có thể thấy rõ trong cách đối xử với các đại diện của Samsung của các giới chức cao cấp VN. Vài năm trước các đại diện của Samsung thường gặp trực tiếp Bộ trưởng 4 T và được phổ biến rộng rãi trong các cơ quan báo đảng. Nhưng hiện nay cả TT lẫn Phó TT gặp trực tiếp các đại diện của Samsung. Điều này chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh đã tiên đoán trước đây vài năm, “Chính quyền có những ưu đãi để thu hút Samsung và Samsung có thể đòi các ưu đãi đặc biệt cao hơn mức bình thường vì họ biết vị thế của mình”. [76]Do được miễn và giảm thuế tối đa nên trong những năm qua, Samsung đã “tiết kiệm” được hàng tỷ USD tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Với thuế suất rất thấp, VN thực sự đã trở thành “thiên đường thuế” của tập đoàn này. Đây cũng là lý do mà Samsung ngày càng rót nhiều tiền đầu tư cũng như chuyển nhiều hoạt động sản xuất vào VN.[77]
***
Trước những đòi hỏi của phía VN là Samsung nên để các doanh nghiệp VN tham gia, trong cuộc hội thảo “30 năm lan tỏa vốn FDI” 7.10.17 ông Bang Hyun Woo, Phó tổng giám đốc Samsung VN đã nói thẳng, “các sản phẩm của Samsung đang được xuất khẩu đi toàn cầu và những linh kiện mà chúng tôi sử dụng đòi hỏi phải rất tin tưởng, liên quan đến chất lượng vô cùng cao. Nói là doanh nghiệp VN ngay bây giờ có thể tham gia vào chuỗi cung ứng này vô cùng nan giải”. Có lần Samsung còn trách móc là, công nghiệp VN chậm tiến đến mức chưa làm được cả cái ốc! Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng đã nhận xét:
“Câu chuyện cái đinh ốc bùng lên trong nước từ tháng Chín. Báo chí đăng tin công ty Samsung điện tử thú nhận cơ xưởng ráp máy điện thoại của họ ở Bắc ninh không tìm ra xí nghiệp nào của người VN có thể cung cấp những cây đinh xoắn trôn ốc, còn gọi là ốc vít.”. Nhưng rốt cuộc, có 67 doanh nghiệp cung cấp các linh kiện cho SEV; đại đa số là các doanh nghiệp của người Ðại hàn, Nhật bản, Singapore, Mã lai. Chỉ có bốn doanh nghiệp VN cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho SEV, mà việc chính của họ là làm bao bì, in ấn. Ông Shim Won Hwan, tổng giám đốc Samsung ở VN mới, nói tại một hội thảo ở HN vào tháng Chín vừa qua rằng, “không doanh nghiệp VN nào ‘nắm bắt’ được cơ hội, họ chỉ cung ứng được những sản phẩm in ấn, bao bì!” Còn những thứ “cao cấp” như cái đinh ốc vít, người VN làm không được theo tiêu chuẩn của Samsung! Họ cũng không kiếm mua được những bộ phận “sạc” điện cho cell phone do người VN làm”.[78]
Tới giữa năm 2017 chính báo Infonet của bộ 4T cho biết, mới chỉ có 25 doanh nghiệp VN tham gia chuỗi cung ứng cấp 1 cho Samsung. [79] Nhưng khi giải trình trước Quốc hội tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội vào 1-11.17, bộ trưởng bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đề cập đến vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ lại cho biết, hiện có khoảng 30 doanh nghiệp cung cấp linh kiện điện tử trực tiếp cho Samsung tại VN và đều là các doanh nghiệp FDI, chứ chưa có bất kỳ doanh nghiệp nội địa nào.[80]Trong khi đó khi làm việc với đại diện Samsung ở Thái nguyên ngày 26.7.17 để xét việc giành ưu đãi thuế đặc biệt cho Samsung Nguyễn Xuân Phúc đã hết lời khen ngợi là, hiện đã có “215 nhà cung cấp là doanh nghiệp VN” và “tỉ lệ nội địa hóa của Samsung VN đạt 57%”.[81] Ông Phúc đưa ra con số cao gấp nhiều lần về việc các doanh nghiệp tư VN tham gia hệ thống xí nghiệp phụ trợ cho Samsung là để có cớ xếp Samsung vào Luật Công nghệ cao? Một điều rõ ràng nhất là, Samsung VN nhập khẩu từ Samsung mẹ ở Hàn quốc hầu như toàn bộ các máy móc và linh kiện điện tử. Đây cũng là lí do chính khiến mức nhập khẩu hàng hóa vào VN của Nam Hàn đã gia tăng rất mạnh trong vài năm gần đây.
Gần 200.000 công nhân VN, đại đa số là phụ nữ trẻ chỉ làm gia công, phải lao động rất vất vả dưới những điều kiện nghiêm ngặt, nhưng lương bổng lại rất thấp. Lê Đăng Doanh đã nhận xét, “năng suất lao động của công nhân VN làm đạt 80% năng suất lao động, trong khi tiền lương chỉ bằng khoảng 10%”. Phần lớn các phụ nữ này đã bỏ quê ra tỉnh để làm công nhân cho Samsung. Cuối tháng 11.17 Tổ chức phi chính phủ Thụy Điển IPEN -một tổ chức phi vụ lợi có uy tín quốc tế, chuyên về bảo vệ sức khỏe và môi trường- phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển ở HN (CGFED), đã công bố Bản báo cáo về điều kiện làm việc của nữ công nhân ở các nhà máy điện tử của Samsung tại VN. Theo báo cáo này, IPEN và CGFED đã phỏng vấn 45 nhân viên Samsung và đưa ra nhận xét:
“Tiếng ồn ở khu sản xuất cao hơn nhiều so với cho phép của VN, tất cả nhân viên được phỏng vấn đều cảm thấy mỏi mệt trầm trọng và chóng mặt, sẩy thai ở người lao động diễn ra thường xuyên..”. Công nhân phải đứng làm việc suốt 8-12 giờ, công nhân mang thai cũng phải lao động như vậy. Nhiều công nhân bị sổ mũi, rối loạn tiêu hóa, đau chân…Báo cáo còn cho biết, hàng ngày công nhân bị Samsung kiểm soát quá nghiêm ngặt, “thời gian nghỉ ngắn và nếu muốn đi vệ sinh thì lại phải được cho phép ra vào đặc biệt”.Báo cáo đưa ra yêu cầu, “phải điều tra bổ sung về việc rò rỉ hóa chất. Bởi người lao động đang làm việc trong môi trường mở tiếp xúc với nhiều loại hóa chất đa dạng nhưng lại không nhận thức được về những rủi ro hóa chất trong công đoạn lắp ráp”.[82]
Ngay hôm sau đại diện Samsung đã lên tiếng phủ nhận các lời cáo buộc trên. Samsung “công nhận có sử dụng hóa chất trong một số công đoạn, nhưng đều áp dụng các biện pháp để công nhân không bị phơi nhiễm nhờ thiết bị thoát khí, cùng việc đeo thiết bị bảo hộ”. [83] Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội cho biết, vào tháng 7.17 đã thanh tra ở hai trung tâm của Samsung ở Bắc ninh và Thái nguyên và cho biết, phụ nữ mang thai từ tháng thứ 7 được nghỉ. Theo Bộ, các cáo buộc khác trong Bản báo cáo của IPEN là “chưa thuyết phục”. Nhưng Bộ xác nhận Samsung đã vi phạm pháp luật về qui chế lao động. “Samsung chia thời gian làm việc thành hai ca. Ca ngày 8-20h, ca đêm từ 20h đến 8h sáng hôm sau và đưa vào nội quy lao động, luân phiên làm việc 4 ngày liên tục sẽ được nghỉ 2 ngày”. Qui định này trái với Luật lao động 2012. Theo đó giờ làm việc không quá 8h/ngày và không quá 48h/tuần; giờ làm việc ban đêm từ 22h-6h sáng hôm sau; giờ làm thêm không quá 30h/tháng, 200h/năm. [84]
Nếu giữ thái độ khách quan và thận trọng thì những lời xác nhận trên của Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội có lẽ mới chỉ là một phần rất nhỏ của sự thực. Vì trong quá khứ đã chứng minh nhiều lần, các cơ quan thanh tra của đảng cũng như chính phủ không thể tin cậy.Như trong các vụ PMU 18, Vinashin và Formosa các cơ quan thanh tra của nhiều cơ quan đã thanh tra, nhưng rốt cuộc đều có báo cáo tốt! Tuy nhiên những điều nêu trong Báo cáo này trái ngược với khen ngợi của Nguyễn Xuân Phúc vài tháng trước. Khi ông thăm công ti Samsung ở Thái nguyên đã nói là, “đời sống công nhân, người lao động ngày càng được nâng cao, trong đó công ty quan tâm đến khu ăn ở, giải trí, lao động nữ…”[85]
***
Không ai phủ nhận công ti Samsung là một trong những công ti điện tử hàng đầu trên thế giới hiện nay. Nó cũng là một trong vài công ti lớn nhất của Nam Hàn và đóng góp phần quan trọng cho sự phát triển và hưng thịnh kinh tế của nước này. Nhưng đó không phải là công lao riêng của Samsung mà còn là cả nửa triệu công nhân của công ti ở Nam Hàn và của nhân dân Nam Hàn nói chung. Trong đó không thể quên được những cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người phản đối chính sách bạc đãi công nhân và hối lộ của các Ban giám đốc công ti này.
Mặc dầu chế độ toàn trị ở VN giành rất nhiều đặc ân để Samsung chỉ trong vài năm trở thành nhà đầu tư FDI lớn nhất hiện nay ở VN kể cả về vốn và kim ngạch xuất khẩu. Nhưng Samsung có thực sự phục vụ phát triển kinh tế VN theo những mục tiêu đề ra của chế độ toàn trị trong việc thu hút FDI vào VN hay không? Đó là để các xí nghiệp VN cùng tham gia trong các khâu sản xuất để nâng cao trình độ kĩ thuật và quản trị, bảo vệ quyền lao động của hàng trăm ngàn công nhân và đóng góp vào sự phát triển kinh tế của VN.
Mặc dầu trong những năm gần đây Samsung ở VN đạt được lợi nhuận hàng năm nhiều tỉ Mĩ kim, phần chính là vì nhà cầm quyền ở trung ương và địa phương đã ưu đãi thuế rất cao từ xuất cảng tới nhập cảng các sản phẩm. Nhưng ngược lại số xí nghiệp tư nhân VN tham gia với Samsung có thể đếm trên đầu ngón tay. Gần 200.000 công nhân, phần lớn là phụ nữ trẻ, phải chịu những điều kiện lao động rất bất lợi, từ lương bổng tới các bảo hiểm xã hội. Nói chung là công ti tư nhân VN chỉ đứng bên lề và công nhân VN chỉ đóng vai làm gia công cho Samsung. Đây là chính sách đem con bỏ chợ của chế độ toàn trị. Nó thể hiện rõ ràng đây là chủ chương đầu cơ đầy rủi ro và rất phiêu lưu.
Những người đứng đầu Samsung nắm bắt được những nhược điểm của những người cầm đầu chế độ toàn trị CSVN là trình độ quản trị kinh tế rất yếu, nền kinh tế đang đứng trước vực thẳm, nhưng chỉ thích đề cao thành tích bề ngoài, cơ chế và cán bộ tham nhũng và bất lực. Vì thế chỉ trong ít năm Samsung đã trở thành trụ cột của kinh tế VN, hiện nay chiếm tới hơn ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của VN. Nhưng trong thực tế những thành công này chỉ đem lại lợi ích riêng rất lớn và rất nhanh cho Samsung. Do sự gia tăng xuất khẩu rất lớn của Samsung nên Nguyễn Xuân Phúc đã hô hoán là kinh tế VN đang phục hồi, đạt tăng trưởng cao nhất sau nhiều năm. Nhưng nếu tính toán nghiêm túc sẽ thấy Samsung không đóng góp quan trọng vào ngân sách quốc gia của VN. Vì Samsung được hưởng các ưu đãi thuế rất cao. Ngoài ra mức xuất khẩu gia tăng thì mức nhập khẩu của Samsung cũng gia tăng rất mạnh.
Tóm lại, mặc dầu những mục tiêu trong việc mời gọi Samsung đầu tư tại VN đã không đạt được, nhưng nhà cầm quyền CSVN vẫn liên tiếp giành từ ưu đãi này tới đặc quyền khác cho Samsung.Sự hoạt động càng bung ra của Samsung càng chứng tỏ có sự tiếp tay của những người có thế lực nhất trong chế độ. Chính các sự kiện này đã dẫn tới câu hỏi, tại sao trong giai đoạn Nguyễn Phú Trọng đang hô hoán đốt lò chống tham nhũng, nhưng một công ti nổi tiểng về hối lộ như Samsung -ngay cả ở chính quốc Nam Hàn- lại đang được nâng đỡ và chiều chuộng hết mức ở VN? Nguy hiểm cực kỳ khác nữa là, nền kinh tế VN đang ngày lệ thuộc nhiều mặt vào một công ti lớn nước ngoài. Điều này có thể dẫn tới những hậu quả rất nguy hại cho cả kinh tế lẫn chính trị VN! Chính sách đối với Samsung nói riêng và với các công ti FDI nói chung từ Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng tới Nguyễn Xuân Phúc không phải là mã tìm mã, nhưng đúng là ngưu tìm ngưu!
Nguyễn Phú Trọng ưu ái Formosa
Tại sao ông Trọng lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa,
giữa lúc hàng triệu nhân dân là nạn nhân do thảm họa cá chết hoàng loạt?
Ngay từ đầu tháng 4.16 đại diện sở Nông nghiệp-phát triển nông thôn (NN-PTNT) Hà tĩnh cho biết, “cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xã Kỳ anh) vào ngày 7.4. Ngày 11.4, sau khi công ty Grobest tại xã Kỳ phương (thị xã Kỳ anh) cấp nước biển vào ao nuôi khoảng 6 giờ đồng hồ thì xảy ra hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt. Đến ngày 14.4, ngao nuôi tại 2 xã Kỳ hà và Kỳ ninh tiếp tục bị chết, gây thiệt hại khoảng 4,71 tỉ đồng”.[86] Khi ấy Phó phòng Kinh tế và đô thị thị xã Kỳ anh Nguyễn Thị Thủy cũng cho biết, “địa bàn xã Kỳ lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày”. [87]
Các địa danh này là khu vực nằm cạnh Khu công nghiệp Vũng áng khổng lồ của công ti Đài loan Formosa Hà tĩnh (FHS). Đến giữa tháng 4 các tin dồn dập cùng những hình ảnh nhiều loại cá lớn nhỏ chết hàng loạt rất khủng khiếp và kinh hoàng suốt mấy trăm cây số dọc duyên hải từ các tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, Thừa thiên-Huế do chính các báo lề đảng như Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động, Dân trí, VTV, VNNet… phổ biến đã tràn ngập dư luận các tỉnh ven biển miền Trung làm nhân dân rất hoang mang lo lắng. Hàng chục ngàn ngư dân không dám ra biển đánh cá, người dân cả nước không dám ăn cá, dịch vụ du lịch các bãi biển miền Trung thu hút hàng triệu du khách VN và ngoại quốc lo lắng bị mất khách!
Mãi tới ngày 19.4 Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn) mới đến Hà tĩnh kiểm tra về nguyên nhân cá chết và cho biết, “cá chết là do chất độc gây ra nhưng chưa xác định đó là chất gì”.[88] Điều này có nghĩa là phải khẩn trương nghiêm túc điều tra tiếp để tìm ra nguyên nhân gây ra nạn cá chết hàng loạt, tàn phá và hủy hoại môi trường thiên nhiên và de dọa cuộc sống của hàng triệu ngư dân và những người sinh sống bằng dịch vụ du lịch.
Giữa khi ấy báo chí đưa tin, “Tổng bí thư kiểm tra tiến độ dự án Formosa”.[89] Nhiều người nghĩ rằng, vì vừa được tái cử TBT nên Nguyễn Phú Trọng đã nhạy cảm trước nỗi lo sợ và sự bất bình của nhân dân về thăm Hà tĩnh và khu công nghiệp gang thép Formosa để thúc đẩy cuộc điều tra về vụ cá chết hàng loạt. Nhưng thật là thất vọng và sai lầm lớn, ngày 22. 4 Nguyễn Phú Trọng cầm đầu phái đoàn cao cấp của đảng và chính phủ gồm Nguyễn Văn Bình, UVBCT, Trưởng Ban Kinh tế TU; Nguyễn Văn Nên, Bí thư TUĐ, Chánh Văn phòng TU và lãnh đạo nhiều Ban, Bộ, ngành TU về thăm Hà tĩnh. Ông giành toàn thời gian tới thăm khu công nghiệp gang thép và cảng nước sâu Sơn dương Formosa Hà tĩnh. Dự án này rất khổng lồ với mức đầu tư giai đoạn 1 lên tới 10,5 tỉ USD.[90] Ban giám đốc của FHS đã hoan hỉ báo cáo cho Nguyễn Phú Trọng biết, nhà máy sản xuất thép, nhiệt điện, cầu cảng đã bắt đầu hoạt động!
Ban giám đốc FHS còn hãnh diện báo cáo với ông Trọng, từ tháng 12. 2015 FHS đã cho ra lò sản phẩm thép cuộn cán nóng đầu tiên và đến nay đã có hơn 7.000 tấn thép cuộn được xuất ra thị trường trong và ngoài nước. “Dự kiến, tháng 6. 2016 sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động lò cao số 1. Khi đi vào hoạt động, đây sẽ là nhà máy luyện gang thép lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện nay”.[91]Nguyễn Phú Trọng và phái đoàn cao cấp rất chăm chú và ngưỡng mộ thành quả kinh doanh của FHS. Trong dịp này tuyệt đối từ Nguyễn Phú Trọng tới các nhân vật cao cấp trong phái đoàn không ai đả động một câu hỏi nào với Ban giám đốc Formosa đến thảm khốc cá chết hoàng loạt đang bùng nổ từ đầu tháng 4 khởi đầu từ cảng Sơn dương thuộc khu công nghiệp Vũng Áng của FHS khiến cho nhân dân cả nước đang lo lắng và bất bình “Cá chết trắng biển miền Trung” ![92] Ông Trọng và phái đoàn cũng không đến thăm các nạn nhân! Tại sao người cầm đầu chế độ CS vẫn vỗ ngực là bảo vệ quyền lợi người lao động, nhưng lại chẳng thèm ngó tới thảm trạng của ngư dân, trong khi ấy lại khen ngợi và vuốt ve tỉ phú Dollar nước ngoài? Chả lẽ người đứng đầu chế độ toàn trị lại không biết thảm trạng môi trường ngay chính nơi ông tới thăm đã diễn ra từ hơn ba tuần?
Chỉ một ngày sau Đinh Thế Huynh, Thường trực BBT và khi đó được coi là kế nghiệp ông Trọng, cũng có mặt tại Quảng trị, không xa Hà tĩnh. Ông đã chỉ họp với lãnh đạo Quảng trị về tình hình kinh tế, xã hội, quốc phòng-an ninh và xây dựng đảng; bàn cả việc tôn tạo, nâng cấp Khu tưởng niệm Lê Duẩn. Ông còn giành thời gian đi thăm Nghĩa trang Trường sơn. Nhưng người đứng thứ hai trong đảng cũng tuyệt nhiên không thèm đả động tới thảm trạng “Cá chết trắng biển miền Trung” và cũng chẳng thèm tới thăm hỏi dân chài, những nạn nhân ở Quảng trị sinh sống ra làm sao từ khi xẩy ra đại nạn cá chết hàng loạt![93]
Ngày 17.4 giữa lúc tiếng than và nỗi bất bình của nhân dân về “Cá chết trắng biển miền Trung”, tân TT Nguyễn Xuân Phúc đã giành chọn ngày thăm Quảng trị, nhưng cũng không có thì giờ đi thăm các nạn nhân ngư dân đau buồn, chỉ giành toàn thời gian thăm Nghĩa trang Trường sơn, Nhà lưu niệm Lê Duẩn và Thành cổ Quảng trị.[94] Việc cố tình chọn những địa chỉ trên tới thăm viếng đã cho thấy ông Phúc vẫn chỉ muốn khơi dậy hận thù giữa các tầng lớp nhân dân mặc dầu đã sau 41 năm “chiến thắng”, thay vì “hòa giải dân tộc” như những lời ngon ngọt trước đây. Ông Phúc cũng cố quên lời khuyên chân thành và thực tế của cố TT Võ Văn Kiệt là, kỉ niệm ngày “giải phóng”“có hàng triệu người vui, nhưng cũng có hàng triệu người buồn”!
Trước nỗi bất bình và lo âu của nhân dân cả nước, vì đâu mà nạn cá chết diễn ra từ cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng thuộc Formosa suốt gần ba tuần mà vẫn không tìm ra được nguyên nhân; ngày 25.4 tờ Tuổi trẻ đã có cuộc phỏng vấn ông Chu Xuân Phàm, Trưởng văn phòng Formosa tại HN, về vụ cá chết hàng loạt bắt đầu từ bờ biển Khu công nghiệp Formosa. Ông Phàm đã trả lời thẳng băng:
“Trước khi xây dựng dự án này thì công ty phải xin phép Nhà nước VN. Nhiều khi được cái nọ mất cái kia, đây là tôi nói thật lòng. Hôm nay nhà nước mình muốn cho ngư dân đánh bắt ở đây hay là chọn cái nhà máy thép ở đây, đương nhiên Nhà nước phải có sự cân nhắc. Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây. Nhưng bây giờ mà nói tôi không thể xây dựng nhà máy thép ở đây mà không ảnh hưởng đến con cá, con tôm. Đương nhiên mình cố gắng làm một nhà máy đạt được tiêu chuẩn quy định của nhà nước. Có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”. Rồi ông đưa ra kết luận rất tỉnh bơ và đầy thách thức, coi việc hàng triệu nhân dân miền Trung đang bị điêu đứng không đáng quan tâm bằng sự tồn tại của Formosa: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm Thủ tướng cũng không giải quyết được…”[95]
Tại sao Trưởng văn phòng Formosa tại HN đã có những phát biểu rất phách lối, khiêu khích gây sốc như vậy khi trả lời phóng viên Tuổi trẻ vào sáng 25-4? Có phải chính thái độ rất thờ ơcủa TT, vô cảm trước hàng trăm ngàn nạn nhân của tai nạn cá chết hàng loạt; đặc biệt là sự ưu ái tới thăm Ban giám đốc Fomosa ngày 22.4 của Nguyễn Phú Trọng, người cầm đầu chế độ toàn trị, làm họ tin rằng, họ có chỗ chống lưng rất vững chắc, không chỉ ở HN mà còn cả BK nên chẳng ai có thể làm gì Formosa được?
Từ sau trận đánh ngã “Đồng chí X” ông Trọng đang trở thành người hùng nên ai cũng sợ? Vì thế không thèm nhắc tới đại nạn “Cá chết trắng biển miền Trung”, lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa. Thử hỏi như thế thì bọn quan cấp dưới bố bảo không dám nêu đích danh Formosa ra tố. Chính vì thế, Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản, bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Phạm Khánh Ly cho biết, “đoàn công tác không vào kiểm tra tại khu công nghiệp Vũng áng được, vì đây là khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài, đoàn không có thẩm quyền”.[96] Như vậy Ban giám đốc Formosa đã coi khu công nghiệp của mình giống như sứ quán của một nước bất khả xâm phạm.[97] Họ cho ai vào, làm gì, làm đến đâu trong các công xưởng của họ là quyền riêng của họ. Các cơ quan điều tra của VN nếu có vào cũng chỉ làm những gì họ cho phép mà thôi!Chính vì thế Formosa đã dám nói công khai, “không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ sự liên can” của công ty trong vụ việc này, và giới chức VN đã “liên tục vào bên trong công xưởng tiến hành kiểm tra hệ thống xử lý nước thải, lấy mẫu nước thải” kể từ 22.4 tới nay, tức là sau chuyến thăm của Nguyễn Phú Trọng!
Chính vì vậy chỉ một ngày sau khi Nguyễn Phú Trọng thăm Formosa, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cũng nói giống như tin trên đây của Ban giám đốc Formosa. Ông cho biết về kết quả kiểm tra bước đầu, nguyên nhân do môi trường nước, qua phân tích mẫu những chỉ số thì không có gì bất thường trừ một số mẫu ở Huế mang tính cục bộ.[98] Tuyên bố này hoàn toàn ngược lại với nhận định của Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn Hà tĩnh vào đầu tháng 4 cho biết, “hiện tượng cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xá Kỳ anh) vào ngày 7.4”. Và cũng trái với sự xác nhận của Phó phòng Kinh tế và đô thị (Kỳ anh) Nguyễn Thị Thủy “địa bàn xã Kỳ Lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn Dương của khu kinh tế Vũng Áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày” -như nói ở trên!
Lí do quan trọng khác khiến đại diện Formosa tại HN dám phát biểu khiêu khích “gây sốc” ngày 25.4 là có lẽ họ tin rằng, có cả BK đứng đằng sau. Formosa Hà tĩnh tuy là công ti Đài loan, nhưng trong những năm gần đây tuyển chọn công nhân nước ngoài phần rất lớn là từ TQ. Ngoài ra vốn đầu tư của Formosa mẹ từ Đài loan đang giảm mạnh và nhường cho một số công ti từ TQ. Khi giàn khoan HD 981 xâm nhập trái phép thềm lục địa VN vào giữa 2014 đã xẩy ra va chạm lớn khiến hàng ngàn công nhân TQ đã phải bỏ về nước, nhưng sau đó Nguyễn Phú Trọng đã phải xin lỗi Tập Cận Bình và số công nhân này lại trở lại Formosa làm việc (xem Chương bẩy, IV). Về mặt an ninh quốc phòng, khu vực Vũng áng Hà tĩnh nằm đối diện không xa đảo Hải nam của TQ. Trong kế hoạch bành trướng công khai ngang ngược của BK trên biển Đông thì khu công nghiệp Vũng áng Formosa có thể trở thành tay trong cực kỳ quan trọng khi tình thế cho phép BK ra tay!
Sau phát ngôn gây chấn động, Chu Xuân Phàm đã bị Formosa sa thải để làm dịu dư luận. Nhưng nội dung lời phát biểu của cựu đại diện Formosa đã tự để lộ những hoạt động của công ti này không thèm đếm xỉa gì tới luật pháp VN, vì tin rằng đã có chân trong ủng hộ đang giữ những chức cao nhất. Dùng sức mạnh tiền bạc nhiều tỉ USD trong vài năm vừa qua Formosa có thái độ phách lối và cách hoạt động như kiểu quốc gia trong một quốc gia: “Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây”, “có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”, “muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi!” Rõ ràng với tuyên bố trên Formosa đã gián tiếp thừa nhận, thời gian qua Formosa đã xả nước thải với những hóa chất có chất độc cực mạnh làm tàn phá môi sinh trên biển.
Theo tờ Tuổi trẻ thì Tổng cục môi trường xác nhận là, “Formosa có vi phạm khi thực hiện việc súc xả đường ống nhưng không thông báo cho địa phương”. Ngày 25.4 báo này còn liệt kê 45 loại hóa chất Formosa nhập cảng để súc rửa đường ống. Vẫn theo Tuổi trẻ, “GS,TS Lê Huy Bá (chuyên gia độc học môi trường) cho biết nhận định ban đầu của ông về danh sách các loại hóa chất được sử dụng tại Formosa gồm nhiều chất độc và cực độc. Trong đó có các chất chống gỉ, chất làm sạch bề mặt kim loại, chất tẩy”. “Theo quy định, khi súc xả đường ống, Formosa có trách nhiệm phải thông báo cho địa phương việc súc xả đường ống diễn ra từ thời điểm nào tới thời điểm nào, nhưng Formosa không thông báo, cũng không báo cáo các cơ quan ở địa phương về việc súc rửa đường ống”.[99] Tờ VNNet còn cho biết, “1 thợ lặn Formosa tử vong, 5 người nhập viện” khi lặn xuống biển nơi đường ống của Formosa dẫn ra.[100] Tập đoàn Formosa xuất thân từ Đài loan với vốn đầu tư nhiều tỉ USD cũng đã từng vi phạm pháp luật ở nhiều nơi trên thế giới. Ngay ở Đài loan Tập đoàn này cũng đã bị phạt vì gây thiệt hại môi trường. “Chẳng hạn hồi tháng 7.2010, Formosa bị cho là “gây ô nhiễm không khí vùng miền Trung Đài loan” sau một vụ cháy công nghiệp tại nhà máy ở Mai Liao của họ”.[101]
***
Trong khi nhiều cơ quan chính quyền địa phương ngay trong những ngày đầu đã đưa ra những nhận định khá rõ ràng về nguyên nhân đưa đến đại nạn làm cá chết hàng loạt, nhưng suốt trên ba tuần nhiều bộ trưởng, thứ trưởng không chỉ trốn tránh không thực hiện trách nhiệm điều tra nghiêm túc và minh bạch, lại còn tìm cách bao che cho Formosa, hoặc đưa ra những tin và lập luận rất mâu thuẫn nhau, thậm chí cực kỳ ngớ ngẩn. Ba tuần sau đến lượt cá biển ở khu Bình trị thiên-Huế bị chết, tờ Công an nhân dân ngày 26.4 đưa tít “Nước biển vùng cá chết được xác định nhiễm kim loại nặng”: “Chiều 26-4, Sở Tài nguyên&Môi trường tỉnh Thừa thiên- Huế đã có kết quả phân tích mẫu nước lấy tại khu vực đầm Lập an, cửa biển Lăng cô (thị trấn Lăng cô, huyện Phú lộc) vào thời điểm xuất hiện cá chết tràn lan…Riêng các thông số gồm tổng hàm lượng nitơ tính theo amoni (NH4+-N), hàm lượng kim loại nặng crôm (Cr) vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển cũng như quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặn. Theo đánh giá ban đầu của cơ quan chức năng tỉnh Thừa thiên- Huế, khả năng chất độc trong môi trường nước gây sự cố cá chết hàng loạt xuất hiện từ vùng biển phía Bắc của tỉnh”.[102]
Nhưng trong cuộc họp báo tối 27.4 thứ trưởng bộ Thiên nhiên và môi trường Võ Tuấn Nhân đã làm trên 200 nhà báo lề phải vừa thất vọng, vừa rất bất bình về thái độ vô trách nhiệm và lấp liếm. Sau cuộc họp kín nhiều tiếng đồng hồ của đại diện nhiều bộ và cơ quan do bộ trưởng Bộ Tài nguyên-môi trường Trần Hồng Hà chủ trì, khiến các nhà báo phải chờ đợi đến cả nửa ngày. Nhưng cuối cùng Trần Hồng Hà đã đẩy thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mở “Buổi họp báo chỉ diễn ra trong 6 phút”. Trong đó ông khẳng định “Formosa vô can”. [103] Sau khi đưa ra 2 giả thuyết về nguyên nhân làm cá biển chết hàng loạt (hóa chất độc và “hiện tượng thủy triều đỏ”), ông Nhân khẳng định: “Đến nay, qua kiểm tra và thu thập chứng cứ, chưa có bằng chứng để kết luận về mối quan hệ liên quan của Formosa và các nhà máy đến vấn đề cá chết hàng loạt. Qua số liệu quan trắc và đánh giá của cả các cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, môi trường nước biển chưa phát hiện các thông số môi trường vượt quy chuẩn quy định”.[104] Sau đó ông Nhân chuồn mất!
Trong cuộc gặp riêng Võ Tuấn Nhân, tờ Thanh niên đã tường thuật câu hỏi và trả lời của Thứ trưởng này bảo vệ cho Formosa thật là kì lạ:
“ Thưa ông, trong 2 nhóm nguyên nhân thì nhóm thứ nhất nói có thể do độc tố thải ra từ hoạt động của con người, vậy cụ thể độc tố là gì? Có độc tố nào trùng với hơn 40 loại hóa chất mà Formosa được phép nhập khẩu vào VN để súc rửa đường ống không ?
– Chúng tôi chưa phát hiện ra…- Tôi xin khẳng định, về mặt pháp luật, họ vẫn hoạt động đúng theo pháp luật nước ta. Về mặt xả ra môi trường, liên quan đến hiện tượng cá chết hàng loạt ở các tỉnh ven biển miền Trung, đến nay chưa đủ căn cứ để kết luận.
Ông có thể cho biết kết quả phân tích mẫu nước và mẫu cá của Bộ?
– Cái này nói ra phải có căn cứ giấy tờ cụ thể, rất dài, rất nhiều thông số”.[105]
Trong khi giữ thái độ câm và điếc không thông tin chính xác và nguội lạnh trước những bức xúc của nhân dân cả nước, nhưng Võ Tuấn Nhân lại rất thính tai và năng động trước câu hỏi của một nữ phóng viên về tin không tốt cho chế độ, về nguy cơ ngành du lịch có thể bị tê liệt và yêu cầu bà tắt máy ghi âm. Bà hỏi:
“Thưa ông, trong cái kiểm nghiệm gần đây nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa thiên – Huế, chỗ có một loạt các bè cá chết, thì họ có nói trong nước kiểm nghiệm ra có kim loại nặng. Vấn đề ở đây là trong thời gian tới, chúng tôi muốn là mình có thể trong một thời gian ngắn, vì mùa du lịch sắp tới rồi, mà cá thì…”
“Nghe tới đây, ông Võ Tuấn Nhân liền khoát tay ra hiệu dừng lại và nói: “Tắt máy. Tắt máy nghe. Xin lỗi. Không, không, để anh nói riêng với em. Đừng hỏi câu đó. Hỏi câu đó tổn hại cho đất nước của mình. Nhá. Em hỏi câu đó làm tổn hại cho đất nước của mình”.[106]
Không chỉ trên 200 nhà báo lề phải hoàn toàn thất vọng về “cuộc họp báo 6 phút” của thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mà nhiều nhà khoa học cũng đã kịch liệt chỉ trích những lời tuyên bố rất lếu láo của ông. GS-TS Vũ Trọng Hồng, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy lợi, nói thẳng: “bộ Tài nguyên-Môi trường là cơ quan chức năng được nhà nước giao nhiệm vụ, nhưng kết luận như vậy là không hợp logic diễn biến của vụ việc”.
Nhưng ngày hôm sau trong cuộc họp nội các giả thuyết “thủy triều đỏ” bị bác bỏ. Có lẽ trước sự bất bình ngày càng mãnh liệt của nhân dân về cuộc “Họp báo 6 phút” tối trước, nên TT Nguyễn Xuân Phúc đã vội vàng để bộ trưởng Tài nguyên&Môi trường Trần Hồng Hà phải bay ra Hà tĩnh ngày 28.4 thị sát viêc xả thải của Formosa để nhằm xoa dịu dư luận. Tại đây Trần Hồng Hà đã tuyên bố, “pháp luật VN không chấp nhận việc đặt ống ngầm xả thải”. Như thế ông đã phủ nhận lời của người dưới quyền ông là Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân chỉ vài ngày trước. Ngoài ra ông Hà còn nhận khuyết điểm để cuộc điều tra chậm chạp…[107]
***
Tại sao mới chỉ vài năm trước Nguyễn Phú Trọng đã trách móc và rao giảng “đạo đức cách mạng” tại Hội nghị Cán bộ toàn quốc với sự tham dự của trên 1000 cán bộ cao cấp ngày 27.2.12: “ Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không? “ và “ người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh”., “mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai?”[108]
Nhưng chỉ trong vài năm ngồi trong lâu đài quyền lực và hưởng thịt, cá loại ngon, sạch không phải trả tiền, nên lòng Nguyễn Phú Trọng đã nguội lạnh, vô cảm trước ngư dân thất nghiệp chịu cảnh đói rách vì thảm họa cá biển và nhân dân nhiều nơi có thể bị ăn cá và mắm độc. Chẳng những thế ông vẫn đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc tỉ phú Dollar Formosa Hà tĩnh và khen ngợi cách làm ăn của họ, chẳng thèm đoái hoài tới tiếng than ngất trời của dân lành, mặc dầu gần một tháng vẫn không có cơ quan nào của đảng lẫn nhà nước tìm ra nguyên nhân cá chết hàng loạt!
Trong một xã hội pháp trị theo Dân chủ đa nguyên thì khi một cá nhân, tổ chức hay xí nghiệp đang bị điều tra, người có trách nhiệm trong nhà nước không được phép có những hành động gây cản trở hoặc can thiệp công cuộc điều tra. Trong vụ cá chết hàng loạt ở duyên hải nhiều tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4 và tập đoàn Formosa đang trở thành đối tượng điều tra của các cơ quan có thẩm quyền. Nhưng người cầm đầu chế độ là TBT Nguyễn Phú Trọng đã cố tình lại thăm và gặp Ban giám đốc Formosa ngày 22.4 và còn khen ngợi thành quả kinh doanh của công ti Đài loan này. Như thế Nguyễn Phú Trọng đã lợi dụng uy quyền riêng để cản trở, làm đình hoãn cuộc điều tra và còn tạo cơ hội để Formosa xóa sạch các tang chứng !
Trong dịp này nhiều tổ chức, nhân sĩ và chuyên viên đã công khai lên tiếng:
“Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bao bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo”.[109]
Những ngày Chủ nhật trong tháng 5 nhân dân các giới -đi đầu là trí thức, thanh niên và đảng viên tiến bộ- đã xuống đường ở HN, Sài gòn và nhiều nơi khác đòi “Trả lại biển xanh cho chúng tôi, chúng tôi chọn tôm cá”. Mọi người đang đồng thanh đòi:
– Nhân dân muốn biết rõ nhanh và công khai thủ phạm đã gây ra thảm trạng cá chết hàng loạt. Phải chấm dứt ngay những nguyên nhân gây ra thảm họa môi trường!
– Bồi thường thiệt hại cho ngư dân và các cơ sở du lịch!
– Công khai các cơ quan và cá nhân nào đã cố tình làm chậm, làm sai, đánh lạc dư luận và phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân!
***
Sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung ba tháng, nhưng tại HNTU 3 vào đầu tháng 7.2016 trong suốt 5 ngày họp đã không có nói tới chủ đề cực kỳ nóng bỏng này.Mặc dầu đây là thảm họa môi trường lớn nhất ở VN, gây thiệt hại sức khỏe, tài sản và môi trường sống trực tiếp cho hàng triệu người dân bốn tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị và Thừa thiên-Huế; đồng thời còn tạo những nguy hại lâu dài về nhiều mặt cho nhân dân cả nước. HNTU này diễn ra sau khi Ban giám đốc Formosa công khai xin lỗi trong cuộc họp báo ngày 30.6. và nhận bồi thường 11.500 tỉ đồng, tương đương 500 triệu USD.[110]Nhưng ở đây Formosa không chỉ là thủ phạm duy nhất, vì nhiều cơ quan Đảng và Nhà nước đã cấp giấy phép đầu tư, hoạt động và kiểm soát công ti Formosa cũng đều là thủ phạm. Vì chính các cơ quan này đã lơ là và vô trách nhiệm trong các lãnh vực phụ trách, nên đã để cho Formosa làm ăn như một vua con trong vùng. Trong cuộc họp báo ngày 30.6 các Bộ trưởng đã cố tình tránh né không làm rõ cơ quan và người phải chịu trách nhiệm.[111]
Trong khi ấy các cuộc biểu tình của nhiều giới vào ba cuối tuần từ đầu tháng 5.16 với các khẩu hiệu “Cá cần nước sạch”, “Nước cần minh bạch” đã bị công an mật vụ chế độ toàn trị ngăn cấm, đàn áp và chụp mũ.Trong cuộc họp báo ngày 30.6 lần đầu tiên các quan chức hiện diện xác nhận, Formosa là thủ phạm gây ra thảm trạng môi trường ở miền Trung; nhưng cùng lúc họ lại vẫn kết án gay gắt những cuộc biểu tình của nhân dân đòi Formosa phải sớm công khai minh bạch về nguyên nhân dẫn tởi thảm trạng môi trường. Dịp này Trương Minh Tuấn, Bộ tưởng 4 T vẫn chụp mũ: “Tôi cũng nói thẳng rằng, có thế lực thù địch đã lợi dụng tình trạng cá chết này để công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thậm chí kích động để gây mất trật tự công cộng, gây bất an trong nhân dân”.[112]
Mãi hơn nửa năm sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung, ngày 17.10.16 trước các “đại biểu cử tri” tại Ba đình, Hoàn kiếm, tức những đảng viên ngoan ngoãn chỉ biết xu nịnh và bốc thơm, Nguyễn Phú Trọng đã không sợ bị chất vấn nên đã bộc lộ:
“Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”.[113]
Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị đã nhìn nhận cung cách suy nghĩ, quyết định và hành động công việc nước theo lối ăn xổi ở thì, bóc ngắn cắn dài, xuất phát từ bệnh kiêu ngạo quyền lực, không cần nghe ý kiến của các chuyên viên cũng như nhân dân. Lời xác nhận này có khác nào như người chủ nhà đã xây nhà mà không xây cầu tiêu, không lập hệ thống dẫn nước thải! Xây nhà máy sản xuất thép không tính tới chất thải độc hại! Xây hàng trăm đập thủy điện không tính tới việc đồng ruộng mất nước, nhân dân thiếu nước sinh hoạt, nhưng khi mưa lũ lại trở thành đại họa cho nhân dân! Bất kể tới lời can ngăn của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều tướng lãnh và chuyên viên những người cầm đầu chế độ toàn trị đã cho BK xây các nhà máy khai thác Bauxit ở Tây nguyên từ năm 2009 bất kể tới hậu quả môi trường và an ninh quốc phòng! Nay tới Formosa!
Đây là sự thông minh hay chính là sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của Nguyễn Phú Trọng và các đại quan đỏ trong BCT?Chính Phạm Văn Đồng, TT đầu tiên và lâu đời nhất của chế độ toàn trị đã phải nhìn nhận là, sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của những người cầm đầu đã gây ra những hậu quả thảm khốc cho nhân dân trong giai đoạn đó.
Tình trạng này hiện nay còn tệ hại hơn, ngay Nguyễn Phú Trọng đã phải nhìn nhận!Ông Trọng còn nói “bây giờ chúng ta phải trả giá”. Nhưng “chúng ta” ở đây là ai? Có phải Nguyễn Phú Trọng và các đại quan trong BCT và TUĐ đang sống vương giả và ngồi trong những biệt thự an toàn ? Chính thái độ ăn xổi ở thì và bệnh kiêu ngạo quyền lực của họ đã dẫn tới công ti Formosa gây thảm họa môi trường cho bao nhiêu triệu nhân dân bốn tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4. 2016 và đang phải hứng chịu cảnh thất nghiệp, bệnh tật và đói nghèo. Họ chia sẻ sự cơ hàn với nhân dân như thế nào?
Khi thảm họa môi trường do Formosa gây ra sau mấy tuần hàng triệu nhân dân điêu đứng lo âu, nhưng TT Nguyễn Xuân Phúc, Thường trực BBT Đinh Thế Huynh khi đi qua những vùng này vẫn ngoảnh mặt làm thinh; còn người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng lại đủng đỉnh tới thăm hỏi và khen ngợi Ban giám đốc Formosa và chẳng thèm màng tới nạn nhân của Formosa! Còn Chủ tịch nước Trần Đại Quang thì trước sau vẫn im thin thít. Trong buổi QH khai mạc Kì họp thứ 2 ngày 20.10.16 Ủy viên BCT, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) -cánh tay dài của ĐCS- Nguyễn Thiện Nhân cho biết, “đến nay vẫn chưa có cơ quan, tổ chức và cá nhân nào trong hệ thống quản lý Nhà nước có liên quan đứng ra nhận lỗi và chịu trách nhiệm”.[114] Mặc dầu Nguyễn Xuân Phúc vẫn lớn tiếng là “Chính phủ phục vụ”! Rõ ràng là thái độ cao ngạo quyền lực từ cấp lãnh đạo trở xuống!
Nếu tứ trụ Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Thị Kim Ngân thực tình nghiêm túc với chính mình, khi đối chiếu với những tiêu chuẩn cao vòi vọi để chọn lựa cán bộ cao cấp mà chính họ đã đưa ra trong HNTU 11 (5.15) thì chính họ phải thấy hết sức rõ ràng là, họ đã hoàn toàn vô trách nhiệm trước thảm họa môi trường do Formosa gây ra!
“Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!” Lời nhìn nhận trên của TBT Nguyễn Phú Trọng có tầm quan trọng đặc biệt. Nó bạch hóa lối suy nghĩ cực kỳ thiển cận và phong thái hành động vô trách nhiệm của những người có quyền lực cao nhất trong chế độ toàn trị khi quyết định mời gọi các công ti nước ngoài đầu tư vào VN. Đây là những quyết định ở cấp cao nhất là BCT và BBT và được sự cố vấn của các Ban trong đảng và các Bộ trong CP. Các quyết định liên quan tới chương trình FDI nói chung, đặc biệt các công trình FDI có vốn đầu tư cao mang tầm vóc chiến lược, không chỉ có ý nghĩa thuần kinh tế, mà nó còn liên hệ trực tiếp tới nhiều lãnhvực chính trị, an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân.
Nhưng khi để Formosa đầu tư cả chục tỉ USD vào VN, Bộ chính trị đã quyết định theo tiêu chuẩn nào? Nguyễn Phú Trọng đã trả lời: “Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu”.Như vậy là các tỉ Dollar đã làm họ chóa mắt, nên đã vội vàng nhắm mắt bỏ qua các yếu tố cực kỳ quan trọng khác là an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân. Như vậy khi quyết định mời Formosa vào đầu tư, những người có quyền lực trong BCT đã đặt sự tồn tại của chế độ và cái ghế của chính họ, ích kỉ cá nhân lên hàng đầu. Chỉ mong càng có nhiều Dollar vào càng nhanh càng tốt!Chương trình FDI là một chủ trương rất lớn được đề cao trong các ĐH đảng, nhưng trong thực hành thì BCT đã vô trách nhiệm cùng cực, hoàn toàn không có một kế hoạch đúng đắn và khoa học để tạo những lợi ích thực sự cho đất nước và tránh những hậu quả tai hại cho nhân dân. Chính điều này người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng đã công khai xác nhận như trên!
Nay trong khi hàng triệu người dân phải hứng chịu hậu quả do thảm họa môi trường, phải trả giá bằng thất nghiệp, bệnh tật mà nguyên do từ những quyết định sai lầm và thái độ cực kỳ vô trách nhiệm của BCT, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng. Nhưng khi nhân dân đòi những người có quyền lực đã tiếp tay gây ra thảm họa môi trường phải có những chính sách đền bù thích đáng và biện pháp nghiêm khắc với Formosa, thì bọn quan độc ác này đã không biết ăn năn, không chịu xin lỗi, lại còn cho báo chí và chính quyền địa phương chụp mũ xuyên tạc, cho công an ngăn cản và đe dọa “không bảo đảm an ninh cho người đi khiếu kiện”[115]Chẳng những thế Nguyễn Phú Trọng còn để công an giam giữ và tòa án nhân dân bỏ tù nhiều người đi biểu tình! Họ phục vụ đất nước, bảo vệ quyền lợi nhân dân, hay đã tự chuyển biến xấu chỉ lo phục vụ quyền lợi riêng cho chính mình, nên đã sẵn sàng bảo vệ các nhà đại tư bản nước ngoài? Nếu còn lương tâm có lẽ ông Trọng nên đọc bài thơ của cô giáo Trần Thi Lam ở Hà Tĩnh đã sáng tác vào dịp này:“Đất nước mình ngộ quá phải không anh?”
Chỉ trong 20 câu thơ không chỉ trách móc những người có trách nhiệm với đất nước đã làm cho nhân dân phải đói khổ, nhục nhằn, môi trường bị tàn phá, còn bị khinh rẻ và đàn áp. Bài thơ còn nhắc nhở mỗi cá nhân, trước những nguy vong của đất nước phải can đảm cùng nhau gánh vác trách nhiệm làm thay đổi tình hình. Bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” là lời gọi rất chân thành và thúc giục mọi người, mọi giới hãy can đảm cùng nhau lên đường làm nhiệm vụ của người công dân VN là làm lại lịch sử, đưa dân tộc ta tới quang vinh trong Thế kỉ 21!
Mô hình phát triển theo “Kinh tế Thị trường
định hướng Xã hội chủ nghĩa”
Kết quả thực tiễn: Doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ, lãng phí nguồn ODA, bùng nổ nợ công, tham nhũng và lợi ích nhóm
Trong suốt thời kì từ 1986 tuy đề cao là “đổi mới” trong kinh tế, nhưng sợi chỉ đỏ trong các lãnh vực công nghiệp trước sau vẫn là DNNN. Trước đây thường được gọi là Quốc doanh. Nay vì tình thế bất đắc dĩ nên phải nhìn nhận sự hiện diện của các loại kinh tế tư nhân VN và FDI; tuy nhiên trước sau hệ thống DNNN được xếp vào thành phần tối ưu và giữ trọng trách “chủ đạo”, tức là làm nền tảng cho các hoạt động kinh tế. Chính sách này có thể ví như một con bạch tuộc. Trong thời hùng mạnh nó vươn các chân tới mọi hang cùng ngõ hẻm, nay yếu sức nên phải rút chân ra một số nơi, nhưng vẫn quyết bám chặt ở những địa bàn hiểm yếu. Cách thay đổi nhỏ giọt và trong điều kiện ngặt nghèo như thế thể hiện tư duy và tâm lí vẫn như cũ của một số người có quyền lực liên quan tới các hoạt động kinh tế. Ở đây là chủ nghĩa Marx đầy thành kiến đối với các sinh hoạt kinh tế của tư nhân, đặc biệt thành phần tư bản. Ở đây cũng là tuân thủ tư tưởng giành và giữ quyền lực độc quyền cho ĐCS của Lenin đã thực hiện ở Nga và Liên Xô cũ trước đây và được HCM vận dụng vô điều kiện trong việc cướp và giữ chính quyền độc quyền cho ĐCS từ 1945. Điều này phản ảnh tâm lí không tin dân và không dám nhìn nhận những thành công không thể chối cãi của nhiều quốc gia đã từ bỏ các DNNN và trao lại các hoạt động kinh tế cho nhân dân.
Căn cứ vào các Nghị quyết của các ĐH và các Luật về DNNN, hệ thống DNNN có nhiệm vụ vừa hướng dẫn vừa kiểm soát toàn bộ sinh hoạt kinh tế và trực tiếp dưới quyền lãnh đạo của ĐCS, trong thực tế là BCT và BBT. Các bộ và cơ quan của CP có nhiệm vụ thi hành các quyết định của BCT trong các DNNN. Nhờ vậy, hệ thống DNNN giữ vai trò như một bộ máy tuần hoàn trong cơ thể truyền dinh dưỡng, dưỡng khí và máu cho các bộ phận. Nó còn giữ nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là định hướng và kiểm soát nền kinh tế trong cái khung của một chế độ toàn trị. Muốn như vậy thì hệ thống DNNN phải nắm các động mạch chính của nền kinh tế-tài chánh. Như hệ thống ngân hàng, các lãnh vực công nghiệp liên quan tới quốc phòng, an ninh như truyền thông (báo chí, điện thoại…), chế tạo vũ khí, khai thác quặng mỏ, dầu khí, xây dựng các hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, phi trường, hải cảng và các trung tâm điều phối nông, lâm, thủy sản…
Mục tiêu và quan điểm này đã được trình bày trong nhiều ĐH từ 1986. Nó thể hiện rõ hơn trong ĐH 8 (1996) khi họ đưa ra chủ trương đầy tham vọng là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với kinh tế tri thức để “đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. [116]Đặc biệt nó được định nghĩa và xác định lãnh vực hoạt động rất rõ ràng trong Báo cáo Chính trị tại ĐH 9 (2001):
“Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật”.[117]
Những người cầm đầu Đảng khi ấy đã đưa ra tham vọng rất cao là, KTNN không chỉ giữ “chủ đạo” trong việc tạo mặt vật chất làm phương tiện thiết yếu để bảo vệ chế độ; cả về mặt chất lượng và đạo đức nghề nghiệp, các DNNN còn là những đơn vị kinh tế có trình độ công nghệ kĩ thuật hàng đầu, năng suất lao động cao và tạo ra được những sản phẩm có chất lượng tốt. Không những thế, vẫn theo tham vọng của họ, sự hoạt động của các DNNN không chỉ đem lại sự phồn vinh cho xã hội mà còn làm gương mẫu trong việc “chấp hành pháp luật”!Họ đã vẽ ra một bức tranh tuyệt vời về Kinh tế Nhà nước (KTNN) xuyên qua các DNNN! Khi nuôi tham vọng cực kỳ cao này họ đã ngủ mơ, nhưng cũng có thể họ đã quá tự tin theo tâm lí kiêu ngạo CS, bất kể các qui luật khoa học và bất chấp cả những kinh nghiệm thất bại từ các mô hình Nhà nước làm kinh tế trong thời kì trước đây ở VN cũng như ở nhiều nước CS trước đây.
Để thực hiện giấc mộng kê vàng này, trong ĐH 9 họ quyết định thành lập các Tập đoàn kinh tế từ sự sát nhập các Tổng công ti và công ti DNNN:
“Trong 5 năm tới, cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp mà Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế”.[118]
Mô hình Tập đoàn kinh tế bắt chước các Cheabol của Nam Hàn. Có lẽ ý tưởng này được thành hình sau các cuộc đi thăm Nam Hàn của nhiều chính trị gia cấp cao của đảng, đặc biệt là Đỗ Mười vào năm 1995. Sự phát triển nhanh chóng và cức mạnh của nhiều Cheabol Nam Hàn đã gây cho họ những ấn tượng mạnh. Vì thế họ cũng muốn thành lập một số Tập đoàn kinh tế như những “quả đấm thép” trong kinh tế. Chủ trương này dựa trên Luật DNNN năm 2003. [119]Theo Điều 9 của Luật này, việc thành lập các Tập đoàn và Tổng công ti cũng như bổ nhiệm các Ban quản trị các DNNN thuộc quyền TT và các Bộ. Như thế các cơ quan CP như một cơ quan tổng chỉ huy KTNN, đặt trực tiếp dưới quyền TT. Đấy là mặt tổ chức nhân sự.
Chế độ toàn trị còn giành những ưu đãi đặc biệt cho DNNN cả về vốn tư bản, đất đai và các tài nguyên. Các DNNN được sửdụng ngân sách quốc gia, được vay tiền của các ngân hàng với lãi suất rất thấp, có quyền phát hành (bán) trái phiếu ở trong và ngoài nước với sự bảo lãnh của Nhà nước, không phải trả tiền đất để xây các xí nghiệp, được hưởng ưu đãi quan thuế trong việc xuất nhập khẩu sản phẩm, chỉ phải đóng thuế mức rất thấp so với các doanh nghiệp tư. Quan trọng khác nữa, các DNNN được độc quyền sử dụng các nguồn vốn ODA, tổng số lên tới 78 tỉ USD trong gần ba thập niên qua.
Với việc hưởng các ưu đãi và độc quyền đó, có thể ví các DNNN như những đứa con cưng của một tỉ phú, vừa có tiền bạc lại đầy quyền lực, được nuông chiều đủ thứ, lại còn được bảo vệ không ai dám đụng chạm tới, kể cả pháp luật! Các cậu công tử này đâu cần phải học hành, đâu cần phải lao động, chỉ việc ngồi mát ăn bát vàng! Đây không phải là chuyện giả tưởng hay bức tranh siêu thực, nhưng lại là một sự thực 100% suốt mấy thập kỉ ở VN dưới chế độ toàn trị!
Độc quyền trong chính trị đã tác hại nguy hiểm như thế nào ở nhiều nước. Độc quyền cả chính trị lẫn kinh tế còn gây thiệt hại khủng kiếp hơn nữa cho người dân. Hình ảnh kinh tế kiệt quệ, nhân dân sống trong nghèo khổ, trong khi cán bộ trung và cao cấp hưởng giầu sang và tham nhũng ở cựu Liên Xô và Đông Âu cho tới cuối thập niên 80 không ai có thể quên được.
Tại VN sự độc quyền của các DNNN đã tiêu giệt yếu tố cạnh tranh, khiến toàn bộ kinh tế không thể vươn lên được. Vì cạnh tranh lành mạnh là yếu tố tối cần thiết để thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tiến lên, đồng thời bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Nhưng ở VN trong khi các doanh nghiệp tư bị chèn ép thì các DNNN ngồi chơi xơi nước, lãng phí tiền bạc, tài nguyên và thời gian! Vào cuối 2013 các tập đoàn và tổng công ti nhà nước chiếm thị phần áp đảo trong toàn bộ kinh tế. Như Tập đoàn Điện (bao gồm EVN và PVN) chiếm 80% thị phần, Tập đoàn Than và khoáng sản 98%, Tập đoàn Dầu khí 100%, Tập đoàn vận tải đường sắt (100%), Tổng công ti hàng không VN (61,4%), Tập đoàn viễn thông (gồm VNPT và Viettel) (81,5%).[120]
Số liệu tài chính tổng hợp của các Tập đoàn và Tổng công ti Nhà nước
Nguồn: Bộ Tài chính (dẫn tại Matheson, 2013, tr. 7; Thời báo VN, 2014)
Dưới những điều kiện của chế độ toàn trị, mọi quyết định từ chính trị, kinh tế, pháp luật tới văn hóa xã hội chỉ là quyết định của một số người có quyền lực trong BCT. Trên họ không còn ai hết, không có những cơ chế kiểm soát công khai và nghiêm túc, không có báo chí độc lập và hệ thống một xã hội dân sự độc lập. Nên những người này có thể ban bố các chính sách, đạo luật theo ý muốn của họ và khi cần thiết có thể giải thích tùy tiện, vo tròn, bóp méo và thậm chí làm vô hiệu hóa các luật pháp hay quyết định trước đây của chính họ, nếu thấy rằng nó bất lợi hay nguy hiểm cho địa vị và quyền lực của họ. Điều này càng dễ xẩy ra khi đụng chạm tới quyền-tiền, hai động lực có sức lôi cuốn rất mạnh thúc đẩy lòng tham của con người, nhất là những người có điều kiện biến quyền lực thành tiền bạc, hoặc dùng tiền bạc để mua quyền lực!
Cách tổ chức và điều hành của hệ thống DNNN, nhất là từ gần hai thập niên vừa qua với việc ra đời các tập đoàn và tổng công ti nhà nước, là những dẫn chứng cụ thể rõ rệt nhất về sự liên hết như hình với bóng của quyền lực và tiền bạc dưới chế độ toàn trị ở VN.Các giám đốc và hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) của các tập đoàn và tổng công ti nhà nước do TT chỉ định. Các cơ quan này có quyền hành rất lớn trong mọi quyết định liên quan tới hoạt động của tập đoàn và tổng công ti. Từ việc chọn lựa nhân sự then chốt, đầu tư, vay tiền, gọi thầu tới việc liên kết kinh doanh với bên ngoài. Họ đều là những cán bộ có thế lực, nhưng hầu như không có kiến thức và kinh nghiệm quản trị các công ti lớn. Một khi quyền nhiều, nhưng trách nhiệm rất ít thì dễ sinh ra lạm dụng những gì có lợi cho bản thân, gia đình và vây cánh. Từ đó dẫn tới những lãng phí hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng, tự do xà xẻo các công trình. Muốn làm giầu bất chính nhanh và gọn gàng thì phải lập phe cánh che chở và bảo vệ lẫn nhau. Qua đó sẽ hình thành các nhóm lợi ích.Vì quyền lợi ích kỉ, các nhóm này sẽ lợi dụng quyền lực kết hợp với nhau ngay từ giai đoạn soạn thảo các kế hoạch có lợi cho phe cánh của mình.
Trong vụ PMU 18 thứ trưởng Giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến cùng cánh vế với bộ trưởng Giao thông vận tải Đào Đình Bình đã lôi kéo cả con rể TBT Nông Đức Mạnh vào làm. Nhờ vào uy quyền lớn nên họ đã được giao nhiều dự án xây dựng hạ tầng với số vốn cả hàng ngàn tỉ đồng từ nguồn ODA và lập ra các công ti con làm sân sau để thân nhân và vây cánh thao túng. Sự thỏa hiệp đen tối quyền lực và chia chác tiền bạc trong vụ Vinashin lại càng khủng khiếp hơn nữa. Nguyễn Tấn Dũng dùng uy quyền TT để giao cho người đồng hương Phạm Thanh Bình làm Giám đốc Vinashin, được Ngân hàng Nhà nước cung cấp vốn cả hàng trăm ngàn tỉ đồng, đẻ ra hàng trăm công ti con, đầu tư vào những công trình ngoài cả lãnh vực đóng tàu thủy, như mở cả ngân hàng và công ti du lịch…Sau nhiều năm làm ăn thua lỗ khổng lồ lên tới cả gần 100.000 tỉ đồng, nhưng Nguyễn Tấn Dũng vẫn bình chân như vại. Hai người có quyền lực nhất khi ấy là Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã ngấm ngầm thỏa hiệp với nhau hai ghế TBT và TT, như đã trình bày trong Chương sáu, XI.
PVN và vụ án Đinh La Thăng
Tập đoàn đầu khí VN (Petro VN, PVN) là một công ti Nhà nước lớn nhất. Năm 2015 đạt tổng doanh thu là 293.439 tỉ đồng, đóng góp vào NSNN là 93.000 tỉ đ. trong tổng số thu NSNN là 911.100 tỉ đ.; nghĩa là chiếm tới gần 12% tổng thu của NSNN.[122] Như vậy PVN đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế VN. Năm 2017 PVN khai thác 15,52 triệu tấn dầu thô, 9,89 tỉ m³ khí; sản xuất 20,58 tỉ kWh điện, 1,65 triệu tấn phân đạm, 6, 24 triệu tấn xăng dầu. [123]
Theo Quyết định 924-QĐ-TTg ngày 18.6.2010 đây là Tập đoàn độc quyền trong khai thác, vận chuyển, chế biến, lưu trữ dầu hỏa và khí đốt; ngoài ra còn độc quyền các dịch vụ về dầu khí ở trong và ngoài nước. Quyết định trên còn giành cho PVN độc quyền kinh doanh, phân phối các sản phầm dầu khí và các nguyên liệu hóa chất dầu khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị và sản phầm dầu khí; khảo sát, thiết kế, xây dựng, khai thác, sửa chữa các công trình, phương tiện phục vụ dầu khí dân dụng. Không những thế PVN còn có quyền đầu tư, sản xuất, chế biến, kinh doanh nhiên liệu sinh học, điện và phân bón; đầu tư khai thác than và khoáng sản tại nước ngoài. Đặc biệt nữa, PVN còn được hoạt động kinh doanh cả những lãnh vực ngoài dầu khí, như: đầu tư, kinh doanh bất động sản; kinh doanh khách sạn, du lịch; đầu tư, khai thác, kinh doanh các cảng, vận tải biển, sông và hàng không và đường bộ…[124]
Như thế cho thấy PVN không chỉ là một “vua” trong lãnh vực dầu khí mà còn bao thầu cả trong nhiều lãnh vực khác! Từ khi trở thành tập đoàn lớn nhất, PVN trong nhiều năm liên tiếp đã “sai phạm rất nghiêm trọng” trong việc sử dụng vốn, đầu tư hàng chục ngàn tỉ đồng vào nhiều lãnh vực nhưng không có hiệu quả, phải nằm đắp chiếu và thua lỗ. Nhất là dưới thời Đinh La Thăng làm Giám đốc và Bí thư đảng ủy Tập đoàn PVN (2005-2011) và các người kế vị những năm sau này. Như trong Thông báo của Ủy ban Kiểm tra TU ngày 27.4.17 do Trưởng ban và UVBCT Trần Quốc Vượng công bố.[125]
Khi đó là thời có nhiều quyền lực của các UVBCT, như TT Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng (CTQH và TBT), Nguyễn Sinh Hùng (Phó TT thứ nhất và CTQH, Trương Tấn Sang (Trưởng ban Kinh tế TU, Thường trực BBT và CTN), Tô Huy Rứa (Trưởng ban Tuyên giáo và Trưởng ban Tổ chức), Nguyễn Xuân Phúc (Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng CP, Phó TT)…Điều vô cùng ngạc nhiên là, mặc dầu đã xẩy ra nhiều sai phạm rất nghiêm trọng trong suốt nhiều năm, nhưng Đinh La Thăng vẫn trở thành ngôi sao sáng chính trị liên tiếp trên 10 năm: Là UVTU từ khóa 10 (2006), sau khi thôi Giám đốc PVN lại lên nắm chức bộ trưởng Giao thông vận tải (2011-16), UVBCT Khóa 12 và Bí thư Thành ủy thành phố HCM (tới tháng 5.17), đại biểu QH các khóa 11-14 (tới 5.17).
Vì vậy một số câu hỏi rất quan trọng được nêu ra trong các hoạt động sai phạm rất nghiêm trọng của PVN, từ thời Đinh La Thăng làm giám đốc và cả những người kế vị, nhưng tại sao vị thế chính trị của ông vẫn lên như diều trong thời gian rất dài đến cả chục năm liên tiếp? Vì nó hoàn toàn đi ngược lại những tiêu chí chọn lựa và giao phó công việc cho “những cán bộ cấp chiến lược” theo HNTU 11 Khóa 11 (5.15) dưới quyền Nguyễn Phú Trọng đã đề ra:
“Kiên quyết không để lọt vào BCHTU những người có một trong các khuyết điểm, như: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng, có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm… tham nhũng, tiêu cực lớn …không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giầu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc” [126]
Ông Trọng đã từng nhấn mạnh, công tác cán bộ là then chốt của các then chốt. Chả lẽ suốt thời gian rất dài như vậy Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Tô Huy Rứa và Nguyễn Xuân Phúc….ở những địa vị cao như vậy cả trong đảng lẫn chính phủ lại không biết rõ những sai phạm nghiêm trọng trong PVN và Đinh La Thăng?
Phải phân biệt ở đây một số trường hợp: Nếu họ không biết những gì đã xẩy ra tại PVN thì chứng tỏ họ không đủ khả năng đảm nhiệm các trọng trách. Nhưng nếu biết mà không dám nói, chứng tỏ họ làm bù nhìn. Không những thế, nếu biết những cán bộ cao cấp đã làm những “sai phạm rất nghiệm trọng” như Đinh La Thăng mà không dám cách chức lại còn cất nhắc, chứng tỏ họ càng vô trách nhiệm và chỉ lo củng cố quyền lực, chểnh mảng nhiệm vụ, không cương quyết bảo vệ tài sản của đất nước và quyền lợi của nhân dân!
Nắm các địa vị quan trọng trong đảng và chính phủ, họ phải chịu trách nhiệm chính trị, trách nhiệm về pháp luật và lương tâm đạo đức, vì đã để cho Đinh La Thăng và nhiều cán bộ cao cấp trong PVN hoạt động sai phạm nghiêm trọng liên tiếp trong nhiều năm. Do đó đúng ra Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và các UVBCT đầy quyền lực nêu trên phải công khai nhận trách nhiệm chính trị trước nhân dân và phải xin từ chức. Không những thế, họ còn phải chịu trách nhiệm về mặt luật pháp đối với những thiệt hại cực lớn cho ngân sách quốc gia và các tài sản của nhà nước.
Họ chủ trương DNNN làm chủ đạo và giành nhiều ưa đãi, lại không có cơ chế luật pháp nghiêm minh, không có báo chí độc lập theo dõi, có khác nào như mời cán bộ tham nhũng thả cửa hôi của. Vì thế tập đoàn PVN là doanh nghiệp nhà nước lớn nhất đã có thể dễ dàng làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng trong nhiều năm. Sự hoạt động của các tập đoàn, trong đó có PVN, thuộc quyền của BCT và CP, trong đó hai người đứng đầu là TBT Nguyễn Phú Trọng và TT Nguyễn Tấn Dũng phải là hai người chịu trách nhiệm cao nhất cả về mặt chính trị lẫn mặt pháp luật. Vì các nghị quyết của các HNTU và quyết định của CP đều qui định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể cũng như cá nhân phụ trách. Chính Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần tuyên bố, cơ quan nào để xẩy ra lãng phí và tham nhũng nghiêm trọng thì người đứng đầu cơ quan phải chịu trách nhiệm trước đảng và nhân dân!
Riêng trường hợp của Nguyễn Phú Trọng, một mặt ông trương cờ với những tiêu chí thật cao trong việc lựa chọn cán bộ cấp chiến lược vào cấp cao nhất. Như “Ủy viên BCT, BBT phải là những đồng chí thật tiêu biểu của Ban chấp hành trung ương (BCHTU) về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” và không “tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm”.[127]Nhưng mặt khác, chính ông lại dùng các thủ đoạn để giành cho riêng mình được xếp vào “trường hợp đặc biệt”, đồng thời cô lập Nguyễn Tấn Dũng bằng cách mua chuộc những thân tín của ông Dũng, trong đó cho Đinh La Thăng vào BCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM.
Nhưng sau khi đã nắm vững ghế TBT thêm một nhiệm kì thì ông liền ra tay thanh toán những đối thủ để trừ hậu hoạ, thậm chí đưa cả đối thủ ra xét xử theo những bản án đã định sẵn. Thủ đoạn nham hiểm này không làm sạch bộ mặt của ông Trọng, mà chỉ bôi đen thêm. Một người nổi tiếng lợi dụng địa vị để tham nhũng quyền lực trong suốt hơn thập kỉ vừa qua thì không thể chống tham nhũng quyền lực và tiền bạc được. Tay đã nhúng chàm! Vì tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc như bóng với hình, chúng nương tựa nhau, bảo vệ nhau. Đây mới là nguy cơ của mọi nguy cơ đưa chế độ toàn trị từng bước nhưng chắc chắn rơi sâu xuống vực thẳm! Quyền và tiền như đổ dầu vào lửa. Tới một thời điểm thích hợp không còn xa, những quan tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc không thể chung sống và cũng không thể nhượng bộ nhau!
Tại HNTU 5 Khóa 12 (5-10.5.17) Đinh La Thăng đã bị cách chức UVBCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM. Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra câu hỏi về tình trạng ngày càng thua lỗ và tham nhũng trong các DNNN: “Vì sao những hạn chế, yếu kém nêu trên đã được chỉ ra từ lâu nhưng qua nhiều nhiệm kỳ đến nay tình hình vẫn chậm chuyển biến, thậm chí có mặt còn trầm trọng hơn?”
Là người cầm đầu BCT thì đúng ra, Nguyễn Phú Trọng phải là người tiêu biểu nhất “của BCHTU về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý”. Đây là những điều kiện chính ông đã đặt ra làm nguyên tắc chọn người vào BCT! Nhưng các DNNN đã được BCT dưới quyền của ông cho tung hoành hoạt động suốt bao nhiều năm qua, nay Nguyễn Phú Trọng lại làm bộ ngây thơ đặt câu hỏi, “vì sao” các DNNN đi đến nông nỗi như ngày hôm nay! Điều này chứng tỏ Nguyễn Phú Trọng đã đóng kịch giả bộ, làm như người mù lòa không nhìn thấy nguyên nhân; hoặc thừa nhận vai trò bất lực, chỉ ngồi làm bù nhìn như ông bình vôi, càng già, càng ngồi lâu, càng tồi!
Giả vờ quên thực tế, bỏ qua những chuyện tầy đình trước sau vẫn là thái độ và mánh lới cực kỳ lươn lẹo của người cầm đầu chế độ toàn trị. Chính khi BK gia tăng chính sách bành trướng và thôn tính ở biển Đông, Nguyễn Phú Trọng đã gạt phăng và nói tỉnh bơ tại QH, “tình hình biển Đông không có gì mới!”. Hay khi xẩy ra thảm trạng môi trường cá chết trắng trên bãi biển miền Trung do công ti Formosa gây ra thì Nguyễn Phú Trọng vẫn thản nhiên lại thăm Ban giám đốc công ti này và sau đó lại còn nói tỉnh bơ như một người bàng quang: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!”
Đối với những người hiểu biết và có lương tri không ai có thể hiểu được những lời tuyên bố trên thật vô cùng lạ lùng như thế. “Bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” của người cầm đầu chế độ toàn trị là như thế!!! Chính điều này Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra làm tiêu chuẩn để chọn lựa và đánh giá các UVBCT !!!
***
Tổng kết lại, phân tích cặn kẽ và nghiêm túc về thái độ, hành động và tư duy diễn tiến từ ĐH 6 (1986) tới ĐH 12 (2016) của những người cầm đầu toàn trị từ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông đức Mạnh đến Nguyễn Phú Trọng có thể tóm lược là: Tuy miệng luôn luôn phải nói “đổi mới”, nhưng trong thâm tâm vẫn tin tuyệt đối vào chủ nghĩa Marx-Leninn và đi theo con đường của Bác đã chọn.Theo họ, đó là “sáng suốt” và “uống nước nhớ nguồn”, không phản bội người khai sáng và những thế hệ đã hi sinh, như thế là vừa khôn ngoan, vừa giữ được đạo lí của người đi sau! Bất đắc dĩ phải thay đổi một vài điều ở lãnh vực này hay lãnh vực khác chỉ là vì tình thế theo tiêu chí “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”!
Trong đó trước sau họ vẫn không thèm đoái hoài tới nguyện vọng và khát vọng rất chính đáng và bức thiết của nhân dân là hòa giải dân tộc thực sự để Bắc-Nam cùng nhau phát triển nội lực, để xây dựng lại quê hương từ đống tro tàn do bạo lực, hận thù từ những cuộc chiến tranh tàn khốc và giai giẳng để lại, tiến lên thành một quốc gia giầu mạnh, nhân dân được hưởng hạnh phúc, sống có nhân phẩm và tự do dân chủ! Họ cũng không thèm đếm xỉa tới những thay đổi sâu sắc của thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ, các nước CS Đông Âu tan dã và TQ trỗi dậy trở thành tân đế quốc đang đe dọa trực tiếp VN, các nước trong khu vực và thế giới!
Trên đây là nền tảng căn bản về thái độ, cách hành động và tư duy của những người cầm đầu chế độ toàn trị suốt trên 30 năm qua. Trong đó hai nhân vật có trách nhiệm cao nhất là Đỗ Mười và Nguyễn Phú Trọng, vì họ đã và đang nắm độc quyền lâu và tàn bạo nhất!
Họ không đủ trình độ kiến thức, sự sáng suốt cần thiết và thái độ chân thành đáng lẽ ra phải có, để nhận ra và hiểu rằng, mỗi thời đại phải có những cái nhìn mới, những bước đi thích hợp; nếu người đi trước làm sai thì thế hệ sau phải có trách nhiệm và can đảm thay đổi. Châm ngôn VN có câu “con hơn cha là nhà có phúc”! Cũng với tinh thần này, đáng lẽ ra họ phải dứt khóat chấm dứt sự dối trá, lừa đảo và từ bỏ những ý thức hệ đã bị thực tiễn chứng minh là sai lầm; đồng thời thực tâm chọn con đường mới để kiến thiết đất nước và gây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Đấy mới chính là sáng suốt, biết đền bù tương xứng những sự hi sinh của bao nhiêu triệu người đã từng tin vào họ.
Nhưng vì quá giáo điều nên họ đã không nhận ra được sự tiến hóa rất chính đáng và tự nhiên của nhân loại. Khi xã hội bộ lạc-du mục không còn thích hợp thì chuyển sang chế độ định cư, lập làng xã, chọn cách tổ chức thích hợp để xây dựng xã hội mới. Khi chế độ phong kiến trở thành lạc hậu và tàn bạo, cản đường tiến hóa của nhân dân thì quyết giã từ nó; khi chế độ toàn trị theo Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận thì nếu sáng suốt, họ phải quyết chuyển sang DCĐN, tôn trọng các giá trị con người, khuyến khích những sáng tạo và tham gia tích cực của mọi thành phần.
Vì bảo thủ mù quáng nên họ vẫn cố giữ thái độ và tư duy cũ đã lỗi thời và hoàn toàn sai lầm. Vì thế họ đã cấm đoán, đàn áp đảng viên và nhân dân nói khác, nghĩ khác và hành động khác. Họ sẵn sàng tiếp tục sử dụng cả dối trá, tàn bạo, thậm chí cả nhân danh người đã khuất để biện minh cho các hành động cực kỳ sai lầm và độc ác. Đến khi bị kẹt cứng (khi Liên Xô sụp đổ) họ lôi cả HCM làm lá chắn để bảo vệ quyền lực và tiền bạc cho cá nhân, gia đình và vây cánh!
Công thức để thực hiện “đổi mới” suốt trên 30 năm qua chỉ loay hoay trên thái độ và tư duy cũ. Đó là: Chủ nghĩa Marx-Lenin + Đi theo con đường của Bác đã chọn. Họ bắt mọi người phải tin theo và làm như họ. Thậm chí còn ra lệnh cho các nhà khoa bảng XHCN không được suy nghĩ khác và phải khẳng định rằng, chỉ có CNXH theo Marx-Lenin như Bác đã chọn là đúng muôn đời! Đỗ Mười đã ra lệnh như vậy. Cựu CTN Nguyễn Minh Triết từng hô “bỏ Điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Nguyễn Phú Trọng đã ngạo mạn phán rằng, “đi lên CNXH là nguyện vọng của nhân dân” và mạt sát các trí thức và chuyên viên đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp là “suy thoái đạo đức”!
Chính vì vậy từ Đỗ Mười tới Nguyễn Phú Trọng, là hai người chính nắm quyền trên 30 năm qua, phải dựng lên bộ máy công an trị hà khắc và sử dụng trí trá, độc ác, giả nhân giả nghĩa để tham nhũng quyền lực và tiền bạc cho chính họ và phe nhóm!
Sử dụng những thủ đoạn và phương pháp gian trá, độc đoán để thực hành các ý thức hệ sai lầm và những hành động cực kỳ mù quáng và tàn bạo suốt trên 30 năm qua đã chứng minh rất rõ ràng: Họ đã tự đánh mất tư cách, cực kỳ vô trách nhiệm đối với đảng viên và nhân dân, kể cả với hàng triệu người đã hi sinh. Vì thế sự cầm quyền và tồn tại của họ và phe nhóm là hoàn toàn bất chính, phản lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân và đi ngược với trào lưu của thời đại!
______________________________
Thân mời đọc tiếp Chương kết: Các nguyên nhân, người chịu trách nhiệm và hậu quả của “Đổi mới” lừa bịp.
Chương cuối: Phải dứt khoát đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx-Lenin, mọi người quyết phá rào cản độc tài, cùng nhau đứng lên nắm lấy cơ hội kiến tạo một Nước Việt Nam Mới: Những điều nên nhớ, nên tránh và nên làm!
Để độc giả tiện theo dõi, toàn bộ ba chương cuối sẽ được phổ biến trong ba lần liên tiếp. Mở đầu loạt bài này, dưới đây là toàn bộ Chương 9:
Chương chín: Kết quả thực tiễn trên 30 năm “Đổi mới”
I. Mô hình “đổi mới” trên 30 năm qua
Sau trên 30 năm “Đổi mới” từ 1986 trải qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng và xuyên qua 7 ĐH (từ ĐH 6 tới ĐH 12). Không biết bao nhiêu Nghị quyết đã được ban hành đề ra mục tiêu là, đưa VN tới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng trong cuộc họp nội các vào cuối năm 2014 sau gần 30 năm tiến hành “đổi mới”, Nguyễn Tấn Dũng lại than, “sao lại cứ phải đứng sau 6 nước ASEAN? Chúng ta có đuổi kịp được ASEAN-6 không? Không có lý do gì chúng ta không cải thiện được để bằng ASEAN-6”? [1] Trong thực tế nhiều mặt VN còn đi sau cả Campuchia và Lào.
Sau gần 30 năm đổi mới, lợi tức đầu người /năm của VN vào năm 2014 mới chỉ 2.052 USD, tức là VN mới chỉ bước vào những nước đang phát triển ở mức trung bình thấp. Trong khi đó Singapore lên tới56.287 USD, Mã lai á là 10.830 USD, Thái lan là 5.561 USD và Nam dương là 3.515 USD.PGS, TS Phạm Quý Thọ thuộc Học viện Chính sách và phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận xét, “chỉ tiêu này của nước ta tụt hậu so với Hàn quốc chừng 30 đến 35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái lan chừng 20 năm, Indonesia và Philippines chừng từ 5 đến 7 năm. Đến năm 2038 VN mới có thể bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới có thể bắt kịp Thái Lan”. [2]
Nếu xét về mặt diện tích và dân số thì VN không phải là nước nhỏ. Với dân số gần 94 triệu (2017) VN đứng thứ 13 trên thế giới[3]; với diện tích trên 331.114 km² VN đứng thứ 65. Nhưng về mặt kinh tế, xã hội (phát triển con người -HDI) hiện nay VN lại đứng thứ 116 trong tổng số gần 200 nước và ốc đảo trên giới.[4] Nhiều người cầm đầu chế độ toàn trị thường đổ lỗi cho rằng, VN là một nước nhược tiểu, đất hẹp, dân không đông và tài nguyên không nhiều. Đây là những khẳng định cực kỳ sai lầm để trốn tránh trách nhiệm. Một số các nước trong khu vực như Nam Hàn diện tích chỉ trên 99.000km², 50,6 triệu người, nhưng lợi tức đầu người 2015 trên 27.000 USD đang là nước giầu mạnh, công nghiệp cao. Nhật có dân số gần gấp rưỡi VN, diện tích xấp xỉ với VN, tài nguyên thiên nhiên không nhiều, nhưng từ lâu đã trở thành cường quốc kinh tế, lợi tức đầu người năm 2015 là gần 37.000 USD. Về dân số và diện tích giữa VN và Đức không chênh lệch bao nhiêu; nhưng Đức, cũng như Nhật, từ đống tro tàn sau Thế chiến thứ 2 đã nhanh chóng vượt lên thành cường quốc kinh tế đứng thứ ba, thứ bốn trên thế giới.
Những câu hỏi trung tâm rất nghiêm túc cần được đặt ra là, tại sao nhiều nước ngay trong khu vực khi bước vào thời kì phát triển kinh tế thì cũng ở trình độ ngang ngửa như VN, nhưng nay đã bỏ xa VN để trở thành các nước công nghiệp hàng đầu, lợi tức cao gấp mấy chục lần VN? Người dân không chỉ sống sung túc mà còn được tôn trọng nhân phẩm. Phải chăng các mô hình chính trị, kinh tế, giáo dục và văn hóa là những nền tảng căn bản cho sự tiến lên hưng thịnh, hạnh phúc và văn minh, hay sự tụt hậu, nghèo đói và tha hóa đạo đức của một xã hội? VN đang áp dụng mô hình chính trị-kinh tế nào, có những đặc điểm gì?
Trong suốt trên 30 năm cải cách kinh tế chưa bao giờ VN theo mô hình kinh tế thị trường hiện đại như ở các nước Tây phương. Mô hình phát triển của VN là “Kinh tế thị trường Định hướng XHCN”. Mô hình này có một số đặc tính căn bản khác biệt hoàn toàn với các nền Kinh tế thị trường hiện đại ở các nước Tây phương trong các lãnh vực then chốt:
Chế độ độc đảng: ĐCS, cụ thể là Bộ chính trị (BCT) và Ban bí thư (BBT), trước sau vẫn chỉ huy toàn bộ và trực tiếp các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa- giáo dục, tôn giáo và xã hội.
Công hữu toàn dân về đất đai (ĐCS là chủ nhân trong đất đai)
Doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo
Kinh tế tư nhân nội địa tuy được công nhận, nhưng chỉ ngồi rìa, đứng bên lề trước thế lực mạnh của Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) và sức ép của FDI (công ti nước ngoài).
Như thế cho thấy mô hình phát triển kinh tế của VN từ 1986 tới nay vẫn còn giữ căn bản mô hình kinh tế của chế độ toàn trị như ở Liên Xô cũ, với một số biến thể, mặc dầu chế độ toàn trị ở Liên Xô đã tan rã từ 1991. Trong đó ĐCSVN vẫn là người cầm trịch không chỉ trong chính trị, tư tưởng và văn hóa, mà cả trong kinh tế-xã hội.Mỗi ĐH vẫn đưa ra kế hoạch ngũ niên do ĐCS độc quyền từ các khâu hoạch định, đường lối tới các biện pháp…Nhưng dĩ nhiên trong giai đoạn và điều kiện Chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên toàn thế giới đang tan rã ngay từ cái nôi, nên những người cầm đầu CSVN bắt buộc phải dùng những từ ngữ và ngôn ngữ mới, để tạo những hi vọng mới, để tỏ ra họ là những người thức thời và nhờ thế mới có thể biện minh cho sự tiếp tục cầm quyền độc tôn!
Mô hình phát triển kinh tế này chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại và đối lập với nhau. Nó được thực hiện trong thời kì CNXH theo ý thức hệ Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận, thế giới CS tan rã. ĐCSVN cũng rơi vào thế sợi chỉ treo ngàn cân. Suốt trên 30 năm đổi mới từ 1986, đặc biệt từ giữa thập niên 90 khi thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ và thực hiện chính sách mở cửa với bên ngoài, mô hình phát triển kinh tế của chế độ toàn trị dựa trên một số cơ sở làm tiền đề đặt trọng tâm cho phát triển kinh tế. Đó là:
Nhân công rẻ
Khai thác nông sản
Khai thác khoáng sản
Ưu đãi cho tư bản nước ngoài vào đầu tư
Tranh thủ nguồn vốn ODA trong xây dựng hạ tầng
Đặt trọng tâm trong xuất cảng
Nhưng các cơ sở trên phải được đặt trong một khung kiên cố, nói thẳng ra là bị nhốt trong một cái lồng, đó là CNXH với tư tưởng Marx-Lenin làm chỉ đạo và trong cái lồng này, ĐCSVN chỉ huy độc quyền trực tiếp và toàn diện từ tổ chức, thực hiện, giám sát các hoạt động kinh tế-xã hội. ĐH 12 đã làm công việc tổng kết 30 năm thực hiện chính sách đổi mới (1986-2016) qua 5 đời TBT Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng.
Mặc dù những người đứng đầu luôn mở miệng khẳng định là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết và đường lối. Nhưng khi họ phải đối diện với những kết quả rất xấu thì lại không dám nhận đã chọn lí thuyết sai, ở đây là chủ nghĩa Marx-Lenin. Họ lờ đi hoặc nhận lỗi qua loa, nhưng đổ lỗi chính vì những lí do bên ngoài. Thái độ rất chủ quan, giáo điều, lừa dối và tô vẽ cho rằng, 30 năm đổi mới không chỉ tạo ra những thành tích tuyệt vời trong kinh tế-xã hội, mà cả trong lãnh vực chính trị cũng đã có nhiều cải cách theo hướng “lấy dân làm gốc” và dân chủ hơn ngàn lần các nước Dân chủ đa nguyên… Tiêu biểu nhất cho lập trường này là Báo cáo Chính trị và Kinh tế-Xã hội tại ĐH 12 của TBT Nguyễn Phú Trọng ngay vào ngày đầu của ĐH 12.[1] (Xem Chương tám, IV).
***
Trong dịp này một số chuyên viên trong nước từ gần với đảng hay đứng vị thế độc lập của những người người làm công tác khoa học, trong đó có cả một số chuyên viên VN ở nước ngoài, đã công bố các bài nghiên cứu hoặc trả lời phỏng vấn liên quan tới chủ đề kết quả 30 năm đổi mới.
Trước hết phải nói tới nhận định rất thắng thắn của cựu bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh ngay trước ĐH 12 khi ông còn là Bộ trưởng và Ủy viên Trung ương (UVTU), như đã trình bày ở Chương tám, IV:
“ 70 năm qua, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp trong hệ thống chính trị gần như không thay đổi”. Và “Một hệ thống chính trị phù hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, đặc biệt là trong hoàn cảnh chiến tranh, nay đã không còn phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường, thậm chí là rào cản, trở ngại cho sự phát triển”. [2]
Chia sẻ quan điểm nàyGS Vũ Dương Ninh, Đại học Quốc gia Hà nội (HN), cho biết, trước đó 5 năm Nghị quyết của ĐH 11 (1.11) -khi đó Nguyễn Phú Trọng được bầu làm TBT- đã lập lại mục tiêu là,đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhưng ĐH 12 đã phải nhìn nhận rằng, mục tiêu này không thể đạt được.[3]Ngay cảnguyên Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội VN, GS TS Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu của chế độ toàn trị , từng là UVTU suốt ba nhiệm kì từ ĐH 8-10 và có chân trong Hội đồng Lí luận Trung ương (TU) -một cơ quan cố vấn về tư tưởng và chính trị cho TUĐ, BCT và BBT-, trong một bài phân tích rất dài 14 trang trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 1, 1.15 với tựa đề “Những đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong 30 năm đổi mới”. Ông đã liệt kê các quyết định của đảng xuyên qua 6 Đại hội từ 1986 tới ĐH 11 (2011) với việc sử dụng “kinh tế tri thức” và đầu tư của nước ngoài nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp tới xuất nhập cảng. Ông ca tụng các quyết định này và coi đó là những biện pháp sáng suốt của ĐCS, nhằm đưa VN, từ một nước đi sau và công nghiệp hóa muộn, có thể đạt mục tiêu “rút ngắn quá trình công nghiệp hóa đất nước bằng sức mạnh của thời đại và sức mạnh nội sinh của đất nước”. Nhưng cuối cùng trong phần kết luận Đỗ Hoài Nam phải nhìn nhận kết quả thực tiễn sau 30 năm đổi mới là, “nhìn trên tổng thể, phần lớn nông dân và người dân đô thị đang trong tình trạng nghèo tương đối, trong đó không ít người đang thực sự nghèo theo nghĩa tuyệt đối”.
Ông nêu ra câu hỏi về nguyên nhân, tại sao không đạt mục tiêu, mặc dầu các quyết định đều được coi là sáng suốt? Trong đó Đỗ Hoài Nam đã cố tình dùng các thuật ngữ trừu tượng và trình bày ngoắt nghéo, như “nguyên nhân cơ bản là, nền tảng cho sự rút ngắn này chưa được tạo lập một cách đầy đủ và vững chắc. Đó là nền kinh tế thị trường đầy đủ và hiện đại (xét cả mặt kết cấu lẫn mặt thể chế của nền kinh tế này), cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại; là khoa học và công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao; là hệ thống công ti tư nhân dựa trên sở hữu cổ phần được quản trị hiện đại, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước [và] quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị và chuỗi phân phối toàn cầu và cuối cùng là vai trò vừa là bà đỡ, vừa là nhạc trưởng của Nhà nước bảo đảm co sự rút ngắn”. (tr.15)
Tuy cố tình trình bày vòng vo và tránh né không dám nêu đích danh thủ phạm đã gây ra thất bại, nhưng nhà khoa bảng XHCN hàng đầu Đỗ Hoài Nam đã gián tiếp nhìn nhận, đó là kế hoạch xây nhà trên cát; hay dùng hình tượng chuyện con nhái muốn to bằng con bò để diễn tả ý muốn công nghiệp hóa và hiện đại hóa VN thật nhanh như Nhật bản, Đại Hàn và các nước Tây phương, nhưng lại thiếu đủ mọi thứ và không có những điều kiện cần thiết; trong đó thiếu cả “ nhạc trưởng”, tức Nhà nước hiện đại trong thể chế DCĐN. Trong khi nhiều nước theo DCĐN cũng chỉ trong khoảng thời gian 30 năm đã chuyển thành công đất nước họ, từ lạc hậu chậm tiến sang công nghiệp hiện đại. Nhưng VN dưới chế độ toàn trị vẫn dẫm chân tại chỗ. Nghĩa là, chính thể chế độc tài toàn trị đã là nguyên nhân chính đưa đến thất bại trong việc canh tân đất nước và xây dựng hạnh phúc cho nhân dân trong suốt 30 năm!
Trong toàn bài, Đỗ Hoài Nam có dẫn chứng là, ngay từ ĐH 7 đã quyết định “cần đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để” (tr. 5); nghĩa là phải đối mới cả hệ thống chính trị. Nhưng khi kết luận tuy phải nhìn nhận các thất bại, nhà khoa bảng Đỗ Hoài Nam đã không giữ được tinh thần khoa học và thẳng thắn như cựu Bộ trưởng Bùi quang Vinh, nên không một lần nào dám nói thẳng là, trong suốt quá trình 30 năm, trước sau vẫn là chế độ độc tài toàn trị. Đó mới chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới thất bại!
Chế độ toàn trị đã chọn ý thức hệ sai lầm dẫn tới độc tài hà khắc, làm triệt tiêu sự phản biện rất cần thiết của một hệ thống xã hội dân sự độc lập. Vì thế toàn bộ hệ thống công quyền trở thành trì trệ và bất cập, chống lại sự canh tân và phát triển của đất nước.Đây là nhận định của PGS, TS Trần Đình Thiên nguyên là Viện trưởng Viện Kinh tế VN, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Kinh tế VN, khi nói về nguyên nhân thất bại trong kinh tế:
“ĐCS lãnh vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện”, mức độ chưa trưởng thành của Nhà nước pháp quyền, sự thiếu vắng các tổ chức dân sự đúng nghĩa, của các tổ chức phản biện xã hội độc lập, có ảnh hưởng mạnh mẽ, thậm chí là quyết định, đến kết quả hoạt động quản trị công”. [4] “Trong nhiều trường hợp, tình trạng không cụ thể hóa mục tiêu định hướng, né tránh thảo luận cấu trúc logic của khái niệm “Định hướng XHCN” (ĐHXHCN), lặng lẽ giả định nó, coi như một tiền đề định sẵn, đã có những ảnh hưởng to lớn”. [5]
Thực tế này cũng được GS Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Nhật bản) trình bày cặn kẽ hơn, khi ông so sánh sự phát triển kinh tế-xã hội của VN với một số nước trong khu vực thì rõ ràng khác biệt nhau cả một trời một vực.Theo tài liệu của Ủy ban LHQ về kinh tế và xã hội châu Á – Thái bình dương (ECAFE), năm 1954 thu nhập đầu người của miền Nam VN là 117 USD, xấp xỉ với Thái Lan (108) và cao hơn Indonesia (88) vào hai năm trước đó. Nhưng 60 năm sau, vào năm 2014 thu nhập đầu người của VN chỉ bằng một phần ba Thái Lan và một nửa Indonesia…Trong khi “Hàn quốc chỉ mất 16 năm (từ 1971-1987) để chuyển từ nước thu nhập trung bình thấp lên trung bình cao và chỉ mất thêm 10 năm nữa để tiến lên hàng các nước tiên tiến. Đài loan trở thành nền kinh tế tiên tiến vào năm 1995, chỉ tốn 12 năm kể từ giai đoạn thu nhập trung bình cao”. [6]
Sau hơn 40 năm hòa bình trong đó hơn 30 năm gọi là đổi mới, nhưng VN vẫn lẹt đẹt thuộc những nước có thu nhập trung bình thấp và đang có nguy cơ phải ngụp lặn lâu dài ở mức này. Ông Thọ còn nêu ra viễn tượng kinh tế VN vào năm 2020. Hiện nay theo phân loại của Ngân hàng thế giới, bình quân đầu người từ 1.000 đến 12.000 USD là nước có thu nhập trung bình, trên 12.000 USD là nước thu nhập cao. Do đó một nước được gọi là công nghiệp phải ở mức trên 12.000 USD. VN hiện nay mới gần 2.000 USD. Đến năm 2020 có lẽ cũng chỉ đạt được khoảng 3.000-3.500 USD, tức là thuộc các nước có mức trung bình thấp. [7]
Nông nghiệp: Bỏ rơi nông dân và nông thôn!
Chủ trương công nghiệp hóa nông nghiệp, nhưng sau 30 năm đổi mới vẫn là cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau!
VN là một nước nông nghiệp, vào thập niên 80 của thế kỉ trước có tới 80% dân số sống và phụ thuộc vào nghề nông. Đồng bằng sông Hồng và nhất là Đồng bằng Cửu long là hai thúng gạo nuôi dân và xuất cảng để tạo cơ sở và ngân sách cho xây dựng công nghiệp, phát triển bền vững cho toàn quốc. Nếu hiểu thấu đáo thế mạnh này của VN và có được một tầm nhìn xa thì một nhà nước sáng suốt không chỉ tìm cách làm phục hồi nông nghiệp, mà còn phải canh tân, công nghiệp hóa mọi khâu trong nông nghiệp. Từ tạo kiến thức trồng trọt cho nông dân, đem điện nước, đường xá, trường học và y tế về thôn xã, trả lại quyền tư hữu ruộng đất cho nông dân, và có những chính sách khuyến khích nông dân tự nguyện hợp tác để sử dụng kĩ thuật canh tác mới nhằm gia tăng năng suất và tăng lợi tức cho nông dân, tức là gia tăng sức mua và đầu tư của 80% dân số. Ngoài ra nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản để làm tăng giá trị các mặt hàng này; khuyến khích và hỗ trợ nông dân tự thành lập các trung tâm hiện đại lưu trữ gạo, rau trái và các tổ chức của nông dân theo dõi thị trường nông nghiệp trên thế giới để tạo thương hiệu có uy tín cho các sản phẩm nông nghiệp của VN và có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế.
Các chính sách trên đây không phải là những điều mới lạ, trái lại đã được thực hiện thành công ở nhiều nước phương Tây dưới nhiều tên gọi nổi tiếng, như “Chương trình xanh” trong ngành nông nghiệp, như Hòa lan, Đức, Pháp, Hoa Kỳ và Gia nã đại. Đúng ra là một nước đi sau, nên VN cỏ thể học hỏi nhanh chóng và hiệu quả kinh nghiệm và kĩ thuật của các nước này.
Sau chiến thắng 1975 những người cầm đầu say mê với thành tích con đường XHCN đã dẫn tới chiến thắng vẻ vang trong chiến tranh thì tất yếu cũng sẽ dẫn tới thắng lợi thần kì trong kinh tế! Đây là tư tưởng rất lạc quan từ Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng tới hầu hết các ủy viên BCT khi ấy. Vì thế mô hình kinh tế theo XHCN đã được thi hành cấp tốc và triệt để trong nông nghiệp với các Hợp tác xã (HTX), trong thương nghiệp với xóa bỏ tư sản mại bản kinh tế tư nhân và thành lập các thương nghiệp quốc doanh, trong công nghiệp với hàng loạt doanh nghiệp quốc doanh. Nhưng sau đó không lâu, mô hình phát triển theo XHCN đã dẫn tới bế tắc toàn diện. Nông dân không chịu làm ăn, thương nghiệp nhà nước không có hàng để bán, các DNNN ngồi chơi. Dẫn tới nạn đói khủng khiếp vào giữa thập niên 80, khiến cho hàng triệu người rơi vào cảnh đói và khủng hoảng lương thực trầm trọng như thời 1945. Trong khi các cán bộ cao cấp được hưởng các chính sách ưu đãi từ nhà cửa, xe đưa đón tới chế độ ăn uống ngon và đầy đủ; còn người dân thì không có cả thịt, cá, vải, thuốc men và các nhu yếu phẩm hàng ngày.[8] Nhóm cầm đầu giáo điều mới thấy là không thể tiếp tục mô hình tập thể hóa nông nghiệp HTX theo kiểu Liên Xô và TQ được nữa, nếu không thì nông dân và thị dân sẽ nổi loạn.
Nhưng sau ĐH 6 (12.86) phải đợi thêm hơn một năm, sau những tranh cãi gay gắt giữa các phe trong BCT và TU, mới ra được Nghị quyết (NQ) 10 ngày 5.4.1988, được gọi là Khoán 10. Tuy vậy đảng xuyên qua nhà nước của đảng vẫn tiếp tục giữ độc quyền công hữu ruộng đất, nông dân vẫn phải thuê ruộng (xem Chương một, III và Chương hai, V). Tuy đây chỉ là chính sách đổi mới nửa vời, nhưng đã làm cho nông dân gắn bó siêng năng với đồng ruộng, thửa vườn, cái ao và gia súc. Nhờ thế sản lượng nông nghiệp đã gia tăng mạnh và liên tiếp trong nhiều năm. Khiến cho từ khủng hoảng lương thực với nạn đói trầm trọng, từ 1989 đã trở thành một nước xuất cảng gạo.
Trước khi có Khoán 10, sản suất lúa cả nước chỉ khoảng 13 triệu tấn, hàng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn.[9] Năm 2017 sản lượng lúa đã đạt khoảng 42,84 triệu tấn.[10] Trong những năm gần đây số gạo xuất khẩu đã lên tới gần 8 triệu tấn, đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng gạo.[11]Nhưng nay sau hơn 30 năm nông dân và nông nghiệp tại VN vẫn phải đối diện gay gắt trong nhiều vấn đề. Nhiều chuyên viên trong nước ta thán là, tại sao VN đang là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, nhưng đại đa số nông dân vẫn rất nghèo, ngay cả nông dân Đồng bằng Cửu long, vựa thóc của cả nước? Trong khi ấy ngay sau Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì tháng 1.94 (Khóa 7), tại Hội nghị trung ương (HNTU) 7 (7.94) đã đưa ra nghị quyết với tham vọng “phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn gắn với đô thị hóa nông thôn”.[12]
Tại sao giá gạo của VN vẫn thấp hơn nhiều gạo Thái lan và cho tới nay sau mấy chục năm xuất khẩu, nhưng gạo của VN vẫn chưa có thương hiệu uy tín trên thị trường quốc tế, chỉ bán được cho một số nước với giá thấp? Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách tam nông (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) coi “nông nhiệp là mặt trận hàng đầu”, nhưng tại sao máy móc và kĩ thuật canh tác vẫn rất lạc hậu, tiếp tục lối làm ăn thô sơ con trâu đi trước cái cày đi sau? Tại ĐH 10 (2006) những người cầm đầu toàn trị thổi lên tiêu chí từ “ăn no” sang “ăn ngon”! UVTU Đỗ Hoài Nam khi ấy đã cho biết, ĐH 10 đã ra NQ khẳng định đưa “nền nông nghiệp VN phải hình thành được một số sản phẩm chủ lực, mũi nhọn có lợi thế phát triển, có phẩm chất tốt, chất lượng cao và qua chế biến sâu, đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới để có giá trị gia tăng cao”. Ông còn cho biết thêm, tại HNTU 7 Khóa 10 đã ra NQ về nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng này và lãnh đạo vẫn tuyên bố, nông nghiệp là mũi nhọn.[13]
Nhưng tại sao tới nay vẫn thường diễn ra “được mùa mất giá” cho nông dân? Tại sao sau hơn 30 năm vẫn không lập được các trung tâm lưu trữ gạo hiện đại và không thiết lập được công nghiệp chế biến nông sản; trong khi đó lại bỏ hàng ngàn tỉ đồng xây các cảng để chỉ nằm đắp chiếu, hay bỏ ra cả hàng trăm tỉ hoang phí để xây các tượng đài cho các nhà độc tài của Đảng? Sau 30 năm đổi mới, nhưng tại “Diễn đàn nông nghiệp” do CP tổ chức vào giữa tháng 10. 2016 lại vẫn lập lại, phải tạo một thương hiệu quốc tế tốt cho gạo xuất khẩu của VN! Nhưng nhiều chuyên gia đã chua chát nói thẳng: “Thương hiệu gạo, có đâu mà mất!” [14]
Một sản phẩm (công nghiệp hay nông nghiệp) phải có chất lượng tốt, được tín nhiệm của khách hàng, người tiêu dùng tín nhiệm và sẵn sàng trả giá cao. Họ sẽ tiếp tục tìm thương hiệu này. Thí dụ như trong sản phẩm xe hơi và điện tử, người tiêu dùng thường thích xe hơi Toyota, Mercedes và Samsung…. vì có phẩm chất tốt. Nhưng sau gần 30 năm xuất cảng gạo, gạo của VN vẫn không có thương hiệu có uy tín trên thị trường nông sản thế giới. Đầu năm 2016 nhiều chuyên viên và ngay cả các cán bộ phụ trách nông nghiệp cũng đã ta thán và nhìn nhận tình hình rất bất lợi này trong việc xuất cảng các nông sản của VN… Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu, bộ Công thương Trần Thanh Hải cho biết, năm 2015 gạo VN chiếm trên 50% tổng số gạo nhập khẩu của TQ, nhưng tại các siêu thị và cửa hàng lại không tìm ra gạo mang thương hiệu VN. Trong khi ấy, gạo Campuchia lại chễm chệ trên các cửa hàng. Chè, cà phê, hạt tiêu… là các nông sản xuất khẩu lớn của VN, nhưng vị thế cũng tương tự. Cựu Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn II (thành phố HCM) Vũ Trọng Khải cho biết, nguyên nhân đang gây bất lợi cho quyền lợi của nông dân, là vì các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ở VN đều là DNNN, nên vẫn giữ tâm lí thờ ơ cha chung không ai khóc! [15]
Tại Hội nghị toàn quốc triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới 30.9.16 với sự hiện diện của tân TT Nguyễn Xuân Phúc, được biết sau 30 năm thực hiện chủ trương lấy nông nghiệp làm mũi nhọn để xây dựng “nông thôn mới” nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân, nhưng tới tháng 9.16 mới chỉ có 2.045 xã (23%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.[16] Liệu con số đưa ra có chính xác không, không ai biết. Nhưng sau 30 năm mới chỉ có gần ¼ xã ở nông thôn tên toàn quốc đạt tiêu chuẩn nông thông mới. Đây là nhìn nhận thất bại trong việc cải thiện đời sống mấy chục triệu nông dân!
Trong khi chính phủ Nguyễn Tấn Dũng bảo đảm để nông dân được hưởng lãi ít nhất là 30% so với giá thành, nhưng dịp này tại QH bộ trưởng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao đức Phát lại cho biết, “giá thành 1 kg lúa là 4.100đ/kg như vậy giá thu mua lúa phải đạt 5.400đ/kg thì người trồng lúa mới lãi 30%. Nhưng hiện nay giá lúa khô loại thường nông dân cũng chỉ bán được 4.500đ, lúa hạt dài khoảng 4.800đ”. Nghĩa là chỉ đạt được 10% lãi. Bà Phạm Chi Lan cho biết, từ 2007 khi VN gia nhập WTO thì đầu tư cho nông nghiệp đã giảm rất mạnh và liên tục, “trước khi VN gia nhập WTO thì tỷ trọng đầu tư toàn xã hội vào nông nghiệp nhất là đầu tư của Nhà nước cũng còn tương đối cao chiếm tới 13,8% trong tổng mức đầu tư, nhưng sau vài năm tham gia vào WTO thì mức đầu tư vào nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 6,4% trong tổng mức đầu tư phát triển”.Đây rõ ràng là thái độ trọng công, khinh nông và bỏ nội, trọng ngoại của những người làm chính sách. Theo bà, chính sách bỏ rơi nông dân và nông nghiệp của chính quyền CSVN hoàn toàn trái ngược với các nước khác, “hầu hết các nước khi hội nhập họ đều lo bảo hộ nông sản, nhưng VN thì ngược lại buông nông sản, buông nông nghiệp và ngành này phải tự bơi tự bươn chải”. Trong khi ấy “ nguồn lực đầu tư dồn quá nhiều cho DNNN, quá nhiều cho các Tập đoàn Kinh tế để rồi họ gây biết bao vấn đề cho nền kinh tế hiện nay”. [17]
Thái độ khinh nông dẫn tới các chính chính sách bỏ rơi nông dân đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trong nông nghiệp đã giảm liên tục từ giữa thập niên 90. Trong dịp tổng kết 30 năm đổi mới vào dịp ĐH 12 nhiều chuyên gia về nông nghiệp thảo luận trên các cơ quan truyền thông. Họ sử dụng ngay lí luận của chế độ toàn trị là, kết quả thực tiễn chứng minh cho lí thuyết đúng hay sai. Khi “Tổng kết thực tiễn” trong 30 năm đổi mới trong nông nghiệp họ đã nhận thấy rất rõ, tốc độ trăng trưởng trong nông nghiệp không tăng, trái lại đã giảm liên tục từ kế hoạch ngũ niên này sang kế hoạch ngũ niên khác.
Theo Tổng Cục Thống kê, khu vực nông, lâm và thủy sản tăng 0,65%, là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 6 năm.[19] Các con số trên giải thích tình trạng chung trong sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp đã bị bỏ rơi, nông dân không được giúp đỡ các mặt cần thiết, nên năng suất lao động trong nông nghiệp rất thấp và giảm liên tục. Trong bản Báo cáo 2016 của Ngân hàng Thế giới (WB) về phát triển nông nghiệp của VN đã xác nhận lối canh tác chậm tiến, lạc hậu thiếu cơ giới hóa nông nghiệp và lạm dụng thuốc trừ sâu, nông dân thất nghiệp gia tăng, chất lượng xấu.[20] WB còn cho biết, những năm gần đây mỗi năm nông nghiệp VN phải chịu thiệt hại khoảng 1 tỉ USD vì mất thị trường xuất khẩu do không tuân thủ các qui định vệ sinh an toàn thực phẩm.[21]
Cuối tháng 8.16 bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn (NN&PTTN) đã họp tổng kết 3 năm tái cơ cấu trong nông nghiệp (2013-15) có mặt Phó TT Trịnh Đình Dũng và bộ trưởng Nông nghiệp Nguyễn Xuân Cường. Các viên chức này xác nhận, không có chuyển biến thuận lợi, vì ruộng đất vẫn bị xé nhỏ cho nên không thể công nghiệp hóa nông nghiệp.[22] Ngân hàng Thế giới cho biết, đất nông nghiệp chia theo đầu người ở VN rất thấp, “chỉ đạt bình quân 0,07 hecta, thấp hơn nhiều so với tỉ lệ 0,27 hecta mỗi người tại Thái lan .[23] TS Lê Đăng Doanh nêu rõ một nguyên khác khiến các sản phẩm nông nghiệp có giá trị rất thấp và nông dân nghèo, vì nền nông nghiệp VN chưa phát triển được công nghiệp gia công chế biến là làm tăng thêm giá trị gia tăng. [24]
Chính vì thế đời sống của mấy chục triệu nông dân tiếp tục trong cảnh đói nghèo, ngay cả ở Đồng bằng Cửu long, vựa thóc cả nước. Họ dẫn chứng, một gia đình nông dân hai vợ chồng và hai con mức thu nhập từ 8 công ruộng ba vụ mỗi năm được tổng cộng 40 triệu đồng. Nếu chia theo đầu người thì mỗi người chỉ được 10 triệu đồng/năm, tức trung bình chỉ được 840.000đ/tháng, tương đương với 40 USD/tháng. Trong khi đó mức thu nhập đầu người bình quân năm 2013 ở VN là 1.960 USD, tức khoảng 150 USD/tháng.[25] Như thế mức chênh lệch giầu nghèo giữa thành thị và thôn quê rất lớn.
Nhìn tổng thể về kết quả 30 năm gọi là “đổi mới” xuyên qua 6 ĐH và bao nhiêu HNTU và các nghị quyết về công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Đỗ Hoài Nam, một nhà khoa bảng hàng đầu XHCN đã từng đóng góp ý kiến cho BCT và BBT trong nhiều nhiệm kì đã phải nhìn nhận tình trạng dẫm chân tại chỗ:
“Sự phát triển của nông nghiệp chủ yếu vẫn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết và phương thức canh tác truyền thống, dựa vào đất đai và lao động thủ công và vẫn nặng về sản xuất lúa gạo phẩm chất thấp, chưa chịu tác động mạnh mẽ của công nghiệp, công nghệ và dịch vụ, nhất là công nghệ cao. Lao động trong nông nghiệp vẫn còn gần 50% lao động toàn xã hội, trong đó trên 90% là chưa qua đào tạo và dân số sống ở nông thôn vẫn còn khoảng 70%”. [26]
Tại QH ngày 22.10.15 bộ trưởng Kế hoạch&đầu tư Bùi Quang Vinh cho biết: “Nhìn lại bao nhiêu năm, nông nghiệp bây giờ vẫn còn tình trạng con trâu đi trước cái cày theo sau. Ruộng của chúng ta chia manh mún, bé tí, từ máy bay nhìn xuống, ruộng, kể cả ở đồng bằng sông Cửu Long, chia nát bét, ô ruộng bé tí bằng căn nhà này thôi. Ngày xưa ruộng thẳng cánh cò bay thì bây giờ nó đã phân đất cho hộ gia đình tự cứu lấy mình trong giai đoạn trước, bây giờ nó đang cản trở lại nền sản xuất lớn…Một cân ngô và một cân đậu tương ở VN đắt gấp ba lần so với Mỹ sản xuất. Cánh đồng của họ thẳng cánh cò bay, một công lao động bằng máy móc bằng 1.000 người VN, nên giá thành ngô của họ chỉ bằng một phần ba giá thành ngô VN. Cho nên họ có sức cạnh tranh”.[27] Các điều kiện vô cùng bất lợi này đã dẫn tới năng suất lao động ở VN trong mọi lãnh vực, kể cả trong nông nghiệp rất thấp. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năm 2013 năng suất lao động của VN thuộc nhóm thấp nhất châu Á-Thái bình dương; thấp hơn Singapore 15 lần, Nhật 11 lần, Nam hàn 10 lần; chỉ bằng 1/5 Mã lai, 2/5 Thái lan.[28]
Tại “Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về chiến lược tam nông” ngày 27.11.18 chính Nguyễn Xuân Phúc đã xác nhận kết quả trên 30 năm trong chính sách tam nông là thất bại trong mọi lãnh vực, thua cả Thái lan và Campuchia: “Việc áp dụng tiến bộ khoa học trong nông nghiệp còn yếu, giá thành sản phẩm cao, chủ yếu là xuất thô, chưa qua chế biến, chưa đột phá trong nâng cao giá trị gia tăng; cơ cấu sản xuất còn manh mún, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn còn chậm, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn nhiều, việc xây dựng thương hiệu nông nghiệp còn yếu kém..”. [29]Mức đầu tư khoa học trong nông nghiệp ở VN chỉ bằng 1/10 Thái lan và 1/7 Phi luật tân. Nếu so với Nam Hàn thì con số này chỉ bằng 1/600.[30]
Mặc dầu vậy Nguyễn Xuân Phúc không dám nhìn thẳng sự thực về sự bỏ rơi nông dân và nông thôn trong suốt trên 30 năm “đổi mới” của những người cầm đầu chế độ toàn trị. Trong Hội nghị trên ông Phúc lại trút trách nhiệm là nông dân ỷ lại: “Chúng ta đang nói tập trung làm nông nghiệp, nông thôn mà nông dân chúng ta có tinh thần ỷ lại thì không bao giờ thành công!”[31]
Nguyên nhân và hiểm họa
Sau 30 năm đổi mới, nhưng tình hình nông nghiệp và đời sống mấy chục triệu nông dân vẫn ở tình trạng rất lạc hậu và đói nghèo. Nhiều chuyên viên, trong đó có cả những cán bộ cao cấp, đã dẫn chứng và cắt nghĩa, như trình bày ở trên, về các nguyên nhân dẫn tới tình hình rất bi đát hiện nay cho 70% dân số. Trong đó tổng hợp lại nổi bật hai nguyên nhân căn bản.
Nguyên nhân hàng đầu rất quan trọng khiến bao nhiều triệu nông dân triền miên rơi vào tình trạng “được mùa mất giá” và vẫn phải lao động theo cách con trâu đi trước cái cày đi sau, vì chính sách vô trách nhiệm của chế độ toàn trị, nhắm mắt rập khuôn theo kiểu DNNN trong nông nghiệp.Việc chế độ cho thành lập các Tổng công ti lương thực I và II vàHiệp hội Lương thực (VFA) chính là cách độc quyền trong nông, lâm và thủy sản. Các DNNN này gần như độc quyền trong việc định giá thóc gạo và thường cấu kết với các thương lái để ép giá nông dân phải bán nông sản theo giá bất lợi.[32] Chế độ toàn trị không tin vào nông dân và không sáng suốt nhận ra được tầm quan trọng của nông nghiệp VN trong việc phát triển đất nước, nên đã không tạo cho giới nông dân những điều kiện và cơ hội cần thiết để tự canh tân sản suất, tự tổ chức những cơ sở thiết yếu trong các khâu canh tác, chế biến và tìm thị trường để các nông sản VN có thương hiệu tốt, khả năng cạnh tranh cao, bán được giá trên thị trường quốc tế….
Các Tổng công ti lương thực nhà nước được độc quyền và được ưu đãi nên chỉ làm việc theo tinh thần công chức, sáng xách ô đi tối xách về, không tha thiết tới quyền lợi của mấy chục triệu nông dân…Không những thế còn thỏa hiệp với nhau và với các đại quan đỏ để tham nhũng và bóc lột nông dân! Đây là thái độ khinh thường nông dân và bỏ rơi nông thôn của nhóm cầm đầu toàn trị trong suốt mấy thập kỉ vừa qua! Chính vì thế cho tới nay mấy chục triệu nông dân vẫn bị nghèo đói và nông nghiệp không ngóc đầu lên được!
Một nguyên nhân quan trọng khác khiến nông nghiệp VN vẫn lạc hậu và nông dân vẫn phải chịu cảnh đói nghèo là do trước sau đảng vẫn ngang ngược coi đất đai thuộc công hữu, vẫn giáo điều nhắm mắt theo ý thức hệ Marx-Lenin. Chính từ khi Nguyễn Phú Trọng làm TBT đã cố tình ngăn cản và chống lại cả quyết định của ĐH 11 đòi sửa lại Luật Đất đai cho phù hợp với quyền lợi của nhân dân.Theo Tổng thanh tra CP thì có đến trên 70% các vụ khiếu kiện là về đất đai.[33]Ở nông thôn nông dân vẫn phải thuê ruộng đất của nhà nước, đại đa số ruộng đất bị chia cắt ra rất nhỏ và không có những biện pháp khuyến khích nông dân canh tác chung cùng có lợi. Nên không thể sử dụng các máy móc nông nghiệp hiện đại từ các khâu làm đất, cấy hạt giống, phân bón, trừ sâu tới gặt hái… Phần lớn các phương tiện canh tác cũ đã lạc hậu vẫn được sử dụng. Đây là lí do khiến năng suất nông nghiệp thấp và dẫn tới đời sống vẫn đói nghèo cùa bao nhiêu triệu nông dân chiếm tới trên 2/3 dân số VN. Mặc dù nông dân VN rất siêng năng và cần cù!
Tóm lại, cuộc sống đói nghèo của nông dân VN suốt gần 70 năm dưới chế độ toàn trị bắt nguồn từ một nguyên nhân căn bản là, thực hành chủ thuyết Marx-Lenin với chính sách coi ruộng đất là thuộc độc quyền của Đảng. Tức là trong thực tế ĐCSVN đã trở thành tên địa chủ độc nhất trên toàn quốc; nó tái lập biện pháp phát canh thu tô của địa chủ trước đây. Chỉ có điều khác là, trước đây địa chủ cho nông dân thuê ruộng đất, nhưng phải trả tiền thuê ruộng đất cho địa chủ. Nay thì ĐCS đóng vai trò này của địa chủ, nhưng với những chính sách tham lam và độc ác hơn, tuy rằng vẫn hô lớn chống địa chủ bóc lột!
***
Ngoài thái độ và chính sách khinh nông của nhà cầm quyền, cũng như sự thiếu năng lực của cán bộ, hiện nay nông nghiệp VN còn đứng trước nguy cơ của biến đổi khí hậu trên toàn cầu do những hậu quả của CO2, đặc biệt là Đồng bằng Cửu long, vựa lúa nuôi dân cả nước. “Bát cơm vàng” đang có nguy cơ biến mất. Khu vực này bao gồm 13 tỉnh, với 12,3 % diện tích và 20% dân số, đóng góp tới 27% GDP cả nước. Hai tỉnh Cà mâu và Kiên giang là khu đất thấp hơn cả mức nước biển. Trong mùa mưa nếu thủy triều cao khoảng một mét thì có nguy cơ đồng ruộng bị chìm trong nước mặn, không thể canh tác. Nạn sụt lún sẽ càng gia tăng. Trong khi ấy từ trước tới nay sông Cửu long là nguồn cung cấp không chỉ hải sản, mà còn đem phù sa làm phì nhiêu đồng ruộng. Nhưng hiện nay TQ đã xây nhiều đập thủy điện ở thượng nguồn sông Cửu long, khiến cho lưu lượng nước bị giảm.
Theo dự báo của Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và nhiều chuyên viên quốc tế, với tình hình gia tăng nhiệt độ trên thế giới tiếp tục như hiện nay thì tới cuối thế kỉ này nhiệt độ ở Đồng bằng Cửu long có thể tăng thêm 1,3-2,8°C, mưa sẽ tăng 4-8%, nước biển dâng từ 66 cm tới 99cm. Nếu nước biển dâng cao thêm 1m có thể làm cho 39% diện tích Đồng bằng Cửu long bị ngập, 35% dân số bị ảnh hưởng. Đây là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu. Nếu tình hình này diễn ra sẽ làm 22 triệu người mất nhà cửa và thiệt hại lên tới 10% GDP.[34]
III. Đầu tư nước ngoài: Khinh trong trọng ngoài,
dẫn tới kinh tế lệ thuộc FDI và công nghiệp nội bị bỏ rơi
Sau khi HK và các nước Tây phương hủy bỏ chính sách cấm vận kinh tế và thương mại với VN từ đầu thập niên 90, chế độ toàn trị CSVN đứng trước hoàn cảnh rất ngặt nghèo. Khi ấy Liên Xô đã sụp đổ, tức là HN mất toàn bộ khu vực “thị trường truyền thống” suốt mấy chục năm từng là chủ lực giao thương và viện trợ cho VN. Trong khi ấy tái lập bang giao với TQ mới bắt đầu và chưa có gì vững chắc. Trong hoàn cảnh đó, muốn tái thiết đất nước chỉ còn cách mở cửa buôn bán với Tây phương, đặc biệt với cựu thù Mĩ. Đây là giai đoạn chủ trương làm bạn với tất cả! Hà nội đưa ra mục tiêu kinh tế đối ngoại là tìm cách thu hút mời các công ti nước ngoài đầu tư trực tiếp vào VN xây dựng các xí nghiệp để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu (Foreign Direct Investment -FDI). Họ cho rằng, đây là chính sách khôn ngoan “đi tắt đón đầu”, như một đòn bẩy để đưa nền kinh tế vốn rất tụt hậu của VN có thể chuyển nhanh sang phát triển canh tân đất nước, nhờ vốn và kĩ thuật hiện đại của các công ti này.
Về lí thuyết, chủ trương này bao gồm một số mục tiêu chính:
Tạo công ăn việc làm và nâng cao trình độ chuyên môn cho công nhân VN
FDI hợp tác với các doanh nghiệp VN, chuyển giao kĩ thuật công nghiệp hiện đại và giúp công nghiệp VN phát triển kiến thức quản trị
Thu được các nguồn ngoại tệ mạnh để làm vốn cho phát triển kinh tế
Các sản phẩm của FDI xuất cảng sẽ mang lại số thuế lớn cho ngân sách quốc gia
Các FDI sẽ sử dụng các kĩ thuật hiện đại, nên tránh làm bãi rác công nghệ
Tuy Luật đầu tư cho nước ngoài đầu tiên ra đời từ 1988 (QH thông qua 29.12.1987)[35], nhưng phải đợi tới giữa thập niên 90 sau khi VN và HK bình thường hóa quan hệ ngoại giao thì các các công ti FDI mới dồn dập vào làm ăn ở VN.[36]Điều 27 Luật đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài năm 2005 qui định các lãnh vực được ưu đãi, trong đó Khoản 3 ghi rõ “Sử dụng công nghệ cao, kĩ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái.”. [37] Tuy nhiên phải đợi tới sau khi VN gia nhập WTO vào cuối năm 2006 thời Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng (TT) thì các công ti lớn quốc tế mới đổ hàng tỉ USD đầu tư vào VN. Chỉ riêng 9 tháng đầu 2008 vốn đăng kí đầu tư nước ngoài vào VN đã lên tới 57 tỉ USD. Trong đó có 8 dự án có vốn đăng kí trên 1 tỉ USD/dự án.[38] Tới cuối 2012 có tất cả 14.364 dự án đang hoạt động với tổng số vốn đăng kí lên tới 212,846 tỉ USD. Trong đó chủ yếu là các công ti FDI với 100% vốn nước ngoài chiếm tới 79,61% tổng số dự án và 66,51% tổng vốn đăng kí; số công ti FDI liên doanh với tư nhân VN và DNNN chỉ chiếm 17,86% tổng số dự án và 25,92% tổng vốn đăng kí.
Trong dịp tổng kết 30 năm chính sách đối với FDI (1988-2018) một số cơ quan và chuyên viên đã phân tích các hoạt động và kết quả của FDI đối với kinh tế VN. Thứ trưởng bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, VN “đã thu hút được trên 25.000 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 320 tỉ đô la Mỹ”.[39] Theo TS Vũ Thành Tự Anh, Đại học Fulbright VN, đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ba thập niên qua “đang tạo ra khoảng 70% giá trị xuất khẩu, 50% giá trị sản xuất công nghiệp và 20% GDP của cả nước”.[40]Trong khi FDI chiếm trên 2/3 tổng xuất khẩu và ½ tổng giá trị sản xuất công nghiệp của VN thì “hệ số chuyển giao công nghệ” của các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội lại “thấp nhất trong khu vực ASEAN, thua cả Lào và Campuchia”. Chính sự kiện này đã được Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ông Vũ Tiến Lộc xác nhận trong cuộc Hội thảo ở HN ngày 30. 8.18. [41]
Nói một cách khác, vai trò của các doanh nghiệp FDI đang đóng vai trò then chốt có tính cách quyết định cho tương lai của kinh tế VN, nhưng hầu như không có chuyển giao công nghệ với các doanh nhiệp tư nhân VN. Nguy hiểm nữa là, rất nhiều xí nghiệp FDI đã sử dụng các máy móc cũ và có trình độ công nghiệp rất thấp, ngày càng đe dọa môi trường sinh thái của VN, điển hình như thảm họa cá chết hàng loạt phủ trắng ven biển các tỉnh miền Trung do đại công ti Formosa gây ra năm 2016. Điều này hoàn toàn trái ngược với các mục tiêu đãđưa ra của nhà cầm quyền toàn trị VN xuyên qua các Luật đầu tư cho các doanh nghiệp nước ngoài tại VN trong hơn 30 năm qua.
Cũng theo báo cáo vào đầu năm 2018 của VCCI, “mỗi năm có khoảng từ 40-50% doanh nghiệp FDI kê khai lỗ, trong đó, có rất nhiều doanh nghiệp lỗ liên tục trong nhiều năm, thậm chí có doanh nghiệp lỗ lũy kế đến mức âm vốn chủ sở hữu, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, kể cả việc mở rộng quy mô kinh doanh. Một số địa phương thu hút nhiều doanh nghiệp FDI như thành phố HCM, Bình Dương, tỉ lệ doanh nghiệp FDI kê khai lỗ lên đến 50-60%, trong đó có nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ trong nhiều năm”.[42] Tình hình rất lạ lùng như thế phải hiểu theo nhiều mặt. Đó là: 1. Những đóng góp thuế thực sự của FDI vào ngân sách quốc gia ở mức rất thấp. 2. Mức chuyển giao kĩ thuật công nghệ cho các doanh nghiệp nội địa rất thấp. 3. Sử dụng các máy móc cũ nên đang tạo nguy hại về môi trường.
Mặc dầu tình hình phát triển của các công ti FDI đi ngược lại với các chủ chương và chính sách của chế độ toàn trị trong việc thu hút đầu tư của nước ngoài, vậy tại sao họ vẫn được mở rộng làm ăn ở VN? Những nghịch lí này của FDI đang diễn ra ở VN trong suốt mấy thập niên qua. Tại sao các nghịch lí ngày không được cải thiện, ngược lại còn đang mở rộng từ thời Nguyễn Tấn Dũng và đang gia tăng từ khi Nguyễn Xuân Phúc làm TT? Những người cầm đầu chế độ toàn trị có làm chủ động trong các chính sách đối với FDI, hay đã bị lệ thuộc và bị sai khiến bởi các nhóm lợi ích cấu kết với các công ti FDI từ ngay trong giai đoạn hoạch định chính sách?
Các công ti FDI tại VN phân loại theo hình thức đầu tư (2012)
TT
Hình thức đầu tư
Số dự án
Tổng vốn đăng kí (triệu USD)
Tỉ trọng (%)Số dự án Tổng vốnđăng kí
1
100% vốn nước ngoài
11.370
141.582,33
79,16 66,62
2
Liên doanh
2.566
55.162,65
17,86 25,92
3
Hợp đồng BOT, BT, BTO
14
5.857,32
0,10 2,75
4
Hợp đồng hợp tác kinh doanh
218
5.469,09
1,52 2,57
5
Công ti cổ phần
195
4.677,21
1,36 2,20
6
Công ti mẹ con
1
98,01
0,01 0,05
Tổng số
14.364
212.846,61
100 100
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, 2013. Xuất xứ: NCKT 4.2013,tr. 47
Nhà nước CS ưu đãi tối đa cho các công ti FDI về nhiều mặt, như đất đai lập công xưởng, được ưu đãi thuế rất thấp các năm đầu, lương công nhân thấp; nhập khẩu máy móc, mua sắm trang thiết bị và hàng từ công ti mẹ hưởng chế độ giảm thuế đặc biệt, giành ưu đãi cho họ chuyển lợi nhuận về công ti mẹ. Ngoài ra để thu hút FDI, mỗi địa phương còn được quyền đưa ra các biện pháp ưu đãi cao hơn; ngoài việc miễn giảm tiền thuế đất, tiền sử dụng đất lên tới 50% theo NQ 62 của CP, còn gia hạn thêm thời gian miễn giảm thuế từ 3-6 năm.[43] Chế độ toàn trị cho lập nhiều Khu chế suất và Khu công nghiệp giành riêng cho các công ti FDI. Các công ti FDI tập trung hoạt động trong lãnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu, như giầy dép, quần áo, linh kiện điện tử. Khi chương trình mở rộng các đô thị được ban hành, nhiều công ti FDI đã tìm cách hợp tác với các DNNN để lợi dụng chính sách ưu đãi của NHNN trong việc vay với lãi suất rất thấp những số tiền rất lớn lên tới 135.000 tỉ đồng (>8,4 tỉ USD) vào khu vực bất động sản. Như các dự án Nam Thăng long-Ciputra, Hồ Tràm của một công ti Canada (4,2 tỉ USD), Starbay của British VirginIslands (1,65 tỉ USD) và Khu công nghiệp Thủ thiêm của Singapor (1,2 tỉ USD) khi ấy. Họ còn lợi dụng sự dễ dãi và khuyến khích của chính quyền trung ương và các địa phương, nên nhiều năm -nhất là thời Nguyễn Tấn Dũng- đã ồ ạt lập 78 sân golf với tổng số vốn đăng kí là 13,3 tỉ USD và chiếm một diện tích 26.170 ha ở 39 thành phố/tỉnh. Ngoài ra cũng trong thời gian này còn có 66 dự án khác xây sân golf.
Chính TCCS đã đăng bài của hai chuyên gia kinh tế của Cơ quan Phát triển của LHQ ở VN tường thuật cách biến đất nông nghiệp thành các sân golf làm nơi giải trí của các nhà tư bản nước ngoài và các quan đỏ. Theo qui định của Nhà nước thì tiền bồi thường cho đất nông nghiệp rất thấp. Không những thế đất xây sân golf còn được coi là dùng vào thể thao, “nên được hưởng mức thuế đất ưu đãi”. Vì thế nhiều công ti FDI đã lợi dụng dùng một phần đất sân golf để xây “khách sạn, nhà hàng và giải trí”. Họ đầu cơ xây các sân golf, khách sạn và các khu giải trí với các ưu đãi cao nhất để hi vọng có thể thu hồi vốn và có lời nhanh. Trong việc xây dựng các khu vực bất động sản, nhiều công ti FDI đã dùng uy tín và mánh lới là công ti ngoại quốc, có quan hệ tốt với các quan đỏ có quyền lực, nên nhiều khi họ chỉ cần xây móng xong là đã rao bán. Người mua (thường là cán bộ có máu mặt) sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn đặt cọc trước. Như vậy là các công ti FDI đã dùng tiền của người mua nhà để xây nhà, họ chỉ phải bỏ ra số vốn rất ít nhưng hưởng lợi nhuận rất cao. Có dư luận cho rằng, dự án Ciputra và Keangnam (Đại hàn) thuộc loại đầu cơ như vậy.[44] Đây chính là cách làm ăn móc ngoặc, làm giầu nhanh bất chính giữa các quan đỏ với nhiều công ti nước ngoài.
Một hiện tượng rất phổ biến là, nhiều doanh nghiệp FDI đã khai lỗ nhiều năm liên tiếp, trong khi đó họ vẫn gia tăng đầu tư tại VN. Như ở Khu chế suất tại Bình dương số doanh nghiệp FDI khai lỗ năm 2010 là 754/1490, chiếm tỉ trọng 50,6%; trong đó có tới 200 doanh nghiệp mức lỗ cao hơn cả vốn. Tại Sài gòn và Đồng nai số doanh nghiệp FDI khai lỗ cũng lên tới 60% và 52,2%. Tại Lâm đồng số doanh nghiệp FDI khai lỗ là 104/111. Mánh lới phổ thông thứ hai của các công ti FDI là khai giá các tài sản như máy móc, thiết bị, nguyên liệu, dịch vụ, phí bản quyền… cao hơn nhiều so với giá thực tế. Mặc dầu đa số máy móc chuyển sang VN đều thuộc loại trình độ kĩ thuật cũ và gây ô nhiễm cao. Đây là thuộc vào các vốn đầu tư, từ đó họ có lợi thế để tính thuế. Họ còn khai vay tiền các ngân hàng với lãi suất rất cao, hoặc các chi phí cho dịch vụ như quản lí, quảng cáo, tiếp thị, đào tạo, thuê chuyên gia. Đây là những chi phí đầu vào. Từ đó vào cuối mỗi năm họ có thể khai lỗ, hoặc lời rất ít để được miễn thuế hoặc chỉ đóng thuế rất ít. Năm 2009 có 760/1.358 (56%) công ti FDI khai lỗ. Các thủ đoạn này làm ngân sách nhà nước thất thu hàng năm rất lớn.[45]
Một hiện tượng phổ thông khác là, đại đa số các công ti nước ngoài hoạt động tại VN theo hình thức 100%, không thích liên kết với các doanh nghiệp VN vì nhiều lí do, từ bí mật nghề nghiệp, khác biệt ngôn ngữ tới sự phân hóa quá nhỏ của các doanh nghiệp tư VN. Đặc biệt nhất là, nhà cầm quyền CS rất cần ngoại tệ qua sự đầu tư của các công ti FDI nên không dám có những chính sách rõ ràng -như TQ và một số nước Á châu- để các công ti FDI phải tích cực hợp tác với doanh nghiệp tư nhân VN. Vì thế các doanh nhân, doanh nghiệp VN và công nhân mất các cơ hội tốt để học tập kĩ thuật, cách quản trị và điều hành các hãng xưởng theo trình độ mới.
Không chỉ chèn ép giới kinh doanh tư nhân VN, các công ti FDI còn tìm cách bóc lột hàng triệu công nhân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, với sự làm ngơ hoặc tiếp tay nhà cầm quyền CS. Tính tới năm 2012 có 283 Khu công nghiệp trên 58 tỉnh/thành phố, chiếm diện tích 76.000 hecta. Trong đó miền Đông Nam Việt nhiều nhất với 88 khu công nghiệp ( 31,1%), Đồng bằng sông Hồng 24,7%, Đồng bằng Cửu long 17,7%, Miền Trung 15,5%. Chia theo tỉnh/thành phố thì Đồng nai có 30 Khu công nghiệp, Bình dương 25, Sài gòn 19, Hà nội 11…Riêng Đồng bằng Cửu long có 51 Khu công nghiệp và 200 cụm công nghiệp chiếm diện tích 25.000ha, nhưng mới sử dụng khoảng 20%. Nhiều Khu công nghiệp bị qui hoạch treo phí phạm đất canh tác.[46] Số lao động làm trong các Khu công nghiệp tăng rất nhanh. 1995 mới có 50.000 công nhân, năm 2000 đã tăng lên 201.000, năm 2007 lên tới 1,04 triệu và 1,765 triệu công nhân vào năm 2011. Bình quân số công nhân làm trong các khu công nghiệp gia tăng hàng năm từ 10-15%.
Trong khi số công nhân gia tăng rất nhanh thì Nhà nước CS không có chính sách để các doanh nghiệp FDI có chương trình xây dựng cư xá cho công nhân. 80% công nhân phải thuê phòng trọ ở bên ngoài. Nếu tính theo tỉ lệ và diện tích các phòng trọ thì thật khủng khiếp: Số công nhân phải sống trong phòng rộng dưới 3m² chiếm tới 19%, 3-5m² (21,4%), 5-7 m² (10,6%),8-10m² (22%), 11-20m² (22,4%); số công nhân có phòng trọ trên 20m² chỉ có 5,9%. Rất nhiều trường hợp 3 công nhân phải thuê 1 phòng 10-12m², giá thuê 250.000-300.000đ/tháng (2012). Không chỉ phải ở trong các phòng trọ chật chội, thiếu tiện nghi, thiếu vệ sinh như các chuồng gà; còn thiếu các nhà trẻ, trường học, trạm y tế, chợ, siêu thị, giải trí…Đấy là chưa kể chính sách “hộ khẩu” đã khiến cho con cái công nhân không được thu nhận vào các trường học. Điều này ảnh hưởng vô cùng bất lợi cho hàng trăm ngàn thiếu niên.[47]
Cuộc sống lam lũ của hàng triệu công nhân, đa số là phụ nữ và con thơ, trong các khu công nghiệp giành cho các công ti FDI là những hình ảnh sống động nhất và tồi tệ nhất như thời Cách mạng Công nghiêp hai thế kỉ trước, với cảnh bóc lột của thời kì tư bản rừng rú. Trong đó có sự cấu kết công khai giữa vua chúa cầm quyền và bọn tư bản bóc lột. Nhưng rất oái ăm và lạ lùng là, tình trạng vô nhân đạo này lại tái diễn vào đầu Thế kỉ 21 tại VN trong khuôn khổ chế độ XHCN; trong đó những người cầm đầu luôn luôn vỗ ngực, đó là chế độ bảo vệ người lao động, bảo vệ quyền làm người!
Không những thế nhiều công ti FDI vi phạm qui luật lao động, thậm chí vi phạm cả luật hình sự đối với công nhân VN. Như ngược đãi công nhân, làm tới 12 giờ/ngày, đánh đập công nhân. Nhiều công ti Nam hàn đã vi phạm. Các vụ đình công diễn ra khá phổ biến trong các công ti của Đài loan và Nam hàn. Năm 2010 xẩy ra 62 vụ đình công ở Sài gòn, trong đó 37 vụ trong các công ti FDI. Trong số này 21 vụ ở các công ti Nam hàn.[48] Số các công ti của Nam Hàn, Đài loan, Hồng kông và Nhật chiếm một tỉ lớn của FDI hoạt động ở VN. Điều này có thể hiểu, các nước này không chỉ là láng giềng mà còn có nền văn hoá tương đồng với VN, hiểu rõ tâm lí và tập quán của người Việt, đặc biệt một số các nước này không coi trọng nhân quyền và quyền lợi của công nhân ngay ở trong nước họ!
Một hình ảnh “thân dân” rất kịch cỡm đã được TT Nguyễn Xuân Phúc dàn cảnh trong chuyến thăm công nhân tại một công ti FDI ở Đồng nai vào cuối tháng 10.2017. Đây cũng là công ti mà hơn một năm trước, khi mới nhận chức TT ông Phúc đã thăm. Nay ông trở lại để xem có tiến bộ hay không. Tại đây TT đã hỏi công nhân về tình hình lao động và cuộc sống hàng ngày của họ. Khi tới bàn ăn của công nhân ông hỏi: “Bữa ăn từ 16.000-23.000 đồng có đảm bảo chất lượng không? Sau giờ làm việc, công nhân có thời gian để sinh hoạt văn hóa, thể thao hay không? Mức lương và cuộc sống có đảm bảo không?”[49] Tại sao Nguyễn Xuân Phúc không tổ chức một cuộc thăm bất ngờ ở một công ti FDI khác để biết các bữa ăn trưa thịt ôi canh ủng chỉ với giá hai ba ngàn đồng; hay đi thăm các phòng trọ như ổ chuồng gà giành cho công nhân?
Theo bộ Kế hoạch và đầu tư, tới cuối 2017 có 128 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam. Lần đầu tiên Nam Hàn đang dẫn đầu với tổng vốn đăng ký 57,1 tỷ USD (chiếm gần 18,2%), thứ hai là Nhật bản với 46,3 tỷ USD, tiếp đến là Singapore và Đài loan.[50]
Tờ Quân đội Nhân dân (QĐND) cũng cho biết, hiện các công ti FDI đang sử dụng khoảng 30% lực lượng lao động công nghiệp”.[51] Nhưng mặt khác, khu vực FDI đang bộc lộ những mặt trái gay gắt; như gây ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng, nạn chuyển giá bất hợp pháp, sử dụng công nghệ lạc hậu. BCT đưa ra mục tiêu là, dùng FDI để lan tỏa công nghiệp hiện đại cho kinh tế tư nhân nội địa, nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy. Theo điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), các công ti FDI “chỉ mua khoảng 26,6% thiết bị, đầu vào từ DN Việt Nam, còn lại là nhập khẩu và nhập từ công ty mẹ. Điều này chứng tỏ, DN Việt Nam đang được hưởng lợi rất ít từ hiệu ứng lan tỏa do dòng vốn FDI mang lại qua quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và nâng cao năng suất”. Trong báo cáo “Việt Nam tăng cường năng lực cạnh tranh và liên kết của DN vừa và nhỏ (DNVVN)-Bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế” Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cũng xác nhận, “các DNVVN của Việt Nam chủ yếu là nhà cung cấp cấp ba (gián tiếp), được mô tả như là ngành sản xuất các nguyên liệu đầu vào, nguyên liệu đơn giản và ít giá trị gia tăng”.[52]
***
Nếu so sánh giữa chủ trương (lí thuyết) và kết quả thực tiễn trong việc thực hiện chính sách FDI gần ba thập kỉ qua của chế độ toàn trị CSVN thì càng thấy rõ sự khác biệt rất rõ rệt như trắng với đen giữa mục tiêu và kết quả:
– Chủ trương dùng FDI để thúc đẩy công nghiệp VN phát triển. Nhưng oái oăm đại đa số các FDI chỉ làm ăn riêng, cho nên đến nay nhiều doanh nghiệp tư VN đã không làm được cái đinh ốc!
– Chủ trương dùng FDI để VN có “công nghiệp xanh”. Nhưng nay nhiều FDI đang biến VN thành bãi rác thải công nghiệp độc hại, không những thế họ chỉ chuyển vào VN các máy móc có trình độ kĩ thuật rất thấp.
– Chủ trương bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân trong các công ti FDI, nhưng thực tế hàng triệu công nhân VN đang bị bóc lột và bạc đãi!
Tự vỗ ngực là những người lãnh đạo CS giầu kinh nghiệm, biết rõ tâm đen của các giới tư bản, nhưng tại sao họ lại trải thảm đỏ mời gọi FDI, thế rồi bị sỏ mũi? Họ nghĩ rằng có thể tương kế tựu kế? Nhưng nếu xét qua nhiều giai đoạn tham gia của FDI ở VN thì cho thấy, họ bị chạy theo, rất bị động chứ không chủ động. Những sự cố về ô nhiễm môi trường đã xẩy ra và các hậu quả vô cùng tai hại của nó, cũng như lương bổng bị bóc lột và đời sống đói rách của hàng triệu công nhân cho thấy, khi lập kế hoạch mời FDI họ ở thế bị động, cứu đảng và cứu mình để nắm quyền nên phải nhắm mắt làm liều.
Lời xác nhận của Nguyễn Phú Trọng trong vụ Formosa: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”. (Xem Chương chín, V). Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị không chỉ giới hạn trong lãnh vực môi trường, mà có giá trị cả trong các lãnh vực khác, như chờ đợi FDI chuyển vào VN những công nghệ với kĩ thuật tiên tiến, hay bảo vệ quyền lợi lao động của công nhân.
Sự tăng trưởng về vốn đầu tư vào VN hay kim ngạch xuất khẩu gia tăng của FDI không đồng nghĩa với những lợi ích cho VN. Nhiều khi đi ngược lại các mục đích ban đầu của CSVN: Xuất khẩu gia tăng nhưng nhập khẩu cũng gia tăng; gia tăng số lượng công ti FDI nhưng lại giảm số công ti FDI hợp tác với doanh nghiệp tư VN và các thiết bị đưa vào VN có trình độ kĩ thuật thấp, đang biến VN thành nơi tiêu thụ các máy móc lỗi thời, nguy hiểm nữa là thành bãi rác đầy chất độc công nghiệp. Điều cực kỳ nguy hiểm nữa là, sự kiện ngày càng lớn mạnh của FDI dẫn tới hậu quả, ngày càng òi ọp của doanh nghiệp tư nhân VN và kinh tế VN càng lệ thuộc bên ngoài!
Cuối tháng 11.18 tại cuộc Hội thảo đánh giá hiệu quả chính sách thu hút và ưu đãi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong các thập niên vừa qua do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức, nhiều chuyên viên đã lên tiếng cảnh báo về những hệ lụy vô cùng bất lợi trong nhiều lãnh vực cả trước mắt và lâu dài của chủ trương “quá sính ngoại” của chế độ toàn trị đối với các công ti FDI. Chuyên viên ngân hàng Phạm Xuân Hòe nhận xét, “khối FDI được rất lớn, còn VN chỉ được mấy đồng lương còi cho người lao động. Trong khi ô nhiễm môi trường không biết phải chi bao nhiêu cho đủ và người công nhân cũng luôn phải đối mặt với rủi ro”. [53]
***
Trước đây cũng như hiện nay một số nước Âu châu cũng như Á châu lấy xuất cảng làm trọng tâm. Trong giai đoạn đầu mãi lực nội địa không cao, vốn ít; nên để tạo điều kiện phát triển nhanh hơn, các quốc gia này cần vốn của cả bên ngoài. Nhưng mục tiêu lâu dài vẫn phải lấy nội lực làm chính. Đây là những suy nghĩ sáng suốt và thực tế. Bởi vì hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp tới đồng tiền bát gạo. Ta không thương ta thì chẳng ai đoái hoài. Tâm lí chung là không ai giúp một cách vô công, có đi có lại. Nhưng phải hiểu tâm lí và động cơ của các nhà tư bản. Đối với họ, lợi nhuận là tiêu chí giá trị cao nhất, nơi nào thu hoạch có lời cao, thuế thấp cùng các ưu đãi khác thì họ sẽ đổ xô tới; nếu không còn thì họ lại bỏ đi tìm nơi khác. Chính tâm lí này của các giới tư bản đã được cựu Phó TT Đức và cựu Chủ tịch Đảng Dân chủ Xã hội Đức F. Müntefering mô tả; ông đã ví giới này như các đàn cào cào, châu chấu, nơi nào có ăn thì cả đàn tới, khi hết rồi thì cả đàn lại bay đi nơi khác kiếm ăn![54]
Như trước đây ở Nhật, Đài loan và Đại hàn và hiện nay ở TQ, một mặt họ khuyến khích tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư ở nước họ. Xuyên qua nguyên tắc hợp tác, các FDI được giành một số ưu đãi nhất định trong hoạt động kinh doanh, nhưng đồng thời phải thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ và các thỏa thuận với các quốc gia này. Trong đó ngoài nhiệm vụ đóng thuế sòng phẳng, còn phải chuyển giao công nghệ tân tiến và đào tạo chuyên môn cho người lao động bản xứ.
Cách vận hành của một nền kinh tế lấy xuất cảng làm trọng tâm có đặc điểm là, các công ti FDI dùng công nhân bản xứ với lương bổng thấp, nhờ đó giá thành các hàng hóa thấp, nên các sản phẩm này có thể bán chạy ở nhiều nước công nghiệp. Nhờ thế các công ti FDI hưởng lợi nhuận rất cao. Trong khi đó nhà nước sẽ thu ngoại tệ để tăng mức ngoại hối và thu được thuế từ các hàng xuất khẩu; nhờ đó ngân sách quốc gia được gia tăng để có thể đầu tư và canh tân đất nước tiến tới tự lập tự cường. Nhưng các mục tiêu và cách thực hiện đường lối kinh tế này chỉ thành công trong một số điều kiện nhất định, ắt có và đủ. Đó là phải có một hệ thống chính trị tốt, trong đó những người nắm vận mệnh đất nước phải có tinh thần trách nhiệm cao, có tầm nhìn sâu rộng; quốc hội, hệ thống tòa án phải có thực quyền; các công chức phải chí công vô tư; có hệ thống báo chí độc lập và các đoàn thể xã hội dân sự được tự do hoạt động. Mặt khác phải có các chính sách khuyến khích và bảo vệ các giới doanh gia và tư thương nội địa trong việc bỏ vốn và sáng kiến vào các hoạt động sản suất và kinh doanh để làm giầu cho chính mình và đất nước.
Nếu chỉ thích hoàng nhoáng bề ngoài, thích giả dối; gộp nhập trên 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng nămtừ FDI vào GDP để trưng diện là lợi tức đầu người ở VN đang tăng nhanh. Nhưng đó chỉ là giả dối, vì phần lớn thu nhập của các công ti FDI lại được chuyển nhanh về công ti mẹ ở mẫu quốc. Cả phần thuế của FDI vào ngân sách quốc gia cũng rất thấp; vì họ được ưu đãi thuế, trốn thuế bằng cách khai lỗ, hay chỉ phải trả mức thuế rất thấp!
Cân nhắc giữa quyền lợi quốc gia và sự phân công quốc tế cùng có lợi cho các bên, thì nếu sự đầu tư của nước ngoài đem lại những lợi ích thiết thực cho việc phát triển nhanh và bền vững cho đất nước, sẽ là một việc rất đáng hoan nghênh. Không nên có thái độ bài ngoại quá khích, nhất là trong giai đoạn toàn cầu hóa. Bế quan tỏa cảng chỉ làm trì trệ đất nước thêm. Nhưng mục tiêu này chỉ có thể thành công, nếu có một chính quyền có tầm nhìn xa trông rộng, biết cân nhắc ưu và khuyết điểm của kế hoạch xây dựng đất nước; có chính sách mở cửa thích hợp, biết sử dụng vốn tư bản nước ngoài, công nghệ tân tiến nước ngoài và kiến thức quản trị và trình độ chuyên môn cao của họ. Đó là tạo những điều kiện ắt có và đủ cho việc canh tân VN. Nhưng suốt trên 30 năm qua các điều kiện trên đều không có!
Tư doanh VN bị bạc đãi và bị chèn ép
Từ trước tới nay, đặc biệt dưới thời Nguyễn Tấn Dũng làm TT, các NQ của nhiều ĐH đảng và chính sách kinh tế của chính phủ đều nhấn mạnh phát triển nội lực. Nghĩa là về mặt lí thuyết, các doanh nghiệp VN (DNNN và tư nhân) phải là nồng cốt cho phát triển kinh tế. Các Luật về Doanh nghiệp tư nhân 2000 và 2005 qui định về hoạt động của kinh tế tư nhân trong nước. Nhưng trong thực tế thì lại hoàn toàn khác. Trong khi các công ti nước ngoài FDI ngày càng bung ra chiếm lãnh thị trường và các DNNN được giành ưu đãi trong tín dụng và đất đai, lại nắm độc quyền nhiều lãnh vực được coi là huyết mạch của nền kinh tế. Còn các doanh nghiệp tư nhân nội địa lại không ngóc đầu lên được, phải chịu đựng một cổ hai ba tròng, vừa bị các DNNN chèn ép, lại bị các công ti FDI cạnh tranh, đồng thời còn bị các quan đỏ móc túi và trấn áp.
Có nhiều con số khác nhau về doanh nghiệp tư nhân VN từ nhỏ, trung bình đến lớn (tính theo số công nhân và vốn đầu tư). Theo Cục Quản lí đăng kí kinh doanh của bộ Kế hoạch và đầu tư, tính tới Quí 1/2014 có tất cả 789.813 doanh nghiệp tư nhân VN đã đăng kí, trong đó 296.206 doanh nghiệp đã phải đóng cửa hoặc phá sản. Riêng từ khi VN gia nhập WTO (2007) số doanh nghiệp tư nhân gia tăng cao, mỗi năm có trên 50.000 doanh nghiệp được thành lập.[55] Nhưng đồng thời số doanh nghiệp ngưng hoạt động hoặc phá sản cũng rất cao. Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp VN ngày 13.4.16, có đến 428.000 doanh nghiệp tư nhân VN phải ngừng hoạt động hoặc giải thể trong giai đoạn 2007-2015, tương đương với 45,5% tổng số doanh nghiệp được thành lập kể từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000 đến nay. [56]
Xét về qui mô lao động thì các doanh nghiệp VN ngày càng có khuynh hướng nhỏ đi. Vào năm 2002 một doanh nghiệp có trung bình 74 lao động, đến 2007 chỉ còn 47 lao động, nhưng tới 2012 lại giảm chỉ còn khoảng 32 lao động. Vào năm 2012 số doanh nghiệp vừa là lớn chỉ chiếm khoảng 4,3%, doanh nghiệp nhỏ chiếm 29% và siêu nhỏ chiếm 66,8% (dưới 10 lao động). Năm 2002 số doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm 53,1% đã tăng lên 66.8% vào năm 2012. Tình hình chung rất đặc biệt là, trong suốt 10 năm (2002-2011) rất ít doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ phát triển thành doanh nghiệp vừa hoặc lớn. Nhưng ngược lại, tỉ lệ các doanh nghiệp vừa lại biến thành nhỏ và siêu nhỏ lại gia tăng. Thành thử nhiều chuyên viên đã rất chua chát phải nêu câu hỏi, tại sao các doanh nghiệp tư nhân VN “không lớn lên được”? [57]
Cũng vào giai đoạn này đã có bài thơ rất chua chát và mỉa mai, vì sao đất nước không lớn lên được với tựa đề “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” của Thạc sĩ Trần Thị Lam, một nữ giáo viên trung học ở Hà Tĩnh, được phổ biến rất rộng rãi và được phổ nhạc. Bài thơ được phổ biến vào dịp sau biến cố thảm họa môi trường do Formosa ở Hà tĩnh gây ra, 4.2016.[58] (Xem phần sau).
Viện trưởng Viện Kinh tế VN Trần Đình Thiên nêu câu hỏi, tại sao Nhà nước vẫn nói là kinh tế chuyển dịch tốt, nhưng công nghiệp VN vẫn yếu?Ông dẫn chứng, công nghiệp chế biến, chế tạo là lãnh vực then chốt trong phát triển kinh tế, nhưng sau 30 năm chỉ tăng 1,6%.Ông dẫn chứng nguyên nhân dẫn tới tụt hậu vì các chính sách sai lầm. Theo ông, “trong thời đại công nghệ cao mà lĩnh vực chế biến chế tạo chỉ tăng như vậy thử hình dung công nghiệp Việt Nam giậm chân tại chỗ hay thụt lùi ghê gớm so với thế giới? Ta thích công nghiệp khai khoáng, xây dựng, tập trung gia công còn lĩnh vực tạo năng lực cốt lõi là chế biến chế tạo lại rất yếu”. Ông trách là, Nhà nước CS đã quá chiều chuộng các công ti FDI, dẫn tới hậu quả là nay tùy thuộc quá nhiều vào họ.[59] Trong khi đó theo chuyên gia Phạm Chi Lan, chế độ toàn trị đã không tạo một sân chơi bình đẳng giữa các hoạt động kinh tế. Trong khi các Doanh nghiệp nhà nước, các công ti FDI và “doanh nghiệp tư nhân thân hữu” được biệt đãi (tiếp cận các nguồn lực, quyền kinh doanh, đầu tư công/mua sắm của chính phủ, bảo hộ để né cạnh tranh…) thì đại đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vị thế rất bất lợi, nên không lớn lên được và dễ bị đào thải. [60]
Tới 2014 cả nước có khoảng gần 3000 doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ và hoạt động rất yếu. Ngay bộ Công thương cũng cho biết, công nghiệp phụ trợ phải sử dụng tới 80% nguyên liệu nhập khẩu, lại chỉ tập trung vào các hoạt động đơn giản như đóng gói, bao bì. Các ngành công nghiệp phụ trợ như giầy dép, dệt may… phần lớn nằm trong tay các công ti FDI. Các công nhân VN chỉ làm công tác gia công; trong khi ấy phần chính nguyên liệu phải nhập cảng, nhất là từ TQ. [61] Trong khi nhóm cầm đầu toàn trị thề thốt là công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế thì nhiều chuyên viên đã chỉ trích và cảnh báo nghiêm khắc là, “hiện nay VN đang trở thành quốc gia có nền công nghiệp gia công toàn diện”, tức là chỉ đi làm thuê và làm những công việc phụ thuộc cho các công ti FDI.[62] Ngoài các nguyên nhân không có sân chơi bình đẳng và bị chén ép, các doanh nghiệp tư nhân VN còn bị cán bộ nhũng nhiễu, hàng năm phải tiếp nhiều phái đoàn thanh tra, muốn được yên thì phải trao “phong bì”! Tiến sĩ Cao Sĩ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, đã cho biết, theo số liệu từ một cơ quan nghiên cứu có tới 73% doanh nghiệp phải lót tay cho cán bộ. [63]
Ngay tại QH vào cuối năm 2015 (22.10.15) Bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư Bùi Quanh Vinh vừa than thở vừa trách móc là: “Một đất nước muốn tự chủ kinh tế thì doanh nghiệp của nước ấy phải phát triển. Doanh nghiệp nội địa phát triển thì mới hỗ trợ cho khu vực FDI, và tiếp thu công nghệ của nước ngoài… Nhiều doanh nghiệp FDI, như Nhật Bản, muốn chuyển giao công nghệ, nhưng doanh nghiệp chúng ta không có nền tảng để nhận. Chúng ta kêu ca doanh nghiệp FDI không chuyển giao công nghệ là do có hai mảng. Thứ nhất họ không chuyển giao, và thứ hai, họ có chuyển giao thì chúng ta cũng không có đủ năng lực tiếp nhận”.[64]
Trong buổi tọa đàm với Hội Doanh nhân trẻ VN vào cuối năm 2018 TS Trần Đình Thiên, nay là thành viên Tổ tư vấn kinh tế của TT, đã phải chua chát nhận xét, sau trên 30 năm “đổi mới” nhưng doanh nghiệp tư nhân VN chỉ đóng góp 8% GDP; trong khi đó đóng góp của FDI lên tới 20% và DNNN khoảng 27-28%. Theo ông, ở trong một nước phát triển kinh tế thực sự với nội lực làm chủ yếu dựa trên kinh tế thị trường thì khu vực doanh nhân nội địa đóng góp đến 60-70%, nếu mạnh thì đến 80-90%. Nhưng ở VN sau trên “30 năm phát triển kinh tế thị trường rực rỡ mà chỉ có 8%”. Một trong những lí do chính là doanh nghiệp tư nhân VN đang bị bạc đãi và chèn ép. Ông dẫn chứng, trong khi các doanh nghiệp FDI chỉ phải chịu mức thuế trung bình là 11% thì các doanh nghiệp VN phải đóng thuế trung bình lên tới 29%, cao hơn gần 3 lần so với FDI![65]
Nói chung lại, trong suốt ba thập niên theo mô hình Kinh thế Thị trường định hướng XHCN sở dĩ các xí nghiệp tư nhân VN không thể vươn lên được vì nhiều nguyên nhân: Bị chế độ toàn trị bỏ rơi và khinh rẻ, bị các DNNN và FDI chèn ép; không được đối xử bình đẳng trong việc tiếp nhận các nguồn lực kinh tế từ vay tiền, lãi suất, thuế vụ tới đất đai. Ngoài ra còn phải thường xuyên bị cán bộ các cơ quan đảng và nhà nước nhũng nhiễu!
Hai trường hợp điển hình về chính sách
của Nhà nước CSVN với các công ti FDI
Nguyễn Xuân Phúc ưu đãi Samsung
Từ tháng 2.17 Lee Jae-yong 49 tuổi, Phó chủ tịch công ti Samsung phải ngồi tù ở Nam Hàn, là người giầu thứ 3 của Nam Hàn với 6,6 tỉ Euro. Ông phải tù 5 năm vì các tội hối lộ, che dấu và khai man. Ông đã hối lộ một số tiền rất lớn cho cựu Tổng thống bà Park để mong sớm trở thành Chủ tịch Samsung. Nhiều cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người ở Nam Hàn phản đối quan hệ bất chính và tệ trạng tham nhũng- hối lộ giữa chính phủ và Samsung. Bà Park cũng bị cách chức Tổng thống. Cha ông là Lee Kun-hee (72t) năm 2009 cũng bị kết án 3 năm tù với các tội tương tự, nhưng không bị ngồi tù; từ 3 năm qua sau khi bị nhồi máu cơ tim trở thành hôn mê nhưng vẫn là Chủ tịch Samsung. Đầu tháng 2. 2018 Tòa án trả tự do cho ông với điều kiện. Tập đoàn Samsung chiếm tới 20% tổng sản lượng kinh tế của Nam Hàn, có 490.000 nhân viên. Trong quí 3/2017 đã đạt lợi nhuận 11,2 tỉ € (12,91 tỷ USD ), cao nhất từ trước tới nay. Dự đoán trong tương lai mức lợi nhuận còn cao hơn nữa.[66]
Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc tại trụ sở chính phủ ngày 6.10.17 Tổng giám đốc Samsung Electronics Hàn quốc Shin Jong Kyun đã cho biết, sau 10 năm đầu tư vào VN đến nay tổng vốn đầu tư của Samsung đã lên tới 17 tỷ USD. Samsung dự kiến sẽ xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm 2017, chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu của VN. Ông còn nhấn mạnh, các nhà máy đặt tại VN có quy mô lớn nhất, hiện đại nhất của Samsung.[67] Đây là cuộc gặp lần thứ hai của đại diện Samsung với Nguyễn Xuân Phúc trong năm nay và có lẽ lần này CP xác nhận giành ưu đãi sử dụng đất và thuế nhiều hơn nữa cho Samsung.
Cho tới trước khi cuộc gặp này Samsung đã nhận được nhiều ưu đãi đầu tư từ Chính phủ CS: “Hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 30 năm, miễn 4 năm và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo”. Ngoài ra, “các địa phương cũng đã giành cho Samsung các ưu đãi về tiền thuê đất, tiếp tục cho Samsung được giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm tiếp theo sau giai đoạn 9 năm đó”.[68] Các đại diện của Samsung vẫn chưa thỏa mãn với các ưu đãi này, nên họ đòi được đãi ngộ cao hơn sau việc gia tăng đầu tư. Trong cuộc gặp TT Nguyễn Xuân Phúc ngày 26.7.17 một đại diện Samsung ở Thái nguyên đã đề cao sự đầu tư của Samsung và cam kết “xuất khẩu hơn 50 tỷ USD trong năm nay”, tương đương với gần ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.[69]
Với mức kim ngạch xuất cảng gia tăng cao và nhanh như vậy, nên Nguyễn Xuân Phúc có thể dùng nó để phô trương thành tích tăng trưởng kinh tế của VN dưới quyền của ông! Vì thế ông đã hứa với đại diện Samsung là sẽ ra lệnh cho “Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ sớm cấp chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao cho Samsung VN vì đã đạt được các tiêu chí cần thiết”.[70]Sớm nhận được giấy chứng nhận “Doanh nghiệp công nghệ cao” là nỗ lực hàng đầu của Samsung từ lâu. Vì khi đó Samsung sẽ nhận được những ưu đãi cao nhất về đất đai và thuế.[71]
Trong kì họp cuối năm của QH đã có dư luận cho là, việc tăng trưởng quí 3/2017 tăng đột biến lên tới trên 7% là nhờ sự đóng góp quan trọng của hai đại công ti FDI Samsung và Formosa.[72]Có lẽ để giải quyết gánh nặng của nợ công ngày một chồng chất trong khi mức tăng trưởng kinh tế càng đi xuống, nên từ khi làm TT, Nguyễn Xuân Phúc còn dành ưu đãi đặc biệt cho các công ti FDI hơn cả người tiền nhiệm, đặc biệt cho Samsung. Cho nên Samsung đã đầu tư dồn dập vào VN để mở rộng các hoạt động kinh doanh trong năm 2016-2017. Chỉ trong nửa đầu năm 2017, các công ty Samsung đạt doanh thu 27,4 tỷ USD (622.000 tỷ đồng); lợi nhuận sau thuế đạt 3,1 tỷ USD (70.600 tỷ đồng).[73] Nếu tính toàn năm 2017 Samsung đã đạt được lợi nhuận ròng là 5,8 tỉ USD, trong khi ấy chỉ mới phải đóng thuế 186 triệu USD cho nửa năm 2017.
Trong cuộc gặp PTT Vương Đình Huệ ngày 17.11.17 ông Shim Wonhwan, Tổng giám đốc Tổ hợp Samsung VN, cho biết, hiện công ti đã có ba trung tâm sản suất tại VN ở Bắc ninh, Thái nguyên và Sài gòn, tổng số lao động đang làm việc trong các nhà máy của Samsung tại VN là 180.000 người (bao gồm cả 20.000 người làm bảo vệ và nhà ăn). Con số này không kể các nhân viên làm việc trong các đơn vị cung ứng của Samsung.[74] Trong đó số phụ nữ còn trẻ chiếm tới 75% .[75] Như vậy Samsung ở VN đứng thứ hai chỉ sau Samsung mẹ ở Nam Hàn, đồng thời là công ti FDI lớn nhất ở VN. Samsung tại VN tập trung sản xuất máy điện thoại cầm tay tối tân và các máy truyền hình có kĩ thuật cao nhất trên thế giới, xuất khẩu sang khoảng 120 nước.
Samsung hiểu được vai trò cực kỳ quan trọng của họ trong nền kinh tế VN, nên họ đang tìm mọi cách ép chính quyền CSVN phải gia tăng ưu đãi, đồng thời chèn ép công nhân VN. Điều này có thể thấy rõ trong cách đối xử với các đại diện của Samsung của các giới chức cao cấp VN. Vài năm trước các đại diện của Samsung thường gặp trực tiếp Bộ trưởng 4 T và được phổ biến rộng rãi trong các cơ quan báo đảng. Nhưng hiện nay cả TT lẫn Phó TT gặp trực tiếp các đại diện của Samsung. Điều này chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh đã tiên đoán trước đây vài năm, “Chính quyền có những ưu đãi để thu hút Samsung và Samsung có thể đòi các ưu đãi đặc biệt cao hơn mức bình thường vì họ biết vị thế của mình”. [76]Do được miễn và giảm thuế tối đa nên trong những năm qua, Samsung đã “tiết kiệm” được hàng tỷ USD tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Với thuế suất rất thấp, VN thực sự đã trở thành “thiên đường thuế” của tập đoàn này. Đây cũng là lý do mà Samsung ngày càng rót nhiều tiền đầu tư cũng như chuyển nhiều hoạt động sản xuất vào VN.[77]
***
Trước những đòi hỏi của phía VN là Samsung nên để các doanh nghiệp VN tham gia, trong cuộc hội thảo “30 năm lan tỏa vốn FDI” 7.10.17 ông Bang Hyun Woo, Phó tổng giám đốc Samsung VN đã nói thẳng, “các sản phẩm của Samsung đang được xuất khẩu đi toàn cầu và những linh kiện mà chúng tôi sử dụng đòi hỏi phải rất tin tưởng, liên quan đến chất lượng vô cùng cao. Nói là doanh nghiệp VN ngay bây giờ có thể tham gia vào chuỗi cung ứng này vô cùng nan giải”. Có lần Samsung còn trách móc là, công nghiệp VN chậm tiến đến mức chưa làm được cả cái ốc! Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng đã nhận xét:
“Câu chuyện cái đinh ốc bùng lên trong nước từ tháng Chín. Báo chí đăng tin công ty Samsung điện tử thú nhận cơ xưởng ráp máy điện thoại của họ ở Bắc ninh không tìm ra xí nghiệp nào của người VN có thể cung cấp những cây đinh xoắn trôn ốc, còn gọi là ốc vít.”. Nhưng rốt cuộc, có 67 doanh nghiệp cung cấp các linh kiện cho SEV; đại đa số là các doanh nghiệp của người Ðại hàn, Nhật bản, Singapore, Mã lai. Chỉ có bốn doanh nghiệp VN cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho SEV, mà việc chính của họ là làm bao bì, in ấn. Ông Shim Won Hwan, tổng giám đốc Samsung ở VN mới, nói tại một hội thảo ở HN vào tháng Chín vừa qua rằng, “không doanh nghiệp VN nào ‘nắm bắt’ được cơ hội, họ chỉ cung ứng được những sản phẩm in ấn, bao bì!” Còn những thứ “cao cấp” như cái đinh ốc vít, người VN làm không được theo tiêu chuẩn của Samsung! Họ cũng không kiếm mua được những bộ phận “sạc” điện cho cell phone do người VN làm”.[78]
Tới giữa năm 2017 chính báo Infonet của bộ 4T cho biết, mới chỉ có 25 doanh nghiệp VN tham gia chuỗi cung ứng cấp 1 cho Samsung. [79] Nhưng khi giải trình trước Quốc hội tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội vào 1-11.17, bộ trưởng bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đề cập đến vấn đề phát triển công nghiệp hỗ trợ lại cho biết, hiện có khoảng 30 doanh nghiệp cung cấp linh kiện điện tử trực tiếp cho Samsung tại VN và đều là các doanh nghiệp FDI, chứ chưa có bất kỳ doanh nghiệp nội địa nào.[80]Trong khi đó khi làm việc với đại diện Samsung ở Thái nguyên ngày 26.7.17 để xét việc giành ưu đãi thuế đặc biệt cho Samsung Nguyễn Xuân Phúc đã hết lời khen ngợi là, hiện đã có “215 nhà cung cấp là doanh nghiệp VN” và “tỉ lệ nội địa hóa của Samsung VN đạt 57%”.[81] Ông Phúc đưa ra con số cao gấp nhiều lần về việc các doanh nghiệp tư VN tham gia hệ thống xí nghiệp phụ trợ cho Samsung là để có cớ xếp Samsung vào Luật Công nghệ cao? Một điều rõ ràng nhất là, Samsung VN nhập khẩu từ Samsung mẹ ở Hàn quốc hầu như toàn bộ các máy móc và linh kiện điện tử. Đây cũng là lí do chính khiến mức nhập khẩu hàng hóa vào VN của Nam Hàn đã gia tăng rất mạnh trong vài năm gần đây.
Gần 200.000 công nhân VN, đại đa số là phụ nữ trẻ chỉ làm gia công, phải lao động rất vất vả dưới những điều kiện nghiêm ngặt, nhưng lương bổng lại rất thấp. Lê Đăng Doanh đã nhận xét, “năng suất lao động của công nhân VN làm đạt 80% năng suất lao động, trong khi tiền lương chỉ bằng khoảng 10%”. Phần lớn các phụ nữ này đã bỏ quê ra tỉnh để làm công nhân cho Samsung. Cuối tháng 11.17 Tổ chức phi chính phủ Thụy Điển IPEN -một tổ chức phi vụ lợi có uy tín quốc tế, chuyên về bảo vệ sức khỏe và môi trường- phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển ở HN (CGFED), đã công bố Bản báo cáo về điều kiện làm việc của nữ công nhân ở các nhà máy điện tử của Samsung tại VN. Theo báo cáo này, IPEN và CGFED đã phỏng vấn 45 nhân viên Samsung và đưa ra nhận xét:
“Tiếng ồn ở khu sản xuất cao hơn nhiều so với cho phép của VN, tất cả nhân viên được phỏng vấn đều cảm thấy mỏi mệt trầm trọng và chóng mặt, sẩy thai ở người lao động diễn ra thường xuyên..”. Công nhân phải đứng làm việc suốt 8-12 giờ, công nhân mang thai cũng phải lao động như vậy. Nhiều công nhân bị sổ mũi, rối loạn tiêu hóa, đau chân…Báo cáo còn cho biết, hàng ngày công nhân bị Samsung kiểm soát quá nghiêm ngặt, “thời gian nghỉ ngắn và nếu muốn đi vệ sinh thì lại phải được cho phép ra vào đặc biệt”.Báo cáo đưa ra yêu cầu, “phải điều tra bổ sung về việc rò rỉ hóa chất. Bởi người lao động đang làm việc trong môi trường mở tiếp xúc với nhiều loại hóa chất đa dạng nhưng lại không nhận thức được về những rủi ro hóa chất trong công đoạn lắp ráp”.[82]
Ngay hôm sau đại diện Samsung đã lên tiếng phủ nhận các lời cáo buộc trên. Samsung “công nhận có sử dụng hóa chất trong một số công đoạn, nhưng đều áp dụng các biện pháp để công nhân không bị phơi nhiễm nhờ thiết bị thoát khí, cùng việc đeo thiết bị bảo hộ”. [83] Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội cho biết, vào tháng 7.17 đã thanh tra ở hai trung tâm của Samsung ở Bắc ninh và Thái nguyên và cho biết, phụ nữ mang thai từ tháng thứ 7 được nghỉ. Theo Bộ, các cáo buộc khác trong Bản báo cáo của IPEN là “chưa thuyết phục”. Nhưng Bộ xác nhận Samsung đã vi phạm pháp luật về qui chế lao động. “Samsung chia thời gian làm việc thành hai ca. Ca ngày 8-20h, ca đêm từ 20h đến 8h sáng hôm sau và đưa vào nội quy lao động, luân phiên làm việc 4 ngày liên tục sẽ được nghỉ 2 ngày”. Qui định này trái với Luật lao động 2012. Theo đó giờ làm việc không quá 8h/ngày và không quá 48h/tuần; giờ làm việc ban đêm từ 22h-6h sáng hôm sau; giờ làm thêm không quá 30h/tháng, 200h/năm. [84]
Nếu giữ thái độ khách quan và thận trọng thì những lời xác nhận trên của Thanh tra của bộ Lao động & thương binh, xã hội có lẽ mới chỉ là một phần rất nhỏ của sự thực. Vì trong quá khứ đã chứng minh nhiều lần, các cơ quan thanh tra của đảng cũng như chính phủ không thể tin cậy.Như trong các vụ PMU 18, Vinashin và Formosa các cơ quan thanh tra của nhiều cơ quan đã thanh tra, nhưng rốt cuộc đều có báo cáo tốt! Tuy nhiên những điều nêu trong Báo cáo này trái ngược với khen ngợi của Nguyễn Xuân Phúc vài tháng trước. Khi ông thăm công ti Samsung ở Thái nguyên đã nói là, “đời sống công nhân, người lao động ngày càng được nâng cao, trong đó công ty quan tâm đến khu ăn ở, giải trí, lao động nữ…”[85]
***
Không ai phủ nhận công ti Samsung là một trong những công ti điện tử hàng đầu trên thế giới hiện nay. Nó cũng là một trong vài công ti lớn nhất của Nam Hàn và đóng góp phần quan trọng cho sự phát triển và hưng thịnh kinh tế của nước này. Nhưng đó không phải là công lao riêng của Samsung mà còn là cả nửa triệu công nhân của công ti ở Nam Hàn và của nhân dân Nam Hàn nói chung. Trong đó không thể quên được những cuộc biểu tình của hàng trăm ngàn người phản đối chính sách bạc đãi công nhân và hối lộ của các Ban giám đốc công ti này.
Mặc dầu chế độ toàn trị ở VN giành rất nhiều đặc ân để Samsung chỉ trong vài năm trở thành nhà đầu tư FDI lớn nhất hiện nay ở VN kể cả về vốn và kim ngạch xuất khẩu. Nhưng Samsung có thực sự phục vụ phát triển kinh tế VN theo những mục tiêu đề ra của chế độ toàn trị trong việc thu hút FDI vào VN hay không? Đó là để các xí nghiệp VN cùng tham gia trong các khâu sản xuất để nâng cao trình độ kĩ thuật và quản trị, bảo vệ quyền lao động của hàng trăm ngàn công nhân và đóng góp vào sự phát triển kinh tế của VN.
Mặc dầu trong những năm gần đây Samsung ở VN đạt được lợi nhuận hàng năm nhiều tỉ Mĩ kim, phần chính là vì nhà cầm quyền ở trung ương và địa phương đã ưu đãi thuế rất cao từ xuất cảng tới nhập cảng các sản phẩm. Nhưng ngược lại số xí nghiệp tư nhân VN tham gia với Samsung có thể đếm trên đầu ngón tay. Gần 200.000 công nhân, phần lớn là phụ nữ trẻ, phải chịu những điều kiện lao động rất bất lợi, từ lương bổng tới các bảo hiểm xã hội. Nói chung là công ti tư nhân VN chỉ đứng bên lề và công nhân VN chỉ đóng vai làm gia công cho Samsung. Đây là chính sách đem con bỏ chợ của chế độ toàn trị. Nó thể hiện rõ ràng đây là chủ chương đầu cơ đầy rủi ro và rất phiêu lưu.
Những người đứng đầu Samsung nắm bắt được những nhược điểm của những người cầm đầu chế độ toàn trị CSVN là trình độ quản trị kinh tế rất yếu, nền kinh tế đang đứng trước vực thẳm, nhưng chỉ thích đề cao thành tích bề ngoài, cơ chế và cán bộ tham nhũng và bất lực. Vì thế chỉ trong ít năm Samsung đã trở thành trụ cột của kinh tế VN, hiện nay chiếm tới hơn ¼ tổng kim ngạch xuất khẩu của VN. Nhưng trong thực tế những thành công này chỉ đem lại lợi ích riêng rất lớn và rất nhanh cho Samsung. Do sự gia tăng xuất khẩu rất lớn của Samsung nên Nguyễn Xuân Phúc đã hô hoán là kinh tế VN đang phục hồi, đạt tăng trưởng cao nhất sau nhiều năm. Nhưng nếu tính toán nghiêm túc sẽ thấy Samsung không đóng góp quan trọng vào ngân sách quốc gia của VN. Vì Samsung được hưởng các ưu đãi thuế rất cao. Ngoài ra mức xuất khẩu gia tăng thì mức nhập khẩu của Samsung cũng gia tăng rất mạnh.
Tóm lại, mặc dầu những mục tiêu trong việc mời gọi Samsung đầu tư tại VN đã không đạt được, nhưng nhà cầm quyền CSVN vẫn liên tiếp giành từ ưu đãi này tới đặc quyền khác cho Samsung.Sự hoạt động càng bung ra của Samsung càng chứng tỏ có sự tiếp tay của những người có thế lực nhất trong chế độ. Chính các sự kiện này đã dẫn tới câu hỏi, tại sao trong giai đoạn Nguyễn Phú Trọng đang hô hoán đốt lò chống tham nhũng, nhưng một công ti nổi tiểng về hối lộ như Samsung -ngay cả ở chính quốc Nam Hàn- lại đang được nâng đỡ và chiều chuộng hết mức ở VN? Nguy hiểm cực kỳ khác nữa là, nền kinh tế VN đang ngày lệ thuộc nhiều mặt vào một công ti lớn nước ngoài. Điều này có thể dẫn tới những hậu quả rất nguy hại cho cả kinh tế lẫn chính trị VN! Chính sách đối với Samsung nói riêng và với các công ti FDI nói chung từ Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng tới Nguyễn Xuân Phúc không phải là mã tìm mã, nhưng đúng là ngưu tìm ngưu!
Nguyễn Phú Trọng ưu ái Formosa
Tại sao ông Trọng lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa,
giữa lúc hàng triệu nhân dân là nạn nhân do thảm họa cá chết hoàng loạt?
Ngay từ đầu tháng 4.16 đại diện sở Nông nghiệp-phát triển nông thôn (NN-PTNT) Hà tĩnh cho biết, “cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xã Kỳ anh) vào ngày 7.4. Ngày 11.4, sau khi công ty Grobest tại xã Kỳ phương (thị xã Kỳ anh) cấp nước biển vào ao nuôi khoảng 6 giờ đồng hồ thì xảy ra hiện tượng tôm nuôi chết hàng loạt. Đến ngày 14.4, ngao nuôi tại 2 xã Kỳ hà và Kỳ ninh tiếp tục bị chết, gây thiệt hại khoảng 4,71 tỉ đồng”.[86] Khi ấy Phó phòng Kinh tế và đô thị thị xã Kỳ anh Nguyễn Thị Thủy cũng cho biết, “địa bàn xã Kỳ lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày”. [87]
Các địa danh này là khu vực nằm cạnh Khu công nghiệp Vũng áng khổng lồ của công ti Đài loan Formosa Hà tĩnh (FHS). Đến giữa tháng 4 các tin dồn dập cùng những hình ảnh nhiều loại cá lớn nhỏ chết hàng loạt rất khủng khiếp và kinh hoàng suốt mấy trăm cây số dọc duyên hải từ các tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị, Thừa thiên-Huế do chính các báo lề đảng như Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động, Dân trí, VTV, VNNet… phổ biến đã tràn ngập dư luận các tỉnh ven biển miền Trung làm nhân dân rất hoang mang lo lắng. Hàng chục ngàn ngư dân không dám ra biển đánh cá, người dân cả nước không dám ăn cá, dịch vụ du lịch các bãi biển miền Trung thu hút hàng triệu du khách VN và ngoại quốc lo lắng bị mất khách!
Mãi tới ngày 19.4 Tổng cục Thủy sản (Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn) mới đến Hà tĩnh kiểm tra về nguyên nhân cá chết và cho biết, “cá chết là do chất độc gây ra nhưng chưa xác định đó là chất gì”.[88] Điều này có nghĩa là phải khẩn trương nghiêm túc điều tra tiếp để tìm ra nguyên nhân gây ra nạn cá chết hàng loạt, tàn phá và hủy hoại môi trường thiên nhiên và de dọa cuộc sống của hàng triệu ngư dân và những người sinh sống bằng dịch vụ du lịch.
Giữa khi ấy báo chí đưa tin, “Tổng bí thư kiểm tra tiến độ dự án Formosa”.[89] Nhiều người nghĩ rằng, vì vừa được tái cử TBT nên Nguyễn Phú Trọng đã nhạy cảm trước nỗi lo sợ và sự bất bình của nhân dân về thăm Hà tĩnh và khu công nghiệp gang thép Formosa để thúc đẩy cuộc điều tra về vụ cá chết hàng loạt. Nhưng thật là thất vọng và sai lầm lớn, ngày 22. 4 Nguyễn Phú Trọng cầm đầu phái đoàn cao cấp của đảng và chính phủ gồm Nguyễn Văn Bình, UVBCT, Trưởng Ban Kinh tế TU; Nguyễn Văn Nên, Bí thư TUĐ, Chánh Văn phòng TU và lãnh đạo nhiều Ban, Bộ, ngành TU về thăm Hà tĩnh. Ông giành toàn thời gian tới thăm khu công nghiệp gang thép và cảng nước sâu Sơn dương Formosa Hà tĩnh. Dự án này rất khổng lồ với mức đầu tư giai đoạn 1 lên tới 10,5 tỉ USD.[90] Ban giám đốc của FHS đã hoan hỉ báo cáo cho Nguyễn Phú Trọng biết, nhà máy sản xuất thép, nhiệt điện, cầu cảng đã bắt đầu hoạt động!
Ban giám đốc FHS còn hãnh diện báo cáo với ông Trọng, từ tháng 12. 2015 FHS đã cho ra lò sản phẩm thép cuộn cán nóng đầu tiên và đến nay đã có hơn 7.000 tấn thép cuộn được xuất ra thị trường trong và ngoài nước. “Dự kiến, tháng 6. 2016 sẽ hoàn thành và đưa vào hoạt động lò cao số 1. Khi đi vào hoạt động, đây sẽ là nhà máy luyện gang thép lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện nay”.[91]Nguyễn Phú Trọng và phái đoàn cao cấp rất chăm chú và ngưỡng mộ thành quả kinh doanh của FHS. Trong dịp này tuyệt đối từ Nguyễn Phú Trọng tới các nhân vật cao cấp trong phái đoàn không ai đả động một câu hỏi nào với Ban giám đốc Formosa đến thảm khốc cá chết hoàng loạt đang bùng nổ từ đầu tháng 4 khởi đầu từ cảng Sơn dương thuộc khu công nghiệp Vũng Áng của FHS khiến cho nhân dân cả nước đang lo lắng và bất bình “Cá chết trắng biển miền Trung” ![92] Ông Trọng và phái đoàn cũng không đến thăm các nạn nhân! Tại sao người cầm đầu chế độ CS vẫn vỗ ngực là bảo vệ quyền lợi người lao động, nhưng lại chẳng thèm ngó tới thảm trạng của ngư dân, trong khi ấy lại khen ngợi và vuốt ve tỉ phú Dollar nước ngoài? Chả lẽ người đứng đầu chế độ toàn trị lại không biết thảm trạng môi trường ngay chính nơi ông tới thăm đã diễn ra từ hơn ba tuần?
Chỉ một ngày sau Đinh Thế Huynh, Thường trực BBT và khi đó được coi là kế nghiệp ông Trọng, cũng có mặt tại Quảng trị, không xa Hà tĩnh. Ông đã chỉ họp với lãnh đạo Quảng trị về tình hình kinh tế, xã hội, quốc phòng-an ninh và xây dựng đảng; bàn cả việc tôn tạo, nâng cấp Khu tưởng niệm Lê Duẩn. Ông còn giành thời gian đi thăm Nghĩa trang Trường sơn. Nhưng người đứng thứ hai trong đảng cũng tuyệt nhiên không thèm đả động tới thảm trạng “Cá chết trắng biển miền Trung” và cũng chẳng thèm tới thăm hỏi dân chài, những nạn nhân ở Quảng trị sinh sống ra làm sao từ khi xẩy ra đại nạn cá chết hàng loạt![93]
Ngày 17.4 giữa lúc tiếng than và nỗi bất bình của nhân dân về “Cá chết trắng biển miền Trung”, tân TT Nguyễn Xuân Phúc đã giành chọn ngày thăm Quảng trị, nhưng cũng không có thì giờ đi thăm các nạn nhân ngư dân đau buồn, chỉ giành toàn thời gian thăm Nghĩa trang Trường sơn, Nhà lưu niệm Lê Duẩn và Thành cổ Quảng trị.[94] Việc cố tình chọn những địa chỉ trên tới thăm viếng đã cho thấy ông Phúc vẫn chỉ muốn khơi dậy hận thù giữa các tầng lớp nhân dân mặc dầu đã sau 41 năm “chiến thắng”, thay vì “hòa giải dân tộc” như những lời ngon ngọt trước đây. Ông Phúc cũng cố quên lời khuyên chân thành và thực tế của cố TT Võ Văn Kiệt là, kỉ niệm ngày “giải phóng”“có hàng triệu người vui, nhưng cũng có hàng triệu người buồn”!
Trước nỗi bất bình và lo âu của nhân dân cả nước, vì đâu mà nạn cá chết diễn ra từ cảng Sơn dương của khu kinh tế Vũng áng thuộc Formosa suốt gần ba tuần mà vẫn không tìm ra được nguyên nhân; ngày 25.4 tờ Tuổi trẻ đã có cuộc phỏng vấn ông Chu Xuân Phàm, Trưởng văn phòng Formosa tại HN, về vụ cá chết hàng loạt bắt đầu từ bờ biển Khu công nghiệp Formosa. Ông Phàm đã trả lời thẳng băng:
“Trước khi xây dựng dự án này thì công ty phải xin phép Nhà nước VN. Nhiều khi được cái nọ mất cái kia, đây là tôi nói thật lòng. Hôm nay nhà nước mình muốn cho ngư dân đánh bắt ở đây hay là chọn cái nhà máy thép ở đây, đương nhiên Nhà nước phải có sự cân nhắc. Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây. Nhưng bây giờ mà nói tôi không thể xây dựng nhà máy thép ở đây mà không ảnh hưởng đến con cá, con tôm. Đương nhiên mình cố gắng làm một nhà máy đạt được tiêu chuẩn quy định của nhà nước. Có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”. Rồi ông đưa ra kết luận rất tỉnh bơ và đầy thách thức, coi việc hàng triệu nhân dân miền Trung đang bị điêu đứng không đáng quan tâm bằng sự tồn tại của Formosa: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm Thủ tướng cũng không giải quyết được…”[95]
Tại sao Trưởng văn phòng Formosa tại HN đã có những phát biểu rất phách lối, khiêu khích gây sốc như vậy khi trả lời phóng viên Tuổi trẻ vào sáng 25-4? Có phải chính thái độ rất thờ ơcủa TT, vô cảm trước hàng trăm ngàn nạn nhân của tai nạn cá chết hàng loạt; đặc biệt là sự ưu ái tới thăm Ban giám đốc Fomosa ngày 22.4 của Nguyễn Phú Trọng, người cầm đầu chế độ toàn trị, làm họ tin rằng, họ có chỗ chống lưng rất vững chắc, không chỉ ở HN mà còn cả BK nên chẳng ai có thể làm gì Formosa được?
Từ sau trận đánh ngã “Đồng chí X” ông Trọng đang trở thành người hùng nên ai cũng sợ? Vì thế không thèm nhắc tới đại nạn “Cá chết trắng biển miền Trung”, lại đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc Formosa. Thử hỏi như thế thì bọn quan cấp dưới bố bảo không dám nêu đích danh Formosa ra tố. Chính vì thế, Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản, bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Phạm Khánh Ly cho biết, “đoàn công tác không vào kiểm tra tại khu công nghiệp Vũng áng được, vì đây là khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài, đoàn không có thẩm quyền”.[96] Như vậy Ban giám đốc Formosa đã coi khu công nghiệp của mình giống như sứ quán của một nước bất khả xâm phạm.[97] Họ cho ai vào, làm gì, làm đến đâu trong các công xưởng của họ là quyền riêng của họ. Các cơ quan điều tra của VN nếu có vào cũng chỉ làm những gì họ cho phép mà thôi!Chính vì thế Formosa đã dám nói công khai, “không có bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ sự liên can” của công ty trong vụ việc này, và giới chức VN đã “liên tục vào bên trong công xưởng tiến hành kiểm tra hệ thống xử lý nước thải, lấy mẫu nước thải” kể từ 22.4 tới nay, tức là sau chuyến thăm của Nguyễn Phú Trọng!
Chính vì vậy chỉ một ngày sau khi Nguyễn Phú Trọng thăm Formosa, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cũng nói giống như tin trên đây của Ban giám đốc Formosa. Ông cho biết về kết quả kiểm tra bước đầu, nguyên nhân do môi trường nước, qua phân tích mẫu những chỉ số thì không có gì bất thường trừ một số mẫu ở Huế mang tính cục bộ.[98] Tuyên bố này hoàn toàn ngược lại với nhận định của Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn Hà tĩnh vào đầu tháng 4 cho biết, “hiện tượng cá nuôi ven biển và cá tự nhiên chết bất thường xuất hiện từ ngày 6.4 tại vùng ven biển xã Kỳ lợi và tại xã Kỳ hà, Kỳ ninh (thị xá Kỳ anh) vào ngày 7.4”. Và cũng trái với sự xác nhận của Phó phòng Kinh tế và đô thị (Kỳ anh) Nguyễn Thị Thủy “địa bàn xã Kỳ Lợi xuất hiện cá chết đầu tiên nằm cách cảng Sơn Dương của khu kinh tế Vũng Áng khoảng 4 – 5 km, còn các xã Kỳ ninh, Kỳ hà cách Vũng áng khoảng 20 km về phía bắc thì tôm, cá chết sau đó một ngày” -như nói ở trên!
Lí do quan trọng khác khiến đại diện Formosa tại HN dám phát biểu khiêu khích “gây sốc” ngày 25.4 là có lẽ họ tin rằng, có cả BK đứng đằng sau. Formosa Hà tĩnh tuy là công ti Đài loan, nhưng trong những năm gần đây tuyển chọn công nhân nước ngoài phần rất lớn là từ TQ. Ngoài ra vốn đầu tư của Formosa mẹ từ Đài loan đang giảm mạnh và nhường cho một số công ti từ TQ. Khi giàn khoan HD 981 xâm nhập trái phép thềm lục địa VN vào giữa 2014 đã xẩy ra va chạm lớn khiến hàng ngàn công nhân TQ đã phải bỏ về nước, nhưng sau đó Nguyễn Phú Trọng đã phải xin lỗi Tập Cận Bình và số công nhân này lại trở lại Formosa làm việc (xem Chương bẩy, IV). Về mặt an ninh quốc phòng, khu vực Vũng áng Hà tĩnh nằm đối diện không xa đảo Hải nam của TQ. Trong kế hoạch bành trướng công khai ngang ngược của BK trên biển Đông thì khu công nghiệp Vũng áng Formosa có thể trở thành tay trong cực kỳ quan trọng khi tình thế cho phép BK ra tay!
Sau phát ngôn gây chấn động, Chu Xuân Phàm đã bị Formosa sa thải để làm dịu dư luận. Nhưng nội dung lời phát biểu của cựu đại diện Formosa đã tự để lộ những hoạt động của công ti này không thèm đếm xỉa gì tới luật pháp VN, vì tin rằng đã có chân trong ủng hộ đang giữ những chức cao nhất. Dùng sức mạnh tiền bạc nhiều tỉ USD trong vài năm vừa qua Formosa có thái độ phách lối và cách hoạt động như kiểu quốc gia trong một quốc gia: “Nếu xả thải thì đương nhiên sẽ thay đổi sinh học ở đây, ở vùng biển quanh đây”, “có khi được cái này thì phải mất cái kia chứ”, “muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi!” Rõ ràng với tuyên bố trên Formosa đã gián tiếp thừa nhận, thời gian qua Formosa đã xả nước thải với những hóa chất có chất độc cực mạnh làm tàn phá môi sinh trên biển.
Theo tờ Tuổi trẻ thì Tổng cục môi trường xác nhận là, “Formosa có vi phạm khi thực hiện việc súc xả đường ống nhưng không thông báo cho địa phương”. Ngày 25.4 báo này còn liệt kê 45 loại hóa chất Formosa nhập cảng để súc rửa đường ống. Vẫn theo Tuổi trẻ, “GS,TS Lê Huy Bá (chuyên gia độc học môi trường) cho biết nhận định ban đầu của ông về danh sách các loại hóa chất được sử dụng tại Formosa gồm nhiều chất độc và cực độc. Trong đó có các chất chống gỉ, chất làm sạch bề mặt kim loại, chất tẩy”. “Theo quy định, khi súc xả đường ống, Formosa có trách nhiệm phải thông báo cho địa phương việc súc xả đường ống diễn ra từ thời điểm nào tới thời điểm nào, nhưng Formosa không thông báo, cũng không báo cáo các cơ quan ở địa phương về việc súc rửa đường ống”.[99] Tờ VNNet còn cho biết, “1 thợ lặn Formosa tử vong, 5 người nhập viện” khi lặn xuống biển nơi đường ống của Formosa dẫn ra.[100] Tập đoàn Formosa xuất thân từ Đài loan với vốn đầu tư nhiều tỉ USD cũng đã từng vi phạm pháp luật ở nhiều nơi trên thế giới. Ngay ở Đài loan Tập đoàn này cũng đã bị phạt vì gây thiệt hại môi trường. “Chẳng hạn hồi tháng 7.2010, Formosa bị cho là “gây ô nhiễm không khí vùng miền Trung Đài loan” sau một vụ cháy công nghiệp tại nhà máy ở Mai Liao của họ”.[101]
***
Trong khi nhiều cơ quan chính quyền địa phương ngay trong những ngày đầu đã đưa ra những nhận định khá rõ ràng về nguyên nhân đưa đến đại nạn làm cá chết hàng loạt, nhưng suốt trên ba tuần nhiều bộ trưởng, thứ trưởng không chỉ trốn tránh không thực hiện trách nhiệm điều tra nghiêm túc và minh bạch, lại còn tìm cách bao che cho Formosa, hoặc đưa ra những tin và lập luận rất mâu thuẫn nhau, thậm chí cực kỳ ngớ ngẩn. Ba tuần sau đến lượt cá biển ở khu Bình trị thiên-Huế bị chết, tờ Công an nhân dân ngày 26.4 đưa tít “Nước biển vùng cá chết được xác định nhiễm kim loại nặng”: “Chiều 26-4, Sở Tài nguyên&Môi trường tỉnh Thừa thiên- Huế đã có kết quả phân tích mẫu nước lấy tại khu vực đầm Lập an, cửa biển Lăng cô (thị trấn Lăng cô, huyện Phú lộc) vào thời điểm xuất hiện cá chết tràn lan…Riêng các thông số gồm tổng hàm lượng nitơ tính theo amoni (NH4+-N), hàm lượng kim loại nặng crôm (Cr) vượt giới hạn cho phép của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển cũng như quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặn. Theo đánh giá ban đầu của cơ quan chức năng tỉnh Thừa thiên- Huế, khả năng chất độc trong môi trường nước gây sự cố cá chết hàng loạt xuất hiện từ vùng biển phía Bắc của tỉnh”.[102]
Nhưng trong cuộc họp báo tối 27.4 thứ trưởng bộ Thiên nhiên và môi trường Võ Tuấn Nhân đã làm trên 200 nhà báo lề phải vừa thất vọng, vừa rất bất bình về thái độ vô trách nhiệm và lấp liếm. Sau cuộc họp kín nhiều tiếng đồng hồ của đại diện nhiều bộ và cơ quan do bộ trưởng Bộ Tài nguyên-môi trường Trần Hồng Hà chủ trì, khiến các nhà báo phải chờ đợi đến cả nửa ngày. Nhưng cuối cùng Trần Hồng Hà đã đẩy thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mở “Buổi họp báo chỉ diễn ra trong 6 phút”. Trong đó ông khẳng định “Formosa vô can”. [103] Sau khi đưa ra 2 giả thuyết về nguyên nhân làm cá biển chết hàng loạt (hóa chất độc và “hiện tượng thủy triều đỏ”), ông Nhân khẳng định: “Đến nay, qua kiểm tra và thu thập chứng cứ, chưa có bằng chứng để kết luận về mối quan hệ liên quan của Formosa và các nhà máy đến vấn đề cá chết hàng loạt. Qua số liệu quan trắc và đánh giá của cả các cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, môi trường nước biển chưa phát hiện các thông số môi trường vượt quy chuẩn quy định”.[104] Sau đó ông Nhân chuồn mất!
Trong cuộc gặp riêng Võ Tuấn Nhân, tờ Thanh niên đã tường thuật câu hỏi và trả lời của Thứ trưởng này bảo vệ cho Formosa thật là kì lạ:
“ Thưa ông, trong 2 nhóm nguyên nhân thì nhóm thứ nhất nói có thể do độc tố thải ra từ hoạt động của con người, vậy cụ thể độc tố là gì? Có độc tố nào trùng với hơn 40 loại hóa chất mà Formosa được phép nhập khẩu vào VN để súc rửa đường ống không ?
– Chúng tôi chưa phát hiện ra…- Tôi xin khẳng định, về mặt pháp luật, họ vẫn hoạt động đúng theo pháp luật nước ta. Về mặt xả ra môi trường, liên quan đến hiện tượng cá chết hàng loạt ở các tỉnh ven biển miền Trung, đến nay chưa đủ căn cứ để kết luận.
Ông có thể cho biết kết quả phân tích mẫu nước và mẫu cá của Bộ?
– Cái này nói ra phải có căn cứ giấy tờ cụ thể, rất dài, rất nhiều thông số”.[105]
Trong khi giữ thái độ câm và điếc không thông tin chính xác và nguội lạnh trước những bức xúc của nhân dân cả nước, nhưng Võ Tuấn Nhân lại rất thính tai và năng động trước câu hỏi của một nữ phóng viên về tin không tốt cho chế độ, về nguy cơ ngành du lịch có thể bị tê liệt và yêu cầu bà tắt máy ghi âm. Bà hỏi:
“Thưa ông, trong cái kiểm nghiệm gần đây nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa thiên – Huế, chỗ có một loạt các bè cá chết, thì họ có nói trong nước kiểm nghiệm ra có kim loại nặng. Vấn đề ở đây là trong thời gian tới, chúng tôi muốn là mình có thể trong một thời gian ngắn, vì mùa du lịch sắp tới rồi, mà cá thì…”
“Nghe tới đây, ông Võ Tuấn Nhân liền khoát tay ra hiệu dừng lại và nói: “Tắt máy. Tắt máy nghe. Xin lỗi. Không, không, để anh nói riêng với em. Đừng hỏi câu đó. Hỏi câu đó tổn hại cho đất nước của mình. Nhá. Em hỏi câu đó làm tổn hại cho đất nước của mình”.[106]
Không chỉ trên 200 nhà báo lề phải hoàn toàn thất vọng về “cuộc họp báo 6 phút” của thứ trưởng Tài nguyên&Môi trường Võ Tuấn Nhân mà nhiều nhà khoa học cũng đã kịch liệt chỉ trích những lời tuyên bố rất lếu láo của ông. GS-TS Vũ Trọng Hồng, nguyên thứ trưởng Bộ Thủy lợi, nói thẳng: “bộ Tài nguyên-Môi trường là cơ quan chức năng được nhà nước giao nhiệm vụ, nhưng kết luận như vậy là không hợp logic diễn biến của vụ việc”.
Nhưng ngày hôm sau trong cuộc họp nội các giả thuyết “thủy triều đỏ” bị bác bỏ. Có lẽ trước sự bất bình ngày càng mãnh liệt của nhân dân về cuộc “Họp báo 6 phút” tối trước, nên TT Nguyễn Xuân Phúc đã vội vàng để bộ trưởng Tài nguyên&Môi trường Trần Hồng Hà phải bay ra Hà tĩnh ngày 28.4 thị sát viêc xả thải của Formosa để nhằm xoa dịu dư luận. Tại đây Trần Hồng Hà đã tuyên bố, “pháp luật VN không chấp nhận việc đặt ống ngầm xả thải”. Như thế ông đã phủ nhận lời của người dưới quyền ông là Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân chỉ vài ngày trước. Ngoài ra ông Hà còn nhận khuyết điểm để cuộc điều tra chậm chạp…[107]
***
Tại sao mới chỉ vài năm trước Nguyễn Phú Trọng đã trách móc và rao giảng “đạo đức cách mạng” tại Hội nghị Cán bộ toàn quốc với sự tham dự của trên 1000 cán bộ cao cấp ngày 27.2.12: “ Bây giờ trong Đảng cũng có sự phân hóa giàu – nghèo, có những người giàu lên rất nhanh, cuộc sống cách xa người lao động; liệu rồi người giàu có nghĩ giống người nghèo không? “ và “ người sống trong lâu đài nghĩ khác người ở trong nhà tranh”., “mai kia Đảng này sẽ là đảng của ai?”[108]
Nhưng chỉ trong vài năm ngồi trong lâu đài quyền lực và hưởng thịt, cá loại ngon, sạch không phải trả tiền, nên lòng Nguyễn Phú Trọng đã nguội lạnh, vô cảm trước ngư dân thất nghiệp chịu cảnh đói rách vì thảm họa cá biển và nhân dân nhiều nơi có thể bị ăn cá và mắm độc. Chẳng những thế ông vẫn đủng đỉnh tới thăm Ban giám đốc tỉ phú Dollar Formosa Hà tĩnh và khen ngợi cách làm ăn của họ, chẳng thèm đoái hoài tới tiếng than ngất trời của dân lành, mặc dầu gần một tháng vẫn không có cơ quan nào của đảng lẫn nhà nước tìm ra nguyên nhân cá chết hàng loạt!
Trong một xã hội pháp trị theo Dân chủ đa nguyên thì khi một cá nhân, tổ chức hay xí nghiệp đang bị điều tra, người có trách nhiệm trong nhà nước không được phép có những hành động gây cản trở hoặc can thiệp công cuộc điều tra. Trong vụ cá chết hàng loạt ở duyên hải nhiều tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4 và tập đoàn Formosa đang trở thành đối tượng điều tra của các cơ quan có thẩm quyền. Nhưng người cầm đầu chế độ là TBT Nguyễn Phú Trọng đã cố tình lại thăm và gặp Ban giám đốc Formosa ngày 22.4 và còn khen ngợi thành quả kinh doanh của công ti Đài loan này. Như thế Nguyễn Phú Trọng đã lợi dụng uy quyền riêng để cản trở, làm đình hoãn cuộc điều tra và còn tạo cơ hội để Formosa xóa sạch các tang chứng !
Trong dịp này nhiều tổ chức, nhân sĩ và chuyên viên đã công khai lên tiếng:
“Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bao bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo”.[109]
Những ngày Chủ nhật trong tháng 5 nhân dân các giới -đi đầu là trí thức, thanh niên và đảng viên tiến bộ- đã xuống đường ở HN, Sài gòn và nhiều nơi khác đòi “Trả lại biển xanh cho chúng tôi, chúng tôi chọn tôm cá”. Mọi người đang đồng thanh đòi:
– Nhân dân muốn biết rõ nhanh và công khai thủ phạm đã gây ra thảm trạng cá chết hàng loạt. Phải chấm dứt ngay những nguyên nhân gây ra thảm họa môi trường!
– Bồi thường thiệt hại cho ngư dân và các cơ sở du lịch!
– Công khai các cơ quan và cá nhân nào đã cố tình làm chậm, làm sai, đánh lạc dư luận và phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân!
***
Sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung ba tháng, nhưng tại HNTU 3 vào đầu tháng 7.2016 trong suốt 5 ngày họp đã không có nói tới chủ đề cực kỳ nóng bỏng này.Mặc dầu đây là thảm họa môi trường lớn nhất ở VN, gây thiệt hại sức khỏe, tài sản và môi trường sống trực tiếp cho hàng triệu người dân bốn tỉnh Hà tĩnh, Quảng bình, Quảng trị và Thừa thiên-Huế; đồng thời còn tạo những nguy hại lâu dài về nhiều mặt cho nhân dân cả nước. HNTU này diễn ra sau khi Ban giám đốc Formosa công khai xin lỗi trong cuộc họp báo ngày 30.6. và nhận bồi thường 11.500 tỉ đồng, tương đương 500 triệu USD.[110]Nhưng ở đây Formosa không chỉ là thủ phạm duy nhất, vì nhiều cơ quan Đảng và Nhà nước đã cấp giấy phép đầu tư, hoạt động và kiểm soát công ti Formosa cũng đều là thủ phạm. Vì chính các cơ quan này đã lơ là và vô trách nhiệm trong các lãnh vực phụ trách, nên đã để cho Formosa làm ăn như một vua con trong vùng. Trong cuộc họp báo ngày 30.6 các Bộ trưởng đã cố tình tránh né không làm rõ cơ quan và người phải chịu trách nhiệm.[111]
Trong khi ấy các cuộc biểu tình của nhiều giới vào ba cuối tuần từ đầu tháng 5.16 với các khẩu hiệu “Cá cần nước sạch”, “Nước cần minh bạch” đã bị công an mật vụ chế độ toàn trị ngăn cấm, đàn áp và chụp mũ.Trong cuộc họp báo ngày 30.6 lần đầu tiên các quan chức hiện diện xác nhận, Formosa là thủ phạm gây ra thảm trạng môi trường ở miền Trung; nhưng cùng lúc họ lại vẫn kết án gay gắt những cuộc biểu tình của nhân dân đòi Formosa phải sớm công khai minh bạch về nguyên nhân dẫn tởi thảm trạng môi trường. Dịp này Trương Minh Tuấn, Bộ tưởng 4 T vẫn chụp mũ: “Tôi cũng nói thẳng rằng, có thế lực thù địch đã lợi dụng tình trạng cá chết này để công kích sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thậm chí kích động để gây mất trật tự công cộng, gây bất an trong nhân dân”.[112]
Mãi hơn nửa năm sau thảm trạng môi trường 4 tỉnh miền Trung, ngày 17.10.16 trước các “đại biểu cử tri” tại Ba đình, Hoàn kiếm, tức những đảng viên ngoan ngoãn chỉ biết xu nịnh và bốc thơm, Nguyễn Phú Trọng đã không sợ bị chất vấn nên đã bộc lộ:
“Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu, nên bây giờ chúng ta phải trả giá”.[113]
Lời xác nhận trên của người cầm đầu chế độ toàn trị đã nhìn nhận cung cách suy nghĩ, quyết định và hành động công việc nước theo lối ăn xổi ở thì, bóc ngắn cắn dài, xuất phát từ bệnh kiêu ngạo quyền lực, không cần nghe ý kiến của các chuyên viên cũng như nhân dân. Lời xác nhận này có khác nào như người chủ nhà đã xây nhà mà không xây cầu tiêu, không lập hệ thống dẫn nước thải! Xây nhà máy sản xuất thép không tính tới chất thải độc hại! Xây hàng trăm đập thủy điện không tính tới việc đồng ruộng mất nước, nhân dân thiếu nước sinh hoạt, nhưng khi mưa lũ lại trở thành đại họa cho nhân dân! Bất kể tới lời can ngăn của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều tướng lãnh và chuyên viên những người cầm đầu chế độ toàn trị đã cho BK xây các nhà máy khai thác Bauxit ở Tây nguyên từ năm 2009 bất kể tới hậu quả môi trường và an ninh quốc phòng! Nay tới Formosa!
Đây là sự thông minh hay chính là sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của Nguyễn Phú Trọng và các đại quan đỏ trong BCT?Chính Phạm Văn Đồng, TT đầu tiên và lâu đời nhất của chế độ toàn trị đã phải nhìn nhận là, sự ngu dốt và thái độ kiêu ngạo quyền lực của những người cầm đầu đã gây ra những hậu quả thảm khốc cho nhân dân trong giai đoạn đó.
Tình trạng này hiện nay còn tệ hại hơn, ngay Nguyễn Phú Trọng đã phải nhìn nhận!Ông Trọng còn nói “bây giờ chúng ta phải trả giá”. Nhưng “chúng ta” ở đây là ai? Có phải Nguyễn Phú Trọng và các đại quan trong BCT và TUĐ đang sống vương giả và ngồi trong những biệt thự an toàn ? Chính thái độ ăn xổi ở thì và bệnh kiêu ngạo quyền lực của họ đã dẫn tới công ti Formosa gây thảm họa môi trường cho bao nhiêu triệu nhân dân bốn tỉnh miền Trung từ đầu tháng 4. 2016 và đang phải hứng chịu cảnh thất nghiệp, bệnh tật và đói nghèo. Họ chia sẻ sự cơ hàn với nhân dân như thế nào?
Khi thảm họa môi trường do Formosa gây ra sau mấy tuần hàng triệu nhân dân điêu đứng lo âu, nhưng TT Nguyễn Xuân Phúc, Thường trực BBT Đinh Thế Huynh khi đi qua những vùng này vẫn ngoảnh mặt làm thinh; còn người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng lại đủng đỉnh tới thăm hỏi và khen ngợi Ban giám đốc Formosa và chẳng thèm màng tới nạn nhân của Formosa! Còn Chủ tịch nước Trần Đại Quang thì trước sau vẫn im thin thít. Trong buổi QH khai mạc Kì họp thứ 2 ngày 20.10.16 Ủy viên BCT, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) -cánh tay dài của ĐCS- Nguyễn Thiện Nhân cho biết, “đến nay vẫn chưa có cơ quan, tổ chức và cá nhân nào trong hệ thống quản lý Nhà nước có liên quan đứng ra nhận lỗi và chịu trách nhiệm”.[114] Mặc dầu Nguyễn Xuân Phúc vẫn lớn tiếng là “Chính phủ phục vụ”! Rõ ràng là thái độ cao ngạo quyền lực từ cấp lãnh đạo trở xuống!
Nếu tứ trụ Nguyễn Phú Trọng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc và Nguyễn Thị Kim Ngân thực tình nghiêm túc với chính mình, khi đối chiếu với những tiêu chuẩn cao vòi vọi để chọn lựa cán bộ cao cấp mà chính họ đã đưa ra trong HNTU 11 (5.15) thì chính họ phải thấy hết sức rõ ràng là, họ đã hoàn toàn vô trách nhiệm trước thảm họa môi trường do Formosa gây ra!
“Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!” Lời nhìn nhận trên của TBT Nguyễn Phú Trọng có tầm quan trọng đặc biệt. Nó bạch hóa lối suy nghĩ cực kỳ thiển cận và phong thái hành động vô trách nhiệm của những người có quyền lực cao nhất trong chế độ toàn trị khi quyết định mời gọi các công ti nước ngoài đầu tư vào VN. Đây là những quyết định ở cấp cao nhất là BCT và BBT và được sự cố vấn của các Ban trong đảng và các Bộ trong CP. Các quyết định liên quan tới chương trình FDI nói chung, đặc biệt các công trình FDI có vốn đầu tư cao mang tầm vóc chiến lược, không chỉ có ý nghĩa thuần kinh tế, mà nó còn liên hệ trực tiếp tới nhiều lãnhvực chính trị, an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân.
Nhưng khi để Formosa đầu tư cả chục tỉ USD vào VN, Bộ chính trị đã quyết định theo tiêu chuẩn nào? Nguyễn Phú Trọng đã trả lời: “Kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu”.Như vậy là các tỉ Dollar đã làm họ chóa mắt, nên đã vội vàng nhắm mắt bỏ qua các yếu tố cực kỳ quan trọng khác là an ninh-quốc phòng, kĩ thuật, môi trường và sức khỏe của nhân dân. Như vậy khi quyết định mời Formosa vào đầu tư, những người có quyền lực trong BCT đã đặt sự tồn tại của chế độ và cái ghế của chính họ, ích kỉ cá nhân lên hàng đầu. Chỉ mong càng có nhiều Dollar vào càng nhanh càng tốt!Chương trình FDI là một chủ trương rất lớn được đề cao trong các ĐH đảng, nhưng trong thực hành thì BCT đã vô trách nhiệm cùng cực, hoàn toàn không có một kế hoạch đúng đắn và khoa học để tạo những lợi ích thực sự cho đất nước và tránh những hậu quả tai hại cho nhân dân. Chính điều này người cầm đầu chế độ toàn trị Nguyễn Phú Trọng đã công khai xác nhận như trên!
Nay trong khi hàng triệu người dân phải hứng chịu hậu quả do thảm họa môi trường, phải trả giá bằng thất nghiệp, bệnh tật mà nguyên do từ những quyết định sai lầm và thái độ cực kỳ vô trách nhiệm của BCT, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng. Nhưng khi nhân dân đòi những người có quyền lực đã tiếp tay gây ra thảm họa môi trường phải có những chính sách đền bù thích đáng và biện pháp nghiêm khắc với Formosa, thì bọn quan độc ác này đã không biết ăn năn, không chịu xin lỗi, lại còn cho báo chí và chính quyền địa phương chụp mũ xuyên tạc, cho công an ngăn cản và đe dọa “không bảo đảm an ninh cho người đi khiếu kiện”[115]Chẳng những thế Nguyễn Phú Trọng còn để công an giam giữ và tòa án nhân dân bỏ tù nhiều người đi biểu tình! Họ phục vụ đất nước, bảo vệ quyền lợi nhân dân, hay đã tự chuyển biến xấu chỉ lo phục vụ quyền lợi riêng cho chính mình, nên đã sẵn sàng bảo vệ các nhà đại tư bản nước ngoài? Nếu còn lương tâm có lẽ ông Trọng nên đọc bài thơ của cô giáo Trần Thi Lam ở Hà Tĩnh đã sáng tác vào dịp này:“Đất nước mình ngộ quá phải không anh?”
Chỉ trong 20 câu thơ không chỉ trách móc những người có trách nhiệm với đất nước đã làm cho nhân dân phải đói khổ, nhục nhằn, môi trường bị tàn phá, còn bị khinh rẻ và đàn áp. Bài thơ còn nhắc nhở mỗi cá nhân, trước những nguy vong của đất nước phải can đảm cùng nhau gánh vác trách nhiệm làm thay đổi tình hình. Bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” là lời gọi rất chân thành và thúc giục mọi người, mọi giới hãy can đảm cùng nhau lên đường làm nhiệm vụ của người công dân VN là làm lại lịch sử, đưa dân tộc ta tới quang vinh trong Thế kỉ 21!
Mô hình phát triển theo “Kinh tế Thị trường
định hướng Xã hội chủ nghĩa”
Kết quả thực tiễn: Doanh nghiệp Nhà nước thua lỗ, lãng phí nguồn ODA, bùng nổ nợ công, tham nhũng và lợi ích nhóm
Trong suốt thời kì từ 1986 tuy đề cao là “đổi mới” trong kinh tế, nhưng sợi chỉ đỏ trong các lãnh vực công nghiệp trước sau vẫn là DNNN. Trước đây thường được gọi là Quốc doanh. Nay vì tình thế bất đắc dĩ nên phải nhìn nhận sự hiện diện của các loại kinh tế tư nhân VN và FDI; tuy nhiên trước sau hệ thống DNNN được xếp vào thành phần tối ưu và giữ trọng trách “chủ đạo”, tức là làm nền tảng cho các hoạt động kinh tế. Chính sách này có thể ví như một con bạch tuộc. Trong thời hùng mạnh nó vươn các chân tới mọi hang cùng ngõ hẻm, nay yếu sức nên phải rút chân ra một số nơi, nhưng vẫn quyết bám chặt ở những địa bàn hiểm yếu. Cách thay đổi nhỏ giọt và trong điều kiện ngặt nghèo như thế thể hiện tư duy và tâm lí vẫn như cũ của một số người có quyền lực liên quan tới các hoạt động kinh tế. Ở đây là chủ nghĩa Marx đầy thành kiến đối với các sinh hoạt kinh tế của tư nhân, đặc biệt thành phần tư bản. Ở đây cũng là tuân thủ tư tưởng giành và giữ quyền lực độc quyền cho ĐCS của Lenin đã thực hiện ở Nga và Liên Xô cũ trước đây và được HCM vận dụng vô điều kiện trong việc cướp và giữ chính quyền độc quyền cho ĐCS từ 1945. Điều này phản ảnh tâm lí không tin dân và không dám nhìn nhận những thành công không thể chối cãi của nhiều quốc gia đã từ bỏ các DNNN và trao lại các hoạt động kinh tế cho nhân dân.
Căn cứ vào các Nghị quyết của các ĐH và các Luật về DNNN, hệ thống DNNN có nhiệm vụ vừa hướng dẫn vừa kiểm soát toàn bộ sinh hoạt kinh tế và trực tiếp dưới quyền lãnh đạo của ĐCS, trong thực tế là BCT và BBT. Các bộ và cơ quan của CP có nhiệm vụ thi hành các quyết định của BCT trong các DNNN. Nhờ vậy, hệ thống DNNN giữ vai trò như một bộ máy tuần hoàn trong cơ thể truyền dinh dưỡng, dưỡng khí và máu cho các bộ phận. Nó còn giữ nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là định hướng và kiểm soát nền kinh tế trong cái khung của một chế độ toàn trị. Muốn như vậy thì hệ thống DNNN phải nắm các động mạch chính của nền kinh tế-tài chánh. Như hệ thống ngân hàng, các lãnh vực công nghiệp liên quan tới quốc phòng, an ninh như truyền thông (báo chí, điện thoại…), chế tạo vũ khí, khai thác quặng mỏ, dầu khí, xây dựng các hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, phi trường, hải cảng và các trung tâm điều phối nông, lâm, thủy sản…
Mục tiêu và quan điểm này đã được trình bày trong nhiều ĐH từ 1986. Nó thể hiện rõ hơn trong ĐH 8 (1996) khi họ đưa ra chủ trương đầy tham vọng là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với kinh tế tri thức để “đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. [116]Đặc biệt nó được định nghĩa và xác định lãnh vực hoạt động rất rõ ràng trong Báo cáo Chính trị tại ĐH 9 (2001):
“Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật”.[117]
Những người cầm đầu Đảng khi ấy đã đưa ra tham vọng rất cao là, KTNN không chỉ giữ “chủ đạo” trong việc tạo mặt vật chất làm phương tiện thiết yếu để bảo vệ chế độ; cả về mặt chất lượng và đạo đức nghề nghiệp, các DNNN còn là những đơn vị kinh tế có trình độ công nghệ kĩ thuật hàng đầu, năng suất lao động cao và tạo ra được những sản phẩm có chất lượng tốt. Không những thế, vẫn theo tham vọng của họ, sự hoạt động của các DNNN không chỉ đem lại sự phồn vinh cho xã hội mà còn làm gương mẫu trong việc “chấp hành pháp luật”!Họ đã vẽ ra một bức tranh tuyệt vời về Kinh tế Nhà nước (KTNN) xuyên qua các DNNN! Khi nuôi tham vọng cực kỳ cao này họ đã ngủ mơ, nhưng cũng có thể họ đã quá tự tin theo tâm lí kiêu ngạo CS, bất kể các qui luật khoa học và bất chấp cả những kinh nghiệm thất bại từ các mô hình Nhà nước làm kinh tế trong thời kì trước đây ở VN cũng như ở nhiều nước CS trước đây.
Để thực hiện giấc mộng kê vàng này, trong ĐH 9 họ quyết định thành lập các Tập đoàn kinh tế từ sự sát nhập các Tổng công ti và công ti DNNN:
“Trong 5 năm tới, cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp mà Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế”.[118]
Mô hình Tập đoàn kinh tế bắt chước các Cheabol của Nam Hàn. Có lẽ ý tưởng này được thành hình sau các cuộc đi thăm Nam Hàn của nhiều chính trị gia cấp cao của đảng, đặc biệt là Đỗ Mười vào năm 1995. Sự phát triển nhanh chóng và cức mạnh của nhiều Cheabol Nam Hàn đã gây cho họ những ấn tượng mạnh. Vì thế họ cũng muốn thành lập một số Tập đoàn kinh tế như những “quả đấm thép” trong kinh tế. Chủ trương này dựa trên Luật DNNN năm 2003. [119]Theo Điều 9 của Luật này, việc thành lập các Tập đoàn và Tổng công ti cũng như bổ nhiệm các Ban quản trị các DNNN thuộc quyền TT và các Bộ. Như thế các cơ quan CP như một cơ quan tổng chỉ huy KTNN, đặt trực tiếp dưới quyền TT. Đấy là mặt tổ chức nhân sự.
Chế độ toàn trị còn giành những ưu đãi đặc biệt cho DNNN cả về vốn tư bản, đất đai và các tài nguyên. Các DNNN được sửdụng ngân sách quốc gia, được vay tiền của các ngân hàng với lãi suất rất thấp, có quyền phát hành (bán) trái phiếu ở trong và ngoài nước với sự bảo lãnh của Nhà nước, không phải trả tiền đất để xây các xí nghiệp, được hưởng ưu đãi quan thuế trong việc xuất nhập khẩu sản phẩm, chỉ phải đóng thuế mức rất thấp so với các doanh nghiệp tư. Quan trọng khác nữa, các DNNN được độc quyền sử dụng các nguồn vốn ODA, tổng số lên tới 78 tỉ USD trong gần ba thập niên qua.
Với việc hưởng các ưu đãi và độc quyền đó, có thể ví các DNNN như những đứa con cưng của một tỉ phú, vừa có tiền bạc lại đầy quyền lực, được nuông chiều đủ thứ, lại còn được bảo vệ không ai dám đụng chạm tới, kể cả pháp luật! Các cậu công tử này đâu cần phải học hành, đâu cần phải lao động, chỉ việc ngồi mát ăn bát vàng! Đây không phải là chuyện giả tưởng hay bức tranh siêu thực, nhưng lại là một sự thực 100% suốt mấy thập kỉ ở VN dưới chế độ toàn trị!
Độc quyền trong chính trị đã tác hại nguy hiểm như thế nào ở nhiều nước. Độc quyền cả chính trị lẫn kinh tế còn gây thiệt hại khủng kiếp hơn nữa cho người dân. Hình ảnh kinh tế kiệt quệ, nhân dân sống trong nghèo khổ, trong khi cán bộ trung và cao cấp hưởng giầu sang và tham nhũng ở cựu Liên Xô và Đông Âu cho tới cuối thập niên 80 không ai có thể quên được.
Tại VN sự độc quyền của các DNNN đã tiêu giệt yếu tố cạnh tranh, khiến toàn bộ kinh tế không thể vươn lên được. Vì cạnh tranh lành mạnh là yếu tố tối cần thiết để thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tiến lên, đồng thời bảo vệ các quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Nhưng ở VN trong khi các doanh nghiệp tư bị chèn ép thì các DNNN ngồi chơi xơi nước, lãng phí tiền bạc, tài nguyên và thời gian! Vào cuối 2013 các tập đoàn và tổng công ti nhà nước chiếm thị phần áp đảo trong toàn bộ kinh tế. Như Tập đoàn Điện (bao gồm EVN và PVN) chiếm 80% thị phần, Tập đoàn Than và khoáng sản 98%, Tập đoàn Dầu khí 100%, Tập đoàn vận tải đường sắt (100%), Tổng công ti hàng không VN (61,4%), Tập đoàn viễn thông (gồm VNPT và Viettel) (81,5%).[120]
Số liệu tài chính tổng hợp của các Tập đoàn và Tổng công ti Nhà nước
Nguồn: Bộ Tài chính (dẫn tại Matheson, 2013, tr. 7; Thời báo VN, 2014)
Dưới những điều kiện của chế độ toàn trị, mọi quyết định từ chính trị, kinh tế, pháp luật tới văn hóa xã hội chỉ là quyết định của một số người có quyền lực trong BCT. Trên họ không còn ai hết, không có những cơ chế kiểm soát công khai và nghiêm túc, không có báo chí độc lập và hệ thống một xã hội dân sự độc lập. Nên những người này có thể ban bố các chính sách, đạo luật theo ý muốn của họ và khi cần thiết có thể giải thích tùy tiện, vo tròn, bóp méo và thậm chí làm vô hiệu hóa các luật pháp hay quyết định trước đây của chính họ, nếu thấy rằng nó bất lợi hay nguy hiểm cho địa vị và quyền lực của họ. Điều này càng dễ xẩy ra khi đụng chạm tới quyền-tiền, hai động lực có sức lôi cuốn rất mạnh thúc đẩy lòng tham của con người, nhất là những người có điều kiện biến quyền lực thành tiền bạc, hoặc dùng tiền bạc để mua quyền lực!
Cách tổ chức và điều hành của hệ thống DNNN, nhất là từ gần hai thập niên vừa qua với việc ra đời các tập đoàn và tổng công ti nhà nước, là những dẫn chứng cụ thể rõ rệt nhất về sự liên hết như hình với bóng của quyền lực và tiền bạc dưới chế độ toàn trị ở VN.Các giám đốc và hội đồng quản trị (hội đồng thành viên) của các tập đoàn và tổng công ti nhà nước do TT chỉ định. Các cơ quan này có quyền hành rất lớn trong mọi quyết định liên quan tới hoạt động của tập đoàn và tổng công ti. Từ việc chọn lựa nhân sự then chốt, đầu tư, vay tiền, gọi thầu tới việc liên kết kinh doanh với bên ngoài. Họ đều là những cán bộ có thế lực, nhưng hầu như không có kiến thức và kinh nghiệm quản trị các công ti lớn. Một khi quyền nhiều, nhưng trách nhiệm rất ít thì dễ sinh ra lạm dụng những gì có lợi cho bản thân, gia đình và vây cánh. Từ đó dẫn tới những lãng phí hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng, tự do xà xẻo các công trình. Muốn làm giầu bất chính nhanh và gọn gàng thì phải lập phe cánh che chở và bảo vệ lẫn nhau. Qua đó sẽ hình thành các nhóm lợi ích.Vì quyền lợi ích kỉ, các nhóm này sẽ lợi dụng quyền lực kết hợp với nhau ngay từ giai đoạn soạn thảo các kế hoạch có lợi cho phe cánh của mình.
Trong vụ PMU 18 thứ trưởng Giao thông vận tải Nguyễn Việt Tiến cùng cánh vế với bộ trưởng Giao thông vận tải Đào Đình Bình đã lôi kéo cả con rể TBT Nông Đức Mạnh vào làm. Nhờ vào uy quyền lớn nên họ đã được giao nhiều dự án xây dựng hạ tầng với số vốn cả hàng ngàn tỉ đồng từ nguồn ODA và lập ra các công ti con làm sân sau để thân nhân và vây cánh thao túng. Sự thỏa hiệp đen tối quyền lực và chia chác tiền bạc trong vụ Vinashin lại càng khủng khiếp hơn nữa. Nguyễn Tấn Dũng dùng uy quyền TT để giao cho người đồng hương Phạm Thanh Bình làm Giám đốc Vinashin, được Ngân hàng Nhà nước cung cấp vốn cả hàng trăm ngàn tỉ đồng, đẻ ra hàng trăm công ti con, đầu tư vào những công trình ngoài cả lãnh vực đóng tàu thủy, như mở cả ngân hàng và công ti du lịch…Sau nhiều năm làm ăn thua lỗ khổng lồ lên tới cả gần 100.000 tỉ đồng, nhưng Nguyễn Tấn Dũng vẫn bình chân như vại. Hai người có quyền lực nhất khi ấy là Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã ngấm ngầm thỏa hiệp với nhau hai ghế TBT và TT, như đã trình bày trong Chương sáu, XI.
PVN và vụ án Đinh La Thăng
Tập đoàn đầu khí VN (Petro VN, PVN) là một công ti Nhà nước lớn nhất. Năm 2015 đạt tổng doanh thu là 293.439 tỉ đồng, đóng góp vào NSNN là 93.000 tỉ đ. trong tổng số thu NSNN là 911.100 tỉ đ.; nghĩa là chiếm tới gần 12% tổng thu của NSNN.[122] Như vậy PVN đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế VN. Năm 2017 PVN khai thác 15,52 triệu tấn dầu thô, 9,89 tỉ m³ khí; sản xuất 20,58 tỉ kWh điện, 1,65 triệu tấn phân đạm, 6, 24 triệu tấn xăng dầu. [123]
Theo Quyết định 924-QĐ-TTg ngày 18.6.2010 đây là Tập đoàn độc quyền trong khai thác, vận chuyển, chế biến, lưu trữ dầu hỏa và khí đốt; ngoài ra còn độc quyền các dịch vụ về dầu khí ở trong và ngoài nước. Quyết định trên còn giành cho PVN độc quyền kinh doanh, phân phối các sản phầm dầu khí và các nguyên liệu hóa chất dầu khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị và sản phầm dầu khí; khảo sát, thiết kế, xây dựng, khai thác, sửa chữa các công trình, phương tiện phục vụ dầu khí dân dụng. Không những thế PVN còn có quyền đầu tư, sản xuất, chế biến, kinh doanh nhiên liệu sinh học, điện và phân bón; đầu tư khai thác than và khoáng sản tại nước ngoài. Đặc biệt nữa, PVN còn được hoạt động kinh doanh cả những lãnh vực ngoài dầu khí, như: đầu tư, kinh doanh bất động sản; kinh doanh khách sạn, du lịch; đầu tư, khai thác, kinh doanh các cảng, vận tải biển, sông và hàng không và đường bộ…[124]
Như thế cho thấy PVN không chỉ là một “vua” trong lãnh vực dầu khí mà còn bao thầu cả trong nhiều lãnh vực khác! Từ khi trở thành tập đoàn lớn nhất, PVN trong nhiều năm liên tiếp đã “sai phạm rất nghiêm trọng” trong việc sử dụng vốn, đầu tư hàng chục ngàn tỉ đồng vào nhiều lãnh vực nhưng không có hiệu quả, phải nằm đắp chiếu và thua lỗ. Nhất là dưới thời Đinh La Thăng làm Giám đốc và Bí thư đảng ủy Tập đoàn PVN (2005-2011) và các người kế vị những năm sau này. Như trong Thông báo của Ủy ban Kiểm tra TU ngày 27.4.17 do Trưởng ban và UVBCT Trần Quốc Vượng công bố.[125]
Khi đó là thời có nhiều quyền lực của các UVBCT, như TT Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng (CTQH và TBT), Nguyễn Sinh Hùng (Phó TT thứ nhất và CTQH, Trương Tấn Sang (Trưởng ban Kinh tế TU, Thường trực BBT và CTN), Tô Huy Rứa (Trưởng ban Tuyên giáo và Trưởng ban Tổ chức), Nguyễn Xuân Phúc (Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng CP, Phó TT)…Điều vô cùng ngạc nhiên là, mặc dầu đã xẩy ra nhiều sai phạm rất nghiêm trọng trong suốt nhiều năm, nhưng Đinh La Thăng vẫn trở thành ngôi sao sáng chính trị liên tiếp trên 10 năm: Là UVTU từ khóa 10 (2006), sau khi thôi Giám đốc PVN lại lên nắm chức bộ trưởng Giao thông vận tải (2011-16), UVBCT Khóa 12 và Bí thư Thành ủy thành phố HCM (tới tháng 5.17), đại biểu QH các khóa 11-14 (tới 5.17).
Vì vậy một số câu hỏi rất quan trọng được nêu ra trong các hoạt động sai phạm rất nghiêm trọng của PVN, từ thời Đinh La Thăng làm giám đốc và cả những người kế vị, nhưng tại sao vị thế chính trị của ông vẫn lên như diều trong thời gian rất dài đến cả chục năm liên tiếp? Vì nó hoàn toàn đi ngược lại những tiêu chí chọn lựa và giao phó công việc cho “những cán bộ cấp chiến lược” theo HNTU 11 Khóa 11 (5.15) dưới quyền Nguyễn Phú Trọng đã đề ra:
“Kiên quyết không để lọt vào BCHTU những người có một trong các khuyết điểm, như: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng, có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm… tham nhũng, tiêu cực lớn …không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giầu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc” [126]
Ông Trọng đã từng nhấn mạnh, công tác cán bộ là then chốt của các then chốt. Chả lẽ suốt thời gian rất dài như vậy Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Tô Huy Rứa và Nguyễn Xuân Phúc….ở những địa vị cao như vậy cả trong đảng lẫn chính phủ lại không biết rõ những sai phạm nghiêm trọng trong PVN và Đinh La Thăng?
Phải phân biệt ở đây một số trường hợp: Nếu họ không biết những gì đã xẩy ra tại PVN thì chứng tỏ họ không đủ khả năng đảm nhiệm các trọng trách. Nhưng nếu biết mà không dám nói, chứng tỏ họ làm bù nhìn. Không những thế, nếu biết những cán bộ cao cấp đã làm những “sai phạm rất nghiệm trọng” như Đinh La Thăng mà không dám cách chức lại còn cất nhắc, chứng tỏ họ càng vô trách nhiệm và chỉ lo củng cố quyền lực, chểnh mảng nhiệm vụ, không cương quyết bảo vệ tài sản của đất nước và quyền lợi của nhân dân!
Nắm các địa vị quan trọng trong đảng và chính phủ, họ phải chịu trách nhiệm chính trị, trách nhiệm về pháp luật và lương tâm đạo đức, vì đã để cho Đinh La Thăng và nhiều cán bộ cao cấp trong PVN hoạt động sai phạm nghiêm trọng liên tiếp trong nhiều năm. Do đó đúng ra Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng và các UVBCT đầy quyền lực nêu trên phải công khai nhận trách nhiệm chính trị trước nhân dân và phải xin từ chức. Không những thế, họ còn phải chịu trách nhiệm về mặt luật pháp đối với những thiệt hại cực lớn cho ngân sách quốc gia và các tài sản của nhà nước.
Họ chủ trương DNNN làm chủ đạo và giành nhiều ưa đãi, lại không có cơ chế luật pháp nghiêm minh, không có báo chí độc lập theo dõi, có khác nào như mời cán bộ tham nhũng thả cửa hôi của. Vì thế tập đoàn PVN là doanh nghiệp nhà nước lớn nhất đã có thể dễ dàng làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng trong nhiều năm. Sự hoạt động của các tập đoàn, trong đó có PVN, thuộc quyền của BCT và CP, trong đó hai người đứng đầu là TBT Nguyễn Phú Trọng và TT Nguyễn Tấn Dũng phải là hai người chịu trách nhiệm cao nhất cả về mặt chính trị lẫn mặt pháp luật. Vì các nghị quyết của các HNTU và quyết định của CP đều qui định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể cũng như cá nhân phụ trách. Chính Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần tuyên bố, cơ quan nào để xẩy ra lãng phí và tham nhũng nghiêm trọng thì người đứng đầu cơ quan phải chịu trách nhiệm trước đảng và nhân dân!
Riêng trường hợp của Nguyễn Phú Trọng, một mặt ông trương cờ với những tiêu chí thật cao trong việc lựa chọn cán bộ cấp chiến lược vào cấp cao nhất. Như “Ủy viên BCT, BBT phải là những đồng chí thật tiêu biểu của Ban chấp hành trung ương (BCHTU) về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” và không “tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm”.[127]Nhưng mặt khác, chính ông lại dùng các thủ đoạn để giành cho riêng mình được xếp vào “trường hợp đặc biệt”, đồng thời cô lập Nguyễn Tấn Dũng bằng cách mua chuộc những thân tín của ông Dũng, trong đó cho Đinh La Thăng vào BCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM.
Nhưng sau khi đã nắm vững ghế TBT thêm một nhiệm kì thì ông liền ra tay thanh toán những đối thủ để trừ hậu hoạ, thậm chí đưa cả đối thủ ra xét xử theo những bản án đã định sẵn. Thủ đoạn nham hiểm này không làm sạch bộ mặt của ông Trọng, mà chỉ bôi đen thêm. Một người nổi tiếng lợi dụng địa vị để tham nhũng quyền lực trong suốt hơn thập kỉ vừa qua thì không thể chống tham nhũng quyền lực và tiền bạc được. Tay đã nhúng chàm! Vì tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc như bóng với hình, chúng nương tựa nhau, bảo vệ nhau. Đây mới là nguy cơ của mọi nguy cơ đưa chế độ toàn trị từng bước nhưng chắc chắn rơi sâu xuống vực thẳm! Quyền và tiền như đổ dầu vào lửa. Tới một thời điểm thích hợp không còn xa, những quan tham nhũng quyền lực và tham nhũng tiền bạc không thể chung sống và cũng không thể nhượng bộ nhau!
Tại HNTU 5 Khóa 12 (5-10.5.17) Đinh La Thăng đã bị cách chức UVBCT và Bí thư Thành ủy thành phố HCM. Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra câu hỏi về tình trạng ngày càng thua lỗ và tham nhũng trong các DNNN: “Vì sao những hạn chế, yếu kém nêu trên đã được chỉ ra từ lâu nhưng qua nhiều nhiệm kỳ đến nay tình hình vẫn chậm chuyển biến, thậm chí có mặt còn trầm trọng hơn?”
Là người cầm đầu BCT thì đúng ra, Nguyễn Phú Trọng phải là người tiêu biểu nhất “của BCHTU về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý”. Đây là những điều kiện chính ông đã đặt ra làm nguyên tắc chọn người vào BCT! Nhưng các DNNN đã được BCT dưới quyền của ông cho tung hoành hoạt động suốt bao nhiều năm qua, nay Nguyễn Phú Trọng lại làm bộ ngây thơ đặt câu hỏi, “vì sao” các DNNN đi đến nông nỗi như ngày hôm nay! Điều này chứng tỏ Nguyễn Phú Trọng đã đóng kịch giả bộ, làm như người mù lòa không nhìn thấy nguyên nhân; hoặc thừa nhận vai trò bất lực, chỉ ngồi làm bù nhìn như ông bình vôi, càng già, càng ngồi lâu, càng tồi!
Giả vờ quên thực tế, bỏ qua những chuyện tầy đình trước sau vẫn là thái độ và mánh lới cực kỳ lươn lẹo của người cầm đầu chế độ toàn trị. Chính khi BK gia tăng chính sách bành trướng và thôn tính ở biển Đông, Nguyễn Phú Trọng đã gạt phăng và nói tỉnh bơ tại QH, “tình hình biển Đông không có gì mới!”. Hay khi xẩy ra thảm trạng môi trường cá chết trắng trên bãi biển miền Trung do công ti Formosa gây ra thì Nguyễn Phú Trọng vẫn thản nhiên lại thăm Ban giám đốc công ti này và sau đó lại còn nói tỉnh bơ như một người bàng quang: “Trước kia chúng ta kêu gọi đầu tư nhưng không nghĩ đến vấn đề môi trường, không nghĩ đến đổ rác đi đâu!”
Đối với những người hiểu biết và có lương tri không ai có thể hiểu được những lời tuyên bố trên thật vô cùng lạ lùng như thế. “Bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý” của người cầm đầu chế độ toàn trị là như thế!!! Chính điều này Nguyễn Phú Trọng đã đưa ra làm tiêu chuẩn để chọn lựa và đánh giá các UVBCT !!!
***
Tổng kết lại, phân tích cặn kẽ và nghiêm túc về thái độ, hành động và tư duy diễn tiến từ ĐH 6 (1986) tới ĐH 12 (2016) của những người cầm đầu toàn trị từ Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông đức Mạnh đến Nguyễn Phú Trọng có thể tóm lược là: Tuy miệng luôn luôn phải nói “đổi mới”, nhưng trong thâm tâm vẫn tin tuyệt đối vào chủ nghĩa Marx-Leninn và đi theo con đường của Bác đã chọn.Theo họ, đó là “sáng suốt” và “uống nước nhớ nguồn”, không phản bội người khai sáng và những thế hệ đã hi sinh, như thế là vừa khôn ngoan, vừa giữ được đạo lí của người đi sau! Bất đắc dĩ phải thay đổi một vài điều ở lãnh vực này hay lãnh vực khác chỉ là vì tình thế theo tiêu chí “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”!
Trong đó trước sau họ vẫn không thèm đoái hoài tới nguyện vọng và khát vọng rất chính đáng và bức thiết của nhân dân là hòa giải dân tộc thực sự để Bắc-Nam cùng nhau phát triển nội lực, để xây dựng lại quê hương từ đống tro tàn do bạo lực, hận thù từ những cuộc chiến tranh tàn khốc và giai giẳng để lại, tiến lên thành một quốc gia giầu mạnh, nhân dân được hưởng hạnh phúc, sống có nhân phẩm và tự do dân chủ! Họ cũng không thèm đếm xỉa tới những thay đổi sâu sắc của thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ, các nước CS Đông Âu tan dã và TQ trỗi dậy trở thành tân đế quốc đang đe dọa trực tiếp VN, các nước trong khu vực và thế giới!
Trên đây là nền tảng căn bản về thái độ, cách hành động và tư duy của những người cầm đầu chế độ toàn trị suốt trên 30 năm qua. Trong đó hai nhân vật có trách nhiệm cao nhất là Đỗ Mười và Nguyễn Phú Trọng, vì họ đã và đang nắm độc quyền lâu và tàn bạo nhất!
Họ không đủ trình độ kiến thức, sự sáng suốt cần thiết và thái độ chân thành đáng lẽ ra phải có, để nhận ra và hiểu rằng, mỗi thời đại phải có những cái nhìn mới, những bước đi thích hợp; nếu người đi trước làm sai thì thế hệ sau phải có trách nhiệm và can đảm thay đổi. Châm ngôn VN có câu “con hơn cha là nhà có phúc”! Cũng với tinh thần này, đáng lẽ ra họ phải dứt khóat chấm dứt sự dối trá, lừa đảo và từ bỏ những ý thức hệ đã bị thực tiễn chứng minh là sai lầm; đồng thời thực tâm chọn con đường mới để kiến thiết đất nước và gây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Đấy mới chính là sáng suốt, biết đền bù tương xứng những sự hi sinh của bao nhiêu triệu người đã từng tin vào họ.
Nhưng vì quá giáo điều nên họ đã không nhận ra được sự tiến hóa rất chính đáng và tự nhiên của nhân loại. Khi xã hội bộ lạc-du mục không còn thích hợp thì chuyển sang chế độ định cư, lập làng xã, chọn cách tổ chức thích hợp để xây dựng xã hội mới. Khi chế độ phong kiến trở thành lạc hậu và tàn bạo, cản đường tiến hóa của nhân dân thì quyết giã từ nó; khi chế độ toàn trị theo Marx-Lenin đã bị thực tế phủ nhận thì nếu sáng suốt, họ phải quyết chuyển sang DCĐN, tôn trọng các giá trị con người, khuyến khích những sáng tạo và tham gia tích cực của mọi thành phần.
Vì bảo thủ mù quáng nên họ vẫn cố giữ thái độ và tư duy cũ đã lỗi thời và hoàn toàn sai lầm. Vì thế họ đã cấm đoán, đàn áp đảng viên và nhân dân nói khác, nghĩ khác và hành động khác. Họ sẵn sàng tiếp tục sử dụng cả dối trá, tàn bạo, thậm chí cả nhân danh người đã khuất để biện minh cho các hành động cực kỳ sai lầm và độc ác. Đến khi bị kẹt cứng (khi Liên Xô sụp đổ) họ lôi cả HCM làm lá chắn để bảo vệ quyền lực và tiền bạc cho cá nhân, gia đình và vây cánh!
Công thức để thực hiện “đổi mới” suốt trên 30 năm qua chỉ loay hoay trên thái độ và tư duy cũ. Đó là: Chủ nghĩa Marx-Lenin + Đi theo con đường của Bác đã chọn. Họ bắt mọi người phải tin theo và làm như họ. Thậm chí còn ra lệnh cho các nhà khoa bảng XHCN không được suy nghĩ khác và phải khẳng định rằng, chỉ có CNXH theo Marx-Lenin như Bác đã chọn là đúng muôn đời! Đỗ Mười đã ra lệnh như vậy. Cựu CTN Nguyễn Minh Triết từng hô “bỏ Điều 4 Hiến pháp là tự sát”. Nguyễn Phú Trọng đã ngạo mạn phán rằng, “đi lên CNXH là nguyện vọng của nhân dân” và mạt sát các trí thức và chuyên viên đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp là “suy thoái đạo đức”!
Chính vì vậy từ Đỗ Mười tới Nguyễn Phú Trọng, là hai người chính nắm quyền trên 30 năm qua, phải dựng lên bộ máy công an trị hà khắc và sử dụng trí trá, độc ác, giả nhân giả nghĩa để tham nhũng quyền lực và tiền bạc cho chính họ và phe nhóm!
Sử dụng những thủ đoạn và phương pháp gian trá, độc đoán để thực hành các ý thức hệ sai lầm và những hành động cực kỳ mù quáng và tàn bạo suốt trên 30 năm qua đã chứng minh rất rõ ràng: Họ đã tự đánh mất tư cách, cực kỳ vô trách nhiệm đối với đảng viên và nhân dân, kể cả với hàng triệu người đã hi sinh. Vì thế sự cầm quyền và tồn tại của họ và phe nhóm là hoàn toàn bất chính, phản lại nguyện vọng chính đáng của nhân dân và đi ngược với trào lưu của thời đại!
______________________________
Thân mời đọc tiếp Chương kết: Các nguyên nhân, người chịu trách nhiệm và hậu quả của “Đổi mới” lừa bịp.
Chương cuối: Phải dứt khoát đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx-Lenin, mọi người quyết phá rào cản độc tài, cùng nhau đứng lên nắm lấy cơ hội kiến tạo một Nước Việt Nam Mới: Những điều nên nhớ, nên tránh và nên làm!
Bộ ảnh sinh hoạt của người Bình Dương xưa dưới thời Pháp thuộc
Bộ ảnh hiếm về cuộc sống sinh hoạt của người Bình Dương xưa dưới thời Pháp thuộc
Tỉnh Bình Dương ngày nay là một phần của tỉnh Thủ Dầu Một xưa. Tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập tháng 12/1899, tách từ tỉnh Biên Hòa. Tháng 10/1956, tỉnh này được giải thể để thành lập tỉnh Bình Dương và một phần tỉnh Bình Long.
Khu chợ của thị trấn Thủ Dầu Một, tỉnh lỵ của tỉnh Thủ Dầu Một thời thuộc địa, ngày nay là thành phố Thủ Dầu Một trực thuộc tỉnh Bình Dương.
Một dãy phố buôn bán ở chợ Thủ Dầu Một thập niên 1920
Thời điểm này chưa có điện, mỗi góc chợ có một trụ đèn đường chiếu sáng bằng đèn dầu, có dây treo vào ròng rọc để hạ xuống thắp đèn mỗi tỗi hay để châm dầu. Ở cuối đường có mái nhà hình bát giác là chợ cá, phía sát bờ sông
Gánh hủ tiếu bán rong ở chợ Thủ Dầu Một thập niên 1920
Người dân mua bán ở bến đò chợ Thủ Dầu Một thập niên 1920
Những chiếc quang gánh thân thuộc của người Việt xưa nay hiếm còn thấy trên phố
Những chiếc lu khạp đặc trưng của vùng đất Thủ xưa nay – Hình chụp thập niên 1920
Bến phà cạnh chợ cá Thủ Dầu Một, chữ BAC trên biển hiệu, trong tiếp Pháp “BAC” có nghĩa là phà, đò ngang.
Thuyền chở hàng trên sông thập niên 1900
Con đường dọc bến sông thập niên 1920, có lẽ là đường Bạch Đằng ngày nay?!
Một bức ảnh khác chụp bến sông này
Một ngôi trường ở Thủ Dầu Một thập niên 1920
Một con đường rải nhựa ở Thủ Dầu Một thập niên 1920
Đường từ Thủ Dầu Một về Sài Gòn thập niên 1920
Doanh trại Vassoigne của quân đội Pháp tại Thủ Dầu Một thập niên 1920, trước 1975 là trường Công Binh của QLVNCH, ngày nay là trường Công Binh Bình Dương
Những dãy nhà kiên cố được xây theo kiến trúc Pháp của khu doanh trại
Giờ thể dục của học sinh trường Thiếu Sinh Quân trong khu doanh trại
Chùa bà Thủ Dầu Một thập niên 1920
Một ngôi nhà có kiến trúc độc đáo ở Thủ Dầu Một
Toàn cảnh đình Bà Lụa xưa
Nhà của một ngư dân Thủ Dầu Một.
Một cây cầu bắc qua sông ở làng Hưng Định, Thủ Dầu Một thập niên 1920
Một người dân đội nón lá đi qua cầu
Chợ Lái Thiêu ở quận Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một.
Chợ Lái Thiêu thập niên 1920 nằm sát bến sông
Lái Thiêu thập niên 1920 là một vùng đất giao thương sầm uất
Phát gạo cho người dân bản xứ trong nạn đói năm 1911 tại Đình Thủ Dầu ở Lái Thiêu
Xưởng vẽ tranh kính ở Lái Thiêu.
Xưởng nhuộm của dân địa phương tại Lái Thiêu.
Lò sản xuất đường mía ở Lái Thiêu.
Bỏ mía vào máy ép để lấy nước cốt mía làm đường
Chiếc máy ép mía thô sơ này hoạt động nhờ sức kéo của hai con trâu và một em bé ngồi trên trục quay để điều khiển. Mái nhà xưởng lợp ngói được dỡ ngói ra cho chiếu sáng vào chiếc máy, có lẽ để đủ ánh sáng chụp hình chi tiết, vì vào thời gian này chưa có điện ở đây và phim chụp còn là loại dùng hoá chất (gélatino-bromure) bôi lên kính.
Khu đồn điền trồng dứa ở Lái Thiêu.
Đồn điền mía và đường sắt ở tỉnh Thủ Dầu Một năm 1946.
Bến sông tại làng nghề gốm ở Lái Thiêu.
Một tòa nhà hành chính ở Lái Thiêu.
Cảnh họp chợ tại một ngôi làng ở Lái Thiêu.
Chùa Cô Hồn 1918, hiện nay là khu vực trường THCS Phú Cường, P.Phú Cường, TDM (?!)
30 tấm ảnh màu đẹp nhất của đường phố Saigon thập niên 1960
30 tấm ảnh màu đẹp nhất của đường phố Saigon thập niên 1960
Bộ ảnh màu chọn lọc với những hình ảnh đẹp nhất của Sài Gòn trong thập niên 1960, đã cách đây trên dưới nửa thế kỷ. Dưới mỗi hình đều có chú thích địa điểm và thời điểm chụp ảnh.
Sài Gòn thời điểm này đang trải qua nhiều khó khăn, chịu áp lực nặng nề của cuộc chiến. Các vùng ven vẫn rất phức tạp và nghèo nàn. Tuy nhiên các vùng trung tâm của thành đô vẫn rất náo nhiệt, phồn hoa, xứng danh tên gọi “Hòn ngọc viễn đông”.
Đây là tuyển chọn hình ảnh phần 12, độc giả có thể xem lại 11 phần khác trong link ở cuối bài viết này.
Bến Bạch Bằng năm 1965 với các tàu chiến trên bến sông.
Bệnh viện Grall trên đường Gia Long năm 1965, nay là Lý Tự Trọng. Bệnh viện này ngày nay là BV Nhi Đồng 2.
Vào mùa mưa năm 1964, sét đánh gãy mất 1 tháp chuông. Hình này là năm 1965, khi đang sửa lại tháp.
Ngã 6 Phù Đổng năm 1965-1966 khi chưa có tượng Phù Đổng Thiên Vương.
Nhà thờ Thánh Jeanne d’Arc trên đường Hùng Vương năm 1966
Tòa Đô Chánh 1966
Đường Võ Tánh năm 1966, nay là đường Nguyễn Trãi
Đôi tình nhân trên đường Hồng Thập Tự năm 1967 (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai). Bên tay phải là Cercle Sportif, sau 75 là Cung văn hóa Lao Động số 55 NTMK.
Dinh Gia Long trên đường Gia Long năm 1967, nay là Bảo Tàng Thành Phố trên đường Lý Tự Trọng.
Tượng đài “Tổ quốc – Không gian” phía trước Tòa Đô chánh, khách sạn REX. Năm 1967, trong đợt xây dựng các tượng đài biểu trưng của các binh chủng, Không quân đã cho dựng nên một tác phẩm điêu khắc kỷ hà để nói lên tinh thần bảo vệ vùng trời và Tổ quốc.
Biển quảng cáo trước ga xe lửa cũ, gần chợ Bến Thành năm 1967
Công trường Lam Sơn năm 1967 trước Hạ Nghị Viện.
Hình ảnh rất phong độ của thanh niên Sài Gòn. Hình chụp ở đoạn giao lộ Lê Lợi – Nguyễn Huệ năm 1967.
Tòa Đô Chánh 1967
Tòa Đô Chánh 1967
Đại lộ Nguyễn Huệ năm 1967
Bến Bạch Đằng 1967
Góc chụp từ đường Tự Do ra hướng sông Sài Gòn năm 1967. Chóp nhọn là của tòa nhà Saigon Palace ở góc Tự Do – Ngô Đức Kế.
Đại lộ Nguyễn Huệ năm 1967
Sài Gòn 1967
Saigon by night. Đại lộ Nguyễn Huệ về đêm
Thương xá TAX
Tòa Đô Chánh năm 1968. Nhà bên phải có một ống rất to. Đó là ống thông rác của các tầng. Cư dân sẽ bỏ rác từ trên để rác đi thẳng xuống thùng rác lớn hứng bên dưới.
Đại lộ Lê Lợi đông đúc xe cộ năm 1968
Góc Lê Lợi – Công Lý. Bên phải là cư xá Tam Đa năm 1968
Trên đường Hai Bà Trưng năm 1969, sau lưng Hạ Nghị Viện. Nhà mái ngói bên phải là xưởng sản xuất a’ phiện.
Đại lộ Thống Nhất năm 1969, đường đến Dinh Độc Lập.
Đường Tổng Đốc Phương năm 1969, nay là đường Châu Văn Liêm
Tòa Đô Chánh 1969, bồn phun nước vòng xoay Bồn Kèn
Đại lộ Nguyễn Huệ, nhìn ra bến Bạch Đằng.
Quảng Ngãi: Nước biển vàng nâu, nổi bọt
Quảng Ngãi: Nước biển vàng nâu, nổi bọt
Nước biển chuyển từ màu nâu đen sang màu vàng nâu, nổi bọt màu đã lan rộng trên cả vùng biển kéo dài từ khu vực bãi tắm Khe Hai (thôn Trung An, xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) xuống đến làng chài thôn Hải Ninh (xã Bình Thạnh) và vẫn tiếp tục lan rộng.
Đến ngày 6-12, nước biển đã nâu đen đã chuyển thành màu vàng nâu, bọt nổi đậm màu cả vùng biển quanh làng chài thôn Hải Ninh (xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), phạm vi ảnh hưởng đã kéo dài thêm từ bãi tắm Khe Hai xuống làng chài này.
Các khu vực gần cảng cá thôn Hải Ninh, người dân cũng phát hiện màu nước biển đậm hơn so với mọi năm.
Nước chuyển chuyển màu vàng nâu lan xuống khu vực làng chài thôn Hải Ninh, xã Bình Thạnh. Ảnh: NGUYỄN TRANG
Ông Nguyễn Xuân Thành (thôn Hải Ninh) cho biết: “Nước biển chuyển màu đã ảnh hưởng trên cả vùng biển, mọi năm nước thượng nguồn đổ về, bọt biển vẫn màu trắng xóa, đến giờ thì thấy bọt biển cũng màu vàng nâu theo màu nước”.
Khi sóng biển tấp vô bãi, ngoài màu nước vàng nâu và bọt biển chuyển màu thì kéo theo từng mảng bọt, thử chạm tay thì thấy nhớt.
Bọt biển cũng chuyển màu vàng nâu tấp vô bãi biển làng chài thôn Hải Ninh. Ảnh: NGUYỄN TRANG
Chị Đỗ Thị Nga (thôn Hải Ninh) gần khu vực cảng cá thôn Hải Ninh, nói rằng, khu vực này là khúc giao cuối của sông Trà Bồng đổ ra cửa biển, nếu như nước thượng nguồn thì màu nước biển sẽ trong hơn do hòa với nước ngọt của sông, thế nhưng màu nước biển tại khu vực cảng cá đậm màu hơn, khác hẳn với mọi năm.
Theo các cơ quan chức năng, xung quanh không có sự cố tràn dầu nào từ khu vực tàu mắc cạn.
Hiện tại khu vực nước biển chuyển màu vẫn đang tiếp tục lan rộng.– Nước biển chuyển màu nâu đen sang vàng nâu, lan rộng ở vùng biển Quảng Ngãi (Ảnh: NGUYỄN TRANG)
Đây là màu nước biển được ghi nhận tại bãi tắm Khe Hai (thôn Trung An, xã Bình Thạnh) vào ngày 4-12 có màu nâu đen, nổi bọt trắng.
Màu nước biển đã chuyển màu khi lan xuống làng biển thôn Hải Ninh (xã Bình Thạnh) ghi nhận ngày 6-12, đổi màu vàng nâu.
Từ khơi xa vẫn còn bọt trắng, vào gần bờ bọt biển cũng chuyển màu vàng nâu.
Bọt biển màu vàng nâu đậm nổi lềnh bềnh trên mặt nước.
Bọt biển nổi lềnh bềnh và khi thử chạm tay cảm thấy nhớt.
Nước biển đổi màu vẫn đang được các cơ quan chức năng tìm nguyên nhân.
NGUYỄN TRANG
Bộ ảnh Việt Nam xưa cách đây 100 năm
Bộ ảnh Việt Nam xưa cách đây 100 năm
Những bức ảnh hiếm còn sót lại dưới đây sẽ giúp chúng ta hình dung được khung cảnh Việt Nam trong quá khứ. Mời các bạn cùng xem.
▼ Một chợ bán lợn ở Bắc Kỳ, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.
▼ Tứ đại mỹ nhân Hà thành, ảnh chụp năm 1930.
▼ 2 cậu bé ở Bắc Kỳ được giao nhiệm vụ đạp guồng bơm nước vào ruộng, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.
▼ Sông Tam Bạc, Hải Phòng, ảnh chụp khoảng năm 1910.
▼ Cảng Hải Phòng nhìn từ trên cao, ảnh chụp 1931.
▼ Những em bé đang bắt cá ở bãi đá, Đồ Sơn, Hải Phòng, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.
▼ Người Việt bản địa Nam Kỳ chăm sóc cá sấu trong vườn thú ở Mỹ Tho, ảnh chụp năm 1912.
▼ Người Hoa đang nhổ lông vịt ở chợ lớn Nam Kỳ, ảnh chụp khoảng 1920.
▼ Một cụ bà bán hàng rong ở Nam Kỳ, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.
▼ Người nông dân ở Tây Ninh, Nam Kỳ, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.
▼ Đầu kéo chạy hơi nước vận chuyển mía ở Tây Ninh, Nam Kỳ, ảnh chụp năm 1915.
▼ Một con đường làng ở Thủ Đức, Nam Kỳ, ảnh chụp năm 1909.
▼ Những phụ nữ đang quay tơ dệt vải ở Ba Tri, Bến Tre, Nam Kỳ, ảnh chụp khoảng 1900-1920.
▼ Một tiệm giặt khô ở Lái Thiêu, Nam Kỳ, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.
▼ Săn cọp.
▼ Một người đánh xe ngựa mặc áo tơi ở Sài Gòn, ảnh chụp năm 1930.
▼ Những em bé ở Sài Gòn, ảnh chụp đầu thế kỷ 20.
▼ Hồ Con Rùa – chụp từ tháp chuông nhà thờ Đức Bà đầu thế kỷ 20.
▼ Trẻ em hái lá dâu tằm ở Ba Tri, Bến Tre, ảnh chụp khoảng 1900-1920.
Nguồn: Dkn.tv
Chương Trình Phát Thanh Tiếng Mõ bắc Cali
Chương Trình Phát Thanh Tiếng Mõ bắc Cali
Vào hồi 2.30Pm chiều nay, Chủ nhât 01/12/2019, nhà báo Huỳnh Lương Thiện và Nhóm Chủ Trưong Tiếng MÕ Bắc Cali đã tổ chức Buổi Tiếp tân, giới thiệu Chương Trình Phát Thanh Tiếng Mõ bắc Cali, tại số 999 Story Rd, #9027, trong Khu Vietnam Town, thành phố San josé, bắc California. Mặc dù là một buổi chiều mưa gió, khá lạnh, nhưng cũng có một số đông quan khách gồm các vị chức sắc chính quyền địa phương kể cả một vị Dân biểu Tiểu Bang cũng đã đến tham dự lễ cắt băng khai trương cho Chương trình Tiếng Mõ tại San José.
Sau đây là một vài hình ảnh chúng tôi ghi nhanh, xin được chia xẻ cùng Quý Vị và Các Bạn xa gần, như một Lời chúc mừng cho Voice Việt vừa ra đời góp thêm tiếng nói cho trên trăm ngàn người Mỹ gốc Việt tại Thung Lũng Hoa Vàng thêm phát triển và thành công
Alexandre de Rhodes và sự tưởng tượng của nền sử học CSVN
Alexandre de Rhodes và sự tưởng tượng về lịch sử cận đại của nền sử học CSVN
Khôi Nguyễn
Gần đây, thành phố Đà Nẵng muốn lấy tên
Alexandre de Rhodes để đặt tên đường phố. Một số trí thức, trong đó có
nhiều người giảng dạy lịch sử trong môi trường đại học, viết thư phản
đối, cho rằng Alexandre de Rhodes là một nhà truyền giáo mang tư tưởng
thực dân, là kẻ có tội với Việt Nam. Lá thư của họ khiến cho thành phố
Đà Nẵng rút lại ý định.
Từ điển Annamiticum Lusitanum et Latinum của Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651. Nguồn: https://vietnamesetypography.com/
Tuy vậy, những người phản đối ấy hoàn toàn dựa theo những niềm tin có
tính tưởng tượng về Alexandre de Rhodes nói riêng và hình ảnh “Tây
phương” nói chung, được kiến tạo từ trước 1975 ở miền Bắc.
Bài viết này nhắc lại một cách ngắn gọn những tưởng tượng về lịch sử
ấy để gợi mở cho chúng ta suy nghĩ về sử học, giáo dục và chính trị
đương đại.
Tưởng tượng về Alexandre de Rhodes
Năm 1971, Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, trong quyển “Lịch sử Việt
Nam”, tập 1, trang 304, trích dẫn lời Alexandre de Rhodes thể hiện một
âm mưu có tính thực dân của mình:
“Đây là một vị trí cần được
chiếm lấy và chiếm được vị trí này thì thương gia Âu châu sẽ tìm được
một nguồn lợi nhuận và tài nguyên phong phú”
“Lịch sử Việt Nam”, tập 1, trang 304
Alexandre de Rhodes. Nguồn: YouTube
Uỷ ban này chú thích rằng câu trích này được trích từ sách “Divers voyages et missions en Chine et autres royaumes de l’Orient” (Những
cuộc hành trình và truyền giáo ở Trung Quốc và các vương quốc khác ở
phương Đông) của Alexandre de Rhodes, Paris, 1653, tr. 109-110.
Tuy vậy, người ta không thể tìm thấy câu nói ấy trong tài liệu nói trên.
Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam là một định chế nghiên cứu cấp quốc
gia. Vị thế của nó bảo đảm cho uy tín học thuật của nó. Thành ra từ đó,
người ta cứ trích dẫn và lan truyền niềm tin lệch lạc như vậy
về Alexandre de Rhodes mà không cần kiểm tra lại. Từ lâu, những nhà
nghiên cứu như Vương Đình Chữ (1996), Nguyễn Đình Đầu (2006) đã chỉ ra
lỗi trích dẫn này của Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Nhưng niềm tin ấy
vẫn chưa mất. Lá thư phản đối đặt tên đường của nhóm “trí thức” nói
trên là một ví dụ.
Cũng trong sách này, Alexandre de Rhodes nói đến việc xin nước Pháp
cung cấp nhiều “soldats” để “chinh phục toàn cõi phương Đông, đem về quy
phục Chúa Jesus”. Cao Huy Thuần coi từ “soldats” là “binh lính” quân
sự, từ đó kết tội Alexandre de Rhodes mở đường cho thực dân xâm lược
Việt Nam, dù nhà truyền giáo ấy chết trước cuộc xâm lược ấy đến hai trăm
năm, còn Nguyễn Đắc Khắc Xuyên (1) coi
“soldats” không phải là “binh lính” theo nghĩa đen mà chỉ “chiến binh
Phúc âm”, tức giáo sỹ truyền đạo. Số người hiểu theo cách hiểu của Cao
Huy Thuần đông hơn hẳn cách hiểu của Nguyễn Đắc Khắc Xuyên, các
cuộc tranh luận, đúng hơn là cãi vã, về nghĩa của từ “soldats” hầu như
không đặt từ này trong toàn bộ văn bản của “Hành trình và truyền giáo”
để xem tinh thần thực sự của khái niệm cũng như của sách này là gì, có
liên quan đến việc đánh chiếm thuộc địa hay không.
Trí tưởng tượng nói trên về Alexandre de Rhodes sở dĩ khó có thể nhạt
phai vì nó nằm trong một tưởng tượng khác, lớn hơn, về lịch sử cận đại.
Tưởng tượng về lịch sử cận đại này cũng do Uỷ Ban khoa học xã hội Việt
Nam, từ tiền thân của nó là Ban nghiên cứu Văn Sử Địa, xây dựng nên từ
giữa thập niên 1950, sau khi Đảng Lao động Việt Nam (tức Đảng Cộng sản
Việt Nam) lấy được miền Bắc.
Tưởng tượng về thế kỷ 19
Tôi có làm những cuộc “phỏng vấn” nhỏ, dành cho những bậc thức giả,
bao gồm cả những người nghiên cứu và giảng dạy lịch sử, một câu hỏi duy
nhất: Trước thế kỷ 20, cuộc xâm lược cuối cùng của Trung Quốc đối
với Việt Nam là cuộc xâm lược nào? Trong sự kiện ấy, ai là tổng chỉ huy
của quân đội Trung Quốc? Ai là người đánh bại đội quân xâm lược đó?
Hầu hết người được hỏi đều trả lời: Đó là cuộc xâm lược của Mãn Thanh
thời Hoàng đế Càn Long vào năm 1789, chỉ huy đội quân xâm lược là Tôn
Sỹ Nghị, người đánh bại đội quân xâm lược đó là Hoàng đế Quang Trung.
Chỉ có một học giả duy nhất trả lời đúng: Cuộc xâm lược cuối cùng
là vào thế kỷ 19, thời Từ Hy thái hậu của Mãn Thanh, chỉ huy đội quân
xâm lược là Phùng Tử Tài, còn người đánh bại cuộc xâm lược đó của Trung
Quốc là… thực dân Pháp.
Tại sao hầu hết những người am tường sách vở ở Việt Nam mà tôi có dịp
được hỏi lại hoàn toàn không nhớ gì về cuộc xâm lược trong thế kỷ 19
này của Trung Quốc? Vì nó hoàn toàn bị xoá khỏi lịch sử. Nó không được
dạy trong chương trình sử ở cả bậc đại học lẫn trung học.
Câu chuyện bị lãng quên: Nước Đại Nam trước hai “gọng kìm lịch sử” Pháp – Mãn Thanh
Cuối thế kỷ 19, Việt Nam đối diện với hai siêu cường, Pháp và Mãn
Thanh, một bên đến từ phương Tây, mang theo nền văn minh của chủ nghĩa
tư bản, một bên là thiên triều ngàn năm vẫn đang chìm đắm trong ảo giác
mình là trung tâm của thế giới.
Ngay sau khi Pháp lấy Nam Kỳ, Mãn Thanh cũng lập kế hoạch đánh chiếm
miền Bắc. Mãn Thanh quyết tâm đánh chiếm Bắc Kỳ vì Việt Nam đã suy yếu,
nhằm bảo vệ mô hình thiên triều – chư hầu ngàn năm, còn Pháp quyết lấy
nốt phần còn lại. Hai bên tất yếu bước vào một cuộc đụng đầu lịch sử,
dần dần đi đến chỗ đánh nhau ác liệt ngay trên lãnh thổ Việt Nam, qua
một loạt trận đánh như Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Tuyên Quang năm
1883.
Mãn Thanh đã quyết tâm đến mức dốc tổng lực đánh bại Pháp trên đất
liền, chiếm toàn bộ vùng trung du phía Bắc, áp sát khu vực đồng bằng
sông Hồng. Thủ tướng Pháp phải từ chức. Nhưng quân Pháp lật ngược thế cờ
bằng cách mở ra chiến trường trên biển, đánh chiếm đảo Đài Loan và huỷ
diệt Bắc Dương hạm đội của Mãn Thanh ở Phúc Châu.
Mãn Thanh ban đầu thấy chỉ khả thi khi đặt mục tiêu giữ lại vùng Bắc
Kỳ, nhưng khi phải ký vào Hiệp ước Thiên Tân 1885, Mãn Thanh buộc chấp
nhận mất toàn bộ chư hầu Việt Nam.
Hiệp ước Thiên Tân 1885 giữa Pháp và Mãn Thanh đã tạo ra một bước ngoặt lịch sử cho cả Mãn Thanh và Việt Nam.
Nếu như việc phải nhượng địa Hong Kong cho nước Anh chỉ khiến Mãn
Thanh thức tỉnh về khả năng kỹ thuật của phương Tây nhưng vẫn giữ vững
niềm tin vào hệ thống thiên triều – chư hầu, thì đến khi mất chư hầu
Việt Nam vào tay Pháp, ý thức hệ và cấu trúc thiên triều – chư hầu của
họ bị đánh tận gốc rễ. Việc Mãn Thanh không thể giữ Việt Nam trong cấu
trúc thiên triều – chư hầu đã khiến Nhật Bản, lúc này đã trở thành một
cường quốc, quyết định giành lấy một chư hầu khác của Mãn Thanh là Triều
Tiên. Mãn Thanh tiếp tục mất Triều Tiên trong cuộc chiến Nhật Thanh 10
năm sau đó.
Từ đó, việc cấu trúc và ý thức hệ thiên triều – chư hầu bị sụp đổ
toàn diện trong thế kỷ 19 trở thành một trong những nội dung chủ yếu của
ý niệm “thế kỷ ô nhục” trong chủ nghĩa dân tộc Trung Hoa hiện đại.
Còn ở Việt Nam, do cuộc chiến Pháp – Thanh ảnh hưởng quá lớn đến số
phận Việt Nam, nên dù xoá cuộc chiến này khỏi Sách giáo khoa sử cho học
sinh phổ thông, ngày nay, các sử gia ở Hà Nội vẫn phải dạy học sinh về
một số điều liên quan đến cuộc chiến ấy: đội quân Cờ Đen của tướng Mãn
Thanh là Lưu Vĩnh Phúc và Hiệp ước Thiên Tân 1885.
Đó là sự kiện không thể không dạy. Quân đội Lưu Vĩnh Phúc của Mãn
Thanh đã lập hai chiến công là giết hai chỉ huy của Pháp trong hai trận ở
Cầu Giấy, còn Hiệp ước Pháp – Thanh 1885 thì mở ra trang sử mới của
Việt Nam. Nhưng, nói về Lưu Vĩnh Phúc và Hiệp ước Pháp – Thanh mà lại
không nói gì về cuộc chiến tranh quyết định quyền kiểm soát Việt Nam của
hai nước Pháp – Thanh này, các sử gia của chúng ta đã cho học sinh phổ
thông học một bức tranh lịch sử cận đại theo kiểu… Pháp xâm lược Việt
Nam, rồi đột nhiên Mãn Thanh xuất hiện ký một hiệp ước quyết định số
phận chúng ta.
Lưu Vĩnh Phúc vốn là quân Thái Bình Thiên Quốc, bị triều đình Mãn
Thanh đánh bại, chạy sang Việt Nam làm thổ phỉ, gây ra vô số tội ác cho
dân chúng. Triều đình Huế không thể đánh dẹp, phải nhờ Mãn Thanh đánh
giúp. Khi triều đình Mãn Thanh cử quân đội vào Việt Nam để đụng đầu với
Pháp, quân đội triều đình Mãn Thanh đã thâu nạp luôn đội quân thổ phỉ
Lưu Vĩnh Phúc, ban cho phẩm hàm triều đình, thay vì tiêu diệt nó.
Sách giáo khoa sử lớp 7 hiện nay ở Việt Nam dùng khái niệm “quân ta”
để gọi Lưu Vĩnh Phúc. Lối giáo dục này bắt đầu từ hơn 70 năm trước, khi
sử gia Trần Văn Giàu và Trần Huy Liệu ở Hà Nội bắt đầu xây dựng bức
tranh “lịch sử cận đại”. Lưu Vĩnh Phúc có tờ Hịch kêu gọi binh lính của
mình đánh Pháp, trong đó, đoạn đầu tiên, ông nói rõ mục đích của cuộc
chiến: Việt Nam là chư hầu của Mãn Thanh, nay Pháp sang chiếm mất chư
hầu của ta, ta và Pháp là kẻ thù không đội trời chung.
Sử gia Trần Văn Giàu làm gì khi trích dẫn bài Hịch này vào bộ sử “Bắc
kỳ kháng Pháp”? Ông cắt bỏ đoạn mở đầu thể hiện rõ ý thức hệ và mục
đích chiến tranh của họ Lưu. Nhờ thế, sử gia họ Trần dễ dàng gắn huân
chương “tình hữu nghị chiến đấu của hai dân tộc Việt Trung” cho Lưu Vĩnh
Phúc.
Lịch sử của sự phân đôi phải / trái
Xoá bỏ cuộc xâm lược của Mãn Thanh và cuộc chiến Pháp Thanh vào thế
kỷ 19, các sử gia miền Bắc xây dựng thế kỷ 19 theo mô hình phân đôi: một
bên là thực dân Pháp xâm lược, nhà Nguyễn hèn nhát hàng giặc, một bên
là “dân tộc” anh hùng kháng chiến chống ngoại xâm. Trên cái nền bức
tranh phân đôi con người làm hai tuyến, bên trái là “xâm lược phương
Tây” và bên phải là “nhân dân anh hùng”, người ta lần lượt điêu khắc các
nhân vật lịch sử sao cho ăn khớp với bức tranh ấy: Alexandre de Rhodes
dĩ nhiên thuộc bên trái bức tranh, phong trào văn thân (vốn không có ý
niệm về lòng ái quốc mà chỉ chống người theo đạo Thiên chúa giáo để bảo
vệ hệ thống phong kiến nơi họ có thể tìm thấy vị trí xã hội của mình)
được xếp vào bên phải.
Vẽ bức tranh thế kỷ 19 theo cách ấy, các sử gia của Viện Sử học ở Hà
Nội từ thập niên 1950 dễ dàng tiếp tục vẽ bức tranh của giai đoạn tiếp
theo như cách chúng ta thấy trong các giáo trình “Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam” ngày nay: “nhân dân” tuy anh hùng nhưng không có đường lối đấu
tranh đúng đắn, liên tục thất bại cho đến khi Đảng Cộng sản ra đời,
mang về Việt Nam vũ khí tối tân là con đường cách mạng vô sản. Đảng Cộng
sản Việt Nam là nhân vật trung tâm của bức tranh. Lịch sử quốc gia thế
kỷ 20 được đồng nhất với lịch sử Đảng.
Cách học ấy bắt đầu từ giữa thập niên 1950, đến nay đã kéo dài khoảng 4 thế hệ.
Phục hồi ký ức?
Trần Trọng Kim, người cha của sử học hiện đại Việt Nam, 1883-1953
Cuộc chiến Pháp – Thanh và sự thất bại của Việt Nam khi bị kẹt giữa
hai siêu cường ấy đã được sử gia hiện đại đầu tiên của Việt Nam, Trần
Trọng Kim, phân tích kỹ lưỡng trong “Việt Nam sử lược”, bộ sách giáo
khoa lịch sử đầu tiên của nước Việt Nam, xuất bản vào 1919-1920. Cuốn
sách đã bị cấm ở miền Bắc sau 1954 và toàn quốc sau 1975. Nếu chấp nhận
phục hồi ký ức về cuộc xâm lược của Mãn Thanh và cuộc chiến Pháp Thanh
thế kỷ 19, chúng ta sẽ phải chấp nhận bức tranh thế kỷ ấy như người cha
của nền sử học Việt Nam đã khắc họa một cách khách quan: Đó là thế kỷ mà
Việt Nam bị mắc kẹt vào hai gọng kìm Pháp – Thanh, bị giằng xé giữa hai
mô hình “chư hầu của thiên triều phương Bắc” và “thuộc địa của thực dân
phương Tây”, bị buộc phải lựa chọn giữa hai con đường “Tây phương hoá”
hay “tiếp tục nằm trong vòng ảnh hưởng của vùng văn hoá chữ Hán”.
Điều đó có nghĩa là bức tranh lịch sử từ đầu thế kỷ 20 cũng cần được
vẽ lại toàn bộ. Trong bức tranh này, vị trí của các lực lựợng chính trị,
các phong trào xã hội, các vấn đề thuộc phạm vi tinh thần như lịch sử
tư tưởng, văn hoá, văn học nghệ thuật… cũng sẽ được tái định vị một cách
căn bản.
Năm 1987, sử gia Nhật Bản Tsuboi Yoshiharu xuất bản “Nước Đại Nam
đối diện với Pháp và Trung Hoa”, phân tích thế kỷ 19, trọng tâm là thời
Tự Đức, như là thời đại Việt Nam mắc kẹt giữa hai siêu cường. Cuốn sách
được các học giả Nguyễn Đình Đầu, Bùi Trân Phượng Tăng Văn Hỷ, Vũ Văn
Kính dịch ra tiếng Việt và Trần Văn Giàu là người viết lời giới thiệu.
Trần Văn Giàu đã đánh giá cách tiếp cận của Tsuboi là “mới mẻ” mà “quên”
mất rằng, cách hiểu ấy về thế kỷ 19 đã ra đời ngay từ đầu thế kỷ 20,
trước sử gia Nhật Bản ấy đến bảy thập niên, trong “Việt Nam sử lược”,
cuốn sách mà chính các sử gia kiêm chính trị gia ở Hà Nội đã cấm đoán từ
thập niên 1950 để độc quyền một cách kể chuyện lịch sử duy nhất.
Nhận thức về lịch sử (trả lời câu hỏi “chúng ta đến đây từ đâu và như
thế nào?”) và lựa chọn chính trị (trả lời câu hỏi “chúng ta làm gì bây
giờ?”) chỉ là hai mặt của một tờ giấy. Hiểu theo cách đó, như ta thấy
qua câu chuyện phản đối đặt tên đường cho Alexandre de Rhodes nói
trên, những lựa chọn của người Việt Nam hôm nay vẫn chìm đắm trong một
màn sương mù của tư duy được đình hình từ giữa thế kỷ trước bởi Ban
nghiên cứu Văn Sử Địa.
Lãng quên bài học thất bại khi đối diện yêu cầu lịch sử phải lựa chọn
giữa Pháp – Thanh với tư cách là hai mô hình, hai thế giới, Việt Nam
ngày nay tiếp tục đối diện câu hỏi ấy một lần nữa.
Đại học Oregon
(1) Nguyễn Khắc Xuyên tên thật của Hồng Nhuệ người dịch cuốn Divers voyages et missions du P. Alexandre de Rhodes en la Chine,& autres Royaumes de l’Orient, Uỷ ban Đoàn kết Công giáo Tp Hồ Chí Minh xuất bản, 1994.
THÁNG 11/27, 2019. DCVOnline phụ chú và minh họa bổ túc.
Người đặt tên cho đường phố Sài Gòn trước 1975 và ý nghĩa của các tên đường
Người đặt tên cho đường phố Sài Gòn trước 1975 và ý nghĩa của các tên đường
Từ lâu, tôi đã có dịp bày tỏ lòng ngưỡng mộ và khâm phục về việc đặt tên cho các đường phố tại Sài Gòn vào năm 1956. Vì đây là một công việc quá xuất sắc và quá hoàn thiện, nên tôi vẫn đinh ninh rằng đó phải là một công trình do sự đóng góp công sức và trí tuệ của rất nhiều người, của một ủy ban gồm nhiều học giả, nhiều sử gia, nhiều nhà văn, nhà báo…
Nhưng thật là bất ngờ, bất ngờ đến kinh ngạc, khi qua tài liệu đính kèm của tác giả Nguyễn Văn Luân, chúng ta được biết kiệt tác của lịch sử này đã được hoàn thành bởi… một người. Người đó là ông Ngô Văn Phát, Trưởng Phòng Họa Đồ thuộc Tòa Đô Chánh Sài Gòn.
Nhà văn Thuần Phong Ngô Văn Phát và việc đặt tên đường phố Sài Gòn
Trong những năm làm việc tại Tòa Đô Chánh Sài Gòn, tôi có dịp góp phần trông coi việc xây dựng và tu bổ đường xá, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Sài Gòn Tây (Chợ Lớn) gồm 6 quận 5, 6, 7, 8, 10 và 11, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Sài Gòn Đông (Sài Gòn) gồm 5 quận 1, 2, 3, 4 và 9. Hàng ngày họp với các ông cai lục lộ phụ trách từng khu vực, nghe báo cáo đường thì ngập nước sau cơn mưa, đường thì có ổ gà, nhựa đường tróc hết trơ lớp đá xanh đá đỏ nền đường, đường thì dân xây cất trên lộ giới tràn ra lề đường, nên tôi gần như thuộc lòng tên hơn 300 con đường.
Qua bao nhiêu năm lịch sử của thành phố, hầu hết đều có tên Tây như:
Boulevard Charner
Boulevard Galliéni
Boulevard Kitchener
Boulevard Norodom
…
Sau hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 chính quyền Pháp bàn giao cho Chính Phủ Bảo Đại, với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.
Để đánh dấu việc giành độc lập từ tay người Pháp, Toà Đô Chánh Sài Gòn được lệnh gấp rút thay thế toàn bộ tên đường từ tên Pháp qua tên Việt trong khoảng thời gian ngắn nhất. Trong lịch sử của các thành phố có bao nhiêu lần đổi tên hàng loạt toàn bộ các con đường như thế này? Có lẽ vô cùng hiếm hoi.
Đại lộ Trần Hưng Đạo
Việc đối chiếu tên các danh nhân trong lịch sử 4000 năm để đặt tên đường sao cho hợp lý không phải dễ. Chỉ nghĩ đơn thuần, khi dùng tên Vua “Trần Nhân Tôn” và Tướng “Trần Hưng Đạo”, người làm dưới trướng của Vua, để đặt tên cho 2 con đường thì đường nào to và quan trọng hơn? Câu hỏi nhỏ như vậy còn thấy không đơn giản, huống chi cân nhắc cho ngần ấy con đường trong một thời gian gấp rút thật không dễ.
Lúc bấy giờ công việc này được giao cho Ty Kỹ Thuật mà Phòng Hoạ Đồ là phần hành trực tiếp. May mắn thay cho thành phố có được nhà văn Ngô Văn Phát, bút hiệu Thuần Phong, có bằng Cán Sự Điền Điạ lúc ấy đang giữ chức Trưởng Phòng Hoạ Đồ.
Thuần Phong Ngô Văn Phát
Năm 1956, sau hơn ba tháng nghiên cứu, ông đã đệ trình lên Hội Đồng Đô Thành, và toàn bộ danh sách tên đường ấy đã được chấp thuận. Khi tôi vô làm năm 1965 và hàng ngày lái xe đi công trường, đụng chạm với các con đường mới, cảm nhận được sự uyên bác về lịch sử của ông. Nhìn những tên đường trên họa đồ, khu nào thuộc trung tâm thành phố, khu nào thuộc ngoại ô, đường nào tên gì và vị trí gắn bó với nhau, càng suy nghĩ càng hiểu được cái dụng ý sâu xa của tác giả.
Các đường được đặt tên với sự suy nghĩ rất lớp lang mạch lạc với sự cân nhắc đánh giá bao gồm cả công trạng từng anh hùng một lại phù hợp với địa thế, và các dinh thự đã có sẵn từ trước. Tác giả đã cố gắng đem cái nhìn vừa tổng quát lại vừa chi tiết, những khía cạnh vừa tình vừa lý, đôi khi chen lẫn tính hài hước, vào việc đặt tên hiếm có này. Tôi xin kể ra đây vài thí dụ, theo sự suy đoán riêng của mình, bởi vì ông có nói ra đâu, nhưng tôi thấy rõ ràng là ông có ý ấy:
Đầu tiên là những con đường mang những lý tưởng cao đẹp mà toàn dân hằng ao ước: Tự Do, Công Lý, Dân Chủ, Cộng Hoà, Thống Nhất. Những con đường hoặc công trường này đã nằm ở những vị trí thích hợp nhất.
Đường đi ngang qua Bộ Y Tế thì có tên nào xứng hơn là Hồng Thập Tự.
Trụ sở Bộ Y Tế ở góc Hồng Thập Tự – Lê Văn Duyệt (Nay là Nguyễn Thị Minh Khai – CMT8)
Đường de Lattre de Tassigny chạy từ phi trường Tân Sơn Nhất đến bến Chương Dương đã được đổi tên là Công Lý, phải chăng vì đi ngang qua Pháp Đình Sài Gòn. Con đường dài và đẹp rất xứng đáng. Ba đường Tự Do, Công Lý và Thống Nhất giao kết với nhau nằm sát bên nhau bên cạnh dinh Độc Lập.
Tòa Án trên đường Công Lý
Đại Lộ Nguyễn Huệ nằm giữa trung tâm Sài Gòn nối từ Toà Đô Chánh đến bến Bạch Đằng rất xứng đáng cho vị anh hùng đã dùng chiến thuật thần tốc phá tan hơn 20 vạn quân Thanh. Đại Lộ này cũng ngắn tương xứng với cuộc đời ngắn ngủi của ngài.
oàn cảnh đại lộ Nguyễn Huệ năm 1969
Những danh nhân có liên hệ với nhau thường được xếp gần nhau như Đại Lộ Nguyễn Thái Học với đường Cô Giang và đường Cô Bắc, cả ba là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Hoặc đường Phan Thanh Giản với đường Phan Liêm và đường Phan Ngữ, Phan Liêm và Phan Ngữ là con, đã tiếp tục sự nghiệp chống Pháp sau khi Phan Thanh Giản tuẫn tiết.
Những đại lộ dài nhất được đặt tên cho các anh hùng Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Lê Lợi và Hai Bà Trưng. Mỗi đường rộng và dài tương xứng với công dựng nước giữ nước của các ngài.
Đường mang tên Lê Lai, người chịu chê’t thay cho Lê Lợi thì nhỏ và ngắn hơn nằm cận kề với đại lộ Lê Lợi.
Đường Khổng Tử và Trang Tử trong Chợ Lớn với đa số cư dân là người Hoa.
Bờ sông Sài Gòn được chia ra ba đoạn, đặt cho các tên Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, và Bến Hàm Tử, ghi nhớ những trận thuỷ chiến lẫy lừng trong lịch sử chống quân Mông Cổ, chống Nhà Nguyên của Hưng Đạo Đại Vương vào thế kỷ 13.
Cụ Nguyễn Du, phải tìm đường nào đặt tên cho xứng? Tôi thấy con đường vừa dài vừa có nhiều biệt thự đẹp, với hai hàng cây rợp bóng quanh năm, lại đi ngang qua công viên đẹp nhất Sài Gòn, vườn Bờ Rô, và đi ngang qua Dinh Độc Lập, thì quá xứng đáng. Không có đường nào thích hợp hơn. Tuyệt! Vườn Bờ Rô cũng được đổi tên thành Vườn Tao Đàn làm cho đường Nguyễn Du càng thêm cao sang.
Vua Lê Thánh Tôn, người lập ra Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, cũng cho mang tên một con đường ở địa thế rất quan trọng, đi ngang qua một công viên góc đường Tự Do, và đi trước mặt Toà Đô Chánh.
Trường nữ Trung Học Gia Long lớn nhất Sài Gòn thì, (trớ trêu thay?), lại mang tên ông vua sáng lập nhà Nguyễn. Trường nữ mà lại mang tên nam giới! Có lẽ nhà văn Thuần Phong muốn làm một chút gì cho trường nữ Trung Học công lập lớn nhất thủ đô có thêm nữ tính, nên đã đặt tên hai đường song song nhau cặp kè hai bên trường bằng tên của hai nữ sĩ: Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm. Chùa Xá Lợi nằm trên đường Bà Huyện Thanh Quan thấy cũng nhẹ nhàng.
Thẳng góc với hai đường Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm là đường Hồ Xuân Hương. Ba nữ sĩ nằm bên cạnh nhau, thật là có lý, nhưng có lý hơn nữa có lẽ là đường Hồ Xuân Hương đi ngang qua bệnh viện Da Liễu. Tác giả những câu thơ “Vành ra ba góc da còn thiếu, Khép lại hai bên thịt vẫn thừa” mà cho mang tên đường có bệnh viện Da Liễu có lẽ cũng xứng hợp. Ông Nhà Văn – Trưởng Phòng Họa Đồ quả là sâu sắc.
Rất tiếc là lúc vào làm việc thì Thuần Phong Ngô Văn Phát đã về hưu nên tôi không được hân hạnh gặp mặt. Mãi sau này mới có dịp đọc tiểu sử của ông, mới hết thắc mắc làm sao chỉ là một công chức giống như tôi mà ông đã làm được việc quá xuất sắc và hi hữu này.
Cũng chuyện đặt tên đường
Vua Lê Thánh Tôn đã mở mang bờ cõi nước ta từ Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Rồi sau đó, chúa Nguyễn Hoàng và con cháu đã vượt đèo Cù Mông, đánh chiếm Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, vĩnh viễn xóa sổ nước Chiêm Thành khỏi bản đồ thế giới. Rồi còn tiếp tục mang về cho dân tộc cả một đồng bằng Nam Phần mênh mông bao la, từ Đồng Nai đến Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên, Phú Quốc…
Cũng phải kể luôn cả “Hoàng Triều Cương Thổ” (vùng đất mà thực dân Pháp dành riêng cho các vua nhà Nguyễn) là vùng Cao nguyên Trung phần trù phú màu mỡ hiện nay. Dĩ nhiên công cuộc mở mang bờ cõi này cũng bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa nữa.
Nghĩa là hơn một nửa diện tích đất liền của Việt Nam hiện nay là do dòng họ của Chúa Nguyễn Hoàng đã mang về cho dân tộc Việt Nam!
Riêng Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần, là người đã có công rất lớn trong công cuộc Nam Tiến của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt là Chúa Hiền Vương đã đóng góp rất nhiều công sức trong việc bình định và chinh phục vùng đất Gia Định ngày xưa. Gia định ngày xưa bao gồm Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu, Tây Ninh, Phước Long, Bình Long, Long An, Mỹ Tho, Gia Định, Sài Gòn… bây giờ. Cho nên chính quyền năm 1956 đã lấy tên của ông để đặt cho một trong hai con đường chính từ hướng Bắc dẫn vào trung tâm Thành Phố Sài Gòn. (Sau năm 1975, tên đường Hiền Vương bị thay bằng tên của Võ Thị Sáu – Đường Nguyễn Hoàng bị đổi thành Trần Phú…).
Nhắc thêm về giấc mộng… Tây Tiến chưa thành. Hai vị trung thần nhà Nguyễn là Lê Văn Duyệt và Trương Minh Giảng đã mở mang bờ cõi nước ta tới tận biên giới… Thái Lan bây giờ, đã thiết lập thêm một Trấn mới là Trấn Tây Thành, (hai Trấn kia là Trấn Bắc Thành và Trấn Gia Định Thành). Phải chăng chính vì vậy mà ngay từ khi vừa giành được chủ quyền từ tay thực dân Pháp, hai con đường lớn từ trung tâm Sài Gòn hướng về Bà Quẹo để sang thẳng đất Miên qua ngả Gò Dầu, đã được mang tên hai vị Anh Hùng Tây Tiến nổi danh này. Đó là đường Trương Minh Giảng và đường Lê Văn Duyệt. Phải chăng đó cũng như là một nhắc nhở cho các thế hệ mai sau về một sứ mạng chưa thành, một “Mission unaccomplished”…
Tiểu sử nhà văn Ngô Văn Phát:
Nhà văn, nhà họa đồ Ngô Văn Phát, bút hiệu Thuần Phong, Tố Phang, Đồ Mơ, sinh ngày 16-10-1910 tại huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
Thuở nhỏ ông học ở Bạc Liêu, Sài Gòn, đậu bằng Thành Chung rồi nhập ngạch họa đồ ngành công chánh. Ông ham thích văn chương từ ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, từng có thơ đăng trên Phụ Nữ Tân Văn, họa mười hai bài Thập Thủ Liên Hoàn của Thương Tân Thị… Có lúc ông dạy Việt Văn tại trường Pétrus ký Sài Gòn.
Năm 1957 ông có bài đăng trên bộ Tự điển Encyclopedia – Britannica ở Luân Đôn (Anh Quốc). Đó là chuyên đề Khảo cứu về thành phố Sài Gòn.
Năm 1964 chuyên đề Ca dao giảng luận in trên tạp chí Trường Viễn đông Bác cổ ở Paris (sau in thành sách ở Sài Gòn). Cùng năm này Trường Cao học Sorbonne (Paris), ông cũng có chuyên đề Nguyễn Du et la métrique populaire (Nguyễn Du với thể dân ca) trong bộ sách nhan đề: Mélanges sur Nguyen Du (Tạp luận về Nguyễn Du).
Những năm 70 ông được mời giảng môn Văn học dân gian tại Đại học Văn khoa, Sư phạm Huế và Cần Thơ.
Ông mất trong năm 1983 tại Sài Gòn.
Nguồn: Vũ Linh Châu và Nguyễn Văn Luân (Trithucvn.net và tongphuochiep.com)
-Thằng đang bơi, qua bên ni chị nhờ chút. Đang bơi thỏa thê trên sông, Cọp nghe tiếng gọi từ con đò đang đậu gần đó và thấy chị Lành đang đứng đầu mủi đưa tay ngoắc. Cọp biết đây là đò bán chè của chị Hiền và chị Lành. Hai người tuy ở chung đò nhưng không phải là chị em vì rất khác nhau. Chị Hiền lớn hơn chị Lành vài tuổi, cao và có nước da ngăm ngăm, giọng chị mang âm hưởng Quảng Nam, trong khi chị Lành thấp và trắng hơn, nói đặc giọng Huế.
Lý do nào hai cô gái không phải chị em thân thuộc, không cùng quê quán lại cùng chung sống trên một chiếc đò thì Cọp không biết, và không cần biết. Cọp chỉ biết rằng mấy tháng trước hai chị cùng chèo đò tới cập bến tại đây để bảng bán chè. Ban ngày hai chị chèo đò bán dạo ở đâu không biết, chiều thường trở về bến ở xóm Chùa Bà nhà Cọp nấu cơm ăn, giặt giủ. Tối đến hai chị lại chèo đi bán chè dạo trên sông. Cọp biết tên chị Hiền chị Lành vì thỉnh thoảng nghe người ta gọi chè hai chị từ trên bờ, nhưng họ không biết Cọp là ai. Buổi chiều Cọp thường ra bơi sông gần chỗ hai chị neo đò. Cọp chưa bao giờ mua chè chị Hiền chị Lành nên chưa quen nhau.
Cọp bơi lại gần và thấy chị Lành đang đứng kiển chân ở mủi đò cầm cái sào khá dài cố vớt cái quần đen đang dần trôi xa ra khỏi tầm với của chị. Quàn áo mấy chị giặt phơi bị gió thổi xuống sông đây. Không chần chờ, Cọp bơi qua lấy cái quần đưa lại. Chị Lành mừng quá rối rít: -Cám ơn cu hí. Cu tên chi? -Tên Cọp. Chị Lành cười -Ui cha tên chi mà dữ rứa ? Nhưng thấy cu hiền khô dễ thương ghê. -Ai rứa ? Có tiếng chị Hiền từ bên trong – Cái quần Mỹ Á mới may bị gió xuống sông may nhờ thằng cu ni bơi vớt lên chơ không là trôi mất rồi. – May chưa tề ! Kêu hắn lên cho hắn chén chè. -Ừ hí, em quên. Cu lên đò chị cho chè ăn nì. Cu chi? Cọp phải không? Cọp lên đây chị múc chè ăn. Không tính tiền mô. Nghe nói được cho chè, Cọp thích lắm, nhưng đành chịu, nguợng nghịu lắc đầu.
Chị Lành hiểu ngay khi nhìn Cọp qua dòng nước, cười nói vào bên trong -Hắn lên không được mô Hiền ơi. Hắn đang bơi ở lổ. Hắn dị, hí hí! -Bày đặt. Con nít con neo ai thèm dòm mà dị ! Chè thì thích thiệt, nhưng làm sao dám tồng ngồng lên gặp hai chị. Nó quảy mình bơi lẹ ra sông, và nghe tiếng chị Lành vói theo -Ngày mai Cu mặc quần rồi lên đò chị ăn chè nghe. ***
Hôm sau Cọp đã chuẩn bị nên bơi… có mặc quần đàng hoàng và lên đò chị Hiền chị Lành làm một bụng chè thỏa thê. Kể từ hôm đó Cọp đã quen thân với cả hai chị. Không cần vớt quần vớt áo chi cả, Cọp khi nào cũng được ăn chè không tốn tiền. Không phải chỉ chè mà thôi. Chị Hiền chị Lành thỉnh thoảng kêu bún bò hay cơm Hến vô ăn cũng đều để dành cho Cọp một tô…
Một bữa Cọp bơi đến con đò và thấy chị Lành ngồi một mình thọc hai chân xuống nước. Cọp mon men bơi lại nhưng không leo lên đò như mọi khi mà chỉ đứng dưới. Đang nói chuyện Cọp để ý chị Lành xắn chiếc quần đen đang mặc lên tới tận đầu gối, thòng cả hai cái chân xuống đong đưa vọc nước. Cọp cứ nhìn sửng đôi chân đến nổi chị Lành ngạc nhiên hỏi -Mi nhìn chi dưới nước?
Cọp bẽn lẽn nói nó nhìn hai cái chưn chị đong đưa như vậy giống như hai con cá đang lượn đùa nhau. -Hi hi, chị Lành cười. Thằng ni tưởng tượng ghê hí. Ừ, chừ cho hai con cá bơi đua nghe.
Nói xong, chị phát ra miệng mấy tiếng kêu “ ron-ron- ron…” như tiếng xe máy đang rú ga. Bên dưới chị dùng chưn trái lượn qua qua lượn lại rất lã lướt. Chưn phải cũng lượn rượt theo liền phiá sau. Hết bên trái tới bên phải, cứ như vậy chị cho hai con cá đuổi nhau thật sôi động. Thỉnh thoảng một con hứng chí bay lên khỏi mặt nước, con kia cũng bay theo lên liền không chịu kém.
Thằng Cọp thích quá hò reo hưởng ứng. Chị Lành nghĩ ra trò đua cá thiệt hấp dẫn. Bỗng nhiên chị Lành cho con cá chưn trái chậm lại để cá chưn phải bắt kịp. Chị xoè ngón chân cái và ngón trỏ ngoạm một cái ngay gót chân, rồi la lên -Bắt được mi rồi. Bắt được mi rồi… Xong chị lấy ngón chưn cái của con cá sau ịn một cái vô con cá trước và nói tiếp: -Bắt được rồi cho hun một cái. Thằng Cọp cười ngặt nghẻo nhìn chị Lành đạo diễn màn đua cá, nhất là màn cuối bắt được rồi cho hun một cái. Chị Lành nhìn Cọp nói -Chừ tau với mi chơi. Tau bơi, còn mi đuổi theo nghe chưa. Cho mi dùng tay làm cá đó.
Cọp chịu. Chị Lành co một chưa lên bờ, chưa kia vẫn để dưới nước và bắt đầu rà tới rà lui.Miệng chị vẫn “ron – ron- ron” rú ga giống như hồi nãy đầy vẻ thách thức. Cọp đâu chịu kém. Nó cũng “ ron- ron-ron” rú ga giống như chị Lành, và nhanh như chớp bất thần cả hai tay chụp xuống dưới nước. Chưa kịp chuẩn bị và không ngờ Cọp mới chịu là …làm liền, nên con cá Lành bị chụp cứng ngắt không kịp phản ứng.
Chị la bai bải – Ăn gian.! Thằng ni ăn gian. Tau chưa chuẩn bị. Mà mi không được dùng hai tay. Tau một con mi cũng một con thôi. Chừ bắt đầu lại . Trò chơi lại bắt đầu. Lần này chị Lành đã chuẩn bị, và Cọp chỉ được dùng một tay nên cuộc đua sôi nổi hào hứng hơn. Mỗi lần Cọp chụp hụt là chị Lành lại cười ré lên khoái chí. Nhưng sau nhiều lần chỉ vồ nước sông, Cọp đã nghĩ ra cách chụp cá. Nó không nhắm bàn chưn chị Lành nữa mà nhè ngay… đầu gối chị để chụp. Chỗ này thì dính chắc vì chị đâu có di động được. Từ đầu gối, mặc cho chị Lành vung vẩy dữ dội Cọp vẫn cứ bám lấy và lần mò theo bắp chưn của chị xuống phía dưới cho đến khi nắm được bàn chưn con cá Lành là chị hết đường cục cựa. Chị Lành cười nắc nẻ. -Mi chơi ăn gian, nhưng mà thôi, cho mi thắng đó. Chừ bắt được rồi cũng hun một cái.
Cọp đang ngơ ngác, chị Lành co chân lên khỏi mặt nước lúc lắc ngón chân cái. Hiểu ý, Cọp bắt chước như hồi nãy dùng ngón tay ịn vô chưn của chị để …hun một cái. Cả hai cười như nắc nẻ khoái chí. Đang cười, chị Lành bỗng ngưng lại,nhìn Cọp hỏi -Mi thấy chưn tau đẹp không? Nói xong chị đưa cái chưn tới sát ngay mặt. Như phản xạ tự nhiên, Cọp dùng cả hai tay bưng chưn chị Lành rồi ngơ ngẩn nhìn. Một tay Cọp đỡ ngay gót, tay kia vân vê những ngón chưn. Cọp nhận ra chưn của chị Lành trắng phau phau. Bàn chưn của chị nhỏ nhắn nhưng đầy đặn không một sợi gân. Đẹp nhứt là năm ngón e ấp tụm lại với nhau chứ không xòe ra như cánh quạt của hầu hết những người khác mà Cọp thấy. Điều đặc biệt là gót chưn của chị tròn lẵn, không một vết nứt nẻ nào. Cọp chưa từng thấy ai có bàn chưn đẹp như ri.
Bỗng nhiên Cọp thấy thèm một cây cà-rem , cây cà rem đậu xanh Cọp thích nhứt, giữa buổi trưa hè… Nó đau đáu nhìn những giọt nước từ bàn chưn chị Lành tụ lại ở đầu ngón và rơi xuống sông, tưởng tượng cây cà-rem … Cọp thèm một cây cà rem chi lạ ! -Chưn tau đẹp không? Tiếng chị Lành lặp lại. Cọp thẩn thờ gật đầu. -Mi thích không? Cọp lại gật đầu -Thích thì…cho hun một cái đó.
Hồn vía Cọp lúc nầy như đã bị con Ma Hớp Hồn hớp mất, nó lấy ngón tay tính để ngón chưn của chị để hun như lúc nảy, nhưng chị Lành gạt ra và nói -Không phải hun rứa. Hun thiệt. Hun bằng miệng. Chị Lành nói xong đưa chưn tới sát ngay trước mặt Cọp. Cây cà rem đậu xanh sữa nhúc nhích, nhúc nhích. Cọp nhìn chị Lành thấy chị vừa cười vừa gật gật đầu. Nó mân mê cái chưn trắng ngồn ngộn của chị Lành trong tay, rồi bỗng nhiên như có một sức mạnh nào thúc đẩy, nó đưa mũi tới sát và hít một hơi thiệt mạnh. Chưa bao giờ Cọp hít mạnh như vậy. Nó có cảm tưởng không phải chỉ bàn chưn, mà cả cái chưn của chị, cả người chị Lành, đang chui tọt vô mủi nó.
Không phải chỉ chị Lành. Con đò, Dòng sông, Cả thế giới chung quanh như đều bị Cọp hít hết cả vào người. Chị Lành bật cười sằng sặc làm Cọp bừng tỉnh. Nó dị quá, thả vội cái chưn ra và quay mình chạy vô bờ. – Chuyện chi rứa? Tiếng Hiền hỏi từ bên trong. -Thằng Cọp chơ ai. Tui mới chọc chút mà hắn dị hắn chạy rồi. -Con khỉ ! Hắn còn nhỏ, mi chọc chi rứa? Tiếng chị Lành cười khanh khách phía sau….
*** Từ giả dòng Hương giang hiền hòa, Cọp rời Huế một sáng trời mưa bay bay, hành trang mang theo là những kỷ niệm. Kỷ niệm một cái chưn trắng nỏn nà của cô gái bán chè trên sông Hương đã cho Cọp cái cảm giác rạo rực đầu tiên trong đời. ./.
Cần vinh danh những ai trong việc phát triển chữ quốc ngữ?
Cần vinh danh những ai trong việc phát triển chữ quốc ngữ?
Mấy hôm nay dân tình tranh cãi về phát biểu mang đầy tính GATO của thầy Thích Nhật Từ về việc không đặt tên phố bằng tên 2 ông giáo sỹ có công khai sinh ra chữ quốc ngữ. Nhưng đấy mới là phần nổi nhỏ của cả tảng băng.
Việc đặt tên phố cho mấy ông cha nghĩ ra chữ quốc ngữ chính ra rất nhạy cảm chính trị. Giờ đặt tên phố cho mấy ổng tức là vinh danh người đẻ ra chữ quốc ngữ, vậy sao không vinh danh những người khuếch trương để sử dụng nó? Thế mới công bằng. Nhưng mà công bằng thế thì thành phản động rồi.
Cứ thử suy xét mà xem, đẻ ra một loại chữ viết thì công to rồi, nhưng đấy mới là công sinh thành, thế còn công dưỡng dục, nuôi nấng nữa thì sao? Công đó to nhất lại là của… thực dân Pháp mới bỏ mẹ.
Bắt đầu từ khi ký hiệp ước Giáp Tuất 1874, Pháp lấy được 6 tỉnh Nam Kỳ, thì thống đốc Dupre đã bắt đầu cho học chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ. Trước đó, năm 1869, chữ quốc ngữ đã được dùng làm ngôn ngữ hành chính, song song với chữ Pháp, thay cho chữ Hán, ở Nam Kỳ.
Ban đầu, người Việt, đặc biệt là các nho sỹ, tẩy chay chữ quốc ngữ, vì coi nó là sản phẩm của giặc, học là để làm tay sai. Vì thế, người Pháp phải cưỡng bức phổ cập giáo dục chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ.
Sau khi thành lập LB Đông Dương, toàn quyền Albert Sarraut là người cho phổ cập chữ quốc ngữ trên toàn cõi Đông Dương. Vào năm 1915, bãi bỏ khoa cử bằng chữ Hán ở Bắc Kỳ, năm 1919 bãi bỏ nốt ở Trung Kỳ. Chữ Hán coi như mất đi vai trò là ngôn ngữ hành chính, thay bằng chữ quốc ngữ.
Người có công đầu tiên để phổ cập chữ quốc ngữ ra xã hội là Trương Vĩnh Ký, vì ông này là chủ bút tờ Gia Định báo, tờ báo đầu tiên sử dụng chữ quốc ngữ.
Hội nhóm có công lớn nhất để phổ biến chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ là phong trào Đông kinh nghĩa thục và Hội Khai trí tiến đức mà thành viên đều là thành phần tinh hoa đương thời như Phạm Quỳnh, Hoàng Trọng Phu, Thân Trọng Huề, Nguyễn Văn Vĩnh… toàn là phản động không!
Phạm Quỳnh có câu kinh điển liên quan đến chữ quốc ngữ nhân ngày giỗ của Nguyễn Du năm 1924:
Thề rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu-sinh xin rầu lòng giốc chí cố gia-công trau-chuốt lấy tiếng quốc-âm nhà, cho quốc-hoa ngày một rực-rỡ, quốc-hồn ngày một tỉnh-tao, quốc-bộ ngày một tấn-tới, quốc-vận ngày một vẻ-vang, ngõ-hầu khỏi phụ cái chi hoài-bão của tiên-sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây!”
Sau khi Việt Minh đoạt chính quyền Hội bị giải tán theo sắc lệnh ngày 24 tháng 9 năm 1945 vì bị cho là “công cụ thống trị tinh thần và nô dịch văn hoá của thực dân”.
Sau này bần nông chỉ biết đến mỗi công lao phổ cập chữ quốc ngữ của đảng ta là phong trào Bình dân học vụ! Sao đảng không lật đổ nốt cả chữ quốc ngữ, quay lại sử dụng chữ Hán?
Tóm lại, nếu không có sự áp đặt của thực dân Pháp thì chữ quốc ngữ cũng chỉ là thứ ngôn ngữ chết, cũng gần như chữ Latin, không thể phổ cập, thậm chí có thể chết yểu.
Những người, tổ chức có công lao trong việc hình thành và phát triển chữ quốc ngữ có thể kể đến là 2 ông giáo sỹ nói trên, Trương Vĩnh Ký ở Nam Kỳ, Phạm Quỳnh ở Bắc Kỳ, trường Đông Kinh nghĩa thục, Hội Khai trí tiến đức, Toàn quyền Albert Sarraut (tên ông được đặt cho trường trung học danh giá nhất Đông Dương, tọa lạc ở vị trí nay là Văn phòng Trung ương đảng).
Tất cả những cá nhân, tổ chức trên đều xứng đáng được đặt tên phố cả. Thế mà trên thực tế chỉ có cha Alexandre de Rhodes được đặt tên một phố nhỏ ở SG, HN có quảng trường Đông Kinh nghĩa thục, có phố Lê Văn Can (đồng sáng lập ĐKNT).
Còn Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Hội Khai trí tiến đức đều trở thành phản động. Albert Sarraut thì là thực dân đầu sỏ cần căm thù sâu sắc!
Được biết, tên phố cũ ở Singapore đa số vẫn là từ thời thực dân Anh. Di sản thời thực dân vẫn được tôn trọng ở nước này.
Mang nhạc vào thơ
Mang nhạc vào thơ
Những bài thơ được phổ nhạc.
Xem thơ chỉ biết đến thơ! Đấy là những bài thơ có giá trị, trường tồn mãi với thời gian. Mình xin làm một chủ đề về những bài thơ tình hay, được yêu thích, đã đi vào âm nhạc. Bao giờ đủ 100 bài thơ trữ tình hay, thì làm một ebook! Bài mở đầu, xin chọn nhà thơ Yên Thao với bài thơ ” Nhà tôi”:
NHÀ TÔI
Tôi đứng bên này sông Bên kia vùng địch đóng Làng tôi đấy, xạm đen màu tiết đọng Tre, cau buồn tóc rũ ướt mưa sương Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường Nếp đình xưa người hỡi,đau gì không? * Tôi là anh lính chiến Rời quê hương từ dạo máu khơi dòng Buông tay gàu vui lại thuở Bình Mông Ghì nấc súng nhớ ơi, ngày đắc thắng Chân chưa vẹt trên nẻo đường vạn dậm Áo nào phai không sót chút màu xưa Đêm hôm nay tôi trở về, lành lạnh Sông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưa * Tôi có người vợ trẻ Đẹp như thơ Tuổi chớm đôi mươi cưới buổi dâng cờ Má trắng mịn thơm thơm mùa lúa chín Ai ra đi mà không từng bịn rịn Rời yêu thương nào đã mấy ai vui Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ. * Tôi còn người mẹ Tóc đã ngả màu bông Tuổi già non thế kỷ Lưng gày uốn nặng kiếp long đong Nắng mưa từ buổi tang chồng Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon ÔI, xa rồi, mẹ tôi Lệ nhòa mi mắt Mong con phương trời Có từng chợt tỉnh đêm vơi Nghe giòn tiếng súng nhớ lời chia ly : – Mẹ ơi, con mẹ tìm đi Bao giờ hết giặc con về mẹ vui. * Đêm hôm nay tôi trở về, lành lạnh Sông sâu mừng , lấp lánh sao lưa thưa Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ Chắc tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ Làng tôi kia, bên trại thù quạnh quẽ Trông im lìm như một nấm mồ ma Có còn không, em hỡi ! mẹ tôi già ! Những người thân yêu khóc buổi tôi xa ? Tôi là anh lính chiến Theo quân về giải phóng quê hương Mái đầu xanh bụi viễn phương Bước chân đất đạp xiêu đồn lũy địch. * – Này, anh đồng chí Người bạn pháo binh Đã đến giờ chưa nhỉ Mà tôi nghe như trại giặc tan tành ? Anh rót cho khéo nhé Kẻo lại nhầm nhà tôi ! Nhà tôi ở cuối thôn Đồi Có giàn Thiên lý, có người tôi thương.
Yên Thao- 1949
Bài thơ đã đc nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc với tựa đề ” Chuyện giàn thiên lý”:
Chuyện giàn thiên lý
Tôi đứng bên này sông, bên kia vùng lửa khói. Làng tôi đây bao năm dài chinh chiến, Từng lũy tre muộn phiền, Tôi có người vợ ngoan. Đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau.
Nhớ đôi môi nàng hiền, xinh xinh màu nắng. Má nàng hồng, thơm mùi thơm lúa non. Ai ra đi mà không từng bịn rịn. Xa người yêu mà dễ mấy ai vui.
Em nhìn theo mà bằng nước mắt chia phôi. Tôi mạnh bước mà nge hồn nhỏ lệ. Nay anh lính chiến, người bạn pháo binh. Mẹ tôi tóc sương từng đêm nge đoạn pháo thật buồn.
Anh rót cho khéo nhé, kẻo nhầm vào nhà tôi. Nhà tôi ở cuối thôn Đoài Có giàn thiên lý, có người tôi thương
Lá Diêu Bông cuả Hoàng Cầm
“Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng Chị thẩn thờ đi tìm Đồng chiều, Cuống rạ. Chị bảo: Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông Từ nay ta gọi là chồng. Hai ngày em tìm thấy lá Chị chau mày: Đâu phải Lá Diêu Bông. Muà đông sau em tìm thấy lá Chị lắc đầu, Trông nắng vãng bên sông. Ngày cưới chị Em tìm thấy lá Chị cười xoe chỉ cắm trôn kim. Chị ba con Em tìm thấy lá Xoè tay phủ mặt chị không nhìn. Từ thuở ấy Em cầm chiếc lá Đi đầu non cuối bể. Gió quê vi vút gọị Diêu bông hời … ới Diêu Bông!”.
Sau này nhạc sỹ Nguyễn Tiến đã phổ nhạc bài thơ này thành bài hát Chuyện tình lá diêu bông
Nhà thơ Xuân Quỳnh, nhà thơ tài năng, có nhiều bài thơ được yêu mến. Đồng điệu, tri âm, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc hai bài thơ hay của Xuân Quỳnh.
Bài thơ “Thuyền và biển”
Em sẽ kể anh nghe Chuyện con thuyền và biển:
“Từ ngày nào chẳng biết Thuyền nghe lời biển khơi Cánh hải âu, sóng biếc Đưa thuyền đi muôn nơi
Lòng thuyền nhiều khát vọng Và tình biển bao la Thuyền đi hoài không mỏi Biển vẫn xa… còn xa
Những đêm trăng hiền từ Biển như cô gái nhỏ Thầm thì gửi tâm tư Quanh mạn thuyền sóng vỗ
Cũng có khi vô cớ Biển ào ạt xô thuyền (Vì tình yêu muôn thuở Có bao giờ đứng yên?)
Chỉ có thuyền mới hiểu Biển mênh mông nhường nào Chỉ có biển mới biết Thuyền đi đâu, về đâu
Những ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau – rạn vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi Biển chỉ còn sóng gió”
Nếu phải cách xa anh Em chỉ còn bão tố
Bài hát ” Thuyền và biển” nhạc Phan Huỳnh Điểu
Chỉ có thuyền mới hiểu biển mênh mông nhường nào Chỉ có biển mới biết thuyền đi đâu về đâu Những ngày không gặp nhau biển bạc đầu thương nhớ Những ngày không gặp nhau lòng thuyền đau rạng vỡ Nếu từ giã thuyền rồi biển chỉ còn sóng vỗ Nếu phải cách xa em anh chỉ còn bão tố Nếu phải cách xa em anh chỉ còn bão tố Những ngày không gặp nhau biển bạc đầu thương nhớ Những ngày không gặp nhau lòng thuyền đau rạng vỡ Nếu từ giã thuyền rồi biển chỉ còn sóng vỗ Nếu phải cách xa em anh chỉ còn bão tố Nếu phải cách xa em anh chỉ còn bão tố.
Bài thơ “Thư tình cuối mùa thu”
Cuối trời mây trắng bay Lá vàng thưa thớt quá Phải chăng lá về rừng Mùa thu đi cùng lá Mùa thu ra biển cả Theo dòng nước mênh mang Mùa thu vào hoa cúc Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em Là của mùa thu cũ Chợt làn gió heo may Thổi về xao động cả: Lối đi quen bỗng lạ Cỏ lật theo chiều mây Đêm về sương ướt má Hơi lạnh qua bàn tay
Tình ta như hàng cây Đã qua mùa gió bão Tình ta như dòng sông Đã yên ngày thác lũ
Thời gian như là gió Mùa đi cùng tháng năm Tuổi theo mùa đi mãi Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em Cùng tình yêu ở lại… – Kìa bao người yêu mới Đi qua cùng heo may.
Cuối trời mây trắng bay, lá vàng thưa thớt quá Phải chăng lá về rừng, mùa thu đi cùng lá Mùa thu ra biển cả, theo dòng nước mênh mông Mùa thu vàng hoa cúc, chỉ còn anh và em, chỉ còn anh và em, là cuả mùa thu cũ Chỉ còn anh và em…
Tình ta như hàng cây đã yên mùa bão gió Tình ta như dòng sông đã yên ngày thác lũ Thời gian như ngọn gió mùa đi cùng tháng năm Tuổi theo mùa đi mãi, chỉ còn anh và em Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại…
Kìa bao người yêu mới đi qua cùng heo may Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại…
Hữu Loan, nhà thơ chưa bao giờ có tập thơ riêng đc in. Nhưng ông vẫn là nhà thơ có nhiều tác phẩm đc yêu mến. bài thơ “Mầu tím hoa sim” của ông đã đc đông đảo bạn đọc biết đến và yêu quý. bài thơ đã đc rất nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, có thể kể như các tác phẩm lấy lời trực tiếp như: Những đồi hoa sim, mầu tím hoa sim, chuyện hoa sim, áo anh sứt chỉ đường tà… hoặc cảm hứng cho những bài hát lấy ý như: Chuyện người em gái hái sim… Có thể nói đây là một trong những bài thơ được phổ nhạc nhiều nhất.
Mầu tím hoa sim
Nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng có em chưa biết nói Khi tóc nàng xanh xanh.
Tôi là người chiến binh xa gia đình Yêu nàng như tình yêu em gái, Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới, Tôi mặc đồ quân nhân Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân, Nàng cười xinh xinh Bên anh chồng độc đáo. Tôi ở đơn vị về Cưới nhau xong là đi!
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại Lấy chồng đời chiến chinh, Mấy người đi trở lại Lỡ khi mình không về Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê …
Nhưng không chết người trai khói lửa Mà chết người gái nhỏ hậu phương Tôi về không gặp nàng Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh …
Tóc nàng xanh xanh Ngắn chưa đầy búi Em ơi!Giây phút cuối Không được nghe nhau nói, Không được trông thấy nhau một lần.
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím áo nàng màu tím hoa sim Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa…
Một chiều rừng mưa Ba người anh từ chiến trường Đông Bắc, Biết tin em gái mất, Trước tin em lấy chồng.
Gió thu về rờn rợn nước sông Đứa em nhỏ lớn lên Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị Khi gió sớm thu về, Cỏ vàng chân mộ chí.
Chiều hành quân qua những đồi sim … Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa Áo anh sứt chỉ đường tà, Vợ anh chết sớm mẹ già chưa khâu 1949
Bài hát đc phổ nhạc xúc động nhất là của Phạm Duy, tựa ” Áo anh sứt chỉ đường tà” Thái Thanh ca, nghe tuyệt hay!
Bài thơ “Thời hoa đỏ” đi vào lòng người qua những câu thơ hay, sâu lắng. Nhà thơ Thanh Tùng đã để lại dấu ấn của mình vào vũ trụ một cách như thế! Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc bài thơ này với cùng tên gọi và khiến phần cho bài thơ thêm vang xa. Ca sĩ Thái Bảo rất thành công khi ca bài này,là bài thơ nhạc được yêu thích của nhiều người.
Thời hoa đỏ
Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh Chẳng chịu cho lòng ta yên Anh mải mê về một màu mây xa Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa Em hát một câu thơ cũ Cái say mê một thời thiếu nữ Mỗi mùa hoa đỏ về Hoa như mưa rơi rơi Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi Như máu ứa một thời trai trẻ Hoa như mưa rơi rơi Như tháng ngày xưa ta dại khờ Ta nhìn sâu vào mắt nhau Mà thấy lòng đau xót Trong câu thơ của em Anh không có mặt Câu thơ hát về một thời yêu đương tha thiết Anh đâu buồn mà chỉ tiếc Em không đi hết những ngày đắm say Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ Không cho ai có thể lạnh tanh Hoa đặt vào lòng chúng ta một vệt đỏ Như vết xước của trái tim Sau bài hát rồi em lặng im Cái lặng im rực màu hoa đỏ Anh biết mình vô nghĩa đi bên em Sau bài hát rồi em như thể Em của thời hoa đỏ ngày xưa Sau bài hát rồi anh cũng thế Anh của thời trai trẻ ngày xưa.
Thơ của một họa sĩ thì hiển nhiên nó phải có một hình tượng, hình tượng đó phải độc đáo. Đáp ứng đc điều kiện đó, nó trở thành bài thơ có giá trị trường tồn cùng thời gian. Đó chính là bài thơ ” Cuối cùng cho một tình yêu” của họa sĩ Trịnh Cung. Bài thơ đã đc nhạc sĩ Trịnh Công Sơn phổ nhạc cùng tựa đề.
Cuối cùng cho một tình yêu
Ừ thôi em về Chiều mưa giông tới Bây giờ anh vui Hai bàn tay đói Bây giờ anh vui Hai bàn chân mỏi Thời gian nơi đây Bây giờ anh vui Một linh hồn rỗi Tình yêu xứ này Một lần yêu thương Một đời bão nổi Giã từ, giã từ Chiều mưa giông tới Em ơi em ơi Sầu thôi xuống đầy Làm sao em nhớ Mưa ngoài sông bay Lời ca anh nhỏ Nỗi lòng anh đây.
Nàng bao giờ cũng ở tuổi hai mươi, yêu anh hào hiệp…
Thật cảm động và cao thượng. Bài thơ “Không đề” của nhà thơ Quang Dũng chính là như vậy! Bài thơ đã được ba nhạc sĩ như Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương,Việt Dzũng phổ thành nhạc có tựa đề”Em mãi là hai mươi tuổi”. Mình rất yêu thích bài thơ này, coi nó như là một trong những đỉnh cao của thơ tình, cũng như đạo làm người.
Bài thơ: Không đề
Em mãi là hai mươi tuổi Ta mãi là mùa xanh xưa Những cây ổi thơm ngày ấy Và vầng hoa ngâu mưa thu Tóc anh đã thành mây trắng Mắt em dáng thời gian qua
Ngày nay ngày nay Chuyện đẹp qua đi Thời gian gấp ruổi Còn lại chúng ta Em mãi là hai mươi tuổi Ta mãi là mùa xanh xưa Giữ trọn tình người cho đẹp
Ơi! Con đường xưa Những mùa trút lá Cành bàng mồ côi Cổng cũ rêu phong Ý đợi người
Ơi! Con đường xưa Men vườn ổi thơm Em tuổi hai mươi Yêu anh hào hiệp
Bỏ em anh đi Đường hai mươi năm Dài bao chia ly Có những vợ chồng
Không là trăm năm Mà tình thương yêu
Sông ơi! Dài sao Rộng ơi! Biển cả Thôi em nước mắt Đừng rơi lã chã!
Em mãi là hai mươi tuổi Ta mãi là mùa xanh xưa Giữ trọn tình người cho đẹp.
“Thương nhớ ơ hờ… thương nhớ ai. Sông xa từng lớp lớp mưa dài, mắt em… ơi mắt em xưa có sầu cô quạnh. Khi chớm thu về, khi chớm thu về một sớm mai…” Đó là những lời ca tuyệt hay trong bài hát “Đôi mắt người Sơn Tây” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc. Bài hát này đã được viết dựa trên hai bài thơ” Đôi bờ” và “Đôi mắt người Sơn Tây” của nhà thơ Quang Dũng. Hãy thưởng thức hai bài thơ tuyệt phẩm này, cùng câu chuyện tình tuyệt đẹp của nó.
Bài thơ: Đôi bờ
Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai ? Sông xa từng lớp lớp mưa dài Mắt kia em có sầu cô quạnh Khi chớm heo về một sớm mai ?
Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự Kinh thành em có nhớ bên tê ? Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến Hiu hắt chiều sông lạnh bến tề.
Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ Thoáng hiện em về trong đáy cốc Nói cười như chuyện một đêm mơ
Xa quá rồi em người mỗi ngả Đôi bờ đất nước nhớ thương nhau Em đi áo mỏng buông hờn tủi Dòng lệ thơ ngây có dạt dào ?
Bài thơ: Đôi mắt người Sơn Tây
Em ở thành Sơn chạy giặc về Tôi từ chinh chiến cũng ra đi Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì.
Vầng trán em vương trời quê hương Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm Em có bao giờ em nhớ thương ?
Mẹ tôi, em có gặp đâu không Bao xác già nua ngập cánh đồng, Tôi cũng có một thằng con bé dại Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông!
Từ độ thu về hoang bóng giặc Điêu tàn ôi lại nối điêu tàn! Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ Em đã bao ngày lệ chứa chan ?
Đôi mắt người Sơn Tây U ẩn chiều lưẩn lạc Buồn viễn xứ khôn khuây
Cho nhẹ lòng nhớ thương Em mơ cùng ta nhé Bóng ngày mai quê hương Đường hoa khô ráo lệ.
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn Lên núi Sài Sơn ngắm lúa vàng Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc Sáo diều khuya khoát thổi đêm trăng.
Bao giờ tôi gặp em lần nữa Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa Đã hết sắc mầu chinh chiến cũ Còn có bao giờ em nhớ ta?
Bài thơ này có rất nhiều dị bản do chính tác giả sửa trong các bản in khác nhau.lúc nào rảnh mình bổ sung các dị bản ấy! bản Hoàng Oanh ngâm có vẻ ổn nhất.
Về cuối đời,nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc lại bài thơ ” Tây Tiến” của thi nhân Quang Dũng. Nói phổ nhạc lại, vì theo nhạc sĩ cho biết, bản thảo đầu tiên đã bị thất lạc nửa thế kỷ trước.
Cùng với bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây”, bài thơ Tây Tiến được rất nhiều người biết đến.
Bài thơ: Tây Tiến
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
Đi vào thơ, rồi từ thơ đi vào nhạc. Nghệ danh “Phố núi” kể từ đó đã xây dụng cho mình một tên tuổi lãng mạn trong thi ca và ngoài đời thực, nơi ấy là Pleiku! Vũ Hữu Định nổi danh với bài thơ ” Còn chút gì để nhớ”, Phạm Duy chắp cánh cho bài thơ bằng cách thêm vào những dòng nhạc,thành bài hát cùng tên.
Bài thơ: Còn chút gì để nhớ
Phố núi cao phố núi đầy sương Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn Anh khách lạ đi lên đi xuống May mà có em đời còn dễ thương
Phố núi cao phố núi trời gần Phố xá không xa nên phố tình thân Đi dăm phút đã về chốn cũ Một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng
Em Pleiku má đỏ môi hồng Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông Nên mắt em ướt và tóc em ướt Da em mềm như mây chiều trong
Xin cảm ơn thành phố có em Xin cảm ơn một mái tóc mềm Mai xa lắc bên đồi biên giới Còn một chút gì để nhớ để quên.
Có điều gì đó nhẹ nhàng, êm dịu, đi vào lòng người mãi mãi không bao giờ quên. Đó chính là bài thơ “Hương thầm” của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn.Mối tình đầu đã thành tượng đài bất tử của tình yêu, không nói nhưng mãi mãi đi theo. Nhạc sĩ Vũ Hoàng đã phổ nhạc bài thơ này với bài hát cùng tên gọi.
Bài thơ: Hương thầm
Cửa sổ hai nhà cuối phố Không hiểu vì sao không khép bao giờ. Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa.
Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay, Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm, Bên ấy có người ngày mai ra trận
Họ ngồi im không biết nói năng chi Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi, Nào ai đã một lần dám nói ?
Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối Anh không dám xin, Cô gái chẳng dám trao Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao Không dấu được cứ bay dịu nhẹ.
Cô gái như chùm hoa lặng lẽ Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu.
(Anh vô tình anh chẳng biết điều Tôi đã đến với anh rồi đấy…)
Rồi theo từng hơi thở của anh Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực Anh lên đường Hương thơm sẽ theo đi khắp
Họ chia tay Vẫn chẳng nói điều gì Mà hương thầm thơm mãi bước người đi.
Trong tim ai cũng có một quê hương, là nơi êm đềm ẩn náu của tâm hồn. Là nơi ý thác của tâm linh, gửi tấm lòng ở đó dù có đi muôn nơi. Bài thơ “Quê hương- Bài học đầu cho em” của Đỗ Trung Quân đã nói lên tâm hồn của nhiều người, nhiều thế hệ về quê hương. Bài thơ được nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ nhạc có tựa đề là Quê hương.
Bài thơ Quê Hương – Bài Học Đầu Cho em
Quê hương là gì hở mẹ Mà cô giáo dạy phải yêu Quê hương là gì hở mẹ Ai đi xa cũng nhớ nhiều Quê hương là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là đường đi học Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là con diều biếc Tuổi thơ con thả trên đồng Quê hương là con đò nhỏ Êm đềm khua nước ven sông
Quê hương là cầu tre nhỏ Mẹ về nón lá nghiêng che Là hương hoa đồng cỏ nội Bay trong giấc ngủ đêm hè.
Quê hương là vòng tay ấm Con nằm ngủ giữa đêm mưa Quê hương là đêm trăng tỏ Hoa cau rụng trắng ngoài thềm
Quê hương là vàng hoa bí Là hồng tím giậu mồng tơi Là đỏ đôi bờ dâm bụt Màu hoa sen trắng tinh khôi
Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi Quê hương có ai không nhớ….
Ai chả có một thuở học trò, ai cũng có những cánh hoa phượng bay, ai cũng… Nhà thơ Đỗ Trung Quân với bài thơ ” Chút tình đầu” cùng đi vào lòng người như thế ấy. Bài thơ được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ nhạc có tựa đề ‘Phượng hồng”.
Bài thơ: Chút tình đầu
Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng Em chở mùa hè của tôi đi đâu? Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám Thuở chẳng ai hay thầm lặng – mối tình đầu
Mối tình đầu của tôi có gì? Chỉ một cơn mưa bay bay ngoài cửa lớp Là áo người trắng cả giấc ngủ mê Là bài thơ cứ còn hoài trong cặp Giữa giờ chơi mang đến lại mang về
Mối tình đầu của tôi là anh chàng tội nghiệp Mùa hạ leo cô trường khắc nỗi nhớ lên cây Người con gái mùa sao biết có còn gặp lại Ngày khai trường áo lụa gió thu bay…
Mối tình đầu của tôi có gì? Chỉ một cây đàn nhỏ Rất vu vơ nhờ bài hát nói giùm Ai cũng hiểu – chỉ một người không hiểu Nên có một gã khờ ngọng nghịu mãi….thành câm Những chiếc giỏ xe trưa nay chở đầy hoa phượng Em hái mùa hè trên cây Chở kỷ niệm về nhà Em chở mùa hè đi qua, còn tôi đứng lại Nhớ ngẩn người tà áo lụa nào xa.
Nhà thơ Kiên Giang có bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”, là câu chuyện tình giang dở. Tại ai? tại vì … Những hồi ức đẹp đẽ của ngày xưa.
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Lâu quá không về thăm xóm đạo Từ ngày binh lửa xoá không gian Khói bom che lấp chân trời cũ Che cả người thương, nóc giáo đường
Mười năm trước em còn đi học Áo tím điểm tô đời nữ sinh Hoa trắng cài duyên trên áo tím Em là cô gái tuổi băng trinh
***
Trường anh ngó mặt giáo đường Gác chuông thương nhớ lầu chuông U buồn thay! chuông nhạc đạo Rộn rã thay! chuông nhà trường
Lần lữa anh ghiền nghe tiếng chuông Làm thơ sầu mộng dệt tình thương Để nghe khe khẽ lời em nguyện Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
Mỗi lần tan lễ chuông ngừng đổ Hai bóng cùng đi một lối về E lệ, em cầu kinh nho nhỏ Thẹn thuồng, anh đứng lại không đi
***
Sau mười năm lẻ, anh thôi học Nức nở chuông trường buổi biệt ly Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo Tiễn nàng áo tím bước vu qui
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình – Hoa trắng thôi cài trên áo tím Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh
Em lên xe cưới về quê chồng Dù cách đò ngang cách mấy sông Anh vẫn yêu em người áo tím Nên tình thơ ủ kín trong lòng
***
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo Anh làm chiến sĩ giữ quê hương Giữ màu áo tím, người yêu cũ Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường
Mặc dù em chẳng còn xem lễ Ở giáo đường u tịch chốn xưa Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh Nghe chuông truy niệm mối tình thơ
Màu gạch nhà thờ còn đỏ thắm Như tình nồng thắm thuở ban đầu Nhưng rồi sau chuyến vu qui ấy Áo tím nàng thơ đã nhạt màu
***
Ba năm sau chiếc xe hoa cũ Chở áo tím về trong áo quan Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt Khi anh ngồi kết vòng hoa tang
Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh Từng cài trên áo tím ngây thơ Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng Anh kết tình tang gởi xuống mồ
Lâu quá không về thăm xóm đạo Không còn đứng nép ở lầu chuông Những khi chuông đổ anh liên tưởng Người cũ cầu kinh giữa giáo đường
“Lạy Chúa! con là người ngoại đạo Nhưng tin có Chúa ngự trên trời Trong lòng con, giữa màu hoa trắng Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi!” 14-11-1957
Sau một năm, tác giả đã sửa lại bài thơ này, ngỡ như là bài thơ hoàn toàn mới. theo mình không hay bằng bài thơ nguyên gốc. bài thơ sửa lại năm 1958:
Lâu quá không về thăm xóm đạo Từ ngày binh lửa cháy quê hương Khói bom che lấp chân trời cũ Che cả người thương nóc giáo đường
Mười năm trước em còn đi học Áo tím điểm tô đời nữ sinh Hoa trắng cài duyên trên áo tím Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh
Quen biết nhau qua tình lối xóm Cổng trường đối diện ngó lầu chuông Mỗi lần chúa nhật em xem lễ Anh học bài ôn trước cổng trường
Thuở ấy anh hiền và nhát quá Nép mình bên gác thánh lầu chuông Để nghe khe khẽ lời em nguyện Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ Hai bóng cùng đi một lối về E lệ em cầu kinh nho nhỏ Thẹn thùng, anh đứng lại không đi
Sau mười năm lẽ anh thôi học Nức nở chuông trường buổi biệt ly Rộn rã từng hồi, chuông xớm đạo Khi nàng áo tím bước vu quy
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ Chiếc áo tang liệm kín khối sầu! Hoa trắng thôi cài trên áo tím Giữ làm chi kỹ vật ban đầu!
Em lên xe cưới về quê chồng Dù cách đò ngang cách mấy sông Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím Nên tình thơ ủ kín trong lòng
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo Anh làm chiến sĩ giữ quê hương Giữ màu áo tím, cành hoa trắng Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường
Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ Anh đem gạch nát, xây tường lủng Chiếm lại lầu chuông, giết kẽ thù
Nhưng rồi người bạn đồng song ấy Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ Chuông đổ ban chiều, hồi vĩnh biệt Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ
Hoa trắng thôi cài trên áo tím Mà cài trên nắp áo quan tài Điểm tô công trận bằng hoa trắng Hoa tuổi học trò, mờ thắm tươi
Xe tang đã khuất nẽo đời Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu Từ đây tóc rũ khăn sô Em cài hoa trắng lên mồ người xưa. 28/ 5/ 58.
Bài thơ được rất nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, nó mang các tựa như: Hoa trắng thôi cài trên áo tím, Hồi chuông xóm đạo, Chuyện tình hoa trắng… hoặc phổ nhạc lấy ý từ bài thơ như: Người em xóm đạo…
nhà thơ Hữu Thỉnh với tác phẩm “Thơ viết ở biển” mang đến một sự đợi chờ lãng mạn. Nhạc sĩ Phú Quang đã phổ nhạc bài thơ này với tên gọi ” Biển, nỗi nhớ và em”.
Thơ Viết Ở Biển
Anh xa em Trăng cũng lẻ Mặt trời cũng lẻ Biển vẫn cậy mình dài rộng thế Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn Gió không phải là roi mà đá núi phải mòn Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím Sóng chẳng đi đến đâu nếu không đưa em đến Vì sóng đã làm anh Nghiêng ngả Vì em…
Cô lái đò, hình ảnh quen thuộc của làng quê ngày xưa. Nhà thơ của Quê, Nguyễn Bính có bài thơ” Cô lái đò” rất hay, khắc họa một cuộc tình duyên cái thời xa xưa ấy… Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc đã phổ nhạc bài thơ này với cùng tên gọi.
Cô lái đò
Xuân đã đem mong nhớ trở về Lòng cô gái ở bên sông kia Cô hồi tưởng lại ba xuân trước Trên bến cùng ai đã nặng thề
Nhưng rồi người khách tình quân ấy Đi biệt không về với bến sông Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi Mấy lần cô gái mỏi mòn trông
Xuân này đến nữa đã ba xuân Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi Cô đành lỗi ước với tình quân
Bỏ thuyền, bỏ bến, bỏ dòng sông Cô lái đò kia đi lấy chồng Vắng bóng cô em từ dạo ấy Để buồn cho những khách sang sông.
Xuân sắp đến rồi, hãy đọc lại bài thơ “Gái xuân” của Nguyễn Bính và cùng cảm nhận xuân từ cái thuở xa xưa ấy. Bài thơ đã được người tài hoa tay ngang- Từ Vũ phổ nhạc với cùng tên gọi Gái xuân.
Bài thơ Gái xuân
Em như cô gái hãy còn xuân, Trong trắng thân chưa lấm bụi trần, Xuân đến, hoa mơ, hoa mận nở. Gái xuân giũ lụa trên sông Vân.
Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng. Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng, Đôi tám xuân đi trên mái tóc. Đêm xuân cô ngủ có buồn không?
Khi phổ nhạc, bởi vì bài thơ ngắn quá, Từ Vũ đã mạn phép tác giả thêm vào một khổ 3 câu thơ, nghe rất Nguyễn Bính! Xuân đi. Xuân đến hãy còn xuân Cô gái trông xuân đến bao lần Xuân đến hoa mai hoa mận nở “Gái xuân giũ lụa trên sông Vân”
Mùa xuân, một trong những bài hát mang không khí xuân đến suốt 12 tháng trong năm, bắt nguồn từ bài thơ này. Đó chính là bài thơ “Mùa chim én bay” của nhà thơ,nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền. Người phổ nhạc cho bài thơ, trở thành bài hát có cùng tựa đề là nhạc sĩ Hoàng Hiệp. bài thơ hay, nên bài hát này bất kỳ ai hát, hay chính bạn hát, đều rất hay!
Bài thơ Mùa chim én bay
Khi gió đồng thơm ngát Hương lúa chín ngọt ngào Rợp trời chim én liệng Cho lòng anh nôn nao
Tiếng chim vườn xôn xao Sắc hoa vàng ngây ngất Nắng trời đường tươm mật Nên bỗng vàng long lanh
Cây nẩy đầy chồi xanh Nhiều như niềm khát vọng Mây trắng bay yên lành Đẹp như điều mơ mộng
Em chợt đến bên anh Dịu dàng như cơn gió Và lòng anh để ngỏ Cho tình em mơn man
Em là cánh én mỏng Chao xuống giữa đời anh Cho lòng anh xao động Thành mùa xuân ngọt ngào
Én về én lại xa Mùa xuân không ở lại Bên anh em gần mãi Nên đời vẫn xuân trào
Ngày xuân, đi chùa lễ phật cầu an. Của thiền rộng mở, này duyên hữu duyên… Ngày xưa có một đoạn tình duyên đi vào truyền thuyết, ấy là chuyện chàng Từ Thức lên tiên, cỡi chiếc áo quan, đền giùm cho nàng Giáng Tiên cành hoa bị gẫy… Ngày xưa có chàng thi sĩ ở cõi thiền, tên chàng là Phạm Thiên Thư, viết nên bài thơ thiền để đời,”Động hoa vàng”. Bài thơ đã được nhạc sĩ Phạm Duy chọn lọc và đưa về lại cõi trần gian với tựa đề”Đưa em tìm động hoa vàng”.
Bài thơ Động hoa vàng
1 Mười con nhạn trắng về tha Như Lai thường trụ trên tà áo xuân Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm
2 Xe lên bụi quán hoa đường Qua sương trắng dậm phố phường úa thu Tiếng chim ướt sũng hai mùa Hạt rơi thêm lạnh hững hờ mây qua
3 Dế buồn dỗ giấc mù sa Âm nao lãng đãng tơ ngà sương bay Người về sao nở trên tay Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ
4 Con khuyên nó hót trên bờ Em thay áo tím thờ ơ giang đầu Tưởng xưa có kẻ trên lầu Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa
5 Tóc dài cuối nội mây xa Vàng con bướm nhụy lẫn tà huy bay Dùng dằng tay lại cầm tay Trao nhau khăn lụa nhớ ngày sầu đưa
6 Từ chim thuở núi xa xưa Về đây rớt lại hạt mơ cuối rừng Từ em khép nép hài xanh Về qua dục nở hồn anh đóa sầu
7 Ừ thì mình ngại mưa mau Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi Sông này chảy một dòng thôi Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông
8 Ngày xưa em chửa theo chồng Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi Mùa thu áo biếc da trời Sang đông em lại đổi dời áo hoa
9 Đường về hái nụ mù sa Đưa theo dài một nương cà tím thôi Thôi thì em chẳng yêu tôi Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng
10 Sao em bước nhỏ ngập ngừng Bên cầu sương rụng mấy từng mai mơ Đêm về thắp nến làm thơ Tiếng chân còn vọng nửa tờ thơ tôi
11 Đôi uyên ương trắng bay rồi Tiếng nghe tha thiết bên trời chớm đông Nửa đêm đắp mảnh chăn hồng Lại nghe hoa lạnh ngoài đồng thiết tha
12 Con chim chết dưới cội hoa Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao Mai anh chết dưới cội đào Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu
13 Tường thành cũ phiến bia xưa Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay Chiều xanh vòng ngọc trao tay Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha
14 Đêm dài ươm ngát nhụy hoa Chim kêu cửa mộ trăng tà gõ bia Em ơi rủ tóc mây về Nhìn trăng nỡ để lời thề gió bay
15 Đợi nhau tàn cuộc hoa này Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ Tìm trang lệ ố hàng thơ Chữ xưa quyên dục bây giờ chim di
16 Mây xưa cũng bỏ non về Em xưa cũng giã câu thề đó đây Nhớ đành biết mấy tầm tay Lông chim biển bắc hoa gầy bãi đông
17 Đợi ai trăng rõi hoa buồn Vắng em từ thuở theo buồm gió xuôi Chiều chiều mở cổng mây trôi Chênh vênh núi biếc mắt ngời sao hôm
18 Thế thôi phố bụi xe hồng Hồ ngăn ngắt đục đôi dòng nhạn bay Đưa nhau đấu rượu hoa này Mai đi dã hạc thành ngoài cuồng ngâm
19 Xuống non nhớ suối hoa rừng Vào non nhớ kẻ lưng chừng phố mây Về thành nhớ cánh chim bay Xa thành thương vóc em gầy rạc hoa
20 Hạc xưa về khép cánh tà Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần Em về hong tóc mùa xuân Trăng trầm hương tỏa dưới chân một vành
21 Em nằm ngó cội thu xanh Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi Về em vàng phố mây trời Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân
22 Thì thôi tóc ấy phù vân Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương Thì thôi mù phố xe đường Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi
23 Gầy em vóc cỏ mây dời Tay em mai nở chân trời tuyết pha Ngày dài ngựa soải cầm ca Trán cao ngần nửa trăng tà ngậm sương
24 Xe lăn bánh nhỏ bụi hường Lao xao vó rụng trên đường phố mây Mưa giăng ráng đỏ hao gầy Đôi con ngựa bạch ném dài tuyết sa
25 Chim nào hát giữa thôn hoa Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay Lụa nào phơi nắng sông tây Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông
26 Con chim mùa nọ chưa chồng Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu Từ em giặt áo đông tơ Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm
27 Thuyền ai buông lái đêm rằm Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào Cửa sương nhẹ mở âm vào Lay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca
28 Lên non cuốc sỏi trồng hoa Xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương Vớt con cá nhỏ lòng đòng Mải vui lại thả xuống dòng suối tơ
29 Vào non soi nguyệt tầm rùa Đọc trên mai nhỏ xanh tờ lạc thư Thả rùa lại đứng ưu tư Muốn qua hang động sống như nguyệt rùa
30 Em nghiêng nón hạ cầu mưa Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về Hoa sầu cỏ cũng sầu chia Lơ thơ xanh tụ đầm đìa vàng pha
31 Đất nam có lão trồng hoa Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông Lại đem bầu ngọc ra trồng Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân
32 Người vui ngựa chợ xe thành Ta leo cầu trúc bên ghềnh thác rơi Theo chân chim gặp mây trời Lại qua khói động hỏi người tu non
33 Bông hoa trắng rụng bên đường Cánh thơm thông điệp vô thường tuyết băng Con ong nhỏ mới ra giàng Cũng nghiêng đôi cánh nhụy vàng rụng rơi
34 Mùa xuân bỏ vào suối chơi Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa Múc bình nước mát về qua Ghé thôn mai nọ hỏi trà mạn xưa
35 Chim từ bỏ động hoa thưa Người từ tóc biếc đôi bờ hạ đông Lên non kiếm hạt tơ hồng Đập ra chợt thấy đôi dòng hạc bay
36 Người về đỉnh núi sương tây Ta riêng nằm lại đợi ngày mướp hoa Bến nam có phố giang hà Nghiêng nghiêng nậm ngọc dốc tà huy say
37 Tình cờ anh gặp nàng đây Chênh chênh gót nguyệt vóc gầy liễu dương Qua sông có kẻ chợt buồn Ngó hoa vàng rụng bên đường chớm thu
38 Mốt mai em nhớ bao giờ Bãi dâu vãn mộ cho dù sắc không Chân chim nào đậu bên cồn Ngựa xuôi có kẻ lại buồn dấu chim
39 Đợi người cuộc mộng thâu đêm Sông Ngân trở lệ dài thêm dòng nhòa Anh nằm gối cỏ chờ hoa Áo em bạch hạc la đà thái hư
40 Em từ rửa mặt chân như Nghiêng soi hạt nước mời hư không về Thâu hương hiện kính bồ đề Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi
41 Ta về rũ áo mây trôi Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan Rằng xưa có gã từ quan Lên non tìm động hoa vàng ngủ say
42 Ngựa xưa qua ải sương này Còn nghe nhạn lạc kêu hoài bãi sông Nước xuôi gờn gợn mây hồng Tiếng ca lạnh thấu hoàng hôn giục đò
43 Hoa đào tưởng bóng đào xưa Thuyền sang bến nọ dòng mờ khói vơi Hoa dương vàng nhạt sầu người Ta về uống nước sông khuây khỏa lòng
44 Đưa nhau đổ chén rượu hồng Mai sau em có theo chồng đất xa Qua đò gõ nhịp chèo ca Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say
45 Khăn trăng từ độ trao tay Nửa tan cát suối nửa mài nghiên sương Mốt mai lòng có nghe buồn Mảnh trăng hiện hóa thiên đường cõi chơi
46 Nhện cheo leo mắc tơ trời Dòng chim qua hỏi mộ người tà dương Đánh rơi hạt mận bên đường Xuân sau mọc giữa chân thường cội hoa
47 Nụ vàng hương rộ tháng ba Nửa đêm dậy ngó trăng tà tiêu tương Chẳng như cội liễu bờ dương Tóc xanh mướt giữa vô thường sắc không
48 Mai nào thơm ngát thu đông Lược em chải rụng đôi dòng tơ xanh Đôi chim hồng yến trên cành Ngẩn ngơ quên rỉa lông mình điểm trang
49 Mùa xuân mặc lá trên ngàn Mùa thu mặc chú bướm vàng tương tư Động nam hoa có thiền sư Đổi kinh lấy rượu tâm hư uống tràn
50 Nến khuya lửa hắt hiu vàng Trang kinh lác đác đôi hàng nhạn sa Ý nào hóa hiện ngàn hoa Chữ nào cẩn nguyệt trên tà áo ni
51 Dỗ non suối giọng thầm thì Độ tam thế mộng xá gì vóc hoa Ni cô hiện giữa ta bà Búp tay hồng ngọc nâng tà áo trăng
52 Tiếng chim trong cõi vô cùng Nở ra bát ngát trên rừng quế hương Tiếng em hát giữa giáo đường Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng
53 Đố ai nhớ hết hoa vàng Đố ai uống cạn sương tàng trăng thâu Đố ai tát cạn mạch sầu Thì ta để tóc lên cầu đón ai
54 Em về sương đẫm hai vai Dấu chân là cánh lan dài nở đêm Từ em hé nụ cười huyền Mùa thu đi mất trên miền cỏ hoa
55 Guốc mòn lẫn tiếng sơn ca Sư về chống gậy trúc qua cầu này Ngó bờ suối lạnh hoa bay Thương sao giòng nước trôi hoài thiên thanh
56 Có con cá mại cờ xanh Bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân Nửa dòng cá gặp phù vân Hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi
57 Dù mai lều cỏ chân trời Khơi hương lò cũ khóc người trong thơ Em còn ửng má đào tơ Tóc xưa dù có bây giờ sương bay
58 Lên non ngắt đóa hoa này Soi nghiêng đáy suối bóng ai nhạt nhòa Nom hoài chẳng rõ là ta Tắm xong khoác áo hát ca về làng
59 Tay đeo vòng ngọc xênh xang Áo em bay giải tơ vàng thiết tha Bước chân tìm chán ta bà Ngừng đây nó hỏi: đâu là vô minh
60 Hỏi con vạc đậu bờ kinh Cớ sao lận đận cái hình không hư Vạc rằng: thưa bác thiên thư Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ
61 Nước đi từ thủa bao giờ Dòng xuôi người đứng trên bờ ngó xuôi Chừng đâu dưới bến hoa tươi Buộc thuyền xưa đã có người ngó sông
62 Từ hôm em bỏ theo chồng Áo trắng em cất áo hồng em mang Chiều nay giở lại bàng hoàng Mười năm áo cũ hoe vàng lệ xanh
63 Đôi chim nho nhỏ trên cành Giục nhau đan tổ cỏ xanh bên đường Nửa đời mây nước du phương Thiền sư ngắt cỏ cúng dường phật thân
64 Gò chiều ùn bụi sương lên Hỏi ra mới biết nơi yên cành vàng Bên mồ chồn cáo đùn hang Chim kêu như lảnh tiếng nàng ngân nga
65 Cuối xuân ta lại tìm qua Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn Sớm thu ta đánh đò sang Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa
66 Trúc thưa cổng gió ơ hờ Em ra tựa cửa nghĩ chưa lấy chồng Sông ơi xanh nhé một dòng Mùa xuân cắp rổ ra đồng vớt hoa
67 Đường dài xao xác chim ca Người còn khoác nón theo tà dương nao Ván cờ bày trắng bông đào Sao lên núi thẫm trăng vào chén không
68 Đồi thu vắt suối mây hồng Chim xanh lác đác ngược dòng hoa tiên Bấc sầu lửa lụn chờ em Lệ xưa ai đã đổ nên dầu này
69 Đón em như ngóng chim trời Bãi xuân sớm đậu chiều dời khói thu Em còn áo trắng ngày xưa Trong anh muôn thủa bao giờ lệ hoen
70 Khơi trầm thơm tụng kinh hiền Máu xuân mạch lạnh trong miền xương da Vườn chùa có nụ hàm ca Sương khuya: pháp bảo trăng tà: vô môn
71 Mai tươi cánh nở bên cồn Mưa bay lấm tấm cành hương trắng ngời Thu đông tàng ẩn kho trời Hạt rơi rụng ngọc cánh rời rã hoa
72 Cổng làng mở cánh sao sa Nhã lan loáng thoáng tiếng gà xóm mai Lên chùa dâng dĩa hoa nhài Chợt viền trăng lạnh trên hài tổ sư
73 Chuông ngân chiều lặng trầm tư Tiếng lơi đẫm hạt thiên thư bềnh bồng Điệu về tay giấu chùm bông Gót chân đất phật trổ hồng hằng sa
74 Bóng trăng tịch mặc hiên nhà Thành đàn nẩy hạt tỳ bà quyện hương Gió thu từ độ tha phương Về trên hốc gỗ bên đường lặng im
75 Áo em vạt tím ngàn sim Nửa nao nức gọi nửa im lặng chờ Yêu nhau từ độ bao giờ Gặp đây giả bộ hững hờ khói bay
76 Tình cờ như núi gặp mây Như sương đậu cánh hoa gầy tiêu dao Tỉnh ra thì giấc chim bao Chuyện mười năm cũ lại nao nao lòng
77 Cành sen lá chĩu sương trong Áo ni xám vạt trời hong buồn về Tay nào nghiêng nón thơ che Tay nào lần chuỗi bồ đề xanh xao
78 Đôi mày là phượng cất cao Đôi môi chín ửng khoé đào rừng mơ Tiếng nàng vỡ bạc thành thơ Tụng dòng kinh tuệ trên tờ khói mây
79 Tóc em rừng ngát hương say Tay em dài nụ hoa lay dáng ngà Mắt xanh bản nguyện di đà Bước trầm hương nhẹ lẫn tà dương chim
80 Mắt nàng ru chiếc nôi êm Ru hồn tôi ngủ ngàn đêm tuyệt vời Em là hoa hiện dáng người Tôi là cánh bướm cung trời về say
81 Một đêm nằm ngủ trong mây Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời Cây bưởi trắng ngát hương đời Nụ là tay phật chỉ người qua sông
82 Non xanh khoác áo sương hồng Con chim điểm tuyết ngoài đồng vụt bay Tiếng kêu lạnh buốt lòng tay Ngón buông lại chợt tuôn đầy lòng hoa
83 Em bên cửa chuốt tay ngà Cội lan đông mặc nở qua mấy nhành Ngày em ướp áo hồ xanh Con uyên tha thiết trên cành gọi thu
84 Ni về khép cửa chùa tu Sớm mai mở cổng quét thu vườn hồng Thu vương ngọn chổi đôi bông Thoảng dâng hương lạ bướm vòng cánh duyên
85 Sư lên chót đỉnh rừng thiền Trong tim chợt thắp một viền tà dương Ngón tay nở nụ đào hương Cầm nghiêng tịnh độ một phương diệu vời 86 Một dòng hoa nổi trên trời Một dòng hoa nở trong người trầm tư Cánh nào mở cõi không hư Phiến băng tuyết khảm một tờ kim cang
87 Thư em ướp nụ lan vàng Lời em gió núi chiên đàn thoảng xa Áo em phất cõi di đà Ngón chân em nở cánh hoa đại từ
88 Chênh vênh đầu trượng thiền sư Cửa non khép ải sương mù bóng ai Non xanh ướm hỏi trang đài Trăm năm còn lại dấu hài động hoa
89 Ngày xưa bên dậu vàng hoa Chiều chiều kê chõng nằm ra ngó trời Năm sau em bỏ đi rồi Ta về ngồi lắng mưa rơi giậu buồn
90 Trên nền gạch nẻ rêu phong Xưa phơi nhã điệu giờ hong đóa quì Trẻ đào bãi cỏ xanh rì Được thanh kiếm quỉ bao kỳ thu han
91 Non đem nhạn nhốt trong thành Cho sông chưa trở yếm xanh dưới cầu Người còn dệt lụa tằm dâu Đêm nghe mưa rụng thiên thâu ngoài giàn
92 Núi nghiêng suối vắt tơ đàn Nhìn ngoài thạch động mưa vàng lưa thưa Nghiêng bình trà nhớ hương xưa Từ vàng hoa nọ bây giờ vàng hoa
93 Sáng nghe lan rụng mái nhà Chừng như mưa nhẹ núi xa mùa này Đường về mù mịt ngàn mây Về nam đôi cánh chim bay xạc xào
94 Mây dù chẳng chất non cao Đường về dù chẳng sông đào nông sâu Đêm đêm lòng dục nẻo sầu Thềm trăng ngỡ tưởng hoa cau rụng thầm
95 Nhớ cha giọt lệ khôn cầm Dưới trăng lấp lánh như trâm vân quỳnh Nghiêng ly mình cạn bóng mình Tay ôm vò nguyệt một bình mây bay
96 Gối tay nệm cỏ nằm say Gõ vào đá tụng một vài biển kinh Mai sau trời đất thái bình Về lưng núi phượng một mình cuồng ca
97 Gây giàn thiên lý vàng hoa Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây Xuống đầm tát cá xâu cây Bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim
98 Khách xa nhớ đến nhau tìm Lên đồi trẩy một giỏ sim làm quà Hứng nước suối thết bình trà Hái bầu nấu bát canh hoa cười khàn
99 Vào hang núi nhập niết bàn Tinh anh nở đóa hoa vàng cửa khe Mai sau thí chủ nào nghe Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh
100 Hoa vàng ta để chờ anh Hiện thân ta hát trên cành tâm mai Trần gian chào cõi mộng này Sông Ngân tìm một bến ngoài hóa duyên. 1971
Có những bóng hồng thấp thoáng trong dĩ vãng… người con gái không rõ mặt, chỉ thấy bờ vai, ẩn hiện trong nỗi nhớ, ai cũng có… Có người con gái họ Hoàng, đi vào nỗi nhớ đơn phương của chàng thi sĩ thiền Phạm Thiên Thư, tình cảm sâu lắng ấy chỉ phát hiện khi rất nhiều năm sau đọc lại bài thơ này, giữ lại ký ức một thời… Thi sĩ Phạm Thiên Thư đã giữ lại “Ngày xưa Hoàng thị” và nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc bài thơ với nhạc phẩm cùng tên.
Bài thơ Ngày xưa Hoàng thị
Em tan trường về Đường mưa nho nhỏ Chim non giấu mỏ Dưới cội hoa vàng
Bước em thênh thang Áo tà nguyệt bạch Ôm nghiêng cặp sách Vai nhỏ tóc dài
Anh đi theo hoài Gót giầy thầm lặng Đường chiều úa nắng Mưa nhẹ bâng khuâng
Em tan trường về Cuối đường mây đỏ Anh tìm theo Ngọ Dáng lau lách buồn
Lòng sao rưng rưng Như trời mây ngợp Hôm sau vào lớp Nhìn em ngại ngần
Em tan trường về Đường mưa nho nhỏ Trao vội chùm hoa Ép vào cuối vở
Thương ơi vạn thuở Biết nói chi nguôi Em mỉm môi cười Anh mang nỗi nhớ
Hè sang phượng nở Rồi chẳng gặp nhau Ôi mối tình đầu Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu Mà cũng nhoà mau Tưởng đã phai màu Đường chiều hoa cỏ
Mười năm rồi Ngọ Tình cờ qua đây Cây xưa vẫn gầy Phơi nghiêng ráng đỏ
Áo em ngày nọ Phai nhạt mấy màu? Chân tìm theo nhau Còn là vang vọng
Đời như biển động Xoá dấu ngày qua Tay ngắt chùm hoa Mà thương mà nhớ
Phố ơi muôn thuở Giữ vết chân tình Tìm xưa quẩn quanh Ai mang bụi đỏ
Dáng em nho nhỏ Trong cõi xa vời
Tình ơi tình ơi!
Nhà văn Vũ Nam đã ra đi vĩnh viễn
Nhà văn Vũ Nam đã ra đi vĩnh viễn
23/11/2019
Dương Thạch (Diễn Đàn Việt Nam 21)
Nhà văn Vũ Nam đã vĩnh viễn chia tay gia đình, bạn bè vào ngày 18 tháng 11 năm 2019 tại Gomaringen, CHLB Đức, thọ 65 tuổi.
Nhà văn Vũ Nam, tên thật là Lý Văn Văn, sinh năm 1954 tại tỉnh Phước Tuy, Bà Rịa, Vũng Tàu. Nhập ngũ tháng 10 năm 1972, ngày 30 tháng 4 vẫn còn là Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân, QLVNCH. Năm 1980, ông vượt biên cùng gia đình, được tàu Cap Anamur của Tây Đức vớt, sau một thời gian chuyển tiếp tại trại tị nạn Palawan và Bataan ở Philippines, ông định cư tại Đức cho đến nay.
Vũ Nam với cuốn sách Quê Người Nhớ Quê Nhà (ảnh Cỏ Thơm)
Vũ Nam bắt đầu viết từ năm 1985, ông đã cộng tác với rất nhiều báo chí VN ở hải ngoại như Hoa Kỳ (Văn, Gió Văn, Cỏ Thơm, Hảo Ngoại Nhân Văn, Đẹp, Đặc san Biển Đông…), Canada (Lửa Việt, Làng Văn, Nắng Mới…), Pháp (Nhân Bản, Chiến Hữu, Tin Văn…), Đức (Viên Giác, Độc Lập, Tâm Giác).
Vũ Nam (phải) trong buổi giới thiệu sách “Quê Nhà Nhớ Quê Người” tại Virginia tháng 8/2016 (ảnh Cỏ Thơm)
Tác phẩm đầu tay của Vũ Nam là tập truyện ngắn Sau Ngày Tang (1987). Sau đó, nhiều tác phẩm của Vũ Nam lần lượt xuất bản:
– Bên Dòng Sông Donau (Danube), tuyển tập truyện ngắn 1990 – Bên Này Bức Tường Bá Linh, tuyển tập truyện ngắn 1993 – Nơi Cuối Dòng Sông, truyện dài 1994 – Câu Chuyện Từ Con Tàu Cap Anamur, truyện dài 1997 – Một Đêm Ở Genève, tuyển tập truyện ngắn 2004 – Hoa Liên Kiều, tuyển tập truyện ngắn 2008 – Quê Người Nhớ Quê Nhà 2016
Nhà văn Vũ Nam (trái) cùng thi sĩ Đan Hà trong buổi sinh hoạt về ngôn ngữ và văn học của Cộng Đồng Việt Nam Stuttgart tháng 4/2017 (ảnh Vietnam Community Stuttgart)
Ông cũng đóng góp trong các tuyển tập như
– Những Cây Viết Miền Nam (1990) – Truyện Hay Hải Ngoại (1991) – Văn Bút Âu Châu (1989, 1994, 1996) – Nỗi Nhớ Khôn Nguôi (1994) – Trông Vời Quê Cũ (1996) – Trong Cơn Vật Vã (1999) – Tập Diễm Ngưng Huy (2003) – Nhân Văn Lục (Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại 2003) – Thi Văn Viễn Xứ I (2005) – Nam Phong Tuyển Tập (2006) – Giai Thoại Văn Chương (2006) – Thi Văn Viễn Xứ II (2007) – Quê Nam Một Cõi (2007) – Món Ăn Theo Bước Di Tản (2009)
Vũ Nam có vóc dáng thanh tú, hiền hậu. Với giọng văn miền Nam, chân chất, hiền hoà, văn phong tự nhiên, trôi chảy, nếu văn là người thì dòng văn của Vũ Nam cũng hiền hòa, đôn hậu như vậy. Khi đã rời xa quê hương, có một cuộc sống an bình trên xứ người, chứng kiến mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, Vũ Nam vẫn chạnh lòng thương nhớ quê hương, buồn cho kiếp sống nghèo nàn thấp kém của người dân nơi quê nhà.
Nhà văn Vũ Nam ra đi không những là điều đau buồn mà còn là một mất mát cho giới văn học cũng như cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại.
Vần Thơ Lục Bát
Vần Thơ Lục Bát
Vào xem lục bát reo vần
Nào ngờ câu lục, vướng chân em về
Lời thơ ngôn ngữ chân quê
Để cho câu bát, vụng về bên nhau.
Câu sáu quyến rũ mở đầu
Nhường cho câu tám, bắc cầu sang thăm
Duyên tình ước hẹn trăm năm.
Đường xuân phơi phới, trăng rằm tháng giêng
Hoa xuân cánh mỏng chao nghiêng
Cho anh ôm mối muộn phiền nhớ thương
Bài thơ lục bát vấn vương
Đôi vần nối nhịp, cung đường mộng mơ.
Lê Tuấn
“Người
nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng.”
Tự do là gì con hỡi?
Tự do là gì con hỡi?
Là giấc ngủ say con đang men nồng Trong đêm khuya, ngoài kia ga xe gầm rú Tự Do là lòng tốt của bao người, Từ cô hàng xóm tốt bụng thương con Đến những người bạn, người anh em thiện chí Đến giúp mình bằng cả trái tim Dù vẫn còn vác gánh nặng thập giá.
Tự Do là gì sau đau quá Mà phương xa máu đã đổ không ngừng Trót sinh ra trong mọt thời oan nghiệt Tự Do ư, con có còn hay mất? Ngủ đi con Tự Do ngủ đi con. Đi trên đường buýt tự do lấn tuyến, Buýt bóp còi, tai con có đau không? Tự Do ăn Tự Do uống Tự Do làm Tự Do mắc, Tự Do đau, Tự Do chịu.
Tự Do là gì, biết vâng phục? Biết nói láo, làm hại tha nhân? Sống chết mặc bây, mặc kệ nó? Lỡ ngày mai cha không còn, Tự Do mất, Máu lại rơi khi con cố đi tìm. Tự Do ơi!
Một bạn trẻ Hong Kong bị hắc cảnh bắt giữNhân viên y tế Hong kong bị trói
Chinh Nguyên chân thành cám ơn tất cả quý vị quan khách, quý thành viên văn Thơ Lạc Việt, quý ban tổ chức, quý bạn thân hữu đã tham gia buổi ra mắt tác phẩm “Tự Lực Văn Đoàn và Các Cây Bút Hậu Duệ” vào ngày thứ Bẩy Nov. 9, 2019 vừa qua.
Buổi Ra mắt sách rất thành công nhờ vào sự hổ trợ thân tình của quý vị. Cám ơn những quý anh trong giời truyền thông, nhiếp ảnh gia ViệtV, Việt Today, anh Trương Xuân Mẫn, nhà thơ Mạc Phương Đình đã lưu lại những hình ảnh kỷ niệm sinh hoạt của VTLV.
Cám ơn cô MC/Ca sĩ Hạnh Thảo, anh MC Lê Lợi, hai anh diễn giả TS Hồng Dũng, GS Nguyễn Tường Thiết, ban văn nghệ văn Thơ Lạc Việt, cô Thuý Nga, ba cháu Victoria Thuý Vi, Jenny Đan Anh, Hải Âu.
Đặc biệt cám ơn ban nhạc và âm thanh : Anh Thế (âm Thanh), anh Đoàn Keyboard, và anh Sơn tay saxophone với tiếng kèn mê muội đã giúp buồi ra mắt sách được vui vẻ và đầm ấm.
Tuy nhiên trong buổi tổ chức chúng tôi có những thiếu sót chẳng đặng đừng trong vài chi tiết tiếp tân, xin quý vị thông cản và tha thứ. Kính chúc quý vị, an mạnh trong mọi ngày.
Sự đoàn kết cộng đồng sẽ đem lại cho chúng ta một sự khác biệt trong mọi trường hợp.
Trân trọng.
Thay mặt ban tổ chức. Chinh Nguyên.
Nhà thơ BÍCH KHÊ (1916-1946)
Ô hay buồn vương cây Ngô Đồng Vàng rơi, vàng rơi Thu mênh mông…
Tên thật Lê Quang Lương là một nhà thơ thời tiền chiến. Ngoài bút hiệu Bích Khê, ông còn ký bút hiệu Lê Mộng Thu khi sáng tác thơ Đường luật. Thơ Bích Khê rất giàu hình ảnh, âm thanh và màu sắc, đẹp như một bức tranh thơ mà cái nền là của một không gian bát ngát mộng mơ… .
Hai câu Ô hay, buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông… Trích từ tác phẩm Tỳ Bà, được Phạm Duy phổ nhạc và trình bày bởi ca sĩ Thái Thanh.
TỲ BÀ
Nàng ơi ! Tay đêm đang giăng mềm Trăng đan qua cành muôn tay êm Mây nhung pha màu thu trên trời Sương lam phơi màu thu muôn nơi . Vàng sao nằm im trên hoa gầy Tương tư người xưa thôi qua đây Ôi ! Nàng năm xưa quên lời thề Hoa vừa đưa hương gây đê mê . Cây đàn yêu đương làm bằng thơ Cây đàn yêu đương run trong mơ Hồn về trên môi kêu: em ơi Thuyền hồn không đi lên chơi vơi . Tôi qua tìm nàng vay du dương Tôi mang lên lầu lên cung Thương Tôi không bao giờ thôi yêu nàng Tình tang tôi nghe như tình lang . Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi . Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu Sao tôi không màng kêu: em yêu Trăng nay không nàng như trăng thiu Đêm nay không nàng như đêm hiu . Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân Buồn sang cây tùng thăm đông quân Ô hay! buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi vàng rơi: Thu mênh mông . Tác giả: BÍCH-KHÊ
Nhà thơ Hàn Mặc Tử là một trong những tên tuổi nổi bật trong thi đàn Việt Nam thế kỷ 20, là người khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam.
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, được sinh ra trong một gia đình có 8 người con được đặt tên rất ý nghĩa là: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Hiếu, Hiền, Thảo. Tổ tiên của ông là họ Phạm, nhưng do liên quan đến quốc sự bị truy nã nên đổi thành họ Nguyễn.
Hàn Mặc Tử mang vóc mình ốm yếu, tính tình hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Do cha ông là Nguyễn Văn Toản làm thông ngôn, ký lục nên thường di chuyển nhiều nơi, nhiều nhiệm sở, nên dù được sinh ra ở Quảng Bình nhưng Hàn Mặc Tử đã theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Quy Nhơn, Bồng Sơn (1921–1923), Pellerin Huế (1926).
Hàn Mặc Tử có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi, từng có duyên gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sĩ này. Sau này, ông nhận một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Hàn Mặc Tử quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp, năm ông 21 tuổi; lúc đầu làm ở Sở Đạc Điền.
Đến Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người.
Theo gia đình Hàn Mặc Tử thì vào khoảng đầu năm 1935, họ đã phát hiện những dấu hiệu của bệnh phong trên cơ thể ông. Tuy nhiên, ông cũng không quan tâm vì cho rằng nó là một chứng phong ngứa gì đó không đáng kể. Cho đến năm 1936, khi ông được xuất bản tập “Gái Quê”, rồi đi Huế, Sài Gòn, Quảng Ngãi, vào Sài Gòn lần thứ hai, được bà Bút Trà cho biết đã lo xong giấy phép cho tờ Phụ nữ tân văn, quyết định mời Hàn Mặc Tử làm chủ bút, bấy giờ ông mới nghĩ đến bệnh tật của mình. Nhưng ý ông là muốn chữa cho dứt hẳn một loại bệnh thuộc loại “phong ngứa” gì đấy, để yên tâm vào Sài Gòn làm báo chứ không ngờ đến một căn bệnh nan y. Năm 1938 – 1939, Hàn Mặc Tử đau đớn dữ dội. Tuy nhiên, ở bên ngoài thì không ai nghe ông rên rỉ than khóc. Ông chỉ gào thét ở trong thơ mà thôi. Trước ngày Hàn Mặc Tử vào trại phong Quy Hòa, Nguyễn Bá Tín, em ruột của nhà thơ cho biết tình trạng bệnh tật của anh mình như sau: Da anh đã khô cứng, nhưng hơi nhăn ở bàn tay, vì phải vận dụng sức khỏe để kéo các ngón khi cầm muỗng ăn cơm. Bởi vậy, trông như mang chiếc “găng” tay bằng da thô. Toàn thân khô cứng.
Ông Nguyễn Bá Tín, trong một chuyến thăm Bệnh viện Quy Hòa, có đến thăm bác sĩ Gour Vile – Giám đốc Bệnh viện Quy Nhơn. Bác sĩ nói rằng: Bệnh cùi rất khó phân biệt. Giới y học (thời đó) chưa biết rõ lắm. Tuy triệu chứng giống nhau, nhưng lại có nhiều thứ. Ông bác sĩ quả quyết bệnh cùi không thể lây dễ dàng được. Nhiều thông tin cho rằng, một hôm Hàn Mặc Tử đi dạo với bà Mộng Cầm ở lầu Ông Hoàng (Phan Thiết), qua một cái nghĩa địa có một ngôi mộ mới an táng thì gặp mưa. Bỗng ông phát hiện ra từng đốm đỏ bay lên từ ngôi mộ. Sau đó ông về nhà nghỉ, để rồi sớm mai ông phát hiện ra mình như vậy. Đó là căn bệnh do trực khuẩn Hansen gây nên.
Thời đó, vì thành kiến sai lầm rằng đây là căn bệnh truyền nhiễm nên bệnh nhân thường bị hắt hủi, cách ly, xa lánh, thậm chí bị ngược đãi. Hàn Mặc Tử cũng không là ngoại lệ. Lúc này, gia đình ông phải đối phó với chính quyền địa phương vì họ đã hay tin ông mắc căn bệnh truyền nhiễm, đòi đưa ông cách ly với mọi người. Sau đó gia đình phải đưa ông trốn tránh nhiều nơi, xét về mặt hiệu quả chữa trị là phản khoa học vì lẽ ra phải sớm đưa ông vào nơi có đầy đủ điều kiện chữa trị nhất lúc bấy giờ là Bệnh viện phong Quy Hòa. Trong câu chuyện với người em của thi sĩ Hàn Mặc Tử, bác sĩ Gour Vile cũng nói rằng kinh nghiệm từ các trại cùi, không có bệnh nhân nào chỉ đau có từng ấy năm mà chết được. Ông trách gia đình Hàn Mặc Tử không đưa nhà thơ đi trại phong sớm. Bác sĩ cho rằng, Hàn Mặc Tử qua đời do nội tạng hư hỏng quá nhanh vì uống quá nhiều thuốc tạp nham của lang băm trước khi nhập viện phong Quy Hòa.
Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại đây vì chứng bệnh kiết lỵ, khi mới bước sang tuổi 28.
Cuộc đời Hàn Mặc Tử có duyên với 4 chữ Bình: sinh tại Quảng Bình, làm báo Tân Bình, có người yêu ở Bình Thuận và mất tại Bình Định. Ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông – có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như Hoàng Cúc, Mai Đình, Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện.
Trong âm nhạc, ca khúc nổi tiếng nhất viết về cuộc đời của thi sĩ Hàn Mặc Tử chính là ca khúc mang tên Hàn Mặc Tử của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, nổi tiếng qua tiếng hát Trúc Mai cả trước và sau năm 1975. Trước khi mất vài năm, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã về nước và xây lại một ngôi mộ tươm tất cho người thi sĩ tài hoa bạc mệnh đó.
Hàm Mặc Tử làm thơ từ năm 16 tuổi lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thanh. Đến năm 1936, khi chủ trương ra phụ trương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mạc Tử, sau ông lại đổi thành Hàn Mặc Tử. “Hàn Mạc Tử” nghĩa là chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo, trống trải. Sau đó bạn bè gợi ý ông nên vẽ thêm Mặt Trăng khuyết vào bức rèm lạnh lẽo để lột tả cái cô đơn của con người trước thiên nhiên, vạn vật. “Mặt Trăng khuyết” đã được “đặt vào” chữ “Mạc” thành ra chữ “Mặc”. Hàn Mặc Tử có nghĩa là “chàng trai bút nghiên”.
MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY
Nhân chuyện phim Mulan (Hoa Mộc Lan) dự kiên công chiếu vào tháng 3-2020 tại Việt Nam với Lưu Diệc Phi, nữ diễn viên từng công khai ủng hộ “đường lưỡi bò” đóng vai chính. Như vậy không chỉ Thành Long, Triệu Vy, Chân Tử Đan… mà cả một đám nghệ sĩ Tàu cộng luân phiên xâm lược nền văn hóa nước ta với sự tiếp tay của bọn bán nước từ hệ thống cầm quyền. Tôi đã báo động về chuyện này cách đây 10 năm qua bài thơ MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY, bài thơ được cố nhà báo Bùi Tín đánh giá :”có sức mạnh tương đương với hàng chục quân đoàn dã chiến không cần tới súng ống và thuốc nổ”. Nay đăng lại để mọi người cảnh báo trước tình hình Việt Nam đang dần biến thành “An Nam Đô Hộ Phủ” hiện nay…
BÙI CHÍ VINH
MỘT NGÀY PHẢI KHÁC MỌI NGÀY
Chào một ngày giống hệt mọi ngày Sóng truyền hình phủ toàn phim Trung Quốc Từ HTV, VTV, BTV, Đồng Nai, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau… cho đến “cáp” Hết “Triều Đại Mãn Thanh” đến “Đại Tống Truyền Kỳ”
Chào một ngày giống hệt mọi ngày Đọc báo thấy cha ông mất hút Thấy thiên hạ quỳ mọp dưới tượng đài Binh Pháp Mặc Công, Ngọa Hổ Tàng Long, Họa Bì, Xích Bích… Con nít thuộc lòng Hoắc Nguyên Giáp, Hoàng Phi Hồng, Diệp Vấn, Diệp tùm lum hơn thuộc sử Tiên Rồng
Chào một ngày đất nước tự lưu vong Cội rễ văn hiến 4000 năm trốc gốc Tuổi teen gối đầu giường Lý An, Ngô Vũ Sâm, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca lạ hoắc Pano giăng khắp nơi hình ảnh Củng Lợi, Chương Tử Di, Thành Long phơi phới toét miệng cười
Chào một ngày phát triển giống đười ươi Đi trên xã tắc thấy người thua xa khỉ Thấy lô cốt ngáng đường, thấy nước ngập tận mông, thấy thánh hiền sợ quỷ Thấy truyền thống chống ngoại xâm co rúm lại vì… tiền
Chào một ngày vong bản vì… hèn Sống chết mặc bây, túi thầy vô cảm Ải Nam Quan nằm ngoài ranh giới Việt Nam, xưa rồi Diễm… Nước mắt Nguyễn Trãi khóc Nguyễn Phi Khanh rơi ở tận… nước Tàu
Chào một ngày bãi biển hóa nương dâu Thác Bản Giốc rời Cao Bằng như có cánh Thắng cảnh để lại của tiền nhân bị cháu con ghẻ lạnh Các di tích, kỳ quan cứ mất tích đều đều
Chào một ngày hình chữ S tong teo Tài nguyên bôxit bị bới đào như… bọ xít Nhôm và đô la chẳng thấy đâu, chỉ thấy đất Tây Nguyên rên xiết Ô nhiễm mạch ngầm, nước sông làm nghẹt thở Chín Con Rồng
Chào một ngày long mạch bị xới tung Máu bầm đất đỏ bazan, máu tràn ra hải đảo Ai cho phép Hoàng Sa Trường Sa thành Tam Sa lếu láo Tội nghiệp rừng cọc nhọn của Hưng Đạo Đại Vương trên sóng Bạch Đằng
Chào một ngày giống hệt cõi âm Những xác chết anh hùng bật dậy Máu trả máu, đầu trả đầu. Nhớ đấy Mãi quốc cầu vinh tất quả báo nhãn tiền