HỒN XUÂN
HỒN XUÂN
(Kính họa bài Tiếng Gọi Xuân Về của thi sĩ Lê Tuấn)
Xuân về lộc trỗ vun cành
Nắng vương lên mảnh khăn lanh óng vàng
Được em yêu chẳng dễ dàng
Hồn rung mấy bậc nhịp nhàng cung thơ
Đắm say ra ngẩn vào ngơ
Hồn Xuân đã ngủ trên bờ vai em
Dịu dàng cơn gió ru êm
Mơn man vệt mộng ngang thềm nhẹ rơi
Tim bâng khuâng tiếng gọi mời
Miên man một cõi mây trời tỏa riêng
Cỏ hoa rực rỡ vào Giêng
Sao em nỡ để tâm phiền anh mang
Xuân nồng hôn khóm cúc vàng
Lắt lay cơn gió nhịp nhàng chân đi
Từ yêu em ước mãi khi
Bướm hoa chung lối mộng thì hoà chan
Phương Hoa – JAN 16th 2020
Xuân Về
Minh Thuý
1/17/2020

Ngày xuân đi chợ Tết
Nhớ
lại những ngày Tết Sài Gòn xưa. Xin chia sẻ cùng quý vị bài thơ 5 chữ,
tôi viết đã lâu rồi, bài thơ này mang theo âm hưởng của ca khúc “Em đi
chùa Hương”. Rất mong quý nhạc sĩ (Ngẫu hứng) viết một ca khúc mang giai
điểu (gần gũi với ca khúc Em đi Chùa Hương) hay bài thơ (Ông Đồ Già).
Nếu được như vậy thì hay biết mấy. Rất mong quý vị nữ sĩ VTLV cùng họa
bút để chia sẽ những vần thơ hay cho ngày xuân.
Chúc quý vị một mùa xuân thật vui.
Trân trọng
Lê Tuấn
Ngày xuân đi chợ Tết

Nắng đùa trên mái tóc
Gió đùa vạt áo bay
Em cười vui trong nắng
Cánh hoa hồng trên tay.
Năm nay em mười tám
Tuổi trăng rằm ngây thơ
Mẹ hỏi em có muốn
Lấy chồng sớm hay chờ.
Em còn đang dệt mộng
Trong lứa tuổi xuân thì
Mẹ hỏi em kỳ quá
Lấy chồng sớm làm gì.
Mỗi lần em ra phố
Nhiều chàng trai đứng chờ
Trên đường đi rất ngượng
Em đang tuổi mộng mơ.
Ngày xuân đi chợ Tết
Em gặp chuyện bất ngờ
Một chàng trai tuấn tú
Tặng em một bài thơ.
Bài thơ vần lục bát
Ôm ấp một tình yêu
Lời thơ như gợi nhớ
Kim Trọng gặp Thúy Kiều.
Từ dạo đó em nhớ
Ngồi ngắm mình trong gương
Tô thêm bờ môi đỏ
Em vẫn đợi người thương.
Một hôm Mẹ lại hỏi
Bao giờ cô lấy chồng
Em thẹn thùng ấp úng
Trời đã vào cuối đông.
Gia đình chàng đến hỏi
Em đứng nép bên thềm
Mẹ gật đầu ưng thuận
Em thao thức thâu đêm.
Cuối năm làm đám cưới
Em một lòng thủy chung
Chồng em người lính chiến
Lính Việt Nam Cộng Hòa.
AET. Lê Tuấn
Hương Mùa Xuân

Ngày xuân hương cỏ lạ
Hoa đào chen sắc mai
Bướm ong bay tìm mật
Ngày vui nối tình dài.
Giọt sương khuya lấp lánh
Nắng điểm nhẹ trên môi
Em cười vui ngày Tết
Bên hương say, gọi mời.
Tháng giêng xuân vừa đến
Cho tình yêu lên ngôi
Gợi thêm từng nỗi nhớ
Thơ tràn vào vào hồn tôi.
Lê Tuấn
Mùa Xuân 2019
VTLV chúc Tết quí vị vạn sự như ý

Đàn bầu bài “Cám ơn”- Bùi H Nhựt
TƯỢNG ĐÀI KỶ NIỆM 75 TỬ SĨ HOÀNG SA
TƯỢNG ĐÀI KỶ NIỆM 75 TỬ SĨ HOÀNG SA
Hôm nay tại quận Cam, Nam California, đã trang trọng làm lễ khánh thành tượng đài kỷ niệm và ghi ơn 75 chiến sĩ VNCH đã hy sinh trong trận hải chiến với đoàn quân xâm lược Trung Cộng tại Hoàng Sa ngày 19-1-1974.
46 năm đã trôi qua…
Lịch sử dân tộc phải được tôn trọng, và gìn giữ cho thế hệ mai sau
Buổi lễ hôm nay đặc biệt có sự tham dự của một số hậu duệ của những anh hùng đã vị quốc vong thân đó.
Năm 1974, khi cố thiếu tá hạm phó Nguyễn Thành Trí chìm sâu dưới lòng biển đông cùng với chiến hạm lịch sử Nhật Tảo HQ10, cô bé Nguyễn Thị thanh Thảo 4 tuổi đầu phải chịu mồ côi cha.
46 năm sau, cô đã có mặt tại buổi lễ khánh thành tượng đài ghi ơn những anh hùng mà cha của cô là một trong 75 điểm son sáng ngời đó của dân tộc.



Thiệp mời tiệc kỷ niệm ngày thành lập VTLV
Ngày 1 tháng 3 2020, lúc 4g chiều
tại nhà hàng Phú Lâm, San Jose


Tình Xuân
Tình Xuân

Ở hai đầu nỗi nhớLặng lẽ buồn bơ vơ
Anh gặp em ngày đó
Đền bây giờ dại khờ.
Tình xưa thời con gái
Tuổi trăng tròn ngây thơ
Môi chạm môi bỡ ngỡ
Đầy ướt át trong mơ.
Nụ mai vàng trước ngõ
Gió xuân đang đợi chờ
Nắng ươm đầy nỗi nhớ
Mây trắng bồng bềnh trôi.
Cành đào thêm sắc đỏ
Dập dìu khách vui xuân
Lang thang chiều dạo phố
Bỗng dưng lòng bâng khuâng.
Buổi chiều vàng chợt tốiHạt mưa xuân nhẹ rơi
Anh cùng em nhẹ bước
Đêm xuân vẫn gọi mời.
Lê Tuấn
Người nghệ sĩ lang thang
Tình yêu nhiệm mầu

Linh hồn ta yếu đuối
Làm sao vượt lên trên
Bên kia bờ vực thẳm
Cho nỗi nhớ bồng bềnh.
Nhìn thấy bóng dáng em
Ta đã lỡ ôm ghì
Đem vào thơ nỗi nhớ
Mối tình đầu mê si.
Đọc hết trang thánh thư
Hồn ta vẫn nát nhừ
Thiếu tình em là thế
Dù biết đời hư vô.
Cô đơn như Thượng Đế
Yếu đuối như gã khờ
Vì tình nên anh viết
Chữ yêu đầy trang thơ.
Cõi lòng còn day dứt
Huyết mạch chảy trong tim
Dòng nào cho tình sử
Dòng nào chảy lặng im.
Triết lý nào cũng thế
Dạy ta biết yêu nhau
Không chia đôi cắt đứt
Tình yêu sự nhiệm mầu.
Lê Tuấn
Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng
Một số dấu tích ngôn ngữ Nam Việt cổ trong từ thư Trung Quốc
Một số dấu tích ngôn ngữ Nam Việt cổ trong từ thư Trung Quốc
Phan Anh Dũng
06 Tháng 1 2020
1. Đặt vấn đề về sự tồn tại của nhà nước Nam Việt cổ
Sách Thông Điển của Đỗ Hựu 杜佑[1] thời Đường (801)通典卷第一百八十四– 州郡十四,có ghi chép như sau:
“Tự Lĩnh nhi nam đương Đường Ngu Tam Đại vi man di chi quốc, thị Bách Việt chi địa, diệc vị chi Nam Việt. Hoặc vân Nam Việt chi quân diệc Hạ Vũ chi hậu … ” Tạm dịch: “Từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam, ngang với đời Đường Ngu và Tam Đại là (một) nước man di, nằm trong đất Bách Việt, cũng gọi là Nam Việt.[2] Có kẻ nói quân trưởng của Nam Việt là dòng dõi vua Hạ Vũ…”
Để tránh nghi vấn “tam sao thất bản” nên người viết chụp nguyên bản trang sách đó ở dưới:
Như vậy truyền thuyết về thời đại Hồng Bàng – Hùng Vương của người Việt đâu phải là tự người Việt bịa đặt ra, như có người từng quy kết rằng: ban đầu do Trần Thế Pháp “sáng tác” trong Lĩnh Nam Trích Quái, rồi sử quan đô tổng tài thời Lê là tiến sĩ Vũ Quỳnh “ghi bừa” vào Đại Việt Sử Ký Toàn Thư? Để ý Thông Điển (801) có trước Việt Sử Lược và Lĩnh Nam Trích Quái đến khoảng nửa thiên niên kỷ, mà Đỗ Hựu từng làm Tiết độ sứ Lĩnh Nam nên có thể đã từng nắm trong tay những tư liệu sách vở về nước Nam Việt cổ chứ không phải viết dựa theo truyền thuyết của người Việt.
Dẫu sách của Đỗ Hựu đã viết theo kiểu miệt thị gọi nước của người Việt là “man di” đi nữa thì vẫn là một “quốc” chứ không viết là một “xứ” hay một bộ lạc, hơn nữa ngay câu sau lại nhắc tới “quân” tức là “vua” của “man di chi quốc” này nên hiển nhiên “quốc” phải hiểu theo nghĩa “quốc gia” … Thông tin này cũng phù hợp với thông tin của Tiến sĩ Nguyễn Việt cho biết đã tìm thấy nha chương bằng ngọc, biểu hiện của quyền lực, trên đất nước ta với niên đại khoảng 3500-3800 năm trước trong một ngôi mộ cổ ở Xóm Rền (Phù Ninh, Phú Thọ), khoảng 3500-3800 năm trước là khoảng nửa cuối nhà Hạ (thế kỷ 21 TCN – 16 TCN). Nha chương này có cùng chất liệu với các vòng ngọc tìm thấy trong ngôi mộ cổ đó nên có khả năng lớn là được chế tác tại chỗ, chứ không phải là từ Trung Quốc truyền sang qua con đường giao lưu buôn bán.
Niên đại hơn 4.000 năm của nước Nam Việt nói trong Thông Điển cũng khá phù hợp với niên đại của nước Việt Thường trong sách Thông Chí đời Tống:《通志》(宋•鄭樵[1104年-1162年]撰)又按陶唐之世,越裳國獻神龜,蓋千歲,方三尺餘,背有科斗文記開闢以來,堯命錄之,謂之龜歴。《Thông Chí 》(Tống. Trịnh Tiều [110-1162] soạn): Hựu án Đào Đường chi thế, Việt Thường quốc hiến thần quy, cái thiên tuế, phương tam xích dư, bối hữu khoa đẩu văn kí khai tịch dĩ lai, Nghiêu mạng lục chi, vị chi Quy Lịch.
“Lại xét đời Đào Đường, nước Việt Thường dâng con rùa thần, phải đến hơn nghìn năm tuổi, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy Lịch tức Lịch rùa.”
Tóm lại: Nam Việt là một địa danh và là tên nước cổ, có thể đã có trước thời Triệu Đà đến hàng nghìn năm chứ không phải đến thời Triệu Đà mới đặt ra tên Nam Việt.
Theo quan điểm của người viết thì “nhà nước” Nam Việt hoặc Việt Thường hoặc Văn Lang… ở vùng Lĩnh Nam trước thời Chu có lẽ cũng chỉ ở mứcmột hình thức liên minh bộ lạc như các liên minh bộ lạc Hạ-Thương ở Trung Quốc đương thời mà thôi, nhưng vẫn có tính ĐỘC LẬP, KHU BIỆT nhất định, và đặc biệt là có truyền thống kế thừa hàng ngàn năm về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử .v.v…
2. Các dấu tích ngôn ngữ Nam Việt trong từ thư Trung Quốc.
Từ cách đặt vấn đề ở trên, chúng ta thử tìm hiểu về các dấu tích ngôn ngữ Nam Việt có thể còn lưu lại rải rác trong từ thư Trung Quốc. Để đảm bảo khách quan cần phải tìm đúng các đoạn văn có nội dung nói về người Nam Việt hay tiếng Nam Việt trong các từ thư Trung Quốc, công việc thật không dễ dàng, nhưng người viết cũng tìm được một số từ (chữ) sau:
– Chữ Sưu 獀.Khang Hy Tự điển có đoạn chú như sau: 獿獀,南越人名犬- Nạo sưu, Nam Việt nhân danh khuyển. (Người Nam Việt gọi chó là nạo sưu) .
Phục nguyên âm thượng cổ của chữ sưu:
Karlgren: /ʂi ̯ʊg/
Lí Phương Quế: /srjəgw/
Vương Lực: /ʃiu/
Baxter: /srju/
Trịnh Trương Thượng Phương: /sru/
Phan Ngộ Vân: /sru/.
Đây có thể là một từ gốc Môn-Khmer, vì chó trong tiếng Việt cổ là /*cuəʔ/ (phục nguyên theo G.Diffoth, xem Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt, trang 48), một số ngôn ngữ phương Nam khác gọi chó là a-so hay a-sưu, ví dụ tiếng Katu thì chó là achoo, còn chó sói là axô hay axớu .v.v… Tiền âm tiết a– ứng với nạo, vì chữ nạo còn được viết là 獶, mà phục nguyên âm thượng cổ chữ này theo Vương Lực là /iu/ theo Baxter là /ʔju/, phản ánh một tiền âm tiết với phụ âm đầu zero hay tắc thanh hầu.
Học giả Axel Schuessler trong phần mở đầu cuốn sách “Từ điển từ nguyên Hán ngữ cổ” ( Etymological_Dictionaryof old Chinese) khi bàn về quan hệ giữa Hán ngữ và các ngôn ngữ láng giềng, ở mục quan hệ với tiếng Việt (mục 1.2.6 trang 4) cũng dẫn ví dụ về chữ sưu 獶 này cùng với chữ trát 札(tức là chết tiếng Việt, nói kỹ ở phần dưới).
Trong khi đó các ngôn ngữ nhóm Thái – Kadai như Choang, Tày, Thái đều gọi chó là ma, âm đọc hoàn toàn khác với nạo sưu mà sách Trung Quốc đã ghi chép … Từ so sánh trên có thể thấy, giống người được sách Trung Quốc gọi là “Nam Việt nhân” nhiều khả năng là người Việt (Kinh) chứ không phải nhóm Choang – Tày – Thái.
Vả lại xét dân số của vùng Lĩnh Nam (tức vùng đất Nam Việt theo Thông Điển viết ở trên) được ghi chép trong Hán Thư thì quận Uất Lâm, phía tây Quảng Tây, vốn là vùng đất sinh sống của người Choang, đất rộng đến 12 huyện nhưng dân số chỉ có 71.162 khẩu, chưa bằng một huyện của quận Giao Chỉ (tức miền Bắc VN), khi đó quận Giao Chỉ có 10 huyện nhưng dân số cộng đến 746.237 khẩu. Nếu cộng luôn cả Tày – Nùng và nhóm Lê ở đảo Hải Nam khi đó thì nhóm Thái – Kadai có lẽ cũng chưa bằng 1/5 dân số của người Việt (Kinh) ở riêng quận Giao Chỉ chứ chưa tính đến quận Cửu Chân, nên bảo rằng người Nam Việt vốn là người Choang – Lê (và chỉ có thể là Choang – Lê?) thì thật là vô lý.
Lại xét Lữ Gia là Thừa tướng nước Nam Việt của Triệu Đà, truyền thuyết của người Việt nói Lữ Gia là người Việt đất Lôi Dương quận Cửu Chân, hiện còn đền thờ ở tỉnh Hưng Yên. Vì vậy việc sách Trung Quốc ghi tiếng nói Nam Việt có điểm giống tiếng Việt (Kinh) thì có gì lạ?
Chữ trát 札:
《周礼·地官·司关:“国凶札,则无关门之徵。” 郑玄注引郑司农云:“凶,谓凶年饥荒也;札,谓疾疫死亡也。越人谓死为札。
Chu Lễ, Địa Quan, Tư Quan: “Quốc hung trát, tắc vô tống quan chi trưng. Trịnh Huyền[3] chú dẫn Trịnh Ti Nông vân: hung, vị hung niên cơ hoang dã; trát, vị tật dịch tử vong dã. Việt nhân vị tử vi trát.
Ở đây chúng ta chỉ cần chú ý đến câu cuối “Người Việt gọi chết là trát”còn phía Hán ngữ thì nghĩa là “tật dịch tử vong”, Axel Schuessler có dẫn từ này như đã nói ở phần trên nhưng dịch thành epidemic tức là “tật dịch” mà bỏ sót nghĩa “tử vong”ghi trong từ thư Trung Quốc, đó mới là nghĩa gốc của nó bắt nguốn từ “chết” của tiếng Việt.
Đối chiếu phục nguyên âm thượng cổ Hán của chữ “trát 扎” theo Vương Lực là /tʃet/ , hay theo Baxter là /tsrit/ thấy khá gần từ “chết” của người Việt (Kinh), đó là một từ gốc Mon-Khmer mà ngữ âm thời proto Mon-Khmer (khoảng hơn 4000 năm trước) theo G.Difflot là /*kacet/[4] nếu bỏ qua tiền âm tiết “ka” thì cũng không khác lắm so với tiếng Việt hiện đại. Trong khi đó từ “chết” trong tiếng Thái Đen là “tai”, tiếng Tày là “thai” đều khác với từ “trát” nhiều, như vậy việc một số học giả Trung Quốc cho rằng các nhóm dân Bách Việt cổ ở vùng Nam Trường Giang là thuộc nhóm Thái – Kađai là thiếu căn cứ.
– Chữ cụ 颶(gió bão): Sách Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn (沈怀远) thời Nam Triều Tống南朝宋(năm 420-479)[5] viết: 颶風者-cụ, phong dã (cụ là gió), cũng đã được ghi lại trong Khang Hy Tự điển.
Phục nguyên âmthượng cổ của chữ cụ颶 (Thanh mẫuquần群, vận mẫungu虞, khứthanh, hợp khẩu,tam đẳng, nhiếpngộ遇,thiết âm: 衢遇- cù ngộ thiết):
Karlgren: /gʹi ̯u/
Lí Phương Quế: /gjugh/
Vương Lực: /gio/
Baxter: /gjos/
Trịnh Trương Thượng Phương: /gos/
Phan Ngộ Vân: /gos/.
Tiến sĩ Trần Trọng Dương trong Nguyễn Trãi Quốc âm từ điển chú về chữ Nôm gió như sau: “Tự dạng Nôm cổ hơn với cấu trúc {cá+dũ 个+愈} để ghi thủy âm kép *kj … đối ứng: kzo trong Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng … Kiểu tái lập *kjɔ …”
Như vậy tái lập âm của Trần Trọng Dương cũng không khác mấy so với tái lập của Baxter cho chữ cụ 颶là: /*gjos/, vì hai phụ âm k- và g- chỉ phân biệt ở đặc tính vô thanh hay hữu thanh, dễ dàng chuyển hóa cho nhau, như thường thấy ở tiếng Nga, còn âm cuối -s dẫn đến khứ thanh (theo Haudricourt) cũng phù hợp với dấu sắc ở tiếng Việt “gió”. Có thể dẫn thêm hàng loạt trường hợp chữ Hán có thanh mẫu kiến 見(K-),tương ứng âm Hán Việt là GI- như: 加gia; 價giá; 覺giác; 皆giai; 解giải; 間gian, 江giang… Nhân tiện nói thêm: TS Trần Trọng Dương dựa vào các ngôn ngữ bà con với tiếng Việt nên phục nguyên âm đầu là k-, nhưng chúng tôi đề nghị vẫn phục nguyên là g- tức “gjɔ”. Âm đầu g- vốn có sẵn từ xưa trong proto Mon-Khmer, nhiều tác giả cho rằng sau này đã gộp vào k- ở giai đoạn Việt – Mường chung, rồi sau này ở tiếng Việt lại tách ra, nhưng chúng tôi cho rằng riêng nhóm Việt vùng Bắc Bộ thì vẫn giữ phân biệt k-/g- từ thượng cổ đến nay.
Rõ ràng Thẩm Hoài Viễn đã ghi chép được đúng nghĩa chữ gió 颶của người Việt (Kinh) nghĩa là gió (phong) nói chung, chứ không chỉ có nghĩa hẹp hơn là “gió bão” như ở Hán ngữ.
Hình minh họa chữ Nôm gió cổ viết dạng {cá+dũ 个+愈} chụp lại từ bản Nôm Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh, trang 12a (câu Nôm: đi đỗ lệ tai gió):
Âm hào thời Thẩm Hoài Viễn trùng hoàn toàn với tên con hào (hay hàu) mà người Việt hiện nay vẫn sử dụng rất phổ thông.
Thử tra cứu tự điển chữ Nôm Tày và từ điển Thái Đen – Việt thì không thấy chữ hào nghĩa là con hàu, nhưng không cần ngạc nhiên chuyện này vì người Tày và Thái vốn cư trú ở miền núi, còn con hàu là sinh vật biển. Hiện người viết chưa tra cứu được từ điển Choang có chữ hào nghĩa là “con hàu” này không, nhưng nhiều khả năng cũng như Tày-Thái thôi, vì người Choang cũng cư trú ở miền núi, nếu hiện tại có từ hào thì có lẽ là họ mượn của người Hán hay người Việt (Kinh).
– Chữ đồn 豚(con lợn): 《南越志:江豚似猪Nam Việt Chí: Giang đồn tựa trư. (con lợn sông hay lợn biển hình giống như lợn).
Phục nguyên âm thượng cổ của chữ đồn 豚:
Karlgren: /dʹwən/
Lí Phương Quế: /dən/
Vương Lực: /duən/
Baxter: /lun/
Trịnh Trương Thượng Phương: /duun/
Phan Ngộ Vân: /duun/
Phục nguyên của Baxter /lun/cho thấy từ lợn của người Việt với đồn Hán ngữ có thể là cùng mộc gốc Nam Á, trong khi đó họ ngôn ngữ Thái-Kadai gọi con lợn là mu thì rất khác.
Ví dụ về quan hệ giữa âm đầu đ- Hán Việt với l- Việt còn thấy ở các cặp từ khác như chữ Đà (Hán: 柁) /Lái (Việt) mà phục nguyên theo Baxter là: /lajʔ/, hay chữ đạo 稻là lúa phục nguyên theo Baxter là: /luʔ /(âm cuối tắcʔ khi mở sẽ chuyển thành -a ở tiếng Việt).
Trong tiếng Việt còn có các ví dụ về từ có âm đầu đ/l đồng nghĩa như đạc ngựa cũng là lạc ngựa, hay đòi tói=lòi tói (tức dây xích sắt, từ đòi tói có ghi trong từ điển Việt Bồ La A.D.Rhodes và chú là cũng như lòi tói) v.v…
– Chữ trá 䖳(tức 水母 thủy mô, tức con sứa): sách《淡水廳志》Đạm Thủy Sảnh Chí[ 6] có chép rằng 南越志謂之䖳 (Nam Việt Chí vị chi trá).
Khang Hy Tự Điển có ghi một âm khác của trá 䖳là 咤, mà chữ này người Việt quen đọc âm Hán-Việt là sá. Như vậy có thể “con sá” tức là “con sứa” của người Việt, quan hệ giữa vần -a và -ưa là khá rõ ràng vì nhiều vùng khu 4 cũ như Thanh Hóa vẫn gọi “lửa” là “lả”. Chắc chắn đây là từ gốc Nam Á của nhóm Bách Việt, vì có sách ghi là người Mân Việt cũng gọi con sứa là 䖳.
– Sách 臨海異物志》Lâm hải dị vật chí của Thẩm Oánh (沈莹) đời Tam Quốc viết: 比目魚,似左右分魚,南越謂之板魚(Tỉ mục ngư, tựa tả hữu phân ngư, Nam Việt vị chi bản ngư– Cá mắt sát nhau, giống như cá phân biệt hai nửa trái phải, người Nam Việt gọi là cá “bản”).
Cá bản chính là cá bơn hay thờn bơn trong tiếng Việt[7], đặc điểm của cá bơn là hai con mắt nằm cùng một phía thân, sát vào nhau, (chữ tỉ trong tên “Tỉ mục” nghĩa thông thường là so sánh, còn có nghĩa khác là cặp sát). Có 2 chữ Nôm ghi tên cá bơn mà đều dùng phần biểu âm là chữ ban (~), khá phù hợpvớiâm bản, sai khác về thanh không quan trọng vì theo Haudricourt [11] thì khoảng đầu công nguyên tiếng Việt còn chưa có thanh điệu, tiếng Hán có thể cũng chưa định hình rõ thanh điệu.
Xem hình minh họa con cá bơn “mắt lác” ở trang tiếng Việt http://thucphamgreenlife.com/221/id/96/catid/13/ca-bon-ca-luoi-trau.php:
So sánh với hình “tỉ mục ngư” ở trang tiếng Hoa
http://zh.wikipedia.org/wiki/%E6%AF%94%E7%9B%AE%E9%AD%9A :
Cứ ngư 锯鱼(cá lưỡi cưa), theo Nam Việt Chí và Thái Bình Hoàn Vũ Ký thì Nam Việt gọi là 狼籍鱼– lang tịch ngư[8].
Chữ “lang”có lẽ ứng với “răng” trong tiếng Việt vì phục nguyên âm thượng cổ của chữ 狼theo Baxter là /c-raŋ/, theo Trịnh Trương Thượng Phương và Phan Ngộ Vân là /raaŋ/, còn chữ “tịch” có thể là “lược” trong tiếng Việt vì Baxterphục nguyên âm thượng cổ của tịch 籍là /zljᴀk/, Trịnh Trương Thượng Phương: /ljaag/, Phan Ngộ Vân: /sɢlag/.
* Ngoài các dẫn chứng trên, còn hàng loạt các từ Hán có nguồn gốc phương Nam nhưng đã Hán hóa cao và không chỉ có ở đất Nam Việt nên người viết không tính là dấu tích Nam Việt, chẳng hạn như phù lưu (plâu=trầu), cảm lãm (klãm=trám), da (dừa), tân lang (binh lang=cây cau), trứ/trợ (đũa), đại mội (đồi mồi) .v.v…
Sơ kết
Các chứng tích ngữ âm Nam Việt còn lưu trong sách Trung Quốc tìm được ở trên tuy chưa nhiều nhưng tạm có thể đặt vấn đề là tiếng nói của người Nam Việt cổ chính là tiếng nói của người Việt (Kinh).
Tuy địa bàn Lĩnh Nam còn có các nhóm Thái-Kadai, nhưng dân số chưa bằng 1/4 của người Kinh, nên ước chừng nếu tìm được nhiều chữ hơn trong từ thư Trung Quốc viết về đất Nam Việt để so sánh thì tỉ lệ số chữ có gốc Việt (Kinh) vẫn áp đảo.
Tài liệu tham khảo:
- Phục nguyên âm thượng cổ Hán ngữ ở trang web của Đại học Thượng Hải http://www.eastling.org/oc/oldage.aspx có bản sao ở trang http://fanzung.com/?page_id=445
- 中上古汉语音的纲要、高本汉、齐鲁书社、济南。1987
- A Handbook of Old Chinese PhonologyGS William Baxter (1992, New York, Berlin).
- 王力古漢語字典,Vương Lực “Cổ Hán ngữ tự điển”.
- Etymological_Dictionaryof old Chinese. Axel Schuessler , 2007 University of Hawai’i Press.
- Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt. Nguyễn Tài Cẩn, NXB Giáo Dục, Hà Nội. 1995
- Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. Nguyễn Tài Cẩn. NXB Đại học Quốc gia , Hà Nội. 2000.
- Từ điển tiếng Cơ Tu- Việt, Việt -Cơ Tu, Nguyễn Hữu Hoành, Tạ Văn Thông, Nguyễn Văn Lợi, Sở KHCN Quảng Nam và Viện Ngôn ngữ học 2007.
- Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật Thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh. Hoàng Thị Ngọ. NXB KHXH, Hà Nội, 1999.
- Thử tìm hiểu từ nguyên một số cặp từ Việt Hán, PHAN ANH DŨNG, Bài viết tham gia hội thảo nhân một năm ngày mất GS Nguyễn Tài Cẩn, Hà Nội, 4-2012.
- Tìm hiểu về lớp từ cổ Việt Hán qua các cứ liệu ngữ âm lịch sử, PHAN ANH DŨNG, Hội thảo quốc tế Ngôn ngữ học, Hà Nội 14-16/4/2013.
- A.G. Haudricourt (1954). Về nguồn gốc các thanh của tiếng Việt. (Hoàng Tuệ dịch). In trong Những bài viết về lịch sử tiếng Việt – Trần Trí Dõi biên soạn, Hà Nội, 1997.
- Nguyễn Trãi Quốc âm Từ điển. Trần Trọng Dương. NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội 2014.
[1] Đỗ Hữu 杜佑(735-812) từng làm Tiết độ sứ Lĩnh Nam, soạn sách Thông điển trong 36 năm từ 766 đến 801 sau đó làm Tể tướng nhà Đường gần 10 năm cho tới cuối đời. Đỗ Hữu là ông nội của nhà thơ Đỗ Mục. http://zh.wikipedia.org/wiki/%E6%9D%9C%E4%BD%91
[2] Đường Ngu tức là vua Nghiêu họ Đào Đường ( 2337 TCN–2258 TCN) và vua Thuấn họ Hữu Ngu. Tam Đại tức 3 đời Hạ (bắt đầu từ vua Vũ), Thương, Chu.
[3] Trịnh Huyền (郑玄127-200) là một học giả thời Đông Hán.
[4] Dẫn lại theo Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt của GS Nguyễn Tài Cẩn, trang 46.
[5] Hiện sách Nam Việt Chí đã thất truyền, nhưng nó được trích dẫn rất nhiều ở các sách khác, hiện đã có một công trình của các học giả Trung Quốc sao lục lại Nam Việt Chí từ các sách khácnhau, tập hợp lại được khoảng 49 trang A4 .
[6] Đạm Thủy Sảnh 淡水廳là một địa phương ở đảo Đài Loan.
[7] Cá bơn hiện nay là món ăn rất phổ thông ở Huế, thường dùng nấu canh với trái thơm (dứa).
[8] Xem thông tin ở trang http://baike.xzbu.com/995417.htm, 《寰宇记:“惠州出锯鱼,亦名狼籍鱼,身长二丈,口长三尺,广三寸,左右齿如铁锯,《南越志》作锯鱼。”Hoàn Vũ Ký: Huệ Châu xuất cứ ngư, diệc danh lang tịch ngư, thân trường nhị trượng, khẩu trường tam xích, quảng tam thốn, tả hữu xỉ như thiết cứ. Nam Việt Chí tác cứ ngư. Huệ Châu là ngoại ô phía đông bắc thành phố Quảng Châu, kinh đô xưa của nước Nam Việt của Triệu Đà.
Theo Internet
Lễ Tưởng Niệm Hải chiến Hoàng Sa
Lễ Tưởng Niệm Hải chiến Hoàng Sa
Để bày tỏ Lòng Tri ân và Tưởng nhớ các chiến sĩ Hải quân Quân lực Việt Nam Công Hoà đã chiến đấu và hy sinh anh dũng trước quân xâm lược Trung quốc, để bảo vệ Hoàng Sa, hàng năm dù đã trên bốn mươi năm nơi quê hương thứ hai, các anh em đồng đội đã không quên tổ chức Lễ Tưởng Niệm, vinh danh những anh hùng đã khuất.
Trưa Chủ nhật 19/01/2020, vào hồi 11.30 ngày – đúng vào ngày nổ ra trận hải chiến Hoàng Sa trước đây bốn mươi sáu năm- tại Trung Tâm Cộng Đồng Việt Mỹ trên đường Lucretia Ave thành phố San Jose, Hội HQ Bạch Đằng bắc California đã phối hợp các hội đoàn cựu quân nhân địa phương, tổ chức Đại Lê Tưởng Niệm với sự tham dự của nhiều quan khách và đồng hương.
Sau đây là một vài hình ảnh chúng tôi ghi lại, xin được chia xẻ cùng Quí Vị cùng Các Bạn xa gần, góp lòng bày tỏ sự Tri ân các anh hùng đã hy sinh bảo vệ Tổ Quốc.
Thêm vài hình ảnh từ Youtube
https://youtu.be/YiOCwZga3M8?t=26
MPD
Người Nam Kỳ không lập gia phả
Người Nam Kỳ không lập gia phả

Đó là một câu khẳng định chắc như cây đinh đóng cái cột nhà.
Gia phả là gì ? 家譜 gia phả hoặc gia phổ là phả hệ của một dòng họ, gia đình, là cuốn sách chép tên ông bà tổ tiên, con cháu của một dòng tộc nào đó.
Người Bắc Kỳ xưa rày ta nghe tới là thói “lũy tre làng”, có gia phả, có dòng tộc nghiêm ngặc, có trưởng tộc, có nhà thờ tổ, mả tổ, thủy tổ và những quy định ná thở với con cháu. Nhưng với dân Nam thì không có, hoặc có hời hợt, hình thức.
Dân Nam Kỳ có câu cười Bắc Kỳ là “Tổ tiên đại bác thụt chưa tới”.
Chúng ta biết tổ tiên khai phá dựng lên Nam Kỳ Lục Tỉnh là dân khai hoang, kêu là lưu dân.

流民 lưu dân là dân phiêu lưu, dân đi xa, dân bỏ làng quê gốc mà ra đi.
Đó là người Ngũ Quảng : Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Huế), Quảng Nam, Quảng Ngãi hiệp cùng người Minh Hương, đồng hóa người Khmer, người bổn địa Stieng… mà trộn ra dân Nam Kỳ ngày nay.
Đó là dân nghèo rách nát, dân bị lưu đày, bị truy nã, bị làng ruồng bỏ, gái chửa hoang, học trò thất chí, quan bị biếm chức, người thích phiêu lưu, giang hồ lãng tử…
“Tới Cà Mau – Rạch Giá
Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mù như sương
Thân không là lính thú
Sao chưa về cố hương?”(Sơn Nam)
Xa hơn dân Ngũ Quảng là những người ở mạn Bắc di cư theo chúa Nguyễn Hoàng vô Trung Kỳ mà Phạm Duy tả là ” Gió tiễn người về đến quê hương câu ca giọng Hời.”
“Mộng ngoài biên giới mơ hồ
Chẳng ngăn được sóng vỡ bờ
Với đêm mờ hồn về trên Tháp ma”
Rồi thời chúa Nguyễn, lưu dân Việt từ Ngũ Quảng theo bà Ngọc Vạn vô Mô Xoài, Đồng Nai :
“Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định Đồng Nai thì về”
嘉定 Gia Định là nơi đô hội, trù phú nhứt Nam Kỳ, có nghĩa là định cư nơi an ổn, phước lớn.
Là những lưu dân tạo ra hợp chúng quốc Nam Kỳ, ông bà chúng ta tạo ra một nền văn hóa đặc trưng riêng của Nam Kỳ mà nhìn lại có phần khác ngoài Trung, đối lập với ngoài Bắc.
Thí dụ Bắc ăn bánh chưng cắt 8 miếng hình trụ nhọn,Nam Kỳ ăn bánh tét -tét ra khoanh tròn, Bắc Kỳ uống trà kêu uống chè, Nam Kỳ kêu trà.
Văn hóa Bắc là lũy tre làng bốn góc chôn chặc cái làng ở giữa, làng nào sống kiểu làng đó, cấm giao lưu trai gái, có hương ước ngặc nghèo, có thầy Lý hắc cám, có con Thị Màu lẳng lơ, có chị Dậu bế tắc, có những người con gái chửa hoang bị cạo đầu bôi vôi thả bè chuối trôi sông.
Nam Kỳ khác Bắc, phần nhiều Nam sống mở, làng của Nam dựa vô mé sông, giao lưu với làng khác bằng ghe xuồng, bằng những con lộ,người Nam luôn mời khách xa xôi vô ở chung, giúp đỡ nhau cùng an cư vui vẻ, gái làng thích lấy trai xa xứ và thương chồng đứt ruột đứt gan vì cái quá khứ “trôi sông lạc chợ” đó.
“Rồng chầu ngoài Huế ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
Thương người quân tử lạc loài tới đây,
Tới đây thì ở lại đây
Bao giờ bén rễ xanh cây sẽ về”
Gái Nam Kỳ chịu chơi, dám theo người mình yêu, dám nhận hậu quả do tình yêu đó đem lại.
“Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam
Ví dầu tình có dở dang
Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp dzìa”
Ông bà tổ tiên Nam Kỳ mình quá hãi hùng ở đất Bắc hắc ám nên vô Nam bỏ tục gần hết.
Họ không muốn con cháu họ phải sống cái cảnh mõ làng rùng rợn phiên xử “hương ước” ở đình làng như ngoài Bắc.
Làng xóm Nam Kỳ không có hương ước, lệ làng, làng Nam Kỳ là làng mở, nhưng có những luật bất thành văn, mọi người phải tôn trọng, làng Nam Kỳ tuân luật triều đình, tôn trọng quan chủ quận, tri huyện.
Thành ra gái Nam thất tiết thì bị gia đình xử bằng cách đuổi ra khỏi nhà, nhưng đuổi là thủ tục thôi vì lén nhét tiền của cho nó đi trốn khuất mắt một thời gian, hoặc đày nó xuống nhà sau cấm ló mặt lên nhà trước trong một hai năm, hoặc ra vườn sau cất nhà mà ở. Hết thời gian đó cô gái sống lại bình thường, con cháu máu mủ mình mà.
Nên ai làm phim làm cạo đầu bôi vôi, thả bè chuối trôi sông, thả rọ heo xuống sống, quăng người xuống giếng là không hiểu gì về văn hóa Nam Kỳ. Tổ tiên Nam Kỳ chúng tôi chưa bao giờ có ý nghĩ đó trong đầu với con cháu mình.
Người Nam Kỳ không lập gia phả, vì sao ?
Đừng bao giờ nói người Nam Kỳ là lưu dân dốt không biết chữ mà không lập gia phả.
Các bạn nghiên cứu thấy rằng Nho giáo Bắc Kỳ là đầu môi chót lưỡi, tức thể hiện bằng cái miệng, Nho giáo Nam Kỳ thể hiện bằng cách sống.
Có ai đó nói “Người Bắc cao đạo một cách ngây ngô còn người Nam thì thực tế một cách trần trụi”.
Cái chữ trần trụi hơi quá,nhưng những quy tắc bất thành văn ở Nam Kỳ nó vô hình dữ lắm nha, thí dụ dân Nam Kỳ mời bạn ăn cơm, mà bạn ăn hỗn trong mâm cơm quá, họ không nói, nhưng lần sau sẽ không mời. Người Nam Kỳ luôn để khách tự giác và không nhắc.
Trong làng Nam Kỳ vẫn có người biết chữ Nho, sau là chữ Quốc Ngữ, nên biết chữ Quốc Ngữ được dạy ở Nam Kỳ đầu tiên.
Nhìn đền chùa, miếu mạo Nam Kỳ xưa đi, hoành phi câu đối rất nhiều, đó là bằng chứng.
Không viết gia phả vì thấy không cần thiết. Một xã hội mở thì không cần gia phả.
Xưa đất rộng người thưa, con cháu đi tứ tán, ở nhà toàn nhờ láng giếng gần đó, có câu “Bán họ hàng xa mua láng giềng gần”.
Là dân gốc lưu dân, dân Nam muốn xóa bỏ quá khứ hãi hùng từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Cách xưng hô “anh Cả” ở Bắc so với “anh Hai” ở Nam là điển hình.
Rất nhiều người đặt câu hỏi tại sao người Nam gọi “anh Cả”, “chị Cả” (người con trưởng, theo cách gọi miền Bắc) là “anh Hai”, “chị Hai”.
Nhiều người giải thích rằng thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng dân ở Bắc vào khai phá vùng đất Phương Nam, rằng trong đoàn quân Nam tiến lúc đó, hầu như không có ai là “anh Cả”, vì đi mở cõi thì nguy hiểm, theo tục Bắc phải để người con trưởng ở lại để phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc mộ phần tổ tiên; những người ra đi đều là con thứ.
Nói vậy không trúng.
Có những gia đình họ ôm cả nhà cả dòng họ của họ vô Nam kìa.
Chuyện anh hai ở Nam Kỳ là chuyện đặc trưng, không thể giải thích là ông cả cọp gì đó mà sợ nên Nam Kỳ tránh “Anh Cả”, vậy chứ ông Hương Cả thì sao ? Nam Kỳ có Hương Cả trong ban hội tề

Đơn giản người Nam cố tình làm cho khác Bắc Kỳ khi bỏ cả, chỉ gọi người lớn là anh hai, chị hai.
Bỏ chữ cả là một dạng dứt áo, cắt đứt với hương ước, lũy tre làng, với họ tộc kinh hoàng kiểu Bắc Kỳ.
Ông Hương Cả trong Nam đâu có quyền hành gì, chỉ tượng trưng, và là cả duy nhứt trong Nam, có lẽ là một chút hoài vọng.
Người Bắc thừa tự là con trưởng, nhưng thừa tự, cúng kiếng trong Nam là con trai út, Nam Kỳ rất thực tế, thằng út lúc nào cũng trẻ trung, nó sẽ gánh vác gia đình ở mức hăng hái, thằng hai thì già chát, nhỏ hơn cha mẹ không nhiều gánh gì nổi.
Câu “Giàu út ăn nghèo út chịu” cũng của Nam Kỳ đưa ra.
Thằng út giữ hương hỏa trong nhà, nhưng vẫn không hạ bệ thằng anh hai nha.
Bằng chứng là trong những ngày giỗ chạp, cúng kiếng tổ tiên, đám cưới thì ông anh hai vẫn đứng ra tế lễ, thằng út đứng sau lưng anh hai.
Trong họ tộc thì người thứ hai vẫn mang tiếng người đứng đầu, đám cưới thưa gửi là ông bác hai hết thảy, ông này chết thì ông bác ba lên thế.
Nhưng anh hai làm lễ thôi, anh hai không có quyền xen vô chuyện cúng kiếng của thằng út như cúng lớn, cúng nhỏ, cúng ra làm sao. Nam Kỳ chia quyền hết là ở đây.
Ngày nay Nam Kỳ thực tế luôn ở kiểu chia bàn thờ, anh hai giỗ cha, út giỗ mẹ, tới ngày tụ lại hai nhà vui vẻ.
Không gia phả, không họ tộc, không có khái niệm nhà thờ tổ, nhưng Nam Kỳ mặc định nhà thằng Út là nhà thờ tổ, tức là nhà nào mà cha mẹ, ông bà chết và thờ là nhà tổ.
Ông nào giữ hương hỏa có nghĩa vụ làm đám giỗ, không có quyền chỉ trỏ, ra lịnh này nọ nghĩa vụ với con cháu như tộc trưởng ngoài Bắc.
Con cháu trong Nam sướng là vậy, cứ về ăn đám giỗ, giàu mua đồ nhiều, nghèo mua đồ ít, không ai dám nói.
Với bản chất trọng người sống, kỉnh người chết ở mức tượng trưng, việc cúng kiếng Nam Kỳ cũng khác Bắc Kỳ.
Thường giữa nhà người Nam đặt cái bàn thờ 九玄七祖 “Cửu Huyền Thất Tổ” tức “7 đời tổ tiên trên chín tầng trời”.
Nhưng thực ra người miền Nam cúng giỗ chỉ 3 đời tới ông cố bà cố thôi, hết 3 hoặc 4 đời là không cúng kiếng gì nữa.
Có câu五代埋神主”Ngũ đại mai thần chủ” (Đến 5 đời thì chôn thần chủ), tức đem bài vị chôn hoặc đốt, nhập lại làm một gọi là “Cửu huyền thất tổ’ và giỗ chung tượng trưng.
“Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ
Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha”
Cái đình Nam Kỳ rất chan hòa, vui vẻ, là nơi dân làng tụ hợp lại cúng thành hoàng rồi ăn uống vui chơi, coi hát bội, nó như một cái sân khấu.
Gánh hát về đình là niềm vui bất tận của người Nam Kỳ.
Nam Kỳ không có thằng mõ tay chưn của lý trưởng ,không có cảnh phạt vạ kiểu Thị Màu.
Trong cái làng Nam Kỳ có nhà việc là chỗ làm việc của làng, tra án ở đó, không mang vô đình như Bắc Kỳ.
Coi ‘Con nhà nghèo’, bà Cai Hiếu đòi đóng gông Ba Cam thì Hương Quản đáp lại “Tôi đang tra án nó, mà thủa nay làng tôi có gông đâu mà đóng”.
Là gốc lưu dân, không viết gia phả, không lập họ tộc, không lập lũy tre làng, không có ông lý trưởng hét ra lửa
Để ý coi đi trong đám giỗ Nam Kỳ luôn cúng một mâm ngoài sân nhà, đó là mâm cúng lề, cúng những người khai hoang bỏ mình hồi xưa, sau 1975 CS kêu “mâm chiến sĩ”.
Tất cả các miếu, am, và bàn thông thiên Nam Kỳ đều có cúng mấy hủ muối, gạo và nước, có nơi cúng bó củi.
Đó là cúng tổ tiên gốc lưu dân của mình hồi xưa.
Người Nam Kỳ cúng lề, cúng đất, cúng cô hồn.
Cúng tổ tiên Nam Kỳ chung là ngày 25 tháng Chạp, khi con cháu tụ về dẫy mả, tảo mộ, họ sẽ làm mâm cơm cúng ở nhà, thường là nấu cháo gà cháo vịt.
Tục thờ ông bà ở Nam Kỳ rất đơn giản, chỉ ba bốn đời, nhưng không được bỏ bàn thờ tổ tiên.
Đồ Chiểu chửi rằng “Sống làm chi theo quân tả đạo-Quăng vùa hương đạp bàn độc thấy lại thêm buồn”.
Xưa Nam Kỳ có cái bàn thờ và giường thờ.
Người Pháp qua, đem qua Nam Kỳ cái tủ chén đứng kiểu thời Louis XVI, không cao không thấp, trước tiên là ở xứ Thủ Dầu Một, sau thợ Gò Công sáng tạo đóng cái tủ thờ dựa trên nguyên lý ráp mộng đi khung của tủ kiểu Pháp, nhưng cải tiến theo phong tục Nam.
Từ đó cái tủ thờ này là đặc trưng Nam Kỳ Lục Tỉnh, hiệp cùng tranh kiếng nữa, ra cái hồn tổ tiên Nam kỳ mình.
Trong “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức có đoạn :
“Vùng Gia Định… đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời. Người tứ xứ. Nhà nào tục nấy… Gia Định có vị trí nam phương dương minh, nên người khí tiết trung dũng, trong nghĩa khinh tài…”
Đó là tánh hiếu khách, hào phóng, không câu nệ hình thức, sống thực dụng.
Dân Nam Kỳ hay đờn ca xướng hát, làm ra đờn ca tài tử và cải lương vang danh, hệ thống bài lý nhiều nhứt Việt Nam.
Người Nam Kỳ trọng tôn giáo, nhưng kiểu của họ.
Đạo Phật vô Nam biến thể, phải trộn với tín ngưỡng dân gian. Dân Nam Kỳ không phải là những tín đồ Phật giáo thuần thành.
Các phái Phật trong Nam đều là biến thể, chùa trong Nam không lớn.
Công giáo trong Nam Kỳ xưa khác ngoài Bắc, Nam không có các giáo xứ, người Công giáo Nam Kỳ hòa nhập, thế tục. Người Công giáo Nam Kỳ luôn ít hơn Công giáo Bắc Kỳ
Sông rạch và đồng bằng tạo cho dân Nam Kỳ tánh khẳng khái, bộc trực, ít chịu cúi lòn, kém thủ đoạn trong chánh trị, nhưng tràn trề tình thương,biết nhìn người khác, biết cúi mình xuống tha thiết với Quốc Gia.
Dân Nam Kỳ không những nói ngay mà hay nói lớn tiếng, thiếu trau chuốt, đôi lúc bổ bả.
Không lập gia phả, nhưng con cháu sống làm sao phải ra dáng con người, sống không làm tủi nhục tổ tiên, sống thẳng, sống có ích, sống không để tiếng nhơ cho tổ tiên, dòng họ.
Người Nam Kỳ dạy con cháu cũng theo kiểu mở.
Biên cái tục này là để răn mình.
Biết cái hay cái tệ của mình để nhìn lại bản thân mình.
Và tính cho ra cách thức tồn tại của xứ sở mình trước thời cuộc.
—nguồn Nguyễn Gia Việt
HUẾ XƯA KHÓC MỘT MÙA XUÂN
HUẾ XƯA KHÓC MỘT MÙA XUÂN
Đáng lẽ con đường cái chạy từ đầu đến cuối xóm tên là Hồ Xuân Hương, nhưng ngưòi ta vẫn quen gọi là đường Chùa Bà, chắc tại đầu xóm có cái chùa. Lúc thằng Cọp bắt đầu lớn lên, tung tăng khắp xóm và đọc được dòng chữ “Khuôn An Lạc”, nó đã thắc mắc tại sao không gọi là đường Khuôn An Lạc? Với lại Khuôn An Lạc có cả đức phật Thích Ca chứ nào phải chỉ thờ Phật Bà Quan Âm mà gọi là Chùa Bà? Tuy nhiên nó cũng không buồn tìm hiểu thêm làm gì. Chỉ biết đây là đường Chùa Bà, và xóm nó ở cũng được gọi là xóm Chùa Bà.

Đáng lẽ con đường cái chạy từ đầu đến cuối xóm tên là Hồ Xuân Hương, nhưng ngưòi ta vẫn quen gọi là đường Chùa Bà, chắc tại đầu xóm có cái chùa. Lúc thằng Cọp bắt đầu lớn lên, tung tăng khắp xóm và đọc được dòng chữ “Khuôn An Lạc”, nó đã thắc mắc tại sao không gọi là đường Khuôn An Lạc? Với lại Khuôn An Lạc có cả đức phật Thích Ca chứ nào phải chỉ thờ Phật Bà Quan Âm mà gọi là Chùa Bà? Tuy nhiên nó cũng không buồn tìm hiểu thêm làm gì. Chỉ biết đây là đường Chùa Bà, và xóm nó ở cũng được gọi là xóm Chùa Bà.
Xóm Chùa Bà có khoảng chừng trên năm mươi nóc gia rải rác theo con đường chính. Nhà Cọp ở gần giữa. Đúng ra thì đây là nhà ông nội Cọp. Nhà thiệt của ba mạ Cọp ở thành phố, gần chợ Đông Ba. Mạ Cọp bán vải ở chợ. Cọp ở với ông nội vì trường học gần nhà đi bộ cho tiện. Mỗi chiều thứ Bảy sau khi tan chợ, mạ Cọp đi xích lô về xóm Chùa Bà đón Cọp về nhà. Cọp cũng thương mạ và hai chị của nó lắm, nhưng mỗi cuối tuần phải về ở với gia đình, cực chẳng đã nó phải đi. Ai nói ở thành phố vui chứ với Cọp thật buồn lắm. Ở đó Cọp chỉ lủi thủi một mình. Ba Cọp đi lính ở xa lâu lâu mới về. Mạ Cọp buôn bán ở chợ từ sáng đến tối mịt. Hai chị thì hơn Cọp đến bảy tám tuổi, dù thương cũng không biết nói hay chơi gì với Cọp, cùng lắm là dắt Cọp ra phố ăn kem. Cho nên đến mỗi chiều Chủ Nhật, mặt trời chưa lặn là Cọp đã bồn chồn mong được “về nhà”.

Về nhà, tức là về xóm Chùa Bà, giang sơn của Cọp. Có những lần mạ Cọp muốn giữ nó ở lại qua đêm Chủ Nhật, sáng thứ Hai sẽ đưa nó tới trường luôn.
Cọp ngồi khóc tỉ tê.
Mạ hỏi
– Con không thương mạ à?
– Dạ có
– Rứa răng con cứ đòi về nhà?
– Con không biết.
Hình như Cọp biết mang máng, nhưng không làm sao diễn tả hết nỗi niềm.
Ở xóm Chùa Bà, Cọp được tất cả mọi người thương mến. Dĩ nhiên Cọp phải ngoan, nhưng còn một lý do nữa: nó là cháu nội của vị Đông y sĩ nhân đức và rất mát tay chữa bệnh mà cả xóm cũng như những vùng lân cận đều trọng nể. Trước kia khi ông nội Cọp còn hành nghề, ông thường cứu giúp kẻ nghèo khó. Bây giờ đã già, ông về dưỡng lão tại đây.Tiếng là hồi hưu, nhưng ông vẫn thình thoảng trở lại nghề cũ để cứu giúp những bệnh nhân chung quanh hay một số thân chủ cũ tìm đến.
Một trong những thân chủ quen thuộc vẫn nhờ ông nội Cọp bổ thuốc Tể hàng tháng là bà Tham.
Bà Tham ở căn nhà lớn nhất cuối xóm. Không ai biết tên thật của bà là gì, chỉ quen gọi là bà Tham theo chức quan của ông cụ thời sinh tiền. Cụ Tham làm quan trong những năm cuối cùng của triều Nguyễn, nổi tiếng là ông quan nghiêm khắc và chính trực. Đó là lý do mà cả xóm cho đến nay vẫn còn kính trọng và nể vì. Nhà bà to và đẹp lắm. Vào cổng sau khi qua hai cột trụ cao và cổ kính, bên dưới có hai con sư tử bằng đá nhe răng múa vuốt, là con đường nhỏ trải đầy sỏi trắng, hai bên là hàng rào đầy các loại hoa. Cuối con đường đến khoảng sân trước nhà có những cái chậu bằng đá thật nặng đầy rêu phủ trồng sen. Hai bên hông và phía sau là khoảng vườn rộng mênh mông đầy các loại kiểng cũng như cây ăn trái. Đặc biệt có hai cây cau cao vút lên trời.
Tuy nhà bà Tham lớn như vậy nhưng không có mấy người. Bà ở với đưá cháu ngoại trạc tuổi Cọp, một ông quản gia trung thành từng theo hầu cụ ông ngày trước, và một chị người làm lo việc bếp núc, các việc lặt vặt khác. Bà vốn hiếm muộn, chỉ có một người con gái thì lại theo chồng vào nam. Dù con bà đã nhiều lần muốn bà dọn vào Nam ở, nhưng bà đã cương quyết ở lại xóm Chùa Bà để giũ gìn hương hỏa bên chồng. Được cái tuy chỉ một con gái, nhưng bà lại có rất nhiều cháu ngoại. Trà là đưá con út mà con gái bà để lại Huế cho bà cháu hôm sớm có nhau, tuổi già bớt quạnh quẻ.
Bà Tham không làm gì cả. Của cải do cụ ông để lại cùng lợi nhuận từ vườn cây sau nhà đủ cho bà sống thoải mái. Đó là chưa kể con gái bà vốn rất khá giả và vẫn thường chu cấp thêm thường xuyên cho mẹ. Công việc duy nhất để bà đi ra khỏi nhà hằng ngày là cùng ngồi xích lô đưa cháu đi học mỗi trưa, chiều lại đón về.Còn ngoài ra bà chỉ ở nhà tụng kinh niệm phật. Mọi việc giao dịch khác đã có người quản gia chu tất.
Tuy bà sống thanh đạm và giản dị như vậy, nhưng danh tiếng của một mệnh phụ phu nhân vẫn không hề suy suyển. Cả xóm Chùa Bà đều kính nể và coi bà như thuộc về một tầng lớp khác. Đến cả ông nội Cọp cũng không ngoài lệ đó, dù bà là bệnh nhân vẫn nhờ ông hốt thuốc hàng tháng.
Cọp gặp bà Tham mấy lần trong nhà khi bà đến cho ông nó bắt mạch. Những lần đó Cọp chỉ dám đứng xa xa quan sát và thắc mắc không hiều bà đáng sợ ở chỗ nào. Bọn con nít trong xóm như Cọp leo trèo phá phách ở đâu cũng phải chừa lại vườn nhà bà Tham. Đến như lũ chim kia hình như cũng biết đó là nơi an toàn nên đã từng đàn tụ về. Cọp và các bạn chỉ biết đứng ngoài thèm thuồng nhìn những trái chín mọng trong vườn và lũ chim líu lo rộn rả bên trong.
Cơ hội đã đến với Cọp vào một buổi trưa oi ả khi Cọp đang đội nắng đến trường. Chiếc xích lô chở bà Tham đưa cháu ngoại đi học rà đến bên cạnh. Từ trên xe bà hỏi vọng xuống:
– Này con. Con là cháu ông Khánh phải không?
– Dạ. Cọp rụt rè trả lời.
-Tội nghiệp! Trời nắng như ri mà đi bộ bịnh chết. Con lên đây đi với bà luôn thể.
Câu nói của bà Tham làm Cọp ngẩn người không biết trả lời ra sao. Ngồi xe xích lô tới trường giữa trời nắng gắt như vầy còn gì sướng bằng. Khỏi mỏi chân và đỡ khát nước. Nhưng Cọp vẫn ngần ngừ. Bà Tham đối với nó vẫn là một người đáng nể sợ. Hơn nữa lại có con Trà trên xe. Cọp biết con Trà từ lâu. Nó học bằng lớp Cọp, nhưng ở dãy con gái. Cả trường Cọp có khoảng bốn hay năm đứa thuộc loại “quý tộc” như con Trà. Chúng nó thuờng chơi chung với nhau. Thực ra thì tụi con Trà cũng đâu có kiêu kỳ làm cao làm dáng gì đâu. Tụi nó khi nào cũng muốn gia nhập cuộc chơi với chúng bạn khác. Nhưng mà chỉ nội cái tiếng tăm của gia đình và lối đi học bằng xe đưa rước mỗi ngày cũng đủ làm cho lũ học trò bình dân như Cọp cảm thấy thua kém và cách biệt.
Thấy Cọp cứ đứng ngẩn tò te, bà Tham bước xuống nắm tay nó kéo lên xe. Bà bảo con Trà sang ngồi trong lòng bà và nhường chỗ cho Cọp. Xe đã chuyển bánh mà Cọp cứ suy nghĩ. Con Trà lơ đãng nhìn Cọp. Nó không biểu lộ vể phản đối hay đồng ý nào cả. Hôm nay Trà đi học mặc áo đầm hồng mới tinh, tóc thắt nơ đỏ, đi giày Tây đàng hoàng. Con nhỏ đúng là một tiểu thơ tý hon. Bỗng nhiên Cọp thấy mắc cở quá. Chưa bao giờ Cọp thấy mình dơ dáy hơn lúc này. Bên cạnh con Trà sạch sẽ trắng trẻo, nó bỗng trở nên đen như cột nhà cháy.Tệ nhất là trên đầu nó mấy bữa nay mọc cục Sài. Ông nội Cọp phải cạo khoảng tóc chung quanh để dán miếng thuốc dán hiệu con Rắn vàoCọp ngồi yên lặng suốt quảng đường. Bà Tham có hỏi nó chỉ thưa dạ cho qua, tuyệt nhiên không nói gì với con Trà. Khi xe đến trường, bà Tham mua hai cây cà rem cho hai đứa. Cọp cầm cà rem chạy ù vào đám bạn đang bắn bi trước cổng trường, quên cả cám ơn.
Hôm sau bà Tham cho xe đến đón Cọp tận nhà. Bà ngồi ngoài, để con Trà vào kêu Cọp đi học làm ông nội ngạc nhiên. Cọp thì dị quá trốn trong bếp khiến ông nội phải kéo nó ra tận nơi. Cực chẳng đã Cọp đành leo lên.
Kể từ hôm đó, Cọp chính thức đi học bằng xe xích lô với con Trà. Mấy hôm đầu nó còn ngượng ngùng, dần dần Cọp quen đi. Bà Tham đâu có gì…ghê gớm như nó vẫn tưởng.
Mỗi lần hỏi chuyện Cọp, bà kêu con thật ngọt ngào và hiền hậu. Giọng bà lơ lớ âm hưởng tiếng nam, vì bà vốn sinh ra trong đó. Cọp có nghe nói đến Sài Gòn, hòn ngọc viễn đông mà nó từng học trong một bài tập đọc. Đối với Cọp, miền nam là Sàigòn, Sàigòn là miền nam. Bà Tham phong độ quý phái có lẽ vì bà từ Hòn Ngọc Viễn Đông ra đây( ?).
Mỗi chiều tan học, xe bà Tham đậu chờ sẵn ở cổng trường. Thông thường con Trà thuộc dãy con gái ra trước, Cọp ra sau. Mỗi khi Cọp leo lên xe, bà Tham thường hỏi
– Bữa ni Cọp được mấy điểm?
– Con được 10 điểm.
Nó hí hửng khoe. Bà Tham xoa đầu khen
– Cọp giỏi quá. Ráng học bà thương nghen con.
Do đó, khi sự nể sợ bà Tham đã dần thay thế bằng lòng kính mến, thân mật thì mối cách biệt tiểu thư- dân dã giữa Cọp và Trà cũng không còn nữa. Ngồi trên xe, hai đứa thường khoe điểm và cãi nhau tíu tít trước sự thích thú của bà Tham. Thỉnh thoảng bà phải làm trọng tài để phân giải nữa. Trà và Cọp trở nên thân nhau tự lúc nào. Cọp hoàn toàn thay đổi quan niệm về bọn “quý tộc” trong trường. Bấy lâu, tụi Cọp chỉ mặc cảm và tạo sự cách biệt, chứ bọn con Trà có bao giờ làm cao như bọn Cọp vẫn nghĩ. Ngược lại, Cọp còn thấy tội nghiệp dùm con Trà. Hai đứa bằng tuổi nhau, ở chung xóm, mà trong khi Cọp tung tăng làng trên xóm dưới tham dự đủ mọi trò vui, thì con Trà vẫn ở trong nhà, kín cổng một mình với bà ngoại.
***
Xóm Chùa Bà ở ngoại thành. Từ trung tâm thương mại chính là chợ Đông Ba, qua khỏi cầu Gia Hội, theo con đường Chi Lăng khoảng 2,3 cây số theo hướng về phía chợ Dinh là đến. Cho nên đây chỉ là vùng ngoại ô chứ chưa quá xa xuống các vùng quê. Dân trong xóm không ai gọi là quá nghèo. Mỗi nhà đều có vườn cây ăn trái phụ vào việc buôn bán, nên cuộc sống tương đối ấm no, và hầu như cả xóm đều quen biết nhau.
Từ lúc có óc nhận xét, Cọp cảm thấy xóm Chùa Bà là quê hương bất khả chia lià của nó. Những ngày Chủ Nhật cuối tuần phải về với mạ và chị, nó coi như một bổn phận. Một ngày ở thành phố là một ngày buồn bã. Cọp chỉ lủi thủi giữa bốn bức tường chật hẹp. Cho nên khi mạ hỏi có thương mạ không, Cọp bảo rằng thuơng mà không thể giải thích tại sao cứ đòi về xóm Chùa Bà.
Cọp còn quá nhỏ để diễn tả nỗi lòng của mình. Nó muốn nói rằng ở xóm Chùa Bà, dọc theo con đường Hồ Xuân Hương là hai dãy cỏ xanh mướt. Mỗi chiều có những con trâu hững hờ gặm cỏ. Có những đứa mục đồng là bạn chung trường với Cọp ngồi trên lưng trâu thơ thẩn nghêu ngao. Cọp thường lên lưng trâu với bạn đi sâu vào làng, vào tận các rẩy mương, được gặm mía, ăn khoai nướng, cơm vắt…
Có những buổi sáng mùa Đông, Cọp dậy thật sớm uống trà cùng ông nội. Giữa cái lạnh sớm mai và tiếng mưa rơi tí tách bên ngoài, hai ông cháu bên chiếc bàn nho đối ẩm. Cọp bắt chước ông bưng tách trà lên miệng, thổi nhè nhẹ và nhấp một ngụm nhỏ rồi thở “phaaà” một cái. Vừa uống trà , ông vừa ư ử ngâm thơ. Cọp chưa thương ai hơn thương ông nội. Nó mong sau này lớn lên sẽ nối nghiệp ông để cứu nhân độ thế.
Từ ngày đi học chung với con Trà, Cọp là đưá đầu tiên trong xóm được xâm nhập vùng “ cấm địa”, tức vườn nhà bà Tham..
Đối với Cọp, vườn nhà bà Tham là vườn Địa Đàng. Khu vườn thật rộng, ít nhất cũng gấp ba, bốn lần vuờn nhà nó, đầy những ổi, đào chín nặng trĩu cành. Lũ chim trong vườn cũng rất dạn dĩ. Chúng đã quen với sự an toàn ở đây nên không có vẻ gì e sợ sự hiện diện của Cọp. Cọp thích nhất là được leo lên một cành ổi lớn, ngồi cheo leo trên cành thưởng thức vị thơm ngọt của trái Xá Lị mới hái, vừa nhìn lũ Chào Mào, Se Sẽ ca hát, rỉa lông cho nhau, thỉnh thoảng hái một trái chín quăng xuống cho con Trà phía dưới. Có hôm thằng Cọp rủ con Trà lén trốn ra đuờng đón mấy đứa mục đồng bạn của nó cho con Trà cởi trâu ra rẫy chơi. Lần đầu tiên cô tiểu thư đài các được …đi chăn trâu khoái quá, bất kể bộ quần áo thơm tho bị vấn mùi trâu khi về phải vội vàng đi tắm. Thằng Cọp còn bắt Chuồn Chuồn cho cắn vào rốn con Trà rồi dắt nó ra ao sau vườn tập bơi. Quả nhiên mấy ngày sau con Trà cũng bơi ra phết.
Nhưng không phải chỉ mình Cọp biết bày trò đâu nha. Trà cũng có những mục riêng mà Cọp chưa hề biết đến. Trà có một bộ đồ chơi thật đẹp dạy trẻ em xếp nhà mà anh nó đang du học ở Pháp gởi về. Bộ đồ chơi gồm những miếng nhựa hình khối chữ nhật màu vàng ngà tương tự như quân cờ Mạc Chược của ông nội Cọp. Trên mỗi miếng đều có vẻ hình một cái cửa lớn hoặc cửa sổ. Chúng nó cứ lấy ra sắp thành những toà lâu đài theo ý thích và sự tưởng tượng riêng của mình. Con Trà cũng có một bộ đồ chơi nấu ăn đẹp nhứt xóm. Cọp chẳng thích gì ba trò nấu ăn của con gái. Nhưng đưọc cái là con Trà … nấu thiệt. Nghĩa là muốn nấu chè, con Trà vô bếp lấy đậu và đường đốt lửa nấu đàng hoàng chứ không phải lấy lá cây giả bộ như mấy đứa con gái khác. Cọp chiều ý con Trà, đợi nó nấu xong, dù sống hay chín, Cọp đều thanh toán hết. Con Trà chỉ nhấm nháp chút đỉnh và hả hê nhìn Cọp thưởng thức sản phẩm của mình.
Một lần hai đứa được bà Tham dắt đi coi tuồng Phạm Công Cúc Hoa do một gánh cải lương từ Sài Gòn ra trình diễn. Khi về, con Trà khóc suớt mướt.
Hôm sau không biết đưá nào rủ trước, cùng nhau diễn lại đoạn hai đứa trẻ mồ côi được mẹ Cúc Hoa hiện hồn về bắt chí. Cọp đóng vai Tấn Lực, con Trà làm Nghi Xuân. Sẵn có tượng Phật Bà Quan Âm khá lớn trong nhà cũng mặc đồ trắng giống Cúc Hoa, nên cả Nghi Xuân và Tấn Lực tân thời thi nhau tới trước tượng gào thét “Mẹ ơi, mẹ ơi…” một cách say sưa và thê thảm, nhập vai đến độ nước mắt nước mũi ngồm ngoàm đầy mặt, và bà Tham đứng sau lưng hồi nào không biết.
Bà không la còn vỗ tay khen:
– Ui chao ơi. Hai đứa mi hát cũng hay quá.
Nghi Xuân đỏ mặt ôm bà phụng phịu, còn Tấn Lực thì dị quá vừa chùi mũi vừa cắm đầu chạy một mạch về nhà.
***
Cọp về thành phố đón tết đã được mấy ngày. Mạ Cọp nghỉ chợ từ hôm 27. Ba Cọp cũng về nhà. Không khí vui vẻ và đầy đủ của gia đình làm Cọp tạm quên xóm Chùa Bà, tạm quên con Trà. Nó đã đếm từng ngày mong chóng đến mùng một để được mặc đồ mới theo ba mạ về chúc tết ông bà nội, và đi mừng tuổi bà Tham.
Tết.
Cọp nằm thấp thỏm mong trời mau sáng. Càng về khuya, pháo còn nổ lớn ròn rã. Trước còn không phân biệt, nhưng dần dần đã nhận ra tiếng súng. Mạ Cọp hỏi ba
– Chắc cháy kho đạn?
Ba Cọp lắng nghe và lắc đầu
– Không phải kho đạn. Lạ thiệt, hưu chiến ăn tết mà!
– Mô Phật. Tết nhứt mà đánh nhau chi kỳ rứa không biết.
Súng nổ dữ dội càng lúc càng gần vào thành phố. Ba Cọp mở radio nghe tin tức, nhưng những bản nhạc Xuân mới mấy tiếng đồng hồ trước còn inh ỏi, nay thay thế bằng tiến u u vô nghĩa. Súng nổ lúc càng gần hơn đầy đe dọa. Xen lẫn những tiếng tạch – tạch – đùng là một tiếng ẦM thật lớn làm rung chuyển cả nhà cửa, bụi bay tứ phía văng cả vào mắt Cọp. Đến gần sáng, radio bỗng nhiên hoạt động. Ba Cọp thất thần khi nghe “Đây, tiếng nói của mặt trận giải phóng miền nam…”
Hai chị của Cọp cũng biết và thì thầm với nhau:
– Chết cha! Việt Cộng mi ơi.
Trời sáng. Cả thành phố im lìm. Tiếng súng đã lặn dần chỉ còn lại lẻ tẻ đâu đó như đang răn đe hơn là hiến đấu. Nhà nhà đều đóng cửa kín mít. Bóng tối bao trùm…
Một buổi sáng, Cọp thức dậy vì tiếng ồn ào ngoài đường. Hình như có một nhóm người đi từng nhà đập cửa kêu gọi gì đó. Cứ khoảng mười phút thì tiếng đập cửa lại vang lên, từng nhà, từng nhà mỗi lúc mỗi gần hơn. Ba mạ Cọp nhìn nhau lo ngại. Hai chị của nó thì sợ quá trùm mền kín mít không dám nghe. Cuối cùng rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến. Tiếng đập cửa vang lên ngay nhà Cọp. Họ kêu lớn “ 73 Chi Lăng, mở cửa!”. Đúng là số nhà nó. Ba Cọp đành đứng dậy đi ra.
Sau hơn một tuần đóng kín, cửa nhà Cọp phải mở để đón người lạ vào. Cọp lén nhìn ra thấy sáu bảy người đàn ông sầm sập đi vào. Việt Cộng đó sao? Cọp suýt kêu thành tiếng khi thấy người đàn ông đứng ở cửa. Thầy Tường ! Thầy dạy lớp nhất ở trường nó. Cọp tưởng mình trông lầm, nhưng rõ ràng là thầy Tường nổi tiếng hiền nhứt trường. Khác một điều là lúc này thầy lạnh lùng, ôm khẩu súng, tay áo có mang miếng băng đỏ. Cọp líu cả lưỡi, tay chân run rẩy. Thầy Tường là Việt Cộng? Nếu không tận mắt nhìn thấy, không đời nào Cọp tin nổi.
Ba nói chuyện một hồi, đi vô bảo mạ:
– Anh đi với họ.
– Đi mô?
Mạ Cọp thất thanh.
Một người có vẻ là trưởng nhóm tiến lại:
– Chúng tôi mời ông đi nghe chủ trương chính sách của chính phủ cách mạng. Tối ông về thôi.
Ba Cọp nhìn mạ ra dấu có muốn từ chối cũng không được. Ông yên lặng xoa đầu Cọp và bước ra khỏi nhà cùng mấy người đàn ông nọ
Đến tối quả nhiên ông về thiệt. Mạ Cọp mừng đến mếu máo:
– Anh đi mô?
Ba lắc đầu không nói. Mạ hỏi tiếp
– Họ nói chi rứa?
Ba chỉ xua tay và nặng nề ngồi xuống. Hình như ông vừa trải qua một sự kiện gì ghê gớm lắm nhưng không muốn cho mạ nó biết.
Liên tiếp mấy tuần nữa, Huế vẫn đắm chìm trong bóng đêm. Chợ Đông Ba bốc cháy cũng không ai cứu chữa, cho tới khi một cơn mưa đổ xuống dập tắt, để lại những cột khói u ám cả bầu trời. Mạ Cọp ngẩn ngơ nhìn sản nghiệp tiêu tan theo làn khói. Lần đầu tiên Cọp thấy mạ khóc và cảm thấy thương mạ hơn bao giờ hết. Cọp biết hàng vải của mạ là do bà ngoại để lại. Từ bấy lâu nay mạ Cọp một tay nuôi nấng đàn con cũng nhờ nó. Nay coi như đã hết.
Chưa bao giờ Cọp thấy buồn bả và chán nản hơn lúc này.
Tết chi mà kỳ cục. Suốt ngày chỉ ru rú trong nhà tăm tối.
Thình thoảng Cọp ngồi tư lự. Nó nhớ xóm Chùa Bà quá. Nó ngồi tưởng tượng hai dãy cỏ xanh mướt dọc theo con đường Chùa Bà và những thằng bạn chăn trâu nghèo khổ của nó. Súng bắn dữ như hôm rồi, không biết tụi nó có được bình yên? Còn những con trâu lừ đừ và châm chạp. Tụi nó có biết tìm chỗ tránh đạn? Cọp cũng nhớ con Trà và bà Tham. Bỗng nhiên Cọp khám phá ra một điều: ngoại trừ ông nội, con Trà là người nó thương và nhớ nhiều nhứt. Cọp không hiểu tại sao, nhưng hể nhắm mắt lại là nó thấy ông nội, con Trà, và bà Tham.
Nhớ thì nhớ, thương thì thương, Cọp cũng phải bó gối trong nhà và thả hồn lơ lững về xóm Chùa Bà.
***
Súng lại nổ vang. Lần này súng nổ ròn rả hơn, quyết liệt hơn. Cọp ôm
đầu than: “Trời ơi,,Việt Cộng mô mà cứ tới hoài rứa !” Nó lại thấy mạ
lâm râm niệm Phật, nhưng không để ý nét vui mừng ẩn hiện trên đôi mắt
thâm quầng của ba.
Súng nổ thật dữ dội đầu hôm và im dần khi trời
vừa sáng. Cọp giật mình thức dậy và thấy ánh nắng chói chan rọi vào nhà.
Lạ quá, tại sao nhà nó lại mở cửa? Ba mạ và chị nó đâu? Nó lại nghe
tìếng cười nói huyên thuyên bên ngoài nên vùng chạy ra.
Lính.
Lính mình.
Nhiều lính lắm, đang rầm rập đi đầy đường.
Cọp chạy lại nắm tay ba. Ông nói
– Mình tái chiếm rồi con.
Tái chiếm? Nghĩa là không còn Việt Cộng nữa. Nghĩa là nó sắp được về lại xóm Chùa Bà tiếp tục những ngày vui !
Cọp bỗng cười toe toét, ngẩng đầu hỏi lại;
-Mình tái chiếm rồi hả ba?
***
Chỉ vài tháng sau ngày tái chiếm, Cọp khăn gói theo gia đình vào
SàiGòn. Ba Cọp quyết định đưa vợ con về nơi an toàn. Cọp cũng không lưu
luyến xóm Chùa Bà nữa. Ông nội nó đã mất vì bệnh tim tái phát sau nhiều
ngày đêm chịu đựng tiếng dội của bom đạn. Một lý do nữa là ba Cọp đã trở
về từ địa ngục. Sau này kể lại, ông cho hay hôm mấy tên Việt Cộng trong
đó có thầy Tường dẫn đi, ông bị còng tay ra nơi tập trung có những cái
hố đào sẵn. Phước đức từ ông nội nên có một tên việt cộng là bạn học cũ
của ba. Nhà hắn từng chịu ơn ông nội Cọp cứu giúp năm xưa nhận ra, lén
cởi trói cho ba Cọp trốn về. Ba là người duy nhứt thoát được. Số người
bị bắt chung hôm đó tất cả đã bị vùi sâu chôn sống hết dưới những hố hầm
định mệnh.
…
Đưa đám ông nội Cọp, con Trà đi cùng bà Tham …trên chiếc nạng gỗ. Một mảnh đại bác oan khiên cắt ngang chân trái của Trà.
Tự do đã trở lại, nhưng hậu quả khốc liệt của một tháng trời bị tạm
chiếm vĩnh viễn không thể phai mờ. Ban đêm Cọp phải qua ngủ với mạ để
tìm cảm giác an toàn mỗi khi thức giấc nghe tiếng chó tru xa xa vọng
lại.
Mùa Xuân năm ấy, Huế nhuộm một màu tang !
Khi Cọp trở lại
xóm Chùa Bà lần cuối để chào từ giã bà Tham và con Trà trước ngày lên
đường, bà Tham mếu máo ôm Cọp trong lòng như không nỡ rời. Con Trà cũng
đứng đó, không khóc, không nói, chỉ ngẩn ngơ nhìn Cọp nửa bùi ngùi, nửa
xa vắng.
***
Thư một người chị của Cọp từ quê nhà gởi sang có đoạn “Em còn nhớ Trà, cô bạn nhỏ năm xưa của em ở Huế không? Chị mới gặp lại. Không ngờ cô ta vẫn còn nhớ đến em và gởi lời hỏi thăm…”
Chữ “Trà” trong thư của chị gợi lại Cọp bao kỷ niệm thời thơ ấu tưởng đã chìm sâu trong tâm tưởng, bỗng sống dậy cuồn cuộn như sóng trào. Rời Huế từ năm ấy, Cọp chưa lần nào trở lại dù chỉ một lần để thăm viếng. Sài Gòn -Huế nào có bao xa mà như vĩnh quyết. Huống chi bây giờ thêm cả một đại dương!
Hương Trà, cô tiểu thư, người bạn nhỏ thuở xưa. Cô đã sống ra sao trong suốt thời gian qua với chiếc nạng gỗ cay nghiệt đó!
Cọp cúi đầu.
“Lạy trời cho nàng một cuộc sống bình yên”
./.
ThaiNC
Xóm Chùa Bà có khoảng chừng trên năm mươi nóc gia rải rác theo con đường chính. Nhà Cọp ở gần giữa. Đúng ra thì đây là nhà ông nội Cọp. Nhà thiệt của ba mạ Cọp ở thành phố, gần chợ Đông Ba. Mạ Cọp bán vải ở chợ. Cọp ở với ông nội vì trường học gần nhà đi bộ cho tiện. Mỗi chiều thứ Bảy sau khi tan chợ, mạ Cọp đi xích lô về xóm Chùa Bà đón Cọp về nhà. Cọp cũng thương mạ và hai chị của nó lắm, nhưng mỗi cuối tuần phải về ở với gia đình, cực chẳng đã nó phải đi. Ai nói ở thành phố vui chứ với Cọp thật buồn lắm. Ở đó Cọp chỉ lủi thủi một mình. Ba Cọp đi lính ở xa lâu lâu mới về. Mạ Cọp buôn bán ở chợ từ sáng đến tối mịt. Hai chị thì hơn Cọp đến bảy tám tuổi, dù thương cũng không biết nói hay chơi gì với Cọp, cùng lắm là dắt Cọp ra phố ăn kem. Cho nên đến mỗi chiều Chủ Nhật, mặt trời chưa lặn là Cọp đã bồn chồn mong được “về nhà”.
Về nhà, tức là về xóm Chùa Bà, giang sơn của Cọp. Có những lần mạ Cọp muốn giữ nó ở lại qua đêm Chủ Nhật, sáng thứ Hai sẽ đưa nó tới trường luôn.
Cọp ngồi khóc tỉ tê.
Mạ hỏi
– Con không thương mạ à?
– Dạ có
– Rứa răng con cứ đòi về nhà?
– Con không biết.
Hình như Cọp biết mang máng, nhưng không làm sao diễn tả hết nỗi niềm.
Ở xóm Chùa Bà, Cọp được tất cả mọi người thương mến. Dĩ nhiên Cọp phải ngoan, nhưng còn một lý do nữa: nó là cháu nội của vị Đông y sĩ nhân đức và rất mát tay chữa bệnh mà cả xóm cũng như những vùng lân cận đều trọng nể. Trước kia khi ông nội Cọp còn hành nghề, ông thường cứu giúp kẻ nghèo khó. Bây giờ đã già, ông về dưỡng lão tại đây.Tiếng là hồi hưu, nhưng ông vẫn thình thoảng trở lại nghề cũ để cứu giúp những bệnh nhân chung quanh hay một số thân chủ cũ tìm đến.
Một trong những thân chủ quen thuộc vẫn nhờ ông nội Cọp bổ thuốc Tể hàng tháng là bà Tham.
Bà Tham ở căn nhà lớn nhất cuối xóm. Không ai biết tên thật của bà là gì, chỉ quen gọi là bà Tham theo chức quan của ông cụ thời sinh tiền. Cụ Tham làm quan trong những năm cuối cùng của triều Nguyễn, nổi tiếng là ông quan nghiêm khắc và chính trực. Đó là lý do mà cả xóm cho đến nay vẫn còn kính trọng và nể vì. Nhà bà to và đẹp lắm. Vào cổng sau khi qua hai cột trụ cao và cổ kính, bên dưới có hai con sư tử bằng đá nhe răng múa vuốt, là con đường nhỏ trải đầy sỏi trắng, hai bên là hàng rào đầy các loại hoa. Cuối con đường đến khoảng sân trước nhà có những cái chậu bằng đá thật nặng đầy rêu phủ trồng sen. Hai bên hông và phía sau là khoảng vườn rộng mênh mông đầy các loại kiểng cũng như cây ăn trái. Đặc biệt có hai cây cau cao vút lên trời.
Tuy nhà bà Tham lớn như vậy nhưng không có mấy người. Bà ở với đưá cháu ngoại trạc tuổi Cọp, một ông quản gia trung thành từng theo hầu cụ ông ngày trước, và một chị người làm lo việc bếp núc, các việc lặt vặt khác. Bà vốn hiếm muộn, chỉ có một người con gái thì lại theo chồng vào nam. Dù con bà đã nhiều lần muốn bà dọn vào Nam ở, nhưng bà đã cương quyết ở lại xóm Chùa Bà để giũ gìn hương hỏa bên chồng. Được cái tuy chỉ một con gái, nhưng bà lại có rất nhiều cháu ngoại. Trà là đưá con út mà con gái bà để lại Huế cho bà cháu hôm sớm có nhau, tuổi già bớt quạnh quẻ.
Bà Tham không làm gì cả. Của cải do cụ ông để lại cùng lợi nhuận từ vườn cây sau nhà đủ cho bà sống thoải mái. Đó là chưa kể con gái bà vốn rất khá giả và vẫn thường chu cấp thêm thường xuyên cho mẹ. Công việc duy nhất để bà đi ra khỏi nhà hằng ngày là cùng ngồi xích lô đưa cháu đi học mỗi trưa, chiều lại đón về.Còn ngoài ra bà chỉ ở nhà tụng kinh niệm phật. Mọi việc giao dịch khác đã có người quản gia chu tất.
Tuy bà sống thanh đạm và giản dị như vậy, nhưng danh tiếng của một mệnh phụ phu nhân vẫn không hề suy suyển. Cả xóm Chùa Bà đều kính nể và coi bà như thuộc về một tầng lớp khác. Đến cả ông nội Cọp cũng không ngoài lệ đó, dù bà là bệnh nhân vẫn nhờ ông hốt thuốc hàng tháng.
Cọp gặp bà Tham mấy lần trong nhà khi bà đến cho ông nó bắt mạch. Những lần đó Cọp chỉ dám đứng xa xa quan sát và thắc mắc không hiều bà đáng sợ ở chỗ nào. Bọn con nít trong xóm như Cọp leo trèo phá phách ở đâu cũng phải chừa lại vườn nhà bà Tham. Đến như lũ chim kia hình như cũng biết đó là nơi an toàn nên đã từng đàn tụ về. Cọp và các bạn chỉ biết đứng ngoài thèm thuồng nhìn những trái chín mọng trong vườn và lũ chim líu lo rộn rả bên trong.
Cơ hội đã đến với Cọp vào một buổi trưa oi ả khi Cọp đang đội nắng đến trường. Chiếc xích lô chở bà Tham đưa cháu ngoại đi học rà đến bên cạnh. Từ trên xe bà hỏi vọng xuống:
– Này con. Con là cháu ông Khánh phải không?
– Dạ. Cọp rụt rè trả lời.
-Tội nghiệp! Trời nắng như ri mà đi bộ bịnh chết. Con lên đây đi với bà luôn thể.
Câu nói của bà Tham làm Cọp ngẩn người không biết trả lời ra sao. Ngồi xe xích lô tới trường giữa trời nắng gắt như vầy còn gì sướng bằng. Khỏi mỏi chân và đỡ khát nước. Nhưng Cọp vẫn ngần ngừ. Bà Tham đối với nó vẫn là một người đáng nể sợ. Hơn nữa lại có con Trà trên xe. Cọp biết con Trà từ lâu. Nó học bằng lớp Cọp, nhưng ở dãy con gái. Cả trường Cọp có khoảng bốn hay năm đứa thuộc loại “quý tộc” như con Trà. Chúng nó thuờng chơi chung với nhau. Thực ra thì tụi con Trà cũng đâu có kiêu kỳ làm cao làm dáng gì đâu. Tụi nó khi nào cũng muốn gia nhập cuộc chơi với chúng bạn khác. Nhưng mà chỉ nội cái tiếng tăm của gia đình và lối đi học bằng xe đưa rước mỗi ngày cũng đủ làm cho lũ học trò bình dân như Cọp cảm thấy thua kém và cách biệt.
Thấy Cọp cứ đứng ngẩn tò te, bà Tham bước xuống nắm tay nó kéo lên xe. Bà bảo con Trà sang ngồi trong lòng bà và nhường chỗ cho Cọp. Xe đã chuyển bánh mà Cọp cứ suy nghĩ. Con Trà lơ đãng nhìn Cọp. Nó không biểu lộ vể phản đối hay đồng ý nào cả. Hôm nay Trà đi học mặc áo đầm hồng mới tinh, tóc thắt nơ đỏ, đi giày Tây đàng hoàng. Con nhỏ đúng là một tiểu thơ tý hon. Bỗng nhiên Cọp thấy mắc cở quá. Chưa bao giờ Cọp thấy mình dơ dáy hơn lúc này. Bên cạnh con Trà sạch sẽ trắng trẻo, nó bỗng trở nên đen như cột nhà cháy.Tệ nhất là trên đầu nó mấy bữa nay mọc cục Sài. Ông nội Cọp phải cạo khoảng tóc chung quanh để dán miếng thuốc dán hiệu con Rắn vàoCọp ngồi yên lặng suốt quảng đường. Bà Tham có hỏi nó chỉ thưa dạ cho qua, tuyệt nhiên không nói gì với con Trà. Khi xe đến trường, bà Tham mua hai cây cà rem cho hai đứa. Cọp cầm cà rem chạy ù vào đám bạn đang bắn bi trước cổng trường, quên cả cám ơn.
Hôm sau bà Tham cho xe đến đón Cọp tận nhà. Bà ngồi ngoài, để con Trà vào kêu Cọp đi học làm ông nội ngạc nhiên. Cọp thì dị quá trốn trong bếp khiến ông nội phải kéo nó ra tận nơi. Cực chẳng đã Cọp đành leo lên.
Kể từ hôm đó, Cọp chính thức đi học bằng xe xích lô với con Trà. Mấy hôm đầu nó còn ngượng ngùng, dần dần Cọp quen đi. Bà Tham đâu có gì…ghê gớm như nó vẫn tưởng.
Mỗi lần hỏi chuyện Cọp, bà kêu con thật ngọt ngào và hiền hậu. Giọng bà lơ lớ âm hưởng tiếng nam, vì bà vốn sinh ra trong đó. Cọp có nghe nói đến Sài Gòn, hòn ngọc viễn đông mà nó từng học trong một bài tập đọc. Đối với Cọp, miền nam là Sàigòn, Sàigòn là miền nam. Bà Tham phong độ quý phái có lẽ vì bà từ Hòn Ngọc Viễn Đông ra đây( ?).
Mỗi chiều tan học, xe bà Tham đậu chờ sẵn ở cổng trường. Thông thường con Trà thuộc dãy con gái ra trước, Cọp ra sau. Mỗi khi Cọp leo lên xe, bà Tham thường hỏi
– Bữa ni Cọp được mấy điểm?
– Con được 10 điểm.
Nó hí hửng khoe. Bà Tham xoa đầu khen
– Cọp giỏi quá. Ráng học bà thương nghen con.
Do đó, khi sự nể sợ bà Tham đã dần thay thế bằng lòng kính mến, thân mật thì mối cách biệt tiểu thư- dân dã giữa Cọp và Trà cũng không còn nữa. Ngồi trên xe, hai đứa thường khoe điểm và cãi nhau tíu tít trước sự thích thú của bà Tham. Thỉnh thoảng bà phải làm trọng tài để phân giải nữa. Trà và Cọp trở nên thân nhau tự lúc nào. Cọp hoàn toàn thay đổi quan niệm về bọn “quý tộc” trong trường. Bấy lâu, tụi Cọp chỉ mặc cảm và tạo sự cách biệt, chứ bọn con Trà có bao giờ làm cao như bọn Cọp vẫn nghĩ. Ngược lại, Cọp còn thấy tội nghiệp dùm con Trà. Hai đứa bằng tuổi nhau, ở chung xóm, mà trong khi Cọp tung tăng làng trên xóm dưới tham dự đủ mọi trò vui, thì con Trà vẫn ở trong nhà, kín cổng một mình với bà ngoại.
***
Xóm Chùa Bà ở ngoại thành. Từ trung tâm thương mại chính là chợ Đông Ba, qua khỏi cầu Gia Hội, theo con đường Chi Lăng khoảng 2,3 cây số theo hướng về phía chợ Dinh là đến. Cho nên đây chỉ là vùng ngoại ô chứ chưa quá xa xuống các vùng quê. Dân trong xóm không ai gọi là quá nghèo. Mỗi nhà đều có vườn cây ăn trái phụ vào việc buôn bán, nên cuộc sống tương đối ấm no, và hầu như cả xóm đều quen biết nhau.
Từ lúc có óc nhận xét, Cọp cảm thấy xóm Chùa Bà là quê hương bất khả chia lià của nó. Những ngày Chủ Nhật cuối tuần phải về với mạ và chị, nó coi như một bổn phận. Một ngày ở thành phố là một ngày buồn bã. Cọp chỉ lủi thủi giữa bốn bức tường chật hẹp. Cho nên khi mạ hỏi có thương mạ không, Cọp bảo rằng thuơng mà không thể giải thích tại sao cứ đòi về xóm Chùa Bà.
Cọp còn quá nhỏ để diễn tả nỗi lòng của mình. Nó muốn nói rằng ở xóm Chùa Bà, dọc theo con đường Hồ Xuân Hương là hai dãy cỏ xanh mướt. Mỗi chiều có những con trâu hững hờ gặm cỏ. Có những đứa mục đồng là bạn chung trường với Cọp ngồi trên lưng trâu thơ thẩn nghêu ngao. Cọp thường lên lưng trâu với bạn đi sâu vào làng, vào tận các rẩy mương, được gặm mía, ăn khoai nướng, cơm vắt…
Có những buổi sáng mùa Đông, Cọp dậy thật sớm uống trà cùng ông nội. Giữa cái lạnh sớm mai và tiếng mưa rơi tí tách bên ngoài, hai ông cháu bên chiếc bàn nho đối ẩm. Cọp bắt chước ông bưng tách trà lên miệng, thổi nhè nhẹ và nhấp một ngụm nhỏ rồi thở “phaaà” một cái. Vừa uống trà , ông vừa ư ử ngâm thơ. Cọp chưa thương ai hơn thương ông nội. Nó mong sau này lớn lên sẽ nối nghiệp ông để cứu nhân độ thế.
Từ ngày đi học chung với con Trà, Cọp là đưá đầu tiên trong xóm được xâm nhập vùng “ cấm địa”, tức vườn nhà bà Tham..
Đối với Cọp, vườn nhà bà Tham là vườn Địa Đàng. Khu vườn thật rộng, ít nhất cũng gấp ba, bốn lần vuờn nhà nó, đầy những ổi, đào chín nặng trĩu cành. Lũ chim trong vườn cũng rất dạn dĩ. Chúng đã quen với sự an toàn ở đây nên không có vẻ gì e sợ sự hiện diện của Cọp. Cọp thích nhất là được leo lên một cành ổi lớn, ngồi cheo leo trên cành thưởng thức vị thơm ngọt của trái Xá Lị mới hái, vừa nhìn lũ Chào Mào, Se Sẽ ca hát, rỉa lông cho nhau, thỉnh thoảng hái một trái chín quăng xuống cho con Trà phía dưới. Có hôm thằng Cọp rủ con Trà lén trốn ra đuờng đón mấy đứa mục đồng bạn của nó cho con Trà cởi trâu ra rẫy chơi. Lần đầu tiên cô tiểu thư đài các được …đi chăn trâu khoái quá, bất kể bộ quần áo thơm tho bị vấn mùi trâu khi về phải vội vàng đi tắm. Thằng Cọp còn bắt Chuồn Chuồn cho cắn vào rốn con Trà rồi dắt nó ra ao sau vườn tập bơi. Quả nhiên mấy ngày sau con Trà cũng bơi ra phết.
Nhưng không phải chỉ mình Cọp biết bày trò đâu nha. Trà cũng có những mục riêng mà Cọp chưa hề biết đến. Trà có một bộ đồ chơi thật đẹp dạy trẻ em xếp nhà mà anh nó đang du học ở Pháp gởi về. Bộ đồ chơi gồm những miếng nhựa hình khối chữ nhật màu vàng ngà tương tự như quân cờ Mạc Chược của ông nội Cọp. Trên mỗi miếng đều có vẻ hình một cái cửa lớn hoặc cửa sổ. Chúng nó cứ lấy ra sắp thành những toà lâu đài theo ý thích và sự tưởng tượng riêng của mình. Con Trà cũng có một bộ đồ chơi nấu ăn đẹp nhứt xóm. Cọp chẳng thích gì ba trò nấu ăn của con gái. Nhưng đưọc cái là con Trà … nấu thiệt. Nghĩa là muốn nấu chè, con Trà vô bếp lấy đậu và đường đốt lửa nấu đàng hoàng chứ không phải lấy lá cây giả bộ như mấy đứa con gái khác. Cọp chiều ý con Trà, đợi nó nấu xong, dù sống hay chín, Cọp đều thanh toán hết. Con Trà chỉ nhấm nháp chút đỉnh và hả hê nhìn Cọp thưởng thức sản phẩm của mình.
Một lần hai đứa được bà Tham dắt đi coi tuồng Phạm Công Cúc Hoa do một gánh cải lương từ Sài Gòn ra trình diễn. Khi về, con Trà khóc suớt mướt.
Hôm sau không biết đưá nào rủ trước, cùng nhau diễn lại đoạn hai đứa trẻ mồ côi được mẹ Cúc Hoa hiện hồn về bắt chí. Cọp đóng vai Tấn Lực, con Trà làm Nghi Xuân. Sẵn có tượng Phật Bà Quan Âm khá lớn trong nhà cũng mặc đồ trắng giống Cúc Hoa, nên cả Nghi Xuân và Tấn Lực tân thời thi nhau tới trước tượng gào thét “Mẹ ơi, mẹ ơi…” một cách say sưa và thê thảm, nhập vai đến độ nước mắt nước mũi ngồm ngoàm đầy mặt, và bà Tham đứng sau lưng hồi nào không biết.
Bà không la còn vỗ tay khen:
– Ui chao ơi. Hai đứa mi hát cũng hay quá.
Nghi Xuân đỏ mặt ôm bà phụng phịu, còn Tấn Lực thì dị quá vừa chùi mũi vừa cắm đầu chạy một mạch về nhà.
***
Cọp về thành phố đón tết đã được mấy ngày. Mạ Cọp nghỉ chợ từ hôm 27. Ba Cọp cũng về nhà. Không khí vui vẻ và đầy đủ của gia đình làm Cọp tạm quên xóm Chùa Bà, tạm quên con Trà. Nó đã đếm từng ngày mong chóng đến mùng một để được mặc đồ mới theo ba mạ về chúc tết ông bà nội, và đi mừng tuổi bà Tham.
Tết.
Cọp nằm thấp thỏm mong trời mau sáng. Càng về khuya, pháo còn nổ lớn ròn rã. Trước còn không phân biệt, nhưng dần dần đã nhận ra tiếng súng. Mạ Cọp hỏi ba
– Chắc cháy kho đạn?
Ba Cọp lắng nghe và lắc đầu
– Không phải kho đạn. Lạ thiệt, hưu chiến ăn tết mà!
– Mô Phật. Tết nhứt mà đánh nhau chi kỳ rứa không biết.
Súng nổ dữ dội càng lúc càng gần vào thành phố. Ba Cọp mở radio nghe tin tức, nhưng những bản nhạc Xuân mới mấy tiếng đồng hồ trước còn inh ỏi, nay thay thế bằng tiến u u vô nghĩa. Súng nổ lúc càng gần hơn đầy đe dọa. Xen lẫn những tiếng tạch – tạch – đùng là một tiếng ẦM thật lớn làm rung chuyển cả nhà cửa, bụi bay tứ phía văng cả vào mắt Cọp. Đến gần sáng, radio bỗng nhiên hoạt động. Ba Cọp thất thần khi nghe “Đây, tiếng nói của mặt trận giải phóng miền nam…”
Hai chị của Cọp cũng biết và thì thầm với nhau:
– Chết cha! Việt Cộng mi ơi.
Trời sáng. Cả thành phố im lìm. Tiếng súng đã lặn dần chỉ còn lại lẻ tẻ đâu đó như đang răn đe hơn là hiến đấu. Nhà nhà đều đóng cửa kín mít. Bóng tối bao trùm…
Một buổi sáng, Cọp thức dậy vì tiếng ồn ào ngoài đường. Hình như có một nhóm người đi từng nhà đập cửa kêu gọi gì đó. Cứ khoảng mười phút thì tiếng đập cửa lại vang lên, từng nhà, từng nhà mỗi lúc mỗi gần hơn. Ba mạ Cọp nhìn nhau lo ngại. Hai chị của nó thì sợ quá trùm mền kín mít không dám nghe. Cuối cùng rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến. Tiếng đập cửa vang lên ngay nhà Cọp. Họ kêu lớn “ 73 Chi Lăng, mở cửa!”. Đúng là số nhà nó. Ba Cọp đành đứng dậy đi ra.
Sau hơn một tuần đóng kín, cửa nhà Cọp phải mở để đón người lạ vào. Cọp lén nhìn ra thấy sáu bảy người đàn ông sầm sập đi vào. Việt Cộng đó sao? Cọp suýt kêu thành tiếng khi thấy người đàn ông đứng ở cửa. Thầy Tường ! Thầy dạy lớp nhất ở trường nó. Cọp tưởng mình trông lầm, nhưng rõ ràng là thầy Tường nổi tiếng hiền nhứt trường. Khác một điều là lúc này thầy lạnh lùng, ôm khẩu súng, tay áo có mang miếng băng đỏ. Cọp líu cả lưỡi, tay chân run rẩy. Thầy Tường là Việt Cộng? Nếu không tận mắt nhìn thấy, không đời nào Cọp tin nổi.
Ba nói chuyện một hồi, đi vô bảo mạ:
– Anh đi với họ.
– Đi mô?
Mạ Cọp thất thanh.
Một người có vẻ là trưởng nhóm tiến lại:
– Chúng tôi mời ông đi nghe chủ trương chính sách của chính phủ cách mạng. Tối ông về thôi.
Ba Cọp nhìn mạ ra dấu có muốn từ chối cũng không được. Ông yên lặng xoa đầu Cọp và bước ra khỏi nhà cùng mấy người đàn ông nọ
Đến tối quả nhiên ông về thiệt. Mạ Cọp mừng đến mếu máo:
– Anh đi mô?
Ba lắc đầu không nói. Mạ hỏi tiếp
– Họ nói chi rứa?
Ba chỉ xua tay và nặng nề ngồi xuống. Hình như ông vừa trải qua một sự kiện gì ghê gớm lắm nhưng không muốn cho mạ nó biết.
Liên tiếp mấy tuần nữa, Huế vẫn đắm chìm trong bóng đêm. Chợ Đông Ba bốc cháy cũng không ai cứu chữa, cho tới khi một cơn mưa đổ xuống dập tắt, để lại những cột khói u ám cả bầu trời. Mạ Cọp ngẩn ngơ nhìn sản nghiệp tiêu tan theo làn khói. Lần đầu tiên Cọp thấy mạ khóc và cảm thấy thương mạ hơn bao giờ hết. Cọp biết hàng vải của mạ là do bà ngoại để lại. Từ bấy lâu nay mạ Cọp một tay nuôi nấng đàn con cũng nhờ nó. Nay coi như đã hết.
Chưa bao giờ Cọp thấy buồn bả và chán nản hơn lúc này.
Tết chi mà kỳ cục. Suốt ngày chỉ ru rú trong nhà tăm tối.
Thình thoảng Cọp ngồi tư lự. Nó nhớ xóm Chùa Bà quá. Nó ngồi tưởng tượng hai dãy cỏ xanh mướt dọc theo con đường Chùa Bà và những thằng bạn chăn trâu nghèo khổ của nó. Súng bắn dữ như hôm rồi, không biết tụi nó có được bình yên? Còn những con trâu lừ đừ và châm chạp. Tụi nó có biết tìm chỗ tránh đạn? Cọp cũng nhớ con Trà và bà Tham. Bỗng nhiên Cọp khám phá ra một điều: ngoại trừ ông nội, con Trà là người nó thương và nhớ nhiều nhứt. Cọp không hiểu tại sao, nhưng hể nhắm mắt lại là nó thấy ông nội, con Trà, và bà Tham.
Nhớ thì nhớ, thương thì thương, Cọp cũng phải bó gối trong nhà và thả hồn lơ lững về xóm Chùa Bà.
***
Súng lại nổ vang. Lần này súng nổ ròn rả hơn, quyết liệt hơn. Cọp ôm
đầu than: “Trời ơi,,Việt Cộng mô mà cứ tới hoài rứa !” Nó lại thấy mạ
lâm râm niệm Phật, nhưng không để ý nét vui mừng ẩn hiện trên đôi mắt
thâm quầng của ba.
Súng nổ thật dữ dội đầu hôm và im dần khi trời
vừa sáng. Cọp giật mình thức dậy và thấy ánh nắng chói chan rọi vào nhà.
Lạ quá, tại sao nhà nó lại mở cửa? Ba mạ và chị nó đâu? Nó lại nghe
tìếng cười nói huyên thuyên bên ngoài nên vùng chạy ra.
Lính.
Lính mình.
Nhiều lính lắm, đang rầm rập đi đầy đường.
Cọp chạy lại nắm tay ba. Ông nói
– Mình tái chiếm rồi con.
Tái chiếm? Nghĩa là không còn Việt Cộng nữa. Nghĩa là nó sắp được về lại xóm Chùa Bà tiếp tục những ngày vui !
Cọp bỗng cười toe toét, ngẩng đầu hỏi lại;
-Mình tái chiếm rồi hả ba?
***
Chỉ vài tháng sau ngày tái chiếm, Cọp khăn gói theo gia đình vào
SàiGòn. Ba Cọp quyết định đưa vợ con về nơi an toàn. Cọp cũng không lưu
luyến xóm Chùa Bà nữa. Ông nội nó đã mất vì bệnh tim tái phát sau nhiều
ngày đêm chịu đựng tiếng dội của bom đạn. Một lý do nữa là ba Cọp đã trở
về từ địa ngục. Sau này kể lại, ông cho hay hôm mấy tên Việt Cộng trong
đó có thầy Tường dẫn đi, ông bị còng tay ra nơi tập trung có những cái
hố đào sẵn. Phước đức từ ông nội nên có một tên việt cộng là bạn học cũ
của ba. Nhà hắn từng chịu ơn ông nội Cọp cứu giúp năm xưa nhận ra, lén
cởi trói cho ba Cọp trốn về. Ba là người duy nhứt thoát được. Số người
bị bắt chung hôm đó tất cả đã bị vùi sâu chôn sống hết dưới những hố hầm
định mệnh.
…
Đưa đám ông nội Cọp, con Trà đi cùng bà Tham …trên chiếc nạng gỗ. Một mảnh đại bác oan khiên cắt ngang chân trái của Trà.
Tự do đã trở lại, nhưng hậu quả khốc liệt của một tháng trời bị tạm
chiếm vĩnh viễn không thể phai mờ. Ban đêm Cọp phải qua ngủ với mạ để
tìm cảm giác an toàn mỗi khi thức giấc nghe tiếng chó tru xa xa vọng
lại.
Mùa Xuân năm ấy, Huế nhuộm một màu tang !
Khi Cọp trở lại
xóm Chùa Bà lần cuối để chào từ giã bà Tham và con Trà trước ngày lên
đường, bà Tham mếu máo ôm Cọp trong lòng như không nỡ rời. Con Trà cũng
đứng đó, không khóc, không nói, chỉ ngẩn ngơ nhìn Cọp nửa bùi ngùi, nửa
xa vắng.
***
Thư một người chị của Cọp từ quê nhà gởi sang có đoạn “Em còn nhớ Trà, cô bạn nhỏ năm xưa của em ở Huế không? Chị mới gặp lại. Không ngờ cô ta vẫn còn nhớ đến em và gởi lời hỏi thăm…”
Chữ “Trà” trong thư của chị gợi lại Cọp bao kỷ niệm thời thơ ấu tưởng đã chìm sâu trong tâm tưởng, bỗng sống dậy cuồn cuộn như sóng trào. Rời Huế từ năm ấy, Cọp chưa lần nào trở lại dù chỉ một lần để thăm viếng. Sài Gòn -Huế nào có bao xa mà như vĩnh quyết. Huống chi bây giờ thêm cả một đại dương!
Hương Trà, cô tiểu thư, người bạn nhỏ thuở xưa. Cô đã sống ra sao trong suốt thời gian qua với chiếc nạng gỗ cay nghiệt đó!
Cọp cúi đầu.
“Lạy trời cho nàng một cuộc sống bình yên”
Mùa xuân vừa đến
Mùa xuân vừa đến

Mùa xuân hương vị ngọt ngào
Hoa thơm cỏ lạ đón chào bình minh
Tóc bay nhè nhẹ hương tình
Má hồng môi thắm điểm xinh nụ cười
Mai vàng hé nụ đẹp tươi
Đào về trước ngõ lả lơi gọi mời
Mưa bay lất phất giữa trời
Long lanh hạt ngọc cho đời thêm duyên
Mùa xuân đang đến trước hiên
Môi em thắm đỏ cười hiền đón xuân
Dặt dìu bước nhẹ bâng khuâng
Niềm vui mơ ước xa gần thăm nhau.
Mùa xuân hoa lá đổi màu
Bướm vui bay lượn mở đầu ngày vui
Bãi xuân én lượn sương mù
Bước chân em nở cánh dù đầy hoa.
Lê Tuấn
Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường
Hồi Ký về gia đình Nguyễn Tường
(trích)
…
Anh cả tôi tên Thụy, hồi có thai anh, mẹ tôi nằm mơ thấy có người đem đến cho một viên ngọc, nếu đặt tên Ngọc có vẻ con gái quá nên đặt là Thụy vì chữ Thụy có ẩn chữ Ngọc. Anh thứ hai tên Cẩm, thứ ba là Tam, anh thứ tư là Long, tôi thứ năm tên Thế, em thứ sáu tên Vinh, em thứ bẩy tên Bách. Thật sự tên anh em tôi không phải ngay từ lúc đầu đã đặt theo bộ chữ THỤY CẨM TAM LONG VINH BÁCH THẾ (Ba con rồng bằng gấm đẹp vinh hiển muôn đời) như một vài cuốn sách đã viết và coi như sự nổi tiếng của Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam là tiền định.

Ba anh tôi tên đã được đặt từ trước là Thụy, Cẩm, Tam, anh Tư tôi (Hoàng Đạo) đáng lẽ là Tứ nhưng có người bạn của thầy tôi là Tứ nên mới đặt là Tư và tôi là Năm. Rồi tới em Sáu (Thạch Lam) và em út là Bẩy. Sau này vì anh tư tôi không đủ tuổi đi thi anh mới đổi là Long. Còn tên tôi, em Sáu và em Bẩy là do anh TAM đổi nhân dịp em Sáu cũng vì lý do đổi tuổi để đi thi. Như vậy tuổi khai sinh của anh em nhà tôi không hoàn toàn đúng với tuổi thật. Năm đó tôi nhớ anh Tam đã viết “NHO PHONG” và tôi khoảng 14, 15 tuổi, bấy giờ anh Tam mới nghĩ tới việc đặt tên anh em chúng tôi theo bộ chữ trên. Tôi là con gái nên lấy chữ cuối. Thứ tự gia đình tôi theo đúng tuổi là anh Cả NGUYỄN TƯỜNG THỤY sau này làm Tổng giám đốc bưu điện sinh năm Quý Mão (1903), anh Hai NGUYỄN TƯỜNG CẨM, kỹ sư canh nông, Giám đốc báo NGÀY NAY sinh năm Giáp Thìn (1904), anh Tam NGUYỄN TƯỜNG TAM, Nhất Linh, Nhị Linh chủ trương TỰ LỰC VĂN ĐOÀN sinh năm Bính Ngọ (1905), anh Tư NGUYỄN TƯỜNG LONG, Tứ Ly, Hoàng Đạo trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn sinh năm Đinh Mùi (1907), tôi NGUYỄN THỊ THẾ sinh năm Kỷ Dậu (1909), em Sáu NGUYỄN TƯỜNG VINH (LÂN), Thạch Lam trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn sinh năm Canh Tuất (1910), em Bẩy NGUYỄN TƯỜNG BÁCH, Bác Sĩ, sinh năm Bính Thìn (1916).
Riêng em Sáu tôi đổi tên tới hai lần. Lần thứ nhất đổi là Vinh, cũng vì lý do để đủ tuổi đi thi bằng thành chung. Tôi còn nhớ khi em Sáu thi đậu, Tú mỡ Hồ Trọng Hiếu có mừng em bài thơ tôi chỉ còn thuộc có 6 câu:
Gửi lời mừng bác NGUYỄN TƯỜNG VINH
Đáng bậc thần đồng bọn học sinh
Năm trước vừa ăn kỳ tốt nghiệp
Năm sau liền đỗ bậc chung thành
Văn hay phúc ấm nhờ tiên tổ
Cũng bởi công phu gắng học hành
Lần đổi tên thứ hai là Lân. Tên này em tôi giữ cho tới khi chết. Sự đổi tên của anh em tôi là do ý kiến của anh Tam vì khi đổi tên tôi và các em Sáu, em Bảy thầy tôi mất đã lâu.
…
Tôi không ngờ em Sáu có trí nhớ dai thế, như truyện em tôi tả hai chị em thức đợi chuyến tầu đêm qua rồi mới đi ngủ. Năm đó tôi mới có chín tuổi, em tôi lên tám mà mẹ tôi đã giao cho hai chị em tôi coi hàng. Cửa hàng chỉ bán có rượu, ít bánh khảo, thuốc lào, cốt để đưa khách quen vào trong nhà bà ngoại. Tối đến hai chị em phải ngủ lại để trông hàng. Hai chị em vì ở nhà quê đã lâu nên bạo dạn. Chủ nhà là hai bà cụ đã già tóc bạc phơ hình như hai người là bạn với nhau, đều không có con, tôi cũng không rõ là ở đâu tới. Một bà trẻ, khỏe mạnh hơn dọn hàng cơm cho khách ăn, thỉnh thoảng cũng có người lỡ tầu ngủ trọ lại. Hàng bà cụ rất sạch sẽ, món ăn cũng ngon. Những con cá chép rán vàng, rồi canh cá nấu măng chua, mấy cái chân giò luộc, trông thật thèm.
Khách hàng là mấy ông lý ông chánh ở các làng xa xôi lên huyện có việc. Đông nhất là những ngày vào vụ thuế. Hồi đó thuế người thuế ruộng phải đem lên nộp cho quan, quan đem xuống tỉnh nộp cho công sứ. Hàng mẹ tôi dọn được ít lâu khách đã quen vào nhà trong rồi nên khỏi bán hàng ở ngoài nữa (xem truyện “Hai chị em” Thạch Lam đã viết lại đúng như sự thực).
…
CÁI CHẾT CỦA THẠCH LAM
Chú Sáu trông nom nhà báo được ít lâu bị yếu phổi phải nằm nhà dưỡng bệnh. Biết tính chú ưa tĩnh nên dù ở gần tôi cũng ít sang thăm.
Một tết Trung Thu, chú mời tất cả các bạn thân đến ăn bánh thưởng trăng Tây Hồ. Anh em ai tới phải mang theo bánh, các bà không được tham dự. Thím Sáu và chị Song Kim vợ Thế Lữ rút vào nhà trong pha trà, cà phê. Tôi vì có cháu bé nên không sang được, Trung thu năm đó lại mưa bão không có trăng, các ông ngồi chật cả ba gian nhà. Sợ chủ nhân buồn, ông thì hát chèo cổ, ông thì hát trống quân, người thì ngâm thơ, kể cũng vui, không có cảnh trăng trong gió mát thì cảnh mưa bão hồ Tây cũng đẹp.
Tết năm đó tôi cùng chú về quê ăn Tết. Hai mươi tháng chạp tôi thu xếp việc nhà cho các cháu về trước. Chú Sáu ba mươi Tết mới về, nhà ở giữa cánh đồng, tuy có lũy tre bao bọc nhưng vẫn lạnh thấu xương. Chú về tới nhà là phải quạt một hỏa lò than hồng để sưởi, trên chăn dưới nệm vậy mà chú vẫn kêu lạnh. Mẹ tôi kêu con trai gì mà yếu thế, chú nói tại mẹ khỏe nên không thấy lạnh, giá mẹ xây một cái lò sưởi có phải ấm nhà và vui vẻ bao nhiêu không.
Sau mẹ tôi phải cho đốt một đống củi lớn ở giữa nhà, trải ổ rơm xung quanh ngồi đánh bất đợi giao thừa. Tôi phụ với mẹ tôi bầy cỗ cúng bàn thờ và cúng trời đất. Đúng mười hai giờ người nhà lên đánh trống lễ, đỉnh trầm khói hương nghi ngút, không khí đầy diễm ảo.
Làm lễ xong cả nhà ngồi vào bàn để uống rượu mừng năm mới. Ai nấy im lặng, chú Sáu có vẻ buồn, lặng lẽ nhìn khói trầm, không ai nói câu nào như sợ tan vỡ một cái gì. Người nào cũng tưởng nhớ đến người ở xa vì Tết năm đó anh Tư còn bị giam ở Vụ Bản, anh Tam ở bên Tầu. Tết buồn, vắng, và cũng là cái Tết sau cùng của em Sáu tôi.
Tết ra, em đau yếu luôn, vẫn về ở bên căn nhà bên hồ Tây. Mẹ tôi phải dời trại Cẩm Giàng đem theo một anh người nhà nữa để trông nom vì thím Sáu lúc đó đang có mang đứa con thứ ba. Mẹ tôi xem số tử vi cho chú ấy, nếu thím sanh con trai thì khó qua khỏi được. Vì vậy hôm báo tin sanh con trai, chú thở dài nói con trai mà làm gì. Đứa bé ra đời được ba ngày chú trở bệnh nặng. Mẹ tôi biết khó sống được nên lén lên nhà bảo sanh đón hai mẹ con về. Tôi bế thằng bé ra cho chú coi mặt. Chú liếc nhìn và khen trông nó khỏe đấy. Nó sau này là cháu Nguyễn Tường Giang.
Sáng hôm sau sang thăm, thấy hai mắt chú sáng trong. Tôi ngồi xuống cái ghế cạnh giường, nắm tay chú, bàn tay ấm và mềm. Chú bảo chị đẩy em lên cao một tí để em nhìn thấy cây liễu, chú phàn nàn anh người nhà đem chặt đi mất một cành liễu rủ xuống làm mất đẹp. Tôi biết chú vốn quý cây liễu ấy lắm, nhưng không ngờ lúc đau ốm gần kề với cái chết mà vẫn còn để ý đến vẻ đẹp thiên nhiên, như vậy chú còn ham sống yêu đời lắm. Năm đó chú mới ba mươi ba tuổi. Có một hôm chú bảo tôi hôm nào em khỏi chị cho em ăn một bữa cơm nguội với dưa chua và cá kho, sao mà ngon thế. Chị có nhớ hôm đi chơi khuya về chị lấy cho em ăn đó. Em vẫn ao ước hôm nào khỏi lại được ăn như thế. Tôi cười bảo bây giờ chú ăn chưa chắc đã thấy ngon. Ăn ngon phải đúng lúc mình thật đói và trong người khỏe mạnh mới ngon được.
Từ hôm bệnh trở nặng, chú Bách (tên chú Bẩy) thường ở luôn bên cạnh anh. Chú Sáu đang nằm tự nhiên bảo đỡ ngồi dậy. Mọi người đưa mắt nhìn nhau. Thím Sáu ở trong buồng chạy ra ngồi đỡ một bên. Mẹ tôi ngồi một bên. Thấy thím khóc, chú bảo tôi đã chết đâu mà khóc. Hai anh em nói tiếng Pháp với nhau, tôi thấy chú Bách bỏ ra cửa, chú Sáu gọi “Bách, Bách”, chú Bách chỉ quay đầu lại thôi chứ không trở lại, tôi chực gọi thì thấy hai hàng nước mắt chú tuôn rơi, lúc đó tôi mới hiểu. Nhìn lại thấy chú Sáu duỗi hai chân thẳng ra. Thế là đi luôn.
Tiếng khóc của mẹ tôi, của thím Sáu cùng nổi lên một lượt, riêng tôi vẫn còn hoang mang, không thể ngờ chú còn tỉnh táo như vậy mà cái chết đã đến quá mau chóng. Người khóc nhiều nhất là chú Bách, từ nhỏ tới giờ không bao giờ thấy chú khóc nhiều như vậy. Có lẽ vì đã học năm thứ năm trường thuốc nên biết lúc đó là lúc anh mình phải chết mà mình bất lực không làm gì được.
…
Tết năm đó (1942) chỉ còn có hai anh em về ăn Tết. Chú cũng đã yếu rồi nên thím Sáu đã phải đốt một lò than hồng để đón chú, mà chú cũng còn kêu: “Rét quá, giá mẹ xây lò sưởi có phải ấm không”. Đêm giao thừa phải đốt một đống củi ở buồng hai gian nhà ngang vải chung quanh trại ổ rơm mà chú vẫn kêu lạnh. Tất cả ngồi quây quần đánh bất để đợi Giao Thừa, năm đó tiết trời cũng giá buốt nên thay vì cúng và ăn ngoài sân, cả gia đình đều vào phòng khách. Đúng Giao Thừa, chú bảo đốt trầm lên và đem rượu ra uống mừng Xuân. Rượu rót ra rồi ai nấy đều thấy chú ngồi im lặng lẽ, khói trầm mờ ảo, tất cả tự nhiên đều im lặng, mỗi người hoài niệm một nỗi niềm riêng tư. Vắng mấy anh như là vắng tất cả. Xuân này mỗi anh mỗi phương, người góc bể, kẻ chốn rừng sâu, chắc giờ này cũng đương hướng cả tâm hồn về với nhau. Anh em sum họp đã bao cái Tết vui vẻ, nay như chim lìa đàn, con bay về phương Bắc, con về phương Nam, cách biệt từ nay mấy dặm ngàn.
Sau cái Tết đó là chú Sáu bắt đầu yếu. Hôm chú sang chơi nhà anh Thế Lữ rồi qua tới thấy tôi đốt lò sưởi, chú thích quá. Chú nói bên hồ năm nay lạnh quá, chú chịu không nổi. Tôi mời chú qua đây ở, tôi sẽ nhường chú căn phòng khách có lò sưởi cho ấm chứ nhà tôi có tiếp khách nào đâu. Nói rồi, tôi thấy nét mặt chú buồn buồn. Lúc tiễn chú ra cổng, thấy thân hình chú mặc cái áo cẳng dài, người mảnh và cao, chân bước đi như gió thoảng trên mặt đê, lòng tôi tự nhiên thấy buồn nhưng cũng không rõ vì sao. Không thấy chú sang, có lẽ chú sợ phiền vì đã hai lần chị đã nhường cho nhà rồi, vả lại đời sống chú cũng khó khăn, sang đây sợ thiếu phương tiện.
Chú đã yếu nhiều nên tính nết cũng khó khăn, thích yên tĩnh nên tôi có sang thăm chú phải bảo mấy cháu chơi ở ngoài hoặc ra cây đa, hoặc sang sân đình vì chú không ưa trẻ con. Tôi còn nhớ lần đó sang chơi, thấy chú đương ăn cơm, chú mời tôi ăn với chú một thể nhưng tôi đã ăn rồi, chú mới hỏi mấy cháu có qua với tôi không. Tôi bảo: “Chúng nó sợ chú nên ở chơi ngoài sân đình rồi”. Chú bèn nói gọi hết mấy cháu vào đây. Tôi và thím Sáu đều nhìn nhau lấy làm lạ vì đã có lần chú cấm tôi có sang thì để lũ trẻ con ở lại nhà. Thế mà hôm nay chú lại vui vẻ gọi các cháu vào, nào là bắt ăn rồi lại mở tủ sách của chú mà xưa nay các cháu thích lắm nhưng chẳng bao giờ dám mó vào, bây giờ muốn đọc thì tha hồ đọc. Lúc về chú lại cho mượn đem về, hẹn phải giữ cẩn thận rồi đem qua chú đổi cho quyển khác.
Tôi thấy chú cười nói tôi cũng mừng, hay là chú đã hết bệnh rồi nên chú thay đổi tính nết. Ai ngờ là gở chết, vì theo như các cụ nói thì người đương dễ tính sẽ đổi ra khó, còn người đương khó tính sẽ đổi ra dễ, đó là điềm gở. Được vài tháng sau là chú đau liệt giường luôn, không tới tòa báo được nữa. Chú Bách cũng hằng ngày xuống chích thuốc cho chú, nhưng cũng vô hiệu và chú đã lao phổi nặng rồi. Mẹ tôi cũng từ dưới trại lên để trông nom chú và người bếp già vì thím ấy đã gần ngày sanh. Chú gầy quá lại kêu đau mình, nên mẹ tôi cho mang cả giường lò xo lên cho chú nằm cho êm. Thuốc men ăn uống cũng chả thấy đỡ, bệnh chú càng ngày càng nặng, chú Bách chích đủ các loại thuốc tốt nhưng cũng đành bó tay thôi.
Mẹ tôi đi coi số cho chú ấy nói nếu có hai con trai thì là tận số. Hôm thím ấy sanh, nói con trai, chú chỉ thở dài nói lại con trai. Mẹ tôi thấy chú phù hai chân biết là khó qua khỏi, nên thím ấy sanh mới được có ba ngày là cho đón về lúc buổi sáng mười giờ. Bế thằng bé con ra cho chú coi mặt, chú bảo trông nó khỏe mạnh đấy. Tôi bắc ghế ngồi bên chú, chú bảo chị cho cái gối cao lên để em ngắm liễu, hôm nọ nó chặt mất cành thấp rũ xuống, em tiếc quá. Xong chú nói em nhớ bữa cơm nguội mà hôm em đi chơi về, chị cho em ăn với cá kho và dưa chua, sao mà ngon thế, hôm nào em khỏi chị lại cho em ăn như thế. Tôi cười nói đúng đó chú ạ, mình chỉ ăn ngon vào đúng lúc mình đói thì bữa cơm đó không có gì ăn cũng ngon, chú nhỉ. Chú lại hỏi sắp đến mùa na chưa, em thèm ăn na quá. Tôi bảo tháng sáu hoặc tháng bảy chú ạ. Chú chỉ ao ước một bộ đồ lụa mỏng vải cúc áo dài lụa thì Mẹ tôi đã may cho chú để mặc cho mát và nhẹ. Còn các thứ trái cây thì chú thích nhất là na, xoài, dưa tây ướp đá.
Có lần chú Bách đưa cho tôi mấy miếng dưa tây hoặc mấy miếng xoài, thế là quý chị lắm đó. Hai chị em cứ nói chuyện vẩn vơ như vậy, đâu có ngờ đến 12 giờ tôi về bên nhà ăn cơm, vừa ăn xong thì hai vợ chồng tôi sang cùng đứng cả bên giường. Chú bảo đỡ chú ngồi lên, anh người nhà một bên, mẹ tôi một bên, sau là thím Sáu. Thấy chú nói tiếng Pháp với chú Bách, thím Sáu khóc thì chú bảo tôi không chết đâu mà khóc. Chú Bách bỏ bước ra cửa, chú ấy gọi Bách, Bách rất rõ mà chú ấy không quay lại. Tôi và mẹ tôi đều kêu chú Bách, anh gọi này. Chú không quay vào chỉ ngoảnh mặt lại thôi, tôi thấy chú khóc. Tôi chưa từng thấy chú khóc bao giờ. Tôi thấy chú Sáu duỗi hai chân ra, thế là đi luôn, anh người nhà vội đặt chú nằm xuống.
Tôi sửng sốt không ngờ, chỉ có chú Bách và Mẹ tôi là biết rõ thôi. Chú đã học thuốc và đã từng chứng kiến nhiều nên chú không dám quay lại khi thấy mình bó tay không sao ngăn được thần chết. Chú lại là người khóc nhiều hơn ai hết, tôi còn phải đi lo báo cho mọi người biết. Mẹ tôi đứng lên lo hết ma chay cho chú xong, mẹ tôi lại trở về trại Cẩm Giàng. Còn nhà báo thì ai trông nom sau khi chú Sáu mất, tôi cũng chả rõ. Gần một năm sau thì anh Long và ông Khái Hưng về trông nom tờ báo. Năm đó cũng là năm Nhật hay sang bỏ bom, mọi người sợ hãi hay chạy về nhà quê và nhà nào cũng đào hầm để trú ẩn. Bên mấy mẹ con thím Sáu thì mẹ tôi đón về trại ở rồi, chứ ở trên này thì lấy gì sống.
(Văn hóa Ngày Nay tái bản 1996)
Họa sĩ Hoài Nam qua đời
Họa sĩ Hoài Nam qua đời: Con ngựa già đã tìm về đồng cỏ

Nghệ sĩ Hoài Nam – người họa sĩ tiên phong của ngành thiết kế mỹ thuật sân khấu cải lương miền Nam và đã cống hiến trọn vẹn – suốt đời cho đam mê nghệ thuật này đã qua đời ở tuổi 90 ở Viện dưỡng lão nghệ sĩ TP.HCM.
Sáng nay (7.1.2020) lướt Facebook, mới hay tin họa sĩ Hoài Nam đã từ trần lúc 4 giờ sáng nay tại Khu dưỡng lão nghệ sĩ (đường Âu Dương Lân, Q.8, TP.HCM), thấy hồn xốn xang, và chắc chắn rằng nhiều “cựu cư dân” của “Tám Mốt-Trần Quốc Thảo”: Thiên Hà, Trương Đạm Thủy, Lê Hồng Thái, Bùi Công Doanh, Tăng Bình, Trần Lượng… cũng sẽ bồi hồi với cái tin ông mất…
Nhớ khoảng 20 năm về trước, khi tôi là “đại sứ thường trực” ở Quán Nghệ sĩ (81, Trần Quốc Thảo, Q.3), thỉnh thoảng vẫn thấy ông xuất hiện ở đây: Dáng người mảnh khảnh, tóc dài, cặp mắt sâu sau đôi kính lão, đôi má hóp sâu… Ông ngồi uống bia với bạn bè nhưng rất kiệm lời, chỉ thỉnh thoảng nở nụ cười thật hiền. Anh em giới thiệu với tôi: “Họa sĩ Hoài Nam – chuyên thiết kế cho các sân khấu cải lương”.
Từ đó, tôi thường được ngồi “hầu bia” với ông cùng với nhà văn Dương Hà (tác giả tiểu thuyết Bên Dòng Sông Trẹm), nhà thơ-soạn giả Kiên Giang-Hà Huy Hà và nhóm anh em đã kể ở trên. Tôi đã chụp ông khá nhiều bức ảnh vẫn còn lưu file ở đâu đó mà nhất thời chưa tìm lại được. Lúc đó, ông đã “giã từ vũ khí” và đã về nương thân ở Khu dưỡng lão nghệ sĩ bởi ông thuộc dạng “tứ cố vô thân”, chưa từng có vợ nên cũng chẳng có con cái để làm chỗ dựa lúc tuổi xế chiều…

Họa sĩ Hoài Nam tên thật là Bùi Hoài Nam, ông sinh năm 1930 trong một gia đình điền chủ tại Thủ Thừa (Long An), 15 tuổi “công tử Thủ Thừa” bỏ nhà đi theo kháng chiến, một năm sau trở về thì… nhà cửa ruộng đất mất sạch. 17 tuổi, Hoài Nam lên Sài Gòn học Trường vẽ Gia Định, đồng thời ghi danh học Trường Âm nhạc Sài Gòn. Tuy nhiên, vốn tính lãng tử, cả 2 môn học này ông đều bỏ ngang khi sắp tốt nghiệp. Lúc đó, Hoài Nam chơi thân với con trai của nghệ sĩ cải lương kiêm bầu gánh Năm Châu. Vậy là lân la với nghề trang trí sân khấu.
Thoạt đầu là phụ việc cho các họa sĩ đàn anh, dần dần trở thành họa sĩ chính, nổi tiếng đến nỗi gánh hát nào cũng muốn nhờ ông trang trí. Nghe kể rằng chính ông là người đã làm một cuộc cách mạng: Đưa việc thiết kế phông màn sân khấu từ đình chợ đơn giản ra rạp hát hoành tráng. Sau này (từ năm 1958) ông còn là họa sĩ thiết kế hình ảnh cho các bộ phim: Xa lộ không đèn, Bàn thờ tổ của cô đào, Nghêu Sò Ốc Hến, Hồi chuông Thiên Mụ…
Trước 1975, ông thuê một căn nhà ở cuối đường số 2 Làng báo chí Thủ Đức. “Trong nhà không một cái ghế ,cái bếp hay những vật dụng sinh hoạt tối thiểu của một gia đình, nói chung như một cái nhà hoang vậy… Nhưng trong nhà có rất nhiều những hũ rượu thuốc mà ông đi đây đi đó mang về và sách thì chất đầy nhà với những sách tiếng Hán, hay những bộ truyện Kim Dung mới xuất bản ở Sài Gòn thời đó, cùng với báo chí hay những giá vẽ, tranh vẽ dở dang v.v… (chi tiết này của Bùi Công Doanh, người ở cùng Làng Báo chí Thủ Đức với ông). Mỗi lần có đoàn hát đặt hàng là ông đóng cửa đi vẽ suốt tháng.

Dạo ấy, thu nhập của ông phải nói là “xu hào rủng rỉnh” nên ông rất hào phóng với bạn bè thân hữu. Cũng dễ hiểu vì ông không vướng bận vợ con. Thực ra hồi ấy ông là một họa sĩ tài hoa, làm ra tiền, lại đẹp trai với dáng người dong dỏng cao nên thiếu gì cô đào hát xinh đẹp hoặc những cô gái hâm mộ sẵn sàng tình nguyện “nâng khăn sửa túi”, Trước năm 1954, ông cũng đã từng yêu một cô gái, tính chuyện cưới xin nhưng rồi cô ấy trở mặt, bỏ ông để lấy một anh lính Tây, từ đó ông “tắt lửa lòng”. Một điều nữa khiến ông không tha thiết gì chuyện vợ con là bởi ông từng chứng kiến cha mẹ chết sớm, rồi lần lượt 7 người anh em ruột của ông qua đời mà không ai qua khỏi tuổi 40. Ông tự nhủ: “chắc mình cũng không qua khỏi cái ngưỡng ấy. Thôi, vợ con làm gì, thêm khổ cho người ta !” (vậy mà ông sống ngót…90 tuổi mới lạ!).
Sau hơn 60 năm làm việc cho các đoàn sân khấu, ông về nương thân ở Khu dưỡng lão nghệ sĩ (quận 8), viết bộ sách Giải mã Hán – Việt – Nôm theo phương pháp họa tự và sáng tác thơ. Việc nghiên cứu chữ Hán cũng là một đam mê song song với hội họa. Ông kể rằng, dạo còn phiêu bạt ở tuổi thanh niên, ông được học chữ Hán với một ông chủ tiệm thuốc bắc người Hoa ở Vũng Tàu. Bộ sách Giải mã Hán – Việt – Nôm theo phương pháp họa tự đã được NXB Trẻ in tập 1 (tập 2 đang dang dở thì ông mất).
Còn về thơ, thú thực chơi với ông cũng khá lâu, cũng từng nhiều lần ngồi nghe ông nói chuyện nhưng tuyệt nhiên tôi cũng như bạn bè quanh ông chưa bao giờ nghe ông “đụng chạm” gì tới thơ văn cả. Vậy mà mới đây nhà thơ Trương Đạm Thủy tiết lộ (trích: “Mới đây gặp lại anh với nụ cười móm xọm của tuổi U.80, anh trao tôi món quà là kết quả của những đêm già khó ngủ. Đó là tác phẩm tập photo bản thảo thơ 7 cuốn gồm: 1/Ngũ Âm, 2/Thơ Đường Phố, 3/Túy thi,, 4/Tình thi, 5/Lãng Thi, 6/ Thủy mặc thi, 7/Điền dã thi..; Chưa bao giờ tôi nghĩ Hoài Nam lại có một tâm hồn thơ nồng nàn đến vậy. Anh lại còn tỏ ra có tay nghề với một dòng thơ vừa hiện đại lại vừa u hoài cổ phong như trong Đêm:
Sao đêm trùm chăn lạnh
Lã đời nhẹ ý xanh
Tơ thơ mơ bỡ ngỡ
Vương vương lệ đầu cành…
Trong tập ”Thơ Đường phố” Hoài Nam tự nhận mình như con ngựa hoang dù đã đi gần hết cả đời người mà vẫn hoài lang thang đơn độc. Anh viết :
Anh là con ngựa hoang
Nên không có đồng cỏ
Em là con yến nhỏ
Chỉ hát trong lồng son
Ngựa hoang không biết hát
Chỉ thống hí lê thê
Một dòng đời ê chề
Nên ngôn ngữ xa anh… (hết trích).
Vậy đó, con ngựa già giờ đã khuỵu vó. Xin cuộc đời là đồng cỏ thanh bình để ông tìm về an nghỉ. Cuộc sống riêng của ông dẫu có cô đơn nhưng ông vẫn hiện diện một cách thật nồng ấm trong trái tim bạn bè và người mộ điệu…
Xin vĩnh biệt ông: Người họa sĩ tiên phong của ngành thiết kế mỹ thuật sân khấu cải lương miền Nam và đã cống hiến trọn vẹn – suốt đời cho đam mê nghệ thuật này.
Hà Đình Nguyên
Một số tranh của họa sĩ Tô Hoài Nam:

Cúc trắng

Cúc và nho

Cúc và táo

Đường hoa

Cuối xuân

Mùa hè

Cuối hè

Cuối thu

Lập đông

Giữa mùa đông

Nắng chiều trên đồng vàng

Bóng núi

Núi

Sườn núi

Xa lộ qua núi

Vô biên

Xưa và nay
Tâm sự của một người yêu Sài Gòn đến bất chấp
Tâm sự của một người yêu Sài Gòn đến bất chấp
“Vọng Sài Gòn” là một tâm sự ngút lòng của một người yêu Sài Gòn đến bất chấp. Nhưng Trác Thúy Miêu đâu chỉ yêu, mà muốn kêu gọi tình yêu ấy từ những người trẻ.
Trác Thúy Miêu (tên thật Vũ Hoài Phương) vốn được biết đến như một người có tính cách độc đáo. Cô không chỉ là nhà báo với ngòi bút sắc sảo, một MC có phong cách đặc trưng không lẫn vào đâu, mà còn là một thị dân yêu nồng nhiệt, yêu dữ dội đến bất chấp thành phố mình đang sinh sống. Tình yêu cuồng nhiệt ấy đã được cô gửi gắm vào trong tập tản văn vừa mới xuất bản Vọng Sài Gòn, như là một cách giữ gìn ký ức cho bản thân và những người đồng điệu.

Vọng Sài Gòn (sách do NXB Hội Nhà văn và Công ty Văn hóa & Truyền thông Nhã Nam liên kết xuất bản và phát hành) là đứa con đầu lòng của Trác Thúy Miêu. Cuốn sách tập hợp nhiều bài viết trong nhiều năm về miền đất mà cô đã gắn bó suốt hơn 40 năm.
Với Vọng Sài Gòn, Trác Thúy Miêu muốn cho thấy đằng sau sự hào nhoáng của giải trí truyền hình là một Trác Thúy Miêu với sứ mệnh của người cầm bút. Và ở trong địa hạt này, cô tiếp tục sự bền bỉ của mình trong việc gìn giữ Sài Gòn (cô đã làm việc này trong nhiều hoạt động khác nhau) theo cách rất riêng, như cách cô định tính cho Sài Gòn từ chính nhân xưng của nó. Mỗi miền đất hay mỗi con người, nếu mà thuộc tính đặc thù quá đặc biệt thì danh từ gọi miền đất hay con người ấy một ngày nào đó sẽ trở thành tính từ. Sài Gòn có những thuộc tính đủ để gọi một ai đó, một hành xử nào đó, một văn hóa sống “rất Sài Gòn”.
Cái riêng của Trác Thúy Miêu trong Vọng Sài Gòn còn là sự đột phá trong phong cách thể hiện, sự táo bạo trong các ý tưởng, sự ngồn ngộn của chữ nghĩa… Chẳng phải ngẫu nhiên mà trong chia sẻ về tập tản văn này (in cuối cuốn sách), MC, diễn viên Liêu Hà Trinh đưa ra nhận xét: “Nếu bạn đang tìm một nàng thơ áo trắng, đạp xe tới Dinh Độc lập trên con đường Trưng Vương đầy lá me, hay những hợp xướng ngợi ca cho sức sống trai trẻ tráng kiến của 300 năm thành phố, rất tiếc phải nói bạn tìm nhầm chỗ.

Miêu ví Sài Gòn như một ả đàn bà vừa hồn nhiên vừa giảo hoạt. Phép so sánh đó có phần phiến diện đó hy vọng không làm người đọc khó chịu. Bản thân tác giả cũng đóng vai xuất sắc vào thân phận đào hoa của một ả mỹ nhân “dễ bỏ khó quên” với những dẫn chứng hùng hồn chắc nịch khiến người ta khó nghĩ khác”.
Là một người có óc quan sát, trí nhớ đặc biệt tốt, Trác Thúy Miêu đã dùng ký ức của mình để chụp lại những hình ảnh đắt giá về Sài Gòn. Ở đó, cô đưa người đọc về những kỷ niệm và tâm thức Sài Gòn kiểu cũ, Sài Gòn tập làm quen với một giai kỳ mới trong thập niên 1980 với cái sức sống vừa trẻ trung, vừa hoài cổ, Sài Gòn trong vô số những cuộc đại phẫu, tiểu phẫu dọc ngang trong một vài thập niên trở lại đây, hay Sài Gòn hiện tại, một thành phố năng động đang chuyển mình, phát triển từng ngày…
Có rất nhiều thứ được Trác Thúy Miêu mô tả trong Vọng Sài Gòn, bằng một thứ ngôn ngữ trau chuốt, đôi khi cường điệu nhưng rất hợp lý. Đó là những đường nét bút vẽ tranh truyện của 02 họa sĩ Văn Minh và Đức Lâm trên báo Khăn Quàng Đỏ trong những năm 1980; sự kết thúc thói quen đọc truyện diễm tình của chị em phụ nữ bình dân có từ thập niên 1960 khi video phim bộ và truyền hình nội hóa xuất hiện; mùi hương mang đặc tính của Sài Gòn và loại nước hoa Oriental mang phong vị phương Đông từ thập niên 1920, ảnh hưởng đối với Sài Gòn đến mãi về sau này.

Đó là một thành phố khi không còn mang tên Sài Gòn; những cư dân xuất hiện ở thành phố qua quan sát của Trác Thúy Miêu ở tuổi mới lớn, đầu thập niên 1990 mà cô gọi nôm na “Kỷ phục sinh – đánh dấu thời kỳ Việt Nam bắt đầu hé vào cuộc mở cửa khá tưng bừng, sau hơn một thập niên khóa kín”; cuộc hồi hương của những cựu thị dân đã nghiễm nhiên trở thành những kiều bào yêu nước, là màn khai sinh ổ ạt của những huyền thoại thời vụ như taxi vàng, điện thoại công cộng; sự tàn lụi của sân khấu cải lương; món nghêu phô mai đốt lò; tính hay chuyện của dân Sài Gòn…
Đó là câu chuyện nền văn minh mì Tàu Chợ Lớn, nghiệp vận của Thiên Hương, huyền thoại Miliket, Vị Hương giấy kraft; những gánh nhạc rong góp phần lưu truyền dòng nhạc đặc thù của Sài Gòn – dòng nhạc vàng, hay bolero; giọng đàn tình tứ vô ngôn của ghi ta vô thường; chiếc áo dài Sài Gòn đúng kiểu, mang nét bản địa đặc thù của Sài Gòn, đôi tà áo đặc biệt một thời đã làm nên cốt cách xứ ngọc Viễn Đông…
Đó là từ kịch nói đến phim trường, phòng trà đến vũ trường, kỷ niệm 30/4 cho đến lễ Giáng sinh; thương xá Tax bị phá bỏ đến hàng cây đường Tôn Đức Thắng bị đốn gục… Cứ thế, theo dòng cảm xúc với những ký ức vọng về, Trác Thúy Miêu kể tỉ mỉ về những điều mình quan sát thấy, những cảm nhận hết sức tinh tế về Sài Gòn như một kẻ si tình.
Có thể nói, Vọng Sài Gòn là một tâm sự ngút lòng của một người yêu Sài Gòn đến bất chấp. Nhưng Trác Thúy Miêu đâu chỉ yêu, mà muốn kêu gọi tình yêu ấy từ những người trẻ, như người đi truyền giáo, đạo của người yêu Sài Gòn. Cô nhắn họ hãy “Yêu thương mê đắm và hồn nhiên. Yêu không cầu hơn thua cao thấp, yêu bất luận xuất xứ nhân thân. Yêu khỏi ai hô hào thi đua phấn đấu”.
Chuyện về nhà văn Sơn Nam và nhà thơ Nguyễn Bính
Chuyện về nhà văn Sơn Nam và nhà thơ Nguyễn Bính
VHSG– Những năm sáu mươi của thế kỷ 20, do làm cùng một ban của cơ quan báo chí nọ nên tôi có quen anh, sau đó chúng tôi thành thân nhau, và khi biết anh hơn tôi mấy tuổi, tôi nói với anh xin kết nghĩa anh em. Anh bằng lòng ngay. Rồi một hôm, nhân tôi tìm được một cuốn truyện ngắn in đã lâu, tác giả là nhà văn Sơn Nam, tôi đọc một mạch, sau một ngày hết veo hơn ba trăm trang.

Cũng bởi biết tôi đọc cuốn sách của tác giả Sơn Nam, anh nói nhỏ: “Để lúc nào mình kể về nhà văn Sơn Nam cho mà nghe. Tác giả ấy mình cũng rất yêu; và nữa, mình với anh ấy cũng là chỗ bạn thân như mình với cậu vậy”. Giờ, tôi xin nói vài nhời nữa về người anh mà tôi kết nghĩa: Tên anh là Huỳnh Minh Nhựt, cháu ruột của cụ Huỳnh Tấn Phát (Thủ tướng Chính phủ lâm thời của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam).
Anh Nhựt là dân miền Nam, tập kết ra Bắc. Những năm kháng Pháp, anh Nhựt công tác ở R. trong cơ quan thuộc Bộ tư lệnh miền của đồng chí Lê Duẩn. Anh Nhựt được phân công làm về báo chí. Dưới đây tôi xin được chép lại lời anh Huỳnh Minh Nhựt kể về nhà văn Sơn Nam:
“Có thể nói thế này về một đặc điểm của anh Ba Duẩn, anh rất mê đọc sách, nhất là các sách về triết học và văn học. Và nhà văn miền Nam mà anh Ba Duẩn rất quí trọng và thân tình là nhà văn Sơn Nam. Tất cả các truyện ngắn, các thể loại văn xuôi do nhà văn Sơn Nam viết thì đều chép ra một bản để dành đưa cho anh Ba Duẩn đọc.
Đấy là chưa kể đến chuyện cứ mỗi lần Sơn Nam vào thăm anh Ba Duẩn, theo nguyện vọng của anh Ba, nhà văn Sơn Nam đều đọc để anh Ba nghe. Nhà văn Sơn Nam có bản tính là bất cứ truyện ngắn hay thể loại văn xuôi nào, do mình viết ra, anh ấy đều thuộc lòng, nên cứ vậy nhà văn đọc ra để anh Ba thưởng thức.
Thế rồi, những ngày kháng chiến chống Pháp, nhà văn Sơn Nam từ R. là rừng miền Tây Nam Bộ, viết ra bao nhiêu thể loại văn xuôi và truyện ngắn, thì ông ấy đều tìm cách gửi về Sài Gòn cho một nhà xuất bản in. In xong, họ gửi ra chiến khu cho tác giả độ vài chục cuốn sách, còn đâu thì họ bán ở Sài Gòn, và bán cứ hết vèo vèo. Sách của anh ấy rất được độc giả Sài Gòn ưa chuộng.
Nhận được sách biếu, việc đầu tiên là anh ấy đến tôi, rồi vào gặp anh Ba Duẩn để tặng sách. Vậy là đêm ấy, mình chuẩn bị một chiếc măng xông ngon lành, để thắp cho anh Ba Duẩn đọc tập sách mới in của nhà văn Sơn Nam. Mỗi khi anh Ba thức đêm đọc, thì mình làm một việc là đúng 23 giờ đêm vào nhắc anh Ba giờ giấc, và báo cáo anh Ba lịch họp và làm việc ngày mai. Nhưng rất lạ nhé.

Lần nào cũng vậy, anh Ba đồng ý với sự nhắc nhở của mình, nhưng vẫn đọc, có đêm tới sáng luôn. Vậy mà, sáng hôm sau anh vẫn rất tỉnh táo vào điều khiển một cuộc họp, hay làm việc với các ban, ngành. Khi anh Ba đọc xong tập văn xuôi của Sơn Nam thì thể nào hai người sau đó cũng có một cuộc trò chuyện, mà tiếng cười hoan hỉ của họ vui râm ran.
Đến ngày cơ quan Bộ tư lệnh chuẩn bị tập kết ra Bắc, anh Ba Duẩn bảo mình đi gọi nhà văn Sơn Nam đến, và chuẩn bị mọi thủ tục để mời Sơn Nam cùng tập kết ra miền Bắc. Anh Ba nói: “Ra ngoài đó Trung ương nuôi cho nhà văn Sơn Nam sáng tác về Nam Bộ, về miền Tây Nam Bộ, để đồng bào miền Bắc có sách đọc, giàu có thêm vốn hiểu biết về miền Nam”.
Mình đi mời nhà văn Sơn Nam vào gặp anh Ba. Ấy vậy mà rồi anh Ba Duẩn nói thế nào, nhà văn Sơn Nam cũng nhất quyết không đi. Nhà văn nói tha thiết: “Anh Ba ơi, em là con cá mà miền Tây này là nước, là nước anh Ba ơi. Không lẽ anh vớt cá lên khỏi nước sao. Em ở lại mà, dẫu ở lại thì em vẫn là người của cách mạng, của anh Ba chứ”. Anh Ba Duẩn nghe thế, đành phải đồng ý và ngậm ngùi nói: “Em mà ở lại thì ta nhớ em đến chết mất”. Nhà văn Sơn Nam cũng nói: “Thế anh tưởng, em không nhớ anh sao. Anh Ba và các anh đi rồi, em chỉ ở lại đây, và em viết tiếp, rồi khi có người ra ngoài đó, em gửi truyện rồi văn xuôi của em ra biếu anh”.
Còn dưới đây là câu chuyện nữa của một anh từ chỗ nhà văn Sơn Nam toạ lạc, khi thời Diệm Thiệu, anh ấy ra miền Bắc có việc báo cáo với Trung ương, anh ấy đã kể lại như sau: Nhà văn Sơn Nam mở một ngôi trường nhỏ, rất nhỏ, chỉ có một gian rộng chừng hai chục mét vuông thôi, và dạy đâu chừng hơn một chục trẻ nhỏ. Ngoài cửa ra vào, gần sát mái lá có biển treo đề mấy chữ: “Học đường Sót Nót”. Bọn dân vệ và lính nguỵ đi càn qua chỉ nhòm thấy có trẻ con ngồi học, và lắng nghe thầy Sơn Nam giảng bài, hoặc nắn nót viết chữ trên bảng đen, để các em ở dưới cắm cúi viết vào vở học. Cán bộ ta nằm vùng ở đó, có người ngước nhìn hàng chữ: “Học đường Sót Nót” thì hỏi: “Nó là cái gì bay ơi. Là tên một loài cây ở Bời Lời rừng Cà Mâu à?” thì nhà văn Sơn Nam cười cười nói nhỏ: “Đúng, tên của loài cây như anh nói đó, và cũng là Học đường Sơn Nam…”.
Người kia gật gù có vẻ khoái trí, nhưng vẫn thắc mắc nói: “Sao không viết thẳng ra, mà còn vòng vo Sót Nót# (#Sót Nót: gốc chữ của tiếng Anh South và North nghĩa Nam Bắc. Đây là nhà văn Sơn Nam viết theo đúng với giọng nói nông thôn của người miền Tây Nam Bộ)”. Nhà văn Sơn Nam mới ghé sát tai người kia tiếp, nhỏ giọng: “Nó nghĩa là Nam Bắc là một. Hiểu rồi chứ?”. Người kia khoái trí quá vỗ tay ran và tiếp: “Biết ngay mà, ông vốn là người thâm thúy và luôn thích đùa. Nhớ anh Ba Duẩn nhiều hở?”. “Nhớ lắm!”, Sơn Nam nói.
Anh Huỳnh Minh Nhựt kể tiếp: “Có một nhà thơ nữa mà anh Ba Duẩn vô cùng yêu thích thơ của anh ấy, đó là nhà thơ Nguyễn Bính. Chính anh Ba Duẩn bảo mình nhiều lần là phải thuyết phục bằng được nhà thơ Nguyễn Bính nhận lời đi tập kết. Hồi ở R. anh Ba Duẩn cứ hôm nào thưa việc, lại bảo mình đưa Nguyễn Bính vào chơi với anh Ba, đọc thơ cho anh ấy nghe.
Anh Ba Duẩn có nói: “Đọc thơ của Nguyễn Bính càng thêm yêu cái làng quê của đồng bằng sông Hồng”. Khi anh Ba Duẩn biết nhà thơ Nguyễn Bính phổ thơ toàn bộ Bộ kinh của đạo Hoà Hảo của ông giáo trưởng Huỳnh Phú Sổ thì tấm tắc khen mãi. Anh Ba Duẩn bảo với mình rằng cách nay, năm ngoái anh đã đọc toàn bộ kinh của đạo Hoà Hảo, và thấy kỳ lạ là sao lại có thể giống giọng thơ của miền Bắc đến thế, thì hoá ra là như vậy.
Cái hôm nhà thơ Nguyễn Bính vào trò chuyện với anh Ba Duẩn, anh Ba hỏi nhà thơ Nguyễn Bính về chuyện đã phổ thơ vào Bộ kinh của đạo Hoà Hảo, nghe xong nhà thơ nhận ngay, và hỏi anh Ba: “Anh Ba có muốn nghe lại toàn bộ kinh của đạo Hoà Hảo mà em phổ thành thơ không?” Anh Ba Duẩn đáp ngay: “Có có! Bính đọc đi”. Nhà thơ Nguyễn Bính tiếp: “Bộ kinh đạo Hoà Hảo em phổ thành thơ, ông giáo trưởng Huỳnh Phú Sổ rất mê. Bộ kinh có 3.202 câu thôi mà, em đọc nhé”.
Vậy là nhà thơ Nguyễn Bính cứ thế tuôn ra như suối chảy. Đến lúc nhà thơ Nguyễn Bính tạm ngừng nghỉ, để nhấp chén trà cho trong giọng, thì anh Ba Duẩn thong thả: “Em phổ thơ rất hay và có ý nghĩa lắm. Chúng ta, những người làm cách mạng vì dân tộc, vì đất nước, thì càng phải am hiểu một cách sâu sắc những câu kinh của đạo như thế này. Đây cũng chính là tâm ý, là nguyện vọng tha thiết của một bộ phận nhân dân mình đấy chứ. Nào, em đọc tiếp đi”.
Anh Ba Duẩn sửa lại tư thế ngồi, và trang trọng nghe nhà thơ Nguyễn Bính đọc ngân nga cho đến câu kinh thứ 3.202, là toàn bộ Bộ kinh của đạo Hoà Hảo.
BÙI BÌNH THI
Theo ANTGCT
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh (Tự Lực Văn Đoàn) vừa qua đời
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh… nhân vật cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn vừa qua đời
Nhà văn Nguyễn Thị Vinh… nhân vật cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn vừa qua đời ngày 8/1/2020 tại Na Uy, hưởng thọ 97 tuổi…
Hồi nhỏ, Hà Đình Nguyên đã từng được đọc (học) văn của bà từ những bài trích đăng tác phẩm “Hai chị em”, “Thương yêu” trong sách giáo khoa… Càng ngưỡng mộ bà hơn khi biết bà (và cô con gái 15 tuổi) đã thức trắng đêm bên thi thể nhà văn Nhất Linh tại nhà xác Nhà thương Grall trong đêm 7/7/1963…

Nguyễn Thị Vinh và con gái Trương Kim Anh chụp ở Hà Nội 1950.
Tìm những tư liệu về bà, thấy ngày xưa bà là một phụ nữ hết sức xinh đẹp và tài năng, văn của bà ấm áp, thương yêu…
Xin trích đăng đôi dòng về thân thế của bà gắn liền với Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn.
Bà Nguyễn Thị Vinh, 1 trong ba thành viên cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn.
Năm 1933 Tự Lực Văn Đoàn chính thức thành lập gồm có: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ) về sau thêm Xuân Diệu, Trần Tiêu, và còn một số nhà văn cộng tác chặt chẽ với văn đoàn này là: Trọng Lang, Huy Cận, Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ… Bà Nguyễn Thị Vinh là 1 trong ba thành viên cuối cùng của Tự Lực Văn Đoàn.
Bà Nguyễn Thị Vinh sinh năm 1924 tại Hà Nội. Quê nội: làng Thịnh Đức thượng Hà Đông. Quê ngoại: làng Vân Hoàng, Hà Đông. Đã xuất bản nhiều tác phẩm tiêu biểu, gồm truyện ngắn, truyện dài, thơ và tùy bút…
Trước năm 1975 bà giữ chức Chủ bút và Chủ nhiệm 2 tạp chí văn nghệ: Tân Phong và Đông Phương. Bà cũng là thành viên của Hội đồng Giám khảo Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc VNCH. Sau 1975, bà sống tại Na Uy và tiếp tục hoạt động văn học trong vai trò Chủ nhiệm tạp chí văn nghệ Hương Xa. Và là thành viên trong nhóm chủ biên nhà xuất bản Anh Em.
Sau đây là phần nói chuyện của Mặc Lâm (Đài RFA) với bà:
Mặc Lâm: Thưa bà, xin bà cho biết cơ duyên nào đưa tới việc bà gia nhập Tự Lực Văn Đoàn?
Bà Nguyễn Thị Vinh: Ba thành viên lớp sau (hay đúng hơn, phải gọi là ba thành viên dự bị) của Tự lực Văn đoàn, gồm nhà văn Duy Lam (cháu gọi Nhất Linh bằng cậu ruột), nhà văn Tường Hùng và tôi đều do nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam lựa chọn, tại Sài Gòn vào khoảng đầu thập niên 1950.
Văn bản với bút tích của nhà văn Nhất Linh hiện do tác giả Nguyễn Tường Thiết, con trai út của nhà văn Nhất Linh lưu giữ. Trước đó, trong một bài thơ mang tên Tự Lực, Nhất Linh viết vào lúc 2 giờ sáng Mùng Một Tết năm Quý Tỵ (nhằm ngày 14 tháng 2 năm 1953), ông đã ghi:
Tự Lực vườn văn mới trội tên
Bỗng dưng thời thế đảo huyên thiên
Thương dăm lá cũ vừa rơi xuống
Mừng mấy mầm tươi vụt nhú lên
Mạch cũ, nhựa non rồn rập chảy
Vườn xưa, hoa mới điểm tô thêm
Người qua, sách mọt, đời thay đổi
Tự Lực, danh chung, tiếng vẫn truyền.
Mặc Lâm: Xin cho biết về tác phẩm đầu tay của bà cũng như tác phẩm mới đây nhất.
Bà Nguyễn Thị Vinh: Hai Chị Em, Truyện ngắn, NXB Phượng Giang, Việt Nam Sài Gòn 1953. Cỏ Bồng Lìa Gốc, Tùy bút /Tâm cảm, NXB Anh Em, Hoa Kỳ San José 2005.
Mặc Lâm: Tự Lực Văn Đoàn đã được lịch sử xác nhận là một tổ chức có ảnh hưởng rất lớn đối với thanh niên và trí thức trong một khoảng thời gian dài. Xin bà cho biết chi tiết hơn về vấn đề này.
Bà Nguyễn Thị Vinh: Tự lực Văn đoàn gây ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài đối với đa số thanh niên nam, nữ thị dân theo Tây học và Chữ Quốc Ngữ, từ Bắc tới Nam, về các mặt tư tưởng, văn hóa, xã hội…
a/ Trước hết phải kể tới Tinh thần Tự lực từ cá nhân, gia đình cho tới xã hội. Không có Tinh thần Tự lực thì quốc gia không thể giành được nền độc lập toàn vẹn, đúng nghĩa.
Tự lực Văn đoàn gây ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài đối với đa số thanh niên nam, nữ thị dân theo Tây học và Chữ Quốc Ngữ, từ Bắc tới Nam, về các mặt tư tưởng, văn hóa, xã hội…
b/ Giữ gìn truyền thống mỹ tục. Đả phá mọi hủ tục.
c/ Nêu cao tinh thần Khoa học Thực nghiệm. Bài trừ thói mê tín dị đoan.
d/ Chống nạn mù chữ. Phổ biến và nghệ thuật hóa việc dùng Chữ Quốc Ngữ.
e/ Hướng đến một cuộc cách mạng, tạm gọi là “Cách mạng Tư sản”, trên nền tảng Chủ nghĩa Tam Dân: “Dân tộc Độc lập, Dân quyền Tự do, Dân sinh Hạnh Phúc.”
Cho nên từ “ngôi nhà ánh sáng”, tới chiếc “áo dài LeMur”, “thơ Mới”, “tiểu thuyết luận đề”, “đảng Hưng Việt”, đến báo chí “Phong Hóa”, “Ngày Nay” và “Văn Hóa Ngày Nay”… Tranh khôi hài “Lý Toét, Xã Xệ”… đã làm nên tính cách Tự lực Văn đoàn, một văn đoàn vì Quốc gia Dân tộc.
Mặc Lâm: Những thành viên cuối cùng hiện còn sống ngày nay gồm những ai, có ai trong số họ vẫn còn theo đuổi văn chương nghệ thuật không?
Bà Nguyễn Thị Vinh: Hai nhà văn Duy Lam và Tường Hùng vẫn sáng tác, sinh hoạt văn nghệ. Phần tôi, hoạt động văn nghệ không nhân danh Tự lực Văn đoàn. Vì tự nghĩ: Tự lực Văn đoàn đã làm xong nhiệm vụ lịch sử kể từ sau sự tuẫn tiết của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.
(hết trích)
Đoạn dưới đây trích trong “Văn học miền Nam 53-75” của Nguyễn Văn Lục, phần “Nguyễn Thị Vinh”:
Trường hợp Nguyễn Thị Vinh. Bà Vinh đã từng sống bên cạnh Nhất Linh, khi ở bên Tàu — với tư cách là đồng chí, bạn văn ,người tình– hay là tất cả những thứ cộng lại?(*)
Khoảng thập niên 60, nhà văn Thế Phong – đã mượn một số chi tiết trong đời sống riêng tư của nữ văn sĩ Nguyễn Thị Vinh, viết thành “Truyện người của tình phụ“. Ban đầu in rô-nê-ô (Đại Nam Văn Hiến xuất bản cục, 1963) — sau cho đăng [dở dang] trên tập san Biệt chính/ Trung tâm huấn luyện Xây dựng nông thôn Vũng Tàu. (PAT). Năm 1964, nhà xuất bản Đại Nam Văn Hiến in thành sách (bìa/ảnh của Nguyễn Cao Đàm. Sau 1975, nxb Đồng Nai (miền Nam) cấp phép tái bản, in chung trong ‘Cô gái Nghĩa Lộ’. (Bt)
Riêng Nguyễn Thị Vinh, trong trường hợp nào bà quen biết, [rồi] trở thành người của nhóm TLVĐ? Tôi [Nguyễn Văn Lục] chưa liên lạc trực tiếp được với bà Nguyễn Thị Vinh để hiểu rõ vấn đề này.
Nhưng chỉ biết 2 chị em Nguyễn Thị Vinh có mở một tiệm sách ở Hà Nội. Sau này bà Nguyễn Thị Vinh lấy Trương Bảo Sơn (một đảng viên VNQDĐ, còn là một dịch giả có tiếng).
Phải chăng, vì mối liên hệ đảng phái, Nguyễn Thị Vinh có nhiều dịp gần gũi với Nhất Linh? Nhất là, khi trôi giạt sang Tàu, Trương Bảo Sơn và vợ, [họa sĩ] Nguyễn Gia Trí và Nguyễn Tường Tam-Nhất Linh sống chung một nhà.
Nhưng mãi đến 1948, bà Nguyễn Thị Vinh, (cùng con gái 3 tuổi, [Trương Thị Kim Anh [1946 – ] từ Hà Nội sang sống với chồng, Trương Bảo Sơn. Có thể từ 1948, bà Nguyễn Thị Vinh mới được quen biết Nhất Linh? Cùng trong thời gian này, Nhất Linh đã khuyến khích Nguyễn Thị Vinh viết cuốn ‘Thương yêu’ và bà Linh Bảo [Võ Thị Diệu Viên 1926 – ] viết cuốn ‘Gió bấc’.
[Và cũng] có thể, có một mối tình tay 3, tay 4 không? Tôi [Nguyễn Văn Lục] tin là có — khi nhìn lại hình ảnh Nhất Linh ôm, ẵm, cưng chiều con gái Nguyễn Thị Vinh là Trương Kim Anh. …
Sau này, đọc hồi ký Nguyễn Thị Thế (em gái Nhất Linh, mẹ Duy Lam +Thế Uyên) có đoạn kể về Trương Kim Anh,
“Khi tôi giở chăn ra để được ngó mặt anh tôi, [thì] có cái sáo rơi xuống. Tôi lấy làm lạ, hỏi cháu Thoa, [thì] nó cho biết, có cô con gái nuôi của cậu cháu (Trương Kim Anh) tối qua đem sáo vào nhà xác, thổi suốt đêm cho [cậu cháu] nghe. Thổi xong, nó tặng luôn chiếc sáo; và, nói từ nay nó sẽ không còn thổi sáo cho ai nghe nữa đâu …” (trích’ Sđd – tr. 159).

Trương Kim Anh 15 tuổi, ảnh Mạnh Đan
Trong bài ‘Tưởng nhớ về Nhất Linh”, Trương Kim Anh viết,
“Sau một lúc, mẹ tôi bảo tôi lấy sáo trúc ra thổi một bản tiễn bác. Tôi gạt nước mắt, đưa ống sáo ngang miệng, chọn bản ‘Thiên Thai’ — bản mà bác thường bảo tôi thổi, mỗi lần bác đến nhà chúng tôi. Tiếng sáo u uẩn vang trong khu nhà xác, lạnh lẽo. Nhưng chỉ được nửa bản, tiếng sáo ngưng trong tiếng nấc nghẹn ngào, âm thanh như đọng lại trong không gian, tiễn đưa hương linh bác về nơi vĩnh cửu…” (trích Sđd).

Từ bức ảnh của Mạnh Đan chụp Kim Anh thổi sáo, nhà văn Nhất Linh đã vẽ bức tranh “Ngồi thổi sáo dưới gốc thông” ký tặng Kim Anh.
Trong mục ‘Lan hàm tiếu’, dành cho các thiếu nhi trên nguyệt san Văn hóa ngày nay, Nhất Linh đã không quên, cả người đọc cũng khó bỏ qua bóng dáng Nguyễn Thị Vinh, qua Trương Kim Anh. [Khi ấy] Trương Kim Anh 12 tuổi đã tập tành viết tác phẩm đầu tay ‘Ở vậy’, dưới sự hướng dẫn của ‘bác’ Nhất Linh.
Người ở lại sau cùng trong đêm cuối cùng, trước khi Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam đi vào lòng đất, là bà Nguyễn Thị Vinh và cô con gái Trương Kim Anh.
Và, trước khi tuẫn tiết… người được Nhất Linh đến gặp lần cuối cùng [vẫn] là bà Nguyễn Thị Vinh. — Trương Kim Anh kể,
“… Mãi sau này tôi mới biết chuyện quan trọng đó là, ‘bác [Nguyễn Tường] Tam nhận được trát đòi ra hầu tòa, cùng với một bạn chiến đấu của bác, trong đó có ba tôi, “ông Trương bảo Sơn…”. Tôi hơi ngạc nhiên về chú thích để trong ‘ngoặc kép’; [thì] khoảng một tiếng sau, từ trên cửa sổ nhà Thủy nhìn xuống nhà mình; tôi thấy bác Tam đang từ giã mẹ tôi …”
Đây là một ‘cử chỉ chỉ có [ở] người trong cuộc’ (chữ nghiêng: Bt), trong giờ phút giữa sống chết, bên bờ tử sinh, mới thấm thía hết được ý nghĩa cuộc gặp gỡ định mệnh này.
Cô Trương Kim Anh (con nuôi Nhất Linh) sau này lấy [thẩm phán quân sự] – nhà văn Dương Kiền. Theo các con, cháu của Nhất Linh; Duy Lam cho rằng nhiều phần Nhất Linh và Nguyễn Thị Vinh phải có cái gì với nhau. (chữ nghiêng: Bt). Nhưng nó cụ thể như thế nào thì không ai dám chắc? Nhưng, trong cách thức của bà Nguyễn Thị Vinh, khi nói về Nhất Linh; thì bà thường làm ra cái vẻ là người tình của Nhất Linh (chữ nghiêng: Bt) — hay là [bà Vinh] đóng kịch như thể,
[để] gây cho mọi người có cảm tưởng là giữa bà và Nhất Linh hẳn phải có một mối dây liên lạc mật thiết.
Nhưng hay nhất, vẫn là để Nguyễn Thị Vinh tỏ bày,
“Đời tôi từ bấy lâu nay, thời gian đi già nửa thế kỷ, đã từng ở những nơi nhà cao cửa rộng, đầy đủ tiện nghi; mà, sao tôi vẫn không thể quên được túp lều (trên núi) của chúng tôi. Chao ôi, mỗi khi tắm, tôi chưa thấy có một vòi hoa sen nước nào có thể so sánh được với dòng suối ngày ấy. Tôi biết kể sao cho hết nỗi vui thích của tôi mỗi khi ra suối tắm.”
(trích Sđd- tr. 85- 86).
Khó quên là phải, làm sao quên được! Cá tính bà Nguyễn Thị Vinh, theo nhiều nhận xét của vài người quen biết bà trước đây; hoặc là, người trong gia đình Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam cho biết, [thì bà Nguyễn thị Vinh] là một người đàn bà đa tình và vô cùng lãng mạn (chữ nghiêng: Bt) — gần như không có một biên giới nào.
Chuyện Trương Bảo Sơn và Nguyễn Thị Vinh chia tay, thì cũng là chuyện đành phải như vậy. Sau khi Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam tự tử vào ngày 7-7- 1963 — bà Nguyễn thị Vinh vẫn thường [một mình] đi xe lam lên thăm mộ Nhất Linh ở Nghĩa trang Bắc việt ở Hạnh Thông Tây (quận Gò Vấp). — gần mộ nhà văn nổi tiếng miền Nam Hồ Biểu Chánh. Bà Nguyễn Thị Vinh thăm viếng mộ Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam, là đốt 4 điếu thuốc lá Bastos xanh, cắm vào 4 góc mộ, rồi mở 2 chai la-de 33, tưới lên phần mộ để tưởng nhớ Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam. …
[Rồi, họa sĩ trẻ tuổi Động Đình Hồ, tên thật là] Nguyễn hữu Nhật [1942- 201x) đã gặp bà Nguyễn Thị Vinh tại nhà nữ sĩ Tuệ Mai [Trần Thị Gia Minh, con cụ Á Nam-Trần Tuấn Khải].

[Có] một hôm, Nguyễn Hữu Nhật hẹn với bà Nguyễn Thị Vinh đi thăm mộ Nhất Linh (dù Nhật đã hứa hôn với một nữ sinh viên trường Luật, tên Bình [cháu họ thi sĩ Vũ hoàng Chương]). Vài tuần sau, 2 người đã kết thành đôi lứa, ông Nguyễn Hữu Nhật chính thức làm chồng bà Nguyễn Thị Vinh [1924- ].
Mối nhân duyên này đúng là duyên kỳ ngộ — và như có sự chứng giám của một người đã chết [Nguyễn Tường Tam-Nhất Linh].
Sự hiện diện của [nữ văn sĩ] Nguyễn Thị Vinh trong TLVĐ, hay là trong đời sống Nhất Linh-[Nguyễn tường Tam] chỉ là một. (chữ nghiêng).
(hết trích)
Đọc đoạn (trích) cuối, tôi (Hà Đình Nguyên) không hiểu có chuyện bà Nguyễn Thị Vinh (sinh năm 1924) lại lấy anh họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật (sinh 1942) làm chồng như ông Nguyễn Văn Lục đã viết không?
Những Nẻo Đường Du Xuân
Những Nẻo Đường Du Xuân – Năm Giáp Ngọ 2014

Ngày đầu năm dương lịch (New Year 2014) vừa bước qua, chúng tôi bắt đầu chuẩn bị cho chuyến đi về thăm quê hương vào dịp Tết Giáp Ngọ 2014. Gia đình chúng tôi đã mua vé trước cả tháng, giá vé máy bay về VN vào dịp Tết hơi đắt, mỗi người phải trả 1,400 dollars (round trip) giá vé này bao gồm 5 năm Visa vào VN. Chuyến đi lần này gồm có vợ chồng tôi và cô con gái lớn Kim Khánh, ngoài ra còn có thêm hai cô em gái của tôi cùng về VN ăn Tết.
Hai vợ chồng đã bàn thảo về hành lý mang theo, cũng như qùa cáp sẽ mua những gì để làm quà vào dịp tết, lúc đầu chúng tôi định mang theo hành lý cho gọn nhẹ, bởi vì chuyến đi này, chúng tôi sẽ đi theo Tour từ miền Nam ra miền Bắc, tour du lịch này chúng tôi đã (book) trước, sẽ đi gần như hết chiều dài của bờ biển VN, do đó hành lý cần phải gọn nhẹ, nhưng cuối cùng vẫn cồng kềnh, bao gồm hai vali lớn, và hai thùng giấy carton cở lớn, do tôi đóng gói, có làm thêm hai quai sách để dễ khiêng. Tôi đã cân đo hành lý trước khi đóng gói, cho đúng tiêu chuẩn quy định là 50 lb (khoảng 25 ký) cho một thùng hàng ký gửi. Mọi việc diễn tiến theo đúng trình tự của nó, rồi cũng đến ngày khởi hành ra phi trường San Fracisco, con trai tôi cháu Khoa và Jose, người bạn của cháu Kim, đã chuẩn bị hai xe van, đủ chỗ chở hành lý và mọi ngườn đến San Francisco air port. Trong lòng tôi tràn đầy một cảm giác, vừa (Exciting) phấn kích, vừa (nervous) bồn chồn, bởi vì đối với tôi đây là lần đầu tiên, sau 21 năm xa quê hương, trở về thăm lại VN, một thời gian quá dài, chắc chắn đã làm thay đổi rất nhiều, về cảnh vật và cả con người, dĩ nhiên tôi sẽ ngỡ ngàng và mất phương hướng khi đến Sài Gòn, rất khó để nhận ra nơi chốn cũ, riêng tâm trạng của con gái tôi thì không cần bàn đến, bởi vì cháu sẽ như một người Mỹ lần đầu tiên đến thăm vùng đất xa lạ VN. Mải suy nghĩ miên man, thì xe đã chạy vào cổng phi trường, cháu Khoa cho xe dừng lại ngay tấm bảng Eva airline, mọi người đem hành lý xuống và chất lên chiếc xe đẩy của phi trường. Chúng tôi xếp hàng theo đoàn người đến trước để chờ (check in) và gửi hành lý, nhờ chuẩn bị trước nên hành lý của chúng tôi đều đúng theo tiêu chuẩn quy định, sau khi nhận vé máy bay, chúng tôi mỗi người còn lại một vali nhỏ (carry on) lên máy bay, riêng tôi đeo một pack fact (kiểu như tây ba lô) vả đeo thêm một túi đựng máy hình Canon và máy quay phim (Sony full HD 1080P) loại nhỏ cầm theo trên tay rất gọn, trong suốt hành trình từ nam ra bắc, tôi đã xử dụng máy quay phim này để ghi lại những hình ảnh rất đẹp. Chúng tôi đi qua cổng an ninh phi trường, tất cả hành lý và con người đều phải đi qua máy scan, một chút phiền toái bắt buộc cho sự an toàn. Tôi quay người nhìn lại, và vẫy tay chào cháu Khoa, trong lúc cháu cũng đang vẫy tay chào chúng tôi. Đoàn người chúng tôi đi về phía phòng đợi, bây giời là 10:30 tối, sẽ còn hơn một giời nửa để ngồi chờ, tại nơi này có nhiều gian hàng bán đủ thứ, nếu mua sắm trong khu vực này sẽ được miển thuế, và mang lên máy bay thoải mái, cũng có một vài hành khách mua sắm thêm vào giờ chót.
Mọi người lần lượt lên máy bay, tiếp viên phi hành đa số là những cô gái rất trẻ đẹp người Đài Loan, họ rất nhã nhặn và lịch thiệp, có vài cô nói tiếng Việt rất thông thạo, có lẽ hãng Eva đã tuyển thêm nhân viên biết nói tiếng Việt để dễ giao dịch, vì họ thấy hành khách Việt nam rất đông. Sau khi đã ổn định chỗ ngồi, nhân viên phi hành hướng dẫn quy định trên phi cơ, bằng 3 ngôn ngữ, English, China và Việt Nam. Máy bay từ từ tiến ra phi đạo, và tăng tốc độ cất cánh rất êm, bỏ lại phía sau thành phố San Francisco lộng lẫy với ánh đèn ban đêm, một thành phố nổi tiếng nằm trên bờ Tây của vùng biển Thái Bình Dương. Máy bay đã bình phi trên một cao độ nhất định, tôi nhìn trên màn hình TV nhỏ, gắn trên lưng ghế phía trước mặt của mỗi người, đường bay đang hiển thị, cho chúng ta biết đầy đủ chi tiết của chuyến bay, như một Pilot đang điều kiển máy bay, hành khách có thể theo dõi, độ cao, tốc độ bay, hướng bay, vị trí, và thời tiết bên ngoài, cùng với giờ hiện tại và giờ dự trù đên nơi. Trong thời gian này các cô tiếp viên đang phục vụ bữa ăn đầu tiên trên máy bay, thường là thực đơn có hai loại cho quý khách lựa trọn, ví dụ như thịt gà hay thịt heo, nước trà hay cà phê, nước ngọt hay nước lọc. mỗi phần ăn đựng trong một cái khay nhựa, trên đó bao gồm đủ thứ rất tiện dụng.
Mọi hoạt động vẫn diễn tiến theo tuần tự trên máy bay, riêng tôi vẩn tó mò theo dõi về hành trình chuyến bay, con tầu đang lao về phía trước với một tốc độ chóng mặt 875 km/h, nhiệt độ bên ngoài là -56 độ C, với nhiệt độ này nếu ta đổ một ly nước ra ngoài, cả ly nước sẽ đóng đá ngay lật tức. Trên màn hình tôi thấy hiển thị một đường bay vòng theo hướng bắc cực, từ SF bay dọc theo bờ biển về hướng Seattle, Canada, vùng biển Alaska, bay dọc theo bờ biển nước Nga, đến Trung Hoa, đến nước Nhật rồi mới đến Taiwan, mặc dù là đường bay vòng nhưng con tầu vẫn nằm trên vùng bay quốc tế và trên bờ của Thái bình dương. Tôi cũng hơi thắc mắc, tại sao không bay thẳng từ SF ngang qua biển đông đến Taipei có phải là gần hơn không. Tôi tự trả lời có lẽ đây là quy định theo đường bay quôc tế, có thể đây là một giải pháp an toàn cho máy bay, bay theo đường viền của thềm lục địa, vì khi máy bay bị trục trặc, có thể đáp khẩn cấp tại một phi trường nào đó gần bờ nhất, đây cũng là suy nghĩ vớ vẩn của tôi mà thôi.
Hành trình của chuyến bay dài 14 tiếng, từ vùng tối của nửa vòng trái đất này, bay đến vùng sáng của nửa vòng trái đất bên kia nước Mỹ, tôi xem lại hành trình của chuyến bay trở về Mỹ, mới thấy được sự khác biệt lý thú này, Từ VN máy bay khởi hành lúc 12:30 pm (trưa ngày 18 tháng 2, 2014) xuống phi trường Taipei chuyển tiếp máy bay từ Taipie về đến phi trường San Farncisco lúc 2:50 pm (trưa ngày 18 tháng 2, 2014) Như vậy tính ra cùng trong một ngày 18 tháng 2, 2014, thời gian bay chỉ có 2 tiếng 10 phút là đến nơi, nhanh gấp trăm lần một phản lực cơ tối tân nhất thế giới. khi đi là ngày 18, về đến nơi cũng là ngày 18, tuy cùng một ngày, nhưng thật ra là hai ngày khác nhau của hai múi giờ, khác nhau trên trái đất, bởi vì chúng tôi đã có một hành trình đi ngược lại thời gian trong vòng 14 tiếng.
Tôi bắt đầu cảm thấy buồn ngủ, tôi nhắm mắt lại và cố gắng chập chờn trong giấc ngủ, nghẹo đầu nghẹo cổ, hết gật bên này lại gật bên kia, đôi lúc muốn duỗi thẳng đôi chân cho thoải mái một tí, thì bị kẹt cứng bởi hàng ghế phía trước, tôi cố tìm giấc ngủ một lúc nhưng không tài nào được, vậy mà tôi đã nghe, có người đã cất tiếng ngáy khò khò, có tiếng ngáy như đang kéo một hơi thuốc lào, một vài tiếng ho của các vị bô lão, thỉnh thoảng lại có người hơi khó chịu, vì phải đứng lên cho người ngồi bên trong đi tiểu, rồi lại phải đứng lên lần nữa cho họ trở về chỗ ng Tôi vẫn không ngủ được, hết xem phim lại nhìn vào màn hình theo dõi đường bay, cuối cùng trời cũng hừng sáng, ánh sáng ban mai chiếu xuyên qua khung cửa kính của thân máy bay, đem lại một ngày mới, cho những hoạt động rất quen thuộc của nhân viên phi hành đoàn, các cô tiếp viên lại bắt đầu phục vụ cho hành khách một bữa điểm tâm, với hương vị quen thuộc của một ly café sang, đã làm cho đầu óc thêm sảng khoái, với những ý nghĩ sắp về đến Sài gòn. Tiếp tục theo dõi hành trình chuyến bay trên màn hình, tôi thấy máy bay đang bay ngang qua Đại Hàn, một phần đất, có một đầu dính kết với thềm lục địa Trung Hoa, và một nửa chạy ra biển Thái bình dương, cái nửa dính liền với Trung Cộng, đang bị cai trỉ bởi bàn tay sắt máu của Cộng sản Bắc Hàn, dưới triều đại của Kim Jon Un một ông vua cộng sản, không ngồi trên ngai vàng như những vị vua của thời xa xưa, mà ngồi trên đầu trên cổ của nhân dân Bắc Hàn. Một nửa nằm trên biển thài bình dương, lại là một đất nước tự do, một Nam Hàn với nền kinh tế thịnh vượng và vững mạnh, ngang hàng với Nhât Bản.
Máy bay tiếp tục bay dọc theo chiều dài của những hòn đảo Nhật Bản, hường về Đài Loan, một đảo quốc nhỏ bé nhưng đủ sức ngăn chận sự xâm lấn của chủ nghĩa Cộng Sản. Từ cửa sổ của thân máy bay, tôi đã nhìn thấy Taiwan, trông như một củ khoai lang nhỏ bé, nằm bên ngoài cái đĩa bàn ăn thật lớn đó là Trung Cộng, đã nhiều lần Trung Quốc muốn gắp nốt củ khoai này nhưng không được, vậy mà đảng cộng sản VN sẵn sàng dân hiến quần dảo Hoàng Sa cho quan thầy Trung Cộng, để đổi lấy sự bảo vệ những chiếc ghế ngồi, của những ông trùm, trong bộ chính trị đảng cộng sản VN.
Máy bay từ từ hạ thấp độ cao, con tầu đảo một vòng trên bầu trời Taipei, tiếp viên hàng không liên tiếp nhắc nhở hành khách (seat bell), tắt những dụng cụ điện tử, máy bay chuẩn bị hạ cánh (landing), bánh xe máy bay vừa chạm mạnh trên bề mặt của phi đạo, con tầu hơi lắc mạnh một chút rồi giảm dần tốc độ, con tầu giờ đây như là một chuyến xe khổng lồ đang chạy về phía sân ga, trả hành khách và những hành lý cồng kềnh xuống sân ga, để rồi lại tiếp tục cho một hành trình mới vào ngày hôm sau.
Cuộc sống của những cánh chim sắt là như vậy, nó vẫn kiên nhẫn làm nhiệm vụ kết nối của hai nửa trái đất đến gần nhau hơn. Phi cơ trưởng đọc lời cám ơn và chúc khách hàng thượng lộ bình an. Tại phi trường Taipie, lúc này là 6:30 sáng ngày 19 tháng 2, đoàn người chúng tôi tiếp tục đi đến cổng số 5 (gate 5) nơi ngồi chờ đợi trong 3 tiếng để chuyển tiếp máy bay vế Sài gòn, tại đây có nhiều gian hàng để mua sắm và ăn uống, nhất là hệ thống WiFi để hành khách có thể kết nối vào mạng Internet, qua cell phone (I-4) chúng tôi đã liên lạc, nói chuyện trực tiếp và nhìn thấy nhau với con trai tại Mỹ, đúng là thời đại của tiện nghi (High technology). Đi bộ lên xuống theo hành lang mua sắm cho thư giãn, thời gian qua nhanh, chúng tôi lại tiếp tục xếp hàng lên máy bay chuyển tiếp về Sài Gòn, cũng vẫn là hãng hàng không Eva airline, lần này đường bay ngắn hơn, máy bay khởi hành lúc 9:10 am và đến Sài gòn lúc 11:30 am cùng ngày, ngồi hơn 2 tiếng trên máy bay, với một tâm trạng nôn nao, với bao nhiêu điều muốn biết về nơi chốn cũ, mặc dù tôi vẫn thường xuyên theo dõi, và đọc tin tức trên internet.
Máy bay hạ thấp dần cao độ, tiếp viên hàng không đã thông báo máy chuẫn bị hạ cánh, tôi nhìn qua khung cửa sồ, thành phố Sài gòn đang hiện ra, dòng sông sài gon như một con rắn uốn mình trên những thảo nguyên mầu xanh, những khu dân cư nằm rải rác bên bờ của dòng sông, độ cao xuống thấp hơn nữa, mặt đất như dâng cao lên, những con đường và những khu đô thị hiện rõ, làm sao tôi có thể biết nơi đấy là nơi nào, cho đến khi bánh xe máy bay chạm mạnh xuống phi đạo, tôi mới biết chắc chắn đây chính là phi trường Tân Sơn Nhất, vậy là chúng tôi đã về đến VN. Ra khỏi phi cơ, tất cả hành khách cùng đi đến khu vực nhận hành lý, lại một cảnh nhốn nháo chen lấn, đứng chung quanh vòng quay băng chuyền nơi hành lý chạy ra, ai cũng muốn nhận hành lý của mình càng sớm càng tốt, đại đa số vali đều mầu đen nằn sát nhau rất khó nhận biết cái nào của mình, đôi khi phải lật vali để nhận dạng, cuối cùng tôi cũng nhận lại đầy đủ hành lý, sau khi nhận hành lý xong, mọi người phải đi qua khu vực kiểm tra của hải quan VN. Đây mới là giai đoạn quan trọng nhất, trước khi ra khỏi phi trường, tôi đã nghe rất nhiều về những mẩu chuyện, liên quan đến hải quan phi trường, nếu hành khác muốn nhận được sự dễ dãi thì nên lì xì trước, cứ làm như vô tình kẹp vào passport 20 đô là êm chuyện, tôi cũng làm như vậy, vì không muốn phiền toái khai báo lung tung, lý do trong hành lý của tôi có vài chai rượu Martel, và máy móc như laptop, máy chụp hình máy quay phim, nếu họ muốn gây khó cho mình, họ có quyền yêu cầu mình mở ra kiểm tra và khai báo, cũng như xác nhận có mang vào thì phải mang ra, bởi vì những máy móc có giá trị cao. Chính vì nguồn lợi tiền lì xì, nên khi vừa đến khu vực máy scan, nhân viên hải quan đã ngoắc tay, mời chào mình đến máy scan của họ, vì tại đây có 3 line, họ không muốn nguồn thu nhập của mình kém hơn line bên kia, gần giống như cách mời gọi khách tại những gian hàng trong khu shopping. Nhò tiền lì xì mà hành lý của tôi đã chui qua máy scan quá nhanh, để rồi tôi bị thất lạc một vali hiệu Samsonice, đựng quần áo và những vật dụng linh tinh cần thiết cho chuyến đi.
Câu chuyện là như thế này, khi gia đình chúng tôi vừa đến khu vực máy scan, tôi như bị khựng lại vì tại đây có 3 line, chưa biết đến line nào thì có hai cô hải quan lên tiếng:
– Anh đẩy hành lý đến đây này.
Hàng bên cạnh một anh hải quan vửa nói vửa ngoắc tay:
– Đến đây này.
Tôi bị khựng lại vài giây rôi quyết địng trọn hướng gần nhất, là máy scan của 2 cô hải quan lên tiếng đầu tiên. Tôi đưa passport mà bên trong đã vô tình để quên 20 đô, rất nhanh cô hải quan lật ra và hơi gật đầu về phía cô bạn đứng đối diện, cô lên tiếng:
– Chào ông Lê, để hết hành lý lên trên này.
Tôi và bà xã, hai người khiêng hành lý đặt lên băng chuyền của máy scan, cứ thế hành lý chạy qua rất nhanh, chúng tôi đặt hết hành lý lên và vội vàng chạy qua bên kia nhận lại hành lý tirếp theo, tôi nghe bà xả tôi nói to lên:
– Có người lấy mất vali của mình rồi.
Bà xã tôi vừa nói vừa chạy theo ra cửa, tôi vội chạy theo và hỏi:
– Em thấy ai lấy.
– Em thấy chiếc xe vừa đẩy ra tức thì,
Bà xã tôi vừa trả lời vừa chỉ tay ra cổng. Tôi vội chạy theo, vửa ra khỏi cổng tôi đả khựng lại bởi một rừng người, đang nhốn nháo bao quanh khu vực, lối ra khỏi phi trường, chiếc xe đẩy hành lý chen khuất vào đám đông, tôi hoàn toàn chịu thua vì không cách gì chen qua đám đông, hơn nữa tôi còn hành lý bên trong chưa nhận hết, tôi vội quay lại khu vực máy scan, khiêng hết hành lý còn lại lên xe đẩy, chúng tôi là người cuối cùng trên chuyến bay lấy hành lý, tôi nhìn thấy một Vali mầu đen, cùng kích thước với vali đã bị mất của tôi, tôi và bà xã cùng có chung một ý nghĩ: Hay là họ đã lấy lộn vali của mình. Tôi quyết định thật nhanh, họ lấy vali của mình thì mình lấy vali của họ. Tôi khiêng cái vali rất nặng này, chất lên xe và đẩy ra khỏi cổng phi trường.
Bây giờ là 1:00 pm trưa ngày chủ nhật 19 tháng 2, chúng tôi đi qua một hành lang rất đông người, đang chen lấn sát hàng rào cản của an ninh phi trường, tiếng la hét gọi nhau, chen lẫn tiếng cười vui reo hò gặp thân nhân, một cảnh tượng thật hỗn độn nhốn nháo mà đã lâu lắm rồi tôi chưa gặp lại, sự ồn ào hỗn độn này, hòa cùng không khi nóng bức của một buổi trưa nắng nóng Sài gòn. Chúng tôi đứng cùng với đám đông nhốn nháo này để đợi xe đến đón về khách sạn, tôi vẫn hậm hực vì có người lấy lộn hành lý, với một tâm trạng rất buồn và chán nản. Tôi có một cảm nghĩ, hình như mình không có một cái duyên nào đó gần gũi với thành phố Sài Gòn, vừa đặt chân xuống vùng đất này, đã gặp ngay điều phiền toái, giờ đây tôi chỉ còn duy nhất một bộ quần áo mặc trên người, bởi vì tất cà đồ dùng cá nhân của tôi đã để hết vào vali bị mất. Tôi chợt hồi tưởng lại cách đây 21 năm về trước, cũng vào những ngày giáp Tết năm 1993, cả gia đình tôi đã đến nơi này để ra đi định cư tại Hoa Kỳ theo chương trình HO 20. Chúng tôi ra đi với hành lý rất gọn nhẹ là 2 vali quần áo, một của vợ chồng tôi và một của hai cháu nhỏ, hành lý của vật chất là như thế, nhưng hành lý của tâm hồn tôi lúc bấy giờ, là nỗi đau vừa mất quê hương, và chen lẫn một niềm vui, vì từ nay chúng ta đã thoát khỏi sự kềm tỏa của CS. Tôi còn nhớ hôm ấy khi vửa bước qua cổng hài quan VN, để lên máy bay, tôi đã hết hồn khi nghe một tiếng quát của một cô gái với giọng miền bắc rất nặng nề.
– Bỏ chứng minh nhân dân lại.
Tôi vội vàng đưa chứng minh nhân dân.
Cô ta quát
– Đưa đây
Ngay bên cạnh bàn làm việc của cô có một thùng rác nhỏ đề bên cạnh, có một số giấy tờ vứt bên trong, cô ta vứt chứng minh của tôi vào thùng rác và nói
– Bỏ nước ra đi còn giữ làm gì.
Tôi lặng lẽ cùng với gia đình đi lên máy bay, trên máy bay toàn là gia đình sĩ quan chế độ cũ, đi theo diện HO 20, chúng tôi nhìn nhau mỉm cười và nói nhỏ.
– Vẫn chưa thoát đâu vì đây là máy bay của hàng không Việt Nam air line, họ có thể lôi mình xuống máy bay bất cứ lúc nào.
Tất cả anh em chúng tôi ngồi im lặng, cho đến khi máy bay cất cánh và đáp xuống phi trường Hong kong. Chúng tôi ra khỏi máy bay air VN, lúc đó mọi người mới thở phào nhẹ nhõm, vì từ nay chúng ta đã thoát khỏi bàn tay sắt máu của cộng sản.
Vậy mà ngày hôm nay tôi lại trở về nơi này, để rồi ngay bây giờ tôi cũng chỉ còn một bộ quần áo mặc trên người, tôi tự hỏi điều gì đã lôi kéo những người Việt định cư ở nước ngoài trở về thăm lại VN, phải chăng đó là tình yêu quê hương, tình cảm thiêng liêng còn gắn bó nơi chôn nhau cắt rún, hay những tình cảm quyến luyến, của những người thân còn ở lại Việt Nam, rất nhiều người trở về quê hương vì, cha mẹ, anh chị em đang còn ở lại, do đó những ngày Têt, tất cả những Việt kiều ở khắp nơi trở về (ăn Tết) rất đông. Tôi nghe văng vẳng từ xa, âm thành của bài hát quê hương mà nhạc sĩ Giáp văn Thập đã viết:
“ Quê hương là chùm khế ngọt cho con trèo hái mỗi ngày… quê hương là bờ tre nhỏ Mẹ về nón lá nghiêng che…..”
Tôi về đến khách sạn Osca nằm ngay trên đường Nguyễn Huệ, nơi đang được thành phố ngăn lại để chuẩn bị tạo dáng cho đường hoa Nguyễn Huệ. Tôi trình bày với nhờ nhân viên khách sạn, về việc tôi bị mất hành lý, nhờ họ liên lạc với “văn phòng mất hành lý của phi trường”, tôi cho họ biết những chi tết, về chuyến bay và tên họ, cũng như số hành lý ký gửi. Nhờ họ liên lạc với phi trường, nhân viên khách sạn cho tôi biết, chú nhờ thì tụi con làm thôi, tuy nhiên để tìm lại hành lý thì rất khó. Tôi trả lời: chú cũng nghĩ vậy, nhưng dù sao có báo còn hơn không.
Nhân viên phục vụ đã mang hành lý của chúng tôi lên phòng.
Ngay buổi chiều hôm ấy, tôi nhờ một người quen lái xe Honda, chở tôi lên phi trường, để trình bày việc mất hành lý, lúc ấy vào khoảng 3 giờ chiếu cùng ngày, có nghĩa là tôi mới ra khỏi phi trường hơn 2 tiếng, phi trường lúc này vẫn đông ngẹt người vì mới có thêm chuyến bay, đem Việt kiều về quê ăn tết. Tôi đi thẳng vào bên trong nơi có nhân viên an ninh đang đứng, tôi trình bày với họ là bị thất lạc hành lý, người ta lấy hành lý của tôi và tôi lấy hành lý của họ. Nhân viên an ninh này nói.
– Hành lý đâu đưa đây cho tôi.
– Sao tôi phải đưa hành lý cho anh, khi tôi chưa lấy lại hành lý của tôi, tôi trả lời.
– Anh cứ đưa cho tôi, khi nào thấy hành lý của anh, tôi sẽ đưa lại, anh ta nói thế.
Tôi trả lời.
– Không được, nếu tôi đưa cho anh, hành lý bị mất thì tôi đòi ai. Tôi vẫn giữ hành lý của người này và tôi sẽ để lại số phone và địa chỉ để liên lạc. Anh ta thấy tôi nói cứng quá nên quay sang hỏi tôi.
– Hộ chiếu đâu.
Tôi đưa cho anh xem USA Passport. Nhìn thất hộ chiếu Mỹ, anh ta hơi khựng lại, và anh ta nói với tôi.
– Anh đi vào trong kia mà trình báo.
Tôi đi thẳng váo bên trong khu vực hải quan, hỏi thăm về nơi báo mất hành lý, cuối cùng tôi cũng tìm đúng nơi. Tại phi trường luôn có một văn phòng để giải quyết, nhũng trường hợp hành lý bị thất lạc, tôi đã tiếp súc với một nhân viên rất lịch sự, người thanh niên này đã giúp tôi, ghi lại tất cả nhưng thông tin cần thiết đề liên lạc, anh ta còn nói với tôi.
– Chú hãy thử tìm trong đống hành lý này có cái nào của chú không.
Tôi nhìn thấy có khoảng trên 20 hành lý nằm ngổ ngang tại đây, tôi cố tìm xem cái nào hơi giống, tôi đều lật lên xem bảng tên, nhưng không có. Nhân viên ờ đây đưa cho tôi một tờ giấy báo mất và số phone để liên lạc, anh ta xin số phone của tôi. Tôi nói hiện nay tôi đang ở khách sạn Osca trên đường Nguyễn Huệ, tôi không có số phone riêng, tôi vừa đến VN hơn 3 tiếng. Tôi nói với anh ta là, cho tôi chạy ra ngoài xin số phone của anh bạn, có gì anh cứ liên lạc với người này thì tôi sẻ nhận được, thế là tôi phải chạy ra ngoài đám đông tìm anh bạn, sau khi ghi lại số phone. Tôi quay lại đi vào bên trong, khi ngang qua ngưới an ninh tôi gặp lần đầu, anh ta nhìn tôi và không cần hỏi passport. Sau này tôi mới biết những người đứng gác an ninh cổng ngoài, chỉ là những anh bảo vệ, nếu tôi đưa hành lý cho nhóm người này, thì chỉ còn nước (vác thang lên hỏi ông trời …) họ sẻ lấy mất ngay. Cũng nhờ tôi lanh trí và để lại số phone của anh bạn, mà qua ngày hôm sau tôi đã tìm lại được hành lý, qua hình thức trao đổi (như trao đổi tù binh).
Ngày hôm sau 20 tháng 2, như đã dự tính theo tour đã sắp xếp từ trước, sáng sớm xe và người hướng dẫn du lịch (tour guy) đã đến khách sạn, đưa gia đình chúng tôi đi du ngoạn miền Tây sông nước, bước lên xe tôi đã nhờ Hùng (tên của hướng dẫn viên) tôi nói
– Hùng cho chú đến một khu shopping nào thuận tiện nhất, đề mua bộ quần áo, vì hành lý của chú đã bị thất lạc.
– Con sẽ đưa bác đến một shopping tại Phú Lâm, vì xe mình cũng phải đi ngang qua nơi này, giờ này trong thành phố bị kẹt xe giữ lắm.
Hùng gọi tôi bằng bác xưng con, kể ra thì cũng đúng vì ba của Hùng còn ít tuổi hơn tôi.
Chiếc xe Van hiệu Hundai, tôi thấy người Việt tại Sài Gòn, đi xe Hundai rất nhiều, kề cả loại xe chở hành khách, xe chạy vòng trong thành phố, qua nhiếu con đường tôi không nhớ tên, xe chạy ngang qua một dòng sông khá đẹp, hai bên là hai bờ kè lót đá, chạy dọc theo là một thảm cỏ màu xanh, như một công viên nằm ven sông, tôi hỏi Hùng đây là đâu.
– Hùng trả lời. Đây là con sông Nhiêu Lộc.
Tôi chợt nhớ đến con sông (kinh nước đen) hôi thối ngày xưa, những khu nhà ổ chuột nằm chen lấn trên con kinh này, tất cả rác rưởi và mọi thứ chất thải đều đổ xuống dòng sông này, dòng sông đã trở thành một vũng bùn lầy nước đọng, nước sông trở nên đen thui, hôi thối vô cùng, không có một loài cá nào có thể sống được, nó đã thành nơi hội tụ của dòi bọ và ruồi muỗi, mùi hôi thối nồng nặc, dưới cái nắng như thiêu đốt. Tất cả cư dân sống nơi đây, trong những căn nhà lợp tôn siêu vẹo trên bờ sông này đã được giải tỏa. Thành phố đã cho nạo vét dòng sông để trả lại sự trong sạch cho môi trường, bây giờ dòng sông đã dần hồi sinh, bắt đầu có cá sinh sống. Đây là một việc làm rất đáng khen của chính quyền hiện tại, họ đã làm được rất nhiều việc mang lại tiện ích cho người dân, cái gí đúng thì phải thừa nhận là đúng.
Xe dừng lại trước một siêu thị nằm ngay ngã tư Phú Lâm, chúng tôi vào bên trong, tôi mua một bộ quần áo, và thêm quần đùi áo lót mặc tạm, mua thêm ít bánh kẹo và café đá mang đi. Chiếc xe bắt đầu chạy về vùng Đồng Tháp miền tây sông nước. Trên đường đi gần đến Vĩnh Long, thi tôi nhận được phone cho biết hành lý của tôi đã tìm lại được rồi, hiện đang nằm tại khách sạn.
Tôi hỏi đầu đuôi câu chuyện như thế nào, thì được biết như sau. Người lấy nhầm hành lý của tôi là một cô gái, sinh sống tại San Jose về VN ăn Tết, cô đi cùng một chuyến bay với gia đình tôi, khi xuống phi trường, cô đã nhờ xe của phi trường đưa về Long An, vì là xe của nhân viên phi trường, nên họ đã vào tận bên trong để lấy hành lý cho khách hàng, chính những người này đã lấy nhầm hành lý của tôi, vì hai vali đều mầu đen và cùng cỡ (same size). Qua hôm sau cô gái này mới mở hành lý ra xem, thì phát giác bị lấy lộn, cô này gọi phone lên phi trường thông báo. Tại đây nhân viên phòng hành lý, đã cho cố ấy số phone mà tôi đã để lại, cô ta đã gọi và liên lạc với bạn tôi, sau khi xác nhận lại, cô gái này đã đem hành lý của tôi, từ Long An lên Sai gon, và họ đã trao đổi tù binh cho nhau tại nhà người bạn của tôi.
Tôi đã nhận ra một vài điểm thiếu xót trong chuyến đi này, để rồi hiểu biết thêm một vài kinh nghiệm cho lần sau, nếu có. Xin được chia sẻ với quý vị như sau
1- Trước khi đóng gói hành lý, nên cân trước ở nhà, mỗi thùng hàng chỉ được 50 lbs (khoảng 25 kg) nên cân yếu đi 2kg, vì bàn cân nơi phi trường, thường không đúng. Nhất là ờ VN, tất cả những sân bay, bàn cân đều bị khấu trừ 2kg. Một người quen làm cho một hãng hàng không tại VN, đã cho tôi biết điều này. Nếu mình cân đúng 25kg tại nhà, thì tại phi trường VN sẽ là 27kg. Mỗi ký lô dư ra sẽ bị tính tiền 15 đô cho một ký. Tôi ví dụ trong thùng này có vài cuộn giấy vệ sinh, trọng lương là 2kg, vậy thì bạn phải trả thêm 30 dollars cho những cuộn giấy vệ sinh này, bạn nghĩ có nên hay không, tốt nhất là bớt đi 2kg cho chắc ăn.
2- Tất cả hành lý nên có bảng tên ghi rõ tên họ, địa chỉ, Email và số phone. Địa chỉ email cũng rất quan trọng, vì khi bị thất lạc, người giữ hành lý của bạn, sẽ dễ liên lạc hơn. (dĩ nhiên đối với người ngay. Cũng như câu nói “Ổ khóa là để khóa người ngay”) Như trường hợp vali bị thất lạc của tôi, tôi chỉ ghi tên họ và địa chỉ, không ghi số phone và email, làm sao người ta có thể liên lạc với mình. Một điểm rất quan trọng nữa là, tất cả hành lý phải làm một dấu hiệu nhận dạng riêng, nên cột theo hành lý những mảnh vải, hay nilon với mầu sắc dễ nhìn nhất (xanh, đỏ, tím, vàng…). Để khi hành lý chạy ra theo băng chuyền, mình sẽ dễ nhận diện, bởi vì đa số vali đều mầu đen và hơi giống nhau rất khó nhận biết, tôi đã làm như vậy cho chuyến đi về lại Mỹ, nhờ thế từ xa tôi có thể nhận ra vali của mình.
3- Thêm một kinh nghiệm nữa cho quý vị nào về VN, mà ở khách sạn cũng như hay đi lại bằng xe Taxi. Phải đổi tiền Đô ra tiền VN đồng, khi đổi tiền, thường là họ đưa cho quý vị tờ 500 ngàn, như vậy 100 đô quý vị sẽ có 4 tờ 500 ngàn và 1 tờ 100 ngàn (100 đô tương đương 2 triệu 100 ngàn đồng việt nam). Quý vị nên đổi ra tiền lẻ, cần nhất là tờ 20 ngàn, 50 ngàn, 100 ngàn, quý vị nên nhớ là 1 dollars tương đương 21 ngàn tiền Việt. Số tiền lẻ này để làm tiền (tip), cho người phục vụ tại khách sạn, và tiền đi Taxi, (đa số taxi đều nói là không có tiền thối lại). Tại Sài Gòn hiện này có rất nhiều Taxi, hãng Taxi an toàn nhất là hãng Son. Những ngày đầu ở tại Việt Nam, tôi bị lẫn lộn vể tiền VN rất nhiều, nhất là 10 ngàn và tờ 100 ngàn, cũng như tờ 20 ngàn và tờ 200 ngàn, (sự lầm lẫn của tờ 20 ngàn và 200 ngàn, có nghĩa là sự lầm lẫn của 1 đô la và 10 đô la) tôi đã bị rồi.
4- Nên cẩn thận khi ăn uống, đừng coi thường cục nước đá lạnh, vì nguồn nước để làm ra nước đá rất bẩn, nếu không biết rõ nguồn gốc cục nước đá, thì nên uống nước ướp lạnh, cầm luôn chai nước mà uống. vấn đề rau sống cũng thế, rất khó phân biệt. Mấy ngày đầu về VN, tôi đã bị đi nhanh về chậm, mất mấy ngày bận rộn với toilet. Chính vì điều này đã làm tôi phải hủy bỏ, chuyến đi Vũng Tầu về thăm lại nơi chốn cũ.
Sau 21 năm định cư tại Hoa Kỳ. Đây là lần đầu tiên tôi trở về VN ăn Tết năm Giáp Ngọ 2014, cũng là vui thăm gia đình và cho cháu về thăm bà ngoại, đã ngòai 90 tuổi.
Những nẻo đường du xuân Giáp Ngọ 2014.
Louis Tuấn Lê
Sài Gòn xưa dù có giàu nhưng vẫn giản dị và không phách lối
Người Sài Gòn xưa dù có giàu nhưng vẫn giản dị và không phách lối
Cũng như tôi, nhiều người bạn có một thắc mắc: Rất nhiều bài viết về cảnh cũ nhưng người xưa ở Sài Gòn, nhưng hiếm thấy có bài báo nào đề cập tới tính cách, lối sống ngày xưa.
Bởi vì cảnh trí có thể thay đổi nhưng những nhà khảo cổ, nghiên cứu có thể tìm lại, phục dựng lại được qua hình ảnh, hiện vật, tư liệu. Nhưng lối sống, tính cách con người thì có cách chi mà diễn tả lại được. Cũng phải tìm trong sách báo mà thôi.
Vả lại trong những bài viết của tác giả người Sài Gòn nói về tính cách của người Sài Gòn xưa cũng khó làm người đọc tin được. Sự hoài nghi này cũng hết sức dễ hiểu. Hình như cái gì quen quá cũng chẳng ai muốn viết. Báo chí muốn ăn khách thì phải lạ, có thông tin. Thời nay trong lúc tẩn mẩn, tò mò “tầm chương trích cú”, tôi lại tìm được bài của nhà văn Nguyễn Ngu Í phỏng vấn cụ Á Nam Trần Tuấn Khải – một nhà văn, nhà giáo vốn dòng Nho học.
Cụ Á Nam sinh năm 1895 tại Nam Định và vào Sài Gòn sinh sống từ năm 1955. Bài phỏng vấn này được trích trong quyển Sống và Viết của Nguyễn Ngu Í (trang 77, in năm 1966 tại Sài Gòn). Xin được trích nguyên đoạn cụ Á Nam có nhận xét về tính cách người Sài Gòn để bạn đọc tham khảo.
Nhà văn, nhà giáo Á Nam Trần Tuấn Khải.
. Nguyễn Ngu Í hỏi: Dường như lúc thiếu thời, cụ đã từng vào Nam?
+ Cụ (Á Nam Trần Tuấn Khải) gật đầu: Tôi không nhớ rõ năm. Khoảng tôi trên 30 tuổi thì phải, tức là lối 28-29 gì đó.
. Hẳn cụ còn giữ ít kỷ niệm sau lần đầu tiên tiếp xúc với người và cảnh miền Nam?
+ Cảnh thì tôi quên mất. Còn người thì còn nhớ một kỷ niệm mà riêng tôi, tôi cho là rất thú. Một hôm nọ, tôi ghé thăm một người đồng hương, bán đồ cẩn xà cừ bên hông chợ Sài Gòn, đường Sabourain, bây giờ là đường Tạ Thu Thâu. Đang hàn huyên thì có một ông khách vào, hỏi giá một món đồ. Người Nam, mặc bà ba trắng, đi guốc vông. Dân thợ không ra dân thợ; dân thầy không ra dân thầy. Tôi tưởng ông ta là một khách qua đường, rỗi rãi, hỏi chơi để giết thời giờ, chớ cái bộ vó ông ta thế, tiền đâu mà mua nổi món đồ bạc ngàn.
Ông ta xin bớt hai trăm. Chủ hiệu bằng lòng bớt một trăm. Tôi tưởng ông ta sẽ bỏ đi, qua cửa hàng khác, nào ngờ ông ta ưng thuận, móc bóp ra, lấy chín trăm đồng trả. Hai ông biết chín trăm đồng hồi 40 năm về trước là cái gia tài nhỏ. Khi ông ta mở bóp, tôi nhìn thấy bạc giấy lớn còn nhiều. Người nhà hàng bao, cột món đồ xong, ông ta ra cửa, ngoắc một người tài xế Tây vội vã đến, ôm món đồ vừa mua để lên một chiếc xe nhà sang trọng. Ông ta vui vẻ bắt tay người chủ hiệu, lên xe. Thấy tôi ngạc nhiên ra mặt, ông bạn tôi cười: “Người trong này, họ như vậy đó, bác. Một nhà giàu có hạng ở đây mà đi phố, họ ăn mặc giản dị như thế đó. Lúc mới vào, tôi cũng thường đánh giá họ lầm như bác”. Tôi như được mở mắt ra và cảm thấy thương thương cái đất “Nam… Kỳ” này: Nơi đây, người ta sống hồn nhiên, ít bị lễ nghi, tập quán ràng buộc như ở Bắc, ở Trung”.
“Và cụ tiếp sau một ngụm rượu:
+ À còn điều này nữa. Một chiều thứ Bảy, tôi được thấy cảnh thầy thông, thầy phán, anh em thợ máy, anh em phu xe ngồi quây quần trong các quán ăn ở trong chợ Bến Thành cùng nhau bàn chuyện phiếm, chuyện đời hay chuyện thời sự một cách tự nhiên, thẳng thắn. Bầu không khí cởi mở giữa những hạng người khác nhau ấy làm tôi càng thích lối sống trong Nam.
“Vì thế mà nay về già (lúc này cụ Á Nam được 70 tuổi – tác giả chú thích) cụ được toại nguyện” – người bạn khoa học, cũng là người Bắc, vừa cười vừa nói. Rồi anh tiếp, sau mấy giây nghĩ ngợi: “Tôi cũng thích lối sống hồn nhiên của đồng bào trong này. Nhưng ta phải nhận rằng nay có khác xưa. Cũng đã có ít phần kiểu cách, trọng cái bề ngoài”. Anh đưa ly lên môi, giọng nửa đùa, nửa thật: “Kết quả của sự di cư gần triệu đồng bào miền Bắc chúng ta đấy”.
Theo Lê Văn Nghĩa (PLO.vn)
Chúc mừng Giáng Sinh
VTLV kính chúc quí thân hữu Giáng Sinh vui tươi và bình an hạnh phúc
