Buổi sáng cuối tuần nhâm nhi ly cafe, nhìn trời đất bỗng nhiên ngẫu hứng viết bài thơ lục bát với tựa đề “Chợt nhớ năm xưa”. Xin chia sẻ cùng qúy vị đọc cho vui.
Lê Tuấn
Chợt Nhớ Năm Xưa
Gió thu lay động áo nàng
Xôn xao tiếng bước chiều vàng năm xưa
Hàng cây phố cũ lưa thưa
Bốn mươi năm trước, cũng vừa cơn đau.
Tháng tư trời đất đổ nhào
Cho người điên loạn tiếng gào khóc thương
Thời gian qua mấy đoạn trường
Bay theo hạt bụi nhiễu nhương cuộc đời.
Bốn mươi năm sợi tơ trời
Lòng như tan nát thế thời đổi thay
Thuở nào chinh chiến trả vay
Bây giờ già héo đắng cay phận người.
Lửa thiêng còn thắp sáng ngời
Thơ tôi chấm phá thêm lời vấn vương
Dẫu rằng trời đất vô thường
Lòng buồn nhớ lại con đường năm xưa.
Tế Luân (Lê Tuấn)
“người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng
Chợt thấy lòng buồn nên nhớ về năm xưa, một thời chinh chiến trước năm 1975”
KHI DI SẢN BIẾN MẤT
KHI DI SẢN BIẾN MẤT
Khu vực trung tâm thành phố Hồ Chí Minh tập trung nhiều công trình và cảnh quan được xây dựng từ khi đô thị Sài Gòn hình thành. Đó là những công trình đẹp về kiến trúc và ẩn chứa trong nó biết bao câu chuyện về lịch sử và con người thành phố. Từ khoảng hai mươi năm nay “quá trình hiện đại hóa” đã làm mất đi và biến dạng quá nhiều di sản ở khu vực này. Đấy là sự “lấy đi” nguồn vốn xã hội dưới dạng di sản văn hóa. Sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan tại khu vực trung tâm TP. Hồ Chí Minh làm thay đổi các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội, chính nhờ các mối quan hệ này mà trước đây, khu vực này có những không gian giao tiếp độc đáo và đặc trưng của đô thị Sài Gòn.
Về xã hội.
Mất đi các di sản vật thể gắn với các sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử.
Dọc theo trục Đồng Khởi và Lê Lợi có nhiều công trình di sản vật thể gắn với các sự kiện và nhân vật lịch sử, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của thành phố. Khi nhắc đến Sài Gòn của thế kỷ 20, người ta nghĩ ngay đến trục Đồng Khởi với Café Givral, Café La Pagode, Nhà sách Xuân Thu, Rạp hát Eden… hay trục Lê Lợi với Thương xá Tax, Rex…Café Givral hình thành trong thập niên 1950-1960, nằm tại tầng trệt Chung cư Eden. Trước 1975 nơi đây được coi là một “trung tâm tin tức” do các nhà báo thường tụ tập ở đây vì nó nằm ngay trước trụ sở Hạ nghị viện (Nhà hát Thành phố ngày nay). Quán cà phê Givral còn gắn liền với tên tuổi của Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn – nhà tình báo số 1 của Việt Nam.Café La Pagode có thiết kế nội thất giản dị, không rườm rà; từ bàn ghế, cột kèo đến cửa sổ mở to và mang đường nét kỷ hà. La Pagode không dành cho khách Tây và giới sành điệu cũng như người giàu có mà dành cho những họa sĩ, nhạc sĩ, nhà văn và nhà thơ… những người có tâm hồn sáng tạo và cách tân lúc bấy giờ của Sài Gòn.
Quá trình biến đổi cảnh quan và kiến trúc đã làm mất đi các công trình này, Sài Gòn mất đi một phần lịch sử và nhiều nét đặc trưng độc đáo về kiến trúc và cảnh quan đô thị. Giờ đây những địa chỉ quen thuộc này đã thay bằng những cửa hiệu sang trọng, hiện đại mà không chắc hơn vài chục năm sau có giá trị lịch sử hay văn hóa để trở thành một dấu ấn trong ký ức của người Sài Gòn hay không? Mất mát lớn nhất không chỉ là sự tiếc nuối của những thị dân Sài Gòn lớn tuổi, mà còn là mất đi cơ hội trải nghiệm “hồn đô thị Sài Gòn” đặc sắc trong không gian xưa cũ ấy của thế hệ trẻ ngày nay.
Mất đi các giá trị phi vật thể đặc trưng văn hóa Sài Gòn
Giao tiếp và dịch vụ vỉa hè là một hoạt động đặc trưng ở các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là những hoạt động kiến tạo các không gian giao tiếp cộng đồng sinh động và linh hoạt; khách bộ hành hay người đi đường cảm nhận được sự hấp dẫn từ việc mua bán nhộn nhịp, các sản phẩm đa dạng và nhiều hoạt động khác. Trên các trục Đồng Khởi và Lê Lợi trước đây có rất nhiều hoạt động giao tiếp vỉa hè phong phú và đa dạng, từ lâu đã trở nên quen thuộc không chỉ đối với người Việt Nam và khách du lịch quốc tế; góp phần đa dạng hóa các không gian công cộng, tăng cường gắn kết quan hệ giữa con người với con người.
Ngày nay những hoạt động này đã mất dần. Trước đây, một phần dân cư sinh sống tại các chung cư cũ trên hai trục đường trên tổ chức buôn bán ở tầng trệt chung cư và khu vực vỉa hè xung quanh. Việc giải tỏa các chung cư cũ đồng thời xóa bỏ những hoạt động kinh doanh này. Các cao ốc với các chức năng mới (văn phòng, trung tâm thương mại, khách sạn, căn hộ…) với hình thức kiến trúc hiện đại, sang trọng được xây dựng trên khu đất thay cho các công trình cũ. Khu vực vỉa hè xung quanh các công trình mới không cho phép các hoạt động giao tiếp vỉa hè truyền thống; không gian tầng trệt và vỉa hè chỉ dành cho các dịch vụ của công trình hiện đại và cho đi bộ.Giờ đây, qua lại tại các trục Đồng Khởi và Lê Lợi sẽ thấy, hầu như không còn các hoạt động giao tiếp vỉa hè; “văn minh đô thị hiện đại” không có chỗ cho các hoạt động phi chính thức truyền thống.Hạn chế các hoạt động ngoài trời của người dânTrường hợp công viên Chi Lăng trước đây là một khu vực sinh hoạt ngoài trời của người dân.
Ngày nay, công viên trước Trung tâm thương mại Vincom Đồng không còn để phục vụ các hoạt động ngoài trời của người dân mà có chức năng tạo cảnh quan phục vụ cho Vincom Đồng Khởi qua cách thiết kế không gian: tập trung vào mục tiêu tạo giá trị thẩm mỹ chứ không hướng đến sự tiện ích (mái che, đường dạo, ghế đá…) phục vụ người dân như một “chiếu nghỉ” trên phố đi bộ Đồng Khởi. Cây xanh lâu năm trước đây nay đã được thay bằng cây nhỏ, ít bóng mát mặc dù tạo được thảm cỏ xanh hiếm hoi tại khu vực trung tâm hiện hữu của Thành phố Hồ Chí Minh.Sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan dọc trục Đồng Khởi và Lê Lợi làm hạn chế các hoạt động ngoài trời dọc các trục này. Các hoạt động giao tiếp ngoài trời đang có xu hướng chuyển dần vào các không gian tiện ích trong nhà của các tòa nhà mới được xây dựng, làm giàm đi và dần triệt tiêu sự sống động và nhộn nhịp của không gian cảnh quan đô thị.
Tác động sâu xa hơn là sự phân tách giàu nghèo trong khu vực này bởi người có thu nhập thấp không thể hoặc không lựa chọn việc sử dụng các dịch vụ cao cấp bên trong các tòa nhà; trái lại phần lớn người có thu nhập cao hơn sẽ có xu hướng tìm đến các dịch vụ cao cấp bên trong các tòa nhà, hơn là sử dụng các dịch vụ (phi chính thức) bên ngoài.
Thay đổi các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội gắn bó với không gian của khu vực
Như đã phân tích trên về việc thay đổi tính chất hoạt động dọc trục, chuyển đổi từ thương mại, dịch vụ nhỏ sang thương mại lớn, hành chính, văn phòng đi kèm với tác động về việc thay đổi các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội, cụ thể là từ mối quan hệ giữa các tiểu thương nhỏ với nhau sang mối quan hệ giữa các doanh nghiệp; từ mối quan hệ giữa người dân, khách du lịch với các tiểu thương sang mối quan hệ giữa nhân viên làm việc trong khu vực cung cấp dịch vụ với các khách hàng có nhu cầu cao.
Bên cạnh việc chuyển đổi các mối quan hệ, tác động của sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan tại khu vực trung tâm còn phá vỡ các mối quan hệ của người dân địa phương đã từng sinh sống cùng nhau trong một tòa chung cư, một khu phố (quan hệ xóm giềng) hay phá vỡ các mối quan hệ giữa các tiểu thương nhỏ đã từng cùng nhau chia sẻ lợi ích từ hoạt động kinh doanh cùng tính chất, mất đi sự gắn kết giữa các tiểu thương vốn đã cùng nhau hình thành nên những dãy phố thương mại đặc trưng tại khu vực trung tâm thành phố.
Quá trình biến đổi kiến trúc và cảnh quan trong khu vực còn tạo những căng thẳng xã hội trong quá trình giải tỏa mặt bằng, đầu tư xây dựng và vận hành các dự án đầu tư bất động sản. Ngoài ra còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh truyền thống và những thương hiệu của thành phố như việc thay đổi cảnh quan đường Nguyễn Huệ, việc rào đường xây dựng các ga metro trong một thời gian dài…
Về kinh tế
Tạo thêm việc làm cho khu vực chính thức nhưng làm mất đi việc làm của khu vực phi chính thức. Không thể phủ nhận rằng việc đầu tư xây dựng và phát triển các công trình cao tầng mang lại rất nhiều lợi ích kinh tế cho khu vực, đáng kể nhất là việc tạo ra nhiều việc làm ở khu vực chính thức. Các công việc được tạo ra chủ yếu ở lĩnh vực thương mại và dịch vụ.
Khu trung tâm hiện hữu Thành phố Hồ Chí Minh (930 ha) là khu vực tập trung các công trình có chức năng hành chính và dịch vụ công, thương mại – dịch vụ, khách sạn.Tuy nhiên, sự biến đổi này lại tác động tiêu cực đến việc làm của khu vực phi chính thức, vốn gắn liền với “kinh tế vỉa hè”; khi các hoạt động giao tiếp vỉa hè bị hạn chế thì hoạt động kinh tế phi chính thức cũng giảm đi. Hệ quả là mất đi không gian văn hóa cộng đồng có giá trị đặc trưng, ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của một bộ phận dân cư, đặc biệt là thành phần lao động nhập cư.Phân bố nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước vào các khu đô thị.
Sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan khu vực trung tâm đã góp phần tạo thêm lực hấp dẫn cho khu vực này nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung. Chính điều này góp phần tiếp tục hướng các nguồn lực đầu tư phát triển bất động sản vào khu vực trung tâm hiện hữu, làm hạn chế nguồn lực đầu tư phát triển đô thị cho các khu vực đô thị mới, nhất là Nam Sài Gòn, Thủ Thiêm. Hậu quả là, trong khi kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội của khu vực trung tâm hiện hữu không đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội thì các khu đô thị mới đang “đói” nguồn vốn đầu tư, kể cả đầu tư vào kết cấu hạ tầng lẫn các dự án công trình xây dựng.
Về không gian, môi trường đô thị
Cảnh quan và kiến trúc ít thân thiện với môi trường. Sự biến đổi cảnh quan và kiến trúc trong khu vực nghiên cứu diễn ra theo xu hướng ít thân thiện với môi trường. Cây xanh tại các công viên (công viên trước Nhà thờ Đức Bà, công viên Chi Lăng, công viên trước Nhà hát Thành phố, công viên dọc bờ sông Sài Gòn) và tại các dải phân cách của trục Lê Lợi trong giai đoạn vừa qua giảm nhiều về số lượng và kém hơn về chất lượng tạo bóng mát.Các tòa nhà mới xây dựng, dưới áp lực hiệu quả kinh tế trong đầu tư, thường ít đạt được các tiêu chí thân thiện với môi trường, đặc biệt thường sử dụng sử dụng kính làm vật liệu bao che và ít thiết kế các kết cấu che nắng đặc thù của vùng nhiệt đới nên rất tốn năng lượng.
Tạo không gian ít thân thiện với con người.
Sự biến đổi cảnh quan và kiến trúc trong khu vực nghiên cứu diễn ra theo xu hướng ít thân thiện với con người, nhất là với cộng đồng cư dân lâu đời cũng như du khách từ những quốc gia hiện đại, bởi tính chất đặc trưng không còn, thay vào đó là các công trình “hoành tráng” tỷ lệ áp đảo kích thước vỉa hè, đường phố cũ, gây cảm giác chật chội, đè nén hơn khi đi trên đường phố. Đồng thời, sự hiện đại mang tính phô trương của các công trình mới ít quan tâm đến việc thiết kế các cấu trúc phục vụ người đi bộ (hành lang/mái che bên ngoài công trình).
Những tổn hại xã hội xảy ra khi di sản biến mất càng cho thấy tầm quan trọng của việc giữ gìn di sản: trước hết vì “người sống” chứ không phải chỉ vì bản thân di sản, nếu di sản còn mà cộng đồng không hiểu biết giá trị và được hưởng giá trị đó thì không thể bảo vệ di sản. Bảo tồn những di tích lịch sử văn hóa của một đô thị chính là nhằm xây dựng đô thị hiện đại có một không gian sống với chiều sâu ký ức của nó. Sống trong không gian đó con người sẽ giàu có hơn về mặt tinh thần khi họ được thế hệ trước di truyền lại những ký ức về vùng đất mà họ đang sống. Bảo vệ di sản văn hóa là để con người sống tốt hơn cho hôm nay chứ không chỉ là bảo vệ một ý niệm nào đó của quá khứ dù đẹp đến đâu.
Khi đặt bút viết những dòng đầu tiên của cuốn sách mà bạn đang cầm trong tay, tôi không dám tin rằng sẽ có ngày nó được thấy ánh sáng mặt trời.
Nó ra đời như một may mắn không ngờ, như nhờ một phép màu. Đối với tôi, nó có ý nghĩa đặc biệt. Một thời, nó đã là người bạn tâm tình, là cái nạng cho tôi vịn vào mà đi trên con đường vô định.
Mùa đông năm 1967 là một một mùa đông giá buốt, ít nhất là cho tôi, trong cái xà lim không có sưởi và không có quần áo ấm. Trong mùa đông ấy, không hiểu vì sao, tôi cảm thấy nhớ quê hương nhiều hơn bất cứ lúc nào. Cái đầu tiên gợi nhớ đến quê hương là mùi khói cay nồng từ những đống lá mà phu quét đường đốt lên để sưởi, ở bên kia bức tường đá của nhà tù. Ở quê tôi người ta thường đốt những đống rấm như thế để khói ngăn sương muối sà xuống những vườn rau. Mùi khói thoang thoảng lọt vào xà lim gây nên một nỗi nhớ cồn cào, da diết.
Gối đầu trên đôi tay, tôi nằm dài trên phản xi măng lạnh ngắt mà thả hồn về quá khứ, tự hứa thể nào rồi mình cũng phải viết một cuốn sách về cái làng bùn lầy nước đọng quê hương. Cái làng nhỏ nhoi và nghèo khổ ấy gắn liền với thời thơ ấu của tôi, cái thời không mấy hạnh phúc nếu đứng ngoài nhìn vào, nhưng tuyệt đẹp đối với tôi, mà cũng có thể đối với bất cứ ai từng có một cái quê để mà nhớ.
Lúc ấy tôi không nghĩ rằng cuốn sách tôi định viết sẽ được thực hiện không phải ở nơi nào khác, mà trong nhà tù. Ở Hỏa Lò tù nhân bị cấm đủ thứ, nhất là viết, hoặc đọc. Một mẩu giấy báo bị quản giáo phát hiện trong xà lim cũng là một cái tội, người tù giấu nó sẽ bị kỷ luật cùm chân, bị cắt “tiếp tế”. Trong năm tù đầu tiên tôi chưa có đủ kinh nghiệm để biết rằng khi cần thiết người tù có thể làm được những việc anh ta không bao giờ ngờ tới.
Ở trại quân pháp Bất Bạt (Sơn Tây) sự sống trong xà lim còn tệ hơn ở Hỏa Lò. Tôi hoàn toàn bị cắt đứt với thế giới bên ngoài. Nếu ở Hỏa Lò người tù xà lim còn có thể đoán biết được một sự kiện nào đó xảy ra bên kia những bức tường và hàng rào dây kẽm gai nhờ nghe ngóng được động thái của bạn đồng cảnh ở các xà lim cùng khu, thì ở Bất Bạt cái đó hoàn toàn không có. Những người bị giam ở đây, bên cạnh xà lim tôi, thường đã qua thời kỳ hỏi cung (thẩm vấn). Họ yên tâm nằm chờ, tháng này qua tháng khác, mà cũng có thể năm này qua năm khác, nhưng họ có cái để mà chờ: đó là ngày chắc chắn sẽ được ra tòa lĩnh án. Án có thể ngắn, có thể dài, nhưng họ sẽ được trở về khi mãn hạn. Những người tù chính trị, lại là thứ có tên gọi mỹ miều là “xử lý nội bộ”, thì không thể có xử, cứ việc nằm đấy, không chờ.
May cho tôi, ở trại này trong một lần “tiếp tế” vợ tôi lén lút giúi cho tôi một cây bút bi Trung Quốc hai màu. Tôi có một đam mê khó hiểu đối với những cây bút. Vợ tôi biết người ta chẳng đời nào cho tù nhận thứ đồ quốc cấm ấy nhưng đã mang nó cho tôi, tôi sẽ có cách giấu. Tôi vờ xin đi vệ sinh, ở đó tôi kín đáo phá nát cây bút quý giá ấy, chôn những mảnh vỡ của nó xuống đất, rồi luồn hai cái ruột bút bi vào nẹp áo bông để mang vào xà lim.
Cuốn sách bắt đầu từ ấy, mùa thu năm 1969. Tôi mải mê viết những trang đầu tiên trên vỏ bao thuốc lá, trên giấy kẹo, trên những riềm báo cũ mà gia đình bọc đồ “tiếp tế” (đến lúc đó nhà cầm quyền đã rộng lượng cho phép chúng tôi được giữ lại một số tờ giấy có in chữ, nhưng phải là thứ cũ, hết sạch thời gian tính). Viết phải rất cẩn thận, không được lãng phí những mẩu giấy hiếm hoi, lại phải canh chừng lính gác năm phút mươi phút một lần lượn lờ qua phòng giam để kiểm tra.
Những mẩu “bản thảo” lắt nhắt không thể xếp thành trang, phải đánh số rõ ràng để không lẫn lộn, được gom lại, được cất giấu bằng mọi cách trong cái xà lim nhỏ hẹp. Sau đó là những ngày chờ đợi đến lần được gặp gia đình kế tiếp thì tuồn cho mẹ tôi, vợ tôi mang ra. Khi viết được nhiều, bản thảo tích lại khá dày cũng gây ra mối lo. Mà những cuộc gặp lại khôngcó kỳ có hạn, gia đình muốn gặp thì làm đơn, khi nào người ta rộng lượng cho gặp thì được gặp. Được cái từ năm tù thứ ba trở đi đám quản giáo coi nhà tiếp tế không còn khám xét kỹ mỗi lần tôi được gặp gia đình nữa. Vả lại, chẳng cần khám làm gì – chúng tôi đâu có biết ngày nào tháng nào được gặp vợ con đâu mà chuẩn bị. Tôi bao giờ cũng sẵn sàng, cho nên lần nào gặp gia đình cũng chuyển ra ngoài được một ít bản thảo.
Về sau này, trong xà lim trại Tân Lập (Phú Thọ), việc viết không còn khó như trước, mặc dầu vẫn phải canh chừng để không bị phát giác. Sau nhiều lần yêu cầu kiên trì, chúng tôi thậm chí còn được người ta chiếu cố cho phép gia đình mang cho giấy bút và vài cuốn tiểu thuyết ngoại quốc để đọc. Cuốn sách hình thành dần dần, từng ít một.
Một lần các nhân viên công an nghi ngờ tôi chuyển gì ra, họ chặn mẹ tôi và vợ tôi lại để khám, nhưng hai người đã mang được những mẩu giấy của tôi ra ngoài trót lọt.
Khi những bản thảo đã gom được kha khá, các em tôi – Vũ Chí Dũng, Vũ Thu Hương và Vũ Thu Hòa – hì hục chép lại. Năm 1976, sau chín năm tù, tôi trở về thì đã có một bản thảo hoàn chỉnh. Các em tôi còn đánh máy ra làm mấy bản sạch sẽ để những người thân đọc.
Mẹ tôi đọc xong, bảo: – Mẹ thích. Nhưng sách không in được đâu. Một là, tên của con bị cấm. Hai là, chuyện một nhà, một làng, liệu mấy ai quan tâm? Bố tôi nhận xét: – Dù sao thì nó cũng ghi lại dấu vết một thời kỳ của nông thôn Việt Nam vùng Thiên Chúa giáo. Cứ để đấy, nó sẽ có ích sau này. Cho những nhà nghiên cứu chẳng hạn.
Tôi không có ý định viết cho những nhà nghiên cứu. Họ chẳng cần đến tôi. Tôi cũng chẳng có ý định viết để in. Tôi viết vì đó là công việc duy nhất mà tôi có thể làm trong sự ăn không ngồi rồi bất đắc dĩ. Tôi viết vì tôi thèm được làm công việc mà tôi yêu thích. Tôi viết, ít nhất thì cũng để cho các con tôi, chúng không biết thời thơ ấu của tôi đã trôi qua thế nào. Mà chắc gì sẽ có ngày tôi kể được cho các con tôi nghe?
Hồi ở trại Bất Bạt tôi không nghĩ tới ngày về. Không ít người đã nằm lại trong các nghĩa trang nhà tù. Những nghĩa trang ấy, thường ở sườn đồi, nếu có đồi, hoặc ở một bãi hoang giữa rừng. Trong cái sự tù của chúng tôi nghĩ tới ngày về là ý nghĩ ngu ngốc.
Ý nghĩ viết cuốn sách để lại cho các con đã làm cho cuốn Miền Thơ Ấu có một sắc thái riêng. Nó là hồi ký, nhưng trong lần in đầu tiên nhà xuất bản đặt nó vào loại tiểu thuyết. Trên bìa sách cũng đề rõ Miền Thơ Ấu – tiểu thuyết. Hồi ấy ở Việt Nam chỉ có loại hồi ký là hồi ký cách mạng, do các lãnh tụ kể cho các nhà văn ghi. Người thường không ai viết hồi ký, không được viết hồi ký. Để nó vào dạng tiểu thuyết thì dễ in hơn.
Còn có một lẽ nữa, là cuốn sách có hình thức giống tiểu thuyết trong cách viết, trong cách miêu tả nhân vật, dựng lại đối thoại. Tuy nhiên, tên người, tên đất trong cuốn này được giữ nguyên, không thay đổi. Người trong họ ngoài làng sẽ nhận ngay ra người quen khi đọc. Mà người làng tôi thì không quan tâm đến chuyện cuốn sách mà họ đọc thuộc thể loại gì. Tôi cho rằng có thể chép cuộc đời vào sách và tạo ra cho nó một dáng vẻ nghệ thuật, nếu ta nhìn đời theo cách nghệ thuật.
Cuốn sách nằm lâu trong đống giấy má vàng úa của một thời chữ nghĩa. Tôi cũng chẳng có thời giờ để ý tới nó vì còn bận đánh vật với những thí nghiệm, chạy đi chạy lại các cơ quan nhà nước kiếm hợp đồng làm hàng gia công, là việc có ích cho sự kiếm sống. Từ khi ra tù tôi làm đủ mọi thứ nghề tạp nham, trong đó việc sản xuất hàng hoá liên quan tới hóa chất cho các tổ hợp thủ công nghiệp đem lại nhiều tiền hơn cả.
Mãi tới năm 1987, anh bạn Lê Phát, biên tập viên đài Tiếng nói Việt Nam, một người tò mò thích văn chương, đã khui nó ra trong đống giấy má bừa bộn của tôi. Lê Phát đọc một lèo, anh thích nó, bèn đưa cho nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, nơi nhà văn Hà Mậu Nhai làm giám đốc. Hà Mậu Nhai cũng đọc một lèo, rồi nhắn tôi đến chơi. Anh tỏ ý muốn in cuốn sách. Tôi ngăn anh: – Anh không biết có một chỉ thị cấm in tôi sao ? – Tôi biết. – Vậy mà anh vẫn quyết định in ?
Hà Mậu Nhai nói: – Chừng nào chưa có trước mặt tôi một văn bản pháp luật trong đó ghi rõ quyết định của tòa án cấm không được in Vũ Thư Hiên thì tôi vẫn in. Tôi không ngán những lệnh miệng và những chỉ thị nội bộ. Tôi in, và còn in tên Vũ Thư Hiên to hơn bình thường nữa kia.
Tôi ngần ngừ. Tôi không muốn vì cuốn sách của mình mà bạn mình mang vạ. Hà Mậu Nhai nói chỉ cần tôi đồng ý cho in. Tôi miễn cưỡng đồng ý. Cuốn sách được in ra. Tên tác giả được in to hơn bình thường, đúng như Hà Mậu Nhai nói. Hà Mậu Nhai là một nhà văn nhưng không có chân trong Hội Nhà Văn. Anh chỉ có chân trong Xã Hội Những Người Tử Tế.
Năm sau Miền Thơ Ấu được giải thưởng loại A của Hội nhà văn Việt Nam, tức là giải nhất, cho sách dành cho thiếu nhi, mặc dầu nhà xuất bản không đưa nó vào danh sách tác phẩm dự thi. Trong chuyện này Hà Mậu Nhai nghĩ như tôi, sách được in ra là tốt rồi, mong gì được giải. Việc trao giải thưởng năm ấy là sự kiện lớn. Đã nhiều năm chuyện xét và trao giải thưởng văn học bị xếp lại, vì chiến tranh, và vì văn chương là cái sự không ra gì, một thứ xướng ca vô loài, dưới mắt các nhà lãnh đạo. Chủ tịch Hội đồng xét giải là nhà văn Tô Hoài. Phùng Quán cũng được giải thưởng, loại B, với tiểu thuyết ba tập Tuổi Thơ Dữ Dội. Hai tên tội đồ, một Xét Lại Hiện Đại, một Nhân văn-Giai phẩm, chiếm hai giải thưởng nhất nhì trong một cuộc thi văn chương, là quá lố. Nhưng đã là năm 1988, hai năm sau khi Đảng cộng sản tuyên bố “đổi mới” và “cởi trói”. Nếu là những năm trước, việc làm ngang bướng của Hà Mậu Nhai ắt bị trừng trị. Anh vẫn ngồi yên trên ghế giám đốc cho tới khi qua đời, ba năm sau.
Giải thưởng này đối với tôi là bất ngờ, không kém gì việc cuốn sách được in ra. Khi mọi người cho tôi biết các báo đều đã đăng tin, tôi mới biết. Việc cuốn sách kể chuyện tầm phào về một làng quê khỉ ho cò gáy mà được giải, lại giải cao, là điều khó tin.
Tô Hoài hiển nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc trao giải lần này. Uy tín của nhà văn già đã thắng tính bảo thủ của các cơ quan lãnh đạo tư tưởng của đảng cộng sản. Sau đó, đài phát thanh Sài Gòn đọc Miền Thơ Ấu trong chương trình “Đọc truyện đêm khuya”, nhà xuất bản Kim Đồng ỏ Hà Nội tái bản một lần, rồi hai lần…
So với bản thảo, cuốn Miền Thơ Ấu trong lần in đầu tiên được rút gọn còn một nửa theo yêu cầu của nhà xuất bản. Vì không có giấy. Giấy vào những năm ấy đắt khiếp đảm.
Lần xuất bản sau ở hải ngoại không thiếu giấy nhưng lại thiếu những trang bản thảo bị bỏ ra nọ. Chúng nằm lại ở Việt Nam, cách tôi quá xa, không phải xa theo khoảng cách địa lý, mà bởi những khó khăn. Tôi cũng không tìm cách bổ khuyết. Cuốn sách đã có cuộc sống riêng của nó, diện mạo của nó. Chưa chắc gì một sự thay đổi sẽ làm cho nó đẹp hơn. Những gì bị bỏ ra ngoài trong lần xuất bản đầu tiên rồi sẽ được đặt vào một lần xuất bản khác, hoặc một chỗ khác.
Câu chuyện về một chú bé trong cuộc gặp gỡ với quê hương của chú đã tìm được độc giả của nó. Thì ra quê hương của một người, nếu nói về nó bằng tình yêu chân thật, từ trái tim mình, thì cũng mang dáng dấp quê hương của bất kỳ ai khác, trong sự đồng điệu của tâm hồn. Tôi bao giờ cũng nhớ về tuổi thơ của mình với tất cả niềm thương yêu dịu dàng, bởi vì tuổi thơ của ai cũng vậy, nó chứa đựng những tình cảm đẹp nhất mà cuộc đời có thể cho ta, khi nắng bao giờ cũng lấp lánh và gió bao giờ cũng ngát hương. Nơi miền đất tuổi thơ, mỗi đám mây bay ngang cũng gợi ta hình dung ra những xứ sở xa xôi từ đó nó bay đến, mặt trăng rằm nào cũng bắt ta phải ngắm nhìn để tìm ra bóng dáng cây đa với chú Cuội cổ tích, thậm chí một con chuồn chuồn ngô cũng có phép màu làm cho ta biết bơi.
Bạn đã bao giờ cho chuồn chuồn ngô cắn rốn chưa? Nếu bạn đã được một con chuồn chuồn ngô cắn rốn một lần để được sặc sụa một lần trong dòng sông quê hương thì bạn là người hạnh phúc đấy. Tôi đã đọc những dòng viết ấm áp và chân thành, và lạ thay, bao giờ cũng đầy nuối tiếc, về tuổi thơ trong sáng của mình nơi Lev Tolstoi, Maxim Gorky hay Paul Vaillant Couturier.
Chúa Giê-su Ki-ri-xi-tô dạy: “Hãy như con trẻ!” Tôi chưa được nghe lời nào thông thái hơn.
Nếu tất cả những con người sống trên mặt đất này biết nâng niu gìn giữ trái tim con trẻ trong mình thì chúng ta đã không phải chứng kiến những gì xấu xa mà chúng ta phải chứng kiến: chiến tranh, nhà tù, và mọi sự hành hạ mà con người hàng ngày gây ra cho đồng loại.
Bằng cuốn sách bé nhỏ này, tôi muốn chia sẻ với bạn đọc tình cảm trìu mến đối với những gì quý báu nhất trong cuộc đời, những gì bạn và tôi đều có nhưng chóng quên, ở một miền thơ ấu của mỗi chúng ta.
(Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ) Trần Trung Đạo
Một ngày tháng 8 năm 1992, tôi nhận được một bài thơ của một người bạn tin cẩn gởi từ trong nước. Anh chép tám câu thơ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ nhưng không có tựa.
Tôi đọc và rất cảm động. Qua từng câu thơ tôi hình dung cảnh cô đơn, trống vắng, quạnh hiu mà Thầy đang sống trong thời gian lưu đày ở Thái Bình trong một buổi chiều đông.
Sau 1975, giữa lúc gần hết mọi người đều đi theo chiều gió, Thầy cố bước ngược chiều để mong cứu vớt những gì còn sót lại sau những điêu tàn, đổ nát. Tinh thần vô úy của đạo Phật đã giúp Thầy vượt qua bao thử thách, cực hình, đày đọa.
Trong đêm tối giữa nhà lao Phan Đăng Lưu hay trong buổi chiều mưa tầm tã tay dắt bà mẹ già 90 tuổi trên đường lưu đày từ Sài Gòn ra huyện Vũ Đoài, Thái Bình, Thầy vẫn một tấm lòng son sắt với quê hương và đạo pháp. Chúng ta sống trên đất tự do, dễ dàng nói với nhau về yêu nước, yêu đạo, dễ dàng nói với nhau về hy sinh, đại nguyện. Nhưng nếu chúng ta sống một đêm, một đêm thôi, trong đau thương trăn trở giữa ngục tối Hàm Tân như HT Thiện Minh, một đêm mang nặng ưu tư đau nhức tại nhà tù Phan Đăng Lưu như HT Quảng Độ, một đêm trầm mặc suy tư trên mỗi bước thiền hành ở Quảng Ngãi như HT Huyền Quang, chắc chắn chúng ta sẽ hiểu ra rằng Bồ Tát giống tất cả chúng ta nhưng chúng ta không phải dễ dàng là Bồ Tát.
Ngày đó không có mạng xã hội Facebook như bây giờ. Chúng tôi là một nhóm vài trăm người sinh hoạt với nhau trong giai đoạn Internet còn rất phôi thai.
Tôi gởi bài thơ cho cả nhóm đọc. Nhưng bài thơ thì phải có tựa. Tôi không nói với ai, chỉ im lặng và mạo muội đặt tựa là Chiều Đông, phía dưới viết tên tác giả HT Thích Quảng Độ. Luôn dịp tôi họa lại bài thơ của Thầy đặt tựa Tấc Lòng Son, và sau đó in trong tập Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười xuất bản lần đầu tại San Jose cuối năm 1992.
Trước ngày Thầy bị bắt và tôi chưa rời Việt Nam, mỗi tuần tôi thường gặp Hòa Thượng đi bộ từ chùa Giác Minh trên đường Lý Thái Tổ xuống ngã sáu Trần Quốc Toản, để từ đó đón xe Lam qua Thanh Minh Thiền Viện giảng thiền học. Dáng Thầy thanh cao, vầng tráng rộng, miệng Thầy luôn mỉm cười như chúng tôi thường bắt gặp trong những ngày trước 30-4-1975 ở Đại Học Vạn Hạnh. Phải chăng ngay cả trong lúc mang nặng ưu tư về tiền đồ dân tộc và đạo pháp, tâm Hòa Thượng Quảng Độ vẫn an nhiên, tự tại.
Thầy dạy Triết Đông và tư tưởng Phật Giáo cho sinh viên các khoa Khoa Học Nhân Văn và Phật Khoa. Tôi không trực tiếp được học Thầy. Nhưng những buổi giảng chuyên đề của các thầy thường mở rộng cho sinh viên các ban khác. Ngày đó tôi còn nhỏ nhưng may mắn được nhiều lần ngồi nghe các thầy dạy bảo. Hòa thượng Quảng Độ, Hòa thượng Minh Châu, Hòa thượng Mãn Giác, Hòa thượng Thuyền Ấn v.v.. Mỗi thầy một nét. Cao siêu nhưng gần gũi. Giản dị nhưng thâm trầm. Những hạt giống nhân duyên các thầy gieo xuống tâm hồn tôi nay đã lớn lên. Kỷ niệm không bao giờ chết. Kỷ niệm lớn như cây. Nếu biết chăm sóc, kỷ niệm cũng nở hoa như những loài hoa tươi đẹp khác.
Ba mươi tháng Tư, 1975, chúng tôi như bầy chim bay tán loạn bốn phương trời. Dù phải sải cánh bao xa, chúng tôi đều mang theo trong tâm hồn mình những bóng mát của một thời tuổi trẻ. Thời của tuổi mười tám với buồng phổi căng đầy sức sống. Bóng mát đó là các thầy. Bóng mát đó là thiền viện, thư viện, giảng đường, và bóng mát đó là lý tưởng Duy Tuệ Thị Nghiệp.
Hành trình đầy bi tráng của Thầy trong suốt 10 năm bị bắt giam, tra tấn và lưu đày cùng với bà mẹ già 90 tuổi ở Thái Bình đã để lại một niềm thương yêu và kính phục sâu xa, không những trong lòng nhiều triệu Phật Giáo đồ Việt Nam, dân tộc Việt Nam mà cả trong cộng đồng nhân loại.
(Trần Trung Đạo, Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, trang 126)
Cách đây vài năm, khi nhận được thi tuyển Thơ Tù của HT Thích Quảng Độ lần đầu, tôi hồi hộp đọc phần mục lục trước để xem Thầy đặt tựa bài thơ là gì.
Tôi rất vui và cảm động khi biết Thầy cũng đặt tựa bài thơ là Chiều Đông. Tôi thầm cám ơn Thầy đã cho phép tôi được sống trong cùng một tâm cảm với Thầy.
Thầy là rừng, tôi chỉ là chiếc lá nhưng nhờ có nhân duyên lá và rừng được sống với nhau trong một chiều đông.
Sáng hôm qua, trong lúc đang đi bộ trên đường nhỏ trong xóm tôi nhận một tin nhắn của một Phật tử tin cẩn từ trong nước “Hòa thượng Quảng Độ vừa viên tịch”. Tôi lặng người. Không phải vì Thầy ra đi sớm nhưng vì Thầy ra đi.
Đại Lão Hòa thượng Thích Quảng Độ viên tịch chấm dứt một chương dày 45 năm trong lịch sử đầy thăng trầm của Phật Giáo Việt Nam. Những chương mới sẽ mở ra nhưng sẽ khác hơn nhiều.
Trong tất cả tôn đức chịu đựng tù đày, Thầy là vị đã sống trong tù lâu nhất. Từ tháng 6, 1977 cho đến khi viên tịch, Thầy vẫn là một tù nhân của chế độ CS tại Việt Nam.
Chín mươi năm từ khi tiếng gậy trúc của chư tổ vang lên ở các tổ đình khởi đầu cho công cuộc phục hưng Phật Giáo. Trong thời gian đó, bao nhiêu đổi thay đã xảy ra cho đất nước Việt Nam và cho Đạo Phật tại Việt Nam. Hôm nay, một trong những vị còn lại của thế hệ phục hưng Phật Giáo vừa viên tịch. Con thuyền đạo pháp như Thầy nhấn mạnh sau 1975 vẫn còn chênh vênh và niềm trăn trở cho quê hương của Thầy vẫn còn trăn trở.
Nhưng áng mây bay đi sẽ mang về những giọt nước cho cánh đồng khô. Không có gì còn hay mất. Chỉ là những dạng khác nhau trong một cuộc vận hành. Cành mai Quảng Độ vừa rơi xuống nhưng như Thiền Sư Mãn Giác đời Lý viết, sáng mai đây, những cành mai khác lại sẽ nở ra.
Bước chân của Thầy không còn nghe nhưng tình yêu của Thầy dành cho quê hương vẫn sáng như ánh trăng rằm, đậm đà như mùi hương của đất và dạt dào như lời thơ Thầy viêt trong một Chiều Đông năm đó. Từ nước Mỹ xa xôi, con cúi đầu đảnh lễ giác linh Thầy.
Trần Trung Đạo
Nhóm trẻ Văn Thơ Lạc Việt nói về ngày kỷ niệm 28 năm thành lập VTLV
Nhóm trẻ Văn Thơ Lạc Việt nói về ngày kỷ niệm 28 năm thành lập VTLV ——-
Tiệc Kỷ Niệm 28 Năm Thành Lập Văn Thơ Lạc Việt. Lúc 4 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 1 tháng 3 năm 2020 Tại Nhà hàng Phú Lâm, 3082 Story road, San Jose, Ca 95127
Lời Ngỏ
28 Năm Văn Thơ Lạc Việt: Một Tấm Lòng, Một Hướng Đi!
Một trong những hướng đi chính của Nhóm Văn Thơ Lạc Việt là phát huy và bảo tồn nền Văn Hóa Việt Nam. Một nền Văn Hóa có truyền thống trên bốn nghìn năm văn hiến, xuyên qua dòng lịch sử bất khuất của một Dân Tộc hùng anh.
Một nền Văn Hóa luôn khẳng định sắc thái nhân bản, đậm tình tự dân tộc, để không bị lệ thuộc hay đồng hóa bởi ngoại bang. Có ngàn năm đô hộ cũng trở về Nguồn! Bản sắc nhân bản gốc, thể hiện qua những từ Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín trong hành xử đời thường, đến Chân Thiện Mỹ trong văn chương nghệ thuật, gìn giữ nếp sống chí tình chí lý bao đời của Cha Ông. Nền Văn Hóa tốt đẹp này, được lưu truyền qua bao thời đại, bao thế hệ, đều nhờ vào tấm lòng và trách nhiệm của những công dân đối với tiền đồ Quốc Gia Dân Tộc, dù an hay nguy.
Trong bối cảnh đen tối Việt Nam hiện nay, do Cộng Sản nắm giữ, thể chế chính trị chủ trương cái ác, gây ảnh hưởng không tốt về sắc thái Chân Thiện Mỹ của Chữ Nghĩa nói riêng, và tác phong đạo đức của nền Văn Hóa nói chung. Chữ viết và tiếng nói có âm mưu biến dạng theo Tầu, do chủ trương độc tôn “còn Đảng còn mình!” muốn phủ nhận những giá trị vốn có, mà hành xử thô bạo trên giá trị Chữ Nghĩa Nhân Bản. Điển hình là việc tiêu hủy gần như hầu hết những chứng liệu, sách vở, ngôn từ thiện mỹ vốn có trước năm 1975. Để khai sinh và phô bày những chữ nghĩa duy vật biện chứng phức tạp và dị ứng, đi ngược với sắc thái trong sáng nhân bản Văn Hóa Dân Tộc. Chưa kể âm mưu sáng tạo một ngôn ngữ mới, để muốn xóa bỏ nguồn gốc.
Sự kiện này được thấy rõ không chỉ trong sinh hoạt đời thường, mà trong cả chương trình giáo dục. Không chỉ ảnh hưởng xấu ở trong nước, mà còn lây nhiễm ra hải ngoại, khi những phát ngôn viên, nhà báo, hàng ngày xử dụng tự nhiên chữ nghĩa què quặt, tối nghĩa do XHCN chế ra. Người nghe không chỉ dị ứng với ngôn ngữ, mà còn dị ứng với cả nguồn phát ra những chữ nghĩa khó nghe này. Giá trị của chữ nghĩa xấu, kéo theo giá trị tồi của phong cách truyền thông, giết sự trong sáng của ngôn ngữ, để có âm mưu xóa đi tiếng Việt truyền thống, nhằm dễ dàng bán nước cho ngoại bang, giữ vững ghế cai trị.
Dù đường dài vẫn “chân cứng đá mềm” chỉ một hướng đi! Đây là niềm mong ước, mục tiêu thiết tha của Văn Thơ Lạc Việt. Tiếng Việt còn, nước Việt còn! Gìn giữ phát triển và bảo tồn Văn Hóa Việt Nam. Nhìn lại đoạn đường 28 năm đã đi qua, cho dù đây là mục đích của Nhóm, nhưng có đạt mục tiêu hay không là nhờ sự tiếp tay của tất cả mọi người, những trái tim còn nghĩ đến nền Văn Hóa, giữ vững cội nguồn Dân Tộc Lạc Việt. Vẫn còn tự hào: “Tôi là Người Việt Nam!”
Cái nôi Văn Hiến Việt Nam, luôn lay động nhịp nhàng, thấm sâu trong tâm thức người dân Việt, từ lời ru ngọt ngào ên đềm của Mẹ Âu Cơ, đến lời ca vang hào hùng bao đời của những người đi giữ nước. Chữ Nghĩa sáng lên vừa như ánh đuốc khai tâm nhắc những kẻ vong ân, phản bội, tìm lại cội nguồn mau trở về, lại vừa sáng rọi lời truyền của tiền nhân, qua bao thời oanh liệt chống ngoại xâm, giữ vững sơn hà. Tất cả vì Việt Nam, vì Tổ Quốc thiêng liêng mong mãi mãi trường tồn.
Những dòng thi văn sử, tiếp truyền đến mọi nơi và mọi lúc, vượt qua biên giới, sau 75, ra đến hải ngoại, thẩm thấu qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Giữ được nền Văn Hóa là giữ được hồn của Đất và Nước. Giữ được Chữ Nghĩa là giữ được tinh thần và sắc thái của Dân Tộc Việt Nam. Ngôn ngữ là Hồn, nếu không gìn giữ, thì Hồn mất trước, nước mất sau! Mất Văn Hóa là mất Nước! Cho nên cuộc chiến đấu bảo tồn nền Văn Hóa, cũng cam go và đầy thử thách như trên chiến trường, tuy không có tiếng súng, nhưng cũng ác liệt không kém, trong mục đích dành lại Tự Do Dân Chủ của một Dân Tộc dưới bàn tay nguy hiểm của những Lê Chiêu Thống thời đại, “cõng rắn cắn gà nhà!”
28 năm, với tâm huyết của những người quan tâm đến nền Văn Hóa Việt Nam tị nạn CS tại hải ngoại, dùng chữ nghĩa mà chiến đấu với trách nhiệm bảo tồn và phát huy Văn Hóa, như vũ khí để lấy lại Tự Do Dân Chủ cho Quê Hương không Cộng Sản.
LTS: Nhà văn Hồ Trường An đã qua đời hôm Thứ Hai, ngày 27 tháng 1, năm 2020, tức Mồng Ba Tết Canh Tý, tại Troyes, Pháp, hưởng thọ 82 tuổi.
Ngoài những sáng tác của HTA được nhiều người biết đến, là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký, Ông còn được dư luận quan tâm khi trao đổi vấnđề xã hội – giới tính – đồng tính luyến ái –… Lúc còn sinh tiền Ông không ngại ngùng và phá biểu thẳng thắn, bộc trực về vấn đề “giới tính”. Việc “đồng tính luyến ái” nay trong những xã hội dân chủ đã trở thành bình thường, bớt thành kiến, thôi không còn “khắt khe” như trước.
Lưu Diệu Vân thực hiện – 15.05.2008
Nhà văn Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang. Sinh ngày 11
tháng 11, 1938 tại Vĩnh Long. Ông định cư tại Pháp vào năm 1977 và hiện
đang sống ở thành phố Troyes. Ông đã cộng tác với nhiều tạp chí văn
chương trong và ngoài nước và là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn,
tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký. Ông vẫn tiếp tục sáng tác hăng say và
hiện là một trong số ít tác giả lưu vong có số sách xuất bản kỷ lục tại
hải ngoại. Ông tạo được một chỗ đứng riêng biệt trong dòng văn chương
việt qua lối viết gần gũi và đề tài chân quê chất phác.
Hôm nay, ngoài cương vị người viết, nhà văn còn sẽ đến với chúng
ta qua một vai trò mới khá thú vị – nhà xã hội học bất đắc dĩ – cũng
bằng giọng văn thân thiết, gần gũi và sự chân thật đặc trưng của Hồ
Trường An.
LDV: Giới tính là một đề tài khá nhạy cảm và đòi hỏi sự
bộc bạch hết sức can đảm từ phía người chia sẻ. Không thiếu những nhà
văn Việt viết nhiều về đề tài giới tính, nhưng hầu như ít ai thích nói
về nó một cách cởi mở trong những trang viết có tính cách cá nhân, trừ
Hồ Trường An. Dũng khí quan trọng như thế nào đối với một người viết?
HTA: Cô Vân, tôi chấp nhận cuộc phỏng vấn này là môt lời tự thú trong
buổi tàn thu cuộc đời. Tôi đã vào tuổi thất tuần rồi, cô ơi! Mỗi đêm,
trước khi đi ngủ tôi luôn tự hỏi: sáng mai, mình có thức dậy được không
đây? Hay là mình phải làm một chuyến đi tàu suốt vào giấc ngủ miên viễn?
Vậy tại sao mình lại giấu diếm cái bí mật trong cuộc sống tình cảm lẫn
tình dục của mình? Chấp nhận cuộc phỏng vấn của cô, tôi muốn cho lớp thế
hệ bọn gay sau tôi một vài kiến thức hay một vài kinh nghiệm nhỏ nhoi
nào chăng?
Vào những năm đầu của thập niên 80, tiết lộ giới tính và khuynh hướng
tình dục của mình mới là hành động can đảm. Hồi đầu thập niên 60, tôi
chỉ tiết lộ thân phận mình cho chị Thụy Vũ của tôi cùng một số bạn thân.
Bắt đầu năm 1980 tôi có người yêu là dân Pháp chánh gốc, tôi ngang
nhiên sống chung với đương sự, tới nay kể ra cũng gần 30 năm. Một phần
là tôi tức giận tên Thi Vũ Võ Văn Ái (nhà báo/nhà thơ), nó nỡ đem tâm sự
của tôi đi bán rao tùm lum tà la. Cho nên từ đó, khi đi dự các cuộc
tiếp tân nào trong giới văn nghệ sĩ kiều bào ở Paris, tôi cũng dắt người
bạn lòng của tôi theo. Đương sự nhỏ hơn tôi 9 tuổi, nhưng cái tác của
hắn lớn hơn tôi khá nhiều.
Năm 1983, tôi tung ra quyển Hợp Lưu trong đó có nhân vật gay
tên Quế, phản ảnh đôi chút tâm trạng của tôi. Trước tôi, vào năm 1967,
bạn tôi tên Đỗ Quế Lâm có viết tiểu thuyết tự truyện tựa là ‘‘Vết Hằn
Rướm Máu’’ do chính chị Thụy Vũ tôi viết lời tựa. Sau đó, ở hải ngoại,
vào năm 1979, thằng bạn khác của tôi tên Lucien Trọng, một kỷ sư thủy
lâm có viết quyển L’Enfer Rouge, Mon Amour do Seuil xuất bản. Sau đó nó dịch ra tiếng việt Hỏa Ngục Đỏ, Mối Tình Tôi
kể lại mối tình của nó với một chàng trai bụi đời tên Hải trong thời
gian hai đứa bị Cộng Sản giam cầm. Đúng như cô Vân nghĩ, hình như những
cây bút gay như Đổ Quế Lâm lẫn Lucien Trọng không dám diễn tả huỵch tẹt
như HTA, không mô tả cuộc làm tình tỉ mỉ và tới nơi tới chốn như HTA.
Tôi diễn tả chuyện giao hợp giữa cậu trai việt và anh chàng gay quí tộc
Pháp khá táo bạo và khá đậm đà. Chính nữ ca sĩ Quỳnh Giao thuở thập niên
80 bảo rằng đây là quyển sách mà Quỳnh Giao thích. Song song, cũng có
rất nhiều độc giả chửi tôi khá nặng. Họ gọi điện thoại xài xể luôn anh
Mai Thảo vốn là người chủ trương tờ tạp san văn chương Văn, tại sao có
thể đăng từng kỳ những chương “dơ dáy nhớp nhúa” của quyển Hợp Lưu?
Còn chị hỏi tôi cái dũng khí của người viết văn thì tôi khó trả lời.
Thiệt ra, tôi chẳng có một chút dũng khí nào. Sở dĩ tôi dám phô bày chơn
tướng mình ra vì tôi tức giận kẻ lẻo mép thối mồm. Đã là một tên gay
xấu xí mà dám viết truyện qua cái tôi của mình, một nhân vật đẹp trai
như Phan An, Tống Ngọc, chẳng những được bọn gay tôn thờ mà còn được phụ
nữ mê sa trầm lụy. Cũng đừng vì mình không kiếm được bồ đực để thương
yêu giao hợp rồi lên giọng kích bác kẻ đồng tính luyến ái may mắn hơn
mình, khuyên họ phải dẹp bỏ thói ‘‘xấu ấy’’ để trở thành kẻ bình thường.
Đã là gay rồi thì trở thành kẻ biết yêu người khác phái tính sao được?
Văn chương cần sự thành thật của nhà văn dị tính luyến ái đã đành mà còn
của một nhà văn gay.
LDV: Đó là thế giới văn chương, còn trong cuộc sống hiện
thực, ông đã từng chứng kiến những người đồng tính luyến ái bị ngược đãi
quá mức. Họ có nên thỏa hiệp để tránh việc bị đánh giá thấp?
HTA: Còn ở ngoài đời, hai chàng gay không nên âu yếm ở chốn công cộng
vì đa số người chứng kiến vốn không quen cảnh hôn hít trái cựa như vậy,
họ sẽ bị dị ứng và chướng mắt ngay. Cũng đừng phùng xòe bộ đi tướng
đứng oai phong lẫm liệt một cách phường tuồng mà bị thiên hạ quở rằng
các chàng gay đang đóng vai dũng tướng Địch Luông, Địch Hổ trong tuồng
Hồ Quảng hay tuồng hát bội. Cũng đừng ẻo lả thục nữ quá thì chẳng có tên
gay nào khác tìm đến xáp cục với mình. Gay nào mà chẳng mê mẫu người có
phong độ đàn ông tính? Cũng đừng gạ gẫm ve vãn nhưng kẻ dị tính luyến
ái mà chuốc lấy sự bêu rếu, sự lăng nhục của hạng người này.
Tôi thường nghĩ đồng tính luyến ái là do trời sanh ra, do cái ác
nghiệp từ tiền kiếp hiện hành ở kiếp này. Bản tính mình như thế nào thì
mình sống theo bản tính ấy, can gì phải giấu diếm? Đau khổ nhứt cho
những kẻ vì bảo vệ nghề nghiệp trong các công sở, vì đã lỡ tạo lập gia
đình, nên có cuộc sống song đôi. Họ lén lút ăn nằm với bọn gay
bán tình và luôn nơm nớp lo sợ chuyện bí mật của mình bị tiết lộ. Đồng
tính luyến ái là cái bản tính tự nhiên của một số người. Bắt những chàng
gay sống như người bình thường, cưới vợ để sanh con đẻ cái là bắt họ
chống lại thiên nhiên.
Cái tức giận của tôi đối với một tên bạn Võ Văn Ái thèo lẻo ác ôn làm
tôi bạo dạn, trở nên thách thức với những kẻ có đầu óc hẹp hòi. Cho nên
tôi từ bỏ cuộc sống song đôi, chỉ sống theo cuộc sống bọn gay…
cho gọn. Tôi không muốn giả dối, không giấu diếm cái sở thích yêu người
đồng phái tính của mình làm chi cho phiền phức. Phải đơn giản hóa cuộc
sống, phải sống tràn đầy và nguyên vẹn cuộc đời riêng biệt của mình với
tấm lòng thành khẩn thì may ra mới tìm được hạnh phúc.
LDV: Nhà văn Hồ Trường An định nghĩa giới tính của mình bằng đường lối nào?
HTA: Cô Vân ơi, câu hỏi nầy trặc trẹo lắm. Tôi không sao có thể định
nghĩa giới tính chính mình. Tôi chỉ biết giới tính chia ra làm ba hạng
người: hạng thứ nhất là hạng người yêu đương và thích làm tình cùng
người khác phái của mình. Đó là những người dị tính luyến ái (les
hétérosexuels). Hạng thứ hai là những người yêu đương và thích làm tình
với người đồng phái. Đó là những người đồng tính dục (les homosexuels),
nhưng nói cho nhẹ nhàng bóng bẩy một chút thì gọi là đồng tính luyến ái
(les homophiles); bên nam giới gọi là gay, bên nữ giới thì được gọi là
lesbiennes. Lại có người thích làm tình với người khác phái tính lẫn
người đồng phái tính. Đó là những người lưỡng tính luyến ái (les
bisexuels). Vua Hán Cao Tổ có nhiều quý phi, cung tần, mỹ nữ. Nhưng ông
ta thỉnh thoảng tìm các cậu trai mới lớn nuôi sẵn trong biệt viện để ông
ta thay đổi thực đơn hành lạc. Những cậu trai như vậy tiếng Pháp gọi là
bé cưng (les mignons). Đó là tôi nói theo nhà Trung Hoa học thuật gia
Robert Van Gulik qua cuốn biên khảo ‘‘La Vie Sexuelle dans la Chine
Ancienne.’’
Trong giới nghệ sĩ Hoa Kỳ thì Marlon Brando cũng thuộc loại lưỡng tính luyến ái. Anh ta mê phụ nữ da màu và đã trải qua hai đời vợ là Anna Kashfi – lai Ấn, Movita – gốc Mễ-tây-cơ. Nhân tình cũa anh ta gồm có các nữ tài tử France Nuyen – lai Việt, Tarita – người thuộc đảo Tahiti, Rita Moreno – dân Mỹ La-tinh. Nhưng bà vợ Anna Kashfi trong cuốn Brando au Petit Déjeuner xác nhận rằng Marlon Brando lẫn James Dean đều là dân lưỡng tính luyến ái. Trước khi nổi danh, trong thời gian sống ở Paris, Marlon chơi thân với điện ảnh gia Roger Vadim và nam tài tử Christian Marquand. Chính anh chàng Marquand này là người yêu của Marlon Brando. Anh ta người Tây-ban-nha lai Á-rập nhưng sinh sống từ nhỏ ở Pháp, đóng phim Pháp, nổi tiếng đẹp trai và sexy. Christian Marquand cũng là dân bisexuel, sau đó kết hôn với nữ tài tử Tina Aumont. Hư thực ra sao đố ai biết rõ. Chúng ta chỉ biết một khi người vợ bị tổn thương thì việc gì mà không dám nói. Anna Kashfi còn dám viết rằng Marlon Brando có tới ba hòn nang. Khi sống trên tại kinh thành Paris, chàng ta đã cùng Roger Vadim và Christian Marquand đi Monmartre để hành lạc theo kiểu ‘‘nga môn khoái lạc’’ do dân phong lưu Trung Hoa phát minh. Đó là đút dương vật vào hậu môn con vịt, rồi thình lình chặt cổ con vịt để cho hậu môn con vịt siết chặt và buông lỏng liên miên dương vật. Marlon Brando trong quyển hồi ký của mình bảo thẳng thừng rằng : ‘‘Tôi cũng có vài kinh nghiệm về đồng tính dục.’’ Riêng James Dean được báo chí thêu dệt mối tình giữa chàng ta và nữ tài tử gốc Ý Pier Angeli, giữa chàng ta và nữ thần nhục cảm Ursuela Andress gốc Thụy- sĩ. Nhưng lại có tin hành lang cho biết người tình đực rựa của chàng là tài tử bô trai cực kỳ thanh tú và hùng tráng là Tab Hunter.
Về phía lưỡng tính luyến ái phái nữ thì vào thời Đệ tam Cộng Hòa có
hai nàng nữ danh kỹ là Liane de Pougy và Emilienne d’Aleçon sắc nước
hương trời. Cả hai đã từ dan díu với các chàng trai quý tộc và các kỹ
nghệ gia Hoa Kỳ thuộc hạng tỷ phú. Liane de Pougy đã từng ăn nằm với
Hoàng tử vùng Galles nước Anh về sau trở thành vua Edouard VII, còn
Emilienne d’Aleçon đã từng dan díu với vua Léopold II nước Bỉ. Cả hai cô
danh kỹ kia còn là nữ sĩ văn chương. Liane viết 7 cuốn tiểu thuyết, nổi
tiếng nhứt là cuốn Idylle Saphique (Tình Yêu Các Cô Đồng Tính Luyến Ái) và cuốn nhật ký Mes Cahiers Bleus
( Những Tập Giấy Xanh Của Tôi). Người tình nuơng mặn mòi thắm thiết
nhứt của Liane de Pougy là nữ sĩ kiều diễm người Mỹ Natalie Cliffod
Barney. Còn Emilenne d’Aleçon về sau kết hôn với anh nài ngựa người Anh
chẳng những trí thức, giàu sụ mà còn đẹp trai. Vì là nài ngựa nên chàng
hơi nhỏ con một chút, nhưng rất xinh xắn dễ yêu. Cả hai si mê nhau điên
cuồng, yêu đương bỏng cháy. Vì yêu nàng, chàng bỏ quốc tịch Anh và xin
vào quốc tịch Pháp. Vì chàng, nàng thôi làm cái nghề đưa ông hoàng ra
cửa trước, rước ông tỷ phú vào cửa sau. Chàng nài ngựa bô trai giỏi văn
chương Pháp nên dạy Emilienne d’Aleçon làm thơ. Do đó nàng cho trình
làng hai thi tập Temple d’Amour (Ngôi Đền Tình Ái) và Les Masques
(Những Cái Mặt Nạ). Chàng nài ngựa yểu mệnh, Emilienne d’Aleçon đau khổ
không nguôi. Từ đó nàng đoạn tuyệt với đàn ông và chỉ ăn nằm với đàn bà
trong đó có nữ nam tước người Ý là Baronne Mimy Franchetti. Cô nữ nam
tước nầy cũng đã từng ăn nằm với Liane de Pougy.
LDV: Sự chấp nhận một cách hân hoan về khuynh hướng tính
dục đặc biệt của mình đã đem lại cho nhà văn những gì ngoài cõi lòng yên
tĩnh cần thiết để cho ra đời những trang viết đầy tình người và sức
sống?
HTA: Sống thành thật với chính mình thì dĩ nhiên được thoải mái về
mặt tinh thần lắm, có phải không cô Vân? Hồi chưa tiếp xúc với giới đồng
tính luyến ái tôi ấm ức trong lòng, khao khát được giao hợp với người
mình yêu. Nhưng ở tại một tỉnh lỵ đất Tiền Giang, tôi tìm đâu ra một đối
tượng tình yêu thuộc loại người như mình? Cho nên tôi đau khổ, tuyệt
vọng, lại còn sợ mọi người chế nhạo mình yêu trai, cho nên tôi không
biết ngỏ tâm sự cùng ai. Năm tôi 25 tuổi, tôi lên Sài Gòn học lớp tập sự
ngành Dược Khoa, tôi được thằng bạn thân học chung với tôi suốt 6 năm
bậc trung học. Nó cũng là dân gay như tôi, nhưng cả hai chỉ là bạn suông
trơn mà thôi. Nó giới thiệu cho tôi một ký giả người Pháp, gốc Ba-lan
tên là Ilya Mustkatblatz. Sau đó, nó chỉ cho tôi những chỗ hội họp của
bọn gay Việt lẫn gay từ các xứ như Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ, Phi-luật-tân, Đại
Hàn, Tàu Chợ Lớn qua làm việc hoặc định cư ở Sài Gòn. Họ thường lui tới
rạp chớp bóng Vĩnh Lợi (mà bọn tôi gọi là Vĩnh Lạc Cung) ở đường Lê Lợi
và gần Bệnh Viện Đô Thành, rạp chớp bóng Moderne (mà chúng tôi gọi là
Mẫu Đơn Đình) ở gần chợ Tân Định. Ngoài ra còn ở nhà hàng Continental,
nhà hàng Givral, Bùng Binh trước chợ Bến Thành là những nơi để bọn gay
kiếm bồ bịch. Ngoài ra ngôi chùa thuộc Nghĩa Trang Bắc Việt, đền thánh ở
Thủ Thiêm cũng là nơi hò hẹn bọn gay.
Không hiểu sao, từ khi tiếp xúc vào xã hội gay, dù lúc tiên khởi tôi
nghĩ mình bắt đầu có một cuộc sống lệch lạc về lề thói, về nguyên tắc
trật tự trong xã hội. Nhưng chính các lệch lạc, cái trái cựa đó khơi dậy
cho tôi biết bao niềm lạc hoan mênh mông và nguồn cảm hứng cực kỳ phồn
thịnh. Tôi phải trải rộng cảm hứng đó lên giấy càng nhiều càng tốt. Tôi
yêu đời, yêu mọi người. Tôi chỉ mong có nhiều người đọc những gì tôi
viết. Nhưng tôi chưa dám viết trực tiếp cái xã hội gay. Nhưng ai cấm tôi
sáng tạo những người đàn bà đa tình phản ảnh nguyên vẹn cái tôi đã bao
lần xao xuyến tâm hồn và xác thân trước hình bóng những nam minh tinh
điện ảnh mà tôi ái mộ? Từ khi lao vào giới gay, tôi vui sống, sáng tác
thơ rất nhiều. Tiếc rằng khi bỏ xứ ra đi, tôi không mang theo được gì,
chỉ nhớ lõm bõm vài bài thơ nhục cảm để khi ra hải ngoại tôi thực hiện
thành thi tập Thiên Đường Tìm Lại.
Vào năm 1966, trước hết, tôi viết truyện ngắn, thơ, kế đó mới tập tành điểm sách, viết tạp ghi. Và sau hết, tôi viết các bài nhận định về kịch ảnh & tân nhạc. Tôi đã từng cộng tác với các tập san Bách Khoa, Tin Văn, Tiểu Thuyết Tuần San, Minh Tinh, Sinh Hoạt Nghệ Thuật, công tác với các nhật báo Tranh Thủ, Tiền Tuyến… Hứng thú đưa đẩy ngòi bút tôi chạy tốc hành trên xấp trang bản thảo khi tôi ngồi vào bàn viết. Nhưng tôi không dám viết cái tôi của mình là gay. Tôi dệt ra những cảnh giao hợp bỏng cháy, tôi nhập vai vào các nữ nhân vật, còn nam nhân vật tuy có tên Việt như Cảnh, Hạo Minh, Tường Ngọc, Huy Châu v.v…, nhưng tôi mường tượng qua các chàng kép có thân vóc cường tráng mỹ lệ.
Bao giờ cũng vậy, khi viết tiểu thuyết không bao giờ tôi dám giết
những nhân vật đẹp trai dù các đương sự cùng hung cực ác đi nữa. Tôi chỉ
dám giết những nhân vật già nua từ 80 tuổi trở lên (cho họ chết vì già
yếu chớ không dám cho họ chết vì bịnh hoạn). Lại nữa, các nhân vật đẹp
trai được tôi xe duyên chỉ thắm với những nữ nhân vật nếu không kiều
diễm thì cũng duyên dáng mặn mòi. Nếu các cô lỡ có chửa với người chồng
bô trai ngó hoài…vẫn thích ngó của họ, thì ở chương áp chót của quyển
tiểu thuyết, tôi cho họ xổ bầu đập chum để họ có cái eo thon đẹp, để họ
diện áo đẹp đi rước đèn, đi bát phố cùng chồng. Còn nam nhân vật đẹp
trai nếu rủi bị bịnh ung thư hay bị bịnh AIDS thì nếu không nhờ thuốc
men hiệu nghiệm thì cũng được Đức Thánh Đồng Trinh Maria của thành phố
Lourdes hay Đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ dùng phép lạ mà giúp họ
lành mạnh. Như vậy nữ độc giả sẽ an tâm khi xếp quyển sách cũa tôi lại.
Cô xem đó, khi con người được hạnh phúc, họ dễ có tấm lòng vị tha,
không đem giáo điều khe khắc ra buộc tội bất cứ ai. Trong các tác phẩm
của tôi hầu như không có kẻ ác. Thường là những kẻ có cái miệng dữ dằn,
ngáp ra khói, ói ra tro, ho ra sấm sét, nhưng lòng dạ các đương sự hiền
lành như bột sắn, bột khoai. Thường là các mụ đàn bà thuộc loại chằn ăn
trăn quấn, ưa ganh tị từ cái ngáp tiếng ho với bạn bè, ưa thèo lẻo trong
các cuộc ngồi lê đôi mách, nhưng khi đối thủ của mình gặp hoạn nạn
thường ra tay cứu giúp, an ủi, đãi cho kẻ cựu thù những món ăn ngon…
chết giấc luôn! Tôi ưa viết những chuyện vạch tật xấu đàn bà, nhưng độc
giả của tôi hầu như 75% là đàn bà. Vậy có nghĩa là văn chương tôi không
độc địa như siêu vi trùng gây bịnh AIDS, không giúp các nhân vật lao vào
những hành động ác ôn côn đồ thổ phỉ, không xô nạn nhân vào cảnh đoạn
trường.
LDV: Xã hội phong kiến của Việt Nam có ảnh hưởng một cách
tiêu cực đến cái nhìn về giới tính của nhà văn không, trong cuộc sống
cũng như trong quá trình viết lách?
HTA: Ở Việt Nam, chuyện đồng tính luyến ái vào thập niên 50, 60 không
được xem là trầm trọng. Dân mình cho rằng hễ ai mắc phải ‘‘cái tật’’
yêu người cùng phái tính, một khi được lấy vợ gả chồng thì ‘‘lành bệnh’’
ngay. Nhưng bên Âu Châu vào thời Trung Cổ, những ai có hành động quá
thân mật với người cùng phái tính thì bị lôi ra tòa án và Giáo hội
Gia-tô xen vào kết án thiêu sống các đương sự. Tôi không nhớ rõ năm nào
trong thập niên 90 của thế kỷ 20, Đức Giáo Hoàng Jean Paul II đã từng
xin lỗi mọi người trên thế giới về chuyện các Giáo Hội Gia-tô đã lên án
xử tử nhà bác học Galilée khi ông ta dám tuyên bố quả đất tròn. Ngài
cũng xin lỗi về vụ các tín đồ Gia-tô a tòng với bọn buôn người bắt dân
Phi Châu bán cho người da trắng làm nô lệ. Nhưng ngài vẫn không thèm xin
lỗi về vụ bọn tăng lữ Gia-tô ở Pháp và ở vài nước Âu Châu đã đem dân
gay thiêu sống vì họ cho rằng những người gay cũng như nhừng người phù
thủy là ác quỷ Sa-tăng cần phải bị tiêu diệt.
Trong quá trình viết lách, trước kia dám khai huỵch tẹt cái sở thích
yêu người cùng phái với mình chỉ có văn hào André Gide ở những quyển
nhật ký. Nhưng ở cuốn L’Immoraliste (Kẻ Vô Luân), ông ta chỉ nói mí mí thôi. Văn hào Thomas Mann với quyển Mort à Venise (Chết Tại Kinh Thành Venise). E.M Forster với cuốn Maurice thì viết hẳn hoi về cuộc tình thầm kín hay công khai của các nhân vật gay. Tuy nhiên E.M Forster viết cuốn Maurice
khi còn sống, nhưng không dám đăng báo hay xuất bản. Trên giường bịnh
chờ chết, ông dặn người nhà khi ôg ta qua đời thì mới cho xuất bản cuốn
di cảo ấy. Còn nữ sĩ Natalie Clifford Barney thì viết lách công khai
chuyện đàn bà đánh chập chõa với đàn bà. Cả nàng danh kỹ Liane de Pougy
dám viết cuộc tình của mình với Natalie Clifford Barney trong cuốn Idylle Saphique
của mình. Vậy mà các ông hoàng ở Âu Châu, các triệu phú, tỷ phú Hoa Kỳ
vẫn tình nguyện chết chung vào lỗ của nàng. Rồi khi nàng leo lên 40 tuổi
có ông hoàng Lỗ-ma-ní nhỏ hơn nàng 15 tuổi cưới nàng làm vợ, cuộc hôn
nhân kéo dài tới khi ông ta lìa đời. Lúc đó Liane xấp xỉ 70 tuổi rồi,
đành sống cô đơn tới lúc nhắm mắt theo chồng.
Về các nhà văn nhà thơ Việt Nam thì vào năm 1966, đã có Đỗ Quế Lâm viết cuốn ‘‘Vết Hằn Rướm Máu’’. Hai nghệ sĩ diễn ngâm thơ là Đoàn Yên Linh và Hồ Bảo Thanh sáng tác những vần thơ đẹp như gấm và dịu như nhung. Họ xưng mình là em, là nàng cô phụ gửi người tình không chân dung nào đó hoặc người tình có thật trong cuộc sống mà họ đã từng si mê. Tiếc thay cả hai không cho xuất bản các bài thơ đẹp kia thành thi tập, chỉ đăng báo lai rai. Đoàn Yên Linh, Hồ Bảo Thanh và tôi đều là bạn của cây sáo thần Thanh Hà. Nhưng Thanh Hà không phải là gay mà là kẻ thông cảm với bọn gay chúng tôi mà thôi. Tình bạn giữa Thanh Hà và tôi từ trong nước, trước 1975 vẫn kéo dài cho tới bây giờ.
Ra hải ngoại, người xung phong viết chuyện đồng quê Nam Kỳ và chuyện đồng tính luyến ái vẫn là H.T.A. Người thứ hai là Ngô Nguyên Dũng trong quyển trường thiên tiểu thuyết Đêm. Lại có thêm Tạ Thái, Nguyễn Thạch Đàn qua những tự truyện dưới hình thức truyện ngắn đăng trên báo Văn. Lại có thêm Lê Nghĩa Quang Tuấn, em trai của hai nhà văn nữ là Lê Thị Huệ và Lê thị Thấm Vân đã từng đi diễn thuyết đòi quyền sống và đòi chỗ đứng trong xã hội cho dân đồng tính luyến ái trong xã hội. Tuấn lại còn chủ trương tạp san dành cho gay và lesbian. Đó là tờ Đối Diện (Face To Face). Thi tập Ầu Ơ… của đương sự rất tuyệt vời về tư tưởng triết học và xen vào đó có những bài thơ nhục cảm chan hòa mộng đẹp, sinh lực, tinh khí, những tư duy rất nhân bản. Theo tôi, những cây viết ở vào cuối thế hệ thứ nhì và đầu thế hệ thứ ba ở hải ngoại, trong hàng ngũ gay thì có Ngô Nguyên Dũng bên Văn, còn Lê Nghĩa Quang Tuấn bên Thi Ca. Cả hai tài hoa rất mực. Còn bên ca nhạc ở hải ngoại thì cũng ít nhất 5 người. Nhưng mà thôi, tôi không tiện hài danh hà tánh các đương sự, cứ để họ tiếp tục hành nghề và giữ mãi mãi là thần tượng của các cô choai choai có hơn không!
LDV: Khung cảnh tự do của quê hương thứ hai đã đem lại
cho ông những thay đổi tích cực gì về khuynh hướng tính dục của mình và
của những người đồng tâm trạng chung quanh ông?
HTA: Tôi qua nước Pháp gặp lúc phong hóa đang biến chuyển tiến bộ.
Phim sex dành cho bọn gay có chiếu vài rạp ở Paris. Tạp chí dành cho gay
là Gaipied bán tràn ngập khắp thị trường sách ốc. Nhà trí thức
André Baudry lập câu lạc bộ Arcadie để làm diễn đàn cho dân gay. Chính
tại đây, Lucien Trọng đã đăng đàn diễn thuyết và mở cuộc triễn lãm tranh
sơn dầu của đuơng sự. Ngoài ra, vũ trường Scaramouche dành cho gay. Hơn
một chục phòng tắm hơi dành cho dân gay ở Paris. Các anh chàng gay vào
đó tha hồ khỏa thân hoặc quấn chiếc khăn bông ở hạ bộ. Tìm được kẻ vừa ý
là cả hai dắt nhau vào căn buồng nhỏ để làm tình. Nếu phòng bị chiếm
hết thì tìm chỗ nào hơi tối một chút để giao hoan, chẳng bị ai phá rối.
Nhưng rồi từ năm 1985, bịnh AIDS lan tràn, tôi không dám bén mảng tới bất kỳ chỗ hẹn hò nào, đừng nói chi là phòng tắm hơi. Vả lại, từ năm 1985, tôi bắt đầu phái phì: bụng to như có cái chảo gang hay cái thau nhôm úp lên, lại có cằm đôi như cái nọng heo và còn dến thêm miệng cá má lợn. Đi đâu, tôi cũng vác các bụng bự chang bang như cái bụng chửa sắp tới ngày xổ bầu thì chán quá! Làm diet, chạy jogging, cuốc bộ hàng chục cây số vẫn chỉ sụt bớt 5 kí lô là cùng. Rồi tôi bỏ cuộc vì tôi bị ba chứng bịnh nan y như tiểu đường, cholesterol, cao máu. Từ nằm 1985, người bạn lòng tôi và tôi dù ở chung dưới một mái nhà, ngủ chung một giường, nhưng chỉ là bạn thuần khiết mà thôi. Vào năm 2006, tôi nghe lời bác sĩ thân tín tập thể dục dành cho người già cả, tập thở một cách chăm chỉ theo phương pháp mà Thiền Sư Nhất Hạnh chỉ dạy, tôi gần như hết bịnh tiểu đường, dứt tuyệt chứng cholesterol, giảm bớt cao máu. Nhưng tôi vẫn phải uống thuốc đều đặn. Do đó mà tôi sụt cân. Thể dục làm cho bụng tôi thon, cằm đôi biến mất. Thở theo phương pháp Tọa Thiền làm cho da mặt tôi sáng hồng. Bụng tuy thon nhưng lại hơi nhão, mông không xệ nhưng không tròn. Cằm đôi tuy mất, nhưng cổ tôi nhăn nhúm như cái nhau con heo nái phơi khô. Ngực tôi tuy đầy đặn nhưng không căng phồng như cánh buồm lộng gió. Bọn trai tráng có cặp mông tròn trặn như trái dưa hấu bổ đôi, bụng chẻ ra làm sau miếng như sáu thẻ chocolate. Vì than ôi, tôi đã 70 tuổi rồi, làm sao có thân vóc rắn chắc và mỹ lệ như bọn đờn ông con trai từ 18 đến 45 tuổi? Lại nữa, tôi đâu còn khả năng tình dục nữa, cho nên tôi đành làm bạn với con Chung Vô Diệm (chim vô dụng) mà thôi.
Thật ra, tôi cũng chẳng buồn tiếc cái thời sống lăng loàn hạnh phúc
cũ. Nếu vào thuở trung niên tôi vẫn còn có sắc vóc ngoạn mục, biết đâu
tôi chơi bời thả cửa, giao hoan thả giàn với bọn gay, để rồi vướng bịnh
AIDS. Như vậy trong cái rủi vẫn có cái may, phải không nào? Rất nhiều
bạn bè tôi xin tôi chỉ họ phương pháp làm gầy, phương pháp làm cho da
mặt mịn màng sáng sủa. Tôi cứ tình thật mà ‘‘khai báo’’. nhưng họ làm
không có kết quả. Thiệt tình tôi không hiểu tại sao? Nhưng đẹp lão để
làm gì? Khi tôi mặc áo thun, quần jean thì thân vóc tôi vẫn là người đàn
ông tuổi ngũ tuần. Nhưng khi vào bãi khỏa thân ở tỉnh nhà thì đây là
thân vóc của một ông già, dù có ngực đầy, bụng thon và mông không xệ đi
nữa. Ở ngoài đời, da mặt tôi thật lý tưởng mà phụ nữ rất hâm mộ. Nhưng
khi tôi được chụp ảnh, khuôn mặt tôi vẫn là khuôn mặt ông già, dù da mặt
chỉ có vài nét nhăn mờ mờ ở chuôi mắt đi nữa. Cho nên tôi không thèm
nhuộm tóc làm gì. Tuổi của tôi hiện giờ có thể làm ông cố được rồi.
Khi qua Pháp, tôi đã 40 tuổi, hưởng thụ không bao lâu, nhưng tôi không
thối tiếc một chút cỏn con nào. Mừng là thấy phong hóa tiến bộ một cách
tích cực. Có nhiều nước cho phép cặp gay làm đám cưới với nhau. Tôi thấy
cái dó không cần cái đó. Nhưng thôi, ai cũng có hoàn cảnh riêng, sở
thích riêng, tâm trạng riêng; đừng bắt buộc người khác phải giống mình.
Bây giờ ở Gia-nã-đại và ở vài nước Âu Châu có lịnh phạt những kẻ nào dám
sỉ nhục những chàng gay trước đám đông. Kẻ sĩ nhục sẽ bị phạt nặng nếu
kẻ bị hạ nhục có tìm được nhân chứng. Đối với những nước văn minh tân
tiến, tội đó cũng ngang ngữa với tội kỳ thị chủng tộc. Tôi chỉ thương
xót các em các cháu gay gặp vấn nạn bịnh AIDS nên không được thoải mái
lúc bắt bồ với nhau. Họ không được tâm trạng thảnh thơi như tôi hồi 40
năm về trước khi làm tình với đối tượng của mình.Tôi tin rằng đa số
những kẻ gay cũng như tôi được hạnh phúc khi sống trong xã hội được nới
lỏng nguyên tắc và giáo điều, sống tràn ngập tin tưởng hơn. Có vậy Ngô
Nguyên Dũng sáng tác không hề nhàm mỏi. Có vậy Lê Nghĩa Quang Tuấn mãi
mãi là tấm gương can trường dám đứng đầu sóng ngọn gió. Tôi không hiểu
tại vì sao càng lớn tuổi, Dũng ưa bỏ chín làm mười bất cứ chuyện gì.
Dũng nhìn đời bằng cặp mắt bao dung. Có phải chăng hắn sống trong hạnh
phúc và sống với tâm trạng cởi mở nên mới được đức tánh ấy? Dũng yêu
thích văn nghệ sĩ giới sáng tác lẫn văn nghệ sĩ giới trình diễn nên
không cần lui tới thường xuyên các cuộc hẹn hò trong khi đương sự vẫn
còn là kẻ trung niên tuấn tú, có thể bắt bồ vơi bọn gay Đức dễ ợt. Càng
lớn tuổi đương sự chuộng tâm linh nghiên cứu Phật Giáo. Còn riêng tôi,
trong mùa thu cuộc đời, tôi vẫn nghiên cứu thêm Kinh Đại Thừa như hồi
còn ở quê nhà, sưu tầm sách vở, các hình ảnh các minh tinh điện ảnh và
ca sĩ ngoại quốc. Bắt đầu chớm xuân, tôi trồng hoa ở bao lơn. Trong nhà
tôi bày những chậu cây cảnh những món ngoạn hảo (bibelots) và tranh ảnh.
Tôi không có thời giờ để phiền muộn. Hễ khi cái đầu nóng rực vì viết
lách hơi nhiều, tôi dừng bút lại, lo săn sóc lau chùi nhà cửa, nấu nướng
một món ăn hợp khẩu vị. Đôi khi tôi điện đàm với các bà bạn vốn là độc
giả của tôi để học hỏi cách thức làm những món ăn phổ thông hay những
món ăn đặc biệt sao cho hợp khẩu vị.
Lũ bạn gay của tôi sinh sống ở Paris thường hỏi tôi suốt gần 30 năm
nhà bác tuyệt tích giang hồ. Vậy mà nhà bác chịu đựng được? Có phải
chăng ở Troyes có phòng tắm hơi dành cho bọn gay? Hay có những chỗ hẹn
hò nào khác? Làm sao tôi nói cho lũ bạn tin rằng tôi đã sống đã tạm đầy
đủ rồi. Bây giờ ôn lại ‘‘thời tung hoành’’ cũng chỉ vun quén phong vị
cho văn chương và cho tuổi hoàng hôn, đừng quay lại thời dĩ vãng xa lắc
xa lơ nữa. Tôi còn nhớ một câu nói của đại kịch sĩ Pháp là Jean Louis
Barrault : ‘‘Ở chỗ huy hoàng ánh sáng, hay trong xó kẹt tối tăm, đâu đâu
cũng có hồng ân của Thượng Đế’.’
LDV: Văn của Hồ Trường An đầy chi tiết, sống
động và tràn ngập nhiều nhân vật nữ với tạo hình thật rõ nét. Định hình
giới tính của một nhà văn giữ tầm ảnh hưởng như thế nào đến giọng văn,
chủ đề, và thông điệp gởi gấm?
HTA: Văn chương tôi có nhiều chi tiết sống động? Có thể lắm chớ? Tôi
viết theo cảm hứng, có nhiều khi rất máy móc, không cần suy nghĩ cho
nhuần nhuyện trước khi viết. Thường thường bọn gay chúng tôi thích trào
lộng và có óc quan sát mãnh liệt. Do đó tôi tìm những nhân vật độc đáo,
xem cách sống, cách suy nghĩ và cách ăn nói của họ. Ai chê hạng người
ngồi lê đôi mách là hạng người mất nhân phẩm. Sức mấy mà tôi suy nghĩ
như vậy. Các cuộc ngồi lê đôi mách giúp tôi khám phá và tìm hiểu các
nhân vật độc đáo, những nhân vật có cá tính mạnh.
Tôi nhớ, hồi xa xưa, tôi ở chung với chị Thụy Vũ. Hôm đó, Tô Thùy Yên và chị nằm trên gác. Cô tớ gái của chị đang lục đục dưới bếp. Tôi và lũ bạn kéo về, quây quần bêm mâm gải khát, bắt đầu kể chuyện ngồi lê đôi mách pha trộn chuyện tiếu lâm. Bọn tôi không hay trên gác có người nên chúng tôi tha hồ mà xả máy đía dóc. Khi câu chuyện bắt đầu rời rạc dần thì chị tôi bước xuống, cười ngất: Nãy giờ tao với ông Tiên (chỉ TTY) nằm ngủ trên gác. Nghe bọn bây đấu hót bừa bãi mà cả hai cười muốn bể bụng, muốn tróc mỡ sa ra. Tao lại mắc tiểu. Nhưng ông Tiên cản tao lại để có thể tiếp nghe câu chuyện tụi bây. Trời ơi, tao nín đái, bọng đái căng phồng muốn bể như cái pháo chuột đây nè. Mấy tên này nên tìm gánh hát gia nhập làm hề là phải hơn.
LDV: Thế kỷ gần đây rất nhiều văn nghệ sỹ nổi tiếng trên
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những hành động công khai
và cởi mở hơn về khuynh hướng tính dục của họ và điều này đã khuyến
khích sự đồng thuận và cái nhìn thấu hiểu ngày một khoan dung của xã hội
về khuynh hướng đồng tính. Theo ông, những người nắm giữ sự ái mộ đặc
biệt của công chúng có trách nhiệm hướng dẫn dư luận vào lối suy nghĩ
bình đẳng hơn trong những nan đề xã hội không?
HTA: Tôi ra hải ngoại vào năm 1977. Tôi có đọc được vài quyển hồi ký
cũa các cây bút gay như hồi ký của kịch tác gia Tennessee Williams, hồi
ký của Gore Vidal, hồi ký đại minh tinh điện ảnh Pháp là Jean Marais mà
tôi còn nhớ cái tựa là Histoire de Ma Vie (Lịch Sử Đời Tôi).
Ngoài ra, nhà văn Renaud Camus và nhà văn Tony Duvert có cho xuất bản
quyển nhật ký của mình công khai bày tỏ những mối tình và những cuộc
liên hệ xác thịt của mình với kẻ đồng phái tính. Còn nhà văn Pháp
Dominique Fernandez qua cuốn L’Étoile Rose (Ngôi Sao Hường) cũng không giấu giếm khuynh hướng đồng tính dục của mình. Quyển L’Étoile Rose
đã làm cho hàng triệu độc giả Pháp và độc giả các nước nói tiếng Pháp
cảm thương cho dân gay bị bọn Đức Quốc Xã giam trong những trại trừng
giới, bị xâm ngôi sao hường trên trán, bị đọa đày dã man. Lại nữa, tôi
có đọc cuốn hồi ký của nhà văn nữ lừng danh xứ Pháp là Françoise Sagan.
Tôi rất cảm phục bà ta ở chỗ dám chia sẻ cảm thông với tâm sự các nghệ
sĩ gay. Bà ta viết về kịch tác gia kiêm văn gia Tennessee Williams kết
bạn với nữ sĩ Carson Mc Cullers. Ông chồng bà Carson Mc Cullers tự tử vì
khám phá ra mình là gay. Bà ta xuống tinh thần, bị suy nhược thần kinh.
Ông Tennessee Williams và anh chàng tình nhân ông ta săn sóc bà. Rồi
ông ta đưa bà ta sang Ý viếng thăm nữ tài tử Anna Magnani. Tại đây ngôi
sao điện ảnh hàng đầu nước Ý này cùng anh tình nhân trẻ tuổi của mình
săn sóc người nữ văn gia bất hạnh kia. Tình bạn giữa Tennessee Williams
và Anna Magnani cũng rất gắn bó keo sơn. Nhờ cuốn phim Le Rose Tatouée
phỏng theo vở kịch cùng tựa của Tennessee William mà Anna Magnani đoạt
giải Oscar một cánh vinh quang. Từ đó, cả hai thân thiết nhau. Lại nữa,
cô Vân chắc cũng biết qua nữ minh tinh Hoa Kỳ Elizabeth Taylor có 3
người bạn gay thân thiết đã từng đóng phim chung với cô ta là
Montgomerry Clft, Rock Hudson, Roddy Mac Dowall. Cô ta giúp do họ vật
chất lẫn tinh thần. Khi Rock Hudson chết vì bịnh AIDS, Liz Talor lập ra
hội giúp đỡ dân bị séro-positif lẫn dân bắt đầu vào thời kỳ bịnh AIDS
bắt đầu phát tác trên hoàn vũ.
Theo tôi, những nhà nghệ sĩ thuộc giới sáng tác bất kỳ trên xứ sở nào
cũng không cần phải e ngại kẻ thưởng ngoạn giảm sút sự ái mộ của mình
khi những kẻ dó biết họ là gay. Các nhà văn lừng danh trên thế giới như
André Gide, François Mauriac, Jean Cocteau, Gore Vidal… vẫn được độc giả
ủng hộ và ái mộ như thường. Bên sáng tác nhạc có Tchaikowski, bên hội
họa có Michel Ange, Léonard de Vinci tới nay văn phẩm, nhạc phẩm lẫn họa
phẩm của họ vẫn được hậu thế truyền tụng.
Những kẻ được quần chúng ái mộ nên đóng góp vào công việc đập tan
thành kiến tiêu cực về vụ đồng tính luyến ái, giúp họ sống tự nhiên theo
căn tính, theo khuynh hướng luyến ái và sở thích tình dục của họ. Rúng
ép, cưỡng bách họ theo bản tính và sự ưa thích của mình tức là làm trái
với cái ĐỨC theo quan niệm của Lão Tử, tức là sống theo bãn tính tự
nhiên của mình. O ép họ hoặc khiên cưỡng họ sống theo người yêu kẻ khác
phái tính là một điều trái tự nhiên, phản khoa học, lại còn độc ác bất
nhân. Françoise Sagan, Mae West, Liz Taylor là những người biết sống vì
biết thông cảm những kẻ muốn sống tự nhiên theo bản tính nhưng lại bị xã
hội đầy những kẻ đầu óc hẹp hòi nguyền rủa, lên án và ngăn cấm.
LDV: Chúng ta đã làm được gì và cần làm thêm những gì để đẩy lùi những sự phân chia kỳ thị giới tính?
HTA: Chỉ cầu mong cho mọi người hiểu rằng đồng tính luyến ái là cái
sở thích bẩm sinh, chứ không phải là cái căn bịnh do xã hội tạo ra. Có
kẻ bảo rằng người đồng tính luyến ái là do trong người đương sự có những
cái gènes (mầm mống) tạo cho đương sự cái khuynh hướng yêu người đồng
phái. Dù tôi không nắm vững vấn đề nầy, nhưng tôi không bao giờ để cho
Ông Trời hay nhà khoa học hay nhà tâm ly học hoặc nhà phân tâm học nào
chữa trị tôi trở thành người đàn ông bình thường. Tôi rất hạnh phúc được
làm chàng gay.
Để đẩy lùi sự phân chia giới tính, người đồng tính luyến ái phải tỏ
ra có tư cách. Trước hết đừng ve vãn cọ quẹt với những người không phải
là gay như mình. Đừng tỏ ra âu yếm quá lố với người tình của mình trước
công chúng hoặc làm trò õng ẹo nữ tính. Có vậy các nhà soạn kịch, các
nhà viết kịch bản không viết tuồng hát hay viết truyện phim phơi bày cái
lố lăng của bọn gay ra. Như thế, bọn gay chúng tôi mới tránh khỏi bị họ
vẽ vời qua những đường nét biếm họa lố lăng. Phải sống như người bình
thường. Đừng mặc cảm, có vậy mới hóa giải đươc một phần lớn sự phân chia
gới tính của kẻ dị tính luyến ái. Còn những người dị tính luyến ái nào
vốn thiếu tấm lòng thông cảm bao dung phải tìm hiểu vì sao thời buổi này
vấn đề đồng tính luyến ái được một vài nước nới lỏng, không bị ngăn cấm
gắt gao. Đó có phải là cái kết quả tích cực của biết bao công việc
nghiên cứu của các nhà tâm lý học, nhà phân tâm học, nhà xã hội học, nhà
nhân chủng học, nhà sinh lý học, nhà tình dục học v.v… Dần dần họ mới
khám phá cái bí nhiệm của kẻ đồng tính luyến ái và đi đến kết luận tích
cực như sau: đồng tính luyến ái không phải là cái bệnh, cũng không phải
là tật xấu mà là một trạng thái tâm lý học lẫn sinh lý học như bao nhiêu
trạng thái muôn màu muôn vẻ của con người sống trên trái đất này.
LDV: Ông có tin vào tầm ảnh hưởng lớn của văn chương
không? Ông có tin nó có thể giúp chúng ta xóa bỏ những ranh giới khác
biệt giữa người và người không?
HTA: Có chứ cô Vân. Hồi 2 thập niên 30 và 40, văn hào André Gide dám phô bày cái đồng tính luyến ái của mình qua nhiều văn phẩm có giá trị nghệ thuật nên một thiểu số dân Pháp chẳng những không buộc tội bọn gay mà còn đặt lại vấn đề để tìm hiển dân gay sâu xa hơn. Tôi còn nhớ khi nhà đạo diễn James Ivory thực hiện cuốn phim Maurice phóng tác theo tác phẩm cùng tựa của E.M. Forster, khán giả Pháp đến xem chật rạp. Đa số dều chia sẻ tâm sự chàng Maurice do James Wilby đóng. Vào năm 2005, khi cuốn phim Le Secret de Brokeback Mountain của Ang Lee tung ra cũng được giới thưởng ngoạn ủng hộ nồng nhiệt. Đọc những quyển sách của ông André Gide, của ông Robert Peyrefitte (chẳng hạn như quyển Les Amitiés Particulièrs/Tình Bạn Kỳ Đặc) hoặc xem những cuốn phim mà tôi vừa kể thì kẻ thưởng ngoạn phải suy nghĩ và đặt lại vấn đề kỳ thị dân gay chứ! Nên tôi mãi tin, văn chương có tầm ảnh hưởng đáng kể.
LDV: Với tư cách là một nhà văn và một người trong cuộc,
ông có những lời khuyên nào cho những ai vẫn còn chưa tìm được sự bình
an trong tâm hồn về định hình giới tính của riêng họ?
HTA: Mình hạnh phúc hay không là do chính mình. Mình phải thành thật
với chính mình, phải xem xét hoài bão và nguyện vọng của mình để tìm một
lối sống riêng biệt cho mình với điều kiện mình không làm mất lòng ai,
không dẫm chân và phóng uế vào đời tư kẻ khác. Mình phải chủ trương đời
mình miễn sao đừng làm hại kẻ khác. Tôi xin nhấn mạnh những gì tôi đã
phô bày, cạn tỏ mình nên sống bằng cuộc đời của mình, đừng sống bằng đời
của kẻ khác. Đó là sống theo cái ĐỨC. Sống bằng đời kẻ khác, hoặc sống
tuân theo luật lệ xã hội một cách khít khao mà không để một khe hở nhỏ
nhoi cho ánh nắng tượng trưng cho sự tự do, cho sự quyền biến, cho sự
cảm thông lọt vào thì cuộc sống của mình trở nên lệch lạc nếu không bảo
là què quặt tật nguyền.
LDV: Xin trân trọng cảm tạ nhà văn Hồ Trường An đã dành
cho độc giả những tâm sự hết sức cá nhân và lòng chân thật đáng quý
trong cuộc nói chuyện này.
*Ảnh trên: nhà văn HTA vào năm 1991. Ảnh dưới – nhà văn HTA vào năm 2008.
Chuyện Chúng Mình Với Nhạc Sĩ Phạm Mạnh Đạt
Chuyện Chúng Mình Với Nhạc Sĩ Phạm Mạnh Đạt
Tỳ Bà Hành
Louis Tuấn Lê
Nhân lúc thực hiện Video Mạn Đàm Tỳ Bà Hành (琵琶行), tôi đọc qua tác phẩm Tỳ Bà Hành và Tiểu sử Bạch Cư Dị. Quả thật đại thi hào Bạch Cư dị là một thiên tài, mà thời bấy giờ gọi ông là (Thi Tiên) ông cùng đứng tên trong Tam Đại Thi Hào của Trung Hoa, gồm có: Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Bản dịch hay nhất của Phan Huy Thực đã ghi dấu nền văn học và ngôn ngữ Việt thật phong phú.
Một chút phân tich về chữ nghĩa Mở đầu chúng ta thấy Bạch Cư Dị trong nguyên bản ông đã viết:
Tầm Dương giang đầu dạ tống khách.
Nghe không buồn, không vắng vẻ, không mông lung bằng Dịch giả Phan Huy Thực viết “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách“. Chữ dạ có nghĩa là đêm không gợi ý bằng chữ Canh Khuya. Tài năng của dịch giả Phan Huy Thực cộng với tinh thần của tiếng Việt nghe vẫn hay hơn.
Đọc câu thơ thứ hai theo nguyên bản: “Phong diệp địch hoa thu sắt sắt“. Phan Huy Thực dịch “Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu” thì câu thơ dịch của họ Phan, làm rung động lòng người, nhờ những chữ “lau lách đìu hiu”, cả chữ quạnh, chữ hơi nữa, chúng ta thấy chữ “lau lách” buồn hơn chữ địch hoa; hơi thu, đìu hiu gợi cảm hơn là “thu sắt sắt”. Tinh thần của chữ Việt tuyệt vời ở chỗ đó.
Tôi cũng thử dịch 8 câu đầu trong bài Tỳ Bà Hành, tôi dịch theo ngôn ngữ của thời hiện tại.
A
virus called Wuhan-400 makes people terribly ill … in a Dean Koontz
thriller from 1981. How is it that some books appear to prophesy events?
“The Eyes of Darkness” features a Chinese military lab in Wuhan that creates a virus as a bioweapon; civilians soon become sick after accidentally contracting it
In fact, the one lab in China able to handle the deadliest viruses is in Wuhan and helped sequence the novel coronavirus the world is currently battling
Kate Whitehead
In bestselling suspense author Dean Koontz’s 1981 thriller The Eyes of Darkness, a virus to be used as a biological weapon is developed in Wuhan, China, but humans end up contracting it.
The Eyes of Darkness,
a 1981 thriller by bestselling suspense author Dean Koontz, tells of a
Chinese military lab that creates a virus as part of its biological
weapons programme. The lab is located in Wuhan, which lends the virus
its name, Wuhan-400. A chilling literary coincidence or a case of writer
as unwitting prophet?
In The Eyes of Darkness,
a grieving mother, Christina Evans, sets out to discover whether her
son Danny died on a camping trip or if – as suspicious messages suggest –
he is still alive. She eventually tracks him down to a military
facility where he is being held after being accidentally contaminated
with man-made microorganisms created at the research centre in Wuhan.
If
that made the hair on the back of your neck stand up, read this passage
from the book: “It was around that time that a Chinese scientist named
Li Chen moved to the United States while carrying a floppy disk of data
from China’s most important and dangerous new biological weapon of the
past decade. They call it Wuhan-400 because it was developed in their
RDNA laboratory just outside the city of Wuhan.”In
another strange coincidence, the Wuhan Institute of Virology, which
houses China’s only level four biosafety laboratory, the highest-level
classification of labs that study the deadliest viruses, is just 32km
from the epicentre of the current coronavirus outbreak. The opening of the maximum-security lab was covered in a 2017 story in the journal Nature, which warned of safety risks in a culture where hierarchy trumps an open culture.
Koontz has written more than 80 novels and 74 works of short fiction. Photo: Douglas Sonders
Fringe
conspiracy theories that the coronavirus involved in the current
outbreak appears to be man-made and likely escaped from the Wuhan
virology lab have been circulated, but have been widely debunked. In
fact the lab was one of the first to sequence the coronavirus.
In
Koontz’s thriller, the virus is considered the “perfect weapon” because
it only affects humans and, since it cannot survive outside the human
body for longer than a minute, it does not demand expensive
decontamination once a population is wiped out, allowing the victors to
roll in and claim a conquered territory.
It’s no exaggeration to call Koontz a prolific writer. His first book, Star Quest,
was published in 1968 and he has been churning out suspense fiction at a
phenomenal rate since with more than 80 novels and 74 works of short
fiction under his belt. The 74-year-old, a devout Catholic, lives in
California with his wife. But what are the odds of him so closely
predicting the future?Post Magazine NewsletterGet updates direct to your inboxBy registering, you agree to our T&C and Privacy Policy
Albert
Wan, who runs the Bleak House Books store in San Po Kong, says Wuhan
has historically been the site of numerous scientific research
facilities, including ones dealing with microbiology and virology.
“Smart, savvy writers like Koontz would have known all this and used
this bit of factual information to craft a story that is both convincing
and unsettling. Hence the Wuhan-400,” says Wan.
British
writer Paul French, who specialises in books about China, says many of
the elements around viruses in China relate back to the second world
war, which may have been a factor in Koontz’s thinking.
The Eyes of Darkness, by Koontz.
“The
Japanese definitely did do chemical weapons research in China, which we
mostly associate with Unit 731 in Harbin and northern China. But they
also stored chemical weapons in Wuhan – which Japan admitted,” says
French.
Publisher
Pete Spurrier, who runs Hong Kong publishing house Blacksmith Books,
muses that for a fiction writer mapping out a thriller about a virus
outbreak set in China, Wuhan is a good choice.
“It’s
on the Yangtze River that goes east-west; it’s on the high-speed rail
that goes north-south; it’s right at the crossroads of transport
networks in the centre of the country. Where better to start a fictional
epidemic, or indeed a real one?” says Spurrier. (Spurrier works
part-time as a subeditor for the Post.)
Albert Wan runs the Bleak House Books store in San Po Kong, Hong Kong.
Hong Kong crime author Chan Ho-kei believes that this kind of “fiction-prophecy” is not uncommon.
“If
you look really hard, I bet you can spot prophecies for almost all
events. It makes me think about the ‘infinite monkey’ theorem,” he says,
referring to the theory that a monkey hitting keys at random on a
typewriter keyboard for an infinite amount of time will almost surely
type any given text.
“The probability is low, but not impossible.”
British writer Paul French.
Chan points to the 1898 novella Futility,
which told the story of a huge ocean liner that sank in the North
Atlantic after striking an iceberg. Many uncanny similarities were noted
between the fictional ship – called Titan – and the real-life passenger
ship RMS Titanic, which sank 14 years later. Following the sinking of
the Titanic, the book was reissued with some changes, particularly in
the ship’s gross tonnage.
“Fiction
writers always try to imagine what the reality would be, so it’s very
likely to write something like a prediction. Of course, it’s bizarre
when the details collide, but I think it’s just a matter of
mathematics,” says Chan.
Many of Koontz’s books have been adapted for television or the big screen, but The Eyes of Darkness
never achieved such glory. This bizarre coincidence will thrust it into
the spotlight and may see sales of this otherwise forgotten thriller
jump.
Hong Kong crime author Chan Ho-kei.
Amazon is currently offering it on Kindle for just US$1. Perhaps, like Futility, it will also be reissued with some updates to make it really echo the current outbreak.
Người Việt mua sắm đón Tết Canh Tý ở San Jose (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Châu Á năm nay đón tết chẳng vui gì vì
Trung Quốc đang trải qua một mùa xuân kinh hoàng, nhất là cho dân thành
phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc. Nỗi kinh hoàng lan toả ra cả nước trong ngày
tết linh thiêng của một dân tộc thì mới chỉ có người dân Việt Nam Cộng
hoà kinh qua cách đây 52 năm, Tết Mậu Thân.
Tết Canh Tý có “Cô Vi” xông đất, chẳng
mang lại hương hoa tốt lành mà gây bao sợ hãi. Cô tới từ đâu thì chưa rõ
lắm, từ chợ hải sản thú vật nhếch nhác bẩn thỉu hay từ phòng thí
nghiệm, hay dửng dưng từ trời cô xuống cõi trần hù thiên hạ một phen?
Thành phố Vũ Hán với hơn chục triệu dân
được cô xông đất đầu tiên khiến nơi đây phải bế quan toả cảng. Ngày đầu
năm âm lịch đường phố như bãi tha ma, im lìm vắng lặng.
Từ cái rốn của thế giới, Cô Vi lan toả,
gieo rắc lo lắng khắp nơi: Việt, Hàn, Úc, Phi, Đài, Anh, Nhật, Mỹ, Thái
và hai chục quốc gia khác. Ghé nơi nào cô làm giao động dân tình nơi đó.
Nhưng làm sao không cho cô ghé bây giờ? Đóng biên giới hay đeo khẩu
trang, đóng cửa trường hay đi di tản?
Bên châu Á, chỗ nào có bóng dáng cô là
thiên hạ lo bịt miệng, bịt mũi. Ở Hong Kong, Trung Quốc ra đường như lạc
vào hành tinh khác vì chỉ thấy những khuôn mặt bịt kín chừa đôi mắt. Mà
không biết khẩu trang, dù có hiện đại đến mấy, có ngăn chặn được cô hay
không. Dù chẳng ngăn cô được nhưng người châu Á cũng ùn ùn tìm mua khẩu
trang đến độ không còn mảnh nào. Ngay cả nhiều nơi ở California cũng
không còn hàng để bán. Con buôn đã thu mua hết để gửi về Trung Quốc hay
sao? Hơn một tỉ người mà dùng hàng nào thì hàng đó có giá ngay.
Buôn bán làm ăn với Trung Quốc là có lời
ngay trước mắt nên đã từng nghe nói: “Chỉ cần mỗi ngày một người Trung
Quốc uống một lon Coca Cola thôi là đủ giúp cho nền kinh tế Mỹ rồi”.
Ngược lại từ hơn hai chục năm qua người
Hoa đã bị tư bản bóc lột, làm gia công cho thiên hạ tiêu dùng hàng giá
rẻ. Toàn cầu hoá là thế. Xã hội chủ nghĩa cũng phải đầu hàng, không còn
giương cao ngọn cờ kêu gọi công nhân vùng lên chống tư bản bóc lột.
Nhưng bây giờ hơn một tỉ người đang lo sợ
Cô Vi và nếu không thể tiếp tục làm gia công thì kinh tế Trung Quốc sụp
trước, kéo theo Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc sụp theo.
Sinh hoạt đón Tết Canh Tý của người Việt ở miền bắc California (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Một gia đình người Việt xem Super Bowl và đón Tết Canh Tý hôm Chủ Nhật 2/2/2020 (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Cô Vi mà hôn mắt, hôn môi ai là người đó
ho, sốt rồi khó thở và có thể tắt thở luôn. Ở Trung Quốc đã có ba vạn
người được hôn nhẹ và hơn 600 người đã chết vì cô. Đó là con số nhà nước
đưa ra, còn theo giới chức y tế quốc tế thì có thể cao hơn nhiều.
Cô Vi lang thang khắp Trung Quốc, rồi bay
ra nước ngoài nên Tết Ta hải ngoại năm nay không đông vui như những năm
trước. China town ở San Francisco, ở Oakland vắng vẻ. Diễn hành đón tết
của người Hoa ở San Francisco vào tối thứ Bảy 8/2 này chắc sẽ rất thưa.
Nhìn chung vì thói quen ăn uống các thứ động vật và khạc nhổ bừa bãi
trong nếp sống của người Hoa lục địa làm nhiều người e ngại, nhất là vào
những lúc có các bệnh truyền nhiễm.
Cô Vi đã thăm xứ Cờ Hoa, đi theo những
người mới ghé qua quê hương của Bác Tập. Nước Mỹ có thành phố Seattle,
tiểu bang Washington là trạm dừng đầu tiên của cô sau khi vượt Thái Bình
Dương. Rồi cô qua Arizona, California, Illinois, Massachusetts và
Wisconsin. Mỗi nơi cô thăm một bạn, Arizona cô thăm hai.
Cô có nhiều bạn ở California và đã thăm
sáu người. Cô thăm ai người đó bị cách ly khỏi gia đình và bạn bè, chỉ
còn được làm quen, tâm sự với bác sĩ, y tá trông như những phi hành gia
đến từ hành tinh khác. Sáu bạn ở California có bốn người từ thung lũng
hoa vàng miền Bắc California, hai bạn khác từ vùng Los Angeles và Little
Saigon Quận Cam.
Tổng thống Donald Trump, “bạn” của Chủ
tịch Tập Cận Bình, nhưng cũng sợ Cô Vi nên cấm người nước ngoài vào Mỹ
nếu đã du lịch Trung Quốc trong những ngày qua. Công dân Mỹ hay thường
trú nhân mà thăm Trung Quốc gần đây, trở lại Mỹ sẽ bị kiểm dịch và được
yêu cầu tự cách li hai tuần lễ. Nhiều cơ quan, công ti, trường học cũng
đã thi hành chính sách này.
Hình như Cô Vi không có bạn Việt tại Mỹ
nên dân tình Mít trong ngày đầu năm không xôn xao, lo lắng. Diễn hành,
hội chợ ở Little Saigon Quận Cam vẫn đông vui. Trên Thung lũng Hoa vàng
cũng thế, vẫn thi hoa hậu, vẫn rong chơi hội chợ. Đêm giao thừa và ba
ngày tết pháo vẫn nổ rền vang trừ tà. Chùa chiền, nhà thờ đông thiện nam
tín nữ đền cầu nguyện, xin xâm, hái lộc.
Mồng Chín Tết San Jose vẫn còn hội xuân
ngoài bãi đậu xe trong khu thương mại Eastridge, tuy ít khách du xuân,
không phải vì không muốn gặp Cô Vi mà là vì trùng ngày với Super Bowl
của Mỹ, có đội 49ERS của San Francisco vào chung kết với đội Chiefs của
Kansas City từ tiểu bang miền quê Missouri.
Xa lộ cũng vắng xe không phải muốn tránh
Cô Vi. Giờ đó nhiều người ở nhà, hay vào quán rượu xem trận vô địch bóng
cà-na lần thứ 54 của nước Mỹ. Nhiều người Việt đã hoà mình vào nếp sống
Mỹ nên dăm ba gia đình, bạn bè tụ họp nhau vừa ăn tết vừa xem đấu bóng
và hồi hộp theo dõi từng đường banh.
Mới ra sân được vài phút, Chiefs đã gác
49ERS ba điểm đầu tiên, 3-0, làm nhiều ủng hộ viên thất vọng, trong đó
có tôi, từng yêu đội nhà suốt 40 năm qua. Rồi 49ERS lấy lại phong độ,
đến cuối hiệp hai gác Chiefs 20-10.
Giờ giải lao, mọi người hào hứng chờ đợi
màn biểu diễn của J. Lo, cô ca sĩ gốc Mỹ Latinh Jennifer Lopez. Âm nhạc,
giọng hát và cách biểu diễn của cô cùng với kỹ thuật âm thanh, ánh sáng
đã cho khán giả mười lăm phút giải trí thật tuyệt vời.
Một thăm dò trên toàn nước Mỹ hỏi ý kiến
khán giả sẽ theo dõi Super Bowl 54th họ mong đợi gì. Dân California mong
49ERS thắng. Missouri mong Chiefs thắng. Còn lại 50 tiểu bang khác chỉ
lo J. Lo… rớt áo ngực.
Hai hiệp sau đội nhà chơi quá tệ. Kết quả
thảm bại với Chiefs thắng 31-20, làm tiêu tan hy vọng có diễn hành chiến
thắng trên đường phố San Francisco vào ngày thứ Tư 5/2.
Thế là hết một tuần vui với tết Việt, với thể thao Mỹ. Ngày mai trở lại đi cày tiếp.
Sinh hoạt gây quỹ cho trường học ở vùng Vịnh San Francisco tối 1/2/2020 (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Sau mỗi trận đấu vô địch lại có ý kiến đề
nghị công bố ngày thứ Hai sau Super Bowl là ngày nghỉ toàn quốc, vì mỗi
năm có vài triệu người không vào làm việc trong ngày thứ Hai vì cần nghỉ
ngơi cho lại sức. Trận chung kết cả nước có hàng trăm triệu người xem,
ăn nhậu vui chơi mà ngày mai phải đi làm thì oải quá. Cũng có đề nghị
chuyển trận đấu sang ngày thứ Bảy, nhưng đến nay vẫn không có thay đổi
sau hơn nửa thế kỷ với truyền thống này.
Giống Việt Nam mấy năm gần đây có bàn việc
chuyển ngày đón tết ta sang cùng ngày tết tây. Nguyên do vì không còn
phù hợp với nền kinh tế hiện tại, vì muốn tách khỏi ảnh hưởng của văn
hoá Trung Hoa, vì ăn tết ta nghỉ quá nhiều làm lãng phí thời gian làm
việc cũng như tiền bạc.
Là một người Mỹ gốc Việt tôi thấy không
nên đổi ngày mừng đón tết ta vì mỗi năm gia đình, bạn bè xum họp đón tết
cùng xem thể thao Mỹ là nét giao thoa đẹp giữa hai nền văn hoá.
Tết đã hết. Super Bowl cũng đã sang mùa.
Đời sống bình thường trở lại. Nhưng nhiều gia đình Việt đang lo vì thân
nhân về quê ăn tết sắp qua lại, không biết có mang theo Cô Vi hay gặp
trở ngại gì khi đến sân bay Mỹ.
Đã gần một tháng từ khi bệnh dịch được
công bố, thành phố Vũ Hán vẫn bị bỏ hoang. Một bác sĩ trẻ tuổi lên tiếng
cảnh báo từ sớm về nguy cơ của loại siêu vi mới, bị công an khiển trách
vì cho là đưa tin thất thiệt, vừa qua đời ở Vũ Hán. Hàng trăm công dân
Mỹ đã được di tản về hai căn cứ không quân ở California, bị cách ly gia
đình hai tuần.
Cô Vi mới phất phơ vài nơi trên đất Mỹ.
Mọi sinh hoạt vẫn bình thường như mỗi năm có dịch cúm. Giới chức y tế
nói không có gì phải lo, chẳng phải đeo khẩu trang, chỉ nhớ nguyên tắc
giữ vệ sinh cá nhân là đừng đưa tay dụi mắt, mũi và cần rửa tay thường
xuyên là tránh được lây nhiễm Cô Vi hay cúm đang có vào mùa đông lạnh
giá.
Tết Canh Tý với Cô Vi (nCoV – corona
virus) thật là một cái tết khó quên cho nhiều người, nhiều gia đình ở
nhiều nơi trên thế giới.
Cô Vi và Tết Canh Tý * Cô
Vi mới phất phơ vài nơi trên đất Mỹ. Mọi sinh hoạt vẫn bình thường như
mỗi năm có dịch cúm. Giới chức y tế nói không có gì phải lo, chẳng phải
đeo khẩu trang, chỉ nhớ nguyên tắc giữ vệ sinh cá nhân là đừng đưa tay
dụi mắt, mũi và cần rửa tay thường xuyên là tránh được lây nhiễm Cô Vi
hay cúm đang có vào mùa đông lạnh giá.
Bài Thơ CHI LẠ RỨA
Bài Thơ CHI LẠ RỨA
Nguyễn Thị Hoàng
Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc, Ngó chi tui đồ cỏ mọn, hoa hèn. Nhìn chi tui hình đom đóm đêm đen, Cho tui tủi bên ni bờ cô tịch.
Tui ao ước có bao giờ tuyệt đích,
Tui van xin răng mà cứ làm ngơ.
Rồi ngó tui, chi lạ rứa hững hờ,
Ghét, yêu, mến, vô duyên và trơ trẽn!
Tui đã tắt nỗi ngại ngùng bẽn lẽn,
Bởi vì răng, ai biết được người hè.
Nhưng màu chiều đã rũ bóng lê thê,
Ni với nớ, có chi mô gần gũi!
Chi lạ rứa, răng cứ làm tui tủi?
Tàn nhẫn chi với một đứa thương đau!
Khối tình câm nên không sắc, không màu,
Và vạn thuở chẳng nên câu luyến ái!
Chi lạ rứa, người cứ làm tui ngại,
Biết sông sâu hay cạn giữa tình đời?
Bên ni bờ vẫn trong trắng chơi vơi,
Mà bên nớ trầm ngâm mô có kể.
Không muốn khóc, nhưng cứ từng ngấn lệ,
Đọng làn mi ấp ủ mối tâm tình.
Bên ni bờ hoa thắm bớt tươi xanh,
Mà bên nớ huy hoàng và lộng lẫy.
Muốn lên thuyền mặc sóng cuồng xô đẩy,
Nhưng thân đau nên chẳng dám đánh liều.
Đau chi mô có lẽ hận cô liêu,
Mà chi lạ rứa hè, ai hiểu nỗi!
Tui không điên cũng không hề bối rối,
Ngó làm chi thêm tủi nhục đau thương
Tui biết tui là hoa dại bên đường,
Không hương sắc, lạ rứa hè, người hỉ?
Tui cũng muốn có một người tri kỉ,
Nhưng đường đời như rứa biết mần răng!
Tui muốn kêu, muốn gọi, muốn thưa rằng:
Chờ tui với! A, cười chi lạ rứa
Tui không buồn sao mắt mờ lệ ứa, Bởi vì răng tui có hiểu chi mô! Vì lòng tui là mặt nước sông hồ, Chi lạ rứa, bên ni bờ tui khóc.
LÁ THẮM ĐỀ THƠ
“LÁ THẮM ĐỀ THƠ”
(hay là: Lá thắm đưa duyên)
Triều vua nào cũng vậy, nhiều giai nhân tuyệt sắc trong nước được tuyển vào cung để làm cung nữ. Họ là những giai nhân bạc mệnh, đi chẳng có về, suốt đời chịu cảnh lạnh lùng, buồn tủi, sầu đau trong chốn thâm cung.
Nhà vua có cả tam cung, lục viện, hàng ngàn cung nữ phi tần toàn bực diễm kiều, tài sắc cả. Mỗi đêm ngủ ở cung nào, nhà vua phải nhờ xe dê đưa đến. Xe dừng trước cung nào thì nhà vua vào cung ấy. Có những nàng hằng năm không được đoái hoài, đành chịu cảnh cô phòng giá lạnh.
Đời Đường (618-907), đời vua Hy Tông có nàng cung nữ tuyệt sắc tên Hàn Thúy Tần sống cảnh lẻ loi buồn bực trong thâm cung, nên thường nhặt những chiếc lá đỏ (hồng diệp) rồi đề thơ lên trên lá, thả xuống ngòi nước:
Nước chảy sao mà vội?
Cung sâu suốt buổi nhàn.
Ân cần nhờ lá thắm
Trôi tuốt đến nhân gian.
Nguyên văn:
Lưu thủy hà thái cấp
Cung trung tận nhật nhàn.
Ân cần tạ hồng diệp.
Hảo khứ đáo nhân gian.
Chiếc lá chở bài thơ theo dòng nước chảy xuôi ra ngoài vòng cấm lũy.
Lúc bấy giờ có người môn khách của quan Tể Tướng Hàn Vinh tên Vưu Hựu vốn kẻ phong lưu tài tử, thơ hay, chữ tốt, chỉ hiềm một nỗi vận chưa đạt nên đành chịu sống nhờ nơi quan Tể Tướng họ Hàn. Đương thơ thẩn ngắm dòng nước chảy, Hàn bỗng nhìn thấy chiếc lá có bài thơ, lấy làm lạ mới vớt lên xem. Cảm tình chan chứa với người gởi thơ lạ mặt, chàng cũng bẻ một chiếc lá, viết một bài thơ vào đấy, lên đầu nguồn dòng nước thả lá xuống cho trôi trở xuống.
Nghe oanh thấy liễu chạnh lòng thương,
Thương kẻ trong cung lúc đoạn trường.
Chiếc lá đề thơ trôi mặt nước,
Gởi cho ai đó nói không tường.
(Bản dịch của Phan Như Xuyên)
Người cung nữ họ Hàn thường ngồi nhìn dòng nước chảy, bỗng bắt được chiếc lá trở vào của người không quen biết, mới đem cất vào rương son phấn.
Ba năm sau, nhà vua sa thải một số cung nữ ( khoảng 3,000), trong đó có Thúy Tần. Nàng đến ở tạm dinh quan Tể Tướng họ Hàn để chờ thuyền trở về quê cũ, bỗng gặp Vưu Hựu. Hai người trò chuyện, ý hợp tâm đầu. Tể Tướng họ Hàn thấy cả hai đều xứng đôi vừa lứa nên làm mối thành duyên giai ngẫu.
Đêm tân hôn, Hựu chợt mở rương của vợ thấy chiếc lá của mình ngày xưa. Lấy làm lạ lùng, chàng cũng đem chiếc lá của mình vớt được cho vợ xem. Thì ra cả hai lại giữ hai chiếc lá của nhau. Cho là thật duyên trời định.
Cổ thi có bài: (*)
Một đôi thi cú theo dòng nước
Mười mấy năm qua nhớ dẫy đầy.
Mừng bấy ngày nay loan sánh phụng
Cũng nhờ lá thắm khéo làm mai.
Nguyên văn:
Nhất liên giai cú tùy lưu thủy,
Thập tải ưu tư mãn tố hoài.
Kim nhật khước thành loan phượng lữ,
Phương tri hồng diệp thị lương môi.
Trong “Đoạn trường tân thanh” của cụ Nguyễn Du, có câu:
Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
hay:
Dù khi lá thắm chỉ hồng,
và:
Nàng rằng hồng diệp xích thằng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
“Lá thắm”, “Hồng diệp” đều do điển tích trên.
./.
(Bài sưu tầm từ trang FB Những Câu Chuyện Thú Vị )
Cung Chúc Tân Xuân – Thơ
Cung chúc tân xuân – Thơ Lê Tuấn
v
Diễn hành Tết Canh Tý trên đại lộ Bolsa, Little Saigon
Diễn hành Tết Canh Tý trên đại lộ Bolsa, Little Saigon January 25, 2020
Đoàn rước quốc kỳ Hoa Kỳ và VNCH. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
WESTMINSTER, California (NV) –
Đúng 8 giờ sáng 25 Tháng Giêng, tức Mồng Một Tết Canh Tý 2020, cuộc
diễn hành mang chủ đề “Tri Ân” do Little Saigon Westminster Tet Parade
tổ chức chính thức bắt đầu.
Thời
tiết tại Little Saigon hôm nay khá đẹp, trời khô ráo và nhiệt độ ngoài
trời khoảng 54 độ F, rất thuận lợi cho cuộc diễn hành.
Từ
6 giờ sáng, thành phố đóng đường để 7 giờ các đoàn thể và xe hoa có thể
vào vị trí. Hai lá đại kỳ do nhóm Hậu Duệ VNCH Khóa 5 vào vị trí để cử
hành lễ khai mạc.
Lộ trình cuộc diễn hành sẽ đi trên đại lộ Bolsa, bắt đầu từ ngã tư với đường Magnolia và kết thúc ở Bushard.
Trong
cuộc diễn hành này có nhiều xe hoa, đặc biệt là dàn quân xa các quân
binh chủng, đơn vị, quân trường và trung tâm huấn luyện, cùng một số
chiến cụ, như hai chiếc trực thăng HUEY UH1, đại pháo 106 ly không
giựt,… của Quân Lực VNCH.
Cuộc diễn hành diễn ra trong khoảng 4 tiếng đồng hồ và kết thúc lúc 12 giờ trưa cùng ngày.
Dưới đây là một số hình ảnh của cuộc diễn hành trên đường Bolsa sáng nay.
Một chiếc xe hoa được làm công phu tham gia diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Các em thiếu nhi trong Ban Nhạc của trường Sarah McGarvin Intermediate. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của Tết Parade. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đời sống thanh bình của người dân miền Nam dưới thời VNCH.. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Tái hiện trận Ngọc Hồi của Hoàng Đế Quang Trung. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Hành trình 45 năm của người Việt tại Hoa Kỳ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Trực thăng HUEY UH1. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đại pháo 106 ly không giựt. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn quân xa của Quân Lực VNCH. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn quân xa của Quân Lực VNCH. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn của tổ chức VPDCA. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Xe của đoàn cảnh sát Orange County.. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Xe của Hội Ái Hữu Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của Chương Trình Việt Ngữ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của Chương Trình Giáo Dục Song Ngữ Anh Việt, Học Khu Westminster. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Xe diễn hành của Disney Land. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Các Thiếu Sinh Quân. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Các Thiếu Sinh Quân. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Lá quốc kỳ VNCH sẽ dẫn đầu trong đoàn diễn hành năm nay. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn rước quốc kỳ của VNCH và Hoa Kỳ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Lân mừng pháo trong lễ khai mạc. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đốt pháo khai mạc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Thị
Trưởng thành phố Westminster Trí Tạ và Giám Sát Viên Orange County
Andrew Đỗ phát biểu tại lễ khai mạc. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Chuẩn bị cho lễ khai mạc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Ban nhạc của trường trung học Bolsa Grande chuẩn bị tham gia diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Màn múa lân trong lễ khai mạc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Lần
đầu tiên được ban tổ chức thiết lập khu ghế khách danh dự, riêng biệt
bên cạnh sân khấu, có nhiều tầng, có phục vụ phần ăn sáng nhẹ và giải
khát. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Your Eyes
Past The Old School by Chance-Tình Cờ Trước Cổng Trường Xưa
CHỊ+EM
Thu-Vân & Xuân-Hạnh
Đêm nay là bao nhiêu đêm
Bỗng dưng chị thấy nhớ em vô cùng…
Hôm chị ra đi theo chồng:
Bánh ngon, áo đẹp, người đông, quà nhiều,
Hẳn em chưa buồn bao nhiêu
Trước khi tiệc mãn, trời chiều, đêm khuya .
Nhưng sau khi chị đã đi
Thì em mới thấy buồn chi là buồn…
Đồ-đạc của chị không còn,
Nỗi trống vắng ngập cả hồn thơ-ngây .
Hơi-hám của chị còn đây,
Thói quen ngày cũ… ngày nay đổi dời …!
Em thường bắt chị “à ơi!”
Cho em ngon giấc trong lời hát ru …
Bắt chị kể chuyện ngày xưa
Cho em dệt đẹp giấc mơ nhi-đồng;
Khỏe chị dắt, mệt chị bồng;
Chị kèm em học, chị cùng em chơi …
Bây giờ chị xa em rồi,
Khác người kể chuyện, khác lời hát ru .
Biết em đã quen hay chưa,
Hay còn nhớ chị ngẩn-ngơ sớm chiều …
“Bao-lơn gác thượng chớ trèo!
“Chớ sờ dây điện! Chớ leo thành hồ!
“Tới trường chớ quá nghịch đùa!
“Ra đường chớ có đuổi xô bạn-bè!…”
Những lời chị thường răn đe,
Biết em còn nhớ, còn nghe kỹ-càng?
Chị thương em, út muộn-màng,
Thiên-thần lạc mất thiên-đàng rồi, em!
Ngày xưa: gia-đình ấm êm,
Mẹ cha đầy-đủ, chị em sum-vầy …
Nhưng, từ cha bị tù đày,
Nỗi thiếu vắng phủ rứt-ray cả nhà …
Chị càng thương em thiết-tha
Để bù nỗi vắng xa cha giữa đời …
Bây giờ, chính chị tách rời:
Đã một người, lại một người xa em!
Thư chị: em giành em xem,
Em giữ thật kỹ con tem, cái bì …
Quà chị: me bảo ăn đi,
Em sợ hết, gậm tí ti mỗi lần…
Thương em vô đỗi, vô ngần,
Chị lại đọc lại từng vần thư em;
Ảnh em, chị lại lấy xem,
Tưởng như có chị bên em mãi hoài …
“Ngày xưa…” mới gần đây thôi,
Một người làm việc mà nuôi cả nhà :
Trẻ thì tha-hồ bánh quà,
Lớn lên đại-học, thi ra thành-tài !…
Bây giờ thì chị Tú Hai,
Thi vào đại-học: không ai cho vào!
Thị-trường hàng hiếm, giá cao,
Lương anh ít, chị khổ-lao góp phần.
Cưới xong phải trả nợ-nần,
Quà em… sợ sẽ… giảm dần, em ơi !
Bây giờ, chị xa em rồi,
Nhớ em, chị khẽ ôn lời hát ru:
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Thương em, nhớ mẹ, ruột đau chín chiều!”
THANH-THANH
1975-80
The Former Way-Lối Về
Thư Chúc Tết của Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải
Thư Chúc Tết của Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải
Kính thưa đồng bào,
Nhân dịp Tết Nguyên Đán Canh Tý 2020, Tôi, Ngô Thanh Hải, Thượng Nghị Sĩ Canada, xin kính chúc toàn thể đồng bào trong và ngoài nước một năm mới an khang, hạnh phúc và may mắn.
Nhìn lại năm qua, mọi con dân Việt yêu quê hương đều bùi ngùi nhìn những sự kiện Đồng Tâm, Vườn Rau Lộc Hưng với hàng ngàn người mất nơi cư ngụ, đến nỗi đau còn vằn vặt từ cả thập niên nơi Thủ Thiêm. Cho đến nay người dân mất đất vẫn mang kiếp dân oan không biết cho đến bao giờ; bên cạnh đó là sự lên ngôi của nhóm lợi ích thân hữu. Chính người cộng sản vi phạm luật đất đai của đảng Cộng Sản chiếu theo Hiến Pháp 1992 điều 17 và điều 18.
Có hai dòng chảy ngược chiều của đất nước, một bên là giới chức lãnh đạo Đảng và Nhà Nước hưởng ưu đãi cùng/ từ nhóm lợi ích thân hữu và bên kia là đại đa số người dân, thế cô bị mất ruộng vườn, đất đai, nhà cửa và một số trở thành dân oan nơi chính mảnh đất của ông bà để lại. Một bức tranh xã hội vẽ đầy áp bức, bất công trong thiên niên kỷ 21,tệ hại hơn nhiều so với thời kỳ thực dân Pháp đô hộ Việt Nam hơn 80 năm.
Nhìn sang các nước láng giềng Hồng Kông, Đài Loan, là một bức tranh hoàn toàn khác, nơi đó cũng trải qua nhiều nghiệt ngã, nhưng họ còn có hy vọng nhìn thấy đoá hoa dân chủ nở rộ trong ánh bình minh tương lai. Dù là con dân Việt sống xa quê hương, nhưng chúng tôi có cùng nỗi đau với những người cùng huyết thống, cùng Mẹ Âu Cơ. Chúng tôi, những người con dân Việt có bổn phận cất tiếng nói lương tâm vì đồng bào ruột thịt khốn khổ nơi quê nhà.
Viêt Nam, một đất nước giàu tài nguyên, nhưng tài nguyên được khai thác và đem bán với dạng thô, cũng chính tài nguyên thô đó lại được nhóm lợi ích nhập cảng về với giá gấp SÁU lần giá đem bán. Nhà nước im lìm! Việt Nam tôi, trong sách lịch sử nói rằng đó là Biển Bạc, nơi được khám phá có nhiều dầu hoả và ngàn trùng tôm cá. Giờ đây biển của tôi, nhưng ngư dân ra đánh bắt bị đánh chìm tàu, ngư dân bị bắt với món tiền chuộc không nhỏ. Những mỏ dầu với trữ lượng lớn không dám khai thác. Nhà cầm quyền Việt Nam hãy trả lời cho dân tộc những việc nầy, để chứng minh sự chính danh trong lãnh đạo.
Lạ lùng nhất là công dân đang ngủ giữa khuya trong nhà bị lực lượng hùng hậu Cảnh Sát tấn công, giết chết mà không hề có lệnh của toà án. Một hành vi vi phạm nghiêm trong luật pháp của Việt Nam và luật pháp quốc tế. Thế mà những người chà đạp luật pháp được ân thưởng huy chương quốc gia. Người chết, khi đã chết mà trên tay còn cầm quả lựu đạn. Một huyền thoại mà nhân loại từ thuở sơ khai cũng không ai tin là có.
Quê hương tôi còn hàng ngàn, hàng triệu nghịch lý diễn ra hằng ngày, trên đầu đồng bào bất hạnh của chúng tôi. Người lãnh đạo Cộng Sản biết hơn ai hết :”Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh.” Karl Marx đã nói. Và sự tranh đấu của đồng bào trong nước là một tất yếu, không thể làm khác.
Vì là qui luật tất yếu nên mọi công dân đều phải theo lòng dân nếu muốn tồn tại trong lòng dân tộc. Những ai đi ngược, chà đạp nguyện vọng người dân, hãy nhìn lại bài học mà vợ chồng nhà độc tài Ceausescu, Tổng Bí Thư đảng cộng sản Romania trả giá để rút ra bài học cho chính bản thân mình. Người dân không đòi làm lãnh đạo đất nước, họ chỉ đòi dân chủ, nhân quyền, những quyền con người cơ bản nhất, những thứ mà nhân loại đang được hưởng. Tại sao đồng bào tôi không có?
Để đất nước phát triển, người dân cần được có cuộc sống tự do, dân chủ, no ấm, được người nước ngoài nể trọng khi có dịp xuất ngoại. Khi có Tự Do, Dân Chủ người dân sẽ đoàn kết lại để cùng chung sức chống lại kẻ thù truyền kiếp, sẽ bang giao với những quốc gia phát triển, tránh đi vào bẩy nợ mà kẻ thù đang giăng bủa trong mọi dự án với số tiền lại qủa cao cho những kẻ hám lợi bán rẻ quê hương.
Chỉ những người yêu quê hương nầy, những người tha thiết với hai chữ Việt Nam, những người dám chấp nhận tù tội, tra tấn, đánh đập, dám cất tiếng nói vì lương tâm, vì dân tộc mới dám hy sinh cho mục tiêu cao cả nầy. Tôi ủng hộ họ, những công dân nầy đích thực hy sinh cho dân tộc. Họ không lừa dối dân tộc, họ không bán rẻ đất nước vì quyền lợi riêng của họ. Tôi xin kêu gọi đồng bào hãy can đảm đứng lên vì tổ quốc, nếu không nguy cơ mất nước vào tay Trung Cộng ngày càng hiện rõ.
Xin kính chúc đồng bào trong nước, ở nước ngoài được an khang, thịnh vượng để đồng hành cùng những người con yêu của đất nước. Kính chúc đồng bào trong nước vững bước, vững lòng tin vào cuộc tranh đấu cho chính nghĩa của dân tộc. Chúng ta sẽ sớm thấy ngày quê hương không còn Cộng Sản.
Xin kính chào đồng bào. Thượng Nghị Sĩ Canada Ngô Thanh Hải