1 Đêm khuya trăng đã sáng soi Là khi em bước lên ngôi nữ hoàng Thơ ngây một đóa hoa vàng Che tà lụa mỏng điệu đàng bước đi. 2 Em làm khổ mối tình si Hồn nghiêng ngả gọi xuân thì nhớ duyên Vai nghiêng ôm mái tóc huyền Đôi bờ ngực nở trên miền vấn vương 3 Theo em bước mấy cung đường Đèn hoa trước ngõ phố phường sương bay Em về hoa nở trên tay Gót hài vướng bụi thêm dài bước đi. 4 Bụi mờ che vết chim di Vỗ đôi cánh nhỏ bay khi dáng chiều Ta về mỏi gót liêu xiêu Ghé thăm quán vắng tiêu điều úa thu 5 Để buồn vỗ giấc mây mù Âm vang lãng đãng tiếng tù và xưa Trao nhau khăn lụa sầu đưa Lau dòng lệ ướt cơn mưa cuối mùa. 6 Giọt rơi sương lạnh gió lùa Áo em sũng ướt còn chưa muốn về Đường chiều mỏi bước ê chề Lời thơ não nuột buồn tê tái buồn. 7 Chờ ai trăng mọc cuối thôn Vắng em từ dạo căng buồm gió xuôi Ngẩn ngơ nhìn áng mây trôi Lòng tha thiệt đợi, chia đôi nhánh buồn.
Tế Luân
TỪ ĐÂY – From Here
TỪ ĐÂY
Anh đứng đây trông về nơi em
qua một phía trời có mây và nắng
nắng trải rất mềm hàng cây đứng lặng
mây xõa lưng chừng anh ngẩn ngơ thêm
Anh đứng đây trông về nơi em
qua những lớp dày kẽm gai tường đá
có những cảnh đời rất quen mà lạ
lập lại từng ngày sáng tối chiều trưa
Anh đứng nơi đây trông về phố xưa
cách một quãng đường vài trăm cây số
kỷ niệm ngày nào rất nhiều để nhớ
như nhớ thương em nhớ mấy cho vừa
Anh đứng hôm nay trông về hôm qua
vượt mấy thời gian xô về dĩ vãng
có một rừng thơ một trời sao sáng
em đưa xuân về mấy độ hương hoa
Anh đứng hôm nay trông về hôm qua
non nước lênh đênh phận người dâu bể
thương quá từng đêm phòng khuê đơn lẻ
xin hẹn nhau ngày tàn cuộc phong ba
Anh đứng hôm nay trông về ngày mai
mộng ước mai sau mộng ước thật dài
hạnh phúc, quê hương, tình yêu, cuộc sống
còn đấy rất nhiều dự tính tương lai.
SONG NHỊ
FROM HERE
I stand here
and look at your residing place
Through a full-of-clouds-and-sunshine space.
Quiet are lines of trees and mild the sun spread;
Half-way clouds hang down and more moved I get.
I stand here and gaze
upon the zone you abide
Over barbed wires and stony walls that divide.
Quite a lot of life sights very familiar but unusual
Occur every morning and evening repeatedly dual.
I stand here and observe
our dear former abode
Some hundreds of kilometers hence apart a road.
Memories of those days are numerous to treasure
And countless to miss and love you to my pleasure.
I stand here today to
look back on the ancient times
Reaching to bygone dates, rushing to old climes.
A universe of muse, a sky of starlight you did bring
Perfumes and flowers manifold the spirit of spring.
I stand here today to
think of the past and hate
The vicissitudes as our country and people’s fate.
What a pity lonely you are spending every night!
I promise to reunite with you when ends this plight.
I stand here today to
look forward to tomorrow
Nurturing dreams about our future free from sorrow.
There are our Happiness, Motherland, Love, Life,
And for hereafter so many plans, so much to strive.
Translation by THANH-THANH
Hạnh Phúc Xót Xa
Hạnh Phúc Xót Xa
Tôi
vô cùng ngạc nhiên, khi nhận được một thiệp mời đám cưới gởi qua đường
bưu điện, danh tánh nhà trai, nhà gái và cả cô dâu chú rể đều xa lạ. Gần
nửa giờ ngồi “điểm danh” tất cả bà con, bè bạn xa gần, vợ chồng tôi và
mấy đứa con cũng chẳng tìm ra “tông tích” họ là ai. Nghe bạn bè kể lại,
một số không ít người Việt mình thích có nhiều thực khách tham dự tiệc
cưới của con cháu. Khách càng đông càng chứng tỏ được thế giá của gia
đình. Vì vậy có người chỉ gặp ai ở đâu đó một lần thoáng qua, cũng có
thể trở thành “quan viên hai họ”. Hơn nữa, ở cái vương quốc nhỏ bé và
hiền lành này, muốn tìm ai cứ việc mở cuốn điện thoại niên giám hoặc vào
guleside gõ cái tên là có ngay số phone và địa chỉ. Cũng có thể là do
một ông bà khách nào đó được mời nhưng hồi báo không thể tham dự được
nên vợ chồng tôi được chọn để “điền vào chỗ trống cho có đầy đủ ý
nghĩa”?
Địa
điểm tổ chức tiệc cưới là một nhà hàng Tàu sang trọng nằm ngoại ô thành
phố Oslo, không xa nơi tôi ở. Ngày đám cưới còn hơn một tháng, nhưng
lại đúng vào ngày mà vợ chồng tôi phải sang London thăm vợ chồng cô con
gái và mừng thôi nôi thằng cu cháu ngoại. Vé máy bay đã “búc” rồi. Vợ
chồng cô con gái cũng đã lấy hè để đón chúng tôi. Nên dù có biết cha mẹ
hay cô dâu chú rể có tên trong thiệp mời chăng nữa, chúng tôi cũng không
thể tham dự được, huống hồ lại là một người nào đó không quen. Thấy tôi
phân vân, bà xã cầm tấm thiệp màu hồng vất vào kệ sách, lắc đầu bảo
“forget it!”
Sáng
thứ Bảy, một tuần sau đó, khi đang sửa soạn hành lý, nghe điện thoại
reo, tôi bốc máy lên nghe, nhưng không thể nhận ra người bên kia đầu
dây. Một người đàn bà, tự giới thiệu tên Bích, rất lễ phép khi hỏi đúng
cả tên lẫn họ của tôi.
– Vâng, đúng là tôi, nhưng chị có thể nói rõ hơn về chị không ạ, vì xin lỗi tôi không nhớ ra.
–
Em là Bích Kiều đây, Lê Thị Bích Kiều, mà khi mới sang Na-uy, anh làm
thông dịch giúp em đó. Tên em trong thiệp mời đám cưới là Yvonne Bich,
chắc anh chị đã nhận được. Em đổi tên này sau khi có quốc tịch Na-uy.
Tôi
giật mình nhớ ra ngay. Mặc dù trong thời gian làm thông dịch, giúp khá
nhiều bà con người Việt mới đến định cư, có biết bao nhiêu cái tên làm
sao nhớ hết. Hơn nữa cũng đã hơn 25 năm rồi còn gì. Nhưng đặc biệt, Lê
Thị Bích Kiều thì tôi không thể nào quên.
Sau
khi thăm hỏi, Bích Kiều xin được đến thăm vợ chồng tôi vào lúc bốn giờ
chiều. Cô bảo, gặp nhau sẽ có biết bao nhiêu điều muốn nói.
Thời
gian còn ở trại tỵ nạn Bataan bên Phi Luật Tân, tôi may mắn được chọn
làm phụ giảng cho các lớp học tiếng Na-uy. Được thầy cô dạy kèm riêng,
và nhờ phụ giúp mỗi ngày trong các lớp học cũng như làm thông dịch bất
đắc dĩ cho những thuyền nhân mới đến đảo, nên tôi có một số vốn liếng
tiếng Na-uy, một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với hầu hết người Việt nam
lúc ấy. Và cũng nhờ cái vốn bì bõm này, khi sang định cư ở Na-uy, tôi
được chọn làm thông dịch tạm thời cho Phòng Xã Hội và Sở Cảnh Sát thị
xã, nơi gia đình tôi tạm cư. Thời gian này Na-uy nhận một số lượng khá
đông thuyền nhân được tàu Na-uy vớt trên biển và một số trường hợp nhân
đạo khác.
Nói
là thông dịch chứ thực ra chỉ giúp bà con làm hồ sơ, khai lý lịch ở Sở
Cảnh sát, xin trợ cấp ở Phòng Xã Hội, hoặc gặp bác sĩ, nha sĩ, hay vào
bệnh viện khám và chữa bệnh. Cũng qua công việc này, tôi mới thấy rõ
Na-uy là một quốc gia giàu lòng nhân đạo, mở rất rộng vòng tay, đối xử
quá tốt với những người tỵ nạn mà họ cứu vớt, cưu mang. Công việc nhàn
nhã mà lương bổng cũng khá, lại còn được cơ hội trau dồi ngôn ngữ mới,
nên sau này, khi đã được chính thức nhận vào học và đi làm trong ngành
ngân hàng bưu điện, tôi vẫn xin giữ cái “job” phụ này, nhưng chỉ làm
thêm ngoài giờ hành chánh.
Tuy
nhiên, bên cạnh những điều vui ấy, tôi cũng bị “tai nạn nghề nghiệp”
không ít. Đặc biệt khi phải thông dịch cho những bà con mà tàu của họ bị
bọn hải tặc tấn công. Nghe họ kể những cảnh nghiệt ngã, thương tâm trên
biển, tôi vừa không nén được xúc động vừa ngại ngùng khi phải thông
dịch lại bằng tiếng Na-uy. Hơn nữa lúc ấy tôi cũng chưa có đủ ngôn từ để
diễn đạt những điều “tế nhị”. Ngày ấy có một Viện Tâm Thần dành riêng
cho người tỵ nạn, nằm trong Viện Đại Học Oslo, do bác sĩ Hauff, cũng là
một giáo sư tâm lý học, điều hành. Ông là vị bác sĩ có lòng nhân hậu và
rất tận tâm với nghề nghiệp. Những người tỵ nạn gặp điều không may, bị
hải tặc đánh đập hãm hiếp, hay bị mất người thân trên đường vượt biển,
đều được ông tận tình thăm nom, chăm sóc cũng như can thiệp Cơ quan Di
Trú cho ưu tiên bảo lãnh gia đình và Sở Xã Hội cấp thêm nhiều phương
tiện sinh hoạt, giải trí. Tôi sợ nhất là những lúc phải làm thông dịch
để ông tâm tình, khuyên giải, an ủi nạn nhân, mà thời gian có khi kéo
dài cả một vài ngày. Bởi vốn liếng tiếng Na-uy còn quá nghèo nàn, làm
sao tôi có thể truyền đạt được những gì ông muốn nói. Có lần nghe ông
dặn dò:
–
Đây không phải một cuộc nói chuyện bình thường mà là một ca điều trị.
Có điều, những bệnh nhân này chúng ta không chữa bằng thuốc mà chữa bằng
ngôn ngữ.
Mà
ngôn ngữ của tôi thuộc loại ăn đong, thì làm sao giúp ông chữa loại
bệnh đặc biệt trầm kha này. Nhiều lần tôi xin từ chối, nhận mình không
đủ khả năng, nhưng Phòng Xã Hội không tìm được người thông dịch khác, và
bác sĩ Hauff cứ gật đầu bảo là ông tin tưởng ở tôi. Cuối cùng tôi phải
yêu cầu ông nói thật chậm và dùng những từ ngữ tương đối đơn giản để tôi
hiểu rõ, và nhất là không hiểu lầm những gì ông nói.
Một
hôm tôi được Văn Phòng Xã Hội cho biết, phải đi theo bà Kari Mette ra
phi trường Fornebu đón một người tỵ nạn đặc biệt, được Na-uy nhận nhân
đạo từ một trại tỵ nạn Thái Lan. Người này được đưa thẳng từ Thái Lan
đến Na-uy, mà không qua trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan, như những người
khác. Bà Kari Mette làm việc cho một nhà thờ công giáo, nhưng vì có
nhiều khả năng và uy tín, nên được yêu cầu kiêm nhiệm đại diện cho Sở Tỵ
Nạn trong khu vực thị xã.
Chúng
tôi được vào tận cửa gate máy bay. Người mà chúng tôi đón hôm nay là
một cô con gái trẻ, ngồi trên xe lăn, trên người choàng một tấm chăn
mỏng, được một cô tiếp viên hàng không đẩy ra giao cho chúng tôi cùng
túi hành lý nhỏ và một phong bì đựng hồ sơ có in huy hiệu (logo) Cao Ủy
Tỵ Nạn LHQ. Trông cô ta tiều tụy, xanh xao. Tôi giới thiệu và dịch vài
lời chào mừng của bà Kari Mette. Khi đưa tay nhận bó hoa hồng từ bà, cô
gật đầu, lí nhí hai tiếng cám ơn. Theo sau bà Kari Mette, tôi đẩy cô gái
theo một lối đi riêng, không phải qua kiểm soát. Một chiếc xe tản
thương và cô ý tá chờ sẵn bên ngoài. Khi phụ dìu cô gái lên nằm trên một
băng ca trong xe, tôi mới biết là cô ta đang mang bầu. Theo yêu cầu của
cô ý tá, tôi ngồi luôn trên xe tản thương, tháp tùng về bệnh viện. Bà
Kari Mette lái xe chạy theo sau.
Ở
phòng nhận bệnh, khi nghe bà Kari Mette nói chuyện với vị bác sĩ, tôi
mới biết cô gái này có tên Lê thị Bích Kiều, 21 tuổi, bị hải tặc giam
giữ ở một hoang đảo ngoài khơi Thái Lan gần một năm, trước khi được một
lực lượng tuần cảnh phối họp với hải quân Thái cứu thoát. Cô ta đang
mang thai hơn năm tháng, sức khỏe rất yếu. Việc ưu tiên phải làm là giúp
cô sớm hồi phục sức khỏe và bảo vệ thai nhi.
Khi
trả lời một số câu hỏi của bác sĩ, cô luôn nhìn tôi bằng đôi mắt thật
buồn và ái ngại, một vài câu hỏi cô ngại ngần không muốn trả lời. Tôi từ
tốn bảo cô cứ yên tâm, nếu điều nào chưa muốn nói ra, cô không cần
thiết phải trả lời, tôi sẽ liệu cách để nói lại với bác sĩ. Nhưng sau
đó, tôi mới hiểu ra, người cô ngại chính là tôi chứ không phải ông bác
sĩ. Mặc dù trước khi bắt đầu làm việc, tôi đã nói với cô là những người
làm thông dịch như tôi đều phải ký giấy cam kết taushetsplikt (bổn phận
bảo mật). Cô được y tá đưa vào phòng tắm rửa và thay áo quần bệnh viện.
Khi trở ra, cô tươi tỉnh hơn, bây giờ nhìn kỹ tôi thấy cô có khuôn mặt
khá xinh, đôi mắt thật buồn. Theo y tá đưa cô lên một phòng riêng ở tầng
ba, tôi bảo y tá bật cao đầu chiếc giường và đỡ cô ngồi dậy theo yêu
cầu của cô, dịch cho cô nghe những điều dặn dò của bác sĩ, hỏi cô thích
ăn uống những gì để tôi nói lại với cô y tá, rồi chào cô ra về, sau khi
chúc cô ăn ngon và tối nay có một giấc ngủ thật bình yên. Cô nhìn tôi,
nói cám ơn rồi vội vàng cúi xuống. Thoáng qua đôi mắt, tôi biết cô băn
khoăn lo lắng, khi phải ở lại một mình. Tôi ghi số điện thoại trên mảnh
giấy nhỏ đưa cô y tá. Bảo là trường hợp bệnh nhân hay y tá cần điều gì,
cứ gọi cho tôi.
Kể
từ hôm ấy, ngoài bổn phận thông dịch tôi còn là người thân quen duy
nhất của cô. Hôm nào cô ngỏ ý thèm các thức ăn Việt nam, tôi bảo bà xã
tôi làm rồi mang đến cho cô, cùng mấy tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, và tập
truyện của ông Duyên Anh mà cô thích đọc.
Sau
một tuần lễ, sức khỏe của cô khá hơn, nhưng y tá cho biết tâm trí chưa
ổn định, cô thường giật mình thức giấc rồi la hét, khóc lóc lúc nửa đêm.
Cứ vài ngày, bác sĩ Hauff từ Viện Tâm Thần đến thăm, cho cô quà, an ủi
và khuyên cô hãy đọc sách, xem TV, cần nghĩ tới đứa bé sắp chào đời, dù
gì nó cũng là giọt máu của mình. Có điều gì cần, hoặc cảm thấy nặng nề
trong lòng, cô cứ nói ra mỗi lần ông đến thăm.
Cô
không phải đến Sở Cảnh Sát để làm hồ sơ di trú như những người tị nạn
khác, mà do yêu cầu của Sở Tỵ Nạn, vị trưởng phòng Cảnh sát ngoại kiều
đã đích thân đến bệnh viện để gặp cô sáng hôm sau. Qua làm việc, tôi
được biết cô gái sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt. Trước 75, mẹ cô là cô giáo
và cha là một sĩ quan cấp tá, bị mất tích tại Đà Nẵng khi Vùng 1 di
tản. Vượt biên từ Rạch Giá cùng vị hôn phu. Anh là con trai lớn của một
người bạn cùng khóa Võ Bị với cha cô. Chiếc thuyền nhỏ chở theo 47
người, ra khơi ba ngày thì gặp hai chiếc ghe đánh cá của Thái Lan chặn
lại. Cả bọn gần 20 tên mang dao búa và cả súng nữa, xông lên thuyền uy
hiếp. Anh tài công bị giết đầu tiên bằng búa đánh vào đầu, một vài thanh
niên khỏe mạnh có ý chống cự, liền bị chém chết. Chúng chia nhau lục
soát trên tàu và trên từng người để cướp vàng bạc, đồng hồ. Trước khi
rời khỏi thuyền, chúng phá hỏng máy, và bắt theo khoảng mười cô gái. Khi
hai tên trong bọn kéo Kiều đi, người vị hôn phu của Kiều xông đến định
giật lại Kiều, bị chúng bắn bị thương rồi đạp xuống biển, trước tiếng la
khóc thất thanh của Kiều cùng những cô gái khác
Vừa
mới lên tàu, bọn hải tặc luân phiên hãm hiếp những cô gái bị chúng bắt
theo. Tiếng van xin la khóc quyện vào âm thanh của những ngọn sóng dường
như cũng đang thét gào phẫn nộ. Chỉ duy nhất có Kiều được thoát, không
bị hiếp, nhưng bị cột cả hai tay vào phía sau phòng lái, và phải chứng
kiến hành động dã man, bỉ ổi của bọn dã thú, cùng những khuôn mặt sợ hãi
đau đớn uất hận tột cùng của những cô gái nạn nhân.
– Tại sao cô lại được tha, không bị chúng hiếp? Anh cảnh sát ngạc nhiên hỏi.
–
Làm sao được tha. Có lẽ thấy tôi có chút nhan sắc, nên tên thuyền
trưởng dành riêng tôi cho hắn. Khi ấy hắn đang lái tàu! Cô gái sụt sùi.
Tối
hôm ấy, cô đã bị cướp đi đời con gái. Qua một ngày kinh hãi, biết mình
không thể chống cự, cô đã nằm im phó thác cho số phận. Trong khi thân
xác bị dày vò, cô nghĩ đến cảnh người yêu vừa bị giết tức tưởi trưa nay,
cắn chặt lưỡi giữa hai hàm răng ứa máu.
Tay
thuyền trưởng hải tặc không đánh đập hành hạ cô như những cô gái khác.
Hắn săn sóc, mang cho cô một tô cháo cá nóng, nhỏ nhẹ dỗ dành cô ăn,
nhưng cô không thể nào nuốt nổi, dù bụng đang đói. Nằm thiếp đi cả một
ngày trong phòng lái, khi nghe tiếng ồn ào gọi nhau của bọn hải tặc,
giật mình thức dậy, cô thấy tàu cặp vào một hòn đảo.
Sau
khi ra lệnh cho đám thuộc hạ quăng neo, tay thuyền trưởng cõng cô trên
lưng, lội vào bờ. Cô ngạc nhiên rùng mình khi không thấy các cô gái
khác. Số phận họ ra sao? Cô bịt kín hai tai, nhưng tiếng van xin kêu
khóc hãi hùng của ngày hôm qua như muốn vỡ tung đầu óc. Cô tưởng tượng
họ bị hiếp cho đến chết, rồi quăng xác xuống biển. Thật thảm thương tội
nghiệp. Nhưng dù sao họ cũng không phải sống cả một đời thừa thải trong
nỗi dày vò, mặc cảm và vô vọng như cô. Biển xanh sẽ ôm ấp vỗ về cả thân
xác lẫn linh hồn họ. Là cánh hoa tả tơi duy nhất còn sót lại sau một
ngày đêm giông bão, cô ví mình chẳng khác nào rác rưởi tắp vào một nơi
hoang vắng. Cô tự hỏi, đó có phải là điều may mắn?
Anh
cảnh sát ngồi bất động nghe cô kể, thỉnh thoảng ngước mặt lên trần nhà
để giấu những giọt nước mắt. Tôi thầm tội nghiệp cho cô gái và cho cả
anh ta, một người sinh ra và lớn lên trên một vương quốc an bình, giàu
có, hà cớ gì phải khóc cho nỗi đau thương, bất hạnh của dân tộc tôi.
Chúng tôi dừng lại khi thấy cô gái sụt sùi. Tôi đứng dậy đi lấy mấy tờ
giấy soft cho cô lau nước mắt và mời cô một ly nước saft.
– Rồi đời sống của cô trên đảo ra sao trước khi cô được cứu thoát? Anh cảnh sát hỏi.
–
Tôi được đưa vào một cái hang đá khá lớn, có sẵn một số thức ăn, nước
uống và cả áo quần cùng nhiều vật dụng mà có lẽ bọn họ cướp được từ
những lần trước.
Đó
là một đảo hoang. Một trong những “hậu trạm”. Cứ bốn, năm hôm, có khi
cả tuần lễ, bọn hải tặc trở về đây nghỉ ngơi đôi ngày, chia chác “chiến
lợi phẩm”, rồi lại ra đi. Tiếp tục những chuyến làm ăn khác, hoặc vào bờ
lấy thêm nhiên liệu, lương thực. Tay thuyền trưởng cao lớn, tóc phủ tới
lưng, cả ngày chỉ mặc một cái quần short ố vàng, phơi tấm thân trần đen
đúa với đầy những hình xâm. Không biết vì nghĩ là cô không hiểu tiếng
Thái hay là bản tính ít nói, cả ngày hắn lầm lì, chỉ thỉnh thoảng mỉm
cười. Hắn luộc tôm cá tươi ép cô ăn và bắt cô uống rượu. Miệng hắn lúc
nào cũng nồng nặc mùi rượu. Đôi mắt đỏ ngầu. Rượu giúp hắn trở thành con
hổ đói cuồng bạo trên tấm thân liễu yếu của cô. Hắn lột hết áo quần cô,
làm nhiều cách hầu tạo kích thích, nhưng cả thân xác và tâm hồn cô đã
trở thành gỗ đá, lạnh lùng, không còn cảm giác. Chỉ biết nhắm mắt chịu
đựng đau đớn, để cho hắn ta mặc tình hành hạ.
Bọn
họ ra đi từ lúc trời chưa sáng. Khi cô thức dậy chung quanh vắng lặng,
ngoài tiếng sóng biển rì rào. Cảm giác da thịt rã rời. Phải ngồi khá lâu
mới đứng dậy được. Cô chui ra khỏi hang, trèo xuống hốc núi tìm đường
ra biển. Hôm nay trời nắng, biển êm. Nhìn biển mênh mông, trong gió nghe
như có tiếng gọi tên mình, cô giật mình nghĩ tới người yêu và những cô
gái đồng hành bất hạnh. Cô xăn quần lội xuống, vốc một vốc nước rửa mặt.
Nước biển làm rát khóe mắt, nhưng giúp cô tỉnh táo. Bỗng cô nghĩ đến
cái chết. Chỉ cần lội ra xa để cho sóng cuốn đi là cô sẽ gặp lại người
tình ở đâu đó dưới đáy đại dương và sóng biển có thể rửa bớt phần nào
nhơ nhớp trên tấm thân, mà bao nhiêu lần, mẹ đã ôm cô dặn dò phải cố giữ
gìn, trước lúc từ biệt ra đi. Chợt nhớ tới mẹ, nhớ các em, cô đứng bất
động nghe lòng dạ bồi hồi.
Gió
từ biển khơi thổi tới như muốn an ủi vỗ về, giúp cô tìm lại một chút
yên ả. Cô bước lên đi dọc theo bờ biển. Tiếp tục nghĩ đến mẹ và hai đứa
em nhỏ dại. Giờ này không biết họ ra sao. Có biết mình đang lưu lạc trên
một hoang đảo xa lạ giữa trời biển mênh mông với tấm thân hoen ố ê chề,
hay là vẫn đang hy vọng đứa con gái, người chị của mình đã đến được một
xứ thiên đường nào, để có thể cứu sống cả gia đình đang ở bước đường
cùng. Bao nhiêu vốn liếng chắt chiu dành dụm được, kể cả chiếc nhẫn cưới
và sợi dây chuyền vàng mà bà ngoại đã đeo lên cổ mẹ ngày vu quy, cũng
chỉ đủ gom góp mua một cây vàng, và phải năn nỉ lắm mới được đóng trước
một nửa cho chủ tàu, nửa còn lại khi nào đến nơi sẽ trả. Sau ngày cha cô
vĩnh viễn không về, cùng nhiều đồng đội gởi xác thân ở một nơi vô danh
nào đó, rồi cả miền Nam đang trù phú, hạnh phúc một thời, bỗng dưng trở
nên đói nghèo, chia ly tan tác, cũng như những gia đình sĩ quan công
chức khác, mẹ con cô đã trải qua bao tháng năm cùng cực. Cô đã phải bỏ
học, phụ mẹ buôn tảo bán tần, mà cả nhà vẫn bữa đói bữa no. Nghĩ đến
tương lai mịt mờ của mấy đứa con, mẹ bàn với cô, chỉ còn cách duy nhất,
là cô phải ra đi. Bao lần tìm được mối, nhưng lo cho thân gái dặm
trường, có biết bao điều bất trắc, cuối cùng bà rất vui mừng khi có
người yêu của cô, cũng là con của một người bạn cùng khóa với chồng,
cùng đi với con gái. Trước ngày đi, hai gia đình gặp nhau, tổ chức một
lễ đính hôn rất vội vàng, đơn giản.
Cô
bước đi những bước vô hồn trên những bọt sóng xô bờ, hình dung tới tuổi
ấu thơ và cả một thời cùng gia đình sống trong hạnh phúc. Nhớ mấy năm
cha cô được đổi về làm huấn luyện viên trường Võ Bị Đà Lạt, nơi ông đã
gặp mẹ cô, khi còn là một sinh viên sĩ quan trai trẻ, từng đứng trên
đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời. Nơi ông cùng bè bạn đồng môn, đã
quỳ xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa, giữa không khí uy linh,
đưa tay thề quyết bảo vệ núi sông. Cô cũng nhớ tới đám bạn bè một thời
nhỏ dại. Không biết những cánh chim non hồn nhiên ngày ấy, giờ tản mác
trôi dạt về đâu sau cơn bão lửa. Cũng như cô, tất cả đã mất rồi, cả một
bầu trời xanh bao la với bao nhiêu ước vọng thuở nào. Không bao giờ còn
tìm lại được!
Đầu
óc mơ hồ, tưởng mình đang đi tìm dấu vết tuổi thơ bên bờ hồ Xuân Hương
thơ mộng. Khi nghiêng mình để tìm ngôi nhà Thủy Tạ, nơi lần đầu hò hẹn
người yêu, cô bỗng giật mình nhận ra tảng đá trên hoang đảo, nơi cô bị
giam lỏng từ mấy hôm nay. Giấc mơ xưa ngắn ngủi vỡ tan như bọt biển.
Ngồi bệt xuống cát, thẫn thờ gọi mẹ, gọi em, và gọi tên người tình. Cô
gọi đến khan cả cổ, để chỉ nghe tiếng mình dội lại từ đại dương mênh
mông xa thẳm, không tìm thấy chân trời. Cô đã bật khóc.
Tôi
định đưa tay bảo cô ngừng kể, để tôi kịp dịch lại cho anh cảnh sát,
đang hồi hộp ngồi chờ, nhưng chợt thấy cô cũng đang khóc. Anh cảnh sát
đứng lên nháy mắt, làm dấu cho tôi cùng bước ra ngoài để cho cô được tự
nhiên. Khi trở vào, anh cảnh sát nhờ tôi hỏi, nếu cô muốn bảo lãnh cho
mẹ và các em còn ở Việt Nam, anh sẽ trình lên Sở Ngoại Kiều, lập hồ sơ
cho cô được ưu tiên. Có thể trong vòng từ sáu đến tám tháng, cô sẽ được
đoàn tụ với gia đình. Suy nghĩ một chập, cô lắc đầu:
–
Em chưa chuẩn bị được tâm lý, không muốn mẹ và các em sẽ đau buồn vì
những gì em đã trải qua, và nhất là cái thai trong bụng, em vẫn còn đang
giấu mẹ. Chờ sinh đẻ xong, em mới bình tĩnh mà quyết định được. Mặc dù
em rất nhớ mẹ và các em.
Ngần
ngừ một lúc cô ngõ ý muốn được Phòng Xã Hội cho mượn một số tiền để gởi
về giúp gia đình, sau này đi làm cô sẽ trả. Anh cảnh sát gật đầu, hứa
sẽ nói việc này với Phòng Xã Hội. Anh bắt tay cô, chúc sớm bình phục,
gặp nhiều may mắn, và hẹn sẽ trở lại thăm cô để xin hỏi thêm cô ít điều
bổ túc hồ sơ.
Hai
hôm sau, qua điện thoại từ Phòng Xã Hội, tôi đến nhận số tiền 10.000
kroner (khoảng 1.200 USD), để giao lại cho cô và yêu cầu cô ký tên vào
biên nhận.Tôi cũng mang đến biếu cô mấy trái xoài chua, lần trước cô bảo
là cô rất thèm. Gặp lại tôi, cô tỏ ra mừng rỡ. Lần đầu tiên tôi thấy cô
nhoẻn miệng cười. Cô bảo cô rất buồn và thấy cô đơn, vì không có tôi cô
chẳng biết trò chuyện cùng ai. Cô ngạc nhiên và thoáng một chút xúc
động khi tôi đưa cho cô số tiền của Phòng Xã Hội, và bảo đó là tiền cô
được cấp, chứ không phải mượn. Tôi giải thích thêm về những trợ cấp khác
dành cho người tỵ nạn lúc ban đầu và hằng tháng sau này, cũng như trợ
cấp việc sinh đẻ và nuôi con. Tôi bảo cô yên tâm, đừng lo lắng gì về
chuyện tiền bạc. Cô càng vui và tỏ ra thân thiện hơn khi nghe tôi bảo
trước đây tôi cũng là lính, sau gần 8 năm tù trở về, vợ con cũng khốn
cùng như gia đình cô. Tôi kể chuyện gia đình tôi vượt biên nhưng may mắn
được tàu Na-uy vớt, mới đến Na-uy tám tháng, nhưng mọi việc tạm thời ổn
định. Cô nhớ tới cha cô, đôi mắt sáng lên và say sưa kể cho tôi nghe
những ngày cô theo cha ra đơn vị, hoặc cùng mẹ vào trường Võ Bị tham dự
các buổi lễ ra trường. Khi tôi đứng dậy cáo từ, cô viết tên và địa chỉ
của mẹ cô, nhờ tôi gởi hết số tiền còn nguyên trong bì thơ về cho mẹ.
Trong mắt cô sáng lên niềm vui.
Một
lần cô ngỏ ý muốn học tiếng Na-uy để giết thì giờ. Tôi bảo là ở Na-uy
vừa mới có cuốn tự điển Nauy-Việt, tôi sẽ liên lạc Phòng Xã Hội để xin
cho cô. Hai hôm sau, tôi mang cuốn tự điển đến, chỉ cho cô cách sử dụng,
nói và viết vài câu đơn giản. Cô khá thông minh nên hiểu rất nhanh. Cô
còn nhờ tôi viết cho cô vài câu tiếng Na-uy. Trong đó có một câu cô bảo
là lời một bản nhạc nào đó mà cô rất thích: “Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.
Khi
được biết là sẽ sinh con trai, cô vui lắm, nhưng ngay sau đó tôi thấy
cô ngồi thẫn thờ, suy nghĩ mông lung. Gần tới ngày cô sinh, tôi xin phép
cô cho bà xã tôi đến thăm, để hướng dẫn chỉ vẽ cho cô ít nhiều kinh
nghiệm sinh đẻ mà vợ tôi đã trải qua. Hơn nữa, khi sinh đẻ, có một người
đàn bà thân quen bên cạnh cũng an tâm. Biết cô ái ngại, nên tôi nói
trước là vợ tôi hoàn toàn không biết gì về hoàn cảnh của cô, và tất
nhiên tôi không hề tiết lộ điều gì. Tôi sẽ nói với vợ tôi là chồng cô
còn ở trại tị nạn Thái Lan, sẽ được định cư sau. Ngần ngừ một lúc, cuối
cùng cô gật đầu.
Cuối
tuần, vợ chồng tôi đến thăm. Vợ tôi mang đến cho cô một ít thức ăn Việt
nam và mấy bộ áo quần con nít. Đàn bà dễ thông cảm với nhau, nhất là vợ
tôi sinh mấy đứa con cũng không có mặt chồng, vì tôi bận tham dự hành
quân, không về kịp. Tôi ra ngoài, để cho hai người đàn bà dễ nói chuyện
sinh đẻ.
Cô
sinh vào ban đêm, lúc trời đã vào đông. Tuyết rơi kín cả khung trời. Vợ
chồng tôi đến phòng sinh lúc cô đau bụng. Vợ tôi ở bên cạnh cô, còn tôi
ngồi ngoài phòng đợi. May mắn là cô sinh rất nhanh. Khoảng hơn 30 phút,
tôi đã nghe tiếng con nít khóc. Khi mọi việc đã xong, nghe tiếng vợ
gọi, tôi bước vào chúc mừng cô. Thằng bé đang nằm trên ngực mẹ. Tôi thấy
cô khóc. Không biết đó là những giọt nước mắt xót xa hay hạnh phúc.
Sau
một tuần ở bệnh viện, mẹ con cô chuyển đến một khách sạn, được phòng xã
hội mướn cho cô tạm trú một thời gian, vì chưa tìm được căn nhà thích
hợp cho cô. Khách sạn khá sang trọng, nằm không xa bệnh viện, để tiện
cho các y tá đến thăm và chăm sóc mẹ con cô.
Mấy
ngày sau, tôi đến khách sạn cô ở. Không phải để thăm cô mà để làm thông
dịch cho bác sĩ Hauff và nhân viên phòng xã hội. Họ mang đến cho con cô
nhiều quà tặng. Ai cũng ngạc nhiên và thích thú khi thấy cô biết nói
vài câu ngắn bằng tiếng Na-uy. Bác sĩ Hauff hỏi là cô có cần ông giúp
điều gì nữa không, cô bập bẹ trả lời: “Tôi sẽ nói với ông sau”. Tuy không đúng hẳn, nhưng mọi người đều hiểu được.
Ngày
đầy tháng, vợ tôi nhớ và nhắc tôi đến thăm mẹ con cô. Chúng tôi ghé
siêu thị chọn mua một món quà mừng thằng bé. Bấm chuông phòng, cửa không
mở. Gõ nhẹ cũng không thấy lên tiếng. Tôi đến văn phòng khách sạn hỏi.
Họ cho biết là cô vừa mới chuyển đi. Tôi gọi hỏi Phòng Xã Hội, họ cho
biết là cô đã chuyển đi một thành phố rất xa, và theo yêu cầu của cô, họ
không tiết lộ địa chỉ mới cho bất cứ một ai. Sau một thoáng ngạc nhiên,
tôi chợt nhớ đến lời một bài ca nào đó mà cô đã nhờ tôi viết ra bằng
tiếng Na-uy và chỉ cho cô đọc đi đọc lại nhiều lần: “Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.
Trên đường về, bà xã tôi thắc mắc tại sao cô lại chuyển đi sớm và không
cho chúng tôi hay. Tôi lắc đầu, mặc dù tôi đã vừa mới hiểu ra.
Từ
hôm ấy, tôi không bao giờ gặp lại cô. Vài lần nhớ tới cô, tôi định hỏi
thăm qua một số người quen ở các thành phố khác, hoặc gọi cho Sở Tỵ Nạn.
Nhưng rồi tôi quyết định không tìm, vì có lẽ cô không muốn gặp lại tôi,
một người biết quá nhiều về cô.
* * *
Bích
Kiều đến đúng giờ hẹn. Khi thấy chiếc taxi đỗ ngay trước cổng nhà, vợ
chồng tôi chạy ra đón. Tôi cũng nóng lòng muốn xem lại dung nhan của
người con gái xinh đẹp nhưng găp phải điều bất hạnh của 25 năm trước.
Bây giờ chắc tuổi cũng đã 45, 46. Vợ chồng tôi ngạc nhiên khi thấy Bích
Kiều vẫn còn trẻ đẹp. Cặp kiếng cận làm tăng nét tao nhã quí phái. Cô ôm
chầm chúng tôi, rồi lấy kiếng xuống để chùi nước mắt.
–
Không ngờ Kiều bây giờ còn đẹp hơn hồi xưa nhiều lắm. Sao đi có một
mình ên còn ảnh thì giấu kỹ ở đâu rồi không cho trình diện?
Câu nói đùa của bã xã tôi làm cô bớt xúc động, nở nụ cười sau một thoáng thẹn thùng:
– Em vẫn còn độc thân mà! Hôm nay xuống đây nhờ anh chị làm mai đây.
Chúng
tôi đi quanh khu vườn sau nhà. Bà xã muốn khoe mấy cụm hồng vàng vừa
mới nở hoa, trước khi dắt tay cô bước vào phòng khách. Tôi mang nước ra
mời và ngồi nghe hai người đàn bà nói chuyện trang điểm phấn son xong
mới lên tiếng:
–
Vậy là Kiều đang ở Trondheim. Tôi thấy địa chỉ trong tấm thiệp cưới.
Ngày ấy, tự dưng Kiều biến mất, làm bọn tôi cứ nghĩ là nàng trích tiên
đã ngao ngán cảnh trần gian mà bay lại về trời rồi chứ.
Cô cười bẽn lẽn:
–
Hôm nay đến cũng để xin lỗi anh chị đây. Ngày ấy lòng em còn đau xót
lắm, nên muốn đi đến một nơi thật xa, không muốn gặp bất cứ người Việt
nào và nhất là những ai đã biết về mình. Mặc dù em rất thương quí và
mang ơn anh chị.
Tôi cười:
–
Tôi biết, nên chỉ thương chứ có nỡ lòng nào mà trách. Chắc Kiều còn nhớ
cái câu tiếng Na-uy “Ngày mai tôi muốn bỏ đi thật xa” mà Kiều nhờ tôi
viết ra và chỉ cho Kiều đọc đi, đọc lại bao nhiêu lần. Khi ấy Kiều bảo
rất thích câu ấy trong một bài hát mà Kiều hay hát? Nhờ đó mà tôi hiểu
được, nên không có ý tìm Kiều.
Đúng
là cô đã đi thật xa, một hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi thành phố Ålesund. Ở
đó không có một người Việt nào sinh sống. Chính quyền và dân chúng rất
tốt. Mẹ con cô được chăm sóc chu đáo. Một năm sau cô bảo lãnh mẹ và hai
cậu em sang đoàn tụ. Gia đình sống trong hạnh phúc. Đứa bé lớn lên trong
vòng tay yêu thương của mọi người. Cháu được đặt tên Trần huy Bách, và
trong giấy khai sanh có cha là Trần Huy Trác. Tên người vị hôn phu của
Kiều. Anh đã bị chính cha ruột của thằng bé giết chết thảm thương rồi
vất xác xuống biển. Kiều giấu kín mẹ và các em điều đau thương này, nên
đến lúc qua đời, mẹ cô vẫn tin đứa cháu ngoại duy nhất của mình là con
của Trác. Bà mất đột ngột sau cơn bệnh tim, khi sang Na-uy được mười sáu
năm.
Được
chính phủ trợ cấp, cho học bổng, và nhờ mẹ giúp trông con cùng mọi việc
trong nhà, nên Kiều và hai em được đi học. Cả ba chị em đều xong đại
học. Hai cậu em đang là kỹ sư, còn cô làm y tá trong bệnh viện. Khi hai
cậu em được nhận vào trường NTH, một đại học kỹ thuật bách khoa nổi
tiếng tại thành phố Trondheim, miền trung Na-uy, cả nhà đã di chuyển về
đây sau sáu năm ở Ålesund. Cháu Huy Bách, con của Kiều cũng vừa tốt
nghiệp ở trường này mùa hè năm ngoái.
–
Vợ chồng tôi mừng cho Kiều, cho sự thành công của mẹ con Kiều cùng hai
cậu em, và cũng xin chia buồn về việc bà cụ đã ra đi. Tiếc là chúng tôi
không có dịp được gặp bà.
Đang vui, bỗng Kiều xúc động:
–
Tất cả đều nhờ mẹ em. Cả một đời thiệt thòi, chịu đựng vất vả với con
cháu. Em vẫn ân hận là em đã phải nói dối với bà về chuyện của cháu
Bách.
–
Tôi nghĩ Kiều làm như thế là đúng. Ít nhất là không làm đau lòng thêm
những người ruột thịt vốn đã chịu quá nhiều nhục nhằn, khốn khổ. Tôi tin
là bác ra đi thanh thản, không có trách gì Kiều về sự việc ấy đâu. Tôi
nói để an ủi.
Bà xã tôi nãy giờ không hiểu hết những gì chúng tôi trao đổi, hỏi Kiều:
–
Sao cô lại không giữ tên Kiều mà lấy tên Bích. Tôi thấy tên Bích Kiều
đẹp lắm. Ngày xưa gần nhà tôi ở Nha Trang cũng có tiệm uốn tóc Bích
Kiều. Mấy cô con gái đều đẹp. Tôi quen cả hai chị em.
–
Dạ, em thấy cuộc đời nàng Kiều của ông Nguyễn Du sao mà ba chìm bảy nổi
quá, mà dường như cũng đã vận vào em, em sợ nên đổi tên Bích, cũng là
chữ lót của em.
Tôi cười phụ họa:
–
Nàng Kiều nào cũng đã chết rồi. Bây giờ, đang ngồi trước mặt tôi là
Bích. Một cô Bích hoàn toàn khác. Chúng tôi rất mừng được như vậy. Xin
lỗi, đáng lẽ ra không nên gọi cô là Kiều nữa. từ bây giờ chúng tôi gọi
tên Bích nghe.
–
Có sao đâu anh. Hai đứa em của em cũng gọi em là chị Kiều mà. Ngoài gia
đình, chỉ có anh chị là biết cái tên này của em. Chuyện xưa cũng đã qua
rồi. Em muốn anh chị cứ gọi em là Kiều như ngày trước. Hơn nữa, em
biết, ngày ấy anh chị cũng thương yêu cô Kiều đó lắm, phải không?
Cả ba chúng tôi đều cười.
Kiều
nhìn đồng hồ trên tường, khi nghe tiếng chuông báo giờ. Không biết vì
không muốn nhắc lại chuyện cũ, hay là sợ không còn nhiều thời gian, cô
bắt đầu một câu chuyện khác. Cô mở xách tay lấy ra mấy tấm ảnh đưa cho
chúng tôi xem. Ảnh của Bách, con trai cô vừa chụp với cô vợ tương lai
trong ngày lễ đính hôn hơn ba tháng trước. Một cô gái Việt nam. Cả hai
cô cậu đều đẹp, mũi cao, đôi mắt to, vầng trán thoáng lên nét thông
minh.
– Hai cháu rất xứng đôi vừa lứa! Vợ chồng tôi khen.
Cô
cho biết cô dâu tương lai là một dược sĩ vừa mới tốt nghiệp, con gái út
của vợ chồng một vị giáo sư trước 75, được con bảo lãnh sang Na-uy, và
bây giờ lớn tuổi đã về hưu. Ông bà đang sống ở Oslo. Gia đình nề nếp,
đạo đức, có năm người con, tất cả đều thành đạt. Cô nhờ vợ chồng tôi,
tuổi tác ngang với cha mẹ cô dâu, đứng ra thay mặt nhà trai trong ngày
đám cưới. Nhưng điều quan trọng hơn, theo cô, là để cho cháu Bách, và
chính cô nữa, được tự tin, ấm áp hơn về phía gia đình mình. Bởi vợ tôi
là người chứng kiến khi Bách ra đời, còn tôi là người đồng hương duy
nhất biết rõ về Bách, về những tình huống để có Bách hiện diện trên thế
gian này.
–
Sự có mặt của anh chị trong ngày đám cưới cháu Bách, là một kỷ niệm
thiêng liêng quý giá đối với mẹ con em. Bởi vì khi nhìn thấy anh chị, em
sẽ có cảm giác như là đang có anh Trác bên cạnh. Xin lỗi anh chị, em
cũng đã nói dối với cháu Bách, anh là người duy nhất ở Na-uy này biết
chuyện Trác, và tội nghiệp, cháu Bách vẫn tin anh Trác là ba của nó. Em
thường bắt gặp cháu đứng thật lâu trước tấm ảnh của anh Trác trên bàn
thờ.
– Vậy nhỡ cháu Bách hỏi tôi về Trác, tôi biết nói gì với cháu?
Nghĩ ngợi một lúc, Kiều lên tiếng:
–
Em chỉ nói với cháu Bách, là ngày xưa anh ở trong quân đội, nên biết ba
của anh Trác là ông nội cháu, thế thôi. Chứ lúc ấy anh Trác còn nhỏ
lắm. Em thiết tha mong anh chị giúp em. Vì trong lúc này, em cảm thấy
thật lo sợ và cô đơn. Những hình ảnh hãi hùng ấy cứ tưởng đã quên được
từ lâu rồi, vậy mà bây giờ nó lại hiện lên liên tục, ngay cả trong giấc
ngủ của em. Thú thực, ban đầu em không có ý định gặp anh chị, nhưng càng
gần ngày đám cưới cháu, em càng thấy lòng bất an. Cuối cùng bất ngờ em
đã nghĩ đến anh chị, người đã biết tường tận hoàn cảnh của mẹ con em,
bỗng dưng em thấy nhẹ nhàng, như vừa giải tỏa được những gì cứ phải chôn
giấu, đè nặng mãi trong lòng.
Nhớ tới hai người em trai của cô, vợ tôi hỏi:
– Còn hai cậu em của cô bây giờ ra sao. Đã có gia đình riêng hay vẫn ở chung với cô?
–
Cậu lớn sống chung với cô bạn gái người Na-uy hơn hai năm thì chia tay,
còn cậu út vẫn chưa lập gia đình. Tuy nhiên, hai cậu đều ở riêng.
Cuối
cùng, vợ chồng tôi quyết định hủy bỏ chuyến đi London. Phải gọi sang
xin lỗi và giải thích cho vợ chồng cô con gái, bảo đây là một việc ba má
cần làm để giúp cho những người bất hạnh có thể tìm lại ít nhiều hạnh
phúc.
Lễ
thành hôn được tổ chức buổi sáng thứ Bảy. Chúng tôi đến khách sạn Royal
Christiania khi trời vừa mới trải qua một cơn mưa hạ. Ánh nắng bắt đầu
chói chang rọi qua những tàn cây tạo thành những vệt lung linh trên các
bãi cỏ xanh điểm những chấm vàng rực rỡ của hoa løvetann đang mùa nở rộ.
Họ nhà trai dùng khách sạn này, nơi mẹ con Kiều và hai cậu em đang ở
mấy hôm nay, làm “điểm xuất phát”. Từ Trondheim xuống, nên họ chỉ có bốn
người. Thêm một cậu người Na-uy ở Oslo, bạn học của Bách làm phụ rể. Vợ
chồng tôi đến với hai cô con gái và ba đứa cháu, để bưng các mâm lễ
vật, theo yêu cầu của Kiều. Lần đầu tiên chúng tôi gặp Bách. Cậu bé ra
đời vào một đêm đông tuyết giá, trong nỗi cô đơn và xót xa của mẹ, chỉ
có vợ chồng tôi, hai người đồng hương xa lạ, có mặt và nghe tiếng khóc
đầu đời, bây giờ là một thanh niên tuấn tú, có học, chân thật hiền lành.
Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là Bách nói tiếng Việt rất giỏi. Bất
giác, tôi nhớ tới những điều Kiều kể với vị cảnh sát ngoại kiều trước
kia trong bệnh viện. Đầu óc như mơ hồ có tiếng sóng biển thét gào phẫn
nộ, và hình dung tới gã hải tặc Thái Lan có mái tóc phủ xuống lưng, trên
người đầy những hình xâm với đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trong men
rượu. Bỗng tôi giật mình, có cảm giác như vừa làm điều phạm tội. Cố gắng
hướng tâm trí tới những điều thánh thiện, tốt đẹp khác để xua đuổi hết
những hình ảnh đen tối ấy vào giờ phút mọi người đang cần có niềm vui và
hạnh phúc.
Lễ
thành hôn đã diễn ra tốt đẹp. Ông bà sui của Kiều đều là nhà giáo, hiểu
biết và tôn trọng nề nếp cũ. Mọi nghi thức hôn lễ theo tập tục do ông
bà hướng dẫn khá tỉ mỉ. Con cháu đều thành đạt, lễ phép. Tôi mừng cho
Kiều, và nhất là cho cháu Bách đã may mắn là con rể của gia đình này. Có
lẽ thấu hiểu hoàn cảnh của Kiều với lòng mến mộ, sau khi lạy ông bà
trên bàn thờ gia tộc, ông giáo hướng dẫn cô dâu chú rể đến dâng rượu và
xin lạy mẹ của Bách hai lạy. Ông giải thích, một lạy cảm tạ công ơn sinh
thành dưỡng dục của mẹ, mất chồng từ khi còn rất trẻ, nhưng không bước
thêm một bước nào nữa mà dành hết cuộc đời cho đứa con duy nhất của
mình. Một lạy xin mẹ nhận thay cha, để hai con tưởng nhớ đến người cha
bất hạnh, sớm lìa đời khi chưa thấy mặt con.
Khi
vợ chồng cháu Bách mời rượu, nói những lời cám ơn thật cảm động, Kiều
âu yếm nhìn hai con, định nói điều gì, nhưng rồi nghẹn ngào. Sau một lúc
mới nở được nụ cười trong ràn rụa nước mắt. Tôi thấy lòng bâng khuâng.
Thầm mong đó không phải là những giọt nước mắt xót xa mà là niềm vui của
hạnh phúc.
Không
khí bỗng lắng xuống. Mọi người đều xúc động. Kiều ngước lên, đúng vào
lúc tôi quay mặt đi để giấu những giọt nước mắt của chính mình.
phạm tín an ninh
Video kỷ niệm 28 năm thành lập cơ sở VTLV
CON THÚ BỊ RUỒNG BỎ
CON THÚ BỊ RUỒNG BỎ
Một truyện ngắn của Nguyễn Dậu
Mỗi năm vào dịp sang thu, tôi lại được mời lên Ba Vì một lần. Đây là một vùng gò đồi rất đẹp. Hàng ngàn quả đồi nõn nuột cỏ xanh, tròn trịa như một mâm xôi. Rồi kế đến là vùng đồi dứa, đồi sim, đồi sơn, đồi trẩu. Càng vào sát chân núi, rừng càng rậm rạp dần, thâm u dần, để trở thành rừng già trùm lấp những tảng đá nguyên sinh nổi tiếng trên non Tản.
Bạn tôi, thiếu tướng Nguyễn Hồng Quyền đã nghỉ hưu và định cư tại nơi đây. Trang trại của ông – có thể gọi như vậy – gồm gần hai chục nóc nhà làm bằng gạch và gỗ, nằm trên một trái đồi hình yên ngựa, xung quanh có hai ba dòng suối nhỏ uốn lượn vây bọc. Xa hơn nữa, một dòng sông mênh mang đỏ rực phù sa, đang cuồn cuộn chảy xuôi, mất hút vào giữa những eo núi hẻo lánh.
Thật ra mảnh đất này không phải là đất tổ của Quyền. Năm 1948 chúng tôi có dịp chiến đấu chống Pháp ở đây. Rồi tới năm 1953 lại một phen nữa, đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ phá bung hành lang trung du của địch mở lối thông thoát ở miền đồng bằng lên Việt Bắc, qua nẻo Hòa Bình, Sơn Tây, Phúc Thọ. Trong một tối lửa trại liên hoan quân dân, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền được một cô gái xinh đẹp nhất vùng Bất Bạt say đắm. Ở anh có nét điển xảo của trai Hà Nội, có tư thế hiên ngang, có ngựa hồng, côn-bát là hình ảnh “trai thời loạn” rất dễ làm xao xuyến những trái tim thiếu nữ thời bấy giờ. Họ thành vợ thành chồng. Con cái của họ giờ đã khôn lớn, hầu hết đi công tác ở nơi xa. Cố nhiên họ đã nên ông nên bà, và có một đàn cháu nội cháu ngoại khá đông đúc.
Thiếu tướng là một con người sởi lởi, hào phóng, chí tình chí cốt với họ hàng và bầu bạn. Nhưng ông mắc bệnh gia trưởng quân phiệt một cách nặng nề. Ông yêu thương mọi chiến sĩ, nhưng cậu nào bướng bỉnh, ông cho đi an dưỡng hoặc cho thuyên chuyển tới đơn vị khác không thương tiếc. Ông đùm bọc họ hàng đến hết mình, nhưng chớ nên để ông phật ý. Chỉ một giận dữ nhỏ, ông thù ghét rất lâu, thậm chí đáng buồn là ông ghét họ suốt đời.
Như nhiều người khác, ông cũng mắc bệnh nghề nghiệp. Nghĩa là ông ưa mọi ý muốn của ông phải được chấp hành, mọi rắp tâm phải được thực hiện. Bởi vậy, con dâu về ở cạnh ông đã đành. Con rể cũng phải về ở cạnh ông nữa. Rồi dần dần, một số con cháu trong họ cũng thiên cư đến đây quây quần cùng ông, cho “tre ấm bụi”. Không cần phải khéo léo cho lắm, ở cương vị ấy, người ta dễ dàng “ngói hóa” cho cả xóm. Thế là cái xóm nhỏ gồm toàn con cháu của ông, trở thành trang trại. Sau khi về hưu thì vị thiếu tướng nghiễm nhiên trở thành chòm chóp của trang trại này.
Mới sáu mươi hai, thiếu tướng còn trẻ khỏe hơn tuổi tác. Ông cao lớn đẫy đà hồng hào, dáng đi mạnh mẽ, giọng nói oang oang, tiếng cười rồ rộ, tràn trề sức sống. Tuy đầu óc ông không còn thích nghi với một đơn vị chính quy hiện đại nữa, song ông quá thừa năng lực điều khiển việc sản xuất kinh doanh của trang trại, để cho nó ngày một phồn vinh sung túc. Ngoài công việc điều hành trang trại, thiếu tướng đặc biệt ham thích săn bắn, câu cá, cờ tướng. Đôi khi, cao hứng lên, ông cũng làm thơ. Những bài thơ Đường luật, lổn nhổn những từ ngữ xửa xưa: sơn hà, tráng sĩ, vung gươm, thôn nữ cửi canh, chinh phụ, bồi hồi v.v…
Bởi tôi cũng thành thạo vài ngón như bắn súng, câu cá và ham cờ, nên vừa là niềm vui vừa là tai họa, mỗi năm ông bạn già ấy lại “buộc” tôi phải lên chơi với ông một lần, thậm chí, ông có lúc còn chèo kéo tôi lên định cư hẳn cùng ông, làm quân sư quạt mo cho ông trên một số lĩnh vực.
Lần này, Nguyễn Hồng Quyền xuống tận Bất Bạt để đón tôi. Thiếu tướng không dùng xe máy “Ban căng” như mọi lần. Thay vào đó, ông cưỡi một con ngựa trắng đực tơ, bốn vó khá dài. Trên tay ông dong theo dây cương một con ngựa hồng cái, có bộ lông rất mượt, có cặp mắt màu vàng chanh, và bộ lông bờm màu hồng thật không gọt xén. Trao cương ngựa cho tôi, ông vừa vỗ về con Hồng, vừa nhìn tôi cười ha hả: – Sao? Ngạc nhiên lắm à? Có gì đâu, tớ muốn chúng mình lại cùng nhau phóng ngựa, như ngày xưa trẻ trung đã phi ngựa trên thảo nguyên Hoa Bắc ấy mà. Xương sống lưng của tớ thì tuyệt rồi. Mà xương sống của ông thì chắc cũng chẳng kém gì đâu. Đồng ý chứ? Tôi tỏ vẻ hân hoan. Bởi vì cái gì dính tới thời son trẻ cũng gây cho tôi một niềm ham thích.
– Đồng ý thôi. Chỉ phiền cái xắc du lịch của mình hơi nặng. – Cứ ghì vào sau yên ấy. Con Hồng không chịu nhường bước con Bạch đâu. Rồi ông sẽ thấy nó phi nước đại hay đến mức nào. Phải tháo kính trắng ra bỏ vào túi áo, kẻo văng mất đấy. – Cặp ngựa này ông sắm từ bao giờ vậy? Năm ngoái tôi không thấy chúng. – À, mới lên Lạng Sơn tậu đấy. Lúc thường thì dùng chúng kéo máy ép mía, máy ép dầu. Lúc cần thì đi săn. Săn thú mà không có ngựa tốt để cưỡi thì nguy hiểm lắm. Ông quá rõ điều đó còn gì? Thôi, lên ngựa đi! Chúng tôi cùng lên ngựa. Quyền huýt gió một tiếng chói tai. Từ bụi cỏ gần đấy, một con chó to lớn mầu trắng đen loang lổ, băng lại cạnh chân ngựa. Nó ve vẩy đuôi, giương cặp mắt xanh thau, chờ lệnh chủ.
Thiếu tướng hể hả, hất hàm hỏi tôi: – Ông vẫn nhớ nó chứ? – Làm sao tôi quên được con Tuýt của ông. Không phải chó nữa, mà thực sự là con cọp rừng. Năm nay nó đến bốn chục kilô đấy nhỉ? Vị chòm chóp của trang trại cười rung cả yên ngựa: – Bẩy mươi bẩy kilô đấy! Thế còn con Múc? – À, Con Múc, cái con trời đánh ấy ông nhắc đến nó làm gì? Rồi thì tôi sẽ cho ông rõ mọi chuyện. Ê, này Tuýt! Mày không kính chào bạn của chủ mày à?
Con Tuýt ngoáy tít cái đuôi dài, “oẵng” một tiếng hùng dũng. Đoạn nó đứng thẳng lên bằng hai chân sau, hai chân trước chụm lại, hướng về tôi mà vái ba vái.
– Thôi, đủ rồi – Chủ nó ra lệnh – Hãy dẫn đường cho chúng tao. Con Tuýt vọt lên trước. Con ngựa Bạch lao theo. Không chờ giật cương, con Hồng cũng băng lên, phi song song cùng bạn nó. Chúng tôi vùn vụt phi lên đèo, lượn quanh suối rồi lại vượt dốc, băng đèo. Sau lưng chúng tôi, bụi đỏ của vùng đồi đá ong bốc lên cuồn cuộn.
Con Tuýt xứng đáng được chủ nó cưng chiều. Nó bỏ xa đầu ngựa hàng trăm mét. Có lúc nó tạt sang sườn trái, có lúc nó lại vòng bên sườn phải chúng tôi. Bốn chân nó thoăn thoắt, mờ mờ không còn rõ hình hài. Bộ lông khoang của nó như kẻ một đường thẳng trên ngọn cỏ. Đôi lúc, nó đánh hơi thấy một mùi hoang thú nào đó. Nó lập tức rống lên, rẽ ngang vào rừng sơn. Song dù máu săn của nó nóng tới đâu, nó vẫn nghe lệnh chủ mà quay ngoắt trở lại, rồi vun vút băng vọt lên dẫn đầu. Đôi ngựa chúng tôi đang cưỡi đây, cũng rất hăng máu non tơ, dường như muốn đuổi vượt con chó Tuýt. Chúng thở ra hơi trắng, bốn vó dồn dập sải dài nước đại. Sỏi đá, cây cỏ dưới mặt đường, như kéo thành vệt, loang loáng trôi về sau lưng. Nhưng không ổn. Chẳng nói gì ngựa thồ, ngựa ép mía, ngay đến ngựa chiến cũng không thể theo kịp tốc độ của chó săn. Con Tuýt láu lỉnh hiểu ý đôi ngựa. Ngựa phi nhanh, nó tăng tốc nhanh hơn. Ngựa chậm dần, nó hãm đà phóng, cứ lững thững ở mé trước như trêu như chọc.
Quả thật đây là những giây phút sung sướng lành mạnh trong đời tôi. Thuở trai trẻ, chúng tôi được dịp ngồi trên yên những con ngựa cao lớn mà bay vút trên thảo nguyên bao la. Những con ngựa ấy, tôi chỉ đứng ngang bả vai chúng, rất xứng đáng với những cái tên rất kêu: “Thiên-lý-Hoa-lưu”, “Tích-tuyết-ô-truy”, “Xiển-điện-hoàng-phiêu”… so với chúng, thì hai con ngựa nhiệt đới mà chúng tôi đang cưỡi đây, chỉ đáng gọi là những con nghẽo xoàng xĩnh. Song tôi vẫn thấy chứa chan hào hứng. Tôi thầm cảm ơn bạn già, cảm ơn đội ngựa, cảm ơn con Tuýt tinh thông, cảm ơn đất trời mênh mông và cảnh sắc của thiên nhiên hào hùng xung quanh… Tất cả đã khuấy lại trong tim tôi những kỷ niệm đẹp đẽ đã trôi qua, những sôi nổi chỉ còn âm ỉ của một thời xuân sắc đã lướt vào dĩ vãng. Vị chòm trại đột ngột chụm môi rúc còi lanh lảnh ra lệnh cho chó và ngựa dừng lại bên bìa rừng trẩu. – Được nửa đường rồi, chúng ta tạm nghỉ một lát. Thế nào, ông bạn, cảm giác về sống lưng ra sao? Cả hai chúng tôi cùng nhảy xuống. Cương ngựa được cột chặt vào gốc trẩu. Chúng lúc lắc đầu, quạt mạnh đuôi, gõ móng ngựa thậm thịch xuống nệm cỏ, tỏ ý còn muốn được rong ruổi nữa, tuy rằng hơi thở của chúng đã khá nặng nề.
Chúng tôi ngồi xuống nệm cỏ mật, giữa hai hàng trẩu non. Thiếu tướng rót rượu mật ong ra. Chúng tôi cùng nhau tợp vài ngụm rồi hút thuốc lá, loại thuốc sợi vàng óng, đặc sản của Ba Vì. Riêng Quyền, ông nhồi vào tẩu. Ông đã quen dùng tẩu từ mấy chục năm rồi.
Tôi lim dim mắt, hỏi bạn già. – Tình hình các cháu nội ngoại của ông ra sao? Nhất là cái con Quỳnh ấy? – Chúng nó đều ăn khỏe, ngủ khỏe. Riêng cháu Quỳnh thì ngoài phần học văn hóa ra, cháu vẫn thích đi chơi trên đồi rừng, vẫn thích làm thơ về rừng. Từ ngày không còn con Múc, nó ít đi rừng hơn. Và tôi cũng cấm cháu nữa. – Nghĩa là, anh không hề thấy con Múc quay trở về? – Con Múc trở về ấy à? – Thiếu tướng mỉm cười, lắc đầu nhè nhẹ – Về con Múc, anh sẽ được thấy mọi điều. Hiện giờ tôi không muốn nói cùng anh vội. Nhớ rằng tôi mời anh lên đây lần này khác hẳn những lần trước. Dù rằng anh không ưa săn bắn, tôi vẫn ép anh phải dự cùng tôi một cuộc săn bắn bằng được. – Một con thú đặc biệt mới xuất hiện chăng? – Ồ, bí mật quân sự!
Tôi không hỏi gì nữa. Tính nết đến khỉ của cái ông già này là vậy! Khi không, tự dưng ông nói tộc toạc đủ mọi điều. Lúc thích hỏi, thì ông ta lì lì ngậm tăm.
Con Tuýt nằm duỗi chân cách chủ nó chừng nửa mét. Lười thè dài, mầu đỏ hồng có điểm những chấm đen lấm tấm. Thân nhiệt của nó, được xả ra từ đầu lưỡi, bốc thành hơi trắng nóng hầm hập. Hàm răng của nó trắng bóng. Bốn chiếc răng nanh cửa dài và cong, sáng nhoáng đến dễ sợ. Chẳng rõ từ ngày nó ra đời rồi trưởng thành đến nay, bộ nanh ghê gớm kia đã cắn xé biết bao gà lôi, với chim đa-đa, thỏ và chồn, hươu và hoẵng, gấu và cáo. Kinh dị hơn, chủ nó đã đôi lần tường thuật cho tôi nghe những trận ác đấu của nó với gấu ngựa và báo đen. Trong những cuộc cắn xé sinh tử đó, phần lớn nó đã chiến thắng, dù đẫm máu nhưng huy hoàng. Có nhiều phen nó đã sắp bị kẻ thù xé xác, nhờ nòng súng thiện xạ của ông chủ, nó được cứu thoát. Chủ và chó đều có ân huệ sâu xa với nhau.
Nếu như chủ đã cứu chó thoát khỏi cửa tử nhiều phen, thì chó cũng đã dăm bảy bận đưa chủ trở về cõi sống. Trong các cuộc săn đuổi gay cấn và hấp dẫn lạ lùng kia, thiếu tướng đã hai phen bị báo gấm vồ lén, đã một lần bị gấu ngựa quật ngã. Mỗi lần ngặt nghèo vậy, con Tuýt mới được dịp bộc lộ hết tài năng của nó. Nó nhanh chóng chọn chỗ yếu của hoang thú, để tìm hướng lao vào. Không do dự trù trừ, không hấp tấp sai lệch, nó chồm tới, ngoạm rất chính xác vào cổ họng ác thú mà xé rách bằng hai ba cái quẫy đầu mạnh mẽ. Ác thú bị đòn chí tử, không còn kịp gây thương tích cho chủ nó nữa.
Nguyễn Hồng Quyền thường đắc ý nói với tôi: – Anh rõ chăng, lúc nó mới chào đời, tôi đã thấy “tướng lạ” của nó. Dưới hàm của nó có ba sợi lông dài màu xanh biếc. Chỉ người sành chọn chó mới hiểu thế nào là “tam tu vi long, nhị tu vi hổ”. Đấy, thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh có nhớ thượng tướng Th. không? Cái ông già gàn dở nổi tiếng toàn quân về phong thái “hiên ngang” ấy mà, đã gạ tôi đổi con Tuýt lấy một cặp béc-giê Sibêri đấy. Ồ, xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi.
Trong các cuộc săn đuổi gay cấn và hấp dẫn lạ lùng kia, thiếu tướng đã hai phen bị báo gấm vồ lén, đã một lần bị gấu ngựa quật ngã. Mỗi lần ngặt nghèo vậy, con Tuýt mới được dịp bộc lộ hết tài năng của nó. Nó nhanh chóng chọn chỗ yếu của hoang thú, để tìm hướng lao vào. Không do dự trù trừ, không hấp tấp sai lệch, nó chồm tới, ngoạm rất chính xác vào cổ họng ác thú mà xé rách bằng hai ba cái quẫy đầu mạnh mẽ. Ác thú bị đòn chí tử, không còn kịp gây thương tích cho chủ nó nữa.
Nguyễn Hồng Quyền thường đắc ý nói với tôi: – Anh rõ chăng, lúc nó mới chào đời, tôi đã thấy “tướng lạ” của nó. Dưới hàm của nó có ba sợi lông dài màu xanh biếc. Chỉ người sành chọn chó mới hiểu thế nào là “tam tu vi long, nhị tu vi hổ”. Đấy, thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh có nhớ thượng tướng Th. không? Cái ông già gàn dở nổi tiếng toàn quân về phong thái “hiên ngang” ấy mà, đã gạ tôi đổi con Tuýt lấy một cặp béc-giê Sibêri đấy. Ồ, xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi.
Vốn thâm giao, thường niên gặp gỡ, lẽ cố nhiên tôi hiểu rõ lai lịch con Tuýt vô giá kia. Tổ của nó vốn nòi chó săn Na-uy băng giá. Trong trận tiêu diệt đồn Đại Bục năm xưa, giữa hàng trăm chiến lợi phẩm quan trọng, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền chỉ mừng rỡ khi đoạt được con chó săn này, vốn là kẻ “cận vệ” của tên Pháp đồn trưởng. Ông gởi về nhà, giao cho vợ ông trông nuôi. Trong đàn con cháu của nó, ông Quyền chọn lựa được một con chó cái mầu trắng như tuyết, không pha tạp một sợi lông màu nào. Và ông đặt cho nó một cái tên rất âu yếm: Bạch Ngọc!
Bạch Ngọc có đôi tai nhỏ, dựng đứng. Ức nó nở, bụng nó thon, toàn thân nó chắc nịch như thỏi giò bó. Đôi mắt của nó mang màu da cam, le lói tia sáng. Nó không sủa inh ỏi như chó nhiệt đới, mà lặng lẽ tiếp cận đối thủ, và chỉ tấn công khi nó biết chắc sẽ có một cú đợp chí mạng.
Năm trước một lần về phép thăm nhà, thiếu tướng lấy làm lạ lùng thấy con Bạch Ngọc thường hay lặng lẽ băng mình vào rừng sâu những lúc xế chiều. Ông xỏ ủng da vào chân, xách khẩu AR15, loại tiểu liên cực nhanh, rồi cũng lặng lẽ đi vào rừng, theo hướng đi của con Bạch Ngọc.
Từ xa, dưới một góc trám già nua, ông đã thấy Bạch Ngọc đang đùa giỡn với một con chó rừng vạm vỡ, có bộ lông đen bóng như lụa lĩnh. Ông rón rén vòng theo hướng ngược chiều gió, dần dần tới gần đôi chó bằng động tác đi cực kỳ êm nhẹ của thợ săn lành nghề. Và ông nằm phục xuống quan sát.
Đôi chó quá vui vẻ, nên không hề phát hiện con người đã gần chúng. Nòng súng AR15 đã được nâng lên. Song, chỉ một tích tắc ngắn ngủi, vị thiếu tướng tinh ranh đã quyết định không bóp cò. Ông chỉ rê đầu súng theo hoạt động của con chó rừng đen tuyền kia, mà chờ đợi.
Con chó rừng và con Bạch Ngọc ngửi hít nhau, đùa rỡn vật lộn nhau. Sắp đến lúc phấn khích, con chó rừng rụt cả đầu, cả thân mà chạy thành vòng tròn rộng xung quanh con Bạch Ngọc. Đôi lúc nó ngẩn cao đầu, tru lên từng hồi dài, rồi tung vọt người lên không, nhảy vút từ tảng đá này sang tảng đá khác với niềm cuồng say ghê gớm. Con Bạch Ngọc cũng nhảy nhót, nhưng dường như nó chỉ xoay mình trên tâm điểm. Cuối cùng nó hứng khởi cắn nhẹ vào má con chó rừng, rồi đứng im với tư thế mời mọc.
Quả như ông thiếu tướng dự kiến. Một hiện tượng thiêng liêng của tự nhiên đã diễn ra. Con chó rừng hăm hở làm cái việc gắn đuôi con Bạch Ngọc. Biết chắc rằng đôi chó rừng không thể mau chóng tách rời nhau, thiếu tướng đứng lên, nhẹ nhàng lùi dần ra cửa rừng. Ông ngồi trên một khúc gỗ ẩm ướt, mồi lửa vào tẩu thuốc và ngâm nga một câu thơ gì đó. Ông vui! Một cuộc phối giống vô cùng hiếm hoi mà có dụng ý đến đâu người ta cũng không dám mong ước. Thiên nhiên yêu chiều ông đến thế là cùng.
Chừng nửa tiếng sau, con Bạch Ngọc êm như ru chạy ra. Nhác thấy chủ, nó ngạc nhiên nhưng mừng quýnh. Đôi mắt sung sướng của nó lấp lánh như bốc lửa. Ông Quyền đập nhẹ bàn tay lên đầu nó, nói với nó vài lời trìu mến, khi nhìn thấy từ cục thịt dưới đuôi nó rỉ ra vài giọt máu tươi. Đoạn, cả chủ cùng chó, với niềm hoan hỉ, chậm bước quay về trại. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, con người say sưa sát phạt kia đã không nổ súng vào một con thú rừng.
Trước khi lên xe, trở lại đơn vị, ông dặn dò cặn kẽ vợ con cách chăm sóc và bồi dưỡng Bạch Ngọc, đồng thời phải biên thư báo cho ông biết diễn biến của nó từng tuần một. Bà Quyền ngoan ngoãn vâng lệnh chồng! Bà chỉ âm thầm buồn bực vì xưa nay chưa bao giờ chồng bà quan tâm như thế tới bà, tới con gái và con dâu mỗi kỳ thai nghén sinh nở.
Con Bạch Ngọc đã không phụ lòng ông chủ. Nó đẻ lứa đó được bốn con chó con. Con đầu khoang đen trắng, tức con Tuýt. Con thứ hai hoàn toàn đen kịt, có cặp mắt tóe lửa giống mẹ, được đặt tên là Múc, còn hai con kia mang mầu lông xám đậm. Tuy tiếc đứt ruột, vị thiếu tướng vẫn phải tặng một con cho một ông Bộ trưởng có ân sâu dìu dắt ông tự thuở thiếu thời.
Khi Tuýt và Múc được tám tháng tuổi, cũng là lúc ông tướng già được về hưu. Ông dốc hết sức mình vào việc dẫn dắt trang trại ngày một phồn vinh trên đường kinh doanh. Cũng với sự tận tình như vậy, ông chăm sóc, huấn luyện con Tuýt, con Múc cùng một bầy năm sáu con chó săn khác. Tuýt và Múc càng lớn càng khác biệt nhau. Cùng vạm vỡ, cao lớn, cùng ngông cuồng với thiên chức săn đuổi tìm diệt, song con Tuýt được chủ nó yêu quý hơn con Múc nhiều. Tuýt biết phán đoán, ửng xử hầu hết ý chủ. Nó gần như hiểu tiếng người. Ngoài chức trách dữ dằn, quyết liệt và man rợ trong săn bắt, nó rất dịu dàng, quấn quít con người. Chỉ cần dạy bảo đôi lần, nó biết mừng đón và biết vái chào, biết canh phòng và làm vui lòng chủ. Nếu cần sai nó lấy đôi dép, lấy con dao, lấy chiếc điếu cày, nó làm rất khéo. Nếu cần thúc nó trừng phạt gia cầm và gia súc, nó tuyệt đối làm vừa ý chủ. Con con Múc thì hoàn toàn ngược lại.
Nó không hề thua kém Tuýt về khoản săn đuổi, vật lộn và cắn xé. Nhưng chỉ thế thôi. Nó dửng dưng với những việc mà con Tuýt say mê. Nó không quẩn quanh bên chân chủ, không biết chào đón, lại càng đần độn với những việc chủ muốn sai khiến. Trong cái trại đông đảo người này, nó chỉ thân thiết và gắn bó với riêng cháu Quỳnh. Mỗi lần cháu Quỳnh lên đồi sim, hoặc vào rừng, nó thường đi theo, nửa bước không rời. Những lúc tiễn cháu Quỳnh đi học rồi, nó thường quay về nằm duỗi dài chân ở đầu thềm dỏng tai nghe, chăm chú nhìn. Nó nghe gió ngà, nghe suối reo, nghe mọi động tĩnh trong rừng sâu. Đầu mũi ướt bóng của nó luôn luôn nhún động, để như nắm bắt, như phân biệt, như tận hưởng mọi thức hơi lạ theo gió lùa tới.
Nó thờ ơ như vậy, dần dà, nó bị ông chủ ghẻ lạnh. Ông quên đi những công lao của nó, chỉ còn biết cáu gắt quát tháo mỗi khi nó lỳ lợm không chịu xua đuổi đàn gà quấy phá vườn rau, hoặc không chịu xua đuổi lũ gia súc đang tứ tán trên đồi. Tình hình xấu đến nỗi, ông đã quất cho nó vài ngọn roi da, khi nghi ngờ nó xơi tái mất hai con gà trống Đông Cảo, mà ông lận đận về mãi miền Từ Hồ mới mua được.
Trong nghề săn bắn và nuôi dưỡng chó săn, ai cũng biết rằng người ta tuyệt đối tránh ngược đãi chó của mình. Sự trung thành sẽ mất đi, nếu con chó bị trừng phạt oan uổng. Một con người tinh ranh và sáng suốt như thiếu tướng Hồng Quyền mà cũng phạm phải sai sót đó, thật đáng buồn biết chừng nào. Sở dĩ ông thù ghét nhưng chưa nỡ ruồng bỏ con Múc vì hai lý do. Thứ nhất, ông sợ cháu Quỳnh buồn. Ông yêu thương và quý báu cháu Quỳnh, còn cháu Quỳnh thì lại trìu mến con Múc như một bạn nhỏ thân thiết. Thứ hai, hồi đầu năm, con Múc lập được một chiến tích có thể xem là phi thường được.
Những ngày đầu xuân, mưa phùn và nắng ấm, làm cho rừng già trở nên tươi rói vì những búp nõn và chồi non. Tại các nẻo đồi mươn mướt từng đợt cỏ xanh mềm như nhung lụa. Muông và thú trong rừng sau đợt nghỉ đông hoặc ngủ đông dài dặc, bây giờ bừng tỉnh, nhộn nhịp đi kiếm ăn, tìm đôi, phối giống, và sinh sản.
Một đàn lợn rừng từ bên kia sông Đà, đã ùa sang bên này. Các đồi lạc, đồi dứa của trang trại bị lợn rừng tàn phá nặng nề. Ông Quyền cùng Quý, con trai thứ ba, quyết định rủ nhau đi săn bắt đàn lợn rừng tệ hại kia. Lợn rừng chậm chạp, chỉ cực kỳ hung dữ khi bị dồn vào tử địa. Có khoảng sáu con họp thành đàn, đang trũi húc vào các luống lạc. Khi phát hiện ra có người và chó vây bủa, chúng mở đường máu lao về phía sông Đà. Chúng đi, tựa sườn vào nhau, hai nanh dưới to bằng ngón tay trỏ, nhe ra, lông bờm dựng đứng. Đàn chó phân vân, không biết nên tấn công đàn lợn bằng cách nào. Những mảnh đạn ghém tuy trúng đích cũng không khiến chúng ngã được, bởi lớp mỡ quá dày.
Bản thân vị thiếu tướng cũng có phần lúng túng, chưa có cách nào để đạt kết quả tối ưu. Trong khi đó, đàn lợn vẫn rất trật tự, tựa sườn vào nhau mà lần lượt xuống sông bơi đi hết. Riêng có con đầu đàn, khổng lồ, không hiểu sao nó lại không lao xuống nước. Nó dừng chân bên bụi lau, và quay đầu trở lại. Đôi mắt nhiều lòng trắng của nó long sòng sọc. Nó tru hộc lên, những chiếc lông cứng và dài như lông nhím dựng đứng suốt từ gáy tới lưng. Hai chiếc nanh trước trắng bóng, cong cong của nó chĩa ngược lên trời với vẻ đe dọa không thể không làm ta rùng mình.
Con Tuýt bị chủ thúc xông lên. Chính nó cũng chần chừ. Bởi vì giống chó săn thường chỉ đánh vào điểm yếu nhất của đối thủ là hầu họng. Các loại hoang thú thường để lộ cổ họng, dù có lớp mao bao bọc. Với lợn rừng lại là chuyện khác. Nó hầu như không có cổ. Lớp mỡ dầy đặc ứ bự xung quanh vùng mặt, nối liền bả vai và xương ức.
Bị hối thúc vì lệnh chủ, con Tuýt nhảy vào. Nó ngoạm đúng phần má của con mồi. Nhưng nó đã bị trừng trị trở lại. Con lợn rừng chỉ hất mạnh cái mũi lên, hai chiếc nanh nhọn đã đóng ngập vào xương sườn con Tuýt. Con Tuýt rống lên đau đớn, nhưng nhanh nhẹn, nó vùng thoát rồi chạy về bên chủ, máu chảy đầm đìa. Ông thiếu tướng kinh hoàng vì đấu sĩ số một của ông chiến bại. Ông lập tức nâng khẩu AR15 lên. Cùng lúc ấy con Múc đã xông tới. Ông liền ngừng lại để xem bản lĩnh của con Múc. Con Múc hiểu rằng, qua cú đòn đau của con Tuýt, nó không thể ngoạm cổ con lợn rừng được. Nó liền chạy vòng quanh con mồi. Con lợn rừng hung tợn và lỳ lợm cũng xoay tròn thân mình, đôi mắt trắng sáng không rời con Múc. Bất thình lình, đang đà chạy bình thường, còn Múc nhảy vào con lợn. Nhưng khi gần tới cổ lợn, nó ngoặt người đổi hướng và đợp rất chính xác vào cẳng chân sau của con mồi. Tiếng xương gãy nghe ròn lắc rắc. Con mồi rống lên, nhưng con Múc đã vọt được ra xa. Lợn rừng hung tợn lên gấp trăm lần. Nó khập khiễng nhưng nhanh nhẹn xông vào tấn công bất kỳ ai. Cũng may hôm ấy tất cả đều ở trên mình ngựa, nên bầy ngựa nhảy dạt ra khá nhanh nhẹn. Cơ hội tốt đẹp đó tạo thuận lợi cho Múc. Trong khi con lợn xông theo con ngựa của ông Quyền, thì từ mé sau, con Múc băng tới, và ngoạm vỡ xương chiếc chân bên kia của con lợn. Lúc này con lợn mới rống lên thảm thiết. Gãy hai cẳng giò mé sau, nó không còn sức bật sức dướn nữa. Nó nằm bẹp xuống, điên cuồng dũi răng nanh vào đất đá, làm cho đất đá bị lõm thành một hố sâu. Phần còn lại, Múc dành cho người và bầy chó kia kết thúc. Nó đứng im, vừa thở vừa ngắm nghía con mồi bị nó đánh gục.
Sau cái chuyện đó, ông Quyền, với con mắt người đi săn thấy rằng ở con Múc còn nhiều tiềm năng ghê gớm, mà chỉ khi lâm sự nó mới bộc lộ ra. Còn với cặp mắt của người chủ, ông vẫn không xóa bỏ được mối ác cảm đối với “tên đày tớ” ương bướng này.
Trở về trại, ông chăm sóc chu đáo vết thương con Tuýt, nhưng việc cần phải làm là ban thưởng cho con Múc thì ông không làm. Năm trước lên thăm và ở chơi cùng ông Chòm Trại, tôi đã thân ái nhắc nhẹ ông về tính công bằng, và sự cần thiết phải gạt bỏ thành kiến. Song, ông bạn già của tôi vốn không thể cao cả hơn thượng đế được, mà chính thượng đế rất bảo thủ. Ông cười, chế nhạo lại tôi: – Trừng phạt và ưu ái là hai mặt của sự chăm sóc và gây dựng. Nếu con Múc muốn tôi ưu ái nó thì nó hãy ngoan ngoãn như con Tuýt. Tôi có hẹp hòi gì đâu? Mà, có nực cười không nhỉ, khi anh thấy cần giảng dạy cho tôi về mặt nuôi dạy chó săn?
– Về việc đào tạo chó săn thì anh hơn tôi không chỉ một, mà là hàng vạn lần. Tôi chỉ lưu ý anh về tính di truyền sinh vật. Theo anh kể, bố nó là giống chó rừng thuần chủng. Còn mẹ nó là nòi giống của loại chó tinh quái có nguồn gốc hàn đới xa xôi, đã được thuần hóa. Con Tuýt được thừa hưởng cái gien máu của mẹ nó quá nhiều. Còn con Múc thì ngược lại, nó giống bố nó từ thể hình, màu lông và tính cách. Ở nó tính “rừng” đậm hơn tính “nhà”. Thiếu tướng cười
vang vọng, đắc thắng: – Theo ý anh thì con hổ và con voi rừng có mang tí tính “nhà” không? Vậy mà người ta dạy nó làm xiếc được đấy. Vấn đề là nó có ngoan ngoãn không? Có phục tùng không? – Nhưng anh đã có tình thương yêu và tính kiên nhẫn của những nhà dạy thú chưa?
Ông tướng già quen với việc ra mệnh lệnh lúc này mới im bặt. Ông trầm ngâm giây lâu, đoạn vỗ vai tôi: – Này, mình tặng con Múc cho ông đấy! – Tặng tôi? – Mình rất thực tâm. Có lẽ ở cùng ông thích hợp cho nó hơn. – Ôi, cảm ơn tình bạn của anh. Nhưng, tôi biết dùng nó vào việc gì? Chả lẽ để nó canh chừng những con sâu mọt đục phá cái bàn viết của tôi à? Vả chăng, tôi biết kiếm đâu ra thịt sống để nuôi nó, trong khi chính tôi cũng chả có thịt mà ăn?
Chúng tôi lại cười, và cùng cười rồ rộ. Nguyễn Hồng Quyền không phải con người lúc nào cũng cố chấp, ông ta chỉ bướng bỉnh lúc nào bị sự ngu dốt xúc phạm. Trộn lẫn trong tim ông có tính hồn nhiên, phóng khoáng, tự phụ và hiếu thắng, nên nói chung, ông ta không giận bực lâu. Sự hào phóng và khoáng đạt vẫn là phong thái chủ chốt của ông.
Tuy chưa hoàn toàn gạt bỏ sự căm ghét con Múc, song ông xem chừng cũng muốn mối quan hệ xấu ấy được đổi khác đi. Một hôm, để con Tuýt ở nhà, ông gọi riêng con Múc ra sông tắm cùng ông. Chủ và chó cùng bơi lội đùa nghịch. Ông ôm con Múc vào vòng tay, ngắm nghía những sợi lông dưới cằm nó. Ông sờ nắn những cái móng đã thoái hóa ở cổ chân nó, (phương đông gọi là huyền đề).
Lúc đầu con Múc le lói ánh mắt đề phòng người chủ. Chưa khi nào nó được ông gần gũi, xoa vuốt như lần này. Nên, với bản chất rừng, nó hoang mang nghi ngờ ông. Cử chỉ của nó rất e dè, thận trọng. Có lúc tưởng chừng như nó sắp sửa muốn liếm tay, liếm mặt ông nữa, nhưng khi gần sát ông, nó liền đứng khựng và trở lùi. Lưỡi nó lè dài, mắt nó rừng rực ngắm thẳng vào mắt ông. Người và thú cùng dò xét nhau và cùng chưa xóa bỏ được định kiến. Con Múc không biết nói gì, cái đó đã hẳn. Những cử chỉ để giải tỏ lòng trung, nó cũng không thạo nữa. Nó biết làm sao đây để ông chủ hiểu rằng mặc dù bị ông ghẻ lạnh, ruồng rẫy, nó vẫn yêu mến ông, vẫn muốn gắn bó với cái trang trại này, cái cơ ngơi này.
Một đêm mưa rét, khi con Tuýt và bầy chó săn kia đi tìm nơi ấm áp ngủ ngon, con Múc đã phát hiện thấy một con báo gấm đang quẩn quanh ngoài hàng rào mắt cáo, tìm lối vào trại. Nếu là con Tuýt hoặc chó khác, đã sủa ngậu lên, báo hiệu cho chủ. Với Múc, nó không ồn ào thế. Nó xù lông, nhảy vút tới bên bờ rào, đôi mắt tóe lửa. Con báo gấm, một ác thú nham hiểm bậc nhất ở rừng sâu, vừa gầm gừ nhè nhẹ, vừa chạy đi chạy lại tìm một lỗ hổng to rộng. Con Múc cũng gầm gừ nhè nhẹ, bám sát con báo gấm từng bước chân để ngăn chặn. Nếu không có hàng rào tre khỏe khoắn, chắc chắn đã diễn ra một cuộc cấu xé đẫm máu, mà phần bi thảm hẳn thuộc về con Múc. Bởi vì chó rừng, dù hung hãn, đồ sộ tới mức nào cũng không phải là đối thủ của báo gấm. Khi đói khát, bị cơn đói cồn cào kích thích, báo gấm dám liều lĩnh tấn công và cắn xé cả cọp rừng.
Cứ như vậy, hai con thú trong cái thế đối chọi qua lớp rào tre, suốt đêm mưa gió. Đã mấy lần báo gấm định leo trèo hàng rào cao. Nhưng nó biết rằng khi leo rào, nó sẽ bị phơi bụng ra. Một ác thú nham hiểm đâu có dại dột vậy.
Lúc trời tang tảng sáng, con báo gấm đành rống lên một tiếng căm hờn, vút thẳng vào rừng. Con Múc ướt sũng, mệt mỏi bơ phờ, trở về nằm dài ở cửa buồng cháu Quỳnh.
Chính cái lần ấy, khi thấy con Múc rũ rượi, thảm hại vì suốt đêm căng thẳng, ông chòm trại đã chỉ vào mặt nó mà mắng: – Mày giấu đôi gà Đông Cảo của tao ở góc nào, hang hốc nào. Đêm qua mưa gió lẻn đi làm một bữa hả hê phải không? Chiến công quật ngã lợn rừng đầu đàn làm cho mối quan hệ chủ và chó có phần đẹp hơn. Nếu cứ cái đà ấy, cái đà mà chiến tích của Múc ngày càng vượt trội Tuýt, thì số phận của nó sẽ đẹp đẽ nhường nào. Nhưng hỡi ơi, định mệnh của nó nghiệt ngã, số kiếp của nó có chứa sẵn một kết cục ảm đạm, nên đã xảy ra một việc cực kỳ phi lý như sau:
Vào độ rằm tháng bảy, khắp nơi người ta náo nức sửa soạn cúng lễ vong hồn tiên tổ. Về phần mình, ông thiếu tướng với cương vị chòm chóp của trại, ông làm hẳn cỗ thái lao, để trước là tỏ lòng tri ân tổ tiên, sau là ban ân cho con cháu. Thái lao, theo tục cổ là lễ tam sanh, gồm có một trâu trắng, một ngựa trắng và một dê trắng. Ông Quyền không thể quá ư nệ cổ, nên biến báo đi chút ít: một lợn trắng, một dê trắng và một gà trắng. Thế, e là cũng quá linh đình rồi. Dê và lợn đã được quay hồng. Gà thì được rán chín cả con. Tất cả bầy đặt trên bàn thờ tổ.
Con Tuýt quanh quẩn dưới gầm bàn thờ. Mùi vị thịt rán kích thích tì vị nó dữ dội, xưa nay nó chỉ biết mùi thịt sống và cũng chỉ ăn toàn thịt sống. Người nuôi chó săn thường dùng máu nồng và thịt gây để kích thích tính hăng say xâu xé. Chưa bao giờ Tuýt được ngửi hít hương vị thơm tho lạ lùng đến thế.
Trên gian thờ tổ vắng ngắt. Cánh mũi của Tuýt phập phồng nở rộng, nước rớt nước dãi của nó lều rều theo đầu lưỡi xuống đất. Bằng một động tác còn nhanh hơn ma quỷ, con Tuýt nhảy lên ban thờ, ngoạm chắc lấy con gà quay, rồi vọt ra cửa. Nó toan tính phóng thẳng ra nơi vắng vẻ bên bờ suối. Tại hiên hè, nó gặp con Múc đang nằm ở buồng cháu Quỳnh. Cũng lúc đó, tiếng đế ủng của ông chủ thậm thịch nơi xa. Nó vội nhả con gà quay ra, nhảy tót vào cửa ngách, rồi êm như động tác của mèo cái, nó vọt qua cửa sổ, mất hút.
Ông thiếu tướng tròn xoe mắt nhìn con gà thái lao có vết răng chó bập vào, rồi ông trừng mắt nhìn con Múc nằm gần đó. Giận sôi sùng sục, ông vào nhà ngang lên tiếng gọi vợ con. Đoạn, ông rút chiếc roi gân bò, chạy đến bên con Múc.
Múc không hiểu người ta định làm gì, song nó linh cảm thấy sự chẳng lành. Nó đứng phắt dậy toan mừng chủ chút ít thì một loạt roi da xiết bỏng trên lưng nó. Con vật rú lên thê thảm, nhảy vọt ra sân, nhưng vẫn còn bàng hoàng ngơ ngác, chưa dám chạy xa hẳn. Chỉ đến lúc nhác thấy ông chủ giằng lấy khẩu súng hai nòng trên tay cậu Quý, thì nó hiểu rằng không thể chậm trễ chút nào. Từ cái “gậy” sắt ấy nó đã thấy tóe lửa nhiều lần. Sau lúc lửa tóe, có bao muông thú giãy giụa tan xác.
Bởi vậy, nó dồn hết sức lực vào bốn cẳng, luồn lỏi qua dãy chuồng gà, chuồng lợn, rồi vượt qua cửa rào, nó lao thẳng về phía rừng. Sau lưng nó, vang lên những tiếng nổ đoàng đoàng, tiếng chiu chíu xé gió bên tai nó. Bản năng sinh tồn giục nó chạy miết. Cũng chưa khi nào nó chạy tinh khôn như lần này. Không kẻ chỉ, không thẳng băng, mà ngoằn ngoèo đổi hướng. Có lúc tiếng đạn sát sạt trên lưng, nó nằm lăn ra, giả tảng chết. Rồi thình lình lại vọt lên, băng đi như một vệt đen mờ ảo.
Vào tới rừng, nó đứng lại quay nhìn xóm trại. Nó thoáng thấy ông Quyền và cậu Quý trên yên ngựa. Dẫn đầu đàn chó săn tầm thường là con Tuýt – anh ruột nó, kẻ xảo quyệt đáng ghê đối với nó. Thế là nó chạy thẳng, chạy mãi vào rừng sâu, sang tận bên kia núi Ba Vì.
Từ đó nó trở về cuộc sống hoang dại mà tổ tiên nó xưa kia hằng sống. Ngồi một lúc, chúng tôi cùng nghiêng người, nằm chống tay trên nệm cỏ. Xa xa, ba đỉnh núi màu lam sẫm như lách qua những dải mây trắng mà chĩa chọc nền trời xanh. Núi non Ba Vì thuần một màu đen sẫm của rừng già. Đó đây từng vệt lá cây màu vàng màu, đỏ xỉn, và màu xanh nõn nuột của rừng cọ, rừng son.
Thiếu tướng Quyền gõ gõ tẩu thuốc, gảy hết lượt tàn tro, đoạn nạp thêm mồi sợi mới. Ông nheo mắt nói với tôi: – Lúc nãy anh cứ gặng hỏi xem tôi mời anh lên để săn bắn con thú gì. Tôi nói thật ra, e rằng anh ngạc nhiên. – Con Múc? – Chính thế. Anh nhanh ý đấy. – Quả thật không còn gì khiến tôi kinh ngạc hơn. Con Múc vẫn còn sống, anh cứ để cho nó sống. Nó đã giúp ích anh không ít. Anh hãy rộng lượng cho nó được tự do. – Tôi cũng có ý quên nó đi. Nhưng nó làm hại tôi quá chừng. Tôi không thể không diệt nó. – Làm hại? – Chừng một năm nay, nó thường xuất hiện ở bìa rừng. Có lúc nó còn mò vào trại. Thậm chí nó còn dám xông vào buồng cháu Quỳnh. – Thế thì có gì là tai hại? Nếu như là nó muốn quay về với chủ cũ thì sao? Chuyện ấy xưa nay thường xảy ra. – Ông bạn ơi, ông quá đồng cảm với nó đấy. Một năm nay tôi đã mất hai chục con gà, bốn đầu lợn và hai con dê sữa đấy. Để khi nào tôi găm vào mình nó trọn băng đạn AR15, rồi tha hồ ông thương xót nó. – Nếu là do cầy cáo và báo beo vồ bắt thì sao? Chẳng có chó rừng nào khênh nổi dê lợn đâu, nhất là lại khênh qua hàng rào tre nhà anh. Thấy mình đuối lý, ông chòm trại đỏ mặt, châm thuốc hút: – Cứ cho là beo báo tha dê và lợn đi, còn những con gà? Anh không thấy là con Múc nó rất háu thịt gà à? Đôi gà Đông Cảo và con gà Thái Lao… anh đã rõ rồi đấy! Đến lượt tôi đuối lý. Tôi im lặng hồi lâu. Lòng tôi bồn chồn và buồn bã. Tôi chợt thấy tiếc công tiếc việc ở dưới Hà Nội. Té ra tôi lên đây là để chứng kiến cái kết cục mạng sống của con Múc. Thiếu tướng hỏi tôi: – Sao, ông nghĩ ngợi gì vậy? – Không, à, con Múc giờ đây nó thế nào? Ông đã đích mắt nhìn thấy nó chưa? – Rồi. Tôi lại bắn trượt nó hai lần nữa. Thật là một con chó quái quỷ lạ lùng. Nó to lớn gấp rưỡi, hung dữ gấp mười, còn nhanh nhẹn thì gấp trăm. – Để sinh sống và tồn tại giữa bầy ác thú trong rừng sâu, nó cần phải trưởng thành như vậy. Nó không thể không độc dữ hơn. – Anh vẫn cứ bênh nó chằm chặp. – Tôi tiếc rằng anh đã bất công với nó. Trong trường hợp bị hắt hủi, bị hằn thù như vậy, đến con người cũng không thể không biến đổi tính cách, huống chi một con thú.
Chúng tôi lại lên ngựa. Con Tuýt lại dẫn đường. Có thể do cách nói năng bộc trực của tôi, khiến bạn già không vui. Dọc đường ông chẳng nói một câu nào. Bởi vậy, tôi biết mình sai lầm. Định kiến của con người quen bệnh quyền uy kia là không thể thay đổi. Tôi tỏ lòng thương tiếc con Múc nhiều quá, điều đó chỉ khiến ông Quyền càng tăng thêm quyết tâm hạ sát nó mà thôi.
Thấy chúng tôi phi ngựa về đến cổng trại, bà Quyền và đàn con cháu ra tận sân chào đón. Bà năm nay đã ngót sáu mươi. Vóc người mảnh mai, nhỏ nhắn, nên trông bà không đến nỗi già nua như tuổi tác. Trên vẻ mặt thanh tao của bà vẫn còn những đường nét vốn xưa xinh đẹp. Song, ở bà, điều hấp dẫn người ta chính là phong thái đôn hậu, hiền từ. Cạnh bà là cháu Quỳnh, cũng mảnh mai hiền từ, cũng gương mặt trái xoan, trông cháu giống bà ngoại như đúc.
Cháu nhảy bổ vào lòng tôi: – Cháu chào ông trẻ. Ông có khỏe không ạ? Tôi nâng bổng cháu lên, rồi hạ cháu xuống: – Cảm ơn cháu! Ông trẻ vẫn khỏe. Còn cháu cứ mỗi năm lên đây, ông lại thấy cháu như ăn nhầm phải bột nở ấy. Cao bằng bà rồi đây này. Cả nhà cùng cười giòn giã. Bà Quyền hào hứng nói: – Ấy, ông cứ quở cháu thế. Cháu lại bé đi mất! – Nghe nói cháu bị con Múc làm cho sợ hãi, phải không? Cháu Quỳnh cười như nắc nẻ: – Cháu chả việc gì phải hãi con Múc cả – Cháu ghé sát tai tôi, thì thào – Rồi cháu sẽ kể mọi điều về con Múc cho ông trẻ nghe. Chứ mỗi lần nhắc đến con Múc, ông ngoại cháu ghét lắm! Thiếu tướng Quyền quát to: – Quỳnh, mày nói gì ông phỏng? Cháu Quỳnh vội vàng “không ạ” rồi lẻn ra nấp sau lưng bà. Bà Quyền xót cháu, cằn nhằn chồng: – Khiếp cho ông! Làm cháu mật xanh mật vàng chạy cả lên mắt thế này này – Bà quay sang phía tôi, cười – Lên đây, ông giúp tôi một tay, cạo cho ông ấy bớt cái nóng nảy đi.
Ông Quyền hỏi vợ: – Cạo tôi? Cạo đầu tóc, hay cạo râu ria? – Cạo cái cặp mắt gườm gườm của ông ấy! Ông già cười khà khà. Một chút xung đột ý kiến không làm sứt mẻ tình bầu bạn giữa chúng tôi. Chỉ vài câu chuyện vui vui, hoặc vài ván cờ là tất cả sẽ qua đi như mưa rào ngày hạ. Nói chung thì, theo ý tôi, Nguyễn Hồng Quyền là một người biết chơi đẹp, biết ăn ở, biết cư xử. Trên đời còn nhiều những mẫu người đáng chán hơn; hãnh hợm một cách ngu si, thông thái trong tưởng tượng, hào phóng có điều kiện, và ngủ say li bì trên hào quang giả trá.
Chúng tôi đi bơi, đi câu cùng nhau. Ông dắt tôi đi xem tận mắt những máy ép mía do ngựa kéo, rồi máy ép dầu lạc, dầu sả. Ông còn dự định chế tạo một loại xà phòng dùng nguyên vật liệu địa phương. Tôi vui mừng và chúc mừng ông về tất cả mọi điều ấy. Ở ông hiện rõ những ham muốn vật dục chủ nghĩa. Nhưng, dẫu sao cũng là còn muốn làm việc, còn muốn sáng tạo, muốn sinh lợi. Thế chẳng có ích cho đời hơn là chỉ ngồi ôn lại quá khứ hào nhoáng đã xa xôi sao?
Duy có điều tôi mong được biết là kế hoạch vây bủa con Múc. Ông già chỉ tinh quái, lim dim mắt, cười ruồi, rồi lảng sang chuyện khác. Tôi làm sao yên tâm được. Tôi biết rằng chỉ khi nào găm đủ cả băng đạn vào mình con Múc, ông Quyền mới có thể ăn ngon ngủ yên. Lay chuyển ý định phi lý trong đầu ông thiếu tướng, có lẽ còn khó hơn vần đá tảng ngược tới Ba Vì. Người được gặp gỡ con Múc nhiều nhất lại chính là cháu Quỳnh. Chuyện đáng buồn xảy ra với con Múc khiến cháu giận dỗi ông ngoại. Cháu khóc liền mấy ngày, bỏ ăn mất ba bữa, và ngẩn ngơ thương tiếc không lúc nào nguôi.
Hơn nửa năm sau. Một hôm cháu lên đồi kiếm sim chín và hoa rừng thì bất ngờ cháu gặp con Múc đứng ngay trước mặt cháu và ve vẩy đuôi chào mừng. Quỳnh không tin vào mắt mình nữa. Cháu nhìn chó, sợ hãi. Con Múc lông lá sồm soàm, bẩn thỉu và dữ tợn quá. Thấy con thú cứ ngoáy tít đuôi mãi, cháu bạo dạn hỏi nó: – Mày có phải là Múc không? Nếu là Múc thì lại đây với mình! Nào! Nói xong cháu ngồi xuống, giang hai tay ra. Con Múc xô vào người Quỳnh hơi mạnh, làm cháu suýt ngã ngửa ra. Đôi bạn thân thiết ấy, làm mọi cử chỉ có thể làm để tỏ tình thương nhau. Con Múc hôi tanh nồng nặc, nhưng Quỳnh cứ để mặt nó liếm lên má, lên tóc cháu. Cháu ứa nước mắt, hỏi nó: – Bạn ở rừng sâu à? -! – Bạn có khổ với lũ hổ báo không? -! – Bạn có bị đói luôn không? Con chó chỉ biết rít ứt trong họng, cà sát bộ lông vào người cô chủ của nó. Phải nửa tiếng sau, Quỳnh mới buồn rầu rời chó. – Bạn không về được đâu. Ông mình sẽ giết chết! Con chó hiểu ý ấy. Nó oẳng nhẹ một tiếng. Đôi mắt của nó nhoáng ánh lửa, ve vẩy đuôi một lần nữa, liếm bàn tay Quỳnh một lần nữa, rồi băng vút về rừng.
Từ đó, cứ cách vài buổi, cháu Quỳnh lại lên đồi sim một lần. Lần nào con Múc cũng đợi sẵn. Mỗi lần vậy, đôi bạn lại trìu mến ve vuốt nhau, rồi lại bịn rịn chia tay. Nếu tôi là một cây bút giàu sức tưởng tượng và không biết kiềm chế, tôi sẽ lợi dụng đặc thù của văn chương mà viết vài đoạn thật hay. Tôi sẽ thêu dệt rằng: Một lần cháu Quỳnh gặp gấu ngựa ở trong rừng, con Múc đã tung hết sức lực ra để vật lộn với gấu cứu cô chủ. Hoặc giả là: Có lần cháu Quỳnh bị trăn quấn. Con Múc đã bật vọt lên cao. Khi buông mình rơi xuống nó ngoạm đúng “thất thốn” là tử huyệt của giống trăn. Nó cắn xé đến nỗi con trăn phải từ từ nới bỏ vòng quấn, cô chủ nó thoát nạn. Cũng có thể lãng mạn hơn, tôi viết rằng: Có lúc người và chó ngồi dưới ánh trắng bên bờ suối, rồi con Múc rúc lên lanh lảnh từng hồi, gọi bạn tri âm của nó cùng một đàn chó xinh xắn ra chào mừng cô chủ.
Nhưng bởi vốn có tính thận trọng một cách hủ lậu, tôi không thể bịa đặt như vậy. Về mối quan hệ lạ lùng kia, tôi chỉ có thể nói thêm điều này. Một lần, cháu Quỳnh bị cảm cúm nặng. Hơn chục ngày liền, cháu không thể ra đồi sim gặp con Múc. Nửa đêm cháu nghe thấy có tiếng cào cửa quen thuộc. Cháu vui mừng chạy ra tháo chốt cài. Con Múc tọt vào, âm thầm quấn quýt cháu Quỳnh. Không may cho nó, con Tuýt và lũ chó săn kia phát giác đã sủa nhặng lên, rồi chặn kín cửa ra vào. Con Múc nhe nanh xông thẳng vào con Tuýt như một ánh chớp. Con Tuýt không ngờ rằng con Múc đã biến đổi mạnh mẽ dữ dội nhường ấy. Bị cắn xoạc bả vai, nó lăn ra sủa rống lên. Bày chó kia kinh hãi không dám nhúc nhích. Con Múc nhảy vọt qua đầu lũ chó săn, biến vào đêm tối.
Ông Quyền đã gạn hỏi cháu gái đủ điều. Cháu Quỳnh chỉ khóc thút thít, không hé lấy nửa lời. Ông liền tuyên bố với cả nhà: – Con Múc lọt vào trại để trả thù. May có con Tuýt không thì cái Quỳnh bị xé xác ra rồi. Từ nay cả nhà phải cẩn thận lưu ý. Cái giống chó đã thù là thù dai lắm đấy! Ông băng bó vết thương cho con Tuýt, ban thưởng cho nó khá hậu hĩnh: một ký thịt nai rất tươi.
Dù sao trẻ thơ vẫn là trẻ thơ, ông cháu vẫn là ông cháu. Cháu Quỳnh sợ tính ông nghiêm nghị, giận ông xử nặng con Múc, nhưng nó vẫn rất yêu ông ngoại. Ông cháu làm lành với nhau, thân thiết với nhau vì sợi dây huyết thống bí ẩn ràng buộc. Vào dịp rằm tháng tám, ông Quyền dùng xe máy đưa cháu Quỳnh đi Hà Nội sắm đồ chơi trung thu cho các em nhỏ. Ông còn đưa cháu đi vào lăng viếng di hài Bác Hồ. Cháu sung sướng. Cháu hớn hở. Trong một phút bồng bột hồn nhiên. Cháu nũng nịu vòi vĩnh ông ngoại: – Ông ơi, ông cho cháu đón con Múc về nhé? – Ừ, ông đồng ý, nếu cháu tìm thấy nó? – Cháu tìm được thì sao nào? Ông thiếu tướng cười phì: – Đến mười cái thằng bố mày, đến mười cái thằng ông mày cũng chả tìm nổi, nữa là…
Qua vẻ mặt và ánh mắt của cháu gái, ông chòm trại dường như phát hiện ra điều gì. Ông bèn gặng hỏi cháu gái: – Cháu thấy nó rồi phải không? – Vâng ạ. – Ở đâu? – Nhưng ông phải hứa với cháu là không giết nó cơ. – Ừ, ông hứa! Cháu gái hào hứng kể cho ông ngoại nghe hết mọi điều đoạn kết luận: – Cháu thấy là nó, con Múc ấy, nó chẳng có lỗi gì đâu ông ạ. – Nó ăn gà, ăn dê, ăn lợn… – Cháu chả thấy tận mắt khi nào. Nhà mình có nhiều chó hư. Sao ông chỉ nghi ngờ mình nó thôi? – Nó không vâng lệnh. Nó không chịu sai khiến như con Tuýt, thế cũng là tội to rồi. Những quân bướng, cần phải nghiêm trị.
Ngày hôm sau cháu Quỳnh lên đồi sim với con Múc. Ông già chòm trại lặng lẽ xách súng đi theo cháu gái, cách chừng ba trăm mét. Cháu Quỳnh không thấy con Múc đâu. Còn ông già thì thoáng thấy. Tuy không nhìn rõ hình thù nó, song ông thấy các bụi sim lay động ràn rạt, ông biết rằng con Múc đã nhìn rõ ông. Nó chuồn biến như tăm cá mất hút dưới đáy sông. Cháu Quỳnh hoàn toàn không rõ gì về việc ông nó đi theo mé sau cả.
Những lần sau, mỗi khi cháu Quỳnh lên đồi sim, ông già thường gói cho cháu một ít thịt rán tẩm bột, bảo đem cho con Múc. Cháu gái cảm động ứa nước mắt, tưởng rằng ông ngoại đã thực sự hồi tâm chuyển ý, sẽ cho đón con Múc về. Còn ông già cũng rất vui sướng khi cháu gái khoe với ông rằng con Múc đã ngốn sạch sành sanh gói thịt rán, đến nỗi không còn tí mỡ dính lá chuối.
Một buổi chiều, tôi sang làng Ngọc Nhi, thăm mấy người bạn cũ trở về. Vào đến sân, tôi ngạc nhiên khi trước mắt tôi là quang cảnh sửa soạn đi săn: người ngựa, súng ống, dây chão và đòn khiêng. Bày chó săn ngồi thành vòng tròn chờ đợi chủ. Con Tuýt lăng săng chạy đi chạy lại. Nó ve vẩy đuôi, đứng nghếch nghếch mắt nhìn chủ, chờ đợi sai khiến, hoặc đi giám sát từng con ngựa, cứ y như là một viên phó quan của cuộc săn vậy.
Thiếu tướng với vẻ mặt đỏ gay, cặp mắt lóng lánh có nhiều sợi lông mày bạc trắng cong rủ xuống quanh mi. Mỗi lần mở cuộc săn bắn, ông thường có vẻ say sưa, kích động như vậy. Tôi hỏi lại ông: – Săn gì vào cái giờ chiều này? – Chó rừng! – Con Múc phải không? Anh miễn cho tôi can dự vào cuộc sát phạt này nhé. – Không được! Anh phải tận mắt thấy tôi sẽ chiến thắng sau hai ba lần thất bại. – Bạn ơi, anh cầm chắc thắng lợi đến thế nào? – Như cầm tỏi gà trong tay vậy.
Lòng tôi buồn rầu, nhưng tính tò mò thúc giục. Vả chẳng, tôi muốn xem sẽ kết thúc ra sao, cái trò quái gở giữa một bên quyết ý tìm diệt và một bên tinh quái né tránh. Chúng ta, con người, loại động vật cao cấp nhất, nhờ có hai bàn tay lao động đã phát triển được trí thông minh. Nhưng sau khi rời bỏ rừng sâu, tiến về đồng bằng, xây dựng nên những trung tâm văn hóa, chúng ta đã quay lưng lại, đã phũ phàng và độc ác với rừng sâu. Chúng ta đã tàn hủy cái nôi sinh ra mình. Chúng ta đã săn bắn, tiêu diệt các sinh vật còn nương tựa vào rừng, mà ngu ngốc không hiểu rằng chúng ta đã tàn hủy tự nhiên và phá hoại thế cân bằng sinh thái. Các sinh vật, dữ và lành, tồn tại được nhờ rừng rậm. Rừng rậm tồn tại và phát triển được cũng đã nhờ sự sinh sôi của muông thú. Và cuối cùng, nếu muông thú và rừng rậm không tồn tại nữa, thì làm sao chúng ta có thể tồn tại được?
Thuở xa xưa, con người sống đơn giản hơn. Người ta chỉ biết rằng điều quý nhất ở trên đời là mưa nắng trăng sao, điều quý ở dưới đất là ngũ cốc dồi dào, điều quý ở trong nhà là cháu thảo con hiền. Nhưng ngày nay, điều quý lại là châu báu vàng bạc, là uy thế lộng quyền, là sát phạt muông thú và sát phạt lẫn nhau. Hôm qua tôi đau đớn anh đấm tôi. Ngày hôm nay, tôi sung sướng được hành hạ nó. Ngày mai nó hả hê vì trừng trị kẻ khác… Một cơn lốc luẩn quẩn xoáy sâu vào ngõ cụt. Biết bao giờ mới tỉnh ngộ, mới tháo gỡ, mới đồng cảm và yêu thương?
Đoàn săn bắn rầm rập phóng lên đồi sim. Tôi và ông thiếu tướng sóng vai nhau. Cậu Quý và người anh rể vòng ra mé sau đồi. Con Tuýt ngông cuồng hăng say dẫn đầu đàn chó – những con chó có hình thể tuyệt đẹp, băng băng nhảy nhót giữa các làn cây bụi cỏ. Chỉ chớp nhoáng sau, gọng kìm vây bủa đã xiết chặt quả đồi. Tôi kinh hoàng khi thấy cháu Quỳnh đang ngồi khóc. Con Múc nằm duỗi thẳng cẳng dưới chân cháu.
Cháu Quỳnh chạy lại bên ông ngoại khóc nức nở: – Ông ơi, ông. Con Múc ăn xong gói thịt là nó lăn ra. Nó sắp chết mất rồi. Làm sao lại thế, hả ông? Ông già cúi xuống an ủi cháu gái: – Không sao đâu, nó không thể chết được. Thuốc ngủ chỉ vừa liều lượng thôi mà. – Ông trộn thuốc ngủ vào thịt…? Trời ơi…
Con chó rừng mềm rũ rượi. Song đôi mắt rực lửa của nó vẫn trừng trừng ngắm nhìn tất cả. Nó hiểu rằng nó đã bị bịt hết mọi ngách sống. Thuốc ngủ liều cao làm tê liệt thần kinh và gân cốt nó. Nhưng từ nơi xa xăm nào không rõ, có thể là từ rừng sâu, có thể là trong từng tế bào máu, nảy sinh ra một ý chí mãnh liệt giục nó phải vượt lên, phải sống còn. Nó rống to lên một tiếng, vọt mình lên, phóng cẳng lao đi.
Lập tức con Tuýt đuổi sát mé sau. Con Múc vừa chạy vừa ngã. Nó lồm cồm bò dậy, được vài bước lại ngã rúi rụi. Cuối cùng không chạy nữa, nó quay phắt lại, nhe bộ răng nanh ghê gớm, chờ đợi. Con Tuýt và cả bầy chó đã hiểu sức mạnh khủng khiếp của con Múc, chỉ chờn vờn nhảy nhót ở khoảng xa, không dám tiếp cận.
Để khỏi mất thì giờ, ông chòm trại nâng nòng súng AR15. Một loạt đạn ngắn gọn rít lên, hòa cùng một tiếng thét xé trời đất của cháu Quỳnh. Con Múc lăn ra đất, không chút giãy giụa. Nó nhận đủ cả băng đạn từ cổ trở xuống. Máu nó xối tuôn, đỏ sẫm cả bộ lông đen. Đôi mắt nó mở to, vẫn màu lửa nhưng dịu hơn, trong đó có nhoáng lồng ánh mây trắng, trời xanh, rừng sẫm và ngọn Ba Vì uy nghi mầu tím đậm.
Có lẽ đã được huấn luyện đầy đủ, nên, khi con mồi gục xuống rồi, bày chó săn đua nhau lăn sả vào, mỗi con đợp cho con Múc một miếng để làm vui lòng chủ, với dáng dấp bẩn thỉu hèn mạt quá chừng.
Cháu Quỳnh chạy đến cạnh tôi. Thấy quanh cảnh thương tâm ấy, lòng dạ trẻ thơ không chịu đựng nổi. Cháu lả đi trong vòng tay tôi. Không rõ phải tôi hoa mắt hay bị hoang tưởng, tôi thấy vầng trán mịn màng của cháu bỗng như gợn nhiều nếp hằn sâu, còn mái tóc xanh đen của cháu bỗng như bạc trắng đi. Thiếu tướng tiến lại, kéo vai áo tôi: – Về thôi, anh. Cháu Quỳnh làm sao thế? Tôi nói như mình trong mộng: – Anh bắn giỏi thật đấy. Một cú “đúp” tuyệt vời! Anh hạ sát cả con Múc lẫn cháu Quỳnh.
Ông chòm trại bàng hoàng, kêu lên: – Bậy nào! Không thể thế được. Cháu Quỳnh có làm sao không? Tôi nâng cháu Quỳnh lên, đi về phía con ngựa, đoạn nhảy lên yên: – Tôi đưa cháu Quỳnh về trước đây. Ông cứ yên tâm. Thân thể cháu Quỳnh vẫn nguyên vẹn. Nhưng băng đạn mà ông bắn vào lòng nhân ái, vào tình yêu thiên nhiên của cháu Quỳnh thì không thể nào cứu chữa nổi. Tháng 8 – 1988
Nguyễn Dậu (1930-2002): tham gia cách mạng từ 1946, từng là chiến sĩ pháo binh, sau năm 1954 làm việc trong Phòng Văn nghệ thuộc Tổng cục chính trị, biên tập viên báo Văn Nghệ, cán bộ Sở Văn hoá Hà Nội, rồi làm thợ cắt tóc, rồi giải chiếu bán giày dép rong ở bên đền Ngọc Sơn, thấy công an hay quản lý thị trường từ xa thì… chạy. Một văn tài ít được nhắc đến.
Buổi sáng cuối tuần nhâm nhi ly cafe, nhìn trời đất bỗng nhiên ngẫu hứng viết bài thơ lục bát với tựa đề “Chợt nhớ năm xưa”. Xin chia sẻ cùng qúy vị đọc cho vui.
Lê Tuấn
Chợt Nhớ Năm Xưa
Gió thu lay động áo nàng
Xôn xao tiếng bước chiều vàng năm xưa
Hàng cây phố cũ lưa thưa
Bốn mươi năm trước, cũng vừa cơn đau.
Tháng tư trời đất đổ nhào
Cho người điên loạn tiếng gào khóc thương
Thời gian qua mấy đoạn trường
Bay theo hạt bụi nhiễu nhương cuộc đời.
Bốn mươi năm sợi tơ trời
Lòng như tan nát thế thời đổi thay
Thuở nào chinh chiến trả vay
Bây giờ già héo đắng cay phận người.
Lửa thiêng còn thắp sáng ngời
Thơ tôi chấm phá thêm lời vấn vương
Dẫu rằng trời đất vô thường
Lòng buồn nhớ lại con đường năm xưa.
Tế Luân (Lê Tuấn)
“người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng
Chợt thấy lòng buồn nên nhớ về năm xưa, một thời chinh chiến trước năm 1975”
KHI DI SẢN BIẾN MẤT
KHI DI SẢN BIẾN MẤT
Khu vực trung tâm thành phố Hồ Chí Minh tập trung nhiều công trình và cảnh quan được xây dựng từ khi đô thị Sài Gòn hình thành. Đó là những công trình đẹp về kiến trúc và ẩn chứa trong nó biết bao câu chuyện về lịch sử và con người thành phố. Từ khoảng hai mươi năm nay “quá trình hiện đại hóa” đã làm mất đi và biến dạng quá nhiều di sản ở khu vực này. Đấy là sự “lấy đi” nguồn vốn xã hội dưới dạng di sản văn hóa. Sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan tại khu vực trung tâm TP. Hồ Chí Minh làm thay đổi các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội, chính nhờ các mối quan hệ này mà trước đây, khu vực này có những không gian giao tiếp độc đáo và đặc trưng của đô thị Sài Gòn.
Về xã hội.
Mất đi các di sản vật thể gắn với các sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử.
Dọc theo trục Đồng Khởi và Lê Lợi có nhiều công trình di sản vật thể gắn với các sự kiện và nhân vật lịch sử, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của thành phố. Khi nhắc đến Sài Gòn của thế kỷ 20, người ta nghĩ ngay đến trục Đồng Khởi với Café Givral, Café La Pagode, Nhà sách Xuân Thu, Rạp hát Eden… hay trục Lê Lợi với Thương xá Tax, Rex…Café Givral hình thành trong thập niên 1950-1960, nằm tại tầng trệt Chung cư Eden. Trước 1975 nơi đây được coi là một “trung tâm tin tức” do các nhà báo thường tụ tập ở đây vì nó nằm ngay trước trụ sở Hạ nghị viện (Nhà hát Thành phố ngày nay). Quán cà phê Givral còn gắn liền với tên tuổi của Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn – nhà tình báo số 1 của Việt Nam.Café La Pagode có thiết kế nội thất giản dị, không rườm rà; từ bàn ghế, cột kèo đến cửa sổ mở to và mang đường nét kỷ hà. La Pagode không dành cho khách Tây và giới sành điệu cũng như người giàu có mà dành cho những họa sĩ, nhạc sĩ, nhà văn và nhà thơ… những người có tâm hồn sáng tạo và cách tân lúc bấy giờ của Sài Gòn.
Quá trình biến đổi cảnh quan và kiến trúc đã làm mất đi các công trình này, Sài Gòn mất đi một phần lịch sử và nhiều nét đặc trưng độc đáo về kiến trúc và cảnh quan đô thị. Giờ đây những địa chỉ quen thuộc này đã thay bằng những cửa hiệu sang trọng, hiện đại mà không chắc hơn vài chục năm sau có giá trị lịch sử hay văn hóa để trở thành một dấu ấn trong ký ức của người Sài Gòn hay không? Mất mát lớn nhất không chỉ là sự tiếc nuối của những thị dân Sài Gòn lớn tuổi, mà còn là mất đi cơ hội trải nghiệm “hồn đô thị Sài Gòn” đặc sắc trong không gian xưa cũ ấy của thế hệ trẻ ngày nay.
Mất đi các giá trị phi vật thể đặc trưng văn hóa Sài Gòn
Giao tiếp và dịch vụ vỉa hè là một hoạt động đặc trưng ở các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là những hoạt động kiến tạo các không gian giao tiếp cộng đồng sinh động và linh hoạt; khách bộ hành hay người đi đường cảm nhận được sự hấp dẫn từ việc mua bán nhộn nhịp, các sản phẩm đa dạng và nhiều hoạt động khác. Trên các trục Đồng Khởi và Lê Lợi trước đây có rất nhiều hoạt động giao tiếp vỉa hè phong phú và đa dạng, từ lâu đã trở nên quen thuộc không chỉ đối với người Việt Nam và khách du lịch quốc tế; góp phần đa dạng hóa các không gian công cộng, tăng cường gắn kết quan hệ giữa con người với con người.
Ngày nay những hoạt động này đã mất dần. Trước đây, một phần dân cư sinh sống tại các chung cư cũ trên hai trục đường trên tổ chức buôn bán ở tầng trệt chung cư và khu vực vỉa hè xung quanh. Việc giải tỏa các chung cư cũ đồng thời xóa bỏ những hoạt động kinh doanh này. Các cao ốc với các chức năng mới (văn phòng, trung tâm thương mại, khách sạn, căn hộ…) với hình thức kiến trúc hiện đại, sang trọng được xây dựng trên khu đất thay cho các công trình cũ. Khu vực vỉa hè xung quanh các công trình mới không cho phép các hoạt động giao tiếp vỉa hè truyền thống; không gian tầng trệt và vỉa hè chỉ dành cho các dịch vụ của công trình hiện đại và cho đi bộ.Giờ đây, qua lại tại các trục Đồng Khởi và Lê Lợi sẽ thấy, hầu như không còn các hoạt động giao tiếp vỉa hè; “văn minh đô thị hiện đại” không có chỗ cho các hoạt động phi chính thức truyền thống.Hạn chế các hoạt động ngoài trời của người dânTrường hợp công viên Chi Lăng trước đây là một khu vực sinh hoạt ngoài trời của người dân.
Ngày nay, công viên trước Trung tâm thương mại Vincom Đồng không còn để phục vụ các hoạt động ngoài trời của người dân mà có chức năng tạo cảnh quan phục vụ cho Vincom Đồng Khởi qua cách thiết kế không gian: tập trung vào mục tiêu tạo giá trị thẩm mỹ chứ không hướng đến sự tiện ích (mái che, đường dạo, ghế đá…) phục vụ người dân như một “chiếu nghỉ” trên phố đi bộ Đồng Khởi. Cây xanh lâu năm trước đây nay đã được thay bằng cây nhỏ, ít bóng mát mặc dù tạo được thảm cỏ xanh hiếm hoi tại khu vực trung tâm hiện hữu của Thành phố Hồ Chí Minh.Sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan dọc trục Đồng Khởi và Lê Lợi làm hạn chế các hoạt động ngoài trời dọc các trục này. Các hoạt động giao tiếp ngoài trời đang có xu hướng chuyển dần vào các không gian tiện ích trong nhà của các tòa nhà mới được xây dựng, làm giàm đi và dần triệt tiêu sự sống động và nhộn nhịp của không gian cảnh quan đô thị.
Tác động sâu xa hơn là sự phân tách giàu nghèo trong khu vực này bởi người có thu nhập thấp không thể hoặc không lựa chọn việc sử dụng các dịch vụ cao cấp bên trong các tòa nhà; trái lại phần lớn người có thu nhập cao hơn sẽ có xu hướng tìm đến các dịch vụ cao cấp bên trong các tòa nhà, hơn là sử dụng các dịch vụ (phi chính thức) bên ngoài.
Thay đổi các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội gắn bó với không gian của khu vực
Như đã phân tích trên về việc thay đổi tính chất hoạt động dọc trục, chuyển đổi từ thương mại, dịch vụ nhỏ sang thương mại lớn, hành chính, văn phòng đi kèm với tác động về việc thay đổi các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội, cụ thể là từ mối quan hệ giữa các tiểu thương nhỏ với nhau sang mối quan hệ giữa các doanh nghiệp; từ mối quan hệ giữa người dân, khách du lịch với các tiểu thương sang mối quan hệ giữa nhân viên làm việc trong khu vực cung cấp dịch vụ với các khách hàng có nhu cầu cao.
Bên cạnh việc chuyển đổi các mối quan hệ, tác động của sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan tại khu vực trung tâm còn phá vỡ các mối quan hệ của người dân địa phương đã từng sinh sống cùng nhau trong một tòa chung cư, một khu phố (quan hệ xóm giềng) hay phá vỡ các mối quan hệ giữa các tiểu thương nhỏ đã từng cùng nhau chia sẻ lợi ích từ hoạt động kinh doanh cùng tính chất, mất đi sự gắn kết giữa các tiểu thương vốn đã cùng nhau hình thành nên những dãy phố thương mại đặc trưng tại khu vực trung tâm thành phố.
Quá trình biến đổi kiến trúc và cảnh quan trong khu vực còn tạo những căng thẳng xã hội trong quá trình giải tỏa mặt bằng, đầu tư xây dựng và vận hành các dự án đầu tư bất động sản. Ngoài ra còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh truyền thống và những thương hiệu của thành phố như việc thay đổi cảnh quan đường Nguyễn Huệ, việc rào đường xây dựng các ga metro trong một thời gian dài…
Về kinh tế
Tạo thêm việc làm cho khu vực chính thức nhưng làm mất đi việc làm của khu vực phi chính thức. Không thể phủ nhận rằng việc đầu tư xây dựng và phát triển các công trình cao tầng mang lại rất nhiều lợi ích kinh tế cho khu vực, đáng kể nhất là việc tạo ra nhiều việc làm ở khu vực chính thức. Các công việc được tạo ra chủ yếu ở lĩnh vực thương mại và dịch vụ.
Khu trung tâm hiện hữu Thành phố Hồ Chí Minh (930 ha) là khu vực tập trung các công trình có chức năng hành chính và dịch vụ công, thương mại – dịch vụ, khách sạn.Tuy nhiên, sự biến đổi này lại tác động tiêu cực đến việc làm của khu vực phi chính thức, vốn gắn liền với “kinh tế vỉa hè”; khi các hoạt động giao tiếp vỉa hè bị hạn chế thì hoạt động kinh tế phi chính thức cũng giảm đi. Hệ quả là mất đi không gian văn hóa cộng đồng có giá trị đặc trưng, ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của một bộ phận dân cư, đặc biệt là thành phần lao động nhập cư.Phân bố nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước vào các khu đô thị.
Sự biến đổi kiến trúc và cảnh quan khu vực trung tâm đã góp phần tạo thêm lực hấp dẫn cho khu vực này nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung. Chính điều này góp phần tiếp tục hướng các nguồn lực đầu tư phát triển bất động sản vào khu vực trung tâm hiện hữu, làm hạn chế nguồn lực đầu tư phát triển đô thị cho các khu vực đô thị mới, nhất là Nam Sài Gòn, Thủ Thiêm. Hậu quả là, trong khi kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội của khu vực trung tâm hiện hữu không đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội thì các khu đô thị mới đang “đói” nguồn vốn đầu tư, kể cả đầu tư vào kết cấu hạ tầng lẫn các dự án công trình xây dựng.
Về không gian, môi trường đô thị
Cảnh quan và kiến trúc ít thân thiện với môi trường. Sự biến đổi cảnh quan và kiến trúc trong khu vực nghiên cứu diễn ra theo xu hướng ít thân thiện với môi trường. Cây xanh tại các công viên (công viên trước Nhà thờ Đức Bà, công viên Chi Lăng, công viên trước Nhà hát Thành phố, công viên dọc bờ sông Sài Gòn) và tại các dải phân cách của trục Lê Lợi trong giai đoạn vừa qua giảm nhiều về số lượng và kém hơn về chất lượng tạo bóng mát.Các tòa nhà mới xây dựng, dưới áp lực hiệu quả kinh tế trong đầu tư, thường ít đạt được các tiêu chí thân thiện với môi trường, đặc biệt thường sử dụng sử dụng kính làm vật liệu bao che và ít thiết kế các kết cấu che nắng đặc thù của vùng nhiệt đới nên rất tốn năng lượng.
Tạo không gian ít thân thiện với con người.
Sự biến đổi cảnh quan và kiến trúc trong khu vực nghiên cứu diễn ra theo xu hướng ít thân thiện với con người, nhất là với cộng đồng cư dân lâu đời cũng như du khách từ những quốc gia hiện đại, bởi tính chất đặc trưng không còn, thay vào đó là các công trình “hoành tráng” tỷ lệ áp đảo kích thước vỉa hè, đường phố cũ, gây cảm giác chật chội, đè nén hơn khi đi trên đường phố. Đồng thời, sự hiện đại mang tính phô trương của các công trình mới ít quan tâm đến việc thiết kế các cấu trúc phục vụ người đi bộ (hành lang/mái che bên ngoài công trình).
Những tổn hại xã hội xảy ra khi di sản biến mất càng cho thấy tầm quan trọng của việc giữ gìn di sản: trước hết vì “người sống” chứ không phải chỉ vì bản thân di sản, nếu di sản còn mà cộng đồng không hiểu biết giá trị và được hưởng giá trị đó thì không thể bảo vệ di sản. Bảo tồn những di tích lịch sử văn hóa của một đô thị chính là nhằm xây dựng đô thị hiện đại có một không gian sống với chiều sâu ký ức của nó. Sống trong không gian đó con người sẽ giàu có hơn về mặt tinh thần khi họ được thế hệ trước di truyền lại những ký ức về vùng đất mà họ đang sống. Bảo vệ di sản văn hóa là để con người sống tốt hơn cho hôm nay chứ không chỉ là bảo vệ một ý niệm nào đó của quá khứ dù đẹp đến đâu.
Khi đặt bút viết những dòng đầu tiên của cuốn sách mà bạn đang cầm trong tay, tôi không dám tin rằng sẽ có ngày nó được thấy ánh sáng mặt trời.
Nó ra đời như một may mắn không ngờ, như nhờ một phép màu. Đối với tôi, nó có ý nghĩa đặc biệt. Một thời, nó đã là người bạn tâm tình, là cái nạng cho tôi vịn vào mà đi trên con đường vô định.
Mùa đông năm 1967 là một một mùa đông giá buốt, ít nhất là cho tôi, trong cái xà lim không có sưởi và không có quần áo ấm. Trong mùa đông ấy, không hiểu vì sao, tôi cảm thấy nhớ quê hương nhiều hơn bất cứ lúc nào. Cái đầu tiên gợi nhớ đến quê hương là mùi khói cay nồng từ những đống lá mà phu quét đường đốt lên để sưởi, ở bên kia bức tường đá của nhà tù. Ở quê tôi người ta thường đốt những đống rấm như thế để khói ngăn sương muối sà xuống những vườn rau. Mùi khói thoang thoảng lọt vào xà lim gây nên một nỗi nhớ cồn cào, da diết.
Gối đầu trên đôi tay, tôi nằm dài trên phản xi măng lạnh ngắt mà thả hồn về quá khứ, tự hứa thể nào rồi mình cũng phải viết một cuốn sách về cái làng bùn lầy nước đọng quê hương. Cái làng nhỏ nhoi và nghèo khổ ấy gắn liền với thời thơ ấu của tôi, cái thời không mấy hạnh phúc nếu đứng ngoài nhìn vào, nhưng tuyệt đẹp đối với tôi, mà cũng có thể đối với bất cứ ai từng có một cái quê để mà nhớ.
Lúc ấy tôi không nghĩ rằng cuốn sách tôi định viết sẽ được thực hiện không phải ở nơi nào khác, mà trong nhà tù. Ở Hỏa Lò tù nhân bị cấm đủ thứ, nhất là viết, hoặc đọc. Một mẩu giấy báo bị quản giáo phát hiện trong xà lim cũng là một cái tội, người tù giấu nó sẽ bị kỷ luật cùm chân, bị cắt “tiếp tế”. Trong năm tù đầu tiên tôi chưa có đủ kinh nghiệm để biết rằng khi cần thiết người tù có thể làm được những việc anh ta không bao giờ ngờ tới.
Ở trại quân pháp Bất Bạt (Sơn Tây) sự sống trong xà lim còn tệ hơn ở Hỏa Lò. Tôi hoàn toàn bị cắt đứt với thế giới bên ngoài. Nếu ở Hỏa Lò người tù xà lim còn có thể đoán biết được một sự kiện nào đó xảy ra bên kia những bức tường và hàng rào dây kẽm gai nhờ nghe ngóng được động thái của bạn đồng cảnh ở các xà lim cùng khu, thì ở Bất Bạt cái đó hoàn toàn không có. Những người bị giam ở đây, bên cạnh xà lim tôi, thường đã qua thời kỳ hỏi cung (thẩm vấn). Họ yên tâm nằm chờ, tháng này qua tháng khác, mà cũng có thể năm này qua năm khác, nhưng họ có cái để mà chờ: đó là ngày chắc chắn sẽ được ra tòa lĩnh án. Án có thể ngắn, có thể dài, nhưng họ sẽ được trở về khi mãn hạn. Những người tù chính trị, lại là thứ có tên gọi mỹ miều là “xử lý nội bộ”, thì không thể có xử, cứ việc nằm đấy, không chờ.
May cho tôi, ở trại này trong một lần “tiếp tế” vợ tôi lén lút giúi cho tôi một cây bút bi Trung Quốc hai màu. Tôi có một đam mê khó hiểu đối với những cây bút. Vợ tôi biết người ta chẳng đời nào cho tù nhận thứ đồ quốc cấm ấy nhưng đã mang nó cho tôi, tôi sẽ có cách giấu. Tôi vờ xin đi vệ sinh, ở đó tôi kín đáo phá nát cây bút quý giá ấy, chôn những mảnh vỡ của nó xuống đất, rồi luồn hai cái ruột bút bi vào nẹp áo bông để mang vào xà lim.
Cuốn sách bắt đầu từ ấy, mùa thu năm 1969. Tôi mải mê viết những trang đầu tiên trên vỏ bao thuốc lá, trên giấy kẹo, trên những riềm báo cũ mà gia đình bọc đồ “tiếp tế” (đến lúc đó nhà cầm quyền đã rộng lượng cho phép chúng tôi được giữ lại một số tờ giấy có in chữ, nhưng phải là thứ cũ, hết sạch thời gian tính). Viết phải rất cẩn thận, không được lãng phí những mẩu giấy hiếm hoi, lại phải canh chừng lính gác năm phút mươi phút một lần lượn lờ qua phòng giam để kiểm tra.
Những mẩu “bản thảo” lắt nhắt không thể xếp thành trang, phải đánh số rõ ràng để không lẫn lộn, được gom lại, được cất giấu bằng mọi cách trong cái xà lim nhỏ hẹp. Sau đó là những ngày chờ đợi đến lần được gặp gia đình kế tiếp thì tuồn cho mẹ tôi, vợ tôi mang ra. Khi viết được nhiều, bản thảo tích lại khá dày cũng gây ra mối lo. Mà những cuộc gặp lại khôngcó kỳ có hạn, gia đình muốn gặp thì làm đơn, khi nào người ta rộng lượng cho gặp thì được gặp. Được cái từ năm tù thứ ba trở đi đám quản giáo coi nhà tiếp tế không còn khám xét kỹ mỗi lần tôi được gặp gia đình nữa. Vả lại, chẳng cần khám làm gì – chúng tôi đâu có biết ngày nào tháng nào được gặp vợ con đâu mà chuẩn bị. Tôi bao giờ cũng sẵn sàng, cho nên lần nào gặp gia đình cũng chuyển ra ngoài được một ít bản thảo.
Về sau này, trong xà lim trại Tân Lập (Phú Thọ), việc viết không còn khó như trước, mặc dầu vẫn phải canh chừng để không bị phát giác. Sau nhiều lần yêu cầu kiên trì, chúng tôi thậm chí còn được người ta chiếu cố cho phép gia đình mang cho giấy bút và vài cuốn tiểu thuyết ngoại quốc để đọc. Cuốn sách hình thành dần dần, từng ít một.
Một lần các nhân viên công an nghi ngờ tôi chuyển gì ra, họ chặn mẹ tôi và vợ tôi lại để khám, nhưng hai người đã mang được những mẩu giấy của tôi ra ngoài trót lọt.
Khi những bản thảo đã gom được kha khá, các em tôi – Vũ Chí Dũng, Vũ Thu Hương và Vũ Thu Hòa – hì hục chép lại. Năm 1976, sau chín năm tù, tôi trở về thì đã có một bản thảo hoàn chỉnh. Các em tôi còn đánh máy ra làm mấy bản sạch sẽ để những người thân đọc.
Mẹ tôi đọc xong, bảo: – Mẹ thích. Nhưng sách không in được đâu. Một là, tên của con bị cấm. Hai là, chuyện một nhà, một làng, liệu mấy ai quan tâm? Bố tôi nhận xét: – Dù sao thì nó cũng ghi lại dấu vết một thời kỳ của nông thôn Việt Nam vùng Thiên Chúa giáo. Cứ để đấy, nó sẽ có ích sau này. Cho những nhà nghiên cứu chẳng hạn.
Tôi không có ý định viết cho những nhà nghiên cứu. Họ chẳng cần đến tôi. Tôi cũng chẳng có ý định viết để in. Tôi viết vì đó là công việc duy nhất mà tôi có thể làm trong sự ăn không ngồi rồi bất đắc dĩ. Tôi viết vì tôi thèm được làm công việc mà tôi yêu thích. Tôi viết, ít nhất thì cũng để cho các con tôi, chúng không biết thời thơ ấu của tôi đã trôi qua thế nào. Mà chắc gì sẽ có ngày tôi kể được cho các con tôi nghe?
Hồi ở trại Bất Bạt tôi không nghĩ tới ngày về. Không ít người đã nằm lại trong các nghĩa trang nhà tù. Những nghĩa trang ấy, thường ở sườn đồi, nếu có đồi, hoặc ở một bãi hoang giữa rừng. Trong cái sự tù của chúng tôi nghĩ tới ngày về là ý nghĩ ngu ngốc.
Ý nghĩ viết cuốn sách để lại cho các con đã làm cho cuốn Miền Thơ Ấu có một sắc thái riêng. Nó là hồi ký, nhưng trong lần in đầu tiên nhà xuất bản đặt nó vào loại tiểu thuyết. Trên bìa sách cũng đề rõ Miền Thơ Ấu – tiểu thuyết. Hồi ấy ở Việt Nam chỉ có loại hồi ký là hồi ký cách mạng, do các lãnh tụ kể cho các nhà văn ghi. Người thường không ai viết hồi ký, không được viết hồi ký. Để nó vào dạng tiểu thuyết thì dễ in hơn.
Còn có một lẽ nữa, là cuốn sách có hình thức giống tiểu thuyết trong cách viết, trong cách miêu tả nhân vật, dựng lại đối thoại. Tuy nhiên, tên người, tên đất trong cuốn này được giữ nguyên, không thay đổi. Người trong họ ngoài làng sẽ nhận ngay ra người quen khi đọc. Mà người làng tôi thì không quan tâm đến chuyện cuốn sách mà họ đọc thuộc thể loại gì. Tôi cho rằng có thể chép cuộc đời vào sách và tạo ra cho nó một dáng vẻ nghệ thuật, nếu ta nhìn đời theo cách nghệ thuật.
Cuốn sách nằm lâu trong đống giấy má vàng úa của một thời chữ nghĩa. Tôi cũng chẳng có thời giờ để ý tới nó vì còn bận đánh vật với những thí nghiệm, chạy đi chạy lại các cơ quan nhà nước kiếm hợp đồng làm hàng gia công, là việc có ích cho sự kiếm sống. Từ khi ra tù tôi làm đủ mọi thứ nghề tạp nham, trong đó việc sản xuất hàng hoá liên quan tới hóa chất cho các tổ hợp thủ công nghiệp đem lại nhiều tiền hơn cả.
Mãi tới năm 1987, anh bạn Lê Phát, biên tập viên đài Tiếng nói Việt Nam, một người tò mò thích văn chương, đã khui nó ra trong đống giấy má bừa bộn của tôi. Lê Phát đọc một lèo, anh thích nó, bèn đưa cho nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, nơi nhà văn Hà Mậu Nhai làm giám đốc. Hà Mậu Nhai cũng đọc một lèo, rồi nhắn tôi đến chơi. Anh tỏ ý muốn in cuốn sách. Tôi ngăn anh: – Anh không biết có một chỉ thị cấm in tôi sao ? – Tôi biết. – Vậy mà anh vẫn quyết định in ?
Hà Mậu Nhai nói: – Chừng nào chưa có trước mặt tôi một văn bản pháp luật trong đó ghi rõ quyết định của tòa án cấm không được in Vũ Thư Hiên thì tôi vẫn in. Tôi không ngán những lệnh miệng và những chỉ thị nội bộ. Tôi in, và còn in tên Vũ Thư Hiên to hơn bình thường nữa kia.
Tôi ngần ngừ. Tôi không muốn vì cuốn sách của mình mà bạn mình mang vạ. Hà Mậu Nhai nói chỉ cần tôi đồng ý cho in. Tôi miễn cưỡng đồng ý. Cuốn sách được in ra. Tên tác giả được in to hơn bình thường, đúng như Hà Mậu Nhai nói. Hà Mậu Nhai là một nhà văn nhưng không có chân trong Hội Nhà Văn. Anh chỉ có chân trong Xã Hội Những Người Tử Tế.
Năm sau Miền Thơ Ấu được giải thưởng loại A của Hội nhà văn Việt Nam, tức là giải nhất, cho sách dành cho thiếu nhi, mặc dầu nhà xuất bản không đưa nó vào danh sách tác phẩm dự thi. Trong chuyện này Hà Mậu Nhai nghĩ như tôi, sách được in ra là tốt rồi, mong gì được giải. Việc trao giải thưởng năm ấy là sự kiện lớn. Đã nhiều năm chuyện xét và trao giải thưởng văn học bị xếp lại, vì chiến tranh, và vì văn chương là cái sự không ra gì, một thứ xướng ca vô loài, dưới mắt các nhà lãnh đạo. Chủ tịch Hội đồng xét giải là nhà văn Tô Hoài. Phùng Quán cũng được giải thưởng, loại B, với tiểu thuyết ba tập Tuổi Thơ Dữ Dội. Hai tên tội đồ, một Xét Lại Hiện Đại, một Nhân văn-Giai phẩm, chiếm hai giải thưởng nhất nhì trong một cuộc thi văn chương, là quá lố. Nhưng đã là năm 1988, hai năm sau khi Đảng cộng sản tuyên bố “đổi mới” và “cởi trói”. Nếu là những năm trước, việc làm ngang bướng của Hà Mậu Nhai ắt bị trừng trị. Anh vẫn ngồi yên trên ghế giám đốc cho tới khi qua đời, ba năm sau.
Giải thưởng này đối với tôi là bất ngờ, không kém gì việc cuốn sách được in ra. Khi mọi người cho tôi biết các báo đều đã đăng tin, tôi mới biết. Việc cuốn sách kể chuyện tầm phào về một làng quê khỉ ho cò gáy mà được giải, lại giải cao, là điều khó tin.
Tô Hoài hiển nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc trao giải lần này. Uy tín của nhà văn già đã thắng tính bảo thủ của các cơ quan lãnh đạo tư tưởng của đảng cộng sản. Sau đó, đài phát thanh Sài Gòn đọc Miền Thơ Ấu trong chương trình “Đọc truyện đêm khuya”, nhà xuất bản Kim Đồng ỏ Hà Nội tái bản một lần, rồi hai lần…
So với bản thảo, cuốn Miền Thơ Ấu trong lần in đầu tiên được rút gọn còn một nửa theo yêu cầu của nhà xuất bản. Vì không có giấy. Giấy vào những năm ấy đắt khiếp đảm.
Lần xuất bản sau ở hải ngoại không thiếu giấy nhưng lại thiếu những trang bản thảo bị bỏ ra nọ. Chúng nằm lại ở Việt Nam, cách tôi quá xa, không phải xa theo khoảng cách địa lý, mà bởi những khó khăn. Tôi cũng không tìm cách bổ khuyết. Cuốn sách đã có cuộc sống riêng của nó, diện mạo của nó. Chưa chắc gì một sự thay đổi sẽ làm cho nó đẹp hơn. Những gì bị bỏ ra ngoài trong lần xuất bản đầu tiên rồi sẽ được đặt vào một lần xuất bản khác, hoặc một chỗ khác.
Câu chuyện về một chú bé trong cuộc gặp gỡ với quê hương của chú đã tìm được độc giả của nó. Thì ra quê hương của một người, nếu nói về nó bằng tình yêu chân thật, từ trái tim mình, thì cũng mang dáng dấp quê hương của bất kỳ ai khác, trong sự đồng điệu của tâm hồn. Tôi bao giờ cũng nhớ về tuổi thơ của mình với tất cả niềm thương yêu dịu dàng, bởi vì tuổi thơ của ai cũng vậy, nó chứa đựng những tình cảm đẹp nhất mà cuộc đời có thể cho ta, khi nắng bao giờ cũng lấp lánh và gió bao giờ cũng ngát hương. Nơi miền đất tuổi thơ, mỗi đám mây bay ngang cũng gợi ta hình dung ra những xứ sở xa xôi từ đó nó bay đến, mặt trăng rằm nào cũng bắt ta phải ngắm nhìn để tìm ra bóng dáng cây đa với chú Cuội cổ tích, thậm chí một con chuồn chuồn ngô cũng có phép màu làm cho ta biết bơi.
Bạn đã bao giờ cho chuồn chuồn ngô cắn rốn chưa? Nếu bạn đã được một con chuồn chuồn ngô cắn rốn một lần để được sặc sụa một lần trong dòng sông quê hương thì bạn là người hạnh phúc đấy. Tôi đã đọc những dòng viết ấm áp và chân thành, và lạ thay, bao giờ cũng đầy nuối tiếc, về tuổi thơ trong sáng của mình nơi Lev Tolstoi, Maxim Gorky hay Paul Vaillant Couturier.
Chúa Giê-su Ki-ri-xi-tô dạy: “Hãy như con trẻ!” Tôi chưa được nghe lời nào thông thái hơn.
Nếu tất cả những con người sống trên mặt đất này biết nâng niu gìn giữ trái tim con trẻ trong mình thì chúng ta đã không phải chứng kiến những gì xấu xa mà chúng ta phải chứng kiến: chiến tranh, nhà tù, và mọi sự hành hạ mà con người hàng ngày gây ra cho đồng loại.
Bằng cuốn sách bé nhỏ này, tôi muốn chia sẻ với bạn đọc tình cảm trìu mến đối với những gì quý báu nhất trong cuộc đời, những gì bạn và tôi đều có nhưng chóng quên, ở một miền thơ ấu của mỗi chúng ta.
(Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ) Trần Trung Đạo
Một ngày tháng 8 năm 1992, tôi nhận được một bài thơ của một người bạn tin cẩn gởi từ trong nước. Anh chép tám câu thơ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ nhưng không có tựa.
Tôi đọc và rất cảm động. Qua từng câu thơ tôi hình dung cảnh cô đơn, trống vắng, quạnh hiu mà Thầy đang sống trong thời gian lưu đày ở Thái Bình trong một buổi chiều đông.
Sau 1975, giữa lúc gần hết mọi người đều đi theo chiều gió, Thầy cố bước ngược chiều để mong cứu vớt những gì còn sót lại sau những điêu tàn, đổ nát. Tinh thần vô úy của đạo Phật đã giúp Thầy vượt qua bao thử thách, cực hình, đày đọa.
Trong đêm tối giữa nhà lao Phan Đăng Lưu hay trong buổi chiều mưa tầm tã tay dắt bà mẹ già 90 tuổi trên đường lưu đày từ Sài Gòn ra huyện Vũ Đoài, Thái Bình, Thầy vẫn một tấm lòng son sắt với quê hương và đạo pháp. Chúng ta sống trên đất tự do, dễ dàng nói với nhau về yêu nước, yêu đạo, dễ dàng nói với nhau về hy sinh, đại nguyện. Nhưng nếu chúng ta sống một đêm, một đêm thôi, trong đau thương trăn trở giữa ngục tối Hàm Tân như HT Thiện Minh, một đêm mang nặng ưu tư đau nhức tại nhà tù Phan Đăng Lưu như HT Quảng Độ, một đêm trầm mặc suy tư trên mỗi bước thiền hành ở Quảng Ngãi như HT Huyền Quang, chắc chắn chúng ta sẽ hiểu ra rằng Bồ Tát giống tất cả chúng ta nhưng chúng ta không phải dễ dàng là Bồ Tát.
Ngày đó không có mạng xã hội Facebook như bây giờ. Chúng tôi là một nhóm vài trăm người sinh hoạt với nhau trong giai đoạn Internet còn rất phôi thai.
Tôi gởi bài thơ cho cả nhóm đọc. Nhưng bài thơ thì phải có tựa. Tôi không nói với ai, chỉ im lặng và mạo muội đặt tựa là Chiều Đông, phía dưới viết tên tác giả HT Thích Quảng Độ. Luôn dịp tôi họa lại bài thơ của Thầy đặt tựa Tấc Lòng Son, và sau đó in trong tập Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười xuất bản lần đầu tại San Jose cuối năm 1992.
Trước ngày Thầy bị bắt và tôi chưa rời Việt Nam, mỗi tuần tôi thường gặp Hòa Thượng đi bộ từ chùa Giác Minh trên đường Lý Thái Tổ xuống ngã sáu Trần Quốc Toản, để từ đó đón xe Lam qua Thanh Minh Thiền Viện giảng thiền học. Dáng Thầy thanh cao, vầng tráng rộng, miệng Thầy luôn mỉm cười như chúng tôi thường bắt gặp trong những ngày trước 30-4-1975 ở Đại Học Vạn Hạnh. Phải chăng ngay cả trong lúc mang nặng ưu tư về tiền đồ dân tộc và đạo pháp, tâm Hòa Thượng Quảng Độ vẫn an nhiên, tự tại.
Thầy dạy Triết Đông và tư tưởng Phật Giáo cho sinh viên các khoa Khoa Học Nhân Văn và Phật Khoa. Tôi không trực tiếp được học Thầy. Nhưng những buổi giảng chuyên đề của các thầy thường mở rộng cho sinh viên các ban khác. Ngày đó tôi còn nhỏ nhưng may mắn được nhiều lần ngồi nghe các thầy dạy bảo. Hòa thượng Quảng Độ, Hòa thượng Minh Châu, Hòa thượng Mãn Giác, Hòa thượng Thuyền Ấn v.v.. Mỗi thầy một nét. Cao siêu nhưng gần gũi. Giản dị nhưng thâm trầm. Những hạt giống nhân duyên các thầy gieo xuống tâm hồn tôi nay đã lớn lên. Kỷ niệm không bao giờ chết. Kỷ niệm lớn như cây. Nếu biết chăm sóc, kỷ niệm cũng nở hoa như những loài hoa tươi đẹp khác.
Ba mươi tháng Tư, 1975, chúng tôi như bầy chim bay tán loạn bốn phương trời. Dù phải sải cánh bao xa, chúng tôi đều mang theo trong tâm hồn mình những bóng mát của một thời tuổi trẻ. Thời của tuổi mười tám với buồng phổi căng đầy sức sống. Bóng mát đó là các thầy. Bóng mát đó là thiền viện, thư viện, giảng đường, và bóng mát đó là lý tưởng Duy Tuệ Thị Nghiệp.
Hành trình đầy bi tráng của Thầy trong suốt 10 năm bị bắt giam, tra tấn và lưu đày cùng với bà mẹ già 90 tuổi ở Thái Bình đã để lại một niềm thương yêu và kính phục sâu xa, không những trong lòng nhiều triệu Phật Giáo đồ Việt Nam, dân tộc Việt Nam mà cả trong cộng đồng nhân loại.
(Trần Trung Đạo, Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười, trang 126)
Cách đây vài năm, khi nhận được thi tuyển Thơ Tù của HT Thích Quảng Độ lần đầu, tôi hồi hộp đọc phần mục lục trước để xem Thầy đặt tựa bài thơ là gì.
Tôi rất vui và cảm động khi biết Thầy cũng đặt tựa bài thơ là Chiều Đông. Tôi thầm cám ơn Thầy đã cho phép tôi được sống trong cùng một tâm cảm với Thầy.
Thầy là rừng, tôi chỉ là chiếc lá nhưng nhờ có nhân duyên lá và rừng được sống với nhau trong một chiều đông.
Sáng hôm qua, trong lúc đang đi bộ trên đường nhỏ trong xóm tôi nhận một tin nhắn của một Phật tử tin cẩn từ trong nước “Hòa thượng Quảng Độ vừa viên tịch”. Tôi lặng người. Không phải vì Thầy ra đi sớm nhưng vì Thầy ra đi.
Đại Lão Hòa thượng Thích Quảng Độ viên tịch chấm dứt một chương dày 45 năm trong lịch sử đầy thăng trầm của Phật Giáo Việt Nam. Những chương mới sẽ mở ra nhưng sẽ khác hơn nhiều.
Trong tất cả tôn đức chịu đựng tù đày, Thầy là vị đã sống trong tù lâu nhất. Từ tháng 6, 1977 cho đến khi viên tịch, Thầy vẫn là một tù nhân của chế độ CS tại Việt Nam.
Chín mươi năm từ khi tiếng gậy trúc của chư tổ vang lên ở các tổ đình khởi đầu cho công cuộc phục hưng Phật Giáo. Trong thời gian đó, bao nhiêu đổi thay đã xảy ra cho đất nước Việt Nam và cho Đạo Phật tại Việt Nam. Hôm nay, một trong những vị còn lại của thế hệ phục hưng Phật Giáo vừa viên tịch. Con thuyền đạo pháp như Thầy nhấn mạnh sau 1975 vẫn còn chênh vênh và niềm trăn trở cho quê hương của Thầy vẫn còn trăn trở.
Nhưng áng mây bay đi sẽ mang về những giọt nước cho cánh đồng khô. Không có gì còn hay mất. Chỉ là những dạng khác nhau trong một cuộc vận hành. Cành mai Quảng Độ vừa rơi xuống nhưng như Thiền Sư Mãn Giác đời Lý viết, sáng mai đây, những cành mai khác lại sẽ nở ra.
Bước chân của Thầy không còn nghe nhưng tình yêu của Thầy dành cho quê hương vẫn sáng như ánh trăng rằm, đậm đà như mùi hương của đất và dạt dào như lời thơ Thầy viêt trong một Chiều Đông năm đó. Từ nước Mỹ xa xôi, con cúi đầu đảnh lễ giác linh Thầy.
Trần Trung Đạo
Nhóm trẻ Văn Thơ Lạc Việt nói về ngày kỷ niệm 28 năm thành lập VTLV
Nhóm trẻ Văn Thơ Lạc Việt nói về ngày kỷ niệm 28 năm thành lập VTLV ——-
Tiệc Kỷ Niệm 28 Năm Thành Lập Văn Thơ Lạc Việt. Lúc 4 giờ chiều Chủ Nhật, ngày 1 tháng 3 năm 2020 Tại Nhà hàng Phú Lâm, 3082 Story road, San Jose, Ca 95127
Lời Ngỏ
28 Năm Văn Thơ Lạc Việt: Một Tấm Lòng, Một Hướng Đi!
Một trong những hướng đi chính của Nhóm Văn Thơ Lạc Việt là phát huy và bảo tồn nền Văn Hóa Việt Nam. Một nền Văn Hóa có truyền thống trên bốn nghìn năm văn hiến, xuyên qua dòng lịch sử bất khuất của một Dân Tộc hùng anh.
Một nền Văn Hóa luôn khẳng định sắc thái nhân bản, đậm tình tự dân tộc, để không bị lệ thuộc hay đồng hóa bởi ngoại bang. Có ngàn năm đô hộ cũng trở về Nguồn! Bản sắc nhân bản gốc, thể hiện qua những từ Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín trong hành xử đời thường, đến Chân Thiện Mỹ trong văn chương nghệ thuật, gìn giữ nếp sống chí tình chí lý bao đời của Cha Ông. Nền Văn Hóa tốt đẹp này, được lưu truyền qua bao thời đại, bao thế hệ, đều nhờ vào tấm lòng và trách nhiệm của những công dân đối với tiền đồ Quốc Gia Dân Tộc, dù an hay nguy.
Trong bối cảnh đen tối Việt Nam hiện nay, do Cộng Sản nắm giữ, thể chế chính trị chủ trương cái ác, gây ảnh hưởng không tốt về sắc thái Chân Thiện Mỹ của Chữ Nghĩa nói riêng, và tác phong đạo đức của nền Văn Hóa nói chung. Chữ viết và tiếng nói có âm mưu biến dạng theo Tầu, do chủ trương độc tôn “còn Đảng còn mình!” muốn phủ nhận những giá trị vốn có, mà hành xử thô bạo trên giá trị Chữ Nghĩa Nhân Bản. Điển hình là việc tiêu hủy gần như hầu hết những chứng liệu, sách vở, ngôn từ thiện mỹ vốn có trước năm 1975. Để khai sinh và phô bày những chữ nghĩa duy vật biện chứng phức tạp và dị ứng, đi ngược với sắc thái trong sáng nhân bản Văn Hóa Dân Tộc. Chưa kể âm mưu sáng tạo một ngôn ngữ mới, để muốn xóa bỏ nguồn gốc.
Sự kiện này được thấy rõ không chỉ trong sinh hoạt đời thường, mà trong cả chương trình giáo dục. Không chỉ ảnh hưởng xấu ở trong nước, mà còn lây nhiễm ra hải ngoại, khi những phát ngôn viên, nhà báo, hàng ngày xử dụng tự nhiên chữ nghĩa què quặt, tối nghĩa do XHCN chế ra. Người nghe không chỉ dị ứng với ngôn ngữ, mà còn dị ứng với cả nguồn phát ra những chữ nghĩa khó nghe này. Giá trị của chữ nghĩa xấu, kéo theo giá trị tồi của phong cách truyền thông, giết sự trong sáng của ngôn ngữ, để có âm mưu xóa đi tiếng Việt truyền thống, nhằm dễ dàng bán nước cho ngoại bang, giữ vững ghế cai trị.
Dù đường dài vẫn “chân cứng đá mềm” chỉ một hướng đi! Đây là niềm mong ước, mục tiêu thiết tha của Văn Thơ Lạc Việt. Tiếng Việt còn, nước Việt còn! Gìn giữ phát triển và bảo tồn Văn Hóa Việt Nam. Nhìn lại đoạn đường 28 năm đã đi qua, cho dù đây là mục đích của Nhóm, nhưng có đạt mục tiêu hay không là nhờ sự tiếp tay của tất cả mọi người, những trái tim còn nghĩ đến nền Văn Hóa, giữ vững cội nguồn Dân Tộc Lạc Việt. Vẫn còn tự hào: “Tôi là Người Việt Nam!”
Cái nôi Văn Hiến Việt Nam, luôn lay động nhịp nhàng, thấm sâu trong tâm thức người dân Việt, từ lời ru ngọt ngào ên đềm của Mẹ Âu Cơ, đến lời ca vang hào hùng bao đời của những người đi giữ nước. Chữ Nghĩa sáng lên vừa như ánh đuốc khai tâm nhắc những kẻ vong ân, phản bội, tìm lại cội nguồn mau trở về, lại vừa sáng rọi lời truyền của tiền nhân, qua bao thời oanh liệt chống ngoại xâm, giữ vững sơn hà. Tất cả vì Việt Nam, vì Tổ Quốc thiêng liêng mong mãi mãi trường tồn.
Những dòng thi văn sử, tiếp truyền đến mọi nơi và mọi lúc, vượt qua biên giới, sau 75, ra đến hải ngoại, thẩm thấu qua gần nửa thế kỷ lưu vong. Giữ được nền Văn Hóa là giữ được hồn của Đất và Nước. Giữ được Chữ Nghĩa là giữ được tinh thần và sắc thái của Dân Tộc Việt Nam. Ngôn ngữ là Hồn, nếu không gìn giữ, thì Hồn mất trước, nước mất sau! Mất Văn Hóa là mất Nước! Cho nên cuộc chiến đấu bảo tồn nền Văn Hóa, cũng cam go và đầy thử thách như trên chiến trường, tuy không có tiếng súng, nhưng cũng ác liệt không kém, trong mục đích dành lại Tự Do Dân Chủ của một Dân Tộc dưới bàn tay nguy hiểm của những Lê Chiêu Thống thời đại, “cõng rắn cắn gà nhà!”
28 năm, với tâm huyết của những người quan tâm đến nền Văn Hóa Việt Nam tị nạn CS tại hải ngoại, dùng chữ nghĩa mà chiến đấu với trách nhiệm bảo tồn và phát huy Văn Hóa, như vũ khí để lấy lại Tự Do Dân Chủ cho Quê Hương không Cộng Sản.
LTS: Nhà văn Hồ Trường An đã qua đời hôm Thứ Hai, ngày 27 tháng 1, năm 2020, tức Mồng Ba Tết Canh Tý, tại Troyes, Pháp, hưởng thọ 82 tuổi.
Ngoài những sáng tác của HTA được nhiều người biết đến, là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký, Ông còn được dư luận quan tâm khi trao đổi vấnđề xã hội – giới tính – đồng tính luyến ái –… Lúc còn sinh tiền Ông không ngại ngùng và phá biểu thẳng thắn, bộc trực về vấn đề “giới tính”. Việc “đồng tính luyến ái” nay trong những xã hội dân chủ đã trở thành bình thường, bớt thành kiến, thôi không còn “khắt khe” như trước.
Lưu Diệu Vân thực hiện – 15.05.2008
Nhà văn Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang. Sinh ngày 11
tháng 11, 1938 tại Vĩnh Long. Ông định cư tại Pháp vào năm 1977 và hiện
đang sống ở thành phố Troyes. Ông đã cộng tác với nhiều tạp chí văn
chương trong và ngoài nước và là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn,
tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký. Ông vẫn tiếp tục sáng tác hăng say và
hiện là một trong số ít tác giả lưu vong có số sách xuất bản kỷ lục tại
hải ngoại. Ông tạo được một chỗ đứng riêng biệt trong dòng văn chương
việt qua lối viết gần gũi và đề tài chân quê chất phác.
Hôm nay, ngoài cương vị người viết, nhà văn còn sẽ đến với chúng
ta qua một vai trò mới khá thú vị – nhà xã hội học bất đắc dĩ – cũng
bằng giọng văn thân thiết, gần gũi và sự chân thật đặc trưng của Hồ
Trường An.
LDV: Giới tính là một đề tài khá nhạy cảm và đòi hỏi sự
bộc bạch hết sức can đảm từ phía người chia sẻ. Không thiếu những nhà
văn Việt viết nhiều về đề tài giới tính, nhưng hầu như ít ai thích nói
về nó một cách cởi mở trong những trang viết có tính cách cá nhân, trừ
Hồ Trường An. Dũng khí quan trọng như thế nào đối với một người viết?
HTA: Cô Vân, tôi chấp nhận cuộc phỏng vấn này là môt lời tự thú trong
buổi tàn thu cuộc đời. Tôi đã vào tuổi thất tuần rồi, cô ơi! Mỗi đêm,
trước khi đi ngủ tôi luôn tự hỏi: sáng mai, mình có thức dậy được không
đây? Hay là mình phải làm một chuyến đi tàu suốt vào giấc ngủ miên viễn?
Vậy tại sao mình lại giấu diếm cái bí mật trong cuộc sống tình cảm lẫn
tình dục của mình? Chấp nhận cuộc phỏng vấn của cô, tôi muốn cho lớp thế
hệ bọn gay sau tôi một vài kiến thức hay một vài kinh nghiệm nhỏ nhoi
nào chăng?
Vào những năm đầu của thập niên 80, tiết lộ giới tính và khuynh hướng
tình dục của mình mới là hành động can đảm. Hồi đầu thập niên 60, tôi
chỉ tiết lộ thân phận mình cho chị Thụy Vũ của tôi cùng một số bạn thân.
Bắt đầu năm 1980 tôi có người yêu là dân Pháp chánh gốc, tôi ngang
nhiên sống chung với đương sự, tới nay kể ra cũng gần 30 năm. Một phần
là tôi tức giận tên Thi Vũ Võ Văn Ái (nhà báo/nhà thơ), nó nỡ đem tâm sự
của tôi đi bán rao tùm lum tà la. Cho nên từ đó, khi đi dự các cuộc
tiếp tân nào trong giới văn nghệ sĩ kiều bào ở Paris, tôi cũng dắt người
bạn lòng của tôi theo. Đương sự nhỏ hơn tôi 9 tuổi, nhưng cái tác của
hắn lớn hơn tôi khá nhiều.
Năm 1983, tôi tung ra quyển Hợp Lưu trong đó có nhân vật gay
tên Quế, phản ảnh đôi chút tâm trạng của tôi. Trước tôi, vào năm 1967,
bạn tôi tên Đỗ Quế Lâm có viết tiểu thuyết tự truyện tựa là ‘‘Vết Hằn
Rướm Máu’’ do chính chị Thụy Vũ tôi viết lời tựa. Sau đó, ở hải ngoại,
vào năm 1979, thằng bạn khác của tôi tên Lucien Trọng, một kỷ sư thủy
lâm có viết quyển L’Enfer Rouge, Mon Amour do Seuil xuất bản. Sau đó nó dịch ra tiếng việt Hỏa Ngục Đỏ, Mối Tình Tôi
kể lại mối tình của nó với một chàng trai bụi đời tên Hải trong thời
gian hai đứa bị Cộng Sản giam cầm. Đúng như cô Vân nghĩ, hình như những
cây bút gay như Đổ Quế Lâm lẫn Lucien Trọng không dám diễn tả huỵch tẹt
như HTA, không mô tả cuộc làm tình tỉ mỉ và tới nơi tới chốn như HTA.
Tôi diễn tả chuyện giao hợp giữa cậu trai việt và anh chàng gay quí tộc
Pháp khá táo bạo và khá đậm đà. Chính nữ ca sĩ Quỳnh Giao thuở thập niên
80 bảo rằng đây là quyển sách mà Quỳnh Giao thích. Song song, cũng có
rất nhiều độc giả chửi tôi khá nặng. Họ gọi điện thoại xài xể luôn anh
Mai Thảo vốn là người chủ trương tờ tạp san văn chương Văn, tại sao có
thể đăng từng kỳ những chương “dơ dáy nhớp nhúa” của quyển Hợp Lưu?
Còn chị hỏi tôi cái dũng khí của người viết văn thì tôi khó trả lời.
Thiệt ra, tôi chẳng có một chút dũng khí nào. Sở dĩ tôi dám phô bày chơn
tướng mình ra vì tôi tức giận kẻ lẻo mép thối mồm. Đã là một tên gay
xấu xí mà dám viết truyện qua cái tôi của mình, một nhân vật đẹp trai
như Phan An, Tống Ngọc, chẳng những được bọn gay tôn thờ mà còn được phụ
nữ mê sa trầm lụy. Cũng đừng vì mình không kiếm được bồ đực để thương
yêu giao hợp rồi lên giọng kích bác kẻ đồng tính luyến ái may mắn hơn
mình, khuyên họ phải dẹp bỏ thói ‘‘xấu ấy’’ để trở thành kẻ bình thường.
Đã là gay rồi thì trở thành kẻ biết yêu người khác phái tính sao được?
Văn chương cần sự thành thật của nhà văn dị tính luyến ái đã đành mà còn
của một nhà văn gay.
LDV: Đó là thế giới văn chương, còn trong cuộc sống hiện
thực, ông đã từng chứng kiến những người đồng tính luyến ái bị ngược đãi
quá mức. Họ có nên thỏa hiệp để tránh việc bị đánh giá thấp?
HTA: Còn ở ngoài đời, hai chàng gay không nên âu yếm ở chốn công cộng
vì đa số người chứng kiến vốn không quen cảnh hôn hít trái cựa như vậy,
họ sẽ bị dị ứng và chướng mắt ngay. Cũng đừng phùng xòe bộ đi tướng
đứng oai phong lẫm liệt một cách phường tuồng mà bị thiên hạ quở rằng
các chàng gay đang đóng vai dũng tướng Địch Luông, Địch Hổ trong tuồng
Hồ Quảng hay tuồng hát bội. Cũng đừng ẻo lả thục nữ quá thì chẳng có tên
gay nào khác tìm đến xáp cục với mình. Gay nào mà chẳng mê mẫu người có
phong độ đàn ông tính? Cũng đừng gạ gẫm ve vãn nhưng kẻ dị tính luyến
ái mà chuốc lấy sự bêu rếu, sự lăng nhục của hạng người này.
Tôi thường nghĩ đồng tính luyến ái là do trời sanh ra, do cái ác
nghiệp từ tiền kiếp hiện hành ở kiếp này. Bản tính mình như thế nào thì
mình sống theo bản tính ấy, can gì phải giấu diếm? Đau khổ nhứt cho
những kẻ vì bảo vệ nghề nghiệp trong các công sở, vì đã lỡ tạo lập gia
đình, nên có cuộc sống song đôi. Họ lén lút ăn nằm với bọn gay
bán tình và luôn nơm nớp lo sợ chuyện bí mật của mình bị tiết lộ. Đồng
tính luyến ái là cái bản tính tự nhiên của một số người. Bắt những chàng
gay sống như người bình thường, cưới vợ để sanh con đẻ cái là bắt họ
chống lại thiên nhiên.
Cái tức giận của tôi đối với một tên bạn Võ Văn Ái thèo lẻo ác ôn làm
tôi bạo dạn, trở nên thách thức với những kẻ có đầu óc hẹp hòi. Cho nên
tôi từ bỏ cuộc sống song đôi, chỉ sống theo cuộc sống bọn gay…
cho gọn. Tôi không muốn giả dối, không giấu diếm cái sở thích yêu người
đồng phái tính của mình làm chi cho phiền phức. Phải đơn giản hóa cuộc
sống, phải sống tràn đầy và nguyên vẹn cuộc đời riêng biệt của mình với
tấm lòng thành khẩn thì may ra mới tìm được hạnh phúc.
LDV: Nhà văn Hồ Trường An định nghĩa giới tính của mình bằng đường lối nào?
HTA: Cô Vân ơi, câu hỏi nầy trặc trẹo lắm. Tôi không sao có thể định
nghĩa giới tính chính mình. Tôi chỉ biết giới tính chia ra làm ba hạng
người: hạng thứ nhất là hạng người yêu đương và thích làm tình cùng
người khác phái của mình. Đó là những người dị tính luyến ái (les
hétérosexuels). Hạng thứ hai là những người yêu đương và thích làm tình
với người đồng phái. Đó là những người đồng tính dục (les homosexuels),
nhưng nói cho nhẹ nhàng bóng bẩy một chút thì gọi là đồng tính luyến ái
(les homophiles); bên nam giới gọi là gay, bên nữ giới thì được gọi là
lesbiennes. Lại có người thích làm tình với người khác phái tính lẫn
người đồng phái tính. Đó là những người lưỡng tính luyến ái (les
bisexuels). Vua Hán Cao Tổ có nhiều quý phi, cung tần, mỹ nữ. Nhưng ông
ta thỉnh thoảng tìm các cậu trai mới lớn nuôi sẵn trong biệt viện để ông
ta thay đổi thực đơn hành lạc. Những cậu trai như vậy tiếng Pháp gọi là
bé cưng (les mignons). Đó là tôi nói theo nhà Trung Hoa học thuật gia
Robert Van Gulik qua cuốn biên khảo ‘‘La Vie Sexuelle dans la Chine
Ancienne.’’
Trong giới nghệ sĩ Hoa Kỳ thì Marlon Brando cũng thuộc loại lưỡng tính luyến ái. Anh ta mê phụ nữ da màu và đã trải qua hai đời vợ là Anna Kashfi – lai Ấn, Movita – gốc Mễ-tây-cơ. Nhân tình cũa anh ta gồm có các nữ tài tử France Nuyen – lai Việt, Tarita – người thuộc đảo Tahiti, Rita Moreno – dân Mỹ La-tinh. Nhưng bà vợ Anna Kashfi trong cuốn Brando au Petit Déjeuner xác nhận rằng Marlon Brando lẫn James Dean đều là dân lưỡng tính luyến ái. Trước khi nổi danh, trong thời gian sống ở Paris, Marlon chơi thân với điện ảnh gia Roger Vadim và nam tài tử Christian Marquand. Chính anh chàng Marquand này là người yêu của Marlon Brando. Anh ta người Tây-ban-nha lai Á-rập nhưng sinh sống từ nhỏ ở Pháp, đóng phim Pháp, nổi tiếng đẹp trai và sexy. Christian Marquand cũng là dân bisexuel, sau đó kết hôn với nữ tài tử Tina Aumont. Hư thực ra sao đố ai biết rõ. Chúng ta chỉ biết một khi người vợ bị tổn thương thì việc gì mà không dám nói. Anna Kashfi còn dám viết rằng Marlon Brando có tới ba hòn nang. Khi sống trên tại kinh thành Paris, chàng ta đã cùng Roger Vadim và Christian Marquand đi Monmartre để hành lạc theo kiểu ‘‘nga môn khoái lạc’’ do dân phong lưu Trung Hoa phát minh. Đó là đút dương vật vào hậu môn con vịt, rồi thình lình chặt cổ con vịt để cho hậu môn con vịt siết chặt và buông lỏng liên miên dương vật. Marlon Brando trong quyển hồi ký của mình bảo thẳng thừng rằng : ‘‘Tôi cũng có vài kinh nghiệm về đồng tính dục.’’ Riêng James Dean được báo chí thêu dệt mối tình giữa chàng ta và nữ tài tử gốc Ý Pier Angeli, giữa chàng ta và nữ thần nhục cảm Ursuela Andress gốc Thụy- sĩ. Nhưng lại có tin hành lang cho biết người tình đực rựa của chàng là tài tử bô trai cực kỳ thanh tú và hùng tráng là Tab Hunter.
Về phía lưỡng tính luyến ái phái nữ thì vào thời Đệ tam Cộng Hòa có
hai nàng nữ danh kỹ là Liane de Pougy và Emilienne d’Aleçon sắc nước
hương trời. Cả hai đã từ dan díu với các chàng trai quý tộc và các kỹ
nghệ gia Hoa Kỳ thuộc hạng tỷ phú. Liane de Pougy đã từng ăn nằm với
Hoàng tử vùng Galles nước Anh về sau trở thành vua Edouard VII, còn
Emilienne d’Aleçon đã từng dan díu với vua Léopold II nước Bỉ. Cả hai cô
danh kỹ kia còn là nữ sĩ văn chương. Liane viết 7 cuốn tiểu thuyết, nổi
tiếng nhứt là cuốn Idylle Saphique (Tình Yêu Các Cô Đồng Tính Luyến Ái) và cuốn nhật ký Mes Cahiers Bleus
( Những Tập Giấy Xanh Của Tôi). Người tình nuơng mặn mòi thắm thiết
nhứt của Liane de Pougy là nữ sĩ kiều diễm người Mỹ Natalie Cliffod
Barney. Còn Emilenne d’Aleçon về sau kết hôn với anh nài ngựa người Anh
chẳng những trí thức, giàu sụ mà còn đẹp trai. Vì là nài ngựa nên chàng
hơi nhỏ con một chút, nhưng rất xinh xắn dễ yêu. Cả hai si mê nhau điên
cuồng, yêu đương bỏng cháy. Vì yêu nàng, chàng bỏ quốc tịch Anh và xin
vào quốc tịch Pháp. Vì chàng, nàng thôi làm cái nghề đưa ông hoàng ra
cửa trước, rước ông tỷ phú vào cửa sau. Chàng nài ngựa bô trai giỏi văn
chương Pháp nên dạy Emilienne d’Aleçon làm thơ. Do đó nàng cho trình
làng hai thi tập Temple d’Amour (Ngôi Đền Tình Ái) và Les Masques
(Những Cái Mặt Nạ). Chàng nài ngựa yểu mệnh, Emilienne d’Aleçon đau khổ
không nguôi. Từ đó nàng đoạn tuyệt với đàn ông và chỉ ăn nằm với đàn bà
trong đó có nữ nam tước người Ý là Baronne Mimy Franchetti. Cô nữ nam
tước nầy cũng đã từng ăn nằm với Liane de Pougy.
LDV: Sự chấp nhận một cách hân hoan về khuynh hướng tính
dục đặc biệt của mình đã đem lại cho nhà văn những gì ngoài cõi lòng yên
tĩnh cần thiết để cho ra đời những trang viết đầy tình người và sức
sống?
HTA: Sống thành thật với chính mình thì dĩ nhiên được thoải mái về
mặt tinh thần lắm, có phải không cô Vân? Hồi chưa tiếp xúc với giới đồng
tính luyến ái tôi ấm ức trong lòng, khao khát được giao hợp với người
mình yêu. Nhưng ở tại một tỉnh lỵ đất Tiền Giang, tôi tìm đâu ra một đối
tượng tình yêu thuộc loại người như mình? Cho nên tôi đau khổ, tuyệt
vọng, lại còn sợ mọi người chế nhạo mình yêu trai, cho nên tôi không
biết ngỏ tâm sự cùng ai. Năm tôi 25 tuổi, tôi lên Sài Gòn học lớp tập sự
ngành Dược Khoa, tôi được thằng bạn thân học chung với tôi suốt 6 năm
bậc trung học. Nó cũng là dân gay như tôi, nhưng cả hai chỉ là bạn suông
trơn mà thôi. Nó giới thiệu cho tôi một ký giả người Pháp, gốc Ba-lan
tên là Ilya Mustkatblatz. Sau đó, nó chỉ cho tôi những chỗ hội họp của
bọn gay Việt lẫn gay từ các xứ như Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ, Phi-luật-tân, Đại
Hàn, Tàu Chợ Lớn qua làm việc hoặc định cư ở Sài Gòn. Họ thường lui tới
rạp chớp bóng Vĩnh Lợi (mà bọn tôi gọi là Vĩnh Lạc Cung) ở đường Lê Lợi
và gần Bệnh Viện Đô Thành, rạp chớp bóng Moderne (mà chúng tôi gọi là
Mẫu Đơn Đình) ở gần chợ Tân Định. Ngoài ra còn ở nhà hàng Continental,
nhà hàng Givral, Bùng Binh trước chợ Bến Thành là những nơi để bọn gay
kiếm bồ bịch. Ngoài ra ngôi chùa thuộc Nghĩa Trang Bắc Việt, đền thánh ở
Thủ Thiêm cũng là nơi hò hẹn bọn gay.
Không hiểu sao, từ khi tiếp xúc vào xã hội gay, dù lúc tiên khởi tôi
nghĩ mình bắt đầu có một cuộc sống lệch lạc về lề thói, về nguyên tắc
trật tự trong xã hội. Nhưng chính các lệch lạc, cái trái cựa đó khơi dậy
cho tôi biết bao niềm lạc hoan mênh mông và nguồn cảm hứng cực kỳ phồn
thịnh. Tôi phải trải rộng cảm hứng đó lên giấy càng nhiều càng tốt. Tôi
yêu đời, yêu mọi người. Tôi chỉ mong có nhiều người đọc những gì tôi
viết. Nhưng tôi chưa dám viết trực tiếp cái xã hội gay. Nhưng ai cấm tôi
sáng tạo những người đàn bà đa tình phản ảnh nguyên vẹn cái tôi đã bao
lần xao xuyến tâm hồn và xác thân trước hình bóng những nam minh tinh
điện ảnh mà tôi ái mộ? Từ khi lao vào giới gay, tôi vui sống, sáng tác
thơ rất nhiều. Tiếc rằng khi bỏ xứ ra đi, tôi không mang theo được gì,
chỉ nhớ lõm bõm vài bài thơ nhục cảm để khi ra hải ngoại tôi thực hiện
thành thi tập Thiên Đường Tìm Lại.
Vào năm 1966, trước hết, tôi viết truyện ngắn, thơ, kế đó mới tập tành điểm sách, viết tạp ghi. Và sau hết, tôi viết các bài nhận định về kịch ảnh & tân nhạc. Tôi đã từng cộng tác với các tập san Bách Khoa, Tin Văn, Tiểu Thuyết Tuần San, Minh Tinh, Sinh Hoạt Nghệ Thuật, công tác với các nhật báo Tranh Thủ, Tiền Tuyến… Hứng thú đưa đẩy ngòi bút tôi chạy tốc hành trên xấp trang bản thảo khi tôi ngồi vào bàn viết. Nhưng tôi không dám viết cái tôi của mình là gay. Tôi dệt ra những cảnh giao hợp bỏng cháy, tôi nhập vai vào các nữ nhân vật, còn nam nhân vật tuy có tên Việt như Cảnh, Hạo Minh, Tường Ngọc, Huy Châu v.v…, nhưng tôi mường tượng qua các chàng kép có thân vóc cường tráng mỹ lệ.
Bao giờ cũng vậy, khi viết tiểu thuyết không bao giờ tôi dám giết
những nhân vật đẹp trai dù các đương sự cùng hung cực ác đi nữa. Tôi chỉ
dám giết những nhân vật già nua từ 80 tuổi trở lên (cho họ chết vì già
yếu chớ không dám cho họ chết vì bịnh hoạn). Lại nữa, các nhân vật đẹp
trai được tôi xe duyên chỉ thắm với những nữ nhân vật nếu không kiều
diễm thì cũng duyên dáng mặn mòi. Nếu các cô lỡ có chửa với người chồng
bô trai ngó hoài…vẫn thích ngó của họ, thì ở chương áp chót của quyển
tiểu thuyết, tôi cho họ xổ bầu đập chum để họ có cái eo thon đẹp, để họ
diện áo đẹp đi rước đèn, đi bát phố cùng chồng. Còn nam nhân vật đẹp
trai nếu rủi bị bịnh ung thư hay bị bịnh AIDS thì nếu không nhờ thuốc
men hiệu nghiệm thì cũng được Đức Thánh Đồng Trinh Maria của thành phố
Lourdes hay Đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ dùng phép lạ mà giúp họ
lành mạnh. Như vậy nữ độc giả sẽ an tâm khi xếp quyển sách cũa tôi lại.
Cô xem đó, khi con người được hạnh phúc, họ dễ có tấm lòng vị tha,
không đem giáo điều khe khắc ra buộc tội bất cứ ai. Trong các tác phẩm
của tôi hầu như không có kẻ ác. Thường là những kẻ có cái miệng dữ dằn,
ngáp ra khói, ói ra tro, ho ra sấm sét, nhưng lòng dạ các đương sự hiền
lành như bột sắn, bột khoai. Thường là các mụ đàn bà thuộc loại chằn ăn
trăn quấn, ưa ganh tị từ cái ngáp tiếng ho với bạn bè, ưa thèo lẻo trong
các cuộc ngồi lê đôi mách, nhưng khi đối thủ của mình gặp hoạn nạn
thường ra tay cứu giúp, an ủi, đãi cho kẻ cựu thù những món ăn ngon…
chết giấc luôn! Tôi ưa viết những chuyện vạch tật xấu đàn bà, nhưng độc
giả của tôi hầu như 75% là đàn bà. Vậy có nghĩa là văn chương tôi không
độc địa như siêu vi trùng gây bịnh AIDS, không giúp các nhân vật lao vào
những hành động ác ôn côn đồ thổ phỉ, không xô nạn nhân vào cảnh đoạn
trường.
LDV: Xã hội phong kiến của Việt Nam có ảnh hưởng một cách
tiêu cực đến cái nhìn về giới tính của nhà văn không, trong cuộc sống
cũng như trong quá trình viết lách?
HTA: Ở Việt Nam, chuyện đồng tính luyến ái vào thập niên 50, 60 không
được xem là trầm trọng. Dân mình cho rằng hễ ai mắc phải ‘‘cái tật’’
yêu người cùng phái tính, một khi được lấy vợ gả chồng thì ‘‘lành bệnh’’
ngay. Nhưng bên Âu Châu vào thời Trung Cổ, những ai có hành động quá
thân mật với người cùng phái tính thì bị lôi ra tòa án và Giáo hội
Gia-tô xen vào kết án thiêu sống các đương sự. Tôi không nhớ rõ năm nào
trong thập niên 90 của thế kỷ 20, Đức Giáo Hoàng Jean Paul II đã từng
xin lỗi mọi người trên thế giới về chuyện các Giáo Hội Gia-tô đã lên án
xử tử nhà bác học Galilée khi ông ta dám tuyên bố quả đất tròn. Ngài
cũng xin lỗi về vụ các tín đồ Gia-tô a tòng với bọn buôn người bắt dân
Phi Châu bán cho người da trắng làm nô lệ. Nhưng ngài vẫn không thèm xin
lỗi về vụ bọn tăng lữ Gia-tô ở Pháp và ở vài nước Âu Châu đã đem dân
gay thiêu sống vì họ cho rằng những người gay cũng như nhừng người phù
thủy là ác quỷ Sa-tăng cần phải bị tiêu diệt.
Trong quá trình viết lách, trước kia dám khai huỵch tẹt cái sở thích
yêu người cùng phái với mình chỉ có văn hào André Gide ở những quyển
nhật ký. Nhưng ở cuốn L’Immoraliste (Kẻ Vô Luân), ông ta chỉ nói mí mí thôi. Văn hào Thomas Mann với quyển Mort à Venise (Chết Tại Kinh Thành Venise). E.M Forster với cuốn Maurice thì viết hẳn hoi về cuộc tình thầm kín hay công khai của các nhân vật gay. Tuy nhiên E.M Forster viết cuốn Maurice
khi còn sống, nhưng không dám đăng báo hay xuất bản. Trên giường bịnh
chờ chết, ông dặn người nhà khi ôg ta qua đời thì mới cho xuất bản cuốn
di cảo ấy. Còn nữ sĩ Natalie Clifford Barney thì viết lách công khai
chuyện đàn bà đánh chập chõa với đàn bà. Cả nàng danh kỹ Liane de Pougy
dám viết cuộc tình của mình với Natalie Clifford Barney trong cuốn Idylle Saphique
của mình. Vậy mà các ông hoàng ở Âu Châu, các triệu phú, tỷ phú Hoa Kỳ
vẫn tình nguyện chết chung vào lỗ của nàng. Rồi khi nàng leo lên 40 tuổi
có ông hoàng Lỗ-ma-ní nhỏ hơn nàng 15 tuổi cưới nàng làm vợ, cuộc hôn
nhân kéo dài tới khi ông ta lìa đời. Lúc đó Liane xấp xỉ 70 tuổi rồi,
đành sống cô đơn tới lúc nhắm mắt theo chồng.
Về các nhà văn nhà thơ Việt Nam thì vào năm 1966, đã có Đỗ Quế Lâm viết cuốn ‘‘Vết Hằn Rướm Máu’’. Hai nghệ sĩ diễn ngâm thơ là Đoàn Yên Linh và Hồ Bảo Thanh sáng tác những vần thơ đẹp như gấm và dịu như nhung. Họ xưng mình là em, là nàng cô phụ gửi người tình không chân dung nào đó hoặc người tình có thật trong cuộc sống mà họ đã từng si mê. Tiếc thay cả hai không cho xuất bản các bài thơ đẹp kia thành thi tập, chỉ đăng báo lai rai. Đoàn Yên Linh, Hồ Bảo Thanh và tôi đều là bạn của cây sáo thần Thanh Hà. Nhưng Thanh Hà không phải là gay mà là kẻ thông cảm với bọn gay chúng tôi mà thôi. Tình bạn giữa Thanh Hà và tôi từ trong nước, trước 1975 vẫn kéo dài cho tới bây giờ.
Ra hải ngoại, người xung phong viết chuyện đồng quê Nam Kỳ và chuyện đồng tính luyến ái vẫn là H.T.A. Người thứ hai là Ngô Nguyên Dũng trong quyển trường thiên tiểu thuyết Đêm. Lại có thêm Tạ Thái, Nguyễn Thạch Đàn qua những tự truyện dưới hình thức truyện ngắn đăng trên báo Văn. Lại có thêm Lê Nghĩa Quang Tuấn, em trai của hai nhà văn nữ là Lê Thị Huệ và Lê thị Thấm Vân đã từng đi diễn thuyết đòi quyền sống và đòi chỗ đứng trong xã hội cho dân đồng tính luyến ái trong xã hội. Tuấn lại còn chủ trương tạp san dành cho gay và lesbian. Đó là tờ Đối Diện (Face To Face). Thi tập Ầu Ơ… của đương sự rất tuyệt vời về tư tưởng triết học và xen vào đó có những bài thơ nhục cảm chan hòa mộng đẹp, sinh lực, tinh khí, những tư duy rất nhân bản. Theo tôi, những cây viết ở vào cuối thế hệ thứ nhì và đầu thế hệ thứ ba ở hải ngoại, trong hàng ngũ gay thì có Ngô Nguyên Dũng bên Văn, còn Lê Nghĩa Quang Tuấn bên Thi Ca. Cả hai tài hoa rất mực. Còn bên ca nhạc ở hải ngoại thì cũng ít nhất 5 người. Nhưng mà thôi, tôi không tiện hài danh hà tánh các đương sự, cứ để họ tiếp tục hành nghề và giữ mãi mãi là thần tượng của các cô choai choai có hơn không!
LDV: Khung cảnh tự do của quê hương thứ hai đã đem lại
cho ông những thay đổi tích cực gì về khuynh hướng tính dục của mình và
của những người đồng tâm trạng chung quanh ông?
HTA: Tôi qua nước Pháp gặp lúc phong hóa đang biến chuyển tiến bộ.
Phim sex dành cho bọn gay có chiếu vài rạp ở Paris. Tạp chí dành cho gay
là Gaipied bán tràn ngập khắp thị trường sách ốc. Nhà trí thức
André Baudry lập câu lạc bộ Arcadie để làm diễn đàn cho dân gay. Chính
tại đây, Lucien Trọng đã đăng đàn diễn thuyết và mở cuộc triễn lãm tranh
sơn dầu của đuơng sự. Ngoài ra, vũ trường Scaramouche dành cho gay. Hơn
một chục phòng tắm hơi dành cho dân gay ở Paris. Các anh chàng gay vào
đó tha hồ khỏa thân hoặc quấn chiếc khăn bông ở hạ bộ. Tìm được kẻ vừa ý
là cả hai dắt nhau vào căn buồng nhỏ để làm tình. Nếu phòng bị chiếm
hết thì tìm chỗ nào hơi tối một chút để giao hoan, chẳng bị ai phá rối.
Nhưng rồi từ năm 1985, bịnh AIDS lan tràn, tôi không dám bén mảng tới bất kỳ chỗ hẹn hò nào, đừng nói chi là phòng tắm hơi. Vả lại, từ năm 1985, tôi bắt đầu phái phì: bụng to như có cái chảo gang hay cái thau nhôm úp lên, lại có cằm đôi như cái nọng heo và còn dến thêm miệng cá má lợn. Đi đâu, tôi cũng vác các bụng bự chang bang như cái bụng chửa sắp tới ngày xổ bầu thì chán quá! Làm diet, chạy jogging, cuốc bộ hàng chục cây số vẫn chỉ sụt bớt 5 kí lô là cùng. Rồi tôi bỏ cuộc vì tôi bị ba chứng bịnh nan y như tiểu đường, cholesterol, cao máu. Từ nằm 1985, người bạn lòng tôi và tôi dù ở chung dưới một mái nhà, ngủ chung một giường, nhưng chỉ là bạn thuần khiết mà thôi. Vào năm 2006, tôi nghe lời bác sĩ thân tín tập thể dục dành cho người già cả, tập thở một cách chăm chỉ theo phương pháp mà Thiền Sư Nhất Hạnh chỉ dạy, tôi gần như hết bịnh tiểu đường, dứt tuyệt chứng cholesterol, giảm bớt cao máu. Nhưng tôi vẫn phải uống thuốc đều đặn. Do đó mà tôi sụt cân. Thể dục làm cho bụng tôi thon, cằm đôi biến mất. Thở theo phương pháp Tọa Thiền làm cho da mặt tôi sáng hồng. Bụng tuy thon nhưng lại hơi nhão, mông không xệ nhưng không tròn. Cằm đôi tuy mất, nhưng cổ tôi nhăn nhúm như cái nhau con heo nái phơi khô. Ngực tôi tuy đầy đặn nhưng không căng phồng như cánh buồm lộng gió. Bọn trai tráng có cặp mông tròn trặn như trái dưa hấu bổ đôi, bụng chẻ ra làm sau miếng như sáu thẻ chocolate. Vì than ôi, tôi đã 70 tuổi rồi, làm sao có thân vóc rắn chắc và mỹ lệ như bọn đờn ông con trai từ 18 đến 45 tuổi? Lại nữa, tôi đâu còn khả năng tình dục nữa, cho nên tôi đành làm bạn với con Chung Vô Diệm (chim vô dụng) mà thôi.
Thật ra, tôi cũng chẳng buồn tiếc cái thời sống lăng loàn hạnh phúc
cũ. Nếu vào thuở trung niên tôi vẫn còn có sắc vóc ngoạn mục, biết đâu
tôi chơi bời thả cửa, giao hoan thả giàn với bọn gay, để rồi vướng bịnh
AIDS. Như vậy trong cái rủi vẫn có cái may, phải không nào? Rất nhiều
bạn bè tôi xin tôi chỉ họ phương pháp làm gầy, phương pháp làm cho da
mặt mịn màng sáng sủa. Tôi cứ tình thật mà ‘‘khai báo’’. nhưng họ làm
không có kết quả. Thiệt tình tôi không hiểu tại sao? Nhưng đẹp lão để
làm gì? Khi tôi mặc áo thun, quần jean thì thân vóc tôi vẫn là người đàn
ông tuổi ngũ tuần. Nhưng khi vào bãi khỏa thân ở tỉnh nhà thì đây là
thân vóc của một ông già, dù có ngực đầy, bụng thon và mông không xệ đi
nữa. Ở ngoài đời, da mặt tôi thật lý tưởng mà phụ nữ rất hâm mộ. Nhưng
khi tôi được chụp ảnh, khuôn mặt tôi vẫn là khuôn mặt ông già, dù da mặt
chỉ có vài nét nhăn mờ mờ ở chuôi mắt đi nữa. Cho nên tôi không thèm
nhuộm tóc làm gì. Tuổi của tôi hiện giờ có thể làm ông cố được rồi.
Khi qua Pháp, tôi đã 40 tuổi, hưởng thụ không bao lâu, nhưng tôi không
thối tiếc một chút cỏn con nào. Mừng là thấy phong hóa tiến bộ một cách
tích cực. Có nhiều nước cho phép cặp gay làm đám cưới với nhau. Tôi thấy
cái dó không cần cái đó. Nhưng thôi, ai cũng có hoàn cảnh riêng, sở
thích riêng, tâm trạng riêng; đừng bắt buộc người khác phải giống mình.
Bây giờ ở Gia-nã-đại và ở vài nước Âu Châu có lịnh phạt những kẻ nào dám
sỉ nhục những chàng gay trước đám đông. Kẻ sĩ nhục sẽ bị phạt nặng nếu
kẻ bị hạ nhục có tìm được nhân chứng. Đối với những nước văn minh tân
tiến, tội đó cũng ngang ngữa với tội kỳ thị chủng tộc. Tôi chỉ thương
xót các em các cháu gay gặp vấn nạn bịnh AIDS nên không được thoải mái
lúc bắt bồ với nhau. Họ không được tâm trạng thảnh thơi như tôi hồi 40
năm về trước khi làm tình với đối tượng của mình.Tôi tin rằng đa số
những kẻ gay cũng như tôi được hạnh phúc khi sống trong xã hội được nới
lỏng nguyên tắc và giáo điều, sống tràn ngập tin tưởng hơn. Có vậy Ngô
Nguyên Dũng sáng tác không hề nhàm mỏi. Có vậy Lê Nghĩa Quang Tuấn mãi
mãi là tấm gương can trường dám đứng đầu sóng ngọn gió. Tôi không hiểu
tại vì sao càng lớn tuổi, Dũng ưa bỏ chín làm mười bất cứ chuyện gì.
Dũng nhìn đời bằng cặp mắt bao dung. Có phải chăng hắn sống trong hạnh
phúc và sống với tâm trạng cởi mở nên mới được đức tánh ấy? Dũng yêu
thích văn nghệ sĩ giới sáng tác lẫn văn nghệ sĩ giới trình diễn nên
không cần lui tới thường xuyên các cuộc hẹn hò trong khi đương sự vẫn
còn là kẻ trung niên tuấn tú, có thể bắt bồ vơi bọn gay Đức dễ ợt. Càng
lớn tuổi đương sự chuộng tâm linh nghiên cứu Phật Giáo. Còn riêng tôi,
trong mùa thu cuộc đời, tôi vẫn nghiên cứu thêm Kinh Đại Thừa như hồi
còn ở quê nhà, sưu tầm sách vở, các hình ảnh các minh tinh điện ảnh và
ca sĩ ngoại quốc. Bắt đầu chớm xuân, tôi trồng hoa ở bao lơn. Trong nhà
tôi bày những chậu cây cảnh những món ngoạn hảo (bibelots) và tranh ảnh.
Tôi không có thời giờ để phiền muộn. Hễ khi cái đầu nóng rực vì viết
lách hơi nhiều, tôi dừng bút lại, lo săn sóc lau chùi nhà cửa, nấu nướng
một món ăn hợp khẩu vị. Đôi khi tôi điện đàm với các bà bạn vốn là độc
giả của tôi để học hỏi cách thức làm những món ăn phổ thông hay những
món ăn đặc biệt sao cho hợp khẩu vị.
Lũ bạn gay của tôi sinh sống ở Paris thường hỏi tôi suốt gần 30 năm
nhà bác tuyệt tích giang hồ. Vậy mà nhà bác chịu đựng được? Có phải
chăng ở Troyes có phòng tắm hơi dành cho bọn gay? Hay có những chỗ hẹn
hò nào khác? Làm sao tôi nói cho lũ bạn tin rằng tôi đã sống đã tạm đầy
đủ rồi. Bây giờ ôn lại ‘‘thời tung hoành’’ cũng chỉ vun quén phong vị
cho văn chương và cho tuổi hoàng hôn, đừng quay lại thời dĩ vãng xa lắc
xa lơ nữa. Tôi còn nhớ một câu nói của đại kịch sĩ Pháp là Jean Louis
Barrault : ‘‘Ở chỗ huy hoàng ánh sáng, hay trong xó kẹt tối tăm, đâu đâu
cũng có hồng ân của Thượng Đế’.’
LDV: Văn của Hồ Trường An đầy chi tiết, sống
động và tràn ngập nhiều nhân vật nữ với tạo hình thật rõ nét. Định hình
giới tính của một nhà văn giữ tầm ảnh hưởng như thế nào đến giọng văn,
chủ đề, và thông điệp gởi gấm?
HTA: Văn chương tôi có nhiều chi tiết sống động? Có thể lắm chớ? Tôi
viết theo cảm hứng, có nhiều khi rất máy móc, không cần suy nghĩ cho
nhuần nhuyện trước khi viết. Thường thường bọn gay chúng tôi thích trào
lộng và có óc quan sát mãnh liệt. Do đó tôi tìm những nhân vật độc đáo,
xem cách sống, cách suy nghĩ và cách ăn nói của họ. Ai chê hạng người
ngồi lê đôi mách là hạng người mất nhân phẩm. Sức mấy mà tôi suy nghĩ
như vậy. Các cuộc ngồi lê đôi mách giúp tôi khám phá và tìm hiểu các
nhân vật độc đáo, những nhân vật có cá tính mạnh.
Tôi nhớ, hồi xa xưa, tôi ở chung với chị Thụy Vũ. Hôm đó, Tô Thùy Yên và chị nằm trên gác. Cô tớ gái của chị đang lục đục dưới bếp. Tôi và lũ bạn kéo về, quây quần bêm mâm gải khát, bắt đầu kể chuyện ngồi lê đôi mách pha trộn chuyện tiếu lâm. Bọn tôi không hay trên gác có người nên chúng tôi tha hồ mà xả máy đía dóc. Khi câu chuyện bắt đầu rời rạc dần thì chị tôi bước xuống, cười ngất: Nãy giờ tao với ông Tiên (chỉ TTY) nằm ngủ trên gác. Nghe bọn bây đấu hót bừa bãi mà cả hai cười muốn bể bụng, muốn tróc mỡ sa ra. Tao lại mắc tiểu. Nhưng ông Tiên cản tao lại để có thể tiếp nghe câu chuyện tụi bây. Trời ơi, tao nín đái, bọng đái căng phồng muốn bể như cái pháo chuột đây nè. Mấy tên này nên tìm gánh hát gia nhập làm hề là phải hơn.
LDV: Thế kỷ gần đây rất nhiều văn nghệ sỹ nổi tiếng trên
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những hành động công khai
và cởi mở hơn về khuynh hướng tính dục của họ và điều này đã khuyến
khích sự đồng thuận và cái nhìn thấu hiểu ngày một khoan dung của xã hội
về khuynh hướng đồng tính. Theo ông, những người nắm giữ sự ái mộ đặc
biệt của công chúng có trách nhiệm hướng dẫn dư luận vào lối suy nghĩ
bình đẳng hơn trong những nan đề xã hội không?
HTA: Tôi ra hải ngoại vào năm 1977. Tôi có đọc được vài quyển hồi ký
cũa các cây bút gay như hồi ký của kịch tác gia Tennessee Williams, hồi
ký của Gore Vidal, hồi ký đại minh tinh điện ảnh Pháp là Jean Marais mà
tôi còn nhớ cái tựa là Histoire de Ma Vie (Lịch Sử Đời Tôi).
Ngoài ra, nhà văn Renaud Camus và nhà văn Tony Duvert có cho xuất bản
quyển nhật ký của mình công khai bày tỏ những mối tình và những cuộc
liên hệ xác thịt của mình với kẻ đồng phái tính. Còn nhà văn Pháp
Dominique Fernandez qua cuốn L’Étoile Rose (Ngôi Sao Hường) cũng không giấu giếm khuynh hướng đồng tính dục của mình. Quyển L’Étoile Rose
đã làm cho hàng triệu độc giả Pháp và độc giả các nước nói tiếng Pháp
cảm thương cho dân gay bị bọn Đức Quốc Xã giam trong những trại trừng
giới, bị xâm ngôi sao hường trên trán, bị đọa đày dã man. Lại nữa, tôi
có đọc cuốn hồi ký của nhà văn nữ lừng danh xứ Pháp là Françoise Sagan.
Tôi rất cảm phục bà ta ở chỗ dám chia sẻ cảm thông với tâm sự các nghệ
sĩ gay. Bà ta viết về kịch tác gia kiêm văn gia Tennessee Williams kết
bạn với nữ sĩ Carson Mc Cullers. Ông chồng bà Carson Mc Cullers tự tử vì
khám phá ra mình là gay. Bà ta xuống tinh thần, bị suy nhược thần kinh.
Ông Tennessee Williams và anh chàng tình nhân ông ta săn sóc bà. Rồi
ông ta đưa bà ta sang Ý viếng thăm nữ tài tử Anna Magnani. Tại đây ngôi
sao điện ảnh hàng đầu nước Ý này cùng anh tình nhân trẻ tuổi của mình
săn sóc người nữ văn gia bất hạnh kia. Tình bạn giữa Tennessee Williams
và Anna Magnani cũng rất gắn bó keo sơn. Nhờ cuốn phim Le Rose Tatouée
phỏng theo vở kịch cùng tựa của Tennessee William mà Anna Magnani đoạt
giải Oscar một cánh vinh quang. Từ đó, cả hai thân thiết nhau. Lại nữa,
cô Vân chắc cũng biết qua nữ minh tinh Hoa Kỳ Elizabeth Taylor có 3
người bạn gay thân thiết đã từng đóng phim chung với cô ta là
Montgomerry Clft, Rock Hudson, Roddy Mac Dowall. Cô ta giúp do họ vật
chất lẫn tinh thần. Khi Rock Hudson chết vì bịnh AIDS, Liz Talor lập ra
hội giúp đỡ dân bị séro-positif lẫn dân bắt đầu vào thời kỳ bịnh AIDS
bắt đầu phát tác trên hoàn vũ.
Theo tôi, những nhà nghệ sĩ thuộc giới sáng tác bất kỳ trên xứ sở nào
cũng không cần phải e ngại kẻ thưởng ngoạn giảm sút sự ái mộ của mình
khi những kẻ dó biết họ là gay. Các nhà văn lừng danh trên thế giới như
André Gide, François Mauriac, Jean Cocteau, Gore Vidal… vẫn được độc giả
ủng hộ và ái mộ như thường. Bên sáng tác nhạc có Tchaikowski, bên hội
họa có Michel Ange, Léonard de Vinci tới nay văn phẩm, nhạc phẩm lẫn họa
phẩm của họ vẫn được hậu thế truyền tụng.
Những kẻ được quần chúng ái mộ nên đóng góp vào công việc đập tan
thành kiến tiêu cực về vụ đồng tính luyến ái, giúp họ sống tự nhiên theo
căn tính, theo khuynh hướng luyến ái và sở thích tình dục của họ. Rúng
ép, cưỡng bách họ theo bản tính và sự ưa thích của mình tức là làm trái
với cái ĐỨC theo quan niệm của Lão Tử, tức là sống theo bãn tính tự
nhiên của mình. O ép họ hoặc khiên cưỡng họ sống theo người yêu kẻ khác
phái tính là một điều trái tự nhiên, phản khoa học, lại còn độc ác bất
nhân. Françoise Sagan, Mae West, Liz Taylor là những người biết sống vì
biết thông cảm những kẻ muốn sống tự nhiên theo bản tính nhưng lại bị xã
hội đầy những kẻ đầu óc hẹp hòi nguyền rủa, lên án và ngăn cấm.
LDV: Chúng ta đã làm được gì và cần làm thêm những gì để đẩy lùi những sự phân chia kỳ thị giới tính?
HTA: Chỉ cầu mong cho mọi người hiểu rằng đồng tính luyến ái là cái
sở thích bẩm sinh, chứ không phải là cái căn bịnh do xã hội tạo ra. Có
kẻ bảo rằng người đồng tính luyến ái là do trong người đương sự có những
cái gènes (mầm mống) tạo cho đương sự cái khuynh hướng yêu người đồng
phái. Dù tôi không nắm vững vấn đề nầy, nhưng tôi không bao giờ để cho
Ông Trời hay nhà khoa học hay nhà tâm ly học hoặc nhà phân tâm học nào
chữa trị tôi trở thành người đàn ông bình thường. Tôi rất hạnh phúc được
làm chàng gay.
Để đẩy lùi sự phân chia giới tính, người đồng tính luyến ái phải tỏ
ra có tư cách. Trước hết đừng ve vãn cọ quẹt với những người không phải
là gay như mình. Đừng tỏ ra âu yếm quá lố với người tình của mình trước
công chúng hoặc làm trò õng ẹo nữ tính. Có vậy các nhà soạn kịch, các
nhà viết kịch bản không viết tuồng hát hay viết truyện phim phơi bày cái
lố lăng của bọn gay ra. Như thế, bọn gay chúng tôi mới tránh khỏi bị họ
vẽ vời qua những đường nét biếm họa lố lăng. Phải sống như người bình
thường. Đừng mặc cảm, có vậy mới hóa giải đươc một phần lớn sự phân chia
gới tính của kẻ dị tính luyến ái. Còn những người dị tính luyến ái nào
vốn thiếu tấm lòng thông cảm bao dung phải tìm hiểu vì sao thời buổi này
vấn đề đồng tính luyến ái được một vài nước nới lỏng, không bị ngăn cấm
gắt gao. Đó có phải là cái kết quả tích cực của biết bao công việc
nghiên cứu của các nhà tâm lý học, nhà phân tâm học, nhà xã hội học, nhà
nhân chủng học, nhà sinh lý học, nhà tình dục học v.v… Dần dần họ mới
khám phá cái bí nhiệm của kẻ đồng tính luyến ái và đi đến kết luận tích
cực như sau: đồng tính luyến ái không phải là cái bệnh, cũng không phải
là tật xấu mà là một trạng thái tâm lý học lẫn sinh lý học như bao nhiêu
trạng thái muôn màu muôn vẻ của con người sống trên trái đất này.
LDV: Ông có tin vào tầm ảnh hưởng lớn của văn chương
không? Ông có tin nó có thể giúp chúng ta xóa bỏ những ranh giới khác
biệt giữa người và người không?
HTA: Có chứ cô Vân. Hồi 2 thập niên 30 và 40, văn hào André Gide dám phô bày cái đồng tính luyến ái của mình qua nhiều văn phẩm có giá trị nghệ thuật nên một thiểu số dân Pháp chẳng những không buộc tội bọn gay mà còn đặt lại vấn đề để tìm hiển dân gay sâu xa hơn. Tôi còn nhớ khi nhà đạo diễn James Ivory thực hiện cuốn phim Maurice phóng tác theo tác phẩm cùng tựa của E.M. Forster, khán giả Pháp đến xem chật rạp. Đa số dều chia sẻ tâm sự chàng Maurice do James Wilby đóng. Vào năm 2005, khi cuốn phim Le Secret de Brokeback Mountain của Ang Lee tung ra cũng được giới thưởng ngoạn ủng hộ nồng nhiệt. Đọc những quyển sách của ông André Gide, của ông Robert Peyrefitte (chẳng hạn như quyển Les Amitiés Particulièrs/Tình Bạn Kỳ Đặc) hoặc xem những cuốn phim mà tôi vừa kể thì kẻ thưởng ngoạn phải suy nghĩ và đặt lại vấn đề kỳ thị dân gay chứ! Nên tôi mãi tin, văn chương có tầm ảnh hưởng đáng kể.
LDV: Với tư cách là một nhà văn và một người trong cuộc,
ông có những lời khuyên nào cho những ai vẫn còn chưa tìm được sự bình
an trong tâm hồn về định hình giới tính của riêng họ?
HTA: Mình hạnh phúc hay không là do chính mình. Mình phải thành thật
với chính mình, phải xem xét hoài bão và nguyện vọng của mình để tìm một
lối sống riêng biệt cho mình với điều kiện mình không làm mất lòng ai,
không dẫm chân và phóng uế vào đời tư kẻ khác. Mình phải chủ trương đời
mình miễn sao đừng làm hại kẻ khác. Tôi xin nhấn mạnh những gì tôi đã
phô bày, cạn tỏ mình nên sống bằng cuộc đời của mình, đừng sống bằng đời
của kẻ khác. Đó là sống theo cái ĐỨC. Sống bằng đời kẻ khác, hoặc sống
tuân theo luật lệ xã hội một cách khít khao mà không để một khe hở nhỏ
nhoi cho ánh nắng tượng trưng cho sự tự do, cho sự quyền biến, cho sự
cảm thông lọt vào thì cuộc sống của mình trở nên lệch lạc nếu không bảo
là què quặt tật nguyền.
LDV: Xin trân trọng cảm tạ nhà văn Hồ Trường An đã dành
cho độc giả những tâm sự hết sức cá nhân và lòng chân thật đáng quý
trong cuộc nói chuyện này.
*Ảnh trên: nhà văn HTA vào năm 1991. Ảnh dưới – nhà văn HTA vào năm 2008.
Chuyện Chúng Mình Với Nhạc Sĩ Phạm Mạnh Đạt
Chuyện Chúng Mình Với Nhạc Sĩ Phạm Mạnh Đạt
Tỳ Bà Hành
Louis Tuấn Lê
Nhân lúc thực hiện Video Mạn Đàm Tỳ Bà Hành (琵琶行), tôi đọc qua tác phẩm Tỳ Bà Hành và Tiểu sử Bạch Cư Dị. Quả thật đại thi hào Bạch Cư dị là một thiên tài, mà thời bấy giờ gọi ông là (Thi Tiên) ông cùng đứng tên trong Tam Đại Thi Hào của Trung Hoa, gồm có: Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Bản dịch hay nhất của Phan Huy Thực đã ghi dấu nền văn học và ngôn ngữ Việt thật phong phú.
Một chút phân tich về chữ nghĩa Mở đầu chúng ta thấy Bạch Cư Dị trong nguyên bản ông đã viết:
Tầm Dương giang đầu dạ tống khách.
Nghe không buồn, không vắng vẻ, không mông lung bằng Dịch giả Phan Huy Thực viết “Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách“. Chữ dạ có nghĩa là đêm không gợi ý bằng chữ Canh Khuya. Tài năng của dịch giả Phan Huy Thực cộng với tinh thần của tiếng Việt nghe vẫn hay hơn.
Đọc câu thơ thứ hai theo nguyên bản: “Phong diệp địch hoa thu sắt sắt“. Phan Huy Thực dịch “Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu” thì câu thơ dịch của họ Phan, làm rung động lòng người, nhờ những chữ “lau lách đìu hiu”, cả chữ quạnh, chữ hơi nữa, chúng ta thấy chữ “lau lách” buồn hơn chữ địch hoa; hơi thu, đìu hiu gợi cảm hơn là “thu sắt sắt”. Tinh thần của chữ Việt tuyệt vời ở chỗ đó.
Tôi cũng thử dịch 8 câu đầu trong bài Tỳ Bà Hành, tôi dịch theo ngôn ngữ của thời hiện tại.
A
virus called Wuhan-400 makes people terribly ill … in a Dean Koontz
thriller from 1981. How is it that some books appear to prophesy events?
“The Eyes of Darkness” features a Chinese military lab in Wuhan that creates a virus as a bioweapon; civilians soon become sick after accidentally contracting it
In fact, the one lab in China able to handle the deadliest viruses is in Wuhan and helped sequence the novel coronavirus the world is currently battling
Kate Whitehead
In bestselling suspense author Dean Koontz’s 1981 thriller The Eyes of Darkness, a virus to be used as a biological weapon is developed in Wuhan, China, but humans end up contracting it.
The Eyes of Darkness,
a 1981 thriller by bestselling suspense author Dean Koontz, tells of a
Chinese military lab that creates a virus as part of its biological
weapons programme. The lab is located in Wuhan, which lends the virus
its name, Wuhan-400. A chilling literary coincidence or a case of writer
as unwitting prophet?
In The Eyes of Darkness,
a grieving mother, Christina Evans, sets out to discover whether her
son Danny died on a camping trip or if – as suspicious messages suggest –
he is still alive. She eventually tracks him down to a military
facility where he is being held after being accidentally contaminated
with man-made microorganisms created at the research centre in Wuhan.
If
that made the hair on the back of your neck stand up, read this passage
from the book: “It was around that time that a Chinese scientist named
Li Chen moved to the United States while carrying a floppy disk of data
from China’s most important and dangerous new biological weapon of the
past decade. They call it Wuhan-400 because it was developed in their
RDNA laboratory just outside the city of Wuhan.”In
another strange coincidence, the Wuhan Institute of Virology, which
houses China’s only level four biosafety laboratory, the highest-level
classification of labs that study the deadliest viruses, is just 32km
from the epicentre of the current coronavirus outbreak. The opening of the maximum-security lab was covered in a 2017 story in the journal Nature, which warned of safety risks in a culture where hierarchy trumps an open culture.
Koontz has written more than 80 novels and 74 works of short fiction. Photo: Douglas Sonders
Fringe
conspiracy theories that the coronavirus involved in the current
outbreak appears to be man-made and likely escaped from the Wuhan
virology lab have been circulated, but have been widely debunked. In
fact the lab was one of the first to sequence the coronavirus.
In
Koontz’s thriller, the virus is considered the “perfect weapon” because
it only affects humans and, since it cannot survive outside the human
body for longer than a minute, it does not demand expensive
decontamination once a population is wiped out, allowing the victors to
roll in and claim a conquered territory.
It’s no exaggeration to call Koontz a prolific writer. His first book, Star Quest,
was published in 1968 and he has been churning out suspense fiction at a
phenomenal rate since with more than 80 novels and 74 works of short
fiction under his belt. The 74-year-old, a devout Catholic, lives in
California with his wife. But what are the odds of him so closely
predicting the future?Post Magazine NewsletterGet updates direct to your inboxBy registering, you agree to our T&C and Privacy Policy
Albert
Wan, who runs the Bleak House Books store in San Po Kong, says Wuhan
has historically been the site of numerous scientific research
facilities, including ones dealing with microbiology and virology.
“Smart, savvy writers like Koontz would have known all this and used
this bit of factual information to craft a story that is both convincing
and unsettling. Hence the Wuhan-400,” says Wan.
British
writer Paul French, who specialises in books about China, says many of
the elements around viruses in China relate back to the second world
war, which may have been a factor in Koontz’s thinking.
The Eyes of Darkness, by Koontz.
“The
Japanese definitely did do chemical weapons research in China, which we
mostly associate with Unit 731 in Harbin and northern China. But they
also stored chemical weapons in Wuhan – which Japan admitted,” says
French.
Publisher
Pete Spurrier, who runs Hong Kong publishing house Blacksmith Books,
muses that for a fiction writer mapping out a thriller about a virus
outbreak set in China, Wuhan is a good choice.
“It’s
on the Yangtze River that goes east-west; it’s on the high-speed rail
that goes north-south; it’s right at the crossroads of transport
networks in the centre of the country. Where better to start a fictional
epidemic, or indeed a real one?” says Spurrier. (Spurrier works
part-time as a subeditor for the Post.)
Albert Wan runs the Bleak House Books store in San Po Kong, Hong Kong.
Hong Kong crime author Chan Ho-kei believes that this kind of “fiction-prophecy” is not uncommon.
“If
you look really hard, I bet you can spot prophecies for almost all
events. It makes me think about the ‘infinite monkey’ theorem,” he says,
referring to the theory that a monkey hitting keys at random on a
typewriter keyboard for an infinite amount of time will almost surely
type any given text.
“The probability is low, but not impossible.”
British writer Paul French.
Chan points to the 1898 novella Futility,
which told the story of a huge ocean liner that sank in the North
Atlantic after striking an iceberg. Many uncanny similarities were noted
between the fictional ship – called Titan – and the real-life passenger
ship RMS Titanic, which sank 14 years later. Following the sinking of
the Titanic, the book was reissued with some changes, particularly in
the ship’s gross tonnage.
“Fiction
writers always try to imagine what the reality would be, so it’s very
likely to write something like a prediction. Of course, it’s bizarre
when the details collide, but I think it’s just a matter of
mathematics,” says Chan.
Many of Koontz’s books have been adapted for television or the big screen, but The Eyes of Darkness
never achieved such glory. This bizarre coincidence will thrust it into
the spotlight and may see sales of this otherwise forgotten thriller
jump.
Hong Kong crime author Chan Ho-kei.
Amazon is currently offering it on Kindle for just US$1. Perhaps, like Futility, it will also be reissued with some updates to make it really echo the current outbreak.
Người Việt mua sắm đón Tết Canh Tý ở San Jose (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Châu Á năm nay đón tết chẳng vui gì vì
Trung Quốc đang trải qua một mùa xuân kinh hoàng, nhất là cho dân thành
phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc. Nỗi kinh hoàng lan toả ra cả nước trong ngày
tết linh thiêng của một dân tộc thì mới chỉ có người dân Việt Nam Cộng
hoà kinh qua cách đây 52 năm, Tết Mậu Thân.
Tết Canh Tý có “Cô Vi” xông đất, chẳng
mang lại hương hoa tốt lành mà gây bao sợ hãi. Cô tới từ đâu thì chưa rõ
lắm, từ chợ hải sản thú vật nhếch nhác bẩn thỉu hay từ phòng thí
nghiệm, hay dửng dưng từ trời cô xuống cõi trần hù thiên hạ một phen?
Thành phố Vũ Hán với hơn chục triệu dân
được cô xông đất đầu tiên khiến nơi đây phải bế quan toả cảng. Ngày đầu
năm âm lịch đường phố như bãi tha ma, im lìm vắng lặng.
Từ cái rốn của thế giới, Cô Vi lan toả,
gieo rắc lo lắng khắp nơi: Việt, Hàn, Úc, Phi, Đài, Anh, Nhật, Mỹ, Thái
và hai chục quốc gia khác. Ghé nơi nào cô làm giao động dân tình nơi đó.
Nhưng làm sao không cho cô ghé bây giờ? Đóng biên giới hay đeo khẩu
trang, đóng cửa trường hay đi di tản?
Bên châu Á, chỗ nào có bóng dáng cô là
thiên hạ lo bịt miệng, bịt mũi. Ở Hong Kong, Trung Quốc ra đường như lạc
vào hành tinh khác vì chỉ thấy những khuôn mặt bịt kín chừa đôi mắt. Mà
không biết khẩu trang, dù có hiện đại đến mấy, có ngăn chặn được cô hay
không. Dù chẳng ngăn cô được nhưng người châu Á cũng ùn ùn tìm mua khẩu
trang đến độ không còn mảnh nào. Ngay cả nhiều nơi ở California cũng
không còn hàng để bán. Con buôn đã thu mua hết để gửi về Trung Quốc hay
sao? Hơn một tỉ người mà dùng hàng nào thì hàng đó có giá ngay.
Buôn bán làm ăn với Trung Quốc là có lời
ngay trước mắt nên đã từng nghe nói: “Chỉ cần mỗi ngày một người Trung
Quốc uống một lon Coca Cola thôi là đủ giúp cho nền kinh tế Mỹ rồi”.
Ngược lại từ hơn hai chục năm qua người
Hoa đã bị tư bản bóc lột, làm gia công cho thiên hạ tiêu dùng hàng giá
rẻ. Toàn cầu hoá là thế. Xã hội chủ nghĩa cũng phải đầu hàng, không còn
giương cao ngọn cờ kêu gọi công nhân vùng lên chống tư bản bóc lột.
Nhưng bây giờ hơn một tỉ người đang lo sợ
Cô Vi và nếu không thể tiếp tục làm gia công thì kinh tế Trung Quốc sụp
trước, kéo theo Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc sụp theo.
Sinh hoạt đón Tết Canh Tý của người Việt ở miền bắc California (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Một gia đình người Việt xem Super Bowl và đón Tết Canh Tý hôm Chủ Nhật 2/2/2020 (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Cô Vi mà hôn mắt, hôn môi ai là người đó
ho, sốt rồi khó thở và có thể tắt thở luôn. Ở Trung Quốc đã có ba vạn
người được hôn nhẹ và hơn 600 người đã chết vì cô. Đó là con số nhà nước
đưa ra, còn theo giới chức y tế quốc tế thì có thể cao hơn nhiều.
Cô Vi lang thang khắp Trung Quốc, rồi bay
ra nước ngoài nên Tết Ta hải ngoại năm nay không đông vui như những năm
trước. China town ở San Francisco, ở Oakland vắng vẻ. Diễn hành đón tết
của người Hoa ở San Francisco vào tối thứ Bảy 8/2 này chắc sẽ rất thưa.
Nhìn chung vì thói quen ăn uống các thứ động vật và khạc nhổ bừa bãi
trong nếp sống của người Hoa lục địa làm nhiều người e ngại, nhất là vào
những lúc có các bệnh truyền nhiễm.
Cô Vi đã thăm xứ Cờ Hoa, đi theo những
người mới ghé qua quê hương của Bác Tập. Nước Mỹ có thành phố Seattle,
tiểu bang Washington là trạm dừng đầu tiên của cô sau khi vượt Thái Bình
Dương. Rồi cô qua Arizona, California, Illinois, Massachusetts và
Wisconsin. Mỗi nơi cô thăm một bạn, Arizona cô thăm hai.
Cô có nhiều bạn ở California và đã thăm
sáu người. Cô thăm ai người đó bị cách ly khỏi gia đình và bạn bè, chỉ
còn được làm quen, tâm sự với bác sĩ, y tá trông như những phi hành gia
đến từ hành tinh khác. Sáu bạn ở California có bốn người từ thung lũng
hoa vàng miền Bắc California, hai bạn khác từ vùng Los Angeles và Little
Saigon Quận Cam.
Tổng thống Donald Trump, “bạn” của Chủ
tịch Tập Cận Bình, nhưng cũng sợ Cô Vi nên cấm người nước ngoài vào Mỹ
nếu đã du lịch Trung Quốc trong những ngày qua. Công dân Mỹ hay thường
trú nhân mà thăm Trung Quốc gần đây, trở lại Mỹ sẽ bị kiểm dịch và được
yêu cầu tự cách li hai tuần lễ. Nhiều cơ quan, công ti, trường học cũng
đã thi hành chính sách này.
Hình như Cô Vi không có bạn Việt tại Mỹ
nên dân tình Mít trong ngày đầu năm không xôn xao, lo lắng. Diễn hành,
hội chợ ở Little Saigon Quận Cam vẫn đông vui. Trên Thung lũng Hoa vàng
cũng thế, vẫn thi hoa hậu, vẫn rong chơi hội chợ. Đêm giao thừa và ba
ngày tết pháo vẫn nổ rền vang trừ tà. Chùa chiền, nhà thờ đông thiện nam
tín nữ đền cầu nguyện, xin xâm, hái lộc.
Mồng Chín Tết San Jose vẫn còn hội xuân
ngoài bãi đậu xe trong khu thương mại Eastridge, tuy ít khách du xuân,
không phải vì không muốn gặp Cô Vi mà là vì trùng ngày với Super Bowl
của Mỹ, có đội 49ERS của San Francisco vào chung kết với đội Chiefs của
Kansas City từ tiểu bang miền quê Missouri.
Xa lộ cũng vắng xe không phải muốn tránh
Cô Vi. Giờ đó nhiều người ở nhà, hay vào quán rượu xem trận vô địch bóng
cà-na lần thứ 54 của nước Mỹ. Nhiều người Việt đã hoà mình vào nếp sống
Mỹ nên dăm ba gia đình, bạn bè tụ họp nhau vừa ăn tết vừa xem đấu bóng
và hồi hộp theo dõi từng đường banh.
Mới ra sân được vài phút, Chiefs đã gác
49ERS ba điểm đầu tiên, 3-0, làm nhiều ủng hộ viên thất vọng, trong đó
có tôi, từng yêu đội nhà suốt 40 năm qua. Rồi 49ERS lấy lại phong độ,
đến cuối hiệp hai gác Chiefs 20-10.
Giờ giải lao, mọi người hào hứng chờ đợi
màn biểu diễn của J. Lo, cô ca sĩ gốc Mỹ Latinh Jennifer Lopez. Âm nhạc,
giọng hát và cách biểu diễn của cô cùng với kỹ thuật âm thanh, ánh sáng
đã cho khán giả mười lăm phút giải trí thật tuyệt vời.
Một thăm dò trên toàn nước Mỹ hỏi ý kiến
khán giả sẽ theo dõi Super Bowl 54th họ mong đợi gì. Dân California mong
49ERS thắng. Missouri mong Chiefs thắng. Còn lại 50 tiểu bang khác chỉ
lo J. Lo… rớt áo ngực.
Hai hiệp sau đội nhà chơi quá tệ. Kết quả
thảm bại với Chiefs thắng 31-20, làm tiêu tan hy vọng có diễn hành chiến
thắng trên đường phố San Francisco vào ngày thứ Tư 5/2.
Thế là hết một tuần vui với tết Việt, với thể thao Mỹ. Ngày mai trở lại đi cày tiếp.
Sinh hoạt gây quỹ cho trường học ở vùng Vịnh San Francisco tối 1/2/2020 (Ảnh: Bùi Văn Phú)
Sau mỗi trận đấu vô địch lại có ý kiến đề
nghị công bố ngày thứ Hai sau Super Bowl là ngày nghỉ toàn quốc, vì mỗi
năm có vài triệu người không vào làm việc trong ngày thứ Hai vì cần nghỉ
ngơi cho lại sức. Trận chung kết cả nước có hàng trăm triệu người xem,
ăn nhậu vui chơi mà ngày mai phải đi làm thì oải quá. Cũng có đề nghị
chuyển trận đấu sang ngày thứ Bảy, nhưng đến nay vẫn không có thay đổi
sau hơn nửa thế kỷ với truyền thống này.
Giống Việt Nam mấy năm gần đây có bàn việc
chuyển ngày đón tết ta sang cùng ngày tết tây. Nguyên do vì không còn
phù hợp với nền kinh tế hiện tại, vì muốn tách khỏi ảnh hưởng của văn
hoá Trung Hoa, vì ăn tết ta nghỉ quá nhiều làm lãng phí thời gian làm
việc cũng như tiền bạc.
Là một người Mỹ gốc Việt tôi thấy không
nên đổi ngày mừng đón tết ta vì mỗi năm gia đình, bạn bè xum họp đón tết
cùng xem thể thao Mỹ là nét giao thoa đẹp giữa hai nền văn hoá.
Tết đã hết. Super Bowl cũng đã sang mùa.
Đời sống bình thường trở lại. Nhưng nhiều gia đình Việt đang lo vì thân
nhân về quê ăn tết sắp qua lại, không biết có mang theo Cô Vi hay gặp
trở ngại gì khi đến sân bay Mỹ.
Đã gần một tháng từ khi bệnh dịch được
công bố, thành phố Vũ Hán vẫn bị bỏ hoang. Một bác sĩ trẻ tuổi lên tiếng
cảnh báo từ sớm về nguy cơ của loại siêu vi mới, bị công an khiển trách
vì cho là đưa tin thất thiệt, vừa qua đời ở Vũ Hán. Hàng trăm công dân
Mỹ đã được di tản về hai căn cứ không quân ở California, bị cách ly gia
đình hai tuần.
Cô Vi mới phất phơ vài nơi trên đất Mỹ.
Mọi sinh hoạt vẫn bình thường như mỗi năm có dịch cúm. Giới chức y tế
nói không có gì phải lo, chẳng phải đeo khẩu trang, chỉ nhớ nguyên tắc
giữ vệ sinh cá nhân là đừng đưa tay dụi mắt, mũi và cần rửa tay thường
xuyên là tránh được lây nhiễm Cô Vi hay cúm đang có vào mùa đông lạnh
giá.
Tết Canh Tý với Cô Vi (nCoV – corona
virus) thật là một cái tết khó quên cho nhiều người, nhiều gia đình ở
nhiều nơi trên thế giới.
Cô Vi và Tết Canh Tý * Cô
Vi mới phất phơ vài nơi trên đất Mỹ. Mọi sinh hoạt vẫn bình thường như
mỗi năm có dịch cúm. Giới chức y tế nói không có gì phải lo, chẳng phải
đeo khẩu trang, chỉ nhớ nguyên tắc giữ vệ sinh cá nhân là đừng đưa tay
dụi mắt, mũi và cần rửa tay thường xuyên là tránh được lây nhiễm Cô Vi
hay cúm đang có vào mùa đông lạnh giá.
Bài Thơ CHI LẠ RỨA
Bài Thơ CHI LẠ RỨA
Nguyễn Thị Hoàng
Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc, Ngó chi tui đồ cỏ mọn, hoa hèn. Nhìn chi tui hình đom đóm đêm đen, Cho tui tủi bên ni bờ cô tịch.
Tui ao ước có bao giờ tuyệt đích,
Tui van xin răng mà cứ làm ngơ.
Rồi ngó tui, chi lạ rứa hững hờ,
Ghét, yêu, mến, vô duyên và trơ trẽn!
Tui đã tắt nỗi ngại ngùng bẽn lẽn,
Bởi vì răng, ai biết được người hè.
Nhưng màu chiều đã rũ bóng lê thê,
Ni với nớ, có chi mô gần gũi!
Chi lạ rứa, răng cứ làm tui tủi?
Tàn nhẫn chi với một đứa thương đau!
Khối tình câm nên không sắc, không màu,
Và vạn thuở chẳng nên câu luyến ái!
Chi lạ rứa, người cứ làm tui ngại,
Biết sông sâu hay cạn giữa tình đời?
Bên ni bờ vẫn trong trắng chơi vơi,
Mà bên nớ trầm ngâm mô có kể.
Không muốn khóc, nhưng cứ từng ngấn lệ,
Đọng làn mi ấp ủ mối tâm tình.
Bên ni bờ hoa thắm bớt tươi xanh,
Mà bên nớ huy hoàng và lộng lẫy.
Muốn lên thuyền mặc sóng cuồng xô đẩy,
Nhưng thân đau nên chẳng dám đánh liều.
Đau chi mô có lẽ hận cô liêu,
Mà chi lạ rứa hè, ai hiểu nỗi!
Tui không điên cũng không hề bối rối,
Ngó làm chi thêm tủi nhục đau thương
Tui biết tui là hoa dại bên đường,
Không hương sắc, lạ rứa hè, người hỉ?
Tui cũng muốn có một người tri kỉ,
Nhưng đường đời như rứa biết mần răng!
Tui muốn kêu, muốn gọi, muốn thưa rằng:
Chờ tui với! A, cười chi lạ rứa
Tui không buồn sao mắt mờ lệ ứa, Bởi vì răng tui có hiểu chi mô! Vì lòng tui là mặt nước sông hồ, Chi lạ rứa, bên ni bờ tui khóc.
LÁ THẮM ĐỀ THƠ
“LÁ THẮM ĐỀ THƠ”
(hay là: Lá thắm đưa duyên)
Triều vua nào cũng vậy, nhiều giai nhân tuyệt sắc trong nước được tuyển vào cung để làm cung nữ. Họ là những giai nhân bạc mệnh, đi chẳng có về, suốt đời chịu cảnh lạnh lùng, buồn tủi, sầu đau trong chốn thâm cung.
Nhà vua có cả tam cung, lục viện, hàng ngàn cung nữ phi tần toàn bực diễm kiều, tài sắc cả. Mỗi đêm ngủ ở cung nào, nhà vua phải nhờ xe dê đưa đến. Xe dừng trước cung nào thì nhà vua vào cung ấy. Có những nàng hằng năm không được đoái hoài, đành chịu cảnh cô phòng giá lạnh.
Đời Đường (618-907), đời vua Hy Tông có nàng cung nữ tuyệt sắc tên Hàn Thúy Tần sống cảnh lẻ loi buồn bực trong thâm cung, nên thường nhặt những chiếc lá đỏ (hồng diệp) rồi đề thơ lên trên lá, thả xuống ngòi nước:
Nước chảy sao mà vội?
Cung sâu suốt buổi nhàn.
Ân cần nhờ lá thắm
Trôi tuốt đến nhân gian.
Nguyên văn:
Lưu thủy hà thái cấp
Cung trung tận nhật nhàn.
Ân cần tạ hồng diệp.
Hảo khứ đáo nhân gian.
Chiếc lá chở bài thơ theo dòng nước chảy xuôi ra ngoài vòng cấm lũy.
Lúc bấy giờ có người môn khách của quan Tể Tướng Hàn Vinh tên Vưu Hựu vốn kẻ phong lưu tài tử, thơ hay, chữ tốt, chỉ hiềm một nỗi vận chưa đạt nên đành chịu sống nhờ nơi quan Tể Tướng họ Hàn. Đương thơ thẩn ngắm dòng nước chảy, Hàn bỗng nhìn thấy chiếc lá có bài thơ, lấy làm lạ mới vớt lên xem. Cảm tình chan chứa với người gởi thơ lạ mặt, chàng cũng bẻ một chiếc lá, viết một bài thơ vào đấy, lên đầu nguồn dòng nước thả lá xuống cho trôi trở xuống.
Nghe oanh thấy liễu chạnh lòng thương,
Thương kẻ trong cung lúc đoạn trường.
Chiếc lá đề thơ trôi mặt nước,
Gởi cho ai đó nói không tường.
(Bản dịch của Phan Như Xuyên)
Người cung nữ họ Hàn thường ngồi nhìn dòng nước chảy, bỗng bắt được chiếc lá trở vào của người không quen biết, mới đem cất vào rương son phấn.
Ba năm sau, nhà vua sa thải một số cung nữ ( khoảng 3,000), trong đó có Thúy Tần. Nàng đến ở tạm dinh quan Tể Tướng họ Hàn để chờ thuyền trở về quê cũ, bỗng gặp Vưu Hựu. Hai người trò chuyện, ý hợp tâm đầu. Tể Tướng họ Hàn thấy cả hai đều xứng đôi vừa lứa nên làm mối thành duyên giai ngẫu.
Đêm tân hôn, Hựu chợt mở rương của vợ thấy chiếc lá của mình ngày xưa. Lấy làm lạ lùng, chàng cũng đem chiếc lá của mình vớt được cho vợ xem. Thì ra cả hai lại giữ hai chiếc lá của nhau. Cho là thật duyên trời định.
Cổ thi có bài: (*)
Một đôi thi cú theo dòng nước
Mười mấy năm qua nhớ dẫy đầy.
Mừng bấy ngày nay loan sánh phụng
Cũng nhờ lá thắm khéo làm mai.
Nguyên văn:
Nhất liên giai cú tùy lưu thủy,
Thập tải ưu tư mãn tố hoài.
Kim nhật khước thành loan phượng lữ,
Phương tri hồng diệp thị lương môi.
Trong “Đoạn trường tân thanh” của cụ Nguyễn Du, có câu:
Thâm nghiêm kín cổng cao tường,
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
hay:
Dù khi lá thắm chỉ hồng,
và:
Nàng rằng hồng diệp xích thằng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
“Lá thắm”, “Hồng diệp” đều do điển tích trên.
./.
(Bài sưu tầm từ trang FB Những Câu Chuyện Thú Vị )
Cung Chúc Tân Xuân – Thơ
Cung chúc tân xuân – Thơ Lê Tuấn
v
Diễn hành Tết Canh Tý trên đại lộ Bolsa, Little Saigon
Diễn hành Tết Canh Tý trên đại lộ Bolsa, Little Saigon January 25, 2020
Đoàn rước quốc kỳ Hoa Kỳ và VNCH. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
WESTMINSTER, California (NV) –
Đúng 8 giờ sáng 25 Tháng Giêng, tức Mồng Một Tết Canh Tý 2020, cuộc
diễn hành mang chủ đề “Tri Ân” do Little Saigon Westminster Tet Parade
tổ chức chính thức bắt đầu.
Thời
tiết tại Little Saigon hôm nay khá đẹp, trời khô ráo và nhiệt độ ngoài
trời khoảng 54 độ F, rất thuận lợi cho cuộc diễn hành.
Từ
6 giờ sáng, thành phố đóng đường để 7 giờ các đoàn thể và xe hoa có thể
vào vị trí. Hai lá đại kỳ do nhóm Hậu Duệ VNCH Khóa 5 vào vị trí để cử
hành lễ khai mạc.
Lộ trình cuộc diễn hành sẽ đi trên đại lộ Bolsa, bắt đầu từ ngã tư với đường Magnolia và kết thúc ở Bushard.
Trong
cuộc diễn hành này có nhiều xe hoa, đặc biệt là dàn quân xa các quân
binh chủng, đơn vị, quân trường và trung tâm huấn luyện, cùng một số
chiến cụ, như hai chiếc trực thăng HUEY UH1, đại pháo 106 ly không
giựt,… của Quân Lực VNCH.
Cuộc diễn hành diễn ra trong khoảng 4 tiếng đồng hồ và kết thúc lúc 12 giờ trưa cùng ngày.
Dưới đây là một số hình ảnh của cuộc diễn hành trên đường Bolsa sáng nay.
Một chiếc xe hoa được làm công phu tham gia diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Các em thiếu nhi trong Ban Nhạc của trường Sarah McGarvin Intermediate. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của Tết Parade. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đời sống thanh bình của người dân miền Nam dưới thời VNCH.. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Tái hiện trận Ngọc Hồi của Hoàng Đế Quang Trung. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Hành trình 45 năm của người Việt tại Hoa Kỳ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Trực thăng HUEY UH1. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đại pháo 106 ly không giựt. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn quân xa của Quân Lực VNCH. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn quân xa của Quân Lực VNCH. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn của tổ chức VPDCA. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Xe của đoàn cảnh sát Orange County.. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Xe của Hội Ái Hữu Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của Chương Trình Việt Ngữ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của Chương Trình Giáo Dục Song Ngữ Anh Việt, Học Khu Westminster. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Xe diễn hành của Disney Land. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Các Thiếu Sinh Quân. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Các Thiếu Sinh Quân. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Lá quốc kỳ VNCH sẽ dẫn đầu trong đoàn diễn hành năm nay. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn rước quốc kỳ của VNCH và Hoa Kỳ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Lân mừng pháo trong lễ khai mạc. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đốt pháo khai mạc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Thị
Trưởng thành phố Westminster Trí Tạ và Giám Sát Viên Orange County
Andrew Đỗ phát biểu tại lễ khai mạc. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Chuẩn bị cho lễ khai mạc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Ban nhạc của trường trung học Bolsa Grande chuẩn bị tham gia diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Màn múa lân trong lễ khai mạc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Lần
đầu tiên được ban tổ chức thiết lập khu ghế khách danh dự, riêng biệt
bên cạnh sân khấu, có nhiều tầng, có phục vụ phần ăn sáng nhẹ và giải
khát. (Hình: Văn Lan/Người Việt)