My Children-Các Con Tôi



Ở hai đầu nỗi nhớ
Lặng lẽ buồn bơ vơ
Anh gặp em ngày đó
Đền bây giờ dại khờ.
Tình xưa thời con gái
Tuổi trăng tròn ngây thơ
Môi chạm môi bỡ ngỡ
Đầy ướt át trong mơ.
Nụ mai vàng trước ngõ
Gió xuân đang đợi chờ
Nắng ươm đầy nỗi nhớ
Thêm chữ buồn trong thơ..
Cành đào ươm sắc đỏ
Dập dìu khách vui xuân
Lang thang chiều dạo phố
Bỗng dưng lòng bâng khuâng.
Buổi chiều vàng chợt tối
Hạt mưa xuân nhẹ rơi
Anh cùng em dạo bước
Đêm xuân tiếng gọi mời.
Lê Tuấn

Chiều đi qua dòng sông
Ngắm mây bay cuối trời
Bóng người xưa thoáng hiện
Nghe vang tiếng em cuời.
Chiều đi ngang con đường
Bóng đổ nghiêng trời tây
Ta một mình lặng lẽ
Buớc chân buồn theo mây.
Tiếng chim kêu lạc bầy
Dấu mình trong lá cây
Ta đau vì nỗi nhớ
Bóng em đã đong đầy.
Lê Tuấn
Tay em vàng lá bay
Rong chơi cuối đường chiều
Áo dài bay phất phới
Hương thơm bay ít nhiều.
Vô tình cánh hoa rơi
Chợt câm nín nghẹn lời
Để em buồn thương nhớ
Ngày xuân đã xa vời.
Nỗi buồn vương xót xa
Tuổi xuân quá mượt mà
Làm sao em bật khóc
Buồn vương ánh chiều tà.
Lê Tuấn

1
Tiếng chuông vang vọng giáo đường
Thánh ca em hát từng chương huy hoàng
Lung linh ngọn nến hai hàng
Câu nào thánh hóa địa đàng nơi đây.
2
Chiều xuân gió nhẹ mây bay
Tặng nhau khăn lụa, trao tay đóa hồng
Nửa đêm đắp mảnh chăn bông
Nghe con dế gọi ngoài đồng thiết tha.
3
Lấy hoa sen ướp hương trà
Hứng mưa đun nước pha trà uống xuân
Ngại ngần chen lẫn bâng khuâng
Thương nhau mấy nỗi trầm luân bụi đường.
4
Cánh hoa thông điệp vô thường
Tuết rơi trắng điểm bên đường gió đông
Trời giăng sợi mỏng tơ hồng
Vướng đôi quấn quýt tình nồng có nhau.
5
Dấu đêm trong tóc phai màu
Sợi đen sợi bạc, gối đầu ngủ say
Da thơm vòng ngực vươn đầy
Cho nhau tàn cuộc hao gầy hương trinh.
Lê Tuấn
“trích đoạn trong baì thơ 100 câu lục bát “Theo Bóng Chiều Tà”

1
Áo xưa khép nép hững hờ
Hàng khuy hé mở khoe bờ non cao
Đôi môi chín đỏ ánh đào
Cửa mây vén mở lạc vào suối mơ
2
Khóc ai lệ ướt trong thơ
Tóc xanh ngày cũ bây giờ sương bay
Hạt sương đậu cánh hoa này
Nghiêng soi lòng suối bóng ai nhạt nhòa.
3
Dưới giàn thiên lý vàng hoa
Kết thành vương niệm làm qùa tặng em
Tiếng lòng lời nói môi êm
Ru tình theo tiếng êm đềm mê say.
4
Hữu duyên như núi gặp mây
Tơ vương mây cũng đỏ hây dáng hồng
Xuân về trồi lá đươm bông
Bướm bay uốn lượn theo vòng cánh duyên.
5
Trên cành tiếng hót chim khuyên
Em nghiêng suối tóc tơ huyền nhẹ vương
Làn sương trắng điểm phố phường
Gót hài vui bước cung đường lá bay
6
Em về hoa nở trên tay
Áo dài lụa mỏng thơ ngây dáng chiều
Ý thơ muốn tỏ đôi điều
Gởi theo vần điệu mỹ miều ngợi khen.
7
Về xem phố chợ lên đèn
Theo hương vị lạ say men rượu mời
Lặng buồn nhìn cánh hoa rơi
Lòng nghe xao xuyến đất trời sang xuân.
8
Hoa vàng vương nhẹ gót chân
Phố vui mỏi gót tần ngần bước đi
Nào ngờ vướng lụy tình si
Hương thơm bát ngát xuân thì vấn vương.
TRẦN ANH TUẤN

Trương Bửu Lâm là giáo sư Sử Học tại Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn trong hai thập niên 1950-60. Năm 1964, ông được học bổng sang Mỹ và ở luôn không về Việt Nam nữa. Sau một vài năm được huấn luyện qua chương trình Fulbright, ông dạy Sử Ðông Nam Á tại đại học UNY Stony Brook, New York. Ðến năm 1971, ông sang Hawaii dạy tại đại học UH Manoa cho đến khi về hưu.
Sử phẩm của giáo sư Trương Bửu Lâm bao gồm Patterns of Vietnamese Response to Foreign Intervention xuất bản năm 1968, New Lamps for Old năm 1982, Resistance, Rebellion, Revolution năm 1984, Colonialism Experienced năm 2000 và quyển A Story of Vietnam năm 2010 (Honolulu, Editions Thanh Cao, 368 t.)
Ngoại trừ quyển cuối cùng xuất bản năm 2010, những sử phẩm trên đây đều nhằm cung cấp học liệu cho sinh viên đại học Mỹ. Chúng xuất phát từ những giảng khoá của tác giả qua nhiều niên học, đồng thời đáp ứng điều kiện nghiên cứu trong ngạch giáo sư đại học tại Hoa Kỳ.
Về kỹ thuật, đây là những sử phẩm hoàn thành trong khuôn khổ của một hệ thống đại học tân tiến, thể hiện qua phương pháp nghiên cứu khoa học và nội dung nghiêm túc. Riêng về nội dung, đề tài nghiên cứu nhắm vào đối tượng Mỹ nên chúng không mới mẻ gì với độc giả gười Việt, ngoài một số sinh viên Mỹ gốc Việt.
Thí dụ như Colonialism Experienced: Vietnamese Writings on Colonialism, 1900-1931 (Ann Arbor, University of Michigan Press, 2000, 328 tr.) chỉlà một tập tài liệu. Tác giả đã chọn 20 bản văn trong lịch sử cận đại Việt Nam để dịch sang Anh văn cho sinh viên và độc giả ngoại quốc hiểu, cũng có nghĩa là loại sách mà giới nghiên cứu người Việt không cần, vì ai cũng có thể đọc được nguyên tác với ngôn ngữ gốc, lược bỏ đi một trung gian tức là bản dịch, cũng đồng thời là một chướng ngại dẫn đến ít nhiều sai lầm về ý nghĩa của các bản văn.
Nói thêm một vài chi tiết. Tác giả công phu chọn lựa 20 tài liệu thuộc nhiều thể loại trong ba thập niên 1900-1931: tài liệu tuyên truyền, thư ngỏ gửi nhà cầm quyền, tuyên ngôn của các đảng phái, tin tức trên nhật báo, và văn thơ. Các tài liệu này được viết bằng ba ngôn ngữ khác nhau, là Việt, Hán, và Pháp. Trước mỗi bản dịch sang tiếng Anh, tác giả có lời giới thiệu và phân tích làm rõ hoàn cảnh lịch sử đương thời khi tài liệu xuất hiện. Sự đóng góp của tác gỉa là truy tìm tài liệu trong nguyên dạng không bị cắt xén, rồi dịch qua thứ ngôn ngữ thông dụng là Anh văn để sinh viên của ông và độc giả hiểu, dù không đọc được chữ Hán, Pháp, hay Việt trong nguyên tác.
Tôi chỉ có thắc mắc về một chi tiết ông viết ngay trang đầu tiên của sách, nguyên văn thế này: “I would like to express my deep appreciation to Vo-Le Thanh Diep, who has provided me with many insightful interpretations of certain aspects of Vietnamese culture and particularly of Vietnamese literature.”
Sao đến nỗi này? Tôi tưởng giáo sư Trương Bửu Lâm phải là người dạy thiên hạ về văn hoá và văn học Việt Nam chứ? Sao nay lại phải có một người nào đó giúp, giáo sư mới hiểu một số khía cạnh của hai ngành này?
Sử phẩm mới nhất của Giáo sư Trương Bửu Lâm được phát hành trên hệ thống Amazon.com, một hệ thống bán sách thông dụng trên Internet của Hoa Kỳ. Ðó là một quyển thông sử chỉ dầy 368 trang, trình bầy toàn bộ lịch sử Việt Nam từ khởi nguyên cho đến năm 2008. Và đây là sử phẩm mà tôi muốn lên tiếng chất chính.
A Story of Viet Nam, tựa đề của sách, là một tác phẩm đơn giản dễ đọc. Dưới ngòi bút của một chuyên gia, sách dẫn độc giả suốt dòng lịch sử mấy ngàn năm trong 350 trang giấy mỏng.
Nhưng dưới tiêu đề “Story,” tức “Chuyện kể,» tác giả khái quát 4,000 năm sử Việt trong 170 trang đầu, mà dành hơn nửa quyển sách, tức 176 trang sau (từ trang 171 đến trang 346) cho câu chuyện vinh danh Ðảng Cộng Sản Việt Nam.
Nhân đây, tôi muốn nói về hai cách nhìn khác nhau về Sử. Một, là cách nhìn của thế giới Cộng Sản và hai, là cách nhìn của những ai sống trong Thế Giới Tự Do. Chúng ta hiểu hay định nghĩa Sử là những sự kiện xảy ra trong quá khứ. Còn người Cộng Sản thì hiểu và định nghĩa Sử là thông tin tuyên truyền.
Trần Huy Liệu, Bộ Trưởng Bộ Thông Tin Tuyên Truyền kiêm nhiệm vai trò Viện Trưởng Viện Sử Học đầu tiên của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau Hiệp Ðịnh Genève là vì thế.
Là thông tin tuyên truyền nhằm phục vụ chính trị, nên “Sử” của người Cộng Sản là những sự kiện có cũng được (sự kiện quá khứ) mà không có thì bịa đặt ra (như vụ Lê Văn Tám mà chính giáo sư Sử Học Phan Huy Lê của Ðại Học Hà Nội tiết lộ là do Trần Huy Liệu bịa đặt.) Tôi từng nghe rất nhiều những tiếng than phiền trong cộng đồng người Việt hải ngoại về những “sử phẩm” của Hà Nội. Ðó là vì nhiều người trong chúng ta cứ “bắt” các “sử gia Hà Nội” phải nghĩ và viết Sử như chúng ta!
Nói chung, các sự kiện trong A Story of Viet Nam được trình bầy một chiều sao cho có lợi cho chế độ Cộng Sản.
Chẳng hạn như Tuần Lễ Vàng mà chính phủ Hồ Chí Minh phát động năm 1945, theo tác giả là cốt để trả lương cho cán bộ chính quyền và mua võ khí thành lập quân đội (trang 211). Thế là tác giả chưa biết việc thu vàng để đút lót cho quân “Tầu Tưởng” (chữ dùng của Hà Nội) sao?
Chẳng hạn như sự kiện Võ Nguyên Giáp tiêu diệt các đảng phái quốc gia trong vụ Ôn Như Hầu năm 1946 thì tác giả viết một cách mông lung là “Lời đồn cho biết Võ Nguyên Giáp đã lợi dụng sự vắng mặt của Hồ Chí Minh để tiêu diệt phần lớn đối lập với Việt Minh,” nguyên văn nơi trang 220: Rumors go around that Vo Nguyen Giap had profited from the absence of Ho Chi Minh to liquidate most of the opponents to the Viet Minh.”
“Lời đồn” thì có thật mà cũng không có thật, là một cách sử dụng ngôn từ có chủ đích riêng! Và “lợi dụng sự vắng mặt của Hồ Chí Minh” lại là một các diễn tả khéo léo khác, hàm ý Hồ Chí Minh không biết tức là không có trách nhiệm gì trong việc sát hại các đảng phái quốc gia tại Hà Nội năm 1945.
Trong sự kiện bắt giết các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng và các đảng phái quốc gia khác, các lãnh tụ Cộng Sản rất mưu lược. Theo tôi suy đoán, việc tiêu diệt các đảng phái quốc gia là sách lược để độc chiếm chính quyền thì các lãnh tụ Cộng Sản đã sắp xếp từ trước và đem thi hành khi Hồ Chí Minh không có mặt. Họ khôn khéo đến độ chính Võ Nguyên Giáp cũng không phải trách nhiệm, vì người ký lệnh bắt là Huỳnh Thúc Kháng cơ mà?!
Xung động tình cảm của một người -không hiểu vì lý do gì?- đã làm tác giả kết luận về chế độ Ngô Ðình Diệm thế này, nguyên văn nơi trang 254: “If one could evaluate the Ngô Ðình Diệm’s regime with a short sentence, it would be: “It is a pity!” Thật đúng với khẩu khí của Hà Nội trong thời chiến: “bọn Mỹ Ngụy!”
Trong khi Hà Nội không còn giọng điệu thông tin tuyên truyền như thế này nữa, thì tác giả Trương Bửu Lâm năm 2010 vẫn còn hăng hái mạt sát chế độ Ngô Ðình Diệm, chế độ đã ưu đãi ông từ khi ông còn là một bạch diện thư sinh, cũng lạ!
Nhận định rằng dân di cư từ miền Bắc vào miền Nam hồi năm 1954 sau Hiệp Ðịnh Genève đa số là người Công Giáo, nguyên văn nơi trang 255: “…the refugees from the North who, in majority, were catholics…” chứng tỏ tác giả đã không thường xuyên theo dõi thư tịch để biết trước khi ông xuất bản sách này ba năm, năm 2007, Giáo Sư Ðặng Phương Nghi –nguyên Giám Ðốc Nha Văn Khố và Thư Viện VNCH- đã có bài viết trong chuyên san Dòng Sử Việt tựa đề “Về số người Công Giáo di cư từ Bắc vào Nam sau Hiệp Ðịnh Genève” (California, Xuân Ðinh Hợi, số 2, tháng 1-3, 2007, tr. 74-78) chứng minh rằng số dân Công Giáo chỉ vào khoảng 25-50% tổng số dân di cư vào Nam mà thôi.
Trang 256 thì tác giả phê phán Luật 10/59 đặt Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật, rất phù hợp với ngôn từ của chính quyền Hà Nội, là Ngô Ðình Diệm “lê máy chém khắp miền Nam.”
Trang 266 là giọng khinh bạc của tác giả viết về sự kiện TT Ngô Ðình Diệm viếng thăm Hoa Kỳ và được TT Eisenhower tiếp đón theo nghi thức quốc trưởng: “On May 8, 1957, the U.S. President invited him (tức Ngô Ðình Diệm) to visit the United States and treated him on the same footing as any Chief of a sovereign state.”
Tổng Thống nước Hoa Kỳ không tiếp đón Tổng Thống nước Việt Nam Cộng Hòa như một quốc khách hay sao mà phải viết treated him on the same footing as any Chief of a sovereign state? Thế thì hình ảnh Trương Tấn Sang, Chủ Tịch nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2013 cúi rạp mình trước hàng quân Trung Cộng, bên cạnh Chủ Tịch nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc đứng thẳng lưng thì sao? Ai đã giữ được quốc thể cho dân tộc Việt?

Trang 258 tác giả viết Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam là mặt trận kết hợp đại biểu của nhiều tổ chức tại miền Nam, có đại diện của tất cả các tôn giáo Phật Giáo, Công Giáo, Cao Ðài, Hòa Hảo, sắc tộc… Thật thế sao, hay Giáo sư Trương Bửu Lâm lại viết chuyện đùa –A Story– cho vui?!
Chuyện người Mỹ đồng ý chủ trương Bắc Tiến với tướng Nguyễn Khánh nơi trang 264 là một điều sai lầm. Ðọc tiếp những dòng chữ của tác giả, tôi mới biết tác giả của A Story of Viet Nam đã lầm lẫn chủ trương Bắc Tiến với sự kiện Biệt Kích nhẩy Bắc của Lực Lượng Ðặc Biệt trong QLVNCH! Thật đáng tiếc cho hiện tượng “râu ông nọ cắm cầm bà kia” trong một sử phẩm!
Ðây là vài mẫu tiền MTDTGPMNVN mà Hà Nội cho in năm 1967 và đưa vào Nam năm 1968 để sử dụng khi chiếm được chính quyền. Tiền có tám (8) mệnh giá 10xu, 20xu, 50xu, 1đ, 2đ, 5đ, 10đ, và 50đ. Theo Huy Ðức trong Bên Thắng Cuộc II. Quyền Bính, trang 161, thì Bắc Việt đã đem vào tổng cộng 14,000 (sic!) hòm tiền loại này, mật danh là “Hàng 65.” Vì thế, viết “As expected, the attackers had no intention of occupying their target for any length of time…” là viết lấy được, trái với sự thật lịch sử! (Bộ sưu tập TAT)


Tết Mậu Thân trong A Story of Viet Nam là một sự bóp méo lịch sử. Chủ trương của Bộ Chính trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam thực hiện cuộc “Tổng Công Kích Tổng Khởi Nghĩa” năm 1968 là nhằm giành chính quyền miền Nam, chứ có phải đánh rồi rút đâu. Ðiều đơn giản là rút đi đâu, một khi đã tiến sâu vào tận thủ đô Sài Gòn? Và nhất là đã đem tiền và tem bưu chính vào để nắm chính quyền mà đánh rồi rút, là rút thế nào?
Ngày 9.2.1999, chính Võ Nguyên Giáp đã phát biểu tại Hà Nội trong dịp tổng kết chiến tranh là, nguyên văn được tác gỉa Huy Ðức ghi lại trong sách Bên Thắng Cuộc II. Quyền Bính, trang 161: “Lúc đầu mục tiêu đề ra rất cao, tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giành trọn vẹn chính quyền về tay nhân dân. Giấy bạc đã được in và đã được chuyển vào Nam. Ðồng phục cho công an vào tiếp quản thành phố cũng đã được chuẩn bi…”
Vì thế, khi tác gỉa viết, “như đã dự tính, những người tấn công (tức Việt Cộng, TAT chú thích) đã không hề có ý chiếm giữ mục tiêu lâu dài…, nguyên văn là: “As expected, the attackers had no intention of occupying their target for any length of time…” chẳng qua là cách bào chữa cho sự thất trận cũng là sự thất bại của cuộc Tổng Công Kích Tổng Khởi Nghĩa do Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội xướng xuất năm 1968!

Trong đời sống văn hoá của miền Bắc, việc tác giả dịch và cho in bài thơ Nhất Ðịnh Thắng của Trần Dần là thoáng nét thơ mộng của một trí thức miền Nam, một điều hiếm thấy trong sách. Nhưng chữ “Anh” trong bài thơ là tiếng âu yếm của người vợ Việt Nam gọi chồng, sao tác giả lại dịch là “brother” nơi trang 301 được?
Chồng mà là “brother” thì loạn luân mất rồi! Trước giáo sư Trương Bửu Lâm đúng 12 năm thì tác giả của Counterpart: A South Vietnamese Naval Officer’s War (Annapolis, Naval Institute Press, 1998, 235 tr.) là Ðỗ Kiểm cũng đã dịch tiếng gọi yêu thương “anh em” giữa vợ chồng với nhau là “big brother” và “little sister” (trang 139, sđd). Nhưng Ðỗ Kiểm là một sĩ quan hải quân, thạo đi biển hơn là cầm bút, nên sự sai trái còn hiểu được, chứ một giáo sư đại học mà cũng phạm lỗi thông thường này thì thật khó hiểu.
Ngoài ra, nhận định của tác giả về đời sống văn hoá miền Bắc rất gượng ép. Ông viết “nhiều nhà văn hay nghệ sĩ (miền Bắc) chứng tỏ sự trung thành của họ với những chính sách văn hoá của Ðảng và tiếp tục sáng tạo những tác phẩm quí gía,” nguyên văn nơi trang 301: “Many writers or artists professed their loyalty to the cultural policies of the Party and continued to create valuable works.” Xin hỏi những tác phẩm nào là quí giá của giới viết văn, làm thơ, hay vẽ tranh miền Bắc những năm 1950 hay 60?
Nhận định của tác giả, thật ra, là bất nhất và mâu thuẫn, vì ở một trang sau đó, ông lại viết là Nguyên Hồng và Nguyễn Tuân tiếp tục in (sách) nhưng phẩm chất không bằng những sách họ xuất bản trước kia,” nguyên văn nơi trang 303: “… Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân continued to publish, but could never reach the quality of the works they had produced previously.”
Trang 296 thì con số nhân mạng trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất 1953-56 đã bị tác giả rút xuống chỉ còn “hàng ngàn người chết,” nguyên văn: The campaign (Cải Cách Ruộng Ðất) was rife with mistakes and claimed the lives of thousands of victims.” Theo Nguyễn Minh Cần, một cán bộ cao cấp trong Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã phản tỉnh, thì số nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc trong các năm 1953-56 là 172,000 người!
Còn sự kiện Cộng Sản chiếm giữ Huế hàng tháng và tàn sát dân Huế không hề thấy tác gỉa trình bầy. Che dấu tội ác cũng chính là tội ác vậy!
Bắt đầu từ trang 310 là chúng ta đi vào chương cuối cùng của sách, tựa đề “Nothing is more precious than Independence and Unity,” tức là lấy hẳn một câu nói của Hồ Chí Minh.
Chương này tôi càng thấy nhiều chuyện cần bàn.
Tác giả trình bầy là những tháng đầu sau khi chiếm cứ toàn thể lãnh thổ miền Nam, PRG, tức Provisional Revolutionary Government of South Vietnam, tức Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, lúng túng chưa biết áp dụng chính sách gì cho miền Nam.
Vậy là tác gỉa coi PRG là một thực thể, mà không biết rằng PRG chỉ là một hình thức mà Cộng Sản Bắc Việt, cụ thể là Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam, đã dựng lên để đánh lừa dư luận thế giới và những người Việt ngây thơ nên ngớ ngẩn. Tác giả hẳn phải biết việc xua năm (5) quân đoàn theo năm (5) hướng vào đánh chiếm miền Nam là hoàn toàn do Bộ Chính Trị Hà Nội quyết định và điều khiển hồi đầu năm 1975.
Những sự kiện lịch sử này người Cộng Sản đâu có dấu diếm sau năm 1975?! Nếu tác giả đọc sách xuất bản tại Hà Nội, từ các cơ quan nghiên cứu, đến các cấp chính quyền, cùng giới lãnh đạo chính trị và quân sự của chế độ Cộng Hoà̉ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hẳn tác giả phải biết từng chi tiết việc đánh chiếm miền Nam thế nào, chi li đến cả chuyện tổ chức cho cán bộ và những nhóm người Việt thân Cộng tại Pháp và Hoa Kỳ dò xét khả năng Hoa Kỳ trở lại Việt Nam sau Hiệp Ðịnh Patris 1973 ra sao (sau khi được nhóm này dò la và thông báo cụ thể, Phạm Văn Ðồng đã có thể tuyên bố trong một buổi họp của Bộ Chính Trị tại Hà Nội, nguyên văn như sau: Cho ăn kẹo Mỹ cũng không trở lại Việt Nam!) Chiến Dịch Hồ Chí Minh cuối cùng chiếm Sài Gòn khởi sự ngày giờ nào, chính sách đối phó với tù hàng binh ra sao, chiếm cứ và củng cố chính quyền thế nào… nhất nhất đều đã được Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội quyết định và điều khiển từ trước.
Làm gì có chuyện các cán bộ “Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” lúng túng không có chính sách cai trị miền Nam sau ngày 30.4.1975 nơi trang 310-311?!
Tiếp theo là tác gỉa đã căn cứ vào tài liệu tuyên truyền của chính quyền Cộng Sản tại Sài Gòn đã đổi tên để viết chính quyền mới sau 1975 đã chú tâm làm sạch xã hội (như tập trung gái mãi dâm, đốt bỏ các bàn đèn thuốc phiện, các loại thuốc xì ke ma túy, tịch thu các loại sách báo phản động, vân vân.)
Thế là tác gỉa thật sự không biết chuyện hàng đàn hàng lũ viên chức phường khóm dẫn thanh niên nam nữ xăm xăm vào các tư gia tại Sài Gòn và các tỉnh, “đóng chốt,” -tức ăn ngủ tại nhà người ta nhiều ngày- để lục lọi hầu tịch thu vàng bạc quý kim sau ngày 30.4.1975 sao?! Cán bộ Cộng Sản vào nhà dân, đến cái soong cái nồi cái gầu múc nước giếng cũng kiểm kê lập biên bản giải quyết (nguyên văn).



Vàng bạc châu báu thì vào túi ai không biết, còn sách báo thì đốt hết, bất kể loại gì xuất bản tại miền Nam, lập lại trong thế kỷ XX tại nước ta chuyện đốt sách hai ngàn năm trước ở Tầu dưới thời Tần Thủy Hoàng (221-210 BC).
Chính sách ấy mọi rợ hay văn minh trong thế kỷ XX?
Tác gỉa có biết Khảo Cổ Tập San cũng bị tịch thu và thiêu đốt trong dịp này không? Khảo Cổ Tập San, chuyên san do Viện Khảo Cổ VNCH ở Sài Gòn ấn hành trong thập niên 1960, do Giám Đốc Viện Khảo Cổ Trương Bửu Lâm làm Chủ Nhiệm và Chủ Bút, phản động chỗ nào? Nó là loại sách phạm thuần phong mỹ tục từ bao giờ, mà Thông Tri số 218/CT.75 của Bộ Thông Tin Văn Hoá do Bộ Trưởng Lưu Hữu Phước ký ngày 20.8.1975 cấm dân chúng lưu giữ?
Chương cuối cùng này có nhiều sai lầm từ đầu là thế. Nhưng chưa hết, độc giả đọc tiếp sẽ thấy người viết sử dụng danh nghĩa chuyện kể -Story- để liên tục tuyên truyền cho chế độ Cộng Sản ở Việt Nam ngày nay.
Về thảm trạng thuyền nhân nơi trang 313, tác gỉa không hề đề cập đến nguyên do của thảm trạng, không hề nói đến việc chính quyền Cộng Sản thu vàng rồi cho người dân lên tầu vượt biên, không mảy may đề cập đến nạn hải tặc Thái Lan cướp của giết người hãm hiếp phụ nữ bất kể già trẻ. Ngược lại, tác gỉa giải thích chuyện vượt biên đơn thuần là sự mâu thuẫn giữa hai nước Cộng Sản Việt và Tầu.
Ðặc biệt, tác giả đã tự cho phép mình dông dài trong một bộ thông sử Việt Nam chuyện ông về sống ở Việt Nam trong hai năm 1991-1993.
Ðó là dịp tác giả khái quát xã hội Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản. Ông lướt qua những thay đổi để viết về những tiến bộ của chế độ. Khi thì ông nhận định Việt Nam bây giờ không còn là một nhà nước công an nữa, nguyên văn nơi trang 326: “Vietnam no longer looked like a police state.” Ði đến chỗ cực độ, ông viết nay Công An sợ dân chứ không phải là dân sợ Công An, nguyên văn nơi trang 327: “I often heard people say that now the police is afraid of the people and not the other way round.” Ông còn nhận định đảng viên Ðảng Cộng Sản bây giờ đều dấu diếm đảng tịch, nguyên văn cũng nơi trang 326: “Nowadays, people tried to hide the fact that they belong to the Party.”
Trong trang 327, tác giả hồn nhiên viết rằng tuy chưa có tự do báo chí ở Việt Nam ngày nay, nhưng nhiều nhật báo đã trực tiếp tấn công Chính Phủ hay Ðảng và tự do viết về nạn tham nhũng của cán bộ chính quyền cùng những chính sách sai trái của các cơ quan chính phủ.
Cũng nơi trang 327 này, tác gỉa viết Quốc Hội bây giờ có nhiều quyền thế hơn những quốc hội trước đây. Và Hiến Pháp ban hành năm 1990 đã quy định Tư Pháp độc lập thật sự với Hành Pháp, chữ của tác giả là “genuine independence!”
Ðặc biệt, tác gỉa đã sử dụng ngôn từ uốn éo “did not look very dissimilar…,” (không có vẻ không khác lắm…) để ca tụng Việt Nam ngày nay về sự đổi mới trong kinh tế và những biện pháp tự do trong chính trị mà ông ví không khác các quốc gia Thái Lan, Nam Dương, Tân Gia Ba, Ðài Loan, hay Ðại Hàn về trình độ tiến bộ. Thập niên 1990 thì làm sao nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam so sánh với các nước Thái Lan, hay Nam Dương, hay Tân Gia Ba, hay Ðài Loan, hay Ðại Hàn được? Cho đến thập niên 2010, tổ chức xã hội Việt Nam còn chưa chắc đã bằng tổ chức xã hội nước láng giềng Cam Bốt mà!
Tác giả dùng trang 328 để tiếp tục ca tụng những thành quả của CHXHCNVN: Năm 1991, bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, vốn đầu tư Ðại Hàn bắt đầu đổ vào cũng năm 1991, Hiệp Hội Các Quốc Gia ÐNA ASIAN nhận Việt Nam làm thành viên quan sát năm 1993 và thành viên chính thức năm 1995, Hoa Kỳ hủy bỏ cấm vận và tư bản Mỹ ồ ạt đầu tư năm 1994, Hoa Kỳ bình thuờng hóa quan hệ ngoại giao năm 1995, tỷ số tăng trưởng hàng năm lên hai con số (tức là trên 10%).
Vân vân và vân vân.
Thật đáng tiếc là khi viết A Story of Viet Nam, giáo sư Trương Bửu Lâm của Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn được kính nể về chuyên môn ngày nào đã từ bỏ vai trò cao quí của một người thầy, hơn thế nữa, một sử gia, để đóng vai trò của một cán bộ tuyên truyền cho chế độ độc tài độc đảng đang tại vị.
Ðể giải thích thiên hướng nghiên cứu kỳ lạ của một giáo sư đại học Mỹ gốc Việt, tôi nghĩ tác giả đã bị ảnh hưởng xấu của hoàn cảnh.
Tác gỉa sống ở Mỹ trong suốt thời gian 1964-1975 nên chịu ảnh hưởng của phong trào phản chiến đã phải uốn mình theo bọn trí thức phản chiến trong môi trường đại học Mỹ để tồn tại. Thêm vào đó, tác giả chịu ảnh hưởng của thân tộc vốn có những người thân Cộng (như một người bà con là Lý Chánh Trung chẳng hạn, từng viết sách xuất bản giữa Sài Gòn về những ngày ông ta sống và dạy học dưới chính thể VNCH là Những Ngày Buồn Nôn, nxb Ðối Diện, 1971, 317 trang, trong khi chính quyền VNCH tiếp tục đãi ngộ cho họ Lý dạy Ban Nhân Văn tại Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn tận đến ngày 30.4.1975!) cùng những thân nhân khác -còn gần gũi hơn nữa- trong gia đình chăng?
Rốt lại, lời đoan chắc của tác giả, là ông đã khách quan đến mức tối đa, nguyên văn nơi trang IX: “I have narrated my story with the greatest impartiality I am capable of….” là chuyện lời nói không đi đôi với việc làm!
Hình ảnh cũng cho thấy “tình cảm thân thương” tác giả dành cho chế độ hiện nay tại Việt Nam như thế nào. Sách có rất ít hình ảnh các nhân vật lịch sử, nhưng sách đã có hình hài dung tục cởi trần mặc sà-lỏn của hai cán bộ văn hoá Hà Nội đi… tắm biển là Ðinh Gia Khánh và Phạm Huy Thông nơi trang 198!
Sách trình bầy rất ít tài liệu lịch sử và chưa một tài liệu nào trong 4,000 năm sử Việt chiếm nổi một trang sách, nhưng Di Chúc của Hồ Chí Minh được trịnh trọng giới thiệu trong sáu (6) trang, từ trang 289 đến trang 294, và toàn bộ Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hồ Chí Minh tại Ba Ðình năm 1945 trong hai trang rưỡi (2.5), từ trang 192 đến trang 194, chưa kể hình bìa tờ Tạp Chí Cộng Sản đã được in trước đó, trang 178, hay bản tin tìm mộ bộ đội Bắc Việt sau đó, trang 319.

Thiên hướng “cái gì cũng phải từ Hà Nội” của tác giả khiến danh sách sách báo tạp chí, hay tựa đề một bài thơ, hay tên tuổi một nghệ sĩ, một nhà văn, một họa sĩ… trong các trang của A Story of Viet Nam thường là từ miền Bắc.
Vì thiên hướng như thế, tôi thất vọng về cái nhìn của tác giả khi ông trình bầy một khía cạnh văn hoá của dân tộc Việt Nam, là hội họa. Có ai biết ba người Bùi Suối Hoa, Ðinh Thị Thắm Poong, và Ðinh Quân là ai không?! Họ có xứng đáng đại diện cho hội họa Việt Nam trong một quyển thông sử chứa đựng hơn 4,000 năm hay không?!
Ðiểm tích cực nhất mà tôi có thể tìm thấy trong A Story of Viet Nam là bóng dáng của một sử gia chuyên nghiệp qua nội dung tổng quát của sách. Ðây là một quyển thông sử trình bầy lịch sử văn minh, mà không phải đơn thuần là loại thông sử của các tác giả tài tử chỉ biết trình bầy lịch sử dân tộc bằng những trận đánh hay bằng sinh hoạt của vua quan tại triều đình. Sách còn có một nhận định… lạc lõng nhưng thật ra rất chính xác, rằng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thành lập năm 1954 là một chính phủ của Ðảng, do Ðảng, và vì Ðảng, nguyên văn nơi trang 295: “… the government of the Party, by the Party, and for the Party.”
Trước năm 1975, giáo sư Trương Bửu Lâm đã được chế độ Việt Nam Cộng Hòa biệt đãi. Năm 1957, ngay sau khi tốt nghiệp một trường Công Giáo nhỏ ở Bỉ -đại học Louvain- về nước, với vị thế của một bạch diện thư sinh mới rời ghế nhà trường, ông đã được bổ nhiệm vào chức vụ Giám Ðốc Viện Khảo Cổ và giáo sư của tất cả các đại học tại VNCH thời bấy giờ, là ba đại học Sài Gòn, Huế, và Ðà Lạt. Hơn thế nữa, ông còn được gia đình tổng thống Ngô Ðình Diệm biệt đãi, mời vào Dinh Ðộc Lập dạy kèm cho các con của ông bà cố vấn Ngô Ðình Nhu.
Tôi không xa lạ với giáo sư Trương Bửu Lâm. Ông là thầy tôi tại Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn trong niên khoá 1963-1964, niên khoá cuối cùng và dở dang ông dạy tại Việt Nam trước khi đi Mỹ và ở lại luôn từ đó.
Vào những ngày xưa trong sáng ấy, giáo sư Trương Bửu Lâm phụ trách môn Phương Pháp Sử. Giảng khoá của ông giá trị ở những kỹ thuật căn bản và những gợi ý cần thiết cho sinh viên trong nghề đã thấm vào máu thịt tôi từ đó.
Chính giảng khoá này năm 1970 bị một “giáo sư” Ðại Học Văn Khoa Ban Sử khác là Châu Long ăn cắp nguyên văn đem in dưới tên ông ta, tựa là Sử Học Nhập Môn (Sài Gòn, Văn Hào xb, 1970, 178 tr.) trong phần Phương Pháp Sử Học Tây Phương, tr. 25-85.
Cũng cần nói thêm là ông Châu Long lại là một đầu mối nằm vùng của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam mà biệt thự của ông tại Làng Ðại Học Thủ Ðức trước năm 1975 là nơi chứa chấp các cán bộ cao cấp Cộng Sản mỗi khi họ về Sài Gòn.
Sau ngày 30.4.1975, khi tất cả cư dân của Làng Ðại Học Thủ Ðức bị Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn Gia Ðịnh đuổi ra để họ chiếm cứ, thì ông Châu Long được Ủy Ban đền bù bằng một biệt thự trên đường Chi Lăng, Phú Nhuận. Tôi biết rõ được những chi tiết này vì một ngày đầu tháng 5.1975, ông Châu Long đã nhắn tôi đến đó gặp ông. Hôm ấy có mặt người thứ ba là giáo sư Lê Văn Chưởng dạy Ban Việt Hán, ̣ĐHVK Sài Gòn. Ở đó, ông Châu Long cho biết biệt thự ông đang ở là của Nguyễn Thiện Nhơn, hay Thượng Nhơn gì đó, Phụ Tá Ðặc Biệt của Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, nhà có 18 phòng, nhiều đến nỗi có phòng ông còn chưa vào. Rồi ông Châu Long gằn giọng, nguyên văn, “Anh thấy chưa, tôi đã đuổi Nguyễn Thế Anh ra khỏi Việt Nam rồi. Ban Sử là một ổ CIA, Ðỗ Phan Hạnh là trưởng lưới. Anh làm gì thì khai đi, người ta biết hết rồi. Anh có làm cho USIS không?”
Ðó là lần đầu tiên trong đời, tôi nghe thấy danh từ lạ tai “trưởng lưới” trong ngành an ninh tình báo! Càng nghe ông Châu Long nói, tôi càng chưng hửng, vừa buồn vừa chán vừa khinh vừa…sợ vì trước đó, thời VNCH, Châu Long là vị giáo sư rất hiền lành tử tế, cả một đời dạy học hầu như ông chưa hề đánh rớt sinh viên bao giờ!
Hôm ấy, ông Châu Long còn đưa cho anh Chưởng và tôi xem tấm thiệp của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn mời ông tham dự lễ mừng chiến thắng tại Dinh Ðộc Lập vào ngày, nếu tôi nhớ không lầm, là 12.5.1975.
Anh Lê Văn Chưởng hiện còn ở Sài Gòn thì phải, còn ông Châu Long nghe nói sau này hối hận (?), vào ở trong một ngôi chùa và mất ở đó. Thế cũng xong một kiếp người!
Hạng “giáo sư” như ông Châu Long này (xuất thân “tiến sĩ đại học” là thứ tiến sĩ ở Pháp cho không những phần tử tại các thuộc địa để họ về lại đất nước họ, loại bằng mà ứng viên không cần có Cao Học, cũng chẳng cần Cử Nhân, chỉ cần nộp một “công trình” là xong) được chế độ Việt Nam Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy đại học, cho làm công chức cao cấp tại Bộ Ngoại Giao (phụ trách chương trình đào tạo Tham Vụ Ngoại Giao), được cấp biệt thự sang trọng tại Làng Đại Học Thủ Đức, vậy mà nằm vùng cho Cộng Sản đánh phá miền Nam, rồi tố cáo đồng nghiệp và sinh viên của mình cho các cán bộ Cộng Sản tiếp thu Trường Đại Học Văn Khoa tại Sài Gòn đầu tháng Năm năm 1975 thì có xứng đáng được gọi là “giáo sư” hay không?!
Hỏi, tức là trả lời!
Xin trở lại với giáo sư Trương Bửu Lâm. Tôi đã đắn đo -và có phần đau buồn- trước khi viết những dòng chữ trên đây. Lý do là truyền thống đạo đức Ðông Phương dạy người ta tôn kính và nhớ ơn thầy. Nhưng cũng là một ông thầy trong hơn 8 năm tại Việt Nam và 26 năm tại Hoa Kỳ, tôi nhận định thầy phải xứng đáng là thầy về khả năng và nhất là về tư cách thì trò mới tôn kính và nhớ ơn được. Tôi lại nghĩ đến những tội bất hiếu trong truyền thống Ðông Phương. Thường thì ai cũng chỉ biết tội nặng nhất, là tội không có con trai nối dõi tông đường, mà ít ai biết được hai tội kia. Ðó là tội làm con đã trưởng thành mà không đi làm nuôi cha mẹ già yếu. Và tội thấy cha mẹ lầm lỗi mà không lên tiếng để người khác chê cười cha mẹ.
Vì thế, tôi đã quyết định viết những dòng chữ trên. Mong độc giả và nhất là Giáo Sư Trương Bửu Lâm hiểu. Mà không hiểu thì tôi đành chịu, chứ trong nghề thì tôi không làm khác được.
Cuối cùng, những dòng chữ trên đây không hề có ý phê bình sự thiên Cộng của giáo sư Trương Bửu Lâm. Tôi tôn trọng lý tưởng của người khác. Người có lý tưởng mà tranh đấu cho lý tưởng, sống chết với lý tưởng, càng đáng trọng hơn nữa.
Tôi giành quyền phân tích là phân tích sự xuyên tạc và bóp méo sự kiện quá khứ của người viết Sử!
Nếu, ngay trong lời nói đầu, tác giả của A Story of Vietnam cho biết ông viết nhằm vinh danh Ðảng Cộng Sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh của đảng này thì vấn đề đã tách bạch. Và độc giả nào đồng hội đồng thuyền với ông xin cứ tiếp tục thưởng thức.
Nhưng không, tác giả đã nhân danh một sử gia chuyên nghiệp để viết lịch sử của một dân tộc.Nguyên văn trong phần Lời Tựa (Preface) nơi trang VIII như thế này: “As a specialist of Southeast Asian History, I am often asked to introduce a book that would relate the history of Vietnam, from its beginnings to the present… That is the reason I am happy and humbled to introduce here a work of mine I entitled A Story of Vietnam. I call it a story and not a history, because I do not want my book to be the usual conventional textbook, overburdened with interminable academic, historical, and bibliographic references. I prefer it to be easy to read, shorter on facts, and longer on stories. I also want my book to represent the sum total of what I have learned existentially about Vietnam in Vietnam, added to what I have researched and studied during the decades that I taught its history in colleges and universities in Vietnam and in the U.S.”
Xin tạm dịch: “Là một chuyên viên về sử Ðông Nam Á, tôi thường được yêu cầu viết một quyển sách liên hệ đến lịch sử Việt Nam từ khởi nguyên cho đến hiện tại… Ðó là lý do tôi vui mừng và khiêm tốn giới thiệu một tác phẩm của tôi tựa đề Chuyện Kể về Việt Nam. Tôi gọi đây là chuyện kể mà không phải là sử vì tôi không muốn sách của tôi là loại giáo khoa thông thường, miên man những tham chiếu hàn lâm, lịch sử, và thư tịch. Tôi thích sách dễ đọc, sự kiện càng ít mà chuyện kể càng nhiều. Tôi cũng muốn sách của tôi là tổng thể tất cả những gì tôi đã thực sự học được về Việt Nam tại Việt Nam, cộng với những gì tôi đã nghiên cứu và tìm hiểu qua nhiều thập niên giảng dạy Việt Sử trong các trường đại học lớn nhỏ tại Việt Nam và ở Hoa Kỳ.”
Thật đáng tiếc là tác giả của những sử phẩm chuyên nghiệp và giá trị như Sử Học Phương Pháp Luận tại Sài Gòn thời VNCH và sau này tại Hoa Kỳ như Patterns of Vietnamese Response to Foreign Intervention, hay New Lamps for Old, hay Resistance, Rebellion, Revolution, hay Colonialism Experienced lại là tác gỉa của A Story of Vietnam lúc về hưu.
Những công trình nghiêm túc trên đây bên cạnh thứ sách tuyên truyền chính trị thật không xứng đáng với tầm cỡ của một giáo sư đại học xuất thân từ miền Nam nước Việt!
Mặt khác, tôi không tin rằng với tình cảm dành hết cho Ðảng Cộng Sản và chế độ Cộng Sản độc tài toàn trị tại Việt Nam mà tác giả của A Story of Viet Nam sẽ được chế độ Hà Nội trọng vọng hay ưu đãi. Vì, với bản chất đa nghi của những nông dân trong làng xã, người cán bộ Cộng Sản Việt Nam nhìn ông trước sau chỉ là trí thức tiểu tư sản thành thị với tất cả những căn tính hời hợt, ham hưởng thụ, sợ khó sợ khổ, mà không có lý tưởng gì cao cả.
Khi nhận được quyển A Story of Vietnam do Giáo Sư Trương Bửu Lâm gửi từ Hawaii với hàng chữ “Xin gởi tặng Anh Trần Anh Tuấn để cùng nhớ lại những kỷ niệm xa xưa. Trương Bửu Lâm (ký),” tôi đã bối rối. Nội dung thế này thì làm sao mà tôi im lặng được?!
Vì thế, tôi đã phải mua ngay một quyển thứ hai để phân tích. Còn quyển được vị Thầy cũ ưu ái gửi tặng thì tôi xếp vào tủ sách của những kỷ niệm xa xưa và trong sáng, nẩy sinh từ niên khoá 1963-64 tại Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn.
Nói “xa xưa và trong sáng” vì hồi đó, Sử Học Phương Pháp Luận của giáo sư Trương Bửu Lâm là sách, cours quay ronéo thì đúng hơn, gối đầu giường của tôi. Và khi tôi đến thư viện Viện Khảo Cổ -lúc ấy là một biệt thự nhỏ ở đường Lê Thánh Tôn ngay trung tâm Sài Gòn- đọc sách, thì hầu như sách nào tôi tìm đọc, nhất là các ấn phẩm của École Francaise d’ Extrême-Orient (Viễn Ðông Bác Cổ Học Viện, quen gọi là Viện Viễn Ðông Bác Cổ, hay Viện Bác Cổ, Hà Nội), Société des Amis du Vieux Hué (Ðô Thành Hiếu Cổ Hội, Huế), và Société des Études Indochinoises (Ấn Hoa Cổ Học Hội, quen gọi là Hội Nghiên Cứu Ðông Dương, Sài Gòn), cũng thấy những ghi chú ngoài lề bằng bút chì, nét thanh mảnh rất rõ và đẹp của Ông Giám Ðốc họ Trương, người lúc nào cũng mặc complet mầu nâu sáng với mái tóc hippy dài phủ gáy, đúng điệu hào hoa của một công tử Nam Kỳ Lục Tỉnh!
TRẦN ANH TUẤN
(Trong Sử Việt Tại Bắc Mỹ 1975-2020 chưa xuất bản)
Những năm “cải tạo” ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.
Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.

Ngày nhập trại, sau khi “biên chế” xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái lán lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ “đồng chí cán bộ quản giáo” đến tiếp nhận.
Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào lán. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Một nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ: “Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ?”
Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi, miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.
Bằng một giọng đặc sệt Nghệ Tĩnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình: Nguyễn văn Thà, rồi “báo cáo” môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản “lý lịch trích ngang”.
Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ “tội” dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm – bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm – bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:
– Trong này có anh nào thuộc Sư Đoàn 23?
Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng:
– Thưa cán bộ, có tôi ạ.
– Anh ở trung đoàn mấy.
– Trung Đoàn 44.
– Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
– Vâng, có ạ.
Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên:
– Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó.
Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:
– Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào?
– Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư Đoàn 320.
Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
– Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
– Sau đó cán bộ được trao trả? Tôi hỏi.
– Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị. Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.
Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi lán được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói:
– Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy.
Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một người tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.
Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong lán, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bằng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.
Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng:
– Tôi để một giỏ cá đằng sau lán. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.
Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.
Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân, quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp “Hoàng Cầm” để luộc sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luộc sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh “chuẩn bị đi về”, anh em tức khắc giấu hết “tang vật” xuống một cái hố đã đào sẵn.
Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no – dù chỉ là no sắn.
Không biết tối hôm ấy, trong giờ “giao ban”, quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng?
Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ:
– Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.
Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em:
– Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư Đoàn 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm. Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.
Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
– Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? Một anh tù hỏi.
– Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố giấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằn vặt mãi cho đến hôm nay.
Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.
Một buổi sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.
* * *
Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 50 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.
Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị “hạ tầng công tác” ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.
Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ học. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.
Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.
Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nở, đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.
Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen cho biết bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.
Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ đến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thuở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ: “Ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn”. Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.
Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.
Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.
Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ -20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe. Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.
– Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ? Tôi hỏi.
– Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.
Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:
– Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?
– Ông Thà, Nguyễn văn Thà, bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan?
– Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.
– Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.
Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những người đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.
Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng nhiều lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi.
– Bây giờ cháu đang ở đâu? Tôi hỏi.
– Cháu đang trốn ở nhà một người bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.
– Ba cháu bây giờ làm gì?
– Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.
Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.
Tôi nhớ tới một người bạn Ba-Lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau, anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.
Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang. Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.
Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm. Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.
Anh đưa tôi đến gặp cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.
Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.
Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.
* * *
Các Anh thân quý
Khi ngồi viết những dòng này cho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: “Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại để chăm lo cho bộ lông của mình”. Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.
Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.
Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới. Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình.
Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba-Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.
Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quý giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che cho ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian…”
* * *
Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: “Xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?”
August 27, 2008
phạm tín an ninh
Vĩnh Đào
KHÔNG ĐỀ
Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn.
Trên đây là một bài thơ rất được nhiều người biết đến của nhà thơ thiền sư Thương toạ Thích Tuệ Sỹ (ngày nay là Hoà thượng Thích Tuệ Sỹ). Bài thơ rất quyến rũ, lời thơ đậm màu triết lý nhân sinh nhưng cũng rất bí hiểm. Làm sao “hiểu” được bài thơ này? Người thưởng thức thơ có thể đọc đi đọc lại nhiều lần và thấy mình bị cuốn hút vì nhạc điệu của bài thơ cũng như những ngôn từ thanh thoát, gợi cảm, vừa giản dị vừa thông thái, nhưng không biết phải diễn dịch cách nào, làm sao theo dõi những tư tưởng của tác giả. Cho đến nay không có một bài bình giảng nào thử đưa ra một đuờng hướng để tiếp cận bài thơ này, ngoại trừ một bài cảm tưởng của Bùi Giáng (“Đi vào cõi thơ Tuệ Sỹ”, đăng trong quyển Đi vào cõi thơ, Nhà xuất bản Ca Dao, Sài Gòn, 1969), được thường xuyên nhắc tới trong những bài viết về thơ Tuệ Sỹ.
Nhưng theo tôi, thi sĩ Bùi Giáng chỉ đưa ra những cảm tưởng khái quát, khẳng định những điều to lớn, mà không đưa ra bất cứ một luận cứ nào để chứng minh những điều mình nói: “Ta tưởng như nghe ra ‘cao cách điệu’ bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzsche… Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ từ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.” Khẳng định những điều to lớn như vậy không có ích gì để giúp cho người đọc có một cái nhìn rõ hơn về tác phẩm.

Trước khi thử tìm một lối tiếp cận thỏa đáng bài thơ này, chúng ta cần biết rõ hơn về tác giả và hoàn cảnh sáng tác thi phẩm.
Thích Tuệ Sỹ, tên thật là Phạm Văn Thương, sinh tại Paksé, Lào, năm 1943. Vào đầu thập niên 1970 trong số các giáo sư của Viện Ðại Học Vạn Hạnh thì Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ và Phạm Công Thiện, chủ bút tạp chí “Tư tưởng” của Viện Ðại Học Vạn Hạnh, cả hai đều dưới 30 tuổi, được xem là những trí thức lỗi lạc nhất. Tuệ Sỹ chuyên về Phật học và tư tưởng Đông Phương, còn lãnh vực của cư sĩ Phật giáo Phạm Công Thiện là triết lý Tây phương. Cuối năm 1970, Phạm Công Thiện rời Việt Nam để đi Pháp và không trở về. Tuệ Sỹ thay Phạm Công Thiện chịu trách nhiệm tạp chí Tư Tưởng, nhưng đến năm 1973 thì Tuệ Sỹ cũng quyết định rời bỏ Sài Gòn và Viện Ðại Học Vạn Hạnh để rút về chùa Hải Đức, trên đỉnh đồi cao heo hút phía Tây thành phố Nha Trang. Chưa đầy hai năm sau thì xảy ra biến cố tháng 4 năm 1975 và sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hoà.
Cuối hè 1976, Thầy Tuệ Sỹ lại quyết định dấn thân vào một cuộc thử nghiệm mới. Ông rời chùa Hải Đức, một mình đi làm rẫy ở vùng rừng núi Vạn Giả, cách Nha Trang khoảng 60 cây số. Đến năm 1977, ông rời Vạn Giả vào Sài Gòn sống ở chùa Già Lam. Năm 1978, thì bị nhà cầm quyền CSVN bắt giam cho tới đầu năm 1981.
Ngày 1-4-1984, Thượng toạ Tuệ Sỹ lại bị bắt giữ cùng với Giáo sư Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát và một số tăng ni, bị kết tội âm mưu lật đổ chính quyền. Trong phiên tòa xảy ra năm 1988, ông bị kết án tử hình cùng với Giáo sư Lê Mạnh Thát. Do sự can thiệp của các cơ quan bảo vệ nhân quyền quốc tế, ông được giảm án xuống còn chung thân khổ sai. Năm 1998 Thượng toạ cùng với một số người khác được trả tự do.
Năm 1999, Hoà thượng Thích Tuệ Sỹ đảm nhiệm trách vụ Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), một tổ chức tổ chức không được chính quyền CSVN và Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) thừa nhận. Năm 2019, Tăng Thống Thích Quảng Độ ủy thác Hoà thượng Tuệ Sỹ lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở vị trí Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống trong thời gian Tăng Thống lâm trọng bệnh. Hoà thượng Tuệ Sỹ tiếp tục xử lý thường vụ Viện Tăng Thống sau khi Tăng thống Thích Quảng Độ qua đời vào tháng 2-2020.
Tập thơ Giấc mơ Trường Sơn do An Tiêm xuất bản năm 2002 tập họp các bài trong bốn tập bản thảo mỏng là Phương trời viễn mộng gồm 9 bài thơ viết trước năm 1975, Giấc mơ Trường Sơn gồm 29 bài sáng tác từ năm 1975 đến 1980, Tĩnh toạ gồm 9 bài, viết từ 1983 đến năm 2000, và Tĩnh thất, gồm 32 bài viết trong các năm 2000 và 2001.
Bài thơ trên đây, tác giả chỉ để là “Không đề” trong tập bản thảo. Trong tập Giấc mơ Trường Sơn, bài này mang tên “Khung trời cũ”. Đây có lẽ là tựa do nhà xuất bản đặt khi in lại, nhưng tựa đề này hình như không thích hợp mấy vì không liên quan đến các ý tưởng tản mạn của tác giả, từ những kỷ niệm của quá khứ đến những tư tưởng triết lý về thời gian và cuộc đời, và trở về hiện tại giữa bốn bức tường của tác giả, mơ tưởng đến một con suối giữa rừng, diễn tả rất sâu sắc và cô đọng.
Bài thơ trên được sáng tác theo thể thơ tự do, bắt đầu bằng hai câu thơ 9 chữ, phần còn lại chủ yếu là những câu thơ 8 chữ, xen kẻ với những câu 7 chữ, không theo một trật tự nào nhất định, nhưng khi đọc lên nghe rất quyến rũ vì nhạc tính rất cao và gây nên những cảm xúc khó tả, tùy theo những kỷ niệm cá nhân của người đọc, tuy rằng không dễ tìm ra những ý nghĩ nào dẫn dắt bài thơ.
Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Việc đầu tiên không nên làm là tự đặt ra những câu hỏi: Đôi mắt ướt của ai? Tuổi vàng nào? Và khung trời nào mà hội cũ? Những thắc mắc sẽ không bao giờ có được câu trả lời. Tác giả có những tâm tư, ý tưởng, những ám ảnh của riêng mình, viết ra thành lời thơ mà không có chủ đích diễn tả làm sao để người đọc hiểu rõ ngọn ngành. Vậy không có ích gì khi cố gắng tìm một cách diễn dịch nào cho “hợp lý”. Chúng ta chỉ có thể nhận thấy là hình ảnh này đã từng ám ảnh tác giả trong một bài thơ sáng tác trước đó vào năm 1976, trong thời gian đầu ở rừng Vạn Giả:
Người mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn
Khóe môi cười nắng quái cũng gầy hao
(“Một thoáng chiêm bao”)
Còn áo màu xanh nào? Trên đồi hoang thì chỉ có thể màu xanh của cỏ thay đổi theo thời gian. Hay là áo của một người nào? Không có gì cho phép xác định và điều này cũng không quan trọng để có thể ngăn cản chúng ta tìm hiểu phần tiếp của bài thơ.
Theo lời kể lại của Thượng tọa Thích Phước An, về sau là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hoá của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, thì chính Thầy Phước An vào mùa hè năm 1976 đã lên một chiếc xe đò cũ kỷ cùng với Thầy Tuệ Sỹ, để đưa Thầy đi làm rẫy tại một khu rừng hẻo lánh ở thị trấn Vạn Giả, gần đèo Cả. Rồi sau đó thì cứ một, hai tuần, Thầy Phước An lại về rừng Vạn Giả thăm bạn. Thầy thuật lại: “Đôi khi tôi ở lại đêm với anh trong túp lều tranh do tự tay anh cất lấy. Những lúc ở lại đêm như vậy, tôi lại càng cảm phục sức chịu đựng của anh. Đêm nơi đó chẳng có gì cả, ngoài ngọn đèn dầu leo lét trong túp lều tranh và bóng tối mịt mù giữa núi rừng mênh mông.”
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Chính những kỷ niệm ngồi tâm tình trong đêm khuya bên ngọn đèn dầu đã để lại cho nhà thơ những hình ảnh khắc sâu trong ký ức và cho cảm giác mình chia sẻ kiếp sống phiêu bồng của những người du thủ. Tác giả cũng đã nhắc đến một kỷ niệm tương tự trong một bài thơ khác:
Ai biết mình tóc trắng
Vì yêu ngọn nến tàn.
Rừng khuya bên bếp lạnh
Ngồi đợi gió sang canh.
(“Rừng khuya bên bếp lạnh”)
Sau khi hồi tưởng vài hình ảnh của quá khứ, nhà thơ chuyển dòng tư tưởng sang một hướng khác:
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Núi và biển biểu hiện cho thiên nhiên và tạo hoá, một thiên nhiên trường tồn qua năm tháng, không chịu ảnh hưởng của thời gian, không thể bị hủy diệt, không có gì biến mất, dù chỉ là một hạt muối trong lòng biển. Trước cái vô hạn của thiên nhiên là cái hữu hạn của con người:
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Người bị thời gian chi phối có cảm giác ngày vui qua mau, cùng với sự tiếp nối liên tục của các mùa. Xuân Diệu đã từng thở than: “Vừa nắng mai sao đã đến sương chiều?” Thi hào Victor Hugo của trào lưu lãng mạn Pháp thế kỷ 19 trong tập Lá mùa thu xuất bản tại Paris năm 1831 cũng đã so sánh tính trường tồn bất diệt của thiên nhiên trước cái cái mong manh của đời sống con người. Vạn vật luôn luôn tươi trẻ, mỗi năm lại hồi sinh trong một lễ hội tưng bừng, hoàn toàn thản nhiên, vô cảm trước kiếp người ngắn ngủi. Nhà thơ đã có những câu thấm thía như sau:
Một ngày tôi sẽ ra đi, giữa khung trời mở hội
Mà không có gì mất mát cho cõi đời rạng rỡ bao la! [1]
Nhưng đối với thiền sư, chắc chắn không có những tiếc nuối như vậy. “Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng?” chỉ là một câu hỏi cho người phàm tục. Đối với người tu hành, kéo dài kiếp sống chỉ là để trả cho xong nợ trần thế:
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Chỉ vì “tuổi đời chưa đủ” nên tác giả mới còn phải lưu lại trên trần gian, kéo dài một chuỗi ngày vô vị không có gì mà phải tiếc nuối. Các từ ngữ “gót mỏi” và “đi quanh” cho thấy nỗi chán chường của tác giả trước kiếp sống hiện tại.
Trở về với thực tại, nhà thơ đối mặt với tình trạng bị giam hãm của mình giữa bốn bức tường.
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn
Phải chăng đây cũng là một bước đi quanh quẩn trên con đường cát bụi của cõi trần gian? Rồi nhà thơ lại đưa trí tưởng tượng đến cảnh vật tự do thanh thản bên ngoài. Và biểu hiệu của tự do chính là con suối tung tăng giữa đá sỏi và cỏ cây, thảnh thơi chảy về sông và ra biển khơi. Trong một bài thơ khác của tập Giấc mơ Trường Sơn, tác giả cũng đã nhắc đến khoảng thời gian bị tù tội:
Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng
Như sương mai như ánh chớp mây chiều
(“Tôi vẫn đợi”)
Lần này thì mộng mơ của tác giả không còn mơ hồ như sương mai như ánh chớp mây chiều, mà là hình ảnh rõ nét một con suối rộn rã băng ngàn tượng trưng cho ước vọng tự do.
Phần phân tích trên đây chỉ là quan điểm riêng của người viết. Có thể có những lối giải thích khác. Một bài thơ chỉ có giá trị để tồn tại với thời gian nếu nó chứa đựng những ý tưởng dồi dào, gây nên những cảm xúc mạnh mẽ cho người đọc, và cảm xúc có thể khác nhau tùy người đọc.
Nhà thơ có thể muốn bộc lộ một tâm trạng khó phát biểu thành lời, bộc lộ những tình cảm, những cảm xúc dồn dập, tế nhị, trong những câu thơ cô đọng, và chỉ muốn viết ra cho riêng mình, không cố gắng sắp đặt lời văn cho dễ hiểu. Kết quả chúng ta có thể thấy những câu thơ hết sức quyến rũ do nhạc tính của câu, do nhịp điệu và vần, do sự lựa chọn và kết hợp ngôn từ, từ đó tạo cho người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, thích thú… Nhưng ý nghĩa của câu văn nhiều khi không rõ ràng, có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Và không thể nói là cách giải thích này đúng, hoặc cách nhìn kia sai.
Phạm Công Thiện khi bàn về thơ Tuệ Sỹ có nhận xét là: “Đọc thơ mà thấy rằng tác giả muốn nói rõ cái gì thì chẳng còn là thơ nữa.” [2] Trong những trường hợp này, khẳng định rằng: “Tác giả muốn nói…” là một điều hoài công. Mỗi người có thể cảm nhận bài thơ theo cách của mình, không nhất thiết phải tìm hiểu xem cách mình hiểu có hợp với những suy nghĩ của tác giả hay không.
Mặt khác, đứng trước một sáng tác với những ý tưởng dồi dào trình bày rất cô đọng theo ngôn ngữ thơ, người đọc thường thấy bỡ ngỡ và khó có thể tìm ra một đường lối tiếp cận để tìm thấy những nguồn cảm xúc mà tác phẩm có thể đem lại. Có lẽ vì vậy mà bài thơ “Không đề” hay “Khung trời cũ” của tác giả Tuệ Sỹ tuy được biết rất nhiều nhưng ít khi được bình giải. Nhiệm vụ của người bình giải là vạch ra một lối đi và trình bày những lý lẽ để thuyết phục người đọc khám phá tác phẩm theo lối mình. Cách nhìn đó có thể phù hợp với các ý tưởng của tác giả hay là không. Một khi một tác phẩm nghệ thuặt, một bức tranh hay một bài thơ, được trình bày trước công chúng, thì ý nghĩa có tác phẩm không còn thuộc về tác giả mà thuộc về người thưởng ngoạn.
Vĩnh Đào
[1] Je m’en irai bientôt, au milieu de la fête,Sans que rien manque au monde immense et radieux! Victor Hugo, Les Feuilles d’Automne (1831).
[2] “Nguyên Tánh – Phạm Công Thiện, Một Buổi Sáng Đọc Thơ Tuệ Sỹ” đăng lại trong Nguyên Siêu, Tuệ Sỹ Đạo Sư, Thơ và Phương Trời Mộng, tập 2 do Ban Tu Thư Phật Học Hải Đức Nha Trang in tại California, 2006. ↑
Tình yêu như cánh chim trời
Chơi vơi cánh mỏng diệu vời đường mây
Tay ôm vò rượu đêm say
Tình riêng trong cõi mộng này gần nhau
Tiếng đêm vỡ vụn nỗi sầu
Đêm khuya nức nở cơn đau khóc thầm
Lên non ngậm ngải tìm trầm
Xuống thôn hái đóa sen đầm hóa duyên
Trên cành tiếng hót chim uyên
Em nghiêng tay với, cười duyên một mình
Chợt nhìn dáng đứng rất xinh
Lòng anh như đã, sinh tình nở hoa
Trao nhau khăn lụa nhạt nhòa
Dùng dằng giữ lại khóc òa trên tay
Xót thương cho cõi mộng này
Mai sau xin nhớ đến ngày hội đêm.
Lê Tuấn
“trích dẫn một đoạn trong bài trường thi
Tình yêu như chim trời”
Ta buồn gửi gió phương tây
Tình riêng giữ lại đợi ngày ra hoa
Trời Nam giọt lệ nhạt nhòa
Đợi ngày hội lớn, thái hòa yêu thương.
Em về đỉnh núi mù sương
Chênh vênh gót nguyệt vấn vương dáng gầy
Nào ngờ gặp gỡ nơi đây
Nhớ nhau tay nắm thương hoài hương xưa.
Ơn trời tình vẫn đẩy đưa
Người từ xa đến vẫn chưa thẹn lòng
Lương duyên dệt mối tơ hồng
Chẻ đôi sợi nhớ chia dòng lệ rơi.
Mùa xuân ta mãi rong chơi
Nghe chim vui hót gọi đời tặng hoa
Mượn cành hoa nở làm qùa
Ghé thăm bạn cũ uống trà móc câu.
Cuối sông lại nhớ giang đầu
Con thuyền buông lái bên cầu đợi ai
Vui xuân rơi mất chiếc hài
Để cho Hoàng Tử ướm hoài chân em.
Vén màn ta bước vào xem
Em nằm gối mộng không thèm điểm trang
Đèn khuya lửa hắt hiu vàng
Đôi chân ngọc duỗi hai hàng động hoa.
Đời buồn theo bóng chiều tà
Bóng trăng tĩnh mịch hiên nhà nhớ thương
Bước đi theo những cung đường
Tình yêu trong cõi vô thường có nhau.
Lê Tuấn
“Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng
Thả hồn vào trong thơ, viết 100 câu lục bát
trong bài “Tình yêu như chim trời” để vinh danh tình yêu và thăng hoa cuộc sống.”





Đếm trên tay khoảng khắc ngọt ngào
Có bao đêm thao thức đợi chờ
Tình yêu đó bao lần bỡ ngỡ
Đã bao lần chờ đợi trong mơ.
Đã yêu em, yêu rất thật thà
Nhớ thương nhau sao quá đậm đà
Đừng quên nhé lần đầu gặp gỡ
Đã chìm sâu cảm giác mặn mà.
Cứ bên nhau tình ta lớn mãi
Dù bao lần chạm mối chia tay
Để cho đời gọi hồn lưu lạc
Về thôi! đừng ngại bóng tàn phai.
Từ đó tình thôi không dở chứng
Lặng lẽ thời gian hóa nhiệm mầu
Tuổi xuân tàn uá theo năm tháng
Tóc điểm hoa sương bạc mái đầu.
Lê Tuấn
“Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng”

Lăn qua bên nào cũng nhớ
Nghe tiếng thạch sùng than thở không thôi
Buồn sao cuộc đời trôi nổi
Nhớ và quên vẫn chẻ đôi nỗi buồn.
Chợt thèm lắm vòng ngực ôm
Gối bình yên cánh tay luồn suối tóc
Đêm dài lắm nghe tiếng khóc
Giật mình ngồi dậy, mệt nhọc đời mình.
Đơn sơ như tiếng lòng mình
Tình riêng một bóng thần linh là nàng
Giấc ngủ thao thức muộn màng
Lăn qua đã chạm môi nàng đắm say.
Tế Luân
(người nghệ sĩ lang thang để viết mãi vần thơ tình)
Người phỏng vấn: Ký giả Hoàng Bách (Việt Radio, Huston, Texas, Hoa Kỳ), 10-6-2020
1/ Ngày 5/6/2020, ông Joe Biden chính thức được Đảng Dân Chủ đề cử là ứng viên chạy đua vào tòa Bạch Ốc với ông Trump. Xin GS nhận định về ưu và khuyết điểm của ông ta.
Ông Joe Biden nói không hùng hồn, mạnh mẽ, có lửa và không có vẻ sẵn sàng thay đổi kiểu cách mạng, như ông ứng cử viên Dân Chủ kia, có lúc gần như thắng Biden, là Nghị sĩ Bernie Sanders (vì thế bị ô Trump nhạo báng đặt cho biệt danh là Sleepy Joe – anh chàng Joe buồn ngủ). Nhưng sau khi ông Biden thắng tại South Carolina nơi có nhiều ủng hộ của người da đen, và nhất là sau thắng lớn trong ngày bầu tuyển ứng viên trong nhiều tiểu bang, tức ngày Super Tuesday, March 3, thì các quan sát viên, kể cả nhà báo có tiếng thuộc Đảng Cộng Hoà như Nicholas Kristof, đã kết luận là khuynh hướng thực tiễn trong chương trình của Biden được cử tri tin tưởng là ông có thể trúng cử chức Tổng thống và kéo theo việc trúng cử của thêm nhiều ứng cử viên Dân chủ vào Quốc hội để có đa số dân chủ không những trong Hạ viện (đã có đa số đó rồi) mà còn ở Thượng viện nữa.
Trong cuộc bầu cử thực thụ (general elections) chức Tổng thống vào tháng 11, 2020, ứng cử viên muốn hơn phiếu đối phương thì phải đươc lòng đại da số không những trong Đảng của mình, mà còn cả trong các tầng lớp cử tri độc lập không là Dân chủ hay Cộng hoà, họ khá đòng đảo và là khối cử tri lay chuyển được kết quả bầu cử (swing votes). Quá thiên tả phái như ứng cử viên dân chủ McGovern năm 1972 hay quá thiên bảo thủ Cộng Hoà như Barry Goldwater năm 1964 thì dễ thất bại. Năm 2018, Đảng Dân Chủ đã tạo được đa số trong Hạ Viện là nhờ sự trúng cử của một số ứng viên ôn hoà có lập trường tranh cử thực tiễn. Ông Trump ngán ông Biden, mặc dù nói là Sleepy Joe, vì đòi điều tra gia đình Biden mà không đòi điều tra ông “socialist/ xã hội chủ nghĩa” Sanders xem có dính dáng gì tới chuyện Đại học Burlington không.
Trong những tháng vừa qua và sắp tới khi phong trào bênh vực cử tri da đen nổ bùng lên, có tham dự của nhiều cử tri da trắng và sắc dân khác như người gốc Mễ, có công tâm, ông Trump dọa đem quân đội, chỉ có vai trò quốc phòng ở ngoài lãnh thổ Mỹ, để đàn áp dân biểu tình, như một nhà độc tài lợi dụng chỗ đứng trên cao quyền lực mà chống lại giai tầng trung lưu và nghèo, họ đang hành xử quyền tự do ngôn luận do Hiến Pháp bảo vệ trong First Amendment. Rồi ông phải bẽ bàng rút lui, bỏ chủ trương “khống chế” đó (ổng dùng chữ “dominate”) sau khi các đám biểu tình trở nên ôn hòa, không còn có cảnh đập phá cửa tiệm mà hôi cuả, và nhiều nhân vật Cộng Hoà và tướng lãnh phản đối, chê là vi phạm Hiến Pháp.
Diễn tiến đó là môt sự thắng lợi của Biden, vốn xuất thân từ một gia đình thuộc giai cấp lao động. Trong hơn ba năm, các báo đài đã dùng phương pháp đếm (fact-checking) hơn 20.000 lần ông Trump nói sai sự thật, rồi họ trách ông phản ứng chậm truớc sự lây lan của vi khuẩn COVID-19 (mãi đến ngày 16 March 2020 mói hành động) dù đã được chuyên viên báo động sớm, và đến khi họp báo hàng ngày tại White House với ban chỉ huy, Task Force, thì lại phát ngôn bừa về thuốc ký ninh có khả năng khử virus, dù không có cơ quan y tế nào xác nhận, lại còn giấu diếm mình chậm trễ trong mấy tháng việc ban hành các biện pháp phòng bệnh, bằng cách giấu đi không công bố tờ trình 17 trang của các chuyên gia trong cơ quan Center of Disease Control. Cho nên đến khi ông Trump phát ngôn về muốn dùng quyền Tổng tư lệnh quân đội để trị các đám biểu tình, vốn thuộc quyền giữ an ninh trật tự của các Thống đốc tiểu bang, theo thể chế Liên bang quy định trong Hiến Pháp, thì đủ các thành phần dân Mỹ, kể cả dân thất nghiệp vùng Trung Tây Mỹ truớc đây ủng hộ Trump, càng chán ngán, và hơn nữa ta thấy lại còn nhao nhao nổi lên bao lời phản đối của một số nhân vật quan trọng, kể cả thuộc Đảng Cộng Hoà, khiến chỉ số dân chúng ủng hộ ông Trump, so với ông Biden, giảm đi nhiều. Các tướng trong Uỷ ban Liên quân (Joint Chief) tách khỏi quan điểm ông Trump, nói không thể dùng quân đội, vốn là lực lượng hòa nhập rất tốt mọi sắc dân trong xã hội nước Mỹ, vào việc chống bất cứ công dân Mỹ nào, thuộc sắc dân nào. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mattis dám quở trách Tổng tư lệnh Trump là không nói những lời đoàn kết quốc gia mà trong hơn ba năm cầm quyền thiếu khả năng lãnh đạo, và là mối nguy và miả mai cho Hiến Pháp, ông có thể dùng quân đội đàn áp dân, cho nên ông Mattis noí là “Dân chúng tôi có thể đoàn kết mà không cần ông Trump”. Cựu tướng Colin Powell, cựu Bộ trưởng Ngoại giao của Tổng thống Cộng Hòa Bush, nói là ông sẽ bầu cho ông Biden. Nghị sĩ Cộng Hòa Mit Romney cũng biểu tình nói không ủng hộ Trump.
Sử gia David Brinkley, chuyên khảo các đời Tổng thống, nói là Trump nói những lời chưa ai nói. Theo nhà bình luận các vấn đề quốc tế Kimberley Dozier, các lãnh đạo các quốc gia trên thế giới bị sốc khi nghe Trump nói như trên. Hệ quả về dư luận cử tri, theo thăm dò trong tháng 6, 2020, tỷ lệ ủng hộ Trump chỉ là 40%, thua gần 10% so với tỷ lệ 49% ủng hộ Biden. Hỏi riêng về Trump, tỷ lệ cử tri khen ngợi Trump là 38%, còn 57% phỉ nhổ Trump; hỏi riêng về Biden, tỷ lệ cử tri khen ngợi là 69%. Báo Politico nói phía Trump đang tìm cách phá tan trào lưu đang lên của Biden bằng cách “dí” ông ta vào một vị trí lập trường ngõ cụt nào đó, nhưng chắc không làm nổi, vì ông Biden là cáo già, khéo mềm dẻo, lại có các chính khách gạo cội trong Đảng Dân Chủ, như ông bà Clinton, ông bà Obama, giúp cố vấn.
2/ Do những biến cố bất ngờ như Covid-19, biểu tình chống kỳ thị đã làm lu mờ mua bầu cử của Mỹ năm nay. Theo GS, chủ đề tranh luận trong mùa bầu cử là gì: Kinh tế hay Trung Cộng?
Chủ đề tranh luận trong bầu cử thì sẽ khó tiên liệu, vì sẽ còn tuỳ các biến cố thay đổi và sự thay đổi hay lèo lái bất chợt để lẩn tránh của ông Trump, trơn tuột từ quan điểm này sang quan điểm khác, như con lươn, con chạch.
Thí dụ: Trước đây vài năm hay vài tháng, Trump khuyến cáo nên nói chuyện với bọn White Supremacists, để có thỏa hiệp (“make a deal”) y như là sẵn sàng “đi với quỷ”, nhưng nay ổng lại muốn tự xưng mình giống Nixon khi xưa, 1968, là “candidate of law and order” (ứng cử viên của luật pháp và ổn định). Nhưng vì không có các ứng cử viên cùng đứng trên cùng sân khấu mà tranh luận, vưà ném banh vừa đỡ banh (tung luận chứng vào địch thủ và chống đỡ luận chứng địch ném tới mình), như trong bầu cử sơ bộ trước đây, cho nên tranh luận giữa Trump và Biden có thể qua hình thức online của Internet, do đó có thể ỉu xìu hơn, ít các chuyện bất ngờ có kịch tính, nhất là tôi nghĩ Biden sẽ ít có cơ hội làm rối trí, hạ nhục Trump về sự thiếu kiến thức đào sâu, vì trong cái buồng chỉ có mình ô Trump có camera chiếu vào mặt ông, thì phía đằng sau camera, có thể có các chuyên viên cầm các tờ giấy hay chiếu lên tường các câu trả lời để “nhắc tuồng” ông Trump (tuy phải nhận là ông ta khá thông minh, biến báo nhanh) – thế là giảm cơ hội cho Biden làm lộ rõ kiến thức nông cạn của Trump, vì không chịu đọc các tờ trình cuả các chuyên viên mà chỉ phát ra mấy cái tweets mà bàn sơ sài.
Trước COVID-19, ta có thể nghĩ các đề tranh luận có thể là health care/ repeal ObamaCare, sửa luật thuế cho bớt ưu đãi giới giàu, thi hành gắt hơn hay sửa lại chính sách đi dân nhập cư và xây tường thành biên giới, nhưng nay, chắc kinh tế hậu COVID-19 quá khó khăn cho các tầng lớp trung lưu và nghèo, vả lại đã có các chi phiếu trợ giúp với sự bội chi ngân sách cực lớn cho các tầng lớp do cả hai Đảng cùng chủ trương, cho nên không có các tranh luận về giảm thuế, deficit financing (bội chi). Mà có lẽ chỉ bàn xem có nên có đợt trợ giúp 3 hay không, mà chắc cả hai phiá đồng ý, dù Trump có cố ra lệnh cho Ngân khố US Treasury ghi chữ ký của ông vào chi phiếu trợ cấp, thủ lợi cho tiếng tăm mình (tuy chi phiếu chi tiền cho dân lấy từ Ngân khố Mỹ thì chỉ cần chữ ký Giám đốc Ngân khố). Có lẽ Trump cũng không dám động đến việc hủy bỏ ObamaCare là điểm tựa cùa người dân Mỹ trung bình, trong lúc dân đang khổ vì mất việc, không lương, không tiền mua bảo hiểm. Ông Biden có thể tố cáo ông Trump là kiện hủy bỏ ObamaCare không phải là theo đuổi một chính sách mà là một đòn phá hủy Obama với ác ý, nhưng hại cho dân Mỹ. Trong những tháng COVID-19, làn sóng đi cư vào Mỹ không còn, do đó chính sách hạn chế di dân, kể cả bằng bức tường biên giới tốn kém, chắc cũng không còn là đề tài tranh luận sôi nổi giữa Trump và Biden nữa.
Nhưng vì việc dân da màu đã lâu bị ngược đãi với bạo động và kỳ thị bất bình đẳng, kể cả các biện pháp làm khó việc họ đi bầu (đặt rất ít phòng bầu phiếu gần nơi họ cư ngụ), thì vấn đề tranh luận tới là có nên cho bầu bằng thư cho tất cả những ai không muốn hay không thể đến phòng phiếu, mà xin cấp phiếu bầu qua bưu điện, trong hoàn cảnh COVID-19 phải cách ly, mà người da màu thường chỉ có phương tiện chuyên chở công cộng để đến phòng phiếu.
Về mặt ngăn chặn hay trừng phạt Tàu về việc giấu kín sự lây lan ban đầu của COVID-19 và sự ăn cắp tài sản trí tuệ (intellectual property), bằng các chế tài, hay sự mặc cả ép Tàu mua thêm hàng hoá Mỹ để giảm khiếm hụt cán cân thương mại và chi phó (balance of trade and payments), thì thiết nghĩ lập trường Đảng Cộng hoà và Dân chủ giống nhau. Có lẽ sẽ không có tranh luận nhiều về điểm này trừ khi phe Dân chủ muốn ông Biden bêu xấu ông Trump về sự lầm lẫn quá khứ là cứ khen ōng Tập Cập Bình là “best friend” và cách ông Tập đối phó với đại nạn COVID-19 là có tài lãnh đạo “mạnh mẽ, sắc sảo” và tập trung đua đến “một chiến dịch rất thành công”, rồi sau đó ông Trump mới thấy Tàu giấu diếm, và trừng phạt các bác sĩ Tàu có lương tâm, dấy lên tiếng báo động, và Trump đổi giọng gọi là China Virus hay Wuhan Virus. Đấy là chưa kể Tàu làm hại quyền lợi của Mỹ trong thương mại quốc tế và tự do lưu thông và an ninh hàng hải tại Tây Thái Bình Dương.
3/ Gần đây vì COVID-19, một số tiểu bang đề nghị bầu cử năm nay bằng thư. Ông Trump chống đối vấn đề này, lấy lý do bầu băng thư thì gian lận. Vậy ai có quyền quyết định, Thống đốc hay liên bang?
Xin coi lại những câu tòi đã phát biểu trên về lý do chính cho bầu bằng thư là tạo cho dân thiểu số da màu nhiều cơ hội bầu, chứ bắt họ vượt nhiều khó khăn tới thùng phiếu thì có khi họ không đi, tức là bầu bằng thư là bảo đảm cho sự bình đẳng chính trị, theo nguyên tắc mỗi người một phiếu (one man, one vote). Trong quá khứ, đã có rất nhiều trường hợp bầu bằng thư, như cho quân đội hay công dân cư ngụ ở hải ngoại, v.v. bầu bằng thư mà có xảy ra chuyện gian lận đâu? Việc ông Trump nói ngoa là bầu bằng văn thư sẽ có gian lận thì cũng như việc ông nói bừa không trưng bằng chứng là năm 2016, bà Clinton hơn ông hơn hai triệu phiếu popular votes là có nhiều phiếu gian lận, mà không có ai đồng ý đó với ông.
Tổ chức bầu cử Tổng thống, về mặt vật chất, như xếp đặt các phòng phiếu ở đâu, in phiếu bầu ra sao, kiểm phiếu thế nào, là việc thuộc thẩm quyền của mỗi tiểu bang, do sự quản lý của Secretary of the State. Chắc mọi người còn nhớ là năm 2000, bà Secretary of State cuả bang Florida đã cho nhân viên kiểm và đếm lại các lá phiếu đã có computer đục lỗ rồi, nhưng bà, thuộc Đảng Cộng Hoà, cũng là người cho ngưng việc các nhân viên soi các lá phiếu lên cao xem phiếu bầu cho ai, khi bà thấy số phiếu bầu cho ông Bush tại Florida đủ cho ông thu lượm toàn thể số electoral votes tại Florida, và do đó làm ông có số phiếu cử tri đoàn (elector votes) đủ quá bán trên toàn quốc mà thắng cử vào Toà Bạch Ốc. Theo điều II Hiến Pháp, mỗi tiểu bang sẽ tự quy định việc cử ra cử tri đoàn, các đoàn này cuả các tiểu bang sẽ họp và dựa vào số phiếu quần chúng (popupar votes) mỗi tiểu bang đã bầu cho Trump, hay Biden, ai nhiều phiếu quần chúng hơn thì cử tri đoàn (electors)mỗi tiểu bang buộc phải dồn toàn thể số phiếu cho người đó, Trump hay Biden.
4/ Nhiều nhà xã hội học cho rằng nước Mỹ đang bị chia rẽ và phân hóa trầm trọng. Thực tế có đúng như vậy không? Hay thổi phồng quá đáng?
Quả thực, so với các thời kỳ của các Tổng thống tiền nhiệm gần đây, nhiều ông biết tỏ lòng nhân, rung động, rơi nước mắt, khi muốn nhân dân đoàn kết thương nhau trong các vụ tội phạm do kỳ thị nhau, thí dụ như Clinton đọc điếu văn trong vụ tên lính Timothy MacVeigh thuộc phe da trắng bảo thủ muốn thống trị, cho nổ bom phá toà nhà công sở Liên bang ở Oklahoma, làm chết mấy trăm trẻ em lớp mẫu giáo; hay Obama hát an ủi các tang gia trong tang lễ cho các người da đen bị sát hại khi họ bị khủng bố trong khi ngồi trong nhà thờ, thì chưa bao giờ như bây giờ, ta thấy xã hội Mỹ bị bọn khiêu khích chia rẽ các tầng lớp dân trong sự hằn học với nhau, như trong thời ông Trump, một tổng thống mà cá tính thiếu tính bao dung, lòng thương người, sự mong ước đoàn kết dân tộc, mà chỉ thấy vẻ mặt nhăn nhó, không cừoi, ưa gây sợ hãi, chia rẽ, không những trong quần chúng mà trong cả các hàng ngũ lãnh đạo trong Quốc hội và trong các thành viên nội các hay các nhân viên của bộ máy hành chính. Xa hơn trong quá khứ, Tổng thống Cộng Hoà George H. W. Bush đưa ra khẩu hiệu “Toward a kinder, gentler nation”; Tổng thống Dân Chủ Johnson, dù kẹt với chiến tranh Việt Nam tốn kém mà vẫn đưa ra các chương trình xoá nghèo đói “The Great Society” vào thời gian mà Martin Luther King cũng kêu gọi giúp dân nghèo, ngoài chuyên bình đẳng dân quyền.
Trái lại, ông Trump, thâm tâm kỳ thị da đen (gia đình ông cộng tác với tư bản người Do Thái, kể cả ông thông gia Kushner, và rể Kushner), không thương người nghèo (làm giàu trong sự bóc lột, trả lương rẻ, có khi không trả, cho các nhân công trong các dự án xây cất tại New York), cho nên ông Trump không có cảm tình với dân da màu trong khi biểu tình yêu cầu bỏ các tượng các tướng lãnh phe Miền Nam của Nội Chiến Mỹ tại tỉnh Charlottesville, Virginia, và khi phe “da trắng thống trị” (White Supremacists) ập tới xô xát và lái chiếc xe đâm tàn bạo vào đám biểu tình (sau này người lái xe bị án hình) thì ông Trump lại nói nước đôi: “Cả hai bên đều có lẽ phải”. Sau bao nhiêu vụ những năm gần đây có cảnh sát đùng bạo lực giết dân da màu, kể cả hai vụ kẹp cổ đến chết hai nghi can da đen chưa rõ tội trạng có bị Tòa kết án hay không, tại New York City và Minneapolis, thì có nhiều cuộc biểu tình của Phong Trào Bảo Vệ sinh Mạng Người Da Đen “Black Lives Matter” (Sinh Mạng Người Da Đen Phải Được Coi Trọng) trong hơn 600 thành phố, đòi các thành phố, là định chế hành chính cai quản nhân viên công lực, phải trừng phạt cảnh sát bạo hành ngừời da đen trái luật và cải tổ sâu rộng các sở cảnh sát; thế mà ôngTrump vẫn nói “99% cảnh sát làm đúng luật” (ông nói bừa ra con số này, như vẫn phát ngôn bừa trong hầu hết mọi vấn đề).
5/ Trong Cộng đồng Việt Nam nhiều người tin rằng chỉ có Trump mới chống Trung Cộng và đây là cơ hội giúp Việt Nam thoát Trung. GS lý giải như thế nào về quan điểm này?
Nói thế là không thuộc lịch sử về chính sách Mỹ. Từ mấy đời Tổng thống trước đã muốn giúp Việt Nam thoát Trung từ lâu, chứ không phải đợi đến Trump mới có một Tổng thống chống Tàu giúp Việt Nam thoát Trung. Trump đã sẵn sàng nịnh Tàu (sang thăm Tàu mà có cử cháu gái ngoại, con của con gái Ivanka Trump, đứng lên trong bữa tiệc hát bài hát Tàu; còn khen Tập nhiều lần như nói trên, và khi muốn nhờ Tập ảnh hưởng đến Chủ tịch Bắc Triều Tiên Kim Jong Un về yêu cầu giải giới võ khí hạt nhân Mỹ đề xuất) chứ không trực tiếp chống Tàu về mặt quân sự hay ngoại giao giùm Việt Nam đâu, hay giúp Việt Nam thoát Trung về kinh tế, ngoại thương đâu.
Việc thoát Trung về các phương diện đó tuỳ thuộc vào ý chí kiên cường CUẢ VIỆT NAM (MÀ NẾU KHÔNG CÓ THÌ CHẲNG CÓ CHÍNH PHỦ CUẢ TỔNG THỐNG MỸ NÀO GIÚP ĐƯỢC) trong sự nghiệp bảo vệ độc lập tự chủ về mặt ngoại giao giữa nhà nước với nhà nước và giữa đảng và đảng (chứ không phải hàng năm cử cán bộ sang Tàu họp để phối trí cho thống nhất chính sách Việt Nam cho đúng Tuyên Bố Chung, và các lời nhắn rỉ tai vừa mua chuộc vừa đe dọa các cán bộ đi sang Tàu nhận lời chỉ dạy như thế), độc lập tự chủ về mặt luật pháp quốc tế (dám kiện Tàu trước Toà án Luật Biến về quyền lợi Việt Nam xét thấy có ghi trong Công Ước Liên Hiệp Quốc Luật Biển, chắc như đinh đóng cột), và độc lập tự chủ về mặt thoát Trung trong sinh hoạt kinh tế, kỹ nghệ, đầu tư và ngoại thương (nguồn cung ứng, v.v.).
CÁC TỔNG THỐNG MỸ TRƯỚC đã khéo léo gợi ý muốn giúp Việt Nam củng cố độc lập tự chủ. Ngay từ thời chính phủ Bush, trong chuyến du hành của Thủ Tướng Việt Nam qua Mỹ, Tổng thống Bush đã cam kết bảo đảm cho sự toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam. Thông cáo chung Mỹ Việt “nhắc lại sự ủng hộ của chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt Nam về chủ quyền quốc gia, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ” và nói đến nhu cầu “củng cố đối thoại cấp cao”và ủng hộ“thành lập các cuộc họp hoạch định chính sách về chính trị, quốc phòng để có các trao đổi thường xuyên và sâu hơn về các vấn đề chiến lược và an ninh”. Thế mà Việt Nam vẫn chậm chạp trong việc xích gần Tây Phương. Tại sao Việt Nam không đẩy mạnh đa phương hóa ngọại giao để có đối lực với Trung Quốc, thí dụ thực hiện sự cộng tác tập trận hải quân với Mỹ theo đề nghị của chính phủ Bush? Hỏi một nhà ngoai giao thì đuợc biết là Việt Nam vào lúc đó mới chỉ dè dặt chấp nhận tập việc cùng Mỹ cấp cứu ngộ nạn và tìm xác người trên biển.
Phải tới tháng 7 năm 2010 mới có một sự đột biến quan trọng.
Hồi hạ tuần tháng 7 năm 2010, Ngoại trưởng Clinton của Tổng thống Obama tuyên bố tại Hà Nội rằng Hoa Kỳ xem Việt Nam “không những thật sự là một quốc gia quan trọng mà còn là một bộ phận của chiến lược nhắm tăng cường cam kết của người Mỹ trong khu vực Á châu Thái bình dương, đặc biệt là trong vùng Đông Nam Á.” Khi phát biểu tại hội nghị của Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội, bà Clinton còn nói rằng Hoa Kỳ xem việc giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Nam Trung Hoa (Việt Nam gọi là Biển Đông) bằng đường lối đa phương, theo luật quốc tế, mà không đe dọa hay dùng võ lực, là một “quyền lợi quốc gia” của Mỹ. Những phát biểu này đã khiến cho giới lãnh đạo Trung Quốc phật lòng.
6/ Một số người cho rằng dưới thời Trump, các đồng minh của Mỹ bị chia rẽ, các định chế không được tôn trọng? GS nhận đinh như thế nào?
Thiết nghĩ các đồng minh của Mỹ tại Âu Mỹ như Canada, Anh, Pháp, Đức, hay tại Á như Nhật, Đại Hàn, Thái Lan, tại Đại Dương Châu như Úc, Tân Tây Lan, thì giữa họ với nhau, không có gì chia rẽ đáng kể, mà trái lại họ muổn bảo toàn sự đoàn kết giữa họ với nhau và nhất là bảo toàn các định chế quốc tế đã lập ra suốt từ sau Thế Chiến II, mà có lợi chung cho mọi nước, như các cơ quan Liên Hiệp Quốc, cần cho việc bảo vệ trật tự và hoà bình/ an ninh trên thế giới, hay có lợi về việc đưa ra tiếng nói cuả các quốc gia về vấn đề kinh tế, thương mại, lao dộng, hay sức khỏe các dân tộc như World Health Organization. Chỉ có riêng ông Trump là gây ra sự rạn nứt, thiếu đoàn kết trong các tổ chức. Ông viện cớ Mỹ đóng góp, nhiều cho ngân sách các tổ chức đa phương đó, mà vây vo, dọa rút tài trợ, hay ép các nước đóng thêm ngân khoản, điều này có thể đúng, nhưng cách mặc cả làm mếch lòng nhiều nước. Hơn nữa tác phong ông Trump khi đi thương lượng, có sự lỗ mãng như chèn vào giữa hai người trong hàng ngang các lãnh đạo đồng minh đã đứng vào vị trí rồi, để đứng ra trước mặt mọi người mà xác nhận vai trò vượt trội của ông.
Về nội dung thương lượng, ông Trump cũng chỉ hiểu thô sơ trong khi cần phải nắm bắt các kiến thức mà chuyên viên và các lãnh đạo các quốc gia đã hun đúc lại thành hiệp ước, thí dụ hiệp ước khí hậu Paris, hiệp ước Thương Mại Tây Thái Bình Dương, thế rồi ông tuyên bố huỷ bỏ chúng, một cách khinh thường các quốc gia đối tác họ đã dày công thương nghị với Tổng thống Mỹ tiền nhịệm của Trump, là Obama. Các chính khách và chuyên gia về các vấn đề quốc tế đã kết luận là ông làm nguy hiểm đến hệ thống các cơ cấu quốc tế mà các nước hàng đầu đã xây dưng từ 1945 đến nay. Tóm lại các nước đồng minh của Mỹ không chia rẽ, dằn vặt với nhau, mà muốn bảo vệ hệ thống quốc tế chung. Thí dụ họ thương lượng môt cách văn minh việc dân Anh muốn ra khỏi European Common Market; họ muốn bảo vệ Hiệp Ước Khí Hậu mà Phó Tổng thống Al Gore đã góp phần; họ muốn đại quân Mỹ đóng ở Đức, như là xương sống của Liên Minh NATO, không thể bị ông Trump thình lình đơn phương tuyên bố sẽ rút, mà không tham khảo đồng minh Âu châu, có lẽ vì thế mà, bà Thủ tướng Đức Merkel tuyên bố sẽ không đi dự hội nghị sắp tới mà Trump mời.

VÀI KỶ NIỆM VỤN VỚI CÁC VỊ THẦY
Trần Trung Chính
( học sinh Chu Văn An 1965 – 1968)

Chữ VỤN được dùng trong bài viết này mang tính cách rời rạc, kích thước nhỏ và không liên tục. Tôi không dùng nhóm từ giáo sư như các đồng môn CVA khác, vì “giáo sư”chỉ là tiếng Hán Việt để chỉ nhóm chữ thuần Việt là “thày giáo”, chứ không phải thầy giáo để chỉ các thầy dạy bậc tiểu học và giáo sư để chỉ các thầy dạy bậc Trung Học.
Các vị thầy được nêu trong bài viết này là :
Thầy Đặng Văn Biền – Giám Thị lớp Đệ Nhất
Thầy Đào Văn Dương – dạy môn Toán Hình Học và Lượng Giác lớp Đệ Nhị
Thầy Trần Đình Ý – dạy môn Việt Văn lớp Đệ Nhị và dạy môn Pháp Văn lớp Đệ Nhất
Thầy Thẩm Nghĩa Căn – dạy môn Sử Địa lớp Đệ Tam
Thầy Vũ Ngọc Đạm – dạy môn Công Dân (Kinh Tế) lớp Đệ Nhị
Thầy Nguyễn Văn Mùi – dạy môn Sử Địa lớp Đệ Nhất
Thầy Bùi Đình Tấn – dạy môn Địa Lý lớp Đệ Nhất
Thầy Trần Đức An – dạy môn Triết lớp Đệ Nhất
Đầu năm 1967, toàn trường CVA hầu như ngưng học để chuẩn bị đón Tết Đinh Mùi, nhất là sau ngày 23 tháng Chạp đa số các thầy ngồi lại phòng giáo sư nhưng học sinh không ai bỏ về nhà cả, có nhóm chuẩn bị dán bích báo, có nhóm xí phần đi bán báo xuân tại các trường bạn, nhóm nào cũng muốn đi bán báo Xuân ở các trường có nữ sinh như Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bá Tòng, Hưng Đạo…khiến Ban Đại Diện Học Sinh phải tố chức bốc thăm cho công bằng. Nhưng 2 ngày trước khi nghỉ Tết, tất cả các lớp đều tổ chức Tiệc Tất Niên. Các lớp Đệ Nhất tổ chức Tiệc Tất Niên xôm tụ nhất : có 3 anh mặc áo dài bằng gấm xanh dương, vàng , đỏ, ngực thêu Tướng , Sĩ, Tượng. Một trong 3 người mặc quần short trắng đi guốc mộc, 2 người còn lại mặc quần lụa trắng, một đi hia, một đi giày hàm ếch; cả 3 anh Tướng +Sĩ+ Tượng đều đội khăn đống cùng màu với áo dài của mình. Một số khác ăn diện bảnh bao và dẫn vũ nữ thứ thiệt vào lớp để nhẩy đầm. Trong khi đó, học sinh các lớp đệ Nhị và đệ Tam vẫn mặc áo trắng (tuy quần thì không hẳn là xanh dương nhưng vẫn là màu sậm).
Trần Doãn Huyễn, trưởng lớp Đệ Nhị B2, tị nạnh với nhóm Đệ Nhất, khiếu nại với thầy Đặng Văn Biền bị thầy Biền quạt tơi tả : “ Cái thằng mở miệng ra hỏi là lòi cái NGU, thế mà cũng hỏi. Chúng nó có rớt Tú Tài 2 thì đi lính cũng được là sĩ quan. Còn chúng mày, thi rớt thì thành Trung Sĩ, là lính khổ lắm đó các con ạ !”. Thầy Biền nói có lý quá, nên không những Trần Doãn Huyễn mất cả khí thế hăng hái mà chúng tôi đứng xung quanh cũng chuyển bại thành…xụi lơ. Thấy vậy, thầy Biền an ủi : “Cố lên, đậu được Tú Tài 1 sang năm lên Đệ Nhất thì các Thầy cũng dễ dãi y như vậy”.
Thầy Đào Văn Dương dạy 2 môn Hình Học Không Gian và Lượng Giác cho lớp đệ Nhị, môn Toán chiếm 8 giờ học trong tổng số 26 giờ học trong mỗi tuần mà 2 môn của thầy Đào Văn Dương chiếm mất 6 giờ (môn Đại Số – Giải Tích do thầy Lê Mậu Thống phụ trách chỉ chiếm có 2 giờ trong một tuần). Thầy Đào Văn Dương nghiêm trang và nguyên tắc, ngay trong giờ học đầu tiên thầy đã ban hành một số nguyên tắc, như là :
A/ Kỳ thi Tú Tài Phần Thứ Nhất rất quan trọng cho nam sinh (thi rớt là bị nhập ngũ đi học Trường Hạ Sĩ Quan) cho nên nhiệm vụ của tôi là giúp các anh thi đậu. Tôi không nói là các vị giáo sư trường tư dạy dở, nhưng các vị giáo sư trường tư không đi chấm thi tại các Hội Đồng Chấm Thi nên không biết chỉ dạy cho học sinh những sơ suất của học sinh làm bài thi, mà những sơ suất này có thể khiến bài thi không đạt điểm tối đa nên thí sinh có thể không đủ điểm đậu. Tôi sẽ tập cho các anh làm bài kiểm hàng tuần như là đi thi thật sự.
Ghi chú : trong kỳ thi Tú Tài Phần Thứ Nhất ban B, môn Toán chiếm hệ số 5, Lý Hóa chiếm hệ số 4,Việt Văn chiếm hệ số 2, Sinh ngữ I chiếm hệ số 2, Sinh ngữ II chiếm hệ số 1, Công Dân- Kinh Tế chiếm hệ số 1,Vạn Vật chiếm hệ số 1, Sử Địa chiếm hệ số 1. Tổng Cộng 17 hệ số, tức là phải đạt 170 điểm mới được chấm đậu.
B/ Mua giấy khổ lớn có kẻ ngang để làm bài kiểm , không chấp nhận giấy kẻ carreaux ô nhỏ, không chấp nhận giấy vở.
C/Phần đầu của 4 trang , đo từ mép giấy xuống 5cm , kẻ một lằn ngang, rồi kẻ 2 đường chéo góc nơi trang 2, 3 và 4 giống như là phần sẽ rọc phách của bài thi. Riêng trang đầu sẽ phải điền thông tin cá nhân như khi đi thi thật. Việc làm này rất cần vì đã có những thí sinh đã làm bài trong phần rọc phách nên bài làm bị mất điểm : bị rớt mà cũng không biết tại sao .
D/Từ mép trái của mỗi trang, đo 3 cm rồi kê dọc 2 lằn đôi (có người gọi là chừa lề).
E/Bắt buộc chép lại đầu đề của bài toán vào trang thứ nhất, vì vậy hình vẽ của bài toán phải xuất hiện nơi trang 2, và giám khảo không phải lật đi lật lại để coi lại hình vẽ ít nhất được 2 -3 câu trả lời.
F/ Bắt buộc phải làm phần các câu hỏi giáo khoa trước, làm bài toán sau, vì ít nhất cũng đạt được 4 hay 5 điểm trước. Vì bài toán thường có 4 hay 5 tiết mục cần phải chứng minh và chiếm 14 hay 15 điểm trong tổng số 20. Nếu làm bài toán trước và gặp truc trặc không thông suốt, học sinh đi thi mới quay qua làm phần câu hỏi giáo khoa thì không còn kịp thì giờ nữa, thế là mất toi 5-6 điểm trong tổng số 20.
G/ Luôn luôn phải đánh số và viết lại tiêu đề mà đề bài đã ghi. Thí dụ , câu số 2 đòi hỏi “Chứng minh AD = BF “ .
Bài kiểm soát đầu tiên, hết 2/3 học sinh trong lớp chúng tôi chỉ được 01 điểm; thầy Đào Văn Dương cho biết những người bị 01 điểm vì không tuân thủ toàn vẹn 7 điểm mà thầy đưa ra. Phải mất 5-6 lần bài kiểm như vậy, toàn thể lớp chúng tôi không còn ai thiếu sót những điều căn dặn vừa nói trên. Lúc đó thầy mới nói : “ tôi đi dạy từ 1948 – nghĩa là trước khi các anh ra đời. Và cũng gần 10 lần làm Chánh Chủ Khảo các Hội Đồng Chấm Thi, nên cách trình bày mà tôi bắt buộc các anh thực hiện, khiến các vị giáo sư chấm thi biết ngay là bài làm của học sinh trường công”.
Giờ đầu tiên của môn Toán Lượng Giác, thầy Đào Văn Dương cho biết hệ thống đo lường của Anh Mỹ và hệ thống đo lường thập phân của Pháp đều lấy vòng tròn xích đạo của quả địa cầu làm mốc quy chiếu. Nước Pháp dùng đơn vị grad để đo góc, nước Anh dùng degree làm đơn vị để đo góc. Nước Pháp định nghĩa 01 kilometre là chiều dài của 01 dây cung có góc là 01 minute của 01 grad, trong khi nước Anh định nghĩa chiều dài của dây cung của một góc có 01 minute của 01 degree là một hải lý.
Thầy Trần Đình Ý dạy Việt Văn lớp Đệ Nhị B2 niên khóa 1966- 1967, cũng lưu tâm vấn đề thi đậu của học sinh đệ nhị, thầy nói : “ các anh vì ít đọc sách và trình độ lý luận kém cộng thêm không biết cách trình bày vấn đề được mạch lạc và khúc chiết, nên nếu làm bài thi môn Việt Văn mà chọn luận đề luân lý, thì không cách gì đạt được điểm tối đa. Đó là chưa kể các vị giám khảo chấm bài có ác cảm với thí sinh chọn luận đề luân lý là những người lười không chịu học thuộc thơ”.
Cũng như thầy Đào Văn Dương, thầy Trần Đình Ý bắt buộc học sinh chúng tôi phải làm 4-5 câu hỏi giáo khoa trước rồi mới làm bài luận sau, thầy nói, ít ra các anh đã đạt được 4-5 điểm làm câu hỏi giáo khoa trước. Nhưng kỷ niệm đáng nhớ về thầy Trần Đình Ý là giai thoại đối đáp thơ của 2 nhân vật lịch sử Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhiệm.
Khi bắt được đối thủ của mình, Đặng Trần Thường ra câu đối:
“ Ai công hầu , ai khanh tướng – Trong trần ai , ai dễ biết ai “
Ngô Thời Nhiệm đáp trả :
“ Thế Chiến Quốc , thế Xuân Thu – Dẫu thời thế , thế thời thì thế “
Thầy Trần Đình Ý cho biết văn học nhà Nguyễn luôn luôn dè bỉu, hạ thấp giá trị nhân cách của nhà Tây Sơn nên đã sửa chữa câu đáp trả nguyên gốc của Ngô Thời Nhiệm thành ra :
“ Thế Chiến Quốc , Thế Xuân Thu – Gặp thời thế , thế thời phải thế “
Câu văn được sửa chữa đã biến con người Ngô Thời Nhiệm thành kẻ XU THỜI, trong khi nhân cách và khí khái của ông đã chứng tỏ Ngô Thời Nhiệm là người THỨC THỜI. Thực tế lịch sử chứng minh rằng nếu Ngô Thời Nhiệm là kẻ xu thời thì ông đã không bị Đặng Trần Thường đánh 100 hèo và về đến nhà thì qua đời. Thầy Trần Đình Ý dặn dò bọn học trò chúng tôi rằng “dù hoàn cảnh có thế nào đi nữa thì hãy chọn thái độ THỨC THỜI, đừng nên chọn thái độ XU THỜI để được ĐẮC THỜI mà tâm hồn không được thanh thản và nhất là mang tiếng xấu với người đương thời”.
Thầy Thẩm Nghĩa Căn dạy môn Sử Địa lớp đệ Tam, thầy cho biết nguyên nhân tại sao các khoa học gia chọn kinh tuyến Greenwich là kinh tuyến chuẩn của giờ quốc tế GMT. Kinh tuyến đối nghịch với kinh tuyến Greenwich chạy từ Bắc Cực xuống tới Nam Cực mà không đi qua bất kỳ quốc gia nào nằm ở giữa Thái Bình Dương được chọn làm chuẩn (vì không gặp được sự tranh cãi của các đại biểu, ai cũng muốn tên quốc gia của mình được chọn) nhưng kinh tuyến này lại không có tên, cho nên tất cả các đại biểu của các nước tham dự đồng ý chọn tên của đài thiên văn Greenwich mà kinh tuyến đối nghịch làm chuẩn đi qua thị trấn Greenwich để làm chuẩn cho giờ GMT (Greenwich Mean Time). Kinh tuyến chuẩn lúc ban đầu được gọi là kinh tuyến đổi ngày, nghĩa là người ta vượt kinh tuyến đổi ngày từ phía Tây sang phía Đông thì được lợi 01 ngày. Ngược lại vượt kinh tuyến đổi ngày từ phía Đông sang phía Tây thì lỗ mất 01 ngày, thí dụ : những người đi Việt Nam khởi hành từ San Francisco lúc 11 : 00PM ngày 20 tháng 5 chả hạn, khi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt thì đang ở ngày 22 tháng 5, chứ không phải ngày 21 tháng 5. Thầy Thẩm Nghĩa Căn giải thích thêm , đó là lý do nhân vật chính của tiểu thuyết Vòng Quanh Thế Giới 80 Ngày (do Jules Verne sáng tác) tưởng rằng mình thua cuộc vì thấy mặt trời mọc 80 lần nhưng đã trở về London vào ngày thứ 79 !!
Môn Công Dân Giáo Dục của lớp đệ Nhị chỉ học về Kinh Tế Đại Cương do thầy Vũ Ngọc Đạm phụ trách . Ngân phiếu (checking account) được chuyên gia Kinh Tế gọi là “ Bút Tệ “ . Thầy Vũ Ngọc Đạm cho biết Tiền (currency) do Ngân Hàng Quốc Gia phát hành, trị giá hối đoái tùy thuộc vào số vàng dự trữ thì gọi là Kim Bản Vị ; nhưng nếu căn cứ vào số dự trữ dollars của Mỹ hay Sterling của Anh thì gọi là “ngoại tệ bản vị”. TỆ = là những gì không phải là TIỀN do Ngân Hàng Quốc Gia phát hành , nhưng được dùng như TIỀN . Thời 1966 – 1967, bọn học sinh chúng tôi biết TỆ chỉ có 2 loại là “ ngoại tệ” và “bút tệ”, bây giờ ở Hoa Kỳ TỆ còn có thêm credit card , money order, cashier chek , traveler check , gift card của các công ty lớn như Target , Sears , Walmart…
Thầy Nguyễn Văn Mùi dạy Sử Địa, nhưng thầy Mùi không dạy lớp B2 . Câu chuyện tôi kể ra đây do anh Vũ Hiệp , đậu Tú Tài vào năm 1965 – kể lại : khoảng những năm 1948 – 1952 , thầy Mùi làm việc trong Tòa Thị Chính Hà Nội có 2 ông bà cụ già đem khai sinh . học bạ… đến Tòa Thị Chính xin cải đổi tên nhân vật lịch sử Ký Con – Đoàn Trần Nghiệp trở lại thành Ký Con – Đặng Trần Nghiệp , vì khi gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng , ông Ký Con sợ liên lụy đến gia đình + bố mẹ nên đã đổi từ họ Đặng sang thành họ Đoàn. Thầy Nguyễn Văn Mùi nói : “ Thưa hai cụ, dù biết 2 cụ trình ra giấy tờ thực sự của ông Ký Con , nhưng Ký Con – Đoàn Trần Nghiệp đã là một cái tên của Lịch Sử. Không một ai có thẩm quyền và tư cách để sửa đổi Lịch Sử !!! “
Thầy Bùi Đình Tấn chỉ dạy môn Địa Lý của lớp đệ Nhất B2, thầy Tấn lập lại định nghĩa 2 chữ Quốc Gia (mà học sinh chúng tôi đã học trong môn Công Dân Giáo Dục lớp đệ Lục) bao gồm 3 yếu tố Lãnh Thổ – Chính Quyền – Dân Chúng . Nhưng trong một quốc gia , chính quyền không giáo dục dân chúng biết đến Lòng Yêu Nước thì không thể có TỔ QUỐC. Thầy Bùi Đình Tấn đưa ra thí dụ các quôc gia Châu Phi mới được Anh – Pháp trao trả độc thì chỉ có “quốc gia” mà không có “tổ quốc” vì phần đất mà Anh hay Pháp cai trị (thời thuộc điạ ) bao gồm nhiều bộ lạc , nhiều sắc dân khác nhau về tiếng nói , khác nhau về chủng tộc , khác nhau về tôn giáo , khác biệt về hệ phái tôn giáo… cho nên dù được trao trả độc mà các cuộc nội chiến tranh dành quyền lực giữa các nhóm xảy ra khốc liệt hơn hồi 2 đế quốc Anh – Pháp cai trị. Và dĩ nhiên số người bị giết càng tăng vọt.
Môn Triết của lớp đệ Nhất do thầy Trần Đức An phụ trách , nhưng môn Triết của ban B không có học Tâm Lý Học và Đạo Đức Học của ban B coi như tóm gọn của Đạo Đức Học ban C . Chủ yếu của môn Triết ban B là học về Luận Lý Học, cho đến bây giờ, tôi vẫn còn lùng bùng lẫn lộn giữa Luận Lý và Lý Luận. Thầy Trần Đức An cho biết nhóm chữ “logic” hơi rắc rối nên khi dùng phải rất cẩn thận. Thực sự hệ quả của “logic” là chỉ có 2 giá trị đối nghịch nhau, như Đúng hay Sai , không có giá trị trung gian như “không Đúng mà cũng không Sai” hoặc là “vừa Đúng vừa Sai” . Thầy An thí dụ không nên nói “ Trời không nắng ắt phải mưa” vì có những lúc trời vừa nắng vừa mưa hay là không nắng cũng không mưa !!!
Thầy Trần Đức An cũng nêu một số lắt léo của môn Luận Lý, thí dụ như người ta thường cho rằng “ cái gì HIẾM thường là QUÝ “ ; nhưng thực ra cái gì đó chỉ được đánh giá là QUÝ khi cái đó phải có công dụng tốt. Thí dụ : Con ngựa trắng thì hiếm, do đó con ngựa trắng có thể QUÝ – Con ngựa trắng có 3 chân thì lại càng hiếm . Nhưng con ngựa trắng có 3 chân thì không thể kết luận nó là con ngựa QUÝ được, vì nó không có công dụng gì cả.
Lập luận theo mô thức thầy Trần Đức An chỉ dạy, tôi thấy trên internet có website SACHHIEM nhưng đọc vài lần tôi nhận ra không phải là SACHQUY vì công dụng của website này chỉ tạo ra sự mất đoàn kết , hiềm khích và đối đầu giữa các nhóm người Việt với nhau.
Niên khóa 1967 – 1968 , thầy Trần Đình Ý phụ trách môn Pháp Văn (Sinh Ngữ I ), Bộ Giáo Dục chuẩn nhuận lớp đệ Nhất chỉ học 12 bài tiêu biểu trong quyển Cours de Langue et Civilisation do giáo sư Mauger biên soạn. Sách gốc có bán tại nhà sách Xuân Thu trên đường Tự Do và nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi nhưng giá rất đắt, do vậy thầy Trần Đình Ý cho in ronéo 12 bài này. Tết Mậu Thân xảy ra, học trò được nghỉ gần 3 tháng. Khi tình hình an ninh tương đối vãn hồi, chỉ có học sinh các lớp đệ Nhất và đệ Nhị phải đi học lại để hoàn tất học trình ( để đi thi) . Khi đi học học lại ,thầy Trần Đình Ý bị ngã nên chân phải bó bột, thầy không thể leo lên lầu 3 nên chúng tôi phải từ lầu 3 xuống tầng trệt mượn phòng thí nghiệm của thầy Trịnh Xuân Vụ để học Pháp Văn. Phạm Gia Hiệp ngồi bàn nhì lo nói chuyện bị thầy Ý chỉ định đọc tiếp bài lecture để analyse logique. Hôm đó Hiệp không mang tập ronéo, nên quay qua phía sau lấy bài của tôi. Thầy Ý hỏi : “ Tại sao anh không có cours ? “ . Nguyễn Gia Quang ngứa miệng ngồi tuốt gần chót dãy giữa nói : “ Cua của thầy gẫy càng rồi còn đâu ?”. Thầy Ý nói : “anh nào vừa mới nói cái gì thế ?” , khổ nỗi là thầy không đứng dậy được nên không tìm ra anh nào đã phát ngôn bừa bãi.
Khi dạy Việt Văn lớp đệ Nhị , thầy Ý có kể một chuyện ngoài việc học hành : khi thầy làm chủ tịch Hội Đồng Kỷ Luật xét xử một học sinh can tội ăn cắp chuông xe đạp của người bạn . Thầy kể “ ra trước Hội Đồng Kỷ Luật, người cha của học sinh vi phạm kỷ luật xin quý vị giáo sư tha thứ cho con của mình. Người cha đã nói “ Tất cả là do lỗi của tôi, tôi đã quá nghiêm khắc và dữ đòn với con cái. Lại nữa con tôi đã lớn nhưng tôi không cho nó mang tiền, nên khi xe đạp của nó bị mất cái nắp chuông nó không có tiền để mua cái khác và sợ bị đòn nên đã đi gỡ cái nắp chuông của một xe khác. Nếu quý vị giáo sư trừng phạt nó, tôi e rằng cuộc đời của nó sẽ rẽ sang một hướng khác “. Tất cả các giáo sư trong Hội Đồng Kỷ Luật đồng ý tha tội và cũng không ghi hồ sơ gì hết.
Năm Mậu Thân, chúng tôi thi Tú Tài phần Hai vào ngày 22 tháng 6 năm 1968 tại trường Bồ Đề trên đường Nguyễn Thái Học kế cận khu Chợ Cầu Muối và Khu Dân Sinh. Thông thường phải đến 6-7 tuần sau mới có kết quả (niêm yết tại trường Trung Học Gia Long – đường Phan Thanh Giản , quận 3 Sài Gòn). Theo ý kiến riêng của tôi, thời gian 6 – 7 tuần lễ chờ công bố kết quả là thời gian sảng khoái nhất vì đi chơi thoải mái không bị giới hạn giờ giấc mà còn được bố mẹ cho tiền để xả stress nữa. Vào một buổi chiều mưa, vào tháng 7/1968 , tôi và Phạm Gia Hiệp đèo nhau trên chiếc velo solex đi qua rạp Rex , nhìn lên paneau quảng cáo thì thấy tựa đề cuốn phim là LES INCOMPRIS – Những kẻ không hiểu nhau, lạ là không thấy diễn viên nữ mà chỉ thấy khuôn mặt của Anthony Quayle và 2 cậu nhỏ. Lạ hơn nữa là khi đổi xuất hát những khán giả đi ra về cũng đều khóc hết cả. Tò mò 2 đứa mua vé vào xem và khi ra về cũng khóc luôn.
Chuyện phim như sau : Sir Anthony là một nhà ngoại giao Anh, vợ ông vừa mới qua đời ít lâu vì mắc bệnh tim, để lại 2 cậu con trai nhỏ, đứa lớn 12 tuổi, đứa nhỏ cỡ 9 – 10 tuổi. Nhà ông là một lâu đài lớn có hồ lớn trong khuôn viên nhà. Ông nhờ người anh trai đã già nhưng không có gia đình qua sống chung và coi sóc 2 đứa nhỏ. Dĩ nhiên, Sir Anthony phải thuê gia sư để kèm 2 đứa nhỏ sau giờ học và cũng để kèm làm homework . Một hôm trên đường từ phi trường về lâu đài nhà mình, ngồi trong chiếc Roll – Royce ông thấy 2 đứa trẻ đèo nhau trên một chiếc xe đạp, đứa lớn một tay cầm tay lái, một tay kia thì đu vào cái thang leo lên nóc của một chiếc xe bus. Khi chạy đến gần chiếc xe bus, Sir Anthony mới nhận ra đó là 2 quý tử của mình . Về nhà, ông giảng morale cho cậu lớn hồi lâu, cho đến khi cậu hứa là sẽ không tái phạm lỗi lầm như thế nữa.
Đúng vậy, cậu con yêu quý của ông không bao giờ tái phạm, nhưng lại làm lỗi lầm khác, không lần nào giống lần nào. Thời gian sau, khi bước xuống phi trường, ông không thấy chiếc Roll – Royce của ông đứng chờ sẵn, mà chỉ thấy bác tài xế đứng cạnh một chiếc xe renting. Hỏi ra, bác tài xế nói 2 cậu con nghịch ngợm sao đó mà chiếc Roll Royce chạy tuột xuống hồ, hiện phải thuê xe tow trục vớt nó lên bờ.
Ông làm Đại Sứ Anh tại Ghana, nên ngày Quốc Khánh của Ghana, ông mời các sinh viên Ghana du học tại Anh đến lâu đài của ông dự tiệc mừng Quốc Khánh. Ông ngồi đầu bàn , khách mời ngồi 2 bên bàn dài. Hai cậu con của ông ngồi cuối cùng, cũng đối diện nhau. Nhưng khi khách khứa và Sir Anthony cười nói vui vẻ và cụng ly chúc mừng sức khỏe của nhau, ông thấy 2 cậu nhỏ nói chuyện với nhau trong im lặng (chúng nhìn môi của nhau là đã hiểu nhau , không cần lên tiếng). Ông nói trong khi mọi người nói to, tất cả mọi người cùng nghe mà 2 con nói với nhau không nghe cả là bất lịch sự, nhưng cậu con lớn cúi gằm xuống bàn không nói, Sir Anthony quay qua dụ cậu con nhỏ thì cậu này nói : “Anh Hai nói, mấy thằng mọi đen này đã từng ăn thịt người ! “
Sau sự việc đáng tiếc vừa nêu, Sir Anthony xin chuyển nhiệm sở, ông qua làm Đại Sứ Anh Quốc tại Tòa Thánh Roma. Một lần về thăm gia đình ông thấy cậu con lớn ngủ mê man nồng nặc mùi rượu, hôm sau tỉnh ngủ và tỉnh rượu , cậu con bị đứng nghe một bài giáo dục nào là trẻ con dưới 21 tuổi không được uống rượu , uống rượu sẽ làm tổn hại hệ thần kinh, làm hại gan… mà ông Đại Sứ lại không hỏi duyên cớ nào đã khiến cậu bé lấy rượu của bố ra uống. Cậu lí nhí xin lỗi và cam đoan không bao giở uống rượu nữa.
Sau khi trở lại nhiệm sở, vài tháng sau ông nhận được điện thoại khẩn cấp của người anh vì thằng con lớn của ông đang hấp hối , ông cũng nhận được điện tín của bác sĩ gia đình báo tin con trai của ông bị tai nạn gẫy xương sống khó qua khỏi trong vòng 24 giờ tới. Về tới nhà, mọi người cho ông hay là 2 đứa con trai của ông leo lên cây bên cạnh hồ lớn để chơi trò Tarzan, bất thình lình cành cây đang nắm bị gẫy khiến cho câu bé té ngửa, thân mình chạm vào cành cây bên dưới nên xương sống bị gẫy. Hôn mê từ lúc té đến bây giờ, bác sĩ phải đem bình oxy đặt trong lồng kiếng ngay tại phòng ngủ của cậu, vì di chuyển là cậu bé đau đớn chịu không nổi. Thỉnh thoảng, tỉnh dậy đôi chút thì chỉ đòi gặp cha của cậu. Sir Anthony bước vào phòng cầm tay cậu con (qua lồng kiếng) chỉ nghe cậu phều phào nói quá nhỏ. Bỏ lồng kiếng ra,ghé sát lỗ tai sát với miệng của cậu thì Sir Anthony mới hiểu cậu con bảo bố vào bàn học chọn bài luận nào cao điểm nhất đọc cho cậu nghe.
Lúc bắt đầu đọc bài làm thì mới biết đầu đề của bài luận là : “Hãy mô tả người cha yêu quý của em”. Tôi bỏ qua những hoa lá cành của bài luận mà chỉ tập trung vào 3 điểm mà cậu bé giải thich nguyên nhân của 3 mistakes làm cha của cậu phiền lòng và la rầy cậu.
1/ Giải thích lý do tại sao chiếc xe Roll-Royce chạy xuống hố, cậu bé viết : “ 2 anh em chúng tôi muốn dành cho cha tôi một ngạc nhiên là chính 2 anh em chúng tôi dự định xịt nước rửa sạch và lau khô đánh bóng chiếc xe như bác tài xế thường hay làm. Nhưng khi chiếc xe xuống dốc cậu bé không thể làm dừng nó lại được vì chân cậu quá ngắn đạp thắng không tới.
2/ Khi cậu nói mấy người Ghana ăn thịt người vì sách trong thư viện mà cậu đọc viết như vậy.
3/Mẹ cậu thường hay hát ru ngủ các con, bà đã thu lời nói an ủi các con và gửi các lời ca âu yếm cho 2 con vì mẹ cậu bị bệnh đau tim có thể chết bất đắc kỳ tử vào bất cứ lúc nào. Cha cậu thì thường hay vắng nhà nên mỗi khi nhớ đến những người thân yêu, cậu thường mở cassette để nghe lại giọng nói của mẹ mà cậu không bao giờ gặp lại nữa . Một hôm, do xui xẻo, cậu vô ý bấm nút xóa nên cuốn tape thành trống rỗng. Cậu lang thang khắp London vào từng tiệm thu băng hỏi có phương pháp nào restore lại giọng nói đã mất ? Tất cả đều trả lời là không thể làm được. Cậu về nhà mà lòng buồn bã tan nát. Sở dĩ cậu mở tủ lấy rượu của cha ra uống, vì mỗi lần cha cậu buồn cậu lại thấy ông mở chai ra rót rượu vào ly rồi uống rượu một mình. Cậu viết : “ Cha ơi, con muốn con trở thành một người đàn ông như cha đã là ”
Kết luận của bài luận ,cậu bé viết : “ Tôi biết Cha tôi thương tôi nhiều lắm , muốn tôi trở thành một người đứng đắn . Nhưng cha ơi, cha chưa bao giờ là bạn của con”
Đọc tới đây, Sir Anthony nước mắt ràn rụa, ông cầm bàn tay của đứa con trai đặt trên vùng trái tim của mình và gật đầu nhè nhẹ biểu lộ sự thấu hiểu. Cậu con trai mỉm cười từ từ nhắm mắt ra đi trong thanh thản : Ôi những người thân thương sống cạnh nhau bao năm trời mà chẳng hiểu nhau ; đến khi hiểu nhau thì một người vĩnh viễn ra đi không bao giờ gặp lại.
Phim LES INCOMPRIS chấm dứt với cảnh cậu con trai thứ nhì chơi nhồi banh một mình và hỏi cô giáo dạy kèm : “Cô ơi, chừng nào anh Hai mạnh giỏi ra sân chơi banh với con ? ”. Tôi và Phạm Gia Hiệp ra về mà vẫn khóc như bao khán giả đã khóc trước đó.
Đọc xong bài viết này, tôi có thắc mắc là quý đồng môn CVA của chúng ta , có người đã là ông ngoại ông nội cả rồi, đã từng nghĩ lại xem “chúng ta đã bao giờ là bạn của con mình hay chưa? “
San José ngày 10 tháng giêng năm 2016
Trần Trung Chính
(CVA 1965 – 1968)
1
Đêm khuya trăng đã sáng soi
Là khi em bước lên ngôi nữ hoàng.
Thơ ngây một đóa hoa vàng
Che tà lụa mỏng điệu đàng bước đi.
2
Em làm khổ mối tình si
Hồn nghiêng ngả gọi xuân thì nhớ duyên
Vai nghiêng ôm mái tóc huyền
Đôi bờ ngực nở trên miền vấn vương
3
Theo em bước mấy cung đường
Đèn hoa trước ngõ phố phường sương bay
Em về hoa nở trên tay
Gót hài vướng bụi thêm dài bước đi.
4
Bụi mờ che vết chim di
Vỗ đôi cánh nhỏ bay khi dáng chiều
Ta về mỏi gót liêu xiêu
Ghé thăm quán vắng tiêu điều úa thu
5
Để buồn vỗ giấc mây mù
Âm vang lãng đãng tiếng tù và xưa
Trao nhau khăn lụa sầu đưa
Lau dòng lệ ướt cơn mưa cuối mùa.
6
Giọt rơi sương lạnh gió lùa
Áo em sũng ướt còn chưa muốn về
Đường chiều mỏi bước ê chề
Lời thơ não nuột buồn tê tái buồn.
7
Chờ ai trăng mọc cuối thôn
Vắng em từ dạo căng buồm gió xuôi
Ngẩn ngơ nhìn áng mây trôi
Lòng tha thiệt đợi chia đôi nhánh buồn.
Lê Tuấn
“người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng, gửi buồn theo vần thơ lục bát rong chơi”
Hình ảnh minh họa. Photoshop by Lê Tuấn
Một hôm, vào đầu tháng 3 năm 1975, tôi được Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia/Ngành Đặc-Biệt gọi vào mà không cho tôi biết trước lý-do hay mục-đích gì.
Cũng được xe-hơi dân-sự đón từ phi-trường, nhưng đến văn-phòng của Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương thì viên thiếu-tá bí-thư mời tôi qua gặp Trung-Tá Phạm Văn Ca, Giám-Đốc E2 (Nha Phản-Tình-Báo/Nội-Chính), theo lệnh của Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây.
Tôi đã từng cùng Trung-Tá Ca đi tu-nghiệp về “Chống Khuynh-Đảo” tại Úc-Đại-Lợi vào năm 1970 nên quen thân nhau.
Ca bảo tôi:
‒ Ông Tướng muốn biết trong thời-gian qua anh có làm gì sai trái hay không. Anh hãy ngồi đây, viết bản tự-thuật, kể hết những gì mà anh thấy là khuyết-điểm, xong rồi hãy qua gặp ông.
*
Tôi ngồi ôn lại mấy việc lớn/nhỏ mà tôi nghĩ là có thể đã làm Tướng Tây bất-bình về tôi…
Trong một buổi họp các cấp Trưởng E (Giám-Đốc Nha tại Trung-Ương và Nha tại các Vùng), Đại-Tá Huỳnh Thới Tây hỏi về “Biệt-Đội Thiên Nga” cùng các cơ-cấu không thấy có ghi trong Sắc-Lệnh tổ-chức của Ngành. Tôi trình-bày về “Chiến-Dịch Đại Phong” và “Ký-Giả Tự Do”.
“Chiến-Dịch Đại Phong” là tên gọi của một phương-thức hoạt-động, theo đó thì nhân-viên Đặc-Cảnh sử-dụng người chỉ-điểm, là cán-bộ/bộ-đội/cơ-sở Việt-Cộng bị bắt mà tự-nguyện hợp-tác với ta, bằng cách ngụy-trang và tạo ngụy-tích cho đương-nhân không bị công-chúng, nhất là đối-phương, nhận ra.
“Ký-Giả Tự Do” là một/vài viên-chức Đặc-Cảnh hoặc cảm-tình-viên của Ngành, có năng-khiếu viết báo, làm phóng-sự, được giao nhiệm-vụ bí-mật trà-trộn vào giới ký-giả hiện đang ào-ạt săn tin giật gân, trong đó có nhiều phần-tử phản-chiến, thân-Cộng và cả là cộng-sản trá-hình. Ngành Đặc-Biệt can-thiệp với Bộ Thông-Tin, cấp “Thẻ Ký-Giả” cho họ, để phòng có ai thắc-mắc thì đưa ra cho họ xem. “Tự Do” nghĩa là gửi bài đăng trên bất-cứ báo nào, không hẳn là cộng-tác-viên nhất-định của một báo nào.
Tôi đã thật-tình và vô-tình nói rằng đó là những sáng-kiến của Trung-Tá Nguyễn Mâu.
Đại-Tá Tây ném mạnh cây bút xuống bàn, dằn giọng:
‒ Tôi là Huỳnh Thới Tây; làm việc với tôi thì hãy chỉ biết có tôi; tôi không cần biết Nguyễn Mâu là ai.
Việc Thăng-Thưởng Nhân-Viên
Một lần khác, cũng họp tham-mưu như trên, bàn về vai trò của “Cán-Bộ Điều-Khiển” (Case Officer: Điệp-Trưởng) trong các công-tác xâm-nhập (nguời của ta, do ta xây-dựng rồi cài vào hàng-ngũ địch) và nội-tuyến (người của địch, được ta móc-nối, sử-dụng làm tay-trong cho ta).
Đại-Tá Huỳnh Thới Tây ngỏ ý muốn nâng-đỡ giới này.
Tôi lấy tư-cách là người thực-sự đi sát và hiểu-biết nội-tình tại chỗ, trình-bày:
‒ Trước đây, Người Bạn Đồng-Minh đã nghĩ đến việc cấp một ngân-khoản phụ-trội hàng tháng cho tất cả viên-chức Ngành Đặc-Biệt, nhưng bên Cảnh-Sát Sắc-Phục phản-đối, nên việc không thành. Theo tôi, đáng khuyến-khích nhất là Cán-Bộ Điều-Khiển, như đại-tá vừa nêu ra. Nhưng đa-số Cán-Bộ Điều-Khiển thì là hạ-sĩ-quan.
“Nếu dùng sĩ-quan thì không những dễ-dàng hơn trong việc tiếp-xúc và nhờ-vã sự giúp-đỡ của người khác, mà còn có nhiều uy-tín và được tin-tưởng hơn đối với chính mật-viên của mình. Nhưng sĩ-quan Cảnh-Sát Đặc-Biệt thì đa-số đều mong được giữ chức-vụ chỉ-huy, mà khi đã là cấp chỉ-huy rồi thì họ lại mong được qua Sắc-Phục, hay nói đúng hơn là họ mong được hưởng những lợi-lộc như bên Sắc-Phục. Thí-dụ, ngay cả khi đã được cấp một chiếc xe Jeep rồi, mà xe lại có màu sơn và mang bảng số của xe thường-dân, thì họ vẫn thấy thua-kém xe Jeep sơn 2 màu lục+trắng của Cảnh-Sát (Sắc-Phục), vì bên Sắc-Phục vẫn được dân-chúng nể-sợ và dành cho nhiều ưu-tiên hơn.
“Còn muốn tưởng-thưởng các hạ-sĩ-quan CBĐK hữu-công thì cách xứng-đáng nhất là thăng cấp cho họ; nhưng họ vẫn nằm ở dưới các Trưởng G (Phòng), Trưởng H (Ban), nên họ còn lâu mới được thăng lên sĩ-quan.”
Đại-Tá Tây dằn mạnh cây bút xuống bàn, thốt lên một tiếng chửi thề, bỏ ra khỏi phòng.
Mọi người lặng im, lo sợ giùm tôi. Trung-Tá Nguyễn Văn Thuận, Trưởng D3 (Phụ-Tá Chuyên-Môn của Trưởng Ngành ĐB Trung-Ương) đưa tay ra dấu cho tôi chú ý đến anh. Trước kia, anh cũng đi Úc cùng chuyến với Ca và tôi.
Thuận nói:
– Mọi sự thưởng/phạt―thăng ai, giáng ai―đều nằm trong tay của ông. Nếu anh xin ông ban ơn đặc-cách thăng cấp cho các phần-tử hữu-công, thì ông sẽ mát lòng hơn.
Hệ-Thống Liên-Lạc Cảnh-Sát Hình-Sự
Trong vụ phi-cơ “Air Vietnam” bị nổ lựu-đạn tại Phi-Trường Phú Bài, Huế, khi tôi biết được thủ-phạm là Nguyễn Cửu Viết, tôi liền gửi điện cho Bộ Chỉ-Huy CSQG Quận liên-hệ tại Sài-Gòn, là nơi cư-ngụ của một người bạn của thủ-phạm (mà theo tin-tức tôi nhớ từ hồi còn ở Vùng II thì Viết đã nhờ chính người bạn này tìm-kiếm cho y một quả lựu-đạn) yêu-cầu trong đó chấp-cung “người-bạn” ấy.
Đại-Tá Tây cho rằng tôi đã vượt quyền, không trình lên ông là cấp trên, để ông ra lệnh cho các cấp dưới hữu-trách ở địa-phương khác thi-hành.
Theo tôi thì đây là thủ-tục hình-sự; tôi, với tư-cách Hình-Cảnh-Lại (danh-xưng mới, trước kia là Tư-Pháp Cảnh-Lại), Phụ-Tá Biện-Lý (Công-Tố-Viên) của Tòa Án Sơ-Thẩm, tại Đà-Nẵng (tôi cũng là Phụ-Tá Chưởng-Lý của Tòa Án Thượng-Thẩm Vùng I, tại Huế), tôi có thể phát lệnh truy-nã, trực-tiếp nhờ sự tiếp tay của các Hình-Cảnh-Lại khác (Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Khu, Tỉnh, Thị, Quận, v.v…) trên khắp nước, trong những vụ án cần được khẩn-cấp tầm+tra.
Huống chi CSQG của Việt-Nam Cộng-Hòa đã là Hội-Viên của Cảnh-Sát Quốc-Tế (InterPol).
[Hoa-Kỳ đã giúp Việt-Nam Cộng-Hòa tuyển-dụng viên-chức có bằng đại-học luật-khoa, nghiên-cứu về luật quốc-tế, hướng-dẫn tham-gia tổ-chức Cảnh-Sát Quốc-Tế [InterPol], thành-lập chi-nhánh Việt-Nam của Cảnh-Sát Quốc-Tế, đặt trụ-sở tại Tổng-Nha (nay là Bộ Tư-Lệnh) Cảnh-Sát Quốc-Gia.]
Trong một số trường-hợp khẩn-cấp các Hình-Cảnh-Lại còn có thể liên-lạc phối-hợp hoạt-động với nhau, không những vượt quản-hạt hành-chánh trong một nước, mà còn có thể vượt cả biên-giới quốc-gia.
Cấp-Hiệu CSQG cho Thám-Sát Đặc-Biệt
Vì đã huy-động Thám-Sát Đặc-Biệt* đi hoạt-động chung với Cảnh-Sát Dã-Chiến, Cảnh-Sát Sắc-Phục, và cả Nghĩa-Quân, Địa-Phương-Quân, nên tôi đề-nghị với Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Khu I, và đã được ông chấp-thuận, cho một số cấp chỉ-huy của Thám-Sát Đặc-Biệt tại Vùng I được mang cấp-hiệu CSQG, để có uy-tín đối với các đơn-vị bạn mỗi khi đi phối-hợp hành-quân.
Họ mặc sắc-phục Cảnh-Sát Dã-Chiến, đội mũ-nồi bằng nỉ màu lục của Thám-Sát Tỉnh (PRU= Provincial Reconnaissance Unit) cũ, nhưng cấp chỉ-huy không mang dấu-hiệu gì để các cơ-quan đơn-vị bạn nhận biết rõ-ràng.
Nay thì tại Vùng I họ được mang thêm cấp-hiệu CSQG: Chỉ-Huy-Trưởng Liên-Đội Thám-Sát Đặc-Biệt Khu I mang cấp-hiệu thiếu-tá. Chỉ-Huy-Phó của đơn-vị này mang cấp-hiệu đại-úy. Các Chỉ-Huy-Trưởng của Đội Thám-Sát Đặc-Biệt thuộc các Tỉnh/Thị trong Vùng I cũng mang cấp-hiệu đại-úy.
Đại-Tá Huỳnh Thới Tây cho rằng tôi đã lạm quyền, vì Quyết-Định của Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc là do đề-nghị của tôi.
Riêng về việc này thì tôi tự nhận là đã xúi ẩu để Đại-Tá Lộc chấp-thuận, vì nếu chờ-đợi Trung-Ương thì chắc khó có kết-quả, bởi lẽ Thám-Sát Đặc-Biệt chưa có quy-chế thực-thụ CSQG―không có cấp-bậc, chỉ có chức-vụ và còn hưởng lương theo mức cố-định từ thời còn ở dưới quyền của CIA. Vả lại, việc mang cấp-hiệu này chỉ có giá-trị đối với 2 viên-chức tại cấp Vùng, và một viên-chức tại mỗi Tỉnh/Thị, và chỉ trong khi tham-gia hành-quân phối-hợp mà thôi.
[Hồi tôi còn làm Trưởng Ngành Cảnh-Sát Đặc-Biệt Vùng II, tôi đã trình xin và được Tư-Lệnh Quân-Đoàn II/Vùng II Chiến-Thuật chấp-thuận cho một trung-sĩ Cảnh-Sát Đặc-Biệt ở Tỉnh Bình-Thuận được mang cấp-bậc đại-úy QLVNCH để vào làm việc trong Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-bên. Nay làm Giám-Đốc Đặc-Cảnh Vùng I, tôi cũng đã xin và đã được Tư-Lệnh Quân-Đoàn I/Quân-Khu I chấp-thuận cho vài trung-sĩ Cảnh-Sát Đặc-Biệt của tôi ở Đà-Nẵng được mang cấp-bậc đại-úy QLVNCH để vào làm việc tại Ban Liên-Hợp Quân-Sự 2-bên.]
Một Khẩu K-59 Tước Được của VC
Trong một cuộc hành-quân, Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Nam có tịch-thu được của Việt-Cộng một khẩu súng lục mới lạ, Địa-Phương chưa thấy lần nào.
Thiếu-Tá Chánh-Sở Lâm Minh Sơn báo-cáo lên tôi, tôi báo-cáo lên Bộ Tư-Lệnh/Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương.
(Lệnh trên ban xuống từ trước là trong trường-hợp tương-tự thì hãy chụp ảnh, mô-tả đặc-điểm hình dáng khẩu súng để xem nó thuộc loại nào.)
Sau đó, tôi nhận được lệnh nạp trình chiến-lợi-phẩm ấy lên Trung-Ương.
Gặp lúc có một cuộc họp tại Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, tôi được mời vào tham-gia.
Sau phần thuyết-trình tổng-quát của tôi, Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây hỏi tôi về khẩu súng trên.
Tôi có mang theo bản sao của tờ báo-cáo kèm theo hình-ảnh mô-tả của khẩu súng lục―gửi rồi nhưng chắc chưa đến tay ông―nên tôi lấy ra đưa cho ông xem. Tướng Tây đọc báo-cáo và nhìn hình-ảnh, xong hỏi khẩu súng đâu rồi, hãy trao cho ông.
Tôi đâu có khẩu súng ấy mà trao.
Số là Đặc-Cảnh ở Tỉnh đồng-thời cũng có báo-cáo kết-quả hành-quân lên Tỉnh, nên viên Tỉnh-Trưởng sở-tại đòi xem khẩu súng ra sao. Thấy khẩu súng quý, vì mới bắt được lần đầu, viên đại-tá Tỉnh-Trưởng bèn giữ lại, nói là mượn xem ít hôm. Liền đó, gặp dịp Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu ra thăm Quảng-Nam, viên Tỉnh-Trưởng sở-tại đưa khẩu súng ấy ra khoe; và thấy Tổng-Thống tỏ ý thích nó nên viên Tỉnh-Trưởng tặng luôn.
Thường thì chúng tôi báo-cáo tóm-tắt sự-việc ngắn gọn ra ở phần trước, còn các chi-tiết phụ-thuộc thì ghi ra ở phần sau, với các tài-liệu liên-hệ kèm theo.
Do đó, tôi đáp (như có ghi ở phần sau báo-cáo):
– Trình thiếu-tướng, Tổng-Thống đã lấy khẩu súng ấy rồi.
Nhưng Chuẩn-Tướng Tây chưa đọc phần sau của bản báo-cáo, không hỏi chi-tiết làm cách thế nào mà khẩu súng ấy lại đến thấu tay Tổng-Thống; ông nghĩ là tôi đã “qua-mặt” ông, tự ý vượt cấp tâng công trực-tiếp với vị Nguyên-Thủ Quốc-Gia.
Ông tức, gằn giọng:
– À, anh đã muốn “kiếm điểm” trực-tiếp với Tổng-Thống thì từ nay trở đi có gì anh cứ lên thẳng Tổng-Thống, đừng cần thằng này nữa nghe!
Vài Ngoại-Lệ
Tôi nghĩ cũng cần báo-cáo cả những việc-làm ra ngoài nguyên-tắc, phần thì để tỏ là mình thành-thật, phần thì để phòng Cấp Trên đã biết cả rồi (?).
1. Đời công: Tôi đã tự-ý thành-lập một “Phòng Tình-Hình” (không có trong sơ-đồ tổ-chức chính-thức của Ngành), để nhân-viên thay phiên nhau cùng làm việc 24 giờ/7 ngày với tôi, bắt cả nhân-viên trực máy tại các Tỉnh/Thị cũng cùng ở trong tình-trạng sẵn-sàng làm việc bất-cứ lúc nào liên-tục suốt ngày+đêm như tôi.
2. Đời tư: Có lần một viên Thanh-Tra Trung-Ương ngỏ ý muốn xem sinh-hoạt ban đêm tại Đà-Nẵng. Trong thời-gian đó, Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng cấm các sĩ-quan quân-nhân không được đến khiêu-vũ tại các vũ-trường, nên các Tỉnh/Thị-Trưởng cấm chung mọi người, mặc dù các chủ tiệm-nhảy đã được chính-quyền cấp cho giấy phép hành-nghề. Tôi đã đưa viên Thanh-Tra ấy vào một phòng trà+ca+vũ+nhạc; gặp lúc không có nhân-viên Cảnh-Sát Sắc-Phục, các cô vũ-nữ đã ào ra sàn, ông cũng ôm eo một cô lả-lướt như ai.
*
Tôi nhờ đả-tự-viên tại văn-phòng E2 đánh máy, xong ký tên, đưa bản Tự Thuật ấy cho Trung-Tá Phạm Văn Ca. Anh mang ngay vào trình cho Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây.
Lát sau, Ca trở lại, nói rằng Ông Tướng đang bận, bảo tôi tiếp-tục tường-trình các hoạt-động tại các Tỉnh/Thị thuộc Miền Trung.
*
Công-việc của tôi không phải chỉ là gửi+nhận công-văn & công-điện và đi thanh-tra, bình-thường như một số cấp chỉ-huy trung-gian khác, nhất là cấp Vùng.
Tôi đã tích-cực thực-hiện công-tác an-ninh & phản-gián của chính cấp Vùng. Có như thế mới xứng-đáng với sự hiện-diện và hiện-hữu của một cơ-quan cấp Vùng.
Đồng-thời tôi cũng hòa-nhập hoạt-động với các địa-phương, góp phần cụ-thể cùng họ vượt khó, tiến nhanh.
Tôi chỉ ghi lại một số sự-việc thí-dụ mà thôi. Tính từ Quảng-Trị vào đến Quảng-Ngãi. [Đã viết trong cuốn hồi-ký “Cảnh-Sát-Hóa” (trang 137-240) nên không nhắc lại ở đây.]
Tôi đưa bản thảo nhờ đả-tự-viên đánh máy giùm, xong nghĩ là mình cũng nên ghi ra những gì mà các thuộc-viên có thể hiểu lầm, dẫn đến bất-mãn, xuyên-tạc gì chăng.
Đại-Úy Cao Viết Song của Tỉnh Quảng-Tín
Không hiểu vì sao mà Đại-Úy (sau này là Thiếu-Tá) Lâm Minh Sơn, Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Nam, và Đại-Úy Cao Viết Song, Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Tín, được Bộ Tư-Lệnh CSQG thuyên-chuyển vào Sài-Gòn; xong rồi Sơn được trở lại với trách-vụ cũ, còn Song thì không.
Nhân dịp vào Bộ Tư-Lệnh, tôi hẹn với Song hãy đến gặp tôi, để tôi dẫn vào trình-diện và xin với Đại-Tá Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, cho anh trở lại nhiệm-sở cũ.
Nhưng Song trễ hẹn.
Tôi chỉ có thể nhân lúc báo-cáo thành-quả công-tác mà xin cho Song.
Tôi vào gặp Đại-Tá Tây―như một diễn-viên xuất-hiện trên sân-khấu vào một lúc nào đó nhất-định trong một vở tuồng―chứ đã ra khỏi phòng-giấy của ông rồi, đã đóng xong vai tuồng của tôi rồi, thì diễn-viên-tôi không thể tự-dưng vào lại sân-khấu. Tôi không thể nào trở lại, vào gặp bất-thường mà xin cho Song, bởi lẽ Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương bận rất nhiều việc―có lần tôi thấy buổi chiều ông vẫn ở lại làm việc cho đến tối đêm―vả muốn vào gặp thì phải trình xin phép trước―mà tôi thì không phải là một người thân-cận của ông. Thế thôi.
Đại-Úy Nguyễn Văn Tuyên của E Khu I
Vì Đại-Úy X, Chánh Sở Nghiên+Kế tại E6 (Ngành Đặc-Biệt Khu I) của tôi, được Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Khu I, cử đi làm CHT/CSQG một Quận trong Vùng, tôi chọn một trong các đại-úy giảng-viên tại F4 (Trung-Tâm Huấn-Luyện Tình-Báo Căn-Bản Khu I), là các sĩ-quan chưa giữ chức-vụ chỉ-huy, lên thay.
Tôi không quen biết ai, mà chỉ xét qua hồ-sơ cũng như nhận-xét của cấp chỉ-huy trực-tiếp là Trưởng F4, thấy họ đều tốt như nhau, nên tôi chọn Đại-Úy Nguyễn Văn Tuyên. Tuyên là người có nét chữ viết tay khá đẹp, viết nhanh như tốc-ký (phòng khi tôi cần đọc gấp cho anh viết một văn-bản gì), và là tín-đồ Đạo Ki-Tô (để chứng-tỏ là mình không kỳ-thị ai―Ngay chính một viên vệ-sĩ và hai viên tài-xế của tôi, tôi cũng chọn người theo Đạo Kitô).
Nhân dịp cuối năm, có đợt thăng-thưởng chung cho mọi người, tôi đề-nghị cho anh lên thiếu-tá.
Tôi đích-thân thảo một Phiếu Trình đặc-biệt, bảo Tuyên cho đánh máy ngay, ghi số, đóng dấu, rồi trao tận tay cho tôi ký, để sáng hôm sau tôi mang vào Sài-Gòn, định sẽ nhân lúc tường-trình công-việc với Đại-Tá Huỳnh Thới Tây thì trao cho ông mà xin cho Tuyên.
Rồi tôi lo làm hồ-sơ thuyết-trình đến khuya, sáng lại là lên phi-cơ, vào gặp Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương.
Khi tôi đã làm xong việc tại Bộ Tư-Lệnh/Ngành Đặc-Biệt, nhân-viên biệt-phái tiếp-phát văn-thư tại Sài-Gòn mới tìm đến nơi tôi tạm-trú ở Sài-Gòn mà trao Phiếu Trình nói trên.
Cũng như trường-hợp của Cao Viết Song, tôi không thể nào vào lại, xin riêng cho Nguyễn Văn Tuyên. Hồ-sơ (bình-thường) đề-nghị thăng cấp cho anh, nằm chung danh-sách với các ứng-viên khác, đã không qua lọt hội-đồng tuyển-lựa bình-thường tại Nha Viên-Chức/Tiếp-Trợ, vì không có kèm Phiếu Trình đặc-biệt của tôi―đáng lẽ, nếu có, thì có bút-phê chấp-thuận đặc-biệt của Trưởng Ngành rồi.
Một Đại-Úy Muốn Có Chức-Vụ Chỉ-Huy
Có một đại-úy, tôi không nhớ tên, trong số các giảng-viên tại F4, có vợ là người quen thân với vợ của Đại-Tá Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Khu I, đã nhờ bà này xin cho chồng mình được giữ chức-vụ chỉ-huy.
Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc ngỏ ý với tôi.
Tôi hứa là sẽ thu-xếp giùm.
Nhưng đối với Ngành Đặc-Cảnh thì việc đề-cử trách-vụ có phần khó-khăn hơn bên Sắc-Phục.
Ở Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia, hồi đó, có sự thi-đua hoàn-tất bổ-nhiệm, ổn-định chức-vụ, giữa các Khối, Nha, Sở, Phòng; từ Trung-Ương xuống các địa-phương.
Trưởng Ngành Đặc-Biệt tại Bộ Tư-Lệnh không muốn bị chê là mình làm chậm, hoặc không chính-xác―nếu cứ thường-xuyên thay-đổi phương-vị người này, kẻ kia, nếu không có gì khẩn-thiết―tức là xáo-trộn hệ-thống quản-trị, thống-kê, kế-toán―vì mỗi chức-vụ (có hưởng phụ-cấp) đều cần được hợp-thức-hóa bằng một Nghị-Định của Bộ/Trung-Ương.
Rất tiếc là mãi rất lâu tôi vẫn chưa thể đề-cử anh được vào một vị-trí chỉ-huy nào, vì chưa có chỗ nào khuyết―điều này hẳn là không làm vừa lòng bà vợ, và ngay cả cấp chỉ-huy trực-tiếp hàng ngang của tôi tại Vùng này…
*
Vì mọi người rất sợ Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, không dám trình ông nhiều hơn những gì ông đã chỉ-thị, nên Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây cũng theo cách đó, ít ai dám hỏi nhiều hơn những gì ông đã nói ra.
Tôi nhớ có lần Đại-Tá Tây ra lệnh cho Cảnh-Sát Đặc-Biệt toàn-quốc báo-cáo về vấn-đề “giành lấn đất-đai”. Các nơi đua nhau thu-thập tài-liệu về chuyện chủ đất tranh-tụng nhau về bất-động-sản, công-thổ, tư-điền. Tôi hỏi Nha Tình-Báo (E1) là nơi phát ra lệnh ấy, thì trung-tá Giám-Đốc Nha ấy cũng chỉ nhắc lại lệnh của Cấp Trên như thế mà thôi.
Riêng tôi tự nghĩ chủ-quyền đất-đai là một hộ-sự, không thuộc Cảnh-Sát Quốc-Gia―coi về hình-sự―huống gì Ngành Đặc-Biệt là cơ-quan chính-sự. Chắc-chắn là việc Việt-Cộng nhân dịp ngưng bắn theo Hiệp-Định Paris mà lấn chiếm lãnh-thổ ở vùng xôi-đậu, nên đã bảo riêng các Tỉnh/Thị tại Vùng I tường-trình thêm về vụ này. Quả-nhiên, trong buổi họp tại Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương mà Đại-Tá Tây cho mời cả các Phụ-Tá Đặc-Biệt cấp Tỉnh/Thị tại Khu I vào dự, tất cả các Chánh Sở Đặc-Cảnh liên-hệ đều thuyết-trình giống như tài-liệu cấp Vùng của tôi; lúc đó mới biết là đúng nhu-cầu của ông.
Do đó, tôi không biết―vì hẳn Trung-Tá Phạm Văn Ca cũng không hỏi nên không biết―thực-sự Chuẩn-Tướng Tây muốn tôi trình-bày những gì.
*
Cuối cùng tôi được mời vào gặp Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây.
Ông cười hỏi tôi:
– Anh ngạc-nhiên lắm hả?
Tôi chưa biết phải nói gì thì Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương đã nói ngay:
– Chính tôi mới là người ngạc-nhiên, về anh.
“Ở Vùng I: Chánh Sở An-Ninh Quân-Đội đề-cao anh; Tham-Mưu-Trưởng Quân-Đoàn & Quân-Khu khen-ngợi anh; Trung-Tướng Tư-Lệnh Ngô Quang Trưởng ban-thưởng Anh-Dũng Bội-Tinh cho anh 3 lần, 2 với ngôi sao bạc, 1 với ngôi sao vàng. Cộng chung, tại Vùng I, cũng như tại Vùng II, ngoại-trừ các sĩ-quan quân-đội biệt-phái qua, thì anh là sĩ-quan Cảnh-Sát có nhiều huy-chương nhất, cả các loại của các quân-chủng bên quân-sự lẫn các loại của các Bộ bên dân-chính, và các loại huy-chương của Cảnh-Sát Quốc-Gia.
“Ở Trung-Ương: tôi hỏi các phụ-tá của tôi, Giám-Đốc các Nha, thì không ai chê-trách gì anh, mà họ còn tỏ ra quý-mến anh.
“Tôi đã phái Trung-Tá Phạm Trọng Tú, Thanh-Tra-Trưởng, ra tận nơi dò xét về anh, nhưng không tìm thấy điều gì sai trái, chỉ toàn ưu-điểm mà thôi…”
Ông cười, khiến tôi―từ chỗ thoạt đầu lo-ngại, tiếp đến ngạc-nhiên, rồi là vui-mừng―cũng cười theo ông.
Rồi ông đứng dậy, khiến tôi cũng đứng dậy theo.
Ông kết-luận:
– Tôi chỉ trực-tiếp trắc-nghiệm, để anh tự mình nói ra, rằng mình đã có làm gì bậy-bạ hay không. Mà không thì là tốt rồi. Thiếu-Tướng Tư-Lệnh cũng có đường dây kiểm-soát riêng, và cũng nhận thấy là anh có tài, có công, có tư-cách, đáng được tưởng-thưởng. Thiếu-Tướng đã ra lệnh thăng cấp cho anh vào “Ngày Cảnh-Lực” 1-6-1975* này. Bộ Tư-Lệnh đã dự-trù sẽ bổ-nhiệm anh vào một chức-vụ nào đó, quan-trọng và xứng-đáng hơn cương-vị hiện-thời.
“Thôi, chúc mừng anh. Tiếp-tục cố gắng.
“Và vui-vẻ ghé Nha-Trang thăm gia-đình nha!”
*Ngày ấy chưa đến thì Việt-Nam Cộng-Hòa đã tiêu-vong.
Ghi chú:
Cựu Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Biệt toàn-quốc (mà tôi gọi làTư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương), sau ngày mất nước, đau nỗi đau chung, đã lặng-lẽ ẩn mình trong bóng tối, không xuất-hiện nơi công-cộng, không tuyên-bố, phát-biểu điều gì.
Ông mất tại Westminster, CA, USA, ngày 12-9-2010, hưởng-thọ 78 tuổi.
GHI THÊM:
Lê Xuân Nhuận là người đầu tiên được Cấp Trên cho riêng tiền-mặt (trao tay mỗi tháng $20,000.00), để tùy ý thuê nhà mà ở, khi thuyên-chuyển ra Vùng I, suốt một-năm-rưỡi sau cùng của mình tại Quân-Khu I mà cũng là một-năm-rưỡi sau cùng của VNCH tại vùng địa-đầu này.
S.T.T.D Tưởng Năng Tiến
L.T.Đ: Nếu chỉ được phép ghi danh một người viết văn và một người làm thơ ở đất cảng Hải Phòng (thôi) tôi sẽ chọn Bùi Ngọc Tấn và Nguyễn Thị Hoài Thanh. Cả hai đều qua đời ở tuổi bát tuần, và đều đã trải qua một kiếp nhân sinh với rất nhiều gian truân và cay đắng. Nhà văn BNT từ trần năm 2014. Hôm nay, chúng tôi vừa nhận được tin (muộn) thi sĩ N.T.H.T cũng đã từ giã cõi đời vào ngày 20 tháng 2 – 2020. Với chế độ hiện hành, có lẽ, bà là một nghệ sĩ có cuộc sống trầm lặng (và trầm luân) nhất. Bài viết ngắn sau xin được coi như một nén hương lòng gửi người đã khuất.

Trong những phụ nữ thuộc thế hệ chị và mẹ của mình, tôi thương nhất chị Thanh và dì Bẩy. Khi còn đôi tám, người ta thường gọi dì là con Bẩy.
“Giọng hát của con Bẩy đưa đò khi cất lên cao thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh; giọng ấy lúc buông trầm xuống thì như hơi gió xao động cả dòng sông, chuyển rung mặt nuớc.” (Sơn Nam. “Con Bẩy Đưa Đò”. Hương Rừng Cà Mau. 51-52*).
Tài sắc, cũng như đức hạnh, không mấy khi mang lại hạnh phúc và may mắn cho những kẻ sinh ra trong thời ly loạn. Cuộc đời cô Bẩy (rất) không may và (hoàn toàn) không hạnh phúc.
Lúc còn thanh xuân, cô gặp (và yêu) một chàng trai trên dòng Cái Lớn. Chàng từ Bình Thủy xuống, đẹp trai, lịch thiệp, và hò hát cũng rất hay. Chỉ có điều đáng tiếc là người ta không phải loại “thường dân” nên không chịu cùng cô Bẩy kết duyên đôi lứa và sống an phận thủ thường (như những đám lục bình trôi) nơi ao hồ sông rạch.
“Nghe qua con Bẩy bùi nghùi tấc dạ; từ chỗ kính mến đến chỗ yêu thương chàng trai đó cũng không xa mấy. Con Bẩy nhìn vầng trăng khuyết vừa hé lên khỏi ngọn bần.
Con Bẩy chờ hoài, chờ hủy nhưng người xưa không quay về bến cũ. Thời gian thì đâu có chịu đợi ai. Tuổi đời khiến con Bẩy Đưa Đò trở thành một phụ nữ bán thịt tại chợ Vàm, ở ven sông. Thịt luộc của dì Bẩy nổi tiếng là “ngon hết biết” luôn.
Một hôm, có người năn nỉ xin chỉ cho cách luộc thịt. Dì Bẩy thoáng ngậm ngùi:
“- Cái việc hò hát cũng như cái việc luộc thịt heo vậy. Ai làm cũng được. Cách thức dễ ợt. Nhưng mà công phu lắm.
Tương tự như thủ đô Lisbon của Bồ Đào Nha (vào đầu thập niên 1940) nơi mà nhiều người dân Âu Châu đã tìm đến, với hy vọng có cơ may chạy thoát khỏi sự săn đuổi chủ nghĩa phát xít. Hải Phòng, hồi đầu thập niên 50, cũng thế. Cũng là ngưỡng cửa của sự tử sinh.
Hàng triệu người Việt muốn lánh nạn cộng sản cũng đã tìm đến bến cảng này, với hy vọng tìm được một con tầu để đưa họ vào Nam. Chỉ riêng Nguyễn Thị Hoài Thanh quyết định ở lại thôi. Bà Nguyễn Thị Thêu kể lại: “Sau hiệp định Geneve chia đôi đất nước, gia đình tôi ra Hải Phòng để chờ ngày di cư vào Nam. Hoài Thanh vốn là người Hải Phòng nên ba tháng hè chúng tôi thường xuyên gặp nhau. Tôi rủ Hoài Thanh di cư vào Sài Gòn nhiều lần, nhưng Hoài Thanh bảo: “Tao chờ anh Trúc ở ngoài kháng chiến về.” (Nguyễn Thị Hoài Thanh. “Luyến Tiếc”. Hoa Phượng. Tiếng Quê Hương: Virginia, 2007).
Không ai trở lại, như chị Thanh (và dì Bẩy) đã mong ngóng cả. Người đời rồi cũng dần lãng quên cái giọng hát “khi cất lên cao thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh” của cô gái đưa đò (xuân sắc) năm xưa. Thời gian cứ để mặc cho dì Bẩy sống mãi trong lặng lẽ và cô đơn, cạnh một bến sông êm đềm, ở miền Nam.
Chị Thanh, buồn thay, đã không có được sự “may mắn” tương tự như dì Bẩy hồi mấy muơi năm trước. Cái giá mà chị phải trả cho tấm lòng trung hậu của mình mắc mỏ hơn nhiều. Ở miền Bắc, nơi mà (miếng thịt lợn chao ơi là vĩ đại, miếng thịt bò vĩ đại gấp hai) thịt thà được phân phối độc quyền bởi nhà cầm quyền nên chị Thanh đành phải bán than:
Em lội giữa đống than như con cá mắc cạn
Cố vẫy vùng cho vượt khỏi gian truân…
(Chu Tất Tiến. “Viết Về Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Hoài Thanh.” Hoa Phượng. Tiếng Quê Hương: Virginia, 2007).
Sống “trong lòng cách mạng” mà muốn “vượt khỏi gian truân” thì e là điều bất khả. Lý lịch trích ngang của Nguyễn Thị Hoài Thanh được Bùi Ngọc Tấn tóm tắt, như sau: “Có việc gì mà không trải qua. Hãy kể những việc chính:
“Công nhân xi măng, thợ điện Hải Phòng điện khí, thợ điện công ty xây lắp, công nhân bóc lạc công ty xuất nhập khẩu, đứng máy bào cuốn xí nghiệp gỗ Trương Công Định, công nhân công ty xếp dỡ, cấp dưỡng công ty vật liệu kiến thiết, súc sạc ắc qui Công Ty Quốc Doanh Đánh Cá Hạ long… Đó là chưa kể còn đi giao bánh rán, bánh mì, kẹo lạc, làm và bán nước mắm … Đồng luơng không đủ nuôi mình mà còn phải nuôi con.” (Bùi Ngọc Tấn. “Một Mơ Ước Về Kiếp Sau.” Viết Về Bè Bạn. Tiếng Quê Hương: Virginia, 2005).
Chưa hết, còn có “huyền thoại” là chị Thanh có hai ông anh đã di cư: Nguyễn Xuân Vinh và Nguyễn Cao Kỳ. Cả hai đều (từng) là tư lệnh không quân của miền Nam. Huyền thoại này chỉ đúng năm chục phần trăm. Quả thực, chị là em của ông Nguyễn Xuân Vinh. Ở miền Bắc, có một ông anh cỡ đó cũng đủ chết (bà) rồi. Đâu cần đến cả hai.
“Dường như biết rằng có những dư luận bất lợi cho mình và mọi người nhìn mình bằng con mắt nghi kỵ xa lánh nên chị không chủ động thân thiết gần gũi với một ai.” (Bùi N.T. sđd, trang 99).
Chị sống thui thủi một mình là phải:
Sau hổi kẻng tan ca
Tôi ngã vào vòng tay lạnh lẽo của mùa đông.
Đời sống cái gia đình nhỏ bé của riêng chị Thanh lại là một thảm kịch khác. “Thời con gái chị vốn xinh đẹp. Nhất dáng nhì da. Chị được cả hai. Nhưng hồng nhan đa truân. Hai lần kết hôn, hai lần ly dị. Vẻ đẹp của tuổi ba muơi đang chín. Cái sắc đẹp không chủ đã gây cho chị biết bao nhiêu khó khăn, nhiều khi cả nguy hiểm nữa… Hình như Nguyễn Thị Hoài Thanh sinh ra là để gặp rắc rối và vuợt qua những rắc rối khó khăn. Chịu đựng và vượt qua một cách thản nhiên bình tĩnh, không kêu ca như cuộc đời vốn như vậy.” (Bùi N.T. sđd, trang 101 -104).
Thì quả đúng “như vậy” thật nhưng sao, đôi lúc, tôi vẫn nghe dườg như có tiếng chị thở dài – dù (rất) khẽ:
Sông Cấm ơi! Sông như người bạn mới quen
Thân thiết thế mà sao không hiểu được
Chiều tan ca tôi đi bên dòng nước
Sông với tôi, với bóng là ba
Bóng tôi nghiêng với bao la
Sông mang về biển
Bóng tôi còn nguyên vẹn không sông?
Sông Cấm, đã có lúc, mang “nguyên vẹn” hình bóng của người thơ ra biển nhưng chị Thanh đã không giữ được nguyên vẹn hình hài của chính mình: “Tai nạn xẩy ra ngay ngã Sáu, gần nhà tôi. Chị nằm ngất trên đường mưa dầm ngày tết, mặt đường sền sệt một thứ nước bùn hoa. Cánh tay dập nát, xương gẫy… Chị bảo người nhà xin cho người tài xế đã gây ra tai nạn vì người ta không cố ý, người ta cũng khổ như mình.” (Bùi N.T. sđd, trang 111-112).
Sau đó, sau khi bị thương tật – ở tuổi sáu muơi – chị Thanh sẽ không bao giờ còn được “khổ như” nhiều người dân Việt (trung bình) khác nữa. Có lẽ, chỉ còn có cách ăn xin để sống còn – như chị đã từng nghĩ thế. Nhưng lòng tự trọng quá lớn đã không cho phép chị Thanh làm như vậy. Loay hoay một thời gian rồi chị cũng nghĩ ra một cách sinh nhai khác, lịch sự hơn: chị vào Nam đi … mót!
Với dân Việt thì gặt lúa, bẻ bắp, rỡ khoai, rỡ lạc là những sinh hoạt quen thuộc hàng ngày. Mót lúa, mót bắp, mót khoai, mót lạc …cũng là những sinh hoạt quen thuộc khác – với những nông dân khốn khó hơn, như trường hợp của chị Thanh. Có chiều, ở Đồng Xoài, trong khi chờ người ta thu hoạch xong (để mót lạc) chị đang ngồi chơi vẩn vơ đùa nghịch với những cây hoa mắc cở thì ý thơ chợt đến:
Chiều lặng ngồi bên cây xấu hổ
Lá thẹn thò sau đám cỏ rối bời
Hãy ngoảnh mặt lại đây
Có gì đâu mà mắc cở
Chỉ mình ta bầu bạn với ta thôi.
Có gì đâu mà mắc cở? Vậy mà tôi cứ xấu hổ mãi, sau khi đọc xong tập thơ Hoa Phượng – nhất là những bài chị Thanh viết về Di Linh, Đức Trọng, Tùng Nghĩa … Đó là những địa danh mà tôi cũng đã từng sống qua, một cách rất vô tình, và đã đành đoạn bỏ đi – cũng vô tình không kém!
Chị Thanh thì khác. Từ Bắc vào Nam, không một người thân quyến, chị không đi để “nhận họ nhận hàng” với bất cứ ai. Chị bước qua tất cả những vùng đất xa lạ của quê hương, với tất cả sự hồn nhiên và bằng một tấm lòng phơi phới:
Khi ta đến Di Linh chiều rất trẻ
Tiếng nắng về dát bạc dưới lòng thung…
Chị Thanh đến mọi nơi với tất cả sự thiết tha, và khi chia tay cũng vô cùng tha thiết:
Tạm biệt nhé Di Linh thôi chào nhé
Ở chưa quen đã vội vã ra về …
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/ Trung? Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!
Tưởng Năng Tiến
(*) Sách được in lại (và in lậu) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản.
A team from the Archaeological Survey of India have announced the discovery of a monolithic sandstone Shiva Linga dating from around the 9th century AD in the Quảng Nam province, Vietnam.

The Archaeological Survey of India is an Indian government agency attached to the Ministry of Culture that is responsible for archaeological research and the conservation and preservation of cultural monuments.
The discovery was made during a conservation project at Mỹ Sơn, an archaeological site consisting of Hindu temples constructed between the 4th and the 14th century AD by the Kings of Champa, an Indianised kingdom of the Cham people.
The Mỹ Sơn temple complex is regarded as one of the foremost Hindu temple complexes in Southeast Asia and is recognised as a UNESCO world heritage site.
The linga, also called a lingam is an abstract or aniconic personification of Shiva in Shaivism and is generally the primary murti image in a Hindu temple dedicated to Shiva. Lingam iconography is often found at archaeological sites of the Indian subcontinent and southeast Asia that includes simple cylinders set inside a yoni.
The External Affairs Minister for India, S. Jaishankar said: “A great cultural example of India’s development partnership.”
TRỤ-SỞ Ðài Phát-Thanh Huế tọa-lạc ngay trên bờ Hữu-Ngạn của Sông Hương, cạnh mé Tây của đầu Cầu Trường-Tiền, đối-diện Đại-Khách-Sạn Morin bên kia Đường Lê-Lợi sát góc Đường Duy-Tân.
Thuở ấy, chưa có các Ðài cấp Tỉnh, Ðài Huế là Tiếng Nói chung của cả Miền Trung, nên máy phát rất mạnh, không thua Ðài Quốc-Gia và Ðài Pháp-Á (Radio France-Asie) của Pháp ở Sài-Gòn, nghe được cả ở Miền Bắc lẫn Miền Nam Việt-Nam.
Cả nước chưa có hệ-thống truyền-hình; cả Miền Trung chỉ có vài ba tờ nhật-báo ở Huế mà thời-sự thì dựa theo tin-tức đọc chậm của Ðài Sài-Gòn. Trong tình-hình đó, Ðài Huế là món ăn tinh-thần hằng ngày của đồng-bào Miền Trung, và của cả những người ở phiá ngoài Tỉnh Thanh-Hoá và ở phiá trong Tỉnh Bình-Thuận mà có gốc-gác hoặc liên-hệ đời sống ở Miền Trung.
Ngoài những tiếng hát của các nam+nữ ca-sĩ mà một số về sau vào Sài-Gòn thì trở thành danh-ca của toàn-dân, giọng bình và ngâm thơ của các thi+kịch-sĩ tên-tuổi một thời, tiếng hát của các danh-ca quốc-tế trong các chương-trình nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, và giọng đọc xì-xồ của mấy người Pháp trong chương-trình vô-tuyến của Service d’Information, những ai đã từng nghe Ðài Huế cũng đều xác-nhận rằng người nữ-xướng-ngôn chính của Ðài này có một giọng đọc truyền-cảm vô-cùng. Giọng đọc của người con gái Huế ấy chẳng những dịu-dàng, ngọt-ngào, ấm-cúng, hấp-dẫn, mà còn trí-thức, vì không bao giờ vấp phạm lỗi-lầm khiến thính-giả khó chịu hoặc làm sai lạc ý-nghiã của câu văn.
Những người hiếu-kỳ đi ngang qua Ðài Huế thường để ý thấy có một thiếu-nữ be-bé xinh-xinh, cư-ngụ trong một căn phòng khiêm-tốn ở tầng trên của một buồng-kho bên hông trụ-sở Ðài. Một cầu thang nhiều bậc xi-măng từ mặt đất bắc lên cửa phòng làm cho căn phòng có vẻ cao hơn, khiến các thanh-niên ái-mộ đặt cho người-đẹp và căn phòng ấy cái mỹ-danh “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”.
Ðó chính là cô xướng-ngôn nói trên.
Sau ngày hồi-cư vào đầu năm 1947, tôi thường đến Ðài Huế để góp phần vào các chương-trình kịch vô-tuyến hằng tuần, kể cả việc trình-bày một số kịch thơ dã-sử và xã-hội của tôi, trong đó nhạc-sĩ Trịnh Văn Ngân là một trong những cây ngâm tuyệt-vời.
Do đó, tôi quen biết “nàng bồ-câu trên chuồng bồ-câu”. Tên nàng là Trần Trinh Thuận, tức nữ-sĩ Vi Khuê, một biên-tập-viên chính-ngạch có giọng nói trời cho nên kiêm luôn phần-vụ xướng-ngôn.
Tuy Vi-Khuê làm việc ở một cơ-quan thông-tin tuyên-truyền đậm màu chính-trị, nhưng những bài thơ của nàng hồi đó chỉ là tâm-tình của bạn gái ở lứa tuổi hai mươi, dễ thương như “con nai vàng ngơ-ngác, đạp trên lá vàng khô”.
*
Tôi thì lăn xả vào giữa tình-hình rối-ren cuả Quê Hương.
Dù đã từng bị giặc Pháp tù đày, tôi vẫn giao-du tuy không đồng-ý với Hồng Quang, chủ-nhiệm báo “Ý Dân”, là người chỉ chọn vũ-lực để chống chủ-nghiã thực-dân; và vẫn cộng-tác tuy không thuận-tình với Phạm Bá Nguyên, chủ-nhiệm báo “Công Lý,” là kẻ nhận Ðệ-Tứ thay cho Ðệ-Tam. Tôi lui+tới với Duy Sinh nhưng chưa yên tâm vì huyền-thoại văn-hoá điệp-báo của Nguyễn Bách Khoa. Tôi rất đau lòng vì đồng-bào đói khổ, nhưng chỉ hiệu-chính giùm thi-pháp chứ không tán-thành nội-dung khích-động giai-cấp đấu-tranh trong thi-tập “Tiếng Nói của Dân Nghèo” cuả Vân Sơn PMT (Phan Mỹ Trúc). Tôi thân+thương Trụ Vũ và Quách Thoại nhưng không hợp tính với họ vì lối sống phóng-túng của hai nghệ-sĩ thân-nhân ấy của Vi Khuê. Tôi tiếp-xúc với tác-giả nhưng không khép mình trong triết-thuyết bi-quan trong “Con Thuyền Không Bến” cuả Nguyễn Vũ Ban. Tôi thả hồn lên cõi siêu-nhiên nhưng không bước vào nương nhờ Cửa Thiền trong “Không Bến Hạn” cuả Huyền Không.
Tôi ủng-hộ cả hai đường-lối phục-hồi độc-lập quốc-gia: công-nghiệp kháng-chiến vũ-trang chân-chính của người dân, và nỗ-lực ngoại-vận ôn-hoà của các chính-trị-gia không-cộng-sản trong lòng Thế-Giới Tự-Do.
Riêng ở phiá bên này lằn ranh, tôi nhận thấy Cựu-Hoàng Bảo Ðại thì quá yếu mềm mà Đế-Quốc Pháp thì còn luyến tiếc giấc mơ đô-hộ Việt Nam, nên viết cuốn truyện dã-sử “Trai Thời Loạn” để gửi gắm ý mình, và kết-quả là tôi bị cơ-quan An-Ninh Quốc-Gia bắt giam; sau nhờ có chính-khách Cao Văn Chiểu, Giám-Đốc Thông-Tin Lê Tảo, cùng nhiều nhân-sĩ khác, can-thiệp với Thủ-Hiến Phan Văn Giáo, tôi mới được thả ra.
Ðể tạo một thế đứng vững-vàng hơn, tôi thành-lập Thi+Văn Ðoàn “Xây-Dựng”, xuất-bản các tác-phẩm của mình và của các bạn từ Bắc chí Nam. Mới bắt đầu thì Nhất Hiên (Phan Nhật Hiến) bỏ theo Việt Minh, và nửa chừng thì Như Trị (Bùi Chánh Thời) cũng nhảy lên chiến-khu.
Tôi hướng về nền dân-chủ và lòng hào-hiệp cuả Hoa Kỳ như tia sáng ở cuối đường hầm.
*
Tháng 4 năm 1954, tôi vào phục-vụ tại Phòng 5 Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu với tư-cách văn-nghệ-sĩ & ký-giả bị/được động-viên chuyên-môn. Lê Ðình Thạch và Huy Vân thì kỳ-cựu, Tô Kiều Ngân gốc Nha Thông-Tin cũng đã thành quân-nhân. Tchya (Ðái Ðức Tuấn) và Nhất Lang thì được đồng-hoá sĩ-quan.
Ngoài việc viết bài cho báo “Tiếng Kèn”, cho các đơn-vị Võ-Trang Tuyên-Truyền ở tuyến đầu, và cho chính tôi đi vận-động trong dân-nhân, tôi còn là phóng-viên chiến-tranh và biên-tập-viên chính cuả Ðài “Tiếng Nói Quân Ðội” tại Miền Trung.
Do chương-trình phát-thanh này, mà tôi là giám-đốc, tôi mới đặt phòng-giấy ngay tại trụ-sở của Ðài Phát-Thanh Huế, và gặp mặt Vi Khuê thường-xuyên.
Thay chỗ nhạc-sĩ Anh Chương, tôi cử Lâm Tuyền làm Trưởng Ban Tân-Nhạc; nhưng rồi tôi làm lơ cho Lâm Tuyền đào-ngũ vì anh quá chán chuyện đời.
Tôi đưa Văn Giảng lên thay.
Hà Thanh mới bắt đầu vào nghề.
Những lần xe Jeep bị hư, tôi đạp xe-đạp qua chở Kim Tước từ cư-xá Nha Thông-Tin ở bên kia cầu Trường Tiền. Cặp Châu-Kỳ−Mộc-Lan của giới ca-nhạc, cũng như cặp Hoàng-Pha−Phương-Khanh của giới văn+thơ, cũng đã từng ở đây.
*
Rồi Thoả-Ước Geneva ra đời.
Trong hội-nghị quốc-tế ấy, có ba nhân-vật Việt-Nam đã được thế-giới chú ý hàng đầu: Cô Thiên-Hương, con gái của nhà văn Hồ Hữu Tường, là nữ ký-giả duy-nhất, nói được nhiều ngoại-ngữ và trẻ đẹp nhất trong giới truyền thông; Cụ Võ-Thành-Minh, một lão-thi-sĩ, từ Huế đến, đã bí-mật vượt hàng rào Cảnh-Sát Thụy-Sĩ vào cắm trại trên Bờ Hồ Leman trước hội-đường, tuyệt-thực thổi sáo nói lên nỗi lòng của người dân Việt-Nam mong-muốn Thống-Nhất và khao-khát Tự-Do; và Ông Nguyễn-Quốc-Ðịnh, Ngoại-Trưởng cầm đầu Phái-Ðoàn Quốc-Gia Việt-Nam của chính-phủ Bảo Ðại, đã từ-chức để khỏi ký tên vào văn-bản thừa-nhận việc đất nước bị qua-phân.
Thủ-Tướng Ngô Ðình Diệm cử Ông Trần-Văn-Ðỗ đến thay. Pháp và Việt-Minh thoả-thuận ngưng bắn, lấy vĩ-tuyến 17 ngang sông Bến Hai làm ranh-giới Bắc–Nam.
*
Ðại-Tá Trương Văn Xương, Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, thuộc cánh Tổng-Tham-Mưu-Trưởng là Trung-Tướng Nguyễn Văn Hinh (con của cựu Thủ-Tướng Nguyễn Văn Tâm, thân-Pháp), mở một chiến-dịch đưa quân từ Huế vào tiếp-thu các Tỉnh phiá trong. Theo chương-trình chính-thức thì Thủ-Tướng Diệm sẽ từ Sài-Gòn ra chủ-toạ lễ thiết-lập Chính-Quyền Quốc-Gia tại vùng đất mới lấy lại này. Theo kế-hoạch riêng của cặp Hinh+Xương thì Diệm, trên đường đi từ Huế vào Quảng-Ngãi, sẽ bị lính và dân dàn chào bằng tiếng hô “Đả Đảo” cùng với trứng thối và cà chua. Câu hỏi nổi bật là “Mười vé phi-cơ cho gia-đình họ Ngô, hay là mạng sống cuả cả trăm ngàn binh sĩ Quốc-Gia?” Các bức tường vẽ khẩu-hiệu đã được xây lên; và biểu-ngữ, bích-chương, cùng truyền-đơn liên-hệ đã được chuẩn-bị sẵn dọc đường rồi.
Phòng 5 Quân-Khu đương-nhiên đảm-trách công-tác tác-động tinh-thần này.
Thành-Phố Huế ngẫu-nhiên được chia thành hai trận-tuyến. Bộ Tư-Lệnh Quân-Khu thì đóng trong Ðại-Nội, phiá Bắc của Sông Hương; nhà Ông Ngô-Ðình-Cẩn, trung-tâm quy-tụ cuả gia-đình họ Ngô, thì nằm trên Xóm Phú-Cam, phiá Nam của Sông Hương. Bộ-phận “Tiếng Nói Quân-Ðội” của tôi lại đặt trụ-sở tại Ðài Huế, trên bờ phiá Nam. Ðể biểu-dương lực-lượng, Quân-Khu phái đến hai chiếc xe-tăng, án-ngữ hai bên sân, trước Ðài Phát-Thanh. Các chương-trình vô-tuyến dân-chính chỉ có nội-dung lập-lờ, thông-tin hàng-hai.
Ở Quảng-Ngãi, cán-bộ Việt Minh gài lại xúi giục dân-chúng phản-kháng lực-lượng tiếp-thu, vì thấy vẫn có Cố-Vấn Pháp trong hàng-ngũ Quốc-Gia; súng nổ, người chết; Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát xen vào.
Ðảng Cần-Lao, qua nhạc-sĩ Ngọc Linh, móc nối tôi.
Tôi không theo đảng-phái nào hết, nhưng quyết-định ủng-hộ Thủ-Tướng Diệm, với chủ-trương “Ðả Thực, Bài Phong, Diệt Cộng”, để được sự giúp-đỡ cuả Hoa-Kỳ. Quốc-gia giàu mạnh nhất thế-giới này đã dìu-dắt Tây-Ðức, nâng-nhấc Nhật-Bản, và cứu-vớt Ðại-Hàn. Trung-Tá Nguyễn Văn Bông, Tư-Lệnh Mặt Trận Nam–Ngãi, đã phát-biểu với Trung-Tá Nguyễn Văn Tố, Phó Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, trong khi ổng lái xe ra đón Tố vào:
– Mình cộng-tác với thằng giàu thì hẳn sướng hơn phục-vụ cho thằng nghèo!
Tôi thảo truyền-đơn, tài-liệu, viết bài tuyên-truyền cho chí-sĩ họ Ngô.
Bộ Tham-Mưu của Xương không tin-tưởng ở tôi. Họ lập hẳn một Ðài Phát-Thanh riêng, trong Thành-Nội― dân-chúng gọi là “Đài bí-mật”―để tự mình phổ-biến lập-trường chống-Diệm và hô-hào dân-chúng nổi lên.
Không còn bị Cấp Trên ràng buộc, tôi công-khai dùng “Tiếng Nói Quân Ðội” để hậu-thuẫn cho Diệm và Hoa-Kỳ.
Hồi ấy, chỉ có một số trong giới Nho-học lớn-tuổi nghe danh Ông Ngô-Ðình-Khả, còn đa-số dân-chúng nói chung thì ít ai biết tên Ông Ngô-Ðình-Diệm, ngoại-trừ một nhóm trong giới Kitô-Giáo có đọc tờ báo “Tinh Thần” thời-gian gần đó.
Chương-trình phát-thanh của tôi có ảnh-hưởng rất lớn trong quần-chúng, vì làn sóng của Ðài Huế phát đi rất mạnh và xa, trong lúc “Ðài bí-mật” thì nhỏ và yếu, chỉ lẩn-quẩn vùng gần, lại khi-có khi-không.
Tôi đã lèo-lái để người dân xứ Huế, nghe Đài “của tôi” và trông thấy hai chiếc xe-tăng trấn đóng trước Ðài mà tưởng và tin là phe mạnh nhất trong Quân-Lực đã đứng hẳn qua phía Diệm, nên biệt-phái chiến-xa đến cho tôi để bảo-vệ Tiếng Nói của mình, chống lại phe yếu thế Hinh–Xương.
Toàn-quốc, nhất là Sài-Gòn, hướng về xứ Huế, gốc-gác của họ Ngô, lấy đó làm chỉ-dấu mà lên tinh-thần.
Từ đó, các phần-tử thân-Diệm mới dám đứng ra khỏi vòng giới-hạn của mình mà hoạt-động rộng-rãi trước mắt mọi người.
*
Trong những tháng ngày gay-cấn ấy, cứ mỗi lần từ các cuộc hành-quân hoặc từ các hoạt-vực bên ngoài trở về với phòng-giấy tại Ðài, tôi lại cảm thấy nhẹ-nhõm cả người, khi gặp mặt lại những nữ-nghệ-sĩ trẻ đẹp tươi vui, như bướm, như hoa, tô thắm cuộc đời. Trong vườn thanh+sắc ấy, Vi Khuê của giới thi+văn vẫn gần-gũi với tôi hơn các bạn bên giới cầm+ca. Nhưng “nàng bồ-câu” vẫn vô-tư-lự như mọi ngày, đâu biết đầu-óc tôi đã bỏng-rát những tính-toán mưu-mô, thân-xác tôi đã bầm-dập những gian-nan nguy-khốn, và chỉ trở về văn-phòng để thư-giãn cho những căng-thẳng thần-kinh.
*
Thủ-Tướng Ngô Đình Diệm thắng phe Hinh+Xương.
Hoa-Kỳ mở Phòng Thông-Tin tại Đại-Khách-Sạn Morin. Giám-Ðốc Thompson A. Grunwald là viên-chức dân-sự Mỹ đầu tiên đặt chân đến Miền Trung. Tôi tổ-chức dạy tiếng Anh trên Ðài, có Tôn Thất Ðát phụ-lực; tham-gia thường xuyên là Thompson, và bất-thường là bất-cứ người ngoại-quốc nào nói tiếng Anh mà tôi gặp được, bắt đầu từ Đại-Tá Richardson, Trưởng Phái-Ðoàn quân-sự Hoa-Kỳ T.R.I.M.
Lớp dạy tiếng Anh của tôi là lớp đầu tiên trong lịch-sử dạy tiếng Anh qua làn sóng truyền-thanh cho thính-giả Việt-Nam.
Nguyễn Cửu Tú (Phó Giám-Đốc Đài), Thompson và Nhuận
Ðại-Tá Nguyễn Quang Hoành lên thay Trương Văn Xương, rồi vì bất-đồng chính-kiến nên lại nhường chỗ cho Thiếu-Tướng Lê Văn Nghiêm.
Ðại-Úy Ngô Văn Hùng thay thế nhạc-sĩ Ngọc Linh, làm Trưởng Phòng 5. Văn Giảng ra đi, tôi cử Lê Trọng Nguyễn lên thay. Nguyễn vừa dịch tài-liệu vừa sáng-tác nhạc; bên cạnh giai-phẩm “Nắng Chiều” là “Hoan-Hô Lê Thiếu-Tướng” theo lệnh của Hùng (bắt chước “Hoan Hô Ngô Thủ-Tướng”). Ðể giúp Tôn Thất Ðậu chọn nhạc ngoại-quốc do thính-giả yêu-cầu, tôi liên-lạc với hàng chục Toà Ðại-Sứ ở Sài-Gòn, viết lời mở đầu về nền âm-nhạc của mỗi nước, và đặc-tính của mỗi bản nhạc, để giới-thiệu trước khi trình-bày. Giáo-Sư Lê Hữu Mục có đến chơi đàn; nữ-sĩ Như Thu đến góp bài; thi-sĩ Hồ Ðình Phương đến ngâm thơ. Trình-bày “Mục Thi-Ca” của tôi là Trần Anh Tuấn, Ðinh Lợi, Lan Hương, và Tâm Thanh (Tôn Nữ Kim Ninh).
*
Ở các Tỉnh Cao-Nguyên và miền núi Tỉnh Quảng-Ngãi, phong-trào đòi tự-trị của người Thượng nổi lên.
Chính-Quyền Diệm gom các phần-tử chủ chốt “Thượng Tự-Trị” về tập-trung ở đầu Cầu Nam-Giao. Một Nha Chiến-Tranh Tâm-Lý được lập nên, đặt trụ-sở ở đầu Cầu Phú-Cam. Đại-Úy Hùng kiêm-nhiệm Nha này. Tôi cũng kiêm thêm một số phần-vụ ở cơ-quan này, nên dời bàn-giấy đến đây.
Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu dời tổng-hành-dinh qua Hữu-Ngạn sông Hương.
Nước Việt-Nam Cộng-Hoà, với sự hậu-thuẫn của Hiệp-Chủng Quốc Hoa-Kỳ, được Thế-Giới Tự-Do nhìn-nhận.
*
Trong những năm trẻ-trung của Nền Ðệ-Nhất Cộng-Hòa ấy, Liên-Xô, Hoa-Cộng và Cộng-Sản Bắc-Việt, là những bên chủ-trương chia đôi đất nước Việt-Nam, chưa sẵn-sàng thực-hiện vũ-trang xâm-lược Miền Nam, mà Hoa-Kỳ thì viện-trợ tối-đa cả tinh-thần lẫn vật-chất cho con bài của mình và cái tiền-đồn mới lập này của họ ở Ðông Nam Á, nên tình-hình an-ninh khả-quan, chế-độ bắt đầu vững-vàng.
Thế là nhiều người liền tranh nhau mưu-quyền thủ-lợi riêng. Hầu hết chiến-công giữ nước, cũng như thành-tích dựng nước, được dùng để dâng lên Ngô Tổng-Thống, chỉ là những cử-chỉ qụy-lụy, những lời-lẽ tâng-bốc, những thái-độ tôn-thờ, dành cho toàn-thể gia-đình họ Ngô, được các tay chân thân-tín của Cụ xét thấy êm tai đẹp mắt nên tường-trình lên mà thôi.
Ông Ngô-Ðình-Khôi, bào-huynh của Diệm, từ-trần đâu cả chục năm trước kia, không ai biết đến; nay dời mộ-phần thì có cả tá cấp-cao chức-lớn gây lộn nhau để giành làm Trưởng Nam danh-dự hầu-cận bên quan-tài; nhiều năm về sau, hễ nhắc đến ông, nhiều kẻ còn khóc-lóc thảm-thương. Ông Ngô-Ðình-Luyện làm đại-sứ tận bên nước Anh, người dân không hề thấy mặt, thế mà khi nhắc đến ổng thì ai nấy đều vẽ-vời ra vô-vàn tài-cao đức-trọng, để ngợi-ca cho vừa lòng thế-gia. Huống chi các “Cố Vấn” hùng-cứ trong nước mà uy-quyền có khi lấn át cả ông anh. Dù không muốn nhập-cuộc, đa-số vẫn phải nhắc đi nhai lại, để được yên thân, những sáo-ngữ đã thành công-thức chót lưỡi đầu môi: “Nhờ ơn Ngô Tổng-Thống và các bào-huynh, bào-đệ cuả Người!” Thế là lắm kẻ được đặc-cách tiến-chức thăng-quan.
Trung-Tướng Thái Quang Hoàng thay thế Lê Văn Nghiêm.
Nhà văn Bùi Tuân trở thành Dân-Biểu, không còn viết thuê xã-luận cho Ðài của tôi, mà diện lễ-phục lái xe-hơi di diễu khắp phố-phường. Nhạc-sĩ Ngô Ganh không còn lập-dị, mặc bộ com-lê may bằng dạ chăn đi dưới nắng hè, bên trong là chiếc áo ngủ cổ kiềng mà mỗi lần đi đâu thì chỉ cần gài thêm vào đó một cái cổ áo trắng có đính sẵn ca-vát là khỏi phải tốn thêm nguyên cả chiếc áo sơ-mi; bây giờ ảnh làm Quản-Ðốc Ðài, kiêm Ðại-Diện Nhân-Dân Miền Trung, ngồi chung dãy ghế danh-dự với Ðại-Biểu Chính-Phủ, Tư-Lệnh Quân-Khu, v.v… trong những buổi lễ công-cộng trên khán-đài Phu Văn Lâu.
Trong lúc đó, tôi bị cơ quan An-Ninh Quân-Ðội thẩm-vấn tới, điều-tra lui. Họ vin vào cớ tôi đã là Trưởng Ðài Quân-Ðội từ khi còn Hinh+Xương.
Một hôm, Tổng-Thống Diệm ra Huế và ở lại đêm. Sáng sau, tôi nghe hàng-xóm kháo chuyện với nhau: “May mà bắt được, chứ không thì quân khủng-bố đã ám-hại Tổng Thống đêm qua rồi!” Ðến sở, tôi hỏi Đại-Úy Ngô Văn Hùng thực/hư thế nào; ổng liền gọi điện-thoại cho An-Ninh Quân-Đội, và cơ-quan này đến bắt tôi. Truy-cứu mới biết: chính-quyền sở-tại và thân-tộc có tổ-chức nhiều vòng đai an-ninh xung quanh nhà-thờ Phú Cam, nơi Diệm đến tiếp-xúc với giáo-dân; có một nhân-viên chìm, thuộc vòng-đai trong, vì đến trễ nên bị chận soát ở vòng-đai ngoài; thấy y có vũ-khí giấu trong người, đồng-bào tưởng lầm là Việt Minh. Chỉ có thế thôi, nhưng vì Diệm đã được thần-thánh-hoá, nên câu hỏi của tôi, dù là để phối-kiểm với mục-đích dùng Đài Quân-Đội mà trấn-an dư-luận đồng-bào, cũng đã bị xem là một sự xúc-phạm tày trời.
Ngày xưa, phần lớn văn-nghệ-sĩ đều phục-vụ trong ngành truyền-thông, nên tôi đã từng mong được chuyển nghề qua làm việc trong cơ-quan Thông Tin, để được quần-chúng độc-giả khán+thính-giả trọng-vọng hơn. Bây giờ đã ở trong ngành Tác Ðộng Tinh Thần, dù của Quân Lực nhưng cũng là thông-tin tuyên-truyền, tôi mới thấy mặt trái của tấm huy-chương.
Lần đó, nhà bác-học Bửu Hội, thân-thích của Cựu-Hoàng Bảo Đại, nhân dịp từ Pháp về thăm nhà, đến nói chuyện về y-học với đồng-bào Huế tại Rạp Chiếu Bóng Morin. Một số văn+thi-sĩ tùng-sự tại Nha Thông-Tin Trung-Phần đã nêu lên nhiều câu hỏi về thời-sự, mục-đích là để gài Hội phải phát-ngôn ủng-hộ Diệm, hoặc ngược lại thì có bằng-chứng để dễ ra tay. Mặc dù Hội đã nhấn mạnh rằng ông không về Việt Nam với mục-đích chính-trị, và xin miễn đề-cập đến các vấn-đề ngoài phạm-vi y-học, đồng-thời số đông trong cử-tọa cũng đã huýt gió phản-đối những câu hỏi lạc-đề, nhưng nhà văn Ðỗ Tấn vẫn trơ-tráo đứng dậy đặt thêm cho được vài câu hỏi nữa.
Bác-Sĩ Trần Văn Thọ, Tổng Giám-Ðốc Thông-Tin, mà còn tranh tài với Bác-Sĩ Trần Kim Tuyến, Giám-Ðốc Nha Nghiên-Cứu (tức cơ-quan Tình-Báo) thuộc Phủ Tổng-Thống; thảo nào mà nhà-văn này cũng không chịu lép vế các nhà-văn khác trong thành-tích bao vây những ai bị nghi là, bị cho là có thể đối-kháng chế-độ đương-quyền.
Một số nhà-thơ giành nhau chức-vụ lãnh-đạo ngành Thông-Tin, khởi đầu bằng địa-vị Chủ-Tịch Hội Văn-Nghệ-Sĩ & Ký-Giả Miền Trung.
Nhà-thơ Đỗ Tấn Xuân nhai lại cái bã Tố Hữu tán-tụng Staline, in hẳn cả một tập thơ―nhan đề “Mùa Hoa Sim Nở”―trong đó có câu “Tiếng đầu lòng con gọi: Cụ Ngô!”
Họ sợ vướng tôi nên tìm cách loại tôi, lùng thu thi-tập “Ánh Trời Mai” của tôi, v.v…
Thế nhưng hầu hết các nam+nữ tân+cổ+nhạc thi+ca+kịch-sĩ cộng-tác với tôi thì chỉ thấy tôi là một nhà thơ trẻ trai, hiền-lành, hòa-đồng với họ trong từng bộ-môn, chứ không biết gì về những khó-khăn của tôi.
Họ cũng không quan-tâm gì đến mục-đích chính-trị của Ðài, mà lại đinh-ninh rằng trọng-tâm hoạt-động và lý-do cùng ý-nghĩa của sự hiện-diện của Ðài chỉ là phần diễn-ngâm ca-tấu giải-trí văn-nghệ mà họ cống-hiến cho số thính-giả gần xa ái-mộ họ mà thôi.
Vi Khuê thì trầm-lặng hơn họ và có một thế đứng riêng. Nàng không ca hát nhưng số khán+thính-giả địa-phương hằng ngày háo-hức đến xúm dán mũi vào cửa kính để xem tận mắt các nữ-danh-ca hát thật cũng như dượt bài, đều không bỏ lỡ cơ hội nhìn ngắm cô biên-tập-viên duyên-dáng của Ðài. Các người-đẹp trình-diễn thì chỉ xuất-hiện vào giờ có chương-trình liên-quan, còn Vi Khuê thì có mặt ở đó suốt ngày, để những lúc trở về Ðài tôi nhìn thấy nàng mà dịu-vợi ưu-tư…
*
Thế rồi tôi giã-từ quân-ngũ, rời khỏi Ðài, ra ngoài hoạt-động văn-nghệ nhiều hơn trong một môi-trường rộng-lớn và khoảng-khoát hơn.
Ngoài các nỗ-lực tích-cực trong Quân-Ðội và sau đó là trong ngành Cảnh-Sát Công-An, tôi còn hăng say dùng hoạt-động văn-nghệ riêng tư để góp phần xây-dựng và củng-cố chế-độ Ðệ-Nhất Cộng-Hoà, thí-dụ: viết báo, đi thuyết-trình trong Cảnh-Sát & Công-An và ngoài dân-chúng; sáng-tác và trình-diễn khắp nhiều Tỉnh vở kịch thơ “Gươm Chính-Nghiã” của tôi đề-cao Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, kêu gọi sĩ-phu khắp nơi, đặc-biệt từ Miền Bắc, về với Chính-Nghiã Miền Nam; sáng-tác và xuất-bản tập thơ “Tuần Trăng Mật” vinh-danh tình yêu vợ+chồng, phù-hợp với nguồn cảm-hứng từ Luật Gia-Ðình của Bà Ngô-Ðình Nhu…
Tôi giữ Mục “Vườn Thơ” trên tuần-báo “Rạng Ðông” của Lê Hữu Mục, họp làm đặc-san với Tôn Thất Dương Tiềm, xuất-bản thơ của các bạn gần xa và của chính mình, kết-thân với các nhóm như Hồ Mộng Thiệp, Thanh Phượng, Anh Ðộ, Tô Như, Quốc Dân… ở Ðà-Nẵng; đồng nhóm Xây-Dựng là Xuân Huyền, Tường Vi, Huyền Chi, Hoài Minh, Bàng Bá Lân, v.v… ở Sài-Gòn. Trong đó, tôi giữ mục “Hội Thơ” (do Hồ Đình Phương trung-gian) trên tuần-báo Văn-Nghệ Tiền-Phong của Hồ Anh, và có nhạc-sĩ Lê Mộng Bảo giúp phần ấn-loát phát-hành sách và đặc-san.
Tôi tái-tổ-chức họp bạn hằng tuần; ngày xưa thì có Nhân Hậu, Vĩnh Thao, Hạnh Lang, Trúc Lang, Võ Ngọc Trác, Xuân Dưỡng, Giang Tuyền, Kiêm Minh, Lê Mộng Hoà, Nhân Nam, v.v…; bây giờ thì có Hoàng Hương Trang, Tuyết Lộc, Kim Lan, Nguyên Xuân Tứ, Hữu Ðỗ, Khang Lang, Hoài Tâm, Hương Thu, Xuân Nghị, Thanh Thuyền, Thế Viên, v.v…; có lần có cả Trần Minh Phú từ Hàng Me đến, Diên Nghị từ đơn-vị về, Hồ Ðình Phương từ Long-An ra…
Ðại-Hội Văn-Hoá Toàn-Quốc dưới thời Ðệ-Nhất Cộng-Hoà (khai-mạc ngày 11 tháng 1 năm 1957) đã đem lại cho tôi một phần thưởng tinh-thần: “Xây-Dựng” cuả tôi được nhìn-nhận là một cành của Cây Ða Văn-Hiến Việt-Nam.
Trong thời-gian đó, Vi Khuê lên xe hoa. Và đôi uyên-ương đưa nhau lên xây tổ ấm trên đồi núi Ðà-Lạt sương mù, bỏ lại “chuồng bồ câu” trống lạnh như nỗi thiếu vắng trong lòng của những ai ai…
*
Sau khi bản-thân tôi gặp nhiều khó-khăn vì không chịu cải-đạo; sau khi người ta giết chết cả hai vợ+chồng thầu-khoán Nguyễn Văn Yến; sau khi người ta dùng ngay phòng họp là nơi tôi hướng-dẫn học-tập “Ðạo-Ðức của Ngô Tổng-Thống” cho các cấp chỉ-huy Cảnh-Sát Huế trong các buổi học-tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục hằng tuần, để làm nơi tra khảo và giết chết thầu-khoán Nguyễn Ðắc Phương rồi ném xác xuống sân tri-hô là Phương nhảy lầu tự tử; sau khi nhận được vô-số bài-vở của anh+chị+em Cảnh-Sát Công-An gửi về tôi để xin đăng lên tờ nội-san “Phục Vụ” do tôi chủ-biên, nội-dung tố-cáo nhiều, quá nhiều, hành-động tham-lam, tàn-bạo, kể cả giết người, dựa quyền cuả ông Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn; v.v…
Do đó, tôi đã liều-lĩnh công-khai nêu lên một số khuyết-điểm của chế-độ họ Ngô, trong một buổi học-tập tại cơ-quan vào ngày Lễ Hai Bà Trưng (3-3-1960).
Biến-cố này đã gây chấn-động cả Miền Trung.
Kết-qủa là tôi bị quản-thúc điều-tra ba tháng, gây tranh-cãi giữa hai ông Cố-Vấn Cẩn và Nhu…
Rồi tôi bị đày lên Cao Nguyên “vùng nước độc và nguy-hiểm” với bụi đỏ mù trời.
Đời sống chính-trị tạo thi-hứng cho tôi sáng-tác và đăng báo rời-rạc các bài thơ mà sau Cách-Mạng 1-11-1963 mới được gom lại ấn-hành thành tập “Với Thượng-Ðế”, tập thơ thứ bảy cuả mình.
*
Qua đến Ðệ-Nhị Cộng-Hoà, tôi cũng lại gặp rắc-rối, vì tôi công-khai phản-đối những sai trái, nhất là chiều-hướng quân-phiệt trong chế-độ Nguyễn Văn Thiệu, bằng một bức thư trần-tình gửi lên Cấp Trên**.
Sau cùng tôi được (hay bị?) đưa về lại Miền Trung để giải-quyết giùm (và tôi đã giải-quyết được) những khó-khăn nội-bộ tại vùng đất này mà trước đó Trung-Ương hầu như bó tay…
Giờ đây, tôi trở về Huế lại.
Ngồi trên ghế đá công-viên trước Ðài Phát-Thanh Huế, tôi nhắm mắt mường-tượng những gì đã xảy ra tại đây vào buổi tối 8-5-1963―phản-ứng của giới Phật-Tử bị cấm treo cờ Phật-Giáo vào ngày lễ Phật, Phật-Giáo-Đồ tập-trung, chất nổ, người chết, sức mạnh quần-chúng…
Rồi lịch-sử đã sang trang…
Lắc đầu xua đi những ảnh-hình thế-sự, tôi thả hồn sống lại quãng đời thơ trẻ đã qua.
Những khuôn mặt cuả Huế một thời, mà tôi nhớ thêm: các nhà văn Bửu Kế, Phan Khoang…; các nhà thơ Phan Văn Dật, Nguyễn Anh, Tô Kiều Ngân…; nhà khảo-cứu Bửu Cầm; hoạ-sĩ Phi Hùng; nhà dựng kịch Lê Hữu Khải; các kịch-sĩ Vũ Ðức Duy, Vĩnh Phan, Minh Mão, Hà Nguyên Chi…; các nhạc-sĩ Nguyễn Hữu Ba, Lê Quang Nhạc, Ưng Lang, Hoàng Thi Thơ, Lê Tất Vịnh, Hoàng Nguyên…; các ca-sĩ Minh Trang, Thanh Nhạn, Tôn Thất Niệm, Ngọc Cẩm–Nguyễn Hữu Thiết, Bạch Yến, Thiện Nhân, Hương Việt, Diệu Hương…
Tôi không gặp lại Phương Như, Bằng Trình của Huế, Anh-Ðộ Ðỗ Cẩm Khê của Ðà-Nẵng, và mất liên-lạc với Huyền-Chi từ sau khi nàng lấy chồng. Trước đó, bóng người áo trắng Kiều-Ngọc đã vuột khỏi tầm tay tôi.
Nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ buổi hoàng-hôn ấy tôi lái xe Lambretta-2-bánh chở Trần Dạ Từ từ khách-sạn Khê-Ký lên Bến-Ngự để anh gặp Nhã Ca, và buổi sáng chủ-nhật kia Hy Văn Mộng đến nhà tôi chơi bị cháu nhỏ tè ướt cả quần khi anh bế nó lên hôn.
Có những bạn thân không còn, hoặc còn nhưng phai thân…
Nhưng Vi-Khuê thì vẫn còn là một người bạn thân. Cuả vợ+chồng chúng tôi.
Trong cuốn lưu-bút “Kỷ-Niệm Vàng” mà tôi giữ kỹ, bây giờ vẫn còn tờ giấy bạc “anh gánh dưa” một đồng mới toanh mà Vi-Khuê đã ký tặng mừng tuổi tôi vào dịp Tết năm nào.
Hình-ảnh ấy càng đậm nét khi nàng đưa Vân-Anh, cả hai phất-phơ tà áo màu qua cánh đồng An-Cựu vàng rực mùa lúa gie, đến thăm tôi vào thuở ban đầu, để rồi sau đó thì nàng làm chứng-nhân cho cuộc lễ thành-hôn của tôi với người bạn thân ấy của nàng.
*
Giờ đây Thành-Phố Huế đã bị giáng bậc xuống làm Thị-Xã, tước mất―ngoại-trừ về phần văn-hóa và lịch-sử― cái địa-vị thủ-phủ của Miền Trung; hoa-khôi Ðồng Khánh ngày càng hiếm-hoi; Ðài Huế xuống cấp làm Ðài Tỉnh nhỏ; các xướng-ngôn-viên và ca-sĩ chỉ gợi tiếc những giọng oanh vàng và hương sắc ngày xưa…
Ðệ-Nhất Cộng-Hoà thế kia, Ðệ-Nhị Cộng-Hoà thế này. Mỗi chế-độ có những vấn-đề khác nhau, nhưng đều giống nhau ở vận nước chông-chênh.
Liệu những biến-thiên của cuộc đời sẽ còn đem lại những đổi thay nào khác nữa cho Đồng-Bào, cho Quê-Hương?
Huế vẫn còn đây, Ðài Huế vẫn còn đây, và tôi trở về ngồi đây.
Nhưng tôi không còn tìm thấy lại được, sau mỗi chặng đường―cũng vẫn gian-nan một mình chống-chọi với ma-quỷ còn sót lại trong thời buổi mới―sự thanh-thản, dù trong chốc-lát, cho tâm-hồn mình, như những ngày nào xa xôi…
KONELSKO thường đến thưởng-ngoạn phong-cảnh tại Chùa Non-Nước, một kỳ-quan của Ðà-Nẵng–Quảng-Nam.
Ở đây có chùa Phật-Giáo với các nhà-sư; có động thạch-nhũ; có hang sâu; có thủ-công-nghệ biến đá non thành đồ dùng và đồ trang-trí đẹp, lạ và quý; có nhiều lối đi quanh-co vắng-vẻ thích-hợp với những cuộc hẹn-hò riêng-tư. Ban ngày thì khách du-lịch, khách hành-hương, và khách vãng-cảnh tới+lui tấp-nập. Một số cư-dân địa-phương sống nhờ bằng nghề buôn bán thức ăn, thức uống, nhang, đèn, trầm, đồ chơi, đồ kỷ-niệm; chuyên-chở và giữ xe. Ban đêm thì cả vùng im-lặng, vắng hoe; có tin là Việt-Cộng giả-dạng thầy-tu thỉnh-thoảng có đến hoạt-động trong khu-vực này.
TÔI đi thăm Chùa Non-Nước, có để ý thấy ở vùng chân núi, gần bãi đậu xe, có một tu-sĩ trẻ tuổi ― hay chỉ là một thanh-niên cạo trọc đầu ― mặc bộ đồ vàng của nhà-sư, thường lảng-vảng xung quanh. Có tin nói rằng đó là một người điên; lại có tin cho rằng đó là một phần-tử trốn quân-dịch; nhưng tôi không có lý-do gì hoặc cơ-hội nào thuận-tiện để xét hỏi giấy-tờ, lý-lịch của anh-ta; vì anh-ta mặc-nhiên là một nhà tu-hành ở chùa, hơn nữa, chưa có hành-vi gì sai+trái.
Chúng tôi tránh gây bất-bình cho các giáo-hội, đoàn-thể, quan-nhân. Ni-sư Huỳnh Liên là một tay sai của Việt-Cộng ở giữa Thủ-Ðô Saigon, hoạt-động công-khai, mà cả guồng máy đầu-não của hệ-thống An-Ninh Tình-Báo trung-ương trong đó còn chưa thể làm gì được, huống gì.
MỘT buổi chiều nọ, Konelsko đi Chùa Non-Nước.
Theo báo-cáo của Toán Ðặc-Nhiệm theo dõi Ủy-Hội Quốc-Tế thì ông-ta có lời-lẽ hay cử-chỉ khiếm-nhã thế nào đó đối với một số người địa-phương, nên nhà-sư trẻ tuổi kia mới đến dùng tiếng Anh cãi-vã với ông-ta; cuối cùng, viên đại-tá Trưởng Phái-Ðoàn Ba-Lan phải trở vào xe giục tài-xế lái chạy để khỏi bị nhà-sư tấn-công; nhưng nhà-sư ấy vẫn rượt đuổi theo, dùng tay và răng xé nát lá cờ Ủy-Hội Quốc-Tế (ICCS) cắm trước đầu xe.
Nhân-viên của tôi là nhân-viên chìm, không có quyền-hạn can-thiệp vào những việc đó.
Tìm hiểu, chúng tôi được biết tên thật của nhà-sư kia là Nguyễn Văn Ðồng. Anh-ta tuy còn trẻ tuổi nhưng có tư-tưởng cấp-tiến về nhiều vấn-đề đương-thời.
Chúng tôi tin rằng trong vụ đụng-chạm với nhà sư trẻ tuổi ở Chùa Non-Nước, phần lỗi về phía Ðại-Tá Konelsko.
Ông-ta đã từng kiếm cách gây sự với Chính-Quyền địa-phương.
Vụ từ-khước treo quốc-kỳ Việt-Nam Cộng-Hòa vào ngày quốc-khánh của ta (xem bài “Ngày Quốc Khánh 1-11-1973”) được xem là thái-độ khẳng-định lập-trường chính-trị của cả hai đảng cộng-sản Ba-Lan và Hung Gia Lợi, bất-chấp lễ-tục ngoại-giao.
Konelsko cũng trực-tiếp chọc ghẹo chúng tôi.
Có một lần ông-ta đi bộ dạo phố; trên đường Nguyễn Thị Giang, ông-ta nhét vào hộp thư Bưu-Ðiện dọc đường một bì thư, dăm phút trước giờ Bưu-Tín-Viên đến lấy thư mang về Bưu-Cục. Nhân-viên giám-thị báo-cáo là sau đó ông-ta đã đến đứng nấp sau một góc đường quan-sát xem thử mật-viên ― mà ông-ta tin là đã theo dõi, có thấy ông-ta bỏ bì thư vào ― có đến hỏi thăm về bì thư kia hay không.
MỘT lần kia, Konelsko đi dạo phố chơi. Ông-ta đã bị kẻ gian rút mất cái bóp. Sau đó, ông-ta tiết-lộ với cô Lan là sẽ nêu vụ này ra trước phiên họp chung với Phái-Ðoàn Việt-Nam Cộng-Hòa trong Ban Liên-Hợp Quân-Sự (lý-thuyết là 2-Bên, nhưng thực-tế chỉ là 1-Bên, vì Việt-Cộng không đưa đại-diện đến làm việc trong Ban này).
NGUYỄN-THỊ-LAN là một thiếu-nữ đẹp, ký-sự tại khách-sạn “Hồng Kông” do Hãng Thầu thuê riêng cho hai Phái-Ðoàn cộng-sản ở, phụ-trách tiếp-nhận để đáp-ứng các nhu-cầu của khách trọ liên-quan đến các vấn-đề chỗ ở, đồ ăn, thức uống, vệ-sinh, giặt+ủi, xe-cộ, tài-xế, thư-từ, khách-khứa, v.v… Nói tiếng Anh giỏi, kiến-thức khá, thông-minh, lanh-lợi, thùy-mị, duyên-dáng, bặt-thiệp, tháo-vát, cô Lan được mọi thành-viên của cả hai Phái-Ðoàn nói trên mến chuộng. Nhưng, lẽ thường-tình, đã có các Trưởng Phái-Ðoàn là sĩ-quan cao-cấp, lại có các thông-dịch-viên ― là thành-viên quan-trọng, vì luôn luôn gần-gũi với thượng-cấp cũng như các giới-chức cao-cấp đại-diện các quốc-gia hoặc tổ-chức khác ― nên các thành-viên khác chỉ tiếp-xúc/nhờ-vã Lan trong những việc bình-thường mà thôi; còn chuyện tâm-tình nam-nữ thì hiển-nhiên chỉ dành cho các Trưởng Phái-Ðoàn và các thông-dịch-viên ― vốn hay lợi-dụng cơ-hội để chiếm nhiều thì-giờ trò-chuyện làm thân với Lan hơn.
Thông-Dịch-Viên của Phái-Ðoàn Ba-Lan lúc đó là Interski. Anh-ta là một thanh-niên đẹp trai, tất-nhiên nói giỏi tiếng Anh, giao-tiếp rộng, hiểu biết nhiều, hào-hoa phong-nhã. Những lúc làm việc thì anh-ta mặc quân-phục với cấp-bậc trung-úy; nhưng tin-tức điệp-báo cho biết anh-ta là một cán-bộ tình-báo xuất-sắc, được KGB của Liên Xô đào-tạo. Tôi tin điều đó là đúng sự thật, nhưng rất ngạc-nhiên vì chính anh-ta… đã phạm rất nhiều sơ-hở. Trên thị-trường Ðà-Nẵng có nhiều loại hàng tơ lụa rất đẹp, rất tốt, của các nước tư-bản nhập vào; kỹ-thuật may-đo của người Việt-Nam rất cao, và tiền công tương-đối rẻ. Interski đã ra phố đặt may khá nhiều áo quần hợp thời-trang; và may cả quân-phục bằng hàng Tây-Phương, màu thổ-huỳnh, màu ô-liu, và cả màu trắng nữa. Dân-chúng địa-phương hầu như không để ý gì, vì họ xem chung mọi người ngoại-quốc đều là ngoại-nhân, ăn mặc thế nào là việc riêng của quân-đội quốc-gia liên-hệ; song cấp chỉ-huy trực-tiếp là Ðại-Tá Konelsko thì mặc-nhiên chấp-thuận ― hay là chịu đựng ― cho thông-dịch-viên của Phái-Ðoàn mình lần này thì mặc đồ Bộ-Binh, lần sau thì khoác áo Hải-Quân, và lần sau nữa thì đội lốt Không-Quân!
Trong phòng-khách khách-sạn “Hồng Kông”, tối nào các Trưởng Phái-Ðoàn và Sĩ-Quan Ðiều-Hành cùng thông-dịch-viên của cả hai Phái-Ðoàn cũng chiếm mấy cái ghế bên quầy rượu ở chỗ gần cô Lan nhất, ngoại-trừ những khi có người nào bận việc gì khác thì mới vắng mặt. Và thường thường thì về khuya chỉ còn lại một người, khi thì người này, khi thì người kia, rỉ-rả chuyện-trò với cô Lan. Ðó là lúc mà Lan có thể hỏi dò gần xa những điều mà tôi muốn biết, đồng-thời thổ-lộ những điều mà tôi muốn cho họ biết. Tôi muốn tìm hiểu và điều-khiển ý-nghĩ và tình-cảm của họ.
SAU khi được Lan báo-cáo rằng Konelsko có ý-định bêu xấu Chính-Quyền Việt-Nam Cộng-Hòa đã để xảy ra vụ móc túi giữa ban ngày trong thành-phố, tôi liền phản-công ngay. Tôi nhờ Biệt-Ðội Hình-Cảnh thuộc Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực Thị-Xã Ðà-Nẵng truy-tầm ― và bộ-phận này đã thu-hồi lại được và giao cho tôi cái bóp của ông-ta. Tôi liền cho nhân-viên viết một bức thư bằng chữ Anh, bỏ vào phong bì, đề gửi cho Ông Konelsko. Cái bóp và bức thư ấy được giao cho Lan cùng với chỉ-thị thi-hành.
Khi Konelsko đi chơi về thì Lan đưa riêng cho ông-ta cái bóp và bức thư; Lan nói là của một người đem đến, dặn đưa riêng cho Ô. Konelsko. Ông-ta vội-vã nhét cái bóp vào túi quần và bức thư vào túi áo, rồi đi nhanh lên buồng ngủ; chắc-chắn là để kiểm-soát lại bên trong cái bóp và đọc bức thư.
Kính gửi Ông Konelsko,
Tôi gửi trả lại Ông cái bóp và tất cả những gì vốn có trong đó của Ông.
Ðừng hỏi tôi là ai, lấy cái bóp của Ông ở đâu, lúc nào, cách nào, và để làm gì. Vì nếu trả lời rằng tôi là kẻ móc túi, móc lấy cái bóp ở người có bóp, vào lúc người ấy thì không cảnh-giác mà tôi thì cũng run-sợ, để có chút tiền dùng tạm cho bản-thân…, thế thì: trên mặt đất này hiện có những kẻ cấu-kết với nhau thành một đảng lớn, dùng vũ-lực và bạo-lực công-khai chiếm-đoạt hết tài-sản của toàn-dân toàn-quốc, còn ngang-nhiên bóc-lộc sức lao-động và trắng-trợn tước-đoạt hết tự-do, nhân-phẩm và quyền làm người của mọi người, để xây-dựng một chủ-nghĩa không-tưởng, trong đó Ông là một thủ-phạm đồng-thời cũng là một nạn-nhân (vì Ba Lan cũng là nạn-nhân của Nga-Xô) thì, giữa tên móc túi hèn-mọn và lũ đạo-tặc ngạo-mạn, Ông kết tội ai?
Nhưng thôi, tôi không triết-lý rẻ tiền.
Ông chỉ cần tự hỏi:
Nếu cấp-trên và cơ-quan tình-báo của Ông biết được vụ này, thì Ông sẽ phải trả lời thế nào, vì đã để cho ít nhất là một số giấy-tờ cá-nhân trong cái bóp ấy lọt vào tay người ngoài, và biết đâu người-ta sẽ không nghi-ngờ là Ông giả-vờ sơ-ý để bị móc túi, một cách để gián-điệp địch đóng vai kẻ móc túi mà tiếp-nhận những gì của Ông cố ý trao cho…
TỐI ấy, Konelsko xuống phòng-khách muộn. Hẳn-nhiên ông-ta đã suy-nghĩ nhiều về nội-dung bức thư. Vấn-đề không phải là Cảnh-Sát Việt-Nam Cộng-Hòa, mà là thông-dịch-viên dưới quyền của ông-ta.
Và thế là Konelsko không còn tinh-thần nào để đòi phàn-nàn Việt-Nam Cộng-Hòa về nạn móc túi giữa đường.
TÔI mới móc nối được các nhân-viên của Hãng Thầu sau ngày tôi đến Vùng I (26-9-1973), nhưng họ đã làm việc ở khách-sạn “Hồng Kông”, nghĩa là đã tiếp-xúc với các thành-viên Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi, từ sau Hiệp-Định Paris (27-1-1973), tám tháng trước rồi. Thời-gian ấy hẳn đã đủ cho Ðại-Tá Konelsko, là Trưởng Phái-Ðoàn Ba-Lan, Ðại-Tá Guy Nagy, là Trưởng Phái-Ðoàn Hung-Gia-Lợi, và thông-dịch-viên Interski của Ba-Lan, có thể bạo-dạn để tỏ tình với cô Lan. Ðối với các vũ-nữ, chiêu-đãi-viên phòng trà, chỉ cần một chầu nhảy, một chầu uống, đôi khi chỉ cần một người trung-gian giới-thiệu, là ai cũng có thể có được một người bạn dục-tình chốc-lát hoặc qua đêm. Nhưng đối với cô Lan, một mẫu người đoan-trang thanh-khiết, các cây si ngoại-quốc ấy không thể nào mời được Lan đi chơi; dù liều-lĩnh lắm cũng không thể nào cầm được bàn tay của cô-ta. Càng gặp khó-khăn, tình-cảm của họ càng tha-thiết; họ làm đủ cách để chinh-phục trái tim của Lan, kể cả nói hết từ chuyện cá-nhân, chuyện gia-đình, đến chuyện xã-hội, chuyện chế-độ.
Tôi thì chỉ cần có thế. Những vụ Nga-Xô đem quân qua Vác-Xô-Vi, Buy-Ða-Pét, từ thập-niên 1950, tước-đoạt chủ-quyền của Ba-Lan, Hung-Gia-Lợi, được Lan nêu ra như là một thắc-mắc của người ngoài cuộc; bên ngoài là để được nghe ý-kiến của người trong cuộc xem thử có gì khác với dư-luận Tây-Phương hay không; nhưng bên trong là để khơi dậy tinh-thần dân-tộc, lòng ái-quốc ở những con người vốn luôn luôn nói đến nghĩa-vụ và quyền-lợi của người dân, và không quên tự cho mình là thành-phần tiên-tiến. Khi tìm hiểu đời sống bên trong bức màn sắt, Lan đã nhắc-nhở xa gần đến cảnh ngược lại trên phần đất tự-do của thế-giới ngày nay.
Trước người đẹp, các người đàn-ông đều muốn tỏ ra là mình nổi bật hơn người khác về mặt này hay mặt kia. Lan đã lợi-dụng nhược-điểm ấy để tạo nên một không-khí căng-thẳng giữa Konelsko và Inteski.
Viên đại-tá thì đã có lần nói thẳng với Lan: “Nó ở dưới quyền của tôi, tôi có thể tống-khứ nó đi nơi khác bất-cứ lúc nào!”
Còn viên thông-dịch thì cũng đã có lần hé lộ với Lan: “Tôi chẳng sợ gì ông- ta; ông-ta không làm gì tôi được đâu, mà trái lại là đằng khác!”
KONELSKO dặn Lan đừng nói với ai về việc ông-ta bị mất cái bóp. Ông-ta nói rằng đã được trả lại rồi thì xem như không hề bị mất. Ngần-ngại một lát, ông-ta hỏi: “Lúc cái bóp và bức thư được đưa đến, có ai thấy không?”
Cô Lan biết rõ là ông-ta rất sợ bị Interski trông thấy; nếu thấy, anh này sẽ hỏi và sẽ biết, và sẽ đặt vấn-đề y như “tên móc túi” đã viết trong bức thư.
Lan giả vờ cố nhớ lại, rồi đáp: “Không.”
Konelsko có thể nghĩ là Lan giấu mình; nhưng ông-ta cũng có thể nghĩ là cô-ta nói thật, song vẫn có thể là cô-ta sẽ kể lại cho viên thông-dịch nghe.
Như thế thì ông-ta càng cần phải mua chuộc cảm-tình của cô-ta hơn.
Nhờ đó, Lan củng-cố thêm cái lợi-thế của mình.
TÔI cho báo tin cho Lan biết về vụ lá cờ Ủy-Hội Quốc-Tế bị xé ở Chùa Non-Nước, và chỉ-đạo cách hành-động cho Lan.
Khi Ðại-Tá Konelsko trở về khách-sạn thì lá cờ rách không còn. Chắc hẳn ông-ta đã cho ngừng xe dọc đường mà lấy giấu đi rồi. Cờ thì còn nhiều trong tủ, cũng như quốc-kỳ hai nước, băng đeo tay áo: cần thì lấy dùng, không ai để ý. Cuối tuần, cũng như ngoài giờ làm việc, ai muốn đi đâu thì đi; và lần này thì viên đại-tá chỉ đi một mình nên không có thành-viên nào khác chứng-kiến việc xảy ra. Nhưng ông-ta vẫn sợ viên tài-xế kể lại rồi đến tai viên thông-ngôn. Ông-ta không tiện dặn-dò gì viên tài-xế, vì ông-ta không muốn tỏ lộ là mình lo-ngại về việc xảy ra; hơn nữa, tài-xế là của Hãng Thầu phái đến, ông-ta không có quyền gì đối với người ấy, khi mà người ấy không phạm lỗi gì.
TỐI đó, cô Lan phải khơi chuyện trước, vì Konelsko tưởng là cô-ta không biết nên không đả-động gì. Khi Lan hỏi về chuyện gì đã xảy ra, thì ông-ta hỏi lại là cô-ta đã nghe những gì. Thế là Lan tha-hồ bịa chuyện. Theo lời Lan kể thì người hàng-xóm làm nghề chở thồ xe Honda-2-bánh tình-cờ có mặt tại chỗ và đã nghe thấy đầu đuôi mọi sự:
Lúc đầu, viên đại-tá Ba-Lan hỏi những người làm nghề linh-tinh quanh bãi đậu xe: sao không lập thành Nông-Hội, đòi hỏi nhà-nước cấp đất ― vì đất bỏ hoang còn nhiều ― để trồng-trọt, chăn nuôi, sản-xuất. Có người trả lời là muốn làm nông thì phải ở vùng ngoại-ô; mà ở vùng vắng thì bị Việt-Cộng cưỡng-thu sản-phẩm, bắt đi tải đạn, đào đường chôn mìn, đời sống bất-an. Ông-ta lại hỏi những người chở thồ xe Honda sao không lập thành Công-Ðoàn, phân-định phiên chuyến đón khách, đảm-bảo quyền-lợi công-bằng. Có người trả lời rằng đây là nghề tự-do, ai cần nhiều tiền thì chở nhiều chuyến, ai muốn nghỉ-ngơi thì dù được trả nhiều tiền cũng không nhận lời; vả lại, hành-khách gặp đâu đón đó, đâu cần đến bến. Ông-ta liền chê là xã-hội này vô-tổ-chức, con người ở đây vô-kỷ-luật. Do đó, nhà-sư trẻ tuổi mới lên tiếng can-thiệp. Vị tu-sĩ nói: “Tổ-chức và kỷ-luật là để tạo nên trật-tự hài-hòa trong đó con người có tự-do và hạnh-phúc, chứ không phải để thủ-tiêu tự-do và tước-đoạt hạnh-phúc của con người như trong xã-hội cộng-sản. Người cộng-sản như các ông thì làm sao mà hiểu được cái quy-củ đa-nguyên của cuộc đời. Chính những lề-lối tưởng như vô-trật-tự đó chính nó mới là trật-tự nhân-bản và trường-cửu.”
Người cộng-sản Konelsko lâu nay chỉ học lý-thuyết Mác+Lê một chiều, hôm nay mới nghe những tư-tưởng lạ, chưa biết đối đáp ra sao, thì nhà-sư trẻ tuổi đã dồn-dập chất-vấn: “Các ông là Ủy-Hội Quốc-Tế Kiểm-Soát Ðình-Chiến, tại sao Việt-Cộng pháo-kích vào khu dân-cư, đặt chất nổ giết hại đàn-bà và trẻ-con vô-tội, các ông đã đến tận nơi, đã thấy tận mắt, mà các ông không lên án, không cảnh-cáo, cũng không chịu ký tên vào biên-bản ghi-nhận sự-kiện, mặc dù các thành-viên Ba-Tư và Nam-Dương đã ký?” Viên đại-tá Ba-Lan đáp lại: “Chúng tôi có đường-lối chính-sách của chúng tôi, mọi người làm việc trong tinh-thần kỷ-luật, theo hướng chỉ-đạo của tổ-chức…” Người thanh-niên trong lớp áo tu-hành giận dữ thét lên: “Thế nghĩa là các ông không cần kiểm-soát, giám-sát gì cả! Ðầu óc của các ông đầy định-kiến, và việc làm của các ông đã được tiền-chế: bất-cứ việc gì xảy ra cũng là do lỗi của phía Quốc-Gia; bao giờ Việt-Cộng cũng đúng! Vậy thì sự hiện-diện của các ông ở đây là thừa: các ông hãy cút ra khỏi đất nước này đi!” Ðại-Tá Konelsko dịu giọng, đưa hai bàn tay ra trước, ra vẻ khẩn-cầu người đối-diện hãy bình-tĩnh: “Tôi rất thông-cảm nỗi lòng của ông, nhưng hiện nay tôi không thể làm gì khác được…” Nghe thế, nhà sư trẻ tuổi…
Ngang đây, viên đại-tá Ba-Lan không chịu nổi nữa, nhăn mặt, lắc đầu, cắt lời cô Lan: “Không đúng sự thật! Tôi không nói thế!” Lan cũng đưa tay chận lại: “Nhưng người-ta kể lại với nhau như thế!”
Cả hai nhìn nhau: Konelsko thì vừa tức-bực, vừa lo-lắng, Lan thì làm như thành-thật chia sớt nỗi ưu-phiền của ông-ta.
Im-lặng một lát rồi viên đại-tá đành phải nói ra điều mà ông-ta bận-tâm: “Interski đã biết gì về chuyện này chưa?” Cô Lan chưa nghe gã thông-dịch-viên ấy nói gì, nhưng chụp dịp may để thực-hiện mục-đích của mình: “Anh ấy có hỏi tôi xem đại-tá đi đâu, làm gì, có gì đặc-biệt không?”
Konelsko cố gắng đè-nén nhịp thở:
― Rồi cô nói sao?
― Tôi nói là đại-tá đi chơi như mọi lần, không có gì khác lạ cả.
Viên Trưởng Phái-Ðoàn Ba-Lan thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Ông-ta quên mất thái-độ giữ ý của cô Lan, đặt tay lên tay cô-ta biểu-lộ lòng cám ơn; nhưng Lan đã rút tay lại. Cô-ta đã nắm được cái thế chủ-động cần-thiết, nên phát-biểu thẳng thừng:
― Cấp-dưới mà dò xét cấp-trên; làm lớn mà vẫn bị nghi-ngờ!
Sau đó là lần lần một số tin-tức quan-trọng về nội-tình Ðảng, Nhà-Nước, và Quân-Ðội Ba-Lan, kể cả mối quan-hệ giữa Ba-Lan với Nga-Xô và các nước cộng-sản khác, Liên-Minh Quân-Sự Vác-Xô-Vi, đã được cô Lan thu-thập trực-tiếp từ miệng của Konelsko cũng như Interski.
NHỮNG tin-tức tình-báo ấy không có giá-trị khai-dụng đối với Việt-Nam Cộng-Hòa, nhưng rất hữu-ích đối với Người Bạn Ðồng-Minh của tôi.
Ðể có thể đi sâu và tiến xa hơn, tôi gợi ý cô Lan giả-vờ chấp-nhận làm bạn tâm-tình với Ðại-Tá Konelsko.
Tôi thấy rõ cô-ta đã rán tự-chế-ngự để vẫn giữ lễ-phép từ-khước ý-kiến của tôi. Bạn tâm-tình không phải là bạn dục-tình. Nhưng theo lối sống châu Âu của viên đại-tá Ba-Lan, dù là cộng-sản, thì ông-ta cần có một bạn gái; để chia-sẻ tâm-tình thì một phần, mà để trao-đổi dục-tình thì toàn-phần. Ðiều mong ước của ông-ta là có được một bạn gái dành riêng cho mình, có nhan-sắc nổi bật, và có xuất-xứ lương-hảo, để có thể hãnh-diện với mọi người xung quanh. Ngược lại, trong bối-cảnh xã-hội Miền Nam Việt-Nam đương-thời, tuy có một số bị ảnh-hưởng của văn-hóa Âu Tây, nhưng phần lớn vẫn còn thấm-nhuần luân-lý Á-Ðông, cô Lan không thể có một cử-chỉ nào thân-thiết hơn đối với người đàn-ông con-trai nào, nhất là người nước ngoài ― ngoại-trừ trường-hợp cô-ta thật-sự yêu. Ít nhất thì cũng có vài ba nhân-viên người Việt-Nam làm việc trong khách-sạn; nhất-cử nhất-động đều bị dòm ngó, dùng làm đề-tài kháo miệng với nhau, người con-gái khó kiếm được chồng đường-hoàng trong tương-lai.
Tôi quý mến tính-tình đứng-đắn của Lan, và tôn-trọng quyết-định của cô-ta trong vấn-đề này. Tôi bằng lòng giới-hạn sự giao-tiếp của cô-ta trong chừng-mực ấy mà thôi, mặc dù như thế thì công-tác khó thể tiến xa hơn.
NHƯNG đối với Konelsko thì tôi vẫn đẩy ông-ta đi xa hơn. Ông-ta phải ly-khai và chống lại Ðảng Cộng-Sản Ba-Lan, Khối Cộng-Sản Quốc-Tế. Không phải bằng cách công-khai xin tị-nạn chính-trị, tức là hồi-chánh, mà là bí-mật tiếp tay với Thế-Giới Tự-Do từ trong lòng kẻ thù. Lòng tự-ái dân-tộc là yếu-tố tinh-thần. Phương-tiện sống là yếu-tố vật-chất. Có thêm tình-cảm cá-nhân nữa là đủ.
Ðể đánh dấu chặng đường cô Lan đã đi được, sáng hôm sau cô-ta gọi điện-thoại đến trụ-sở Ủy-Hội Quốc-Tế hỏi ý-kiến viên đại-tá Ba-Lan xem ông-ta có cần sửa-chữa gì hệ-thống điện+nước trong buồng riêng không, vì có thợ đến làm việc. Ðó là một ngụy-thức do chính Konelsko đặt ra, để cô Lan cho ông-ta biết gấp những gì liên-quan đến ông-ta. Lát sau, Konelsko trở về khách-sạn một mình. Lan nói: “Có một ký-giả Việt-Nam đến xin gặp riêng để phỏng-vấn đại-tá về vụ lá cờ chiều qua.” Konelsko sửng-sốt, không kịp nhận ra là từ trước đến nay chưa hề có một ký-giả Việt-Nam nào tìm gặp Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi cả. Ông ta vội-vàng xua tay: “Không được đâu! Cô nói giùm là tôi rất bận; tôi sắp phải bay đi nhiều nơi trong nhiều ngày.”
Cô Lan rót một ly rượu để lên mặt quầy, nói “Tôi mời ông” rồi ra dấu cho viên đại-tá Ba-Lan chồm đến gần, nói nhỏ: “Tôi có thể giúp ông, vì ở đây chỉ có một ký-giả ấy mà thôi, và tôi có quen anh-ta.”
― Vâng, cô giúp tôi.
― Nếu không thì dư-luận sẽ bàn-tán ồn-ào, đến tai cơ-quan tình-báo và cấp-trên của ông: ông sẽ bị quy chụp nhiều khuyết-điểm. Ông là một nhân-vật quan-trọng, đại-diện Cộng-Sản Quốc-Tế, mà khi đối-đáp với một phần-tử “phản-động” tầm-thường đã không vận-dụng được lý-thuyết Mác+Lê để đánh bại tư-tưởng thù-nghịch, lại còn phát-biểu là rất thông-cảm với tâm-trạng của kẻ chống mình…
Konelsko phác một cử-chỉ: “Nhưng…”
Nhưng Lan đã vội cắt lời: “Vâng, tôi biết, tôi biết là đại-tá sẽ nói là đại-tá không hề có những lời-lẽ như thế. Tuy nhiên, có ai bênh-vực đại-tá đâu? Ở đây ai cũng tin là Ðại-Tá Konelsko đã sống thành-thật với mình…”
Cô Lan đặt tay lên bàn tay của viên Trưởng Phái-Ðoàn Ba-Lan, làm ông-ta mất tự-chủ.
Cô-ta nói tiếp: “Tôi hiểu trong thâm-tâm đại-tá cũng muốn nói như thế, còn muốn nói nhiều hơn thế nữa. Cuộc đời của đại-tá đâu phải chỉ quanh-quẩn trong chừng đó khuôn khổ. Những trói buộc khắt-khe nhân-danh tập-thể thực ra đâu có hủy-diệt được ý-hướng tự-do trong tiềm-thức và cả ý-thức của mỗi một con người. Ông hãy nói, ông hãy khẳng-định với tôi đi, ông có phải là một con người yêu Tự-Do, quý Tự-Do, hay không?”
Konelsko gật đầu.
Lan chộp lấy: “Ðấy, ông gật đầu, ông xác-nhận. Có thế chứ. Tôi rất kính trọng những người biết trọng Tự-Do như ông. Ðó là lý-do tại sao tôi không thích Interski: anh-ta mù-quáng, bị lợi-dụng làm công-cụ cho một thiểu-số để kìm-kẹp đồng-bào của mình. Nhưng, nghĩ cho cùng thì ở trên Cấp Trên trung-ương của anh-ta còn có cả một hệ-thống siêu-quyền-lực quốc-tế, nghe nói là KGB gì đó, phải không Ðại-Tá Konelsko?”
Konelsko đáp:
― Vâng, KGB là cơ-quan tình-báo của Liên-Xô.
Cô Lan mời: “Ðại-tá uống thêm một ly nữa?” Viên đại-tá Ba-Lan từ-chối: “Không, tôi đang trong giờ làm việc.”
Lan tiếp:
― Ông có nghĩ rằng sẽ có một ngày tình-hình sẽ tốt-đẹp hơn không?
Konelsko đáp:
― Có chứ!
Lan nhìn thẳng vào mắt ông-ta, nói khích: “Nghĩ như thế là một việc, mà có góp phần vào việc thay đổi như thế hay không lại là một việc khác!”
Viên Trưởng Phái-Ðoàn Ba-Lan nghiêm mặt: “Cô đánh giá tôi như thế nào?”
Cô nữ-thư-ký khách-sạn vội bóp mạnh trên mu bàn tay ông-ta: “Thế là đủ!”
Chưa bao giờ ông-ta thấy được một nụ cười rạng-rỡ như hôm nay, một nụ cười đơm trên môi mà còn tỏa ra trên mắt và nở khắp trên khuôn mặt duyên-dáng của Lan.
Cô-ta đưa tay xuống dưới mặt quầy, bấm tắt cái máy thu-phát-thanh tí-hon.
Bên ngoài chúng tôi đã thu đầy-đủ các lời đối-thoại vừa rồi.
TRONG lúc đó, tôi đi với Ðại-Úy Trần Văn Phú, Phó Chỉ-Huy Liên-Ðội Thám-Sát Ðặc-Biệt thuộc quyền tôi, đến bệnh-viện Tây Ðức, giả-vờ xin khám bệnh để quan-sát và chấm trước vài cô trong số các nữ-y-tá Cộng-Hòa Liên-Bang Ðức, mà Phú ― một tay bay-bướm ― đã quen biết và giới-thiệu với tôi.
Các cô này có đặc điểm là dễ-dàng thỏa-mãn dục-tình của người bạn trai; do đó, tuy giúp giải-quyết nhu-cầu sinh-lý tạm-thời cho Konelsko, song không có đủ sức nặng trong chiều sâu tâm-tình cá-nhân.
Tuy nhiên, họ có ưu-điểm là người ở nước láng-giềng, nếu cần thì dễ thông-tin liên-lạc với nhau hơn. Họ sẽ là những viên đá lót đường trong lúc chờ-đợi tôi tìm một Lan-thứ-hai cho Konelsko.
TRONG số những con mồi mà tôi đích-thân chấm-định, tôi đã lựa chọn cô Angela.
Là một thiếu-nữ Việt-Nam lai Ấn, có quốc-tịch Pháp, nhân-viên của Hãng Hàng-Không “Air America” ở phi-trường Nha-Trang, Angela có sắc đẹp mặn-mà, có phong-thái Tây-Phương, có sức thu-hút đàn-ông ngay phút gặp mặt đầu tiên, đã từng giúp tôi ― thời-gian tôi còn điều-khiển Đặc-Cảnh tại Vùng II ― phụ phần nghe-ngóng quan-sát, để phá vỡ trọn ổ một tổ-chức bí-mật của quân-đội Phi-Luật-Tân buôn lậu súng Mỹ tồn-kho tại Nha-Trang.
Tôi tổ-chức cho Angela được thuyên-chuyển từ Nha-Trang ra, đến khách-sạn “Hồng Kông” làm thư-ký phụ cho cô Lan, và chuyển-giao hoàn-toàn điệp-vụ này cho Người Bạn Ðồng-Minh…
MỘT thời-gian sau, Konelsko ra tay trừ-khử Interski.
Viên thông-dịch bị trả về nước.
Còn viên đại-tá thì sau đó được thuyên-chuyển vào Saigon; cô Angela cũng được Hãng Thầu điều-động đi theo.
*
CUỐI năm 1974, Người Bạn Ðồng-Minh cho tôi biết là Ðại-Tá Konelsko mãn-hạn công-tác tại “chiến-trường Việt-Nam” đã về Ba-Lan và đã được thăng lên cấp tướng.
Một tháng trước ngày thất-thủ tiền-đồn Ðà-Nẵng của Việt-Nam Cộng-Hòa (29-3-1975), Người Bạn Ðồng-Minh đãi tiệc cơ-quan Ðặc-Cảnh Vùng I, để mừng một số thắng-lợi khác của chúng tôi.
Trong lúc dự tiệc, Ðại-Tá Ferguson, viên-chức liên-lạc thường-nhật với tôi, đã ghé tai tôi nói nhỏ:
― Chúng ta đã thực-hiện được đường dây liên-lạc với Konelsko tại Vác-Xô-Vi rồi.
GHI THÊM:
Lê Xuân Nhuận là người đầu tiên cài cấy điệp-viên của Thế-Giới Tự-Do vào 2 quốc-gia cộng-sản Ba Lan và Hung Gia Lợi xuất-phát từ Việt-Nam Cộng-Hòa.
| LE XUAN NHUAN |
Tôi vẫn thường viết những vần thơ, có lẽ đây chỉ là một thói quen, hay (Trời bắt làm thơ, cũng không chừng). Xin chia sẻ cùng quý vị yêu thích (Thơ) những bài thơ của Tế Luân là câu nói lái của Tuấn Lê hay Lê Tuấn cũng là một. Xin mời quý vị đọc cho vui. Kính chúc quý vị bình an trong mọi ngày.
Trân trọng
Lê Tuấn
Tai nghe tiếng đời.
Tiếng lạ xôn xao vạn tiếng gào
Lòng ta tiếng nấc, chợt ngẹn ngào
Để buồn vương vấn mùa trăn trở
Cõi đời va đập tiếng xôn xao.
Cơn đồng thiếp vẫn còn điên đảo
Vạn nỗi buồn dồn dập bên nhau
Tưởng chừng như, đất trời lay động
Xô đời, dịch chuyển những cơn đau.
Người bạn đơi ơi! Thức hay ngủ
Xin cùng ta cất tiếng hát ca
Nhịp đều tiếng vỗ, chuyền thêm lửa
Bạn tình ơi, đừng hắt hủi ta.
Tế Luân
Buông Rơi
Ta vén mây trời xem nắng thu
Vào thăm rừng vắng khói sương mù
Em có buồn không tình lỗi hẹn
Xa vắng bên đời, vụng kiếp tu.
Bao mùa thu đến giữa cuộc đời
Em còn cất giữ hay buông rơi
Những ngọn roi tình thôi đau buốt
Còn nhớ, còn vương, đến một người.
Thanh thản từ khi tóc đổi màu
Đường trần lối rẽ biết về đâu
Những ngọn gió đời, thôi vướng bận
Cõi trăm năm buồn, thương nhớ nhau.
Tế Luân
Tìm em
Tìm em, tâm trí mê say
Tìm em, trong nỗi đắng cay phận người
Tìm em, tìm mãi trong đời
Tìm trong nỗi nhớ, chơi vơi chạnh lòng.
Tìm em trong mối tình nồng
Tìm em, dệt mộng tơ hồng vấn vương
Tìm em trăm nhớ ngàn thương
Tìm em mấy nỗi dặm trường phôi phai.
Tìm em về nối tình dài
Xôn xao ngọn cỏ nhớ hoài bên nhau
Trăng đêm xoa dịu cơn đau
Yêu thương nối lại nhịp cầu gấm hoa.
Lê Tuấn
Đêm Vắng
Đêm thanh vắng, ánh trăng thưa
Sương đêm đọng lại giọt mưa cuối mùa
Hạt rơi thêm lạnh hững hờ
Cơn đau thân phận, bóng mờ phù vân.
Hỏi sao em bước xuống trần
Cho mây bỏ núi, bỏ thần xuống chơi
Dù mai tiên có về trời
Nhớ thương tình cũ khóc người trong thơ.
Thương em liễu rũ đào tơ
Tình xưa xin giữ bây giờ sương bay
Ngày sau nhớ cội hoa này
Về thăm người cũ đợi ngày đươm hoa.
Lê Tuấn
“người nghê sĩ lang thang trong thơ, để viết những bài thơ tình yêu”
Hồi-ký Lịch-sử
Lần này ra Huế tôi ngẫu-nhiên gặp lại Nguyễn Xuân Lại, một người bạn thân đã cách xa nhau từ hồi tôi bị phát-vãng ra khỏi Miền Trung.
Bây giờ Lại là giáo-sư, dạy Luật tại Viện Ðại-Học Sài-Gòn và một số Viện Ðại-Học khác.
Chuyến này anh ra Huế dạy tại Viện Ðại-Học Huế.
Khi đi ngang qua “Bót Cò” cũ, trước kia là trụ-sở của Ty Cảnh-Sát Thành-Phố Huế, nơi hai chúng tôi đã làm việc chung với nhau một thời-gian dài, cả Lại lẫn tôi đều hướng mắt nhìn vào.
Ở đó, chúng tôi đã có với nhau rất nhiều kỷ-niệm; nhưng cái kỷ-niệm đắng-xót nhất là cuộc tranh-luận giữa hai chúng tôi mà kết-quả là tôi lâm vòng gian-truân.
Lúc nãy, khi mới gặp lại nhau, Thêm đã nói ngay là anh rất buồn vì việc đáng tiếc xảy ra cho tôi ngày xưa. Giờ đây, có lẽ để xí-xóa chuyện cũ, anh nói qua chuyện mới:
– Mình được mời làm Thứ-Trưởng, nhưng mình chưa nhận.
Sự tiết-lộ ấy đã khiến tôi suy-nghĩ nhiều .
*
Năm 1951, chính-quyền Quốc-Gia Việt-Nam ban-hành chế độ quân-nhiệm, theo đó các viên-chức Cảnh-Sát Công-An được xem là công-chức nên cũng bị lần-lượt động-viên.
Nguyễn Xuân Lại vào thụ-huấn tại Trung-Tâm Huấn-Luyện Sĩ-Quan Trừ-Bị ở Thủ Ðức; tôi vào làm việc tại Phòng Năm thuộc Bộ Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu ở Huế.
Cuối năm 1956, mãn nhiệm-kỳ quân-vụ, tôi trở về Ty Cảnh-Sát Thành-Phố Huế và được cử giữ trách-vụ Trưởng Phòng Hành-Chánh kiêm Trưởng Phòng Huấn-Luyện. Tôi cũng kiêm-nhiệm Trưởng Ban Tổ-Chức và Thuyết-Trình-Viên các Lớp “Học-Tập Chính-Trị và Công Dân Giáo Dục” mà nội-dung và phương-thức điều-hành được ông Cố-Vấn Ngô Ðình Nhu, bào đệ của Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm, chỉ đạo cho toàn-quốc.
Tiếp-tục đem hết tâm-sức ra phụng-sự một lý-tưởng mả tôi hằng mơ, nhưng ở trong cơ-quan Cảnh-Sát là nơi hằng ngày tiếp-cận với mọi giới đồng-bào, tôi theo-dõi tình-hình sinh-hoạt của quần-chúng trên mọi lĩnh-vực tại địa-phương, tôi mới dần dần biết thêm, dù chưa đầy đủ, những điều chướng tai gai mắt, và cả những điều bất-nhân thất đức, do một số thân-nhân, gia-nhân, và thuộc-hạ của Diệm gây ra. Ðối với Ðảng Cần-Lao, đối với Ðạo Ky-Tô, cũng như đối với cả ba Ngành trong Chính-Quyền thời Ðệ-Nhất Cộng-Hòa, họ chỉ là thiểu-số; nhưng thiểu-số đó đã cậy thế họ Ngô mà giật dây các cơ-quan chấp-hành của chế độ, để áp-bức và hãm-hại lương dân, hầu thỏa-mãn tư-lợi hoặc tư-thù.
MỘT BUỔI LỄ CHÀO QUỐC-KỲ
Thuở đó, các công-sở và quân-cứ đều cử lễ Chào Quốc-Kỳ vào lúc bảy giờ rưỡi sáng mỗi ngày đầu tuần. Nha Cảnh-Sát Công-An Trung-Nguyên Trung-Phần cho nhân-viên trực-thuộc sắp hàng chỉnh-tề trước sân trụ-sở Nha năm phút sớm hơn.
Hôm ấy, toàn-thể viên-chức hiện diện đều vô cùng hoang-mang, và sau đó kể lại với mọi người sự-việc đã xảy ra.
Ô. Hồ Đắc Vang, Trưởng Ðội Biệt Ðộng thuộc Ty Cảnh-Sát Thành-Phố Huế, đem thuộc-hạ đến bao vây sân chào cờ tại Nha và gác chận trước đường, vào lúc đúng bảy giờ hai mươi lăm phút. Vang ra lệnh điểm-danh và đóng cổng trụ-sở. Lúc đó, Ô. Trần Văn Cư và Ô. Tôn Thất Dẫn, hai Chủ-Sự Phòng thuộc Nha, vừa đến nơi thì bị giữ lại bên ngoài. Viên Giám-Ðốc Nha ấy liền đứng ra hứa sẽ phạt hai viên-chức kia, và xin cho họ được vào vì còn kịp dự lễ chào cờ. Nhưng viên Trưởng Ðội thuộc Ty — là một nhân-viên dưới quyền và ở dưới nhiều cấp — đã không chấp-thuận. Vang điều-khiển lễ thượng-kỳ, hát quốc-ca và “suy-tôn Ngô Tổng-Thống”, xong chở Cư và Dẫn đến báo-cáo nội-vụ lên Văn-Phòng của “Cậu”, tức ông Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn, bào đệ của anh em Diệm+Nhu.
Vang là một trong số ít những phần-tử đến hầu “Cậu” thường-xuyên.
MỘT BUỔI HỌP TỐ KHỔ
Ô. Ngô Ðình Cẩn có một ngôi nhà nghỉ mát tại bãi bể Thuận-An.
Vì lý do an-ninh, chỗ nầy cách xa khu tắm bể của đồng-bào . Những ngày cuối tuần vào mùa hè, Cẩn thường về đó câu cá giải-trí. Sợ “Cậu” câu cá một mình thì buồn, một số nhân-vật tín-cẩn, hoặc muốn được thân-cận, bèn cùng đến đó câu cá, mong tạo bối-cảnh thân-mật cho ông. Trừ những người được ông sai phái hoặc giữ lại để chuyện-trò, số còn lại phải chọn chỗ nào không gần ông lắm ― vì sợ nếu ông không câu được cá mà bị kẻ khác ton-hót đổ lỗi câu giành với ông thì khốn ― đồng-thời họ cũng không đi quá xa, để vừa được ông nhận mặt là mình cũng có tham-gia giúp vui cho ông, vừa chục phòng khi ông gọi thì nghe mà đến cho nhanh kẻo bị kẻ khác nhanh hơn thì mất cơ-hội được hầu-hạ ông.
Giám Ðốc Nha Cảnh-Sát Công-An Trung-Phần, Ô. Lê Khắc Duyệt, cũng có dự phần vào những buổi câu cá như thế.
Hôm đó, Duyệt mặc một chiếc áo sơ-mi cụt tay có in hình hoa bướm gì đó. Trên đường về nhà ở thành-phố, Duyệt gặp vài nhân-viên thuộc Nha, trong số những phần-tử đã vào Ðảng.
Thuở ấy, xứ Huế còn rất nệ-cổ. Người nữ phải mặc áo dài mới được ra phòng khách; các cô giúp việc dù đang làm việc nặng, các chị bàn hàng-rong dù đang vai gánh hay tay xách, mỗi khi ra đường đều phải mặc áo dài. Người nam thì phải nhét áo trong quần. Vào thời-gian chuyện này xảy ra, tuy lối sống đã có đổi mới phần nào, xã-hội vẫn chưa chấp-nhận cho các cá-nhân “danh-giá”, nhất là các viên-chức cao-cấp trong chính-quyền, dù là vào ngày nghỉ và lúc đi chơi, bỏ áo ngoài quần, hoặc mặc áo có sọc, có ô, hoặc có in hình mà người dân địa-phương gọi là “áo chim cò”.
Duyệt bị báo-cáo lên Văn-Phòng Cố-Vấn.
Vào buổi “học-tập chính-trị và công dân giáo dục” kế đó, số nhân-viên dưới quyền Duyệt, nhưng thuộc đường dây thân-tín hơn, đã nêu vụ kể trên ra để hội đường thảo-luận. Mặc dù viên Giám Ðốc của họ đã nhận lỗi, xin lỗi mọi người, và hứa về sau sẽ không tái-phạm, sau khi đã giải-thích là mình ăn mặc như thế để dễ lội xuống nước mà bắt cá cho “Cậu”, số nhân-viên ấy vẫn nặng lời sỉ-vả Duyệt và thúc đẩy các phẩn-tử khác lên tiếng tố-cáo Duyệt là “thiếu tác-phong cách-mạng”, “phản nhân-vị”, “không chịu học-tập noi gương đạo đức của Ngô Tổng-Thống”.
Người dân xứ Huế không quên những vụ tố khổ vào những ngày đầu tiên Ô. Ngô Ðình Diệm lên cầm quyền.
Trong một cuộc mít-tinh tại chúng-trường Phu Văn Lâu, một nữ-công-chức thuộc Nha Pháp-Chánh Trung-Phần đã đứng lên trước máy vi-âm xỉ mặt viên Giám Ðốc của Nha ấy mà kể tội là trước đó đã từng lợi dụng chức-quyền để hãm-hiếp mình…
Quang-cảnh đấu tố giống hệt dưới chế-độ cộng-sản ở Miền Bắc Việt-Nam.
CÔNG-CHỨC BỊ PHẠT VÌ VỀ VỚI GIA ÐÌNH
Có một số công-chức tùng-sự tại các công-sở ở Huế nhưng có gia đình ở Tỉnh Quảng-Trị; cuối tuần họ về ngoài đó với vợ+con.
Nhưng rồi, vào một buổi trưa ngày cuối tuần nọ, số người ấy đã gặp nạn. Sau đó, họ ngao-ngán kể lại với bạn-bè:
Ô. Nguyễn Văn Đông, Tỉnh-Trưởng Tỉnh Quảng-Trị, đã ra lệnh chận đường từ hướng Huế ra, bắt giữ tất cả các công-chức vừa mãn giờ làm việc cuối tuần là để bụng đói phóng xe về với thân-nhân.
Còn nhớ dưới thời Việt-Minh, để khuyến-khích phong-trào Bình Dân Học-Vụ, có nhiều Xã Thôn đã dựng cổng kiểm-soát dọc đường; ai biết chữ thì được đi qua cổng chính, ai không biết chữ thì phải lội vòng xuống ruộng bùn mà đi.
Đông thì không cho các công-chức ấy đi, về với gia đình, mà cũng không chịu cho họ quay lui. Ông bắt họ tập-trung tại chỗ, đợi đến sáng ngày đầu tuần mới cho xe chở họ vào Huế giao nạp cho Tòa Ðại-Biểu Chính-Phủ Miền Trung.
Đông sợ dư-luận đồng-bào về những bê-bối của chính-quyền Tỉnh mà ông cầm đầu có thể bị các công-chức ở Huế là những tai mắt ấy thu-thập đem về phổ-biến, mà không bưng-bít được, vì ở ngoài vòng kiểm-soát của mình.
Ông là em của một người con rể gia đình họ Ngô.
LUẬT-PHÁP PHỤC-VỤ CHO CÁ-NHÂN
Có lần, Nha Bảo-An Trung-Phần được cơ-quan Viện-Trợ Mỹ trao cho một số xe Jeep. Viên trung-tá Giám Ðốc Nha ấy đến báo-cáo với “Cậu”, xem như đó là một thành-quả “nhờ ơn Ngô Tổng-Thống và Cậu” mới có được, và chọn một chiếc tốt đẹp nhất đưa đến để xin “Cậu” lái khai-mào hầu nhờ “Cậu” mà toàn Nha được hưởng hên.
Chiếu cuối tuần ấy, có một số giáo-sư Viện Ðại-Học Huế, vốn được Ô. Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn nâng đỡ, và đều là nhân-vật tên tuổi một thời ở thủ-phủ của Miền Trung, về bãi Thuận-An tắm bể. Họ lái xe Traction, chạy vùn-vụt trở về nhà ở Thành-Phố Huế vào lúc hoàng-hôn.
Ðồng-thời, từ tư-thất ở Thành-Phố về nhà nghỉ mát ở bãi bể, Ô. Cố-Vấn đích-thân cầm tay lái, lái thử chiếc xe Jeep mới của Nha Bảo-An.
Trên con đường lưu-thông duy-nhất giữa hai địa điểm, mà vào cuối tuần giữa mùa hè nóng bức thì người dân đi tắm bể tấp-nập, khi ngang qua lãnh-thổ Quận Phú-Vang, hai xe ngược chiều kể trên gặp nhau.
Xe Traction thì thấp; xe Jeep thì cao, mà vì mới xuất-kho nên mặt kính đèn trước chưa được che bớt phần trên bằng một lớp sơn màu vàng như các xe khác, và Ô. Cẩn thì cứ để đèn pha mà chạy. Các nhà học-thức ấy bị chói mắt nên nổi giận, bèn cũng bật đèn pha, rồi thắng xe lại ngay giữa lòng đường, chận đầu chiếc xe kia, nhảy ra, xông tới, định dạy cho tài-xế xe Jeep một bài học. Cùng lúc, Ô. Cố-Vấn luýnh-quýnh thắng xe lại; các vệ-sĩ của ông tưởng gặp kẻ khủng-bố nên nhảy ngay xuống, xáo ổ đạn, chĩa mũi súng về phía đối-phương, sẵn-sàng bấm cò.
Thế là hai bên nhận ngay ra nhau; các nhà khoa-bảng liền đổi thái-độ, chắp tay vái “Cậu” liên-hồi.
Sau đó, Tòa Ðại-Biểu Chính-Phủ Trung-Phần Việt-Nam chỉ-thị cho Nha Công-Chánh Giao-Thông, Nha Cảnh-Sát Công-An, cùng Tòa Hành-Chánh, Cơ-Quan Quân-Sự, Ty Công-Chánh, Ty Thông-Tin Tỉnh Thừa-Thiên, Ty Cảnh-Sát Thành-Phố Huế, Trung Ðội Hiến-Binh địa-phương, v.v… phải họp tìm biện-pháp tạo sự thoải-mái cho “Cậu” trên đường đi . Họ bèn quy định, phổ-biến, và kiểm-soát, để từ nay trở đi mọi loại xe-cộ lưu-thông trên đường Huế―Thuận-An, và ngược lại, chỉ được phép chạy với tốc-lực tối đa 25 cây số/mỗi giờ; hễ gặp xe khác thì phải ngừng lại, rồi chạy từ từ; và nhất là buổi tối và ban đêm thì chỉ được bật đèn ló mà thôi.
Sự việc ông Cố-Vấn bị chận xe dọc đường thì đã được chính ông bỏ qua; nhưng vì nó có liên-quan đến “Cậu”, các nhà chức-trách xem là quan-trọng hàng đầu nên đã đặt thành luật-lệ cho người dân tuân theo.
MỘT BỮA TIỆC SINH-NHẬT CỦA “CẬU”
Vào dịp sinh-nhật của Ô. Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn năm ấy, một mình tôi nhận được ba tấm thiệp mời dự tiệc; một với tư-cách văn-nghệ-sĩ ký-giả, một với tư-cách thành-viên Thuyết-Trình-Ðoàn Học-Tập Chính-Trị và Công Dân Giáo Dục, và một với tư-cách cấp chỉ-huy ngành Cảnh-Sát Công-An.
Trên đầu tờ giấy có in hàng chữ “Văn-Phòng Cố-Vấn Chỉ Ðạo Các Ðoàn-Thể Cao―Trung―Hải”. Về các “Ðoàn-Thể”, có nơi ghi rõ là “Chính-Trị, Kinh-Tế, Văn-Hóa, Xã-Hội, Thanh-Niên, Phụ-Nữ, Sinh-Viên Học-Sinh, Lao-Công, v.v…” Cao là Cao-Nguyên, Trung là Trung-Phần, và Hải là Hải-Ngoại.
Ðây là một cơ-hội hiếm có để tôi có thể trực-tiếp nghe+thấy những gì liên-quan đến “Cậu”, người mà dân-chúng sợ-hãi như một hung-thần.
Con đường xe lửa xuyên-Việt nằm ở giữa, ngăn-cách tư-thất của Ô. Cố-Vấn với Văn-Phòng ở bên kia . Lách qua khỏi hai cánh cổng sắt cao to mở hé, tôi bước vào một thế-giới lạ thường.
Không có đường dây điện-thoại liên-lạc với bên ngoài. Ô. Cố-Vấn thường chỉ ở trong tư-thất, và ít có ai thấy được chữ ký của ông.
Một mái rạp cao được dựng sát trước hiên nhà, dài suốt ba gian, là nơi bày dọn nhiều dãy bàn ăn. Hầu hết món ăn đều là món Huế, những loại ngày xưa dành cho hoàng-gia, triều-thần nhà Nguyễn và giới thượng-lưu, do chính một số đầu-bếp cũ trong Ðại-Nội hoặc tại các Phủ Chúa đến nấu dọn.
Thực-khách được chia ra mời làm nhiều đợt; nhưng có một số đến sớm trước giờ; và một số ăn xong vẫn còn nấn-ná ở lại, vừa chỉ dẫn cho những kẻ đến sau để tỏ ra rằng mình đã là người nhà của chủ-nhân rồi, vừa cầu-may mong có cơ-hội được “Cậu” hỏi đến.
Mắt mang kính, miệng nhai trầu, tay cầm quạt khi thì phe-phẩy, khi thì dùng để gãi lưng, Ô. Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn vừa nói chuyện với vài ba nhân-vật ― nhất là ông Nguyễn Ðình Cẩn, Tỉnh-Trưởng Trưởng Tỉnh Bình-Thuận, suốt buổi vẫn bám sát theo ông ― vừa đi quanh chăm-sóc từ các loại cây cảnh quý trước mặt nhà đến các loại muông thú hiếm bên hông và sau vườn, trong đó có một con voi con.
Hầu-hạ quanh nhà có một số nhân-viên Cảnh-Sát hoặc Công An. Có một kẻ thường đi dọc theo đường Phan Chu Trinh và đường Vạn Vạn, trên bờ Nam của “sông An-Cựu nắng đục mưa trong”, ngang-nhiên chặt cây trên bến, và cả chuối trong vườn nhà dân, nói là để cho voi của “Cậu” ăn. Nhiều người qua lại trên cầu Phú Cam và trên đường bờ sông Phan Ðình Phùng có lần trông thấy dưới bến “Cậu” dùng thìa cà-phê múc sữa đút cho voi uống, trong lúc các thuộc-viên đang kỳ-cọ tắm cho con voi.
Tôi vừa vào đến nơi thì nghe có tiếng còi xe hộ-tống hụ từ phía cầu Phú Cam. Ô. Cố-Vấn quay đầu về phía nhà trong, im-lặng lắng nghe. Lập-tức, có hai thuộc-viên chạy nhanh ra cổng. Họ thò đầu ra ngoài nói gì đó, rồi nhân-viên gác cổng mở hé một cánh cổng cho một số quan-chức và một viên tướng bước vào. Tất cả đều mặc lễ-phục, và đều đi rón-rén vì sợ đế giày gây tiếng ồn.
Về viên tướng, tôi nhận ra là Trung-Tướng Trần Văn Ðôn. Hôm mới ra thay Trung-Tướng Thái Quang Hoàng, trong một buổi lễ tại Phu Văn Lâu, Ðôn đã bắt đầu diễn-văn bằng câu “Quân Dân Miền Trung!” Tôi nghe kể lại, chỉ một lát sau là “Cậu” được nghe báo-cáo, liền phán “Hắn muốn lãnh đạo cả Dân ngoài ni nữa răng?”
Họ cúi đầu chào Ô. Cố-Vấn nhưng ông không đáp lại. Họ bèn nhập chung với một số khác đã đến trước, đứng sắp hàng quay mặt vào bức chân dung của Tổng-Thống Ngô Ðình Diệm để trên một chiếc bàn cao trong phòng khách chính, xong cất tiếng đồng-thanh hát bài “Suy-Tôn Ngô Tổng-Thống”, như lệ thường mỗi lần bắt đầu một buổi lễ hoặc buổi họp.
Có đến hai bài “suy-tôn” khác nhau, một của Miền Trung và một của Miền Nam, nên nhịp và lời của hai bài chõi nhau, nghe rất chói tai.
Bỗng có tiếng đằng-hắng trong nhà. Ô. Cố-Vấn liền nạt:
– Ồn! để cụ nghỉ!
Thế là mọi người nín bặt, lấm-lét tan hàng. Trong lúc họ chưa biết giấu mặt ở đâu thì các gia-nhân ra hiệu cho họ đứng vào hai bên các dãy bàn tiệc mà bắt đầu ăn.
Lát sau, ông Cố-Vấn đi ngang qua các bàn ăn, nhìn chung, hỏi chung:
– Ngon không?
– Dạ ngon! “Cậu” cho ăn ngon quá!
Nghe mọi người đồng-loạt khen, ông nở một nụ cười khoan-khoái, xong tiếp-tục đi ngắm-nghía, sờ-mó không biết chán các món quà đắt giá mà các cấp chức quyền từ khắp nơi trong nước và ngoài nước dâng về.
Trước mắt tôi, hình-ảnh của “Cậu” Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn vẫn quen thuộc như những lần ông chủ-tọa các cuộc thi rước xe hoa vào những dịp lễ lớn trong năm.
Mỗi cơ-quan dân-chính và quân-sự đều thực-hiện một cỗ xe hoa, với nhiều cỡ, nhiểu kiểu, nhiều cách khác nhau, nhưng tựu-trung thì đều rước ảnh của Ngô Tổng-Thống và được trang-trí đèn hoa rực-rỡ vô cùng. “Cậu” đứng trước cổng nhà, vừa nhai trầu vừa quạt, nhướng mục-kỉnh chiêm-ngưỡng từng công-trình nghệ-thuật trẩy qua, và dễ dàng đồng-ý với những lời phê-bình cũng như chấm điểm, định mức thưởng tiền, của các “cố-vấn” hầu-cận hai bên.
Tự-nhiên tôi thấy ông hiền-lành quá, vô-tư quá. Người như thế này mà có quyền sinh-sát đối với mọi người sao ?
LỆNH… LẠC
Ngoài ông Chánh Văn-Phòng, mà một số người cho là có hiểu biết, còn có một số sĩ-quan quân-lực được biệt-phái đến làm việc tại Văn-Phòng Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn. Ông Hồ Văn Huế, một đồng-nghiệp đàn anh của tôi, là một tín đồ Ky Tô có đạo đức, đã có lần than-thở với tôi:
– Té ra mạnh ai thì nấy báo-cáo lên “Cậu”; chỉ cần nói khích một câu, tỉ như “Tên này phản-loạn, dám chống lại Ngô Tổng-Thống và Cậu!” thì nếu đề-nghị giết chết “Cậu” cũng gật đầu liền. Nhưng trong đa-số trường-hợp họ có trình lên “Cậu” đâu !
Quyền-hành của Cẩn tuyệt-đối như thế nên dân-chúng gọi ông là “Lãnh-chúa Miền Trung”. Thật ra, quyền-hành của ông cũng bao trùm cả Miền Nam, là lĩnh địa của ông anh, Cố-Vấn Ngô Ðình Nhu. Một thi-hữu của tôi, Hồ Ðình Phương, của Tỉnh Long-An, và một số thành-viên khác thuộc các phái đoàn từ các Tỉnh trong Nam ra Huế họp đại-hội Ðảng Cần-Lao, đã xác-nhận với tôi điều đó.
Không có học-lực và kiến-thức như các ông Diệm, Nhu, ông Cẩn chỉ là một thứ hào-mục hãnh-tiến, bỗng-nhiên thấy được người ta tôn lên thì được hưởng lợi chứ chẳng thiệt gì, nên để mặc cho thủ-hạ lèo-lái, vẽ-vời. Ông chỉ đáng khen trong có một việc là lòng hiếu-kính đối với mẫu-thân, góa-phụ của cụ Ngô Ðình Khả.
Và chính cụ-bà cũng được nhiều người ngợi-ca vì lòng “trung-quân”. Người ta kể lại rằng, khi lăng của chồng đã được xây xong, cụ-bà lên ở trên lăng. Ðức Ðoan-Huy Hoàng Thái Hậu, tức Ðức Từ-Cung, mẹ của Cựu-Hoàng Bảo Ðại, thấy cảnh miếu đường hoang-phế mà không được chính-quyền chiếu-cố, bèn lên gặp cụ-bà để xin nói giúp với anh em nhà Ngô. Cụ-bà nghe tin, đang bệnh mà cũng gắng dậy xuống đón từ dưới mấy cấp thềm, toan phủ-phục trước người mà cụ-bà tưởng vẫn còn là quốc-mẫu nên vẫn thủ-phận chồng+con mình là bề-tôi của quân-vương.
Ðiều tai-hại hơn hết là không có ai dám kiểm-chứng lệnh của Ô.Cố-Vấn Ngô Ðình Cẩn.
Thường thì mọi người chỉ biết tuân lệnh, do nghe kẻ khác nói lại, mà không biết là nói lại hay là nói đại. Mà do chính miệng của ông nói ra lắm khi cũng chẳng hẳn là lệnh-lạc gì hết.
Một thí dụ đầy tính tiếu-lâm được truyền miệng trong giới an-ninh:
Một trong những tay chân đắc-lực của Cẩn là Ô. Lê Hoát, Trưởng Ban Hoạt-Vụ thuộc Nha Cảnh-Sát Công-An Trung-Phần. Mọi việc bắt-bớ, đọa đày, hãm-hại, v.v… đều nằm trong tay Hoát. Thế mà…
Dạo ấy ở Tỉnh Quảng-Ngãi có sự rối-loạn. Ty Công-An liên-hệ điện xin Nha Trung-Phần tăng-cường gấp một số nhân-viên. Vì Hoát có nhiều nhân-viên nhất nên Phòng Nhân-Vụ đề-nghị rút bớt một số. Hoát chỉ cho lấy một người, là người mà Hoát tưởng là không thiết-yếu vì không thấy đến báo-cáo công-tác hằng ngày. Và người ấy nhận được sự-vụ-lệnh thuyên-chuyển từ Huế vào Tỉnh Quảng-Ngãi.
Kế đó, một hôm Ô. Cố-Vấn đi ra sau vườn thì thấy có một thuộc-viên nằm lăn-lộn trước chân ông mà khóc; ông tránh, người kia lại tái diễn, khóc to hơn. Ông hỏi vu-vơ:
– Cha mi chết hay răng mà mi khóc dữ thế?
Ðươc ông hỏi đến, người giữ vườn kêu gào thảm-thiết:
– Không phải một mình cha con chết, mà chính con, rồi cả gia đình nhà con đều sẽ chết hết, “Cậu” ơi! Người ta không muốn cho con tiếp-tục ở đây để được hầu-hạ “Cậu”, “Cậu” ơi!
– Rứa người ta đưa mi đi mô ?
– Việt-Cộng giết người tùm-lum trong Quảng-Ngãi, mà người ta đưa con vô trong đó!
– Ai đưa mi đi ?
Người ấy vốn đã có đến năn-nỉ với Phòng Nhân-Vụ đề xin ở lại, nhưng được nơi đây giải-thích là chính Hoát đã quyết định cho đương-nhân ra đi. Người ấy liền đáp:
– Dạ, Lê Hoát đưa con đi!
Ông Cố-Vấn vừa bước tiếp vừa nói khống:
– Răng hắn không đi mà đưa mi đi ?
Mọi lời nói của “Cậu” đều được truyền đi tức-thời .
Thế là Nha Cảnh-Sát Công-An Trung-Phần ký sự-vụ-lệnh khác, để nhân-viên kia lại, và đưa … Lê Hoát đi !
Một thời-gian sau, một hôm ông Cố-Vấn sực nhớ mới hỏi:
– Thằng Hoát mô rồi mà lâu ni tau không thấy hắn?
Thế là Quát lại được thuyên-chuyển từ Ty Quảng-Ngãi về lại Nha!
Dân-chúng cũng đàm-tiếu với nhau: Bà Cố-Vấn Ngô Ðình Nhu, lãnh-tụ Phong-Trào Phụ-Nữ Liên Ðới và Ðoàn-Thể Thanh-Nữ Cộng-Hòa của toàn-quốc, tức là gồm cả Miền Trung, những lần ra Huế thường tránh gặp mặt “Cậu”. Trung-Tướng Thái Quang Hoàng, nguyên Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu, mà tổng-hành dinh đóng ở Huế, vốn là một sĩ-quan sủng-ái được thăng cấp vùn-vụt, mà rồi cũng bị thất-sủng vì bị dèm pha. Ông Trần Chánh Thành, là người được chính Ô. Ngô Ðình Diệm chọn đưa từ Pháp cùng về với mình, cử làm Bộ-Trưởng Bộ Thông-Tin, phụ-trách Chiến Dịch Tố Cộng và Phong-Trào Cách-Mạng Quốc-Gia, mà rồi cũng va-chạm với uy-lực của “Cậu” về quyền lãnh đạo các tổ-chức và hoạt động này tại Miền Trung…
Tôi tự hỏi không biết có phải chính “Cậu” đã chủ động, đã chủ động nổi, trong các vụ này, hay là bị bọn ác-ôn côn đồ gài bẫy, mạo danh…
VỤ GIÁN ÐIÊP PHÁP TẠI MIỀN TRUNG
Sau khi Pháp, do áp-lực của Mỹ, rút quân ra khỏi Việt-Nam, một số kiều dân Pháp vẫn còn ở lại; họ điều-hành các đồn điền cao-su, cà-phê, trà, và các nhà máy điện, nước, lữ-xá, tiệm ăn, v.v… Ngoài ra, còn có các nhà ngoại-giao …
Ở Huế, có một Phòng Thông-Tin Pháp, mà Giám Ðốc là Ô. Avril, một người Pháp lai Việt, sinh sống từ nhỏ tại Thành-Phố này. Tôi đã giới-thiệu để Avril làm quen với Ô. Thompson A. Grunwald, khi ông này đến nhậm chức Giám Ðốc Thông-Tin Hoa-Kỳ ở Huế. Trong lúc chưa có Tổng Lĩnh-Sứ, Grunwald là đại diện Mỹ đầu tiên đến Miền Trung.
Ðối với dân-chúng địa-phương thì sự quen biết đã có từ trước và những giao-tiếp không thể tránh được sau này của Avril với những nửa-đồng-bào xung quanh đã gây tai-họa không ít cho nhiều con dân Việt-Nam.
Trong chương-trình “đả-thực, bài-phong, diệt-cộng”, mà “thực” ở đây là thực dân Pháp, các cơ-quan an-ninh sở-tại cho biết đã khám-phá được một tổ-chức gọi là “gián điệp Pháp tại Miền Trung”.
Trong những năm đầu sau Hiệp Ðịnh Genève, Liên-Xô và Hoa-Cộng chưa chủ-trương cho Cộng-Sản Bắc-Việt xâm-chiếm Miền Nam; nhờ đó, đa-số các cấp chính-quyền, nhất là ở nhiều Xã Thôn, đã có hoàn-cảnh thuận-lợi để loại-trừ các phần-tử có liên-hệ hoặc bị nghi có dính-líu với ba kẻ thù kể trên. Trung-Ương cho phép mỗi Xã lập nên một “Hương-Ước” riêng của mình; đó là những quy định tội-trạng và hình-phạt có giá-trị pháp-lý, nằm ngoài và bổ-sung luật-pháp và luật-lệ chung của Quốc-Gia. Chính-sách của Chính-Quyền Quốc-Gia thời Ðệ-Nhật Cộng-Hòa là phục-hồi “Lệ Làng”, một thứ quyền tự-trị của các hương-chức thời xưa; đúng với tuc-ngữ “Phép Vua thua Lệ Làng”. Giải-pháp giàn-tiện hơn hết là trục-xuất tất cả các đối-tượng “phản động” ra khòi quê-quán của họ. Nhân dịp có cái gọi là “quốc-sách” Ấp Chiến-Lược và Dinh Ðiền, nhà cầm quyền tống họ lên vùng Cao-Nguyên, cùng với các thành-phần bất-hảo khác ― cựu-can hình-sự, đồ đệ “Tứ Ðổ Tường”, cá-nhân lừng-khừng ― sống tập-trung chung trong các Ðịa Ðiểm Dinh Ðiền, là nơi Hoa Kỳ viện-trợ dồi dào để giúp các giới dân nghèo Việt Nam tái định-cư kiến-tạo đời sống ấm no, thanh-bình, và thịnh-vượng lâu dài cho tương-lai.
Tuy nhiên, đó mới chỉ là bề mặt, nhất-thời. Thật ra, ngay sau khi chính-quyền Ngô Ðình Diệm ra đời, những kẻ có liên-hệ chặt-chẽ với Pháp, với Hoàng-Tộc, với Việt-Minh, hoặc bị tổn-thương quyền-lợi cá-nhân, đều đã tìm cách tự-tồn. Họ trá-hình quy-phục, hoặc ngụy-tạo lý-lịch, đổi vùng sinh-hoạt; hoặc rút lui vào bóng tối, hoạt động bí-mật; hoặc bất động chờ thời. Cao điểm là sau khi Mặt Trận Việt-Minh tập-kết cán-bộ và bộ đội ra Bắc; quân-lực Pháp giao lại Miền Nam Việt-Nam cho Mỹ; chế độ Diệm tịch-thu tài-sản của Pháp, lật đổ và tịch-thu tài-sản của cựu Quốc-Trưởng Bảo Ðại, phát động chiến dịch “Tố Cộng”, đánh dẹp các giáo-phái, đàn-áp các chính đảng, cấm Hoa-Kiều làm mười một nghề, v.v…
Có những chính-sách đúng, nhưng bị phai mờ vì những chủ-trương sai; và ngay những đường-lối tốt cũng bị hoen-ố vì những việc làm xấu. Và thiểu-số lạm quyền đã xử ức người này, trị oan kẻ kia, đào hố sâu chia-rẽ và giúp nẩy mầm phẫn-uất trong dân-nhân. Hạt nhân đối-nghịch và khuynh đảo từ đó đã được gieo ra.
Thật ra, người dân căm-hờn thực dân, oán ghét tay sai, thù hận thành-phần thân Pháp, nên ủng-hộ các nỗ-lực phát-hiện gián điệp nước ngoài. Nhưng khi chính-viện không truy-tố bị-can ra trước pháp-viện, lại sử dụng luật rừng để bạo-hành đối với tù-nhân, thì chiêu-bài “Dân-Chủ Pháp-Trị’ của chính-quyền Ngô Ðình Diệm đã trở thành bịp-bợm đối với người dân.
Vào một buổi sáng nọ, như để chứng-minh cụ-thể cho những luồng dư-luận lan tràn lâu nay, một số đồng-bào đã tìm đến tận nơi để nhìn thấy tận mắt thi-thể của một nạn-nhân: Ô. Võ Côn, cựu Phó Giám Ðốc Cảnh-Sát Công-An Trung-Việt, bị giết chết và vứt bỏ xác ở chân Núi Ngự-Bình.
THẦU-KHOÁN NGUYỄN VĂN YẾN
Nhà thầu Nguyễn Văn Yến là một nhân-vật tên tuổi được đồng-bào khắp Huế mến thương.
Sau ngày hồi-cư vào năm 1947, Yến bắt đầu thu thuế tại chợ An Cựu là một chợ nhỏ, mà thời-gian đầu dân-chúng còn thưa-thớt nên chợ chưa có nhiều kẻ bán người mua. Vợ anh cũng theo giúp chồng. Tuy là chủ thầu nhưng cả hai đều đối xử tử-tế với giới chịu thuế, nhẹ tay với ai ít vốn, chước-miễn cho ai ít lời.
Nhờ làm việc cần-cù, giao dịch khéo-léo, Yến đã tiến từ thầu nhỏ lên thầu lớn, và đỉnh cao là thầu được cơ-sở kinh doanh đồ-sộ của anh+em Pháp-kiều Morin chính giữa trung-tâm thủ-phủ của Miền Trung, đặt tên Nguyễn Văn Yến cho đại Khách-Sạn và Diễn Ðường này.
Sự thành-công của Yến là một gai nhọn trước mắt những kẻ muốn chiếm độc-quyền khai-thác hoặc chi-phối mọi nguồn lợi kinh-tài. Thế là Yến bị bắt.
Vợ Nguyễn Văn Yến bị bệnh hiểm-nghèo. Sau khi được chữa lành, trước khi xuất-viện chị đã được y-sư giải-thích và căn dặn kỹ-càng: muốn sống thì đừng gần-gũi đàn ông.
Thương chồng, chị đến gõ cửa khắp nơi; bao nhiêu tiền của chị đem ra dâng nạp hết, nhưng vẫn không có kết-quả. Cuối cùng, chị được đưa đến ra mắt Ô. Cố-Vấn để cầu xin “Cậu” thi-ân.
Nhờ ân của “Cậu”, chị chết.
Nỗi đau thương của gia đình Nguyễn Văn Yến đã trở thành niềm căm-hận của mọi người: liền sau đó, chính Yến cũng bị giết chết trong tối-tăm.
THẦU KHOÁN NGUYỄN ÐẮC PHƯƠNG
Là Trưởng-Phòng Huấn-Luyện, trong thời-gian có Khóa Tu-Nghiệp hoặc Khóa Anh-Ngữ Căn-Bản do tôi giảng dạy cho cảnh-nhân toàn Thành-Phố, tôi thường đến sớm để lo cho mọi thứ được chuẩn-bị sẵn-sàng. Có nhiều lần tôi ngạc-nhiên thấy Hội Ðường, mới chiều hôm qua còn ngăn nắp, mà sao sáng hôm sau bàn ghế đã nghiêng lệch và trên nền lầu vương vãi những lá lót, giấy bọc, cùng nhiều loại thức ăn, đồ uống thừa.
Những lần đầu, tôi nghĩ là do toán nhân-viên gác đêm bày tiệc ăn nhậu. Ðến lần nọ, tôi vào hỏi ông Đặng Phong, Phó Cành-Sát-Trưởng ; ông nhìn Ô. Hồ Đắc Vang, trả lời tôi: “Ðêm qua, Chi-Bộ họp”. Chi-Bộ là tổ-chức Ðảng; tôi không ở trong Ðảng, tôi không thể phàn-nàn gì thêm.
Một hôm, nhân vào Sài-Gòn lập thủ-tục du-học Hoa-Kỳ, tôi gặp Ô. Nguyễn Văn Trí giữa phố. Trí là nhân-viên Ðội Biệt Ðộng ở Huế; cùng đi với anh có vài ba người nữa, đang ngồi trong một chiếc xe hơi đậu bên lề đường. Anh dừng lại chào hỏi tôi. Khi anh lên xe đi rồi, có mấy người mà tôi thấy quen mặt đang ngồi trong Nhà Hàng “Thanh Thế” vẫy gọi tôi vào. Họ là công-chức, quân-nhân hoặc thường dân gốc ở Huế, nay vào tùng-sự, thụ-huấn hoặc sinh sống trong này.
Nhạc-sĩ Châu Kỳ ghé vào tai tôi nói nhỏ: “Ðừng bắt mình, nghe Thanh-Thanh!” Tôi mở tròn mắt hỏi lại: “Tôi làm gì mà bắt ai ?” Nhạc-sĩ Lê Trọng Nguyễn liền vỗ vai Kỳ: “Thanh-Thanh chắc không dính vào những vụ đó đâu!”
Hồi đó, Cảnh-Sát và Công-An là hai ngành khác nhau, mà tôi thì ở bên phía tư-pháp hình-sự, không phải bên phía chính-trị.
Một người hỏi tôi: “Hôm nay các anh đã bắt được bao nhiêu mạng rồi ?” Thấy tôi ngơ-ngác, một người khác nói: “Bọn hồi nãy là mật-vụ trong Ðoàn Công-Tác Ðặc-Biệt Miền Trung, vào đây bắt người đấy!”
Tôi cũng có nghe nói đến tổ-chức ấy, nhưng không biết là họ thuộc cơ-quan nào, vì tại Nha và tai Ty Công-An Tỉnh Thừa-Thiên thì chỉ có Ban Hoạt-Vụ, Ban Lưu Ðộng, hoặc Ban Truy-Tầm gì đó thôi.
Không-khí ở Sài-Gòn tự do hơn, nên mấy người này tranh nhau kể toàn những chuyện cướp đoạt, giam-cầm, tra-tấn, và thủ-tiêu dân lành, ở cả Huế lẫn các Tỉnh gần xa.
Diệm thì huênh-hoang tuyên-bố: “Ðằng sau Hiến-Pháp còn có tôi!” để bị lũ gian-manh ngụy-tạo vườn cây sây trái cho mà đến thị-sát, khoe-khoang; Nhu thì kìm kẹp đối-lập ở P-42; vợ Nhu thì hùn-hạp làm ăn bất-chính với vợ Trần Chánh Thành; Cẩn thì thể-hiện hỏa-ngục ở Mang-Cá, hồ lửa ở Chín Hầm…
Khi nghe tôi làm việc ở Ty Cảnh-Sát Huế, một người la lên:
– Ðánh người ta vỡ đầu chết, rồi ném xác xuống sân, tri-hô là người ta nhảy lầu tự-tử, xong rồi vào đây lánh mặt hả?
Các bạn khác cũng sững-sờ như tôi. Một người ôn-tồn hỏi tôi: “Anh vào đây bao giờ?” Tôi đáp: “Sáng thứ năm” Người ấy thở phào: “Thế thì không phải là anh!”
Người kia nhìn tôi dò xét, rồi như tin tôi, kể ngắn gọn:
– Chúng bắt bừa, nhốt kín nhiều nơi, lâu lâu mới chở một số đến Ty Cành-Sát cho gặp thân-nhân một lần vào lúc nửa đêm. Tại đó, chúng cũng khảo đả nạn-nhân. Án-mạng vừa rồi xảy ra vào khuya thứ năm; tôi mới vào chiều hôm qua; thứ sáu. Tội-nghiệp thầu-khoán Nguyễn Ðắc Phương!
Tôi nghe mà lặng điếng cả người.
Thì ra Hội Ðường, nơi tôi truyền-bá lý-thuyết lý-tưởng về nghiệp-vụ, nơi tôi phổ-biến đạo đức chính-trị của Ngô Tổng-Thống, đã bị dùng làm nơi chà đạp “nhân-vị” và sinh-mạng của con người!
Trước đó, tôi có gặp Nguyễn Ðắc Phương một lần, tại nhà Giáo-Sư Nguyễn Như Minh. Minh là thầy cũ của tôi ở “Thuận-Hóa Học-Hiệu”. Ông vừa mới giao cho Phương, và Phương vừa mới khởi-công xây-cất một trụ-sở mới cho Trường Trung-Học Tư-Thục Nguyễn Du.
Ngang đây thì tôi thấy Trung-Tá Ðoàn Ðình Từ, một người bạn thân của tôi, hiện làm Trưởng Ty Công-An Tỉnh Long-An, từ ngoài bước vào. Từ bị thương trong một trận chạm súng với Việt-Cộng, chân đi còn khập-khiễng. Ðể tránh đụng chạm, tôi kéo anh lên Nhà Hàng “Bồng Lai”.
Lát sau, tôi hỏi anh về nạn độc-tài, tham-bạo; anh lắc đầu thở dài: “Hết nước nói! Minh chỉ biết diệt Cộng mà thôi!”
*
LÊ XUÂN NHUẬN CHỐNG CHẾ-ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM
VÀO dịp lễ Hai Bà Trưng (3-3) năm 1960 (mồng 6 tháng 2 âm-lịch Canh Tý), tôi thuyết-trình về tinh-thần ái-quốc của Trưng Nữ-Vương, theo tài-liệu học-tập của Trung-Ương phổ-biến.
Nguyễn Xuân Lại, lúc ấy cũng đã mãn định-kỳ quân-nhiệm, trở về Ty Cảnh-Sát Huế, cùng tham dự buổi họp.
Khi đến câu “Quân của Hai Bà là quân ô-hợp nên bị thất-trận”, tôi đã cố ý bỏ qua từ đoạn “là quân ô-hợp”. Hội Ðường thắc-mắc; nhiều người đưa ý-kiến là phải đọc trọn câu, và đòi giải-thích hai tiếng “ô hợp”. Tôi giải-thích tĩnh-từ “ô hợp”, xong thanh-minh rằng tôi không muốn trong lúc tưởng nhớ công đức của tổ-tiên anh-hùng mà lại chê-bai phẩm-chất chiến đấu của tiền-nhân:
– Có lẽ soạn-giả sơ-ý. Theo tôi thì chỉ cần nói “Hai Bà thua trận là đủ”, không cần nêu thêm cái lý do ấy, nhất là nói về khuyết nhược của mình. Vậy đề-nghị các bạn khi về đơn-vị địa-phương thuyết-trình lại cho các học-viên của mình thì bỏ bớt mấy chữ đó đi .
Ngang đây, Lại chất-vấn tôi:
– Sự thật là “ô hợp” thì cứ nói là “ô hợp”, anh muốn chống lại lịch-sử và cãi lại tài-liệu của “Ban Chỉ Ðạo Học-Tập Trung-Ương” ư ?
Cuộc thảo-luận chung biến thành cuộc tranh-luận riêng giữa hai chúng tôi.
Tôi nói: “Tuy Ban Chỉ Ðạo Trung-Ương do ông Cố-Vấn Ngô Ðình Nhu chủ-trì, nhưng ông chỉ đề ra ý chính, làm sao kiểm-soát hết từng chữ?”
– Tôi đã từng thảo diễn-văn cho các Ðơn-Vị-Trưởng, họ dò rất kỹ trước khi đọc; anh cho là ông Cố-Vấn không đọc kỹ à?
– Tôi cũng đã từng thảo diễn-văn cho các tướng Tư-Lệnh, đúng như anh nói. Nhưng đó là cho chính miệng họ đọc ra, lâu lâu một lần. Ðằng nầy, tài-liệu tổng-quát do nhân-viên phụ-trách soạn chung cho mọi người, ào-ạt phổ-biến mỗi tuần mấy đợt, trải qua nhiều năm rồi, thì cũng chỉ giống như tờ báo định-kỳ thông-thường ngoài phố mà thôi, làm sao tránh khỏi sơ-xuất?
– Nhưng đây không phải là sơ-xuất, mà là nói lên sự thật!
Tôi đáp: “Ðồng-ý là sự thật. Tuy nhiên, đó là ở trường đại-học, nghiên-cứu sử-liệu chúng ta có thể tìm thấy nhiều điều khác lạ; thí dụ tài-liệu của Trung-Hoa nói về Hai Bà Trưng, có đăng trên báo của Viện Ðại-Học Huế, do linh-mục Cao Văn Luận làm Viện Trưởng, thì tàn-tệ hơn nhiều. Còn đây thì không phải là một công-trình nghiên-cứu lịch-sử ở trình độ bác-học, mà chỉ là một bài học công dân giáo dục nhắm vào đa-số bình dân, cốt để nhân ngày kỷ-niệm Trưng-Vương mà khích động đồng-bào noi gương yêu nước của Hai Bà; như thế thì chỉ cần đề-cập những gì có lợi cho mục đích trước mắt mà thôi”.
– Nói như anh tức là cấp trên khinh thường dân-chúng, chủ-trương ngu dân!
Tôi thấy Nguyễn Xuân Lại đã vô-tình tạo ra cơ-hội cho tôi lợi dụng mà nói lên những điều cần nói công-khai :
– Ở đây có ông Trần Văn Hương, Cảnh-Sát-Trưởng, vừa đi du-học ở Mỹ về, đã thấy rõ sự khác nhau giữa Mỹ với nước mình. Thế nhưng, tài-liệu, mà chúng ta học-tập ở đây thì nói rằng Hiến-Pháp của Việt-Nam Cộng-Hòa là tiến-bộ hơn Hiến-Pháp của Hiệp-Chủng-Quốc Hoa-Kỳ. Cũng thế, học-tập về chế độ hiện-tại thì chỉ toàn đề-cao những tốt lành ngay chính chứ có ai phanh-phui những xấu dữ gian tà đâu !
Thế là mọi người bỏ mất trọng-tâm. Hội Ðường chia ra làm hai phe; đa-số thì đồng-ý với tôi dẫn chứng từ những sai lầm bất-công đến những gian tham tàn-ác của nhóm đặc-lợi đặc-quyền; thiểu-số đắc-thời thì chối-cãi, biện-minh. Không-khí quá găng; chủ-tọa phải tuyên-bố giải-tán. Nhưng khi ra khỏi phòng họp rồi họ vẫn còn phát-biểu rất hăng.
Việc làm của tôi đã mở đường cho những chống đối công-khai và đồng-loạt của nhiều tập-thể lớn về sau (trước cả vụ phản-kháng của 18 nhà chính-trị tên tuổi tại Nhà Hàng Caravelle trong Sài Gòn. Nhà văn Nhất-Linh Nguyễn Tường Tam, bị kết án tử-hình, đã tự-tử, với kết-luận “đời tôi để lịch-sử xét” để phủ-nhận quyền-hành của chế độ nhà Ngô).
Riêng trường-hợp của tôi đã gây nên mối bất-đồng quan điểm giũa hai ông Cố-Vấn họ Ngô. Vây-cánh của Ô. Cẩn thì muốn dùng biện-pháp mạnh đối với tôi, nhưng Ô. Nhu thì tiến-bộ hơn nên nương tay. Do đó, họ giao tôi cho Bộ Nội-Vụ áp dụng kỷ-luật hành-chánh.
Sau ba tháng bị cất chức, giam cầm, tôi bị ghép vào thành-phần “phản-loạn” và bị đày lên Cao Nguyên là vùng “nước độc và nguy-hiểm”, cùng với bốn đồng-nghiệp khác; đó là hai viên-chức tham-mưu có uy-tín mà không chịu đứng chung vào hàng-ngũ phá đạo hại đời, và hai viên-chức hoạt-dịch cũng là tín đồ Ky-Tô-Giáo và cũng là đảng-viên Ðảng Cần-Lao nhưng không đồng-hội đồng-thuyền với họ nên họ cũng nhân dịp này mà tống cổ đi luôn.
Suốt đời tôi không bao giờ quên được hình-ảnh của những Giám Ðốc, Trưởng Ty, công-chức các cơ-quan bạn, mà nhiều người trước kia tôi chưa hề quen, và rất đông đồng-bào vô danh, đã bất-chấp mật-vụ, lên ga xe lửa Huế ngậm-ngùi tiễn chúng tôi đi …
*
Rồi Diệm bị đảo-chánh hụt, rồi Dinh Ðộc-Lập bị ném bom. Vụ các chính-khách bất-đồng chính-kiến họp tại nhà hàng Caravelle nổ bùng. Nhà văn Nhất-Linh Nguyễn Tường Tam tự-tử để phủ-nhận quyền-hành của chế-độ nhà Ngô. Phật-Giáo bị cấm treo cờ vào ngày lễ Phật-Ðản; Phật-Tử Huế biểu-tình đòi quyền tự do tín-ngưỡng, bị tàn-sát trước Ðài Phát-Thanh. Diệm+Nhu cho Cảnh-Sát Chiến Ðấu tấn-công chùa-chiền. Hòa-Thượng Thích Quảng Ðức và nhiều tu-sĩ, Phật-Giáo-Ðồ khắp nước tự-thiêu. Sinh-viên học-sinh và các giới dân-nhân xuống đường; toàn-quốc nổi dậy. Thạc-sĩ Vũ Văn Mẫu, Ngoại-Trưởng VNCH, tự cạo trọc đầu từ-chức để phản-đối Diệm; ngay chính ông Trần Văn Chương, đại-sứ VNCH tại Mỹ, là cha ruột của bà cố-vấn Ngô Ðình Nhu, và bà Trần Văn Chương, quan-sát-viên VNCH tại Liên Hiệp Quốc, là mẹ đẻ của bà Nhu, cũng cùng từ-chức để chống lại bè lũ Diệm—Nhu đàn-áp Phật-Giáo. Chính-giới Hoa Kỳ phẫn-nộ, dư-luận thế-giới xôn-xao. Cuộc Cải-Mệnh 1-11-1963 xảy ra.
Sau này, tôi chỉ-huy Cảnh-Lực cấp Tỉnh trên Cao-Nguyên thì Nguyễn Xuân Lại cũng chỉ-huy Cảnh-Lực ở Tỉnh Thừa-Thiên.
Một số bạn cũ nói rằng Lại vẫn trung-thành với quan-niệm sống của mình, cứ theo lý-thuyết sách vở mà làm; theo đó, Luật-Pháp mới là nguyên-tắc của trật-tự và an-ninh, nên anh phục-vụ; còn Chính-Trị thì là phi-nguyên-tắc nên anh không tham-gia. Anh chỉ chú-tâm riêng vào phần Hình-Cảnh, và phó mặc phần Ðặc-Cảnh (có thể gọi là Cảnh-Sát Chính-Trị) cho viên Phó Chỉ-Huy chuyên-trách cầm nắm các vấn đề phe đảng, giáo-phái, hội đoàn, tình-hình nội-bộ chính-quyền, cũng như trực-tiếp giải-quyết với Ủy-Ban An-Ninh về các vụ bắt-bớ. giam cầm Việt-Cộng tại địa-phương.
Tuy không đối diện, đối-thoại, nhưng qua tin-tức như trên, tôi vẫn thấy cần tranh-luận với Lại. Nếu anh chịu nhúng tay vào, thì cơ-quan mà anh vẫn là người chịu trách-nhiệm chính, chắc-chắn sẽ tránh được nhiều lầm sai. Cùng lắm thì anh vẫn có thể công-khai nói lên tiếng nói của mình, như tôi ngày xưa ?
Việt-Cộng không bám sát anh, hoặc vì cơ-sở của chúng hoạt động dở, hoặc do may-mắn tự-nhiên, mà anh thoát chết ở Huế vào vụ Tết Mậu-Thân 1968. Anh trà-trộn với đồng-bào vào trốn trong nhà thờ Dòng Chúa Cứu-Thế; khi địch đến thanh lọc, anh đưa Thẻ Sinh-Viên trường Luật ra; chúng không nhận diện ra anh.
*
Chừng nhớ ngày xưa tôi rất ham thích Ngành Hình-Pháp, Nguyễn Xuân Lại nói:
– Mình không ngờ Nhuận mà lại qua Ngành Ðặc-Cảnh.
Tôi định đáp: “Mình cũng không ngờ Thêm mà lại tham-chánh”, nhưng tôi nín kịp.
Một người bạn thân khác của tôi, thi-sĩ Như Trị, tức Luật-sư Bùi Chánh Thời, cũng có quan-niệm như Lại. Nhưng Thời không tham-chính; anh hoạt động vì nhân đạo, cầm đầu chi-nhánh của một tổ-chức quốc-tế Bảo-Vệ Thiếu-Niên Nhi Ðồng tại Việt-Nam.
Mỗi người có quyền theo đuổi lý-tưởng riêng của mình. Tôi tôn-trọng quyền ấy. Nhưng vì Luật-Pháp tự nó không có Tổ-Quốc, nên chính-thể nào cũng dựa trên Luật-Pháp nói chung để làm ra Luật-Pháp của riêng mình. Trong một Quốc-Gia, vào một giai đoạn nào đó, phải chăng Luật-Pháp cũng chỉ là sản-phẩm của Chính-Trị? Người đã tham-gia vào Chính-Quyền, nhất là ở cương-vị lãnh đạo, làm sao không dự phần vào chính-sách chung?
Lại được mời làm Thứ-Trưởng một Bộ. Dù là của Bộ Tư-Pháp đi nữa, thì đó cũng là một phần của Ngành Hành-Pháp, và đó cũng là một trách-vụ chính-trị. Anh nói là anh chưa nhận, tức là đã nhận trên nguyên-tắc, chỉ còn cân-nhắc một số điều-kiện nữa mà thôi ?
Bị ám-ảnh vì bóng ma quá-khứ, tôi sợ là anh sẽ lại rơi vào hai trường-hợp khó-khăn: Lý-thuyết siêu-chính-trị có thoát khỏi bị guồng máy chính-quyền biến-thể? Và nhập-cuộc nửa vời có phải là giải-pháp an ổn cho lương-tâm?
Thà Lại chỉ là luật-sư, hoạt động ngoài-chính-quyền như Thời, đứng hẳn về phía đối-lập trong dân-nhân, hoặc chỉ là huấn-sư trong một trường Luật, hoặc công-khai đối-lập trong các chức-vụ lập-pháp và dân-cử… Ðằng này, trong cương-vị công-cử, nếu gặp nghịch-cảnh, thái độ của anh sẽ như thế nào …
Tuy nhiên, lịch-sử cũng đã sang nhiều trang; cả Nguyễn Xuân Lại lẫn tôi, cũng như mọi người, đều đã lớn hơn, khôn hơn. Trên đường tiến tới Dân-Chủ, dân-nhân Miền Nam Việt-Nam đã bước những bước khá dài. Ít nhất thì, ngày xưa, hễ thiếu kính-trọng đối với Ngô Ðình Diệm là cầm chắc cái chết trong tay; nhưng, ngày nay, mọi người đều tự do chỉ-trích, thậm-chí mạt-sát, Nguyễn Văn Thiệu mà không hề-hấn gì. Giới trí-thức phải hiểu rằng tài-năng, đạo đức, thiện-chí, và kết-quả phục-vụ là những yếu-tố cần-thiết để thẩm định giá-trị của một con người. Ðã giỏi Luật-Pháp, mà cũng rành về Chính-Trị và các Ngành khác, hoặc ngược lại, thì tài-năng mới không phiến diện; và đã tham-gia thì phải dấn thân, có thế đạo đức mới vẹn toàn.
Tôi bắt tay Nguyễn Xuân Lại thật chặt, để mừng anh, và để truyền đạt qua anh niềm tin của tôi rằng bạn mình bây giờ nhất định đã tiến rất xa …
Huế, 1973-75
GHI THÊM:
Vào khoảng cuối thiên-niên-kỷ trước, tôi gặp lại Nguyễn Xuân Lại tại một buổi sinh-hoạt của Cựu CSQG Miền Bắc California ở San Jose. Lại cho biết là vừa được Cựu Tống-Thống Nguyễn Văn Thiệu mời hợp-tác trong một chương-trình tranh-đấu cho Quốc-Gia. Tôi không biết nói gì, chỉ thành-tâm chúc anh thành-công mà thôi.
Lê Xuân Nhuận là người đầu tiên công-khai và chính-thức tố-cáo các hành-vi sai trái dưới chế-độ Ngô Đình Diệm.
Andy Van
Mời bạn ghé thăm “Hội quán Cù Lần”
Tên là Cù Lần, nhưng không cù lần chút nào.
Ngôi làng xinh như cổ tích mang tên chàng Cù Lần nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 20 km, trong một thung lũng nhỏ. Làng Cù Lần ở thôn Suối Cạn, xã Lát, huyện Lạc Dương (tỉnh Lâm Đồng), rộng hơn 20 ha. Nơi đây có một con suối chảy quanh, là nguồn nước chính cho ngôi làng người K’ho sinh sống.Đường vào làng nhìn từ camera bay. Từ trung tâm thành phố Đà Lạt tới đây khoảng 20 km. Đây là một phần của con đường Đông Trường Sơn nối liền TP Đà Lạt và tỉnh Đak Lak.


















Andy Van
Trước đây Cao Kỳ Nhân làm việc tại 1 công ty kiến trúc của nước ngoài, nhưng kể từ lúc cầm máy ảnh trên tay anh đã nhận ra đây mới là đam mê thực sự.
Andy Van
Được đi đây đi đó, chụp lại những cảnh đẹp của quê hương đất nước, tìm hiểu văn hóa của từng vùng miền đó là những trải nghiệm tuyệt vời. Kể từ đó, chàng trai trẻ đã quyết định chọn nhiếp ảnh là con đường mà mình tiếp tục sẽ đi.
Việt Nam có nhiều cảnh đẹp và văn hóa vô cùng phong phú. Nơi đâu cũng có vẻ đẹp rất riêng, rất đặc sắc. Là người đam mê nhiếp ảnh nên khi chụp được một tác phẩm đẹp và được mọi người ghi nhận là một niềm hạnh phúc vô cùng đối với Nhân.
Để chụp được một bức ảnh đẹp là không dễ dàng gì. Phải thức khuya, dậy sớm, lọ mọ cả đêm hôm để đi chụp ảnh. Đôi khi để canh chờ khoảnh khắc đẹp Nhân phải nằm vùng nơi đó trong 1 thời gian dài mới có thể chụp được 1 bức ảnh ưng ý.
Chia sẻ với phóng viên, Kỳ Nhân nói: “Đi chụp ảnh trước là để trải nghiệm, để ngắm cảnh đẹp, tìm hiểu văn hóa của từng vùng miền. Và sau đó là muốn khoe với mọi người rằng: Quê hương tôi đẹp tuyệt vời!”
Chùm ảnh Việt Nam nhìn từ trên cao là những bức ảnh tinh túy nhất được Cao Kỳ Nhân chọn lọc ra trong hàng trăm bức ảnh được chụp trải dài từ Bắc vào Nam trong gần 3 năm qua.
Mùa lúa chín ở Phong Nậm, Cao Bằng. Nơi đây có địa hình với núi non trùng điệp, có thung lũng vàng ươm khi mùa lúa chín và con sông Quây Sơn xanh biếc chảy quanh ôm các ngọn núi.
Tại Y Tý, Lào Cai khi mùa nước đổ về các ruộng bậc thang cũng là lúc những người nông dân bắt đầu vào mùa lúa mới.
Khoảnh khắc sương bao phủ tuyệt đẹp trên những đồi chè Mộc Châu.
Tam Cốc, Ninh Bình luôn rực rỡ vào mùa lúa chín. Những ruộng lúa chín vàng trải dài theo con sông Ngô Đồng .
Người nông dân đang chăn trâu tại 1 hồ nước ở Huế, tạo nên 1 vẻ đẹp như 1 bức tranh quê đầy dung dị.
Mảng màu tương phản khi ngắm nhìn Làng chài Dốc Lết, Khánh Hòa từ trên cao
Sóng sương kỳ lạ và trải dài khắp núi đồi Gia Lai.
Rừng dừa nước nằm dưới cầu Cửa Đại, thuộc sông Thu Bồn, Hội An.
Mỗi năm từ tháng 4 đến tháng 8 là mùa biển đẹp nhất của Phú Yên, và cũng là mùa đánh bắt cá cơm nơi đây. Những chiếc lưới khổng lồ tạo ra nhiều hình thù đẹp mắt khi chụp ảnh từ trên cao.
Cây cô đơn nằm nổi bật trên 1 ruộng đất đỏ vừa mới được cày xới tại huyện Bác Ái, Ninh Thuận
Sương phủ 1 cách huyền ảo trên những ngọn núi đồi hùng vĩ ở B’lao, Bảo Lộc, Lâm Đồng.
Ruộng muối Long Điền, Bà Rịa – Vũng Tàu có thể nói là 1 trong những ruộng muối đẹp nhất Việt Nam.
Mây mờ che phủ tòa nhà cao nhất Việt Nam – Land Mark 81, thành phố Sài Gòn
Vương quốc gạch gốm Mang Thít của Vĩnh Long có thể nói là 1 di sản văn hóa độc đáo của Vĩnh Long nói riêng và Việt Nam nói chung.
Cánh đồng ngập vàng lúa chín tại Tà Pạ, An Giang luôn đẹp rực rỡ vào mỗi mùa lúa chín.
Lam Giang; ảnh: Cao Kỳ Nhân