KỶ NIỆM VỚI LƯU QUANG VŨ

KỶ NIỆM VỚI LƯU QUANG VŨ

BÙI CHÍ VINH

Một trong những kẻ sĩ ngoài Bắc đầu tiên mà tôi tiếp xúc sau 1975 là Lưu Trọng Văn, con trai thi sĩ tiền chiến Lưu Trọng Lư. Ngay từ hồi mới quen, Lưu Trọng Văn đề nghị tôi nên viết hồi ức về những gì mà chính tôi nếm trải trong chiến tranh. Tôi trích từ tự truyện HAI HÀNG DỌC, TRƯỚC THẲNG vừa hoàn thành trong tháng 5 – 1975 ra một chương gần cuối đặt tựa là “LOÀI CHIM ĐI BIỂN” và gửi Lưu Trọng Văn đăng báo Văn Nghệ Trung Ương ngoài Bắc. Các bạn nên biết bốn chữ LOÀI CHIM ĐI BIỂN thoạt nghe có vẻ cực kỳ thơ mộng, nhưng thực chất đó là tên gọi triển khai một cách hài hước của bốn từ “LAO CÔNG ĐÀO BINH” gọi tắt là “LCĐB”, là tên gọi chung những sĩ quan binh lính Việt Nam Cộng Hòa đào ngũ, bỏ ngũ, phản chiến, bị giam ở quân lao, cuối cùng gom lại tập trung đưa đi làm lao công chiến trường như một thứ “bia đỡ đạn” . LCĐB còn được gọi nôm na là “Lũ Chó Đái Bậy” hoặc “Lính Chiến Đồng Bằng”… Ngay khi vừa xuất hiện trên mặt báo, truyện ngắn LOÀI CHIM ĐI BIỂN đã gây tiếng vang và được dư luận ngoài đó nhận xét như một thứ bút pháp lạ.

Image result for lưu quang vũ
Lưu Quang Vũ

Qua Lưu Trọng Văn, tôi có dịp làm quen với cặp vợ chồng nhà thơ nổi tiếng ngoài đó là Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh. Tôi có một kỷ niệm riêng đặc biệt với Lưu Quang Vũ một đêm ở Hồ Con Rùa mà không tiện kể ra đây. Chỉ biết lúc đó anh đã kể với tôi về thời gian tuyệt vọng không lối thoát khi B52 dội bom miền Bắc, thậm chí anh đã có ý định tự sát dưới mưa bom (nhưng bất thành) khi tổ chức và đồng nghiệp tỏ ra nghi ngờ lòng yêu nước của mình. Cuối năm 1977 Lưu Quang Vũ là một trong vài người ngăn cản tôi đi bộ đội khi tôi cho anh xem những lá đơn tình nguyện ra biên giới chiến đấu. Bằng kinh nghiệm cá nhân của một người cầm súng phía Bắc, có lẽ anh hiểu rằng tôi không thích hợp với trò chơi phe nhóm của chiến tranh. Kỷ niệm văn nghệ của chúng tôi được ghi nhận bằng tuyển tập thơ NHÌN NHAU VÀ NÓI do tôi và anh Tôn Thất Mạnh Tường phụ trách tập hợp, đặt tên và biên tập. Trong tuyển tập thơ NHÌN NHAU VÀ NÓI ra đời cuối năm 1975 mang ý nghĩa thống nhất thơ ba miền do Thành Đoàn xuất bản này, tôi đã chọn một bài thơ của Lưu Quang Vũ dù lúc đó chưa quen biết anh. Bài thơ nói lên tâm trạng trống rỗng của người lính sau khi đất nước thống nhất, bài thơ độc đáo đối với độc giả phương Nam bởi không nằm trong dòng chảy của thơ minh họa và thơ đồng phục. Bài thơ ăm ắp tính người. Đáng tiếc đến giờ này kho sách của tôi đã bị mất tuyển tập đầu tiên ấy.

Kỷ niệm riêng với tôi và Lưu Quang Vũ một đêm ở Hồ Con Rùa thực ra khá lãng mạn nếu không có bài thơ RAU MUỐNG của tôi chen vào. Đêm đó khi Lưu Quang Vũ phác thảo về những vở kịch của anh và yêu cầu tôi đọc thơ thì tôi đã chọn bài mang tựa nêu trên để trắc nghiệm sự chịu đựng của anh. Còn phải hỏi, tôi là dân gốc Nam Định nhưng sinh ra ở Sài Gòn, ở xứ sở của những người trọng nghĩa khinh tài, ăn ngay nói thẳng, dám chơi dám chịu nên không thể giả dối với ai hoặc lắt léo theo kiểu miền Bắc. Tôi đã đọc bài thơ làm anh choáng váng:

RAU MUỐNG

Các bạn đã sống một thời hiếm hoi cá thịt
Các bạn chiêm bao nhà ngói cây mít
Và ước mơ một cái ao rau muống trong vườn
Các bạn hết còn tin trái đất có thiên đường
Thiên đường trước mặt là cái hàng rào có khóa

Các bạn rủ nhau vào Nam và trở thành khá giả
Chiêm bao và ước mơ có dịp được nhân lên
Các bạn được nhân lên ngay cả niềm tin
Năng nhặt chặt bị bằng túi tiền nửa nước
Các bạn viết kịch thành công mà không tự mình diễn được
Bởi những nhân vật lớn vẫn còn nguyên trong những hàng rào
Các bạn định dùng văn chương làm chìa khóa à ? Còn lâu !

Dù có cố gắng thủ vai cho đến lúc bạc đầu
Các bạn cũng không thoát khỏi những cọng dây rau muống…

Coi, phải nói rằng tôi khâm phục sức chịu đựng của Vũ. Sau một phút lặng người, anh đã cười ha hả quàng vai tôi và nói như khóc: “Tôi muốn làm thơ như ông nhưng không làm được, và có làm được cũng không đạt được”.
Năm 1994, ra Bắc tôi không còn cơ hội gặp Lưu Quang Vũ. Đơn giản là vì anh đã chết một cách bất đắc kỳ tử. Bất đắc kỳ tử đến độ cái chết của anh tới bây giờ vẫn còn là một dấu hỏi với quá nhiều lời giải đáp. Tôi chỉ biết tưởng niệm hai vở kịch NHÂN DANH CÔNG LÝ và TÔI VÀ CHÚNG TA của Võ Khắc Nghiêm – Doãn Hoàng Giang và của anh như sau:
CÔNG LÝ là một KÝ LÔNG
Lúc cân, chẳng biết phải NHÂN DANH gì ?

Mới đầu TÔI VÀ CHÚNG TA
Đến khi màn khép TAO VÀ CHÚNG BAY !

BCV
(Trích hồi ký GIAI THOẠI CỦA THI SĨ)




‘The Interpreter’ – nỗ lực tạo đối thoại của một nhóm trẻ gốc Việt

‘The Interpreter’ – nỗ lực tạo đối thoại của một nhóm trẻ gốc Việt

Nhã Duy-Gửi đến BBC từ Dallas, Texas

Cookie Dương (trái) và Jady Chan, đồng sáng lập viên của trang của nhóm The Interpreter
Cookie Dương (trái) và Jady Chan, đồng sáng lập viên của trang của nhóm The Interpreter

Tin về một giới trẻ thuộc thế hệ Z, trong đó có người yêu nhạc K-Pop, dùng mạng xã hội Tik-Tok ghi tên nhưng không tham dự cuộc vận động của tổng thống Donald Trump tại Tulsa là đề tài được bàn luận khá nhiều kể từ đầu tuần qua.

Ủng hộ hay chỉ trích hành động này, thì có một sự thật chúng ta cần nhìn nhận là có một giới trẻ đang bày tỏ tiếng nói của mình và dự phần vào cuộc tranh luận xã hội theo phương cách và những phương tiện đang bắt đầu được chú ý.

Giới trẻ thế hệ Z gốc Việt tại Hoa Kỳ cũng có một số người quan tâm đến chính trường. Những em này không chỉ bày tỏ thái độ mà còn có hành động cụ thể, như nhóm The Interpreter – Người Thông Dịch, của những em gốc Việt tuổi ngoài đôi mươi, hoặc sinh ra hay trưởng thành tại Mỹ.

Sinh hoạt của nhóm có thể được dùng như một điển cứu (case study) để chúng ta tìm hiểu một trong những khuynh hướng của giới trẻ gốc Việt trong bối cảnh chính trị hiện nay.

Trang tin tức của nhóm The Interpreter do Cookie Dương, tên tiếng Việt là Dương Ca Dao và Jady Chan, một sinh viên gốc Việt-Hoa đồng sáng lập, vừa được trình làng đầu tháng Sáu. Cookie Dương là một tân cử nhân 22 tuổi vừa tốt nghiệp chuyên ngành Đối Ngoại tại đại học University of Southern California (USC) trong niên học 2020 vừa qua và Jady Chan là sinh viên, đang theo học ngành Thuật Toán Thần Kinh Học cũng tại USC.

Với sự giúp đỡ và tiếp tay của một số bạn đồng ý hướng như Evelyn Leong, Ashley Dương, Nhân Nguyễn, Terry Nguyễn, Cookie Dương trong vai trò biên tập, dịch thuật và Jady Chan chịu trách nhiệm thiết kế trang mạng, đã lập ra trang The Interpreter, với mục đích mang các kiến thức, thông tin thời sự đến thế hệ gốc Việt lớn tuổi và bị trở ngại ngôn ngữ, trong việc tiếp cận thông tin dòng chính, cũng như nhằm chống lại các tin tức giả mạo, ngụy tạo đang lan tràn trong cộng đồng người Việt hiện nay.

Qua phương châm “Chuyển dịch kiến thức, tăng sức mạnh cộng đồng” (Translating Knowledge, Empowering Community), nhóm trẻ có khả năng sử dụng lưu loát song ngữ này, điều khá thú vị và hiếm ở lứa tuổi các em, để thực hiện những mẩu phim Tik-Tok ngắn, chuyển dịch tin tức, bài viết từ các hãng thông tấn uy tín thế giới sang tiếng Việt một cách khá chính xác về cách dùng chữ, để cung cấp cho cộng đồng những thông tin xác thực.

Evelyn Leong (trái) và Nhân Nguyễn, hai trong số các thành viên chủ chốt của The Interpreter
Evelyn Leong (trái) và Nhân Nguyễn, hai trong số các thành viên chủ chốt của The Interpreter

Quy tụ khoảng gần 20 em đã tốt nghiệp các đại học Mỹ hay là những chuyên gia trẻ, có cả thành viên đang làm cho tờ báo VOX, nhóm thiện nguyện trẻ gốc Việt này tìm đến nhau và khởi đầu từ những bức bối cá nhân trong gia đình. Cookie Dương bảo rằng cha mẹ, người thân lớn tuổi trong gia đình các em đã đọc những thông tin và có cái nhìn khá thiên lệch về một số vấn đề xã hội chính trị đang xảy ra hiện nay, dẫn đến tình trạng tranh cãi, xung đột trong gia đình giữa cha mẹ và con cái.

Từ những kinh nghiệm cá nhân mà nhiều em gốc Việt sinh ra hay lớn lên tại Mỹ đang gặp phải trong gia đình, The Interpreter ra đời không chỉ để nối lại khoảng cách với cha mẹ, tụ họp giới trẻ gốc Việt mà còn mang cả với ý hướng tích cực, nhằm giúp đỡ và phát triển cộng đồng bằng những tri thức và trải nghiệm mà các em đã được thụ hưởng từ một nền giáo dục khai phóng, luôn cổ súy những giá trị dân chủ và bác ái của xã hội.

Chỉ sau vài tuần hoạt động, Facebook của The Interpreter đã có hơn 800 người thích và theo dõi. Cookie Dương cho biết là hiện có khoảng 500-700 lượt người đọc tin tức mỗi ngày. Hầu hết những ủng hộ và chia sẻ khá tích cực, dù không thiếu những lời chỉ trích, bài bác.

Vào xem, bên cạnh các vấn đề thời cuộc như dịch bịnh, chủng tộc, chính trường…, trang The Interpreter còn có một số bài dịch khá thú vị về cách để đối thoại với cha mẹ và người thân gia đình trước các vấn đề gây tranh cãi. Cũng có không ít những người trẻ đồng lứa của các em đang có chung xung đột với gia đình, cũng đã vào để chia sẻ vấn đề, suy nghĩ và chuyển tin tức cho người thân.

Nhìn nhận về dự án, chủ trương và cách thức hoạt động của nhóm The Interpreter có thể khác nhau theo nhãn quan chính trị xã hội của một số người, nhưng phải ghi nhận rằng, đây là một tín hiệu tích cực và đầy hy vọng khi nhìn vào một giới trẻ gốc Việt biết dấn thân, đang nhắm đến ích lợi cộng đồng và tìm kiếm sự thông hiểu giữa hai thế hệ qua việc chia sẻ thông tin.

Khoảng cách thế hệ do những trải nghiệm, quá khứ cho đến sự giáo dục, nhận thức khác biệt luôn hiện diện trong mỗi gia đình và càng cách biệt hơn trong các gia đình di dân. Là một thế hệ trẻ đã được thụ hưởng nền giáo dục khai phóng để trở những con người trưởng thành độc lập trong suy nghĩ, ý thức trong hành động và có tri thức trong vấn đề, việc đối thoại trên tinh thần tôn trọng cùng thái độ lắng nghe, thông hiểu với các em không chỉ là một sự cần thiết mà còn là lợi ích lớn lao trong mỗi gia đình. Cho chính các em và cả những bậc cha mẹ.

Dù theo khuynh hướng nào, chắc hẳn sinh hoạt của nhóm The Interpreter cũng góp phần vào sự suy nghĩ và đánh giá của cộng đồng trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đang đến gần, khi cảm xúc bênh chống các ứng viên ngày càng mạnh mẽ, đến độ trở nên kích động. Những chiến lược gia và ban tranh cử của các bên xem ra đang tìm cách tốt nhất để tìm sự ủng hộ từ mỗi nhóm cử tri khác nhau.

Nói về bầu cử thì không thể không nói đến tầm quan trọng của lá phiếu của cử tri trẻ tuổi, đặc biệt với những thiếu niên vừa đúng 18 tuổi để bỏ phiếu lần đầu trong năm nay, ước tính sẽ vào khoảng bốn triệu em theo như số liệu từ Đại Học Florida.

Vẫn theo nghiên cứu trên, nhóm này có xu hướng nghiêng về đảng Dân Chủ, với 61.6 % bỏ phiếu cho TT Barack Obama vào năm 2008, chỉ thua kỳ bầu cử năm 1960 cho TT Kennedy là 63.8 %.

Tuy nhiều số liệu và quan sát chung cho thấy xu hướng và thái độ chính trị của người gốc Việt tại Hoa Kỳ nghiêng về đảng Cộng Hòa, vẫn chưa có những thăm dò và con số chính thức riêng về giới trẻ gốc Việt. Ắt cũng không khác mấy nếu dựa theo thăm dò từ tổ chức Quỹ Pháp Lý và Giáo Dục người Mỹ gốc Á (AALDEF), cho thấy nhóm cử tri trẻ gốc Á 18-29 tuổi hầu như đã dồn phiếu cho các ứng viên đảng Dân Chủ với tỉ lệ 89%.

Sẽ không phải các em trao quyền cho cộng đồng qua việc tạo đối thoại như nhóm The Interpreter nói trên, mà chính cộng đồng cùng những bậc cha mẹ gốc Việt cần đặt niềm tin và trao quyền cho các em. Để các em sẽ thay mặt thế hệ đi trước, dự phần và đáp trả cho xã hội những gì mà chúng ta đã được thụ hưởng đầy đặc ân, trong tư cách là những công dân có trách nhiệm, đồng thời là những di dân xứng đáng của những quốc gia đang sinh sống.




Dấu đời qua nhanh

Dấu đời qua nhanh

Nghĩ đời sao vội qua nhanh
Tàn phai còn lại mong manh phận người
Trăm năm một cuộc rong chơi
Tình yêu nơi chốn tuyệt vời thâm sâu.

Mê tình là một cơn đau
Đôi lần để nhớ, mai sau để buồn
Dòng xuôi chảy đến cội nguồn
Nước dâng dưới bến điên cuồng gió mưa.

Mây trời nhớ núi khi xưa
Mưa bay lất phất gió lùa sương bay
Thu đông ẩn hiện chân mây
Sương rơi rụng ngọc, chứa đầy nhớ thương.

Môi em nở nụ đào hương
Lời em nhỏ nhẹ vấn vương một đời
Ta về nghe nặng tình rơi
Một đời trôi nổi bên trời đắm say.

Lê Tuấn

image.png

Tai nghe tiếng đời

Tiếng lạ xôn xao vạn tiếng gào
Lòng ta tiếng nấc, chợt ngẹn ngào
Để buồn vương vấn mùa trăn trở
Cõi đời va đập tiếng xôn xao.

Cơn đồng thiếp vẫn còn điên đảo
Vạn nỗi buồn dồn dập bên nhau
Tưởng chừng như, đất trời lay động
Xô đời, dịch chuyển những cơn đau.

Người bạn đơi ơi! Thức hay ngủ
Xin cùng ta cất tiếng hát ca
Nhịp đều tiếng vỗ, chuyền thêm lửa
Bạn tình ơi, đừng hắt hủi ta.

Lê Tuấn

Image may contain: Tuan Le



TÔI CÀI ĐIỆP-VIÊN VÀO NỘI-BỘ

BA-LAN & ĐÔNG ÂU

        ỦY-HỘI QUỐC-TẾ

        Hiệp-Định Paris

        NGÀY 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp-Định Paris chấm dứt chiến-tranh và tái-lập hòa-bình tại Việt-Nam được ký-kết và có hiệu-lực kể từ hôm sau.

        Phần đông đồng-bào Miền Nam đã nghe, đã đọc và đã phát-biểu quá nhiều những lời chỉ-trích Hiệp-Định Paris, và chính những người thân-Chính-Quyền nhất cũng phải đồng-ý phần lớn với những phát-biểu bất-mãn về các điều-khoản trong đó thua-thiệt cho Việt-Nam Cộng-Hòa.

        Tám tháng sau đó, vào ngày 26 tháng 9, tôi rời Vùng II ra Vùng I đảm-trách Giám-Đốc Đặc-Cảnh (An-Ninh và Phản-Gián) Miền Trung.

        VỚI tôi, về mặt nổi, những điều liên-quan thiết-thực đến cách xử-trí của nhân-viên công-lực, những khi đối-diện với các thành-viên Cộng-Sản (cộng-sản Ba Lan và Hung Gia Lợi trong Ủy Hội Quốc Tế, và cộng sản Bắc Việt Xâm-Lược trong Ban Liên Họp Quân Sự 4 và 2 Bên) ở nơi công-cộng, là điều cần đề-cập nhất, thì không nghe Cấp Trên chỉ thị gì, mả lại còn ra lệnh cấm tiếp-xúc với họ nữa, nên tôi đã tự ý hướng-dẫn cho thuộc-viên từ trong Vùng II rồi, nay ra Vùng I tôi cũng làm lại việc đó cho các cấp nhân viên ở ngoài này.

        NHƯNG. quan-trọng hơn hết, về mặt chìm, tôi đã có cách cụ-thể vớt-vát thiệt-thòi cho phe Quốc-Gia đối với Hiệp-Định Paris:

        Từ trong Vùng II, tôi đã quyết-định tấn-công tình-báo ngay vào chính các Phái-Đoàn Bắc-Việt Xâm-Lược và Cộng-Tặc Miền Nam (ít nhất thì cũng đã đạt được một thành công ban đầu tại Phan Thiết); và nay thì tại Vùng I, gặp được hoàn-cảnh cả đối-nội lẫn đối-ngoại thuận-lợi hơn, tôi phải đích-thân ra tay đối với cả Ba-Lan lẫn Hung-Gia-Lợi, bắt đầu từ các Phái-Đoàn liên-hệ tôi gặp hằng ngày trong thành-phố Đà Nẵng này.

Ủy-Hội Quốc-Tế tại Khu-Vực II

        THEO Hiệp-Định Paris thì lĩnh-thổ Việt-Nam Cộng-Hòa được chia ra làm nhiều Khu-Vực; mỗi Khu-Vực được đặt dưới quyền kiểm+giám của một Phái-Đoàn đại-diện Ủy-Hội Quốc-Tế, tức Ủy-Hội Kiểm-Soát và Giám-Sát Quốc-Tế (ICCS=International Commisssion of Control and Supervision).  Ủy-Hội Quốc-Tế gồm có 4 nước: Gia-Nã-Đại (Canada) ― về sau Ba-Tư (Iran) thay-thế ―, Nam Dương (Indonesia), Ba-Lan (Poland), và Hung-Gia-Lợi (Hungary).

        Đại Diện các phe lâm-chiến được gọi là Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-Bên (Hoa-Kỳ, Việt-Nam Cộng-Hòa, Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa tức Cộng-Sản Bắc-Việt, và Cộng-Hòa Miền Nam Việt-Nam tục gọi “Việt-Cộng”) ― về sau chỉ còn 2-Bên (VNCH và CHMNVN).

        Riêng (Quân-) Khu I của VNCH được chia thành  2 Khu-Vực của Ủy-Hội Quốc-Tế:  Khu-Vực I đặt trụ-sở tại Huế, và Khu-Vực II đặt trụ-sở tại Đà-Nẵng.

        Đà-Nẵng là thủ-phủ của Miền Trung, nơi có Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn I & Quân-Khu I, Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực & Ngành Đặc-Cảnh Vùng I, các cơ-quan Chính-Quyền cấp Vùng, các Tòa Tổng-Lĩnh-Sự ngoại-quốc cấp Vùng, v.v…

        Trong lúc Cảnh-Sát Quốc-Gia toàn-quốc đều phải tuân theo chỉ-thị của thiếu-tướng Tư-Lệnh Nguyễn Khắc Bình ― không được tiếp-xúc với Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi ― thì tôi đã xin, và đã được phép, cho riêng tôi được tiếp-xúc với các thành-viên Cộng-Sản nước ngoài ấy.

(Đối với Cộng-sản Việt-Nam thì Ngành Đặc-Cảnh, từ cấp lĩnh đạo xuống đến các Điệp-Trưởng, Trưởng Lưới, Trưởng Mũi và Trưởng Mối Biệt-Tác, đã tiếp-xúc từ lâu rồi, ngay từ trước khi bọn họ bị giết, bị bắt, hoặc hưởng-ứng chính-sách Chiêu-Hồi, mục-đích là để tuyển dụng họ làm nội-tuyến cho ta).

Hai Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi

        ỦY-HỘI Quốc-Tế được một Hãng Thầu Hoa-Kỳ cung-cấp một tòa nhà riêng, để làm trụ-sở chính-thức; nơi đó hai Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi làm việc chung với các Phái Đoàn Ba-Tư và Nam Dương.

        Đó cũng là nơi Ủy-Hội Quốc-Tế chính-thức hội-họp với các Phái Đoàn Hoa-Kỳ và Việt-Nam Cộng-Hòa.

        Hai Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi được cấp một chỗ ở riêng, để phe Cộng-Sản ở chung với nhau:  họ chiếm toàn-bộ khách-sạn “Hồng Kông”.

        Một hãng-thầu Hoa-Kỳ cung-cấp cho họ mọi thứ cần dùng trong đời sống và sinh-hoạt hằng ngày.

        TẠI khách-sạn “Hồng Kông” này, hai Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi có đặt những phòng-giấy bỏ túi cho Trưởng Phái Đoàn, Sĩ-Quan Điều-Hành, Sĩ-Quan Truyền-Tin/Mật-Mã, và Thông Dịch-Viên của mình.

        Dưới quyền Phái Đoàn Khu-Vực II, tại Đà-Nẵng, có 3 Tổ Ủy-Hội Quốc-Tế:  tại Hội-An, Chu-Lai, và Quảng-Ngãi.

        Về phương-tiện di-chuyển của UHQT thì:  về đường bộ là xe-hơi sơn màu trắng, có gắn cờ ICCS (mà tài-xế lúc đầu là người Mỹ, về sau là nguời Việt-Nam); và về đường hàng-không là các loại phi-cơ của Hãng “Air America” có sơn ba đường gạch ngang màu lục phía sau đuôi (và phi-công là người Hoa-Kỳ).

        Về phía Hãng Thầu thì:  tại khách-sạn “Hồng Kông” có một bộ-phận chấp-hành, gồm có một thư-ký khách-sạn là đại diện chính; quản-gia; và các công-nhân như bồi, bếp, tài-xế, thợ máy; v.v… đều là người Việt-Nam.

Kế-hoạch hoạt-động của tôi

        VỀ phía Chính-Quyền Việt-Nam:  Trung-Ương không hề ra lệnh; và hẳn sẽ không chấp-thuận cho tôi, cũng như cho bất-cứ ai, hướng mũi hoạt động ― gián điệp, tức là tình-báo chủ động; chứ không phải phản-tình-báo bị động ― của mình vào các mục-tiêu Cộng-Sản nước ngoài.

        Việc đó nằm ngoài phần-vụ và trách-nhiệm của Ngành Đặc-Cảnh VNCH.

        Nhưng tôi đã thuyết-phục và được phía Người Bạn Đồng-Minh (CIA) đồng-ý và trợ-giúp tôi.

        Các thành-viên Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi, nhất là các cấp chỉ-huy và chuyên-viên, không phải chỉ là sĩ-quan bộ đội bình-thường, mà là cán-bộ gián điệp quan-trọng của 2 nước này; chính CIA cũng đã xác-nhận như thế với tôi .  Bọn họ đến đây để tiếp sức cộng-sản Việt-Nam chống phá chúng ta, tại sao chúng ta không dùng gậy ông để đập lưng ông, mượn tay bọn họ để gây biến-loạn ngay trong nội-bộ guồng máy độc-đảng của chính bọn họ ngay bên trời Âu .

        Trong ngành tình-báo, kẻ thù có thể thuộc nhiều dân-tộc khác nhau, hoạt-vực có thể gồm nhiều quốc-gia khác nhau; huống gì CIA cũng đang cần tung thêm lưới vào trong hàng-ngũ các nước thuộc Khối Liên-Xô …

        Tôi mượn của Tòa Tổng-Lĩnh-Sự Hoa-Kỳ một số từ-điển bách-khoa cũng như tài-liệu thời-sự để tìm hiểu thêm về hai nước Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi.

        NÓI chung, tuy ở trong khối Liên Bang Xô Viết, đại đa số dân-nhân cả Ba-Lan lẫn Hung-Gia-Lợi đều đang vùng-vẫy để thoát khỏi quyền thống-trị của Nga-Xô .

        Tôi gợi ý Hoa-Kỳ lợi dụng tối-đa tình-hình ở hai nước ấy, đặc-biệt là Ba-Lan.  Ở Ba-Lan thì công-nhân là lực-lượng tiền-phong hùng-hậu, và các tầng-lớp dân-nhân thì chịu ảnh-hưởng sâu-rộng của Vatican.

        TRONG lúc chờ-đợi, tôi đứng ra móc nối các thành-viên cộng-sản trong Ủy-Hội Quốc-Tế hiện có ở đây .

        Tôi lý-giải rằng:  nếu tôi mà làm được việc, thì chính Người Bạn Đồng-Minh hưởng công; viên-chức liên-hệ sẽ được chuyển đến quốc-gia hữu-quan để phát-triển thêm mạng lưới của mình, thành tích gia tăng; làm việc bên đó, không có chiến-tranh, hẳn là an-toàn, an-nhàn hơn ở Việt-Nam!

        Thế là tôi được Người Bạn Đồng-Minh tán-đồng và yểm-trợ mọi mặt tối đa .

Một cơ-hội tiếp-cận tự-nhiên

        MỘT hôm, một viên-chức cao-cấp thuộc Tòa Tổng-Lĩnh-S Hoa-Kỳ tại Vùng I tổ-chức một buổi dạ-tiệc tại tư-gia ― thật ra là một bữa ăn đặc-biệt.

        Chủ nhà không nấu dọn gì, mà dùng sân trước và vườn sau làm một cảnh chợ vỉa hè.  Họ đặt mua trọn chuyến hàng: nơi này là xe phở bò; nơi kia là gánh bánh lá & chả tôm, v.v…; hầu hết các món hàng rong quen-thuộc của Đà-Nẵng đều được quy-tụ về đây.  

        Thực-khách đến ăn món nào thì đều theo đúng cách-thế thông-thường đối với món đó, chỉ khác là khỏi trả tiền.

        Trong khung-cảnh đó, tôi đã tiếp-xúc lần đầu với các viên-chức lãnh đạo 4 Phái Đoàn Ủy-Hội Quốc-Tế, và đặc-biệt là 2 Trưởng Phái Đoàn Cộng-Sản Ba-Lan và Hung Gia Lợi .  Cấp-tốc nghiên-cứu, lượng-giá đối-tượng, tôi đã dễ dàng tìm ra phương-thức đối đầu với các mục-tiêu.

Toán “Thạch-Mã”

        BỘ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Quốc-Gia có chỉ-thị cho các Địa-Phương nơi nào có Ủy-Hội Quốc-Tế cấp Khu-Vực thì tổ-chức một Toán Hộ-Tống bảo-vệ an-ninh cho các Phái Đoàn.  Các Phái Đoàn Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi tại Khu-Vực II ở Đà-Nẵng không nhận việc hộ-tống ấy, vì họ cảm thấy là bị theo dõi; họ muốn tự-do đi lại, hành-động theo ý muốn riêng; nên các Phái Đoàn Ba-Tư và Nam Dương cũng đồng-ý theo .

        Do đó, tôi nhận nhiệm-vụ theo dõi các Phái Đoàn Ủy-Hội Quốc-Tế từ phía Cảnh-Sát Sắc-Phục sở-tại chuyển qua cho Ngành Đặc-Cảnh cấp Vùng.

        Tại đây có một bộ-phận đặc-trách mang bí danh “Toán Thạch-Mã”, trong đó có cả một số nhân-viên của Sở I An-Ninh Quân Đội biệt-phái đến; tất cả đều mặc dân-phục để hoạt-động chìm.

        TÔI thuê cho Toán một trụ-sở riêng.

        Vì không tiện bề sử-dụng xe Jeep sơn màu xanh+trắng của phía Sắc-Phục nên tôi đã xin Người Bạn Đồng-Minh một chiếc xe Jeep dân-sự để cho Toán dùng.  Xe này là của Tòa Tổng-Lĩnh-Sự Hoa-Kỳ nên mang bảng số NT (nhập tạm) dành riêng cho các ngoại-kiều .  Tôi không tiện xin cơ-quan Lộ-Vận cấp cho một số trước-bạ bình-thường, vì xe không thuộc sở-hữu chung của Cảnh-Lực hay riêng của cá-nhân nào .

        Có nhiều chỉ dấu, mà chiếc xe ấy là rõ-ràng nhất, khiến có một số đồng-bào gọi người sử-dụng xe ấy là CIA .

        Tôi chỉ nhắc-nhở anh+em trong Toán về mặt an-ninh bản-thân, chứ không giải-tán hoặc thay đổi ngụy-thức, mặc dù thật ra kết-quả giám-thị của họ chỉ thuộc lĩnh-vực thám-báo ― chưa phải điệp-báo như tôi mong muốn ― mà ở Trung-Ương thì do một Văn-Phòng khác chứ không phải Ngành chuyên-môn của tôi chủ đạo, mà Văn-Phòng ấy lại chỉ chủ-trương hoạt-động như thế mà thôi.

    Có lần Ðại-Tá Lê Quang Nhơn, Chánh Sở I ANQĐ, ngỏ ý muốn rút nhân-viên của Sở mình về, vì họ thiếu người ― vả lại trong đó có cả một thiếu-tá ― nhưng tôi không thuận.  Tôi muốn có sự hiện-diện của Toán ấy để đánh lạc hướng chú ý của đối-phương, nhằm bảo-mật các đường dây điệp-báo riêng của tôi.

Biệt-Đội “Thiên Nga”

        BỘ Tư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương, từ thời Trung-Tá Nguyễn Mâu, có thành-lập một đơn-vị nữ-tình-báo, từ cấp Trung-Ương xuống đến các Vùng, Tỉnh và Thị, mệnh danh “Biệt-Đội Thiên-Nga”.  Tuy trong một số trường-hợp Biệt-Đội này đã lập được thành-tích khả-quan, nhưng nhìn chung thì kết-quả hoạt-động vẫn chưa tương-xứng với tổ-chức quy-mô nói trên.  Nhiều nữ-nhân-viên được dùng vào các công-việc văn-phòng thay vì ra ngoài dò tìm và gài người xâm-nhập vào các chi-bộ cộng-sản nằm vùng hoặc từ mật-khu về móc nối tại nội-thành.

Thế nhưng Thiên-Nga dù sao thì cũng đã được đồng-bào ― và cả Việt-Cộng ― nghe tiếng, biết tên.

        GẶP lúc Bộ Ch?Huy Cảnh-Lực Vùng I tuyển-mộ một đợt nữ-nhân-viên, tôi chỉ-thị cho Sở Yểm-Trợ ― mà cốt là để bắn tiếng ra ngoài ― hãy chọn cho tôi mươi cô trẻ nhất, đẹp nhất, độc-thân, để tôi huấn-luyện tình-báo cho họ, trong đó có môn tiếng Anh và môn khiêu-vũ, kể cả kỹ-thuật chinh-phục đàn-ông.

        Trong lúc đó, Bộ Tư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương điện hỏi ý-kiến các Vùng về việc giải-tán Biệt-Đội “Thiên- Nga”.

        Trong Vùng II, tôi đã nhân danh Vùng ấy mà trả lời là xin vẫn giữ y nguyên; nay tại Vùng I, có nhiều triển-vọng sử dụng mỹ-nhân-kế hơn, tôi lại có dịp góp ý mạnh hơn về việc duy-trì cái tổ-chức ấy … mà tôi không hề dùng đến trong các điệp-vụ của tôi.

        THIÊN-NGA ― của tôi ― là bất-cứ người-đẹp nào hội đủ điều-kiện cho tôi chấm chọn, từ học-đường, công/tư-sở, thương-xá, trà-thất, vũ-trường, cho đến nông-thôn, v.v…  vốn sẵn có mặt khắp nơi, và tự họ đã sẵn có môi-trường sinh-hoạt thích-hợp với công-tác hơn là các nữ viên-chức Ngành An-Ninh.  Đối với các cô gái phòng trà, từ ca-sĩ, má-xán, vũ-nữ, đến bồi bàn ― là giới “nhảy dù” tự do tại Thành Đà-Nẵng ― tôi đã bố-trí cho một số Trưởng Lưới, Trưởng Mũi, và Trưởng Mối thuộc Sở Tác-Vụ, kín-đáo khống-chế những ai có cơ-hội tiếp-xúc với các thành-viên Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi.

        Đối với phiá Cảnh-Sát Sắc-Phục, tôi đã khéo-léo sắp-xếp để không tổn-thương quyền-hạn của họ; và trung-tá Nguyễn An Vinh, Chỉ-Huy Cảnh-Lực Thị-Xã Đà-Nẵng, đã hiểu biết và hợp-tác với tôi trong việc này .

        Đồng-thời, tôi đã đạt được sự hợp-tác trọn-vẹn của Hãng Thầu nước ngoài, để tôi sử dụng nhân-viên có sẵn của họ, hoặc gài thêm người của Đặc-Cảnh vào làm công-nhân cho Hãng Thầu .

*

        Đối nội, tôi đã xin được Thiếu-Tá Ngô Phi Đạm, là giảng sư xuất sắc nhất về tình báo tại Trường Tình Báo Trung Ương, thuyên-chuyển ra Vùng I làm việc với tôi .

        (Tôi chỉ lược kể đôi điều chung chung mà thôi, còn nhiều vấn đề và các chi tiết khác nữa thì tôi đã viết trong các Chương khác của cuốn hồi ký này).

*    

        Nói chung, do sáng kiến riêng của tôi nói trên, nhóm thiểu số Đặc Cảnh Vùng I chúng tôi đã tuyển dụng được khá nhiều thành viên Ba Lan và Hung Gia Lợi, về mặt nổi thì từ các đại tá Trưởng Phái Đoàn cấp Khu Vực xuống đến các sĩ quan cấp úy Trưởng Tổ cấp Liên Tỉnh và Tỉnh, nhưng về mặt chìm thì họ là cán bộ tình báo chiến lược cấp trung ương (thông dịch viên có vị thế cao hơn Trưởng Phái Đoàn) của Đảng, Nhà Nước và Quân Đội 2 nước cộng sản quan trọng nhất, sau Nga, trong Liên Bang Các Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô, tức USSR: Union of Socialist Sovietic Republics), làm nội tuyến cho ta (tức là Hoa Kỳ) ― vì sau khi tuyển dụng được thì tôi đã chuyển giao họ cho cơ quan Tình Báo Trung Ương của Mỹ (CIA) tiếp tục khai thác sử dụng ngay trong hàng ngũ Liên Xô bên châu Âu .

        Những cán bộ vốn được chọn lọc và tín nhiệm đưa đi công tác tại Việt Nam, khi trở về nước đều được xem là có công tham chiến đánh Mỹ ngay trên chiến trường Việt Nam.  Với những cái-gọi-là kinh nghiệm đối đầu trực tiếp với phe “tư bản chủ nghĩa phản động”, các phần tử ấy được trân quý để đem hiểu biết thực tế vận dụng vào chức năng công vụ lãnh đạo hoạt động và huấn giảng nghiệp vụ gián điệp tại các khóa bồi dưỡng chuyên môn trong hệ thống Tổ Chức Liên Minh Warsaw (Liên Minh Quân Sự Vác Xô Vi, tại thủ đô Ba Lan) của Liên Xô chống lại Khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) của Thế Giới Tự Do .

        Vì tôi còn phải lo về Việt Cộng (cộng sản Việt Nam) và về nội chính (các chính đảng, các giáo hội, các tổ chức “đối lập”, v.v…), trong tình hình rất nguy ngập của thời gian 1973-75, nên tôi đã cho phép các thuộc viên liên hệ tùy tiện chiếu theo chủ trương và phương thức làm việc đã có kết quả cụ thể của tôi mà hợp tác với Người Bạn Đồng Minh (cố vấn CIA) để tiến hành thêm, do đó tôi không nắm vững hết các thành quả đã đạt được, phải là to lớn hơn.  Lại nữa, trong tinh thần phối hợp đồng minh chống Cộng, tôi đã chấp thuận cho Người Bạn Đồng Minh được trực tiếp sử dụng một số viên chức Đặc Cảnh của tôi mà họ thấy là xuất sắc, biệt phái hẳn qua cho họ (hẳn là thành quả phải không thua kém thành quả của phía Việt Nam), nên tôi không biết gì nhiều về các kết quả liên quan.  Ngoài ra, tôi cũng giúp cho NBĐM phương tiện cần thiết (giấy phép đi lại trong giờ giới nghiêm, giấy phép mang vũ khí, v.v…) để họ tuyển dụng nhân viên riêng cho họ, nên tôi hoàn toàn không biết gì về thành quả hoạt động của các đường dây bí mật kia.

        Chỉ riêng trong phạm vi những gì mà tôi có đích thân trực tiếp làm và còn nhớ, tôi đã tuyển dụng:

Đại tá Konelsko, Trưởng Phái Đoàn Ba Lan

Đại tá Guy Nagy, Trưởng Phái Đoàn Hung Gia Lợi

Trung úy Teleski, Trưởng Phòng Truyền Tin Mật Mã của Ba Lan

Đại úy Signalia, Trưởng Phòng Truyền Tin Mật Mã của Ba Lan (kế nhiệm Teleski)

Trung úy Benjenc Grosz, thông dịch viên của Hung Gia Lợi

Trung úy Benez Kadar, Trưởng Tổ Hung Gia Lợi tại Tam Kỳ

(quá trình nghiên cứu, chấm định, tiếp xúc, móc nối, bao vây, gài bẫy, thuyết phục, thử thách, tuyển mộ… đã được kể lại trong sách).

        Họ là cán bộ tình báo cấp cao, ở cả hai lãnh vực chính trị và quân sự, mà lại chuyên môn truyền tin mật mã (biết rõ bí mật nội bộ), và rành (ít nhất là) tiếng Anh, làm thông dịch viên quốc tế (có tư cách công khai tiếp xúc với cả  “đế quốc Mỹ”, huống gì bí mật liên lạc với các nhân vật ái quốc & chống Liên Xô), nay được tuyên dương là đã có công đánh Mỹ, được thăng lên cấp cao hơn và cử giữ chức lớn hơn:  họ mà làm tay trong cho Mỹ thì nguyện vọng của dân nhân Ba Lan và Hung Gia Lợi thoát khỏi gọng kìm Liên Xô chắc chắn là sớm đạt thành.

        Hồi đó, năm 1974-75, Người Bạn Đồng Minh đã chính thức thông báo cho tôi biết về một số tiến triển và kết quả khởi đầu ngay tại Ba Lan và Hung Gia Lợi, đồng thời nhiều lần công khai đãi tiệc khen thưởng các viên chức Đặc Cảnh hữu công (trong sáng kiến của tôi, bắt đầu từ năm 1973).

        Đến năm 1979 (sáu năm sau), Giáo Hoàng John Paul II mới về thăm Ba Lan lần đầu tiên, mở đầu cho những hoạt động kế tiếp của Ngài, cũng nhằm góp phần giải thể chế độ cộng sản ở quê hương mình.

        Năm 1981, cán bô cấp cao Công An trung ương Việt Cộng nói thẳng với tôi:  “Tôi báo trước cho anh biết, chỉ trong vài hôm nữa thôi, tất cả các thành phần phản động tại Ba Lan cũng như Hung Ga Ri đều sẽ phải đền tội trước tòa án nhân dân; vả ngay cả bọn CIA liên quan cũng sẽ bị nhà nước có chủ quyền của hai nước ấy trừng trị thẳng tay …  Sẽ không bao giờ xảy ra sự cố mà bọn đế quốc và lũ tay sai như anh hằng mơ, để anh có thế “tự hào” là chính mình đã góp phần đánh đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa tại Ba Lan và Hung Ga Ri, kéo theo sự sụp đổ của cả Khối Cộng Sản Đông Âu!  Có phải bọn chủ CIA của anh đã nhồi nhét cái ý tưởng hão huyền ấy vào trong đầu óc vong bản của anh hay không?”

        Lúc đó, vào năm 1981, Cộng-sản Việt-Nam chỉ biết là Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi bị tôi tổ-chức xâm-nhập giùm cho CIA từ năm 1973, nên mới suy-luận là nếu cộng-sản tại hai nước ấy mà sụp đổ thì sẽ kéo theo cả sự sụp đổ tại các nước kia.  

        Sau này, khi sự suy-diễn của họ trở thành sự thật, thì cái trình-tự nói trên đã đảo ngược lại:  Từ đầu năm 1989, cộng-sản tại các nước trong Liên-Bang Xô-Viết đã chấm dứt, và cuối năm ấy, cộng-sản tại Hung-Gia-Lợi cũng đã cáo-chung.  Chính Liên-Xô, do Gorbachev lãnh-đạo, đã mở đường, từ năm 1985, cho các nước thuộc quyền lần-lượt về với Tự-Do trước tiên, rồi chính mình cũng lột xác vào đầu năm 1990.  Đến cuối năm này thì cộng sản Ba Lan cáo-chung.  Thế là tan rã toàn Khối cộng-sản Đông-Âu.

(còn nữa)

LÊ XUÂN NHUẬN

Cảnh-Sát-Hóa




Bài Ca Vọng Cổ

Bài Ca Vọng Cổ

Tôi vượt biên một mình rồi định cư ở Pháp. Năm đó tôi mới 49 tuổi, vậy mà đi tìm việc làm, đến đâu người ta cũng chê là tôi già! Vì vậy, một hôm, khi chải tóc, tôi nhìn kỹ tôi trong gương. Tôi bỗng thấy ở đó có một người có vẻ quen nhưng thật ra thì rất lạ: mắt sâu, má hóp, mặt đầy nếp nhăn trên trán, ở đuôi mắt, ở khóe môi, mái tóc đã ngà bạc cắt tỉa thô sơ như tự tay cắt lấy. Từ bao lâu nay tôi không để ý, bây giờ soi gương vì bị chê già, tôi mới thấy rằng tôi của hồi trước “Cách mạng thành công” và tôi của bây giờ thật không giống nhau chút nào hết. Tôi già thiệt, già trước tuổi. Cho nên, tôi nhìn tôi không ra. Từ đó, mỗi ngày tôi… tập nhìn tôi một lần, nhìn kỹ, cho quen mắt!

Một người bạn làm việc lâu năm ở Côte d’Ivoire (Phi châu) hay tin tôi đã qua Pháp và vẫn còn thất nghiệp, bèn giới thiệu cho tôi Công ty Đường Mía của Nhà nước. Không biết anh ta nói thế nào mà họ nhận tôi ngay, còn gửi cho tôi vé máy bay nữa!

Xưa nay, tôi chưa từng quen một người da đen gốc Phi Châu nào hết. Và chỉ có vài khái niệm thô sơ về vùng Phi châu da đen như là: Ở đó nóng lắm, đất đai còn nhiều nơi hoang vu, dân chúng thì da đen thùi lùi, tối ngày chỉ thích vỗ trống, thích nhảy tưng tưng v…v… Vì vậy, tôi hơi… ngán. Nhưng cuối cùng rồi tôi quyết định qua xứ da đen để làm việc, danh dự hơn là ở lại Pháp để tháng tháng vác mặt Việt Nam đi xin trợ cấp đầu nọ, đầu kia.

Nơi tôi làm việc tên là Borotou, một cái làng nằm cách thủ đô Abidjan gần 800 km! Vùng nầy toàn là rừng là rừng. Không phải rừng rậm rì cây cao chớn chở như ở Việt Nam. Rừng ở đây cây thấp lưa thưa, thấp thấp cỡ mười, mười lăm thước… coi khô khốc. Không có núi non, chỉ có một vài đồi trũng nhưng đồi không cao và trũng, không sâu…

Nhà nước phá rừng trồng mía… Ruộng mía ngút ngàn! Nằm ở trung tâm là khu nhà máy, khu cơ giới, khu hành chánh, khu cư xá v…v… nằm cách nhau cỡ vài cây số. Muốn về thủ đổ Abidjan, phải lái xe hơi chạy theo đường mòn xuyên rừng gần ba chục cây số mới ra tới đường cái tráng nhựa. Từ đó, chạy đi Touba, một quận nhỏ với đông đảo dân cư. Từ đây, lấy máy bay Air Afrique về Abidjan, mỗi ngày chỉ có một chuyến. Phi trường Touba nhỏ xíu, chỉ có một nhà ga xây cất sơ sài và một phi đạo làm bằng đá đỏ, mỗi lần máy bay đáp lên đáp xuống là bụi bay… đỏ trời!

Tôi hơi dài dòng ở đây để thấy tôi đi “đi làm lại cuộc đời” ở một nơi hoang vu hẻo lánh mà cảnh trí thì chẳng có gì hấp dẫn hết! Thêm vào đó, tôi là người Á Đông duy nhất làm việc chung với Tây trắng (chỉ có năm người) và Tây đen (đông vô số kể).

Ở đây, thiên hạ gọi tôi là “le chinois” – thằng Tàu. Suốt ngày, suốt tháng tôi chỉ nói có tiếng Pháp. Cho nên, lâu lâu thèm quá, tôi soi gương rồi… nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt, trông giống như thằng khùng! Chưa bao giờ tôi thấy tôi cô đơn bằng những lúc tôi đối diện tôi trong gương như vậy.

… Một hôm, sau hơn tám tháng “ở rừng”, tôi được gọi về Abidjan để họp (đây là lần đầu tiên được về thủ đô!). Anh tài xế đen đưa tôi ra Touba. Chúng tôi đến phi trường lối một giờ trưa. Sau khi phụ tôi gởi hành lý, anh tài xế nói:

– Tôi ra ngủ trưa ở trong xe. Chừng Patron (ông chủ) đi được rồi, tôi mới về.

Ở xứ đen, họ dùng từ “Patron” để gọi ông chủ, ông xếp, người có địa vị, có tiền, người mà họ nể nang v…v.. Nghe quen rồi, chẳng có gì chói lỗ tai hết! Tôi nói:

– Về đi! Đâu cần phải đợi!

Hắn nhăn răng cười, đưa hàm răng trắng tốt:

– Tại Patron không biết chớ ở đây, lâu lâu họ lại hủy chuyến bay vào giờ chót, nói tại máy bay ăn-banh (en panne) ở đâu đó. Máy bay cũng như xe hơi vậy, ai biết lúc nào nó nằm đường.

Rồi hắn đi ra xe.

Tôi ngồi xuống một phô-tơi, nhìn quanh, hành khách khá đông. Nhiều người ngồi với một số hành lý như thùng cạc-tông, bao bị, va-li v…v… Không phải họ không biết gửi hành lý, nhưng vì những gì họ đã gửi đã đủ số ký-lô dành cho mỗi hành khách, nên số còn lại họ… xách tay, cho dầu là vừa nhiều món vừa nặng, vừa cồng kềnh!

Không khí nóng bức. Mấy cái quạt trần quay vù vù, cộng thêm mấy cây quạt đứng xoay qua xoay lại, vậy mà cũng không đủ mát. Thiên hạ ngủ gà ngủ gật, tôi cũng ngã người trên lưng ghế, lim dim…

Trong lúc tôi thiu thiu ngủ thì loáng thoáng nghe có ai ca vọng cổ. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi thở dài, nghĩ: “Tại mình nhớ quê hương xứ sở quá nên trong đầu nghe ca như vậy.” Rồi lại nhắm mắt lim dim… Lại nghe vọng cổ nữa. Mà lần nầy nghe rõ câu ngân nga trước khi “xuống hò”:

Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rũ bóng… đang vươn lên ngọn khói… á… lam… à… chiều….

Đúng rồi! Không phải ở trong đầu tôi, mà rõ ràng có ai ca vọng cổ ngồi kia. Tôi nhìn ra hướng đó, thấy xa xa dưới lùm cây dại có một người đen nằm võng. Và chỉ có người đó thôi. Lạ quá! Người đen đâu có nằm võng. Tập quán của họ là nằm một loại ghế dài bằng gỗ cong cong. Ngay như loại ghế bố thường thấy nằm dưới mấy cây dù to ở bãi biển… họ cũng ít dùng nữa.

Tò mò, tôi bước ra đi về hướng đó để xem là ai vừa ca vọng cổ lại vừa nằm võng đong đưa. Thì ra là một anh đen còn trẻ, còn cái võng là cái võng nhà binh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa hồi xưa. Tôi nói bằng tiếng Pháp:

– Bonjour!

Anh ngừng ca, ngồi dậy nhìn tôi mỉm cười, rồi cũng nói “Bonjour”. Tôi hỏi, vẫn bằng tiếng Pháp:

– Anh hát cái gì vậy?

Hắn đứng lên, vừa bước về phía tôi vừa trả lời bằng tiếng Pháp:

– Một bài ca của Việt Nam. Còn ông? Có phải ông là “le chinois” làm việc cho hãng đường ở Borotou không?

Tôi trả lời, vẫn bằng tiếng Pháp:

– Đúng và sai! Đúng là tôi làm việc ở Borotou. Còn sai là vì tôi không phải là người Tàu. Tôi là người Việt Nam.

Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:

– Trời ơi! …. Bác là người Việt Nam hả?

Rồi hắn vỗ lên ngực:

– Con cũng là người Việt Nam nè!

Thiếu chút nữa là tôi bật cười. Nhưng tôi kiềm lại kịp, khi tôi nhìn gương mặt rạng rỡ vì sung sướng của hắn. Rồi tôi bỗng nghe một xúc động dâng tràn lên cổ. Thân đã lưu vong, lại “trôi sông lạc chợ” đến cái xứ “khỉ ho cò gáy” nầy mà gặp được một người biết nói tiếng Việt Nam và biết nhận mình là người Việt Nam, dù là một người đen, sao thấy quý vô cùng. Hình ảnh của quê hương như đang ngời lên trước mặt.

Tôi bước tới bắt tay hắn. Hắn bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay, vừa lắc vừa nói huyên thuyên:

– Trời ơi!… Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi!… Bác biết không? Bao nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ gặp bác, thiệt… con mừng “hết lớn” bác à!

Rồi hắn kéo tôi lại võng:

– Bác nằm đi! Nằm đi!

Hắn lại đống gạch “bờ-lốc” gần đấy lấy hai ba viên kê bên cạnh võng rồi ngồi lên đó, miệng vẫn không ngừng nói:

– Con nghe thiên hạ nói ở Borotou có một người Tàu. Con đâu dè là bác. Nếu biết vậy, con đã phóng Honda vô trỏng kiếm bác rồi! Đâu được tới bây giờ.

Hắn móc gói thuốc, rồi mời tôi:

– Mời bác hút với con một điếu.

Hắn đưa gói thuốc về phía tôi, mời bằng hai tay. Một cử chỉ mà từ lâu tôi không còn nhìn thấy. Một cử chỉ nói lên sự kính trọng người trưởng thượng. Tôi thấy ở đó một “cái gì” rất Việt Nam.

Tôi rút điếu thuốc để lên môi. Hắn chẹt quẹt máy, đưa ngọn lửa lên đầu điếu thuốc, một tay che che như trời đang có gió. Tôi bập thuốc rồi ngạc nhiên nhìn xuống cái quẹt máy. Hắn nhăn răng cười:

– Bộ bác nhìn ra nó rồi hả?

Tôi vừa nhả khói thuốc vừa gật đầu. Đó là loại quẹt máy Việt Nam, nho nhỏ, dẹp lép, đầu đít có nét cong cong. Muốn quẹt phải lấy hẳn cái nắp ra chớ nó không dính vào thân ống quẹt bằng một bản lề nhỏ như những quẹt máy ngoại quốc. Hắn cầm ống quẹt, vừa lật qua lật lại vừa nhìn một cách trìu mến:

– Của ông ngoại con cho đó! Ông cho hồi ổng còn sống lận.

Rồi hắn bật cười:

– Hồi đó ổng gọi con bằng “Thằng Lọ Nồi”.

Ngừng một chút rồi tiếp:

– Vậy mà ổng thương con lắm à bác!

Hắn đốt điếu thuốc, hít một hơi dài rồi nhả khói ra từ từ. Nhìn cách nhả khói của hắn, tôi biết hắn đang sống lại bằng nhiều kỷ niệm. Tôi nói:

– Vậy là cháu lai Việt Nam à?

– Dạ. Má con quê ở Nha Trang.

– Rồi má cháu bây giờ ở đâu?

Giọng của hắn như nghẹn lại:

– Má con chết rồi. Chết ở Nha Trang hồi năm 1975.

– Còn ba của cháu?

– Ổng hiện ở Paris. Tụi nầy nhờ có dân Tây nên sau 1975 được hồi hương. Con đi quân dịch cho Pháp xong rồi, về đây ở với bà nội. Con sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn, về đây, buồn thúi ruột thúi gan luôn!

Tôi nhìn hắn một lúc, cố tìm ra một nét Việt Nam trên con người hắn. Thật tình, hắn không có nét gì lai hết. Hắn lớn con, nước da không đến nỗi đen thùi lùi như phần đông dân chúng ở xứ nầy, nhưng vẫn không có được cái màu cà phê lợt lợt để thấy có chút gì khác. Tóc xoắn sát da đầu, mắt lồi, môi dầy. Tôi chợt nói, nói một cách máy móc:

– Thấy cháu chẳng có lai chút nào hết!

Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nghiêm trang:

– Có chớ bác. Con có lai chớ bác.

Hắn xòe hai bàn tay đưa ra phía trước, lật qua lật lại:

– Bên nội của con là nằm ở bên ngoài nầy đây nè.

Rồi hắn để một tay lên ngực, vỗ nhè nhẹ về phía trái tim: “Còn bên ngoại nó nằm ở bên trong. Ở đây, ở đây nè bác.

Bỗng giọng hắn nghẹn lại:

– Con lai Việt Nam chớ bác!

Trong khoảnh khắc, tôi xúc động đến quên mất màu da đen của hắn, mà chỉ thấy trước mặt một thanh niên Việt Nam, Việt Nam từ cử chỉ tới lời lẽ nói năng. Tôi vỗ nhẹ lên vai hắn mấy cái, gật đầu nói:

– Ờ… Bác thấy. Bây giờ thì bác thấy.

Hắn mỉm cười:

– Ở đây, người ta nói con không giống ai hết, bởi vì con hành động cư xử, nói năng không giống họ. Bà nội con cũng nói như vậy nữa! Còn con thì mỗi lần con nhìn trong kiếng, con vẫn nhận ra con là người Việt Nam. Bác coi có khổ không?

Rồi nó nhìn tôi, một chút trìu mến dâng lên trong ánh mắt:

– Bây giờ con gặp bác rồi, con thấy không còn cô đơn nữa. Gặp một người mình, ở cái xó xa xôi hẻo lánh nầy, thiệt là Trời còn thương con quá!

Tôi im lặng nghe hắn nói, nhìn hắn nói mà có cảm tưởng như hắn đang nói cho cả hai: cho hắn và cho tôi. Bởi vì cả hai cùng một tâm trạng.

Hắn vẫn nói, như hắn thèm nói từ lâu:

– Nhớ Sài Gòn quá nên con hay ca vọng cổ cho đỡ buồn. Hồi nãy bác lại đây là lúc con đang ca bài “Đường Về Quê Ngoại” đó bác.

– Bác không biết ca, nhưng bác rất thích nghe vọng cổ.

Giọng nói hắn bỗng như hăng lên:

– Vọng cổ là cái chất của miền Nam mà bác. Nó không có lai Âu, lai Á gì hết. Nó có cái hồn Việt Nam cũng như cá kho tộ, tô canh chua. Bác thấy không? Bởi vậy, không có gì nhắc cho con nhớ Việt Nam bằng bài ca vọng cổ hết.

– Bác cũng vậy.

Tôi nói mà thầm phục sự hiểu biết của hắn. Và tôi thấy rất vui mừng có một người như vậy để chuyện trò từ đây về sau.

Có tiếng máy bay đang đánh một vòng trên trời. Chúng tôi cùng đứng lên, hắn nói:

– Nó tới rồi đó. Con phải sửa soạn xe trắc-tơ và rờ-mọt để lấy hành lý. Con làm việc cho hãng Air Afrique, bác à.

Rồi hắn nắm tay tôi lắc mạnh:

– Thôi, bác đi mạnh giỏi. Con tên là Jean. Ở đây ai cũng biết “Jean le Vietnamien” hết. Chừng về bác ghé con chơi, nghen.

Bỗng, hắn ôm chầm lấy tôi siết nhẹ rồi giữ như vậy không biết bao nhiêu lâu. Tôi nghe giọng hắn lạc đi:

– Ghé con nghe bác… Ghé con…!

Tôi không còn nói được gì hết. Chỉ vừa gật đầu vừa vỗ vỗ vào lưng hắn như vỗ lưng một người con.

Khi hắn buông tôi ra, tôi thấy hai má của hắn ướt nước mắt. Tôi quay đi, lầm lũi bước nhanh nhanh về nhà ga mà nghĩ thương cho “thằng Jean le Vietnamien”. Hồi nãy nó ôm tôi, có lẽ nó đã tưởng tượng như là nó đang ôm lại được một góc trời quê mẹ.

Trên máy bay, tôi miên man nghĩ đến “thằng Jean”, rồi tự hứa sẽ gặp lại nó thường. Để cho nó bớt cô đơn. Và cũng để cho tôi bớt cô đơn nữa!

Bây giờ, viết lại chuyện “thằng Jean” mà tôi tự hỏi: “Trong vô số người Việt Nam lưu vong hôm nay, còn được bao nhiêu người khi nhìn trong gương vẫn nhận ra mình là người Việt Nam? Và có được bao nhiêu người còn mang trong lòng bài ca vọng cổ, để thấy hình ảnh quê hương vẫn còn nguyên trong đó?

Tiểu Tử (Trần Hoài Nam)




Đà Lạt

Đà Lạt

Tôi chợt thấy tuổi thơ ở đấy
Bóng hoàng hôn nhuộm tím chân mây
Sương quấn quít lối về phố cũ
Đêm Đà Lạt sương lạnh tình đầy.

Đường quanh co bên Hồ Than Thở
Bước lên đồi nhặt quả thông non
Tà áo bay mập mờ sương trắng
Thung lũng tình yêu, dấu cỏ mòn.

Đà Lạt phố, sương mù mơ mộng
Sườn đồi cao vi vút thông reo
Bên kia, làng hoa thêm sức sống
Thung lũng ngàn hoa, phố núi đèo.

Đêm Đà Lạt, hứng giọt sương rơi
Đặt lên môi, nghe tiếng em cười
Tình như đã say theo tiếng nhạc
Đà Lạt ơi! Giai điệu tuyệt vời.

Lat Images, Stock Photos & Vectors | Shutterstock

Lê Tuấn




My Children-Các Con Tôi




Đêm xuân gọi mời

Đêm xuân gọi mời

Ở hai đầu nỗi nhớ
Lặng lẽ buồn bơ vơ
Anh gặp em ngày đó
Đền bây giờ dại khờ.

Tình xưa thời con gái
Tuổi trăng tròn ngây thơ
Môi chạm môi bỡ ngỡ
Đầy ướt át trong mơ.

Nụ mai vàng trước ngõ
Gió xuân đang đợi chờ
Nắng ươm đầy nỗi nhớ
Thêm chữ buồn trong thơ..

Cành đào ươm sắc đỏ
Dập dìu khách vui xuân
Lang thang chiều dạo phố
Bỗng dưng lòng bâng khuâng.

Buổi chiều vàng chợt tối
Hạt mưa xuân nhẹ rơi
Anh cùng em dạo bước
Đêm xuân tiếng gọi mời.

Lê Tuấn

Đi qua buổi chiều

Chiều đi qua dòng sông
Ngắm mây bay cuối trời
Bóng người xưa thoáng hiện
Nghe vang tiếng em cuời.

Chiều đi ngang con đường
Bóng đổ nghiêng trời tây
Ta một mình lặng lẽ
Buớc chân buồn theo mây.

Tiếng chim kêu lạc bầy
Dấu mình trong lá cây
Ta đau vì nỗi nhớ
Bóng em đã đong đầy.

Lê Tuấn

Chiều tà

Tay em vàng lá bay
Rong chơi cuối đường chiều
Áo dài bay phất phới
Hương thơm bay ít nhiều.

Vô tình cánh hoa rơi
Chợt câm nín nghẹn lời
Để em buồn thương nhớ
Ngày xuân đã xa vời.

Nỗi buồn vương xót xa
Tuổi xuân quá mượt mà
Làm sao em bật khóc
Buồn vương ánh chiều tà.

Lê Tuấn




Dấu đêm trong tóc

Dấu đêm trong tóc

1
Tiếng chuông vang vọng giáo đường
Thánh ca em hát từng chương huy hoàng
Lung linh ngọn nến hai hàng
Câu nào thánh hóa địa đàng nơi đây.
2
Chiều xuân gió nhẹ mây bay
Tặng nhau khăn lụa, trao tay đóa hồng
Nửa đêm đắp mảnh chăn bông
Nghe con dế gọi ngoài đồng thiết tha.
3
Lấy hoa sen ướp hương trà
Hứng mưa đun nước pha trà uống xuân
Ngại ngần chen lẫn bâng khuâng
Thương nhau mấy nỗi trầm luân bụi đường.
4
Cánh hoa thông điệp vô thường
Tuết rơi trắng điểm bên đường gió đông
Trời giăng sợi mỏng tơ hồng
Vướng đôi quấn quýt tình nồng có nhau.
5
Dấu đêm trong tóc phai màu
Sợi đen sợi bạc, gối đầu ngủ say
Da thơm vòng ngực vươn đầy
Cho nhau tàn cuộc hao gầy hương trinh.

Lê Tuấn
“trích đoạn trong baì thơ 100 câu lục bát “Theo Bóng Chiều Tà”

Áo xưa khép nép

1
Áo xưa khép nép hững hờ
Hàng khuy hé mở khoe bờ non cao
Đôi môi chín đỏ ánh đào
Cửa mây vén mở lạc vào suối mơ
2
Khóc ai lệ ướt trong thơ
Tóc xanh ngày cũ bây giờ sương bay
Hạt sương đậu cánh hoa này
Nghiêng soi lòng suối bóng ai nhạt nhòa.
3
Dưới giàn thiên lý vàng hoa
Kết thành vương niệm làm qùa tặng em
Tiếng lòng lời nói môi êm
Ru tình theo tiếng êm đềm mê say.
4
Hữu duyên như núi gặp mây
Tơ vương mây cũng đỏ hây dáng hồng
Xuân về trồi lá đươm bông
Bướm bay uốn lượn theo vòng cánh duyên.
5
Trên cành tiếng hót chim khuyên
Em nghiêng suối tóc tơ huyền nhẹ vương
Làn sương trắng điểm phố phường
Gót hài vui bước cung đường lá bay
6
Em về hoa nở trên tay
Áo dài lụa mỏng thơ ngây dáng chiều
Ý thơ muốn tỏ đôi điều
Gởi theo vần điệu mỹ miều ngợi khen.
7
Về xem phố chợ lên đèn
Theo hương vị lạ say men rượu mời
Lặng buồn nhìn cánh hoa rơi
Lòng nghe xao xuyến đất trời sang xuân.
8
Hoa vàng vương nhẹ gót chân
Phố vui mỏi gót tần ngần bước đi
Nào ngờ vướng lụy tình si
Hương thơm bát ngát xuân thì vấn vương.

Lê Tuấn




Về quyển thông sử “A Story of Viet Nam” của GS Trương Bửu Lâm

Về quyển thông sử “A Story of Viet Nam của giáo sư Trương Bửu Lâm

TRẦN ANH TUẤN

                                                             

Trương Bửu Lâm là giáo sư Sử Học tại Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn trong hai thập niên 1950-60. Năm 1964, ông được học bổng sang Mỹ và ở luôn không về Việt Nam nữa. Sau một vài năm được huấn luyện qua chương trình Fulbright, ông dạy Sử Ðông Nam Á tại đại học UNY Stony Brook, New York. Ðến năm 1971, ông sang Hawaii dạy tại đại học UH Manoa cho đến khi về hưu.

Sử phẩm của giáo sư Trương Bửu Lâm bao gồm Patterns of Vietnamese Response to Foreign Intervention xuất bản năm 1968, New Lamps for Old năm 1982, Resistance, Rebellion, Revolution năm 1984, Colonialism Experienced năm 2000 và quyển A Story of Vietnam năm 2010 (Honolulu, Editions Thanh Cao, 368 t.)

Ngoại trừ quyển cuối cùng xuất bản năm 2010, những sử phẩm trên đây đều nhằm cung cấp học liệu cho sinh viên đại học Mỹ. Chúng xuất phát từ những giảng khoá của tác giả qua nhiều niên học, đồng thời đáp ứng điều kiện nghiên cứu trong ngạch giáo sư đại học tại Hoa Kỳ.

Về kỹ thuật, đây là những sử phẩm hoàn thành trong khuôn khổ của một hệ thống đại học tân tiến, thể hiện qua phương pháp nghiên cứu khoa học và nội dung nghiêm túc. Riêng về nội dung, đề tài nghiên cứu nhắm vào đối tượng Mỹ nên chúng không mới mẻ gì với độc giả gười Việt, ngoài một số sinh viên Mỹ gốc Việt.

Thí dụ như Colonialism Experienced: Vietnamese Writings on Colonialism, 1900-1931 (Ann Arbor, University of Michigan Press, 2000, 328 tr.) chỉlà một tập tài liệu. Tác giả đã chọn 20 bản văn trong lịch sử cận đại Việt Nam để dịch sang Anh văn cho sinh viên và độc giả ngoại quốc hiểu, cũng có nghĩa là loại sách mà giới nghiên cứu người Việt không cần, vì ai cũng có thể đọc được nguyên tác với ngôn ngữ gốc, lược bỏ đi một trung gian tức là bản dịch, cũng đồng thời là một chướng ngại dẫn đến ít nhiều sai lầm về ý nghĩa của các bản văn.

Nói thêm một vài chi tiết. Tác giả công phu chọn lựa 20 tài liệu thuộc nhiều thể loại trong ba thập niên 1900-1931: tài liệu tuyên truyền, thư ngỏ gửi nhà cầm quyền, tuyên ngôn của các đảng phái, tin tức trên nhật báo, và văn thơ. Các tài liệu này được viết bằng ba ngôn ngữ khác nhau, là Việt, Hán, và Pháp. Trước mỗi bản dịch sang tiếng Anh, tác giả có lời giới thiệu và phân tích làm rõ hoàn cảnh lịch sử đương thời khi tài liệu xuất hiện. Sự đóng góp của tác gỉa là truy tìm tài liệu trong nguyên dạng không bị cắt xén, rồi dịch qua thứ ngôn ngữ thông dụng là Anh văn để sinh viên của ông và độc giả hiểu, dù không đọc được chữ Hán, Pháp, hay Việt trong nguyên tác.

Tôi chỉ có thắc mắc về một chi tiết ông viết ngay trang đầu tiên của sách, nguyên văn thế này: “I would like to express my deep appreciation to Vo-Le Thanh Diep, who has provided me with many insightful interpretations of certain aspects of Vietnamese culture and particularly of Vietnamese literature.”

Sao đến nỗi này? Tôi tưởng giáo sư Trương Bửu Lâm phải là người dạy thiên hạ về văn hoávăn học Việt Nam chứ? Sao nay lại phải có một người nào đó giúp, giáo sư mới hiểu một số khía cạnh của hai ngành này?

Sử phẩm mới nhất của Giáo sư Trương Bửu Lâm được phát hành trên hệ thống Amazon.com, một hệ thống bán sách thông dụng trên Internet của Hoa Kỳ. Ðó là một quyển thông sử chỉ dầy 368 trang, trình bầy toàn bộ lịch sử Việt Nam từ khởi nguyên cho đến năm 2008. Và đây là sử phẩm mà tôi muốn lên tiếng chất chính.

A Story of Viet Nam, tựa đề của sách, là một tác phẩm đơn giản dễ đọc. Dưới ngòi bút của một chuyên gia, sách dẫn độc giả suốt dòng lịch sử mấy ngàn năm trong 350 trang giấy mỏng.

Nhưng dưới tiêu đề “Story,” tức “Chuyện kể,» tác giả khái quát 4,000 năm sử Việt trong 170 trang đầu, mà dành hơn nửa quyển sách, tức 176 trang sau (từ trang 171 đến trang 346) cho câu chuyện vinh danh Ðảng Cộng Sản Việt Nam.

Nhân đây, tôi muốn nói về hai cách nhìn khác nhau về Sử. Một, là cách nhìn của thế giới Cộng Sản và hai, là cách nhìn của những ai sống trong Thế Giới Tự Do. Chúng ta hiểu hay định nghĩa Sử là những sự kiện xảy ra trong quá khứ. Còn người Cộng Sản thì hiểu và định nghĩa Sử là thông tin tuyên truyền.

Trần Huy Liệu, Bộ Trưởng Bộ Thông Tin Tuyên Truyền kiêm nhiệm vai trò Viện Trưởng Viện Sử Học đầu tiên của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau Hiệp Ðịnh Genève là vì thế.

Là thông tin tuyên truyền nhằm phục vụ chính trị, nên “Sử” của người Cộng Sản là những sự kiện có cũng được (sự kiện quá khứ) mà không có thì bịa đặt ra (như vụ Lê Văn Tám mà chính giáo sư Sử Học Phan Huy Lê của Ðại Học Hà Nội tiết lộ là do Trần Huy Liệu bịa đặt.) Tôi từng nghe rất nhiều những tiếng than phiền trong cộng đồng người Việt hải ngoại về những “sử phẩm” của Hà Nội. Ðó là vì nhiều người trong chúng ta cứ “bắt” các “sử gia Hà Nội” phải nghĩ và viết Sử như chúng ta!

Nói chung, các sự kiện trong A Story of Viet Nam được trình bầy một chiều sao cho có lợi cho chế độ Cộng Sản.

Chẳng hạn như Tuần Lễ Vàng mà chính phủ Hồ Chí Minh phát động năm 1945, theo tác giả là cốt để trả lương cho cán bộ chính quyền và mua võ khí thành lập quân đội (trang 211). Thế là tác giả chưa biết việc thu vàng để đút lót cho quân “Tầu Tưởng” (chữ dùng của Hà Nội) sao?

Chẳng hạn như sự kiện Võ Nguyên Giáp tiêu diệt các đảng phái quốc gia trong vụ Ôn Như Hầu năm 1946 thì tác giả viết một cách mông lung là “Lời đồn cho biết Võ Nguyên Giáp đã lợi dụng sự vắng mặt của Hồ Chí Minh để tiêu diệt phần lớn đối lập với Việt Minh,” nguyên văn nơi trang 220: Rumors go around that Vo Nguyen Giap had profited from the absence of Ho Chi Minh to liquidate most of the opponents to the Viet Minh.”

“Lời đồn” thì có thật mà cũng không có thật, là một cách sử dụng ngôn từ có chủ đích riêng! Và “lợi dụng sự vắng mặt của Hồ Chí Minh” lại là một các diễn tả khéo léo khác, hàm ý Hồ Chí Minh không biết tức là không có trách nhiệm gì trong việc sát hại các đảng phái quốc gia tại Hà Nội năm 1945.

Trong sự kiện bắt giết các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng và các đảng phái quốc gia khác, các lãnh tụ Cộng Sản rất mưu lược. Theo tôi suy đoán, việc tiêu diệt các đảng phái quốc gia là sách lược để độc chiếm chính quyền thì các lãnh tụ Cộng Sản đã sắp xếp từ trước và đem thi hành khi Hồ Chí Minh không có mặt. Họ khôn khéo đến độ chính Võ Nguyên Giáp cũng không phải trách nhiệm, vì người ký lệnh bắt là Huỳnh Thúc Kháng cơ mà?!

Xung động tình cảm của một người -không hiểu vì lý do gì?- đã làm tác giả kết luận về chế độ Ngô Ðình Diệm thế này, nguyên văn nơi trang 254: “If one could evaluate the Ngô Ðình Diệm’s regime with a short sentence, it would be: “It is a pity!” Thật đúng với khẩu khí của Hà Nội trong thời chiến: “bọn Mỹ Ngụy!”

Trong khi Hà Nội không còn giọng điệu thông tin tuyên truyền như thế này nữa, thì tác giả Trương Bửu Lâm năm 2010 vẫn còn hăng hái mạt sát chế độ Ngô Ðình Diệm, chế độ đã ưu đãi ông từ khi ông còn là một bạch diện thư sinh, cũng lạ!

Nhận định rằng dân di cư từ miền Bắc vào miền Nam hồi năm 1954 sau Hiệp Ðịnh Genève đa số là người Công Giáo, nguyên văn nơi trang 255: “…the refugees from the North who, in majority, were catholics…” chứng tỏ tác giả đã không thường xuyên theo dõi thư tịch để biết trước khi ông xuất bản sách này ba năm, năm 2007, Giáo Sư Ðặng Phương Nghi –nguyên Giám Ðốc Nha Văn Khố và Thư Viện VNCH- đã có bài viết trong chuyên san Dòng Sử Việt tựa đề “Về số người Công Giáo di cư từ Bắc vào Nam sau Hiệp Ðịnh Genève” (California, Xuân Ðinh Hợi, số 2, tháng 1-3, 2007, tr. 74-78) chứng minh rằng số dân Công Giáo chỉ vào khoảng 25-50% tổng số dân di cư vào Nam mà thôi.

Trang 256 thì tác giả phê phán Luật 10/59 đặt Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật, rất phù hợp với ngôn từ của chính quyền Hà Nội, là Ngô Ðình Diệm “lê máy chém khắp miền Nam.”

Trang 266 là giọng khinh bạc của tác giả viết về sự kiện TT Ngô Ðình Diệm viếng thăm Hoa Kỳ và được TT Eisenhower tiếp đón theo nghi thức quốc trưởng: “On May 8, 1957, the U.S. President invited him (tức Ngô Ðình Diệm) to visit the United States and treated him on the same footing as any Chief of a sovereign state.”

Tổng Thống nước Hoa Kỳ không tiếp đón Tổng Thống nước Việt Nam Cộng Hòa như một quốc khách hay sao mà phải viết treated him on the same footing as any Chief of a sovereign state? Thế thì hình ảnh Trương Tấn Sang, Chủ Tịch nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2013 cúi rạp mình trước hàng quân Trung Cộng, bên cạnh Chủ Tịch nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc đứng thẳng lưng thì sao? Ai đã giữ được quốc thể cho dân tộc Việt?

Hình ảnh Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm đĩnh đạc đọc
diễn văn trước Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ dưới sự
chủ tọa của Phó Tổng Thống Richard Nixon và Chủ Tịch
Hạ Viện Sam Rayburn ngày 9 tháng 5 năm 1957.
(Tài liệu riêng TAT)

Trang 258 tác giả viết Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam là mặt trận kết hợp đại biểu của nhiều tổ chức tại miền Nam, có đại diện của tất cả các tôn giáo Phật Giáo, Công Giáo, Cao Ðài, Hòa Hảo, sắc tộc… Thật thế sao, hay Giáo sư Trương Bửu Lâm lại viết chuyện đùa –A Story– cho vui?!

Chuyện người Mỹ đồng ý chủ trương Bắc Tiến với tướng Nguyễn Khánh nơi trang 264 là một điều sai lầm. Ðọc tiếp những dòng chữ của tác giả, tôi mới biết tác giả của A Story of Viet Nam đã lầm lẫn chủ trương Bắc Tiến với sự kiện Biệt Kích nhẩy Bắc của Lực Lượng Ðặc Biệt trong QLVNCH! Thật đáng tiếc cho hiện tượng “râu ông nọ cắm cầm bà kia” trong một sử phẩm!

Ðây là vài mẫu tiền MTDTGPMNVN mà Hà Nội cho in năm 1967 và đưa vào Nam năm 1968 để sử dụng khi chiếm được chính quyền. Tiền có tám (8) mệnh giá 10xu, 20xu, 50xu, 1đ, 2đ, 5đ, 10đ, và 50đ. Theo Huy Ðức trong Bên Thắng Cuộc II. Quyền Bính, trang 161, thì Bắc Việt đã đem vào tổng cộng 14,000 (sic!) hòm tiền loại này, mật danh là “Hàng 65.” Vì thế, viết “As expected, the attackers had no intention of occupying their target for any length of time…” là viết lấy được, trái với sự thật lịch sử! (Bộ sưu tập TAT)

Tết Mậu Thân trong A Story of Viet Nam là một sự bóp méo lịch sử. Chủ trương của Bộ Chính trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam thực hiện cuộc “Tổng Công Kích Tổng Khởi Nghĩa” năm 1968 là nhằm giành chính quyền miền Nam, chứ có phải đánh rồi rút đâu. Ðiều đơn giản là rút đi đâu, một khi đã tiến sâu vào tận thủ đô Sài Gòn? Và nhất là đã đem tiền và tem bưu chính vào để nắm chính quyền mà đánh rồi rút, là rút thế nào?

Ngày 9.2.1999, chính Võ Nguyên Giáp đã phát biểu tại Hà Nội trong dịp tổng kết chiến tranh là, nguyên văn được tác gỉa Huy Ðức ghi lại trong sách Bên Thắng Cuộc II. Quyền Bính, trang 161: “Lúc đầu mục tiêu đề ra rất cao, tổng công kích, tổng khởi nghĩa, giành trọn vẹn chính quyền về tay nhân dân. Giấy bạc đã được in và đã được chuyển vào Nam. Ðồng phục cho công an vào tiếp quản thành phố cũng đã được chuẩn bi…”

Vì thế, khi tác gỉa viết, “như đã dự tính, những người tấn công (tức Việt Cộng, TAT chú thích) đã không hề có ý chiếm giữ mục tiêu lâu dài…, nguyên văn là: “As expected, the attackers had no intention of occupying their target for any length of time…” chẳng qua là cách bào chữa cho sự thất trận cũng là sự thất bại của cuộc Tổng Công Kích Tổng Khởi Nghĩa do Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội xướng xuất năm 1968!

Trong đời sống văn hoá của miền Bắc, việc tác giả dịch và cho in bài thơ Nhất Ðịnh Thắng của Trần Dần là thoáng nét thơ mộng của một trí thức miền Nam, một điều hiếm thấy trong sách. Nhưng chữ “Anh” trong bài thơ là tiếng âu yếm của người vợ Việt Nam gọi chồng, sao tác giả lại dịch là “brother” nơi trang 301 được?

Chồng mà là “brother” thì loạn luân mất rồi! Trước giáo sư Trương Bửu Lâm đúng 12 năm thì tác giả của Counterpart: A South Vietnamese Naval Officer’s War (Annapolis, Naval Institute Press, 1998, 235 tr.) là Ðỗ Kiểm cũng đã dịch tiếng gọi yêu thương “anh em” giữa vợ chồng với nhau là “big brother” và “little sister” (trang 139, sđd). Nhưng Ðỗ Kiểm là một sĩ quan hải quân, thạo đi biển hơn là cầm bút, nên sự sai trái còn hiểu được, chứ một giáo sư đại học mà cũng phạm lỗi thông thường này thì thật khó hiểu.

Ngoài ra, nhận định của tác giả về đời sống văn hoá miền Bắc rất gượng ép. Ông viết “nhiều nhà văn hay nghệ sĩ (miền Bắc) chứng tỏ sự trung thành của họ với những chính sách văn hoá của Ðảng và tiếp tục sáng tạo những tác phẩm quí gía,” nguyên văn nơi trang 301: “Many writers or artists professed their loyalty to the cultural policies of the Party and continued to create valuable works.” Xin hỏi những tác phẩm nào là quí giá của giới viết văn, làm thơ, hay vẽ tranh miền Bắc những năm 1950 hay 60?

Nhận định của tác giả, thật ra, là bất nhất và mâu thuẫn, vì ở một trang sau đó, ông lại viết là Nguyên Hồng và Nguyễn Tuân tiếp tục in (sách) nhưng phẩm chất không bằng những sách họ xuất bản trước kia,” nguyên văn nơi trang 303: “… Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân continued to publish, but could never reach the quality of the works they had produced previously.”

Trang 296 thì con số nhân mạng trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất 1953-56 đã bị tác giả rút xuống chỉ còn “hàng ngàn người chết,” nguyên văn: The campaign (Cải Cách Ruộng Ðất) was rife with mistakes and claimed the lives of thousands of victims.” Theo Nguyễn Minh Cần, một cán bộ cao cấp trong Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã phản tỉnh, thì số nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc trong các năm 1953-56 là 172,000 người!

Còn sự kiện Cộng Sản chiếm giữ Huế hàng tháng và tàn sát dân Huế không hề thấy tác gỉa trình bầy. Che dấu tội ác cũng chính là tội ác vậy!

Bắt đầu từ trang 310 là chúng ta đi vào chương cuối cùng của sách, tựa đề “Nothing is more precious than Independence and Unity,” tức là lấy hẳn một câu nói của Hồ Chí Minh.

Chương này tôi càng thấy nhiều chuyện cần bàn.

Tác giả trình bầy là những tháng đầu sau khi chiếm cứ toàn thể lãnh thổ miền Nam, PRG, tức Provisional Revolutionary Government of South Vietnam, tức Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, lúng túng chưa biết áp dụng chính sách gì cho miền Nam.

Vậy là tác gỉa coi PRG là một thực thể, mà không biết rằng PRG chỉ là một hình thức mà Cộng Sản Bắc Việt, cụ thể là Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam, đã dựng lên để đánh lừa dư luận thế giới và những người Việt ngây thơ nên ngớ ngẩn. Tác giả hẳn phải biết việc xua năm (5) quân đoàn theo năm (5) hướng vào đánh chiếm miền Nam là hoàn toàn do Bộ Chính Trị Hà Nội quyết định và điều khiển hồi đầu năm 1975.

Những sự kiện lịch sử này người Cộng Sản đâu có dấu diếm sau năm 1975?! Nếu tác giả đọc sách xuất bản tại Hà Nội, từ các cơ quan nghiên cứu, đến các cấp chính quyền, cùng giới lãnh đạo chính trị và quân sự của chế độ Cộng Hoà̉ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hẳn tác giả phải biết từng chi tiết việc đánh chiếm miền Nam thế nào, chi li đến cả chuyện tổ chức cho cán bộ và những nhóm người Việt thân Cộng tại Pháp và Hoa Kỳ dò xét khả năng Hoa Kỳ trở lại Việt Nam sau Hiệp Ðịnh Patris 1973 ra sao (sau khi được nhóm này dò la và thông báo cụ thể, Phạm Văn Ðồng đã có thể tuyên bố trong một buổi họp của Bộ Chính Trị tại Hà Nội, nguyên văn như sau: Cho ăn kẹo Mỹ cũng không trở lại Việt Nam!) Chiến Dịch Hồ Chí Minh cuối cùng chiếm Sài Gòn khởi sự ngày giờ nào, chính sách đối phó với tù hàng binh ra sao, chiếm cứ và củng cố chính quyền thế nào… nhất nhất đều đã được Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội quyết định và điều khiển từ trước.

Làm gì có chuyện các cán bộ “Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” lúng túng không có chính sách cai trị miền Nam sau ngày 30.4.1975 nơi trang 310-311?!

Tiếp theo là tác gỉa đã căn cứ vào tài liệu tuyên truyền của chính quyền Cộng Sản tại Sài Gòn đã đổi tên để viết chính quyền mới sau 1975 đã chú tâm làm sạch xã hội (như tập trung gái mãi dâm, đốt bỏ các bàn đèn thuốc phiện, các loại thuốc xì ke ma túy, tịch thu các loại sách báo phản động, vân vân.)

Thế là tác gỉa thật sự không biết chuyện hàng đàn hàng lũ viên chức phường khóm dẫn thanh niên nam nữ xăm xăm vào các tư gia tại Sài Gòn và các tỉnh, “đóng chốt,” -tức ăn ngủ tại nhà người ta nhiều ngày- để lục lọi hầu tịch thu vàng bạc quý kim sau ngày 30.4.1975 sao?! Cán bộ Cộng Sản vào nhà dân, đến cái soong cái nồi cái gầu múc nước giếng cũng kiểm kê lập biên bản giải quyết (nguyên văn).

Biên bản kiểm kê nhà cửa và tài sản của chính quyền Cộng Sản
tại Nha Trang ngày 18.4.1978 ghi rõ 1 lò ga Sanyo, 3 gầu thiếc
(múc nước giếng), 2 thau nhôm, 3 soong nhỏ, 1 soong lớn không
nắp, 1 ấm nhỏ, 1 ấm lớn, và 180đ tiền mới. Biên bản có chữ ký của
Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng phường Xương Huân, thị xã Nha
Trang, của những người đóng chốt kiểm kệ, và của khổ chủ.
(Tài liệu riêng TAT)

Vàng bạc châu báu thì vào túi ai không biết, còn sách báo thì đốt hết, bất kể loại gì xuất bản tại miền Nam, lập lại trong thế kỷ XX tại nước ta chuyện đốt sách hai ngàn năm trước ở Tầu dưới thời Tần Thủy Hoàng (221-210 BC).

Chính sách ấy mọi rợ hay văn minh trong thế kỷ XX?

Tác gỉa có biết Khảo Cổ Tập San cũng bị tịch thu và thiêu đốt trong dịp này không? Khảo Cổ Tập San, chuyên san do Viện Khảo Cổ VNCH ở Sài Gòn ấn hành trong thập niên 1960, do Giám Đốc Viện Khảo Cổ Trương Bửu Lâm làm Chủ Nhiệm và Chủ Bút, phản động chỗ nào? Nó là loại sách phạm thuần phong mỹ tục từ bao giờ, mà Thông Tri số 218/CT.75 của Bộ Thông Tin Văn Hoá do Bộ Trưởng Lưu Hữu Phước ký ngày 20.8.1975 cấm dân chúng lưu giữ?

Chương cuối cùng này có nhiều sai lầm từ đầu là thế. Nhưng chưa hết, độc giả đọc tiếp sẽ thấy người viết sử dụng danh nghĩa chuyện kể -Story- để liên tục tuyên truyền cho chế độ Cộng Sản ở Việt Nam ngày nay.

Về thảm trạng thuyền nhân nơi trang 313, tác gỉa không hề đề cập đến nguyên do của thảm trạng, không hề nói đến việc chính quyền Cộng Sản thu vàng rồi cho người dân lên tầu vượt biên, không mảy may đề cập đến nạn hải tặc Thái Lan cướp của giết người hãm hiếp phụ nữ bất kể già trẻ. Ngược lại, tác gỉa giải thích chuyện vượt biên đơn thuần là sự mâu thuẫn giữa hai nước Cộng Sản Việt và Tầu.

Ðặc biệt, tác giả đã tự cho phép mình dông dài trong một bộ thông sử Việt Nam chuyện ông về sống ở Việt Nam trong hai năm 1991-1993.

Ðó là dịp tác giả khái quát xã hội Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản. Ông lướt qua những thay đổi để viết về những tiến bộ của chế độ. Khi thì ông nhận định Việt Nam bây giờ không còn là một nhà nước công an nữa, nguyên văn nơi trang 326: “Vietnam no longer looked like a police state.” Ði đến chỗ cực độ, ông viết nay Công An sợ dân chứ không phải là dân sợ Công An, nguyên văn nơi trang 327: “I often heard people say that now the police is afraid of the people and not the other way round.” Ông còn nhận định đảng viên Ðảng Cộng Sản bây giờ đều dấu diếm đảng tịch, nguyên văn cũng nơi trang 326: “Nowadays, people tried to hide the fact that they belong to the Party.”

Trong trang 327, tác giả hồn nhiên viết rằng tuy chưa có tự do báo chí ở Việt Nam ngày nay, nhưng nhiều nhật báo đã trực tiếp tấn công Chính Phủ hay Ðảng và tự do viết về nạn tham nhũng của cán bộ chính quyền cùng những chính sách sai trái của các cơ quan chính phủ.

Cũng nơi trang 327 này, tác gỉa viết Quốc Hội bây giờ có nhiều quyền thế hơn những quốc hội trước đây. Và Hiến Pháp ban hành năm 1990 đã quy định Tư Pháp độc lập thật sự với Hành Pháp, chữ của tác giả là “genuine independence!

Ðặc biệt, tác gỉa đã sử dụng ngôn từ uốn éo “did not look very dissimilar…,” (không có vẻ không khác lắm…) để ca tụng Việt Nam ngày nay về sự đổi mới trong kinh tế và những biện pháp tự do trong chính trị mà ông ví không khác các quốc gia Thái Lan, Nam Dương, Tân Gia Ba, Ðài Loan, hay Ðại Hàn về trình độ tiến bộ. Thập niên 1990 thì làm sao nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam so sánh với các nước Thái Lan, hay Nam Dương, hay Tân Gia Ba, hay Ðài Loan, hay Ðại Hàn được? Cho đến thập niên 2010, tổ chức xã hội Việt Nam còn chưa chắc đã bằng tổ chức xã hội nước láng giềng Cam Bốt mà!

Tác giả dùng trang 328 để tiếp tục ca tụng những thành quả của CHXHCNVN: Năm 1991, bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, vốn đầu tư Ðại Hàn bắt đầu đổ vào cũng năm 1991, Hiệp Hội Các Quốc Gia ÐNA ASIAN nhận Việt Nam làm thành viên quan sát năm 1993 và thành viên chính thức năm 1995, Hoa Kỳ hủy bỏ cấm vận và tư bản Mỹ ồ ạt đầu tư năm 1994, Hoa Kỳ bình thuờng hóa quan hệ ngoại giao năm 1995, tỷ số tăng trưởng hàng năm lên hai con số (tức là trên 10%).

Vân vân và vân vân.

Thật đáng tiếc là khi viết A Story of Viet Nam, giáo sư Trương Bửu Lâm của Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn được kính nể về chuyên môn ngày nào đã từ bỏ vai trò cao quí của một người thầy, hơn thế nữa, một sử gia, để đóng vai trò của một cán bộ tuyên truyền cho chế độ độc tài độc đảng đang tại vị.

Ðể giải thích thiên hướng nghiên cứu kỳ lạ của một giáo sư đại học Mỹ gốc Việt, tôi nghĩ tác giả đã bị ảnh hưởng xấu của hoàn cảnh.

Tác gỉa sống ở Mỹ trong suốt thời gian 1964-1975 nên chịu ảnh hưởng của phong trào phản chiến đã phải uốn mình theo bọn trí thức phản chiến trong môi trường đại học Mỹ để tồn tại. Thêm vào đó, tác giả chịu ảnh hưởng của thân tộc vốn có những người thân Cộng (như một người bà con là Lý Chánh Trung chẳng hạn, từng viết sách xuất bản giữa Sài Gòn về những ngày ông ta sống và dạy học dưới chính thể VNCH là Những Ngày Buồn Nôn, nxb Ðối Diện, 1971, 317 trang, trong khi chính quyền VNCH tiếp tục đãi ngộ cho họ Lý dạy Ban Nhân Văn tại Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn tận đến ngày 30.4.1975!) cùng những thân nhân khác -còn gần gũi hơn nữa- trong gia đình chăng?

Rốt lại, lời đoan chắc của tác giả, là ông đã khách quan đến mức tối đa, nguyên văn nơi trang IX: “I have narrated my story with the greatest impartiality I am capable of….” là chuyện lời nói không đi đôi với việc làm!

Hình ảnh cũng cho thấy “tình cảm thân thương” tác giả dành cho chế độ hiện nay tại Việt Nam như thế nào. Sách có rất ít hình ảnh các nhân vật lịch sử, nhưng sách đã có hình hài dung tục cởi trần mặc sà-lỏn của hai cán bộ văn hoá Hà Nội đi… tắm biển là Ðinh Gia Khánh và Phạm Huy Thông nơi trang 198!

Sách trình bầy rất ít tài liệu lịch sử và chưa một tài liệu nào trong 4,000 năm sử Việt chiếm nổi một trang sách, nhưng Di Chúc của Hồ Chí Minh được trịnh trọng giới thiệu trong sáu (6) trang, từ trang 289 đến trang 294, và toàn bộ Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hồ Chí Minh tại Ba Ðình năm 1945 trong hai trang rưỡi (2.5), từ trang 192 đến trang 194, chưa kể hình bìa tờ Tạp Chí Cộng Sản đã được in trước đó, trang 178, hay bản tin tìm mộ bộ đội Bắc Việt sau đó, trang 319.

Hình bìa quyển Những Ngày Buồn Nôn của Lý Chánh Trung,
giáo sư Ban Nhân Văn Ðại Học Văn Khoa, do nhà xuất bản
Ðối Diện phát hành tại VNCH năm 1971. (Tủ sách TAT)

Thiên hướng “cái gì cũng phải từ Hà Nội” của tác giả khiến danh sách sách báo tạp chí, hay tựa đề một bài thơ, hay tên tuổi một nghệ sĩ, một nhà văn, một họa sĩ… trong các trang của A Story of Viet Nam thường là từ miền Bắc.

Vì thiên hướng như thế, tôi thất vọng về cái nhìn của tác giả khi ông trình bầy một khía cạnh văn hoá của dân tộc Việt Nam, là hội họa. Có ai biết ba người Bùi Suối Hoa, Ðinh Thị Thắm Poong, và Ðinh Quân là ai không?! Họ có xứng đáng đại diện cho hội họa Việt Nam trong một quyển thông sử chứa đựng hơn 4,000 năm hay không?!

Ðiểm tích cực nhất mà tôi có thể tìm thấy trong A Story of Viet Nam là bóng dáng của một sử gia chuyên nghiệp qua nội dung tổng quát của sách. Ðây là một quyển thông sử trình bầy lịch sử văn minh, mà không phải đơn thuần là loại thông sử của các tác giả tài tử chỉ biết trình bầy lịch sử dân tộc bằng những trận đánh hay bằng sinh hoạt của vua quan tại triều đình. Sách còn có một nhận định… lạc lõng nhưng thật ra rất chính xác, rằng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thành lập năm 1954 là một chính phủ của Ðảng, do Ðảng, và vì Ðảng, nguyên văn nơi trang 295: “… the government of the Party, by the Party, and for the Party.”

Trước năm 1975, giáo sư Trương Bửu Lâm đã được chế độ Việt Nam Cộng Hòa biệt đãi. Năm 1957, ngay sau khi tốt nghiệp một trường Công Giáo nhỏ ở Bỉ -đại học Louvain- về nước, với vị thế của một bạch diện thư sinh mới rời ghế nhà trường, ông đã được bổ nhiệm vào chức vụ Giám Ðốc Viện Khảo Cổ và giáo sư của tất cả các đại học tại VNCH thời bấy giờ, là ba đại học Sài Gòn, Huế, và Ðà Lạt. Hơn thế nữa, ông còn được gia đình tổng thống Ngô Ðình Diệm biệt đãi, mời vào Dinh Ðộc Lập dạy kèm cho các con của ông bà cố vấn Ngô Ðình Nhu.

Tôi không xa lạ với giáo sư Trương Bửu Lâm. Ông là thầy tôi tại Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn trong niên khoá 1963-1964, niên khoá cuối cùng và dở dang ông dạy tại Việt Nam trước khi đi Mỹ và ở lại luôn từ đó.

Vào những ngày xưa trong sáng ấy, giáo sư Trương Bửu Lâm phụ trách môn Phương Pháp Sử. Giảng khoá của ông giá trị ở những kỹ thuật căn bản và những gợi ý cần thiết cho sinh viên trong nghề đã thấm vào máu thịt tôi từ đó.

Chính giảng khoá này năm 1970 bị một “giáo sư” Ðại Học Văn Khoa Ban Sử khác là Châu Long ăn cắp nguyên văn đem in dưới tên ông ta, tựa là Sử Học Nhập Môn (Sài Gòn, Văn Hào xb, 1970, 178 tr.) trong phần Phương Pháp Sử Học Tây Phương, tr. 25-85.

Cũng cần nói thêm là ông Châu Long lại là một đầu mối nằm vùng của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam mà biệt thự của ông tại Làng Ðại Học Thủ Ðức trước năm 1975 là nơi chứa chấp các cán bộ cao cấp Cộng Sản mỗi khi họ về Sài Gòn.

Sau ngày 30.4.1975, khi tất cả cư dân của Làng Ðại Học Thủ Ðức bị Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn Gia Ðịnh đuổi ra để họ chiếm cứ, thì ông Châu Long được Ủy Ban đền bù bằng một biệt thự trên đường Chi Lăng, Phú Nhuận. Tôi biết rõ được những chi tiết này vì một ngày đầu tháng 5.1975, ông Châu Long đã nhắn tôi đến đó gặp ông. Hôm ấy có mặt người thứ ba là giáo sư Lê Văn Chưởng dạy Ban Việt Hán, ̣ĐHVK Sài Gòn. Ở đó, ông Châu Long cho biết biệt thự ông đang ở là của Nguyễn Thiện Nhơn, hay Thượng Nhơn gì đó, Phụ Tá Ðặc Biệt của Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, nhà có 18 phòng, nhiều đến nỗi có phòng ông còn chưa vào. Rồi ông Châu Long gằn giọng, nguyên văn, “Anh thấy chưa, tôi đã đuổi Nguyễn Thế Anh ra khỏi Việt Nam rồi. Ban Sử là một ổ CIA, Ðỗ Phan Hạnh là trưởng lưới. Anh làm gì thì khai đi, người ta biết hết rồi. Anh có làm cho USIS không?”

Ðó là lần đầu tiên trong đời, tôi nghe thấy danh từ lạ tai “trưởng lưới” trong ngành an ninh tình báo! Càng nghe ông Châu Long nói, tôi càng chưng hửng, vừa buồn vừa chán vừa khinh vừa…sợ vì trước đó, thời VNCH, Châu Long là vị giáo sư rất hiền lành tử tế, cả một đời dạy học hầu như ông chưa hề đánh rớt sinh viên bao giờ!

Hôm ấy, ông Châu Long còn đưa cho anh Chưởng và tôi xem tấm thiệp của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn mời ông tham dự lễ mừng chiến thắng tại Dinh Ðộc Lập vào ngày, nếu tôi nhớ không lầm, là 12.5.1975.

Anh Lê Văn Chưởng hiện còn ở Sài Gòn thì phải, còn ông Châu Long nghe nói sau này hối hận (?), vào ở trong một ngôi chùa và mất ở đó. Thế cũng xong một kiếp người!

Hạng “giáo sư” như ông Châu Long này (xuất thân “tiến sĩ đại học” là thứ tiến sĩ ở Pháp cho không những phần tử tại các thuộc địa để họ về lại đất nước họ, loại bằng mà ứng viên không cần có Cao Học, cũng chẳng cần Cử Nhân, chỉ cần nộp một “công trình” là xong) được chế độ Việt Nam Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy đại học, cho làm công chức cao cấp tại Bộ Ngoại Giao (phụ trách chương trình đào tạo Tham Vụ Ngoại Giao), được cấp biệt thự sang trọng tại Làng Đại Học Thủ Đức, vậy mà nằm vùng cho Cộng Sản đánh phá miền Nam, rồi tố cáo đồng nghiệp và sinh viên của mình cho các cán bộ Cộng Sản tiếp thu Trường Đại Học Văn Khoa tại Sài Gòn đầu tháng Năm năm 1975 thì có xứng đáng được gọi là “giáo sư” hay không?!

Hỏi, tức là trả lời!

Xin trở lại với giáo sư Trương Bửu Lâm. Tôi đã đắn đo -và có phần đau buồn- trước khi viết những dòng chữ trên đây. Lý do là truyền thống đạo đức Ðông Phương dạy người ta tôn kính và nhớ ơn thầy. Nhưng cũng là một ông thầy trong hơn 8 năm tại Việt Nam và 26 năm tại Hoa Kỳ, tôi nhận định thầy phải xứng đáng là thầy về khả năng và nhất là về tư cách thì trò mới tôn kính và nhớ ơn được. Tôi lại nghĩ đến những tội bất hiếu trong truyền thống Ðông Phương. Thường thì ai cũng chỉ biết tội nặng nhất, là tội không có con trai nối dõi tông đường, mà ít ai biết được hai tội kia. Ðó là tội làm con đã trưởng thành mà không đi làm nuôi cha mẹ già yếu. Và tội thấy cha mẹ lầm lỗi mà không lên tiếng để người khác chê cười cha mẹ.

Vì thế, tôi đã quyết định viết những dòng chữ trên. Mong độc giả và nhất là Giáo Sư Trương Bửu Lâm hiểu. Mà không hiểu thì tôi đành chịu, chứ trong nghề thì tôi không làm khác được.

Cuối cùng, những dòng chữ trên đây không hề có ý phê bình sự thiên Cộng của giáo sư Trương Bửu Lâm. Tôi tôn trọng lý tưởng của người khác. Người có lý tưởng mà tranh đấu cho lý tưởng, sống chết với lý tưởng, càng đáng trọng hơn nữa.

Tôi giành quyền phân tích là phân tích sự xuyên tạc và bóp méo sự kiện quá khứ của người viết Sử!

Nếu, ngay trong lời nói đầu, tác giả của A Story of Vietnam cho biết ông viết nhằm vinh danh Ðảng Cộng Sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh của đảng này thì vấn đề đã tách bạch. Và độc giả nào đồng hội đồng thuyền với ông xin cứ tiếp tục thưởng thức.

Nhưng không, tác giả đã nhân danh một sử gia chuyên nghiệp để viết lịch sử của một dân tộc.Nguyên văn trong phần Lời Tựa (Preface) nơi trang VIII như thế này: “As a specialist of Southeast Asian History, I am often asked to introduce a book that would relate the history of Vietnam, from its beginnings to the present… That is the reason I am happy and humbled to introduce here a work of mine I entitled A Story of Vietnam. I call it a story and not a history, because I do not want my book to be the usual conventional textbook, overburdened with interminable academic, historical, and bibliographic references. I prefer it to be easy to read, shorter on facts, and longer on stories. I also want my book to represent the sum total of what I have learned existentially about Vietnam in Vietnam, added to what I have researched and studied during the decades that I taught its history in colleges and universities in Vietnam and in the U.S.”

Xin tạm dịch: “Là một chuyên viên về sử Ðông Nam Á, tôi thường được yêu cầu viết một quyển sách liên hệ đến lịch sử Việt Nam từ khởi nguyên cho đến hiện tại… Ðó là lý do tôi vui mừng và khiêm tốn giới thiệu một tác phẩm của tôi tựa đề Chuyện Kể về Việt Nam. Tôi gọi đây là chuyện kể mà không phải là sử vì tôi không muốn sách của tôi là loại giáo khoa thông thường, miên man những tham chiếu hàn lâm, lịch sử, và thư tịch. Tôi thích sách dễ đọc, sự kiện càng ít mà chuyện kể càng nhiều. Tôi cũng muốn sách của tôi là tổng thể tất cả những gì tôi đã thực sự học được về Việt Nam tại Việt Nam, cộng với những gì tôi đã nghiên cứu và tìm hiểu qua nhiều thập niên giảng dạy Việt Sử trong các trường đại học lớn nhỏ tại Việt Nam và ở Hoa Kỳ.”

Thật đáng tiếc là tác giả của những sử phẩm chuyên nghiệp và giá trị như Sử Học Phương Pháp Luận tại Sài Gòn thời VNCH và sau này tại Hoa Kỳ như Patterns of Vietnamese Response to Foreign Intervention, hay New Lamps for Old, hay Resistance, Rebellion, Revolution, hay Colonialism Experienced lại là tác gỉa của A Story of Vietnam lúc về hưu.

Những công trình nghiêm túc trên đây bên cạnh thứ sách tuyên truyền chính trị thật không xứng đáng với tầm cỡ của một giáo sư đại học xuất thân từ miền Nam nước Việt!

Mặt khác, tôi không tin rằng với tình cảm dành hết cho Ðảng Cộng Sản và chế độ Cộng Sản độc tài toàn trị tại Việt Nam mà tác giả của A Story of Viet Nam sẽ được chế độ Hà Nội trọng vọng hay ưu đãi. Vì, với bản chất đa nghi của những nông dân trong làng xã, người cán bộ Cộng Sản Việt Nam nhìn ông trước sau chỉ là trí thức tiểu tư sản thành thị với tất cả những căn tính hời hợt, ham hưởng thụ, sợ khó sợ khổ, mà không có lý tưởng gì cao cả.

Khi nhận được quyển A Story of Vietnam do Giáo Sư Trương Bửu Lâm gửi từ Hawaii với hàng chữ “Xin gởi tặng Anh Trần Anh Tuấn để cùng nhớ lại những kỷ niệm xa xưa. Trương Bửu Lâm (ký),” tôi đã bối rối. Nội dung thế này thì làm sao mà tôi im lặng được?!

Vì thế, tôi đã phải mua ngay một quyển thứ hai để phân tích. Còn quyển được vị Thầy cũ ưu ái gửi tặng thì tôi xếp vào tủ sách của những kỷ niệm xa xưa và trong sáng, nẩy sinh từ niên khoá 1963-64 tại Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn.

Nói “xa xưa và trong sáng” vì hồi đó, Sử Học Phương Pháp Luận của giáo sư Trương Bửu Lâm là sách, cours quay ronéo thì đúng hơn, gối đầu giường của tôi. Và khi tôi đến thư viện Viện Khảo Cổ -lúc ấy là một biệt thự nhỏ ở đường Lê Thánh Tôn ngay trung tâm Sài Gòn- đọc sách, thì hầu như sách nào tôi tìm đọc, nhất là các ấn phẩm của École Francaise d’ Extrême-Orient (Viễn Ðông Bác Cổ Học Viện, quen gọi là Viện Viễn Ðông Bác Cổ, hay Viện Bác Cổ, Hà Nội), Société des Amis du Vieux Hué (Ðô Thành Hiếu Cổ Hội, Huế), và Société des Études Indochinoises (Ấn Hoa Cổ Học Hội, quen gọi là Hội Nghiên Cứu Ðông Dương, Sài Gòn), cũng thấy những ghi chú ngoài lề bằng bút chì, nét thanh mảnh rất rõ và đẹp của Ông Giám Ðốc họ Trương, người lúc nào cũng mặc complet mầu nâu sáng với mái tóc hippy dài phủ gáy, đúng điệu hào hoa của một công tử Nam Kỳ Lục Tỉnh!

TRẦN ANH TUẤN

(Trong Sử Việt Tại Bắc Mỹ 1975-2020 chưa xuất bản)




Ở Cuối Hai Con Đường

Ở Cuối Hai Con Đường

Những năm “cải tạo” ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.

Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.

See the source image

Ngày nhập trại, sau khi “biên chế” xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái lán lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ “đồng chí cán bộ quản giáo” đến tiếp nhận.

Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào lán. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Một nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ: “Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ?”

Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi, miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.

Bằng một giọng đặc sệt Nghệ Tĩnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình: Nguyễn văn Thà, rồi “báo cáo” môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản “lý lịch trích ngang”.

Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ “tội” dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm – bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm – bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:

–  Trong này có anh nào thuộc Sư Đoàn 23?

Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng:

–  Thưa cán bộ, có tôi ạ.

–  Anh ở trung đoàn mấy.

–  Trung Đoàn 44.

–  Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?

–  Vâng, có ạ.

Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên:

–  Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó.

Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:

–  Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào?

–  Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư Đoàn 320.

Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:

–  Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.

–  Sau đó cán bộ được trao trả? Tôi hỏi.

–  Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị. Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.

Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi lán được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói:

–  Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy.

Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một người tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.

Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong lán, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bằng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.

Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng:

–  Tôi để một giỏ cá đằng sau lán. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.

Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.

Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân, quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp “Hoàng Cầm” để luộc sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luộc sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh “chuẩn bị đi về”, anh em tức khắc giấu hết “tang vật” xuống một cái hố đã đào sẵn.

Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no – dù chỉ là no sắn.

Không biết tối hôm ấy, trong giờ “giao ban”, quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng?

Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ:

–  Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.

Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em:

–  Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư Đoàn 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm. Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.

Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.

–  Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? Một anh tù hỏi.

–  Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố giấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằn vặt mãi cho đến hôm nay.

Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.

Một buổi sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.

* * *

Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 50 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.

Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị “hạ tầng công tác” ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.

Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ học. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.

Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.

Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nở, đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.

Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen cho biết bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.

Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.

Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ đến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thuở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ: “Ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn”. Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.

Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.

Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.

Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ -20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe. Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.

–  Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ? Tôi hỏi.

–  Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.

Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:

–  Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?

–  Ông Thà, Nguyễn văn Thà, bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan?

–  Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.

–  Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.

Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những người đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.

Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng nhiều lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi.

–  Bây giờ cháu đang ở đâu? Tôi hỏi.

–  Cháu đang trốn ở nhà một người bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.

–  Ba cháu bây giờ làm gì?

–  Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.

Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.

Tôi nhớ tới một người bạn Ba-Lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau, anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.

Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang. Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.

Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm. Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.

Anh đưa tôi đến gặp cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.

Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.

Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.

* * *

Các Anh thân quý

Khi ngồi viết những dòng này cho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: “Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại để chăm lo cho bộ lông của mình”. Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.

Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.

Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới. Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình.

Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba-Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.

Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quý giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che cho ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian…”

* * *

Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: “Xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ?”

August 27, 2008

phạm tín an ninh




THỬ PHÂN TÍCH MỘT BÀI THƠ CỦA THÍCH TUỆ SỸ

THỬ PHÂN TÍCH MỘT BÀI THƠ CỦA THÍCH TUỆ SỸ

Vĩnh Đào

KHÔNG ĐỀ

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn.

Trên đây là một bài thơ rất được nhiều người biết đến của nhà thơ thiền sư Thương toạ Thích Tuệ Sỹ (ngày nay là Hoà thượng Thích Tuệ Sỹ). Bài thơ rất quyến rũ, lời thơ đậm màu triết lý nhân sinh nhưng cũng rất bí hiểm. Làm sao “hiểu” được bài thơ này? Người thưởng thức thơ có thể đọc đi đọc lại nhiều lần và thấy mình bị cuốn hút vì nhạc điệu của bài thơ cũng như những ngôn từ thanh thoát, gợi cảm, vừa giản dị vừa thông thái, nhưng không biết phải diễn dịch cách nào, làm sao theo dõi những tư tưởng của tác giả. Cho đến nay không có một bài bình giảng nào thử đưa ra một đuờng hướng để tiếp cận bài thơ này, ngoại trừ một bài cảm tưởng của Bùi Giáng (“Đi vào cõi thơ Tuệ Sỹ”, đăng trong quyển Đi vào cõi thơ, Nhà xuất bản Ca Dao, Sài Gòn, 1969), được thường xuyên nhắc tới trong những bài viết về thơ Tuệ Sỹ.

Nhưng theo tôi, thi sĩ Bùi Giáng chỉ đưa ra những cảm tưởng khái quát, khẳng định những điều to lớn, mà không đưa ra bất cứ một luận cứ nào để chứng minh những điều mình nói: “Ta tưởng như nghe ra ‘cao cách điệu’ bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzsche… Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ từ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.” Khẳng định những điều to lớn như vậy không có ích gì để giúp cho người đọc có một cái nhìn rõ hơn về tác phẩm.

Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ - Nhân Vật Phật Giáo - Hoavouu.com

Trước khi thử tìm một lối tiếp cận thỏa đáng bài thơ này, chúng ta cần biết rõ hơn về tác giả và hoàn cảnh sáng tác thi phẩm.

Thích Tuệ Sỹ, tên thật là Phạm Văn Thương, sinh tại Paksé, Lào, năm 1943. Vào đầu thập niên 1970 trong số các giáo sư của Viện Ðại Học Vạn Hạnh thì Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ và Phạm Công Thiện, chủ bút tạp chí “Tư tưởng” của Viện Ðại Học Vạn Hạnh, cả hai đều dưới 30 tuổi, được xem là những trí thức lỗi lạc nhất. Tuệ Sỹ chuyên về Phật học và tư tưởng Đông Phương, còn lãnh vực của cư sĩ Phật giáo Phạm Công Thiện là triết lý Tây phương. Cuối năm 1970, Phạm Công Thiện rời Việt Nam để đi Pháp và không trở về. Tuệ Sỹ thay Phạm Công Thiện chịu trách nhiệm tạp chí Tư Tưởng, nhưng đến năm 1973 thì Tuệ Sỹ cũng quyết định rời bỏ Sài Gòn và Viện Ðại Học Vạn Hạnh để rút về chùa Hải Đức, trên đỉnh đồi cao heo hút phía Tây thành phố Nha Trang. Chưa đầy hai năm sau thì xảy ra biến cố tháng 4 năm 1975 và sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hoà.

Cuối hè 1976, Thầy Tuệ Sỹ lại quyết định dấn thân vào một cuộc thử nghiệm mới. Ông rời chùa Hải Đức, một mình đi làm rẫy ở vùng rừng núi Vạn Giả, cách Nha Trang khoảng 60 cây số. Đến năm 1977, ông rời Vạn Giả vào Sài Gòn sống ở chùa Già Lam. Năm 1978, thì bị nhà cầm quyền CSVN bắt giam cho tới đầu năm 1981.

Ngày 1-4-1984, Thượng toạ Tuệ Sỹ lại bị bắt giữ cùng với Giáo sư Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát và một số tăng ni, bị kết tội âm mưu lật đổ chính quyền. Trong phiên tòa xảy ra năm 1988, ông bị kết án tử hình cùng với Giáo sư Lê Mạnh Thát. Do sự can thiệp của các cơ quan bảo vệ nhân quyền quốc tế, ông được giảm án xuống còn chung thân khổ sai. Năm 1998 Thượng toạ cùng với một số người khác được trả tự do.

Năm 1999, Hoà thượng Thích Tuệ Sỹ đảm nhiệm trách vụ Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), một tổ chức tổ chức không được chính quyền CSVN và Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) thừa nhận. Năm 2019, Tăng Thống Thích Quảng Độ ủy thác Hoà thượng Tuệ Sỹ lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở vị trí Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống trong thời gian Tăng Thống lâm trọng bệnh. Hoà thượng Tuệ Sỹ tiếp tục xử lý thường vụ Viện Tăng Thống sau khi Tăng thống Thích Quảng Độ qua đời vào tháng 2-2020.

Tập thơ Giấc mơ Trường Sơn do An Tiêm xuất bản năm 2002 tập họp các bài trong bốn tập bản thảo mỏng là Phương trời viễn mộng gồm 9 bài thơ viết trước năm 1975, Giấc mơ Trường Sơn gồm 29 bài sáng tác từ năm 1975 đến 1980, Tĩnh toạ gồm 9 bài, viết từ 1983 đến năm 2000, và Tĩnh thất, gồm 32 bài viết trong các năm 2000 và 2001.

Bài thơ trên đây, tác giả chỉ để là “Không đề” trong tập bản thảo. Trong tập Giấc mơ Trường Sơn, bài này mang tên “Khung trời cũ”. Đây có lẽ là tựa do nhà xuất bản đặt khi in lại, nhưng tựa đề này hình như không thích hợp mấy vì không liên quan đến các ý tưởng tản mạn của tác giả, từ những kỷ niệm của quá khứ đến những tư tưởng triết lý về thời gian và cuộc đời, và trở về hiện tại giữa bốn bức tường của tác giả, mơ tưởng đến một con suối giữa rừng, diễn tả rất sâu sắc và cô đọng.

Bài thơ trên được sáng tác theo thể thơ tự do, bắt đầu bằng hai câu thơ 9 chữ, phần còn lại chủ yếu là những câu thơ 8 chữ, xen kẻ với những câu 7 chữ, không theo một trật tự nào nhất định, nhưng khi đọc lên nghe rất quyến rũ vì nhạc tính rất cao và gây nên những cảm xúc khó tả, tùy theo những kỷ niệm cá nhân của người đọc, tuy rằng không dễ tìm ra những ý nghĩ nào dẫn dắt bài thơ.

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Việc đầu tiên không nên làm là tự đặt ra những câu hỏi: Đôi mắt ướt của ai? Tuổi vàng nào? Và khung trời nào mà hội cũ? Những thắc mắc sẽ không bao giờ có được câu trả lời. Tác giả có những tâm tư, ý tưởng, những ám ảnh của riêng mình, viết ra thành lời thơ mà không có chủ đích diễn tả làm sao để người đọc hiểu rõ ngọn ngành. Vậy không có ích gì khi cố gắng tìm một cách diễn dịch nào cho “hợp lý”. Chúng ta chỉ có thể nhận thấy là hình ảnh này đã từng ám ảnh tác giả trong một bài thơ sáng tác trước đó vào năm 1976, trong thời gian đầu ở rừng Vạn Giả:

Người mắt biếc ngây thơ ngày hội lớn

Khóe môi cười nắng quái cũng gầy hao

(“Một thoáng chiêm bao”)

Còn áo màu xanh nào? Trên đồi hoang thì chỉ có thể màu xanh của cỏ thay đổi theo thời gian. Hay là áo của một người nào? Không có gì cho phép xác định và điều này cũng không quan trọng để có thể ngăn cản chúng ta tìm hiểu phần tiếp của bài thơ.

Theo lời kể lại của Thượng tọa Thích Phước An, về sau là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Văn Hoá của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, thì chính Thầy Phước An vào mùa hè năm 1976 đã lên một chiếc xe đò cũ kỷ cùng với Thầy Tuệ Sỹ, để đưa Thầy đi làm rẫy tại một khu rừng hẻo lánh ở thị trấn Vạn Giả, gần đèo Cả. Rồi sau đó thì cứ một, hai tuần, Thầy Phước An lại về rừng Vạn Giả thăm bạn. Thầy thuật lại: “Đôi khi tôi ở lại đêm với anh trong túp lều tranh do tự tay anh cất lấy. Những lúc ở lại đêm như vậy, tôi lại càng cảm phục sức chịu đựng của anh. Đêm nơi đó chẳng có gì cả, ngoài ngọn đèn dầu leo lét trong túp lều tranh và bóng tối mịt mù giữa núi rừng mênh mông.”

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Chính những kỷ niệm ngồi tâm tình trong đêm khuya bên ngọn đèn dầu đã để lại cho nhà thơ những hình ảnh khắc sâu trong ký ức và cho cảm giác mình chia sẻ kiếp sống phiêu bồng của những người du thủ. Tác giả cũng đã nhắc đến một kỷ niệm tương tự trong một bài thơ khác:

Ai biết mình tóc trắng

Vì yêu ngọn nến tàn.

Rừng khuya bên bếp lạnh

Ngồi đợi gió sang canh.

(“Rừng khuya bên bếp lạnh”)

Sau khi hồi tưởng vài hình ảnh của quá khứ, nhà thơ chuyển dòng tư tưởng sang một hướng khác:

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Núi và biển biểu hiện cho thiên nhiên và tạo hoá, một thiên nhiên trường tồn qua năm tháng, không chịu ảnh hưởng của thời gian, không thể bị hủy diệt, không có gì biến mất, dù chỉ là một hạt muối trong lòng biển. Trước cái vô hạn của thiên nhiên là cái hữu hạn của con người:

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Người bị thời gian chi phối có cảm giác ngày vui qua mau, cùng với sự tiếp nối liên tục của các mùa. Xuân Diệu đã từng thở than: “Vừa nắng mai sao đã đến sương chiều?” Thi hào Victor Hugo của trào lưu lãng mạn Pháp thế kỷ 19 trong tập Lá mùa thu xuất bản tại Paris năm 1831 cũng đã so sánh tính trường tồn bất diệt của thiên nhiên trước cái cái mong manh của đời sống con người. Vạn vật luôn luôn tươi trẻ, mỗi năm lại hồi sinh trong một lễ hội tưng bừng, hoàn toàn thản nhiên, vô cảm trước kiếp người ngắn ngủi. Nhà thơ đã có những câu thấm thía như sau:

Một ngày tôi sẽ ra đi, giữa khung trời mở hội

Mà không có gì mất mát cho cõi đời rạng rỡ bao la! [1]

Nhưng đối với thiền sư, chắc chắn không có những tiếc nuối như vậy. “Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng?” chỉ là một câu hỏi cho người phàm tục. Đối với người tu hành, kéo dài kiếp sống chỉ là để trả cho xong nợ trần thế:

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Chỉ vì “tuổi đời chưa đủ” nên tác giả mới còn phải lưu lại trên trần gian, kéo dài một chuỗi ngày vô vị không có gì mà phải tiếc nuối. Các từ ngữ “gót mỏi” và “đi quanh” cho thấy nỗi chán chường của tác giả trước kiếp sống hiện tại.

Trở về với thực tại, nhà thơ đối mặt với tình trạng bị giam hãm của mình giữa bốn bức tường.

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn

Phải chăng đây cũng là một bước đi quanh quẩn trên con đường cát bụi của cõi trần gian? Rồi nhà thơ lại đưa trí tưởng tượng đến cảnh vật tự do thanh thản bên ngoài. Và biểu hiệu của tự do chính là con suối tung tăng giữa đá sỏi và cỏ cây, thảnh thơi chảy về sông và ra biển khơi. Trong một bài thơ khác của tập Giấc mơ Trường Sơn, tác giả cũng đã nhắc đến khoảng thời gian bị tù tội:

Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng

Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu

Rồi nhắm mắt ta đi vào cõi mộng

Như sương mai như ánh chớp mây chiều

(“Tôi vẫn đợi”)

Lần này thì mộng mơ của tác giả không còn mơ hồ như sương mai như ánh chớp mây chiều, mà là hình ảnh rõ nét một con suối rộn rã băng ngàn tượng trưng cho ước vọng tự do.

Phần phân tích trên đây chỉ là quan điểm riêng của người viết. Có thể có những lối giải thích khác. Một bài thơ chỉ có giá trị để tồn tại với thời gian nếu nó chứa đựng những ý tưởng dồi dào, gây nên những cảm xúc mạnh mẽ cho người đọc, và cảm xúc có thể khác nhau tùy người đọc.

Nhà thơ có thể muốn bộc lộ một tâm trạng khó phát biểu thành lời, bộc lộ những tình cảm, những cảm xúc dồn dập, tế nhị, trong những câu thơ cô đọng, và chỉ muốn viết ra cho riêng mình, không cố gắng sắp đặt lời văn cho dễ hiểu. Kết quả chúng ta có thể thấy những câu thơ hết sức quyến rũ do nhạc tính của câu, do nhịp điệu và vần, do sự lựa chọn và kết hợp ngôn từ, từ đó tạo cho người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, thích thú… Nhưng ý nghĩa của câu văn nhiều khi không rõ ràng, có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Và không thể nói là cách giải thích này đúng, hoặc cách nhìn kia sai.

Phạm Công Thiện khi bàn về thơ Tuệ Sỹ có nhận xét là: “Đọc thơ mà thấy rằng tác giả muốn nói rõ cái gì thì chẳng còn là thơ nữa.” [2] Trong những trường hợp này, khẳng định rằng: “Tác giả muốn nói…” là một điều hoài công. Mỗi người có thể cảm nhận bài thơ theo cách của mình, không nhất thiết phải tìm hiểu xem cách mình hiểu có hợp với những suy nghĩ của tác giả hay không.

Mặt khác, đứng trước một sáng tác với những ý tưởng dồi dào trình bày rất cô đọng theo ngôn ngữ thơ, người đọc thường thấy bỡ ngỡ và khó có thể tìm ra một đường lối tiếp cận để tìm thấy những nguồn cảm xúc mà tác phẩm có thể đem lại. Có lẽ vì vậy mà bài thơ “Không đề” hay “Khung trời cũ” của tác giả Tuệ Sỹ tuy được biết rất nhiều nhưng ít khi được bình giải. Nhiệm vụ của người bình giải là vạch ra một lối đi và trình bày những lý lẽ để thuyết phục người đọc khám phá tác phẩm theo lối mình. Cách nhìn đó có thể phù hợp với các ý tưởng của tác giả hay là không. Một khi một tác phẩm nghệ thuặt, một bức tranh hay một bài thơ, được trình bày trước công chúng, thì ý nghĩa có tác phẩm không còn thuộc về tác giả mà thuộc về người thưởng ngoạn.

Vĩnh Đào

[1] Je m’en irai bientôt, au milieu de la fête,Sans que rien manque au monde immense et radieux! Victor Hugo, Les Feuilles d’Automne (1831).

[2] “Nguyên Tánh – Phạm Công Thiện, Một Buổi Sáng Đọc Thơ Tuệ Sỹ” đăng lại trong Nguyên Siêu, Tuệ Sỹ Đạo Sư, Thơ và Phương Trời Mộng, tập 2 do Ban Tu Thư Phật Học Hải Đức Nha Trang in tại California, 2006.

Theo Internet




Tình Yêu như chim trời

Tình Yêu như chim trời

Tình yêu như cánh chim trời
Chơi vơi cánh mỏng diệu vời đường mây
Tay ôm vò rượu đêm say
Tình riêng trong cõi mộng này gần nhau

Tiếng đêm vỡ vụn nỗi sầu
Đêm khuya nức nở cơn đau khóc thầm
Lên non ngậm ngải tìm trầm
Xuống thôn hái đóa sen đầm hóa duyên

Trên cành tiếng hót chim uyên
Em nghiêng tay với, cười duyên một mình
Chợt nhìn dáng đứng rất xinh
Lòng anh như đã, sinh tình nở hoa

Trao nhau khăn lụa nhạt nhòa
Dùng dằng giữ lại khóc òa trên tay
Xót thương cho cõi mộng này
Mai sau xin nhớ đến ngày hội đêm.

Lê Tuấn
“trích dẫn một đoạn trong bài trường thi
Tình yêu như chim trời”

Ơn Trời

Ta buồn gửi gió phương tây
Tình riêng giữ lại đợi ngày ra hoa
Trời Nam giọt lệ nhạt nhòa
Đợi ngày hội lớn, thái hòa yêu thương.

Em về đỉnh núi mù sương
Chênh vênh gót nguyệt vấn vương dáng gầy
Nào ngờ gặp gỡ nơi đây
Nhớ nhau tay nắm thương hoài hương xưa.

Ơn trời tình vẫn đẩy đưa
Người từ xa đến vẫn chưa thẹn lòng
Lương duyên dệt mối tơ hồng
Chẻ đôi sợi nhớ chia dòng lệ rơi.

Mùa xuân ta mãi rong chơi
Nghe chim vui hót gọi đời tặng hoa
Mượn cành hoa nở làm qùa
Ghé thăm bạn cũ uống trà móc câu.

Cuối sông lại nhớ giang đầu
Con thuyền buông lái bên cầu đợi ai
Vui xuân rơi mất chiếc hài
Để cho Hoàng Tử ướm hoài chân em.

Vén màn ta bước vào xem
Em nằm gối mộng không thèm điểm trang
Đèn khuya lửa hắt hiu vàng
Đôi chân ngọc duỗi hai hàng động hoa.

Đời buồn theo bóng chiều tà
Bóng trăng tĩnh mịch hiên nhà nhớ thương
Bước đi theo những cung đường
Tình yêu trong cõi vô thường có nhau.

Lê Tuấn
“Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng
Thả hồn vào trong thơ, viết 100 câu lục bát
trong bài “Tình yêu như chim trời” để vinh danh tình yêu và thăng hoa cuộc sống.”

Image may contain: 1 person, shoes and outdoor

Image may contain: 1 person

Image may contain: 1 person
Image may contain: one or more people and outdoor




Tình yêu trên tay

Tình yêu trên tay

Đếm trên tay khoảng khắc ngọt ngào
Có bao đêm thao thức đợi chờ
Tình yêu đó bao lần bỡ ngỡ
Đã bao lần chờ đợi trong mơ.

Đã yêu em, yêu rất thật thà
Nhớ thương nhau sao quá đậm đà
Đừng quên nhé lần đầu gặp gỡ
Đã chìm sâu cảm giác mặn mà.

Cứ bên nhau tình ta lớn mãi
Dù bao lần chạm mối chia tay
Để cho đời gọi hồn lưu lạc
Về thôi! đừng ngại bóng tàn phai.

Từ đó tình thôi không dở chứng
Lặng lẽ thời gian hóa nhiệm mầu
Tuổi xuân tàn uá theo năm tháng
Tóc điểm hoa sương bạc mái đầu.

Lê Tuấn
“Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng”

Image may contain: 1 person, sitting and indoor

Giấc Ngủ Đêm Dài

Lăn qua bên nào cũng nhớ
Nghe tiếng thạch sùng than thở không thôi
Buồn sao cuộc đời trôi nổi
Nhớ và quên vẫn chẻ đôi nỗi buồn.

Chợt thèm lắm vòng ngực ôm
Gối bình yên cánh tay luồn suối tóc
Đêm dài lắm nghe tiếng khóc
Giật mình ngồi dậy, mệt nhọc đời mình.

Đơn sơ như tiếng lòng mình
Tình riêng một bóng thần linh là nàng
Giấc ngủ thao thức muộn màng
Lăn qua đã chạm môi nàng đắm say.

Tế Luân
(người nghệ sĩ lang thang để viết mãi vần thơ tình)




Phỏng vấn GS Tạ Văn Tài

Phỏng vấn GS Tạ Văn Tài về đề tài “Bầu cử Tổng thống Mỹ 2020” và “Phân hóa trong xã hội Mỹ”

Người phỏng vấn: Ký giả Hoàng Bách (Việt  Radio, Huston, Texas, Hoa Kỳ), 10-6-2020

1/ Ngày 5/6/2020, ông Joe Biden chính thức được Đảng Dân Chủ đề cử là ứng viên chạy đua vào tòa Bạch Ốc với ông Trump. Xin GS nhận định về ưu và khuyết điểm của ông ta.

Ông Joe Biden nói không hùng hồn, mạnh mẽ, có lửa và không có vẻ sẵn sàng thay đổi kiểu cách mạng, như ông ứng cử viên Dân Chủ kia, có lúc gần như thắng Biden, là Nghị sĩ Bernie Sanders (vì thế bị ô Trump nhạo báng đặt cho biệt danh là Sleepy Joe – anh chàng Joe buồn ngủ). Nhưng sau khi ông Biden thắng tại South Carolina nơi có nhiều ủng hộ của người da đen, và nhất là sau thắng lớn trong ngày bầu tuyển ứng viên trong nhiều tiểu bang, tức ngày Super Tuesday, March 3, thì các quan sát viên, kể cả nhà báo có tiếng thuộc Đảng Cộng Hoà như Nicholas Kristof, đã kết luận là khuynh hướng thực tiễn trong chương trình của Biden được cử tri tin tưởng là ông có thể trúng cử chức Tổng thống và kéo theo việc trúng cử của thêm nhiều ứng cử viên Dân chủ vào Quốc hội để có đa số dân chủ không những trong Hạ viện (đã có đa số đó rồi) mà còn ở Thượng viện nữa.

Trong cuộc bầu cử thực thụ (general elections) chức Tổng thống vào tháng 11, 2020, ứng cử viên muốn hơn phiếu đối phương thì phải đươc lòng đại da số không những trong Đảng của mình, mà còn cả trong các tầng lớp cử tri độc lập không là Dân chủ hay Cộng hoà, họ khá đòng đảo và là khối cử tri lay chuyển được kết quả bầu cử (swing votes). Quá thiên tả phái như ứng cử viên dân chủ McGovern năm 1972 hay quá thiên bảo thủ Cộng Hoà như Barry Goldwater năm 1964 thì dễ thất bại. Năm 2018, Đảng Dân Chủ đã tạo được đa số trong Hạ Viện là nhờ sự trúng cử của một số ứng viên ôn hoà có lập trường tranh cử thực tiễn. Ông Trump ngán ông Biden, mặc dù nói là Sleepy Joe, vì đòi điều tra gia đình Biden mà không đòi điều tra ông “socialist/ xã hội chủ nghĩa” Sanders xem có dính dáng gì tới chuyện Đại học Burlington không.

Trong những tháng vừa qua và sắp tới khi phong trào bênh vực cử tri da đen nổ bùng lên, có tham dự của nhiều cử tri da trắng và sắc dân khác như người gốc Mễ, có công tâm, ông Trump dọa đem quân đội, chỉ có vai trò quốc phòng ở ngoài lãnh thổ Mỹ, để đàn áp dân biểu tình, như một nhà độc tài lợi dụng chỗ đứng trên cao quyền lực mà chống lại giai tầng trung lưu và nghèo, họ đang hành xử quyền tự do ngôn luận do Hiến Pháp bảo vệ trong First Amendment. Rồi ông phải bẽ bàng rút lui, bỏ chủ trương “khống chế” đó (ổng dùng chữ “dominate”) sau khi các đám biểu tình trở nên ôn hòa, không còn có cảnh đập phá cửa tiệm mà hôi cuả, và nhiều nhân vật Cộng Hoà và tướng lãnh phản đối, chê là vi phạm Hiến Pháp.

Diễn tiến đó là môt sự thắng lợi của Biden, vốn xuất thân từ một gia đình thuộc giai cấp lao động. Trong hơn ba năm, các báo đài đã dùng phương pháp đếm (fact-checking) hơn 20.000 lần ông Trump nói sai sự thật, rồi họ trách ông phản ứng chậm truớc sự lây lan của vi khuẩn COVID-19 (mãi đến ngày 16 March 2020 mói hành động) dù đã được chuyên viên báo động sớm, và đến khi họp báo hàng ngày tại White House với ban chỉ huy, Task Force, thì lại phát ngôn bừa về thuốc ký ninh có khả năng khử virus, dù không có cơ quan y tế nào xác nhận, lại còn giấu diếm mình chậm trễ trong mấy tháng việc ban hành các biện pháp phòng bệnh, bằng cách giấu đi không công bố tờ trình 17 trang của các chuyên gia trong cơ quan Center of Disease Control. Cho nên đến khi ông Trump phát ngôn về muốn dùng quyền Tổng tư lệnh quân đội để trị các đám biểu tình, vốn thuộc quyền giữ an ninh trật tự của các Thống đốc tiểu bang, theo thể chế Liên bang quy định trong Hiến Pháp, thì đủ các thành phần dân Mỹ, kể cả dân thất nghiệp vùng Trung Tây Mỹ truớc đây ủng hộ Trump, càng chán ngán, và hơn nữa ta thấy lại còn nhao nhao nổi lên bao lời phản đối của một số nhân vật quan trọng, kể cả thuộc Đảng Cộng Hoà, khiến chỉ số dân chúng ủng hộ ông Trump, so với ông Biden, giảm đi nhiều. Các tướng trong Uỷ ban Liên quân (Joint Chief) tách khỏi quan điểm ông Trump, nói không thể dùng quân đội, vốn là lực lượng hòa nhập rất tốt mọi sắc dân trong xã hội nước Mỹ, vào việc chống bất cứ công dân Mỹ nào, thuộc sắc dân nào. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mattis dám quở trách Tổng tư lệnh Trump là không nói những lời đoàn kết quốc gia mà trong hơn ba năm cầm quyền thiếu khả năng lãnh đạo, và là mối nguy và miả mai cho Hiến Pháp, ông có thể dùng quân đội đàn áp dân, cho nên ông Mattis noí là “Dân chúng tôi có thể đoàn kết mà không cần ông Trump”. Cựu tướng Colin Powell, cựu Bộ trưởng Ngoại giao của Tổng thống Cộng Hòa Bush, nói là ông sẽ bầu cho ông Biden. Nghị sĩ Cộng Hòa Mit Romney cũng biểu tình nói không ủng hộ Trump.

Sử gia David Brinkley, chuyên khảo các đời Tổng thống, nói là Trump nói những lời chưa ai nói. Theo nhà bình luận các vấn đề quốc tế Kimberley Dozier, các lãnh đạo các quốc gia trên thế giới bị sốc khi nghe Trump nói như trên. Hệ quả về dư luận cử tri, theo thăm dò trong tháng 6, 2020, tỷ lệ ủng hộ Trump chỉ là 40%, thua gần 10% so với tỷ lệ 49% ủng hộ Biden. Hỏi riêng về Trump, tỷ lệ cử tri khen ngợi Trump là 38%, còn 57% phỉ nhổ Trump; hỏi riêng về Biden, tỷ lệ cử tri khen ngợi là 69%. Báo Politico nói phía Trump đang tìm cách phá tan trào lưu đang lên của Biden bằng cách “dí” ông ta vào một vị trí lập trường ngõ cụt nào đó, nhưng chắc không làm nổi, vì ông Biden là cáo già, khéo mềm dẻo, lại có các chính khách gạo cội trong Đảng Dân Chủ, như ông bà Clinton, ông bà Obama, giúp cố vấn.

2/ Do những biến cố bất ngờ như Covid-19, biểu tình chống kỳ thị đã làm lu mờ mua bầu cử của Mỹ năm nay. Theo GS, chủ đề tranh luận trong mùa bầu cử là gì: Kinh tế hay Trung Cộng?

Chủ đề tranh luận trong bầu cử thì sẽ khó tiên liệu, vì sẽ còn tuỳ các biến cố thay đổi và sự thay đổi hay lèo lái bất chợt để lẩn tránh của ông Trump, trơn tuột từ quan điểm này sang quan điểm khác, như con lươn, con chạch.

Thí dụ: Trước đây vài năm hay vài tháng, Trump khuyến cáo nên nói chuyện với bọn White Supremacists, để có thỏa hiệp (“make a deal”) y như là sẵn sàng “đi với quỷ”, nhưng nay ổng lại muốn tự xưng mình giống Nixon khi xưa, 1968, là “candidate of law and order” (ứng cử viên của luật pháp và ổn định). Nhưng vì không có các ứng cử viên cùng đứng trên cùng sân khấu mà tranh luận, vưà ném banh vừa đỡ banh (tung luận chứng vào địch thủ và chống đỡ luận chứng địch ném tới mình), như trong bầu cử sơ bộ trước đây, cho nên tranh luận giữa Trump và Biden có thể qua hình thức online của Internet, do đó có thể ỉu xìu hơn, ít các chuyện bất ngờ có kịch tính, nhất là tôi nghĩ Biden sẽ ít có cơ hội làm rối trí, hạ nhục Trump về sự thiếu kiến thức đào sâu, vì trong cái buồng chỉ có mình ô Trump có camera chiếu vào mặt ông, thì phía đằng sau camera, có thể có các chuyên viên cầm các tờ giấy hay chiếu lên tường các câu trả lời để “nhắc tuồng” ông Trump (tuy phải nhận là ông ta khá thông minh, biến báo nhanh) – thế là giảm cơ hội cho Biden làm lộ rõ kiến thức nông cạn của Trump, vì không chịu đọc các tờ trình cuả các chuyên viên mà chỉ phát ra mấy cái tweets mà bàn sơ sài.

Trước COVID-19, ta có thể nghĩ các đề tranh luận có thể là health care/ repeal ObamaCare, sửa luật thuế cho bớt ưu đãi giới giàu, thi hành gắt hơn hay sửa lại chính sách đi dân nhập cư và xây tường thành biên giới, nhưng nay, chắc kinh tế hậu COVID-19 quá khó khăn cho các tầng lớp trung lưu và nghèo, vả lại đã có các chi phiếu trợ giúp với sự bội chi ngân sách cực lớn cho các tầng lớp do cả hai Đảng cùng chủ trương, cho nên không có các tranh luận về giảm thuế, deficit financing (bội chi). Mà có lẽ chỉ bàn xem có nên có đợt trợ giúp 3 hay không, mà chắc cả hai phiá đồng ý, dù Trump có cố ra lệnh cho Ngân khố US Treasury ghi chữ ký của ông vào chi phiếu trợ cấp, thủ lợi cho tiếng tăm mình (tuy chi phiếu chi tiền cho dân lấy từ Ngân khố Mỹ thì chỉ cần chữ ký Giám đốc Ngân khố). Có lẽ Trump cũng không dám động đến việc hủy bỏ ObamaCare là điểm tựa cùa người dân Mỹ trung bình, trong lúc dân đang khổ vì mất việc, không lương, không tiền mua bảo hiểm. Ông Biden có thể tố cáo ông Trump là kiện hủy bỏ ObamaCare không phải là theo đuổi một chính sách mà là một đòn phá hủy Obama với ác ý, nhưng hại cho dân Mỹ. Trong những tháng COVID-19, làn sóng đi cư vào Mỹ không còn, do đó chính sách hạn chế di dân, kể cả bằng bức tường biên giới tốn kém, chắc cũng không còn là đề tài tranh luận sôi nổi giữa Trump và Biden nữa.

Nhưng vì việc dân da màu đã lâu bị ngược đãi với bạo động và kỳ thị bất bình đẳng, kể cả các biện pháp làm khó việc họ đi bầu (đặt rất ít phòng bầu phiếu gần nơi họ cư ngụ), thì vấn đề tranh luận tới là có nên cho bầu bằng thư cho tất cả những ai không muốn hay không thể đến phòng phiếu, mà xin cấp phiếu bầu qua bưu điện, trong hoàn cảnh COVID-19 phải cách ly, mà người da màu thường chỉ có phương tiện chuyên chở công cộng để đến phòng phiếu.

Về mặt ngăn chặn hay trừng phạt Tàu về việc giấu kín sự lây lan ban đầu của COVID-19 và sự ăn cắp tài sản trí tuệ (intellectual property), bằng các chế tài, hay sự mặc cả ép Tàu mua thêm hàng hoá Mỹ để giảm khiếm hụt cán cân thương mại và chi phó (balance of trade and payments), thì thiết nghĩ lập trường Đảng Cộng hoà và Dân chủ giống nhau. Có lẽ sẽ không có tranh luận nhiều về điểm này trừ khi phe Dân chủ muốn ông Biden bêu xấu ông Trump về sự lầm lẫn quá khứ là cứ khen ōng Tập Cập Bình là “best friend” và cách ông Tập đối phó với đại nạn COVID-19 là có tài lãnh đạo “mạnh mẽ, sắc sảo” và tập trung đua đến “một chiến dịch rất thành công”, rồi sau đó ông Trump mới thấy Tàu giấu diếm, và trừng phạt các bác sĩ Tàu có lương tâm, dấy lên tiếng báo động, và Trump đổi giọng gọi là China Virus hay Wuhan Virus. Đấy là chưa kể Tàu làm hại quyền lợi của Mỹ trong thương mại quốc tế và tự do lưu thông và an ninh hàng hải tại Tây Thái Bình Dương.

3/ Gần đây vì COVID-19, một số tiểu bang đề nghị bầu cử năm nay bằng thư. Ông Trump chống đối vấn đề này, lấy lý do bầu băng thư thì gian lận. Vậy ai có quyền quyết định, Thống đốc hay liên bang?

Xin coi lại những câu tòi đã phát biểu trên về lý do chính cho bầu bằng thư là tạo cho dân thiểu số da màu nhiều cơ hội bầu, chứ bắt họ vượt nhiều khó khăn tới thùng phiếu thì có khi họ không đi, tức là bầu bằng thư là bảo đảm cho sự bình đẳng chính trị, theo nguyên tắc mỗi người một phiếu (one man, one vote). Trong quá khứ, đã có rất nhiều trường hợp bầu bằng thư, như cho quân đội hay công dân cư ngụ ở hải ngoại, v.v. bầu bằng thư mà có xảy ra chuyện gian lận đâu? Việc ông Trump nói ngoa là bầu bằng văn thư sẽ có gian lận thì cũng như việc ông nói bừa không trưng bằng chứng là năm 2016, bà Clinton hơn ông hơn hai triệu phiếu popular votes là có nhiều phiếu gian lận, mà không có ai đồng ý đó với ông.

Tổ chức bầu cử Tổng thống, về mặt vật chất, như xếp đặt các phòng phiếu ở đâu, in phiếu bầu ra sao, kiểm phiếu thế nào, là việc thuộc thẩm quyền của mỗi tiểu bang, do sự quản lý của Secretary of the State. Chắc mọi người còn nhớ là năm 2000, bà Secretary of State cuả bang Florida đã cho nhân viên kiểm và đếm lại các lá phiếu đã có computer đục lỗ rồi, nhưng bà, thuộc Đảng Cộng Hoà, cũng là người cho ngưng việc các nhân viên soi các lá phiếu lên cao xem phiếu bầu cho ai, khi bà thấy số phiếu bầu cho ông Bush tại Florida đủ cho ông thu lượm toàn thể số electoral votes tại Florida, và do đó làm ông có số phiếu cử tri đoàn (elector votes) đủ quá bán trên toàn quốc mà thắng cử vào Toà Bạch Ốc. Theo điều II Hiến Pháp, mỗi tiểu bang sẽ tự quy định việc cử ra cử tri đoàn, các đoàn này cuả các tiểu bang sẽ họp và dựa vào số phiếu quần chúng (popupar votes) mỗi tiểu bang đã bầu cho Trump, hay Biden, ai nhiều phiếu quần chúng hơn thì cử tri đoàn (electors)mỗi tiểu bang buộc phải dồn toàn thể số phiếu cho người đó, Trump hay Biden.

4/ Nhiều nhà xã hội học cho rằng nước Mỹ đang bị chia rẽ và phân hóa trầm trọng. Thực tế có đúng như vậy không? Hay thổi phồng quá đáng?

Quả thực, so với các thời kỳ của các Tổng thống tiền nhiệm gần đây, nhiều ông biết tỏ lòng nhân, rung động, rơi nước mắt, khi muốn nhân dân đoàn kết thương nhau trong các vụ tội phạm do kỳ thị nhau, thí dụ như Clinton đọc điếu văn trong vụ tên lính Timothy MacVeigh thuộc phe da trắng bảo thủ muốn thống trị, cho nổ bom phá toà nhà công sở Liên bang ở Oklahoma, làm chết mấy trăm trẻ em lớp mẫu giáo; hay Obama hát an ủi các tang gia trong tang lễ cho các người da đen bị sát hại khi họ bị khủng bố trong khi ngồi trong nhà thờ, thì chưa bao giờ như bây giờ, ta thấy xã hội Mỹ bị bọn khiêu khích chia rẽ các tầng lớp dân trong sự hằn học với nhau, như trong thời ông Trump, một tổng thống mà cá tính thiếu tính bao dung, lòng thương người, sự mong ước đoàn kết dân tộc, mà chỉ thấy vẻ mặt nhăn nhó, không cừoi, ưa gây sợ hãi, chia rẽ, không những trong quần chúng mà trong cả các hàng ngũ lãnh đạo trong Quốc hội và trong các thành viên nội các hay các nhân viên của bộ máy hành chính. Xa hơn trong quá khứ, Tổng thống Cộng Hoà George H. W. Bush đưa ra khẩu hiệu “Toward a kinder, gentler nation”; Tổng thống Dân Chủ Johnson, dù kẹt với chiến tranh Việt Nam tốn kém mà vẫn đưa ra các chương trình xoá nghèo đói “The Great Society” vào thời gian mà Martin Luther King cũng kêu gọi giúp dân nghèo, ngoài chuyên bình đẳng dân quyền.

Trái lại, ông Trump, thâm tâm kỳ thị da đen (gia đình ông cộng tác với tư bản người Do Thái, kể cả ông thông gia Kushner, và rể Kushner), không thương người nghèo (làm giàu trong sự bóc lột, trả lương rẻ, có khi không trả, cho các nhân công trong các dự án xây cất tại New York), cho nên ông Trump không có cảm tình với dân da màu trong khi biểu tình yêu cầu bỏ các tượng các tướng lãnh phe Miền Nam của Nội Chiến Mỹ tại tỉnh Charlottesville, Virginia, và khi phe “da trắng thống trị” (White Supremacists) ập tới xô xát và lái chiếc xe đâm tàn bạo vào đám biểu tình (sau này người lái xe bị án hình) thì ông Trump lại nói nước đôi: “Cả hai bên đều có lẽ phải”. Sau bao nhiêu vụ những năm gần đây có cảnh sát đùng bạo lực giết dân da màu, kể cả hai vụ kẹp cổ đến chết hai nghi can da đen chưa rõ tội trạng có bị Tòa kết án hay không, tại New York City và Minneapolis, thì có nhiều cuộc biểu tình của Phong Trào Bảo Vệ sinh Mạng Người Da Đen “Black Lives Matter” (Sinh Mạng Người Da Đen Phải Được Coi Trọng) trong hơn 600 thành phố, đòi các thành phố, là định chế hành chính cai quản nhân viên công lực, phải trừng phạt cảnh sát bạo hành ngừời da đen trái luật và cải tổ sâu rộng các sở cảnh sát; thế mà ôngTrump vẫn nói “99% cảnh sát làm đúng luật” (ông nói bừa ra con số này, như vẫn phát ngôn bừa trong hầu hết mọi vấn đề).

5/ Trong Cộng đồng Việt Nam nhiều người tin rằng chỉ có Trump mới chống Trung Cộng và đây là cơ hội giúp Việt Nam thoát Trung. GS lý giải như thế nào về quan điểm này?

Nói thế là không thuộc lịch sử về chính sách Mỹ. Từ mấy đời Tổng thống trước đã muốn giúp Việt Nam thoát Trung từ lâu, chứ không phải đợi đến Trump mới có một Tổng thống chống Tàu giúp Việt Nam thoát Trung. Trump đã sẵn sàng nịnh Tàu (sang thăm Tàu mà có cử cháu gái ngoại, con của con gái Ivanka Trump, đứng lên trong bữa tiệc hát bài hát Tàu; còn khen Tập nhiều lần như nói trên, và khi muốn nhờ Tập ảnh hưởng đến Chủ tịch Bắc Triều Tiên Kim Jong Un về yêu cầu giải giới võ khí hạt nhân Mỹ đề xuất) chứ không trực tiếp chống Tàu về mặt quân sự hay ngoại giao giùm Việt Nam đâu, hay giúp Việt Nam thoát Trung về kinh tế, ngoại thương đâu.

Việc thoát Trung về các phương diện đó tuỳ thuộc vào ý chí kiên cường CUẢ VIỆT NAM (MÀ NẾU KHÔNG CÓ THÌ CHẲNG CÓ CHÍNH PHỦ CUẢ TỔNG THỐNG MỸ NÀO GIÚP ĐƯỢC) trong sự nghiệp bảo vệ độc lập tự chủ về mặt ngoại giao giữa nhà nước với nhà nước và giữa đảng và đảng (chứ không phải hàng năm cử cán bộ sang Tàu họp để phối trí cho thống nhất chính sách Việt Nam cho đúng Tuyên Bố Chung, và các lời nhắn rỉ tai vừa mua chuộc vừa đe dọa các cán bộ đi sang Tàu nhận lời chỉ dạy như thế), độc lập tự chủ về mặt luật pháp quốc tế (dám kiện Tàu trước Toà án Luật Biến về quyền lợi Việt Nam xét thấy có ghi trong Công Ước Liên Hiệp Quốc Luật Biển, chắc như đinh đóng cột), và độc lập tự chủ về mặt thoát Trung trong sinh hoạt kinh tế, kỹ nghệ, đầu tư và ngoại thương (nguồn cung ứng, v.v.).

CÁC TỔNG THỐNG MỸ TRƯỚC đã khéo léo gợi ý muốn giúp Việt Nam củng cố độc lập tự chủ. Ngay từ thời chính phủ Bush, trong chuyến du hành của Thủ Tướng Việt Nam qua Mỹ, Tổng thống Bush đã cam kết bảo đảm cho sự toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam. Thông cáo chung Mỹ Việt “nhắc lại sự ủng hộ của chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt Nam về chủ quyền quốc gia, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ” và nói đến nhu cầu “củng cố đối thoại cấp cao”và ủng hộ“thành lập các cuộc họp hoạch định chính sách về chính trị, quốc phòng để có các trao đổi thường xuyên và sâu hơn về các vấn đề chiến lược và an ninhThế mà Việt Nam vẫn chậm chạp trong việc xích gần Tây Phương. Tại sao Việt Nam không đẩy mạnh đa phương hóa ngọại giao để có đối lực với Trung Quốc, thí dụ thực hiện sự cộng tác tập trận hải quân với Mỹ theo đề nghị của chính phủ Bush? Hỏi một nhà ngoai giao thì đuợc biết là Việt Nam vào lúc đó mới chỉ dè dặt chấp nhận tập việc cùng Mỹ cấp cứu ngộ nạn và tìm xác người trên biển.

Phải tới tháng 7 năm 2010 mới có một sự đột biến quan trọng. 

Hồi hạ tuần tháng 7 năm 2010, Ngoại trưởng Clinton của Tổng thống Obama tuyên bố tại Hà Nội rằng Hoa Kỳ xem Việt Nam “không những thật sự là một quốc gia quan trọng mà còn là một bộ phận của chiến lược nhắm tăng cường cam kết của người Mỹ trong khu vực Á châu Thái bình dương, đặc biệt là trong vùng Đông Nam Á.” Khi phát biểu tại hội nghị của Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội, bà Clinton còn nói rằng Hoa Kỳ xem việc giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Nam Trung Hoa (Việt Nam gọi là Biển Đông) bằng đường lối đa phương, theo luật quốc tế, mà không đe dọa hay dùng võ lực, là một “quyền lợi quốc gia” của Mỹ. Những phát biểu này đã khiến cho giới lãnh đạo Trung Quốc phật lòng.

6/ Một số người cho rằng dưới thời Trump, các đồng minh của Mỹ bị chia rẽ, các định chế không được tôn trọng? GS nhận đinh như thế nào?

Thiết nghĩ các đồng minh của Mỹ tại Âu Mỹ như Canada, Anh, Pháp, Đức, hay tại Á như Nhật, Đại Hàn, Thái Lan, tại Đại Dương Châu như Úc, Tân Tây Lan, thì giữa họ với nhau, không có gì chia rẽ đáng kể, mà trái lại họ muổn bảo toàn sự đoàn kết giữa họ với nhau và nhất là bảo toàn các định chế quốc tế đã lập ra suốt từ sau Thế Chiến II, mà có lợi chung cho mọi nước, như các cơ quan Liên Hiệp Quốc, cần cho việc bảo vệ trật tự và hoà bình/ an ninh trên thế giới, hay có lợi về việc đưa ra tiếng nói cuả các quốc gia về vấn đề kinh tế, thương mại, lao dộng, hay sức khỏe các dân tộc như World Health Organization. Chỉ có riêng ông Trump là gây ra sự rạn nứt, thiếu đoàn kết trong các tổ chức. Ông viện cớ Mỹ đóng góp, nhiều cho ngân sách các tổ chức đa phương đó, mà vây vo, dọa rút tài trợ, hay ép các nước đóng thêm ngân khoản, điều này có thể đúng, nhưng cách mặc cả làm mếch lòng nhiều nước. Hơn nữa tác phong ông Trump khi đi thương lượng, có sự lỗ mãng như chèn vào giữa hai người trong hàng ngang các lãnh đạo đồng minh đã đứng vào vị trí rồi, để đứng ra trước mặt mọi người mà xác nhận vai trò vượt trội của ông.

Về nội dung thương lượng, ông Trump cũng chỉ hiểu thô sơ trong khi cần phải nắm bắt các kiến thức mà chuyên viên và các lãnh đạo các quốc gia đã hun đúc lại thành hiệp ước, thí dụ hiệp ước khí hậu Paris, hiệp ước Thương Mại Tây Thái Bình Dương, thế rồi ông tuyên bố huỷ bỏ chúng, một cách khinh thường các quốc gia đối tác họ đã dày công thương nghị với Tổng thống Mỹ tiền nhịệm của Trump, là Obama. Các chính khách và chuyên gia về các vấn đề quốc tế đã kết luận là ông làm nguy hiểm đến hệ thống các cơ cấu quốc tế mà các nước hàng đầu đã xây dưng từ 1945 đến nay. Tóm lại các nước đồng minh của Mỹ không chia rẽ, dằn vặt với nhau, mà muốn bảo vệ hệ thống quốc tế chung. Thí dụ họ thương lượng môt cách văn minh việc dân Anh muốn ra khỏi European Common Market; họ muốn bảo vệ Hiệp Ước Khí Hậu mà Phó Tổng thống Al Gore đã góp phần; họ muốn đại quân Mỹ đóng ở Đức, như là xương sống của Liên Minh NATO, không thể bị ông Trump thình lình đơn phương tuyên bố sẽ rút, mà không tham khảo đồng minh Âu châu, có lẽ vì thế mà, bà Thủ tướng Đức Merkel tuyên bố sẽ không đi dự hội nghị sắp tới mà Trump mời.




My Last Poem-Bài Thơ Cuối Cùng




VÀI KỶ NIỆM VỤN VỚI CÁC VỊ THẦY

VÀI   KỶ   NIỆM   VỤN  VỚI  CÁC VỊ  THẦY

Trần  Trung  Chính

( học sinh Chu Văn An 1965 – 1968)

Hôi Ngộ Chu Văn An Toàn Cầu 2017 - Hội Ngộ Chu Văn An Toàn Cầu 2017 | San  Jose

Chữ VỤN được dùng trong bài viết này mang tính cách rời rạc, kích thước nhỏ và không liên tục. Tôi không dùng nhóm từ giáo sư như các đồng môn CVA khác, vì “giáo sư”chỉ là tiếng Hán Việt để chỉ nhóm chữ thuần Việt là “thày giáo”, chứ không phải thầy giáo để chỉ các thầy dạy bậc tiểu học và giáo sư để chỉ các thầy dạy bậc Trung Học.

 Các vị thầy được nêu trong bài viết này là :

Thầy Đặng Văn Biền – Giám Thị lớp Đệ Nhất

Thầy Đào Văn Dương – dạy môn Toán Hình Học và Lượng Giác lớp Đệ Nhị

Thầy Trần Đình Ý – dạy môn Việt Văn lớp Đệ Nhị và dạy môn Pháp Văn lớp Đệ Nhất

Thầy Thẩm Nghĩa Căn – dạy môn Sử Địa lớp Đệ Tam

Thầy Vũ Ngọc Đạm – dạy môn Công Dân (Kinh Tế) lớp Đệ Nhị

Thầy Nguyễn Văn Mùi  – dạy môn Sử Địa lớp Đệ Nhất

Thầy Bùi Đình Tấn – dạy môn Địa Lý lớp Đệ Nhất

Thầy Trần Đức An – dạy môn Triết lớp Đệ Nhất

Đầu năm 1967, toàn trường CVA hầu như ngưng học để chuẩn bị đón Tết Đinh Mùi, nhất là sau ngày 23 tháng Chạp đa số các thầy ngồi lại phòng giáo sư nhưng học sinh không ai bỏ về nhà cả,  có nhóm chuẩn bị dán bích báo, có nhóm xí phần đi bán báo xuân tại các trường bạn, nhóm nào cũng muốn đi bán báo Xuân ở các trường có nữ sinh như Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bá Tòng, Hưng Đạo…khiến Ban Đại Diện Học Sinh phải tố chức bốc thăm cho công bằng. Nhưng 2 ngày trước khi nghỉ Tết, tất cả các lớp đều tổ chức Tiệc Tất Niên. Các lớp Đệ Nhất tổ chức Tiệc Tất Niên xôm tụ nhất : có 3 anh mặc áo dài bằng gấm xanh dương, vàng , đỏ, ngực thêu  Tướng , Sĩ, Tượng. Một trong 3 người mặc quần short trắng đi guốc mộc, 2 người còn lại mặc quần lụa trắng, một đi hia, một đi giày hàm ếch; cả 3 anh Tướng +Sĩ+ Tượng đều đội khăn đống cùng màu với áo dài của mình. Một số khác ăn diện bảnh bao và dẫn vũ nữ thứ thiệt vào lớp để nhẩy đầm. Trong khi đó, học sinh các lớp đệ Nhị và đệ Tam vẫn mặc áo trắng (tuy quần thì không hẳn là xanh dương nhưng vẫn là màu sậm).

Trần Doãn Huyễn, trưởng lớp Đệ Nhị  B2, tị nạnh với nhóm Đệ Nhất, khiếu nại với thầy Đặng Văn Biền bị thầy Biền quạt tơi tả : “ Cái thằng mở miệng ra hỏi là lòi cái NGU, thế mà cũng hỏi. Chúng nó có rớt Tú Tài 2 thì đi lính cũng được là sĩ quan. Còn chúng mày, thi rớt thì thành Trung Sĩ, là lính khổ lắm đó các con ạ !”. Thầy Biền nói có lý quá, nên không những Trần Doãn Huyễn mất cả khí thế hăng hái mà chúng tôi đứng xung quanh cũng chuyển bại thành…xụi lơ. Thấy vậy, thầy Biền an ủi : “Cố lên, đậu được Tú Tài 1 sang năm lên Đệ Nhất thì các Thầy cũng dễ dãi y như vậy”.

Thầy Đào Văn Dương dạy 2 môn Hình Học Không Gian và Lượng Giác cho lớp đệ Nhị, môn Toán chiếm 8 giờ học trong tổng số 26 giờ học trong mỗi tuần mà 2 môn của thầy Đào Văn Dương chiếm mất 6 giờ (môn Đại Số – Giải Tích do thầy Lê Mậu Thống phụ trách chỉ chiếm có 2 giờ trong một tuần). Thầy Đào Văn Dương nghiêm trang và nguyên tắc, ngay trong giờ học đầu tiên thầy đã ban hành một số nguyên tắc, như là :

A/ Kỳ thi Tú Tài Phần Thứ Nhất rất quan trọng cho nam sinh (thi rớt là bị nhập ngũ đi học Trường Hạ Sĩ Quan) cho nên nhiệm vụ của tôi là giúp các anh thi đậu. Tôi không nói là các vị giáo sư trường tư dạy dở, nhưng các vị giáo sư trường tư không đi chấm thi tại các Hội Đồng Chấm Thi nên không biết chỉ dạy cho học sinh những sơ suất của học sinh  làm bài thi, mà những sơ suất này có thể khiến bài thi không đạt điểm tối đa nên thí sinh có thể không đủ điểm đậu. Tôi sẽ tập cho các anh làm bài kiểm hàng tuần như là đi thi thật sự.

Ghi chú : trong kỳ thi Tú Tài Phần  Thứ Nhất ban B, môn Toán chiếm hệ số 5, Lý Hóa chiếm hệ số 4,Việt Văn chiếm hệ số 2, Sinh ngữ I chiếm hệ số 2, Sinh ngữ II chiếm hệ số  1, Công Dân- Kinh Tế chiếm hệ số 1,Vạn Vật chiếm hệ số 1, Sử Địa chiếm hệ số 1. Tổng Cộng 17 hệ số, tức là phải đạt 170 điểm mới được chấm đậu.

B/ Mua giấy khổ  lớn có kẻ ngang để làm bài kiểm , không chấp nhận giấy kẻ carreaux ô nhỏ, không chấp nhận giấy vở.

C/Phần đầu của 4 trang , đo từ mép giấy xuống  5cm , kẻ một lằn ngang, rồi kẻ 2 đường chéo góc nơi trang 2, 3 và 4 giống như là phần sẽ rọc phách của bài thi. Riêng trang đầu sẽ phải điền thông tin cá nhân như khi đi thi thật. Việc làm này rất cần vì đã có những thí sinh đã làm bài trong phần rọc phách nên bài làm bị mất điểm : bị rớt mà cũng không biết tại sao .

D/Từ mép trái của mỗi trang, đo 3 cm rồi kê dọc 2 lằn đôi (có người gọi là chừa lề).

E/Bắt buộc chép lại đầu đề của bài toán vào trang thứ nhất, vì vậy hình vẽ của bài toán phải xuất hiện nơi trang 2, và giám khảo không phải lật đi lật lại để coi lại hình vẽ ít nhất được 2 -3 câu trả lời.

F/ Bắt buộc phải làm phần các câu hỏi giáo khoa trước, làm bài toán sau, vì ít nhất cũng đạt được  4 hay 5 điểm trước. Vì bài toán thường có 4 hay 5 tiết mục cần phải chứng minh và chiếm 14 hay 15 điểm trong tổng số 20. Nếu làm bài toán trước và gặp truc trặc không thông suốt, học sinh đi thi mới quay qua làm phần câu hỏi giáo khoa thì không còn kịp thì giờ nữa, thế là mất toi 5-6 điểm trong tổng số 20.

G/ Luôn luôn phải đánh số và viết lại tiêu đề mà đề bài đã ghi. Thí dụ  , câu số 2 đòi hỏi “Chứng minh AD = BF “ .

Bài kiểm soát đầu tiên, hết 2/3 học sinh trong lớp chúng tôi chỉ được 01 điểm; thầy Đào Văn Dương cho biết những người bị 01 điểm vì không tuân thủ toàn vẹn 7 điểm mà thầy đưa ra. Phải mất 5-6 lần bài kiểm như vậy, toàn thể lớp chúng tôi không còn ai thiếu sót những điều căn dặn vừa nói trên. Lúc đó thầy mới nói : “ tôi đi dạy từ 1948 – nghĩa là trước khi các anh ra đời. Và cũng gần 10 lần làm Chánh Chủ Khảo các Hội Đồng Chấm Thi, nên cách trình bày mà tôi bắt buộc các anh thực hiện, khiến các vị giáo sư chấm thi biết ngay là bài làm của học sinh trường công”.

Giờ đầu tiên của môn Toán Lượng Giác, thầy Đào Văn Dương cho biết hệ thống đo lường của Anh Mỹ và hệ thống đo lường thập phân của Pháp đều lấy vòng tròn xích đạo của quả địa cầu làm mốc quy chiếu. Nước Pháp dùng đơn vị grad để đo góc, nước Anh dùng degree làm đơn vị để đo góc. Nước Pháp định nghĩa 01 kilometre là chiều dài của 01 dây cung có góc là 01 minute của 01 grad, trong khi nước Anh định nghĩa chiều dài của dây cung của một góc có 01 minute của 01 degree là một hải lý.

Thầy Trần Đình Ý dạy Việt Văn lớp Đệ Nhị B2 niên khóa 1966- 1967, cũng lưu tâm vấn đề thi đậu của học sinh đệ nhị, thầy nói : “ các anh vì ít đọc sách và trình độ lý luận kém cộng thêm không biết cách trình bày vấn đề được mạch lạc và khúc chiết, nên nếu làm  bài thi môn Việt Văn mà chọn luận đề luân lý, thì không cách gì đạt được điểm tối đa. Đó là chưa kể các vị giám khảo chấm bài có ác cảm với thí sinh chọn luận đề luân lý là những người lười không chịu học thuộc  thơ”.

Cũng như thầy Đào Văn Dương, thầy Trần Đình Ý bắt buộc học sinh chúng tôi phải làm 4-5 câu hỏi giáo khoa trước rồi mới làm bài luận sau, thầy nói, ít ra các anh đã đạt được 4-5 điểm làm câu hỏi giáo khoa trước. Nhưng kỷ niệm đáng nhớ về thầy Trần Đình Ý là giai thoại đối đáp thơ của 2 nhân vật lịch sử Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhiệm.

Khi bắt được đối thủ của mình, Đặng Trần Thường ra câu đối:

“ Ai công hầu , ai khanh tướng – Trong trần ai , ai dễ biết ai “

Ngô Thời Nhiệm đáp trả :

“ Thế Chiến Quốc , thế Xuân Thu – Dẫu thời thế , thế thời thì thế “

Thầy Trần Đình Ý cho biết văn học nhà Nguyễn luôn luôn dè bỉu, hạ thấp giá trị nhân cách của nhà Tây Sơn nên đã sửa chữa câu đáp trả nguyên gốc của Ngô Thời Nhiệm thành ra :

“ Thế Chiến Quốc , Thế Xuân Thu – Gặp thời thế , thế thời phải thế “

Câu văn được sửa chữa đã biến con người Ngô Thời Nhiệm thành kẻ XU THỜI, trong khi nhân cách và khí khái của ông đã chứng tỏ Ngô Thời Nhiệm là người THỨC THỜI. Thực tế lịch sử chứng minh rằng nếu Ngô Thời Nhiệm là kẻ xu thời thì ông đã không bị Đặng Trần Thường đánh 100 hèo và  về đến nhà thì qua đời. Thầy Trần Đình Ý dặn dò bọn học trò chúng tôi rằng “dù hoàn cảnh có thế nào đi nữa thì hãy chọn thái độ THỨC THỜI, đừng nên chọn thái độ XU THỜI để được ĐẮC THỜI mà tâm hồn không được thanh thản và nhất là mang  tiếng xấu với người đương thời”.

Thầy Thẩm Nghĩa Căn dạy môn Sử Địa lớp đệ Tam, thầy cho biết nguyên nhân tại sao các khoa học gia chọn kinh tuyến Greenwich là kinh tuyến chuẩn của giờ quốc tế GMT. Kinh tuyến đối nghịch với kinh tuyến Greenwich chạy từ Bắc Cực xuống tới Nam Cực mà không đi qua bất kỳ quốc gia nào nằm ở giữa Thái Bình Dương được chọn làm chuẩn (vì không gặp được sự tranh cãi của các đại biểu, ai cũng muốn tên quốc gia của mình được chọn) nhưng kinh tuyến này lại không có tên, cho nên tất cả các đại biểu của các nước tham dự đồng ý chọn tên của đài thiên văn Greenwich  mà kinh tuyến đối nghịch làm chuẩn đi qua thị trấn Greenwich để làm chuẩn cho giờ GMT (Greenwich Mean Time). Kinh tuyến chuẩn lúc ban đầu được gọi là kinh tuyến đổi ngày, nghĩa là người ta vượt kinh tuyến đổi ngày từ phía Tây sang phía Đông thì được lợi 01 ngày. Ngược lại vượt kinh tuyến đổi ngày từ phía Đông sang phía Tây thì lỗ mất 01 ngày, thí dụ :  những người đi Việt Nam khởi hành từ San Francisco lúc 11 : 00PM ngày 20 tháng 5 chả hạn, khi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt thì đang ở ngày 22 tháng 5, chứ không phải ngày 21 tháng 5. Thầy Thẩm Nghĩa Căn giải thích thêm , đó là lý do nhân vật chính của tiểu thuyết Vòng Quanh Thế Giới 80 Ngày (do Jules Verne sáng tác)   tưởng rằng mình thua cuộc vì thấy mặt trời mọc 80 lần nhưng đã trở về London vào ngày thứ 79  !!

Môn Công Dân Giáo Dục của lớp đệ Nhị chỉ học về Kinh Tế Đại Cương do thầy Vũ Ngọc Đạm phụ trách . Ngân phiếu (checking account) được chuyên gia Kinh Tế gọi là “ Bút Tệ “ . Thầy Vũ Ngọc Đạm cho biết Tiền (currency) do Ngân Hàng Quốc Gia phát hành, trị giá hối đoái tùy thuộc  vào  số vàng dự trữ thì gọi là Kim Bản Vị ; nhưng nếu căn cứ vào số dự trữ dollars của Mỹ hay Sterling của Anh thì gọi là “ngoại tệ bản vị”. TỆ = là những gì không phải là TIỀN do Ngân Hàng Quốc Gia phát hành , nhưng được dùng như TIỀN . Thời 1966 – 1967, bọn học sinh chúng tôi  biết TỆ chỉ có 2 loại là “ ngoại tệ” và “bút tệ”, bây giờ ở Hoa Kỳ TỆ còn có thêm credit card , money order, cashier chek , traveler check , gift card của các công ty lớn như Target , Sears , Walmart…

 Thầy Nguyễn Văn Mùi dạy Sử Địa, nhưng thầy Mùi không dạy lớp B2 . Câu chuyện tôi kể ra đây do anh Vũ Hiệp , đậu Tú Tài vào năm 1965 – kể lại : khoảng những năm 1948 – 1952 , thầy Mùi làm việc trong Tòa Thị Chính Hà Nội  có 2 ông bà cụ già đem khai sinh . học bạ… đến Tòa Thị Chính xin cải đổi tên  nhân vật lịch sử Ký Con – Đoàn Trần Nghiệp trở lại thành Ký Con – Đặng Trần Nghiệp , vì khi gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng , ông Ký Con sợ liên lụy đến gia đình + bố mẹ nên đã đổi từ họ Đặng sang thành họ Đoàn. Thầy Nguyễn Văn Mùi nói : “ Thưa hai cụ, dù biết 2 cụ  trình ra giấy tờ thực sự của ông Ký Con , nhưng Ký Con – Đoàn Trần Nghiệp đã là một cái tên của Lịch Sử. Không một ai có thẩm quyền và tư cách để sửa đổi Lịch Sử !!! “

Thầy Bùi Đình Tấn chỉ dạy môn Địa Lý của lớp đệ Nhất B2, thầy Tấn lập lại định nghĩa 2 chữ Quốc Gia (mà học sinh chúng tôi đã học trong môn Công Dân Giáo Dục lớp đệ Lục) bao gồm 3 yếu tố Lãnh Thổ – Chính Quyền – Dân Chúng . Nhưng trong một quốc gia , chính quyền không giáo dục dân chúng  biết đến Lòng Yêu Nước  thì không thể có TỔ QUỐC. Thầy Bùi Đình Tấn đưa ra thí dụ các quôc gia Châu Phi mới được Anh – Pháp trao trả độc thì chỉ có “quốc gia” mà không có “tổ quốc” vì phần đất mà Anh hay Pháp cai trị (thời thuộc điạ ) bao gồm nhiều bộ lạc , nhiều sắc dân khác nhau về tiếng nói , khác nhau về chủng tộc , khác nhau về tôn giáo , khác biệt về hệ phái tôn giáo… cho nên dù được trao trả độc mà các cuộc nội chiến tranh dành quyền lực giữa các nhóm  xảy ra khốc liệt hơn hồi 2 đế quốc Anh – Pháp cai trị. Và dĩ nhiên số người bị giết càng tăng vọt.

Môn Triết của lớp đệ Nhất do thầy Trần Đức An phụ trách , nhưng môn Triết của ban B không có học  Tâm Lý Học và Đạo Đức Học của ban B coi như tóm gọn của Đạo Đức Học ban C . Chủ yếu của môn Triết ban B là học về Luận Lý Học, cho đến bây giờ, tôi vẫn còn lùng bùng lẫn lộn giữa Luận Lý và Lý Luận. Thầy Trần Đức An cho biết nhóm chữ “logic” hơi rắc rối nên khi dùng phải rất cẩn thận. Thực sự hệ quả của “logic” là chỉ có 2 giá trị đối nghịch nhau, như Đúng hay Sai , không có giá trị trung gian như “không Đúng mà cũng không Sai” hoặc là “vừa Đúng vừa Sai” . Thầy An thí dụ không nên nói “ Trời không nắng ắt phải mưa” vì có những lúc trời vừa nắng vừa mưa hay là không nắng cũng không mưa !!!         

Thầy Trần Đức An cũng nêu một số lắt léo của môn Luận Lý, thí dụ như người ta thường cho rằng “ cái gì HIẾM thường là QUÝ “ ; nhưng thực ra cái gì đó chỉ được đánh giá là QUÝ khi cái đó phải có công dụng tốt. Thí dụ : Con ngựa trắng thì hiếm, do đó con ngựa trắng có thể QUÝ – Con ngựa trắng có 3 chân thì lại càng hiếm . Nhưng con ngựa trắng có 3 chân thì không thể kết luận nó là con ngựa QUÝ được, vì nó không có công dụng gì cả.

Lập luận theo mô thức thầy Trần Đức An chỉ dạy, tôi thấy trên internet có website SACHHIEM nhưng đọc vài  lần tôi nhận ra không phải là SACHQUY vì công dụng của website này chỉ tạo ra sự mất đoàn kết , hiềm khích và đối đầu giữa các nhóm người Việt với nhau.

Niên khóa 1967 – 1968 , thầy Trần Đình Ý phụ trách môn Pháp Văn  (Sinh Ngữ I ), Bộ Giáo Dục chuẩn nhuận lớp đệ Nhất chỉ học 12 bài tiêu biểu trong quyển Cours de Langue et Civilisation do giáo sư Mauger biên soạn. Sách gốc có bán tại nhà sách Xuân Thu trên đường Tự Do và nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi nhưng giá rất đắt, do vậy thầy Trần Đình Ý cho in ronéo 12 bài này. Tết Mậu Thân xảy ra, học trò được nghỉ gần 3 tháng. Khi tình hình an ninh tương đối vãn hồi, chỉ có học sinh các lớp đệ Nhất và đệ Nhị phải đi học lại để hoàn tất học trình ( để đi thi) . Khi đi học học lại ,thầy Trần Đình Ý bị ngã nên chân phải bó bột, thầy không thể leo lên lầu 3 nên chúng tôi phải từ lầu 3 xuống tầng trệt mượn phòng thí nghiệm của thầy Trịnh Xuân Vụ để học Pháp Văn. Phạm Gia Hiệp ngồi bàn nhì lo nói chuyện bị thầy Ý chỉ định đọc tiếp bài lecture để analyse logique. Hôm đó Hiệp không mang tập ronéo, nên quay qua phía sau lấy bài của tôi. Thầy Ý hỏi : “ Tại sao anh không có cours ? “ . Nguyễn Gia Quang ngứa miệng ngồi tuốt gần chót dãy giữa nói : “ Cua của thầy gẫy càng rồi còn đâu ?”. Thầy Ý nói : “anh nào vừa mới nói cái gì thế ?” , khổ nỗi là thầy không đứng dậy được nên không tìm ra anh nào đã phát ngôn bừa bãi.

Khi dạy Việt Văn lớp đệ Nhị , thầy  Ý có kể một chuyện ngoài việc học hành : khi thầy làm chủ tịch Hội Đồng Kỷ Luật xét xử một học sinh can tội ăn cắp chuông xe đạp của người bạn . Thầy kể “ ra trước Hội Đồng Kỷ Luật, người cha của học sinh vi phạm kỷ luật xin quý vị giáo sư tha thứ cho con của mình. Người cha đã nói “ Tất cả là do lỗi của tôi, tôi đã quá nghiêm khắc và dữ đòn với con cái. Lại nữa con tôi đã lớn nhưng tôi không cho nó mang tiền, nên khi xe đạp của nó bị mất cái nắp chuông nó không có tiền để mua cái khác và sợ bị đòn nên đã đi gỡ cái nắp chuông của một xe khác. Nếu quý vị giáo sư trừng phạt nó, tôi e rằng cuộc đời của nó sẽ rẽ sang một hướng khác “. Tất cả các giáo sư trong Hội Đồng Kỷ Luật đồng ý tha tội và cũng không ghi hồ sơ gì hết.

Năm Mậu Thân, chúng tôi thi Tú Tài phần Hai vào ngày 22 tháng 6 năm 1968 tại trường Bồ Đề trên đường Nguyễn Thái Học kế cận khu Chợ Cầu Muối và Khu Dân Sinh. Thông thường phải đến 6-7 tuần sau mới có kết quả (niêm yết tại trường Trung Học Gia Long – đường Phan Thanh Giản , quận 3 Sài Gòn). Theo ý kiến riêng của tôi, thời gian 6 – 7 tuần lễ chờ công bố kết quả là thời gian sảng khoái nhất vì đi chơi thoải mái không bị giới hạn giờ giấc mà còn được bố mẹ cho tiền để xả stress nữa. Vào một buổi chiều mưa, vào tháng 7/1968 , tôi và Phạm Gia Hiệp đèo nhau trên chiếc velo solex đi qua rạp Rex , nhìn lên paneau quảng cáo thì thấy tựa đề cuốn phim là LES INCOMPRIS – Những kẻ không hiểu nhau, lạ là không thấy diễn viên nữ mà chỉ thấy khuôn mặt của Anthony Quayle và 2 cậu nhỏ. Lạ hơn nữa là khi đổi xuất hát những khán giả đi ra về cũng đều khóc hết cả. Tò mò 2 đứa mua vé vào xem và khi ra về cũng khóc luôn.

Chuyện phim như sau : Sir Anthony là một nhà ngoại giao Anh, vợ ông vừa mới qua đời ít lâu vì mắc bệnh tim, để lại 2 cậu con trai nhỏ, đứa lớn 12 tuổi, đứa nhỏ cỡ 9 – 10 tuổi. Nhà ông là một lâu đài lớn có hồ lớn trong khuôn viên nhà. Ông nhờ người anh trai đã già nhưng không có gia đình qua sống chung và coi sóc 2 đứa nhỏ.  Dĩ nhiên, Sir Anthony phải thuê gia sư để kèm  2 đứa nhỏ sau giờ học và cũng để kèm làm homework  . Một hôm trên đường từ phi trường về lâu đài nhà mình, ngồi trong chiếc Roll – Royce ông thấy 2 đứa trẻ đèo nhau trên  một chiếc xe đạp, đứa lớn một tay cầm tay lái, một tay kia thì đu vào cái thang leo lên nóc của một chiếc xe bus. Khi chạy đến gần chiếc xe bus, Sir Anthony mới nhận ra đó là 2 quý tử của mình . Về nhà, ông giảng morale cho cậu lớn hồi lâu, cho đến khi cậu hứa là sẽ không tái phạm lỗi lầm như thế nữa.

Đúng vậy, cậu con yêu quý của ông không bao giờ tái phạm, nhưng lại làm lỗi lầm khác, không lần nào giống lần nào. Thời gian sau, khi bước xuống phi trường, ông không thấy chiếc Roll – Royce của ông đứng chờ sẵn, mà chỉ thấy bác tài xế đứng cạnh một chiếc xe renting. Hỏi ra, bác tài xế nói 2 cậu con nghịch ngợm sao đó mà chiếc Roll Royce chạy tuột xuống hồ, hiện phải thuê xe tow trục vớt nó lên bờ.

Ông làm Đại Sứ Anh tại Ghana, nên ngày Quốc Khánh của Ghana, ông mời các sinh viên Ghana du học tại Anh đến lâu đài của ông dự tiệc mừng Quốc Khánh. Ông ngồi đầu bàn , khách mời ngồi 2 bên bàn dài. Hai cậu con của ông ngồi cuối cùng, cũng đối diện nhau. Nhưng khi khách khứa và Sir Anthony cười nói vui vẻ và cụng ly chúc mừng sức khỏe của nhau, ông thấy 2 cậu nhỏ nói chuyện với nhau trong im lặng (chúng nhìn môi của nhau là đã hiểu nhau , không cần lên tiếng). Ông nói trong khi mọi người nói to, tất cả mọi người cùng nghe mà 2 con nói với nhau không nghe cả là bất lịch sự, nhưng cậu con lớn cúi gằm xuống bàn không nói, Sir Anthony quay qua dụ cậu con nhỏ thì cậu này nói : “Anh Hai nói, mấy thằng mọi đen này đã từng ăn thịt người  ! “

Sau sự việc đáng tiếc vừa nêu, Sir Anthony xin chuyển nhiệm sở,  ông qua làm Đại Sứ Anh Quốc tại Tòa Thánh Roma. Một lần về thăm gia đình ông thấy cậu con lớn ngủ mê man nồng nặc mùi rượu, hôm sau tỉnh ngủ và tỉnh rượu , cậu con  bị đứng nghe một bài giáo dục nào là trẻ con dưới 21 tuổi không được uống rượu , uống rượu sẽ làm tổn hại hệ thần kinh, làm hại gan… mà ông Đại Sứ lại không hỏi duyên cớ nào đã khiến cậu bé lấy rượu của bố ra uống. Cậu lí nhí xin lỗi và cam đoan không bao giở uống rượu nữa.

Sau khi trở lại nhiệm sở, vài tháng sau ông nhận được điện thoại khẩn cấp của người anh vì thằng con lớn của ông đang hấp hối , ông cũng nhận được điện tín của bác sĩ gia đình báo tin con trai của ông bị tai nạn gẫy xương sống khó qua khỏi trong vòng 24 giờ tới. Về tới nhà, mọi người cho ông hay là 2 đứa con trai của ông leo lên cây bên cạnh hồ lớn để chơi trò Tarzan, bất thình lình cành cây đang nắm bị gẫy khiến cho câu bé té ngửa, thân mình chạm vào cành cây bên dưới nên xương sống bị gẫy. Hôn mê từ lúc té đến bây giờ, bác sĩ phải đem bình oxy đặt trong lồng kiếng ngay tại phòng ngủ của cậu, vì di chuyển là cậu bé đau đớn chịu không nổi. Thỉnh thoảng, tỉnh dậy đôi chút thì chỉ đòi gặp cha của cậu. Sir Anthony bước vào phòng cầm tay cậu con (qua lồng kiếng) chỉ nghe cậu phều phào nói quá nhỏ. Bỏ lồng kiếng ra,ghé sát lỗ tai sát với miệng của cậu thì Sir Anthony mới hiểu cậu con bảo bố vào bàn học chọn bài luận nào cao điểm nhất đọc cho cậu nghe.

Lúc bắt đầu đọc bài làm thì mới biết đầu đề của bài luận là : “Hãy mô tả người cha yêu quý của em”. Tôi bỏ qua những hoa lá cành của bài luận mà chỉ tập trung vào 3 điểm mà cậu bé giải thich nguyên nhân của 3 mistakes làm cha của cậu phiền lòng và la rầy cậu.

1/ Giải thích lý do tại sao chiếc xe Roll-Royce chạy xuống hố, cậu bé viết : “ 2 anh em chúng tôi muốn dành cho cha tôi một ngạc nhiên là chính 2 anh em chúng tôi dự định xịt nước rửa sạch và lau khô đánh bóng chiếc xe như bác tài xế thường hay làm. Nhưng khi chiếc xe xuống dốc cậu bé không thể làm dừng nó lại được vì chân cậu quá ngắn đạp thắng không tới.

2/ Khi cậu nói mấy người Ghana ăn thịt người  vì sách trong thư viện mà cậu đọc viết như vậy.

3/Mẹ cậu thường hay hát ru ngủ các con, bà đã thu lời nói an ủi các con và gửi các lời ca âu yếm cho 2 con vì mẹ cậu bị bệnh đau tim có thể chết bất đắc kỳ tử vào bất cứ lúc nào. Cha cậu thì thường hay vắng nhà nên mỗi khi nhớ đến những người thân yêu, cậu thường mở cassette để nghe lại giọng nói của mẹ mà cậu không bao giờ gặp lại nữa . Một hôm, do xui xẻo, cậu vô ý bấm nút xóa nên cuốn tape thành trống rỗng. Cậu lang thang khắp London vào từng tiệm thu băng hỏi có phương pháp nào restore lại giọng nói đã mất ? Tất cả đều trả lời là không thể làm được. Cậu về nhà mà lòng buồn bã tan nát. Sở dĩ cậu mở tủ lấy rượu của cha ra uống, vì mỗi lần cha cậu buồn cậu lại thấy ông  mở chai ra rót rượu vào ly  rồi uống rượu một mình. Cậu viết : “ Cha ơi, con muốn con trở thành một người đàn ông như cha đã là ”

Kết luận của bài luận ,cậu bé viết : “ Tôi  biết Cha tôi thương tôi nhiều lắm , muốn tôi trở thành một người đứng đắn . Nhưng cha ơi, cha chưa bao giờ là bạn của con”

Đọc tới đây, Sir Anthony nước mắt ràn rụa, ông cầm bàn tay của đứa con trai đặt trên vùng trái tim của mình và gật đầu nhè nhẹ biểu lộ sự thấu hiểu. Cậu con trai mỉm cười từ từ nhắm mắt ra đi trong thanh thản : Ôi những người thân thương sống cạnh nhau bao năm trời mà chẳng hiểu nhau ; đến khi hiểu nhau thì một người vĩnh viễn ra đi không bao giờ gặp lại.

Phim LES INCOMPRIS chấm dứt với cảnh cậu con trai thứ nhì chơi nhồi banh một mình và hỏi cô giáo dạy kèm : “Cô ơi, chừng nào anh Hai mạnh giỏi ra sân chơi banh với con ? ”. Tôi và Phạm Gia Hiệp ra về mà vẫn khóc như bao khán giả đã khóc trước đó.

Đọc xong bài viết này, tôi có thắc mắc là quý đồng môn CVA của chúng ta , có người đã là ông ngoại ông nội cả rồi, đã từng nghĩ lại xem “chúng ta đã bao giờ là bạn của con mình hay chưa? “

San José ngày 10 tháng giêng năm 2016

Trần Trung Chính

(CVA 1965 – 1968)




Trăng đêm và em

image.png

Trăng đêm và em

1
Đêm khuya trăng đã sáng soi
Là khi em bước lên ngôi nữ hoàng.
Thơ ngây một đóa hoa vàng
Che tà lụa mỏng điệu đàng bước đi.

2
Em làm khổ mối tình si
Hồn nghiêng ngả gọi xuân thì nhớ duyên
Vai nghiêng ôm mái tóc huyền
Đôi bờ ngực nở trên miền vấn vương

3
Theo em bước mấy cung đường
Đèn hoa trước ngõ phố phường sương bay
Em về hoa nở trên tay
Gót hài vướng bụi thêm dài bước đi.

4
Bụi mờ che vết chim di
Vỗ đôi cánh nhỏ bay khi dáng chiều
Ta về mỏi gót liêu xiêu
Ghé thăm quán vắng tiêu điều úa thu

5
Để buồn vỗ giấc mây mù
Âm vang lãng đãng tiếng tù và xưa
Trao nhau khăn lụa sầu đưa
Lau dòng lệ ướt cơn mưa cuối mùa.

6
Giọt rơi sương lạnh gió lùa
Áo em sũng ướt còn chưa muốn về
Đường chiều mỏi bước ê chề
Lời thơ não nuột buồn tê tái buồn.

7
Chờ ai trăng mọc cuối thôn
Vắng em từ dạo căng buồm gió xuôi
Ngẩn ngơ nhìn áng mây trôi
Lòng tha thiệt đợi chia đôi nhánh buồn.

Lê Tuấn
“người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng, gửi buồn theo vần thơ lục bát rong chơi” 

Hình ảnh minh họa. Photoshop by Lê Tuấn




CHUẨN-TƯỚNG HUỲNH THỚI TÂY

Một hôm, vào đầu tháng 3 năm 1975, tôi được Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia/Ngành Đặc-Biệt gọi vào mà không cho tôi biết trước lý-do hay mục-đích gì.

Cũng được xe-hơi dân-sự đón từ phi-trường, nhưng đến văn-phòng của Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương thì viên thiếu-tá bí-thư mời tôi qua gặp Trung-Tá Phạm Văn Ca, Giám-Đốc E2 (Nha Phản-Tình-Báo/Nội-Chính), theo lệnh của Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây.  

Tôi đã từng cùng Trung-Tá Ca đi tu-nghiệp về “Chống Khuynh-Đảo” tại Úc-Đại-Lợi vào năm 1970 nên quen thân nhau.

Ca bảo tôi:

‒ Ông Tướng muốn biết trong thời-gian qua anh có làm gì sai trái hay không.  Anh hãy ngồi đây, viết bản tự-thuật, kể hết những gì mà anh thấy là khuyết-điểm, xong rồi hãy qua gặp ông.

*

Tôi ngồi ôn lại mấy việc lớn/nhỏ mà tôi nghĩ là có thể đã làm Tướng Tây bất-bình về tôi…

Trung-Tá Nguyễn Mâu

Trong một buổi họp các cấp Trưởng E (Giám-Đốc Nha tại Trung-Ương và Nha tại các Vùng), Đại-Tá Huỳnh Thới Tây hỏi về “Biệt-Đội Thiên Nga” cùng các cơ-cấu không thấy có ghi trong Sắc-Lệnh tổ-chức của Ngành.  Tôi trình-bày về “Chiến-Dịch Đại Phong” và “Ký-Giả Tự Do”.

Chiến-Dịch Đại Phong” là tên gọi của một phương-thức hoạt-động, theo đó thì nhân-viên Đặc-Cảnh sử-dụng người chỉ-điểm, là cán-bộ/bộ-đội/cơ-sở Việt-Cộng bị bắt mà tự-nguyện hợp-tác với ta, bằng cách ngụy-trang và tạo ngụy-tích cho đương-nhân không bị công-chúng, nhất là đối-phương, nhận ra.  

Ký-Giả Tự Do” là một/vài viên-chức Đặc-Cảnh hoặc cảm-tình-viên của Ngành, có năng-khiếu viết báo, làm phóng-sự, được giao nhiệm-vụ bí-mật trà-trộn vào giới ký-giả hiện đang ào-ạt săn tin giật gân, trong đó có nhiều phần-tử phản-chiến, thân-Cộng và cả là cộng-sản trá-hình.  Ngành Đặc-Biệt can-thiệp với Bộ Thông-Tin, cấp “Thẻ Ký-Giả” cho họ, để phòng có ai thắc-mắc thì đưa ra cho họ xem.  “Tự Do” nghĩa là gửi bài đăng trên bất-cứ báo nào, không hẳn là cộng-tác-viên nhất-định của một báo nào.

Tôi đã thật-tình và vô-tình nói rằng đó là những sáng-kiến của Trung-Tá Nguyễn Mâu.

Đại-Tá Tây ném mạnh cây bút xuống bàn, dằn giọng:

‒ Tôi là Huỳnh Thới Tây; làm việc với tôi thì hãy chỉ biết có tôi; tôi không cần biết Nguyễn Mâu là ai.

Việc Thăng-Thưởng Nhân-Viên

Một lần khác, cũng họp tham-mưu như trên, bàn về vai trò của “Cán-Bộ Điều-Khiển” (Case Officer: Điệp-Trưởng) trong các công-tác xâm-nhập (nguời của ta, do ta xây-dựng rồi cài vào hàng-ngũ địch) và nội-tuyến (người của địch, được ta móc-nối, sử-dụng làm tay-trong cho ta).

Đại-Tá Huỳnh Thới Tây ngỏ ý muốn nâng-đỡ giới này.  

Tôi lấy tư-cách là người thực-sự đi sát và hiểu-biết nội-tình tại chỗ, trình-bày:

‒ Trước đây, Người Bạn Đồng-Minh đã nghĩ đến việc cấp một ngân-khoản phụ-trội hàng tháng cho tất cả viên-chức Ngành Đặc-Biệt, nhưng bên Cảnh-Sát Sắc-Phục phản-đối, nên việc không thành.  Theo tôi, đáng khuyến-khích nhất là Cán-Bộ Điều-Khiển, như đại-tá vừa nêu ra.  Nhưng đa-số Cán-Bộ Điều-Khiển thì là hạ-sĩ-quan.

“Nếu dùng sĩ-quan thì không những dễ-dàng hơn trong việc tiếp-xúc và nhờ-vã sự giúp-đỡ của người khác, mà còn có nhiều uy-tín và được tin-tưởng hơn đối với chính mật-viên của mình.  Nhưng sĩ-quan Cảnh-Sát Đặc-Biệt thì đa-số đều mong được giữ chức-vụ chỉ-huy, mà khi đã là cấp chỉ-huy rồi thì họ lại mong được qua Sắc-Phục, hay nói đúng hơn là họ mong được hưởng những lợi-lộc như bên Sắc-Phục.  Thí-dụ, ngay cả khi đã được cấp một chiếc xe Jeep rồi, mà xe lại có màu sơn và mang bảng số của xe thường-dân, thì họ vẫn thấy thua-kém xe Jeep sơn 2 màu lục+trắng của Cảnh-Sát (Sắc-Phục), vì bên Sắc-Phục vẫn được dân-chúng nể-sợ và dành cho nhiều ưu-tiên hơn.

“Còn muốn tưởng-thưởng các hạ-sĩ-quan CBĐK hữu-công thì cách xứng-đáng nhất là thăng cấp cho họ; nhưng họ vẫn nằm ở dưới các Trưởng G  (Phòng), Trưởng H (Ban), nên họ còn lâu mới được thăng lên sĩ-quan.”

Đại-Tá Tây dằn mạnh cây bút xuống bàn, thốt lên một tiếng chửi thề, bỏ ra khỏi phòng.

Mọi người lặng im, lo sợ giùm tôi.  Trung-Tá Nguyễn Văn Thuận, Trưởng D3 (Phụ-Tá Chuyên-Môn của Trưởng Ngành ĐB Trung-Ương) đưa tay ra dấu cho tôi chú ý đến anh.  Trước kia, anh cũng đi Úc cùng chuyến với Ca và tôi.

Thuận nói:

– Mọi sự thưởng/phạtthăng ai, giáng aiđều nằm trong tay của ông.  Nếu anh xin ông ban ơn đặc-cách thăng cấp cho các phần-tử hữu-công, thì ông sẽ mát lòng hơn.

Hệ-Thống Liên-Lạc Cảnh-Sát Hình-Sự

Trong vụ phi-cơ “Air Vietnam” bị nổ lựu-đạn tại Phi-Trường Phú Bài, Huế, khi tôi biết được thủ-phạm là Nguyễn Cửu Viết, tôi liền gửi điện cho Bộ Chỉ-Huy CSQG Quận liên-hệ tại Sài-Gòn, là nơi cư-ngụ của một người bạn của thủ-phạm (mà theo tin-tức tôi nhớ từ hồi còn ở Vùng II thì Viết đã nhờ chính người bạn này tìm-kiếm cho y một quả lựu-đạn) yêu-cầu trong đó chấp-cung “người-bạn” ấy.

Đại-Tá Tây cho rằng tôi đã vượt quyền, không trình lên ông là cấp trên, để ông ra lệnh cho các cấp dưới hữu-trách ở địa-phương khác thi-hành.

Theo tôi thì đây là thủ-tục hình-sự; tôi, với tư-cách Hình-Cảnh-Lại (danh-xưng mới, trước kia là Tư-Pháp Cảnh-Lại), Phụ-Tá Biện-Lý (Công-Tố-Viên) của Tòa Án Sơ-Thẩm, tại Đà-Nẵng (tôi cũng là Phụ-Tá Chưởng-Lý của Tòa Án Thượng-Thẩm Vùng I, tại Huế), tôi có thể phát lệnh truy-nã, trực-tiếp nhờ sự tiếp tay của các Hình-Cảnh-Lại khác (Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Khu, Tỉnh, Thị, Quận, v.v…) trên khắp nước, trong những vụ án cần được khẩn-cấp tầm+tra.

Huống chi CSQG của Việt-Nam Cộng-Hòa đã là Hội-Viên của Cảnh-Sát Quốc-Tế (InterPol).  

[Hoa-Kỳ đã giúp Việt-Nam Cộng-Hòa tuyển-dụng viên-chức có bằng đại-học luật-khoa, nghiên-cứu về luật quốc-tế, hướng-dẫn tham-gia tổ-chức Cảnh-Sát Quốc-Tế [InterPol], thành-lập chi-nhánh Việt-Nam của Cảnh-Sát Quốc-Tế, đặt trụ-sở tại Tổng-Nha (nay là Bộ Tư-Lệnh) Cảnh-Sát Quốc-Gia.]

Trong một số trường-hợp khẩn-cấp các Hình-Cảnh-Lại còn có thể liên-lạc phối-hợp hoạt-động với nhau, không những vượt quản-hạt hành-chánh trong một nước, mà còn có thể vượt cả biên-giới quốc-gia.

Cấp-Hiệu CSQG cho Thám-Sát Đặc-Biệt

Vì đã huy-động Thám-Sát Đặc-Biệt* đi hoạt-động chung với Cảnh-Sát Dã-ChiếnCảnh-Sát Sắc-Phục, và cả Nghĩa-QuânĐịa-Phương-Quân, nên tôi đề-nghị với Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Khu I, và đã được ông chấp-thuận, cho một số cấp chỉ-huy của Thám-Sát Đặc-Biệt tại Vùng I được mang cấp-hiệu CSQG, để có uy-tín đối với các đơn-vị bạn mỗi khi đi phối-hợp hành-quân.

Họ mặc sắc-phục Cảnh-Sát Dã-Chiến, đội mũ-nồi bằng nỉ màu lục của Thám-Sát Tỉnh (PRU= Provincial Reconnaissance Unit) cũ, nhưng cấp chỉ-huy không mang dấu-hiệu gì để các cơ-quan đơn-vị bạn nhận biết rõ-ràng.

Nay thì tại Vùng I họ được mang thêm cấp-hiệu CSQG:  Chỉ-Huy-Trưởng Liên-Đội Thám-Sát Đặc-Biệt Khu I mang cấp-hiệu thiếu-tá.  Chỉ-Huy-Phó của đơn-vị này mang cấp-hiệu đại-úy.  Các Chỉ-Huy-Trưởng của Đội Thám-Sát Đặc-Biệt thuộc các Tỉnh/Thị trong Vùng I cũng mang cấp-hiệu đại-úy.

Đại-Tá Huỳnh Thới Tây cho rằng tôi đã lạm quyền, vì Quyết-Định của Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc là do đề-nghị của tôi.

Riêng về việc này thì tôi tự nhận là đã xúi ẩu để Đại-Tá Lộc chấp-thuận, vì nếu chờ-đợi Trung-Ương thì chắc khó có kết-quả, bởi lẽ Thám-Sát Đặc-Biệt chưa có quy-chế thực-thụ CSQGkhông có cấp-bậc, chỉ có chức-vụ và còn hưởng lương theo mức cố-định từ thời còn ở dưới quyền của CIA.  Vả lại, việc mang cấp-hiệu này chỉ có giá-trị đối với 2 viên-chức tại cấp Vùng, và một viên-chức tại mỗi Tỉnh/Thị, và chỉ trong khi tham-gia hành-quân phối-hợp mà thôi.  

[Hồi tôi còn làm Trưởng Ngành Cảnh-Sát Đặc-Biệt Vùng II, tôi đã trình xin và được Tư-Lệnh Quân-Đoàn II/Vùng II Chiến-Thuật chấp-thuận cho một trung-sĩ Cảnh-Sát Đặc-Biệt ở Tỉnh Bình-Thuận được mang cấp-bậc đại-úy QLVNCH để vào làm việc trong Ban Liên-Hợp Quân-Sự 4-bên.  Nay làm Giám-Đốc Đặc-Cảnh Vùng I, tôi cũng đã xin và đã được Tư-Lệnh Quân-Đoàn I/Quân-Khu I chấp-thuận cho vài trung-sĩ Cảnh-Sát Đặc-Biệt của tôi ở Đà-Nẵng được mang cấp-bậc đại-úy QLVNCH để vào làm việc tại Ban Liên-Hợp Quân-Sự 2-bên.]

Một Khẩu K-59 Tước Được của VC

Trong một cuộc hành-quân, Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Nam có tịch-thu được của Việt-Cộng một khẩu súng lục mới lạ, Địa-Phương chưa thấy lần nào.

Thiếu-Tá Chánh-Sở Lâm Minh Sơn báo-cáo lên tôi, tôi báo-cáo lên Bộ Tư-Lệnh/Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương.

(Lệnh trên ban xuống từ trước là trong trường-hợp tương-tự thì hãy chụp ảnh, mô-tả đặc-điểm hình dáng khẩu súng để xem nó thuộc loại nào.)  

Sau đó, tôi nhận được lệnh nạp trình chiến-lợi-phẩm ấy lên Trung-Ương.

Gặp lúc có một cuộc họp tại Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, tôi được mời vào tham-gia.

Sau phần thuyết-trình tổng-quát của tôi, Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây hỏi tôi về khẩu súng trên.

Tôi có mang theo bản sao của tờ báo-cáo kèm theo hình-ảnh mô-tả của khẩu súng lụcgửi rồi nhưng chắc chưa đến tay ôngnên tôi lấy ra đưa cho ông xem.  Tướng Tây đọc báo-cáo và nhìn hình-ảnh, xong hỏi khẩu súng đâu rồi, hãy trao cho ông.

Tôi đâu có khẩu súng ấy mà trao.

Số là Đặc-Cảnh ở Tỉnh đồng-thời cũng có báo-cáo kết-quả hành-quân lên Tỉnh, nên viên Tỉnh-Trưởng sở-tại đòi xem khẩu súng ra sao.  Thấy khẩu súng quý, vì mới bắt được lần đầu, viên đại-tá Tỉnh-Trưởng bèn giữ lại, nói là mượn xem ít hôm.  Liền đó, gặp dịp Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu ra thăm Quảng-Nam, viên Tỉnh-Trưởng sở-tại đưa khẩu súng ấy ra khoe; và thấy Tổng-Thống tỏ ý thích nó nên viên Tỉnh-Trưởng tặng luôn.

Thường thì chúng tôi báo-cáo tóm-tắt sự-việc ngắn gọn ra ở phần trước, còn các chi-tiết phụ-thuộc thì ghi ra ở phần sau, với các tài-liệu liên-hệ kèm theo.

Do đó, tôi đáp (như có ghi ở phần sau báo-cáo):

– Trình thiếu-tướng, Tổng-Thống đã lấy khẩu súng ấy rồi.

Nhưng Chuẩn-Tướng Tây chưa đọc phần sau của bản báo-cáo, không hỏi chi-tiết làm cách thế nào mà khẩu súng ấy lại đến thấu tay Tổng-Thống; ông nghĩ là tôi đã “qua-mặt” ông, tự ý vượt cấp tâng công trực-tiếp với vị Nguyên-Thủ Quốc-Gia.

Ông tức, gằn giọng:

– À, anh đã muốn “kiếm điểm” trực-tiếp với Tổng-Thống thì từ nay trở đi có gì anh cứ lên thẳng Tổng-Thống, đừng cần thằng này nữa nghe!

Vài Ngoại-Lệ

Tôi nghĩ cũng cần báo-cáo cả những việc-làm ra ngoài nguyên-tắc, phần thì để tỏ là mình thành-thật, phần thì để phòng Cấp Trên đã biết cả rồi (?).

1. Đời công:  Tôi đã tự-ý thành-lập một “Phòng Tình-Hình” (không có trong sơ-đồ tổ-chức chính-thức của Ngành), để nhân-viên thay phiên nhau cùng làm việc 24 giờ/7 ngày với tôi, bắt cả nhân-viên trực máy tại các Tỉnh/Thị cũng cùng ở trong tình-trạng sẵn-sàng làm việc bất-cứ lúc nào liên-tục suốt ngày+đêm như tôi.

2. Đời tư:  Có lần một viên Thanh-Tra Trung-Ương ngỏ ý muốn xem sinh-hoạt ban đêm tại Đà-Nẵng.  Trong thời-gian đó, Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng cấm các sĩ-quan quân-nhân không được đến khiêu-vũ tại các vũ-trường, nên các Tỉnh/Thị-Trưởng cấm chung mọi người, mặc dù các chủ tiệm-nhảy đã được chính-quyền cấp cho giấy phép hành-nghề.  Tôi đã đưa viên Thanh-Tra ấy vào một phòng trà+ca+vũ+nhạc; gặp lúc không có nhân-viên Cảnh-Sát Sắc-Phục, các cô vũ-nữ đã ào ra sàn, ông cũng ôm eo một cô lả-lướt như ai.

*

Tôi nhờ đả-tự-viên tại văn-phòng E2 đánh máy, xong ký tên, đưa bản Tự Thuật ấy cho Trung-Tá Phạm Văn Ca.  Anh mang ngay vào trình cho Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây.

Lát sau, Ca trở lại, nói rằng Ông Tướng đang bận, bảo tôi tiếp-tục tường-trình các hoạt-động tại các Tỉnh/Thị thuộc Miền Trung.

*

Công-việc của tôi không phải chỉ là gửi+nhận công-văn & công-điện và đi thanh-tra, bình-thường như một số cấp chỉ-huy trung-gian khác, nhất là cấp Vùng.

Tôi đã tích-cực thực-hiện công-tác an-ninh & phản-gián của chính cấp Vùng.  Có như thế mới xứng-đáng với sự hiện-diện và hiện-hữu của một cơ-quan cấp Vùng.

Đồng-thời tôi cũng hòa-nhập hoạt-động với các địa-phương, góp phần cụ-thể cùng họ vượt khó, tiến nhanh.

Tôi chỉ ghi lại một số sự-việc thí-dụ mà thôi.  Tính từ Quảng-Trị vào đến Quảng-Ngãi.  [Đã viết trong cuốn hồi-ký “Cảnh-Sát-Hóa” (trang 137-240) nên không nhắc lại ở đây.]

 Tôi đưa bản thảo nhờ đả-tự-viên đánh máy giùm, xong nghĩ là mình cũng nên ghi ra những gì mà các thuộc-viên có thể hiểu lầm, dẫn đến bất-mãn, xuyên-tạc gì chăng.

Đại-Úy Cao Viết Song của Tỉnh Quảng-Tín

Không hiểu vì sao mà Đại-Úy (sau này là Thiếu-Tá) Lâm Minh Sơn, Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Nam, và Đại-Úy Cao Viết Song, Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Quảng-Tín, được Bộ Tư-Lệnh CSQG thuyên-chuyển vào Sài-Gòn; xong rồi Sơn được trở lại với trách-vụ cũ, còn Song thì không.

Nhân dịp vào Bộ Tư-Lệnh, tôi hẹn với Song hãy đến gặp tôi, để tôi dẫn vào trình-diện và xin với Đại-Tá Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương, cho anh trở lại nhiệm-sở cũ.

Nhưng Song trễ hẹn.

Tôi chỉ có thể nhân lúc báo-cáo thành-quả công-tác mà xin cho Song.

Tôi vào gặp Đại-Tá Tâynhư một diễn-viên xuất-hiện trên sân-khấu vào một lúc nào đó nhất-định trong một vở tuồngchứ đã ra khỏi phòng-giấy của ông rồi, đã đóng xong vai tuồng của tôi rồi, thì diễn-viên-tôi không thể tự-dưng vào lại sân-khấu.  Tôi không thể nào trở lại, vào gặp bất-thường mà xin cho Song, bởi lẽ Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương bận rất nhiều việccó lần tôi thấy buổi chiều ông vẫn ở lại làm việc cho đến tối đêmvả muốn vào gặp thì phải trình xin phép trướcmà tôi thì không phải là một người thân-cận của ông.  Thế thôi.

Đại-Úy Nguyễn Văn Tuyên của E Khu I

Vì Đại-Úy X, Chánh Sở Nghiên+Kế tại E6 (Ngành Đặc-Biệt Khu I) của tôi, được Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Khu I, cử đi làm CHT/CSQG một Quận trong Vùng, tôi chọn một trong các đại-úy giảng-viên tại F4 (Trung-Tâm Huấn-Luyện Tình-Báo Căn-Bản Khu I), là các sĩ-quan chưa giữ chức-vụ chỉ-huy, lên thay.

Tôi không quen biết ai, mà chỉ xét qua hồ-sơ cũng như nhận-xét của cấp chỉ-huy trực-tiếp là Trưởng F4, thấy họ đều tốt như nhau, nên tôi chọn Đại-Úy Nguyễn Văn Tuyên.  Tuyên là người có nét chữ viết tay khá đẹp, viết nhanh như tốc-ký (phòng khi tôi cần đọc gấp cho anh viết một văn-bản gì), và là tín-đồ Đạo Ki-Tô (để chứng-tỏ là mình không kỳ-thị aiNgay chính một viên vệ-sĩ và hai viên tài-xế của tôi, tôi cũng chọn người theo Đạo Kitô).

Nhân dịp cuối năm, có đợt thăng-thưởng chung cho mọi người, tôi đề-nghị cho anh lên thiếu-tá.

Tôi đích-thân thảo một Phiếu Trình đặc-biệt, bảo Tuyên cho đánh máy ngay, ghi số, đóng dấu, rồi trao tận tay cho tôi ký, để sáng hôm sau tôi mang vào Sài-Gòn, định sẽ nhân lúc tường-trình công-việc với Đại-Tá Huỳnh Thới Tây thì trao cho ông mà xin cho Tuyên.

Rồi tôi lo làm hồ-sơ thuyết-trình đến khuya, sáng lại là lên phi-cơ, vào gặp Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương.

Khi tôi đã làm xong việc tại Bộ Tư-Lệnh/Ngành Đặc-Biệt, nhân-viên biệt-phái tiếp-phát văn-thư tại Sài-Gòn mới tìm đến nơi tôi tạm-trú ở Sài-Gòn mà trao Phiếu Trình nói trên.

Cũng như trường-hợp của Cao Viết Song, tôi không thể nào vào lại, xin riêng cho Nguyễn Văn Tuyên.  Hồ-sơ (bình-thường) đề-nghị thăng cấp cho anh, nằm chung danh-sách với các ứng-viên khác, đã không qua lọt hội-đồng tuyển-lựa bình-thường tại Nha Viên-Chức/Tiếp-Trợ, vì không có kèm Phiếu Trình đặc-biệt của tôiđáng lẽ, nếu có, thì có bút-phê chấp-thuận đặc-biệt của Trưởng Ngành rồi.

Một Đại-Úy Muốn Có Chức-Vụ Chỉ-Huy

Có một đại-úy, tôi không nhớ tên, trong số các giảng-viên tại F4, có vợ là người quen thân với vợ của Đại-Tá Chỉ-Huy-Trưởng CSQG Khu I, đã nhờ bà này xin cho chồng mình được giữ chức-vụ chỉ-huy.

Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc ngỏ ý với tôi.

Tôi hứa là sẽ thu-xếp giùm.

Nhưng đối với Ngành Đặc-Cảnh thì việc đề-cử trách-vụ có phần khó-khăn hơn bên Sắc-Phục.

Ở Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Sát Quốc-Gia, hồi đó, có sự thi-đua hoàn-tất bổ-nhiệm, ổn-định chức-vụ, giữa các Khối, Nha, Sở, Phòng; từ Trung-Ương xuống các địa-phương.

Trưởng Ngành Đặc-Biệt tại Bộ Tư-Lệnh không muốn bị chê là mình làm chậm, hoặc không chính-xácnếu cứ thường-xuyên thay-đổi phương-vị người này, kẻ kia, nếu không có gì khẩn-thiếttức là xáo-trộn hệ-thống quản-trị, thống-kê, kế-toánvì mỗi chức-vụ (có hưởng phụ-cấp) đều cần được hợp-thức-hóa bằng một Nghị-Định của Bộ/Trung-Ương.

Rất tiếc là mãi rất lâu tôi vẫn chưa thể đề-cử anh được vào một vị-trí chỉ-huy nào, vì chưa có chỗ nào khuyếtđiều này hẳn là không làm vừa lòng bà vợ, và ngay cả cấp chỉ-huy trực-tiếp hàng ngang của tôi tại Vùng này…

*

Vì mọi người rất sợ Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, không dám trình ông nhiều hơn những gì ông đã chỉ-thị, nên Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây cũng theo cách đó, ít ai dám hỏi nhiều hơn những gì ông đã nói ra.  

Tôi nhớ có lần Đại-Tá Tây ra lệnh cho Cảnh-Sát Đặc-Biệt toàn-quốc báo-cáo về vấn-đề “giành lấn đất-đai”.  Các nơi đua nhau thu-thập tài-liệu về chuyện chủ đất tranh-tụng nhau về bất-động-sản, công-thổ, tư-điền.  Tôi hỏi Nha Tình-Báo (E1) là nơi phát ra lệnh ấy, thì trung-tá Giám-Đốc Nha ấy cũng chỉ nhắc lại lệnh của Cấp Trên như thế mà thôi.  

Riêng tôi tự nghĩ chủ-quyền đất-đai là một hộ-sự, không thuộc Cảnh-Sát Quốc-Giacoi về hình-sựhuống gì Ngành Đặc-Biệt là cơ-quan chính-sự.  Chắc-chắn là việc Việt-Cộng nhân dịp ngưng bắn theo Hiệp-Định Paris mà lấn chiếm lãnh-thổ ở vùng xôi-đậu, nên đã bảo riêng các Tỉnh/Thị tại Vùng I tường-trình thêm về vụ này.  Quả-nhiên, trong buổi họp tại Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương mà Đại-Tá Tây cho mời cả các Phụ-Tá Đặc-Biệt cấp Tỉnh/Thị tại Khu I vào dự, tất cả các Chánh Sở Đặc-Cảnh liên-hệ đều thuyết-trình giống như tài-liệu cấp Vùng của tôi; lúc đó mới biết là đúng nhu-cầu của ông.

Do đó, tôi không biếtvì hẳn Trung-Tá Phạm Văn Ca cũng không hỏi nên không biếtthực-sự Chuẩn-Tướng Tây muốn tôi trình-bày những gì.

*

Cuối cùng tôi được mời vào gặp Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây.

Ông cười hỏi tôi:

– Anh ngạc-nhiên lắm hả?  

Tôi chưa biết phải nói gì thì Trưởng Ngành Đặc-Cảnh Trung-Ương đã nói ngay:

– Chính tôi mới là người ngạc-nhiên, về anh.

“Ở Vùng I:  Chánh Sở An-Ninh Quân-Đội đề-cao anh; Tham-Mưu-Trưởng Quân-Đoàn & Quân-Khu khen-ngợi anh; Trung-Tướng Tư-Lệnh Ngô Quang Trưởng ban-thưởng Anh-Dũng Bội-Tinh cho anh 3 lần, 2 với ngôi sao bạc, 1 với ngôi sao vàng.  Cộng chung, tại Vùng I, cũng như tại Vùng II, ngoại-trừ các sĩ-quan quân-đội biệt-phái qua, thì anh là sĩ-quan Cảnh-Sát có nhiều huy-chương nhất, cả các loại của các quân-chủng bên quân-sự lẫn các loại của các Bộ bên dân-chính, và các loại huy-chương của Cảnh-Sát Quốc-Gia.

“Ở Trung-Ương:  tôi hỏi các phụ-tá của tôi, Giám-Đốc các Nha, thì không ai chê-trách gì anh, mà họ còn tỏ ra quý-mến anh.

“Tôi đã phái Trung-Tá Phạm Trọng Tú, Thanh-Tra-Trưởng, ra tận nơi dò xét về anh, nhưng không tìm thấy điều gì sai trái, chỉ toàn ưu-điểm mà thôi…”

Ông cười, khiến tôitừ chỗ thoạt đầu lo-ngại, tiếp đến ngạc-nhiên, rồi là vui-mừngcũng cười theo ông.

Rồi ông đứng dậy, khiến tôi cũng đứng dậy theo.

Ông kết-luận:

– Tôi chỉ trực-tiếp trắc-nghiệm, để anh tự mình nói ra, rằng mình đã có làm gì bậy-bạ hay không.  Mà không thì là tốt rồi.  Thiếu-Tướng Tư-Lệnh cũng có đường dây kiểm-soát riêng, và cũng nhận thấy là anh có tài, có công, có tư-cách, đáng được tưởng-thưởng.  Thiếu-Tướng đã ra lệnh thăng cấp cho anh vào “Ngày Cảnh-Lực” 1-6-1975* này.  Bộ Tư-Lệnh đã dự-trù sẽ bổ-nhiệm anh vào một chức-vụ nào đó, quan-trọng và xứng-đáng hơn cương-vị hiện-thời.

“Thôi, chúc mừng anh. Tiếp-tục cố gắng.

“Và vui-vẻ ghé Nha-Trang thăm gia-đình nha!”

*Ngày ấy chưa đến thì Việt-Nam Cộng-Hòa đã tiêu-vong.

LÊ XUÂN NHUẬN  

Ghi chú:

        Cựu Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây, Trưởng Ngành Đặc-Biệt toàn-quốc (mà tôi gọi làTư-Lệnh Đặc-Cảnh Trung-Ương), sau ngày mất nước, đau nỗi đau chung, đã lặng-lẽ ẩn mình trong bóng tối, không xuất-hiện nơi công-cộng, không tuyên-bố, phát-biểu điều gì. 

        Ông mất tại Westminster, CA, USA, ngày 12-9-2010, hưởng-thọ 78 tuổi.

GHI THÊM:

Lê Xuân Nhuận là người đầu tiên được Cấp Trên cho riêng tiền-mặt (trao tay mỗi tháng $20,000.00), để tùy ý thuê nhà mà ở, khi thuyên-chuyển ra Vùng I, suốt một-năm-rưỡi sau cùng của mình tại Quân-Khu I mà cũng là một-năm-rưỡi sau cùng của VNCH tại vùng địa-đầu này.

Biến-Loạn Miền Trung




Chị Thanh

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

L.T.Đ: Nếu chỉ được phép ghi danh một người viết văn và một người làm thơ ở đất cảng Hải Phòng (thôi) tôi sẽ chọn Bùi Ngọc Tấn và Nguyễn Thị Hoài Thanh. Cả hai đều qua đời ở tuổi bát tuần, và đều đã trải qua một kiếp nhân sinh với rất nhiều gian truân và cay đắng. Nhà văn BNT từ trần năm 2014. Hôm nay, chúng tôi vừa nhận được tin (muộn) thi sĩ N.T.H.T cũng đã từ giã cõi đời vào ngày 20 tháng 2 – 2020. Với chế độ hiện hành, có lẽ, bà là một nghệ sĩ có cuộc sống trầm lặng (và trầm luân) nhất. Bài viết ngắn sau xin được coi như một nén hương lòng gửi người đã khuất.

Trong những phụ nữ thuộc thế hệ chị và mẹ của mình, tôi thương nhất chị Thanh và dì Bẩy. Khi còn đôi tám, người ta thường gọi dì là con Bẩy.
“Giọng hát của con Bẩy đưa đò khi cất lên cao thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh; giọng ấy lúc buông trầm xuống thì như hơi gió xao động cả dòng sông, chuyển rung mặt nuớc.” (Sơn Nam. “Con Bẩy Đưa Đò”. Hương Rừng Cà Mau. 51-52*).

Tài sắc, cũng như đức hạnh, không mấy khi mang lại hạnh phúc và may mắn cho những kẻ sinh ra trong thời ly loạn. Cuộc đời cô Bẩy (rất) không may và (hoàn toàn) không hạnh phúc.
Lúc còn thanh xuân, cô gặp (và yêu) một chàng trai trên dòng Cái Lớn. Chàng từ Bình Thủy xuống, đẹp trai, lịch thiệp, và hò hát cũng rất hay. Chỉ có điều đáng tiếc là người ta không phải loại “thường dân” nên không chịu cùng cô Bẩy kết duyên đôi lứa và sống an phận thủ thường (như những đám lục bình trôi) nơi ao hồ sông rạch.
“Nghe qua con Bẩy bùi nghùi tấc dạ; từ chỗ kính mến đến chỗ yêu thương chàng trai đó cũng không xa mấy. Con Bẩy nhìn vầng trăng khuyết vừa hé lên khỏi ngọn bần.

  • Bao giờ chàng trở lại em xin chờ.
    Chàng cười mà đáp:
  • Cảm ơn.
  • Lời em hứa là chắc. Hay là chàng không tin nơi lời nguyền của gái đưa đò.
  • Đâu phải vậy. Chỉ sợ tôi không giữ đúng lời hứa … Chí trai bốn biển là nhà…
    Dứt lời chàng đứng dậy cất mái chèo. Con Bẩy xúc động rưng rưng nước mắt. Duyên may một đời chưa chắc gặp hai lần.
  • Vậy thì xin chàng dậy cho em một hai câu hò để em nhớ đời.
  • Cô hò đã hay mà lại có duyên. Tôi còn biết gì mà dậy thêm. Họa chăng chỉ có một tấm lòng này…Một tấm lòng! Con Bẩy mãi suy nghĩ về ba tiếng đó, chừng giựt mình nhìn lại thì chàng đã khuất dạng trong lớp sương khuya.” (Sơn N. sđd, trang 57).

Con Bẩy chờ hoài, chờ hủy nhưng người xưa không quay về bến cũ. Thời gian thì đâu có chịu đợi ai. Tuổi đời khiến con Bẩy Đưa Đò trở thành một phụ nữ bán thịt tại chợ Vàm, ở ven sông. Thịt luộc của dì Bẩy nổi tiếng là “ngon hết biết” luôn.

Một hôm, có người năn nỉ xin chỉ cho cách luộc thịt. Dì Bẩy thoáng ngậm ngùi:
“- Cái việc hò hát cũng như cái việc luộc thịt heo vậy. Ai làm cũng được. Cách thức dễ ợt. Nhưng mà công phu lắm.

  • Công phu là thế nào dì Bẩy?
  • Ở đây, hồi đó có người nói là cần một tấm lòng.” (Sơn Nam. sđd tr.59).
    Chao ơi, một tấm lòng! Sống không có (ngó) cũng kỳ mà có thì phiền lắm và (đôi khi) phiền lớn. Cũng như dì Bẩy, chị Thanh lao đao lận đận – suốt cả cuộc đời – cũng chỉ vì một tấm lòng thủy chung, và đôn hậu của mình.

Tương tự như thủ đô Lisbon của Bồ Đào Nha (vào đầu thập niên 1940) nơi mà nhiều người dân Âu Châu đã tìm đến, với hy vọng có cơ may chạy thoát khỏi sự săn đuổi chủ nghĩa phát xít. Hải Phòng, hồi đầu thập niên 50, cũng thế. Cũng là ngưỡng cửa của sự tử sinh.
Hàng triệu người Việt muốn lánh nạn cộng sản cũng đã tìm đến bến cảng này, với hy vọng tìm được một con tầu để đưa họ vào Nam. Chỉ riêng Nguyễn Thị Hoài Thanh quyết định ở lại thôi. Bà Nguyễn Thị Thêu kể lại: “Sau hiệp định Geneve chia đôi đất nước, gia đình tôi ra Hải Phòng để chờ ngày di cư vào Nam. Hoài Thanh vốn là người Hải Phòng nên ba tháng hè chúng tôi thường xuyên gặp nhau. Tôi rủ Hoài Thanh di cư vào Sài Gòn nhiều lần, nhưng Hoài Thanh bảo: “Tao chờ anh Trúc ở ngoài kháng chiến về.” (Nguyễn Thị Hoài Thanh. “Luyến Tiếc”. Hoa Phượng. Tiếng Quê Hương: Virginia, 2007).

Không ai trở lại, như chị Thanh (và dì Bẩy) đã mong ngóng cả. Người đời rồi cũng dần lãng quên cái giọng hát “khi cất lên cao thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh” của cô gái đưa đò (xuân sắc) năm xưa. Thời gian cứ để mặc cho dì Bẩy sống mãi trong lặng lẽ và cô đơn, cạnh một bến sông êm đềm, ở miền Nam.

Chị Thanh, buồn thay, đã không có được sự “may mắn” tương tự như dì Bẩy hồi mấy muơi năm trước. Cái giá mà chị phải trả cho tấm lòng trung hậu của mình mắc mỏ hơn nhiều. Ở miền Bắc, nơi mà (miếng thịt lợn chao ơi là vĩ đại, miếng thịt bò vĩ đại gấp hai) thịt thà được phân phối độc quyền bởi nhà cầm quyền nên chị Thanh đành phải bán than:
Em lội giữa đống than như con cá mắc cạn
Cố vẫy vùng cho vượt khỏi gian truân…
(Chu Tất Tiến. “Viết Về Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Hoài Thanh.” Hoa Phượng. Tiếng Quê Hương: Virginia, 2007).

Sống “trong lòng cách mạng” mà muốn “vượt khỏi gian truân” thì e là điều bất khả. Lý lịch trích ngang của Nguyễn Thị Hoài Thanh được Bùi Ngọc Tấn tóm tắt, như sau: “Có việc gì mà không trải qua. Hãy kể những việc chính:
“Công nhân xi măng, thợ điện Hải Phòng điện khí, thợ điện công ty xây lắp, công nhân bóc lạc công ty xuất nhập khẩu, đứng máy bào cuốn xí nghiệp gỗ Trương Công Định, công nhân công ty xếp dỡ, cấp dưỡng công ty vật liệu kiến thiết, súc sạc ắc qui Công Ty Quốc Doanh Đánh Cá Hạ long… Đó là chưa kể còn đi giao bánh rán, bánh mì, kẹo lạc, làm và bán nước mắm … Đồng luơng không đủ nuôi mình mà còn phải nuôi con.” (Bùi Ngọc Tấn. “Một Mơ Ước Về Kiếp Sau.” Viết Về Bè Bạn. Tiếng Quê Hương: Virginia, 2005).

Chưa hết, còn có “huyền thoại” là chị Thanh có hai ông anh đã di cư: Nguyễn Xuân Vinh và Nguyễn Cao Kỳ. Cả hai đều (từng) là tư lệnh không quân của miền Nam. Huyền thoại này chỉ đúng năm chục phần trăm. Quả thực, chị là em của ông Nguyễn Xuân Vinh. Ở miền Bắc, có một ông anh cỡ đó cũng đủ chết (bà) rồi. Đâu cần đến cả hai.

“Dường như biết rằng có những dư luận bất lợi cho mình và mọi người nhìn mình bằng con mắt nghi kỵ xa lánh nên chị không chủ động thân thiết gần gũi với một ai.” (Bùi N.T. sđd, trang 99).
Chị sống thui thủi một mình là phải:

Sau hổi kẻng tan ca
Tôi ngã vào vòng tay lạnh lẽo của mùa đông.

Đời sống cái gia đình nhỏ bé của riêng chị Thanh lại là một thảm kịch khác. “Thời con gái chị vốn xinh đẹp. Nhất dáng nhì da. Chị được cả hai. Nhưng hồng nhan đa truân. Hai lần kết hôn, hai lần ly dị. Vẻ đẹp của tuổi ba muơi đang chín. Cái sắc đẹp không chủ đã gây cho chị biết bao nhiêu khó khăn, nhiều khi cả nguy hiểm nữa… Hình như Nguyễn Thị Hoài Thanh sinh ra là để gặp rắc rối và vuợt qua những rắc rối khó khăn. Chịu đựng và vượt qua một cách thản nhiên bình tĩnh, không kêu ca như cuộc đời vốn như vậy.” (Bùi N.T. sđd, trang 101 -104).

Thì quả đúng “như vậy” thật nhưng sao, đôi lúc, tôi vẫn nghe dườg như có tiếng chị thở dài – dù (rất) khẽ:
Sông Cấm ơi! Sông như người bạn mới quen
Thân thiết thế mà sao không hiểu được
Chiều tan ca tôi đi bên dòng nước
Sông với tôi, với bóng là ba
Bóng tôi nghiêng với bao la
Sông mang về biển
Bóng tôi còn nguyên vẹn không sông?

Sông Cấm, đã có lúc, mang “nguyên vẹn” hình bóng của người thơ ra biển nhưng chị Thanh đã không giữ được nguyên vẹn hình hài của chính mình: “Tai nạn xẩy ra ngay ngã Sáu, gần nhà tôi. Chị nằm ngất trên đường mưa dầm ngày tết, mặt đường sền sệt một thứ nước bùn hoa. Cánh tay dập nát, xương gẫy… Chị bảo người nhà xin cho người tài xế đã gây ra tai nạn vì người ta không cố ý, người ta cũng khổ như mình.” (Bùi N.T. sđd, trang 111-112).

Sau đó, sau khi bị thương tật – ở tuổi sáu muơi – chị Thanh sẽ không bao giờ còn được “khổ như” nhiều người dân Việt (trung bình) khác nữa. Có lẽ, chỉ còn có cách ăn xin để sống còn – như chị đã từng nghĩ thế. Nhưng lòng tự trọng quá lớn đã không cho phép chị Thanh làm như vậy. Loay hoay một thời gian rồi chị cũng nghĩ ra một cách sinh nhai khác, lịch sự hơn: chị vào Nam đi … mót!

Với dân Việt thì gặt lúa, bẻ bắp, rỡ khoai, rỡ lạc là những sinh hoạt quen thuộc hàng ngày. Mót lúa, mót bắp, mót khoai, mót lạc …cũng là những sinh hoạt quen thuộc khác – với những nông dân khốn khó hơn, như trường hợp của chị Thanh. Có chiều, ở Đồng Xoài, trong khi chờ người ta thu hoạch xong (để mót lạc) chị đang ngồi chơi vẩn vơ đùa nghịch với những cây hoa mắc cở thì ý thơ chợt đến:

Chiều lặng ngồi bên cây xấu hổ
Lá thẹn thò sau đám cỏ rối bời
Hãy ngoảnh mặt lại đây
Có gì đâu mà mắc cở
Chỉ mình ta bầu bạn với ta thôi.

Có gì đâu mà mắc cở? Vậy mà tôi cứ xấu hổ mãi, sau khi đọc xong tập thơ Hoa Phượng – nhất là những bài chị Thanh viết về Di Linh, Đức Trọng, Tùng Nghĩa … Đó là những địa danh mà tôi cũng đã từng sống qua, một cách rất vô tình, và đã đành đoạn bỏ đi – cũng vô tình không kém!

Chị Thanh thì khác. Từ Bắc vào Nam, không một người thân quyến, chị không đi để “nhận họ nhận hàng” với bất cứ ai. Chị bước qua tất cả những vùng đất xa lạ của quê hương, với tất cả sự hồn nhiên và bằng một tấm lòng phơi phới:

Khi ta đến Di Linh chiều rất trẻ
Tiếng nắng về dát bạc dưới lòng thung…

Chị Thanh đến mọi nơi với tất cả sự thiết tha, và khi chia tay cũng vô cùng tha thiết:

Tạm biệt nhé Di Linh thôi chào nhé
Ở chưa quen đã vội vã ra về …

Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/ Trung? Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!

Tưởng Năng Tiến

(*) Sách được in lại (và in lậu) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản.

https://www.rfavietnam.com/node/6266




9th century sandstone Shiva Linga discovered in Vietnam

A team from the Archaeological Survey of India have announced the discovery of a monolithic sandstone Shiva Linga dating from around the 9th century AD in the Quảng Nam province, Vietnam.

The Archaeological Survey of India is an Indian government agency attached to the Ministry of Culture that is responsible for archaeological research and the conservation and preservation of cultural monuments.

The discovery was made during a conservation project at Mỹ Sơn, an archaeological site consisting of Hindu temples constructed between the 4th and the 14th century AD by the Kings of Champa, an Indianised kingdom of the Cham people.

The Mỹ Sơn temple complex is regarded as one of the foremost Hindu temple complexes in Southeast Asia and is recognised as a UNESCO world heritage site.

The linga, also called a lingam is an abstract or aniconic personification of Shiva in Shaivism and is generally the primary murti image in a Hindu temple dedicated to Shiva. Lingam iconography is often found at archaeological sites of the Indian subcontinent and southeast Asia that includes simple cylinders set inside a yoni.

The External Affairs Minister for India, S. Jaishankar said: “A great cultural example of India’s development partnership.”

Internet source




Love Me-Yêu Em