Nhà văn kiêm dịch giả Huỳnh Phan Anh mất lúc 16g45 ngày Chủ nhật 30-8 tại tư gia San Jose thọ 81 tuổi. Tác giả “Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô” chính là thầy dạy tôi môn Công Dân tại trường trung học công lập Nguyễn Trãi niên khóa 1970-1971. Tại ngôi trường Nguyễn Trãi này trong suốt thời trung học đệ nhị cấp tôi vốn là một trong vài học sinh xuất sắc nhất lớp…
Thuở đó tôi lồng lộn sải vó cố tìm ra ánh sáng cuối đường hầm trên con đường sạn đạo của mình. Tôi từng trần thuyết về đề tài Tam Dân Chủ Nghĩa trước thầy Huỳnh Thành Tâm tức nhà văn Huỳnh Phan Anh nổi tiếng dạy tôi năm lớp 10A và được thầy cho điểm tuyệt đối về sự hùng biện táo bạo.
Khác với hai thầy Đỗ Quý Toàn, Tạ Quang Khôi mà tôi không lần nào gặp lại, riêng thầy Huỳnh Phan Anh sau 1975 tôi được hân hạnh tái ngộ và trở thành một đồng nghiệp nhỏ thân thiết của thầy. Tôi còn nhớ cuối năm 1975 trên báo Văn Nghệ Giải Phóng xuất hiện hai bài tùy bút nổi tiếng một của Trịnh Công Sơn và một của Huỳnh Phan Anh. Hai bài viết thuộc dạng sắc sảo trong cách nhìn của mỗi người về những biến thiên của thời cuộc, nhưng tùy bút NHÌN LẠI của Huỳnh Phan Anh được dư luận đánh giá cao hơn tùy bút mang tên HẠNH PHÚC của Trịnh Công Sơn. Tôi không coi đó là sự giác ngộ cách mạng hoặc sám hối nghề nghiệp của Huỳnh Phan Anh như sự chụp mũ ác ý của một số người cầm bút.
Tôi hiểu tâm trạng của một nhà văn tự trọng kiêm một nhà giáo lương thiện và ủng hộ con đường đi của thầy. Đến giờ này có thể nói khả năng biên dịch, phóng tác của thầy theo thời gian ngày càng rực rỡ hơn bao giờ hết. Đơn cử bản dịch Huỳnh Phan Anh cuốn CHUÔNG GỌI HỒN AI của Ernest Hemingway sẵn sàng “chấp” hàng loạt nhà văn thế hệ sau 1975 thay phiên nhau dịch mà chẳng có ai so sánh được. Một đơn cử khác, bản dịch Huỳnh Phan Anh cuốn TÌNH YÊU BÊN VỰC THẲM của Erich Maria Remarque cũng là một thứ “hàng độc” về văn phong lịch lãm của thầy. Tôi khẳng định rằng thầy đã cùng với các dịch giả Ngọc Thứ Lang, Phạm Công Thiện, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Hữu Hiệu… tạo nên trường phái dịch thuật đẳng cấp trước 1975, đủ sức lột trần được tinh hoa bản gốc của các danh tác quốc tế và làm giàu có thêm cho kho tàng ngôn ngữ Việt Nam.
Hai thầy trò chúng tôi đã nhiều lần cụng ly, nhiều lần lăn lóc, nhiều lần ngổn ngang tâm sự với nhau cho dù Huỳnh Phan Anh hầu như không nhớ gì tên học trò Nguyễn Trãi ngày xưa được ông cho điểm cao nhất môn trần thuyết. Có lần ông kể với tôi trong một đêm say khướt ngồi xe xích lô về nhà trên đường Võ Văn Tần (đường Trần Quý Cáp cũ) ông đã được tay tài xế xích lô xa lạ đọc cho nghe bài thơ XÍCH LÔ HÀNH của tôi, sau đó còn hát nghêu ngao ca khúc phổ nhạc bài thơ đó.
Ông xúc động nói với tôi rằng:”Như vậy là mày đã tồn tại. Nhà thơ cả đời chỉ cần một sáng tác được truyền khẩu, thế mà bài thơ Xích Lô của mày được phổ biến khắp nơi. Tao hãnh diện được làm thầy của một thi sĩ nhân dân kiểu đó”. Khi tôi viết những dòng này thì vị thầy giáo đáng kính đã lưu lạc giang hồ bên Mỹ quốc, trước khi đi tôi đã cố gắng cùng thầy gõ cửa đủ mọi cơ quan, báo chí để nộp từng chồng hồ sơ khiếu nại khiếu tố dày cộm về đám cường hào ác bá tỉnh Tây Ninh cướp đất hương hỏa của gia đình thầy, nhưng tất cả nỗ lực đều thất bại bởi “con cóc không thể kiện ông trời” khi không còn thượng đế. Chẳng biết thầy còn nhớ những kỷ niệm bụi đời của chúng tôi không?
Và tôi cũng mở ngoặc luôn ở đây: Có lẽ thầy Tâm không còn nhớ gì nữa, bằng chứng là những lần về lại Việt Nam thầy không một lần tìm đến nhà tôi, cho dù thuở chưa đi “xuất khẩu” nước ngoài, cứ vài ngày là thầy lại gõ cửa hào hứng mời tôi đi nhậu rượu hà thủ ô miệt Đa Kao. Cũng không sao, thưa thầy Huỳnh Thành Tâm tức Huỳnh Phan Anh, cái gạch nối cần thiết nhất của chúng ta là bài thơ XÍCH LÔ HÀNH (qua lời khẳng định của thầy) vẫn luôn luôn tồn tại cho đến bây giờ:
XÍCH LÔ HÀNH
Tưởng mình ta đạp xích lô
Nào hay phố xá ngựa thồ như nêm
Buộc cho ta miếng băng đen
Để cho cặp mắt làm quen mù loà
Xỏ giàm vào mõm nữa cha
Để cho số tuổi ta già theo răng
Giật cương đi hỡi mấy thằng
Ê, sao nước mắt chợt lăn xuống cằm
Ta đi dụ khị người phàm
Thấy huynh hiền sĩ từ quan lên rừng
Dạ dày ta nhảy lung tung
Nhảy dăm phút nữa dám khùng nghe cha
Cũng may vừa tới ngã ba
Cô em yểu điệu tà tà leo lên
Lưng ta khòm giống cái yên
Chổng mông em cưỡi mùi Thiền nhấp nhô
“Ba đồng một cuốc” mại dô!
Có con ngựa đực vừa ho vừa gào
Ta thồ ngang động hoa đào
Thấy dăm kỹ nữ trắng phau trổ nghề
Thồ ngang đống rác thúi ghê
Thấy bầy tiểu tử chửi thề giành moi
Thồ ngang khách sạn em ơi
Chó ngồi ăn nhậu còn người ăn xin
Nhưng mà chớ có rùng mình
Tại ta kéo thắng chưa linh em à
Gân chân lõm tựa ổ gà
Mặt xương bụng lép chẳng ma nào ngồi
Mới ra nghề tưởng khơi khơi
“Bác Hồ ngó thẳng” đâu chơi gà mờ
Dạ dày lại đánh lô tô
Mồm ta méo xệch bên bờ tử sinh
Như là góa phụ tắt kinh
Ruột xe có chửa thình lình, chết cha!
Té ra trong cõi người ta
Ruột lô, ruột xịn khéo là ghét nhau
Đếm tiền còn thiếu xu hào
Đếm ta thấy chớm bệnh lao mất rồi
Vá giùm chút, bạn hiền ơi
Xích lô cà chớn của thời cà chua!
BCV
(trích từ hồi ký GIAI THOẠI CỦA THI SĨ)
Trong đám cưới Bùi Chí Vinh. Hương Lan: Người đứng: Phan Bá Chức Người ngồi: Vợ chồng họa sĩ kiêm diễn viên Lê Chánh và Huỳnh Phan Anh.
Cô ấy là một thuyền nhân tí hon. 4 tuổi theo gia đình lênh đênh trên biển đi tìm tự do. Qua bốn trại tị nạn , lao đao khốn khó nhưng những năm tháng ấy cũng đã kịp hình thành ý thức về tự do và quan trọng hơn, suốt 8 năm tị nạn trên đất Thái, cô đã tìm ra lẽ sống và niềm tin của cuộc đời. Cô xin được học giáo lý để được rửa tội theo chân Chúa. 12 tuổi, cái độ tuổi ham ăn ham chơi của đa số bạn đồng lứa thì cô bắt đầu chạm cú shock đầu tiên của đời mình. 12 tuổi cô cùng gia đình bị trả ngược về Việt Nam.
Do ngày vượt biển đến trại tị nạn đã quá ngày tiếp nhận thuyền nhân, cả nhà cô bị trả về với tâm thế bị cưỡng bức, không một mảnh giấy cầm tay. Cô về Trà Vinh nhập học lớp 4 và hành trình học tập của cô cũng bắt đầu lao đao theo những định kiến của chế độ đặt ra cho những “kẻ phản quốc”.”Kẻ phản quốc” cũng là câu nói cửa miệng của thầy cô trong trường khi nói tới tên Mẫn. Thầy giáo chủ nhiệm cấp 2 nói với cô “chỉ có những đứa phản quốc mới bỏ đi vượt biên thôi”.
Sau khoá sơ cấp Dược (cô học cho Cha Mẹ an lòng) cô quyết định thôi học vì cô biết có tiếp tục hành trình trường lớp cô cũng sẽ không thể vươn lên được trong cái xã hội nhỏ hẹp kia với những định kiến lệch lạc thiếu tình người đến độ bệnh hoạn. Vốn dĩ gia đình xuất thân từ nền Cộng Hoà nên việc sống và hoà nhập với nhận thức của xã hội và những người được mua chuộc để theo dõi cô cùng gia đình là một điều không thể.
Thị xã Trà Vinh nhỏ hẹp không thoả mãn được ý thức về tự do cũng như mong muốn về quyền được làm người đúng nghĩa mà cô đã sớm được gieo trồng và phát triển. Hằng đêm, ngoài việc đọc kinh cầu nguyện thì việc dò đài Radio trên sóng quốc tế cũng là một niềm vui sống và hi vọng của cô gái 24 tuổi đời. Cô biết được phía bên ngoài kia, thế giới của những người Việt lưu vong, lòng yêu nước vẫn luôn âm ĩ, cô biết nhiều hơn và ý thức nhiều hơn về lòng yêu nước của bản thân. 25 tuổi cô quyết định rời bỏ Trà Vinh lên Sài Gòn tìm những người cùng chí hướng, cùng suy nghĩ và cùng một nhận thức về yêu nước về tự do. 25 tuổi cô phải thay đổi chỗ ở liên tục vì sự đeo bám của công an, an ninh và sự quấy nhiễu của bọn họ, áp lực lên gia đình cô ở quê nhà.
Những hình ảnh của cô trong những cuộc cuộc biểu tình, biểu ngữ về Hoàng Sa – Trường Sa và tinh thần dân tộc của cô một ngày một dày thêm trong tủ hồ sơ an ninh về những kẻ phản động. Cô bị bắt tại sân bay cùng Mẹ và anh trai trong một chuyến bay về lại Việt Nam sau những ngày giao lưu gặp gỡ các bạn bè Việt Nam lưu vong trên khắp thế giới. Sau hai đợt Sơ thẩm – Phúc Thẩm cô bị kêu án 8 năm do tội danh phản quốc và lôi kéo đồng bọn (bao gồm Mẹ và anh trai).Mẹ cô bị kêu án 3 năm, anh trai sau gần hai năm tạm giam được thả về và hưởng án treo.
Suốt 8 năm trong lao tù, không ít lần cộng sản yêu cầu thoả thuận cùng cô để cô được giảm án nhưng cô đều từ chối vì không bao giờ bắt tay hay thoả thuận gì với cộng sản. 8 năm lừng lững và ung dung bước ra khỏi trại giam, cô về với tâm thế ngẩng cao đầu, được hỏi về những năm tháng tù đày cô bé cười rất tưoi và trả lời tôi. “Suốt tám năm em được Đức Mẹ che chở, em hay nằm mơ thấy Đức Mẹ đưa tay ra cho em nắm, và suốt những tháng năm đó em thấy mình đủ sức chị à. Đừng ai hỏi em có hối hận không vì em trả lời một lần duy nhất là em không bao giờ hối hận đâu”.
8 năm lưu vong trên đất Thái trải qua 4 trại tị nạn và 8 năm tù đày trên đất Việt Nam cũng trải qua 4 trại tù khủng khiếp nhất. 16 năm tuổi đời của cô đã trôi qua như thế. Có ai cảm thấy mình quá nhỏ bé trước cô ấy như tôi không?
Xem những món đồ gốm thuộc hàng thượng đẳng, từ thế kỷ 15 của Việt Nam ở The Metropolitan Museum of Art, New York.
Bình con chim này chắc chỉ còn lại vài con, lưu lạc đâu đó ngoài Việt Nam. Năm 2000 khi chiếc tàu chở đồ gốm bị chìm ngoài cửa biển Hội An được vớt lên và thẩm định. Giới khảo cổ học và dân sưu tầm đồ cổ hoàn toàn “choáng” trước một kho tàng gốm cổ, chìm dưới đáy đại dương hơn 500 năm, lại là đồ gốm của Việt Nam. Trước đó, giới nghiên cứu đã đổ về Hải Dương để khai quật, tìm hiểu. Nhưng chưa có trong tay những hàng gọi là thượng đẳng. Đợt đấu giá lô hàng gốm đầu tiên tại San Francisco, gồm bình rồng. Ba chiếc bình đầu tiên kêu giá từ 30 ngàn đến 50 ngàn đollars, đã được mua với giá trung bình 65 ngàn đollars một bình.
Từ đó gốm cổ Việt Nam làm từ Chu Đậu, tỉnh Hải Dương lên đời; được trang trọng có mặt trong một số bảo tàng viện quốc tế; sánh vai cùng gốm đời Minh, đời Song của Tàu.Khi đem chiếc tàu bị chìm phân chất, giới nghiên cứu cho biết chiếc tàu này làm bằng gỗ Teak, một loại gỗ của Thái, rất tốt để làm thuyền. Cùng chung số phận của chiếc tàu, có hai bộ xương chết dưới tận khoang tàu. Có lẽ là của những người Thái đi qua Việt Nam mua bán đồ gốm, và trên đường về lại Thái thì ghe gặp bão bị chìm. Hàng trăm ngàn món hàng gốm, có món bị nước biển làm hư, nhưng cũng có món gần như còn giữ nguyên vẹn vẻ đẹp, cho dù hơn 500 năm đã bị nước mặn bào mòn.
“Văn hoá là những gì còn lại sau thử thách, được gìn giữ trong tim và tâm hồn của một dân tộc”. Thánh Gandi từng nói vậy. Văn hoá gốm cổ của Việt Nam hơn 500 năm vẫn được trân trọng. Còn văn hoá của bác và đảng, thứ văn hoá nghệ thuật mì ăn liền, hạ cấp và tuyên truyền như loại ca nhạc “chị Ba năm tấn”, mới có vài năm cọ xát với nhạc vàng của miền Nam; đã quay lưng ra lăn đùng chết một cách tức tưởi, không kèn không trống.
Đỗ T. Công
Mua danh, bán tiếng trong giới khoa bảng và đại học VN
Mua danh, bán tiếng trong giới khoa bảng và đại học Việt Nam
TS Nguyễn Đức An
ĐH Bournemouth, Anh Quốc
25 tháng 8 2020
Cách đây vài năm, nhân chuyến về VN, tôi được trường đại học X mời đến thăm để bàn cơ hội hợp tác. Họ tiếp đón trọng thị, đưa tôi đi tham quan cơ sở vật chất chuyên ngành, xem sản phẩm sinh viên, gặp nhiều người có trách nhiệm từ ban giám hiệu trường đến trưởng phó khoa, các giảng viên, nhân viên phòng lab.
Nhưng trên đường về, lòng thật buồn. Nỗi buồn cứ lan man theo tôi và trỗi dậy trong mấy tuần qua, khi báo chí và mạng xã hội trong nước xôn xao chuyện “mua bán” công trình khoa học.
Hôm đó, họ đề nghị hai hình thức “hợp tác” cơ bản. Một, tôi đứng tên trong đội ngũ cơ hữu để họ làm thủ tục mở chuyên ngành. Không cần làm gì cả, chỉ cần đứng tên (vì tôi có hàm vị học thuật cần thiết theo quy định của Bộ Giáo dục), hằng tháng sẽ nhận một mức lương kha khá. Nếu thu xếp được thì giờ thì về giảng dạy, nhưng không nhất thiết.
Hai, họ đề nghị tôi hỗ trợ mảng khoa học, bằng cách ký tên tôi dưới danh nghĩa trường X trong các công trình của tôi trên thế giới. Đổi lại, họ sẽ trả mỗi bài một mức tiền khá cao, được quy định cụ thể trong một hợp đồng kinh tế (tuỳ theo đẳng cấp tạp chí đăng bài, thứ tự tên tác giả…).
Vài tuần sau đó, sau một chuỗi email bàn bạc nhưng có vẻ không dẫn đến đâu vì hai bên hiểu khái niệm “hợp tác” khác nhau, tôi phải viết thư nói rõ ra. Rằng tôi sẽ không đứng tên trong bất cứ các công trình tôi làm bên này dưới tên X. Rằng tôi sẽ chỉ đứng tên vào đội ngũ nếu tôi thực sự tham gia giảng dạy, chứ không phải để cho họ đủ ban bệ. Lý do, tôi cũng nói thẳng với họ, là nó không phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực nghề nghiệp mà tôi muốn gìn giữ cho riêng mình.
Kể lại chuyện trên không phải để phê phán một đơn vị riêng lẻ nào. X không phải là nơi đầu tiên tôi từ khước những việc này: từng có vài trường ĐH ở Trung Quốc và VN đề nghị tôi làm tương tự để nhận các khoản tiền không nhỏ.
Một loạt bài điều tra trên báo Thanh Niên vào giữa tháng Tám cho thấy đây là cả một ngành công nghiệp quy củ, phục vụ cho một thị trường béo bở giữa nhiều cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước. Loạt bài – dù có một vài sai sót kỹ thuật nhỏ, dễ gây hiểu nhầm – cho thấy chuyện mua danh bán tiếng khoa học mang rất nhiều dạng thái. Bên cạnh các trường trả tiền để được hưởng tiếng thơm công trình quốc tế (và để nâng vị trí xếp hạng) là rất nhiều cá nhân đi thuê viết luận văn để lấy bằng cấp, mua bài trên các tạp chí khoa học dỏm để đủ tiêu chuẩn lên giáo sư hay phó giáo sư…
Nhiều lần đem chuyện này ra tâm sự với đồng nghiệp trong nước, tôi đều nhận những cái lắc đầu, bức xúc nhưng cam chịu. Có lẽ vì nó phổ dụng nên khi đề xuất các “hợp tác” trên với tôi, những người bạn trường X rất tự nhiên, như không có gì để băn khoăn cả. Dường như một cái không bình thường đang được bình thường hoá.
Những ngày qua, theo dõi tranh luận quanh việc này, tôi thấy nhiều lý lẽ bênh vực cho chuyện “mua bán”. Rằng chính nhờ chịu khó chi mạnh cho những việc đó mà một vài trường đại học non trẻ (“bên mua”) vượt qua và gây sức ép khiến các đại học lâu đời đẩy mạnh nghiên cứu hơn. Rằng nhờ đó mà các nhà khoa học viết thuê (“bên bán”) có thêm thu nhập đủ sống trước khi cống hiến cho khoa học. Rằng nhờ đó mà VN còn hiển hiện đôi chút trong nền khoa văn thế giới. Rằng làm thế cũng chẳng vi phạm luật pháp.
Những lý lẽ ấy, theo tôi, đều bỏ qua hai khía cạnh căn cơ của vấn đề.
Thứ nhất, khoa học không thể phát triển trên tư duy “ăn xổi ở thì”, chạy theo cái phù du trước mắt. Khi từ chối trường X, tôi nói tôi rất muốn giúp trường nhưng nếu làm như ý họ thì tôi chẳng giúp gì để họ phát triển bền vững. Trước đó, tôi đề nghị họ lập ra một nhóm giảng viên nòng cốt, hằng năm tôi sẽ sắp xếp đi về, thậm chí có thể mời gọi các đồng nghiệp khác về cùng, để vừa dạy cho sinh viên, giúp họ soạn thảo chương trình, vừa hướng dẫn kỹ năng nghiên cứu cũng như cùng họ làm đề tài để công bố quốc tế.
Làm thế sẽ được cả đôi đường – tôi thoả mãn ước muốn đem kinh nghiệm và tri thức về chia sẻ với các đồng nghiệp và sinh viên, đóng góp cho nền học thuật nước nhà, còn nhà trường được một đội ngũ kỹ năng, về lâu dài có thể tự nghiên cứu và sản xuất bài báo khoa học quốc tế. Nhưng những việc thực chất này lại có vẻ xa xôi so với các mục tiêu mà họ muốn gặt liền tay từ sự “hợp tác” với tôi.
Không biết có bao giờ họ nghĩ rằng vẻ ngoài bóng nhoáng không thể che dấu lâu dài cho sự rỗng tuếch bên trong? Toà lâu đài trên cát có nguy nga đến mấy cũng sẽ tới lúc đổ nhào.
Thứ hai, đây là một câu chuyện đạo đức, với nhiều hệ luỵ xã hội. Không thể không “rùng mình” khi những hành vi trên diễn ra ngay trong một tầng lớp được cho là tinh hoa, có ảnh hưởng sâu sắc đến tương lai đất nước và vận mệnh dân tộc. Kẻ mua cũng tệ, người bán cũng chẳng hơn. Sự liêm chính ở đâu? Lòng tự trọng khoa học ở đâu? Tinh thần học hỏi ở đâu? Sự kiên trì khám phá thế giới ở đâu? Sự khát khao và khiêm nhường trước tri thức ở đâu?
Không có những cột trụ nền tảng đó thì sẽ chẳng bao giờ có một nền khoa học – và rộng hơn, một trình độ phát triển – đường hoàng và bền vững. Hãy tưởng tượng những ông bà giáo sư, tiến sĩ theo con đường mua bán này sẽ trở thành những chuyên gia, cố vấn, lãnh đạo khoa học tại các trường viện và bên ngoài xã hội thì đất nước sẽ về đâu? Điều gì sẽ xảy ra nếu xã hội đặt chẳng may đặt niềm tin và đổ dồn đầu tư vào các trường đại học nổi danh nhờ các công trình quốc tế không do họ làm ra?
Tôi phải nói ngay là tôi vẫn gặp ở trong nước rất nhiều nhà khoa học tài năng, thành đạt trên những trụ cột đạo đức trên. Nhưng tin xấu lan nhanh hơn tin tốt. Chỉ vài trường hợp như trên cũng đủ để nhiều người dân đóng thuế nuôi khoa học, nhiều phụ huynh đóng tiền cho con đi học và nhất là các em sinh viên suy nghĩ tiêu cực về thế giới những con người đang dẫn dắt nghiên cứu và truyền bá tri thức trên giảng đường.
Nói cách khác, nếu giới khoa bảng VN không chung tay để biến những vấn nạn trên trở thành chuyện bất bình thường, họ sẽ dễ bị xã hội nghi vấn, xa lánh và coi rẻ. Và khi khoa học không còn được xã hội coi trọng, khoa học sẽ mất tính chính danh. Khoa học sẽ không còn là khoa học.
TS Nguyễn Đức An nguyên là nhà báo ở TP HCM, hiện là phó giáo sư ngành báo chí-truyền thông tại Đại Học Bournemouth, Anh Quốc.
… Từ giờ cho tới trung tuần tháng Mười, bác sẽ có hai, ba dịp được rượu chè, đãi đằng… đầu tháng Mười Một sẽ có tin vui thật lớn. Tin nầy sẽ thay đổi hoàn toàn cuộc đời bác… Bệnh nặng nhưng sẽ qua đựợc, không lo, số bác được nhờ con cái…
– Tháng Mười ta hay tây?
Người đàn ông trạc ngoài 50 bồn chồn hỏi.
– Tháng Mười dương, tôi bói bài Tây nên nói theo dương lịch.
– Như vậy có nghĩa trong tuần tới nầy?
– Vâng, bài nó hiện lên như vậy. Bác còn muốn hỏi chuyện gì nữa không?
Người đàn bà mặc áo cánh trắng hơi khó đoán tuổi, có vẻ dân kẻ chợ, ngồi xếp chân vòng tròn trên cái phản độc nhất trong căn nhà lá xốc lại cỗ bài. Người đàn ông tần ngần dấp nước bọt vào ngón tay để rút tiếp con bài cái: “Được uống rượu thì đúng rồi, trong tháng nầy làng có đám giỗ của ông Cả Hương, ông Thuận cuối xóm mới “đi” năm ngoái… Còn ai nữa nhỉ? Đám liệt sĩ chống Mỹ thì cha mẹ, vợ con túng thiếu đã thôi giỗ từ hai, ba năm nay… À, còn thím Tuất xóm Gạch, chồng mới chết bên Kăm-phu-chi-a…thảo nào mà mình không nhớ, chứ cả năm có ngần ấy dịp để uống rượu mà quên sao được.”
– Đây nầy, tôi nói có sai đâu, thế nào rồi con ách rô cũng hiện ra mà. Cam đoan trong tháng nầy sẽ có tin vui lớn…, từ con cái và tài lộc còn vượng phát nữa.
Người đàn ông nhấp nhổm người trên phản, chiếc quần đùi đã tụt xuống dưới rốn để lộ ra cái bụng răn reo. Chùi tay vào manh vải độc nhất trên người đó, ông táy máy sờ vào con bài đỏ nằm bên con bản mệnh của mình.
– Phỉnh người già là mang tội lắm đấy, không lẽ tháng nầy thằng Sơn nó gửi quà cho tôi. Tháng vừa rồi nhận thư nghe nó than ở bên Nga cũng túng thiếu lắm, tiền học bổng mua sách học còn không đủ nữa là…
– Cái nhà bác nầy, nói thế mà nghe được à, bài nó nói sao thì tôi nói vậy chứ ăn tiền ăn bạc gì của nhà bác mà tôi nói sai nói quàng?
– Ý bà muốn chê mấy buồng chuối của tôi đắt không muốn mua nên tưởng tượng ra như vậy chứ gì?
– Trời Phật ơi! Bác ăn nói như vậy không sợ Trời vật hay sao? Thuận mua vừa bán, làng nầy thiếu gì chuối mà tôi phải đi ép uổng bác cơ chứ?
Người đàn ông còn chưa yên tâm nên thử tiếp:– Ý bà muốn bao nhiêu?
– Thì vẫn như hồi đầu tôi mà cả với bác ấy. Cái chuyện “mua non” chuối nầy tôi cũng không muốn lắm đâu, nó thất đức làm sao ấy mà nhỡ ra xấu trời là mất sạch vốn.
– Ấy ấy, sao bà lại nói thế, tôi có dám nghĩ gì đâu… mà bà vẫn mua đấy chứ?
– Tôi mua là để giúp bác, lãi lời là bao nhiêu… mà số bác cũng khá tới nơi rồi…
– Vị chi tất cả là bảy buồng, nhân cho 18 là 126 đồng. Bà có mang theo tiền không?
Sợ kéo dài thêm, bà hàng chuối sẽ đổi ý nên người đàn ông vội kết thúc câu chuyện.
Người đàn ông vừa nhẩm tính trong đầu: bốn cân gạo nhân cho 20 là tám chục đồng, hai cút rượu 16 đồng, số còn lại mua nửa cân lạc về nhấm và rang mặn để ăn dần. Phải rồi, mua gạo ngay chứ chần chừ, nấn ná là mình lại uống rượu hết. Mình khô mép cũng lâu rồi, hai cút không biết có đủ cho hai bữa không. Trời hôm nay mát uống rượu sẽ ngon lắm đây.
Bữa giỗ năm nay bà cả Hương làm thật linh đình. Ngay từ sáng hôm qua đứa con dâu đã đạp xe lên tận chợ huyện để mua thịt lợn và đậu phụ. Chợ làng thường chỉ có lợn nhỏ và bệnh nên người ta mới giết. Tuy vậy bà cũng gióng giả với làng nước rằng sẽ mua vét cho hết nếu ai ra sau 8 giờ sáng.Ông bí thư xã nghe thấy vậy ngứa tai lắm, nhất là khi vợ rỉa rói đay nghiến làm sao ông lại để yên chuyện hủ lậu giỗ gả nầy trong địa hạt cai quản của mình, định bụng sẽ triệu tập dân làng họp về nếp sống văn minh, lành mạnh và tiết kiệm vào ngay tối hôm trước ngày giỗ để ngăn chặn.Nhưng bà cả Hương thật khéo lo xa, khi cái công văn mời họp còn thảo dở để trên bàn thì bà đã xởi lởi chui vào cổng nhà ông, tay xách cái thủ lợn được bọc kín trong mấy lớp lá chuối. Chị vợ hít mùi máu lợn liền nháy mắt cho chồng. Ông hiểu ý nên lỉnh qua bên Văn hóa thông tin xã cho các bà tiện nói chuyện.
Không khí giỗ chạp rạo rực đến từng nhà. Các lão ông lo lắng không biết bà quả phụ ông cố chủ nhiệm hợp tác xã mua rượu ở đâu. Rượu của làng này nấu thì tệ lắm, chua loen loét mà uống mãi vẫn chưa ngọt được cuống họng. Đám trẻ con băn khoăn về chỗ ngồi của chúng. Năm ngoái cô con dâu trưởng của bà Hương đã lùa tất cả xuống bếp, mà mâm trẻ con thì thiếu đủ các món nên chúng vừa ăn vừa tranh thủ nhét xôi nhét thịt vào túi áo.
Lát nữa khi những đứa dại khờ còn đang thòm thèm đứng mút tay nhìn lén qua khe cửa xem người lớn uống rượu thì chúng thong thả kéo nhau ra đình, vừa đi vừa nhấm nháp chỗ xôi thịt vừa thủ được.
– Nhớ mời bằng được bác Đặng con nhé. Tội nghiệp cái ông nhạc sĩ lỡ thời, cho ông ấy một hai cút rượu vào là chuyện trò rôm rả, nổi đình nổi đám. Thật bốn thằng mõ ngày xưa pha trò không bằng một mình bác ấy. Cái chân giò u cất trong khạp gạo lát nữa nhớ gói về cho bác. Cấm quân bay không được phạm vào!
Cô con gái phàn nàn rằng vụ cà chua, khoai tây năm nay chưa chắc được mùa, u làm giỗ tốn kém quá, khéo không kéo lại được.
Bà Hương cười mát giảng giải cho con gái:
– Quân bay nông cạn lắm; một vốn bốn lời, tao làm bữa giỗ nầy đấm mõm cả làng, đến kỳ đại hội xã viên tới chúng nó sẽ dồn phiếu cho anh cả mày vào chức chủ nhiệm hợp tác xã. Nhìn đấy, cơ nghiệp nhà nầy tạo nên chỉ trong ba năm thầy mày làm chủ nhiệm đó thôi.
Tuy được u giải thích như vậy, song đám đàn bà trong nhà vẫn thông mưu với nhau cùng giấu bớt rượu thịt.
– Rước cụ xơi rượu…
– Vâng bác cứ để mặc em… hình như mâm ta còn thiếu món giò bò?
Ông Mưu “lác” buông đũa nhỏm người nhìn qua bên cạnh, nơi các ông bí thư, chủ tịch, công an xã đã bắt đầu từ trước đó nửa giờ.
– Giò bò chỉ cho các chức sắc thôi, cánh ta xơi tạm giò thủ vậy. Kìa, còn có cả ông Huyện đội nữa nầy… Thằng con trai út bà Hương đợt nghĩa vụ quân sự nầy được hoãn… hèn gì mà có giò bò…
Nhưng rồi thì đám mâm thấp vế cũng cho qua đi cơn ganh tị. Đĩa thịt lợn luộc ngộn mỡ, đĩa cá trôi rán nguyên con đang mở mắt nhìn chòng chọc thế kia thì bố ai mà lo nghĩ chuyện xa xôi cho được.
Khi tiệc rượu vừa lên đến cao trào, tiếng mời rượu, tiếng gọi món ăn và tăng tẳng đâu đây tiếng đàn miệng đang đi dạo cho khúc quan họ thì cô con gái bà Hương tay bưng bát canh miến nóng hỏi vọng từ ngoài sân, lướt qua mấy chục cài đầu người đang nhấp nhô lượn sóng:
– Có ai là ông Đặng Đình Hưng ở đây không? Ra có người cần gặp.
– Hưng nào. Đặng Đình Hưng nào? Làng nầy làm gì có ai tên Đặng Đình Hưng?
Có tiếng người thắc mắc hỏi lại:
– Đặng Đình Hưng phải không? Đúng rồi, cái nhà bác nhạc sĩ Đặng ở ven đê đó.
Ông công an xã xác nhận lại.
– Mà ai cần gặp? Ông hỏi tới.
– Cháu không rõ, họ đi xe Volga từ Hà Nội về đang đỗ chờ ngoài đình làng đấy.
– Xe Volga hả? Thôi thế thì đúng rồi, thằng cháu trai tôi đang làm lái xe cho ông Bộ trưởng nên đánh xe về làng đấy.
Ông Tươi “ba toác” đặt mạnh chén rượu xuống, ẵm vội cái tin đáng hãnh diện đó vào lòng.
– Ai! Ai? Cái thằng Toan lại rước “các ông” về đấy à? Thôi chết tôi rồi, nhà còn mỗi con gà mái đẻ, thịt nốt thì lấy ai mà ấp trứng…?
Bà vợ ông Tươi đang vừa cho con bú vừa vê nắm xôi thất thanh hỏi: Xe Volga màu gì?
Ông bí thư xã cài vội cái khuy áo ngực,vuốt lại mái tóc, cắt ngang lời bà:
– Có phải xe màu đen không?
– Vâng, xe màu đen ông ạ.
Cô con gái bà Hương xác nhận lại.
– Bỏ mẹ rồi, ông bí thư tỉnh uỷ chứ không phải ai đâu… mà có đúng xe màu đen không hay mày nhầm với màu xanh đậm?
– Cháu nhìn phớt qua nên không chắc lắm.
– Đám thanh niên đâu rồi?
– Chi đoàn xã sáng nay đi hội diễn văn nghệ trên huyện chiều mới về.
Có ai đó nhanh nhảu báo cáo.
– Gọi ngay cho tôi đám dân quân!
– Chúng nó còn đang uống rượu.
– Rượu với chè cái gì, bố chúng nó về thăm mà chúng nó còn rung đùi ngồi uống à? Nổi kẻng báo động chiến đấu cấp một lên cho tao!
Đám trai làng lầm bầm chửi, song vẫn lốc nhốc đứng dậy.
– Chia làm hai cánh, một xuống ao hợp tác xã đánh mươi cân cá. Chỉ lấy cá chép trên một ký thôi nghe không. Cánh còn lại vào “vườn cây nhớ ơn Bác” hái hai xọt cam về đây. Mẹ tiên sư, về mà không báo trước hai ba hôm cho người ta kịp chuẩn bị.
– Ao hợp tác xã tát hết vào tuần trước rồi, chả còn gì đâu mà bắt.
Anh xã đội trưởng làu bàu.
– Xuống ao cá bác Hồ!
– Ao đó “bác” dặn chỉ để cho gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng.
– Ông bí thư tỉnh uỷ không đẻ ra cả cách mạng ấy à. Quân bay có muốn chết cả lũ không? Ông mà chết thì chúng mầy cũng chết!
Khi kẻng báo động vừa khua vang ngoài đầu xóm thì hai người khách lạ đã thập thò trước sân.
– Chúng tôi muốn gặp ông Đặng Đình Hưng…
– À, ra thế là các ông; các ông muốn gặp ông Đặng? Các ông là ai? Gặp có việc gì?
Ông công an xã đưa mắt nhìn ông bí thư thở phào rồi xoi mói nhìn khách.
– Chúng tôi ở trên Bộ Văn Hoá về gặp ông ấy có chút việc riêng.
– Việc riêng không thể nói ra đây được à?
– Tôi là Huy Du, bí thư đảng đoàn Hội nhạc sĩ, yêu cầu ông mời hộ ông Hưng ra cho chúng tôi nói chuyện!
– Dạ… dạ, bác Hưng ngồi ở góc kia…, đó ông có nhìn thấy không? Thôi để tôi vào gọi hộ cho.
Vừa thoáng nghe đến cái tên Huy Du. ông Hưng đã xây xẩm mặt mày. Bao nhiêu rượu uống từ đầu bữa tới giờ toát hết hơi lạnh sau gáy. Nhè miếng giò đang nhai dở trong miệng vào bát, ông ngồi thừ ra lo nghĩ. Ông công an xã sốt ruột bèn xốc nách ông đứng dậy.Chân nam đá chân xiêu, quên cả xỏ guốc, ông lảo đảo vịn vai đám khách đang ngồi bệt dưới đất lần ra ngoài. Huy Du cái tên gợi lại cho ông những hình ảnh đấu tố của Bộ Văn hoá 20 năm về trước. Huy Du, bạn ông; Huy Du, người ngưỡng mộ ông; Huy Du đầu thú; Huy Du thủ trưởng; Huy Du, người phát động đấu tố Nhân Văn Giai Phẩm; Huy Du, cơn ác mộng của nửa đời ông… và bây giờ Huy Du lại về đây…
Ông còn lúng túng chưa biết xưng hô làm sao thì hắn ta đã ào tới ôm lấy vai, nụ cười gắn sẵn trên môi.
– Sao có khoẻ không Hưng? Bệnh tật vậy mà vẫn còn sức uống rượu à?
Ông cảm thấy nhột nhạt và lo sợ về cử chỉ thân mật bất ngờ nầy. Đã bao lần người ta êm ái, ân cần, nhân danh sự giúp đỡ khuyên vợ ông bỏ ông… và đẩy ông vào tù.
– Nghe tin cậu bị ung thư anh em rất lo. Hôm qua anh Trần Độ điện thoại hỏi thăm và yêu cầu mình về đón cậu đi nhà thương. Anh ấy nhường cả chiếc xe Volga thường ngày đi làm để cho cậu đấy.
Chúng nó vẫn để ý theo dõi mình? Vẫn chưa buông tha… sao chúng nó biết mình ung thư?
– Đời sống dễ chịu không? Chắc cũng khó khăn nhiều phải không? Nhưng giờ thì khá rồi! Cậu biết không, tay đại sứ của mình từ Ba Lan vừa điện về nhà xin ý kiến nên chuyển 30.000 đô-la tiền thưởng vào Ban tiếp nhận viện trợ trung ương hay chuyển vào ngân quỹ của sứ quán. Tụi mình chạy vội lên ông Phạm Văn Đồng xin giúp đỡ… Và thế là Thủ tướng ký lệnh trả lại cho thằng bé số tiền đó.
– Tiền gì? Thằng bé nào…?
– Thì thằng Sơn nhà cậu ấy. Cậu chưa biết chuyện gì xảy ra à? Thằng Sơn giật giải nhất thi Chopin ở Vác-sa-va ba ngày nay, báo chí đài phát thanh phát ầm lên mà cậu không hay sao?
– Tôi có cái đài cái đóm nào đâu mà biết… Sao? Nó đoạt giải nhất Chopin à?
– Ồ… ở đây sao người ta lại lười đọc báo, nghe đài quá! Các địa phương chả bao giờ nắm vững tình hình được…
Ông đã bắt đầu yên tâm với chiều hướng của câu chuyện, nhưng lòng vẫn còn bán tín bán nghi.
– Được ba ngày rồi à? Thế lúc nầy cháu nó ở đâu?
– Hiện cháu đã về lại Nga rồi. Nửa tháng nữa sẽ nghỉ phép về thăm nhà.
– Về Hà Nội à?
– Ừ, về Hà Nội. Sao? Cậu thấy trong người thế nào? Phải thu xếp lên ngay Hà Nội ngay bây giờ, tớ đã liên hệ với bệnh viện K, họ hứa sẽ thu xếp ngay cho cậu một chỗ nằm.
– Chả hy vọng gì đâu, xin cứ để tôi được yên ở đây. Cái bệnh nầy giỏi lắm cũng chỉ năm sáu tháng nữa là cùng, mà đừng có đụng dao kéo gì tới thì mới được…
– Cậu bệnh nầy lâu chưa?
– Nửa năm nay rồi…
– Bậy thật, thế mà chúng tớ có biết gì đâu, mãi đến hôm kia Thủ tướng điện hỏi thăm xem thằng Sơn là ai, cha mẹ nó làm gì v.v… tụi mình mới hay.
Họ sánh vai nhau đi trên đường làng. Huy Du ôm riết lấy vai ông bạn cũ, thỉnh thoảng lại ghé tai nói nhỏ điều gì rồi cười lên rinh rích. Những lúc đó, ông Hưng dừng lại, chờ cơn cười của Huy Du qua đi, hai bàn chân đi đất gãi gãi vào nhau cho đỡ ngứa rồi đi tiếp.
– Đi đây, rẽ đây… đường làng chật quá, tớ phải cho lái xe đỗ tuốt ngoài đầu đình… cậu đi đâu vậy? Tớ nhận được chỉ thị của anh Trần Độ là phải đưa cậu lên Hà Nội ngay lập tức!
– Cho tôi về nhà cái đã… còn nửa cút rượu uống dở giắt trong vách nhà… mà tôi bỏ quên đôi guốc ở đâu rồi?
– Lấy rượu thôi nhé… đồ đạc không cần, lên Hà Nội lấy quần áo của tớ mặc cho nó tươm tất một chút…
***
Gió Thu lờ lững vờn quanh dẫy nhà hai tầng quét vôi mầu vàng. Hàng sấu già mọc giăng hàng trước cửa đài phát thanh sướng run lên vì được vuốt ve.
Mở toang cửa sổ của văn phòng điều trị, ông Hưng vươn cổ uống lấy từng cơn gió. Bữa cơm chiều ba món nấu đơn giản nhưng đầy chất lượng của bệnh viện dành cho những con người tuyệt đường sinh lộ đang óc ách trăn trở trong bụng ông. Ăn uống kham khổ lâu ngày đã quen bỗng dưng từng khối thịt cá như đạn trái phá nã thẳng vào dạ dầy đâm ra hỏng bét hết cả. May mà ông nghe lời bác sĩ không ăn thêm món thịt ngỗng quay không biết của ai mua ở phố Hàng Buồm gửi vào. Quà cáp thật nhiều, của người quen có, của những cái tên lạ hoắc cũng có.
Sau cái trò Phạm Tuân lên vũ trụ, giờ lại tới tin con trai ông trở thành đệ nhất dương cầm thế giới đang gây dư luận sôi nổi trong cả nước. Quán rượu, quán cà phê, nước trà, đang khi chen chúc nhau trên xe buýt, người ta kháo nhau về cái tin bất ngờ đó. Nhiều gã thanh niên sau khi thêm thắt một vài chi tiết chung quanh cuộc thi rồi xuống giọng trầm buồn kể về cuộc đời gian truân đầy éo le của bố nó
– Tôi vẫn thường uống rượu với ông Đặng Đình Hưng mà! – Một chi tiết đáng giá bảo đảm cho sự quen biết đối với bậc danh nhân. Ngay cả đến ông hàng xóm thật, hồi mà thiên tài của thằng Sơn còn mong manh trong vỏ trứng, đã một ngày hai bận sang đấm cửa nhà nó yêu cầu câm ngay cái âm thanh không thích hợp với rau muống, chuyện đấu đá ở cơ quan, để cho ông được yên tĩnh, cũng ngậm ngùi oán trách sự ngược đãi của chế độ đối với nhân tài.
Thôi cũng chả sao; bất mãn đang là cái mốt của người Hà Nội mà. Giới văn nghệ sĩ thì sung sướng ra mặt. Gặp nhau ngoài đường anh nào anh nấy mặt mũi tưng tửng làm như mình là người đoạt giải vậy. Xưa nay vốn bị coi khinh bạc, bị coi như một thứ xướng ca, mõ làng cho đảng giờ cũng đẻ ra được một cái gì, y như nàng thứ phi bỗng dưng sinh hạ cho chúa thượng một đấng con trai bèn lên mặt với đám thê thiếp. Cái đất nước quá nghèo nầy suốt đời ngửa cổ chờ đón tin trúng số độc đắc và những phen có dầu… hụt của tổng cục dầu khí, giờ đang nở mặt nở mày với thế giới.
Nhưng “Trung Ương” thì không được hài lòng lắm. Thật là một cú bất ngờ, xưa nay đã trót kìm kẹp đè nén khiến bao tài năng bị sinh non đẻ bậy, giờ lại phải ngậm đắng nuốt cay ẵm ngửa một cuộc đời đã thoát khỏi quỹ đạo của đảng bay ra ngoài giao du với thế giới. Việc nhọc lòng đầu tiên là ông Phạm Hùng buộc phải ký lệnh hết hiệu lực cái án phát vãng lưu vong cho ông bố thằng Sơn. Thứ đến là Sở quản lý nhà đất phải lo cho ông cái buồng để ở. Rồi đây, khi quan trên trông xuống, người ta trông vào, gia đình nó cũng phải có một chỗ trú thân cho tươm tất. Giới lãnh đạo văn nghệ lại phải lựa lời để thay đổi cách xưng hô.
“Tên đồ tể Đặng Đình Hưng” (?) không hiểu ông nhạc sĩ Huy Du, bí thư đảng đoàn Hội Nhạc Sĩ lấy đâu ra lòng căm giận để nguyền rủa người bạn thân, kẻ đã can tội nhỏ nước mắt cho những oan hồn cải cách ruộng đất mà khi đó chính ông ta cũng là thành viên của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Và cũng chính ông Huy Du nầy, khi thằng Sơn đã học hết những cái gì có được của trường nhạc Việt Nam bèn lên giọng lập trường quan điểm đe bác bỏ đề nghị gửi nó đi Nga học. May mà có dịp ông Na-ta-xon, giáo sư dương cầm Nga, ghé Hà Nội, giữa rừng âm thanh bát nháo, ông đã lọc ra tiếng đàn thằng Sơn. Nhưng ba năm liền Hà Nội vẫn lì ra với lời yêu cầu gửi thẳng nó qua cho ông dạy. Đến độ ông nổi cáu, sát hạch lại trình độ tất cả học sinh được gửi sang, đuổi về một mớ và dọa sẽ đuổi tất cả nếu không cho thằng Sơn đi. Bị dồn vào bước đường cùng nên anh đội cẩm Huy Du đành duyệt cho qua lý lịch của nó.
“… Con bị ốm nặng bố ạ, có lẽ vì hành trình đi Vac-sa-va quá dài mà con đi bằng xe lửa. Sứ quán bác đơn xin tiền lộ phí của con để đi thi, họ cũng khước từ bảo hộ cho danh xưng của con trong cuộc thi. Nhưng con quyết định liều và giáo sư Na-ta-xon một lần nữa lại giúp con, ông ấy cho con tiền đi đường, tiền thuê dàn nhạc đệm và tiền trọ…
Trong cơn sốt 39.5 độ, con đã chảy nước mắt ròng: Các nước tham dự cuộc thi đều được chào cờ và cử quốc ca của mình, mà Việt Nam thì không có – Con tham dự với tư cách thí sinh tự do… Nhưng cũng nhờ sự cay đắng đó mà con gặp đươc Chopin – Những nỗi đau giao thoa với nhau đã bật lên tiếng đàn của hồn ông…”
Ông hiểu con ông như hiểu chính mình. Nó vẫn cô đơn và đầy dũng cảm như cha nó. Nhưng ngôi sao bản mệnh của nó vững hơn nên đi hết được con đường ông đã dắt nó vào và bỏ dở. Buông rơi lá thư tay nóng hổi của con trai gửi về, ông liếc mắt xuống tờ báo Nhân Dân:
“Công-cua Sô Phanh – Công-cua gốc mít.”
Hàng tít lớn chạy dài cắt ngang tờ báo – “…Đặng Thái Sơn, tiếng đàn vọng lên từ những căn hầm trú ẩn. Tiếng đàn bay cao hơn tiếng bom Mỹ nổ. Tiếng đàn vọng lên từ dưới những gốc mít của các trại sơ tán của trường nhạc Việt Nam. Đặng Thái Sơn, những nỗi đau của một dân tộc đấu tranh đòi độc lập…”.
Cái thằng Thép Mới nầy “rỉ” quá rồi. Thi sĩ Tố Hữu vừa dồn hết cảm hứng cho Phạm Tuân vào vũ trụ nên chưa lấy lại được hơi sức. Cũng may! Ông nhớ lại hình ảnh của những đứa trẻ con đá bóng trên đường phố trong đêm khuya, từng bầy công an bịt chặt các ngã đường – như đánh trận – để đuổi bắt chúng. Những đứa trẻ ở trần mồ hôi trơn láng, khó bắt thì ngáng chân! Rồi mai đây khi những đứa bé gẫy răng, đổ máu đầu để nứt đất chui lên thành Thế Anh, Cao Cường v.v… (hai cầu thủ nổi tiếng) thì con mẹ mìn đó lại ẵm vội vào lòng. “Nhờ sự quan tâm vun trồng của đảng!”…
Ông thấy thương con ông, ông thương những đứa trẻ. Nó chỉ có một con đường, cắm đầu mà đi, đằng sau không có lối về. Khi đụng đến bức tường cuối đường thì úp mặt vào, đợi tiếng lên đạn…
Nhưng lần nầy thì đạn nổ ngược, nó đã nhảy bật qua khỏi bức tường bay thoát ra thế giới bên ngoài. Ông nhẩm đếm những xác người đã ngã gục dưới bức tường đó. Trần Dần, Phan Khôi… những Đoàn Phú Tứ lẩn thẩn suốt đời đi dép lệch, những Lê Đạt lầm lũi chui trong đêm như con cóc, người quen gặp không dám chào vì sợ liên luỵ, những thằng họa sĩ sau khi buộc lòng học nghề thợ mộc trong tù nhìn bàn tay phế thải cứng như thợ đóng cối của mình mà trào nước mắt… Còn biết bao nhiêu cuộc đời bị rút phép thông-công đẩy vào bóng tối như mình?
Ông nhớ lại những trại nuôi bò mà người ta đã lùa ông và bạn bè ông lên đó để “lấy lại tình thương, lập trường giai cấp từ những con vật!…”. Để Văn Cao bây giờ suốt ngày đi ngoài đường thơ thẩn như con bò. Còn Hoàng Cầm nữa, nó yêu từ gốc rạ toả hơi ấm sớm mai, ngơ ngẩn hỏi “lá diêu bông” ở đâu… chứng nào vẫn tật nấy, còn ngứa ngáy với thơ thì lại rũ xương trong tù mà thôi.
Khuôn mặt vợ ông từ từ hiện lên. Nàng vẫn sống mà ông như nhớ về người đã chết. Hơn chục năm rồi không gặp lại kể từ lần cuối ra toà li dị. Tất cả đã đổ vỡ, đổ vỡ từ nàng Thái Thị Liên đẹp mơ mộng, có tiếng đàn lãng mạn như tình yêu đối với ông. Người ta không thể chịu được bà trưởng hệ Piano lại là vợ của “thằng Nhân Văn Giai Phẩm.” Nàng cũng không thể chịu được con người ngày hôm qua còn là đấng tao nhân hào hoa phong nhã ngước mắt nhìn trời là nhạc ý tuôn theo mây, nay thành kẻ phẫn chí nát rượu. Con cái nàng không thể ngóc đầu lên được nếu ngày nào còn là con “thằng Nhân Văn Giai Phẩm…”. Và ông đành gạt nước mắt chia tay vợ ở tòa án rúc về xó quê hẻo lành đợi tuổi già đến khuân đi. Nghĩ đến, ông vẫn còn tủi giận. Ông vẫn còn yêu, hằng đêm ông vẫn còn nhớ. Nhưng trời đày làm sao để những con người xa thì nhớ thương mà lại gần thì thấy ghét. Một cơn ho xé phổi kéo giật ông xuống giường. Người nữ y tá trực vội xô cửa chạy vào.
– Ông lại uống rượu phải không?
– Không, tôi có uống nữa đâu, có lẽ tại lạnh, làm ơn đóng hộ cái cửa sổ.
Ông cố giơ tay chỉ ra phía sau mình.
– Ông tệ lắm, cấm thế nào vẫn lén uống. Ông Huy Du đã chỉ cho chúng tôi mánh khoé giấu rượu của ông mà vẫn không sao ngăn được.
Có tiếng lao xao trò chuyện ngoài hành lang.
– Tôi chỉ vào năm phút thôi, tôi là cháu họ của ông ấy mà…
Anh đó cố vật nài.
– Đã bảo không được là không được mà!
Tiếng đàn ông xẵng giọng đáp lại.
– … Tôi đã nói với các người rất nhiều lần rồi, người bệnh cần được tĩnh dưỡng. Yêu cầu 4 giờ rưỡi chiều mai trở lại!
Ông nhận ra giọng nói của nhạc sĩ Huy Du.
– Cái thằng nầy thật lắm nghề, khi méo khi tròn, nó định làm bầu gánh hát cho cha con nhà nầy hay sao vậy? –. Cô y tá vừa khép cánh cửa lại là ông vùng dậy liền. Ngắm nghía bộ quần áo của Huy Du đưa, ông tắc lưỡi rồi trút bỏ bộ đồ bệnh nhân, mặc nó vào. Tụt người khỏi bệ cửa sổ, ông bò xuống đường. Khi chân vừa chấm đất thì chợt vang lên một hồi kẻng. Ông giật mình đứng sững người lại để định thần. À, hoá ra tiếng kẻng đổi gác của hỏa lò Hà Nội. Nháy mắt với chú công an đang bồng súng trợn mắt nhìn mình trong chấn song sắt, ông đi cứ như chạy đến quán rượu của Hoàng Cầm.
– Thằng Sơn nó về là mình có quyền xoá tên trong “sổ thiên tào” của ông bạn vàng rồi. Tiên sư nó, mỗi lần ghi nợ mình là nó xướng to lên cho vợ nghe thấy rồi lẳng lặng dúi thêm cho nửa lít mang về.
Thế Giang
( Nguồn: Trích từ CÂY ĐẮNG NỞ HOA trong tập truyện ngắn Thằng Người Có Đuôi; Nhà xuất bản Người Việt, 1987).
Văn Cao và Đặng Đình Hưng
Nguyễn Bính, nhà thơ của nhiều thời
Nguyễn Bính, nhà thơ của nhiều thời
08/08/2020
Tác giả: Bùi Mạnh Nhị
1.
Từ khi xuất hiện trong phong trào Thơ mới cho đến nay, Nguyễn Bính đã và chắc chắn vẫn sẽ luôn thuộc các nhà thơ có lượng độc giả đông đảo nhất. “Người Việt Nam còn yêu thơ Nguyễn Bính mãi, càng văn minh hiện đại lại càng trân trọng” (Vũ Quần Phương)… Điều gì làm nên kỳ diệu ấy?
Có nhiều cách trả lời
Rằng, thơ Nguyễn Bính có “một điều quý vô ngần: hồn xưa của đất nước” (Hoài Thanh).
Rằng, “So với các nhà thơ lãng mạn trước đây, Nguyễn Bính đứng riêng một cõi” (Lê Đình Kỵ) v.v…
Xin nói thêm: Thơ Nguyễn Bính không bao giờ cũ. Nguyễn Bính là nhà thơ của nhiều thời. Vì ông luôn là khác biệt. Khác biệt một cách gần gũi. Gần gũi một cách khác biệt. Tầng sâu nhất của thơ Nguyễn Bính không chỉ là hồn dân tộc, mà còn là “giọng nói của toàn nhân loại thức dậy” qua giọng nói của một con người, một cá nhân. Nói cách khác, thơ Nguyễn Bính “dường như nói bằng hàng nghìn giọng, mê đắm và thuyết phục, nó nâng cái mô tả từ chỗ ngắn ngủi một lần và tạm thời lên chỗ tồn tại muôn đời”.
2.
Nguyễn Bính luôn là như thế, trước hết, ngay từ cách nhà thơ đến với hiện đại.
Trong thời kỳ nảy sinh và phát triển của thơ mới (từ năm 1932 đến năm 1945), “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỉ”. Bấy giờ, vấn đề đặt ra cho quá trình tiếp biến văn hóa với phương Tây, chủ yếu là với Pháp, không còn là sự lựa chọn giữa canh tân và thủ cựu, mà là đổi mới như thế nào, theo chiều hướng nào. Trong lúc Âu hóa vừa là xu thế vừa là ưu thế của đổi mới theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, với những nhà thơ rất tiêu biểu như Xuân Diệu “mới nhất trong các nhà Thơ mới”, Hàn Mặc Tử “lạ nhất trong các nhà Thơ mới”, Chế Lan Viên “không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được” (Hoài Thanh), thì “người nhà quê Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường”, thơ Nguyễn Bính vẫn là “tiếng nói vui buồn của tâm hồn dân gian muôn thuở”. Thơ ông bổ sung một minh chứng rất sâu sắc và lý thú, thuyết phục về quy luật của mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết, văn hóa dân gian và văn hóa dân tộc. Trong mối quan hệ này, văn học dân gian, văn hóa dân gian luôn là nền tảng, cơ sở, là văn học “mẹ”, văn hóa “mẹ”. Trong thời kỳ của Thơ mới, chính văn học dân gian, văn hóa dân gian, đất quê, hồn quê, đã dẫn Nguyễn Bính đến với hiện đại một cách đầy thuyết phục… Cách Nguyễn Bính đến với hiện đại thêm một lần làm sáng tỏ luận đề triết học: “Truyền thống là người lính canh của tinh thần nhân loại… Không có tâm linh nằm ngoài truyền thống”.
Thơ Nguyễn Bính đặc rệt truyền thống, mà vẫn mới, vẫn riêng. Ông đã làm mới mê hồn thơ lục bát và thơ thất ngôn theo cách của ông. Nói về những nhà thơ tiêu biểu cho thơ lục bát, người ta sẽ, ngay lập tức, đi thẳng từ ca dao, Nguyễn Du đến Nguyễn Bính, như một mặc định. Đặc biệt, cùng với các nhà Thơ mới khác, Nguyễn Bính đã đưa cái tôi cá nhân, cũng là cái tôi của thời đại, cái tôi của nhân loại vào thơ, tự nhiên nhi nhiên, góp phần quan trọng đưa văn học Việt Nam “thực hiện một chuyển dịch quan trọng: vượt khỏi phạm vi khu vực để tiến vào thế giới”. Cái tôi ấy, vào những năm tháng đất nước dồn tất cả sức mạnh vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, tất nhiên sẽ không phù hợp. Nhưng khi cuộc sống trở lại trạng thái bình thường, nó lại tìm được những đồng vọng để hiểu thêm một thời và con người. “Thơ Nguyễn Bính thuộc trường hợp hiếm hoi…, bởi vì trong cuộc cọ xát cũ mới ấy, đã bộc lộ những sâu sắc trong tâm hồn không chỉ của một cá nhân, mà cả một dân tộc, không chỉ của một thời, mà, có lẽ, của nhiều thời…”. Cũng nhờ đó, Nguyễn Bính có các tập thơ hay (chẳng hạn, những tập thơ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945), những bài thơ hay (Lỡ bước sang ngang, Tương tư, Lòng mẹ, Chân quê, Cô hái mơ, Mưa xuân, Hoa cỏ may, Qua nhà,Thư cho thầy mẹ, Chờ nhau, v.v…) và hàng trăm câu thơ tuyệt bút như thể trời đất, quỷ thần cho…
3.
Một trong những nguyên nhân chính để Nguyễn Bính là nhà thơ của nhiều thời là thơ ông thể hiện rất đặc sắc rất nhiều cổ mẫu kết tinh từ những mô thức tâm lý. Từ điển văn học giải thích: “Cổ mẫu là khái niệm dùng để chỉ những mẫu của các biểu tượng, các cấu trúc tinh thần bẩm sinh, trong tưởng tượng của con người, chứa đựng trong vô thức tập thể của cộng đồng nhân loại”. Nói cách khác, cổ mẫu là “những kinh nghiệm được lặp đi lặp lại nhiều lần của loài người”, “Kho báu của nhân loại nằm trong tính đa dạng sáng tạo, nhưng nguồn gốc của tính sáng tạo lại nằm trong tính thống nhất sinh thành của nhân loại”. Người đọc văn học theo lý thuyết cổ mẫu thường dõi theo những biểu tượng, những motif lặp đi lặp lại nhiều lần, có ý nghĩa phổ quát trong các tác phẩm để thấy những ý nghĩa điển hình của nó trong văn hóa, văn chương nhân loại và dân tộc cũng như những ý nghĩa chuyển dịch, xung năng, tương tác của nó trong các tác phẩm, tác giả cụ thể.
Xin chỉ nói về một vài cổ mẫu.
Trước hết là cổ mẫu Hành trình, cụ thể thêm: cổ mẫu Đi và Lỡ bước.
Hành trình, theo cách nhìn của lý thuyết cổ mẫu, “là tìm kiếm, tìm chân lý, bất tử và phát hiện một trung tâm tinh thần”. Hành trình “trở thành dấu hiệu và biểu tượng của sự luôn luôn chối từ bản thân…, và cần kết luận rằng cuộc du hành duy nhất có giá trị là cuộc du hành của con người bên trong bản thân mình”. Nhân loại đã có bao nhiêu cuộc hành trình, đớn đau và vĩ đại: hành trình của Chúa, hành trình về đất Phật, hành trình về miền đất hứa, hành trình dời Ai Cập, hành trình của Don Quixote,vv… Nguyễn Bính đã đi đâu, về đâu? Trở lại với không khí xã hội thời Thơ mới, hành trình của Nguyễn Bính là hành trình của thi sỹ “giang hồ”, cô đơn, lỡ bước, khi dấu ấn cuối cùng “giấc mơ quan trạng”, “Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên” (Xóm Ngự Viên) – lý tưởng của nho sỹ bình dân một thời, đã vĩnh viễn khép lại: “Khoa cử bỏ rồi, thôi hết Trạng”, “Lỡ duyên búi tóc củ hanh/ Trường thi Nam Định biến thành trường bay” (Con nhà nho cũ). Anh đi đấy, anh về đâu/ Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm. (Không đề).
Câu hỏi không lời đáp. Nhịp thơ cũng theo cánh buồm, nhỏ dần, rồi mất hút. Đến nhịp thơ cuối, không còn thấy màu nâu của cánh buồm. Nhịp thơ điệp mà không trùng. Đi mà không biết đi đâu! Về không biết về đâu. Như thân phận trên dòng sông cuộc đời mênh mang, hoang vắng: “Giang hồ ai biết đi đâu mà tìm” (Giang hồ). Dễ hiểu vì sao thơ Nguyễn Bính hay nhắc nhiều đến con đò, bến đò, “chuyến đò thân thế”, và sân ga, con tàu: “Đò sang còn một chuyến này/ Khách sang còn một người đây hỡi đò!” (Người đi), “Đem thân đi với giang hồ/ Sân ga phẳng lặng, bến đò lênh đênh” (Quê tôi). Ấy là con đò quê, ga là ga xép. Cũng có khi là con sông trong tâm tưởng, chảy rất mạnh, rất mênh mang trong văn hóa phương Đông: sông Tương, sông Dịch. Thời gian chủ yếu là buổi chiều và trong đêm: “Càng chiều anh thấy con đường càng xa” (Định mệnh), “Tàu biết bây giờ chạy đến đâu/ Đêm sâu hoàn trả lại đêm sâu” (Chuyến tàu đêm). Con tàu, sân ga trong thơ Nguyễn Bính thật buồn…
Nguyễn Bính cũng là một bóng người giữa những bóng người đổ bóng xuống sân ga: “bóng lẻ”, “Hai bóng chung lưng thành một bóng”, “bóng liêu xiêu”, “bóng nhòa trong bóng tối”, “Một mình làm cả cuộc phân ly” (Những bóng người trên sân ga). Tường vàng, mái đỏ màu son/ Nhà ga lại chứa linh hồn nhà ga.
Cái “hiện đại” tường vàng, ngói đỏ bề ngoài của ga xép ai ngờ không dấu nổi linh hồn của cuộc đời, thân phận, chia lìa và nước mắt. Màu sắc ấy của tường, của ngói còn gợi cả những liên tưởng khác. Tường vàng, bề ngoài tưởng rực rỡ nhưng dường như đó cũng là màu của dáng hình, cuộc đời vàng vọt đang ngày càng phôi pha. Và màu đỏ như son của mái ngói, còn gợi ánh mắt đỏ hoe, trái tim đỏ máu trước những chia lìa buồn bã, tiễn đưa vô định, đã và dang diễn ra. Linh hồn nhà ga là linh hồn của những cuộc hành trình đi và đến, những cuộc chia ly không hẹn ngày gặp lại, hành trình và chia ly sâu thẳm ngay chính trong thân và phận mỗi con người. Nguyễn Bính chính là một hành trình cô đơn như vậy, một nhà ga cô đơn như vậy!
Chẳng ngẫu nhiên, “Lỡ bước sang ngang”, tên một bài thơ lại được đặt tên cho cả một tập thơ! Không chỉ người con gái “lỡ bước sang ngang”, mà chính Nguyễn Bính và cả thế hệ những người như ông “lỡ bước sang ngang” trong hành trình ấy, trên chuyến đò và sân sân ga ấy: Năm ấy sang sông lỡ chuyến đò/ Đò đầy sóng lớn nước sông to/ Mười hai bến nước xa lăng lắc/ Lầm tự ngày xưa, lỡ đến giờ.
Trong hành trình “dan díu nợ giang hồ”, “Tự mình đắp núi khơi sông/ Tự mình đày ải tấm lòng mình đi” (Đêm nay khơi tỏ tim đèn), “tâm hồn tôi”, cái tôi đang tự đi tìm mình của Nguyễn Bính đến với rất nhiều nơi. Địa danh thực là Lạng Sơn, Vinh, Huế, Sài Gòn, ga Kép, v.v… Địa danh thực mà ảo, ảo mà thực hoặc hoàn toàn ảo thì nhiều hơn rất nhiều: “Kinh thành”, “Xóm Ngự Viên”, “Mười hai bến nước”, “Mây Tần”, “Một nghìn cửa sổ”, “Lầu hoa”, “ Rừng Mơ”, “Rừng mai”, “Bến mơ”, “Vườn Tiên”, “Suối Thiên Thai”, v.v… Ông phân thân thành cặp đối lập: Tráng sĩ – Thi sĩ. Con người “Tráng sĩ” của ông, có lẽ, là “cái rớt”cuối cùng của kiểu nhà nho tài tử trong văn học Việt Nam trung đại. Con người ấy vẫn có cái chất hào hoa, kiêu bạc nhưng xuất hiện đã rất lu mờ và đầy cô đơn – cái cô đơn của tráng sĩ không còn hợp thời, không bao giờ có “lúc khải hoàn thân gió bụi” (Lá thư về Bắc). Sông lạnh thấy đâu người gọi gió,/ Trăng tà tìm mãi kẻ mài gươm. (Xuân vẫn tha hương). Đem theo cát bụi đường xa lại/ Tráng sĩ dừng chân khẽ thở dài. (Quán lạnh).
Con người “Thi sĩ” mới thực sự thể hiện “cái tôi”của Nguyễn Bính. Cũng như nhiều nhà thơ khác thời Thơ mới, Nguyễn Bính đến với Tình yêu, nhưng khác với nhiều nhà thơ khác, tiếng vọng của “vô thức tập thể”, của cổ mẫu luôn tự nhiên dệt thành những vần thơ. Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ đã cụ thể hóa được cuộc sống vô thức của toàn nhân loại trong nhiều bài thơ tình yêu. Ông lý tưởng hóa tình yêu trong những bồn chồn, nhớ thương, day dứt. Và, như Platon, nhà hiền triết vĩ đại của nhân loại, đã nói: “khi tình yêu được chuyển dịch từ một lý tưởng sang một con người bằng xương bằng thịt”, từ ý niệm vĩnh cửu đến con người cụ thể, thì thực tế này lại đưa tới sự “bất cân đối với những điều thiêng liêng”. Vì thế, thơ tình của Nguyễn Bình cũng là hành trình Đi – Lỡ bước.
Nguyễn Bính có những vần thơ tương tư nổi tiếng: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,/ Một người chín nhớ mười mong một người (Tương tư). Giếng thơi mưa ngập nước tràn/ Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều (Qua nhà).Cô hái mơ ơi! Cô gái ơi/ Chẳng trả lời nhau lấy một lời!/ Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng/ Rừng mơ hiu hắt, lá mơ rơi… (Cô hái mơ).
Ông vương quốc hóa, địa đàng hóa tình yêu: “Ví chăng có một nước Tình Ái/ Em làm hoàng hậu, anh làm vua” (Ái khanh hành), “Với người trong giấc mơ tiên/ Của chàng thi sĩ quê trên mây hồng” (Mười hai bến nước), “Hồ tiên đâu phải hồ trần/ Em không thả cá mà thuần thả thơ” (Xây hồ bán nguyệt). Nỗi nhớ, sự chờ mong tình yêu trong thơ ông được dệt bằng bao cảm xúc, bao biểu tượng, đi thẳng vào trái tim người: Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ/ Em thử quay xem được mấy vòng?/ Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ/ Em thử lào xem được mấy thưng? (Nhớ).
Nguyễn Bính đi vào chính mình, nhờ đó đã nói được và nói rất hay, rất sâu những biện chứng tâm hồn, những qui luật tình cảm, cái điều của muôn thuở, muôn người: “Mẹ cha thì nhớ thương mình/ Mình đi thương nhớ người tình xa xôi” (Thư cho thầy mẹ), “Trời xanh còn khóc nữa là/ Nhớ nhà ít, nhớ người ta thì nhiều” (Gặp nhau). Sống trong tâm lý tình yêu, cảm nhận về thời gian, không gian trong thơ ông rất đặc biệt, theo cách dân gian nhưng vẫn là duy nhất của riêng ông, độc bản: “Láng giềng đã đỏ đèn đâu/ Chờ em ăn dập miếng trầu, em sang” (Chờ nhau), “Chờ mong như suốt đêm qua/ Chàng ơi! Một tháng là ba mươi ngày”, “Cách một ngày ngựa với ba ngày đò” (Thư cho chị), “Nhà em cách bốn quả đồi/ Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng” (Xa cách), “Thương như thế, nhớ làm sao/ Kinh thành biết có mưa rào đêm nay” (Thương nhớ Kinh thành).
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính phần lớn là lỡ hẹn, ly biệt. Ông nhập thân, hóa thân thành cô gái trong “Mưa xuân”. Mưa ấy, từ những bông hoa bụi “phơi phới bay”, nhanh chóng chuyển thành “mưa nặng hạt”, những hạt mưa sầu tủi, tội nghiệp, bẽ bàng. Con đường đến với tình yêu tưởng gần, hóa ra là xa ngái: Mình em lầm lũi trên đường về/ Có ngắn gì đâu một dải đê/ Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt/ Lạnh lùng thêm tủi với đêm khuya.
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính cũng rất nhiều nước mắt biệt ly. Nỗi cô đơn của ông đủ lớn để vũ trụ hóa, vô tận hóa những nỗi đau và cô đơn của con người: “Nước mắt là cơm bữa/ Hợp tan như bèo trôi” (Đề tặng ảnh), “Đêm nay hai đứa chung tình ấy/ Khóc ướt trần gian để biệt nhau” (Bạc tình)… Nhưng, đau khổ, cô đơn nhất của ông, có lẽ vẫn là hành trình vô vọng đi tìm cái tôi của mình: “Tôi tìm đâu thấy mảnh trời Thần Tiên”, “Nhưng đau lòng biết bao nhiêu/ Người tôi yêu chỉ biết yêu như người” (Đào Nguyên), “Thương tôi mình hiểu cho tôi nhé/ Mà chỉ mình tôi mới hiểu tôi” (Mười hai bến nước). “Cái tôi là không thể chia sẻ được”. Và thực ra, chính ông cũng không hiểu bản thân mình, vì thế ông luôn luôn đi tìm mình. Rõ ràng, thơ Nguyễn Bính là “cuộc du hành của con người bên trong bản thân mình”. Hành trình ấy không bao giờ tới đích…
Nguyễn Bính là nhân vật điển hình của cặp phạm trù gia đình – không gia đình thời Thơ mới. Đây cũng là cổ mẫu rất tiêu biểu của văn hóa và văn học nhân loại. Trong thơ Nguyễn Bính, mẫu đề Không gia đình luôn song hành với mẫu đề Đi – Lỡ bước. Với Nguyễn Bính, mổ côi mẹ từ ba tháng tuổi, “Mẹ hiền mất sớm, giời đầy làm thơ”, sự bùng nổ của cảm xúc Không gia đình càng nhức buốt: Con đi mười mấy năm trời,/ Một thân bé bỏng, nửa đời gió sương./ …/ Thầy ơi! Đừng bán vườn chè/ Mẹ ơi! Đừng chặt cây lê con trồng (Thư cho Thầy Mẹ).
Những câu thơ ấy như được viết bằng cô đơn, bằng nước mắt!
Yêu gia đình, nhưng Nguyễn Bính vẫn là, nói đúng hơn, vẫn phải là “con chim lìa đàn”: Lạy đôi mắt mẹ đừng buồn,/ Ngày mai con lại lên đường ra đi (Lại đi). Hỡi ôi! Những kẻ lên đường/ Đang tâm để cả cô đơn lại nhà (Chia tay).
Nguyễn Bính có gần mười bài thơ gửi chị Trúc, nhân vật có bóng dáng trong đời thật nhưng cũng là nhân vật văn học (Lỡ bước sang ngang, Một chiều say, Xây hồ bán nguyệt, Xây lại cuộc đời, Xuân tha hương, Xuân vẫn tha hương, Xuân lại tha hương, Khăn hồng, Chị đã ghen). Phần vì chị Trúc đẹp, duyên dáng, gần gũi, phần nữa, và đây mới là căn nguyên chính, nhà thơ thấy từ đây hình bóng của người mẹ, của những người thân yêu, của điểm tựa tin cậy để gửi gắm, sẻ chia, tỏ bày những tâm sự, những nỗi niềm khó biết nói cùng ai: “Em đi non nước xa khơi quá/ Mỗi độ xuân về bao nhớ thương!” (Xuân vẫn tha hương), “Chiều ba mươi, hết năm rồi/ Nhà tôi, riêng một mình tôi vắng nhà” (Xuân về nhớ cố hương). Chính từ tầng sâu tâm thức của tiếng vọng Không gia đình, ông đã có những vần thơ tuyệt bút của thánh thần: Từ nay khi nhớ quê nhà/ Thấy mây Tần biết đó là thôn Vân (Anh về quê cũ).
Các nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bính phần lớn cũng trong trạng thái tinh thần Không gia đình, cô đơn. Đó là cô sư nữ trẻ đẹp “Có cô sư nữ người mong mỏng/ Buông thõng dây gầu xuống giếng thơi” (Chiều quê); cụ sư già ép thân xác đến với cô tịch, vô thường: “Sư già quét lá sau chùa/ Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông” (Chùa vắng). Đó là tráng sĩ: “Đêm nay tráng sĩ không nơi trọ/ Nằm tạm qua đêm quán dọc đường” (Quán lạnh). Đặc biệt, điển hình cho số phận, tâm trạng Không gia đình chính là người phụ nữ trong Lỡ bước sang ngang: “Mười năm gối hận bên giường/ Mười năm nước mắt bữa thường thay canh”. Tiếng pháo, dây pháo đỏ trong ngày cưới của các cô gái luôn gắn với tiếng thở dài của cả người trong cuộc và người ngoài cuộc. Cả đến người mẹ cũng sống trong bồn chồn, khắc khoải lo âu với trạng thái Không gia đình của người con gái khi đứa con bước chân về nhà chồng. Người mẹ gượng cứng cỏi, chủ động bao nhiêu trước mặt con, thì lại yếu mềm bấy nhiêu ngay khi bàn chân con bước khỏi nhà mình. Những câu thơ dưới đây cũng chính là “Huyền thoại mẹ”: Đưa con ra đến cửa buồng thôi,/ Mẹ phải xa con khổ mấy mươi./ Con ạ! Đêm nay mình mẹ khóc,/ Đêm đêm, mình mẹ lại đưa thoi (Lòng mẹ).
Chỉ dẫn một vài cổ mẫu trong thơ Nguyễn Bính, đủ thấy thơ ông có những tầng sâu, ma lực thế nào! Thơ Nguyễn Bính luôn là độc đáo, của riêng ông nhưng cũng là tâm trạng phổ quát, tiếng lòng của nhiều cá nhân không hề quen biết. Thơ Nguyễn Bính là thơ của nhiều người, nhiều nhà, nhiều thời. Những cổ mẫu thức dậy, đan dệt độc đáo trong thơ ông đã góp phần làm cho thơ Nguyễn Bính không chỉ ở tầm dân tộc mà còn thuộc tầm nhân loại.
4.
Khi chấm giải cho tập thơ Tâm hồn tôi của Nguyễn Bính, nhà văn Thạch Lam thay mặt Hội đồng giám khảo “Giải thưởng văn chương Tự lực văn đoàn, năm 1937”, đã nhận xét: “Ông Nguyễn Bính sẽ trở nên một văn sĩ có tương lai”. Còn nhà phê bình Phạm Mạnh Phan, người đương thời Thơ mới, đánh giá: “Nguyễn Bính đích thực là thi sĩ, có những câu thơ tuyệt diệu”. Một số nhà thơ, nhà phê bình sau này nhận thấy thơ Nguyễn Bính có những dấu hiệu, đặc điểm của thiên tài. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi đặt câu hỏi và tự ông đã trả lời: “Cho đến tận hôm nay, có nhà thơ lục bát nào mà nhân dân thuộc nhiều như Nguyễn Bính chưa?!”
Bấy nhiêu cảm nhận, đánh giá, càng cho thấy Nguyễn Bính đã và sẽ là nhà thơ của nhiều thời.
Từ xưa, khi còn nhỏ chúng ta thường nghe câu nói, nước Việt Nam ta “Từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau”. Lúc đó chỉ nghe tên thôi chứ chưa bao giờ biết hình ảnh cửa Ải Nam Quan nó ra sao và ở đâu? Ải Nam Quan chia đôi biên giới hai nước Việt – Tàu. Đường từ Lạng Sơn đi qua cửa Ải Nam Quan, theo bản đồ Pháp vẽ từ những năm 1885 khi quân Pháp đánh nhau với quân Cờ Đen. Từ Đồng Đăng đi về phiá biên giới Tàu, đến Ải Quan Nam là 4km như bảng chỉ đường tại Đồng Đăng. Sau 1885, Ải Nam Quan thay đổi theo những diễn biến của lịch sử.
Năm 1885, Thiếu tướng Pháp De Négrier đem quân đánh với quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc trong khu vực Lạng Sơn, ông đã cho phá tan cổng thành Ải Nam Quan. Như vậy cửa Ải Nam Quan này trước khi bị phá hủy, là do Tàu xây. Sau đó Ải được Pháp dựng lại, hình chụp năm 1896 cho thấy tại vùng đất biên giới, có hai cửa; gồm cửa Ải Nam Quan của Việt Nam và Trấn Nam Quan của Tàu. (1)
Theo hình, khu vực tại biên giới có hai Ải. Một của Việt Nam, cửa Ải Nam Quan (cửa Thành của người An Nam?) và sau Ải Nam Quan Việt Nam là Trấn Nam Quan của Tàu (Thành để trấn áp người An Nam?). Tàu kêu Trấn Nam Quan chắc là có ý miệt thị người An Nam.? Xem chúng ta là man di mọi rợ, cần phải trấn áp. Cửa Ải Nam Quan mới của Việt Nam do Pháp dựng lên; có mặt hình người vẽ trên cổng thành, Ải ngắn và đơn sơ, kéo dài qua hai bên sườn núi. Sau lưng cửa Ải Nam Quan là đường dẫn đến Trấn Nam Quan của Tàu, to lớn và xây dài qua bên nhiều dãy núi. Hiện nay cái gọi là “Hữu Nghị Quan” của Tàu, so với địa điểm vùng đất Ải Nam Quan của Việt Nam và Trấn Nam Quan của Tàu trước kia; thì không giống nhau.
Không biết chắc cửa Ải Nam Quan xây lúc nào nhưng từ thế kỷ 14, khi Nguyễn Trãi chia tay cha Nguyễn Phi Khanh, về phò Lê đuổi Minh thì đó là năm 1414. Sử ghi lại lúc Tàu bắt Nguyễn Phi Khanh và nhiều tù bình Việt giải về Tàu, có đi ngang qua cửa Ải Nam Quan. Nguyễn Trãi đã tiễn đưa cha mình, một đi không trở lại ngay thời điểm lịch sử đó. Khi Liễu Thăng đem quân qua Ải Nam Quan, quân nhà Lê đã dụ cho tướng Tàu đi sâu vào nước Nam. Tại Ải Chi Lăng, Lạng Sơn, Tướng Liễu Thăng đã bị quân Lê Lợi chém bay đầu. Đó là năm 1427, tức 13 năm sau khi Nguyễn Trãi nghe lời dặn của Cha mình tại Ải Nam Quan, về phò Lê Lợi mà phục hận, nợ nước thù nhà. Vài năm sau đó, nhà Minh lại đem quân qua uy hiếp nước Việt. Mạc Đăng Dung đã trói mình, đi chân đất qua cửa Ải Nam Quan để xin hàng. Đem dâng nước Việt thành một Châu, một Quận hay một Trấn cho nhà Minh. Năm đó sử Việt ghi là 1541.
Cửa Ải Nam Quan đã có từ trước thế kỷ 14, cho đến thế kỷ 15, thời nhà Mạc và kéo dài đến thế kỷ 18. Suốt chiều dài lịch sử này không có nhiều sự kiện để ghi lại và thay đổi. Chỉ đến năm 1885 lúc quân Pháp đánh với quân Cờ Đen, cửa Ải Nam Quan mới bị phá hủy lần thứ nhất, và cho xây dựng lại sau đó. Hình chụp từ năm 1896 với kiến trúc đơn sơ, có hình vẽ trên cổng thành, từ những tấm bưu thiếp còn ghi lại.
Năm 1979, khi chiến tranh Trung-Việt xảy ra, Trung Cộng đã tàn phá nát Tỉnh Lạng Sơn; cửa Ải Nam Quan cũng chịu chung số phận. Từ đó, di tích lịch sử cửa Ải Nam Quan không còn nữa; và những vùng đất từng bị quân csTQ chiếm trong cuộc chiến này, coi như mất vào tay Tàu. Vì vậy đường biên giới mới đã bị Tàu lấn dài xuống phương Nam.
Trong cuộc chiến biên giới 1979. Việt Nam cho là “Trung Quốc đã huy động 9 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn bộ binh độc lập (tổng cộng 32 sư đoàn), 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn và nhiều trung đoàn pháo binh, phòng không.” Tạp chí Quân sự của Mỹ viết “Trung Quốc đưa 200 nghìn quân, 400 xe tăng và 1.500 khẩu pháo trong cuộc chiến Trung-Việt. Riêng tại Lạng Sơn, quân Giải phóng Trung Quốc đã lên tới 70 nghìn quân. Sư đoàn Sao Vàng của Việt Nam bị Trung Quốc bao vây. Trong vòng vài ngày quân Trung Quốc đã gần như xóa sổ Sư đoàn Sao Vàng và tàn phá Tỉnh Lạng Sơn thành bình địa.” (2)
Bản vẽ đường biên giới sau Hiệp Định Biên Giới của csVN, cho thấy khu vực thuộc Ải Nam Quan đã nằm sâu trong ranh phận của Tàu. Trong tài liệu do chính Bộ Ngoại Giao csVN công bố, tố cáo phía csTQ “đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam Quan 100 m trên đường quốc lộ để xóa vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột ki-lô-mét 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100m, coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu vực này.” (3)
Trên thực tế, quân Trung Quốc chiếm đóng khoảng 60 km² lãnh thổ và một số nơi như khu vực quanh vùng đất Ải Nam Quan gần Lạng Sơn. Trung Quốc chiếm đóng các địa điểm không có giá trị quân sự nhưng có giá trị biểu tượng. Tại các nơi khác, Trung Quốc chiếm giữ các vị trí chiến lược quân sự làm bàn đạp, để từ đó có thể tiến đánh Việt Nam sau này. (4)
Cái gọi là Hữu Nghị Quan hiện nay cho thấy nó là kết quả cướp đất của Tàu sau cuộc chiến Trung-Việt 1979, và cũng là tội của csVN trước lịch sử; khi đã không bảo vệ được sự toàn vẹn của lãnh thổ Việt Nam.
(1) On 23 February 1885 de Négrier advanced from Lang Son and defeated the demoralised Guangxi Army at Đồng Đăng, close to the Chinese border, driving the Chinese out of Tonkin altogether. De Négrier briefly crossed into Guangxi province and blew up the Gate of China, an elaborate ceremonial gate erected by the Chinese at Zhennan Pass to mark the border between China and Annam. (Picture source: Sur les frontieres du Tonkin)
(2) Peter Tsouras – Military History Magazine
(3) Tài liệu do Bộ ngoại giao csVN công bố ngày 15.3.1979
(4) Edward C. O’Dowd – Chinese Military Strategy in the Third Indochina War and Nayan Chanda – Brother Enemy
(5) Hình Giặc Cờ Đen và vũ khí bị Pháp tịch thu
HOẢ HOẠN CALI – Thơ & Hoạ
HOẢ HOẠN CALI – Thơ & Hoạ
Cali hỏa hoạn đến tung hoành Thời tiết bao ngày nắng nóng hanh Lửa bốc phừng phừng mùi khét lẹt Mây vần cuộn cuộn gió hôi tanh Chim kêu thảm thiết bay cuồng loạn Người rú bi thương chạy quýnh quanh Khói tỏa mịt mù trùm cảnh vật Khẩn cầu Thượng Đế cứu nàn nhanh.. . Phương Hoa Aug 21st 2020
Thơ Họa:
ÔI HỎA TAI
Cali Bà Hỏa lộng hoành hành Nổi lửa nhân mùa tiết nắng hanh Khói tỏa gió lùa bay tứ xứ Thú tìm lối thoát chạy loanh quanh Hãi rừng bão lửa thiêu mù mịt Lánh nạn cửa nhà bỏ vắng tanh Ngửa mặt khẩn Trời thương trút nước … Tràn ùa cứu nạn được qua nhanh…
CAO BỒI GIÀ 21-08-2020
LỬA ” RAP ” KHẨN CẦU
Lửa đỏ tung ra những bức hoành Ca Li rùng rợn dưới trời hanh Ba trăm ngọn đuốc luồn hơi nóng Một cõi thiên thu toả khí tanh Cứ mỗi mùa khô nghe nứt nẻ Lại thêm nước loạn ngó cuồng quanh Tiếng kêu cầu khẩn bàn tay Chúa Tưởng khúc van xin nhạc ” rap ” nhanh… Hawthorne 21 – 8 – 2020
CAO MỴ NHÂN
HỎA HOẠN BẮC CALI
Hỏa hoạn Cali phá lộng hoành Dân tình chịu nóng khí trời hanh Nằm nhà sợ hãi nghe mùi khét Đóng cửa lo buồn ngửi khói tanh Đỏ rực trời giăng người di tản Đen ngùm khói phủ vật rời quanh Vườn nho cháy rụi rừng thiêu đốt Cúi lạy ông trời cứu thoát nhanh
Minh Thuý Thành Nội Tháng 8/21/2020
HỎA HOẠN CALI
Cali thần hỏa đến hành hoành Giữa lúc trời khô ngập nắng hanh Cây lá lửa tràn gieo tiếng thảm Thú rừng thịt cháy bốc mùi tanh Người lo lắng vội tìm nơi ổn Lính cứu cấp liền áp sát quanh Trong hiểm họa từ dân đến nước Đồng lòng ứng phó thật là nhanh…
Lý Đức Quỳnh 22/8/2020
BỘ CHỮ VN 4.0 CỦA CÁC Ô.
KIỀU TRƯỜNG LÂM & TRẦN TƯ BÌNH
Ở trong nước, sau khi Ô. Bùi Hiền đưa ra phương-thức cải-tiến chữ viết tiếng Việt vào năm 2017 (ref), thì vào đầu năm nay, 2020, có hai tác-giả Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình cũng đưa ra đề-nghị sử-dụng một số mẫu-tự thay cho các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, để viết chữ Việt không dấu cho gọn và nhanh hơn cách-thức được viết hiện nay.
Hai tác-giả này không nhận là mình cải-tiến chữ viết Tiếng Việt, mà chỉ kết-hợp sáng-kiến “Chữ Việt Nhanh” của Ô. Kiều Trường Lâm (ở Việt-Nam) với sáng-kiến “Ký Hiệu Dấu” của Ô. Trần Tư Bình (ở Úc) để đưa ra những cải tiến ở dạng viết tắt không dấu.
Ngày 25-3-2020, hai ông đã nhận được giấy chứng-nhận bản-quyền do Cục Bản Quyền thuộc Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch cấp; và tác-phẩm của hai ông được gọi là “Chữ VN song song 4.0”
Song song là tùy-ý dùng bên cạnh chữ viết hiện có, chứ không thay-thế cách viết hiện nay.
4.0 là “trong thời-đại công-nghệ 4.0”.
Theo “Chữ VN song song 4.0”, người dùng sử-dụng tất cả 26 mẫu-tự La-Tin. Riêng về dấu thanh và dấu phụ cho chữ Quốc-Ngữ thì dùng 18 mẫu-tự [trong số 26 mẫu-tự ấy] để thay thế các dấu.
*
Nói chung, tôi không tán-đồng phương-cách đổi mới chữ viết của 2 Ô. Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình trong chương-trình “Chữ VN song song 4.0”
Sau đây là vài thí-dụ (lý-do):
Chữ I thay cho Y:
Các Ô. Lâm và Bình chỉ viết ngắn gọn là “chữ I thay cho Y” nên người-đọc có thể hiểu lầm là “I” thay cho “Y” ở bất-cứ vị-trí và chức-năng nào trong chữ Việt.
Về điểm này, tác-giả Lê Xuân Nhuận đã đặc-biệt nói rõ là mẫu-tự “i/I” chỉ thay mẫu-tự “y/Y” ở vị-trí đứng cuối 5 (năm) phụ-âm h/H, k/K, l/L, m/M, và t/T mà thôi (thí-dụ: “hi-vọng” thay cho “hy-vọng”, “kỉ-luật” thay cho “kỷ-luật”, “lí-do” thay cho “lý-do”, “mĩ-thuật” thay cho “mỹ-thuật”, và “tỉ-lệ” thay cho “tỷ-lệ”. (Ref)
Y thay cho UY:
Theo “Chữ VN song song 4.0”, nếu ta muốn viết “Tuy an-ninh quốc-gia là ưu-tiên…” thì ta phải viết “Ty an-ninh quốc-gia là ưu-tiên…”.
Cũng thế: Uyên-bác trở thành yên-bác uyên-ương trở thành yên-ương.
Các chữ “Tuy” và “Ty” có nghĩa khác nhau. Đổi mới như thế tức là xóa-bỏ chữ “Tuy” trong ngôn-ngữ Việt-Nam (làm nghèo tiếng Việt).
Đồng-thời, các chữ “yên bác”, “yên ương” có thể bị đọc là “iên bác/giên bác”, “iên ương/giên ương”.
C thay K:
Khi ta muốn viết “kẻng”, “kiêng”, “kênh”, “kinh”, ta sẽ viết là “cẻng”, “ciêng”, “cênh”, “cinh”.
Hơn nữa, theo luật “G thay NG” và “H thay NH” ở phụ-âm cuối chữ thì ta phải viết “kẻng” thành “cẻg”, “kiêng” thành “ciêg”, “kênh” thành “cêh”, “kinh” thành “cih”.
Nhưng lại có luật “W thay NG, NGH” [không nói là phụ-âm đầu chữ hay phụ-âm cuối chữ] nên ta lại cũng phải viết “kẻng” thành “cẻw”, “kiêng” thành “ciêw”.
Tức là “kẻng” được viết thành 3 cách: “cẻng”, “cẻg”, “cẻw”!
“kiêng” là “ciêng” hoặc “ciêg” hoặc “ciêw”!
v.v…
Viết thành 3 cách (1 chữ đổi mới thành ra 3 chữ khác nhau) thì làm sao mà “giản dị”, “nhanh chóng” và “thống nhất”?
K thay KH:
Khi ta muốn viết “khen ngợi”, “khi nào”, thì ta viết là “ken ngợi”, “ki nào”!
Vậy khi ý ta muốn nói “ken két”, “kỉ luật” mà ta viết đúng là “ken két”, “kỉ luật” thì, theo “Chữ VN song song 4.0”, ta phải đọc là “khen khét”, “khỉ luật”!
Các dấu:
Theo “Chữ VN song song 4.0” thì:
Đồng thời, có 18 ký hiệu dấu dùng để thay thế các dấu thanh và dấu phụ cho chữ quốc ngữ.
chữ O thay thế dấu trăng ᨆ hoặc dấu móc ˀ cho chữ có thanh ngang như ă, ơ, ư;
chữ Y thay thế dấu nón ^ cho chữ có thanh ngang như â, ê, ô.
chữ P là ký hiệu chữ bỏ dấu thanh & dấu phụ, chỉ đặt P sau chữ không có dấu thanh và dấu phụ nào trong chữ có vần để không bị hiểu lầm qua chữ khác;
Đã có “J=Dấu sắc, L=Dấu huyền, Z=Dấu hỏi, S=Dấu ngã, R=Dấu nặng” mà lại còn chia ra làm 3 Nhóm, thì làm sao mà nhớ cho hết cách-thức bỏ dấu.
Đây là bài thơ “Mưa Xuân” của Nguyễn Bính:
Theo luật “Chữ VN song song 4.0”, thì “L” là dấu huyền. “Em là” viết thành “Em lal” là đúng. Nhưng “bán” (Mẹ già chưa bán) mà viết là “banl” thì nó là “bàn” chứ không phải “bán”.
Đưa ra ví-dụ (đối-nội: để tỏ là mình viết đúng; đối-ngoại: để giúp người khác viết theo cho đúng) mà lại viết sai, thì làm sao mà thuyết-phục được ai?
*
Luôn tiện cũng xin ghi thêm là Ô. Kiều Trường Lâm đã lại đưa ra một sáng-kiến mới, gọi là “Chữ viết bảo mật thời 4.0”:
Ô. Lâm cho biết là loại chữ này do ông một mình tạo ra (không có Ô. Trần Tư Bình), sau cả chục năm nghiên-cứu và hoàn-thiên, và đang tiến-hành thủ-tục xin cấp bản-quyền — nhưng nghĩa của nó [“bảo mật”] là gì thì ông chưa vội tiết-lộ.
Bề mặt đã “lộ” là nó có phần dựa vào chữ viết của Đại-Hàn.
Trong đề-nghị cải-mệnh chữ viết của mình, Lê Xuân Nhuận không hề (không bao giờ) chủ-trương dùng “I” thay “Y” ở bất-cứ vị-trí và chức-năng nào trong chữ Việt, mà chỉ thay-thế trong 5 (năm) trường-hợp mà thôi – là khi đứng sau các phụ-âm H, K, L, M, T mà thôi (thí-dụ: hi-vọng thay cho hy-vọng, kỉ-luật thay cho kỷ-luật, lí-do thay cho lý-do, mĩ-thuật thay cho mỹ-thuật, và tỉ-lệ thay cho tỷ-lệ).
Không có vấn-đề “thâm-thúy” trở thành “thâm-thúi”!
Trước năm 1975, các hình bìa tờ nhạc được trang trí bằng các hình vẽ hoặc hình người mẫu, ca sĩ, diễn viên nổi tiếng. Đối với các bìa nhạc là hình vẽ thì có hai người họa sĩ nổi tiếng nhất chuyên vẽ bìa nhạc là Kha Thùy Châu và Duy Liêm. Khán giả sẽ không bao giờ quên được những hình bìa ấn tượng của các bài hát Thương Về Miền Trung, Chuyến Đò Không Em, Đêm Tâm Sự… qua nét vẽ của họa sĩ Duy Liêm.Bài viết dưới đây của người con rễ của Duy Liêm viết về sự nghiệp của ông.***Thời niên thiếu, thú tiêu khiển cùa tôi là vẽ lại những hình bìa các bàn nhạc. Tôi say sưa sưu tầm những bản nhạc, không vì nhạc mà vì những bức họa bìa nhạc của Họa sĩ Duy Liêm.Rồi lên đường du học, duyên tiền định, người tôi yêu lại là trưởng nữ họa sĩ Duy Liêm, đó là Duy Nga, người đã cho tôi ba đứa con gái thông minh xinh đẹp. Nhờ Duy Nga, tôi có được một bộ sưu tập tranh lụa, tranh sơn mài, tranh sơn dầu, sơn khắc, kim nhũ, bìa nhạc, bìa sách khá phong phú cùa Họa sĩ Duy Liêm.Họa sĩ Duy Liêm, sinh năm 1914 tại Phan Thiết. Vào những năm cuối đời, ông sống ở Việt Nam, hai mắt bị mù, bị suyển kinh niên. Bình sinh ông ít thích ai viết về ông, mỗi lần có ký giả đến gặp là ông bỏ đi mất, ông vẫn đùa “hữu xạ tự nhiên hương, hà tất phải bôi bù xít”. Nhưng bây giờ thì ông không “thoát” được vì người viết là con rể trong nhà và có lẽ tôi là người có được nhiều nhất các tác phẩm của ông.
Họa sĩ Duy Liêm thời trai trẻ
Tôi muốn so sánh ông với Katsushika Hokusai, một họa sĩ trứ danh Nhật Bản đã ảnh hường đến đời sống mỹ thuật cùa người Nhật từ thế kỷ 19 đến nay. Với sự nghiệp sáng tác đồ sộ, họa sĩ Duy Liêm xứng đáng với sự so sánh ấy.Họa phẩm của ông đi vào đời sống người Việt hàng ngày. Ai cũng nhớ đến những màu sắc vui tươi, những đường cong, nét gẫy hình khối, từ tờ giấy bạc thời Việt Minh, đến áo dài bà Ngô Đình Nhu, bức tranh Nhạc Sầu đoạt giải nhất Đông Nam Á hiện còn trang hoàng nơi phòng khách vị Thủ tướng Mã Lai, đến bìa nhạc, bìa sách từ 1954 đến 1990, đến tranh sơn mài Thành Lễ, Lam Sơn, đồ gốm Biên Hòa, tranh thêu Thu Hà, thảm, đồ thủ công, bìa sơn mài, hộp sơn mài… và hàng trăm tấm tranh lụa, sơn dầu đã được bán ra ngoại quốc.Tranh Thành Lễ được sao đi sao lại hàng trăm, hàng nghìn bản mỗi mẫu từ mấy chục năm nay, tranh sơn mài Thành Lễ hiện diện trong mỗi gia đình Việt Nam từ trong nước ra đến hải ngoại nhưng ít ai biết đến tác giả các bức tranh ấy là Họa sĩ Duy Liêm.Thành Lễ và Duy Liêm cùng học trường Mỹ Thuật Trang Trí Gia Định. (Ecole d’Art decoratif de Gia Định). Thành Lễ ngừng học từ năm thứ hai, ra đời kinh doanh ngành sơn mài và Duy Liêm tốt nghiệp năm 1937 là họa sĩ chính của Thành Lễ từ đó. Tài kinh doanh của Thành Lễ và nghệ thuật của Duy Liêm đã đưa nghệ thuật sơn mài từ một tiểu công nghệ bản xứ qua những lần huy chương vàng Hội chợ Paris và các hội chợ Quốc Tế khác, thế giới đã biết dến sơn mài Việt Nam. Các tác phẩm của Duy Liêm đã tạo nên công ăn việc làm cho hàng ngàn người các ngành sơn mài, đồ gốm, thảm thêu và các nghệ nhân miền Nam vẫn kính trọng ông là bậc thầy của nền tiểu công nghệ Việt Nam.Duy Liêm và tranh sơn mài
Nhiều bức sơn mài đã trải qua “tam sao thất bản”, nhiều bức trải qua các tay thợ vụng về đã làm sai lạc rất nhiều so với bản chính. Các hãng sơn mài trong nước, cũng như các hãng Thành Lễ của Hoàng Đình Tuyên (con rể Thành Lễ) của Nguyễn Thành Vinh (con ruột Thành Lễ) đã sửa đổi thêm thắt làm sai lạc và mất vẻ thẩm mỹ rất nhiều so với bản chính. Đó là lý do sự sa sút của ngành sơn mài những năm gần đây.Những tác phẩm đắc ý nhất cùa ông là tranh lụa, tôi dược may mắn có những tác phẩm đắc ý của ông:
Giấc hè một thiếu phụ cho con bú ngủ quên trên võng trưa, con ngù, mẹ còn lộ bộ ngực trần.
Du Xuânhai thiếu nữ đi giữa vườn hoa xuân.
Suối tócbộ tranh thiếu nữ ngồi chải tóc trên giường tre bên bụi chuối đong đưa ngoài vườn.
Hái sen thiếu nữ hái sen bờ ao.
Đề tài tranh ông rất phong phú đa dạng từ cảnh chài lưới Phan Thiết đến đền Angkor, vinh quy bái tổ, cảnh ghe thuyền trên sông, cung điện Huế và đề tài ông thường vẽ nhất có lẽ là thiếu nữ Việt Nam.Sơn dầu, ông vẽ nhiều nhất tranh lập thể và lõa thể.
Các nhạc sĩ miền Nam ngày trước, muốn nhạc phẩm mình ăn khách, theo lời khuyên nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam, Diên Hồng, Sống Mới… là phải cố cho được bìa của Duy Liêm vẽ, vì thế mỗi bản nhạc viết xong là các nhạc sĩ thường phải xách đàn dẫn ca sĩ đến hát cho Duy Liêm nghe để vẽ bìa. Nhạc hay, Duy Liêm có hứng sẽ vẽ bìa đẹp, còn nhạc dở thì dù có năn nỉ, đắt tiền gấp đôi, nhạc vẫn bù trớt. Vì thế, giới nhạc sĩ miền Nam, từ Hoàng Thi Thơ, Phạm Đình Chương, Lam Phương, Trúc Phương, Trần Thiện Thanh, Hoàng Trọng, Nguyễn Hữu Thiết… đều rất thân thiết với Duy Liêm và qua ông đã đưa lên danh vọng người cháu gái là ca sĩ Thanh Thúy.Những năm tháng cuối của cuộc đời, khi mắt Duy Liêm chưa mờ hằn mà còn lờ mờ thì các con vẽ theo ý ông và ông sửa chữa, sau đó thì các con của ông đã trở thành các họa sĩ. Duy Sĩ, họa sĩ một hãng phim hoạt họa ở Portland (Mỹ), đã từng dược giải thưởng lớn truyền hình Mỹ. Quốc Hoàng, họa sĩ chính các hãng sơn mài, thay thế ông. Họa sĩ Vẹt (Hồ Đắc Vũ) con rễ (Canada).Đây là lúc để tổng kết lại một đời sáng tác của một họa sĩ đa tài, đa tình, đã để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ về lượng cũng như về phẩm, để lại bao nhiêu mối tình và ba mươi người con từ trong nước ra đến ngoài nước. Đó là điều hiếm có đối với một họa sĩ một nước nghèo, nghệ thuật hội họa chưa được trân trọng như các nước tiên tiến.Tôi mơ ước mai sau sẽ xây dựng mộc viện bảo tàng hội họa Duy Liêm ở Phan Thiết, quê hương ông, hay ở Gò Vấp, nơi ông sống và sáng tác, để sưu tầm toàn bộ sự nghiệp cùa ông ước lượng 40,000 hay 50,000 tác phẩm, từ sơn mài, sơn dầu, tranh lụa, bình, hộp, thảm, sứ… những tác phấm đã nâng cao nghệ thuật sơn mài Việt Nam lên tầm quốc tế, một sự nghiệp đồ sộ – tôi nghĩ không kém gì các họa sĩ tiếng tăm trên thế giới.Họa sĩ Duy Liêm đã qua đời năm 1994, hưởng thọ 80 tuổi.Nhất UyênNguồn: Thế Kỷ 21 số 49, Tháng 5-1993 Một số hình bìa nhạc bài hát nổi tiếng qua nét vẽ của họa sĩ Duy Liêm:
Hôm nay tôi cùng bạn đọc tập thơ “Chút lời mênh mông” của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (1937 – 2020).
Ông sinh ở Ninh Thuận, quê gốc Thừa Thiên – Huế. Xuất hiện trên văn đàn miền Nam từ thập niên 1960 và nổi tiếng với bút danh Sao Trên Rừng, ông là một trong mấy gương mặt “kỳ dị” của văn chương Sài Gòn cùng với Bùi Giáng, Phạm Công Thiện.
Ông thường sống ở núi nên có biệt danh Sơn Núi để phân biệt với Sơn Biển là biệt danh của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn sống ở Phan Thiết (tác giả tập thơ “Chiến tranh Việt Nam và tôi” cũng nổi tiếng trước 1975). Sự nghiệp văn chương của ông đã xuất bản 8 tập thơ và 3 tập truyện ngắn từ 1965 đến 1973.
Tập “Chút lời mênh mông” là sự xuất hiện trở lại văn đàn của Nguyễn Đức Sơn sau gần nửa thế kỷ biệt tích gồm 110 bài thơ chưa in trong các tập trước của tác giả, được các con ông tập hợp lại. Các bài thơ ở đây có những bài tương đối mới, lại có những bài viết nửa thế kỷ trước, từ thời lao tù quân dịch của tác giả. Trong tập có lời tựa công phu của nhà sư Thích Không Hạnh, có bức vẽ và các thủ bút của tác giả, có các bức thư hoạ của nhà thư pháp Hồ Công Khanh.
Nhà thơ còn kịp thấy tập thơ xuất bản đầu năm nay trước khi qua đời ngày 11/6/2020 sau nhiều năm sống ở vùng rừng núi Bảo Lộc (Lâm Đồng). Một năm trước, tại Mỹ, ở Nhà xuất bản Văn học, cũng đã ra một tập thơ Nguyễn Đức Sơn nhan đề “Thơ và Đá” bằng ba ngữ Việt – Anh – Nhật với lời tựa của thầy Tuệ Sỹ.
Nói tới thơ Nguyễn Đức Sơn, người ta hay bảo đó là thơ dâm tục. Nhưng trước khi nói chuyện đó, bạn hãy cứ đọc vào tập thơ này của ông để thấy ông rất đời. Chỉ lấy riêng những bài ông viết về con cái đã đủ thấy. Ông nhìn con tập lẫy thấy “Co chân tròn trịa như hòn đá lăn” nên dặn con “Muốn cho đời sống không cằn / Tập cho quen mất thăng bằng từ đây” (tr. 26). Ông dỗ con ăn chén bột gạo không có đường vàng nên phải cho muối vào và động viên con “Mặn thì dương tính phải cao / Mai kia cứng cáp con lao vào đời” (tr. 31). Rồi đến một hôm ông lại dỗ con nữa:
“Hết đường cha trộn với trăng
Hình như sắc độ vàng bằng với nhau
Thôi thì con ráng ăn mau
Hôm nay lạt lẽo ngày sau ngọt ngào” (tr. 32)
Đi vào thơ Nguyễn Đức Sơn, trước hết hãy đọc những bài rất đời như thế đã. Giờ mà nói chuyện thơ ông dâm tục có khi còn bị mắng, bị phê, dù thơ ông đã lưu hành bao năm và nay đã được in như ở tập này.
Nhưng cái cần nói thì cũng phải nói. Về chuyện dâm tục trong thơ Nguyễn Đức Sơn, có hai câu thơ của ông hay được dẫn ra để nói, nhưng cũng là hai câu được nhớ nhiều nhắc nhiều, và cả khen nhiều. Đó là hai câu ở bài “Vũng nước thánh” in trong tập “Đêm nguyệt động” (1967): “Ôi một đêm bụi cỏ dáng thu người / Em chưa đái mà hồn anh đã ướt“. Bảo nó tục vì nói chuyện tiểu đái ướt hồn thì là tục theo cái lẽ xưa nay coi là tục tĩu những chuyện bài tiết cơ thể. Nhưng bảo đó là một câu thơ cực hay về tình yêu xưa nay chưa ai viết thì nó thực là hay. Cái dâm tục trong thơ Nguyễn Đức Sơn là thế đấy. Và trước nay đã có nhiều người luận giải, phân tích cái tục đó để nói đó không phải tục. Cũng như đã có nhiều bài viết mổ xẻ thơ ông nói chung với rất nhiều lẽ cao siêu thâm thuý.
Cho nên tôi mới nói, bạn nếu chưa đọc thơ Nguyễn Đức Sơn bao giờ thì hãy cứ đi thẳng vào thơ ông, đến trực tiếp với câu chữ lời thơ của ông, cứ trực cảm với ông bằng cảm xúc chính mình, cứ uyên nguyên trần trụi, bỏ qua mọi sự luận giải lý tính. Hãy đọc thơ, và không cứ thơ, bằng mắt bằng hồn bằng tâm của mình, bằng cái không trong mình, chớ để ai đổ lấp bất cứ cái gì vào đó. Đọc bằng mình sau đó mới đọc bằng người. Đọc hồn nhiên nhi nhiên tự nhiên.
Và đọc như thế thì bạn trước hết sẽ được thích khoái với thơ của ông Sơn Núi. Có ai ngộ được “Bát nhã” như ông thế này không:
“Một sớm sương giăng mờ núi sông
Ghé thăm tình cũ cảm mênh mông
Cầu tiêu em ỉa quên chưa dội
Bãi cứt nhìn qua hiện đoá hồng” (tr. 88)
Bạn choáng, tôi chắc thế, khi chạm phải cái từ vẫn bị coi là dơ bẩn, và sẽ càng choáng hơn khi thấy từ nó hiện ra một đoá hồng của tình yêu. (Tôi nhớ ông Sơn Biển cũng có câu thơ với cái từ tục này “Ta vốn ghét đàn bà như ghét cứt / Nhưng vì sao ta lại yêu em“. Sau này khi được in lại, câu thơ đã bị biên tập sửa thành “Ta vốn ghét đàn bà như ghét đất” thế thì còn gì là ý vị của tình yêu!). Bạn choáng vì chưa bao giờ gặp một sự kết hợp lạ lùng đến thế của những từ ngữ, hình ảnh, cảm xúc ngỡ như không bao giờ kết hợp được. Ấy vậy nhà thơ mới gọi tên bài thơ là “Bát nhã” như trao bạn một chìa khoá thơ.
CHÚT LỜI MÊNH MÔNG
Tác giả: Nguyễn Đức Sơn
Thư viện Huệ Quang & Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2020
Số trang: 150
Bởi vì thiên nhiên vũ trụ là vô hình vô tướng:
“Có bay cao chín tầng trời
Chỉ nghe thượng đế ngàn đời nín thinh
Có dòm sâu tận cửa mình
Cũng không thấy được cái hình thế gian” (tr. 54)
Giữa cõi vô đó hiện ra một Nguyễn Đức Sơn:
“Bởi quen ăn nói lùng khùng
Trăm năm xã hội không dùng được ta
Một đời vô lượng thơ ca
Ngàn năm trời đất bao la thở dài” (tr. 59)
Bài thơ này mang tên “Trăm năm, Ngàn năm”. Con người sinh ra đời là bị giãy dụa trong cõi nhân gian phàm tục. Mấy ai biết “một điều phải hiểu cho sâu / trăm năm hai chữ vô cầu mà thôi” (tr. 34). Những hệ luỵ trần gian ai cũng phải trải. Nhưng có ai trải rồi lại được như Nguyễn Đức Sơn:
“Sướng quá đời ta tuổi sắp già
Bao nhiêu học thuyết bước đều qua
Nay về dắt bóng chơi am vắng
Ấu trĩ vườn trăng một tiếng gà” (tr. 78)
Đó là sự vượt thoát cõi sống, siêu thoát nhân sinh của người thấu lẽ vô thường vũ trụ. Cái bãi cứt ở trên và trái ổi ở đây là cùng trong một quán tưởng của thi nhân.
“Trưa đứng một mình đợi ai lên
Đất trời đâu có dưới và trên
Đồi cao ổi sót rụng một trái
Dòi ăn một bên ta một bên” (tr. 77)
Và như thế với Nguyễn Đức Sơn cái gì cũng là thơ, bất luận là cái gì. Cho nên đọc thơ ông đừng bận tâm dâm tục xấu đẹp, đừng để cái trí biện biệt chi phối cái cảm thức toàn thể. Tôi đã nói đến cái thích khoái giật mình choáng váng của người lần đầu đọc thơ Nguyễn Đức Sơn. Vì mọi cái bình thường tầm thường dung tục vào thơ ông một cách tự nhiên bất ngờ mà cũng đơn sơ giản tiện như hàng ngày chúng vẫn có đó, trong ta và ngoài ta, ai cũng nhìn cũng biết nhưng không ai thơ chúng được như ông.
Thơ ông rất trong đời và cũng rất ngoài đời. Ông cuốc đất và thấy đất cười “bốc hơi nức nở như người đang vui“, chừng đó đủ để ông gửi con trọn một niềm tin “dù cha cuốc phải trái mìn nổ tung” (tr. 30). Người đời nhìn núi chỉ là núi. Còn Nguyễn Đức Sơn bồng con ngắm núi “thấy trong bóng núi trùng trùng bóng ta” (tr. 66), ra suối nhìn hoa trôi chợt trong một sát na “thấy trong nước cuốn có tôi và người” (tr. 97). Ông đau đớn một kiếp người, cả trùng trùng kiếp người, khi “Đêm thăm bạn sắp đẻ ở Di Linh” (tr. 144), một bài thơ thật khủng khiếp Nguyễn Đức Sơn.
Có thể hình dung đường vào thơ Nguyễn Đức Sơn là đường dốc núi. Người đọc phải lên dốc ngược với những gì mình quen đọc, quen coi là thơ. Đường dốc nhiều gai góc trơn trượt nhưng mỗi bước lên là một bước mở cao sáng trời. Nhà thơ đã có bài thơ mang tên “Lên dốc sơn núi” hiểu tả thực thì như chỉ chỗ ông ở mà hiểu theo cách thơ thì là “bày đường” vào thơ ông:
“Lên dốc
Sơn núi
Bên thơm
Bên thúi
Tỉnh thức
Khỏi cần
Đầu ngẩng
Đầu cúi” (tr. 146).
Và đây “Chút lời mênh mông” ông viết dịp sinh nhật tuổi 33 (1970), nửa thế kỷ sau đến với bạn đọc như lời di chúc của ông ở tuổi 83, giã từ một cuộc chơi trong cõi trời cõi người.
“Một mai cha chết đừng chôn
Ngại chưa xuất kịp chút hồn thiết tha
Cái gì cha nói chưa ra
Biết đâu còn sót trong da máu này
Tuy nhiên đừng để lâu ngày
Đốt ngay lập tức là hay nhất đời
Con mang tro bụi xa vời
Gửi cho thiên địa chút lời mênh mông” (tr. 147)
Bạn đọc thơ Nguyễn Đức Sơn cách gì cũng sẽ gặp chút lời của ông gửi vào mênh mông đó. Từ đọc thơ theo cách đời đến đọc thơ theo cách triết, cách thiền, bạn sẽ dần leo được dốc Sơn Núi và gặp được một nhà thơ đã tự họa mình “Xem tôi chánh hậu thằng điên / Tim pha chút máu thánh hiền cho vui” (tr. 135). Và rồi những lời thơ khác lạ, “điên khùng” của ông sẽ giúp bạn thấm trải đời hơn trong tất cả những xấu xa tốt đẹp tục lụy của nó.
… Hôm nay cuốn sách tôi mang đến cho bạn có tên là “Ta đã làm chi đời ta” của nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916 – 1976).
Bạn hẳn đã nghe đến tên nhà thơ họ Vũ này. Ông sinh ở Nam Định, vào đời ở Hà Nội, là một nhà thơ nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới (1932 – 1945) với các tập thơ “Say” 1940), “Mây” (1943). Sự nghiệp của ông còn tiếp tục sau năm 1954 khi vào Nam với nhiều tập thơ khác. Thời kỳ này ông từng làm Chủ tịch Hội Văn Bút và được vinh danh là Thi bá của miền Nam Việt Nam.
Cuốn “Ta đã làm chi đời ta” được in lần đầu năm 1974 ở Sài Gòn tại cơ sở xuất bản Trương Vĩnh Ký. Đây là một cuốn hồi ký (hai chữ “bút ký” ghi trên bìa sách lần tái bản này chỉ nói đúng phần nào thể loại) của Vũ Hoàng Chương viết về cuộc sống văn nghệ ở miền Bắc từ đầu thập niên 1940 cho đến giữa thập niên 1950 mà ông là một người tham dự, một người chơi hết mình.
Gọi họ Vũ là một người chơi quả không ngoa khi trong toàn bộ cuốn sách ông kể về những chuyến đi chơi, những cuộc rong chơi cùng các bạn hữu văn nghệ khắp mấy tỉnh đồng bằng Bắc Bộ – Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang. Từ đó người đọc được theo bước chân của Hoàng (như ông tự gọi mình trong sách) gặp gỡ các văn nhân tài tử như Nguyễn Bính, Ngân Giang, Tô Hoài, Thế Lữ, Chu Ngọc, Đỗ Đức Thu, Đoàn Phú Tứ, Đinh Hùng, Huy Cận, Phan Khắc Khoan, Bàng Bá Lân, Lê Văn Trương, Ngọc Giao, Hoàng Cầm…, được cùng ông và các văn hữu xướng họa thơ văn, được biết sự tích một số bài thơ của ông và những thi nhân khác, biết ông còn giỏi làm kịch thơ, ngâm thơ, và có tài dịch thơ Hán, được nghe ông kể những chuyện tình cảm cùng là những thú vui chơi của mình.
Cuộc chơi của Vũ Hoàng Chương là cuộc chơi văn thơ nghệ thuật tuyệt đích tuyệt thú. Ông ý thức rõ về mình và cuộc chơi này. “Lại được Trời Đất kia cho vay tạm cái hồn văn trong một kiếp Người, đâu lẽ mình để cho khối ngọc bị hoen mờ nơi bùn bụi trên các nẻo lợi danh! Có ngọc quý – dầu chỉ vay tạm trong thời hạn một trăm năm – tất phải đưa nó lên những đỉnh cao nhất của tình cảm để nó có dịp hội tụ được tối đa những tia sáng vạn năng từ đó bùng cháy lên ngọn lửa Sáng Tạo” (tr. 172). Ông tự tin vào hồn Thơ của Hoàng và khi một nữ sĩ người đẹp muốn được ông truyền cho hồn ấy ông đã viết: “Trước tiên phải coi nhẹ hết mọi thành kiến, dư luận, mọi hậu quả, bất cứ hậu quả này ra sao” (tr. 116). Và trong các cuộc chơi đó ông đều chứng tỏ được cái tài cái tình của mình với bạn hữu.
Đọc ông ta thấy tình văn nhân thật tri âm tri kỷ mà cũng nhiều cung bậc, sắc thái hỉ nộ ái ố. Cuốn sách như cuốn phim giữ lại cho văn học sử nước nhà một thời đoạn văn nghệ không còn có lại, mãi mãi gắn liền với một thời ly tao của đất nước. Đúng như tiến sĩ văn học Võ Văn Nhơn đã viết trong lời giới thiệu đầu sách: “Nghiền ngẫm hồi ký của Vũ Hoàng Chương và các nhà văn cùng thời, ta thấy đó không chỉ là tiếng nói của những cá nhân, tiếng nói của một thời đã qua, mà còn từ những bài học cụ thể đó, chúng ta có thể suy nghĩ về nhiều vấn đề cho hôm nay” (tr. 11).
Vũ Hoàng Chương thường được gọi là “nhà thơ Say” theo tên một tập thơ của ông. Nhưng nhà thơ tưởng như chỉ say trong khói phù dung thả hồn bay bổng trên cánh tiên cánh mộng về những cõi trời Đông phương nghìn xưa ấy lại là người đã viết nên những dòng thơ hào hùng, lẫm liệt về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Câu chuyện ông kể về bài thơ “Trả ta sông núi” trong tập sách cho người đọc biết thêm một khía cạnh hồn thơ và một phương diện con người ông. Bài thơ dài hơn trăm câu Vũ Hoàng Chương viết làm khai từ cho vở kịch “Nguyễn Thái Học” của Ban kịch Thế Lữ đã vang lên trên sân khấu một rạp hát ở Hà Nội năm 1945 gây xúc động ghê gớm như chính lời ông nói: “Tiếng vỗ tay vang dội tưởng đến vỡ rạp; mà không biết ai ngâm bài khai từ hôm đó, giọng thê thiết như tức tưởi, lại hùng tráng như lệnh xuất quân!” (tr. 100). Bạn có thể đọc toàn bộ bài thơ trong sách này.
Đến nay đọc lại bài thơ đó của Vũ Hoàng Chương chúng ta vẫn thấy như ông viết cho bây giờ.
TA ĐÃ LÀM CHI ĐỜI TA
Tác giả: Vũ Hoàng Chương
Domino & Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ TPHCM, 2018
Số trang: 214
“Trải bốn nghìn năm dựng nước nhà
Sông khoe hùng dũng núi nguy nga
“Trả ta sông núi!” bao người trước
Gào thét đòi cho bọn chúng ta…
“Trả ta sông núi!” từng trang sử
Dân tộc còn nghe vọng thiết tha.
Ngược vết thời gian, cùng nhắn nhủ:
“Không đòi, ai trả núi sông ta!”…
*
Ngày nay muốn sông bền núi vững
Phải làm sao cho xứng người xưa.
Yêu nòi giống, hiểu thời cơ
Bốn phương một ý phụng thờ Giang Sơn.
Đừng lo yếu, hãy chung hờn
Cần câu đánh giặc từng hơn giáo dài!
*
“Trả núi sông ta!” lời dĩ vãng
Thiên thu còn vọng đến tương lai.
“Trả ta sông núi!” câu hùng tráng
Là súng là gươm giữ đất đai…
Trông lên cao ngất phương trời
Hồn thiêng liệt sĩ bừng tươi sắc Cờ.”
Được viết ra từ khoảng cách ba mươi năm khi những cuộc vui cuộc chơi này đã lùi vào dĩ vãng, đã trở thành kỷ niệm và là kỷ niệm trong cả xa cách không gian không còn cơ hội được gặp lại những cảnh cũ người xưa, giọng văn kể của Vũ Hoàng Chương vừa vẫn đầy thích khoái lại vừa có chút ngậm ngùi, thương cảm. Nhất là ở những bài cuối trong tập khi ông không chỉ hoài niệm mà còn vọng tưởng và nghĩ suy về thế sự, nhân tình trong cảnh chia cắt Bắc Nam. Như câu hỏi sao lại thế được “tai mắt như không phải của mình” khi ông nhắc lại bài thơ xướng họa với cụ Phan Khôi hồi đầu cuộc kháng Pháp khi hai người cách biệt hai nơi (tr. 201-206). Hay như tâm tư thời đại của ông với Thăng Long, Thuận Hoá, Bến Nghé khi giữa Sài Gòn buổi loạn ly nhớ lại bài thơ xướng họa với nữ sĩ Mộng Thiên khóc Huế năm 1947 hồi đang chạy tản cư (tr.213-214).
Tôi đọc “Ta đã làm chi đời ta” từ bản in đầu đến bản in này, (hai bản in đầy đủ), vẫn nguyên xúc động và cảm khái. Vũ Hoàng Chương đã đặt cho thiên hồi ký văn nghệ đất Bắc của mình một cái tên thật hay, thật thâm thuý. Tôi rất thích cái tên đó, một trong ít những cái tên hồi ký, tự truyện, sâu sắc, vì thế bài viết đọc sách này tôi không đặt một cái tên riêng như mọi lần mà quyết định dùng lại luôn tên sách của ông. Đó là một câu hỏi nhưng cũng là một câu trả lời. Hơn thế, đó là một câu khẳng định. Nhà thơ tự trào và tự hào về mình đã sống được một đời (một đoạn đời) thích chí. Cái đời mình đó Vũ Hoàng Chương đã được sống trong phóng túng hình hài và phóng cuồng tâm trí, ít nhất là ở đoạn đời ông đã sống và kể lại trong sách này, để làm tỏa sáng viên ngọc quý hồn văn Trời Đất đã đặt vào ông. Nhờ đó, đọc sách này tôi còn học được ông cách thẩm thơ, bình thơ, nhất là dịch thơ. Nói không quá, Vũ Hoàng Chương là một người dịch thơ Hán tài hoa rất mực thời hiện đại dù ông không chuyên dịch.
Hẹn bạn lần tới với một cuốn sách mới khác.
Đà Lạt 5.7.2020
BÁNH ĐÚC CÓ XƯƠNG
BÁNH ĐÚC CÓ XƯƠNG
Tin vợ chồng Tư chia tay mới nghe tưởng như đùa. Ô hay mới cưới chưa đến tháng đã thôi nhau là sao? Mà đâu phải vợ chồng son trẻ thiếu chính chắn gì cho cam? Cả hai đều đã một lần dang dỡ. Nàng đã từng có chồng không ra gì, cờ bạc hư hỏng khiến cho phải đưa nhau đưa ra toà. May mà không có con cái ràng buộc cũng dễ dàng đường ai nấy đi. Chàng thì không ly dị nhưng…goá vợ, gà trống nuôi 2 đứa con thầm thoát cũng mấy năm rồi. Duyên lành đun rủi cho hai tâm hồn cô đơn gặp nhau nên duyên chồng vợ. Vậy mà chưa đến một tháng Tư khăn gói ra khỏi nhà chồng.
Hỏi lý do nào? Tại sao? -Bả ở trong nhà vậy ai chịu nỗi. Tư trả lời -Bà nào ở? Tôi thắc mắc -Vợ cũ ổng chứ ai – Không phải vợ ổng mất lâu rồi sao? -Bả mất thì mất, ai cấm bả…ở trong nhà! -Không hiểu -Là bả…không chịu đi mà cứ ở trong nhà chứ sao nữa. -Giõn hả em? Thời buổi này mà còn nói chuyện ma quỷ ? -Thiệt đó anh.
Và theo lời Tư Kể -… Mới về nhà ổng có mấy ngày là em thấy âm khí trong nhà nặng nề, biết ngay đang có người âm trú ẩn, quả nhiên là bà ấy. -Wait, Chuyện ma quỷ có thiệt hay không anh không chắc, nhưng nếu có thiệt như em nói thì em làm sao biết có âm khí trong nhà và chắc là linh hồn của bà ấy còn đó?
Tư cười – Nói anh nghe cũng không sao. Ông nội em là thấy pháp chuyên trừ tà đuổi quỷ ở Tây Ninh. Tía em cũng có chân truyền từ ông nội cho nên em cũng được học hỏi từ nhỏ tuy chưa học hết để đủ sức bắt ma trừ tà như ông nội, hay tía em, nhưng có thể thấy ma, và nhất là không sợ ma . – À… Vậy sao giờ sợ?
-…Đâu sợ, mà bực thôi. Anh nghĩ mình ở trong nhà, tự nhiên lâu lâu thấy bả đứng đâu đó xua tay như muốn đuổi mình ra khỏi nhà. Em không sợ vì đã từng thấy nhiều ma trước rôi, và biết nó chẳng làm gì được mình, nhưng mà khó chịu lắm anh. Nhất là buổi tối hai vợ chồng riêng tư với nhau, bỗng thấy bà đứng đó có khổ không chứ? -A, vậy là bả ấy ghen. Nhưng theo anh biết người mất rồi phải siêu thoát đi nơi khác về thiên đàng hay địa ngục gì đó tùy mỗi người, tại sao bà này còn ở trong nhà? – Cũng có những trường hợp họ bị vương vấn nặng nợ trần chưa đành lòng đi, bởi vậy mới có ma chứ anh. Trường hợp bà vợ cũ của ảnh không đi chắc vì thương con quá ra đi không nỡ nên trốn ở lại. -Vậy muốn cho bà ấy ra đi thì phải làm sao? -Phải mời một cao tăng đắc đạo tới nhà tụng kinh khai nhỡn cho bà ấy thấy được lẽ luân hồi mà siêu thoát. Nhưng ông chồng em đời nào tin mấy chuyện này mà tính mời tăng! -Em có cho anh ấy biết chuyện này? – Có, nhưng ảnh nhứt định không tin, còn sạt em nhảm nhí, có tức không? -Khó nhỉ! Ông ấy không tin cũng không thể trách. Hay là nói ông nội em hay ba em …mời bả ra khỏi nhà?
Tư trầm ngâm nói – Nếu kêu tía em đang ở VN qua thì ông có thể trục bà ấy ra khỏi nhà, nhưng sao mà nỡ làm vậy anh ơi. Bà ấy vì quá thương chồng thương con, chưa muốn chết mà phải chết. Nghe kể là bà ấy bị tai nạn xe cộ chết bất ngờ quá nên không cam tâm siêu thoát mới ra cớ sự. Tía em có thể trục bà ấy ra khỏi nhà và dán bùa không cho bà trở vô, nhưng không thể dẫn dắt cho vong linh bà. Bà sẽ trở thành một con ma hoang không nơi nương tựa, dễ sa vào kiếp ngạ quỷ tội nghiệp lắm. Phải có cao tăng dẫn dắt bà đến nơi siêu thoát mới là biện pháp hay nhứt.
-Nhưng chồng em đã không tin mấy chuyện này mà ! -Bởi vậy mới khổ. Chắc là duyên phần của em vậy để mình em chịu chứ em không nỡ đuổi bà ấy ra khỏi nhà đâu anh. Dù sao cũng là nhà của bả. Bà ấy muốn cứ ở đó. Khi nào có duyên được dẫn dắt bà sẽ tự ra khỏi nhà. Và Tư đã quyết định cắt mối tơ tình ra khỏi nhà, trả lại chồng và con cho con ma ấy.
…Đâu chưa đên hai tháng, Tư tới báo cho biết đã…dọn về lại. Câu chuyện “dọn về” của Tư còn li kỳ hơn. Nàng kể: “… Hôm đó em đang ngủ ở nhà, chợt như có ngưòi kéo chân thức dây. Hoảng hồn luôn: anh biết ai hôn? Bả chớ ai! Em bực quá la lên: “Này chị, tui đã trả ảnh lại cho chị rồi. Chị còn tới đây kiếm tui chi nữa”. Bỗng nhiên em nghe như trong tâm thức tiếng chị ấy nói nhờ em tới nhà cứu đứa con gái út tên Alyssa đang bệnh sốt nặng trong phòng một mình, nguy hiểm quá!”
Nghe đến chữ Alyssa là em tỉnh ngủ liền. Nó là đứa con gái sau của hai người mới 7 tuổi thôi. Lúc còn ở nhà, em thương con bé lắm, mà nó cũng thương em.
“Anh Tân đâu?” Em hỏi.
“Anh Tân đi out of town ngày mốt mới về. Nhà chỉ có 2 anh em”
“Sao chị không thức thằng Brian dậy. Nó lớn rồi biết lấy thuốc cho em nó” “Không được em ơi. Chị là mẹ nó thiệt nhưng không thể liên lạc với nó. Chị chỉ liên lạc được với em thôi. Em làm ơn tới cho con Alyssa uống thuốc giùm chị chứ để lâu bị coma nguy hiểm lắm.”
Tuy vẫn còn ấm ức, nhưng nghe nói con bé Alyssa bệnh là em quên hết giận hờn. “Nhưng mà kẹt rồi chị. Tui đâu có chìa khóa vô nhà? Tui trả hết chìa khóa cho anh Tân rồi ” “Đừng lo. Em cứ tới nhà chị chỉ cho cách”
Vậy là giữa đêm khuya khoắt 1, 2 giờ sáng em tức tốc lái xe đi. Đến nơi bả chỉ dưới 1 viên gạch trong vườn có để cái chìa khóa sơ cua từ hồi bả còn sống để phòng trường hợp đi đâu bị quên hay mất chìa khóa vô nhà. May mà chìa khóa bao bọc cẩn thận nên không bị rỉ sét gì cả.
Em mở cửa bước ngay vào phòng con Alyssa. Quả nhiên con bé không biết bị gì mà người nóng như lửa đang nằm rên hừ hừ. May em biết chỗ để thuốc men trong nhà nên lấy ngay cho con bé uống và lấy khăn ướt lau người nó để giảm nhiệt. Được chốc sau con bé đã hạ nhiệt và tỉnh dần nó thấy em đang ôm nó nên mếu máo “Mẹ ơi mẹ đừng đi nữa, ở lại đây với con nha!” Không biết nó đang nói mẹ là em, hay là nó đang nhớ đến mẹ ruột nó. Em mủi lòng đến chảy nuớc mắt, còn bà ta thì đứng ở góc phòng khóc ngon lành. Dĩ nhiên là chỉ có em biết còn con bé và thằng Brian (lúc này thì thằng anh nghe tiếng động nên đã tỉnh chạy sang phòng con em) hoàn toàn không biết mẹ ruột của chúng nó lúc đó cũng đang ở trong phòng.
Đợi sáng em để sẵn thuốc dặn thằng anh cho em uống, gọi điện thoại cho ổng biết con gái bệnh phải về chăm sóc con. Em chỉ làm được tới đây thôi. -Ổng có hỏi tại sao em biết con bé bệnh mà tới nhà giữa đêm khuya như vậy? Tôi hỏi – Có, và em có sao nói vậy. Ảnh tin hay không tin mặc kệ. Em không care. -Vậy ổng có tin? – Ban đầu thì không, nhưng sau đó cũng phải tin. Ảnh xin lỗi và năn nỉ em trở lại với ảnh. -Và em đã chịu ? -Dạ. Tư trả lời -Vậy còn …bả? -Chị ấy đi rồi anh. -Đi đâu? Sao em biết?
-Sau vụ con Alyssa, chị lại hiện về lần nữa nói chuyện với em. Chị ấy xin lỗi bấy lâu nay vì sự ghen tuông và ích kỷ nên đã phá em. Nhất là chỉ sợ mấy đứa con bị cảnh mẹ ghẻ con chồng. Nhưng bây giờ thì chị hiểu là em cũng thương con chỉ như con. Đêm hôm khuya khoắt nghe con bé bệnh là bỏ tất cả chạy tới ngay. Con bé Alyssa tinh thần lẫn thể chất yếu đuối, nó cần một người mẹ bên cạnh thực sự thương yêu và chăm sóc cho nó. Chị ấy có thương con tới đâu cũng không thể làm được nữa. Bây giờ thì chị đã yên tâm siêu thoát về thế giới của chị, không nuối tiếc gì nữa vì biết rằng gia đình, con cái chị từ đây đã có em thay thế chăm sóc. … Đã mười mấy năm trôi qua, gia đình Tư sống hạnh phúc. Hai người không có thêm đứa con nào, nhưng 2 đứa con chồng thương Tư như mẹ ruột của chúng.
Có lần tôi tò mò hỏi sau lần đó, bà vợ cũ có bao giờ hiện hồn về thăm chồng con và thăm Tư không? Cô mỉm cười nói ” Bí mật. Thiên cơ bất khả lậu”.
Người Amish sống đời sống thôn dã. Không cần biết TV, tủ lạnh, radio, đồng hồ và cell phone làm gì cho mệt. Họ tự trồng trọt và cung cấp thức ăn cho cả làng, vẫn xài đèn dầu trong nhà như hai trăm năm trước. Trăm năm trước họ tự trồng bông dệt vải, giờ thì họ chỉ mua vải, kim chỉ ở ngoài và tự may quần áo. Những người Amish không dùng bò cho công việc nông trại, họ chỉ dùng ngựa thôi. Và dùng ngựa để kéo xe như một phương tiện di chuyển trong làng.
Cái máy làm kem, chế từ một nông cụ cũng làm ra ly kem ăn ngon không thua gì các tiệm. Tôi mua một bình xá xị, $5 đồng một bình uống hết xảy luôn, chỉ khác là nó không có nhiều gas. Tôi không nhớ mấy loại bánh này tên gì, mới ra lò ăn chung với bơ, ngon hết biết; giống như một loại bánh bột, có loại có nhân mà chúng tôi đã từng ăn ở Tiệp. Thịt gà nướng mềm và thơm nhưng bò, BBQ beef thì dai và khô so với món BBQ Texas.
Có chừng 300 ngàn người Amish sống rải rác trên khắp nước Mỹ, Philadelphia đứng thứ hai sau tiểu bang Ohio. Tổ tiên từ Âu Châu, gốc Đức, Thụy Điển, Hòa Lan, họ đến Mỹ từ thế kỷ 18, chạy trốn vì bị áp bức về tôn giáo. Những đứa trẻ con Amish ăn mặc giống y như Bố, cũng đội nón, áo quần chỉnh tề và trông rất có trách nhiệm. Họ không từ chối bạn chụp hình khi họ ra khỏi làng. Nhưng họ không thích bị chụp, vì tập tục Amish không cho phép họ chụp hình.
Đỗ T. Công
Quan niệm về văn học – đóng góp của Bùi Giáng với lý luận văn học dân tộc
Quan niệm về văn học – đóng góp của Bùi Giáng với lý luận văn học dân tộc
ĐOÀN THỊ MINH TRÀ
Thứ tư, 08 Tháng 7 2020 21:58
1. Thế kỉ XX, thi đàn Việt sau nhiều thập niên được thắp sáng bởi ánh hào quang của chòm sao chổi thơca Hàn Mặc Tử, lại được bừng lên với một hiện tượng thi ca mới: Bùi Giáng, một “thiên tài không định nghĩa được”(1). Từ buổi xuất hiện, thiên tài kì lạ ấy đã định vị mình trên lược đồ văn học dân tộc như “ngôi tinh văn kì dị có bóng dáng lồng lộng nhất hậu bán thế kỉ XX” (Hoàng Phủ Ngọc Tường)(2). Lúc sinh tiền người đời ngưỡng vọng dành cho ông nhiều danh xưng cao quý: “Người hóa thân cho thi ca“, “Người Thơ,“… Tự bản thân, Bùi Giáng nhận mình là Trung Niên Thi Sĩ. Bên cạnh thành tựu thơ văn đã và đang ngày càng thu hút sự quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu, ông còn để lại những di sản phê bình triết học, dịch thuật, phê bình văn học, hội họa. Và trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, ít ai biết rằng, Bùi Giáng cũng có những đóng góp đáng ghi nhận về lí luận sáng tạo nghệ thuật văn chương.
2. QUAN NIỆM VĂN HỌC
2.1. Quan niệm về thơ ca
Thơ ca là hình thái văn học đầu tiên nảy sinh từ khi con người bắt đầu cảm thấy mối liên hệ giữa mình và thực tại và sâu sắc hơn là khi con người có những nhu cầu tự biểu hiện trong đời sống. Ý thức cao về lập trường sáng tạothơ ca, Bùi Giáng đã xây dựng quan niệm sáng tác riêng – những quan điểm thường được ông phát biểu gián tiếp, thông qua cách nói hình tượng: “Thơ là một cái gì không thể bàn tới,không thể diễn gì được. Người ta có thể diễn tả một trận mưa rào bằng thơ. Thì có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào, một cơn gió thu. Mà muốn thực hiện sự đó, thì ngoài việc làm thơ ra, con người không còn phép nào khác. Thế có nghĩa là muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài khác. Người xưa am hiểu sự đó, nên chỉ vịnh thơ chứ không điên rồ mà bàn luận về thơ. Người đời nay trái lại. Họ buộc phải luận thơ có mạch lạc luận lý không được “ bốc đồng” vịnh lăng nhăng cái chỗ ngu si đó là điều bất khả tư nghì vậy” [1,tr149]. Thi sĩ nói thêm về cách ông làm thơ: “Thơ tôi làm chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác. Đi vào giữa trung tâm giông bão một lúc thì lập tức xô ngôn ngữ thoát ra, phá vòng vây áp bức…Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng bay đi(…) Tôi ra bờ sông nằm ngủ khóc một mình giữa thơ dại chiêm bao.Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao. [2, tr.33].
Bùi Giáng không định nghĩa thơ bằng lối nói mang màu sắc luận lý. Chiêm nghiệm thực tế sáng tác, thi sĩ nhận ra thơ là “cõi phiêu bồng” (Lời phiêu dựng lại một điệu chào dị sai– Lá Hoa Cồn). Thơ là vô ngôn. Ông lý giải:“Cái nói của tư tưởng chỉ đạt tới chỗ bình hòa thanh tịnh thuần thanh và tìm thấy lại tinh thể của mình là chính lúc nó không nói được điều gì, nó phải được tồn tại trong vô ngôn, một sự vô năng như thế sẽ nhiếp dẫn tư tưởng tới tiền diện sự thế, sự vật từ như”[3,tr36].
Quan niệm về thơ của Bùi Giáng khá gần gũi với mỹ học về cái nhạt của Trung Hoa mà nhà triết học hiện đại F. Julien đã bình giải: “Cái nhạt chỉ hiện ra để người ta cảm nhận được khi nó hướng người ta đến cái hài hòa đã qua, cái đã được định đoạt trong im lặng” [4,tr20]. Như thế với Bùi Giáng, thơ mang một hàm nghĩa rất rộng; là một thế giới nhiệm màu, tế vi và tự nhiên, nhi nhiên như cuộc sống muôn vẻ đa chiều kích; là nghệ thuật tinh túy của ngôn từ chảy tràn ra từ những siêu thăng trong tâm hồn, tiềm thức và vô thức (Trong chiêm bao thơ về lãng đãng thì từ đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao). Thơ với Bùi Giáng, là cái gì vượt thoát (Lời phiêu), “là lô hỏa thuần thanh -ngọn lửa đã xanh – lửa đã xanh thì tươi mát như ngọn lá đa mới nở. Nhưng sức nóng mãnh liệt của nó có thể thiêu rụi bất cứ thứ cứng rắn nào” [5,tr.104] và thơ cốtphải trở về được với nguồn cội đời sống tại-thể- người (một sự vô năng như thế sẽ nhiếp dẫn tư tưởng tới tiền diện sự thế, sự vật từ như). Chính lúc đó thơ ca làm cuộc đời hiện lên trong vẻ đẹp vừa siêu thoát vừa chân thật như vốn có. Bùi Giáng đã đưa thể tính của thi ca về đúng chỗcủa nó,là hệ quả của phép làm thơ, một quá trình sáng tạo kì diệu như ông nói: “…hãy quên đi rồi hãy viết.Hãy viết như viết trong chiêm bao: nơi đó mọi thứ đã trộn lẫn. Một thứ trộn lẫn đầy cảm động và mãnh liệt. Đừng có chằm hăm vào một cái gì, một chỗ nào.Hãy nên chằm hăm vào chỗ rạt rào”. [5,tr.10]. Thơ ông đã đạt được đến độ dạt dào nhựa sống, lay động hồn người chính từ quan niệm như thế:
Một hôm nào em mở cửa đầu khe
Và bữa đó đến bây giờ cỏ rạ
Thi nhau mọc mặt trời lên lả tả
Bông lúa chín trong rừng kêu tiếng lá
Chim chóc xanh đòi đẻ trứng bây giờ.
(Làm thân con gái)
Bùi Giáng mặc khải về sự khai hạ, sự sinh nở nơi người Mẹ cuộc sống huyền nhiệm như hoạt cảnh chúa trời giáng thế; hạt mầm sự sống tí tách trở động trong nguồn ánh sáng nguyên sơ dựng dậy một suối nguồn sự sống tràn trề, xanh ngát.Có thể thấy, ông chủ trương đưa thơ ca thành tiếng nói gần gũi với đời sống con người nhất nhưng phải là thứ tiếng nói về cuộc sống ở trình độ tinh tuyển, để cuộc sống hiện lên trên một giác độ mới, một trần gian lộng lẫy hơn, mê đắm hơn nhưng không xa lạ. Quan niệm thơ là cõi phiêu bồng, là vô ngôn, Bùi Giáng dùng ngôn ngữ thần ngôn, chi ngôn, trùng ngôn, phản ngữ, nhằm đạt đến chỗ im lặng nổi sóng như tinh thần Thiền Tông Phương Đông và tinh thần của triết học Heidegger phương Tây về ngôn ngữ: “Trong cõi ngôn ngữ nghiêm hàn ấy có sự trì ngự huyền hỏa bão giông và tại trung tâm huyền hỏa bão giông đó có cõi viên dung thanh tịnh” [6,tr.24]. Thử nghiệm hai câu trong bài “Chào Nguyên xuân” của ông:
Xin chào nhau giữa con đường
Mùa Xuân phía trước miên trường phía sau.
Hai câu thơ lâu nay vẫn được xem là tuyệt bút, bởi đứng trước nó người đọc được dẫn vào một cõi miền đầy bãng lãng. Ta thấy cái vẫy tay lấp lánh niềm hân hoan của thi nhân để dấn bước vào dòng chảy cuộc sống đang mời gọi. Nhưng, để định vị được tọa độ nào là điểm đứng của thi nhân quả thật vô cùng mờ ảo. Có thể hiểu mùa Xuân phía trước là tương lai và miên trường phía sau thuộc về quá khứ. Hay ngược lại, thời khắc mùa Xuân cuộc đời nhà thơ chỉ còn là quá khứ và tương lai phía trước chỉ là giấc miên trường – giấc ngủ dài.Câu thơ ảo diệu, uyên bác nhưng cứ tự nhiên, thơ thới tuôn chảy như không hề có dấu vết của bàn tay của người sáng tạo. Bằng cách đó, thế giới thơ ca Bùi Giáng mở ra phiêu bồng, bát ngát – cái thế giới của bóng vang.
Từ quan niệm về thơ, Bùi Giáng cũng manh nha suy nghĩ về cách đọc thơ và nâng lên thành cách đọc văn chương:
Ngữ ngôn khép kín mặc dầu
Hùng tâm tim máu óc đầu mở ra
Dịu dàng cuối lá đầu hoa
Mười về châu lệ chín sa dòng dòng
(Bé con ơi)
Cách đọc thơ theo ông là vừa là một sự tri âm: mở óc trong đầu ra, mở máu trong tim ra, phải có hùng tâm đừng nghi tâm, biết đau khắp tâm can: Mười về châu lệ chín sa dòng dòng, biết trân trọng nâng niu: Dịu dàng cuối lá đầu hoa. Nhà Đông phương học Nhật Bản Toshiko Izutsu có bàn về hai cấp độ đọc: “Ý thức cấp một là ý thức thông thường bằng thao tác, bằng cảm xúc bằng tri giác, bằng tư duy duy lý, chủ yếu nhận thức sự vật trong thời gian và ở bình diện hiện tượng luận.Ý thức cấp hai là chiều sâu của ý thức, nó có năng lực đọc được sự vật trong trạng thái “sự thống nhất nguyên thủy ở trạng thái tuyệt đối chưa phân hóa của chúngvà ở phía sau, phía bên kia của sự vật đã đa dạng hóa thành những hiện tượng”, nó đọc được “cơ sở văn bản phi hiện tượng, siêu hình và chưa đa dạng hóa của chúng”(3) Cách mà Bùi Giáng khuyên người đọc đến với văn bản ở đây thuộc về trường hợp thứ hai, đến bằng vô thức và ý thức. Khi đó tiếp nhận văn học như một hoạt động đối thoại “muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể làm một bài khác”. Thông qua sự va chạm với vô thức và ý thức tác giả thể hiện nơi văn bản, người đọc nắm bắt được những lóe sáng của trực giác, cảm thức về ý nghĩa văn bản. Đó là: văn bản khác trong sự chiếm lĩnh của người đọc, có giá trị thanh lọc tinh thần, tâm hồn.
Không thể có lối chiếm đoạt hoàn toàn văn bản một cách chủ định như lối nghĩ truyền thống khi đến với tác phẩm văn chương,ông nói: “Đi vào cõi thơ. Thế nghiã là? Có một cõi và một cuộc đi, cuộc đi có nhiều thể thái. Có thể theo lối chu du của ông Khổng Tử.
Có thể đi theo lối ngồi yên không rục rịch suốt bao diên trường tuế nguyệt dưới một gốc cây bồ đề theo lối Như Lai. Cũng có thể đi theo lối anh lùa bò vào đồi sim trái chín(4). “Đi như vậy dù sao thì dù, cũng là trong ý hướng mở cõi ra chơi. Không ai buộc ai phải theo ý của riêng độc đoán của ai… đã gọi là mở cõi thì chẳng nên khép miền. Nghĩa là …tránh cái lối bưng bít (…). Đó là điều kiện cần và đủ, không buộc ai phải đi qua miên bạc bình sinh.” [7, tr.482].
Vẫn bằng lối nói hình tượng, nhìn nhận trên của Bùi Giáng tỏ ra khá gần với lý luận văn học hiện đại và hậu hiện đại với những khám phá về yếu tố người đọc tích cực và văn bản văn học. Thông diễn học hiện đại với các quan điểm của M.Heidegger, G. H.Gadamer, Mỹ học tiếp nhận với các nhà lý luận W.Iser, H. Robert Jauss thừa tiếp thành tựu triết học về ngôn ngữ và triết học Hiện tượng học của chủ nghĩa hiện sinh đi đến hình thành lí thuyết tiếp nhận hiện đại. Các nhà lý luận hiện đại, hậu hiện đại quan niệm tác phẩm văn học như là quá trình(5), luôn chờ đón người đọc đến đối thoại để hiện thể chính nó. Người đọc ở mỗi trường hợp đến với tác phẩm là thực hiện một cuộc giao tiếp giữa toàn thể cái thế giới vô thức và ý thức của bản thân với văn bản, nơi hiện thể toàn bộ cái vô thức và ý thức của tác giả. Mỗi người đọc có một trình độ tiếp nhận nhất định, trường phái Mỹ học tiếp nhận Konstanz(6) gọi là tầm đón nhận. Ở mỗi thời đại khác nhau, người đọc có những quan điểm, thiên kiến khác nhau.Vì vậy quá trình tiếp nhận tác phẩm ở mỗi người đọc cũng khác nhau.Như thế, kết quả giải mã và hiển thị giá trị của tác phẩm trong lịch sử tiếp nhận trên trục thời gian đồng đại và lịch đại mới làm nên giá trị thực tại của nó.
Đối sánh với quan điểm của lý luận văn học hiện đại phương Tây về hai trong các yếu tố then chốt của hệ thống văn học, dễ nhận thấy quan niệm văn học của Bùi Giáng có những điểm rất mới mẻ, độc đáo đồng thời gần gũi và thích hợp về các yếu tố cơ bản của văn học (Nhà văn- Tác phẩm -Người đọc) với lý luận văn học thế giới đương đại. Ông cho rằng tiếp nhận tác phẩm văn học là hoạt động chủ động của mỗi người đọc (cuộc đi có nhiều thể thái). Mỗi người đọc khác nhau (có thể hiểu là: khác tầm hiểu biết về thể loại, hình thức, ngôn ngữ của tác phẩm, sở thích, sở trường, kinh nghiệm…) sẽ có cách và sự chiếm lĩnh khác nhau đối với tác phẩm. Theo đó, tác phẩm văn học (cõi thơ) được nhìn nhận như là một hệ thống mở (không bưng bít, khép miền), chứa đầy ẩn số. Nó kích thích sự đào sâu suy nghĩ, cảm nhận, tìm cách giải mã, lấp đầy chỗ “bất khả giải” tức thời của tác phẩm (thơ ca) và nó kéo dài ra đến vô hạn tùy theo sự nội cảm, trạng thái nhận thức và trình độ của chủ thể tiếp nhận. Người đọc ở những tầng bậc thẩm mỹ khác nhau sẽ lĩnh giải tác phẩm ở những điểm khả thủ khác nhau.
Lâu nay, đứng trước thế giới thi ca Bùi Giáng, người ta vẫn thường có tâm thế “kính nhi viễn chi”,cảm thấy như đứng trước một thế giới thơ ca luôn ở thế tràn bờ, không biên giới; thế giới được xây cất bởi thứ ngôn ngữ đầy khả biến như đời sống,chẳng hạn: Thử một lần đối diện thơ Bùi Giáng (Trương Vũ Thiên An), Một thử nghiệm đọc thơ Bùi Giáng (Khế Iêm), hoặc một sự ghi nhận khoáng đạt: Cuộc hòa giải vô tận: trường hợp Bùi Giáng (Nguyễn Hưng Quốc),…có lẽ điều đó xuất phát từ hiệu ứng của quan niệm thơ, cách làm thơ như đã thấy ở ông. Bùi Giáng có một quá trình tiếp xúc với hệ thống tư tưởng triết học hiện sinh phương Tây mà nền tảng của nó là hiện tượng học Husserl; ông đặc biệt yêu thích tư tưởng triết học của M.Heidegger và hệ thống tư tưởng phương Đông xưa cổ…Sự tiếp thông suối nguồn tư tưởng đó có thể nói đã dẫn đạo cho những suy tư văn học sâu sắc nói trên. Đây có thể xem là những đóng góp không nhỏ và độc lập của Bùi Giáng trong lĩnh vực lý luận văn học dân tộc. Ông thường nói: “Chúng ta quen thói ngong ngóng chạy đuổi theo mọi thứ trào lưu chủ nghĩa, chúng ta tuyệt nhiên không còn giữ một chút tinh tế cỏn con nào để thể hội rằng lục bát Việt Nam là một cõi thi ca hoằng viễn nhất, kỳ ảo nhất của năm châu bốn biển ba sông bảy hồ và(….) Cái thói học đòi vá víu thông thái đã âm thầm giết chết máu me thân thể chúng ta.”(7) Bùi Giáng luôn muốn giữ sự tôn quý và đề cao bản lĩnh dân tộc.
“Vui thôi mà” là câu ông thường nói khi được hỏi về việc làm thơ. Nói như đại thi hào Nguyễn Du, sáng tạo Truyện Kiều cũng chỉ để Mua vui cũng được một vài trống canh. Song, như đã biết, Bùi Giáng đã có khoảng 60 tác phẩm ở các thể loại thơ, tạp văn, bàn luận về văn học và triết học; chuyển ngữ nhiều tác phẩm văn chương thế giới (bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Đức) sang Việt ngữ. Tất cả đều theo một thể điệu riêng biệt của ông. Riêng thơ, ông có trên ngàn bài. Văn nghiệp Bùi Giáng đồ sộ vô cùng. Một mặt, ông nghĩ về thơ như một cõi vô ngôn. Mặt khác, nói về chức năng của thi ca, Bùi Giáng cũng nhìn nhận một cách nhẹ nhàng, kín đáo: Thơ tôi làm là để tặng chuồn chuồn châu chấu.(8) Như vậy phải chăng với thơ, ông không đặt nặng vấn đề vị nghệ thuật hay vị nhân sinh của thi ca – văn học? Thực tế, người làm thơ muôn thuở đều khao khát được người đời chia sẻ, vì đó là mục đích tự thân để thơ ca được thành tựu. Và sứ điệp của thơ ca bao giờ cũng hướng đến một cứu cánh nào đó cho cuộc đời.
Khi cho rằng làm thơ để tặng chuồn châu chấu thiết nghĩ là Bùi Giáng cần ở con người một thái độ vô cầu, vô ưu trước thế giới thi ca ông. Buông mặc cho tâm tưởng tan chảy vào thế giới vi diệu đó, người đọc sẽ bắt gặp được nhiều ý vị, tìm thấy không phải là những điều vĩ đại thì ít nhất cũng là một thoáng chốc bình yên giữa cõi phù sinh, tìm được niềm vui nho nhỏ để yêu, sống. Bùi Giáng đã nói đến chức năng của thơ(văn học) như một nhịp cầu để đồng điệu, tri âm giữa người với người, là nơi con người được giải trí và bồi bổ nhựa sống.
2.2. Quan niệm về thi nhân
Bắt chước ông Khổng Tử
Con chim thì ta biết nó biết bay
Con cá thì ta biết nó lội
Thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ
Nhưng thơ là gì thì đó là điều ta không biết
( Sa Mạc Trường Ca )
Bùi Giáng quan niệm về thi nhân – thi sĩ giản dị, tự nhiên như bản mệnh đời sống vốn có: thi sĩ là người làm thơ. Bản thân ông sinh ra là để sống cho thơ và làm thơ. Nhiều thi sĩ xem ông là hóa thân của thi ca. Và cũng bằng một giọng điệu dị thường cố hữu, ông nhận định thêm về người làm thơ: Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ và chết đi giữa ly kỳ gay cấn(9). Vượt qua những định danh quen thuộc về sứ mệnh cao cả, lớn lao của người nghệ sĩ – chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, hay cách nhìn trên tinh thần lãng tử của các nhà Thơ mới: thi sĩ “là con chim đến từ núi lạ ngứa cổ hót chơi” (Xuân Diệu), “Thi sĩ không phải là người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, Là Yêu. Nó thoát Hiện tại. Nó xối trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói ra những điều vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý (Chế Lan Viên).
Với Bùi Giáng, người làm thơ trước hết là một con người đến với mảnh đất trần gian nhiều quyến rũ và gay cấn này để sống trọn, uống trọn những mật ngọt lẫn đắng cay của cuộc đời và bằng một tinh thần vô ưu,vô cầu:Tôi lớn lên giữa linh hồn cỏ mọc để cháy hết mình, tận quyết–chết – với thiên chức làm thơ của nó đến trọn đời. Cái chết ở đây được hiểu trên tinh thần của câu nói: Nếu người không chết trong cuộc tại thế thì người sẽ mất tích sau khi qua đời. Thi sĩ Bùi Giáng, kẻ đã chết trong cuộc tại thế này như chính thi sĩ nói: Tôi sống trong cơn dại cơn điên. Tôi làm thơ trong cơn điên cơn dại. Nghĩa là tôi chết hai ba lần trong trận sống đã đặt yêu cầu rất thiêng liêng, cao cả đối với con người mang hai tiếng: thi nhân. Nhà thơ Holderlin từng kì vọng và tôn xưng: Con người sống trên mặt đất này, như một thi sĩ. Thi sĩ là người vinh hạnh đại diện trên hết cho vẻ đẹp rực rỡ của loài hoa đất trên hành tinh xanh. Với Bùi thi sĩ, có thể nói ông là bảo chứng trọn vẹn cho chính định nghĩa đó. Và nói như nhà thơ Huy Tưởng: Ông là người… Tận hiến hết cả đời mình cho Duy-nhất Thơ-ca(10). Nguyễn Hữu Hồng Minh thì gọi Bùi Giáng là “Người Thơ” bởi: Thơ với cuộc đời tiên sinh như đã được quán luận, được thực hành như một Đạo.Đạo Thơ.[8,tr.432,433].
3. Qua hai tác phẩm lý luận chính: “Thi ca tư tưởng” và “Đi vào cõi thơ”, các quan điểm văn học của Bùi Giáng được nêu lên khá hệ thống, mang nhiều hạt nhân mới mẻ, hiện đại, có tính đột phá và độc lập trong quan niệm về thi ca (tác phẩm), về thi nhân (tác giả), về cách tiếp nhận tác phẩm văn chương (cách đọc), về ngôn ngữ thơ so với quan niêm văn học truyền thống; có những gợi mở đáng chú ý về người đọc và tác phẩm gầngũi với quan niệm của các nhà lý luận văn học thế giới đương đại(11). Đi qua bao vùng trời tư tưởng Đông-Tây, kim-cổ, với sự tham chiếu, soi rọi nhau giữa những tư tưởng triết – mỹ Đông Tây từ cổ điển đến hiện đại đó, Bùi Giáng đã tìm thấy được những điểm khả thủ về bản chất của thơ ca, nghệ thuật; thấy được bản chất sự sáng tạo và tiếp nhận văn học tương ứng với quan niệm thơ ca, nghệ thuật đó. Sự nghiệp sáng tạo thơ ca Bùi Giáng dựa trên nền tảng quan điểm văn học đích thực cũng đã thu được những thành tựu rực rỡ, góp phần đưa thi ca dân tộc bước vào lộ trình hiện đại hóa và nhập cuộc cùng thế giới trên cả bình diện lí luận và sáng tác. Hiện tại, từ hiệu năng của lí luận sáng tạo văn chương mới mẻ, thế giới thi ca Bùi Giáng đã trở thành một hệ thống mở đã, đang được cộng thông và lan tỏa nhiều trong đời sống Việt trong nước(12)và ngoài nước và vẫn còn sức vẫy gọi những người đọc đồng sáng tạo ở phía trước.
1. Chữ dùng của nhà nghiên cứu triết học, dịch giả Bùi Văn Sơn Nam.
2. Vị trí dẫn đầu về kiểu nhà thơ “kì dị” nửa
đầu thế kỉ XX được Chế Lan Viên ghi nhận thuộc về thi sĩ Hàn Mặc Tử.
3. Dẫn theo Hoàng Ngọc Hiến, Lời giới thiệu Minhtriết phương Đông và triết học phương Tây,NXB Đà Nẵng,tr49.
4. Tên một bài thơ trong tập Mưa Nguồn của Bùi Giáng.
5. Tên một tác phẩm lí luận văn học của GS- TS Trương Đăng Dung.
6. Trường phái lí luận văn học Konstanz (Đức) xuất hiện vào cuối những năm 60 đầu những năm 70 thế kỉ XX với đại diện: Hans Robert Jauss.
7. Đoàn Tử Huyến, tài liệu đã dẫn, tr 479;
8. Bùi Giáng, tài liệu đã dẫn, tr 34.
9. Dẫn theo Đoàn Vị Thượng,Thể thao & Văn hóa, Bùi Giáng: Người tiên lạc bước hồng trần, Thứ bảy, 30 Tháng 10 2010 09:00
10. Lời nhà thơ Huy Tưởng đọc trước mộ Bùi Giáng.
11. Bùi Giáng viết độc lập các tác phẩm Thi ca tư tưởng, Đi vào cõi thơ…vào thời điểm những năm của thập niên 60-70 thế kỉ XX, cùng thời điểm các trường phái lí luận Thông diễn học hiện đại, Mỹ học tiếp nhận ra đời ở châu Âu.
12. Hiện nay, thơ Bùi Giáng đang được quan tâm nghiên cứu rộng rãi, liên tục trong môi trường học thuật ở các trường đại học và trong đời sống.
Tài liệu tham khảo
[1] Đoàn Tử Huyến (2008), Bùi Giáng trong cõi người ta, Đi vào cõi thơ, NXB Lao động – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây.
[2] Bùi Giáng (1969),Thi ca tư tưởng, NXB Ca Dao, Sài Gòn.
[3],[6] Bùi Công Khanh (2005), Bùi Giáng trong tôi, NXB Văn Nghệ,T.p HCM.
[4] Hồ Thế Hà (2007), Những khoảnh khắc đồng hiện, Khoảng lặng của ngôn từ thơ hay tín hiệu của cái nhạt trong thi ca,NXB Văn học.
[5] Nhiều tác giả (1999),Tưởng Nhớ Thi Sĩ Bùi Giáng, NXB Trẻ.
[7] Đoàn Tử Huyến (2008), Bùi Giáng trong cõi người ta, Bùi giáng – hồn thơ bị vây khổn, NXB Lao động – Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.
[8] Đoàn Tử Huyến (2008), Bùi Giáng trong cõi người ta, Bùi Giáng – “Người thơ” cuối cùng của thế kỉ 20, NXB Lao động – Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.
Hôm nay thấy cộng đồng mạng, đặc biệt là những bạn đồng nghiệp bày tỏ sự bất bình đối với hình thức kỷ luật những cán bộ liên quan đến tội ác thủ thiêm, đặc biệt là hình thức “phê bình ” ông Tất Thành Cang, lão nông xin đăng lại bút ký Đất Thủ Thiêm để góp phần làm rõ sự tương phản giữa nỗi đau hàng chục năm của bà con nơi đây và hình thức xử lý những kẻ đã làm nên tội ác. Có thể nói, đây là một bút ký dài nhất, được thực hiện kỳ công nhất trong cuộc đời cầm bút của lão nông, và không ít lần phải rơi nước mắt trên bàn phím.
Võ Đắc Danh
*
Nhố nhăng
Suốt bao nhiêu tháng, họp hành chán chê, cuối cùng Thành ủy TP.HCM (thông qua Ủy ban Kiểm tra) ra được cái kết luận nhẹ hều phê bình Tất Thành Cang.
Mà chối tỉ bỏ mẹ, trong kết luận chỉ ghi “Ông Tất Thành Cang – Thành ủy viên, Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo công trình lịch sử TP.HCM, nguyên Giám đốc Sở Giao thông vận tải”. Tay Cang này vi phạm nghiêm trọng cả khi nó là Phó bí thư thường trực Thành ủy, sao lại cố tình lờ đi, giấu ém đi cái chức vụ quan trọng ấy? Nói thẳng, qua vụ này, tôi càng coi ông bí thư Nhân chả ra gì, chỉ làm trò, đánh bóng là giỏi, không có tí bản lĩnh, thực chất cách mạng nào. Tôi hỏi ông, bênh cho thằng Cang, dây dưa xử lý nó, ông có được nó trả cho thùng trái cây nào không mà nhố nhăng thế.
Lại còn mấy ông trung ương lúc nào cũng đốt lò tôn không có vùng cấm nữa, các ông để sứ quân nó tự tung tự tác coi thường kỷ cương phép nước như vậy mà im, hay im lặng là… vàng hở.
Theo Ban Thường vụ Thành ủy thành phố HCM, ông Tất Thành Cang có khuyết điểm, vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật, nhưng do đến nay đã hết thời hiệu xử lý kỷ luật đảng nên Ban chấp hành Đảng bộ thành phố thống nhất kết luận hình thức… phê bình.
Ông Tất Thành Cang, Thành ủy viên, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Công trình Lịch sử TP.HCM, nguyên Giám đốc Sở GTVT.
Các chức cựu Ủy viên Trung ương Đảng khoá XII; Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh của Cang đã làm cho Cang vi phạm kỷ luật không thấy ghi ở đâu?
Sự khốn nạn với Nước, với Dân có thể hết thời hiệu với đảng nhưng với Dân thì không
Không!
Cho nên các cụ từ xửa xưa đã dặn:
Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.
Tất Thành Cang cùng bè lũ của Cang gây ra bao khốn cùng cho Dân Thủ Thiêm, gây thất thoát mấy chục ngàn tỷ của Dân, đảng bảo “hết thời hiệu kỉ luật ” nên chỉ … phê bình.
Kiểu như học trò đi muộn cô giáo phê bình, nhắc nhở: lần sau em đừng đi muộn nữa nhé!
Nhưng Dân coi đó là tội ác.
Đảng phủi phủi bụi, vuốt má… có đau bằng Dân chửi không?
Tôi đã bỏ ra một thời gian để sưu tầm tài liệu liên quan đến lịch sử vùng đất Thủ Thiêm, nhưng hầu như không tìm thấy tư liệu nào để có thể gọi là “bề dầy lịch sử” của vùng đất nầy ngoài một vài trận chiến thời kỳ nhà Nguyễn cùng với những cuộc di dân cũng từa tựa như những cuộc di dân trên vùng đất phương Nam. Song, điều đáng ngạc nhiên mà chưa thấy nhà nghiên cứu nào lý giải rằng vì sao chỉ cách trung tâm Sài Gòn có vài ba trăm mét bởi một con sông mà Sài Gòn – ngay từ khi chiếm được Nam kỳ, người Pháp đã muốn biến Sài Gòn thành Hòn Ngọc Viễn Đông để cạnh tranh với các nước thuộc địa của Anh trong khu vực. Những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, dọc theo bờ sông Sài Gòn, cùng với thương cảng Bến Nghé, Bạch Đằng, hàng loạt công trình nguy nga đã được mọc lên trên đường Catinat (Đồng Khởi), Kênh Lớn (Nguyễn Huệ), Kênh Xáng (Hàm Nghi)… rồi đến nhà thờ Đức Bà, nhà hát Lớn, chợ Bến Thành… Sài Gòn đã trở thành thủ phủ của Đông Dương. Nhưng bên kia sông, cách Sài Gòn chỉ vài ba trăm mét, Thủ Thiêm như một vùng đất bị lãng quên.
Hai mươi năm với hai nền Đệ Nhị Cộng Hòa, Sài Gòn đã trở thành Hòn Ngọc Viễn Đông thì bên kia sông Sài Gòn, Thủ Thiêm vẫn như một vùng đất bị lãng quên. Sau năm 1975, gần một phần ba thế kỷ, Sài Gòn phát triển khá rầm rộ với những khu đô thị mới mọc lên ở ngoại thành, những tòa nhà cao tầng mọc lên ở ven sông Sài Gòn, nhưng phía bên kia sông, Thủ Thiêm vẫn như một vùng đất bị lãng quên.
Có thể nói, trong lịch sử ba trăm năm hình thành và phát triển Sài Gòn, Thủ Thiêm như bị chìm trong giấc ngủ ba trăm năm. Rồi bỗng một ngày, Thủ Thiêm thức dậy, vội vã khoác lên mình chiếc áo đô thị mới còn dở dang trong tiếng khóc than, rên rỉ xé lòng của người dân mất nhà mất đất… Và, chiếc áo ấy sẽ còn dở dang, nham nhở cho đến bao giờ?
Tôi nhớ cách đây gần hai mươi năm, một cô bạn đồng nghiệp kể chuyện vừa đi chơi Thủ Thiêm mới về, tôi ngồi nghe mà cứ hình dung như cô đang kể về một vùng đất xa xôi nào đó ở miền tây nam bộ, rằng cô thuê một chiếc xuồng chèo đi len lỏi trong những con rạch hoang vu, mênh mông dừa nước, mắm, bần, cóc kèn, ô rô, cỏ lác, có cả những đám lúa ma, cô gặp nhưng người dân đi săn chuột đồng, cắm câu, giăng lưới, đặt lờ đặt lọp, làm ruộng, nấu rượu, nuôi heo… Rồi cô kết luận: Cách trung tâm Sài Gòn chỉ một dòng sông mà Thủ Thiêm giống như một miền cổ tích.
Nhà văn Sơn Nam được xem là Nhà Nam Bộ Học, nhưng trong cuốn sách Bến Nghé Xưa dầy 240 trang, ông chỉ dành cho Thủ Thiêm mấy dòng ngắn gọn: “Bên kia sông, chợ Thủ Thiêm ở làng An Lợi (thành lập chánh thức vào năm 1751), sau tách ra thêm làng An Lợi Đông, phía lưng giáp với Giồng Ông Tố chuyên ruộng nương và vườn tược, muốn qua Sài Gòn phải nhờ “con đò Thủ Thiêm”.
Có lẽ vì sự ngủ yên của Thủ Thiêm không có gì cần thiết để ông nghiên cứu chăng? Nhưng tôi chú ý cụm từ “con đò Thủ Thiêm” mà nhà văn Sơn Nam dùng co chữ nghiêng và đặt trong ngoặc kép.
Ầu ơ… Bao giờ Chợ Quán hết vôi
Thủ Thiêm hết giặc em thôi đưa đò
Bắp non mà nướng lửa lò
Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm.
Nói là nói vậy, nhưng “con đò Thủ Thiêm” vẫn tồn tại đến hơn ba mươi năm kể từ ngày “Thủ Thiêm hết giặc”.
Cụm từ “con đò Thủ Thiêm” như là một thuật ngữ, một hình ảnh, một dấu ấn văn hóa mang tính đặc trưng của một vùng đất. Chưa có tài liệu nào cho biết “con đò Thủ Thiêm” ra đời vào thời điểm nào, cũng có thể là vài trăm năm, trước khi có chợ Thủ Thiêm (1751), nghĩa là khi những cư dân đầu tiên trên vùng đất nầy có nhu cầu đi lại giữa hai bờ sông. Ngay cả cái bến đò Thủ Thiêm, người ta chỉ xác định được thời gian qua một dấu chấm trên tấm bảng đồ Environs de Saigon do chính quyền Nam kỳ vẽ vào năm 1911 để căn cứ vào đó như cái mốc lịch sử của bến đò.
Một tài liệu nghiên cứu tổng hợp về Thủ Thiêm cho biết, trước năm 1975, bến đò Cây Bàng có 127 chiếc đò, bến đò An Lợi Đông có hơn 60 chiếc, bao gồm đò dọc, đò ngang, đò chèo, đò máy. Chúng ta chưa có số liệu để so sánh rằng có bến sông nào trên đất nước nầy mà số lượng đò nhiều như Thủ Thiêm chăng?
Lịch sử thăng trầm của một bến đò qua bao thế kỷ, bao nhiêu thế hệ đưa đò, bao nhiêu thế hệ khách sang sông, bao nhiêu đời người mỗi ngày qua lại, bao nhiêu xác con đò đã qua đời, vùi lấp dưới đáy sông…!
* Nhà thơ Nguyễn Trọng Tín với bút ký Đi Chơi Thủ Thiêm đăng trên báo Người Lao Động Cuối Tuần phát hành ngày 16 tháng 11 năm 2001, kể rằng, anh đến Thủ Thiêm lần nầy là lần thứ hai, lần thứ nhất vào đầu thập niên 80, lúc bấy giờ “con đường Lương Định Của còn là con đường độc đạo chạy một mạch lên ngã ba Cát Lái, không con đường nào cắt ngang, với đất đỏ và ngổn ngang ổ gà, xe đạp phải men theo lề đường. Hai bên đường trống trơn toàn đất bãi với bần, đế, cỏ lác…”.
Đất Thủ Thiêm vào những năm nầy người ta sang nhượng cho nhau với đơn vị tính là công và mẫu, nhưng đến những năm cuối thế kỷ 20 bước qua đầu thế kỷ 21, khi dư luận râm ran về đại lộ Đông – Tây và đường hầm Thủ Thiêm thì đơn vị tính của đất chuyển từ công, từ mẫu sang mét vuông, và theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Trọng Tín thì lúc bấy giờ, tức thời điểm năm 2001, đất trên đường Lương Định Của đã lên đến ba triệu đồng một mét vuông.
Cách nay chưa lâu, khi câu chuyện về Đất Thủ Thiêm bùng nổ trên báo chí và mạng xã hội, đầy rẫy những hình ảnh với âm thanh gào khóc của những người dân mất đất, tôi đem câu chuyện về giấc ngủ ba trăm năm của Thủ Thiêm ra trao đổi với một người bạn, anh nầy vốn là cử nhân Phật học, một nhà phong thủy có uy tín, sau khi tốt nghiệp ở học viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam, anh không đi tu mà ra làm kinh doanh ngành in và nghiên cứu về phong thủy, anh ngồi trầm ngâm nghe tôi kể về giấc ngủ của Thủ Thiêm bên cạnh ba trăm năm hình thành và phát triển của Sài Gòn, anh kết luận một câu ngắn gọn: Vậy là đất Thủ Thiêm chắc chắn có vấn đề về phong thủy.
Thật tình, tôi không rành và cũng không quan tâm tới vấn đề phong thủy, chỉ luôn đặt câu hỏi trong đầu vì sao cách Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông chỉ một con sông 300 mét mà Thủ Thiêm vẫn chìm trong giấc ngủ ba trăm năm? Câu hỏi ấy đã thúc bách tôi lao vào tra cứu, tìm kiếm những tài liệu liên quan đến Thủ Thiêm, nhưng cuối cùng, đến giờ nầy vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng. Trong những ngày lang thang qua Thủ Thiêm, tiếp cận với những người dân kêu cứu vì mất đất, đầu óc tôi càng căn thẳng, cứ lảm nhảm như một thằng điên, gặp ai, ngồi với ai cũng kể chuyện Thủ Thiêm như nỗi oan ức của chính mình. Một hôm, thằng em tôi nói: Hồi xưa, ông Nguyễn Tấn Đời có một dự án về Thủ Thiêm nhưng không thành. Tôi hỏi tài liệu đó ở đâu? Nó nói tôi quên rồi. Gần suốt một đêm, theo đường dẫn của Google, tôi đọc gần hết những câu chuyện về Nguyễn Tấn Đời nhưng không hề tìm thấy cái dự án của ông về Thủ Thiêm, buộc lòng sáng hôm sau tôi phải nhờ “500 anh em trên facebook”. Và như một cơ duyên, chị Mai Lan, cựu phóng viên báo SGGP nhắn tin bảo tôi qua nhà chị lấy cuốn Hồi Ký Nguyễn Tấn Đời.
Có lẽ trong chúng ta, không ít người biết về cuộc đời và sự nghiệp của tỷ phú Nguyễn Tấn Đời. Ông xuất thân từ một gia đình địa chủ ở Long Xuyên, nhưng khi được giao cho cai quản điền địa, ông đã đứng về phía tá điền để chống lại cha mình và bỏ nhà đi theo Việt Minh. Rồi vì một chuyện bất đồng với người chỉ huy, ông bỏ ngũ. Năm 1945, toàn bộ ruộng đất và tài sản của gia đình ông bị Cách mạng tịch thu, bản thân ông bị kết án tử hình vì tội đào ngũ. Ông bỏ trốn lên Sài Gòn với hai bàn tay trắng. Từ cuộc mưu sinh bằng công việc làm môi giới vật liệu xây dựng, ông trở thành chủ hãng gạch bông Đời Tân, vua cao ốc và trùm Ngân hàng Tín nghĩa. Nhưng rồi không hiểu vì sao, ông bị Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tổ chức ám sát hụt chết hai lần rồi bị bắt giam, tịch thu gia sản cùng với cả hệ thống Tín nghĩa Ngân hàng. Năm 1975, ông vượt biên sang Canada với hai bàn tay trắng. Ở đây, ông bắt đầu gầy dựng lại cơ nghiệp và lại thành công với chuỗi nhà hàng Kobe từ Canada sang Bắc Mỹ. Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 1995 tại Orlando, bang Florida, Hoa Kỳ, thọ 73 tuổi. Cuốn hồi ký ông xuất bản cũng tại Florida vào năm 1988, dầy 310 trang, trong đó ông dành hơn 5 trang để kể tóm tắt về dự án Mỗi Người Dân Một Mái Nhà như sau:
“Sau khi thành công trên đường sự nghiệp, một ngày đẹp trời nọ, tôi đứng trên cao ốc, tầng 12 của Président Hotel 727 đường Trần Hưng Đạo Saigon. Nhìn quanh tứ phía, tôi thấy nhà cửa dân nghèo ở Thủ đô được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông hay Saigon Hoa Lệ, người dân đang sống trong các chòi ọp ẹp, sình lầy, tối tăm, bẩn thỉu… Tôi chạnh lòng nhớ đến những tá điền quen thuộc xưa kia, họ mộc mạc, hiền lương, đầy tình người và thật thà, giản dị… Cũng tự nghĩ, dù tôi có làm giàu đến đâu đi nữa, chỉ được tiếng giàu có như “Thạch Sùng”, cũng chỉ ngày ba bữa ăn mà thôi, rồi khi chết, chỉ còn hai bàn tay trắng với một nấm mồ ở lòng đất lạnh. Nay tôi đã giàu có rồi, dư ăn dư để, thử hỏi tại sao tôi phải tiếp tục làm giàu thêm để sống một nếp sống ích kỷ, không nghĩ đến kẻ bất hạnh nghèo khó, chân lấm tay bùn, họ chỉ vì an ninh mà bỏ nơi chôn nhau cắt rún, bỏ ruộng vườn, nhà cửa cũng vì chiến tranh, họ tìm nơi lánh nạn, nên đã chịu chui rúc như ổ chuột. Vậy tôi phải làm gì, trước để giúp người dân, sau để lòng mình được an vui thanh thản, còn để lại tiếng tốt cho mai sau, hơn là cứ dấn thân vào tiền tiền, bạc bạc mãi. Đắn đo suy nghĩ mãi, rồi cũng tìm ra được một chương trình “Mỗi Người Dân Một Mái Nhà” mà không tốn tiền công quỹ quốc gia”.
Theo Nguyễn Tấn Đời, chương trình “Mỗi Người Dân Một Mái Nhà” của ông được phác thảo với nhiều dự án trải dài từ các quận ngoại thành đến vùng ven đô thị của các tỉnh miền Nam. Giải pháp ông đưa ra là mua đất của dân theo giá cả hiện hành, quy hoạch thành các trung tâm thương mại và khu đô thị sang trọng, bao gồm những khu nhà song lập, biệt lập và nhà liên kế để kinh doanh, tạo ra nguồn quỹ để xây những khu nhà bình dân cấp không cho người nghèo.
Nguyễn Tấn Đời chọn Thủ Thiêm để thiết lập dự án đầu tiên cho chương trình Mỗi Người Dân Một Mái Nhà. Theo dự án nầy, ông sẽ mua 500 mẫu đất từ bến đò Thủ Thiêm lên Cát Lái. Ngay chỗ bến đò Thủ Thiêm, ông sẽ cho xáng múc con kinh chiều ngang 30 mét, sâu 25 mét, dài 500 mét ăn sâu vô đất liền. Ở đoạn cuối con kinh, ông cho làm cái hồ nhân tạo, ngang 500 mét, dài 1.000 mét, sâu 15 mét, dùng xáng thổi đất lên bốn phía bờ hồ để san lấp mặt bằng. Xung quanh bờ hồ và dọc theo hai bờ kinh, ông xây dựng thành khu thương mại, đồng thời, xây dựng những khu nhà biệt lập, song lập để kinh doanh, tạo nguồn quỹ để xây dựng những khu nhà bình dân lân cận, cấp không cho người nghèo. Trong khu nhà bình dân sẽ có đầy đủ hạ tầng kỹ thuật, đường xá, điện nước, cây xanh, đầy đủ tiện nghi phục vụ cho đời sống. Theo ông, Thủ Thiêm sẽ là một Saigon mới, một Hongkong thứ hai, có bến phà lớn, có xe bus qua lại liên tục cho người dân đi về với Saigon, Chợ Lớn để mưu sinh, có bến tàu thương mại để vận chuyển hàng hóa từ các tỉnh và ngược lại. Khu thương mại chung quanh bờ hồ và hai bên bờ kinh được ăn thông với sông Saigon để ghe thương hồ mang hàng hóa trực tiếp đến người tiêu thụ, giảm bớt trung gian. Hồ nhân tạo ngoài vai trò cảnh quan và giao thương còn là nơi sinh hoạt lễ hội với các hoạt động văn hóa tượng trưng cho miền sông nước. Trên các đường phố, mỗi lề đường sẽ được trồng một loài cây riêng biệt và giao cho từng gia đình chăm sóc, hàng năm tổ chức cuộc thi cây đẹp trong từng khu phố và cây đẹp trong toàn vùng để trao giải thưởng để khuyến khích người dân tham gia làm nên vẻ đẹp của thành phố.
Soạn thảo chương trình xong, Nguyễn Tấn Đời trình với phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, được ông Thơ góp ý, chỉnh sửa rồi trình lên Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông Diệm cho mời ông Đời vào dinh, tỏ ý hoan nghinh. Chỉ một tháng sau, chương trình Mỗi Người Dân Một Mái Nhà của Nguyễn Tấn Đời đã được ông Diệm phê duyệt trên nguyên tắc. Theo đó, ông Diệm quyết định xuất 500 triệu từ quỹ xổ số kiến thiết cho Nguyễn Tất Đời vay không lãi trong mười năm, với điều kiện ông Đời phải đem toàn bộ tài sản ra thế chấp cho Chính phủ; giao cho Nguyễn Tấn Đời được toàn quyền điều hành dự án dưới sự giám sát về kỹ thuật của Bộ Công Chánh và giám sát nguồn thu và nguồn chi của Bộ Tài Chánh. Nhưng tiếc thay, dự án Thủ Thiêm chưa kịp triển khai thì Tổng thống Ngô Đình Diệm bị đảo chánh.
Từ năm 1965 đến năm 1972, chính phủ đệ nhị Cộng hòa cũng đã hai lần thuê các chuyên gia nước ngoài lập đồ án quy hoạch khu đô thị Thủ Thiêm nhưng không thành. Nhiều người cho rằng do hoàn cảnh chiến tranh. Nhưng theo bạn tôi thì đất Thủ Thiêm có vấn đề về phong thủy.
II: CÚ LỪA NGOẠN MỤC
Tháng Năm năm 2018, trong những ngày Thủ Thiêm trào nước mắt với tiếng kêu khóc thảm thiết của những người dân bị cướp nhà cướp đất dậy sóng trên mạng xã hội, bất chợt người ta thấy trên Facebook của chị Mai Xuân Phượng có một stt ngắn với những lời “Xin lỗi nhân dân, tôi ngàn lần xin lỗi nhân dân… với trách nhiệm là chủ tịch phường An Khánh, tôi đã thuyết phục bà con chấp hành giao đất, hy sinh lợi ích riêng tư rời xa nơi chôn nhau cắt rốn, nơi gắn bó từ thời thơ ấu đến tuổi xế chiều để nhường chỗ cho việc hình thành khu đô thị mới Thủ Thiêm. Tôi ngàn lần xin lỗi bà con vì tôi đã tin tưởng tuyệt đối cấp trên sẽ đưa dân mình vào tái định cư tại chỗ theo quy hoạch, để cuối cùng tôi cũng cùng chung số phận với bà con, ra đi rồi không có chỗ để quay về. Xin bà con hãy tha thứ cho tôi – Mai Xuân Phượng, nguyên phó bí thư, chủ tịch phường An Khánh”. Và rồi chỉ trong phút chốc, những lời xin lỗi ấy bỗng biến mất đi.
Cảm giác có cái gì đó bí ẩn ở người phụ nữ nầy, chúng tôi tìm đến chị ở phường Thạnh Mỹ Lợi, cách Thủ Thiêm hơn mười cây số.
Chị Phượng kể, gia đình chị ba đời sống ở Thủ Thiêm, tính ra đã hơn một trăm năm, từ khi nơi đây còn là vùng đất hoang vu. Cha chị, ông Mai Văn Năm đã từng làm phó chủ tịch xã An Khánh, mẹ chị, bà Nguyễn Thị Bông, từng là “Việt cộng nằm vùng”, từng vào tù ra khám và đã qua đời. Chị Phượng đi Thanh niên xung phong từ năm 1976, tham gia tải đạn ở chiến trường biên giới Tây Nam. Sau một trận sốt rét rừng bán sống bán chết, chị được giải ngũ, đi học văn hóa, chính trị rồi về An Khánh làm chủ tịch phường từ năm 1997 đến giữa năm 2004. Cũng trong những năm ấy, Thủ Thiêm được Chính phủ phê duyệt quy hoạch thành khu đô thị mới. Nhìn vào bản đồ quy hoạch, người ta hình dung một Thủ Thiêm nguy nga, tráng lệ như Phố Đông của Thượng Hải, như Manhattan của New York, một trung tâm thương mại, tài chính, văn hóa mang tầm quốc tế, một khu đô thị sinh thái đậm chất Nam Bộ với những dòng sông, ao hồ, kinh rạch ngoằn ngoèo, những làng biệt thự, những tòa nhà chọc trời từ 32 đến 40 tầng soi bóng nước. Nhưng theo chị Phượng, niềm vui lớn nhất của chị là 14 ngàn 600 hộ dân với 60 ngàn cư dân trong vùng dự án sẽ được táo định cư tại chỗ trên diện tích 160 héc ta theo quy hoạch. Nghĩa là họ sẽ thoát khỏi cảnh bùn lầy, ao tù nước đọng, nhà cửa nhếch nhác, âm u, muỗi mòng, rắn rết để tận hưởng đời sống của một khu đô thị Thủ Thiêm mang tầm quốc tế. Từng ngày, từng ngày đi tuyên truyền, vận động bà con trong phường giao đất, chị đã nói như thế. Và, bà con đã hăm hở giao đất cho nhà nước để ra đi về nơi tạm cư với một niềm tin như thế, một niềm tin đổi đời cho ngày trở lại với một Thủ Thiêm như một thiên đường.
Năm ấy, ông Mai Văn Năm, ba chị Phượng đã tám mươi hai tuổi. Chị Phượng còn nhớ như in, ngày dọn nhà ra đi, ba chị quảy cái túi trên vai, tay cầm cái bình thủy đứng trước sân, nhìn lại ngôi nhà, nhìn lại khu vườn mà rưng rưng nước mắt, ông nói hơn tám mươi năm ba đã gắn bó với nơi nầy, biết bao nhiêu kỷ niệm buồn vui của một đời người… nhưng mà thôi… mình ra đi là để trở về với một Thủ Thiêm đàng hoàng hơn, văn minh hơn… Nghĩ thế mà ông Năm vừa cười vừa lau nước mắt.
Nhưng sau đó không lâu, ông Năm lâm bệnh và qua đời ở nơi tạm cư. Chị Phượng nói… cũng may phước cho ba tôi là ông mang xuống mồ một viễn cảnh huy hoàng của Thủ Thiêm trong tương lai con cháu, cũng may phước là ông không phải chứng kiến cái cảnh ta thán nhân tình của Thủ Thiêm suốt gần hai chục năm qua, khi mà sau đó hơn mười bốn ngàn hộ dân với hơn sáu vạn con người bị sa vào một cú lừa ngoạn mục, nghĩa là 160 héc ta đất tái định cư của dân bị cướp trên tay để biến thành đất kinh doanh của những đại gia bất động sản. Họ ra đi rồi không có đường quay lại như lời hứa ban đầu. Mỗi gia đình nhận một ít tiền hỗ trợ để mua đất tái định cư tận trên Cát Lái, Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi và Nam Rạch Chiếc, cách xa nơi chôn nhau cắt rún của họ hơn mười cây số.
Dân Cát Lái, Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi, Nam Rạch Chiếc lại bị người ta nhân danh “thu hồi đất để tái định cư cho dự án Thủ Thiêm”, phải chịu lây mất đất. Nhưng lòng tham không dừng lại, dự án tái định cư cho Thủ Thiêm ở Nam Cát Lái, người dân ở đây bị thu hồi 90 héc ta, nhưng người ta lại bán cho tập đoàn Novalan 30 héc ta để xây làng biệt thự và tập đoàn Đất Xanh 30 héc ta để xây khu resort.
Chị Phượng vừa hỗ thẹn với bà con, vừa xót đau cho thân phận của mình bởi chính chị cũng nằm trong hàng vạn con người bị một cú lừa ngoạn mục.
III: TA THÁN NHÂN TÌNH
Các-Mác từng nói: Khi lợi nhuận tăng lên 100 phần trăm thì cha nó nó cũng giết. Điều đó cũng có thể hiểu rằng, vì sao người ta bất chấp tình đồng loại, bất chấp đạo lý, bất chấp nghĩa nhân và luật pháp để đuổi hàng vạn người dân cố cựu ra khỏi Thủ Thiêm – vốn là nơi chôn nhau cắt rún của họ để nuốt trọn 160 héc ta đất tái định cư của dân mà Chính phủ đã phê duyệt. Không có gì khó hiểu khi bùn đen đã trở thành vàng, không có gì khó hiểu khi đất từ hai trăm ngàn đồng lên vài trăm triệu đồng trên mỗi mét vuông.
Trong những trang tiểu thuyết, những tuồng tích kiếm hiệp, thỉnh thoảng ta thấy xuất hiện những tay giang hồ hảo hớn chuyên cướp của người giàu để chia cho người nghèo. Ngay cả cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền Việt Minh cũng tịch thu đất đai của điền chủ để phân phát cho tá điền. Vậy thì tại sao ngày nay, người ta nhân danh chính quyền của dân, do dân, vì dân lại đi cướp đất của người dân khốn khổ để giao cho những đại gia bất động sản tiếp tục làm giàu? Điều nầy chỉ có những quan chức trong cuộc mới có thể tự lý giải với lương tâm (nếu có lương tâm) hoặc trả lời trước vành móng ngựa (nếu có thể lôi họ ra được vành móng ngựa).
Sau khi nuốt trọn 160 héc ta đất tái định cư của dân, người ta lại tiếp tục cướp luôn phần đất đai và cả sự sống của những hộ dân nằm ngoài khu quy hoạch. Nghĩa là họ không thể để cho người dân lân cận được “ăn theo” môi trường sang trọng của khu đô thị mới Thủ Thiêm.
Chúng tôi gặp cụ Lê Huy Tiêu, 83 tuổi chống gậy đi từng bước chậm với sự dìu dắt của người vợ là cụ bà Trần Thị Mỹ, 77 tuổi. Hầu như mỗi ngày hai ông bà đều tới quán cà phê số 16 Vũ Tông Phan của anh Bùi Quốc Toản để trò chuyện cùng với hàng chục dân oan Thủ Thiêm, những người cùng nỗi niềm mất đất. Anh Toản sau khi bị cướp đất cướp nhà, anh về đây thuê một căn phố để mở quán cà phê kiếm sống. Khách của anh hầu hết là những dân oan. Vốn là người học cao hiểu rộng, am tường về pháp luật, nên anh Toản tư vấn hồ sơ khiếu kiện giúp cho từng hộ gia đình. Mỗi người khách đến đây đều quảy trên lưng một ba lô chứa đựng hồ sơ. Có lẽ, đó là phần tài sản duy nhất, sự sống duy nhất của họ sau khi nhà cửa đất đai bị cướp. Riêng cô Trần Thị Mỹ thì bộ hồ sơ của cô đóng thành một tập dầy cộm, có cả những bức ảnh màu chụp nhiều hình ảnh của khu vườn và ngôi nhà bị cướp.
Cô Mỹ và chú Tiêu thuộc thế hệ đầu của trường đại học Bách khoa Hà Nội. Chú Tiêu từng du học ở Đức, ở Liên Xô, và từng làm chuyên gia cho Bỉ, cho Hà Lan rồi về nước làm việc ở Viện nghiên cứu khoa học của Bộ Thủy Lợi, cô Mỹ làm chuyên viên của Tổng Công ty Xây dựng số 4.
Cô Mỹ kể rằng, hồi xưa quê cô ở làng Vũ Đại, cha cô, ông Trần Đức Thùy, gia đình nghèo không ruộng đất phải đi cạo mủ cao su. Năm 18 tuổi, ông tha hương cầu thực vào Nam, rồi sang Campuchia làm công nhân cho một đồn điền cao su của Pháp. Cô Mỹ được sinh ra trên đất khách. Năm 1945, cha cô hồi hương, tham gia Việt Minh ở Sài Gòn. Năm 1958, cô Mỹ được đi tập kết ra Bắc. Năm 1978, cả hai vợ chồng cùng chuyển vào Nam. Đầu thập niên 1990, họ lần lượt về hưu và sống cùng con cháu trong căn hộ chung cư ở quận 5. Năm 2001, họ qua Thủ Thiêm mua 2120 mét vuông đất ruộng trên đường Lương Định Của rồi san lấp thành một khu vườn, trồng xoài, trồng mít, trồng mận, trồng nhãn, trồng hoa kiểng và nuôi mấy đàn ong. Năm 2005, khi vườn cây bắt đầu cho trái, cô chú vừa mới tìm được niềm vui sau những năm khai hoang nhọc nhằn vất vả, cứ tưởng bắt đầu từ đây sẽ được tận hưởng thành quả lao động trong niềm vui của tuổi xế chiều. Cứ nghĩ, biết rằng tuổi mình không còn vui thú điền viên được bao lâu nhưng ít ra cũng làm nên một gia sản để lại cho đời con đời cháu. Nhưng có ngờ đâu nhân tai ập đến, cô nhận được thông báo giải tỏa với mức đền bù theo giá đất nông nghiệp là 150.000 đồng một mét vuông, cộng với 50.000 đồng công san lấp, nghĩa là họ sẽ đền bù cho cô tổng cộng trên 400 triệu đồng, nghĩa là tổng cộng số tiền không bù nổi công san lấp (!).
Cô Mỹ bắt đầu đi kiện, cuộc khiếu kiện kéo dài đến năm 2012, họ nâng lên mức đền bù cho cô mỗi mét vuông là 920.000 đồng, cô vẫn không chấp nhận. Lúc bấy giờ, những hộ chung quanh xóm cô đều bị cướp nhà cướp đất được mệnh danh bằng cụm từ cưỡng chế giải tỏa thu hồi đất. Cô nghĩ, trước sau gì cũng tới phận mình, nhưng với lòng tự trọng của người trí thức, cô không muốn bị tổn thương khi người ta đem cobe, xe ủi, xe cứu thương, cứu hỏa cùng với hàng trăm nhân viên công lực bao vây lôi mình ra sân để chiếm đoạt nhà cửa đất đai, cô lên quận làm giấy tờ thỏa thuận rằng, cô tạm thời giao đất cho chính quyền và tạm nhận căn hộ chung cư để tiếp tục đi khiếu kiện, tất nhiên, cô không chấp nhận đồng tiền gọi là đền bù giải tỏa trên bốn tỷ đồng.
Vậy là từ ấy đến nay, mười bảy năm cô về sống Thủ Thiêm thì đã mất mười bốn năm đi kiện với hàng trăm lá đơn kêu cứu. Nhưng đất trời nào có thấu? Cô kiện thì cứ kiện, trên trang web của ban quản lý dự án người ta vẫn kêu gọi đầu tư vào khu đất của cô, và, trong các dự án giáp ranh với khu đất ấy, một mét vuông đã lên đến hơn 200 triệu đồng.
Tôi nhìn cô dìu chú Tiêu đi từng bước chậm mà không kềm được nỗi xót xa, cô chú sẽ còn tiếp tục đi kiện đến bao giờ, còn đủ sức và quỹ thời gian để đi kiện được bao lâu trong khi hai tấm thân già đã tới tuổi gần đất xa trời!
* Ông Nguyễn Phi Thường, 71 tuổi, nhưng trông dáng người lụm khụm, khắc khổ, trầm buồn, lúc nào cũng như đang khóc. Có lẽ vì chuyện bi kịch đất đai đã quá sức chịu đựng của ông.
Ông Thường sinh năm 1948 ở Ninh Bình, năm 22 tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ, vượt Trường Sơn vào Nam, tham gia những trận chiến bán sống bán chết ở Quảng Bình, Quảng Trị, Campuchia, mang trên người nhiều thương tích và chiến tích. Năm 1987, ông ra quân vì mất sức. Sau nhiều năm lang thang trong hẻm hóc ở Sài Gòn, đến năm 2001 ông cùng sáu anh em trong gia đình hợp sức, bán hết tài sản hùn lại sang Thủ Thiêm, thuộc phường Bình Khánh mua gần mười ngàn mét vuông đất ruộng chỗ cầu Cá Trê và giao cho ông Thường đứng tên cai quản. Thấy trồng lúa không khá nổi, ông xin chuyển sang đất thổ vườn, ông san lấp 400 mét vuông làm nhà ở, toàn bộ phần còn lại ông đào ao lên liếp, dưới nước nuôi cá, trên bờ trồng 400 cây xoài và tu dưỡng hơn 40 cây dừa của người chủ cũ. Những ao cá đã cho ông đủ cập nhật manh áo chén cơm, nhưng vườn xoài phải đợi chờ qua nhiều năm tháng. Nghĩ thế, ông Thường chuyển sang nghề kinh doanh cây kiểng, ông ươm trồng và mua bán các loại hoa. Cần cù và chịu khó, chỉ sau ba năm, vườn kiểng An Bình của ông Thường trở nên nổi tiếng ở Thủ Thiêm, ông trồng mai vừa bán vừa cho thuê trong dịp tết, ông nhận chăm sóc mai cho khách, ông trồng cau sâm banh cung cấp cho các biệt thự sân vườn… 400 cây xoài và gần 50 cây dừa cũng đã đơm bông kết trái.
Thế rồi đùng một cái, nhà chức trách tới báo cho ông biết rằng đất của ông nằm trong khu quy hoạch, phải thu hồi. Người ta đưa cho ông bảng chiết tính đền bù 150.000 đồng một mét vuông, hỗ trợ tái định cư 720.000 đồng một mét vuông, với điều kiện phải ra đi tự tìm chỗ tái định cư, nếu ông nhận căn hộ chung cư thì sẽ không nhận 720.000 đồng của mỗi mét vuông phần hỗ trợ. Tùy ông lựa chọn. Không cần lựa chọn, không cần nghĩ suy toan tính, ông Thường hiểu ngay rằng, với một vườn kiểng, vườn cây ăn trái, ao cá gần một héc ta đổi lấy một căn hộ chung cư thì chỉ có thằng điên mới chấp nhận. Nhưng nghịch lý thay, đây không phải là cuộc thỏa thuận mà là sự áp đặt của kẻ cầm quyền. Chấp nhận hay không là việc của ông, còn việc của chính quyền là cưỡng chế thu hồi đất bằng bạo lực.
Ngày 14 tháng 10 năm 2011, khoảng mười giờ sáng, sau khi cưỡng chế hai căn nhà bên cạnh, họ kéo tới trước nhà ông, hàng trăm nhân viên công lực được trang bị tận răng trong tư thế sẵn sáng chiến đấu, xe cuốc, xe ủi, xe cứu thương, xe cứu hỏa cùng một đoàn xe tải xếp hàng chờ lệnh. Biết mình không thể chống cự, ông Thường cùng vợ con, cháu nội cháu ngoại chị biết khóc lóc đứng nhìn. Sau khi nhà chức trách đọc xong lệnh cưỡng chế, xe ủi, xe cuốc xông vào san phẳng ngôi nhà, nhân viên công lực cầm cưa máy xông vào quật ngã vườn cây. Vườn mai hàng trăm cây của ông và của khách gởi ông chăm sóc, trị giá hàng tỷ đồng bị chúng nó khiêng từng chậu chất đầy tám chiếc xe tải, chở đi đâu ông không biết…
Câu chuyện xảy ra gần tròn bảy năm, giờ ông Thường kể lại vẫn trong trạng thái kinh hoàng, rưng rưng nước mắt. Ông cho tôi xem bức ảnh chụp vườn cau sâm banh bị chúng cưa đứt đọt, hàng trăm cây xếp hàng dọc hàng ngang, trông thê thảm như hàng trăm con người bị chém đứt đầu. Những bức ảnh chụp khu vườn xoài vườn kiểng hoa trái xum xuê cùng với những bức ảnh chụp khu vườn đổ nát, hoang tàng sau khi bị cướp. Ông Thường nói, nhà tôi hồi năm 1953 bị Tây đốt một lần, tới năm 1966, một lần nữa bị bom Mỹ đánh sập, nhưng không đến nỗi kinh hoàng, khủng khiếp như lần nầy…
Suốt bảy năm qua, ông Thường vừa cùng với bà con Thủ Thiêm đi kiện, mặt khác, ông xin vào làm bảo vệ cho một công ty để kiếm đồng lương phụ với con cái thuê nhà. Nhưng đầu năm nay, tuổi cao sức yếu, người ta không thèm thuê ông nữa.
IV: TỘI ÁC NỐI DÀI TỘI ÁC
“Chị ơi! Sắp đến ngày kỷ niệm 43 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Em hy vọng đảng bộ thành phố sẽ giải quyết dứt điểm vụ khiếu nại tố cáo của việc cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật tại địa chỉ B26/9 khu phố 1, phường Bình An, quận 2 theo đúng pháp luật để chúng em còn ổn định lại cuộc sống. Đập nhà chúng em, thu gom toàn bộ từ xác nhà và tất cả đồ đạc chở đi đâu đến nay chúng em không biết, làm cho một gia đình đang sinh sống ổn định, hạnh phúc, bỗng chốc nhà tan cửa nát, đó là tội ác. Gần sáu năm nay chúng em sống vất vưởng, chồng em cũng vì việc nầy mà sinh đổ bệnh rồi chết. Tại sao đất nước HÒA BÌNH, ĐỘC LẬP mà chúng em không có TỰ DO, HẠNH PHÚC? Kính xin chị và đoàn đại biểu Quốc hội hãy lên tiếng cho chúng em. Xin hãy thương xót cảnh mẹ góa con côi, thương cảnh con gái em sanh không có nhà để ở…”. Đó là những dòng tin nhắn của chị Nguyễn Thị Kim Phượng gởi chị Nguyễn Thị Quyết Tâm, phó bí thư thành ủy.
Trong chiếc điện thoại “cùi bắp” của chị Phượng còn lưu lại hàng loạt tin nhắn với nội dung tương tự như vậy gởi cho các vị lãnh đạo thành phố, nhưng phần lớn những tin nhắn ấy chìm trong im lặng, cũng có vài tin nhắn mà phía dưới có vài câu phản hồi ngắn gọn, vô cảm, khô khốc, lạnh lùng, đại loại như “Hãy yên tâm chờ … giải quyết”. Chị Phượng nói buồn quá, đau quá, tuyệt vọng quá không biết làm gì, chị gởi tin nhắn để cầu may.
Tháng 3 năm 1976, chị Phượng tham gia lực lượng thanh niên xung phong, đi xây dựng nông trường Phạm Văn Hai cùng với ông Trương Tấn Sang. Năm 1978, chị tình nguyện chuyển sang quân đội, làm việc tại phòng vận tải trung đoàn 657, thuộc cục hậu cần quân khu 7. Năm 1981, chị ra quân với cấp hàm thượng sĩ, chuyển qua làm việc tại công ty dược 3/2. Năm 1985, chị kết hôn với anh Trương Việt Hiếu, công nhân cơ khí cùng cơ quan. Năm 1986, vợ chồng chị được cấp và hóa giá căn nhà 87 mét vuông trên đường Lương Định Của. Họ sinh được hai đứa con, một trai một gái. Cuộc sống sẽ kéo dài hạnh phúc, và căn nhà của chị vốn nằm ngoài ranh quy hoạch, cạnh khu đô thị mới Thủ Thiêm, vợ chồng chị sẽ sở hữu khối tài sản trị giá vài chục tỷ đồng nếu ngôi nhà không bị cướp.
Một hôm, có một nhóm người của nhà nước tới cho chị hay, nhà của chị nằm trong diện phải thu hồi, đề nghị chị cho họ đo vẽ để chiết tính giá đền bù. Anh Hiếu nói đất của anh không nằm trong quy hoạch khu đô thị Thủ Thiêm, và anh đuổi họ ra khỏi nhà. Cứ thế, mỗi lần họ tới đo vẽ đều bị đuổi. Cuối cùng họ dùng biện pháp cưỡng chế.
Ngày 4 tháng 11 năm 2010, hơn một trăm nhân viên công lực cùng với nhân viên địa chính, xe cứu thương, cứu hỏa kéo tới, họ cắt hàng rào lưới B40 rồi xông vào đo vẽ. Sau đó họ lập bảng chiết tính, áp giá đền bù cho vợ chồng chị theo hai phương án: Thứ nhất, chị sẽ nhận số tiền 236.449.000 đồng và được mua căn hộ chung cư 51 mét vuông bằng số tiền ấy, nếu muốn mua căn hộ diện tích rộng hơn thì chị phải trả tiền thêm theo giá bảo toàn vốn. Phương án thứ hai, nếu chị không mua căn hộ tái định cư thì sẽ nhận khoảng đền bù cộng với tiền hỗ trợ di dời tương đương 18.000.000 đồng trên mỗi mét vuông cả nhà lẫn đất, tức khoảng hơn 1,5 tỷ đồng rồi tự đi tìm chỗ ở.
Anh Hiếu và chị Phượng cùng hàng trăm bà con Thủ Thiêm làm đơn khiếu nại, nhưng không thành. Ngày 29 tháng 6 năm 2012, chúng đem quân tới cưỡng chế. Chị Phượng thương lượng xin hoãn lại hai tuần, họ chấp nhận không đập nhà. Chị viết thư gởi khẩn cấp cho ông Trương Tấn Sang hy vọng cầu cứu ở người sếp cũ. Ông Sang chỉ đạo cho văn phòng Chủ tịch nước làm công văn gởi ông Tất Thành Cang, yêu cầu ông Cang tiếp chị Phượng và báo cáo sự việc lên Chủ tịch nước trước ngày 20 tháng 8 năm 2012. Chị Phượng mừng rỡ mang “lá bùa” ấy lên ủy ban quận 2, nhưng ông Cang không tiếp. Ngày 31 tháng 7 năm 2012, tức là trước thời hạn 20 ngày ông Tất Thành Cang phải trả lời Chủ tịch nước, một đoàn xe cứu hỏa, cứu thương, xe tải, xe ủi, xe cuốc cùng với hàng trăm nhân viên công lực kéo đi giải tỏa, đập phá sáu căn nhà ở khu phố 1, đường Lương Định Của, phường Bình An.
Căn nhà chị Phượng bị đập vào lúc 10 giờ 30 sáng, toàn bộ vật dụng trong nhà chúng chất lên xe tải chở đi đâu không biết, chỉ nghe chúng nói chở vào khu tạm cư. Vợ chồng chị Phượng không vào khu tạm cư, chị nói trong đó chúng nhét mỗi gia đình vô căn phòng tạm bợ 21 mét vuông, không đủ chứa vật dụng thì làm sao ăn ở. Hai đứa con, một đứa về nhà cậu, một đứa về nhà ngoại, anh Hiếu vào ở trong cơ quan, chị Phượng lấy bốn khúc tre với tấm nilon dựng mái lều trên cái nền nhà đổ nát, đi kiếm việc làm thuê tạm sống qua ngày, ai kêu lau nhà thì tới lau nhà, ai kêu đón con thì đi đón con. Anh Hiếu có hôm thì ở cơ quan, có hôm thì về tá túc trong mái lều với chị.
Trong cảnh màn trời chiếu đất, anh Hiếu lại lâm trọng bệnh, khi đưa anh vào nhập viện, chị Phượng như sét đánh ngang tai, người ta cho chị hay anh Hiếu bị ung thư phổi ở giai đoạn cuối. Không còn khả năng điều trị, nhưng về đâu? Không thể đưa anh về chờ chết trong mái lều bạt trên nền nhà cũ. May thay, người chị ruột của chị ở Gò Vấp bảo chị đưa anh về đó tạm trú trong những ngày tháng cuối đời. Và cuối cùng, anh Hiếu đã ra đi trong cảnh tan nhà nát cửa. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, anh nói với chị Phượng rằng khi di quan, hãy cho chiếc xe tang chở anh đi qua con đường Lương Định Của để anh chào vĩnh biệt ngôi nhà, dù bây giờ nó chỉ còn là mái lều trơ trọi. Nhưng khi di quan, nhân viên của nhà chức trách bước lên chiếc xe tang, ngồi cạnh tài xế với lý do là để can thiệp khi tình huống kẹt xe. Thế là, chiếc xe tang đi thẳng về nhà hỏa táng Bình Hưng Hòa.
Tiếp xúc với chị Phượng, tôi cảm nhận được nỗi đau đã làm cho chị biến đổi tính tình. Từ một mái lều bạt, chị nhặt tol cũ chung quanh về dựng lại căn chòi trên nền nhà cũ, nền rải đá mi, một chiếc ghế bố, một bàn thờ nhỏ cho anh Hiếu, một chồng hồ sơ khiếu kiện. Đó là tất cả những gì còn lại sau trận cướp phá kinh hoàng.
Đã khổ đến thế, nhưng chị Phượng còn quan tâm, chở che cho những thân phận khổ hơn mình. Chị đưa chúng tôi đến thăm chị Vinh, một trong vài căn nhà còn sót lại giữa cái bãi đất hoang tàn, ngổn ngang xà bần của hàng trăm ngôi nhà bị đập phá trên đường Lương Định Của.
Chị Phạm Thị Vinh năm đời cha ông sống ở Thủ Thiêm, chị bị khuyết tật bẩm sinh, phải di chuyển bằng xe lăn và nạng gỗ. Năm 1968, lên 11 tuổi, chị được tổ chức Terre des hommes đưa sang Tây Đức nuôi dưỡng và cho học hành, đến năm 1974, chị quên mất tiếng Việt nên không liên lạc được với gia đình, chị xin phép về Việt Nam ôn lại Việt ngữ một thời gian ba năm, đến năm 1975, chị kẹt ở lại. Cha mẹ qua đời, chị lên Đồng Nai học Đông y rồi về Thủ Thiêm dựng căn nhà gỗ 15 mét vuông cạnh ủy ban phường Bình An, mở quán nước và phòng mạch Đông y từ thiện, khám chữa bệnh bằng thuốc Nam, ai cho bao nhiêu thì bỏ vào thùng phước thiện. Chị nói ở đây hồi ấy còn hoang vu, gần phòng mạch của chị có cái bô rác của chính quyền cũ để lại, chị lên quận xin dọn dẹp để cất nhà ở, ông chủ tịch quận nói mầy cất nhà chỗ đó tao còn mừng, để cái bô rác vừa mất mỹ quan, vừa ô nhiễm môi trường, lại là nơi chích choác của bọn xì ke ma túy. Chị Vinh thuê xe rác tới dọn dẹp rồi thuê người tới đập phá, san lấp mặt bằng, dựng lên căn chòi che mưa che nắng. Phòng mạch của chị bắt đầu thu phí, có được ít tiền, chị thuê thợ xây nhà, mua vật liệu trả góp, vay mượn bạn bè, cuối cùng chị đã dựng lên được ngôi nhà cấp bốn. Thế nhưng, khi cuộc càn quét Thủ Thiêm xảy ra, chị Vinh không được đền bù vì nhà của chị không có giấy tờ. Người ta chỉ bảo chị đi tạm cư ở một căn hộ chung cư để giao đất cho nhà nước, chị nói tôi què quặt thế nầy là sao ở được chung cư, hồi xưa chỗ nầy là cái bô rác, tôi xin cất nhà, các anh còn mừng, tại sao bây giờ các anh lại cướp của tôi? Nói gì thì nói, không đi thì cưỡng chế.
Cuộc cưỡng chế lần thứ nhất không thành vì luật sư Trần Vũ Hải đứng ra bảo vệ chị, ông nói nếu các anh cưỡng chế nhà chị Vinh, tôi sẽ tố cáo các anh lên tổ chức bảo vệ người tàn tật thế giới. Chúng tạm dừng lại. Cuộc cưỡng chế lần thứ hai, bà con Thủ Thiêm kéo tới làm hàng rào sống bảo vệ chị. Chúng tạm dừng lại. Cuộc cưỡng chế lần thứ ba, cũng vậy, bà con kéo tới làm hàng rào cản đầu xe ủi, trong nhà, chị Phượng chuẩn bị sẵn đầy một bình xăng trong chiếc Honda, sẵn sàng châm lửa, chị nói với chị Vinh, chuyến nầy hai chị em mình cùng chết. Chúng dùng loa tay đọc lệnh cưỡng chế và kêu gọi chị Vinh mở cửa, mở cổng rào để giao nhà, giao đất. Bà con bên ngoài hò hét, đả đảo, chửi bới làm át tiếng loa, bên trong, chị Phượng mở nắp bình xăng, tay cầm quẹt gas, tay cầm tờ giấy báo làm mồi lửa trong tư thế sẵn sàng. Cuối cùng chúng phải rút quân.
V: ĐAU THƯƠNG CHỒNG CHẤT ĐAU THƯƠNG
Gần nhà chị Vinh, một ngôi nhà còn sót lại nằm chơ vơ giữa bãi tha ma là ngôi nhà của vợ chồng ông Hùynh Văn Lực và bà Nguyễn Thị Giáp. Ông Lực 91 tuổi đời, 70 tuổi đảng, bị tai biến mạch máu não nằm liệt giường, bà Giáp 83 tuổi, lụm khụm chăm sóc cho chồng. Hồi xưa họ có người con trai hiền lành, ngoan ngoãn, nhưng đã chết vì tai nạn điện. Bà nói, nếu nó còn sống thì đỡ khổ cho tôi, ít ra có con cháu cũng bớt đi sự cô quạnh của tuổi già. Giờ trong tình cảnh nầy, nếu tôi ngã bệnh thì thật là khổ.
Tôi hình dung điều gì sẽ xảy ra nếu không may bà ngã bệnh giữa cái bãi tha ma nầy, trong căn nhà không có người thứ ba, chung quanh không có láng giềng. Tôi không dám so sánh với bất kỳ quốc gia nào, xã hội nào về chính sách nhân đạo đối với tuổi già, và có lẽ, bà Giáp cũng không có mong muốn nào hơn ngoài việc đừng cưỡng chế, đừng đập phá cướp đất, hãy để yên cho vợ chồng bà trong những năm tháng ngắn ngủi còn lại cuối đời.
Vợ chồng bà Giáp đều là viên chức của Bộ Vật tư, khi về hưu, họ được cấp một căn nhà cộng cư bên phường Thảo Điền, tức là một căn nhà một trệt một lầu được cấp cho hai hộ, bà ở tầng dưới, ông sếp của bà ở tầng trên. Rồi ông Lực ngã bệnh, đứa con trai qua đời. Sau một thời gian chạy chữa cho chồng, chợt nhìn lại thấy mình ngồi trên đống nợ. Không còn cách nào khác, bà phải bán quyền sử dụng cái không gian tầng trệt ấy cho người ở trên lầu. Sau khi thanh toán nợ nần, còn lại ít tiền, bà sang Thủ Thiêm mua lại căn nhà nát trong con hẻm trên đường Lương Định Của, nhà không có chủ quyền, chỉ sang nhượng bằng giấy tay. Nhưng người chủ cũ bằng cách nào đó đã chạy chọt cho bà xây lại ngôi nhà cấp bốn. Ở yên được mười năm, đến tháng tư năm 2011, khi cả khu phố bị cưỡng chế, đập phá thành bình địa thì tới lượt hai ngôi nhà của ông bà và chị Vinh, một người già bị tai biến và một phụ nữ neo đơn khuyết tật bị cưỡng chế sau cùng.
Ngày 18 tháng 4 năm 2011, nhà chức trách tới trao cho bà quyết định cưỡng chế và bảng chiết tính bồi thường với giá… không đồng. Lý do: nhà và đất không có giấy tờ hợp lệ. Tuổi già sức yếu, trong cảnh neo đơn, nhưng bà phải vừa đi kiện vừa chăm sóc cho người chồng nằm liệt giường.
Đến ngày 25 tháng 1 năm 2003, bà nhận được thông báo giải tỏa kèm theo bảng chiết tính bồi thường theo hai phương án như sau: Phương án thứ nhất, nếu bà nhận tái định cư thì bà được trả 9.612.500 đồng (chín triệu sáu trăm mười hai ngàn năm trăm đồng) và được mua một diện tích tái định cư 7,75 mét vuông (bảy phẩy bảy mươi lăm mét vuông) trong căn hộ chung cư bằng với số tiền ấy, nói cho dễ hiểu là ngôi nhà và đất hơn một trăm mét của bà sẽ đổi 7,75 mét vuông chung cư, phần còn lại của căn hộ tùy theo lớn nhỏ bà phải trả tiền theo giá gọi là bảo toàn vốn. Phương án thứ hai, nếu bà không nhận tái định cư thì bà được lãnh số tiền 133.612.500 đồng, tự tìm chỗ ở. Cũng như bao nhiêu người khác, bà không chấp nhận cả hai phương án, và cuối cùng là cưỡng chế, nói cho chính xác hơn là bị cướp.
Cũng như trường hợp của chị Vinh, mỗi lần nhân viên công lực và phương tiện cơ giới tới bao vây thì hàng xóm kéo tới làm hàng rào sống bảo vệ cho vợ chồng bà. Bà khóa cửa rào và lấy hết hơi sức của tuổi già nói vọng ra với nhà chức trách: Các ông muốn làm gì thì cứ làm đi, vợ chồng tôi sẽ ôm nhau cùng chết, thà chết ở đây còn hơn chết ở ngoài đường.
Nhân viên công lực đi cướp thay cho người khác, dù sao cũng là con người, có lẽ cũng biết sợ luật nhân quả nên họ rút lui trước hai con người như ông Lực và chị Vinh, những người mà nếu ném ra đường, họ sẽ chết ngay tại chỗ.
* Chúng tôi đến thăm anh Đặng Văn Truyền, 50 tuổi đang sống trong căn phòng tạm cư 21 mét vuông như cái ổ chuột ngổn ngang vật dụng gia đình, nhếch nhác, ngột ngạt và oi bức, giống như cái cảnh tản cư chạy giặc hồi chiến tranh. Trong phòng không có chỗ ngồi, anh Truyền bắc ghế ngoài sân để tiếp chúng tôi, anh nói ở khu tạm cư nầy có hàng trăm hộ với ngàn ngàn con người sống chật hẹp và chen chúc như thế, có hộ đã vào đây gần hai mươi năm, mất đất, mất nhà, mất công ăn việc làm, lang thang tìm mọi cách để mưu sinh và… đi kiện.
Trước đây, anh Truyền là chủ cơ sở đại lý gas cạnh chợ An Khánh. Làm ăn khấm khá, năm 2000 anh vay mượn thêm bạn bè, dòng họ để mua căn nhà 50 mét vuông mặt tiền đường Lương Định Của trị giá 75 cây vàng. Do nhà mua bằng giấy tay nên khi giải tỏa, người ta thông báo đền bù cho anh mức giá 36.000.000 đồng, tương đương với một cây vàng (!). Anh nói 36 triệu đồng bây giờ không đủ mua miếng đất để chôn, anh làm đơn khiếu nại, lên quận, quận bác đơn, lên thành phố, thành phố bác đơn, ra trung ương, trung ương làm công văn chuyển đơn về cho thành phố…
Ngày 21 tháng 2 năm 2011, ủy ban quận ra quyết định cưỡng chế, anh nói nếu cưỡng chế anh sẽ tử thủ, cho nổ cửa hàng gas. Lệnh cưỡng chế tạm hoãn thi hành. Người ta cử những đoàn cán bộ tới vận động, thuyết phục, nâng giá đền bù lên 19 triệu đồng một mét vuông, anh kiên quyết không nhận vì cho rằng nhà anh nằm ngoài ranh quy hoạch.
Lúc bấy giờ, những căn hộ chung quanh nhà anh đã bị san bằng. Ngày 23 tháng 12 năm 2015, tới lượt số phận của anh. Khác với những căn hộ khác, khi cưỡng chế nhà anh, ngoài xe ủi, xe cuốc, xe cứu thương, cứu hỏa và nhân viên công lực thông thường, người ta tăng cường thêm một đội đặc nhiệm và trang bị thêm một xe xịt hơi cay và hai xe chữa cháy đặc chủng chở bọt khí foam dùng cho các sân bay. Tất cả để đối phó với một con người và mục tiêu cướp cho được căn nhà năm chục mét vuông (!).
Khi người ta xịt hơi cay vào nhà, anh Truyền đeo mặt nạ và chuẩn bị cho nổ bình gas, nhưng đã muộn vì bọt khí foam đã phủ căn nhà. Chúng dùng xe cuốc phá toang ba cánh cửa, nhân viên đặc nhiệm xông vào, anh Truyền bị những thanh bá trắc đập thẳng vào hai ống quyển và hai bên be sườn, anh té quỵ xuống, hai nhân viên đặc nhiệm đè anh trói thúc ké, họ vừa trói vừa nói: ĐM mầy có biết cưỡng chế căn nhà mầy tụi tao phải tốn hàng trăm triệu tiền hóa chất hay không. Họ vừa trói, vừa chửi vừa đánh, đánh từ nhà đánh lên xe cấp cứu và tiếp tục đánh trên đường đưa anh tới bệnh viện quận 2, hàng trăm người dân kéo theo, rơi nước mắt như khóc cho chính con cháu ruột thịt của mình.
Mấy ngày sau, họ cho anh xuất viện nhưng không dám trao giấy chứng thương. Anh Truyền bị tràn dịch khớp gối, phải vào phẩu thuật trong bệnh viện Sài Gòn.
Cái giá tử thủ với nhà chức trách là như thế. Mất nhà, mất đất, mang thương tật, mất thu nhập hàng chục triệu đồng mỗi tháng, sống cùng quẩn trong căn phòng tạm cư không biết đến bao giờ!
Ba năm qua, anh cùng với bà con Thủ Thiêm mang đơn kêu cứu ra Hà Nội không biết bao nhiêu lần, có lần ăn dầm nằm dề cả hai tháng trời. Nhưng vô vọng!
* Cách chỗ anh Truyền vài chục mét là căn phòng tạm cư của chị Phan Thị Thủy, 63 tuổi. Đã 17 năm sống trong khu ổ chuột nầy, sống trong sự chồng chất khổ đau và bế tắc.
Mười bảy năm trước, chị Thủy đã có một gia đình đầm ấm, một quán cà phê nho nhỏ trên đường Lương Định Của, gần chợ An Khánh. Chồng chị Thủy, anh Trần Vĩnh Phúc, thiếu tá công an, làm việc ở quận 2. Hai vợ chồng cùng đứa con gái đang sống một cuộc sống bình thường thì nhân tai trút xuống.
Một ngày của năm 2000, chị nhận được thông báo giải tỏa không đền bù vì nhà chị mua bằng giấy tay. Chị làm đơn khiếu nại, nhưng khổ nỗi anh Phúc là đảng viên, là sĩ quan, cái vòng kim cô ấy buộc phải tuân hành.
Chấp nhận dọn vào căn phòng tạm cư, nhưng chị vẫn cùng bà con đi khiếu kiện, thậm chí kéo nhau hàng chục, hàng trăm người đi biểu tình trước văn phòng Chính phủ trên đường Lê Duẩn. Mỗi lần chị đi thì người ta gọi anh Phúc lên, bảo anh phải gọi chị về. Nhưng anh không thể mở lời khuyên can vợ bởi chính anh là người đau xót trước căn nhà trị giá tiền tỷ bị tước đoạt vô lý. Cuối cùng, sau nhiều lần kiểm điểm, anh Phúc bị kỷ luật với hình thức giáng cấp xuống hàm đại úy. Bị tổn thương, anh Phúc xin nghỉ việc về phụ vợ bán cà phê.
Hai vợ chồng cùng với con gái, con rể và đứa cháu ngoại không thể sống nổi trong căn phòng chật hẹp 21 mét vuông, anh Phúc mượn thêm một căn liền vách để chứa vật dụng và mở quán “cà phê chạy”, ai kêu đâu chạy đó. Vốn có bằng đại học Luật, anh Phúc làm thủ tục xin cấp chứng chỉ nghề với mơ ước mở văn phòng Luật sư, nhưng việc không thành, anh đành trở lại lầm lũi, âm thầm với cái quán “cà phê chạy”. Chị Thủy sau một thời gian dài đi kiện, người ta bán cho chị căn hộ tái định cư 41 mét vuông trên lầu 3 ở Bình Trưng, cách đó gần mười cây số với giá 70 triệu đồng. Chị không nhận và tiếp tục đi kiện với lý do, nhà chị 70 mét vuông trên đường Lương Định Của, giờ trở thành đất vàng, bị giải tỏa không đền bù giờ phải mua lại căn hộ 41 mét vuông, quá bất công.
Nhưng rồi bất công chồng chất bất công, người ta ra quyết định cưỡng chế, bắt chị phải ra đi và phạt 25 triệu đồng với lý do chiếm nhà tái định cư trái phép. Chị kiên quyết không đi và cũng không nộp phạt. Cứ tiếp tục cùng bà con làm đơn khiếu kiện.
Anh Phúc bắt đầu thay đổi tính tình như một người trầm cảm, mất ngủ, bỏ ăn. Có lần anh lẩm bẩm với chị: Phải chi tôi đừng nghỉ việc thì bây giờ tôi còn khẩu súng. Chị can anh, thôi đừng nghĩ bậy.
Buổi sáng ngày 24 tháng 4 năm 2015, không thấy anh dậy sớm pha cà phê như mọi bữa, chị bước qua gọi cũng không thấy anh trả lời, nhìn thấy đèn sáng trong nhà tắm nhưng không nghe tiếng động. Chị bước tới mở cửa, thì trời ơi, anh đã treo cổ…
VI: ĐAU XÓT CHỐN TÂM LINH
Mục sư Nguyễn Hồng Quang, bảo vệ luận án Tiến sĩ Thần học tại Hoa Kỳ, ông tâm sự rằng, không hiểu vì sao, sau khi rời lực lượng Thanh niên xung phong, ông muốn đi tu, nhưng chưa có khái niệm rõ ràng về một tôn giáo nào. Ông nghiên cứu về đạo Cao Đài, Phật giáo, Thiên Chúa giáo… nhưng vẫn cứ phân vân. Rồi ông đi học hớt tóc với ý định mang bộ đồ nghề đi lang thang hớt tóc miễn phí cho trẻ bụi đời, người điên và người cơ nhỡ. Nhưng rồi như một cơ duyên, người dạy ông hớt tóc, sau khi nghe ông nói rằng ông muốn đi tu nhưng chưa biết chọn tôn giáo nào, ông ta giới thiệu với ông về giáo phái Tin lành Mennonite, một trong năm trường phái chính của châu Âu và Bắc Mỹ, được hình thành từ năm 1525 và du nhập vào Việt Nam từ năm 1954. Từ cơ duyên đó, ông Quang trở thành tín đồ Mennonite.
Năm 1992, ông sang Thủ Thiêm, cùng với người mẹ và người em trai mua gần ba ngàn mét vuông đất nông nghiệp. Ông Quang còn nhớ, ở đó có cả cái chuồng trâu và ao rau muống của người chủ cũ. Cuộc sống ban đầu dựa vào những công việc đồng áng, đặt trúm, đặt lọp, đặt lờ, giăng lưới, cắm câu. Dần dần, ông Quang tu bổ nhà cửa, dựng lên một cơ sở từ thiện và tôn giáo gồm một nhà nguyện, một thư quán hướng đạo, một phòng y tế, có cả một nơi dành cho học sinh sinh viên nghèo, bệnh nhân nghèo và người già neo đơn, không nơi nương tựa… Ở đây lúc nào cũng có hơn một trăm người tá túc. Ông Quang vận động nguồn gạo, họ tự trồng rau, kiếm cá và tự quản, người mạnh chăm sóc người bệnh và phân công công việc cho nhau như một đại gia đình.
Trải qua gần hai mươi năm, kẻ đến người đi, có những sinh viên nghèo trở thành kỹ sư, bác sĩ, doanh nhân, có những kẻ xì ke, bụi đời trở thành lương thiện, có những bệnh nhân trở nên lành lặn, và, có những người xấu số được tiễn đưa trong ấm cúng, đàng hoàng trong tiếng cầu kinh của Giáo phái Mennonite.
Thế rồi tang thương ập đến, ông Quang cùng với hơn một trăm con người cơ khổ ấy phải chịu chung số phận với hàng vạn đồng bào trên đất Thủ Thiêm.
Ngày 14 tháng 12 năm 2014, hàng trăm nhân viên công lực tới bao vây, họ dùng loa phóng thanh đọc lệnh cưỡng chế rồi xông vào bắt trói, đánh đập hàng chục người, quăng lên xe công vụ chở đi. Trong đó có bà Trần Thị Chuốt, 73 tuổi. Bà Chuốt vào đây chữa bệnh cùng với đứa cháu ngoại bị bại liệt. Sau khi lành bệnh, bà tình nguyện ở lại làm tạp vụ và chăm sóc cho đứa cháu tật nguyền. Hôm ấy bà phản đối không chịu đi, liền bị nhân viên công vụ hốt quăng lên xe, họ quăng bà từ trên cao rớt xuống, bị gảy be sườn và chấn thương nặng, họ đưa bà đi cấp cứu, nhưng bà không qua khỏi. Ông Quang lên phường xin đưa bà về chỗ cũ làm đám tang theo nghi thức của đạo, nhưng ông liền bị nhốt lại, sau đó người ta đưa xe công vụ tới chở bà Chuốt đi hỏa táng.
Hai hôm sau ông Quang được thả ra, ông trở về chỗ cũ, thì hỡi ơi, hơn năm trăm mét vuông nhà tiền chế, ao cá hàng chục tấn, vườn kiểng, vườn cây cổ thụ… tất cả thành đống xà bần vụn nát.
Cùng số phận với khu vườn nguyện của ông Quang, chùa Liên Trì, đình Thần An Khánh cũng bị san bằng.
Hôm cưỡng chế chùa Liên Trì, nhà sư Thích Không Tánh bị ngất xỉu tại chỗ, người ta đưa ông đi cấp cứu, đến khi trở về, ông chỉ còn biết cầm cây nhang quỵ xuống đống gạch ngói đổ nát. Tất cả tượng Phật và hài cốt Phật tử cùng với vật dụng thờ cúng trong chùa, người ta chở vào nhà kho.
Ông Lê Văn Tốt, Trưởng Ban Quý tế Đình Thần An Khánh nói rằng, hôm giải tỏa ngôi Đình ông không đủ can đảm để chứng kiến, ông ngồi nhà mà nghe nhói trong tim, ruột gan như ai cào ai cấu. Ông Tốt đưa chúng tôi xem bức ảnh của một người nào đó tặng ông, bức ảnh chụp lúc giải tỏa lăng mộ Tiền hiền Trần Thông Quân và phu nhân. Ông nói, ở nước ta hiếm có ngôi đình nào có được lăng mộ của tiền hiền, vậy mà, vì lòng tham, người ta sẵn sàng quật mồ của tổ tiên, người đã có công gầy dựng nên đất Sài Gòn – Gia Định. Một không gian cho Lễ Hội Kỳ Yên tưởng nhớ TIỀN HIỀN KHAI KHẨN – HẬU HIỀN KHAI CƠ gần hai ngàn mét vuông đã bị tước đoạt, tất cả vật dụng thờ cúng, sắc phong, hài cốt và linh hồn của tiền nhân giờ phải náu nương, ở trọ trên Đình Long Phú.
Đau xót biết chừng nào?! Quả báo nầy sẽ thuộc về ai?
VII: TAO BẮN…!
Ba ngôi nhà còn sót lại giữa cái hoang tàn đổ nát như sau một trận bom trên đường Lương Định Của, thuộc khu phố 1, phường Bình An là nhà của chị Vinh, ông Lực và Thiếu tướng về hưu Hồng Minh Hải. Nó còn sót lại, có lẽ là vì, với chị Vinh và ông Lực, người ta không dám ném ra đường một người phụ nữ tật nguyền phải nương nhờ vào đôi nạng gỗ và một ông già chín mươi mốt tuổi đời, bảy mươi tuổi đảng bị tai biến nằm liệt giường. Còn với Thiếu tướng Hải, có lẽ vì người ta sợ cái câu: Đứa nào tới, tao bắn…!
Khi chúng tôi tới thăm ông, ông hỏi các anh chị là nhà báo nhưng thuộc phe nào?
Thấy chúng tôi ngạc nhiên, ông nói báo chí bây giờ nhiều phe quá, chẳng biết tin ai. Khi cuộc tiếp xúc đến hồi thân thiện, ông Hải kể rằng, năm 1968, sau khi đậu Tú tài, ông được tuyển vào Khoa Không quân trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, lúc bấy giờ ông đang là biệt động thành Sài Gòn. Cấp trên yêu cầu ông nên đi học sĩ quan để tiếp tục “hoạt động trong lòng địch” khi ra trường, nhưng ông từ chối, bỏ học vào chiến khu rồi theo đơn vị trinh sát đặc công. Chúng tôi ngồi nghe ông kể những câu chuyện “xuất quỷ nhập thần” của lính đặc công như huyền thoại, bất kỳ những đồn bót, những căn cứ quân sự của đối phương, lính đặc công vào ra như có phép tàng hình.
Sau chiến tranh Campuchia, ông được phong hàm Thiếu tướng, Tư lệnh phó binh chủng đặc công miền Nam.
Khi xảy ra câu chuyện Thủ Thiêm, bí thư kiêm chủ tịch quận Tất Thành Cang tới nhà ông thương lượng rất chân tình, rằng sẽ đổi căn nhà 160 mét vuông của ông bằng hai nền nhà gần siêu thị điện máy Chợ Lớn trên đường Lương Định Của, nghĩa là ông sẽ được đền bù thỏa đáng. Ông nhẩm tính, hai nền nhà kia trị giá tương đương chín tỷ đồng, ông sẽ lên quận 9 mua được hơn hai ngàn mét vuông đất vườn chỉ hơn năm tỷ, còn lại xây nhà, hai vợ chồng cùng hai đứa con ông sẽ có cuộc sống thanh nhàn, vui thú điền viên.
Nghĩ thế, ông bằng lòng trao đổi. Nhưng một hôm, ông Cang gọi ông lên cáo lỗi, rằng quỹ đất không còn, chỉ đổi với ông một nền. Sau một hồi tranh cãi, ông đứng lên nói thẳng: “Người lớn với nhau không thể nói hai lời. Vậy thì tao không đi đâu cả, tụi bây cứ tới cưỡng chế, nhưng nên nhớ phải mặc áo giáp và đội nón sắt đàng hoàng, đứa nào bước vô tao bắn…! Máu tao đã đổ ngoài chiến trường nhiều rồi, giờ nầy tao không còn tiếc gì nữa, nhưng trước khi chết tao sẽ bắn nát đầu bọn cướp”.
Ông trở về, hàng ngày nhìn cảnh xe ủi, xe cuốc cùng với nhân viên công lực đi cướp bóc, đập phá nhà cửa xung quanh mà trào dâng căm phẫn, thương xót cảnh tan nhà nát cửa của bà con. Nhiều lúc không kềm chế được, ông muốn ra tay… Nhưng ông kịp nghĩ, nếu bắn thì phải bắn mấy thằng “đầu sỏ”, chớ cái đám nầy chỉ là tay sai…
Ông Hải đã bỏ ra nhiều ngày để nghiên cứu địa hình gia cư của những tay “đầu sỏ”, vào lối nào, ra lối nào, nhà có chó dữ hay không… Ông đã lên “phương án tác chiến”, đặt ra những tình huống bất trắc, và, ông viết sẵn mấy bản cáo trạng kể tội từng người. Xử xong người nào, đặt bản cáo trạng lên ngực người đó rồi rút lui. Ông nói, khẩu súng của ông sẽ chừa sẵn hai viên đạn cho mình nếu gặp tình huống bất trắc.
Tôi hỏi vì sao ông không cùng với bà con đi kiện mà nghĩ tới chuyện mạo hiểm như vậy? Ông nói tôi là lính, không thích dây dưa, khi đã xem chúng nó là kẻ thù của nhân dân thì tôi ứng xử theo cách của người lính, hoặc là tấn công, hoặc là rút lui, hoặc là phòng thủ và tử thủ. Ngắn gọn như thế, không cần phải dài dòng.
Thế là hết Thủ Thiêm ơi!
Từ chị Phượng chủ tịch phường xin lỗi nhân dân đến anh Thiếu tá công an Trần Vĩnh Phúc treo cổ tự tử, giờ tới lượt Thiếu tướng Hồng Minh Hải luôn sẵn sàng trong tư thế tấn công, huống chi đến hàng trăm, hàng ngàn con người thấp cổ bé miệng từng ngày ứa gan kêu cứu, gần hai mươi năm khổ đau chờ công lý đến mỏi mòn.
Hôm qua có một cô gái nhắn tin: “Chú ơi, con đã đọc nhiều câu chuyện đau lòng của chú viết về Thủ Thiêm, con mong chú kể tiếp câu chuyện của con, khổ lắm, nhà con bị cưỡng chế đập nát hết, con che tấm bạt dưới gốc cây lót tạm cái giường để hai mẹ con tá túc nhưng cũng bị họ cưỡng chế thêm lần nữa …”.
Tôi đành phải nhắn tin xin lỗi cô gái, cháu ơi, làm sao chú đủ sức đủ tài để kể hàng trăm, hàng ngàn tấn thảm kịch Thủ Thiêm, bởi tội ác cứ nối dài tội ác và đau thương cứ chồng chất đau thương. Chú xin lỗi cháu! Mỗi con người, mỗi gia đình trên ĐẤT THỦ THIÊM giờ đây giống như những trang tiểu thuyết mà bản thân chú không đủ sức đủ tài.
ĐÔI ĐIỀU VỚI CÁC ANH
Các anh là ai? Tôi biết các anh một cách mập mờ, loáng thoáng mà Thiếu Tướng Hồng Minh Hải đã viết sẵn cáo trạng định xử các anh.
Hầu hết các anh đều ít nhứt cũng có tấm bằng đại học, dù nó thật hay giả, dù các anh đã học phổ thông hay bổ túc văn hóa, thì điều chắc chắn rằng các anh đã học qua dòng văn học hiện thực phê phán mà trong đó có những tác giả lừng danh một thời như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan… với những tác phẩm tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến. Những tác giả ấy cũng đã bị phê phán rằng họ chỉ nhìn thấy hiện thực tối tăm, chỉ nhìn thấy cái tiền đồ tối đen như mực của chị Dậu mà không nhìn thấy cái tiền đồ rạng rỡ của dân tộc bởi chỉ vài năm sau, Đảng Cộng sản ra đời!
Nhưng, nếu giờ đây Ngô Tất Tố có đội mồ sống dậy, ông sẽ nói rằng nhân vật chị Dậu mà ông hư cấu làm gì so sánh được với những con người có thật như chị Vinh, chị Phượng, bà Giáp, cô Mỹ… ở Thủ Thiêm?
Giờ đây nếu Nguyễn Công Hoan có đội mồ sống dậy, ông sẽ nói rằng câu chuyện Nghị Lại bày mưu cướp đất của anh Pha mà ông hư cấu làm gì so sánh được với câu chuyện có thật của ông Hùng, anh Truyền bán gas, ông Nguyễn Hồng Quang… ở Thủ Thiêm?
Giờ đây nếu Nam Cao có đội mồ sống dậy, ông sẽ nói rằng Chí Phèo trước khi chết còn giết được Bá Kiến, huống chi anh Thiếu tá Công an Trần Vĩnh Phúc treo cổ chết âm thầm.
Những nhà văn tài hoa ấy không thể hư cấu nổi một nhân vật như Thiếu Tướng đặc công Hồng Minh Hải, không thể hư cấu nổi chuyện phá đình, quật mộ tiền nhân, đập chùa, cướp bóc cả một cơ sở tâm linh và từ thiện của Mục sư Nguyễn Hồng Quang…
Nói chung, không thể có một nhà văn nào trên trái đất nầy có đủ sức tưởng tượng để hư cấu ra những câu chuyện mà chính các anh đã tạo ra ở Thủ Thiêm, một hiện thực đầy bi thương và tội ác, thậm chí rất man rợ xảy ra ngay trên đất nước nầy, bên cạnh một thành phố được nhân danh là VĂN MINH, HIỆN ĐẠI, NGHĨA TÌNH, những khẩu hiệu mà chính các anh đã đẻ ra, treo đầy trên phố xá.
Cùng các anh (không quý mến)!
Tôi có đứa con gái út, cách đây gần mười năm, lúc đó cháu học lớp mười trường Quốc tế Mỹ tại Sài Gòn. Có lần cháu dịch một bài luận văn của cháu làm từ tiếng Anh sang tiếng Việt để nhờ tôi góp ý (Tôi còn nhớ rõ đó là thời điểm các anh đang cướp Eden bằng khói cay để giao cho Vincom), đại khái thầy giáo người Mỹ ra một đề văn nghị luận chính trị xã hội như thế nầy: “Bạn hãy chọn một vấn đề mà dư luận xã hội đang quan tâm đề bày tỏ hai thái độ: Một là đồng tình, hai là phản biện”.
Cháu đã viết: Hiện nay, dư luận xã hội ở Việt Nam đang quan tâm nhất là vấn đề đất đai, những mâu thuẩn xảy ra giữa nông dân với chính quyền và các nhà đầu tư ở các dự án xây dựng khu công nghiệp và khu đô thị. Chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận rằng, Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, muốn phát triển, ngoài mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp công nghệ cao thì mục tiêu công nghiệp hóa và đô thị hóa là hai mục tiêu lớn và chính đáng. Nhưng vấn đề đặt ra là đất ở đâu để phát triển các khu công nghiệp và đô thị? Chỉ có một câu trả lời duy nhất là sử dụng đất nông nghiệp. Vì vậy, việc sử dụng đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp và đô thị là một vấn đề tất yếu, không có sự lựa chọn nào khác.
Đó là thái độ đồng tình.
Tuy nhiên, đất nông nghiệp là quyền lợi, là sự sống của người nông dân mà mục tiêu phát triển công nghiệp và đô thị là để phát triển kinh tế xã hội, vì vậy, trước khi sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các dự án khu công nghiệp và khu đô thị thì chúng ta phải làm cho người nông dân, những chủ sở hữu đất nông nghiệp đó có đời sống tốt hơn trước, họ phải là người hưởng lợi đầu tiên trong các khu công nghiệp và đô thị đó. Nhưng với cách làm của Chính quyền Việt Nam hiện nay, họ dùng biện pháp gọi là “Thu hồi, giải tỏa, đền bù”, họ đẩy người dân ra khỏi quyền lợi ngay trên mảnh đất vốn là sự sống của họ, nghĩa là trả cho họ một số tiền tượng trưng rồi lấy đất của họ giao cho doanh nghiệp kinh doanh, người đã giàu thì giàu thêm, người dân vốn đã nghèo còn bị tước đoạt quyền lợi, thậm chí lâm vào cảnh khốn cùng. Đó là những nghịch lý đã trở thành bức xúc trong dư luận xã hội.
Cùng các anh (không quý mến)!
Đó là góc nhìn, là suy nghĩ của một đứa bé mười lăm tuổi, cháu chưa biết làm chính trị và cũng chưa có khái niệm về chính trị.
Còn tôi, cha của cháu bé ấy, chỉ nhân danh là người kể chuyện, có thể kể hay và cũng có thể kể rất dở. Chỉ được cái là kể rất chân tình và chân thành, chân thật, kể một cách không né tránh dù có những câu chuyện cay đắng, phũ phàng.
Tôi kể về bài tập làm văn ngây thơ và hồn nhiên của con tôi như một câu chuyện để tham khảo cho các nhà chức trách. Tôi kể chuyện bà con Thủ Thiêm để chúng ta cùng chia sẻ nỗi đau, (cũng chẳng hy vọng gì sự chia sẻ từ những trái tim lạnh và “bàn tay sắt”). Tôi kể câu chuyện về những dự định của Thiếu tướng Đặc công Hồng Minh Hải để các anh, ai là người trong cuộc biết được mà tự vệ, đề phòng.
Mười lăm ngàn hộ dân với hơn sáu vạn con người ở Thủ Thiêm đã xem các anh là kẻ thù không đội trời chung, các anh đã tự dựng cho mình tấm bia ở Thủ Thiêm, sẽ vĩnh cửu ngàn năm vì nó là bia miệng.
Hai ngày sau bài phát biểu kịch liệt chống Trung Quốc của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo hôm 23/7/2020 tại Thư viện Tổng thống Richard Nixon, VnExpress rồi nhiều trang báo đầu đàn khác ở trong nước, như VTC, đồng loạt đăng cùng một bản dịch tiếng Việt, nhưng một ngày sau lại đồng loạt rút xuống[1]. Chủ đề “bài phát biểu dậy sóng” này vẫn hiện diện trên truyền thông chính thống ở Việt Nam, song chỉ còn là đề cập gián tiếp qua tóm tắt hay trích dẫn chọn lọc từ báo chí nước ngoài. Tất cả những động tác đó không có gì lạ và đã thành thông lệ, thậm chí là truyền thống của báo chí nhà nước; nhưng muốn thế nào, mỗi ca kiểm duyệt kể một câu chuyện và câu chuyện lần này đáng lưu ý vì những tình tiết sau đây.
Bác Trung, bảo Cộng
Ở điểm trũng nhất của quan hệ Mỹ-Trung sau không ít thăng trầm kể cả Thiên An Môn, bài phát biểu của ngoại trưởng Mỹ lần này gây ngạc nhiên không phải vì sự gay gắt, mà vì nó chĩa mũi dùi vào sự cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như ý thức hệ cộng sản và nói thẳng không một chút úp mở rằng đó là nguồn gốc tất yếu, không thể làm ngơ nữa của hiểm họa Trung Quốc đối với Hoa Kỳ và thế giới tự do. Đó là điều mà các chính quyền Hoa Kỳ, bất kể Dân chủ hay Cộng hòa, cho đến nay ít nhiều đều tránh đề cập. Việt Nam hiển nhiên lâm vào thế kẹt, Bắc Kinh trước sau vẫn là hình mẫu cầm quyền cho Hà Nội dựa vào và noi theo, hệ tư tưởng cộng sản ở Việt Nam trước sau vẫn là quốc đạo. 31 lần ông Pompeo gọi tên “cộng sản”, bản dịch tiếng Việt giữ lại đúng 2 lần, đổi cả nhan đề và loay hoay xoay xở để có thể vừa truyền đạt tương đối những chỉ trích với Trung Quốc, vừa bảo toàn đảng cộng sản và chế độ cộng sản, để tránh những sự kiện gắn liền với chính sách đàn áp khét tiếng của chính quyền cộng sản, và để bỏ qua xung đột thể chế giữa hai mô hình độc tài cộng sản và dân chủ tự do.
Chỗ nào biến hóa được thì biến hóa, những người Duy Ngô Nhĩ “trốn khỏi các trại tập trung ở Tân Cương”thành “rời khỏi Tân Cương”, những người “sống sót ở Quảng trường Thiên An Môn” thành “từng có mặt trong sự kiện Thiên An Môn”, Tập Cận Bình “độc tài cai trị” thành “điều hành”, thách thức từ Trung Quốc đòi hỏi nỗ lực và năng lượng “từ các nền dân chủ” thành “từ nhiều quốc gia”, Đài Loan “vẫnnở rộ thành một nền dân chủ cường tráng” thành Đài Loan “vẫn phát triển”…
Chỗ nào không biến hóa được thì cắt tỉa: “Nếu bây giờ chúng ta quỳ gối, con cháu chúng ta có thể bị phó thác cho ân huệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc mà hành động hiện đang là thách thức lớn nhất cho thế giới tự do” thành “Nếu chịu khuất phục, con cháu chúng ta có thể phải hứng chịu những hậu quả từ Trung Quốc.”; “có thể chúng ta đã ngây thơ về chủng loại Trung Hoa đầy độc tố của chủ nghĩa cộng sản” thành “có thể chúng ta quá ngây thơ về Trung Quốc”; “làm ăn với một công ty được ĐCS Trung Quốc chống lưng” thành “làm ăn với một công ty Trung Quốc”; “chúng ta phải cổ động và phú quyền cho nhân dân Trung Quốc vốn năng động, yêu tự do, hoàn toàn khác với ĐCS Trung Quốc” thành “chúng ta phải tiếp xúc với người dân Trung Quốc”; “những vi phạm nhân quyền thô bạo của ĐCS Trung Quốc” thành “những hoạt động vi phạm nhân quyền”; “những gạ gẫm món hời hay những ve vuốt của ĐCS Trung Quốc” thành “những đề xuất béo bở của Trung Quốc”, mục đích của Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc là “duy trì sự thống trị tuyệt đối của giới tinh hoa trong ĐCS Trung Quốc và bành trướng một đế chế Trung Hoa” thành “nhiệm vụ của họ là mở rộng đế chế Trung Quốc”; “để bảo vệ lý tưởng của mìnhtrước những chiếc vòi bạch tuộc của ĐCS Trung Quốc” thành để bảo vệ “lý tưởng trước Trung Quốc”…
Chỗ nào không cắt tỉa được thì chặt phăng: Nguyên cả câu “Chúng ta phải ghi nhớ rằng chế độ của Đảng Cộng sản Trung Quốc là chế độ Mác-Lênin”. Nguyên cả đoạn vinh danh Vương Đan và Ngụy Kinh Sinh, hai nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc nổi tiếng được mời dự sự kiện, và nguyên cả đoạn tiếp theo: “Tôi lớn lên và phục vụ trong quân đội suốt thời Chiến tranh Lạnh. Và nếu có điều gì tôi học được thì đó là: những người cộng sản gần như luôn nói dối. Sự dối trá lớn nhất mà họ rêu rao là ý tưởng rằng họ đại diện cho 1,4 tỉ người bị canh giữ, áp bức và không dám lên tiếng. Hoàn toàn ngược lại. ĐCS Trung Quốc sợ những ý kiến trung thực của người dân Trung Quốc hơn bất kì kẻ thù nào, và không có lý do gì để sợ như vậy, trừ lý do lo đánh mất quyền lực của chính mình.”
Hà Nội tự thủ tiêu
Đoạn: “I have faith. I have faith because of the awakening I see among other nations that know we can’t go back to the past in the same way that we do here in America. I’ve heard this from Brussels, to Sydney, to Hanoi” được dịch “toàn văn” là “Tôi có niềm tin. Tôi có niềm tin bởi thấy nhiều quốc gia đã thức tỉnh và hiểu rằng không thể trở lại quá khứ giống cách chúng ta đang thực hiện ở Mỹ.”, tức câu “Tôi đã nghe điều đó từ Brussels đến Sydney, Hà Nội” bị thủ tiêu.
Vậy Hà Nội thực sự đã nói gì với Ngoại trưởng Mỹ mà nhạy cảm thế? Đợi đến lúc một cựu cán bộ ngoại giao Việt Nam nào đó tiết lộ những “chuyện bây giờ mới kể” trong những trích đoạn hồi ký an toàn nào đó trôi nổi trên mạng, đúng công thức đã được thử thách tí ti cấp tiến tí ti phá rào dâng trào cảm xúc, thì lịch sử đã sang mùa quýt khác, hiện tại chúng ta chỉ biết rằng Hà Nội không thích thú gì bị nêu đích danh cạnh EU và Úc, những đồng minh quân sự truyền thống của Mỹ. Nói cách khác, chớ hy vọng Hà Nội sẽ sốt sắng hoan nghênh cái liên minh chống Trung Quốc mà ông Pompeo đang khẩn thiết kêu gọi, chính thức gia nhập thì chắc chắn càng không.
*
Như mọi thao tác ngôn ngữ, dịch thuật là công cụ của quyền lực. Quyền lực có thể chính trực, quảng đại, khai phóng. Quyền lực có thể gian tà, nhỏ nhen, giam hãm. Quyền lực có thể đắc thắng và quyền lực cũng có thể bất lực. Bản dịch tiếng Việt bài phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ nói trên, được gọi là “toàn văn” nhưng rõ ràng là phiên bản được cắt gọt điều chỉnh cho phù hợp với khí hậu chính trị Việt Nam, cho thấy khí hậu ấy đã có phần thay đổi. Chưa bao giờ kể từ Hội nghị Thành Đô, một văn bản phê phán Trung Quốc hạng nặng như vậy từng xuất hiện trên truyền thông chính thống ở Việt Nam, dù đã gắn giảm xóc và chỉ thọ không hơn một ngày. Song bản dịch ấy còn cho thấy rõ hơn một quyền lực chao đảo bởi những giằng xé cốt tủy mà chọn lựa nào cũng đe dọa tai họa ngang nhau. Ai đang mừng rằng những tuyên bố cứng rắn với Trung Quốc của Hoa Kỳ là có lợi cho Việt Nam, đang mong rằng Việt Nam có thể tranh thủ những tín hiệu tích cực ấy, đang chờ Mỹ đi trước trong công cuộc thoát Trung, có vẻ đang móc ảo tưởng từ một chiếc ví rỗng ra xài. Tuyên ngôn chống cộng mới toanh của Hoa Kỳ không mở đường cho Hà Nội, trừ khi đó chỉ là động tác tu từ. Trên trận tuyến ý thức hệ, Hà Nội không có lựa chọn. Không có lựa chọn thực ra là có duy nhất một lựa chọn.
(Tuần báo Trẻ 6/8/2020)
[1] Ở thời điểm tôi viết bài này, chỉ còn trang PetroTimes của Hội Dầu khí Việt Nam chưa hạ bản dịch:
Toàn văn phát biểu kêu gọi chống ‘Trung Quốc chuyên chế’ của Pompeo
26/07/2020
Ngoại trưởng Mỹ Pompeo mô tả mối đe dọa từ Trung Quốc với nền kinh tế và chính trị Mỹ trong bài phát biểu tại Thư viện Nixon ngày 23/7.
Thật vinh dự khi được có mặt tại Yorba Linda, nơi sinh ra và lớn lên của cố tổng thống Richard Nixon. Xin cảm ơn những nhân viên và ban điều hành Trung tâm Nixon, những người giúp tổ chức sự kiện ngày hôm nay, vốn diễn ra trong giai đoạn rất khó khăn.
Chúng tôi cũng rất vinh dự được thấy những người rất đặc biệt có mặt tại sự kiện, gồm Chris Nixon, người tôi quen biết từ lâu. Tôi cũng muốn cảm ơn Tricia Nixon và Julie Nixon Eisenhower vì sự ủng hộ của họ.
Tôi cũng muốn nhắc tới nhiều người bất đồng chính kiến Trung Quốc đã tới đây sau một hành trình dài. Và xin cảm ơn tất cả các vị khách đã có mặt ở đây, cũng như những người theo dõi qua truyền hình trực tiếp.
Cuối cùng, như thống đốc vừa nói, tôi được sinh ra ở Santa Ana, cách đây không xa. Vợ chồng em gái tôi cũng ngồi dưới hàng ghế khán giả. Cảm ơn hai người đã có mặt, tôi đoán là cả hai không bao giờ nghĩ rằng tôi sẽ đứng trên này.
Ngoại trưởng Pompeo phát biểu tại Thư viện Nixon, bang California, ngày 23/7. Ảnh: AFP.
Bài nói phát biểu của tôi xếp thứ tư trong loạt bài phát biểu về Trung Quốc mà tôi đề nghị Cố vấn An ninh Quốc gia Robert O’Brien, Giám đốc Cục Điều tra Liên bang (FBI) Chris Wray và Bộ trưởng Tư Pháp William Barr đưa ra.
Skip
Chúng tôi có mục đích và nhiệm vụ rất rõ ràng. Đó là giải thích nhiều mặt khác nhau của quan hệ giữa Mỹ với Trung Quốc, sự mất cân bằng nghiêm trọng đã tích tụ suốt hàng thập kỷ qua, cũng như mục tiêu hướng đến chế độ chuyên chế của Trung Quốc.
Mục tiêu của chúng tôi là làm rõ mối đe dọa mà chính sách về Trung Quốc của Tổng thống Trump đang tìm cách giải quyết, cũng như chiến lược của chúng ta nhằm bảo đảm quyền tự do.
Cố vấn O’Brien nói về hệ tư tưởng. Giám đốc Wray đề cập tới hoạt động gián điệp. Bộ trưởng Barr nhắc đến nền kinh tế. Còn tôi muốn tổng hợp mọi thứ cho người dân Mỹ, đề ra chi tiết về mối đe dọa của Trung Quốc với kinh tế và tự do của chúng ta, cũng như tương lai của nền dân chủ toàn cầu.
Năm sau sẽ đánh dấu tròn nửa thế kỷ diễn ra nhiệm vụ bí mật của Tiến sĩ Kissinger đến Trung Quốc, trong khi năm 2022 sẽ kỷ niệm 50 chuyến thăm của cố tổng thống Nixon.
Thế giới khi đó rất khác ngày nay.
Chúng ta đã kỳ vọng kết giao với Trung Quốc sẽ mang tới một tương lai đầy hứa hẹn về sự thân thiện và hợp tác.
Nhưng giờ đây tất cả chúng ta đều vẫn phải đang đeo khẩu trang và chứng kiến số người chết vì đại dịch tăng từng ngày vì Trung Quốc đã thất hứa với thế giới. Chúng ta mỗi ngày đều đọc những bài báo về tình hình đàn áp ở Hong Kong và Tân Cương.
Chúng ta chứng kiến những thống kê sửng sốt về việc Trung Quốc lạm dụng thương mại, khiến người Mỹ mất việc làm và giáng nhiều đòn nặng nề vào nền kinh tế khắp nước Mỹ, bao gồm cả khu vực nam California. Chúng ta cũng thấy quân đội Trung Quốc ngày càng mạnh hơn và rõ ràng là ngày càng trở nên hăm dọa.
Tôi sẽ nhắc lại câu hỏi trong tâm trí người Mỹ từ California đến Kansas và nhiều nơi khác: Người dân Mỹ phải thể hiện gì sau 50 năm kết giao với Trung Quốc? Liệu những lý thuyết về sự phát triển hướng đến tự do và dân chủ tại Trung Quốc do các lãnh đạo của chúng ta đề xuất đã trở thành sự thật? Đây có phải định nghĩa của Trung Quốc về tình huống hai bên cùng có lợi hay không?
Đứng trên quan điểm của Ngoại trưởng Mỹ, liệu nước Mỹ có an toàn hơn không? Liệu chúng ta có khả năng xây dựng nền hòa bình cho mình và những thế hệ tiếp theo hay không?
Chúng ta phải thừa nhận một sự thật phũ phàng. Nó sẽ dẫn đường cho chúng ta trong hàng chục năm tới nếu chúng ta muốn một thế kỷ 21 tự do, thay vì hoàn thiện giấc mộng của ông Tập Cận Bình. Mô hình quan hệ mù quáng với Trung Quốc sẽ không làm được điều đó. Chúng ta không được nối tiếp, không được quay trở lại với nó.
Tổng thống Trump đã khẳng định rằng chúng ta cần chiến lược bảo vệ nền kinh tế và lối sống Mỹ. Thế giới tự do phải chiến thắng chủ nghĩa chuyên chế mới này.
Trước khi tôi bị cho là quá hào hứng phá bỏ mọi di sản của Tổng thống Nixon, tôi muốn làm rõ là ông ấy đã làm những điều được coi là tốt nhất với người dân Mỹ vào thời điểm đó, rất có thể ông ấy đã đúng.
Ông ấy là học trò xuất sắc của Trung Quốc, một chiến binh lạnh lùng nhưng đầy mạnh mẽ, cũng là người rất ngưỡng mộ người dân Trung Quốc, tôi nghĩ tất cả chúng ta đều như vậy. Ông ấy đáng được tôn vinh nhờ nhận ra tầm quan trọng của Trung Quốc, ngay cả khi đất nước này bị suy yếu vì những vấn đề nội tại.
Nixon đã giải thích chiến lược tương lai trong một bài viết rất nổi tiếng trên tạp chí Foreign Affairs năm 1967. Ông ấy cho rằng “về tầm nhìn dài hạn, chúng ta không thể để Trung Quốc đứng ngoài đại gia đình các quốc gia. Thế giới không thể yên bình cho tới khi Trung Quốc thay đổi. Mục tiêu của chúng ta là tác động đến những sự kiện, đích đến là thúc đẩy sự thay đổi”.
Tôi nghĩ rằng câu chủ chốt trong toàn bộ bài viết chính là “thúc đẩy sự thay đổi”. Với chuyến thăm lịch sử tới Bắc Kinh, Tổng thống Nixon đã khởi động chiến lược hợp tác của chúng ta. Ông ấy theo đuổi thế giới tự do và an toàn hơn, đồng thời hy vọng đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ đồng tình với quyết tâm này.
Khi thời gian trôi qua, các nhà xây dựng chính sách Mỹ ngày càng tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ mở cửa và tự do hơn khi trở nên thịnh vượng, bớt là mối đe dọa ở nước ngoài và ngày càng thân thiện hơn. Tôi nghĩ rằng mọi thứ khi đó dường như sẽ chắc chắn xảy ra.
Tuy nhiên, giai đoạn đó sẽ chấm dứt. Hình thức hợp tác mà chúng ta theo đuổi đã không mang tới những thay đổi trong nội bộ Trung Quốc mà Tổng thống Nixon hy vọng sẽ tạo ra.
Sự thật là những chính sách của chúng ta và những quốc gia tự do đã hồi sinh nền kinh tế kiệt quệ của Trung Quốc, để rồi Bắc Kinh quay lại lấy oán trả ân.
Chúng ta chào đón công dân Trung Quốc, để rồi thấy chính quyền của họ lợi dụng xã hội tự do và mở cửa của chúng ta. Trung Quốc cử những chuyên gia tuyên truyền vào các hội thảo báo chí, trung tâm nghiên cứu, cơ sở giáo dục và cả những cuộc họp phụ huynh trong trường học.
Chúng ta đẩy những người bạn ở Đài Loan sang bên lề, nhưng họ vẫn phát triển.
Chúng ta cấp ưu đãi kinh tế đặc biệt cho Trung Quốc, để rồi chứng kiến họ yêu cầu các công ty phương Tây làm ngơ hành động vi phạm nhân quyền nếu muốn đặt chân vào thị trường này.
Cố vấn O’Brien đã đề cập một số ví dụ như Marriott, American Airlines, Delta và United phải xóa mọi thông tin về Đài Loan trên website để tránh làm Trung Quốc tức giận. Hollywood, trung tâm của nền sáng tạo và công lý xã hội của Mỹ, cũng chứng kiến việc che giấu những thông tin không có lợi cho Trung quốc.
Điều này cũng diễn ra trên khắp thế giới.
Sự nhiệt thành thế này đã hoạt động như thế nào? Liệu sự nịnh hót có được khen thưởng? Tôi sẽ trích một câu nói trong bài phát biểu của Bộ trưởng Barr tuần trước: “Tham vọng tột độ của giới lãnh đạo Trung Quốc không phải giao thương với Mỹ, mà là tấn công nước Mỹ”.
Trung Quốc sao chép những bí mật kinh tế và tài sản sở hữu trí tuệ của chúng ta, khiến hàng triệu người mất việc khắp nước Mỹ. Họ hút sạch những chuỗi cung ứng khỏi Mỹ và sử dụng cả lao động cưỡng bức. Họ khiến những tuyến hàng hải huyết mạch của thế giới trở nên kém an toàn hơn cho thương mại quốc tế.
Tổng thống Nixon từng nói ông sợ rằng đã tạo ra một “Frankenstein” khi mở cửa thế giới với Trung Quốc, và giờ chúng ta ở đây.
Những người thiện chí sẽ tranh luận về việc những nước tự do để điều tồi tệ đó diễn ra suốt bao năm. Có thể chúng ta quá ngây thơ về Trung Quốc hoặc ngủ quên trên thắng lợi Chiến tranh Lạnh, hoặc bị đánh lừa bởi phát biểu của Trung Quốc về “sự trỗi dậy hòa bình”.
Dù lý do là gì đi nữa, Trung Quốc ngày càng độc đoán trong nước và hung hăng ở nước ngoài. Và Tổng thống Trump đã nói: đủ rồi.
Tôi không nghĩ nhiều người sẽ tranh cãi về những sự thật mà tôi đề cập hôm nay. Nhưng thậm chí ngay bây giờ, vẫn có người muốn chúng ta duy trì mô hình đối thoại chỉ vì mục đích đối thoại.
Chúng ta sẽ tiếp tục đối thoại, nhưng nội dung sẽ khác. Tôi đến Honolulu cách đây vài ngày để gặp Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì. Nó vẫn là câu chuyện quen thuộc, rất nhiều lời nói nhưng không có đề xuất nào nhằm thay đổi hành vi.
Lời hứa của ông Dương, cũng giống chính quyền Trung Quốc, là trống rỗng. Ông ấy dường như kỳ vọng tôi sẽ chấp thuận yêu cầu của Bắc Kinh, vì nói thật đây là điều quá nhiều chính quyền tiền nhiệm đã làm. Tôi thì không, Tổng thống Trump cũng sẽ không như vậy.
Như cố vấn O’Brien đã giải thích, Tổng bí thư Tập Cận Bình là người rất tin tưởng vào ý thức hệ toàn trị đã cũ nát. Đây là ý tưởng thúc đẩy tham vọng hàng chục năm của ông ấy về chế độ chuyên chế toàn cầu của Trung Quốc. Nước Mỹ không còn có thể phớt lờ khác biệt cơ bản về chính trị giữa hai nước.
Kinh nghiệm của tôi khi còn ở Ủy ban Tình báo Hạ viện, sau đó là Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) và hơn hai năm làm Ngoại trưởng đã dẫn tới kết luận sau:
Cách duy nhất để thực sự thay đổi Trung Quốc không phải hành động dựa trên lời nói của giới lãnh đạo, mà là cách họ hành xử. Các bạn có thể thấy chính sách của Mỹ phản ứng với nhận định đó. Tổng thống Ronald Reagan từng cho biết ông đối phó với Liên Xô dựa trên nền tảng “tin tưởng nhưng phải chứng thực”. Với Trung Quốc, tôi nghĩ chúng ta cần “mất tin tưởng và chứng thực”.
Chúng ta, những quốc gia yêu tự do, phải thúc đẩy Trung Quốc thay đổi như mong muốn của Nixon. Chúng ta phải hối thúc Bắc Kinh thay đổi bằng những cách sáng tạo và quyết đoán hơn, bởi hành động của họ đe dọa người dân và sự thịnh vượng của chúng ta.
Chúng ta phải bắt đầu bằng cách thay đổi góc nhìn của người dân và đối tác về Trung Quốc, không thể coi đó là một quốc gia bình thường như các nước khác.
Chúng tôi hiểu rằng giao thương với Trung Quốc không giống những nước bình thường, tuân thủ luật pháp. Bắc Kinh coi các thỏa thuận quốc tế như công cụ để thống trị toàn cầu.
Nhưng việc theo đuổi những điều khoản công bằng, như cách đại diện thương mại của chúng ta làm khi đạt thỏa thuận kinh tế giai đoạn một, có thể buộc Trung Quốc tính toán hành động đánh cắp tài sản sở hữu trí tuệ và những chính sách làm hại người lao động Mỹ.
Chúng ta hiểu rằng làm ăn với công ty Trung Quốc khác với doanh nghiệp Canada. Họ không thuộc quyền quản lý của những hội đồng độc lập, nhiều công ty trong số đó được chính quyền tài trợ và không cần theo đuổi lợi nhuận.
Một ví dụ cụ thể là Huawei. Chúng ta đã ngừng coi Huawei là một công ty viễn thông vô tội vốn chỉ xuất hiện để bảo đảm các bạn có thể nói chuyện với người thân. Chúng tôi đã gọi đúng bản chất của nó là một mối đe dọa an ninh quốc gia và hành động tương xứng.
Nếu các công ty Mỹ đầu tư vào Trung Quốc, họ có thể vô tình hoặc cố ý hỗ trợ những hoạt động vi phạm nhân quyền.
Bộ Tài Chính và Bộ Thương mại đã áp lệnh cấm vận, liệt nhiều quan chức và tổ chức Trung Quốc vào sổ đen vì lạm dụng quyền cơ bản của con người. Nhiều cơ quan đã phối hợp để bảo đảm lãnh đạo doanh nghiệp nắm được cách chuỗi cung ứng của họ hoạt động tại Trung Quốc.
Chúng ta cũng biết rằng không phải tất cả sinh viên và người lao động Trung Quốc là những người bình thường, đến đây chỉ để kiếm một chút tiền và thu thập kiến thức. Quá nhiều người đến Mỹ để đánh cắp tài sản trí tuệ và mang về quê nhà.
Bộ Tư pháp và nhiều cơ quan đang tìm cách trừng phạt những tội phạm đó.
Chúng ta biết rằng quân đội Trung Quốc không phải đội quân bình thường. Nhiệm vụ của họ là mở rộng đế chế Trung Quốc, chứ không phải bảo vệ người dân.
Bộ Quốc phòng Mỹ đã đẩy mạnh các nỗ lực, cũng như những chiến dịch duy trì tự do hàng hải ở Biển Đông, biển Hoa Đông và eo biển Đài Loan. Chúng ta đã thành lập Lực lượng Vũ trụ để răn đe Trung Quốc trên ranh giới cuối cùng.
Chúng tôi cũng xây dựng loạt chính sách mới để đối phó Trung Quốc tại Bộ Ngoại giao, thúc đẩy mục tiêu của Tổng thống Trump về công bằng và có đi có lại, điều chỉnh thâm hụt đã mở rộng suốt hàng chục năm qua.
Ngay trong tuần này, chúng tôi đã yêu cầu Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại thành phố Houston đóng cửa, vì nó là trung tâm hoạt động gián điệp và đánh cắp quyền sở hữu trí tuệ.
Cách đây hai tuần, chúng tôi đã đảo ngược 8 năm làm ngơ vấn đề luật pháp quốc tế trên Biển Đông. Chúng tôi cũng kêu gọi Trung Quốc điều chỉnh năng lực hạt nhân, tuân thủ những thực tế chiến lược trong thời đại này.
Mọi cấp của Bộ Ngoại giao trên khắp thế giới đã giao tiếp với những người đồng cấp Trung Quốc để đòi hỏi sự công bằng, có đi có lại.
Tuy nhiên, cách tiếp cận của Mỹ không thể chỉ xoay quanh hành động cứng rắn, điều đó khó lòng mang đến kết quả chúng ta mong đợi. Chúng ta cũng phải tiếp xúc với người dân Trung Quốc.
Điều đó bắt đầu với chính sách ngoại giao gặp mặt trực tiếp. Tôi đã gặp nhiều người Trung Quốc tài giỏi và cần cù ở khắp mọi nơi.
Tôi đã gặp những người Duy Ngô Nhĩ và dân tộc Kazakh rời khỏi Tân Cương. Tôi đã nói chuyện với các lãnh đạo phong trào dân chủ Hong Kong như Hồng y Zen, Jimmy Lai và Nathan Law.
Hồi tháng trước, tôi đã nghe những câu chuyện của những người từng có mặt trong sự kiện Thiên An Môn. Một trong số đó đang có mặt tại đây.
Hãy tưởng tượng thế giới và Trung Quốc sẽ tốt hơn đến thế nào nếu chúng ta được nghe tiếng nói của các bác sĩ ở Vũ Hán, cũng như họ được phát cảnh báo về bùng phát đại dịch do nCoV.
Suốt hàng chục năm, các lãnh đạo của chúng ta đã phớt lờ hoặc giảm nhẹ những tiếng nói chỉ trích dũng cảm tại Trung Quốc, những người đã cảnh báo về chính quyền chúng ta đang đối mặt.
Chúng ta không thể phớt lờ điều đó nữa. Tất cả đều hiểu rằng chúng ta không thể quay về trạng thái cũ.
Nhưng thay đổi cách hành xử của đảng Cộng sản Trung Quốc không phải nhiệm vụ của riêng người dân Trung Quốc. Các quốc gia tự do phải hành động để bảo vệ tự do. Đó không phải điều dễ dàng.
Tôi tin rằng chúng ta có thể thay đổi Trung Quốc, tôi có niềm tin vì chúng ta đã từng làm điều đó. Tôi có niềm tin vì Trung Quốc đang lặp lại nhiều sai lầm của Liên Xô, như xa rời các đồng minh tiềm tàng, gây mất niềm tin trong và ngoài nước.
Tôi có niềm tin. Tôi có niềm tin bởi thấy nhiều quốc gia đã thức tỉnh và hiểu rằng không thể trở lại quá khứ giống cách chúng ta đang thực hiện ở Mỹ. Tôi tin chúng ta có thể bảo vệ nền tự do vì chính sức hấp dẫn của nó. Hãy nhìn những người biểu tình Hong Kong vẫy cờ Mỹ.
Thực tế là vẫn có những khác biệt. Trung Quốc tích hợp sâu vào nền kinh tế toàn cầu, nhưng Bắc Kinh phụ thuộc vào chúng ta nhiều hơn là chiều ngược lại.
Tôi bác bỏ quan điểm rằng chúng ta đang sống trong thời đại không thể thay đổi, rằng một số cạm bẫy đã được thiết lập sẵn và sự thống trị của Trung Quốc chính là tương lai. Cách tiếp cận của chúng ta khó lòng thất bại chỉ vì Mỹ đang suy thoái. Thế giới tự do vẫn đang chiến thắng. Chúng ta chỉ cần tin tưởng và tự hào về điều đó. Nhiều người trên khắp thế giới vẫn muốn đến sinh sống ở một xã hội cởi mở. Họ đến đây để học tập, làm việc và xây dựng cuộc sống. Họ không tìm mọi cách để tới định cư tại Trung Quốc.
Đã đến lúc rồi. Thật tuyệt khi ở đây hôm nay. Thời điểm hoàn hảo. Đã đến lúc các quốc gia tự do hành động. Không phải nước nào cũng tiếp cận Trung Quốc theo cách giống nhau, họ cũng không nên làm vậy. Mỗi nước cần tự thấu hiểu cách bảo vệ chủ quyền, sự thịnh vượng kinh tế và lý tưởng trước Trung Quốc.
Dù vậy, tôi vẫn kêu gọi lãnh đạo mọi quốc gia bắt đầu hành động như Mỹ, đơn giản là theo đuổi sự có đi có lại, minh bạch và có trách nhiệm từ Trung Quốc.
Những tiêu chuẩn đơn giản và mạnh mẽ đó sẽ mang lại kết quả tuyệt vời. Chúng ta đã để Trung Quốc kiểm soát điều khoản hợp tác quá lâu, nhưng điều này sẽ chấm dứt. Các quốc gia cần hoạt động theo cùng nguyên tắc.
Chúng ta phải vạch ra những đường hướng chung, không bị cuốn theo những đề xuất béo bở của Trung Quốc. Đó là điều Washington đã làm khi bác bỏ yêu sách chủ quyền phi pháp của Bắc Kinh trên Biển Đông. Chúng tôi cũng hối thúc các nước trở thành Các quốc gia Trong sạch để thông tin cá nhân của người dân không rơi vào tay Trung Quốc. Chúng ta làm vậy bằng cách đề ra tiêu chuẩn.
Điều này sẽ rất khó khăn với một số nước nhỏ. Họ sợ bị cô lập, không có khả năng hoặc không đủ dũng khí để đứng cùng nước Mỹ vào thời điểm này.
Chúng ta có một đồng minh trong khối NATO không đứng lên theo cách cần có về vấn đề Hong Kong, vì họ sợ Bắc Kinh sẽ hạn chế khả năng tiếp cận thị trường. Đây là hành động sẽ dẫn đến thất bại lịch sử và không được lặp lại.
Chúng ta không thể mắc những sai lầm trong quá khứ. Thách thức từ Trung Quốc đòi hỏi nỗ lực từ nhiều quốc gia ở châu Âu, châu Phi, Nam Mỹ và đặc biệt là khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Nếu không hành động ngay bây giờ, Trung Quốc sẽ làm xói mòn nền tự do và trật tự thượng tôn pháp luật mà chúng ta gây dựng. Nếu chịu khuất phục, con cháu chúng ta có thể phải hứng chịu những hậu quả từ Trung Quốc.
Tổng bí thư Tập Cận Bình sẽ không trở thành người vĩnh viễn điều hành cả trong và ngoài Trung Quốc, trừ khi chúng ta để điều đó xảy ra.
Đây không phải vấn đề kiềm chế và kiểm soát, mà là hàng loạt thử thách mới mẻ và phức tạp và chúng ta chưa từng đối mặt. Liên Xô đóng cửa với thế giới bên ngoài, trong khi Trung Quốc đã hiện diện trong biên giới của chúng ta.
Vì vậy nước Mỹ không thể một mình đối mặt thử thách này. Liên Hợp Quốc, NATO, các nước G7 và G20, nền kinh tế, ngoại giao và sức mạnh quân sự của chúng ta sẽ đủ sức đối phó thử thách nếu chúng ta chọn đúng hướng đi.
Có thể đã đến lúc thành lập một nhóm với các quốc gia có quan điểm tương đồng, một liên minh mới của những nền dân chủ. Chúng ta có công cụ, tôi biết chúng ta làm được điều đó. Chúng ta chỉ cần có đủ ý chí. Xin trích dẫn Kinh Thánh, tôi muốn hỏi liệu “tinh thần của chúng ta mạnh mẽ nhưng thể xác lại yếu đuối”?
Nếu thế giới tự do không thay đổi, không chịu thay đổi, Trung Quốc chắc chắn sẽ thay đổi chúng ta. Bảo đảm tự do trước đảng cầm quyền Trung Quốc là mục tiêu trong thời đại này, và nước Mỹ đang ở vị trí hoàn hảo để dẫn đầu xu thế đó nhờ các giá trị của chúng ta.
Như tôi đã giải thích ở Philadelphia tuần trước, khi đứng ở Hội trường Độc lập, đất nước chúng ta được thành lập dựa trên nền tảng rằng mọi người đều có những quyền bất khả xâm phạm. Công việc của chính phủ là bảo vệ những quyền đó, đây là sự thật đơn giản và mạnh mẽ. Điều đó biến chúng ta thành ngọn đèn dẫn đường tự do cho người dân toàn thế giới, trong đó có cả những người ở Trung Quốc.
Richard Nixon đã đúng khi viết rằng “thế giới không thể an toàn trừ khi Trung Quốc thay đổi”. Đã đến lúc chúng thực hiện lời của ông ấy.
Hôm nay hiểm họa đã rõ ràng. Hôm nay sự thức tỉnh đang diễn ra. Hôm nay thế giới tự do phải hành động. Chúng ta không thể trở lại quá khứ.
Cầu Chúa phù hộ các bạn. Cầu Chúa phù hộ người dân Trung Quốc. Cầu Chúa phù hộ người dân Mỹ.
Xin cảm ơn tất cả các bạn.
*Tricia Nixon và Julie Nixon Eisenhower là con gái cố Tổng thống Nixon, Chris Nixon là con của Tricia.
Theo VNE
Thì thầm trong đêm
Thì thầm trong đêm
Đêm nay trời lặng im Cho ta đến bên mình Thì thầm theo hơi thở Tay trong tay đắm chìm
Anh muốn ôm cả chiều Hôn lên vầng mây đỏ Trời hoàng hôn chợt tím Hai bóng đổ liêu xiêu
Em muốn nói điều gì Khi đêm về thao thức Lời thì thầm ru ngủ Hoài niệm tuổi xuân thì
Lê Tuấn
Trở về với vần điệu (thơ 7 chữ). sau lời thì thầm, thường để lại chút vấn vương, đi vào tâm hồn, chìm theo giấc ngủ, mà đôi khi vẫn “còn nghe tiếng nấc” trong đêm.
Còn nghe tiếng nấc
Không chút men nào vẫn thấy say Môi tình đỏ thắm má hây hây Hương đồng gió nội bay thơm ngát Ý nhạc thay lời, vẫn ngất ngây.
Nơi chốn hồn hoang nhớ bóng đêm Tình ai ảo tưởng, bóng bên thềm Lung linh ngọn nến mờ nhân ảnh Có xót thương người, nhớ bóng em.
Gối mộng đừng quên nhớ đến nhau Chiều buông bóng xế lạnh cơn đau Còn nghe tiếng nấc buồn trăn trở Hãy gọi tên người, dẫu ở đâu.
Lê Tuấn
(Người nghệ sĩ lãng mạn, vẫn lang thang hoài trong tâm tưởng)
Những chặng đường Y Khoa của tôi
Những chặng đường Y Khoa của tôi
Nguyễn Thị Kim Thoa
***
Tôi rất có duyên trong chuyện học. Cái duyên ấy được tạo tác nên bởi thầy cô từ cấp tiểu học biết kích thích tính tò mò của học sinh, và bản thân tôi luôn khao khát “khám phá những điều bí mật” trong sự sống tự nhiên và con người. Sách giáo khoa trình bày những kiến thức minh nhiên mà tôi thì cứ cho là bí mật, bởi vì tôi thường tự mình “khám phá” từ đầu hè hầu như tất cả các chương trình trong năm học tới. Cuối năm lớp nhì (lớp 4 bây giờ), anh Bửu Hàm, bạn học y khoa của anh trai tôi đem cho tôi cuốn sách Khoa Học Thường Thức do cha anh – cụ Ưng Luận biên soạn và xuất bản. Thế là mùa hè năm đó ngoài những cuộc rong chơi với bạn bè, hoặc một mình len lỏi “vườn Vỹ Dạ”, tôi đã miệt mài với cuốn Khoa Học Thường Thức và những cuốn sách giáo khoa lớp nhất khác. Cuối hè nói như ngôn ngữ ngày nay, tôi coi như “cơ bản” nắm bắt được chương trình lớp nhất.
Tôi thích cây cối, hoa lá, chim muông, sỏi đá và đặc biệt: Con Người. Từ thời học trung học đệ nhất cấp (cấp hai bây giờ) học Vạn vật (bây giờ là sinh học) với cô Minh Cầm, cô Nhàn… tôi có bộ sưu tầm hình ảnh cây lá, côn trùng, chim thú, Con Người dày và đẹp nhất lớp. Tôi thích con khỉ Paker được các nhà du hành Mỹ đưa lên vũ trụ lần đầu tiên. Tôi thích con mèo Orengey đóng phim. Tôi thích hình vị thần Atlas trong bộ sách địa lý của cha tôi. Tôi thích hoa Diên Vỹ trong tranh của họa sĩ Van Gogh. Tôi thích hoa Thạch Thảo trong thơ Apollinaire qua bản dịch của Bùi Giáng và nhạc Phạm Duy. Tôi thích ngắm bình minh trên biển Thuận An. Tôi thích ngắm chiều tím trên những ngọn núi xa nhìn từ bên này sông Hương. Tôi thích…Tôi thích…
Ôi cuộc đời học trò của tôi sao mà đẹp như vậy nếu mẹ tôi không bị chính quyền đánh bể nồi cơm sau khi môn bài gạo gia đình bị đình chỉ do vụ “gạo miền Trung” năm 1958, nếu cha tôi không vì bệnh mà chết sớm, nếu không có chiến tranh chết chóc trận Mậu Thân, nếu không có những cảnh đời đói khổ, chết chóc, bệnh tật…
*
Vào đệ nhị cấp (cấp ba bây giờ), tôi tham gia nhóm Hướng Thiện do bác Phạm Đăng Siêu chủ trì. Nhóm Hướng Thiện được thành lập tại nhà tôi với bốn thành viên trụ cột, kết nghĩa huynh đệ: Nguyễn Đắc Hồng (anh cả tôi), Phan Đăng Huy (còn gọi anh Sáu), Tống Viết Thành và Đoàn Thiện. (Nhóm Hướng Thiện sau này phát triển lên đến cả trăm thành viên. Cha Petitjean – thầy dạy thêm pháp văn của tôi cũng thỉnh thoảng lui tới và đóng góp. Cha Petitjean và bác Phạm Đăng Siêu thường gặp gỡ trò chuyện về đề tài tôn giáo – văn hóa trong tinh thần thân thiện và tương kính có tôi chầu rìa). Cuối mỗi tuần, nhóm thường họp tại nhà tôi trước khi bắt đầu các cuộc hành thiện. Chủ trương của nhóm Hướng Thiện là gom góp gạo, áo quần cũ, tiền bạc trong bạn bè thân quen đem chia sẻ cho những gia đình nghèo khó tại thành phố Huế hay tại các làng xóm ở nông thôn. Tôi thường hay đạp xe theo bác Siêu tới một vài làng quê vùng ven nào đó cách Huế năm, mười cây số. Những lần đi như thế, bác Siêu thường dạy tôi cách thực hành Phật pháp giữa cuộc vô thường. Bác gợi ý sau này lên đại học nên chọn ngành y vì đất nước đang rất cần hàn gắn quá nhiều vết thương.
Kết thúc chương trình phổ thông, tôi nhìn lại xem như một cuộc du ngoạn. Kỳ thi tú tài một (1968) và tú tài hai (1969) tôi đều đạt thứ hạng cao.
Kết quả học tập như thế, con đường vào đại học của tôi khá rộng. Tôi có thể nộp đơn xin học bổng du học Mỹ về giáo dục; du học Đức về triết, du học Úc, Tân Tây Lan học về hóa dầu…; hoặc ở lại Huế học sư phạm hay y khoa. Tôi đã chọn y vì tôi thích nhiều hơn những bí mật còn tiềm ẩn trong Con Người cả về tinh thần lẫn thể xác. Tôi chọn y vì có thể giúp ích được nhiều người giảm bớt đau thương như gợi ý của bác Siêu.
Chương trình y khoa lúc bấy giờ gồm bảy năm. Năm dự bị và sáu năm chính thức. Đó là chương trình y khoa tổng quát (y đa khoa). Các sinh viên tốt nghiệp sau một kỳ thi, trình luận án được công nhận là bác sĩ. Các bác sĩ được đào tạo tại các trường y lúc bấy giờ được bổ nhiệm vào các bệnh viện từ trung ương Sài Gòn, Huế, đến các bệnh viện tỉnh. Không ai phải chạy vạy đút lót xin việc như sau này trong chế độ Xã hội chủ nghĩa. Một số bác sĩ được trường Y giữ lại, đưa đi học chuyên khoa tại ngoại quốc, về làm phụ giảng. Các bác sĩ nam đến tuổi quân dịch được trưng tập vào quân đội, được phân bổ đến các quân y viện hay các đơn vị tác chiến đã tỏ ra thành thạo tay nghề và lương tâm chức nghiệp không thua kém các đồng nghiệp được đào tạo tại Sài Gòn hay ngoại quốc. Cũng không có sự chênh lệch quá xa giữa các thế hệ bác sĩ về văn hóa hay chuyên môn.
*
Để chính thức vào trường Y, tôi phải qua năm dự bị còn gọi là năm học chứng chỉ SPCN. Chứng chỉ SPCN được tổ chức tại trường đại học khoa học gồm 5 lớp. Hai lớp dự bị y khoa và ba lớp dự bị khoa học. Giảng đường rộng nên chứa được cả trăm sinh viên.
SPCN là viết tắt của bốn chữ: Sciences Physiques, Chimiques et Naturelles. Đây là chương trình khoa học cơ bản nên từ việc dạy của các thầy cô, đến việc học của sinh viên, và các kỳ thi học kỳ cũng như kết thúc rất nghiêm túc. Hai lớp dự bị y khoa có khoảng 200 – 250 sinh viên, nhưng chỉ có chừng 120 sinh viên hoàn thành chứng chỉ SPCN. Các sinh viên thi hỏng chứng chỉ SPCN tìm đường khác cho tương lai của mình, hoặc phải vào lính (nếu là nam).
Năm dự bị chúng tôi học chương trình đại cương gồm nhiều môn học: Toán gồm các môn: Toán thống kê – xác suất với thầy Lê Tự Hỷ, Tích phân vi phân với thầy Cao Doãn Nhơn, Tân đại số với thầy Nguyễn Dương. Lý gồm các môn: Nhiệt học với thầy Thọ, Cơ học với thầy Hoàng, Điện từ với thầy Thái. Sinh hóa học với thầy Cúc, cô Tuyết Mai. Anh văn với thầy Tôn Thất Viễn Bào…Tất cả các môn khoa học đều có giờ thực hành ở phòng thí nghiệm. Môn Sinh học: Làm các phẫu thức cây lá hoa, rồi vẽ lại các lớp cấu thành: hệ sube, hệ lõi, các tế bào diệp lục… Mổ các con vật nhỏ như dán, chuột, sán đũa, cá rô… Mổ xong ghim trình bày trên giấy bìa cứng các bộ phận của nó như xúc biện của dán, hệ tiêu hóa của chuột, của sán… Vẽ lại các phẫu thức ấy trên giấy rô – ki. Tôi nhớ có một người bạn mổ trình bày rất đẹp, nhưng khâu vẽ chị ấy trình bày kém: chị vẽ con chuột không ra con chuột, con dán không ra con dán, đành không theo học y được. Môn Vật lý: đo độ nhớt của các loại dầu, tính sức căng bề mặt của các loại chất lỏng… Hóa học: thực hiện các phản ứng thủy phân, acide hóa và kiềm hóa…
Cũng ở năm học này có một môn học tôi rất thích dù chỉ là môn nhiệm ý ( không có trong chương trình thi): “Con người và môi trường sống”. Đây là môn học mới do sáng kiến của thầy khoa trưởng Nguyễn Văn Hai. Trong môn này sinh viên tự chọn và dịch một cuốn sách khoa học ( không có sự kiểm soát của giáo sư). Cuốn sách tôi chọn là cuốn Médecin sous les Tropiques của Pierre Fourré. Tôi đã dịch cuốn này với sự giúp đỡ của cha Petitjean. Ngoài ra sinh viên còn được mời tham dự những buổi thuyết trình hay hội thảo về nhiều vấn đề ngoài chương trình thuộc các lãnh vực xã hội, tôn giáo, luật, kinh tế, văn học, nghệ thuật…
Tôi còn nhớ buổi nói chuyện rất hay của thầy Tôn Thất Viễn Bào với đề tài: “From the volcanoes to the rain”. Hay một bữa nói chuyện về thuốc ngừa thai của một dược sĩ tại hội trường của viện đại học. Trong buổi nói chuyện này có sự tranh luận rất sôi nổi giữa thầy khoa trưởng Nguyễn Văn Hai và thầy viện trưởng Lê Thanh Minh Châu: Có nên có hay không có sự quảng cáo thuốc ngừa thai? Thầy Nguyễn Văn Hai là một nhà giáo dục cấp tiến. Thầy muốn sinh viên nắm bắt một vấn đề thiết thực đối với xã hội và tuổi trẻ: Vấn đề dân số và kế hoạch hóa gia đình. Thầy Lê Thanh Minh Châu là người Công giáo: Vấn đề hạn chế sinh sản bằng biện pháp kỹ thuật động đến tín điều của giáo hội. (Sự thực này mãi mấy ngày sau chúng tôi mới sáng tỏ khi trao đổi với các bạn là giáo dân ở lớp Pháp văn của Cha Petitjean). Sau khi hai vị giáo sư lãnh đạo trường và viện bày tỏ nhận thức, quan điểm của mình, đến lượt sinh viên phát biểu. Sinh viên cũng chia làm hai cánh tự do bày tỏ ý kiến: Cánh ủng hộ thầy khoa trưởng, cánh ủng hộ thầy viện trưởng. Cuộc thuyết trình biến thành cuộc hội thảo: sôi nổi và tự do. Thầy viện trưởng không hề dùng quyền lực áp đặt tư tưởng lên cấp dưới và sinh viên.
Một buổi thuyết trình khác được tổ chức tại trường Luật do hai giảng viên rất trẻ thuyết trình, đề tài là Quốc tế công pháp. Cả hai thuyết trình viên đều rất hùng biện, cung cấp cho sinh viên chúng tôi các kiến thức sơ khởi và có tính cách lý thuyết về sự sự bình đẳng giữa các quốc gia, và luật pháp quốc tế bảo đảm hòa bình, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia trong Liên Hiệp Quốc… Các thuyết trình viên còn cho biết mục tiêu, cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Quản thác, Ban thư ký và các tổ chức thành viên như Lương – Nông, Văn hóa – Giáo dục…
Cuối những buổi nói chuyện như thế thường là những buổi chiếu phim. Love Story, Spartacus, Docteur Zivago… là những phim hay chúng tôi được xem sau những buổi nói chuyện này.
Mặc dù chương trình học dày đặc các môn lý thuyết và thực hành, nhưng xen kẽ là những buổi nói chuyện ngoại khóa khiến sinh viên thích thú.
Sau khi đạt chứng chỉ SPCN để chính thức vào năm thứ nhất trường Y, các sinh viên phải qua một cuộc thi vấn đáp.
*
Tại buổi thi vấn đáp:
Ban giám khảo gồm 9 vị giáo sư: Bùi Duy Tâm, Lê Văn Bách, Nguyễn Văn Tự, Lê Xuân Công, Lê Bá Nhàn, Võ Đăng Đài, Lê Bá Vận, Bùi Minh Đức, Nguyễn Mạnh Hùng. Các sinh viên được gọi vào theo thứ tự a,b,c.
Sinh viên thí sinh ngồi trên một bàn nhỏ đối diện với bàn các giáo sư giám khảo, lần lược trả lời các câu hỏi của từng vị giáo sư một.
Các câu hỏi đa phần thiên về kiến thức tổng quát: văn hóa, xã hội, lịch sử, văn học nghệ thuật… Qua đó, các vị giáo sư giám khảo đánh giá sinh viên có thích hợp với nghề y hay không.
Tôi không biết các bạn tôi được hỏi và trả lời như thế nào. Phần mình, tôi xin ghi lại:
Câu hỏi đầu tiên thầy Bùi Duy Tâm đặt cho tôi là: “Tại sao cô chọn ngành y? ”. Tôi đã trả lời như những gì tôi đã viết ở trang đầu bài này. Tiếp theo thầy Bùi Duy Tâm hỏi: “Cô có biết Trường Chinh và Trương Chính là ai không ?” Tôi trả lời rằng tôi không biết Trường Chinh là ai, nhưng Trương Chính thì tôi biết: Trương Chính là nhà nghiên cứu văn học dân gian của miền Bắc, tác giả cuốn sách Những bông hoa dại. Giáo sư Bùi Duy Tâm hỏi tiếp: “Do đâu cô biết như thế?” Tôi trả lời là hồi học trung học đệ nhất cấp, cô giáo dạy văn bảo học sinh sưu tầm ca dao tục ngữ. Tôi chạy đôn chạy đáo “điền dã” trong tất cả các mối quan hệ. Đặc biệt, cha tôi cho phép tôi sử dụng chiếc radio Philip của ông để tôi chờ nghe chương trình dẫn giải ca dao tục ngữ do linh mục Nguyễn Văn Thích phụ trách trên đài phát thanh Huế. Qua chương trình này tôi biết thêm nhiều chuyện, trong đó có chuyện Trương Chính là tác giả cuốn sách Những bông hoa dại. Giáo sư Bùi Duy Tâm tỏ vẻ hài lòng khi nghe tôi trả lời như thế.
Câu hỏi của thầy Võ Đăng Đài: “Cảm nhận của chị về vị béo khi ăn phở?”. Tôi trả lời là tôi không biết đích xác mùi vị của phở, vì tôi chưa được ăn. Tôi chỉ biết mùi vị của phở qua một “phế phẩm” là xương phở còn được gọi là “xí quách”. Mỗi tối ngồi học khuya nghe tiếng mõ lốc cốc, lốc cốc từ chiếc xe phở sắp tới trước đường, lòng dạ chị em chúng tôi nôn nao vì sắp được mẹ mua cho mấy cục xương có mùi vị thật hấp dẫn. Một vài rẻo thịt tuơ xác, mấy sợi gân và mấy vành sụn rã rời còn dính trên các ống và đầu xương, các sợi tủy chực long ra trong lòng các ống tủy… tất cả đều mềm lụn, thơm phức và béo ngậy, kích thích khứu giác, vị giác và cái bụng đói cồn cào của chúng tôi. Nó giúp chúng tôi có thêm năng lượng để tiếp tục buổi học khuya. Cái “phế phẩm” mà ngon lành như vậy huống hồ gì một tô phở nóng hổi đầy đủ các thứ nguyên liệu và phụ gia. Nghe tôi trả lời, cả hội đồng giáo sư đều phì cười.
Giám khảo thứ ba là thầy Lê Văn Bách: “Hai câu thơ mà người Huế ai cũng biết:Khô héo là gan cây đỉnh Ngự / Đầy vơi giọt lệ nước sông Hương là của ai?” Tôi bật miệng đọc luôn: “Con ơi ruột mẹ bấn như tương / Bảy nổi ba chìm quá thảm thương / Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự / Đầy vơi giọt lệ nước sông Hương. Tác giả bốn câu thơ này là mẹ vua Duy Tân, vợ vua Thành Thái. Tôi mở cờ trong bụng vì cho rằng mình đã “trúng tủ”, nhưng giáo sư Bách đã làm tôi tiu nghỉu với câu hỏi tiếp theo: Mẹ vua Duy Tân tên gì? Tôi lấy làm xấu hổ vì không trả lời được.
Hội đồng giáo sư chỉ hỏi tôi có chừng ấy và cho tôi ra về.
*
Kết quả tôi lọt vào top 20 /100 thí sinh chính thức được công nhận là sinh viên y khoa khóa 10 đại học Y khoa Huế. Tin vui tiếp theo là tôi nhận được học bổng Y tế. Ngày đó trường Y có hai loại học bổng: học bổng Quốc gia do bộ Giáo dục đài thọ, học bổng Y tế do bộ Y tế đài thọ. Học bổng Y tế nhiều gấp 3 học bổng Quốc gia và được nhận một lần vào cuối năm. Học bổng Quốc gia gần bằng lương của một công nhân tân tuyển ngoại ngạch, đủ cho sinh viên ăn ở (tại ký túc xá và quán cơm sinh viên), và các nhu cầu căn bản của đời thường.
Gần tới hè, nhận được học bổng Y tế, tôi rất phấn khởi, lần đầu tiên có được một số tiền lớn như vậy. Tôi tặng mẹ một phần ba, một phần ba sắm áo quần cho chính mình và các em, cũng tặng các em mỗi đứa một ít, một phần ba còn lại tôi dành cho chuyến đi Sài Gòn sắp tới. Năm nào cũng vậy, chuyến đi Sài Gòn nhằm mục đích mua sách ở Mỹ Hiệp và lục tìm sách báo cũ trên vỉa hè Lê Lợi. Đến cuối hè 1974, tủ sách của tôi có năm báy trăm đầu sách. Tôi mở một ngoặc đơn ở đây để nói với các bạn trẻ ngày nay rằng là mỗi cuốn là một người bạn, cũng là một vị thầy, chúng ta tha hồ mà hỏi han tâm sự. Các bạn thử tính xem, xong ba cấp học: tiểu, trung và đại học, các bạn có bao nhiêu thầy cô và bằng hữu? Bốn năm mươi thầy cô chăng? Năm bảy chục bằng hữu chăng? Hay nhiều hơn số đó? Các bạn cộng các thầy cô và bằng hữu đó với mấy trăm bằng hữu và thầy cô là những cuốn sách, các bạn sẽ có một gia tài khấm khá tri thức và tâm hồn. Đóng ngoặc đơn. Chuyến đi Sài Gòn đầu tiên bằng tiền học bổng y tế, ngoài mục đích mua sách, thăm viếng…, tôi còn có mục đích canh cánh từ sau cuộc thi vấn đáp để chính thức vào trường y là “ăn một tô phở”. Chuyến đi Sài Gòn lần ấy tôi đi với Hoài, cô bạn cùng lớp thân thiết. Hoài có nhà ở Sài Gòn nên trở thành người hướng dẫn tôi trong mọi chuyện. Hoài đưa tôi tới tiệm phở nổi tiếng Miền Nam lúc bấy giờ, Phở Tàu Bay. Nếu tôi nhớ không nhầm, Phở Tàu bay nằm trên đường Võ Tánh, số 47. Phở Tàu Bay di cư từ Hà Nội sau 1954. Hoài nói mấy ông tướng gốc Bắc nghiện Phở Tàu Bay đến độ ra Huế hành quân, mỗi sáng chờ máy bay của Air VN mang phở từ Sài Gòn ra để ăn điểm tâm.
Lần đầu đối diện với tô phở, tôi bồi hồi xúc động bởi cái mùi thơm riêng biệt mà tôi không cảm nhận được từ những tô bún bò hay những tô mỳ quảng đặc sản của quê nội và quê ngoại Huế – Quảng của tôi. Rất nhiều gia vị phối hợp một cách hài hòa với nguyên liệu chính là thịt xương bò hầm quấn quít lấy khứu giác tôi. Cái tô sứ màu trắng ngõa miệng, cộng với màu xanh của hành ngò, màu nâu nhạt của mấy lát nạm, màu đỏ sẫm của mấy lát tái, màu trắng sáng, màu trắng trong của bánh phở và nước dùng gây ấn tượng một bức tranh nhỏ. Ở giữa hai tô phở của tôi và Hoài còn có một dĩa rau mùi gồm ngò gai, húng quế, một khay nhỏ gồm một chai tương ớt màu đỏ, một chai tương đậu màu nâu, một thẩu nhỏ ớt cắt miếng xanh đỏ dầm chua, một chai tiêu bột và một chai nước mắm; còn có một dĩa nhỏ đựng mấy lát chanh. Hoài nói: “Những thứ rau và gia vị này thực khách tùy nghi sử dụng ít nhiều hay không do yêu cầu của từng người. Ai ăn mặn thêm nước mắm, Ai ăn cay thêm ớt … Theo mình (Hoài), nên vắt thêm lát chanh và ngắt thêm mấy lá rau thơm. Ăn phở nhiều lần mới tìm cho mình một thói quen thích hợp…” Tôi vốn dị ứng với những gia vị chế biến ngoài gia đình; vả lại, rất nôn nao trước sự mời gọi của tô phở còn bốc khói. Tôi vắt chanh, ngắt rau bỏ vào tô và dùng đũa muỗng trộn theo lời Hoài. Những cảm nhận ban đầu không hề mất đi khi tôi dùng đũa và muỗng chậm rãi đưa thức ăn vào miệng rồi từ từ nhai, từ từ nuốt. Lúc này không còn màu sắc, chỉ còn mùi và vị quyện vào nhau cho tôi những cảm nhận tinh tế và sâu sắc mà tôi chỉ có thể thầm nói lên một tiếng: Ngon. Tiếng Ngon không chưa đủ. Nếu có tài văn chương, tôi có thể mô tả những cảm nhận ấy bằng những thuộc từ chính xác và đầy đủ hơn.
*****
Năm thứ nhất trường Y Huế chúng tôi được học các môn học cơ bản. Các thầy đều là người Việt, dùng tiếng Việt nhưng các từ chuyên môn và sách tham khảo đều dùng tiếng Pháp, tiếng Anh, hoặc tiếng Đức (ít hơn). Các môn học gồm: Sinh lý (physiology) thầy Lê Văn Bách. Sinh hóa (biochemistry) thầy Võ Đăng Đài. Cơ thể học (Anatomy) thầy Lê Xuân Công. Mô phôi học (histiology) thầy Trà Văn Đỏ, thính giảng từ đại học Y Sài Gòn. Môn Sinh hóa học có phần thực tập tại phòng thực tập sinh hóa: pha chế các phản ứng, chế nghiệm viên phụ trách thực hành là dược sĩ Bội Tiên và kỹ sư hóa Lê thị Phước Hạnh. Môn cơ thể học có phần thực tập trên các mẩu xương người khô. Mỗi sinh viên chúng tôi có thể mượn các đầu lâu, xương tay chân đem về nhà để học. Vào năm thứ 2, thực hành môn cơ thể học có phần mổ xác. Trợ giảng phần thực hành này là bác sĩ Nguyễn Văn Chữ và anh Trần Tiễn Ngạc lớp trên tôi chừng 4 khóa.
Phòng mổ xác khá rộng, có hai bàn. Đến ngày học mổ xác, bác Khôi nhân viên của trường vớt các xác từ hầm formol đặt lên bàn. Sinh viên chia từng tốp nhỏ ba, bốn người dùng pince, kéo mổ theo chỉ dẫn của các bác sĩ trợ giảng.
Lễ Machabée: Hằng năm sau ngày khai giảng nhà trường tổ chức lễ Machabée, lễ cúng vong linh các thân xác vô thừa nhận đã giúp sinh viên học hỏi. Lớp y năm thứ hai trực tiếp học là lớp đứng ra tổ chức. Lễ được tổ chức theo cả hai nghi thức Công giáo và Phật giáo. Tuy tổ chức đơn giản nhưng từ trong tâm thức của mỗi sinh viên đều cảm nhận được cái trang trọng, kính cẩn và biết ơn bằng những nén hương, những lời cầu nguyện, và cả nước mắt của không ít nữ sinh viên.
Vê phần lý thuyết, hầu hết các thầy giảng bài và chúng tôi ghi chép, không có giáo án in sẵn. Ghi chép như thế nào cho kịp lời thầy giảng, ghi tắt, lấy note, tốc ký tùy từng sinh viên, sau đó vào thư viện đọc sách tham khảo thêm, soạn bài cho riêng mình. Sách tham khảo hầu hết bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức, không hề có sách tiếng Việt.
Các sách cơ bản về sinh hóa như Biochemistry của Mary Campell, Medical biochemistry, Clinical biochemistry, Biochemistry and genetic hoặc các sách về sinh lý như Medical Physiology của Barett, Physiology của Stefan Silbernag là những sách đắt hàng ở thư viện.
Nghe giảng, ghi chép và soạn bài là như thế, nhưng học y trí nhớ rất quan trọng; không thuộc nằm lòng không thể làm bài và thực hành được. Một đặc tính khác của sinh viên y khoa là óc phân tích và tổng hợp, nếu không có khả năng này, không học được. Tôi còn nhớ một câu hỏi trong bài thi Sinh hóa của thầy Võ Đăng Đài. “Hãy cho biết các phản ứng chuyển biến của hạt cơm khi ăn từ miệng cho đến khi thành chất phế thải?” Với cách thức ra đề như thế này, nếu học thuộc bài mà không nắm cơ chế, không biết lý luận thì không thế nào làm bài được cho dù có mang theo tài liệu.
*
Qua hai năm học các môn cơ bản, lên năm thứ ba chúng tôi đi thực tập bệnh viện buổi sáng, buổi chiều về trường học lý thuyết.
Năm thứ ba về lý thuyết chúng tôi bắt đầu học triệu chứng: triệu chứng học nội khoa, triệu chứng học ngoại khoa, triệu chứng học sản phụ khoa.
Ở giai đoạn này những cuốn sách triệu chứng học như Medical semiology của Bariety, Surgical semiology của Leger, Osbstetric and Gynecology semiology là những sách cần thiết. Thế nhưng không phải ai cũng mua được. Chúng tôi phải vào thư viện đọc, ghi chép về để học. Khoảng cuối năm 1972 đầu năm 1973, nhà sách Ưng Hạ có bán một số sách y khoa dạng photocopy của nhà sách Mỹ Hiệp Sài Gòn, sách có giá tương đối rẻ so với sách nguyên bản nhập về, do vậy sinh viên có thể mua được, nhưng số hạng cũng còn ít so với nhu cầu.
Phần thực tập tại bệnh viện: chúng tôi được chia thành từng nhóm, mỗi nhóm gồm 4 hay 5 sinh viên y ba, ba hay hai sinh viên y năm và một sinh viên nội trú (sinh viên y6). Mỗi nhóm do một bác sĩ trợ giảng chỉ dẫn, theo dõi kèm kẹp và cho điểm cuối mỗi kỳ thực tập ở một buồng bệnh.
Mỗi buổi sáng các sinh viên đến sớm làm bệnh án theo dõi diễn tiến của bệnh. Năm thứ ba chúng tôi nhận diện các triệu chứng, tổng hợp các triệu chứng thành hội chứng. Sinh viên năm thứ năm thêm một bước nữa là tổng hợp các hội chứng để định bệnh, lý giải các triệu chứng, tìm chẩn đoán phân biệt và theo dõi tiến triển. Sinh viên năm nội trú xem như là một bác sĩ thực thụ: chẩn đoán, tìm biến chứng, theo dõi tiến triển bệnh và điều trị. Sinh viên năm ba có gì chưa sáng tỏ hỏi thêm các anh chị y năm, các anh năm thứ năm trao đổi hỏi thêm anh nội trú. Cứ thế chúng tôi cùng nhau học hỏi, xem nhau như anh em. Đến giờ bác sĩ trợ giảng khám bệnh, các anh vừa khám bệnh vừa giảng giải vừa cầm tay chỉ vẽ cho từng sinh viên năm ba chúng tôi, vừa giảng cơ chế bệnh lý, cách điều trị cho các anh năm trên. Tất cả những công việc trong ngày từ các em năm ba đến các anh chị nội trú mỗi người đều phải ghi chép từng ngày vào sổ thực tập, cuối tuần nộp lại tại văn phòng bộ môn; các thầy, các bác sĩ trợ giảng xem lại, sửa sai, phê bình, đóng góp ý kiến cho chúng tôi. Khi ngồi viết lại những dòng ký ức này tôi thật sự xúc động khi lần giở lại tập ghi chép thực tập năm xưa. Nhìn các thầy, các anh, sửa từng lỗi chính tả, chua thêm tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức các từ y học, những câu khen thưởng, những lời nhắc nhở cần đọc thêm sách gì, ở đâu… Nhờ sự tận tâm chỉ vẽ trong những năm tháng thực tập ngày đó, chúng tôi mới có được những kiến thức cơ bản khi bước những bước đầu tiên trong nghề Y.
Cũng cần nói thêm sinh viên y khoa hồi đó đi thực tập tại bệnh viện ai cũng cặp kè những cuốn handbook trong túi áo blouse. Handbook là những cuốn sách bỏ túi có đủ chuyên nghành: Handbook medecin, handbook pediatric, handbook surgical… Những loại sách này có thể gởi mua ở sách vỉa hè Sài Gòn. Một đôi anh chị còn có loại sách lớn hơn một chút (cỡ 10×15) như Vademecum, Vademecum encyclopédique, Merck Manual.
Trong năm thứ ba, qua 9 tháng học tập chúng tôi đã qua ba khu bệnh lý: nội khoa, ngoại khoa, sản phụ khoa.
Tại khu nội thương, hai bác sĩ trợ giảng là bác sĩ Bùi An Bình và bác sĩ Trần Lương Hoa trực tiếp cầm tay chỉ việc, hàng tuần thầy Lê Văn Bách còn tổ chức trình bệnh và giảng giải những trường hợp khó. Tại những buổi trình bệnh sinh viên chúng tôi học hỏi được rất nhiều.
Tại khu ngoại thương các bác sĩ trợ giảng là bác sĩ Tôn Thất Hứa, bác sĩ Tôn Thất Chiểu, bác sĩ Đinh Sơn Thắng, bác sĩ Đỗ Như Đài trực tiếp hướng dẫn. Bác sĩ trưởng bộ môn Lê Xuân Công cũng tổ chức những buổi trình bệnh cuối tuần. Thực hành bệnh lý ngoại khoa chúng tôi được các đàn anh đàn chị chỉ dẫn tận tình từ cách dùng các loại pinces, kéo, kìm… từ cách sử dụng kim cong, kim thẳng dần đến phụ mổ…
Bệnh lý học phụ sản có các bác sĩ trợ giảng: Văn Quảng, Phan Xuân Tứ, Lê Duyêt Tảo trực tiếp chỉ dẫn. Bác sĩ trưởng bộ môn Nguyễn Văn Tự cũng có những buổi trình bệnh giảng dạy trong tuần. Cái vui cũng là cái khó của chúng tôi khi đi thực tập tại sản phụ khoa là phải làm đầy đủ các chỉ tiêu được giao: bao nhiêu trường hợp sinh thường, bao nhiêu trường hợp sinh con so… do vậy chúng tôi thường giành nhau nhận bệnh. Nhiều lúc nghĩ lại thấy đời sinh viên y thật thú vị.
Hết năm thứ ba chúng tôi có được kiến thức và kỹ năng căn bản về nội, ngoại, sản phụ khoa cả về lý thuyết lẫn thực hành.
*
Năm thứ tư chúng tôi học bệnh lý nhi khoa với bác sĩ Nguyễn Thị Tinh Châu và bác sĩ Hồ Đình Quế. Các chuyên khoa lẻ: Mắt với bác sĩ Lê Bá Vận. Tai mũi họng với bác sĩ Bùi Minh Đức, da liễu với bác sĩ Dương Đình Châu và bệnh Lao với bác sĩ Phạm Thị Xuân Quế.
Năm thứ tư chúng tôi thực tập tại khoa nhi nửa năm, tại các chuyên khoa lẻ nửa năm còn lại.
Ngoài bệnh lý nhi khoa, bệnh lý mắt, bệnh lý tai mũi họng, bệnh lý da liễu, bệnh lao, năm thứ tư chúng tôi học thêm các môn học cơ bản:
– Vi trùng, ký sinh trùng (Bacteriology – Parasitology) với thầy Lê Bá Nhàn. Thực tập môn vi trùng, ký sinh trùng chúng tôi được xem, đọc, học cách nhuộm các tiêu bản để nhận dạng các loại vi trùng, ký sinh trùng.
– Giải phẫu bệnh lý (Anapathology) với bác sĩ Tôn Thất Chiểu. Thực hành môn anapathology tại phòng thực tập, chúng tôi xem, đọc và học cách làm các phẩu thức bệnh lý.
– Huyết học với bác sĩ Villagoes (người Tây Ban Nha), thầy Villagoes giảng bài bằng tiếng Pháp với giọng Tây Ban Nha nên rất khó nghe. Thực tập môn huyết học cũng được xem, đọc và làm các tiêu bản bệnh lý huyết học.
– Dược lý học ( Pharmacology) với thầy Nguyễn Mạnh Hùng. Thầy Nguyễn Mạnh Hùng là người Việt nhưng giảng bài bằng tiếng Pháp.
Trong năm ba và năm tư chúng tôi học Y tế cộng đồng (Public Health) và Dịch tễ học (Epidemiology) với các bác sĩ quân y Mỹ: Zerzavi, Candela (các bác sĩ này giảng bài bằng tiếng Anh). Phẫu thuật nhi với bác sĩ Dupuis (bác sĩ Dupuis giảng bài bằng tiếng Pháp).
Từ năm thứ tư, những cuốn sách hầu như không một sinh viên y khoa nào không thể không biết là Harrison’ principles of internal medecine, Textbook of pediatrices của Nelson, Goldman Cecil medecine. Chúng tôi chầu chực nhau để mượn ở thư viện. Thư viện trường y hồi đó luôn đông sinh viên, tan trường ra về nếu đến chậm có khi hết chỗ ngồi. Mùa thi thư viện mở cửa đến 8 hay 9 giờ đêm.
*
Lên năm thứ năm chúng tôi quay trở lại học bệnh lý và điều trị. Phần bệnh lý nội thương (medical pathology), bệnh lý ngoại thương (surgical pathology) và bệnh lý sản phụ khoa (Gyneco – obstetrico – pathology); các thầy giảng dạy là thầy Lê Văn Bách, thầy Lê Xuân Công, thầy Nguyễn Văn Tự.
Việc củng cố và phát triển kiến thức của năm thứ năm như vậy vô cùng cần thiết, nhưng rồi chương trình năm thứ năm của tôi cũng như những chương trình của hàng triệu sinh viên, học sinh khác trên khắp miền Nam phải dừng lại nửa chừng, bởi vì miền Bắc và Mặt Trận chuẩn bị tiến hành chiến dịch Hồ Chí Minh – Xuân 1975.
*****
Từ đầu tháng 2. 1975 quân Cộng sản đánh chiếm thị xã Phước Long, 10 tháng 3 Ban Mê Thuột bị xe tăng Bắc Việt nghiền nát, thành phố Huế kinh hoàng nhớ chết chóc Tết Mậu Thân 1968. Chợ búa náo loạn những tin đồn, trường học rã rời, đường phố nháo nhác, hàng ngàn gia đình bồng bế, gánh gồng di tản theo đường bộ, đường thủy vào Đà Nẵng. Đà Nẵng hỗn loạn, sân bay, bãi biển tràn ngập người tị nạn. Lính tráng, dân thường, đàn ông, đàn bà, người già, trẻ em mạnh ai nấy được, kiếm cho mình một chỗ trên máy bay, trên ghe thuyền tư nhân và tàu hải quân. Bạo lực tháo chạy và bạo lực tấn công không phân biệt gây chết chóc, tội ác và tuyệt vọng. Ngày 29 tháng 3 quân Cộng sản chiếm Đà Nẵng. Gia đình tôi và hàng chục ngàn gia đình khác không may mắn đành lục tục bồng bế gánh gồng quay trở lại Huế.
30.4 Sài Gòn thất thủ. Chiến tranh chấm dứt, nhưng bạo lực cách mạng Xã hội chủ nghĩa kiểu Cộng sản bắt đầu. Trường học mở cửa lại theo lệnh của chính quyền quân quản.
Khoảng 50% giáo sư, và khoảng 90% sinh viên trường Y quay trở lại với tâm trạng “hàng thần lơ láo”. Bộ khung cán bộ giảng dạy từ miền Bắc vào cùng với Ủy ban quân quản tách thầy trò chúng tôi làm hai nhóm lao động buổi sáng và học chính trị buổi chiều. Đạo đức xã hội chủ nghĩa được đúc kết thành vè “Lao động là vinh quang – Ngồi không ở nể xóm làng cười chê”. Theo đó, người Cộng sản cho rằng chỉ có làm việc bằng cơ bắp dưới chỉ trỏ của cán bộ đảng viên mới là lao động đúng nghĩa. Theo đó người công nhân làm việc trong các nhà máy xã hội chủ nghĩa, người nông dân làm việc trong các nông trường quốc doanh, các hợp tác xã nông nghiệp mới có giá trị hơn hết, và đáng sống hơn hết. Các loại hình lao động sản xuất khác, các thành phần xã hội khác cần phải được cải tạo theo mô hình và định hướng Xã hội chủ nghĩa mới có lý do tồn tại. Giữa các buổi lao động và học chính trị, chúng tôi phải tập hát Quốc tế ca và các bài ca ngợi đảng, ca ngợi bác, ca ngợi tình hữu nghị vô sản quốc tế, ca ngợi quân đội nhân dân đã đánh thắng hai cuộc kháng chiến thần thánh… Tôi còn nhớ một câu hát mà mỗi lần cất lên tôi cảm thấy đau đến xé lòng: “Như có bác Hồ trong niềm vui đại thắng”.
Về lao động, chúng tôi phải phải tập hợp thành đội ngũ dưới sự chỉ đạo của các đoàn viên (những tín đồ cộng sản tân tòng, những cách mạng 30/4) cuốc xới các mảnh ruộng trước trường trồng rau muống, đào xới bất cứ mảnh đất nào còn sót lại quanh trường để trồng khoai sắn. Theo lệnh các đoàn viên lãnh đạo, chúng tôi vượt hàng rào phía đông bắc, phá vườn hoa hồng rất đẹp của các nữ tu Công giáo để trồng rau lang. Lúc bấy giờ, qua các “vị” này, chúng biết được rằng rau muống, rau lang và lá sắn có hàm lượng dinh dưỡng không thua kém thịt bò. Chúng tôi còn tham gia đào kênh thủy lợi nam sông Hương. Đây là công trình thủy lợi trọng điểm của Thừa Thiên – Huế nhằm kéo nước từ sông Hương băng qua núi đồi làng mạc phía tây nam thành phố để tưới cho 5000 mẫu ruộng thuộc khu vực huyện Hương Thủy. Nhưng, nước không thể chảy ngược, nên nước không thể về tới ruộng đồng theo ý chí của đảng Cộng sản, mặc dù hàng trăm ngàn công sức lao động đã bỏ ra, hàng ngàn ngôi mộ và hàng trăm ngôi nhà phải di dời. Kênh thủy lợi biến thành đường đi và hang ổ của chuột. Có người nói đây là biện pháp cải tạo trí thức tiểu tư sản thành trí thức xã hội chủ nghĩa nói riêng, và cải tạo nhân dân miền Nam nói chung.
Trí thức tiểu tư sản còn bị tẩy não bởi chương trình học chính trị. Chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa Duy vật biện chứng, biện chứng lịch sử, Tuyên ngôn đảng Cộng sản, lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử phong trào Cộng sản quốc tế là những từ ngữ tôi còn nhớ cho đến ngày nay với các khẩu hiệu: Trí phú địa hào – Đào tận gốc trốc tận rễ, Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân, chủ nghĩa xã hội nhất định thắng – chủ nghĩa tư bản nhất định thua, chủ nghĩa xã hội dân chủ một ngàn lần hơn chủ nghĩa tư bản, cải tạo xã hội chủ nghĩa là ăn cướp những gì đã bị ăn cướp, cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội… Trong khi chúng tôi đang học chính trị và lao động xã hội chủ nghĩa thì đảng Cộng sản tiến hành cải tạo Ngụy quân Ngụy quyền, cải tạo tư sản công thương nghiệp và đổi tiền. Tư sản công thương Huế tập trung trên hai dãy phố Trần Hưng Đạo và Phan Bội Châu với khoảng 100 cửa hàng bán lẻ trong số đó có khoảng 10 cửa hàng có mặt tiền rộng ( 5 – 7 mét ) bị cải tạo. Ở Gia Hội, An Cựu, Bến Ngự, Vỹ Dạ. Kim Long…, mỗi nơi cũng có vài cửa hàng chịu chung số phận. Thực tế là các cửa hàng này bị ăn cướp: hàng hóa bị tịch thu, nhà bị lấy, gia chủ bị đày đi ở nơi khác hoặc lùi về phía bếp. Độc giả đời sau cần ghi nhớ là những gia đình bị cải tạo này trong chiến tranh họ đã đóng góp cho “cách mạng” qua các cơ sở nội thành.
Cải tạo xong thì đến lượt đổi tiền. Đổi tiền hai lượt cách nhau mấy tháng. Không riêng gì tư sản, tất cả nhân dân Miền Nam đều bị lột sạch, bất kể giàu nghèo. 1000 đồng tiền Ngụy đổi lấy 01 đồng tiền cách mạng. Qua hai lần đổi tiền như thế từ tháng 6. 1975 gia đình tôi có 6 nhân khẩu cầm hơi hàng ngày với ba khẩu phần được mua hàng tháng tổng cộng 12kg gạo, 36kg khoai sắn mốc hay bột mì, bo bo, 1,5 kg thịt heo. Tôi xin nói rõ hơn chuyện này: Gia đình tôi 6 người gồm mẹ, anh kế, tôi và 3 đứa em. Anh kế tôi, tôi và em gái kế đều là sinh viên nên được cấp sổ gạo và tiền học bổng mỗi tháng 15 đồng một người. Mẹ tôi và hai em đang học phổ thông không có gì. Tất cả 6 người sống qua ngày với ba tiêu chuẩn như thế. Nhiều gia đình khác còn bi đát hơn. Gia đình anh cả tôi chẳng hạn. Anh cả tôi là đại úy quân y Ngụy đi học tập cải tạo, chị dâu tôi là cán bộ lưu dung đang giảng dạy tại trường Y. Một mình chị với khẩu phần 4kg gạo, 12 kg khoai sắn, 0,5 kg thịt nuôi sống ba đứa con dưới 10 tuổi. Chị Gái tôi còn bi đát hơn, chồng là sĩ quan Ngụy bị mất tích trong cuộc tháo chạy mấy tháng trước. Chị là cán bộ lưu dung tại Thư viện đại học Huế. Một mình chị với khẩu phần 4kg gạo, 12 kg khoai sắn khô, 0,5 kg thịt mỗi tháng nuôi sống 4 đứa con dưới 10 tuổi và cha mẹ chồng. Còn có nhiều gia đình bi đát gấp mười gấp trăm lần anh chị chúng tôi: Cha anh đi học tâp cải tạo chẳng biết bao giờ về, anh vượt biên bị bắt, nhà cửa bị cướp, mẹ mất việc, con không được vào đại học phải lê la đói khát đầu đường xó chợ hoặc phải đi kinh tế mới. Tình cảnh chung của nhân dân Huế và nhân dân miền Nam là như thế. Không có gia đình nào là không bị cải tạo. Không Ngụy quân thì Ngụy quyền, không tư sản, trí thức thì cũng là dân Ngụy đều bị cải tạo, có nghĩa là đều bị ăn cướp. Như thế là từ chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy mang tên Hồ Chí Minh mùa xuân 1975, Cộng sản miền Bắc đã chiến thắng hai lần và nhân dân miền Nam đã thua hai lần. Lần đầu là quân sự, lần sau là kinh tế, văn hóa, xã hội. Sau hai lần thắng và thua, đất nước tan hoang, mấy triệu người vượt biên, mấy trăm ngàn người đi học tập cải tạo, mấy chục ngàn người chết trong các nhà tù, mấy triệu người bị làm nhục, chết trên biển, mấy chục triệu người lâm vào tình trạng đói rách, tuyệt vọng. Công cuộc cách mạng long trời lở đất với khẩu hiệu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” của ông Lê Duẩn và đảng Cộng sản hoàn toàn thất bại. Thất bại này không chỉ là sai lầm mà còn là tội ác, di hại chẳng biết đến bao giờ?
Đảng Cộng sản đã biến cả dân tộc thành những con chuột bạch thí nghiệm cho một học thuyết, một ý thức hệ ngu xuẩn họ học mót từ Nga từ Tàu. Cách mạng gì mà coi trí thức là kẻ thù hàng đầu? Dân chủ gì mà đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối? Đạo đức gì mà dùng biện pháp ăn cướp và bạo lực để cải tạo con người?
*
Trở lại câu chuyện trường Y
Sau lao động cải tạo và học tập chính trị, trường Y và lớp Y5 của tôi lần hồi đi vào cơ chế xã hội chủ nghĩa. Thêm một số thầy và sinh viên lẳng lặng bỏ đi Sài Gòn hoặc vượt biên. Hai sinh viên lớp dưới tự tử không thành. Một anh nhảy lầu, một anh uống thuốc độc. Một trong hai anh bất khuất này là con của một cán bộ tập kết trở về. Cha con bất đồng chính kiến dẫn đến bi kịch.
Chương trình Y5 thuộc chế độ cũ của tôi bỏ dở vì chiến sự nay bị đình chỉ hẳn. Để bù vào thời gian bị mất do chiến tranh và thời gian lao động tẩy não, ban giám hiệu quyết định lớp Y5 của tôi thay vì ra trường vào hè 1976, nay kéo dài thêm gần một năm, tháng 6. 1977 chúng tôi mới tốt nghiệp.
Như thế, tôi trải qua năm năm rưỡi trường Y Việt Nam Cộng Hoà và một năm rưỡi trường Y Xã hội chủ nghĩa. Một năm rưỡi Y Xã hội chủ nghĩa chủ yếu là đi cuốc đất trồng rau, đào kênh thủy lợi; và thực tập tại bệnh viện. Trong một năm rưỡi Y Xã hội chủ nghĩa này chia làm hai thời đoạn. Nửa năm đầu, ngoài thời gian lao động cải tạo và học chính trị như đã trình bày ở trên, chúng tôi đi thực tập tại bệnh viện với các giáo sư và giảng viên lưu dung: Lê Văn Bách, Nguyễn Văn Tự, Hoàng Trọng Châu, Văn Quảng, Phan Xuân Tứ… Một năm cuối thực tập bệnh viện với hai bác sĩ của “bên thắng cuộc”.
Trước năm 1975, trường Y còn gọi là Đại học Y khoa có chương trình đào tạo bác sĩ đa khoa. Giáo sư phụ trách các bộ môn gọi là trưởng bộ môn. Nay (sau 1975) đại học Y Huế theo mô hình miền Bắc, tổ chức chuyên khoa sau năm thứ tư. Lớp Y5 của tôi không theo mô hình nào cả. Một nhóm nhỏ gồm 10 sinh viên trong đó có tôi được phân đi chuyên khoa nhi (gọi là nhi sơ bộ) dưới sự dẫn dắt của bác sĩ Nguyễn Cước (chủ nhiệm bộ môn) và bác sĩ Nguyễn Tấn Viên (trưởng khoa nhi bệnh viên Huế). Số sinh viên còn lại tiếp tục học đa khoa.
Hai bác sĩ Nguyễn Cước và Nguyễn Tấn Viên nghe đâu là những bác sĩ chuyên nhi hàng đầu của miền Bắc. Hai vị này dù dày dạn kinh nghiệm lâm sàng nhưng chỉ nắm bắt bệnh trên triệu chứng, xử lý có tính cách kỹ năng không ngoài các giáo trình tiếng Việt; về phần lập luận cơ chế bệnh lý hầu như hai vị này mù tịt. Họ không sử dụng được ngoại ngữ vì vậy mà cần có thời gian để “thầy” và “trò” hiểu biết nhau qua các từ chuyên môn. Tôi có một kỷ niệm không thể nào quên với bác sĩ Cước: Một đêm trực tại khoa nhi với cuốn Merk Manual, bác sĩ Cước bắt được tôi đang chú tâm đọc quyển sách này. Ông đã tịch thu cuốn sách của tôi. Nghe nói ông đã đem sách của tôi đi hỏi các thầy lưu dung và sau đó nhờ một đoàn viên đem trả lại cho tôi.
Một kỷ niệm khác với giáo sư Tôn Thất Tùng.
Tại khoa ngoại bệnh viện Trung ương Huế, chúng tôi gặp giáo sư Tôn Thất Tùng từ Bắc vào cùng anh con trai của ông, bác sĩ Tôn Thất Bách. Trong một buổi giao ban, tôi trình bày một trường hợp u trung thất (tumeur médiastine) chẩn đoán phân biệt với u lao (tumeur tuberculosis), ông hỏi tôi PPD là gì, tôi đã trả lời PPD là từ viết tắt của nhóm từ Purified Protein Derivative. Trong buổi giao ban chúng tôi hầu như sử dụng toàn tiếng Pháp, giáo sư Tôn Thất Tùng tỏ vẻ rất ngạc nhiên. Tiếp theo ông giảng giải về phương pháp “mổ gan khô”. Sau này tôi mới biết đó là “phương pháp mổ gan nổi tiếng thế giới Tôn Thất Tùng”.
Giáo sư Tôn Thất Tùng có lối giảng giải thiên về cơ chế bệnh lý giống các thầy giáo của trường Y Huế trước 1975 của tôi. Ông nói giọng Huế pha Bắc nhẹ nhàng và cử chỉ thân thiện, lịch lãm. Đặc biệt tôi thấy ông rất vui khi nghe lại giọng Huế của tôi, có lúc ông đã nhại tiếng: “như rứa đó nã…” Tôi có cảm tưởng ông như một lão trượng đi xa bao năm nay trở về mái nhà xưa, tìm lại được những kỷ niệm thân thương sau một thời gian dài ly biệt. Khi ra về, chúng tôi gặp lại anh Tôn Thất Bách tại cổng bệnh viện; anh có vẻ lạ lẫm khi nhìn chúng tôi mặc áo dài.
*
Lớp Y5 của tôi ra trường vào hè 1977. Nhóm mấy chục sinh viên đa khoa thi trước một hội đồng giám khảo gồm các giáo sư lưu dung: Cuộc thi nghiêm túc, khó khăn nhưng cuối cùng đều được công nhận tốt nghiệp vì ban giám hiệu mới quyết định như thế. Nhóm sinh viên “nhi sơ bộ” của tôi chỉ thi với hai giám khảo là bác sĩ Nguyễn Cước và bác sĩ Nguyễn Tấn Viên. Nói là thi cho oai chứ thật ra chỉ là một buổi trình bệnh cho có lệ. Suốt cả năm qua hai vị bác sĩ của “bên thắng cuộc” có dạy thêm cho chúng tôi bài học chuyên môn và đạo đức nào đâu!
Nhân đây tôi xin nói thêm về khóa 10 Y khoa Huế của tôi: Có chừng 120 sinh viên dự bị, vào vấn đáp còn lại chừng 80 sinh viên chính thức, cộng với số sinh viên năm trước ở lại thành ra tổng số chừng 100 người. Tổng số chừng 100 sinh viên khóa 10 bị đào thải từ từ từng năm một, cộng với hai người vượt biên sau tháng 5.1975, cuối cùng có chừng 40 được công nhận là bác sĩ. Kết quả này chứng tỏ đầu vào đại học Y Huế nói riêng và các đại học khác trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa không khó lắm, nhưng qua học tập, thi cử rất nghiêm túc nên đầu ra toàn là những người xứng đáng cả về mặt chuyên môn lẫn đạo đức nghề nghiệp. Trong Xã hội chủ nghĩa thì trái lại: Đầu vào quá khó khăn, nhưng học hành thi cử lại quá cẩu thả, dễ dàng, đầu ra nhằm đáp ứng phong trào thi đua, càng nhiều càng tốt.
Trong hồi ký của mình, bác sĩ Lê Quang Thông kể lại Kỷ niệm với thầy Lê Văn Bách rằng là có một bạn cùng lớp chỉ thiếu nửa điểm môn Sinh lý đành phải ở lại lớp (Bay Vút – Lê Quang Thông). Bạn tôi Trần thị Quí về ăn Tết ở Đà Nẵng, năm mới ra chậm một ngày thực tập, thầy Lê Văn Bách không nói gì chỉ ghi vào sổ thực tập: ngày hè đi lại một tuần. Đến hè, bạn ấy phải ở lại Huế một mình để đi thực tập thêm một tuần.
*
Sinh viên khóa 10 Y khoa Huế còn học thêm Đông y theo sáng kiến của thầy Bùi Duy Tâm. Bác sĩ Trương Thìn dạy về huyệt đạo. Bác sĩ Trần Văn Tích dạy đông dược và ông Võ Như Nguyện dạy hán văn. Việc học Đông y chỉ diễn ra gần nửa năm, khi thầy Bùi Duy Tâm thôi chức khoa trưởng, thầy Lê Bá Vận lên đảm trách thì môn Đông y bãi bỏ.
*****
Việc học sau đại học của tôi dưới mái trường xã hội chủ nghĩa.
Năm 1986, Viện Nhi Hà Nội mở lớp chuyên khoa I chính qui đầu tiên. Tiêu chuẩn cho bệnh viện Đà Nẵng là ba học viên. Dĩ nhiên là ưu tiên cho các cấp lãnh đạo và đảng, đoàn viên. Các bác sĩ đảng, đoàn viên, người thì bận rộn chuyện đấu đá tranh giành vị trí tại khoa và tại các phòng, người thì bận chuyện nhà, chỉ có chị khoa trưởng buộc phải đi học để có bằng cấp mà giữ ghế; tôi và một anh đồng môn đàn em sau ba khóa bị cắt cử đi học. Ra Hà Nội học được một tháng, anh bạn đồng nghiệp bị gọi về không cho học nữa vì sưu tra lý lịch “gia đình có nợ máu với nhân dân”. Một mình tôi lang thang quanh Hà Nội. Hà Nội xanh đẹp nhưng nếp sống quả là quá xa lạ với tôi… Xa lạ đến mức tôi không thể nghĩ nó là như thế…
Lớp học toàn là người miền Bắc, đa phần là con ông cháu cha; các chị hàng ngày cứ chào xáo với nhau chuyện mua hàng ở chợ Tôn Đản. Ngồi nghe thầy giảng bài mà hai tay các chị cứ thoăn thoắt đan len. Chẳng nghe ai nói gì đến sách vở trong lúc tôi cố tìm hiểu họ đang đọc và học sách gì? Tôi ở trọ tại nhà một người quen, chị bạn đang làm nghiên cứu sinh lấy bằng phó tiến sĩ. Chị ấy hãnh diện khoe: “Thầy chủ trì luận văn đi Thái Lan về tặng chị một chiếc xi-líp màu đỏ”! Tôi bộp chộp phản ứng liền: Văn hóa gì mà lạ thế? Thầy tặng đồ lót cho học trò nữ! Chị bạn trả lời nhanh không kém: “Chị lạc hậu quá rồi, không thực tế gì hết. Thời buổi này mà mơ mộng như người Miền Nam thì lấy gì nuôi con?” Chị bạn tôi cũng là người miền Nam, làm dâu trong một gia đinh tập kết là cán bộ cao cấp, đi chợ Tôn Đản, nhà ở khu tập thể Trung Tự chỉ dành riêng cho cán bộ cấp bộ, thứ trưởng, mới ra Hà Nội có mấy năm mà đã “tiến bộ” hơn người miền Nam như tôi đến muôn đời. Thời điểm 1986 cả nước đang đói, nhà chị bạn không thiếu thứ gì, nhưng vẫn chưa thấy đủ. Một câu ca dao phổ biến ở miền Bắc: Tôn Đản là chợ vua quan / Vân Hồ là chợ trung gian nịnh thần / Bắc Qua là chợ thương nhân /Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng. Trong chế độ Cộng sản: vua quan và nhân dân anh hùng cách biệt một trời một vực.
Việc học chuyên khoa I tại Viện Nhi Hà Nội chẳng có bài bản gì, học ở các khoa phòng, thầy giảng tại giường bệnh. Các thầy Chu Văn Tường (chuyên ngành tiêu hóa), thầy Lê Nam Trà (chuyên ngành thận niệu) Thầy Khanh (chuyên ngành huyết học), cô Nguyễn Thị Thu Nhạn (chuyên ngành nội tiết)… Tất cả các bài giảng lâm sàng cũng thiên về triệu chứng học hơn là cơ chế bệnh lý học… Sau một năm học, nghĩ lại tôi chẳng thu hoạch được gì về chuyên môn: không có cái gì mới, không có cái gì hay… Chỉ biết thêm miền Bắc có lắm chiêu trò.
Giữa một Hà Nội 1986 ăn kem Bờ Hồ với cái muỗng ăn phở, ăn bánh tôm Hồ Tây với cái rá nhựa đựng rau…Nhưng rồi tôi khám phá ra một Hà Nội tinh tế ngàn năm văn vật. Một hôm nọ, chị bạn – bác sĩ Minh Nguyệt mời đến nhà ăn bún ốc. Nhà bé tí tẹo như cái lỗ mũi, là một góc chéo của một ngôi nhà cải tạo chia cho nhiều hộ gia đình. Bún ốc, cái tên dân dã, nhưng gia chủ lại là một phần của tinh hoa Hà Nội còn sót lại, còn bảo lưu những giá trị truyền thống một cách nhẫn nại và tự tin. Thức ăn được bài trí rất đẹp với những dụng cụ đều bằng sứ. Bún ốc không phải là cao lương, nhưng mỹ vị thì không chê vào đâu được. Sau bún ốc, tôi được mời tráng miệng với chuối bà hương chấm cốm làng Vòng. Cũng rất nhiều mỹ vị sau món tráng miệng đặc chất Hà Nội này. Thì ra, giữa Hà Nội điêu tàn do chiến tranh và sự cai trị thô bạo của đảng Cộng sản còn có một niềm hy vọng.
*
Năm 1994 Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh mở lớp chuyên khoa II nhi chính qui đầu tiên. Tôi ghi danh thi để theo học. Lý do duy nhất là muốn gần gia đình (chồng và các con tôi đang ở Sài Gòn).
Thi đầu vào chỉ có hai môn là ngoại ngữ và chuyên ngành nhi. Có 47 người tham gia thi, 9 người đủ điểm để học. Lớp học do các giáo sư, phó tiến sĩ phụ trách: cô Tạ Thị Ánh Hoa và các thầy Hoàng Trọng Kim, thầy Võ Công Đồng, thầy Nguyễn Trọng Lân…
Chúng tôi gồm bảy người chia nhau đi thực tập tại các khoa phòng bệnh viện Nhi đồng I và Nhi đồng II, tham gia giao ban ở các khoa, tham dự các buổi trình bệnh và báo cáo khoa học chung với sinh viên trường Y, các bác sĩ chuyên khoa một, các bác sĩ làm nghiên cứu sinh cao học. Về mặt lý thuyết: chương trình cập nhật các thông tin mới về nhi khoa, đặc biệt là ba chuyên ngành: miễn dịch học, tim bẩm sinh, bệnh lý sơ sinh. Ngoài các buổi lý thuyết và thực hành tại các bệnh viện nhi Sài Gòn, mỗi năm ba tháng chúng tôi về lại nơi làm việc của mình thu thập dữ liệu, chuẩn bị viết luận văn chuyên ngành. Cuối năm1997, chúng tôi trình luận văn tốt nghiệp.
*****
Như thế là tôi trải qua 11 năm học Y: 7 năm y tổng quát và 4 năm y chuyên ngành nhi trong hai chế độ. Tôi đã làm bác sĩ gần 30 năm trong chế độ Cộng sản; nghỉ hưu 15 năm, trở lại bệnh viện nhiều lần trong tư cách người bệnh. Thời gian học tập, hành nghề và chữa bệnh đủ để tôi đưa ra nhận xét về hai chế độ y tế sau đây:
1/ Trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa: Người học và làm nghề y tế, gần như tuyệt đại đa số xem công việc của mình là một đam mê, đồng thời là sứ mệnh nhằm phục vụ bệnh nhân là những Con Người. Họ đối xử với nhau tận tụy, thân ái và tôn kính trong quan hệ thầy trò, đồng nghiệp. Họ đối xử với bệnh nhân hết lòng trong công việc và ấm áp trong giao tiếp, quan tâm đến hoàn cảnh sống mà không can dự vào đời tư của bệnh nhân.
Trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa bệnh viện được gọi là nhà thương. Ở đó người bệnh không phân biệt tầng lớp xã hội và khác biệt chính kiến, tất cả đều được miễn phí hoàn toàn từ khâu ăn ở, chẩn đoán, điều trị, thuốc men. Tại bệnh viện trung ương Huế, tôi đã thấy những bệnh nhân là cán bộ Phong trào đô thị của Mặt trận. Tại quân y viện Nguyễn Tri Phương, tôi cũng đã thấy những chiến binh miền Bắc được cấp cứu chung phòng với những binh lính Việt Nam Cộng Hòa. Hoàn toàn không có chuyện bệnh nhân bị đùn đẩy, bị từ chối, bị khai thác bóc lột, bị phân biệt đối xử. Đa phần các bác sĩ có phòng mạch tư nhưng hoàn toàn không có chuyện công tư nhập nhằng, bệnh nhân không bị kê đơn trái với yêu cầu chuyên môn, không bị chèo kéo lừa mị, bóc lột. Các công ty dược không khống chế được các cơ sở y tế nhà nước từ bộ xuống các ty và chi, cũng không khống chế được các bệnh viện và các phòng mạch tư. Sự thật này không tuyệt đối, nhưng đại thể là như thế. Nhân đây cũng nói thêm về việc tuyển chọn học viên cho các trường y tế trung sơ cấp và việc tuyển chọn sinh viên cho các đại học y khoa: Mọi thanh niên nếu hội đủ các điều khiện sức khỏe, tuổi tác, học vấn đều có cơ hội ngang nhau, không phân biệt thành phần xã hội, không phân biệt giai cấp và ý thức hệ chính trị. Nói chung là đầu vào không khó lắm nhưng đầu ra là khung cửa hẹp. Khóa 10 Y khoa Huế của tôi đầu vào chừng 200 – 250 ( ở 2 lớp dự bị), đầu ra còn khoảng 40. Các khóa đàn anh về trước, kết thúc trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa đều có tỷ lệ gần như thế. Trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa mọi sinh viên tốt nghiệp tại các trường: Sư phạm, Y khoa, Nông lâm súc, Kỹ thuật Phú Thọ đều được bổ nhiệm theo yêu cầu của cơ sở chuyên môn và thành tích học tập qua kỳ thi tốt nghiệp (chọn nhiệm sở theo thứ tự ưu tiên thứ hạng tốt nghiệp), không có chuyện đào tạo ra rồi bỏ đó. Các bác sĩ được trả lương đủ để sinh sống cho cá nhân và gia đình. Các bác sĩ có phòng mạch tư trở nên khấm khá bằng việc hành nghề chính đáng và khả năng chuyên môn của mình. Tôi lớn lên ở Miền Nam, là nơi báo chí tự do trong các lãnh vực đời thường (y tế, giáo dục…), chưa bao giờ tôi nghe một vụ tai tiếng nghề nghiệp do các y, bác sĩ gây ra.
2/ Trong chế độ Cộng sản trái lại, nghề y thông thường được xem là con đường làm quan đồng thời là nghề kiếm tiền như con buôn, thậm chí như kẻ trộm cướp. (tôi nói thông thường không có nghĩa là tất cả). Trong dân gian một thời phổ biến câu châm ngôn: Nhất Y nhì Dược, tạm được Bách khoa, Nông lâm qua loa, chuột chạy cùng sào mới vào Sư phạm. Quan niệm như vậy nên cánh cửa vào trường Y mở đóng, rộng hẹp tùy theo người có quyền lực: đảng Cộng sản. Một câu châm ngôn khác, thời bao cấp, thể hiện thứ tự quyền lực ấy: Nhất thân, nhì thế, tam tiền, tứ chế. Thời kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa lại có câu khác: Nhất hậu duệ, nhì quan hệ, ba tiền tệ, bốn trí tu (học giỏi-NTKT). Hai ưu tiên đầu thuộc về con ông cháu cha trong đảng, ưu tiên thứ ba thuộc về người có tiền chạy đúng cửa đảng viên chuyên trách, ưu tiên thứ tư thay đổi từ con em gia đình có công trong chiến tranh, trong xây dựng xã hội chủ nghĩa sang những học sinh giỏi. Tóm lại: Đảng và tiền gắn liền trường y và ngành y nói riêng. Đầu vào như thế, đầu ra cũng như thế.
Chương trình đại học Y trong chế độ Cộng sản kéo dài 6 năm. Một phần ba hay một phần tư thời gian trong 6 năm ấy sinh viên còn phải học chính trị (chủ nghĩa Mác Lê Nin và lịch sử đảng…). Quan hệ thầy trò trong chế độ Cộng sản vừa là quan hệ đồng chí, vừa là quan hệ đối tác lợi quyền. Chương trình và chế độ đào tạo, học tập như thế nên sinh viên ra trường chưa làm được việc xét về mặt chuyên môn lẫn đạo đức. Nếu không thân không thế, bác sĩ ra trường còn phải chạy việc với giá cả không nhỏ tùy vị trí công việc có kiếm ra tiền nhiều hay ít?
Đa phần, lương khởi đầu hiện nay của bác sĩ chừng 3.000.000 (ba triệu). Đầu tư tốn kém, lương bổng èo uột nên công việc chính của người bác sĩ trong chế độ Cộng sản là kiếm tiền và tạo thế. Kiếm tiền trực tiếp từ bệnh nhân, từ kinh phí quảng cáo, từ tiền đút lót của các công ty dược, các công ty vật liệu và trang thiết bị y tế tư bản nước ngoài, từ ngân sách nhà nước, từ quỹ bảo hiểm, từ các loại thuốc quí hiếm trong kho của bộ của các sở y tế hay các bệnh viện,… Kiếm tiền để trở thành đảng viên, giành lấy một chức vụ kiếm ra tiền để lấy lại vốn, để kiếm lời. Người đảng viên bác sĩ trong chế độ Cộng sản ăn bất cứ thứ gì: từ sữa của các em bé sơ sinh, đến thuốc đặc trị của người bệnh ung thư, đến thủy tinh thể của người bị bị bệnh mắt, đến que thử và hóa chất trong kiểm tra HIV… Một dược sĩ làm cho một công ty dược nước ngoài nói với tôi rằng: Nền y tế của đất nước vận động theo sự điều hướng của các công ty dược và các công ty vật liệu, trang thiết bị y tế tư bản. Các công ty này gõ được cửa bất cứ nhân vật quyền lục nào từ trung ương xuống địa phương. Những chìa khóa vàng lớn nhỏ được các công ty tư bản kia sắm sửa để mở cửa các ông bà quyền lực. Để tranh giành các chìa khóa vàng, để chiếm đoạt công quĩ, các ông bà quyền lực trong đảng Cộng sản đã đấu đá nhau như kẻ thù, đã xem ngành y tế như một nghề béo bở để sắm xe sang, tậu nhà lớn và tích lũy bất động sản…Người bác sĩ đảng viên bất chấp sức khỏe, mạng sống của bệnh nhân và sự khốn cùng của gia đình họ.
Để kết thúc tôi xin kể hai câu chuyện về hai bác sĩ đảng viên.
Câu chuyện thứ nhất: Ngày tôi về hưu một nhóm nhỏ đồng nghiệp mời tôi một bữa cơm thân mật. Bữa cơm diễn ra tại quán “Cơm niêu đỏ” tại Đà Nẵng với 7 người. Bữa ăn gồm các món đặc sản Việt Nam: rau muống trộn tỏi, canh chua cá lóc, cà tím nướng tỏi. Ăn xong cô phục vụ đem biên lại đỏ tính tiền tới, theo thói quen các chị xúm lại xem tiền bao nhiêu, mắc rẻ như thế nào để lần sau còn đi. Một chị đảng viên sau khi xem, xếp tờ biên lại đỏ lại, bỏ vào ví thản nhiên nói:
“Cho tớ tờ biên lai đỏ này, con dâu tớ làm kế toán cho một cơ quan, nó rất cần biên lại đỏ để thanh toán”.
Tôi nghe người đảng viên này nói xong, các thức ăn trong bao tử tôi chực trào ra…
Câu chuyện thứ hai: Cũng ngày tôi về hưu, một nhóm nhỏ khác mời đi ăn nem lụi trong một buổi chiều chủ nhật. Ăn xong, mậu dịch viên đếm que tính tiền, một đảng viên trong nhóm kể rằng: “Thằng Đ con mình nó thông minh lắm, hồi mới năm tuổi đi ăn nem lụi như thế này nó đã dấu bớt que vào giỏ rác bên dưới”. Chị bạn kể một cách rất hãnh diện, chân thật và hồn nhiên.
Tôi không nêu tên hai bác sĩ đảng viên trong câu chuyện trên, bởi tôi nghĩ không cần thiết. Bạn đọc thử nghĩ xem có đảng viên nào trong đảng Cộng sản mà không khôn ngoan như thế, từ tổng bí thư trở xuống.
HOÀI NIỆM CHÙA BÁO ÂN QUA TẤM ẢNH NGƯỜI PHÁP CHỤP 150 NĂM TRƯỚC
HOÀI NIỆM CHÙA BÁO ÂN QUA TẤM ẢNH NGƯỜI PHÁP CHỤP 150 NĂM TRƯỚC
Ảnh: Chùa Báo Ân năm 1884 (bác sĩ người Pháp – Hocquard chụp lại)
Chùa Báo Ân mang trong mình nhiều kỷ lục nhưng đó cũng chính là ngôi chùa được cho là “đoản mệnh”, chỉ tồn tại vài chục năm sau khi được khánh thành với quy mô lớn. Dấu tích duy nhất còn sót lại đến ngày nay chính là tháp Hòa Phong nằm bên bờ hồ Hoàn Kiếm – Hà Nội.
Công trình chùa Báo Ân lớn bậc nhất kinh kỳ thế kỷ 19, không chỉ là một công trình mang dấu ấn nhà Nguyễn, mà còn là nét lịch sử văn hóa, kiến trúc Phật giáo độc đáo, tiêu biểu cho dòng tư tưởng “cư Nho mộ Thích” (học hành theo đạo Nho nhưng vẫn chuộng theo đạo Phật) thời bấy giờ. Tòa tháp Báo Ân ở chùa Bằng (Thịnh Liệt, Hoàng Mai), nơi được xác lập hai kỷ lục Phật giáo Việt Nam: Tháp Phật giáo cao nhất Việt Nam và Tháp có nhiều tượng Phật bằng đồng nhất Việt Nam – cũng chính là hướng đến di tích chùa Báo Ân thuở trước. Tất cả đều nhằm nói lên tinh thần cứu khổ, ban vui của Bồ Tát Quán Thế Âm cho tất cả chúng sinh trong thế giới.
Ngôi tháp nhuốm màu rêu phong nằm trên bờ hồ Hoàn Kiếm phía đường Đinh Tiên Hoàng, dường như là một điểm nhấn cổ kính giữa lòng Hà Nội hoa lệ. Nhiều du khách đến Hà Nội không khỏi ngỡ ngàng trước ngôi tháp cổ duyên dáng, nhiều người nghĩ rằng tháp là một trong những tác phẩm nghệ thuật xưa nằm trong quần thể Tháp Rùa – Hồ Gươm. Nhưng ít ai biết rằng ngôi tháp cổ ấy có một cái tên riêng biệt là tháp Hòa Phong và không hề nằm trong quần thể Tháp Rùa. Tháp Hòa Phong vốn gắn liền với quần thể chùa Báo Ân xưa, ngôi chùa lớn bậc nhất Hà thành thế kỷ 19. Tháp Hòa Phong bây giờ là di tích duy nhất còn sót lại đến ngày nay của quần thể bề thế một thời vàng son.
Theo ghi chép:
” Nơi đây vốn là phạm vi của khu vực lầu Ngũ Long do chúa Trịnh Doanh (1740-1767) cho dựng để làm nơi hóng mát tiết hè. Để xóa bỏ tàn tích của chúa Trịnh, năm 1787, Lê Chiêu thống đã ra lệnh đốt phủ chúa và những gì có liên quan.”
Chùa Báo Ân xưa được xây dựng trên bờ phía đông hồ Hoàn Kiếm vào khoảng năm 1846; với quy mô gồm 180 gian, 36 nóc nhà trên khu đất rộng gần 100 mẫu, mặt trước trông ra Sông Hồng, mặt sau dựa vào hồ Hoàn Kiếm. Bốn mặt chùa có hào nước uốn quanh, trong hào trồng sen nên thời bấy giờ người ta còn gọi là chùa Liên Trì (chùa Ao Sen). Ngoài ra, chùa Báo Ân còn được gọi bằng một số tên khác như chùa Quan Thượng, chùa Thụ Hình.
Với vị trí đắc địa ngay cạnh hồ Gươm linh thiêng, chùa Báo Ân xưa được ví như “động tiên” giữa chốn kinh kỳ với những câu ca truyền tụng như:
“Gần xa nô nức tưng bừng
Vào chùa Quan Thượng xem bằng động tiên”.
Quang cảnh thanh tịnh, đẹp đẽ của chùa Báo Ân khi ấy đã đi vào trong dân gian bằng những câu ngợi ca hết lời:
“Phong quang cảnh trí trăm đường
Trong xây chín giếng, ngoài tường lục lăng
Rõ mười cửa động tưng bừng
Đền vàng tỏa ngọc chất từng như nêm”.
Chùa Báo Ân được xây dựng năm 1846 do Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai đứng ra chủ trì. Người có công xây dựng nên ngôi chùa lớn bậc nhất thời bấy giờ, Nguyễn Đăng Giai vốn là người làng Phù Chánh, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Ông xuất thân trong một danh gia vọng tộc, ông nội là tiến sĩ Nguyễn Đăng Hoành, cha ông là Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Đăng Tuân (là thày dạy học của Vua Thiệu Trị). Thuở nhỏ, Nguyễn Đăng Giai theo học với cha, năm Minh Mạng thứ nhất (1820), ông đỗ hương tiến (cử nhân) rồi lần lượt được bổ nhiệm các chức quan quan trọng trong triều Nguyễn. Ông là vị danh thần có nhiều công lao to lớn trong việc dẹp nạn cướp, chấn chỉnh binh thuyền, tiễu trừ nhiều nạn nhũng nhiễu hại dân, dẹp nhiều cuộc nổi loạn, mở nhà dưỡng tế cho nhân dân mất mùa, đói kém… Năm Bính Ngọ 1846, dưới triều Thiệu Trị, Nguyễn Đăng Giai khi ấy giữ cương vị Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội và Ninh Bình) đã đứng ra chủ trì, quyên tiền cho việc xây dựng chùa Báo Ân với quy mô to lớn.
Ngôi chùa lớn bậc nhất Hà thành bấy giờ được đặt tên là chùa Báo Ân hàm chứa nhiều nội hàm sâu xa trong Phật pháp. Thượng tọa Thích Bảo Nghiêm (Trụ trì chùa Bằng, ngôi chùa có tháp Báo Ân được xếp kỷ lục Tháp Phật giáo cao nhất Việt Nam) cho hay, từ Báo Ân trong ý nghĩa nhà Phật có hàm ý nhắc nhở mọi người sống trên đời phải nhớ đến tứ trọng ân gồm: ân tổ quốc, ân cha mẹ, ân tam bảo, ân chúng sinh.
Báo đáp Tứ trọng ân là bốn ân lớn nhất, trọng đại nhất của đời người mà bất cứ ai cũng không thể nguôi quên, có lẽ là ý nghĩa sâu xa của vị quan Tổng đốc xưa khi quyết tâm đi ngược dòng thịnh hành của Nho gia thời bấy giờ mà xây dựng nên ngôi chùa Báo Ân bề thế giữa lòng Hà Nội. Quy mô, bề thế bậc nhất Hà thành, chỉ sau một năm tập trung công sức và tiền của, chùa Báo Ân đã được khánh thành vào năm Thiệu Trị thứ 7 (năm 1847).
Theo những tư liệu còn lại đến ngày nay thì chùa Báo Ân khi xưa nhìn từ con đường ven hồ phía đông dẫn vào chùa có tháp Hòa Phong, sau đó đến cổng chùa, rồi vượt qua chiếc cầu đúc lát gạch thì đến lầu hộ pháp, hai bên có bốn ngọn tháp đối xứng cao ba tầng. Tiếp đó là “Đại hùng bửu điện” tôn trí nhiều pho tượng Phật, tượng Bồ Tát được chế tác bởi những nghệ nhân tài hoa nhất. Chùa còn có hành lang tô đắp, chạm trổ cảnh “Thập điện Diêm Vương”, mô tả sự quả báo trong chốn địa ngục khổ sai. Phía sau có điện thờ Thánh mẫu, nhà tăng xá, nhà trai đường…
Tháng 11-1885, công việc đổ đất, cạp hồ Gươm và lấp các chỗ trũng. Toàn quyền De Lanessan ra lệnh đốt các nhà lá quanh hồ.
Năm 1888, Pháp đã phá hủy chùa để xây nhà bưu điện (nay là Bưu điện Thành phố Hà Nội) và Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (nay là Nhà khách Chính phủ). Chỉ còn Tháp Hòa Phong phía sau chùa còn giữ lại, nay ở trên bờ hồ Hoàn Kiếm. Vì chùa có hào nước trồng sen bao quanh nên chùa còn có tên Liên Trì, có nghĩa là “Ao sen”.
Đêm 22-1-1891, 300 nóc nhà ở Cầu Gỗ, Hàng Bè, Hàng Mắm, Hàng Thùng, Hàng Vôi đã cháy trụi. Đêm 28-1-1891, vụ cháy thứ hai tiêu hủy cả thôn Cự Lâu. Chùa Báo Ân chỉ là mảnh đất hoang tàn.
Theo một bức ảnh được sưu tầm chụp mặt trước của chùa thì trên cổng Tam Quan của chùa có bốn chữ trên bảng là “Phương Tiện Pháp Môn” (方便法門), chữ Nho ngày xưa viết ngược từ phải qua trái, trích từ Kinh Pháp Hoa nhà Phật, ý nói “Cách dễ dàng để đạt được Phật pháp”, “Đây là cánh cổng mà bước vào thì dễ dàng đạt pháp”. “Phương Tiện Pháp Môn” còn có nghĩa thứ hai là “Các thức dễ dàng để đạt mục đích”.
Có cái lạ là tuy tên tháp là Hòa Phong nhưng tuyệt không thấy chỗ nào ghi là Hòa Phong cả.
Dòng chữ phía dưới cùng là: Báo Ân Môn (門 恩 報) viết kiểu Khải thư
Dòng chữ phía trên cùng lại là: Báo Thiên Tự (寺 天 報) viết kiểu Khải thư
Chữ ở giữa viết kiểu Triện Văn hình như chữ Phật.
Chứng tỏ chữ Môn này dùng chung cho chùa này
Tuy chùa do người Pháp triệt hạ năm 1889, song cũng chính nhờ những sách báo và tranh ảnh của họ để lại mà ngày nay chúng ta có được một ý niệm về ngôi chùa nổi tiếng mà họ mệnh danh là Pagode des Supplices (chùa Thụ hình). Theo tác giả Halais thì chùa sở dĩ mang tên Thụ hình vì hai tấm vách ván (panneaux) chạm nổi, chiều cao ba thước chiều dài năm thước, tả cảnh thần Phật ngồi phán xét những hành động của người dương thế: ai thiện được lên Thượng giới, kẻ ác bị đày xuống phía chân vách, có quỷ sứ áp dụng những cực hình xét ra còn thảm khốc bằng mấy cực hình của Pháp đình tôn giáo Âu châu thời Trung cổ.
Masson cho biết thêm chùa xây ở mé đông nam hồ Hoàn Kiếm, xung quanh có hồ sen bao bọc, trông giống như một vòng hoa nên có tên là Liên trì. Chùa thờ những bức tượng bằng gỗ hay bằng đá diễn cảng thụ hình ở địa ngục. “Những tác phẩm điêu khắc kỳ hình dị dạng, khó tả nên lời, nhưng không thiếu vẻ tinh xảo, vượt xa những tấm bích họa khủng khiếp nhất của các nghệ sĩ Âu châu thời Trung cổ”. Kể cũng lạ là một ngôi chùa được ta đặt tên là “Báo Ân” lại chỉ để lại những ấn tượng hãi hùng trong lòng người Pháp.
Bác sĩ Hocquard, y sĩ trưởng (médecin major) trong đoàn quân viễn chinh Pháp, là người đã từng chụp ảnh chùa khoảng 1882-1883. Ảnh lâu ngày đã mờ nhạt, những cái chúng ta thấy in trên sách báo phần nhiều là tranh vẽ lại theo ảnh của Hocquard. Chính Hocquard cũng là một trong nhữngngười đầu tiên mô tả chùa tỉ mỉ, theo đúng phong cách Âu Tây:
“Từ xa, tầm mắt khách thập phương đã bị những cái tháp chuông, cột trụ, tiểu tháp thu hút. Bước vào chánh điện, quy mô rộng lớn, giữa những hàng cột vàng son lộng lẫy, có đến trên hai trăm pho tượng thần Phật sắp hàng. Chính giữa là bàn thờ Đức Phật Thích Ca, cao 1m50, dát vàng từ đầu đến chân, ngồi trên tòa sen, đôi mắt lim dim nhìn xuống lòng bàn tay đặt ngửa trên đầu gối. Hai đại đệ tử đứng hầu hai bên.
Vây quanh mấy pho tượng trung tâm này, la liệt những tượng chư thánh tăng đặt trên các bàn thờ riêng biệt, chạy dài dọc theo tường vách, trông như một cử tọa đang chăm chú. Có những lão trượng khả kính, những ông quan mặc triều phục tay cầm hốt hay bưng lư hương, những tu sĩ khổ hạnh đang ngồi tĩnh tọa, tham thiền nhập định. Tuy họ chỉ mới đạt được bước đầu công phu giác ngộ Phật pháp song đã đủ tài chế ngự được các loài mãnh thú điển hình là những con hổ, con trâu nằm phục dưới chân.
Dáng dấp và cách trang phục pho tượng chính giống kiểu Ấn độ. Tượng Phật ở Bắc kỳ chẳng khác gì ở các chùa bên Tích-lan hay Tân-gia-ba. Chỉ những pho tượng phụ mới thay đổi, hệt như tượng của Trung quốc.
Chùa đã xiêu đổ và không còn mấy người bản xứ đủ khả năng giải thích những điển tích nhà Phật thể hiện qua các pho tượng”.
Paul Bourde, phái viên tờ Thời báo, đi sâu hơn vào khía cạnh kỹ thuật: “Tượng bằng gỗ phủ một lớp sơn màu hay quang thếp khá dày, có pho lại tô một chất liệu gì giống như stuc (đá hoa giả?). Vì lớp sơn phết bên ngoài quá dầy nên những nét đục chạm sắc bén trở nên tròn nhẵn, những đường rãnh sâu trũng bị lấp bằng, xóa mất các nét gân guốc, sắc cạnh của lưỡi dao nhà điêu khắc. Loại stuc không thích hợp với thuật đắp tượng diễn khối mạnh bạo.
Nhiều pho tượng, qua những tâm trạng biểu lộ trên nét mặt, những tư thái tự nhiên, rất đáng chú ý. Đứng sánh bên thì tượng của chùa Bách ngũ thần ở Quảng đông chỉ là những tác phẩm vụng về, thô kệch, bất thành dạng. Nghệ thuật tạo hình cũng như nghệ thuật khảm xà cừ của họ tỏ ra thực sự đặc sắc.
Người tạc tượng nay đã mất hoặc xiêu tán. Tuy nhiên, tôi rất muốn tìm hiểu cung cách làm việc của những nghệ nhân chân chất này, xem họ bị giằng xé đến mức nào giữa những quy tắc rập theo khuôn mẫu cổ truyền và khuynh hướng tôn trọng thiên nhiên. Tôi có cảm tưởng đôi phen sự thật đã làm họ phải khắc khoải.”
Nếu ta biết Bourde thường tỏ ra rất miệt thị dân “bản xứ” thì mới thấy những câu phê bình trên đây là những lời “vàng ngọc”! Hiển nhiên phẩm chất nghệ thuật của các nghệ nhân đã “chinh phục” được Bourde tới mức chịu nhìn nhận tác phẩm của những người này đã đáp ứng tiêu chuẩn trình độ thẩm mỹ của phái viên “thông kim bác cổ” tờ Thời báo. Ngày nay ai ai cũng ca tụng tượng Phật chùa Tây phương, có biết đâu xưa kia còn bao nhiêu tác phẩm có lẽ cũng độc đáo không kém của các nghệ sĩ vô danh khác đã bị mai một chỉ vì không được bảo tồn.
R. Bonnal, Trú sứ Hà Nội (1883-1884), một trong những viên chức hành chính dân sự đầu tiên của Pháp ở Bắc kỳ, cho rằng chùa Thụ hình có những sắc thái đúng với mỹ quan của dân Việt, và nhìn nhận nó có một giá trị lịch sử. Theo ý ông thì tất cả các ngôi chùa ở Việt Nam đều là những di sản văn hóa rất nên bảo trọng và tu bổ.
Cả năm chục năm sau khi chùa bị triệt hạ, Claude Bourrin vẫn còn than tiếc “cái quyết định phá hủy chùa là một quyết định không sao giải thích nổi, và đáng tiếc vô cùng!”. Claude Bourrin không phải là người Pháp duy nhất tỏ ý than phiền.