Bộ tranh phố cổ Hà Nội

Họa sĩ Phạm Bình Chương

Hong Thanh

Những hình ảnh quen thuộc của Hà Nội như ngõ nhỏ, phố cổ, cây bàng, quán nước… đều hiện ra vô cùng chân thực và đẹp đẽ trong bộ tranh này.

Chắc hẳn bạn sẽ cho rằng đây là ảnh chụp Hà Nội, chứ không phải tranh vẽ bởi sự chân thật và tuyệt đẹp của nó.

Tác giả của bộ tranh này là họa sĩ Phạm Bình Chương (1973). Anh là cái tên tiêu biểu của nhóm nghệ sỹ có tên gọi Nhóm hiện thực – chuyên theo trường phái hiện thực. Họa sĩ Phạm Bình Chương tốt nghiệp khoa hội họa Trường ĐH Mỹ Thuật năm 1995. Hiện anh đang là giảng viên của trường. Anh từng nhận được rất nhiều giải thưởng của Hội Mỹ Thuật Việt Nam trong các năm 1997-1999.

Dù từng vẽ qua rất nhiều chủ đề, nhưng Hà Nội phố luôn là chủ đề bất tận và tâm huyết nhất của anh. Có thể nói, Phạm Bình Chương chính là chàng thi sĩ của Hà Nội trong mảng hội họa. Dù sử dụng lối vẽ thực, nhưng tranh của Phạm Bình Chương vẫn rất thơ và bay bổng, vẽ Hà Nội hiện đại nhưng vẫn yên bình, phảng phất nét cổ kính. Không ép uổng theo một lối Hà Nội phải cổ, hay Hà Nội phải thế này, thế kia. Hà Nội trong tranh của Chương đúng như Hà Nội hiện đại mà chúng ta vẫn yêu thương, nhung nhớ.




XUÂN DIỆU VÀ QUÊ MẸ

(Nhân kỷ niệm 35 năm ngày mất của nhà thơ Xuân Diệu 1985-2020)

Nhiều người Bình Định nhận xét “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, “ông hoàng thơ tình Việt Nam” có một khuôn mặt rất “nẫu”, tức rất Bình Định, với nét đẹp cao sang mà hồn hậu, tinh quái mà ngây thơ, mơ màng nhưng ngay thực. Chẳng biết Xuân Diệu nghĩ sao nếu nghe nhận xét này của đồng hương, nhưng sinh thời, trong nhiều bài viết và các buổi nói chuyện, ông thường tâm sự: thiên nhiên, con người, những câu ca dao ở Vạn Gò Bồi, Tùng Giản, Văn Quang, Luật Bình, Kim Trì, ở Bình Định, Quy Nhơn đã làm thành một mảnh rất sâu xa, tinh tế, bền vững trong tâm hồn ông.

Xuân Diệu rất tự hào vì cái gốc “Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong/ông đồ nho lấy cô làm nước mắm” của mình và tình cảm đó làm nên một trong những bài thơ mộc nhất, thương nhất, xúc động nhất của ông:

Làng xóm cười giọng ông đồ trọ trẹ

Nhưng quý ông đồ văn vẻ giỏi giang

Bà ngoại nói: tôi trọng người chữ nghĩa

Nên dám gả con cách tỉnh xa đàng

Tiếng đàn ngoài tiếng đàng trong quấn quít

Vào giữa mái tranh, giuờng chõng cột nhà

Rứa mô chừ? Cha hỏi điều muốn biết

Ngạc nhiên gì mẹ thốt ối chu cha!…

Mẹ thảnh thót: qua thương em nhớ bậu

Cha hát bài phụ tử tình thâm

Năm 18 tuổi, Xuân Diệu bắt đầu xa quê để đi học rồi đi làm ở Huế, Hà Nội, Mỹ Tho, và chỉ vài năm sau, giữa tuổi 20, trong tình cảnh “nỗi đời cơ cực giơ nanh vuốt/cơm áo không đùa với khách thơ”, ông trở thành một trong những chủ soái của phong trào thơ Mới, làm bàng hoàng làng thơ VN thời ấy bằng “một y phục tối tân…lẫn với chút hương xưa của đất nước” như phát hiện của nhà phê bình Hoài Thanh.  Cái “y phục tối tân” thì  có lẽ Xuân Diệu học từ các nhà thơ hiện đại Pháp, còn “chút hương xưa của đất nuớc” , tiếng cây me ríu rít, mùi hương hoa bưởi báo đêm khuya, cái ánh trăng sáng, xa, rộng vô chừng kia thì chắc chắn Xuân Diệu đã mang theo từ đất trời quê mẹ.

Tham gia tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, lên Việt Bắc kháng chiến rồi về thủ đô khi đất nước bị chia cắt cho đến 1975, Xuân Diệu đã phải xa quê đằng đẵng hơn 30 năm. May mắn cho ông, “nhớ, tìm con, má đi tập kết/đem miền Nam ra ở với con”, người mẹ của vạn Gò Bồi, làng Tùng Giản đã lặn lội đi tập kết, đem con cá, con tôm, mắm muối, tiếng hò giã gạo, tiếng chày nện cối suốt đêm sao của quê hương ra sống cùng ông ở thủ đô. Tuy vậy, nhà thơ vẫn không nguôi thương nhớ quê hương “Quê má, quê má yêu/ta mang theo sớm chiều/mang theo trong giọng nói/pha Bắc vẫn Nam nhiều” và tha thiết mơ một ngày trở lại “Ôi bao giờ, bao giờ. Ta tắm vào da thịt. Con sông nhỏ Gò Bồi. Quy Nhơn về ngụp biển. Muối đọng ở vành tai”.

Niềm thương nhớ quê hương trong những năm xa cách đó, ngoài thổ lộ trong thơ, đã được Xuân Diệu dồn vào bài phê bình nghiên cứu tuyệt hay “Sống với ca dao dân ca miền Nam Trung bộ”, năm 1963. Cho đến nay, đây vẫn là bài viết công phu nhất, toàn diện nhất, sâu sắc và giàu cảm xúc nhất về ca dao dân ca miền Nam Trung bộ và Bình Định. Với Xuân Diệu, đây là “một thứ máu của tổ quốc”.

Ở bài viết dài gần trăm trang in này, nhà thơ bồi hồi kể chuyện “tôi với em tôi chen chúc nghe hô bài chòi ngày tết ở chợ làng Văn Quang. Làng nhỏ, chợ nhỏ, đồng bào rất hiền lành, anh hô bài chòi cũng hiền, chuyện đêm nằm đò dọc từ Vạn Gò Bồi xuống Giã (Quy Nhơn), nghe “gió nhẹ hiu hiu phần phật trên buồm” và “sóng nhỏ nghìn gợn đập canh cách dưới thân thuyền”, chuyện tục hát giã gạo ở Vạn Gò Bồi, với những đợt hát kéo dài suốt mấy tháng liền.

Trong ký ức Xuân Diệu, dường như mỗi người Bình Định, nhất là phụ nữ, ai cũng có một “pho” ca dao dân ca riêng. Hồi nhỏ là các dì các mợ, bà vú già giữ em ruột ông, bà ngoại ông. Chính nhờ bà ngoại mà ông biết được bài ca dao rất nghịch mà cũng rất buồn này:

Sớm mai em xách cái thõng ra đồng

Em bắt con cua, em bỏ vô trong cái thõng

Nó kêu cái rỏng

Nó kêu cái rảnh

Nó kêu chàng ơi!

Chàng giờ an phận tốt đôi

Em đây lỡ lứa mồ côi một mình

Và cái ông “Tốc xi măng”  ở Quy Nhơn mà Chế Lan Viên cũng biết . Cái con ngươi dở khờ, đở dại, đôi mắt lạc trí ấy đã tay đập nhịp lên đùi, miệng hát cho Xuân Diệu nghe cả một bản trường ca ca dao huê tình rất dài và thật hay. Rồi đến má nhà thơ. Xuân Diệu đi học, ghi chép ca dao dân ca khắp nơi, mà mấy chục năm trời chẳng ngờ má mình cũng là một cái “mỏ” lớn. Mãi đến khi má tập kết ra với ông được 5 năm, tình cờ nói chuyện, ông mới biết má thuộc vô khối ca dao dân ca hay quê mình. Không những thế, bà còn là tác giả của nhiều câu rất đáo để. Ví như câu “Trồng trầu thì phải xẻ mương/làm trai hai vợ phải thương cho đồng”, bà làm là để nhắc khéo chồng phận “lẽ mọn” của mình (Cha Xuân Diệu đã có vợ ở ngoài Bắc, vô Bình Định lại lấy má ông, nên bà phải là vợ “bé”). Hay như câu này:

Anh ngồi trong bếp lửa

                                    đau cái bụng

Em ngồi ngoài cửa

                                   nát nửa lá gan

Biết thuốc chi mà chữa bệnh chàng

Lấy trầm hương cho uống sao chàng vội quên

là bà “đặt” để nhớ chuyện chữa khỏi bệnh hay đau bụng của cha ông bằng cách lấy gừng vùi vô bếp rồi cho ông uống. Khi “đặt”, bà thấy nói “gừng” thì không hay nên nói thành “trầm hương” cho hay…

Xuân Diệu viết “ca dao dân ca Nam Trung bộ, Bình Định đã ru tôi ngủ và đánh thức tôi dậy với những thương mến bao la của quê hương thứ nhất, nơi má đẻ ra mình”. Bởi vậy, bài viết này là một cách đấu tranh thống nhất đất nước của ông năm ấy.

Nhớ quê, yêu quê, nặng tình quê như thế, nên năm 1976, khi được về thăm quê, niềm vui, hạnh phúc rộn lên trong thơ Xuân Diệu “Ba chục năm dư được trở về/quê mừng mình lại đón mừng quê…/Nước không mất nưã, trời xanh thế/Đất hết chia rồi lộng bốn phương”. Đặc biệt cảm động là chuyến trở về với Tuy Phước, với Gò Bồi được Xuân Diệu ghi lại trong bài thơ “Đêm ngủ ở Tuy Phước”:

Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ

Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh

Thức những ngôi sao, thức những bóng cành

Đêm quê hương thương cái hương của đất

Ngủ không được bởi gió nồm từ biển lên cứ nhắc:

– Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi

Khi má anh sinh ra

Anh đã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi

Nên tới già thơ anh còn đậm đà thấm thía –

Nhà thơ Huy Cận, bạn thân nhất của Xuân Diệu, có nhận xét: càng về cuối đời, tình yêu quê mẹ của Xuân Diệu càng thiết tha, da diết, ông luôn muốn làm nhiều việc để đền đáp nơi sinh thành.

Có lẽ vì thế mà công trình nghiên cứu văn học lớn cuối cùng của Xuân Diệu là về danh nhân Đào Tấn, đồng hương Tuy Phước của ông.

Còn nhớ đó là khi giới nghiên cứu về Đào Tấn tuy đều đánh giá cao các sáng tạo tuồng bất hủ của cụ nhưng về con người, cuộc đời cụ, thì còn không ít nghi ngại, một số người còn mạt sát cụ thậm tệ về việc làm quan to của triều Nguyễn như một bằng chứng phản bội đất nước.  Xuân Diệu nghe được, rất bất bình và quyết định xung trận. Trong hội thảo lần thứ hai về Đào Tấn tại Quy Nhơn năm 1979, Xuân Diệu đã đăng đàn tới hơn một giờ đồng hồ với tham luận “Đọc thơ và từ của Đào Tấn”. Kiến thức uyên bác, tư liệu phong phú, phân tích tinh tế, lý lẽ sắc sảo, Xuân Diệu đã khắc họa chân dung Đào Tấn không chỉ như một “nhân tài nghệ thuật đặc biệt” mà còn là một nhân cách lớn, một con người hết mực yêu nước thương dân. Bằng một linh cảm thiên tài, chỉ qua lời của Tiết Cương, nhân vật tâm đắc của Đào Tấn, “Thế sự đoản ư xuân mộng/nhân tình bạc tợ thu vân/nghiến rằng cười cười cũng khó khăn/ôm lòng chịu chịu càng sung sướng”, Xuân Diệu đã nhận ra việc làm quan của Đào Tấn thực ra là một “chủ động lớn lao của người chấp nhận sự hy sinh và cảm thấy trong việc nằm gai nếm mật của mình niềm vui sướng của sự tự giác tự nguyện”. Những phát hiện của các nhà nghiên cứu lịch sử sau này đã chứng minh linh cảm của Xuân Diệu là hoàn toàn đúng. Đào Tấn không chỉ là một thiên tài nghệ thuật mà còn là một chính khách lớn. mẫu mực.

Tham luận đầy thuyết phục của Xuân Diệu đã là một “chiêu tuyết’ tuyệt vời cho những oan ức mà cụ Đào phải gánh chịu, là đòn quyết định làm câm bặt mọi ý đồ bôi nhọ cụ. Sau này, Xuân Diệu đã dày công phát triển tham luận trên thành một công trình nghiên cứu lớn và những dòng cuối cùng của công trình này được Xuân Diệu viết vào ngày 7/11/1985, chỉ trước khi ông trút hơi thở cuối cùng 11 ngày (18/12/1985)…

Nhà lưu niệm Xuân Diệu ở Gò Bồi Tuy Phước, Bình Định
Hội đua thuyền trên sông Gò Bồi

Theo FB




Hoài niệm thu về

Hoài niệm thu về bao vấn vương

Cho lá vàng phai những cung đường

Gió sương, lá úa bay khắp ngõ

Xơ xác hoa vàng đã nhạt hương.

Sương khói mờ bay chiều nhớ nhung

Trời thu giá buốt đến lạnh lùng

Buồn nghiêng theo lá rơi về cội

Viết nốt bài thơ lòng nhẹ rung.

Mùa thu vàng úa nét tiêu sơ

Gió lạnh sương bay phủ bóng mờ

Thiếu nữ nhà bên buồn tựa cửa

Nhớ thương ai? mà đứng ngẩn ngơ.

Người ấy! có lẽ ở rất xa

Thương sao! Thiếu nữ nhớ quê nhà

Mấy thu mưa gió trời xa lạ

Tình cũ tàn phai nhuộm bóng tà.

Lê Tuấn

“Người nghệ sĩ lang thang hoài trong tâm tưởng để viết mãi những vần thơ tình cho mùa thu hoài niệm.

Thung lũng hoa vàng. San Jose tháng 9 mùa Covid 2020”

———————————————————————————

Còn một chiếc lá

Bỗng nhận ra mùi lá

Nhẹ bay theo gió về

Sương giăng mờ phố vắng

Mùa thu đứng bên lề.

Em được mùa xúng xính

Quần áo rất điệu đàng

Ai ngoài kia đứng đợi

Bước vào thu nhẹ nhàng.

Thu còn bao nhiêu gió

Cành vơi nhiều lá khô

Cổ thụ già lớn tuổi

Còn chiếc lá chơ vơ.

Lê Tuấn

Người nghệ sĩ lang thang

Tháng 9 mùa Covid 2020.

Hình minh hoa với kỹ thuật photoshop lê tuấn

Ảnh tự chụp, trong công viên quốc gia miền bắc California, nơi đây là vùng rừng núi tuyệt đẹp Yosemite National Park. Tháng 10 mùa thu năm 2018.




Những ngôi nhà độc đáo khó xây

1.Ngôi nhà màu đen được xây dựng ở thung lũng Yucca – California – Mỹ . Một trong những thung lũng khô cạn nhất ở Bắc Mỹ . Với nhiệt độ thường xuyên vượt qua 49 độ C .

— Khi thiết kế , các kiến trúc sư gặp nhiều khó khăn bao gồm cả việc thiếu nước .

* Cửa sổ nhà làm bằng kính , kéo dài từ trần đến sàn giúp lấy ánh sáng phòng khách .

* Trong khi , các phòng ngủ nằm sâu dưới nền đất , để không bị nóng .

2. Được xây dựng trên một khung thép nổi tại hồ Huron ( nằm ở biên giới Mỹ và Canada ).

— Ngôi nhà bao quanh hoàn toàn bởi nước .

— Gia chủ chỉ có thể ra- vào bằng một chiếc cầu nhỏ , bắc liền bên cạnh .

* Nổi trên mặt nước , ngôi nhà có cấu trúc nền bằng thép kết hợp với cầu phao .

* Nhà được thiết kế 2 tầng , bên trong có cửa sổ toàn cảnh nhìn ra mặt nước .

3. Ngôi nhà được xây trên một mõm đá nhỏ cheo leo ở Valle d’ Aosta – Italy .

— Với mục đích là làm nơi trú ẩn cho những người leo núi .

— Nhà có thể phục vụ tối đa 8 người cùng lúc . Với nhà bếp , tiện nghi ăn uống và 8 giường riêng biệt .

* Nằm ở độ cao 3.280m so với mặt nước biển . Ngôi nhà có tầm nhìn ngoạn mục ra dãy núi hùng vĩ .

4. Ẩn bên trong bức tường của một hang động ở Vương Quốc Anh .

— Ngôi nhà được tạo ra bằng cách chạm khắc tay , trên vách đá sa thạch 800 năm tuổi .

* Hơn 70 tấn đá được khai quật để xây dựng công trình này .

5. Ngôi nhà được xây trên một đỉnh núi lửa đã tắt ( cách mặt đất 45m ) ở phía tây sa mạc Mojave – California – Mỹ .

— Nhà được thiết kế hình đĩa bay . Có diện tích 232m vuông , gồm 2 phòng ngủ và 2 phòng tắm .

* Trên đỉnh ngôi nhà có một đài quan sát , cung cấp tầm nhìn 360 độ ra các ngọn núi và sa mscj xung quanh .

6. Ngôi nhà trên đỉnh một tảng đá được xây dựng vào năm 1968 .

— Nằm gần thị trấn Serbia của Bajina Basta .

— Trong suốt 50 năm qua , ngôi nhà vẫn đứng vững trên đỉnh một tảng đá nằm giữa sông Drina




Kẻ sĩ đầy tiết tháo: LS Trần Văn Tuyên

Thũ Lãnh Việt Nam Quốc Dân Đảng/ Xứ Bộ Miền Nam.

Theo FB

“Tôi thà chết vì bàn tay của kẻ thù còn hơn sống yên thân trong sự khinh thường của đồng bào, của bạn bè, của đồng chí và đồng minh”. L/S Trần Văn Tuyên trả lời cho những người trong đó có các viên chức cao cậ́p Mỹ khuyên ông nên đi ra nước ngoài lánh nạn cộng sãn trong những ngày cuối tháng 4-1975.

“Tôi không có tội gì với tổ quốc và đồng bào của tôi cả. Nếu có tội thì đó chỉ là tội chống cộng sản, chống thực dân, chống độc tài và bất công”    đó là hàng chữ duy nhất trong bãn tự khai  trong nhà tù cộng sãn khi chúng nó bắt ông viết bãn tự khai lý lịch.

Trong lịch sử VNCH có hai người cao cấp trong chính quyền đã chết trong ngục tù cộng sản đó:

– Thủ Tướng Phan Huy Quát, chết trong nhà tù Chí Hoà 

– Phó Thủ Tướng Trần Văn Tuyên, chết trong trại tù khổ sai ở miến Bắc. 

Chúng tôi, những hậu duệ xin được phép vinh danh người lãnh đạo cao cấp của miền Nam trước 1975 

– Luật sư Trần Văn Tuyên là một trí thức, một luật sư, một nhà văn, một nhà chính trị yêu nước một nhân vật lịch sử, một chiến sĩ chống cộng đến hơi thở cuối cùng. Ông là một tấm gương đầy khí phách của một Thủ Lãnh Luật Sư Đoàn VNCH, một lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng trong những ngày cuối cùng của tháng 4/1975. Ông không di tản ra ngoại quốc, LS Tuyên đã khẳng định rằng mình “Thà chết vì bàn tay của kẻ thù còn hơn sống yên thân trong sự khinh thường của đồng bào, của bạn bè, của đồng chí và đồng minh” và ông cũng cho biết quyết định của mình như sau : .“Sinh ở đây thì chết cũng ở đây!”

Tìm Hiểu Về Cố Luật Sư TRẦN VĂN TUYÊN

Trước ngày 30-4-1975, LS Tuyên dù có nhiều phương tiện để xuất ngoại nhưng ông đã chọn ở lại và ông đã chết trong trại tù Hà Tây (Bắc Việt) ngày 26-10-1976. Luật sư Trần Văn Tuyên có 7 người con hiện tất cả đều ở hải ngoại. Người con trưởng là LS Trần Tử Huyền, cũng là nhà báo Linh Chi hiện ở vùng Bắc California. Trưởng nữ là bà Trần Đạm Phương, được biết nhiều trong các cuộc tranh đấu cho nhân quyền Việt Nam cũng như cho sự tự do của thân phụ lúc ông bị giam giữ tại Việt Nam. Ba người con trai cuối, các ông Trần Tử Thanh – một lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng, Trần Vọng Quốc và Trần Tử Miễn (một lãnh đạo VNQDĐ ở Pháp) đang theo hướng đi của thân phụ, hoạt động chính trị và tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Nhà báo Trọng Kim, chủ nhiệm, chủ bút báo Ngày Nay cũng là người trong gia đình LS Tuyên, từng giúp ông Tuyên trong việc liên lạc với báo chí ngoại quốc từ đầu thập niên 60 tới lúc mất miền Nam.

QUỐC DÂN ĐẢNG NGƯỜI NAM NƯỚC VIỆT

VÌ DÂN CỨU NƯỚC CÓ “TRẦN VĂN TUYÊN”

Nước NAM anh kiệt tiền nhân,

Bao người ái quốc vì đời cứu dân.

Quyết giành chính nghĩa Người NAM,

Bảo vệ nòi giống da vàng Việt Nam.

Thực dân tàn ác vô lường,

Chúng thường sát hại bao người thương dân.

Ngoại lai cộng sản tam vô,

Bất nhân một lũ tội đồ nội xâm.

Tri ân tưởng nhớ tiền nhân,

Noi gương ái quốc anh linh “Trần Văn Truyên”

Tinh thần nghĩa khí đấu tranh,

Lưu danh tiết tháo sử xanh muôn đời!!!

*****

LS TRẦN VĂN TUYÊN

( Quí Sửu 1913 – Bính Thìn 1976)

Luật sư Tuyên, một trong những người sáng lập Hội Hướng Ðạo Việt Nam, sinh ngày 1-9-1913 tại tỉnh Tuyên Quang, nguyên quán huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Ðông.

Học ở Hà Nội, tốt nghiệp Cử nhân Luật Ðại Học Luật Khoa Hà Nội, dạy học tại Trường Trung Học Thăng Long, tham gia hoạt động chống Pháp từ những năm 1930-1931. Năm 1942 ông bị Pháp bắt giam một thời gian vì “tội thành lập Ðảng Thanh Niên Hưng Quốc”. Sau khi được xử trắng án và tự do, ông thi đỗ ngạch Tri Huyện Tư Pháp, được bổ làm Tri Huyện huyện Thanh Miện, Hải Dương, đến năm 1944 thì từ chức.

Sau Tổng Khởi Nghiã Tháng 8 năm 1945, ông tham chính, giữ chức Ðổng Lý Văn Phòng Bộ Ngoại Giao Chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến. Ðầu năm 1946 ông lưu vong sang Trung Hoa, khi hồ chí minh lùng giết các đảng phái quốc gia.

LS Tuyên giữ chức vụ Tổng-Trưởng Thông-Tin vào năm 1949 trong nội-các của Tướng Nguyễn-Văn-Xuân, sau đó tham gia vào nội các Trần-Văn-Hữu (1949-1951) với chức vụ Bộ Trưởng Phủ Thủ-Tướng. Khi tham gia hội-nghị Pau để thương lượng với chính quyền Pháp trao trả chủ quyền cho Việt-Nam, LS Tuyên đã quyết liệt phản đối sự vi phạm trắng trợn các thỏa ước Pháp đã ký kết. LS Tuyên đã thẳng thắn nói với Cao-Ủy Pháp là Tướng De Lattre de Tassigny rằng ông ta không có quyền can thiệp vào nội bộ Việt-Nam và yêu cầu ông này rời khỏi phòng họp nội-các của chính-phủ Việt-Nam. Tướng De Lattre de Tassigny tức giận ra lệnh trục xuất LS Tuyên ra khỏi Việt-Nam. LS Tuyên đã tuyên bố:

“Không một người Pháp nào có quyền trục xuất một người Việt-Nam ra khỏi nước Việt-Nam”.

Năm 1950 ông về Sài Gòn, có thời làm Bộ Trưởng Bộ Thông Tin, năm 1950-1951 ông giữ chức Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng trong chính phủ Trần văn Hữu. Năm 1954 ông là Cố Vấn Ðặc Biệt trong Phái Ðoàøn Việt Nam (chính quyền Bảo Ðại) dự Hội Nghị Genève nhằm chấm dứt Chiến tranh Ðông Dương. Năm 1965 ông giữ chức Phó Thủ Tướng Ðặc Trách Kế Hoạch, năm 1967 ông là Dân Biểu Quốc Hội, Trưởng Khối Dân Tộc-Xã Hội tại Hạ Nghị Viện Sài Gòn, Cố Vấn Phong Trào Ðấu Tranh Cải Thiện chế độ Lao Tù, Thủ Lãnh Luật Sư Ðoàn Sài Gòn.

Năm 1965, LS Trần Văn Tuyên ra nhận chức Phó Thủ tướng cũng là lúc tình trạng chính trị và quân sự Việt Nam lâm vào hỗn loạn. Lúc ông lên nhận vai trò lãnh đạo cao trong hành pháp cũng là lúc quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẳng. LS Tuyên và Thủ-Tướng Phan Huy Quát chủ trương chống lại việc mang quân Mỹ vào Việt-Nam, nên chỉ sau 4 tháng cầm quyền chính quyền Phan Huy Quát đã bị thay thế vì sự khó chịu của phía Mỹ, nhóm bè phái trong quân đội và phía PG Ấn Quang cũng muốn loại trừ ông.

Trong thời gian ngắn ngủi làm Phó Thủ Tướng trong nội các Phan Huy Quát, LS Tuyên đã công du qua 10 nước Phi Châu và Toà Thánh La-Mã. Phái đoàn Việt-Nam do LS Tuyên lãnh đạo đã được đón tiếp trọng thể ở mọi nơi. Đức Giáo Hoàng Joan Paul VI đã không hạn chế giờ giấc để tiếp chuyện riêng với LS Tuyên. Tổng Thống Houary Boumedienne của Algeria đã tuyên bố: “Tôi đang tiếp một chiến sĩ cách mạng cùng chí hướng chống thực dân Pháp với tôi trước đây chứ không phải tiếp một Phó Thủ-Tướng của một nước. Cuộc công du trở về, Phái đoàn Việt-Nam đã hoàn trả lại cho công quỹ gần 50 ngàn đô la.

Vào năm chót của nền Đệ-Nhị Cộng-Hòa, LS Tuyên được bầu làm Thủ-Lãnh Luật-Sư Đoàn của Tòa Thượng-Thẩm Saigon (1975). Trong những giờ phút cuối cùng các luật sư đến xin giấy giới thiệu để di tản ra ngoại quốc, LS Tuyên sẵn sàng ký cho họ, nhưng cũng nói với các đồng nghiệp là mình quyết định ở lại. Bà Trần-Đạm-Phương theo chồng sống tại Mỹ đã được ít lâu, vào ngày 29.4.1975 điện thoại về để thuyết phục cha dời Viêt-Nam. LS Tuyên đã trả lời: “Thà chết vì bàn tay của kẻ thù còn hơn sống yên thân trong sự khinh thường của đồng bào, của bạn bè, của đồng chí và đồng minh”. Khi ô. Bùi Ngọc Lâm, một đồng chí, cùng hai người con trai của LS Tuyên là Trần Tử Thanh và Trần-Vọng Quốc đến trao công điện của bộ Ngoại Giao Hoa-Kỳ xác nhận đã dành đủ chỗ cho cả gia-đình di tản, LS Tuyên đã khẳng định rằng mình “…không phải là người đi làm bồi cho Mỹ. Sinh ở đây thì chết cũng ở đây…” Tuy nhiên LS Tuyên cho phép các con được tự do quyết định theo ý muốn của mỗi người.

Ngày17.6.1975, nhà cầm quyền Hà-Nội đã bắt LS Tuyên vào “trại cải-tạo” tại Long-Thành. Khi bị bắt buộc viết bản tự kiểm thảo, LS Tuyên vỏn vẹn chỉ viết có mấy hàng chữ dưới đây:“Tôi không có tội gì với tổ quốc và đồng bào của tôi cả. Nếu có tội thì đó chỉ là tội chống cộng sản, chống thực dân, chống độc tài và bất công”

Khi những hàng chữ này lọt ra ngoài lãnh thổ VN và xuất hiện trên các báo chí ngoại quốc, Ký giả Theodore Jacqueney trên trang nhất của tờ báo New York Times ra ngày 17.9.1976 đã gọi LS Tuyên là “Solzhenitsyn của Quần Đảo Ngục Tù Việt Nam” (Solzhenitsyn of Vietnam’s Gulag Archipelago). Đến ngày 5.10.1975, nhà cầm quyền Hà-Nội đã đưa LS Tuyên về một trại giam ở Thủ Đức. Đến tháng 4.1976 LS Tuyên được di chuyển bằng máy bay ra miền bắc và bị giam trong trại Hà Tây sau này đổi tên là Hà Sơn Bình. LS Tuyên chết đột ngột trong trại giam này vào ngày 26.10.1976. Khi qua Pháp vào tháng 6.1977 để xin viện trợ, Thủ Tướng Phạm-Văn-Đồng tuyên bố là ô. Trần-Văn-Tuyên vẫn sống và khoẻ mạnh vì sợ công luận thế giới. Năm 1977, Hội Ân Xá Quốc Tế tuyên xưng LS Tuyên là một tù nhân lương tâm. Đến ngày 19.5.1978, tòa Đại Sứ Hà-Nội tại Hòa-Lan chính thứ trả lời các tổ chức nhân quyền quốc tế là ô. Trần-Văn-Tuyên đã chết vì băng huyết ở trong não bộ. Trong số những người nhân chứng sống từng chứng kiến và đã mô tả cái chết đột ngột của LS Tuyên, họ đã tường thuật lại cái chết của LS Trần Văn Tuyên sau khi di tản khỏi Việt-Nam và hiện đang sống ở hải ngoại là các ông :Phan Vỹ, Thái-Văn-Kiểm, BS Trần Vỹ và BS Nguyễn-Văn-Ái.

LS Tuyên là người chủ xướng tờ báo Sao Trắng của Việt-Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) vào năm 1942. Sau này ông còn là một ký giả cộng tác với nhiều tờ báo trong nước như Thời-Luận, Chính-Luận, Quyết-Tiến, Đại Dân-Tộc, Tin Sáng, v.v. trong khoảng 1958-1975 dưới nhiều bút hiệu khác nhau: Chính Nghiã, XYZ, Trần Côn, v.v. Trong thập niên 40, LS Tuyên còn dùng bút hiệu Trần-Vĩnh-Phúc. Ngoài tiếng mẹ đẻ, ông còn rất thông thạo một số ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Quảng-Đông và tiếng Quan Thoại. Ngoài các báo Việt ngữ, LS Tuyên còn viết bài cho một số báo Pháp là Le Monde, l’Express, France – Asie, v.v

Luật sư Trần văn Tuyên qua đời trong trại cải tạo Hòa Bình ngày 26 Tháng 10, 1976, nhưng phía CS đã dáu nhẹm tin ông chết trong trại tù.

Các tác phẩm tiêu biểu của ông: 

  • Hiu quạnh (1944), 
  • Tình mộng (1953), 
  • Hội Nghị Genève ( 1954), 
  • Việt Nam dưới thời thuộc Pháp (1958), 
  • Chính đảng (1968), 
  • Người khách lạ ( 1969), 
  • Con đường Cách Mạng Việt Nam (1969)…

LS Trần-Văn-Tuyên đã dành cả cuộc đời của mình để tranh-đấu cho nền độc-lập của đất nước và quyền tự do và hạnh-phúc của dân-tộc, chống cộng triệt để, chống Mỹ đưa quân vào VN. Cuộc đời ông là bề dày của những cuộc tranh-đấu bền bỉ, mãnh-liệt, nhưng lại ôn hòa dựa trên căn bản dân quyền và nhân quyền, lấy ngòi bút, tiếng nói, diễn đàn quốc-hội và luật-pháp làm công cụ để đấu-tranh. Chỉ tiếc rằng khi chết đi, ước mộng của ông chưa thành. Sự ra đi của LS Tuyên là một mất mát to lớn cho tổ quốc Việt-Nam, một mất mát lớn cho hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông đã để lại trong lòng mọi người, cả bạn lẫn thù, một niềm tôn-kính sâu sa. Ông đã đi vào lòng đất mẹ do sự chọn lựa của chính mình, đã đi theo Nguyễn-Thái-Học và để lại tấm gương oai hùng muôn đời cho các thế-hệ mai sau. Xin được ghi lại lời nhắn-nhủ của chính LS Trần Văn-Tuyên viết trong Hồi-Ký Hội-Nghị Genève 1954 để thay đoạn kết: “Nhắc lại quãng lịch-sử quá khứ … tôi mong các bạn nhớ bài học lịch-sử để hiểu sự việc ngày nay và chuẩn bị công-việc ngày mai, để sẵn sàng ứng phó với những biến cố lịch-sử “.




MỘT CƠN GIẬN

Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến riêng của mình.
Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói:

Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.

Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.

Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay dằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:

-Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.

-Thầy cho sáu xu.

-Không, bốn xu là đúng giá rồi.
Tôi vừa nói vừa bước đi. Người phu xe đã có tuổi, cứ kéo cái xe theo sau tôi mà lẩm bẩm: “Bốn đồng xu từ đây về nhà bò”. Cái tiếng nhà bò anh ta nhắc đi nhắc lại làm cho tôi khó chịu. Tôi biết đó là một cách của các phu xe cứ đi theo sau khách để làm cho người ta bực tức, tôi lại càng ghét và quay lại gắt:

-Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:

-Lại đây đi mà.
Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:

-Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lại còn vẽ.
Anh xe cãi lại:

-Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!

-Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.

Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.
Tôi đoán không sai, chính là một cái xe hiệu “con lợn” cái tên hiệu cũng xứng đáng một hạng xe tàng ở ngoại ô mà tôi vẫn phải đi. Anh xe này đã vào đây kéo trộm, vì xe ngoại ô không được phép vào thành phố đón khách, nếu không tuân lệnh thì bị phạt từ ba đến bốn đồng bạc. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.

-Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.

Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền. Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:

-Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.

Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.

-Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân… Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:

-Lạy thầy… thầy nói giúp con… thầy làm ơn…

Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe.
Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:

-Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!

Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.

-Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?

Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Những khi nói chuyện với các phu xe khác, tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:

Tôi đi từ phố hàng Bún.

-Vậy phiền ông xuống xe.
Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:

-Allez! Đi về bót!
Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.

Tôi rung mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?

Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu. Qua ô Yên Phụ, nhìn thấy những thợ thuyền tấp nập làm việc dưới ánh đèn trong những căn nhà lá lụp xụp, tôi rảo bước đi mau, hình như trông thấy tôi họ sẽ biết cái hành vi khốn nạn và nhỏ nhen đáng bỉ của tôi ban nãy.

Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt.

Tôi nhất đinh đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình. Đến phố hàng Bột hỏi dò những người chung quanh xưởng xe, tôi biết được anh xe bị phạt đêm hôm ấy là tên Dư, và ở trong một dãy nhà quá ngã tư Khâm Thiên.

Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê.

Người phu xe Dư ở trong ấy. Một bà cụ già gầy giơ xương ngồi cắn chấy ở vệ hè chỉ cho tôi một cái cửa thấp bé ở đầu nhà. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:

-Bẩm thầy muốn gì?

Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đầy những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.

-Bác Dư có nhà không ?

Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.
Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:

-Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.
Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:

-Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:

Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dần số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không đuợc nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.
Người đàn bà ngồi trong cất tiếng ốm yếu nói theo:

-Nó còn bảo hễ không trả nó sẽ bắt lấy thẻ.

-Thế bây giờ bác ta đâu?
Bà cụ trả lời:

Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.
Tôi yên lặng, trong lòng náo nức
Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:

-Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?

Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, măt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thỏang lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.

Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.
Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhích lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.

Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rướm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bươc ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực.
Qua ngưỡng cửa, tôi va phải một người đàn ông ốm yếu tay cắp một cái áo quan con bằng gỗ mới. Đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà.
Đứa bé con đã chết.
Anh Thanh lặng yên một lát như nghĩ ngợi, rồi nói tiếp:

Cái kỷ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi mãi đến bây giờ, rõ rệt như các việc mới xảy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng. Và mỗi lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, lại thấy đau đớn trong lòng, như có một vết thương chưa khỏi.

THẠCH LAM




“Tiểu muội” Chu Đình

“Tiểu muội” Chu Đình
Ảnh: Nikkei Asian Review      

                                                                   

Máy quay các hãng truyền thông nhấp nháy liên tục khi cảnh sát thuộc lực lượng mới được thành lập còng tay và áp giải cô gái trẻ ra khỏi căn hộ của mình vào đêm thứ Hai 10-8-2020. Chu Đình chỉ vừa 23 tuổi. Cô là một trong những nhà bất đồng chính kiến đầu tiên bị bắt bởi Luật an ninh mới, với cáo buộc “thông đồng với các lực lượng ngoại bang”, nếu bị kết án, cô có thể phải đối mặt với án tù chung thân.

Một bức họa (chưa rõ tác giả) về Chu Đình

LÀM CHÍNH TRỊ KHI 15 TUỔI

Chu Đình thuộc thế hệ các nhà hoạt động dân chủ mới ở Hong Kong. Cô tham gia chính trị từ khi còn là một cô bé ở tuổi vị thành niên. Năm đó cô chỉ vừa 15 tuổi. Tiếng nói đấu tranh của cô ngày càng vang xa và vượt khỏi biên giới Hong Kong, gây khó chịu cho chính quyền Trung Quốc, giờ đây họ muốn dập tắt nó. Vụ bắt giữ Chu Đình đêm thứ Hai là vụ bắt giữ mới nhất trong các chuỗi dài những cuộc đối đầu giữa chính quyền Trung Quốc và những nhà đấu tranh ở Hong Kong.

Tại cuộc biểu tình Dù Vàng 2014 (HKFP)

Chu lớn lên trong một gia đình Công giáo không liên quan đến chính trị. Dẫu thế nhưng khi chỉ vừa 15 tuổi, cô đã quan tâm và dấn thân tham gia phong trào chống lại đề xuất đưa chương trình “giáo dục công dân yêu nước” theo ý muốn Bắc Kinh vào các trường học Hong Kong. Các học sinh ở Hong Kong khi đó sợ rằng kiểu giáo dục Đại lục sẽ bóp chết tinh thần khai phóng ở môi trường học thuật tự do Hong Kong với thâm niên hàng thế kỷ. Chu Đình và những thanh thiếu niên trẻ cùng chí hướng đã tổ chức những cuộc biểu tình khổng lồ để chống lại sự áp đặt giáo dục này và đã thành công. Chính quyền Hong Kong cuối cùng phải xuống thang và từ bỏ kế hoạch đưa chương trình “giáo dục yêu nước” vào giảng dạy. Cũng từ những cuộc biểu tình này, Chu đã gặp những người bạn đồng chí hướng, trong số đó có những gương mặt nổi bật khác như Hoàng Chi Phong (Joshua Wong) và La Quán Thông (Nathan Law).

Hai năm sau, Chu cùng bạn bè mình trở thành những gương mặt nổi tiếng trong “Phong trào Dù vàng”, với 79 ngày tọa kháng để phản đối việc Bắc Kinh từ chối cho phép người Hong Kong phổ thông đầu phiếu. Đây là cuộc biểu tình ôn hòa, nhưng thất bại. Dù vậy, một thế hệ trẻ mới đầy bản lĩnh chính trị ở Hong Kong đã được rèn giũa từ những thành công và thất bại đó. Lớp trẻ mới này là một cái gai đang nhú lên và bắt đầu ngày càng gây khó chịu cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Chu Đình và Hoàng Chi Phong trong cuộc biểu tình tháng 9-2014 (HKFP)

TIẾNG TĂM VANG XA

Năm 2016, Chu Đình, Hoàng Chi Phong, La Quán Thông cùng những bạn bè sinh viên học sinh khác chung tay thành lập Đảng ủng hộ dân chủ với tên gọi Hương Cảng Chúng Chí (Demosistō). Hương Cảng Chúng Chí không giống như các đảng ủng hộ dân chủ trước đây ở Hong Kong, những đảng được thành lập từ sau phong trào Thiên An Môn, Demosistō bao gồm những thành phần trẻ, mười tám đôi mươi hừng hực lửa, sẵn sàng lên tiếng đối đầu trực diện với Bắc Kinh để đạt được mục tiêu tranh đấu của mình.

Tuy nhiên con đường đấu tranh không hề bằng phẳng. Năm 2018, Chu Đình là một nhân vật đầu tiên của Đảng Demosistō bị cấm ứng cử trong các cuộc bầu cử địa phương vì Đảng của cô chủ trương “quyền tự quyết cho Hong Kong”. “Chính phủ bằng mọi cách muốn loại bỏ những đảng đối lập, nhưng dù bị trù dập và đàn áp, chúng tôi vẫn cương quyết bảo vệ nhân quyền và tự do” – Chu nói với đám đông biểu tình sau phán quyết cấm cô ứng cử của chính quyền.

Chu Đình đã rất thành công trong vai trò thu hút sự chú ý của quốc tế đến các phong trào dân chủ ở Hong Kong. Nhiệm vụ này thuận lợi một phần do cô thành thạo tiếng Anh, Quảng Đông và tiếng Nhật. Theo cô cho biết, cô tự học tiếng Nhật bằng cách xem truyền hình và các chương trình trên mạng. Nhờ vốn liếng tiếng Nhật của mình, cô đã thu hút được một lượng lớn người Nhật theo dõi trên mạng xã hội của mình. Tài khoản Twitter của cô với ngôn ngữ chủ yếu là tiếng Nhật có 458.000 người theo dõi.

Việc Chu bị bắt đêm 10-8 đã làm mạng xã hội Nhật Bản dậy sóng. Những người theo dõi và các tổ chức chính trị Nhật Bản đồng loạt lên tiếng phản đối việc bắt giữ Chu Đình. Vào thứ Ba 11-8, hashtag #freeagnes (thả tự do cho Chu Đình) là thẻ thịnh hành nhất mạng xã hội ở Hong Kong và Nhật Bản, được tweet 185.000 lần. Trang Facebook của Chu, sau khi đăng thông báo việc cô bị bắt vào đêm thứ Hai, đã tăng số lượng người theo dõi lên 192.000 người.

Trong một chiến dịch vận động tranh cử cho Demosistō năm 2018 (European Pressphoto Agency)

ĐƯƠNG ĐẦU LÀ SỰ LỰA CHỌN

Vận động quốc tế giờ đây đã trở thành một nhiệm vụ quá nguy hiểm ở Hong Kong. “Thông đồng với ngoại bang” là một trong bốn tội nghiêm trọng bị Luật an ninh nhắm tới, người vi phạm có thể bị kết án từ 10 năm đến chung thân.

Từ sau ngày bộ Luật an ninh quốc gia mới được ban hành vào ngày 30-6-2020 với những điều luật mơ hồ, việc loại bỏ những người đối lập chính kiến ở Hong Kong ra khỏi sân khấu chính trị dòng chính như Chu giờ đây trở nên một chuyện quá bình thường. Chỉ riêng tháng Bảy, đã có 12 nhân vật chính trị tranh đấu cho dân chủ bị cấm hoạt động vì quan điểm của họ bị cho là “không thể chấp nhận được”. Những vi phạm bị chính phủ dùng để truất quyền tham gia chính trị hợp pháp bao gồm chỉ trích luật an ninh mới hoặc đăng các khẩu hiệu phản đối lên mạng xã hội.

Các nhân vật của Đảng Demosistō đều hiểu rằng họ sẽ là mục tiêu của Luật an ninh một khi nó được ban hành. Họ đã nhanh chóng giải tán đảng vài giờ trước khi Luật chính thức có hiệu lực. La Quán Thông nhanh chóng rời khỏi Hong Kong để tỵ nạn tại Anh ngay tuần đầu tiên. Chu Đình và Hoàng Chi Phong chọn con đường ở lại Hong Kong bất chấp các rủi ro đang chờ đợi. Ngay cả trong trường hợp không liên quan đến Luật an ninh, những cáo buộc vi phạm khi tham gia các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ lớn năm 2019 cũng đủ đẩy họ vào tù. Tuy nhiên, những người tranh đấu chọn con đường ở lại với Hong Kong quan niệm, “Nếu không ai dám hy sinh cho tự do thì sớm muộn tất cả cũng sẽ bị vùi dập dưới gót giày chuyên chế”. 

Theo https://thenewviet.com/“tieu-muoi”-chu-dinh.html




Ephemeral stone art on the shores of the UK

By Land artist Jon Foreman

Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Stone Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art

Jon Foreman Website




Under The Lover-Dưới Giàn Hoa Tím




Cờ tướng

Nghiên Cứu Lịch Sử

 · 

  • Tại sao trên bàn cờ Trung Quốc hai bên đều có năm quân Tốt?

Cờ tướng Trung Quốc đã ra đời trước đây hơn hai nghìn năm trong thời kì Chiến Quốc. Thời bấy giờ các nước chư hầu tranh cướp lãnh thổ và quyền lực của nhau, vì thế chiến tranh luôn luôn nổ ra.

Tiểu tốt là một binh chủng trong cờ tướng của Trung Quốc, mỗi bên đều có năm quân Tốt, cách bố cục như thế không thể tách rời khỏi ảnh hưởng của hình thức chiến tranh thời bấy giờ. Thời bấy giờ, hai bên đánh nhau chủ yếu dựa vào bộ binh, mà biên chế cơ bản trong quân đội là ngũ, đó tức là năm lính bộ binh thì họp thành một ngũ, tức là một đơn vị chiến đấu. Mỗi người dùng một trong năm thứ binh khí là cung, thù, mâu, qua, kích. Thế chiến đấu hoàn chỉnh với năm thứ vũ khí như thế này đã được phản ánh trong cờ tướng. Vì thế mỗi bên chơi cờ đều có năm con Tốt, bên đỏ có năm con Tốt, bên đen cũng có năm con Tốt.

Nội dung cờ tướng Trung Quốc đã có một quá trình biến hóa và phát triển. Chẳng hạn : người chơi cờ đời xưa đã tham khảo cờ vây của Trung Quốc, biến 60 ô thành 90 điểm. Đến đời Tống, theo với sự phát minh thuốc súng lại có thêm quân pháo, nhưng tình trạng mỗi bên chơi cờ có năm quân Tốt thì vẫn còn được giữ

  • Tại sao trên bàn cờ tướng Trung Quốc có “Sở hà, Hán giới”?

Các bạn đều thích chơi cờ, nhất là cờ tướng Trung Quốc thì càng được yêu thích. Trên bàn cờ tướng Trung Quốc có một dải trống, dùng làm ranh giới giữa hai bên đỏ và đen, trên dải này có ghi “Sở hà, Hán giới” (sông nước Sở, biên giới nước Hán).

Theo truyền thuyết, sở dĩ có vùng trống này là vì cờ tướng bắt nguồn từ cuộc chiến tranh giữa nước Sở và nước Hán, đã từng diễn ra trong lịch sử Trung Quốc. Năm 206 trước Công nguyên, sau khi nước Tần bị diệt vong, Hạng Vũ tự lập làm Tây Sở Bá vương và phong Lưu Bang làm Hán vương. Đến năm 203, Hạng Vũ mang quân tiến ra ngoài, Lưu Bang thừa cơ kéo quân tiến chiếm vùng Quan Trung và tiến thêm về phía đông. Hạng Vũ đem quân về đánh bại Lưu Bang. Lưu Bang bèn liên hợp các lực lượng chống Hạng Vũ ở các nơi, và lần nữa lại giằng co với Hạng Vũ. Trong hoàn cảnh thiếu lương thực, binh sĩ bị kiệt quệ đến cùng cực, Hạng Vũ phải nêu ra phương án “trung phần thiên hạ” tức là đem đất nước chia làm hai. Hai bên thương lượng với nhau và quyết định lấy Hồng Câu làm đường phân giới, phía tây con sông này thuộc về nước Hán, còn phía đông thuộc về nước Sở. Từ đó đã nảy sinh ra cách nói “Sở hà, Hán giới”.

“Sở hà, Hán giới” này ngày nay ở vào một dải phía đông bắc Vinh Dương ở tỉnh Hà Nam. Đất này phía bắc lên tới sông Hoàng Hà, phía tây dựa vào núi Mang Sơn, phía đông liền với Bình Nguyên, phía nam tiếp với Tung Sơn. Đó là vùng đất mà binh gia các thời đại ắt phải tranh giành với nhau. Ngày nay trên núi Quảng Vũ ở Vinh Dương vẫn còn lưu di chỉ của hai toà thành cổ đối diện với nhau từ xa. Toà thành phía tây gọi là thành Hán vương, còn toà thành phía đông thì gọi là thành Bá vương.

Truyền thuyết kể lại rằng hai toà thành này xưa kia do Lưu Bang và Hạng Vũ xây dựng. Giữa hai toà thành này có một con sông lớn rộng khoảng 300m tức là sông “Hồng Câu” mà người ta thường nói tới.

Khi sáng chế ra cờ tướng Trung Quốc, người ta cho rằng hai bên bố cục thành lũy rành rọt, tựa như con sông Hồng Câu được dùng làm đường phân giới cho hai nước Sở và Hán. Như vậy Sở hà Hán giới đã được đưa vào cờ tướng dùng làm đường phân giới giữa hai bên trên bàn cờ.

  • Cờ tướng Trung Quốc đã ra dời như thế nào?

Cờ tướng là một hoạt động tương đối phổ cập. Cờ tướng đã có lịch sử hết sức lâu đời, đại khái nó bắt nguồn từ trước đây hơn hai nghìn năm. Cuối thời kì Chiến Quốc, trong tập thơ cổ trứ danh Sở Từ đã có viết về cờ tướng. Thời bấy giờ đã thịnh hành một cách chơi gọi là “Lục bác”, mỗi bên có thể đi sáu quân cờ. Đồng thời ở đời Chiến Quốc, các nước chư hầu tách rời nhau và tranh đoạt đất đai của nhau, chiến tranh diễn ra hết năm này qua năm khác. Tình hình xã hội như thế này cũng đã tạo điều kiện cho cờ tướng ra đời. Mà trên bàn cờ “Sở giang (sông nước Sở) và “Hán giới” (biên giới nước Hán) đã có nguồn gốc từ thế kỉ II trước Công nguyên. Đó là do Lưu Bang và Hạng Vũ chống lại ách thống trị của nhà Tần, đi tới thành lập hai nước Sở và Hán.

Đời xưa cờ tướng đã được quảng đại nhân dân ham thích. Cách bố cục của cờ tướng cũng không ngừng được cải tiến. Đến đời nhà Đường, các quân cờ đã có những cái tên : Tướng, Mã, Xa, Tốt. Về cơ bản, cách đi các quân cờ này cũng giống như ngày nay.

Cờ tướng ngày nay đã được định hình vào cuối thời kì Bắc Tống và đầu thời Nam Tống. Nếu suy đoán theo trước tác của những người như Tư Mã Quang, thì dưới triều Bắc Tống đã lưu hành ba loại cờ tướng. Trong đó một loại có 32 quân cờ Tướng, Sĩ, Tượng, Mã, Xe, Pháo, Tốt. Bàn cờ chiều ngang và chiều dọc đều có 9 ô, không có sông. Nhưng đến đời Nam Tống thì thêm con sông ngăn bàn cờ làm đôi, và loại cờ tướng này được lưu hành rộng rãi trong dân gian.

Cuốn Sự lâm quảng kí của đời Tống còn có ghi bản “Tượng kì phổ” (sách ghin cờ tướng) sớm nhất mà hiện nay chúng ta còn có thể được xem.

Sang đến đời Minh, con Tướng ở một bên được đổi tên thành con Sư. Từ đấy cờ tướng Trung Quốc đã được định hình không thay đổi nữa.

Sau khi nước Trung Quốc mới được thành lập, cờ tướng được đưa vào các hạng mục thi đấu thể dục thể thao. Để phân biệt với cờ vua quốc tế, cờ tướng truyền thống được gọi là “Trung Quốc tượng kì” (cờ voi Trung Quốc).




Câu chuyện ma có thật

Người kể: Diễm Vy

Chuyện xảy ra gần 20 năm trước, khi tôi còn làm y tá của một bệnh viện trong một thành phố nhỏ ở tiểu bang Arizona.

Tối hôm đó, bệnh viện của tôi nhận một nhóm nạn nhân của một tai nạn xe hơi thảm khốc. Trên xe là bốn em học sinh đều ở lứa tuổi 17-18, cùng đi về với nhau sau sau bữa tiệc. Người lái xe 18 tuổi, say rượu và chạy xe quá tốc độ, lạc tay lái tông vào một chiếc xe tải đang đậu bên lề đường. Nhờ có thắt dây an toàn, người lái và em ngồi cạnh tuy bị thương nặng nhưng không nguy hiểm tính mạng. Riêng hai em ngồi sau, 1 nam 1 nữ bị thương rất nặng vì không thắt dây an toàn. Em trai bị chấn thương sọ não và chết ngay sau khi xe chở đến bệnh viện. Em gái hôn mê bất tỉnh phải mổ gấp, không biết có cứu được hay không?

Thật đáng buồn, em trai tử vong là một em gốc Việt, 17 tuổi, vừa tốt nghiệp trung học và đang sắp rời nhà để vào một trường đại học danh tiếng. Các em còn lại đều người ngoại quốc.

Lúc đó tôi đang làm tại khu ICU (Intensive Care Unit). Bệnh nhân tôi được giao đêm đó là em gái 17 tuổi của tai nạn vừa kể trên. Một cô bé người ngoại quốc, đẹp hay không thì tôi không biết vì cả khuôn mặt lẫn cái đầu tóc vàng của em đều tím bầm, sưng to như trái dưa hấu vì những cú va chạm kinh khiếp. Em đang được mổ não khẩn cấp trong phòng mổ.

Tôi được (hay bị) kêu vào phòng họp gấp để nhận một nhiệm vụ quan trọng.

Sau khi được biết nhiệm vụ của mình là gì, tôi nhăn nhó phản đối, “Tại sao lại là tôi? Đây là nhiệm vụ của bác sĩ mà!”

“Tôi biết, nhưng người nhà của bệnh nhân không biết tiếng Mỹ rành lắm, cô đi theo thông dịch cho bác sĩ, và ráng van xin họ giúp chúng tôi,” bà y tá trưởng năn nỉ.

Sau một hồi bàn qua tính lại, tôi lê bước đi theo ông bác sĩ đến phòng chứa xác của em trai Việt Nam mới tử nạn, với nhiệm vụ là cùng bác sĩ, năn nỉ gia đình người chết hiến tặng những bộ phận còn tốt trong cơ thể của em cho bệnh viện.

Một em trai 17 tuổi đang khỏe mạnh nhưng chết vì tai nạn, là một ứng cử viên tuyệt vời để làm người hiến tặng, vì hầu hết các bộ phận trong cơ thể em còn rất khỏe, rất trẻ, rất thích hợp để cứu sống các bệnh nhân đang chờ đợi để được thay các bộ phận trong người. Đó là lý do bệnh viện hết sức cầu xin gia đình.

Thời gian đó, đối với người Việt mình, khái niệm hiến tặng bộ phận cơ thể còn rất mới mẻ. Nếu không là cho người thân trong gia đình, hầu như rất ít ai hiến tặng cho những người không quen biết. Huống hồ gì, chuyện cha mẹ đồng ý hiến tặng các bộ phận trong cơ thể của con thì hình như chưa hề xảy ra. Có cha mẹ nào mà nỡ lòng nào làm như thế? Mất con đã đau đớn lắm rồi…

Chúng tôi gặp cha mẹ nạn nhân trong phòng đợi, trong khi người con đang được chờ quyết định để rút tất cả ống support bên trong, tôi bắt đầu trình bày lý do. Quả như tôi lường trước, cho dù có van xin, nài nỉ, giải thích cách mấy, bác sĩ và tôi chỉ nhận được những cái lắc đầu quầy quậy, ánh mắt oán ghét, và những lời xua đuổi.

Tôi lắp bắp xin lỗi rồi bước nhanh như chạy ra khỏi phòng.

Phòng ICU rất vắng lặng vì ở đây toàn những ca rất nặng.. Những y tá cùng trực với tôi đêm đó ai cũng bận rộn với bệnh nhân của mình nên chỉ có một mình tôi ngồi tại nurse station. Thường thì ở ICU, mỗi y tá lãnh hai bệnh nhân trong một ca. Nhưng đêm nay tôi chỉ có một, vì một bệnh nhân mới chuyển sang phòng thường. Bệnh nhân còn lại là cô gái đang trong phòng mổ, nên tôi cũng khá rảnh rỗi, cho đến khi ca mổ xong.

Bỗng nhiên tôi thấy hơi nhức đầu nên cúi gục vào lòng bàn tay một chút cho đỡ mỏi mắt. Khi tôi ngẩng đầu lên thì vụt một cái, thoáng có một bóng người mặc áo trắng lướt thật nhanh qua mặt.

 Tôi đảo mắt nhìn quanh. Không có ai cả!

Tôi vẫn thường thấy lao đao như vậy lắm, có lẽ vì tôi bị chứng bịnh thiếu máu kinh niên. Tôi dụi mắt nhìn kỹ lại một lần nữa, lần này thì thật sự có một bóng áo trắng đang từ từ tiến lại gần tôi.

Tôi dợm đứng dậy để nhìn cho rõ thì thấy có một cậu thanh niên Á Châu rất trẻ, gương mặt xanh xao mệt mỏi đang đi lại phía tôi ngồi. Cậu đi nhẹ nhàng như lướt trên không vậy, xuất hiện trước mặt tôi mà không gây nên một tiếng động. Cậu nhìn tôi, đôi mắt nâu hiền và ngây thơ đến nao lòng. Có vẻ như cậu đang bị lạc đường. Chắc là cậu đi nuôi người nhà bệnh và lạc từ khoa khác sang.

Thấy cậu đứng yên lặng không nói gì, tôi hỏi bằng tiếng Mỹ, “Em cần gì, tôi có giúp được gì cho em không?”

Lạ thay, cậu trả lời bằng tiếng Việt, “Em đi kiếm đồ!”

Giọng của cậu nhỏ và thanh, nghe văng vẳng như từ một nơi xa xôi nào đó vọng về.

“Em bị mất cái gì à?”

“Em làm rớt cái ví trong xe. Trong đó có một món đồ rất quan trọng. Chị kiếm dùm em nghe chị. Nhớ nghe chị…

Không đợi tôi trả lời, cậu quay lưng đi thật nhanh và khuất bóng sau góc quẹo.

Tự nhiên tôi cảm thấy lạnh buốt, cái lạnh từ trong xương lạnh ra. Tôi rùng mình. Lạ thật, Tháng Sáu Mùa Hè ở cái xứ sa mạc này nóng cả trăm độ. Cho dù máy lạnh có mở cũng chỉ vừa đủ. Chưa bao giờ tôi cảm thấy lạnh cóng bằng cái lạnh của hiện tại.

Đầu óc tôi quay cuồng và tiếp tục nhức. Chắc mình sắp bịnh rồi, tôi tự nhủ. Sao tự nhiên lại cảm thấy lạnh và nhức đầu quá. Tôi đứng lên định đi theo cậu bé nhưng rồi lại choáng váng ngồi phịch xuống một chiếc ghế.

Vừa lúc đó, một cô bạn đồng nghiệp từ đâu đi tới. Nhìn thấy sắc mặt tôi, cô la lên, “Oh my God! Trời ơi sao cái mặt cô xanh lè xanh lét thấy ghê quá. Are you OK?”

“Tôi thấy lạnh quá, cô lấy dùm tôi một cái áo lạnh được không?”

Cô bạn nhanh chóng đi lấy cho tôi một cái áo labcoat mới được giặt ủi và hấp nóng. Tôi mặc áo vào, ngồi co ro mà thấy vẫn còn lạnh, mồ hôi rịn ra hai bên thái dương.

Tôi uống thêm hai viên Tylenol. Một lúc sau, tôi thấy từ từ dễ chịu, và lại nghĩ đến cậu bé hồi nãy. Cậu ta là ai, làm sao biết cậu ở đâu, đi kiếm cái xe gì, và cái ví gì nữa chứ?

Cả khu ICU này có 6 phòng. Hiện giờ đang có năm bệnh nhân, mỗi người nằm một phòng. Tôi coi lại danh sách bệnh nhân viết trên bảng treo trên tường. Không có bệnh nhân nào người Việt. Vậy cậu từ khoa nào đi sang đây?

Tôi đi lòng vòng với hy vọng gặp lại cậu bé, nhưng hỏi thăm những nhân viên quanh đó xem có ai gặp một cậu bé người Á châu không, ai cũng lắc đầu không biết.

Thất vọng, tôi trở về khoa đúng lúc bệnh nhân của tôi đã được giải phẫu xong và chuyển về phòng ICU. Bác sĩ bảo em được cứu sống nhưng đôi mắt sẽ bị mù vĩnh viễn vì chấn thương quá nặng. Chỉ có một hy vọng duy nhất là được thay đôi mắt khác em mới có thể thấy lại ánh sáng.

Ba mẹ em ngồi bên giường trong khi em vẫn đang nằm thiêm thiếp. Ông bà yên lặng chắp tay cầu nguyện. Tôi không biết làm gì hơn là ngồi xuống bên cạnh và góp lời cầu nguyện trong lòng.

Người mẹ buồn rầu nói, “Tội nghiệp chúng quá. Rồi đây Jane sẽ ra sao khi tỉnh dậy và biết là người yêu của nó đã chết?”

“Người yêu của Jane là anh Việt Nam ngồi chung xe hả bà?” tôi hỏi.

“Đúng vậy, chúng nó yêu nhau lắm. High school sweethearts mà. Hai đứa đều học giỏi và có tương lai. Thế mà, chỉ qua một đêm, một đứa ra đi vĩnh viễn, một đứa trở nên mù lòa.” Bà sụt sịt khóc.

Tôi ngập ngừng, “Bác sĩ nói con bà còn có hy vọng thấy lại ánh sáng, nếu…”

“Vâng tôi biết! Nhưng ở đâu ra có cặp mắt để thay kia chứ? Nếu đó là cặp mắt của một người còn sống cho con tôi, tôi biết chắc chắn nó sẽ không chịu nhận. Nó là cô gái rất tốt, không bao giờ muốn làm khổ ai.”

“Nhưng nếu đó là cặp mắt của một người vừa mới mất thì hoàn toàn có thể dùng được, chỉ có điều…” tôi bỏ dở câu nói vì tôi biết chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra. Đừng bao giờ nên hỏi cha mẹ cậu bé Việt Nam thêm một lần nữa.

Như đọc được ý nghĩ của tôi, bà mẹ thở dài, “Cô y tá ạ, tôi biết nỗi đau của người mẹ mất con nó khủng khiếp như thế nào. Tôi không dám đòi hỏi gì thêm. Số phận con gái tôi bị mù thì tôi sẽ hết lòng chăm sóc cho nó. Con gái tôi có nghị lực lắm, tôi tin nó sẽ vượt qua…”

Xót xa nhưng cũng rất xúc động trước những lời nói của bà, tôi nhẹ nắm lấy tay bà. Vừa lúc đó, một ông cảnh sát đang rảo bước tới, trên tay cầm một bọc giấy. Ông hỏi tôi, “Người ta chỉ cho tôi là có một cô y tá người Việt ở đây. Cô nói được tiếng Việt chứ?”

“Dạ được. Ông cần gì không?”

“Tôi muốn nhờ cô đi với tôi đến gặp gia đình người tử nạn trong tai nạn xe chiều nay. Chiếc xe bị total lost. Trước khi xe tow kéo xe đi, chúng tôi kiểm tra trong xe và tìm thấy chiếc ví này rớt trong xe. Nó thuộc về người đã chết. Tôi muốn giao lại kỷ vật này cho thân nhân của cậu.”

Ví, xe, người tử nạn… những mảnh rời rạc của chiếc hình puzzle tự nhiên ráp nối lại với nhau một cách có trật tự. Tim tôi đập thình thịch và cổ họng tự dưng tắc nghẽn. Chân tôi bắt đầu run lập cập và tay thì nổi da gà. Sao giống y hệt những điều cậu bé kia vừa nói?

Không lẽ mình vừa gặp ma sao?

Tôi lắp bắp hỏi ông cảnh sát, “Ông có thể cho tôi xem qua chiếc ví được không?”

Ông ngần ngừ một chút rồi nói, “Cũng được, nhưng trong ví không có gì quý giá hết, chỉ có tấm bằng lái xe và một ít tiền mặt vậy thôi!”

Tôi tần ngần mở chiếc ví ra. Thật vậy, trong ví ngoài một ít tiền nhỏ chỉ có tấm bằng lái xe. Tôi tò mò nhìn vào tấm bằng lái và hoảng sợ làm rơi chiếc ví xuống đất. Trên tấm bằng là hình của cậu bé vừa đến gặp tôi ít phút trước đây. Với gương mặt gầy và cặp mắt nâu trong vắt thơ ngây như đang nhìn xoáy vào tôi, như muốn nói một điều gì.

Vậy ra cậu chính là người đã chết đó sao?

Một luồng khí lạnh chạy dọc theo sống lưng của tôi. Tôi thầm thì, nhắc lại lời của cậu bé khi nãy: “Trong ví này có một vật rất quan trọng…”

“Cô nói gì?”

Tôi lượm chiếc ví lên, mở ra xem lại và lật tới lật lui. Quả thật không có gì khác ngoài vài tờ giấy $10 và $5, cùng tấm bằng lái.

Tai tôi văng vẳng nghe tiếng của cậu bé, “chị nhớ giúp em nghe chị, nhớ nghe chị…”

Tấm bằng lái!

Tôi nhìn kỹ lại tấm bằng lái lần nữa. Đây rồi, vật quan trọng mà tôi cần tìm chính là tấm bằng lái này đây.

Trên bằng lái có tên, tuổi và hình chụp của cậu bé. Còn nữa, nằm ngay ngắn ở góc phải của tấm bằng là cái sticker nhỏ màu hồng, trên có dòng chữ “DONOR” màu đen in đậm nét.

Tim tôi đập thình thịch. Như vậy là, chính cậu đã run rủi cho sở cảnh sát tìm thấy chiếc ví rơi trong gầm xe trước khi xe bị kéo đi; chính cậu đã tìm đến tôi, và đưa đẩy cho ông cảnh sát gặp tôi để mọi người có thể biết được ý nguyện của cậu.

Thì ra ngay từ khi mới có bằng lái, cậu đã quyết định là nếu có điều gì xảy ra cho mình, cậu sẽ sẵn sàng hiến tặng những bộ phận còn tốt trong người cho tất cả ai đang cần chúng nên đã tình nguyện ghi tên làm người DONOR. Có phải cậu đến tìm tôi vì biết tôi là người chăm sóc cho người bạn gái thương yêu của cậu đêm nay và muốn nhờ tôi tìm cách để trao tặng cho cô gái đôi mắt của cậu như một kỷ vật cuối cùng?

Tôi chỉ vào chữ “DONOR” và nhờ vị cảnh sát xác minh lại với DMV.

Sau khi xác nhận là cậu bé Việt Nam chính thực đã ghi danh làm người “DONOR”, nhưng đồng thời vị cảnh sát cũng thông báo rằng theo luật pháp, vì cậu bé mất khi cậu chưa đủ 18 tuổi, nên quyết định cuối cùng, cho hay không, cũng vẫn là quyết định của cha mẹ.

Phái đoàn gồm các bác sĩ, cảnh sát cùng với tôi sau khi đưa chiếc ví lại cho cha mẹ cậu và thông báo về tất cả những sự việc trên cho họ.. Trong khi chờ gia đình cậu bé bàn thảo với nhau, chúng tôi đều lui ra ngoài đứng chờ.

5 phút, 10 phút trôi qua. Một bầu không khí yên lặng đến nghẹt thở.

Rồi cha mẹ cậu bé cũng bước ra. Người mẹ ôm mặt khóc, trong khi người cha nghẹn ngào nói với chúng tôi: “Thôi thì con tôi nó đã muốn như vậy, chúng tôi xin nghe theo ý nguyện của cháu. Xin bệnh viện giúp cháu làm tròn tâm nguyện, hãy giúp đỡ tất cả những ai đang chờ được giúp.”

Tôi bật khóc vì quá xúc động. Tất cả những người có mặt lúc đó đều khóc và cảm ơn cha mẹ cậu bé đã làm quyết định đau đớn và khó khăn nhưng rất cao cả này. Cảm ơn ông bà, tôi thầm thì. Trên cao kia, tôi biết cậu bé đang nhìn xuống và mỉm cười.

Những ngày sau đó, có ít nhất là cả chục bệnh nhân đang chờ thay thận, gan, tim, v.v… đã được cứu sống nhờ được ghép những bộ phận trong cơ thể cậu bé. Cô bạn gái cũng đã nhận được cặp mắt của cậu. Trên gương mặt trắng bóc và mái tóc vàng hoe, đôi mắt nâu trong veo luôn tỏa những tia sáng ấm áp dịu dàng. Đôi mắt như biết nói những lời yêu thương đến mọi người. Cậu bé đã ra đi mãi mãi, nhưng tình yêu quảng đại của em vẫn tiếp tục tồn tại.

Ngay sau cái đêm “gặp ma” trong bệnh viện đó, tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Tôi về bàn với chồng, và vợ chồng tôi đã cùng đi đến quyết định là ra DMV để ghi tên tình nguyện làm người “DONOR.”

Nếu một mai có người nào phải ra đi trước, chúng tôi không muốn người thân mình ở lại phải suy nghĩ để làm những quyết định đau lòng thế cho mình.

Cát bụi rồi sẽ trở về với cát bụi. Thế thì tiếc làm chi cái xác thân tạm bợ này! Nếu sau khi mình ra đi mà vẫn còn có ích cho người khác thì đó chính là một niềm an ủi và hạnh phúc vô biên cho mọi người chúng ta rồi.

Diễm Vy

======================

Đỗ Thị Thuấn

hoangvan.club




LOÀI HOA CÓ HÌNH DÁNG NGỌT NGÀO NHƯ QUE KEM

Hoa Tulip không những là một trong các loài hoa phổ biến nhất thế giới , nhờ những cánh hoa rực rỡ mà còn là biểu tượng của mùa xuân .

Chúng ta đã quá quen thuộc với các loại hoa Tulip xanh , đỏ , tím , vàng … Nên có thể ít biết đến loài hoa Tulip độc đáo với cánh hoa trắng xen giữa cánh hồng . Khiến chúng trông giống như những que kem ngon lành .

Hoa có hình nón nằm trong chiếc bát màu hồng . Tuyệt đẹp phải không các bạn .

Yến Anh –  PetroTimes




DUY TÂN vị vua yêu nước thương nòi

“Chiều chiều trước bến Vân Lâu,

Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm!

Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông!

Thuyền ai thấp thoáng bên sông,

Nghe câu mái đẩy, chạnh lòng nước non!”

Tác giả 5 câu hò trên là “Ưng Bình Thúc Giạ Thị”, tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Bình (1877-1961), là một Hoàng Thân nhà Nguyễn, cháu nội của Tuy Lý Vương, đang nhắc đến một giai thoại bi tráng của lịch sử dân tộc.

Năm 1916, Trần Cao Vân và Thái Phiên ngồi giả câu cá để bí mật gặp vua Duy Tân bàn việc khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Chẳng may việc bất thành, nhà vua bị quân Pháp bắt và đày đến đảo Réunion.

Vua Duy Tân là con thứ 8 vua Thành Thái, tên húy Vĩnh San lên ngôi năm mới 7 tuổi, sau khi Pháp truất phế vua cha là Thành Thái.

Có giai thoại rằng, mùa hè năm nào vua Duy Tân cũng ra nghỉ mát ở cửa Tùng, một cửa biển đẹp, yên tĩnh, có bãi tắm bằng phẳng, cát trắng và mịn. Một hôm, nhà vua từ bãi tắm lên, hai tay còn dính cát, một thị vệ liền bưng lại một thau nước ngọt mời vua rửa tay, vua vừa rửa vừa hỏi: “Tay bẩn lấy nước mà rửa, nước bẩn lấy chi mà rửa?”.

Thị vệ lúng túng không trả lời được. Nhà vua bèn trả lời cho người thị vệ: “Nước bẩn thì lấy máu mà rửa! Hiểu không?”.

Theo sử sách, ngày 6/5/1916, vua Duy Tân bị thực dân Pháp bắt tại một ngôi chùa cạnh núi Ngũ Phong, đem về giam ở đồn Mang Cá, rồi sau đó đày ra đảo Reunion (châu Phi) cùng với cua cha ThànhThái

Khi bị giam ở Mang Cá, dù rất muốn duy trì thú vui đọc sách, tập thể dục, đánh đàn và nghe hòa nhạc… như thời trong cung, vua Duy Tân vẫn quyết không hạ mình, đòi Pháp một sự chiếu cố nào. Đến ngày nhà vua sắp bị dẫn lên tàu để vào Nam, bắt đầu cuộc hành trình đi đày, một viên đại diện của Khâm sứ đến thăm và hỏi: “Nhà vua có một quỹ tiền riêng lưu trữ tại kho nội vụ. Ngài có cần lấy một ít để đi đường không?”.

Vua Duy Tân đáp: “Tiền đó để cấp cho ông vua cai trị nước Nam, chứ không phải là của tôi – một người tù. Hơn nữa, chính phủ bảo hộ không chu cấp nổi cho một người tù hay sao, mà còn phải lấy tiền mang theo. Tôi không cần có tiền riêng”.

Viên đại diện toà Khâm sứ thấy vua thèm đọc sách, bèn hỏi: “Ngài có một tủ sách quý giá đến mấy ngàn cuốn bằng Pháp văn. Ngài có muốn lấy một bộ nào đem theo đọc cho khuây khỏa không?”. Vua Duy Tân gật đầu nhận ngay và dặn thêm: “Sách tôi rất thích. Nhờ ông lấy giúp bộ Histoires de la Révolution Française (Lịch sử cách mạng Pháp) của Michelet, nhưng phải lấy cho trọn bộ.

Vị đại diện toà Khâm sứ nghe thế sợ quá, không dám về báo cáo lại với phía Pháp.

Ngày 26-12-1945 vua Duy Tân mất trong một tai nạn máy bay ở xứ Bangui thuộc châu Phi.

Đến năm 1987, hài cốt của nhà vua được đưa về Việt Nam, cải táng bên cạnh vua cha Thành Thái.

./.

(ThaiNC sưu tập, tóm lược, và đúc kết)




CÁC TÁC PHẨM GIÀNH GIẢI CUỘC THI NHIẾP ẢNH DƯỚI NƯỚC

Nguồn : An Ngọc – theo Daily Mail .

* Edwar Herreno là nhiếp ảnh gia giành giải chung cuộc với tác phẩm ” Giải tỏa hy vọng ” .

— Bức ảnh này chụp cá mập đầu búa , ở ngoài khơi quần đảo Galapagos .

* Nhiếp ảnh gia Yung Sea Wu giành giải nhất , hạng mục ” Hành vi sinh vật biển ” với tác phẩm ” Mola Mola ” .

— Chụp ngoài khơi đảo Lembongan – Indonesia .

— Bức ảnh cho thấy , Cá Thái Dương ở độ sâu 37m . Rất dễ bị nấm và ký sinh trùng trên da . Nên đôi khi có những con cá nhỏ trợ giúp nó làm sạch trên thân .

* Tác phẩm ” Sự tò mò ” của nhiếp ảnh gia Joanna Smart giải nhất hạng mục ” Nước lạnh ” .

— Bức ảnh con hải cẩu đang tò mò trước ống kính . Chụp ngoài khơi đảo Anaeapa – California – Mỹ .

* Ảnh đẹp huyền ảo về con cá đuối đang lướt nhẹ dưới thợ lặn ở Hawaii .

* Nhiếp ảnh gia Paul Cox đặt tên là ” Vòng tay mở rộng ” giải nhất hạng mục ” Góc rộng ” .

* Khi lặn ngoài khơi Baja- California Sur – Mexico . Jacopo Brunnetti đã chụp được con cá mập mako dài 3m , đang khoe hàm răng sắc nhọn .

— Bức ảnh giải nhất cho hạng mục ” Chân dung tiếp cận ).

* Yannick Bruynoghe chụp được bức ảnh hiếm có về mập voi , đang bơi gần đàn cá nhồng tại rạn san hô Tubbataha ở Philippines .

— Tác phẩm mang tên ” Chào mừng đến với Tubbataha ” , giải nhất cho hạng mục ” Góc rộng nhỏ gọn ” .

* Tanen Atilgen khi đang lặn ở Biển Đỏ ngoài khơi Ai Cập . Đã chụp được ” Chiếc xe máy nổi tiếng của ThisHegorm ” . Anh cho biết , ý tưởng chiếu sáng chiếc xe máy trong xác tàu đắm ThisHegorm không phải là mới . Nhưng thật ra tôi đã chụp nó từ năm 2013 .

— Giải nhất cho hạng mục ” Xác tàu đắm ” .

* Khi đang lặn ngoài khơi bờ biển Batangas ở Philippines . Lars Michaelis chụp được bức ảnh 2 con tôm xương đang đánh nhau .

— Anh đặt tên là ” Tiếng vang trong rừng ” giải nhất cho hạng mục ” Marco ” .

* Uwe Schmolke chụp được khi đang lặn ngoài khơi bờ biển Bali – Indonesia .

— Bức ảnh con sên biển được đặt tên ” Vẻ đẹp ” giải nhất hạng mục ” Compact macro ” .

* Tác phẩm giải nhất hạng mục ” Hành vi nhỏ gọn ” thuộc về nhiếp ảnh gia Stan Chen .

— Bức ảnh chụp 2 con cá rồng , khi lặn ngoài khơi đảo Lembeph – Indonesia .

* Eric Hou chụp được bức ảnh bắt mắt này ở ngoài khơi bờ biển Batangas – Philippines . Giải nhất hạng mục ” Nước đen ” .

— Tác phẩm có tên ” Đỏ ” .

* Bức ảnh táo bạo có tên ” Bong bóng ” . Hạng nhất cho hạng mục ” Nghệ thuật dưới nước ” .

— Nhiếp ảnh gia Rodger Klein cho biết : anh có được bức ảnh này , trong một buổi chụp thử nghiệm tại hồ bơi ở bãi biển Venice – California – Mỹ .




THÁNH ĐƯỜNG MADONNA DELLA CORONA Ở ITALY

THÁNH ĐƯỜNG MADONNA DELLA CORONA Ở ITALY

* Thánh đường Madonna Della Corona ở Italy nổi tiếng thế giới , là nhà thờ cheo leo trên vách núi . Tách biệt với khu dân cư . Kiến trúc độc đáo của nhà thờ được xây dựng từ thế kỷ 16 , kỳ vĩ và cổ kính .

* Nằm trên vách núi đá Beldo , cao 550m . Thánh đường Madonna Della Corona là điểm đến của nhiều du khách . Nguyên do bởi đây là nhà thờ cheo leo trên vách núi đá có kiến trúc đặc biệt .

* Do thánh đường Madonna Della Corona nằm tách biệt với khu dân cư . Nên ở đây vô cùng yên tĩnh , thanh bình và không khí trong lành .

* Năm 1899 , mặt tiền nhà thờ được trùng tu theo phong cách kiến trúc Gothic .

* Trong suốt nhiều thế kỷ , Thánh đường Madonna Della Corona là nơi sinh sống và tu hành của các tu sĩ .

* Để lên đến Thánh đường Madonna Della Corona . Du khách phải đi theo đường bộ với  1.540 bậc thang bằng đá .

* Trên đường lên Thánh đường du khách có thể chiêm ngưỡng 14 bức tượng đồng . Và du khách phải mất 2 tiếng đồng hồ để đi từ dưới lên Thánh Đường Madonna Della Corona .

Theo Internet




Thời Phong Kiến thịnh trị, có phải con quan thì được làm quan?

Thời Phong Kiến thịnh trị, có phải con quan thì được làm quan?

(Cao Văn Thức)

Helios Thư Quán

 ·

Từ xưa đến nay, người đời thường nói “con quan thì lại được làm quan”. Nhưng ở các thời kỳ chế độ phong kiến thịnh trị thì có phải hầu hết con quan thì đều được làm quan hay không? Và muốn làm quan thì phải có những tiêu chuẩn nào? Chúng ta có thể tìm hiểu điều đó ở một nhà nước phong kiến gần với hiện nay nhất là triều Nguyễn thế kỷ XIX.

Nhà Nguyễn buổi đầu, sau khi tiêu diệt vương triều Tây Sơn, thì sử dụng quan chức là những người đã có công lao phò tá chúa Nguyễn trong chiến tranh hoặc một số cựu thần nhà Lê nhằm mua chuộc giới sĩ phu Bắc Hà.

Nhưng sau khi đã củng cố chính quyền vững vàng, ổn định được trật tự xã hội, thì vua Gia Long (1802-1819) đã cho mở khoa thi nho học để kén chọn nhân sự cho bộ máy nhà nước. Thời Gia Long mở được 3 khoa thi, cách nhau 6 năm (1807, 1813, 1819) và chỉ là thi Hương ở cấp địa phương để chọn hương cống và sinh đồ chứ chưa tổ chức được thi Hội ở cấp trung ương để chọn tiến sĩ.

Thời Minh Mạng (1820 – 1840) cho quy định lại 3 năm thi một lần và bắt đầu từ năm 1822 tổ chức thi Hội ở kinh đô để chọn tiến sĩ. Năm 1828, nhà vua cho đổi cách gọi học vị ở cấp thi Hương: hương cống là cử nhân và sinh đồ là tú tài. Thi Hương có tất cả có 4 kỳ tức 4 đợt hoặc 4 vòng loại), người nào đỗ 3 kỳ là tú tài, đỗ 4 kỳ là cử nhân.

Ai đỗ cử nhân thì được quyền thi Hội. Thi Hội cũng có 4 kỳ như thi Hương nhưng mức độ khó hơn rất nhiều; ai đỗ cả 4 kỳ thì được vào thi Đình để sắp xếp thứ bậc tiến sĩ(1). Từ năm 1829, nhà vua cũng cho lấy thêm những người có điểm thi gần sát điểm chuẩn tiến sĩ đệ tam giáp, ghi tên ở bảng riêng gọi là Phó bảng(2).

Những người thi đỗ cử nhân, phó bảng, tiến sĩ đều được triều đình bổ nhiệm ra làm quan. Tú tài muốn ra làm quan thì phải ôn luyện chờ ba năm sau thi lại để giật cho được cái cử nhân, có người thi nhiều lần cũng chỉ đậu lại tú tài. Có thể nói từ năm 1807 trở đi, nhà Nguyễn bắt đầu dùng khoa cử để tuyển chọn quan chức. Từ đó về sau, hầu hết quan chức đều xuất thân khoa bảng. Quan chức ngày đó đều có trình độ học vấn thực sự vì các khoa thi Hương, Hội được tổ chức nghiêm túc, khắt khe và tỉ lệ thí sinh thi đỗ rất ít ỏi. Thi Hương hàng trăm thí sinh thì mới có một người đỗ cử nhân, thi Hội hàng chục cử nhân mới có một người đỗ tiến sĩ. Ngày đó muốn đỗ đạt để ra làm quan đòi hỏi phải là những người thông minh, học giỏi và bền chí, kiên trì học tập trong suốt nhiều năm trời.

Thời phong kiến, người đỗ đạt khoa bảng rất được tôn vinh. Triều đình tôn vinh các nhà khoa bảng vì mục đích thu hút những người ưu tú vào guồng máy nhà nước, để họ đem tài năng phục vụ cho chế độ phong kiến. Xã hội tôn vinh người đỗ đạt vì họ là những người học giỏi làm rạng danh cho quê hương, xóm làng, là những ông Nghè (tiến sĩ), ông Cống (cử nhân) có địa vị cao quý trong xã hội. Người đỗ đạt nhưng chưa ra làm quan cũng đã có vai vế trong địa phương, được làng, tổng nể trọng. Người ra làm quan thì càng được trọng vọng, có địa vị cao quý trong xã hội. Làm quan từ tri huyện trở lên thì được ở trong dinh thự khang trang, đi ra ngoài thì được cưỡi ngựa hoặc ngồi võng điều, che lọng ngà giá trị như ngày nay đi xe hơi loại đắt tiền, có lính tráng theo hầu hạ… Và quan chức ngày xưa thì rất sang trọng, lịch lãm. Sự sang trọng ấy không phải vì cái vỏ bề ngoài (áo quần, võng lọng, ngựa xe…) mà ở nền tảng văn hoá bên trong con người họ. Nền tảng văn hoá được đào luyện từ tấm bé trong các gia đình nho giáo. Nên cái sang trọng của họ toát lên từ văn hoá, chứ không phải là những vật chất trang trí diêm dúa, loè loẹt, khoe mẽ bề ngoài của những kẻ trọc phú học làm sang.

Ngày trước, con quan mà muốn làm quan thì phải chịu khó học hành nghiêm túc, thi cử đỗ đạt. Con quan mà thi không đỗ thì cũng chỉ suốt đời làm thường dân mà thôi. Đơn cử một trong rất nhiều trường hợp tiêu biểu thời bấy giờ là gia đình Hoàng giáp Phạm Văn Nghị ở làng Tam Đăng, tổng An Trung, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn Tam Quang, xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Phạm Văn Nghị nổi tiếng học giỏi, thi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) năm 1838, làm quan đến Đốc học(3) rồi cáo quan về mở trường dạy học; ông có 5 người con trai thì một người đỗ Phó bảng, ba người đỗ cử nhân đều ra làm quan, còn một người không đỗ đạt thì ở nhà làm dân thường.

Thời Nguyễn luật lệ thi cử rất nghiêm khắc nên dù cho cha ông có làm quan chức cao cấp vẫn không thể can thiệp vào chuyện thi cử của con cháu. Luật “hồi tỵ” của triều đình đã quy định rõ là quan chức nào có con em dự thi thì không được ở trong hội đồng chấm thi nơi đó.

Và ở chốn trường thi thì rất sòng phẳng, con em người dân lao động nghèo khó hay con cháu quan chức cao cấp giàu sang thì cũng bình đẳng như nhau. Bài thi của thí sinh được rọc phách và qua hai vòng chấm sơ khảo, phúc khảo, rồi chánh chủ khảo, phó chủ khảo xem lại lần cuối trước khi quyết định công bố danh sách trúng tuyển. Sau đó bài thi và danh sách trúng tuyển phải đệ về kinh đô cho bộ Lễ xét duyệt lại. Vì vậy, trong hội đồng thi từ người cao nhất là ông chánh chủ khảo (chủ tịch hội đồng) cho đến thấp nhất là các ông chấm sơ khảo (vòng 1), người nào cũng phải làm việc nghiêm túc, cẩn thận và không dám “chấm mút” gì cả, vì sơ sẩy một chút là có thể bị tội: nhẹ thì bị giáng chức, cách chức, nặng có thể tù mọt gông hoặc tử hình. Đơn cử trường hợp chấm thi của nhà thơ Cao Bá Quát năm 1841 để thấy kỷ luật thi cử thời nhà Nguyễn khắc khe như thế nào. Năm đó Cao Bá Quát đang làm một chức quan nhỏ (Hành tẩu) ở bộ Lễ, được sung vào hội đồng giám khảo trường thi Hương Thừa Thiên. Trong khi chấm bài ở vòng 1, ông thấy có một số bài thi rất hay nhưng lại mắc đôi chút sai sót nhỏ phải bị đánh hỏng thật đáng tiếc; vì lòng liên tài nên ông đã bàn bạc với một vị sơ khảo khác là Phan Nhạ (bạn đỗ cử nhân đồng khoa với ông trước kia), dùng muội đèn chữa lại sai sót cho các quyển thi này. Nhưng rồi vụ việc phát giác, Cao Bá Quát bị bắt giam trong nhà ngục hơn một năm trời; ông bị thẩm vấn và tra tấn đòn roi rất tàn nhẫn. Cuối cùng ông cũng được tha vì dù vi phạm luật lệ nhưng là do tấm lòng quý trọng nhân tài chứ không có điều gì khuất tất, mờ ám trong việc chấm thi. Các quan khác trong hội đồng chấm thi ở trường Thừa Thiên năm đó cũng bị liên đới, nhiều người bị cách chức, giáng chức, đòn roi…

Con quan chức hay con dân thường mà đỗ đạt (cử nhân, phó bảng, tiến sĩ) thì đều được triều đình bổ dụng làm quan. Thăng tiến trên bước đường hoạn lộ chủ yếu là do tài năng của người đó, chứ không có chuyện cha ông quyền cao chức trọng “lót đường” cho con cháu ngồi vào những chức vụ béo bở như ở một số giai đoạn suy vi trong lịch sử.

Nhưng trong việc sử dụng nhân lực, nhà Nguyễn cũng có đôi chút “ưu ái” – được quy định rõ ràng bằng luật lệ – cho con cái các quan chức cao cấp, có công lao với triều đình. Quan chức cao cấp hàm nhất, nhị phẩm (Tổng đốc, Thượng thư…) thì con cái dù không đỗ đạt hoặc chỉ đỗ tú tài cũng được “tập ấm”(4) và ra làm quan. Tất nhiên là những người được “tập ấm” phải có học vấn, chữ nghĩa chứ loại dốt nát “đặc cán mai” thì không được chọn. Đơn cử một trong nhiều trường hợp tiểu biểu là quan Thượng thư (Bộ trưởng) bộ Công(5) là Đào Tấn, quê ở thôn Vinh Thạnh, tổng Thời Tú, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định (nay thuộc thôn Vinh Thạnh, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định); ông có nhiều con trai, trong đó có 3 người đỗ cử nhân và một người đỗ tú tài. Ngoài 3 người đỗ cử nhân được bổ làm quan, thì người đỗ tú tài cũng được “tập ấm” làm quan; mấy người con trai còn lại thì sức học yếu kém nên chỉ ở nhà làm thường dân mà thôi.

Tuy vậy, nhìn chung đa số những người được “tập ấm” mà ra làm quan thì đều lẹt đẹt ở chức vụ cấp thấp (phủ, huyện) rồi về hưu. Mà cũng phải thôi, triều đình cần những người thông minh, tài giỏi để cáng đáng việc nước, giữ những trọng trách của quốc gia, mà những người làm quan bằng con đường “tập ấm” chắc chắn là khả năng tầm thường vì sinh trưởng trong gia đình quan chức cao cấp, điều kiện học tập thuận lợi, thế mà họ không đỗ đạt hoặc chỉ đỗ làng nhàng (sinh đồ, tú tài) mà thôi.

Trong lịch sử, nhìn chung tỉ lệ con cháu quan chức đỗ đạt làm quan nhiều hơn con em người dân lao động. Như trên đã nói, thi cử thời Nguyễn rất sòng phẳng và công bằng nên không có chuyện “con ông cháu cha” tiêu cực như những thời loạn về sau. Cho nên con quan làm quan nhiều hơn con dân là điều hợp lý, vì xét ra con quan được cộng hưởng nhiều yếu tố thuận lợi hơn con em người dân lao động nghèo:

Thứ nhất, là “gien” thông minh di truyền của cha ông, dòng họ. Thời đó, muốn đỗ đạt làm quan thì phải thông minh, học giỏi.

Ngày trước, các cụ rất ý thức vấn đề “gien”di truyền, vì vậy trong chuyện hôn nhân con cái có quan niệm là phải “lấy vợ chọn tông, lấy chồng chọn giống”.

Những gia đình đỗ đạt khoa bảng thường thông gia với những gia đình tương đương như vậy. Đơn cử một trong rất nhiều trường hợp phổ biến thời bấy giờ: Gia đình Phó bảng Nghiêm Châu Tuệ ở tỉnh Hà Đông trước đây (nay thuộc Hà Nội) thông gia với hầu khắp các gia đình khoa bảng danh giá xứ Bắc Kỳ thời bấy giờ như Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền (Ứng Hoà, Hà Đông), Đình nguyên Tiến sĩ Nguyễn Đình Tuân (Hiệp Hoà, Bắc Giang), Phó bảng Nguyễn Tái Tích (Bất Bạt, Sơn Tây)… Con cháu sinh ra sẽ ảnh hưởng tư chất thông minh của cha ông hai bên nội, ngoại, cộng với những yếu tố khác sẽ học giỏi, đỗ đạt và nối được nghiệp nhà (làm quan), đem lại danh giá cho gia đình, dòng họ…

Ngày đó, những gia đình có truyền thống đỗ đạt khoa bảng được gọi là một cách tôn kính là đại gia, tức gia đình lớn theo nghĩa chữ Hán, chứ không phải chỉ những người giàu có như hiện nay. Ngày đó, những người giàu có mà không có học vấn, ít chữ nghĩa  thì người ta thường gọi là phú hào, hoặc xem nhẹ hơn là trọc phú. Gia đình khoa bảng thì không đời nào họ làm thông gia với gia đình trọc phú vì họ cho đó là hạng người thiếu văn hoá, xảo trá, tâm thuật không tốt. Ngược lại, gia đình khoa bảng, quan chức nhiều đời giàu sang vinh hiển nhưng sẵn sàng thông gia với một gia đình lao động nghèo nếu nhận thấy gia đình ấy nề nếp, đạo đức và có con trai học giỏi. Ví dụ Thượng thư bộ Học(6) là Cao Xuân Dục (quê ở Thịnh Mỹ, Diễn Châu, Nghệ An) đã gả con gái cho một anh học trò nhà rất nghèo nhưng học giỏi là Đặng Văn Thuỵ. Về sau nhờ sự hỗ trợ cả vật chất và tinh thần của gia đình vợ, Đặng Văn Thuỵ đã thi đậu Hoàng giáp Đình nguyên khoa thi Hội năm Giáp Thìn (1904) và làm quan đến Tế Tửu trường Quốc Tử Giám (tương đương Giám đốc Đại học quốc gia ngày nay).

Thứ hai, nhà quan thì đầy đủ sách vở tích luỹ từ nhiều thế hệ trước. Ngày xưa, điều kiện in ấn rất hạn chế nên sách vở in ra ít và khó mua. Vì vậy những nhà nho thường có ý thức sưu tầm và tích luỹ sách vở làm tài liệu học tập cho con cháu. Khoảng ba, bốn đời tích luỹ thì từ tủ sách nhỏ đã trở thành một thư viện gia đình với hàng nghìn cuốn sách. Ngày đó, hầu hết các gia đình khoa bảng đều có một thư viện riêng của gia đình. Ví dụ như quan Thượng thư bộ Học Cao Xuân Dục có 8 người con trai nên mỗi khi mua hoặc mượn được một cuốn sách có giá trị, cụ cho sao chép lại thành 8 bản để phát cho mỗi người con học tập. Thư viện Long Cương của gia đình cụ Thượng Cao thuộc loại lớn nhất xứ Nghệ, hoặc thư viện Hy Long của quan Tuần phủ hưu trí là Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng ở làng Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định cũng là một thư viện tư nhân tầm cỡ bậc nhất xứ Bắc Kỳ thời bấy giờ với số lượng sách hàng vạn quyển “chứa đầy sáu gian nhà ngói”….

Ngoài việc sách vở đầy đủ thì các gia đình khoa bảng ngày trước đều có truyền thống học tập. Ông dạy cháu, cha dạy con, anh dạy em…và trẻ em được học tập từ rất sớm, khoảng 6, 7 tuổi đã bắt đầu học vỡ lòng. Nhiều nhà khoa bảng giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước, nhưng vẫn tranh thủ thời gian rảnh rỗi để rèn cặp con cháu; nếu quá bận việc quan thì họ mướn thầy đồ về nuôi trong nhà để dạy trẻ em học. Lớn lên đến tuổi thanh thiếu niên thì học trò con nhà quan có thể học tại nhà với cha ông hoặc được gửi đến học ở trường của các bậc đại khoa trong vùng hoặc địa phương khác, dùi mài kinh sử cho đến khi đỗ đạt.

Thứ ba, nhà quan có điều kiện kinh tế đầy đủ hơn nhà dân lao động nghèo. Những nhà khoa bảng làm quan chức vụ càng to thì lương bổng triều đình chu cấp càng khá, nếu vì những lý do khác nhau họ từ quan sớm về mở trường dạy học thì với uy tín và danh vọng, trường của các vị cũng thu hút được môn sinh theo học rất đông; vì vậy nhà quan có điều kiện kinh tế nuôi con ăn học thuận lợi hơn người dân lao động nghèo quanh năm đầu tắt mặt tối, cày thuê cuốc mướn vẫn không đủ ăn.

Thứ tư, đa số quan chức đều ý thức để Đức cho con cháu. Ngày ấy các nhà khoa bảng đại đa số khi ra làm quan đều thanh liêm, vì họ được rèn luyện đạo đức từ chốn “cửa Khổng, sân Trình” và do được giáo dục nền tảng như vậy nên họ rất sợ luật nhân quả, vì vậy họ không nhũng lạm hoặc làm những việc thất đức để di hại cho con cháu. Họ thường làm những việc tốt để đức về sau cho con cháu phát triển bền vững. Ví dụ một số trong hàng trăm trường hợp quan chức thanh liêm thời bấy giờ, ví dụ như Nguyễn Công Trứ làm quan đến Tổng đốc Hải An nhưng khi về hưu vẫn sống thanh bạch với một ít tiền hưu trí và dăm sào đất ruộng do triều đình ban cấp; Nguyễn Khuyến khi về nghỉ hưu mà gia sản vẫn chỉ là “ba gian nhà cỏ thấp le te”(7);

Hoàng Diệu làm quan đến Tổng đốc Hà Nội nhưng tiền lương dành dụm mãi cả hàng năm trời vẫn chưa đủ để lợp lại mái ngói ngôi nhà ở quê đã dột nát…

Hầu hết các gia đình quan chức này đều phúc bền, con cháu đều thành đạt ở những mức độ khác nhau và duy trì được sự phát triển bền vững về sau. Đơn cử hai trường hợp tiêu biểu nhất  trong hàng trăm trường hợp tiêu biểu của sự phát triển bền vững ở các nho gia đạo đức là gia đình Tổng đốc Hoàng Diệu ở làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam và Thượng thư Cao Xuân Dục ở làng Thịnh Mỹ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Gia đình cụ Hoàng Diệu gồm 7 anh em thì có 6 người đỗ đạt (1 Phó bảng, 3 cử nhân và 2 tú tài). Anh em cụ đều làm quan thanh liêm, con cháu về sau cũng thành đạt; trong đó người em trai của cụ Hoàng Diệu là cử nhân Hoàng Văn Bảng có những người cháu nội sau này là những nhà khoa học nổi tiếng như Hoàng Phê (ngôn ngữ học), Hoàng Quý (vật lý), Hoàng Kiệt (mỹ thuật), Hoàng Tụy và Hoàng Chúng (toán học)…trong đó Hoàng Tuỵ là nhà toán học đẳng cấp quốc tế.

Cụ Cao Xuân Dục làm quan đến Thượng thư, rất nhân hậu, giúp đỡ nhiều người khó khăn; cụ có 8 người con thì người con trưởng đỗ Phó bảng, một số người con thứ đỗ cử nhân, tú tài và ra làm quan. Người con trưởng là Cao Xuân Tiếu làm quan đến Thượng thư bộ Lễ(8), hàm nhất phẩm như cha. Khi cụ Cao Xuân Dục qua đời, người con gái là nữ sĩ Cao Ngọc Anh viết bài văn tế về người cha mình, có câu:

“Này ninh, này phú, này quý, này khang

Sống có hậu trời cho đủ phúc”…

Trong hàng cháu của cụ Thượng Cao nổi tiếng nhất là Giáo sư Cao Xuân Huy, nhà Đông phương học và trong hàng chắt nổi tiếng nhất là Giáo sư Cao Xuân Hạo, nhà ngôn ngữ học; ngoài ra còn hàng mấy chục cháu, chắt, chít đỗ kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ… trong và ngoài nước.

Thời kỳ chế độ phong kiến thịnh trị, giáo dục thi cử nghiêm minh, đào tạo ra được những quan chức có tài năng và nhân cách, đóng góp nhiều công lao cho đất nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá…mà tên tuổi còn lưu danh cho đến ngày nay. Con quan mà muốn làm quan, giữ những trọng trách của đất nước thì phải thông minh, học giỏi, thi cử đỗ đạt và yếu tố quan trọng nhất là phải có tài năng thực sự. Con cháu nhà quan ngày đó đi lên bằng đôi chân thật sự của mình chứ hoàn toàn không có sự “lót đường”, nâng đỡ tiêu cực từ thế lực cha ông. Mà có muốn nâng đỡ cũng không được vì cơ chế kiểm soát rất ngặt nghèo: luật pháp nghiêm khắc, cơ quan giám sát như Ngự sử đài thẳng thừng đàn hặc tội lỗi các quan từ trung ương đến địa phương, các quan chức đối trọng nhau trong triều sẵn sàng tố cáo đối thủ, và trên hết là nhà vua cần người tài giỏi để giúp vua trị nước nên trừng trị rất nặng những vụ việc bổ nhiệm bất chính…Vì vậy, nhà quan chỉ có cách duy nhất nâng đỡ con cháu thành đạt là cố gắng lo đầy đủ cơm áo, sách vở, thầy giáo…để đám trẻ có điều kiện học hành đến nơi đến chốn.

Ở những giai đoạn suy vi trong lịch sử, con cháu quan chức thăng tiến bằng sự “lót đường”, dựa dẫm vào thế lực cha ông thì chỉ là những bọn quan lại dốt nát, ăn tàn phá hại đất nước mà thôi.

——-

Chú thích:

1.    Học vị tiến sĩ triều Nguyễn cũng tương tự triều Lê ở thế kỷ XV-XVIII:

·       – 1. Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ (tiến sĩ hạng nhất) gồm: Đệ nhất danh (Trạng nguyên), Đệ nhị danh (Bảng nhãn), Đệ tam danh (Thám hoa). Thực tế triều đình không lấy đỗ tới Trạng nguyên, chỉ từ Bảng nhãn trở xuống. Thời Nguyễn chỉ có 2 người đỗ Bảng nhãn và 9 người đỗ Thám hoa.

·       – 2. Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (tiến sĩ hạng hai) còn gọi là Hoàng giáp: số lượng đỗ không hạn chế, khoa đỗ cao nhất là 4 người, khoa thấp nhất là 1 người; có khoa thi triều đình không lấy đỗ đến Hoàng giáp.

·       – 3. Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (tiến sĩ hạng ba) thường gọi tắt là tiến sĩ: số lượng đỗ không hạn chế, khoa đỗ cao nhất là 10 người, khoa thấp nhất là 2 người; khoa thi nào cũng có người đỗ ở bậc này.

Tất cả tiến sĩ 3 hạng trên đều được yết tên trên bảng chính (Giáp bảng) màu vàng, có vẽ hình rồng nên thường gọi là long bảng (bảng rồng) hoặc hoàng bảng (bảng vàng).

2.    Tiến sĩ lấy thêm, tên yết riêng ở bảng phụ (Phó bảng) màu đỏ.

3.    Đốc học là chức quan phụ trách giáo dục của một tỉnh, tương tự giám đốc Sở GD-ĐT hiện nay.

4.    Triều Nguyễn có lệ tập ấm: con quan hàm chánh nhất, nhị phẩm thì được phong phẩm hàm ở bậc tòng lục phẩm gọi là ấm thọ và được bổ nhiệm làm quan; còn các quan phẩm hàm ở bậc thấp hơn thì còn cái chỉ được tập ấm gọi là ấm sinh. Ấm sinh muốn làm quan thì

phải thi đỗ cử nhân trở lên.

5.    Bộ Công: phụ trách về xây dựng, giao thông; tương tự Bộ Xây Dựng và Bộ Giao thông vận tải hiện nay.

6.    Bộ Học: phụ trách về giáo dục; tương tự Bộ GD-ĐT hiện nay. Thời trước ngành giáo dục do bộ Lễ kiêm nhiệm, đến năm 1906, tách riêng giáo dục ra thành Bộ Học.

7.    Trích trong bài “Thu ẩm” của Nguyễn Khuyến (Nguyễn Văn Huyền chủ biên, Nguyễn Khuyến – Tác phẩm, NXB KHXH, 1984).

8.    Thời phong kiến độc lập, bộ Lễ phụ trách 3 khối: ngoại giao, văn hoá, giáo dục. Thời thuộc Pháp, bộ Lễ chỉ còn phụ trách về văn hoá; tương tự Bộ Văn hoá-Thể thao-Du lịch hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

1.    Nguyễn Ngọc Quỳnh, Hệ thống giáo dục và khoa cử Nho giáo triều Nguyễn, NXB Chính trị Quốc gia, 2011.

2.    Nguyễn Thế Anh, Theo dòng lịch sử, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2017.

3.    Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, NXB Văn Học, 1995.

4.    Nguyễn Q. Thắng, Khoa cử và giáo dục Việt Nam, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2005.

5.    Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, NXB KHXH, 2016.

6.    Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Văn Học, 2015.

7.    Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, NXB Lao Động, 2011.

8.    Cao Xuân Dục, Quốc triều khoa bảng lục, NXB Văn Học, 2011.

9.    Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB Hồng Đức, 2012.

10. Lê Văn Giang, Lịch sử giản lược – Hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 2003.

11. Trần Thanh Tâm, Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn, NXB, Thuận Hóa, 1996.

12. Phạm Hồng Thái, “Tuyển dụng, sử dụng quan lại thời phong kiến Việt Nam và một số gợi mở”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, 04-01-2018.




BÔNG HỒNG MÙA XUÂN

BÔNG HỒNG MÙA XUÂN

Đây là bài thơ của tác giả Lý Thụy Ý, đăng trong Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong Sài Gòn vào năm 1968.


… Lúc đó chiến tranh Miền Nam Việt Nam đang hồi khốc liệt. Bài thơ viết về chuyện tình của một người lính thời chiến và cô gái bán bông hồng ở hậu cứ …

Bài thơ thể hiện tình cảm lãng mạn đầy tính nhân văn đằm thắm thật đáng yêu trong tình yêu trai gái, tình đồng đội và sự nhớ ơn những người lính đã nằm xuống để bảo vệ Miền Nam Việt Nam thân yêu trước năm 1975.

BÔNG HỒNG MÙA XUÂN
“Bán cho tôi một bông hồng đi, cô bé!
Đóa nào tươi còn búp nụ mịn màng.”
Tôi ngước lên: “Xin ông chờ tôi lựa.
Một bông hồng vừa ý nghĩa, vừa sang!”

Khách mỉm cười: “Cô thật tài quảng cáo!
Thế… hoa hồng mang ý nghĩa sao, cô?”
Tôi bối rối: “Hình như người ta bảo
Nó tượng trưng tình nồng thắm vô bờ.”

“Cám ơn cô! Giá bao nhiêu đấy nhỉ?”
Tôi lắc đầu: “Thôi, xin biếu không ông
Một đóa hoa không đáng bao nhiêu cả
Rất mong ông làm người đẹp vừa lòng.”

Khách bỗng nhìn tôi, mắt như xoáy lốc
“Cô bé lầm! Tôi không tặng người yêu
Thằng bạn thân chiều qua vào nghĩa địa
Một bông hồng cho nó bớt quạnh hiu.

“Nhưng cô bé phải nhận tiền tôi chứ!
Hoa cho không, rồi mẹ mắng làm sao?”
Tôi cúi mặt: “Xin gửi người xấu số
Chuyện của ông làm tôi bỗng nghẹn ngào!”

Khách quay đi, áo hoa rừng đã bạc
Dáng cao gầy khuất hẳn bóng chiều nghiêng
Tôi bất chợt đưa tay làm dấu thánh
Mẹ giữ gìn cho Người ấy bình yên!

Trời đầu xuân còn vương vương sắc lạnh
Nắng vàng mơ, má con gái thêm hồng
Tôi bâng khuâng nhớ đến người khách lạ
Mình nhớ Người, Người có nhớ mình không?

Chiều hai chín phố phường sao tấp nập
Người ta vui từng cặp đẹp bên nhau
Mắt tôi lạc… rồi bỗng dưng bừng sáng
“Phải anh không? Người khách của hôm nào?”

Tim đập mạnh sau áo hàng lụa mỏng
Anh đến gần, lời nói cũng reo vui:
“… Sao cô bé… hàng hôm nay đắt chứ?
Còn nhớ tôi… hay cô đã quên rồi!

Hành quân xong, tôi vừa về hậu cứ
Ghé ngang đây xin cô một bông hồng
Và mong cô cho tôi xin lời chúc:
“Rất mong ông làm người đẹp vừa lòng.”

Tôi bỗng nghe như tim mình thắt lại
Gượng tìm hoa, rồi trao tặng tay Người
Khách nhìn tôi, mắt bỗng dưng dịu xuống
Đầy đăm chiêu và nghiêm lại nụ cười:

“Xin lỗi cô, nếu lời tôi đường đột
Nhưng thật tình tôi không thể nào quên
Người con gái trong một lần gặp gỡ
Nhớ thật nhiều… dù chưa được biết tên.

Một bông hồng – như hôm nào cô nói:
“Là tượng trưng tình nồng thắm vô bờ.”
Tôi run tay, nhận hoa hồng Người tặng
Sự thật rồi… mà cứ ngỡ đang mơ.

(Thơ: Lý Thụy Ý)




CHỊ NGUYỆT CỦA ANH

“CHỊ NGUYỆT CỦA ANH”

Chị tên Nguyệt, lúc đó chị khoảng 13 tuổi, còn tôi khoảng 11. Theo lời người ta kể thì chị mồ côi cha mẹ được vợ chồng người hàng xóm đem về nuôi. Ông Bà Chín không có con nên họ xem chị như con cái trong nhà, cho chị đi học. Đổi lại, chị phải dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc Ông Bà Chín. Chị học trên tôi hai lớp, tôi đệ thất, còn chị lớp đệ ngũ. Theo như chị kể lại, quê chị ở Tân Thành bị Việt Cộng về chiếm làng, ba má chị mất tích chỉ hai ngày sau đó. Người cậu của chị phải dẫn cả gia đình chạy di tản ra quận lỵ nơi tôi ở. Họ dẫn chị theo nhưng không đủ điều kiện nuôi cả gia đình gần 10 người nên cho Ông Bà Chín làm con nuôi.

Nhà chị đối diện nhà tôi trên đường dẫn ra bờ sông Tiền Giang. Buổi sáng đầu tiên tôi gặp chị trong bộ bà ba đen cũ đã ngả màu phèn vàng úa và đôi dép đứt quai phải nối lại bằng giây kẽm. Chị đang quét nhà, từ trong ra ngoài thì bị bà Chín rầy, bảo phải quét từ ngoài vào trong. Bà giải thích quét ra là đẩy hết cái phước ra ngoài, phải quét vô để nhận được phước. Tôi thấy hai mắt chị long lanh nước mắt như muốn khóc nên vội chạy tới hỏi:

-Bộ mầy mới tới đây làm cho bà Chín hả?

Chị trả lời:

-Hông phải, tao là con nuôi của ba má Chín.

Tôi nói với chị:

-Tui tên Bình, nhà tui bên đó.

-Tao tên Nguyệt, mầy mấy tuổi?

-11

-Tao 13, mầy phải gọi tao bằng chị.

-Ừ, chị Nguyệt hé.

Vậy là tôi làm quen được với chị từ đó. Năm chị học hết đệ tứ thì phải thôi học do Ông Chín bịnh nặng rồi qua đời, Bà Chín một mình không đủ điều kiện cho chị tiếp tục đi học. Mỗi ngày chị ra sạp vải ngoài chợ tiếp Bà Chín buôn bán. Năm tôi 15 tuổi phải xa nhà lên tỉnh tiếp tục học thi tú tài một, rồi tú tài hai nên ít khi được gặp lại chị. Sau khi đậu tú tài hai chuẩn bị vào đại học thì nghe tin Bà Chín cũng vừa qua đời, bỏ lại ngôi nhà cũ nát vì không có người đàn ông chăm sóc. Lúc này tôi đang rảnh rang nên tình nguyện giúp chị sửa sang lại căn nhà của chị được thừa hưởng. Mỗi ngày trước khi chị ra sạp vải, chị hay hỏi tôi cần mua vật dụng gì để chị gọi người đem tới, tôi khỏi phải mua. Sau ba tháng hè, tôi cũng tạm sửa lại căn nhà của chị, tuy không khéo nhưng cũng không dột trước hổng sau.

Khi cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, tôi bị động viên, vào trường Bộ Binh Thủ Đức. Ngày ra trường về thăm ba má thì gặp lại chị Nguyệt. Lúc nầy chị đã là gái đôi mươi, có rất nhiều chàng trai đang theo đuổi nhưng chị vẫn phòng không gối chiếc. Nhiều lần chị tâm sự với má tôi:

-Con trai cái quận nầy sao mà như công tử bột, tối ngày chỉ biết lo tán gái, nhậu nhẹt, nhìn như cọng bún thiu, cô nào vô phước mới rước họ về làm chồng.

Hai tuần phép qua rất nhanh. Ngày tôi chuẩn bị trình diện sư đoàn, chị đem tượng Phật nhỏ qua đưa cho tôi, bảo giữ trong người làm vật hộ thân. Hai mắt chị long lanh nước mắt như muốn khóc. Tôi vội nói:

-Vài bữa có phép thường niên tôi về thăm chị. Chị ráng giữ gìn sức khỏe.

Bình đi mạnh giỏi, Nguyệt mỗi đêm sẽ đọc kinh cầu xin Trời Phật che chở cho Bình.

Tôi hơi giật mình khi chị xưng Nguyệt chứ không còn mầy tao như ngày xưa. Thật sự mà nói, lúc nào tôi vẫn xem chị như người thân trong gia đình, không có một chút tình cảm trai gái giữa tôi và chị.

-Cảm ơn chị lo lắng cho tôi.

Tôi ra đi biền biệt. Hơn mười tháng sau tôi trở về thăm nhà sau khi xuất viện do bị thương chân phải. Đêm đầu tiên vừa về tới nhà là chị qua thăm, hỏi như muốn khóc:

-Sao Bình bị thương mà không cho Nguyệt hay để đi thăm?

-Vết thương không có gì trầm trọng lắm đâu chị, vả lại tôi không muốn chị lo lắng, lặn lội đường xá xa xôi nguy hiểm cho chị.

-Bình nói vậy coi Nguyệt như người dưng sao?

-Đâu phải vậy chị, tôi thương chị như người thân trong nhà mà.

-Ừ nhớ đó nhe, thương như người thân trong nhà.

Trong những ngày phép dưỡng thương đó nhiều khi chị làm bộ gọi tôi qua sửa dùm cây đèn dầu hay đóng lại chân bàn bị lung lay. Chị nấu đủ món cho tôi ăn, bảo là tẩm bổ để khi trở lại đon vị có đủ sức đi hành quân. Có ngày chị đóng cửa sạp vài, lấy cớ mệt về nhà nghỉ. Chị bảo muốn về để gần gũi, tâm sự với tôi trước khi về đơn vị. Không biết ba má tôi nghĩ gì mà cứ thỉnh thoảng hỏi khi nào tôi lập gia đình. Tôi viện cớ đang thời chiến tranh chưa muốn lập gia đình.

Lần lượt hai đứa em gái tôi lấy chồng phương xa, bỏ lại ba má tôi già yếu. Thằng em trai còn đi học viện đại học Cần Thơ, được miễn dịch phải bỏ học về nuôi ba má. Tôi thì ra đi biền biệt, cả năm mới về thăm nhà. Mỗi lần về chỉ năm ba hôm rồi lại ra đi. Chị thì vẫn phòng không đơn chiếc. Có lần tôi hỏi:

-Sao chị chưa chịu lấy chồng để có người lo lắng trước sau cho chị?

-Bình nhìn chung quanh đây xem ai là người xứng đáng cho Nguyệt nâng khăn sửa túi? Nguyệt thà ở giá suốt đời chứ không muốn chung chăn với những người hèn nhát, chạy chọt giấy tờ trốn quân dịch.

-Vậy có người đàn ông như thế nào chị mới chịu?

-Người ấy phải giống như Bình, sống đời trai hiên giang lo giúp nước, diệt giặc, bảo vệ quê hương.

-Vậy để tôi tìm ông nào trong đơn vị giới thiệu cho chị nhe.

-Đồ quỉ, đừng có chọc Nguyệt như vậy nữa, Nguyệt nói thiệt mà.

Cuộc đời cứ thế trôi đi. Ngày 30 tháng 4 1975. Tôi bị bắt rồi đi tù trại “cải tạo” Vườn Đào. Năm sau chị đến thăm tôi. Chị cho hay thằng em tôi bị bọn công an phường bắt tội phản động. Nó rải truyền đơn bị bắt. Họ đánh nó chết trong tù. Hai đứa em gái theo chồng vượt biên ngày đất nước rơi vào tay cộng sản, không biết tin tức gì cho đến nay. Ba má tôi quá đau buồn bịnh nặng không đi thăm tôi được nên nhờ chị đi dùm. Chị còn kể là sạp vải của chị đã bị xung vào hợp tác xã. Bây giờ chỉ sống nhờ chăm sóc khu vườn nhỏ của ba má tôi kiếm huê lợi nuôi sống ba má tôi và chị. Nhìn chị già đi rất nhiều so với ngày xưa. Mắt chị hoằn đen, hốc hác, tiều tụy đi. Tôi cũng không hơn gì chị sau một năm tù đày, lao động, thiếu ăn.

Ba má tôi lần lượt qua đời không có một đứa con về để tang. Chị phải bán ngôi nhà của chị để có tiền chôn cất ba má tôi. Đều dặn mỗi ba tháng là chị đến thăm một lần tiếp tế cho tôi thêm chút thức ăn phụ vào phần ăn ít ỏi của người lính tù thất trận. Bốn năm sau thì họ thả tôi. Ngày ra trại với vài chục đồng chi phí xe cộ và mảnh giấy ra trại. Tôi với năm người bạn tù đi bộ ra đến chợ Mỹ Phước Tây đón xe ra Cai Lậy. Mấy bà bán hàng trong chợ nhìn chúng tôi trong bộ quần áo rách bươm liền gọi:

-Mấy cậu vô đây ăn sáng rổi hãy đi, 2 tiếng nữa xe mới chạy.

Họ đem cho chúng tôi 6 dĩa cơm sườn bì và sáu ly cà phê đen. Đó là bữa cơm ngon nhất trong bốn năm đời tù “cải tạo” của tôi. Mọi người chung quanh bu nhau kẻ cho trái bắp, người cho gói xôi bảo là để dành đi đường ăn đỡ đói. Chúng tôi nhìn họ mà nước mắt cứ tuôn tràn không nói nên lời, dù chỉ một tiếng cám ơn. Khi đến giờ xe chạy, người tài xế xe nhất định không lấy tiền cho dù chúng tôi cố dúi tiền vào tay anh. Tôi nhớ lại tên quản giáo Ba Phần lên lớp chúng tôi:

-Các anh có tội rất lớn với nhân dân. Chúng tôi giữ các anh trong vòng rào kẽm gai là để bảo vệ các anh vì nhân dân sẽ trả thù cho những tội ác các anh đã gây ra.

Nhân dân chợ Mỹ Phước Tây đã trả thù chúng tôi với những dĩa cơm sườn, những gói xôi, những trái bắp mà họ có thể để dành cho người thân của họ trong lúc cả nước phải thắt lưng buộc bụng trong thời kỳ bao cấp, củi quế gạo châu này.

Khi xe đến Cai Lậy thì khoảng 2 giờ chiều . Năm người bạn tù chờ xe về Sài Gòn, còn tôi về miền Tây. Anh lơ xe chạy ra ngã ba Cai Lậy ngoắc xe lại gởi tôi lên chuyến xe cuối cùng. Trước khi lên xe, anh đưa cho tôi một ổ bánh mì thịt rồi chào tay kiểu quân đội. Như cái máy, tôi chào lại vì theo phản ứng tự nhiên của một người lính VNCH dù đã thất trận. Anh nói vội rồi chạy vào trong chợ Cai Lậy.

-Ông thầy đi đường bình an.

Tôi nhìn theo anh lơ xe, cố nhớ gương mặt anh để khi nào có dịp tôi sẽ trả lại ơn nghĩa anh đã dành cho chúng tôi. Một lần nữa, anh tài xế nhất định không chịu lấy tiền xe. Mấy người đàn bà trên xe nhìn tôi với ánh mắt thông cảm. Họ nhường cho tôi một chỗ ngồi hàng ghế cuối xe.

Tôi về đến nhà khoảng 10 giờ đêm. Ngôi nhà cũ kỹ cửa đóng im lìm. Tôi gõ cửa.

-Ai mà gõ cửa ban đêm ban hôm vậy?

Tiếng chị Nguyệt đang ngái ngủ từ bên trong.

-Bình đây chị.

Tôi nghe tiếng chân trần chạy hấp tấp ra cửa. Chị Nguyệt mở cửa rồi ôm lấy tôi khóc:

-Nguyệt không biết Bình về hôm nay. Có đói không để Nguyệt hâm cơm lại cho Bình ăn?

-Trên đường về tôi được người ta cho ăn nhiều lắm, đến giờ còn no lắm.

Tôi đến trước bàn thờ ba má, quì lạy xin lỗi tội bất hiếu không về chịu tang ngày hai người mất. Tôi nhìn khói nhang quyện vòng theo cây đèn dầu le lói như ba má về thăm thằng con xấu số mới ra tù. Tôi quì trước bàn thờ mà nước mắt cứ tuôn tràn.

-Ba má tha tội cho con, vì hoàn cảnh tù đày mà con không về để tang cho ba má.

Chị đặt tay lên vai tôi:

-Hai bác rất hiểu cho Bình, đừng quá đau buồn, hãy ráng lên để đối đầu với những ngày sắp tới.

Và những ngày sắp tới đến với tôi trong khổ cực của “thằng sĩ quan Ngụy”. Họ bắt tôi trình diện hàng tuần, không được đi xa khỏi xã. Tất cả những hành vi của tôi đều bị theo dõi. Đôi khi bọn công an xã đến gõ cửa ban đêm để kiêm tra, xét nhà và muốn biết chắc chắn là có tôi trong nhà. Tôi sống như người bị giam lỏng trong nhà tù lớn.

Tôi nhìn chị chăm sóc cho tôi từng miếng ăn, giấc ngủ như một người vợ lo cho chồng mà nghĩ đến cái vô tình của tôi.

-Chị Nguyệt.

-Gì đó Bình?

-Tôi muốn hỏi chị chuyện nầy.

-Ừ, Bình nói đi.

Ngập ngừng một hồi tôi nói:

-Chị nhớ lúc mới quen, chị bảo tôi phải gọi chị hay không?

-Nhớ chớ sao không. Những ngày vui đó qua mau quá.

-Chị còn muốn tôi gọi chị nữa hay không?

-Vậy Bình muốn gọi tôi gì đây?

-Tôi gọi chị là vợ tôi được không?

Chị Nguyệt nhìn tôi với ánh mắt rất ngạc nhiên rồi đổi sang mừng rỡ:

-Em chờ câu nói đó của anh lâu lắm rồi.

Hai tháng sau chúng tôi làm đám cưới. Tiệc cưới rất đơn giản, chỉ mời bà con lối xóm. Hai năm sau Nguyệt cho tôi đứa con trai đầu lòng. Tôi đặt tên Nhẫn để nói lên cái nhẫn nại của chị dành cho tôi. Năm sau nữa thì chị cho tôi thêm đứa con gái, chị đặt tên nó là Cam để nói đến cái cam khổ của vợ chồng chúng tôi.

Một hôm đầu năm 1990, chị chạy hớt hải về nhà:

-Anh ơi! Họ muốn cho mình đi định cư bên Mỹ.

-Em lại mơ tưởng viễn vong. Ai lại cho thằng sĩ quan Ngụy như anh đi khỏi Việt Nam.

-Đây nè, coi đi.

Chị đưa cho tôi xem tờ báo cho biết Bộ Ngoại Giao và Quốc Hội Mỹ chấp thuận cho tù nhân chính trị được đi định cư tại Mỹ ký ngày 30/7/1989. Lòng vòng lo nạp đơn, lót tiền cho họ ký giấy cũng hơn hai năm. Tôi dỡ mộ đem xương cốt ba má thiêu rồi đem gởi vô chùa vì tôi biết là sẽ lâu lắm mới trở lại quê hương nầy. Tuy đã nuôi tôi lớn lên, tuy nhiều người vẫn còn tình người sẵn sàng đùm bọc che chở người thất trận. Nhưng tôi phải ra đi để con tôi có tương lai hơn, có nhiều cơ hội để vươn lên với đời hơn.

Bao nhiêu tiền chúng tôi dành dụm đều cạn sạch. Ngày gia đình tôi lên máy bay đi Mỹ, trong túi còn đủ 200 đồng đô la sau khi bán nhà, bán đất của cha mẹ để lại. Đáp xuống phi trường JFK thành phố New York. Cả gia đình hai đứa em gái tôi có mặt đầy đủ đón gia đình tôi. Ba anh em chúng tôi ôm nhau khóc sau hơn 17 năm xa cách. Mấy đêm đầu tiên tôi không ngủ được, vừa lạ chỗ, vừa lo lắng cho tương lai sắp đến. Mình phải làm gì lo cho gia đình, cho con cái đi học, và đủ mọi chuyện cứ liên tục hiện lên trong đầu. Từ quê hương bỏ lại sau lưng, từ quê hương thứ hai sẵn sàng bao dung cho người lính thất trận.

26 năm sau, nhìn lại từ ngày đến đất nước Mỹ giàu lòng nhân đạo nầy, hai đứa con tôi đã ra trường đi làm xa. Vợ chồng tôi nghỉ hưu dời về vùng đất ấm Florida. Chị Nguyệt nay đã gần 70 nhưng vẫn còn nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam luôn lo cho chồng, cho con. Sáng nào tôi cũng có ly cà phê sữa nóng ít sữa, còn chị thì vẫn một ly trà cúc đường phèn. Nhiều lần tôi nói lời cảm ơn chị đã cưu mang ba má tôi khi tôi còn trong tù cải tạo. Chị chỉ cười đưa hàm răng khểnh rồi nói:

-Em kết anh từ lúc mình mới gặp nhau lần đầu.

-Vậy tại sao bắt người ta kêu bằng chị?

-Làm chị cho nó oai chút chơi mà …

-Lúc nào em cũng là chị Nguyệt của anh.

Cửu Long

Viết theo lời kể của một HO)





15 ĐỊA ĐIỂM TRÊN TRÁI ĐẤT TRÔNG GIỐNG NHƯ Ở HÀNH TINH KHÁC

15 ĐỊA ĐIỂM TRÊN TRÁI ĐẤT TRÔNG GIỐNG NHƯ Ở HÀNH TINH KHÁC

Nguồn : Dân Việt

1. Công viên núi lửa Lassen – California – Mỹ .

— Là nơi duy nhất trên trái đất , có 4 loại hình nưi lửa khác nhau :

+ Núi lửa dạng tầng .

+ Núi lửa hình khuyên .

+ Núi lửa hình nón .

+ Núi lửa dung nham kết hợp với tro .

2. Núi Roraima .

— Đỉnh cao nhất thuộc dãy Pakaraima .

— Nằm tiếp giáp 3 nước : Brazil – Guiana – Venezuela .

— Xung quanh núi luôn bị bao phủ những đám mây . Khiến đỉnh núi trông như lơ lửng giữa trời .

3. Công viên địa chất Trương Dịch – Đan Hà – Trung quốc .

— Hình thành sau một vận động địa chất kéo dài 24 triệu năm .

4. Salar de Uynni .

— Là hồ muối lớn nhất thế giới .

— Mặt hồ luôn bao phủ một lớp nước mỏng . Xem như là một tấm gương lớn , nó trở thành thứ làm mốc để hiệu chỉnh thông số cho các vệ tinh .

5. Sa mạc Salvardor Dali .

— Sa mạc trải dài 100 km vuông .

— Thoạt nhìn trông như một tác phẩm tranh : những đỉnh núi như điệu vũ bằng màu nước , những tảng đá như những cây mọc lên từ đất .

— Cảnh quan này trông khác lạ so với các sa mạc trên hành tinh .

6. Thung lũng Afar nằm ở Ethiopia .

— Nơi đây có rất nhiều hồ lưu huỳnh . Chỉ có một loài vi khuẩn đặc biệt , mới có thể sống được .

7. Hẻm núi Antelope .

— Nằm trong lãnh địa của thổ dân da đỏ Navajo .

— Nước mưa và gió trong hàng triệu năm , đã mài mòn cát trong đá , để lại những khoảng trống như một công trình đặc sắc .

8. Valle de la Luna .

— Nằm trong sa mạc Atacama . Vốn là sa mạc khô hạn nhất hành tinh .

— Có khung cảnh giống như mặt trăng .

9. Fly Gegser .

— Đây là sự hình thành quang cảnh địa chất của thiên nhiên và con người .

— Ban đầu , người ta dự tính xây dựng một cái giếng ở đây . Tuy nhiên , trong quá trình khoan có sơ sót xảy ra . Khiến cho nước phun trào lên mặt bề mặt đất .

— Và sau nhiều năm bồi tụ các chất trong dòng nước ngầm . Một ngọn ” núi ” cao khoảng 1,5 m đã hình thành ( như hình ảnh ) và còn tiếp tục tăng kích thước .

10. Đôi mắt của Chúa .

— Hang động Prohodna hay còn gọi là ” Đôi mắt của Chúa ” ở Bulgari .

— Hai lỗ tự nhiên xuyên qua hang đá rất đối xứng , trông như đôi mắt .

— Vào mùa mưa , nước chảy theo xuống trông như những giọt nước mắt .

11. Sa mạc Wadirum .

— Có cảnh quan kỳ lạ nhất trên trái đất . Những vách đá không giống như những vách đá nào khác trên hành tinh .

12. Quần đảo Socotra .

— Những cây máu rồng là đặc hữu trên quần đảo này . Không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác trên trái đất . Nếu bóc vỏ cây ra , nước đỏ chảy ra trông như máu .

13. Công viên quốc gia Bryce Canyon .

— Những tảng đá trông như những cái cây .

— Vào hoàng hôn , chúng thay đổi từ màu trắng thành đỏ . Nên cảnh tượng vô cũng độc đáo .

14. Thung lũng Chết .

— Ở sa mạc Namib thuộc Namibia .

— Những cái cây chết khô đã giữ nguyên hiện trạng , không mục rã trong 600 năm qua .

15. Sông băng Perito Moreno .

— Có màu sắc bất thường , do lớp băng dày hấp thụ tất cả các quang phổ , ngoại trừ màu xanh lam .

— Ngoài ra , tiếng băng róc rách tạo nên những giai điệu độc đáo . Không giống bất cứ thú gì .




CÁI CHẾT BI THẢM CỦA MỘT NHÀ GIÁO LỖI LẠC MIỀN NAM

CÁI CHẾT BI THẢM CỦA MỘT NHÀ GIÁO LỖI LẠC MIỀN NAM

Giáo Sư NGUYỄN DUY XUÂN, sinh năm 1925 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Ông sang Pháp du học tốt nghiệp cử nhân kinh tế; sau đó theo học chương trình sau đại học ở Anh, lấy bằng Thạc sĩ về kinh tế học; tiếp đến sang Mỹ theo học ở đại học Vanderbilt, và lấy học vị Tiến sĩ kinh tế học rồi trở về miền Nam VN năm 1963.

Về nước, GS Xuân giảng dạy tại nhiều trường đại học. Đầu năm 1970, ông được mời về làm Viện trưởng Viện Đại học Cần Thơ. Trong thời gian đảm nhận vị trí Viện trưởng, Giáo sư đã nỗ lực phát triển mọi lãnh vực, đặc biệt đối với hai ngành là Sư phạm và Nông nghiệp.

Giáo sư Nguyễn Duy Xuân là người TIÊN PHONG trong việc thiết lập hệ thống đào tạo tín chỉ theo mô hình các đại học bên Hoa Kỳ. Mà ai cũng biết, hệ thống đại học Hoa Kỳ cho đến nay vẫn là hệ thống đứng hàng đầu thế giới. Ở Việt Nam, sau biến cố 30/4/1975, việc đào tạo đại học hệt như… “trường cấp 4” (cấp 1: tiểu học, cấp 2 & 3: trung học). Mãi tới sau này nền giáo dục đại học của CHXHCN VN mới rục rịch chuyển đổi đào tạo theo hệ thống tín chỉ – trong khi GS Nguyễn Duy Xuân đã canh tân việc này gần nửa thế kỷ trước đây!

Những ngày sau cùng của chính thể VNCH, GS Nguyễn Duy Xuân đảm nhiệm vai trò Tổng Trưởng Văn hóa – Giáo dục – Thanh niên trong nội các Dương Văn Minh .

Sau biến cố tháng 4/1975, trong khi ông Dương Văn Minh vẫn điềm nhiên sống tại dinh thự riêng (dinh Hoa Lan) sau đó bay sang định cư tại Pháp thì Giáo sư Xuân bắt đầu cuộc đoạn trường khốn khổ, bi thảm. Ông bị đưa đi cải tạo tại Thủ Đức, rồi đẩy tuốt ra ngoài trại cải tạo Ba Sao thuộc tỉnh Hà Nam Ninh (nay thuộc tỉnh Hà Nam).

Ròng rã suốt 11 năm, nhà giáo & nhà trí thức lỗi lạc Nguyễn Duy Xuân đã phải chôn chân trong trại Ba Sao, để rồi chết rũ tại đây vào năm 1986 lúc Giáo sư 61 tuổi.

Trại Ba Sao nức tiếng với việc có tới 626 trại viên tử vong chỉ trong vòng 13 năm (1975-1988).

Thi hài của GS Xuân chôn nơi một quả đồi thuộc Ba Sao.

—————————————————————————

* Hình ảnh: Tiểu sành chứa tro cốt của GS Xuân, vào tháng 4/2015 tức mãi gần 30 năm sau khi ông qua đời, được bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga (con của GS Xuân) đưa từ nghĩa địa trại  Ba Sao bằng đường tàu lửa vào Sài Gòn.

Tro cốt của GS Xuân được gửi ở chùa Thiên Hưng (đường Vạn Kiếp, quận Bình Thạnh) thể theo di nguyện của GS Xuân được ở lại quê hương (thay vì đưa qua Pháp mà con cháu của GS đang định cư).

(Nguồn fb Võ Khánh Tuyên)




Dịch giả Huỳnh Phan Anh qua đời tại Mỹ

Dịch giả Huỳnh Phan Anh qua đời tại Mỹ

31/08/2020 15:46 GMT+7

Dịch giả Huỳnh Phan Anh vừa qua đời lúc 16h45 ngày 30-8 tại San Jose, California, Hoa Kỳ (tức 6h45 sáng 31-8 – giờ Việt Nam) sau một thời gian nằm bệnh, hưởng thọ 81 tuổi.

Dịch giả Huỳnh Phan Anh qua đời tại Mỹ - Ảnh 1.
Dịch giả Huỳnh Phan Anh (trái) chụp chung với nhà thơ Yves Bonnefoy tại Paris năm 1999 – Ảnh tư liệu

Dịch giả Huỳnh Phan Anh tên thật là Huỳnh Thanh Tâm, sinh năm 1940 tại Bình Dương, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Đà Lạt và là giáo sư triết học tại miền Nam. Nhưng sự nghiệp của ông gắn liền với hoạt động dịch thuật và phổ biến tác phẩm văn chương triết từ các nước đến với người đọc Việt Nam từ trước 1975.

Theo những bạn bè của ông từ hồi còn gặp nhau ở tòa soạn báo Văn tại Sài Gòn, tác phẩm phê bình văn học đầu tay của Huỳnh Phan Anh là Văn chương và kinh nghiệm hư vô (NXB Hoàng Đông Phương, 1968), sau đó ông có tập truyện Người đồng hành (Đêm Trắng xuất bản 1969), kế đó là tập tiểu luận – phê bình Đi tìm tác phẩm văn chương (Đồng Tháp, 1972); ngoài ra ông còn truyện vừa Những ngày mưa (Đêm Trắng xuất bản), và tập truyện Phía ngoài viết chung với Nguyễn Đình Toàn.

Nhưng sự nghiệp dịch thuật của Huỳnh Phan Anh mới thật đáng nể, ông đã chuyển ngữ nhiều tác phẩm quan trọng, cả những tác phẩm kinh điển của văn chương và tư tưởng thế giới được in và tái bản nhiều lần trong mấy chục năm qua:

Một mùa địa ngục (thơ Arthur Rimbaud, NXB Văn Học), Tuyển thơ tình yêu (Paul Eluard, NXB Hội Nhà Văn), Thơ Yves Bonnefoy (NXB Hội Nhà Văn), Chuông gọi hồn ai (tiểu thuyết, Ernest Hemingway, NXB Văn Học), Tình yêu bên vực thẳm (tiểu thuyết, Erich Maria Remarque, NXB Trẻ), Sa mạc (tiểu thuyết, J.M.G Le Clézio, NXB Hội Nhà Văn), Lạc lối về (tiểu thuyết, Heinrich Boll, NXB Văn hóa Văn Nghệ), Tình yêu và tuổi trẻ (tiểu thuyết, Valery Larbaud, NXB Trẻ), Những cuộc đời tỏa sáng (nghiên cứu, André Maurois, NXB Trẻ), Ảo ảnh (Thomas Mann, Văn học), Cỏ (Claude Simon, Hội nhà văn), Thế giới của Sophie (Jostein Gaarder, Văn hoá thông tin, Nhã Nam tái bản), Bãi hoang (Jean-René Huguenin, Đồng Nai, Dtbook tái bản), Rimbaud toàn tập (Arthur Rimbaud, Văn hóa Sài Gòn), Thời gian của một tiếng thở dài (Anne Philipe, NXB Văn nghệ TP.HCM).

Một số tác phẩm quan trọng đã được ông sớm dịch từ trước 1975 như Tình yêu và lý tưởng (Thomas Mann, Ngày Mới, 1974), Chuyến viễn hành trong đêm (Heinrich Böll, Vàng Son, 1973), Tình cuồng (Raymond Radiguet, dịch chung với Nguyễn Nhật Duật, Ngày Mới, 1973)…

Tất cả cuộc sống của ông là ở đây, nó quá đẹp với đủ vui buồn của một chàng trai sớm già dặn và buồn bã vì bị văn chương chiêu dụ, bị triết học mê hoặc; một ngòi bút tài hoa sớm thành danh; một tên tuổi nức tiếng, nhưng ít ai thấy mặt, nghĩa là cô đơn trong chốn đông đảo, như một cách nói của ông

Nhà văn – dịch giả MAI SƠN

Theo nhà thơ Phạm Chu Sa, một bạn văn của Huỳnh Phan Anh, ở độ tuổi 30, Huỳnh Phan Anh đã “cùng với các nhà văn – nhà phê bình Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Hữu Trí và Đặng Phùng Quân quy tụ thành nhóm Đêm Trắng.

Đêm Trắng là nhóm văn học có khuynh hướng hiện sinh, đi tìm cái mới trong văn chương để làm mới văn chương. Hầu hết thành viên của nhóm là nhà văn kiêm nhà giáo dạy văn học và triết học. Huỳnh Phan Anh rất ngưỡng mộ và chịu ảnh hưởng của Jean Paul Sartre, nhà văn – nhà triết học người Pháp, người có công xiển dương chủ nghĩa hiện sinh”.

Cũng theo Phạm Chu Sa, “năm 2002, Huỳnh Phan Anh sang Mỹ định cư tại San Jose, một TP ở Bắc California có hơn 100.000 người Việt nhưng anh sống gần như khép kín, cách biệt, cả với giới văn nghệ sĩ – bạn bè cũ của anh. Phần do anh bị bệnh tim, phần không biết lái xe”.

Trong một lần trả lời phỏng vấn báo trong nước, dịch giả Huỳnh Phan Anh bộc bạch: “Trước hết, tôi xin khẳng định một điều là cho dù tôi có sống tại Mỹ một vài năm hay trong suốt phần còn lại của cuộc đời, tôi cũng khó hội nhập được vào nước Mỹ! Tôi không bao giờ là một nhà văn lưu vong”.

Một cuộc đời sống và làm việc hết mình cho văn chương, phê bình và dịch thuật với lượng tác phẩm đồ sộ rất có giá trị, tên tuổi Huỳnh Phan Anh chắc chắn còn sống mãi với những người trân trọng ngôn ngữ và văn chương.

Theo Internet




Cây đàn tranh kỷ niệm

Cây đàn tranh kỷ niệm

(Ghi theo lời kể)

Như mọi người đã biết kỹ thuật đóng đàn Tranh khó ai qua được tay nghề bác Vĩnh Bảo, ông vừa là một nhạc sư vừa là một nghệ nhân số 1 về đàn Tranh của Việtnam.

Tìm hiểu trên Wikipedia thì được biết:

“ nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo (sinh năm 1918) là nhà nghiên cứu âm nhạc, giáo sư giảng dạy âm nhạc truyền thống. nhạc sĩ trình tấu và nghệ nhân đóng đàn… Và đặc biệt Ông rất yêu thích đờn ca tài tử.

Chính Ông là người đã có nhiều đóng góp và cải tiến đàn tranh từ 16 dây thành đàn tranh 17, 19 và 21 dây với kích thước và âm vực rộng hơn.

Từ năm 1955 cho đến năm 1964, ông dạy môn đàn tranh và cũng là trưởng ban nhạc cổ miền Nam tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ ở Sài Gòn. Ngoài ra ông cũng đã đi diễn thuyết giới thiệu và trình tấu âm nhạc dân tộc Việt Nam ở nhiều nơi trên thế giới…”

Dịp may đến khi bạn mình quen biết nghệ sĩ Đặng Lan (đàn Độc Huyền) trong các buổi sinh hoạt âm nhạc tài tử tại San Jose, Calif do giáo sư Ngọc Dung (đàn Tranh) và Cô cũng chính là người thành lập đoàn Tiếng Vọng Quê Huơng (nhằm gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc của nền âm nhạc truyền thống Việtnam tại nước ngoài)

Cần nói thêm, mình được biết khi còn ở Việtnam nghệ sĩ Đặng Lan cùng với NS Văn Hai và các nghệ sĩ cổ nhạc khác trong các dịp rảnh rỗi (không đi diễn) thường ghé nhà bác Vĩnh Bảo để sinh hoạt và trao đổi thân tình về đờn ca tài tử (ít nhất bác cũng dành 1 ngày trong tháng thường thì nhiều hơn tại nhà để họp mặt ) nên từ lâu các anh đã trở thành người nhà của gia đình bác Vĩnh Bảo.

Nghĩ tới các nhạc cụ cổ truyền Việt nam thông dụng. Mình nghĩ ngay tới đàn Tranh và ngỏ lời với anh Đặng Lan muốn có một cây đàn Tranh 25 dây do chính bác Vĩnh Bảo đóng, (thật là quá sức tưởng tượng vì dân nghệ sĩ professional đi biểu diễn cũng chỉ sử dụng cây đàn Tranh 22 dây là quá dư rồi). Thế là anh Đặng Lan và anh Văn Hai đã tận tình giúp và thay mặt mình thưa chuyện chuyện cùng bác Vĩnh Bảo.

Những tình cảm mà bác dành cho các nghệ sĩ chân chính thì thật lớn, riêng các anh Văn Hai, Đặng Lan thì đặc biệt hơn hẳn nên Bác đã nhận lời đóng cây đàn Tranh 25 dây đầu tiên và độc nhất này, (vì từ xưa tới nay bác và gia đình chưa từng đóng cho bất cứ một ai cây đàn Tranh nào lớn và có nhiều dây như thế). Đây có lẽ là cây đàn duy nhất mà bác nhận lời đóng vì khi ấy bác Vĩnh Bảo đã tròn 100 tuổi rồi (2017).

Năm 2018 mình có về Việt nam và được nghe anh Văn Hai thuật lại: hàng tuần hoặc khi rảnh rỗi anh thường ghé thăm bác Vĩnh Bảo vì bác đã lớn tuổi và cũng vì cây đàn đặc biệt này. Anh Văn Hai cũng cho biết thêm Nhạc sư Vĩnh Bảo đã dành rất nhiều thời gian tâm huyết cũng như đã dồn tất cả tình yêu và cả tình tự dân tộc trong tâm hồn cho sự thai nghén đứa con tinh thần này. Chính Bác đã phải đích thân phát thảo từng chi tiết một và cùng gia đình tỉ mỉ đo ni làm khuôn cho cây đàn “Đại” này, vì trước đây xuởng đóng đàn không hề có khuôn lớn.

Kiểu dáng đàn cũng là một vấn đề cần phải nghiên cứu (nếu giữ nguyên dáng kiểu đàn Tranh truyền thống thì nhạc sĩ sẽ không thể chạy ngón lả lướt thật nhanh được trong lúc trình tấu vì phần thân sẽ vồng lên rất to và nhìn đàn sẽ thô kệch, mà đóng kiểu Koto “một loại đàn Tranh của Nhật” thì sẽ mất đi sự riêng biệt và nét dịu dàng duyên dáng cùng sự độc đáo của cây đàn Tranh Việtnam) Bác đã phải tính toán và mất rất nhiều công sức nhằm chọn lựa nhiều giải pháp khác nhau để có được sự hoàn hảo tối ưu như hiện nay.

Vì cây đàn cho xứ lạnh nên bác đã chọn gỗ mặt đàn là loại gỗ cây Kiri của Nhật Bản để có được âm thanh thật hay, chuẩn xác. (Kiri là loại gỗ nhẹ, mềm nhưng đặc, và là loại gỗ có độ đàn hồi xoắn cao, không bị rạn nứt, biến dạng và chịu được sự thay đổi của khí hậu, thời tiết của xứ lạnh… ) Vì những lý do trên nên bác không dùng gỗ Ngô Đồng truyền thống được, nó chỉ thích hợp với khí hậu của Việtnam. (Gỗ Ngô Đồng rất phổ biến cho đàn Tranh, vì âm thanh chuẩn và tốt ở Việtnam từ bao đời nay thì mặt đàn phải được đóng bằng gỗ Ngô Đồng)

-Nếu mặt đàn may mắn chọn được đoạn giữa của thân cây và thân gỗ khi phát triển mà quay về hướng mặt trời là tốt nhất, đoạn này ít bị thay đổi (rạn nứt, giãn nở theo thời tiết và thời gian của xứ nhiệt đới) cây đàn sẽ cho âm thanh chắc và vang.

-Nếu mặt đàn chọn gỗ ở phần trên gần ngọn thì âm thanh sẽ mỏng, lép, ít vang.

-còn mặt đàn mà ở phần gần gốc thì âm thanh sẽ tù, đục, không thoát.

Làm mặt cây đàn này phải nhập gỗ Kiri từ bên Nhật nguyên miếng thật lớn (vì là đàn 25 dây nên kích thước cũng lớn hơn hẳn).

Để phân biệt mặt gỗ Kiri (có vân) còn mặt Ngô Đồng (không vân), thường thì mặt đàn không phủ bóng bằng Verni (để mặt mộc) sẽ tạo được độ vang hơn và như thế ta cũng sẽ dễ nhận biết được chất lượng của gỗ.

Khi bán đàn cho mọi người bác vẫn khuyên nên đóng bằng gỗ Ngô Đồng âm thanh vẫn hay mà giá lại rẻ hơn nhiều, để tiết kiệm tiền cho chính khách hàng, có lẽ đây là lương tâm đạo đức và là tính cách rất độc đáo đã từng tạo nên tên tuổi của gia đình bác, sau này chị Thu Anh “con gái bác” cũng theo gương cha, bao giờ truớc khi bán cũng trao đổi thật kỹ với khách và cho những lời khuyên chân thành nhất chứ không vì đồng tiền mà đánh mất lương tâm, rồi chị cũng thú thật cái mà chị sợ nhất vẫn là sợ mất tiếng tăm của gia đình Vĩnh Bảo bao đời nay)

Như mọi người được biết: nhiều nghệ nhân rất giỏi về đóng đàn nhưng mặt khuyết họ thường lại không phải là nhạc sĩ giỏi nên cũng khó phân biệt chi ly, rạch ròi được thế nào là âm thanh chuẩn mực cùng sự ngọt ngào sâu thẳm của từng âm điệu của tiếng đàn Tranh trong khi nhấn nhá, hoặc họ là nghệ sĩ biểu diễn thì được trời phú cho họ có “cái tai” thẩm âm rất chuẩn xác thì lại không rành chi tiết về kỹ thuật đóng đàn. Nghệ nhân kết hợp được cả hai tính chất trên thật là hiếm, đúng là được mặt này thì khuyết ở mặt khác ?

Riêng nhạc sư Vĩnh Bảo thì có  được cả hai. Theo lời Bác kể: năm 10 tuổi bác đã tự tay ráp cái gáo dừa và cần đàn khi được người ta cho cây đàn gáo mà 2 phần rời nhau. Có lẽ bác đã tập mày mò đóng đàn từ khi ấy. Được biết sau thời gian không đi dạy tại trường nhạc trong nước. Bác may mắn có điều kiện ra nước Ngoài để dạy thêm về âm nhạc cổ truyền cho các học trò thế giới và Bác đã quyết chí ghi danh học thêm về kỹ thuật đóng đàn Violin tại trường hẳn hoi, nên có lẽ bác là nghệ nhân đàn dân tộc duy nhất đã được đào tạo từ trường lớp tại Tây Phương.

Những kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của cách đóng đàn Violin mà bác đã học được nó đã là một nền móng vững chắc chẳng phải ai cũng có được và sau này đã được bác nhuần nhuyễn áp dụng để hình thành cho cây đàn Tranh Việtnam với thương hiệu Vĩnh Bảo. nhưng để hình thành và tạo nên tên tuổi trong lòng mọi người chắc chắn bác đã phải qua rất nhiều thời gian tìm tòi trải nghiệm, cùng biết bao biến tấu để tạo thành.Ngoài ra chị Thu Anh cũng tiết lộ bí mật kỹ thuật tạo ra tiếng đàn hay nằm ở chỗ hiểu được đặc tính sự giãn nở của từng loại gỗ khi kết hợp với nhau, và gia đình đã dày công nghiên cứu để có hẳn loại keo đặc biệt gia truyền chỉ để dùng riêng cho việc đóng đàn… Chị tâm sự mỗi cây đàn xuất ra đều được thẩm âm thật kỹ trước khi tới tay người dùng… rất tiếc nhiều lần nói chuyện với Chị mà không ghi nhớ được là bao để chia sẻ cùng các bạn.

Điều quan trọng nhất vẫn là được gia đình bác xác nhận: “ chắc chắn đây là cây đàn Tranh 25 dây độc nhất vô nhị cả ở Việtnam cũng như trên thế giới do chính tay bác Vĩnh Bảo đóng và ký tên “.

Khi viết những dòng này thì năm nay bác cũng vừa tròn 103 tuổi, bác cùng gia đình cho biết: “sẽ không hề có ý định và muốn làm lại một cây đàn 25 dây thứ hai như vậy nữa.” Đây thực sự là một món quà tình cảm vô giá mà Bác muốn dành lại cho hậu thế.

Ngoài chữ ký của nhạc sư Vĩnh Bảo, cây đàn này còn may mắn hơn nữa khi được các giáo sư, nghệ sĩ cũng là những người bạn thân của bác Vĩnh Bảo ký tên lưu niệm. Xin cảm ơn Gs tiến sĩ âm nhạc học dân tộc Trần quang Hải (Pháp), Giáo sư đàn Tranh Ngọc Dung (San Jose, Calif), NS Đỗ Lộc, NS Văn Hai, NS Đặng Lan (San Jose, Calif) …

Nay được sở hữu, đó là niềm vui, niềm hãnh diện, và tự hào rất lớn, một lần nữa xin được đặc biệt cảm ơn bác Vĩnh Bảo và gia đình.

Chúc bác nhiều niềm vui trong tuổi hạc.

Hồng Nguyên.

***

– Giáo sư Trần quang Hải nhân dịp qua Hoa Kỳ nhận bằng tưởng lục của trường đại học Long Beach University “ tuyên dương về những đóng góp của Ông trong việc nghiên cứu, phổ biến âm nhạc dân tộc Việtnam trên thế giới.” Đã ký tên trên đàn.

– NS Đỗ Lộc nhân chuyến đi biểu diễn trong “Ao Dai Festival” tại Calif, Hoa Kỳ đã ký tên.

Theo Internet