TẢN ĐÁ THIÊNG Ở MYANMAR

* Nằm chênh vênh trên một vách đá. Golden Rock ở Myanmar dường như thách thức trọng lực và trở thành một địa điểm du lịch nổi tiếng với hàng ngàn tín đồ Phật giáo đến mỗi ngày.

* Tượng đài linh thiêng có hình dáng kỳ lạ này cao gần 8 m, không hề nép vào bên vào bàn đá phía trong mà nhô ra bên ngoài. Khiến nó trông giống sắp rơi thẳng xuống ( nằm ở độ cao hơn 4 km ).

* Vào mùa hành hương từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Các tín đồ Phật giáo đến tảng đá lấp lánh này, còn được gọi là Đền Kyaiktiyo để thiền, tụng kinh và thắp nến xung quanh.

* Chỉ nam Phật tử mới được phép vượt qua hàng rào và dán lá vàng lên tảng đá. Như một dấu hiệu của lòng sùng mộ.

* Nơi đây là địa điểm hành hương linh thiêng thứ 3 đới với Phật tử Myanmar. Vì người ta cho rằng, hòn đá được đặt trên một sợi tóc của Đức Phật. Và người ta cũng cho rằng, những ai đến thăm thánh địa này 3 lần trong năm, sẽ được ban phước lành.

* Từ đỉnh núi, du khách có thể ngắm nhìn toàn cảnh 360 độ tới những ngọn núi Mon State xung quanh.

* Quần thể Đền Kyaiktiyo bao gồm một số đài quan sát, Chùa, Điện thờ Phật và Đền thờ thần Nat.

* Nằm trên cùng của tảng đá là ngôi chùa cao 5,4m. Tất cả đều được mạ một lớp vàng sáng chói. Khiến tảng đá nổi bật giữa khung cảnh xanh tươi cây cối xung quanh.

* Luôn có dòng người hành hương bất tận đến chiêm ngưỡng cảnh tượng của tảng đá vàng Golden Rock.




Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và tài hoa

  NGUYỄN TRỌNG TẠO

   

Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và  tài hoa

Hơn nửa thế kỷ nhầm nơi sinh quê quán.

Thật lạ là hơn nửa thế kỷ người ta tin là nhạc sĩ Hoàng Nguyên sinh ở Quảng Trị. Tất cả tiểu sử giới thiệu tác giả, đều ghi quê quán Quàng Trị, đến nỗi từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia ghi rõ: “Hoàng Nguyên (19321973) là một nhạc sĩ tên tuổi, tác giả các ca khúc nổi danh như Ai lên xứ hoa đào, Cho người tình lỡ… Ông tên thật là Cao Cự Phúc, sinh 3 tháng 11932 tại Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc học Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên có tham gia kháng chiến nhưng rồi từ bỏ quay về thành phố”.

Các tư liệu ấy có 2 cái nhầm: Nơi sinh và năm sinh của ông.

Sự thực, ông sinh ra tại xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Tên thật ông là Cao Cự Phúc, sinh ngày 3.1.1930 (sau này ông khai là sinh năm 1932), mất ngày 21.8.1973.

Tôi quen với Giáo sư Cao Cự Bội sinh năm 1936 tại Diễn Bình là chú của Cao Cự Phúc, nhưng cháu hơn chú 6 tuổi, lớn lên lại biết dạy võ cho chú. Tất nhiên tuổi thiếu thời của Phúc sống và học tập ở quê cùng chú Bội gần chục năm mới rời quê hương. Anh Phúc rời quê là vì mẹ đã mất sớm, cha đi làm sở điện, đến lúc anh 15-16 tuổi theo ông nội vào Vinh học và tham gia quân đội chống Pháp khi còn trẻ. Tổ chức thấy anh thông minh, giao ông nhiệm vụ vào tìm bố làm việc bưu điện ở Quảng Trị để hoạt động bí mật. Anh Phúc vào học xong ở Huế rồi bị bắt vì làm nhạc trong phong trào Hòa bình. Được thả, 1955 lên Đà Lạt dạy Anh văn và âm nhạc, hướng nghiệp cho Nguyễn Ánh 9 sau này trở thành nhạc sĩ. Năm 1957 bị bắt đày ra Côn Đảo vì thành phần Việt minh cũ và cất trữ bản nhạc Tiến quân caTrương Chi của nhạc sĩ Văn Cao. Ra tù, 1961 học thêm đại học Sư phạm Sài Gòn, dạy học, sáng tác âm nhạc. Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau khi ra trường chuyển về Cục Quân Cụ, dưới quyền của Đại tá nhạc sĩ Anh Việt và được giao phụ trách ban nhạc Hương Thời Gian.1973 mất vì tai nạn xe hơi ở Vũng Tàu.

Gần đây tôi có gặp ông Lương Tử Miên, người xã Diễn Bình kém anh mấy tuổi có biết anh Phúc. Ông kể: sau năm 1945, anh Cao Cự Phúc đang ở nhà ông bà nội anh ấy (ở cùng xóm với tôi cách nhà nhau chừng 100m). Hàng ngày tôi vẫn vào nhà học nhóm với chú ruột Cao cự Phúc là Cao Cự An và gặp anh Cao Cự Phúc. Có lần Cao Cự Phúc hướng dẫn cho chúng tôi về âm nhạc. Cao Cự Phúc cũng học Trường Nguyễn Xuân Ôn, trên chúng tôi 2 lớp. Quảng năm 1948 anh Cao Cự Phúc rời nhà ông bà nôi sang nhà bà Hàn Lương cháu nội cụ Nguyễn Xuân Ôn ở xã Diễn Thái vừa làm gia sư vừa đi học tiếp trung học. Từ đó cho đến khi tôi đi lính thì không gặp anh Cao Cự Phúc nữa. Khoảng năm 1949-1950 nghe tin anh Cao Cự Phúc tham gia đoàn tuyên truyền kháng chiên liên khu 4 cùng với nhà văn Bửu Tiến và anh Cao Xuân Hạo (sau này là giáo sư ngôn ngữ học) đi vào chiến khu Ba Lòng (Cam Lộ – Quảng Trị) hoạt động tuyên truyền kháng chiến. Thông tin về Cao Cự Phúc sau đó không có nhiều ở quê nên ít người biết. Còn nói về gốc gác quê hương bản quán và tuổi trẻ thì phải nói anh Phúc quê ở Xóm Chợ xã Diễn Bình huyện Diễn Châu – Nghệ An bây giờ

Như vậy, Cao Cự Phúc xuất hiện ở Quảng Trị đi tìm bố, từ khoảng 19 tuổi, khi ấy anh đã học nhạc ở ban nhạc họ Cao Diễn Châu, học nhạc Nguyễn Văn Thương quen ông nội ở Vinh và sáng tác âm nhạc. Mẹ đẻ anh mất lúc 2 tuổi, mấy năm sau bố anh là ông Thông Bàng lấy vợ kế, sinh con ở Quảng Trị. Từ khi tìm bố ở Quảng Trị, Cao Cự Phúc vào học ở Huế khai tụt 2 tuổi và lấy bút danh Hoàng Nguyên. Sự kiện 1955 bị bắt và được thả đã thôi thúc ra đi, và thẳng Đà Lạt dạy Việt văn, Anh văn và âm nhạc, xuất hiện chùm ca khúc Đà Lạt nổi tiếng của Hoàng Nguyên: Ai lên xứ hoa đào, Bài thơ hoa đào, Đà Lạt mưa bay. Không ai ngờ rằng, Hoàng Nguyên là người nhạc sĩ tài hoa quê tận Diễn Châu, Nghệ An.

Âm nhạc cuộc sống và lãng mạn.

Nếu nói về sáng tác âm nhạc thì Cao Cự Phúc – Hoàng Nguyên là một nhạc sĩ rất nổi tiếng thập niên 50, 60 thế kỷ trước. Ông không chỉ sáng tác nhạc mà còn dạy nhạc, dàn dựng tác phẩm và phát hiện bồi dưỡng những nhạc sĩ trẻ. Nguyễn Ánh 9 là một nhân tố mà ông yêu quý, chăm sóc trở thành người nhạc sĩ tài hoa sau này. Người học trò thuở đấy đã nghĩ về Hoàng Nguyên là một con người có lý tưởng chống Pháp, và âm nhạc của anh đã hiện rõ lý tưởng đó: Có lẽ trong lòng những người yêu nhạc sẽ mãi mãi vang vọng những giai điệu đầy kỷ niệm của thời kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp… “Nếu hiểu rằng anh đi vì lũ giặc tham tàn, thì em ơi, em chớ sầu thương chi! Em thấy chăng khói súng của giặc thù còn mịt mùng và còn che khuất mờ…”. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã viết ca khúc Anh Đi Mai Về này ở tuổi 20 tràn đầy nhiệt huyết trong bối cảnh cả dân tộc đang trường kỳ kháng chiến. Bài hát tức khắc được đón nhận nồng nhiệt và phổ biến rộng khắp. Hiếm có những nhạc sĩ trẻ xưa nay tìm được thành công dứt khoát ngay tác phẩm đầu tay của mình và nhanh chóng thành danh như anh.

Có lúc Hoàng Nguyên đã sáng tác ca khúc khi làm tuyên truyền quân khu 4, cùng tinh thần sáng tác ca khúc với Cao Xuân Hạo đồng hương, nhưng rồi do nhiệm vụ khác nhau. Hoàng Nguyên học ở Huế, các hoạt động Việt Minh bị cách trở thấy xa xăm. Nhiều đêm anh nhớ cảnh hoạt động cùng đồng đội mà vẫn phải chịu đựng qua ngày tháng:

Quên đi những chiều nhìn mây vương sau đèo

Nắng vàng đùa thông reo bên bờ dòng suối lắng

Cùng nhau vỗ súng ca cho đời biên khu

Xa rồi ơi đàn

Đâu đêm trăng vàng cùng chung vui bên rừng

Tiếng trầm hùng vang vang, bóng từng đoàn chiến sĩ,

nguyền dâng sức sống cho quê nhà

Đêm nay xa rồi ơi đàn

Đàn ơi xa rồi,

Lòng vắng mơ chi ngày về, đàn ơi dứt đi đường tơ

Đàn ơi xa rồi, tơ lòng đừng vương vấn

Buồn chi khi non sông còn vương máu, và chiến chinh đang tràn lan

(Đàn Ơi, Xa Rồi)

Ngay cho đến khi đất nước chia đôi, tinh thần thống nhất đất nước vẫn luôn trỗi lên trong anh. Tất cả những mối liên lạc hoạt động như mất hết với anh, và niềm khắc khoải day dứt cùng lý tưởng chỉ lặng lẽ với anh. Anh nghĩ tới “cách chia”, “chia lìa” và vẫn “nhớ thương”, “mong chờ”. Chính vì vậy mà bài hát “Em chờ anh trở lại” đã ra đời sau hiệp thương 1954 như một khao khát nước nhà thống nhất:

Ngày anh ra đi, đường nắng chưa phai màu

Dòng sông chia ly, lờ lững chưa hoen sầu

Ngờ đâu chân anh, lạc bước khi qua cầu

Chiều nay bâng khuâng, chợt xót thương đời nhau.

Ngày anh ra đi, rặng liễu chưa xanh màu

Mà nay bên sông, liễu khuất bến giang đầu

Mười mấy năm qua rồi còn gì đâu? Còn gì đâu

Có chăng là đớn đau.

Em chờ anh trở lại chốn đây

Đường xưa còn đó sánh đôi vai gầy

Em chờ anh tìm về lối cũ

Có em còn đây bên sông này

Đợi chờ ai đến trong vòng tay.

Bài hát là bài tình khúc, khao khát và chia lìa, lãng mạn trên đau khổ. Những bài hát như vẫn phảng phất lý tưởng dân tộc trong đất nước chia đôi. Đó chính là lý tưởng của người nhạc sĩ Hoàng Nguyên trong một giai đoạn lịch sử hiện thực chi phối cả dân tộc.

***

Từ thời Hoàng Nguyên phiêu bạt vào Đà Lạt, anh tung một chùm bài hát trữ tình, lãng mạn rất tươi đẹp, như cảm xúc của du khách rất yêu đời. Những người du khách, nghệ sĩ nghe nhạc, nhập vào những âm thanh bên hồ, tiếng suối, tiên cảnh nên thơ. Có người nghe nhạc Đà Lạt của Hoàng Nguyên rồi gọi ông là “người đội vương miện cho nhan sắc Đà Lạt”. Vâng, âm nhạc của anh xứng đáng vẻ đẹp và tươi sáng của xứ hoa như vẫy mọi con người. Và lời ca của Hoàng Nguyên rất giàu chất thơ, gây mê người thưởng thức:

“Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi

Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi

Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ

Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ

Nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bước lần theo đường hoa

Hoa bay đến muôn người ngại ngần rồi hoa theo chân ai

Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa

Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương

Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên”

Những câu nhạc như dài ra hơn bình thường. Những nốt nhạc lên xuống như núi đồi nối nhau. Những hoa bướm, bướn hoa; những quên lãng, lãng quên như quấn quýt lấy nhau trong một khúc thức mở ra không cùng lấp lánh. Qua bài hát, ta thấy tài năng cả nhạc và lời của Hoàng Nguyên như được trời cho:

Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa 

… Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má aị

Có thể nói Hoàng Nguyên đã mê say Đà Lạt trinh nguyên thuở ban đầu. Chỉ trong thời gian ngắn, 2 ca khúc về Đà Lạt được anh sáng tác, và trở thanh 2 ca khúc bất hủ cho vùng đất này. Bài thứ 2 là “Bài thơ Hoa Đào” anh viết trong một căn phòng đơn sơ của một thầy giáo, “trong khuôn viên Trường Bồ Đề Đà Lạt, nơi anh đang dạy Anh văn cho các lớp trung học. Một chiếc giường đơn, một bàn viết bằng gỗ thông và một cây đàn guitar treo trên vách. Thời gian đó, Hoàng Nguyên còn phụ trách các buổi phát thanh của Hội Phật giáo trên làn sóng Đà Lạt”. Nguyễn Ánh 9 đã nhớ lại như vậy, và đã nghe anh hát cho nghe giai điệu đầu tiên đầy quyến rũ:

Ngày nào dừng chân phiêu lãng 

Khách tới đây khi hoa đào vương lối đi 

Màu hoa in dáng trời 

Tình hoa lưu luyến người 

Bồi hồi lòng lữ khách thấy chơi vơi 

…Ôi! Đà Lạt là mơ 

Giấc mơ tiên nữ giáng xuống trần 

Tóc mây buông lơi tha thướt bên hồ 

Đợi tình quân đến trong giấc mơ…

Và vẫn còn “đợi tình quân đến trong giấc mơ” của  anh lính Cao Cự Phúc ngày nào. Với âm nhạc say sưa da diết như vậy, người ta tin là anh đã gắn bó với đất này như thiên đường của tuổi trẻ. Nhưng anhthú nhận với người học trò yêu quý ngay sau khi anh viết xong bài hát này: “Không, anh chỉ ghé chân để tạm mưu sinh và tìm cảm hứng…”. Vâng, sự “ghé chân” đã dâng lên trog bài hát:

Nhưng rồi mùa hoa tàn 

Người hoa sao vắng mãi 

Bao chiều lòng mong chờ 

Đường hoa sao hững hờ 

Để lòng lữ khách tê tái 

Cất bước đi nhớ hoa đào trên má ai 

Màu hoa in trên má 

Làm khách lưu luyến mãi Đà Lạt ơi!

Chính vì tâm sự ấy mà nỗi lòng bâng khuâng mãi với Đà Lạt, bâng khuâng mãi ­­với lữ khách muôn thời.

Cũng với Đà Lạt, anh còn có những bài hát nữa như “Đường nào lên thiên thai”, “Đà Lạt mưa bay”… Bài hát nào cũng muốn cái đẹp của Đà Lạt như Thiên Đường, không bị phai tàn. Có thể đó là mơ mộng:

Cầm tay em anh hỏi

Đường nào lên Thiên Thai,

Đường nào lên Thiên Thai,

Đường nào lên Thiên Thai?

Nơi hoa xuân không hề tàn,

Nơi bướm xuân không hề nhạt,

Nơi tình xuân không úa màu bao giờ

Và Hoàng Nguyên cứ tin cuộc đời là vậy, với đôi mắt trong đẹp ngây thơ:

Nhìn trong đôi mắt đẹp,

lòng chợt vui như say;

kìa đường lên Thiên Thai,

Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây, tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,

Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.

Rồi một ngày anh chỉ “ghé chân” nơi Đà Lạt, phải rời xa nơi này bởi tù đày vì yêu đời yêu nhạc yêu ca. Âm nhạc của anh vẫn vang lên cũng cuộc sống:

Chừ anh đi rồi mình tôi còn ở lại 

Dalat buồn mưa mãi mãi không thôi…

Rời Đà Lạt, Hoàng Nguyên tiếp tục một cuộc sống khác, nhưng chỉ mấy năm gắn bó bằng âm nhạc, bằng lời thơ, bằng trái tim yêu đời cùng thành phố hoa thơ mộng, anh đã trở thành “Người nhạc sĩ đội vương miện cho nhan sắc Đà Lạt”.

***

Thời gian “sau Đà Lạt” thì cuộc đời rất phức tạp và éo le với Hoàng Nguyên. Năm 1956, anh bị chính quyền lùng bắt ở Đà Lạt do hoạt động tuyên tuyền Quân khu 4 kháng chiến chống Pháp từ lâu và lấy cớ trong nhà có bản Tiến Quân Ca của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, nên anh đã bị bắt và đày ra Côn Đảo năm 1957. Bị tù ở Côn Đảo, do tài giỏi, anh được Chủ đảo mời dạy nhạc cho con gái 19 tuổi, thầy trò đã yêu nhau bốc lửa và mang bầu, phải vận động cuộc tự do để thả Hoàng Nguyên ra tù về Sai Gòn theo ý Chủ đảo. Anh ra tù không lấy con Chủ đảo vì éo le, tiếp tục dạy học và theo học Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1961, anh quen ông Phạm Ngọc Thìn, thị trưởng thành phố Phan Thiết và bà Huỳnh Khanh là nữ diễn viên mến mộ tài năng nhận anh làm em nuôi, rồi trở thành con rể ông bà. Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức, sau đó chuyển về Cục Quân Cụ, lý ban nhạc Hương Thời Gian xuất hiện trên truyền thanh và truyền hình Sài Gòn đến khi bị tai nạn xe hơi kết thúc cuộc đời.

Thời kỳ này âm nhạc miền nam không chỉ nhạc vàng tình yêu, nhạc xanh, nhạc sến mà còn nhạc trẻ, nhạc tây. Hoàng Nguyên từ dòng tiền chiến lãng mạn đến tình yêu sang trọng, rồi nhập vào dòng tân nhạc hay hiện đại. Nhưng câu chuyện tình yêu trong ca nhạc muốn vượt lên, nhưng vẫn phảng phất nỗi niềm tủi đau. Trong khi chuyện gia đình người vợ làm anh u uất không vui, và âm nhạc cũng gieo vào tâm sự:

Những tưởng dài lâu 

như trăng như sao cho đến bạc đầu. 

Nào ngờ trời mưa 

mưa rơi không thôi nát tan tình đầu 

Nước mắt rơi mau 

long lanh giọt sầu xót xa niềm đau. 

(Đừng trách gì nhau)

Ai dám đợi chờ ai 

Và người nay đi xa 

Từ giã bến sông dài 

Để đến hôm nay tôi ngồi đây 

Lặng ngắm hoa soan rơi rụng đầy 

Người ơi! thơ ngây đã lỡ rồi 

Tình xa rồi thì cho tôi chép lại vần thơ xưa.

(Thuở  ấy yêu nhau)

Và bài hát “Cho Người Tình Lỡ”,dù là một chuyện tình đã lỡ, nhưng cái con người nhân văn của nhạc sĩ luôn luôn trĩu nặng trong từng lời thơ nốt nhạc. Âm nhạc cũng mới mẻ lên, nhịp điệu cũng dào dạt hơn, để lại tâm tình càng sâu nặng sau bao yêu thương đau khổ. Bài hát “Cho Người Tình Lỡ”,có gía trị, và được chọn thu vào đĩa 45 vòng do Hãng đĩa Tình Ca Quê Hương sản xuất do Thanh Lan hát cùng bài “Không”của Nguyễn Ánh 9 được Khánh Ly hát. Và đây là đầy đủ lời ca của Hoàng Nguyên”:

Khóc mà chi, yêu thương qua rồi 

Than mà chi, có ngăn được xót xa 

Tiếc mà chi, những phút bên người 

Thương mà chi, nhắc chi chuyện đã qua 

Anh giờ đây như là chim 

Rã rời cánh biết bay phương trời nào 

Em giờ đây như cành hoa 

Trót tả tơi đón đưa ngọn gió nào. 

Mình  nào ngờ, tình rơi như lá rơi. 

Người tình đầy, vòng tay ôm quá lơi. 

Để giờ này một người khóc đêm thâu, 

Một người nén cơn đau nghe mưa mà cúi đầu. 

Thế là hết, nước trôi qua cầu 

Đã chìm sâu những thánh ngày đắm mê 

Thôi đành quên, những tiếng yêu đầu 

Những lời yêu ấy nay đã quá xa. 

Nẻo đường cũ giăng đầy mưa 

Khuất mù lối khiến nên tình đành lỡ 

Ta giờ đây như rừng thu 

Nắng liệm với chiếc lá vàng cuối mùa.

Có thể nói, từ “Ai lên xứ hoa đào”đến“Cho Người Tình Lỡ”,là 2 đỉnh cao của ca khúc đầu đời và cuối đời của nhạc sĩ Hoàng Nguyên.

Hoàng Nguyên – Nhạc sĩ của công chúng.

Thường thì một đời, một sự nghiệp âm nhạc phụ thuộc vào tác phẩm được công chúng yêu thích. Có nhạc sĩ cả nghìn bài đươc 1 bài nổi tiếng, được công chúng ghi danh. Có nhạc sĩ trăm bài được vài bài, dăm bài nổi tiếng là để lại nhiều thế hệ yêu thích. Và có người qua đời, không để lại tác phẩm nào cả. Điều đó là công bằng, tác phẩm được sàng lọc qua thời gian.

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên/Cao Cự Phúc mất sớm do tai nạn khi 43 tuổi, không còn từ năm 1973 đến nay đã 45 năm, nhiều bài hát của anh vẫn còn được công chúng yêu thích, được khắc trên đá, được vang trong cuộc sống. Đó là niềm vinh dự của người nhạc sĩ trong cuộc đời này. Có thể nói, các thế hệ không quên những tác phẩm nổi tiếng của anh, và biết ơn anh.

Và anh có quê, quê gốc nhiều đời, quê cha mẹ sinh ra xã Diễn Bình, Diễn Châu của anh; quê tuổi thanh niên Quảng Trị cùng cha đẻ, mẹ kế và các em của anh; và các miền quê phiêu bạt đã làm nên sự nghiệp của anh.

Là một người bắt đầu hoạt động chống Pháp từ khi còn trẻ, dù môi trường công tác khác nhau có thể mất cả đường dây hoạt động, bị khủng bố, tù đày nhưng anh vẫn trở về cuộc sống nhân văn làm gốc với con người, xã hội. Và cho dù làm với bên này bên kia bằng ngòi bút sáng tác, bằng người dạy học mang kiến thức cho mọi người. Thật đáng kính.

Vì vậy những người yêu anh đã khắc những bản nhạc của anh lên đá, những phù điêu hình ảnh của anh nơi công cộng, và cũng có những người đề nghị đặt tên đường cho anh trên đất Đà Lạt, con đường nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Và theo tôi, nên đặt cả tên đường của anh trên đất Diễn Châu, Nghệ An và trên đất Quảng Trị.

Vâng, sự nghiệp của anh bằng âm nhạc thật rõ ràng. Anh, Hoàng Nguyên/Cao Cự Phúc là người nhạc sĩ lãng mạn và tài hoa.

Hà Nội, 15.7.2018




Chiến hạm USS New York làm từ đống sắt của biến cố 9/11

Ngày 11 tháng 9 năm 2001, khủng bố đã hạ gục hai toà nhà Trung Tâm thương Mại Thế Giới World Trade Center (WTC) tại New York mang theo sinh mạng của hơn 3000 người dân vô tội, cùng một số rất đông cảnh sát, và lính cứu hoả đang thực hiện cuộc cấp cứu.

World Trade Center sụp đổ thành những đống thép, gạch vụn khổng lồ, và chính phủ Hoa Kỳ đã làm một việc rất ý nghĩa. Chính phủ cho gom và sử dụng tất cả những săt và thép vun đó để chế tạo làm thành một chiến hạm đặt tên là USS NEW YORK.

Tám năm sau, ngày 7 tháng 9 năm 2009, chiến hạm tối tân trị giá 1 tỷ đô USS NEW YORK đã hoàn tất và khởi hành chuyến đầu tiên về đất mẹ, tiến vào cảng New York giữa sự chào đón nồng nhiệt và cảm động của toàn cư dân New York city, nhất là thân nhân của những người bị nạn ngay tại World Trade Center ngày ấy.

Trong mỗi gram của 24 tấn thép vụn tại WTC trong chiến hạm khổng lồ USS New York đó đều có một chút thịt, da, máu, và xương của hơn 3000 người đã ngã gục tại hiện trường.

USS New York sau đó sẽ ra khơi với nhiệm vụ được giao phó từ Hải Quân Hoa Kỳ. Như vậy, tuy những nạn nhân WTC đã nằm xuống, nhưng thịt xương của họ vẫn luôn luôn sống còn trong khối thép khổng lồ của chiến hạm USS New York sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ đất nước và lý tưởng tự do của Hoa Kỳ.




Dịch giả HÀ MAI ANH

Người trong hình chính là ông Hà Mai Anh, dịch giả của Tâm hồn cao thượng, cuốn sách gối đầu giường của tôi từ bé thơ. Hà Mai Anh quê ở Thái Bình, ông đậu bằng Cao Ðẳng Tiểu học và trường Sư phạm, từng làm giáo học và hiệu trưởng ở các tỉnh ở Bắc Kỳ.

Hà Mai Anh (1905 – 1975), bút hiệu Mai Tuyết và Như Sơn, là một nhà giáo, cùng là tác giả của nhiều sách giáo khoa về văn chương, toán học và dịch giả nhiều cuốn sách phổ biến như Tâm hồn cao thượng (Les grands cœurs), Vô gia đình (Sans famille), Trong gia đình (En famille)…

Hà Mai Anh quê ở Thái Bình, từng làm hiệu trưởng ở các tỉnh ở Bắc Kỳ. Ông đóng góp nhiều bài vở cho các báo đương thời nhưng sự nghiệp văn học của ông chủ yếu là các tác phẩm mang tính cách giáo dục. Ngay từ năm 1938 cuốn Công dân giáo dục đã được xuất bản tại Nam Định và được chính phủ Bảo hộ chấp thuận dùng làm sách giáo khoa.

Vào những năm đầu 1940, ông dịch cuốn “Tâm hồn cao thượng” (tiếng Ý: Cuore) đoạt Giải thưởng Văn chương của Hội Alexandre de Rhodes Hà Nội năm 1943, dịch từ tiếng Pháp  (Les grands cœurs).

Cuốn này nguyên thủy viết bằng tiếng Ý của Edmondo De Amicis và tại Việt Nam được xem như một cuốn “luân lý giáo khoa thư” của thế kỷ 20 và trở thành “kim chỉ nam” của một thế hệ thiếu niên. Các tác phẩm khác do ông dịch lại từ tiếng Pháp, Anh: 

  • Vô Gia Ðình, Sans famille của Hector Malot (Giải I Dịch thuật 1970)
  • Trong Gia Ðình, En famille của Hector Malot
  • Về với Gia Ðình, Romain Kabris của Hector Malot
  • 80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới, Le tour du monde en 80 jours của Jules Verne
  • Guy-Li-Ve Du Ký. Les voyages de Gulliver của Jonathan Swift
  • Hoàng Kim Ðảo, L’île au trésor của Robert Luis Stevenson
  • Con Voi Chúa, Poo Lorn l’éléphant của Reginald Campbell
  • Chuyện Trẻ Em, Contes de Perrault của Charles Perrault
  • Cầu Vồng Trong Ruộng Lúa, L’arc-en-Ciel dans les rizières của Rosy Chabbert
  • Thuyền Trưởng 15 Tuổi, Un Capitaine de 15 Ans của Jules Verne
  • Thuật Tàng Hình của Vi-Liêm, Le secret de Wilhelm Storitz của Jules Verne
  • Dòng Sông Tráng Lệ, Le superbe Orénoque của Jules Verne
  • Em Bé Bơ Vơ, Oliver Twist của Charles Dickens.

Năm 1954 ông di cư vào Nam làm hiệu trưởng trường Trần Quý Cáp ở Sài Gòn rồi chuyển sang làm việc trong Ban Tu thư và Học liệu thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục của Việt Nam Cộng hòa.

Khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, ông sang Mỹ tỵ nạn và mất ngày 20 tháng 8 năm 1975 tại San Bernadino, CA, Hoa Kỳ, thọ 70 tuổi.

Bạn ông, nhà giáo Bảo Vân Bùi Văn Bảo có làm bài thơ “Khóc Bạn Hà-Mai-Anh” như sau:

Thôi thế là xong nhé bác Hà

Tâm hồn Cao thượng kiếm đâu ra?

Tuổi Xanh đất Mỹ đành thua-thiệt

Sống Mới trời Nam hẳn xót-xa

Về với gia-đình sao vội-vã?

Vòng quanh thế-giới há lâu-la!

Đồng-hương, đồng-quận, thêm đồng-nghiệp

Giọt lệ như sương khóc bạn già.

—- Huy Phương —-




The Mountains Sing: Tiểu thuyết Việt Nam đang làm độc giả phương Tây ‘cảm động’

Lê Quỳnh 

BBC News Tiếng Việt

Nguyễn Phan Quế Mai
Nguyễn Phan Quế Mai

Tiểu thuyết tiếng Anh của một tác giả Việt Nam đang nhận được sự quan tâm tích cực của các nhà phê bình nước ngoài.

The Mountains Sing là tựa đề tiểu thuyết đầu tay của nhà văn – dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai, do nhà xuất bản đặt ở London Oneworld Publications ấn hành năm 2020.

Nhà văn được giải Pulitzer Viet Thanh Nguyen ca ngợi tiểu thuyết The Mountains Sing “cảm động và hấp dẫn”.

Báo chuyên ngành xuất bản Publishers Weekly khen sách: “Lá thư tình gửi Việt Nam xuất sắc, không che giấu nỗi đau này sẽ làm độc giả cảm động.”

Cuốn tiểu thuyết trải dài cả trăm năm lịch sử Việt Nam, tập trung vào một gia đình họ Trần. 

Qua cuộc đời của các nhân vật như Hương và người bà Diệu Lan, The Mountains Sing đề cập đến các biến cố như cải cách ruộng đất ở miền Bắc, chiến tranh với người Mỹ và giữa hai miền Nam – Bắc, và giai đoạn hậu chiến.

Là dịch giả tiếng Anh, bà Nguyễn Phan Quế Mai đã viết The Mountains Sing trực tiếp bằng tiếng Anh.

Hiện đang sống và làm việc ở Indonesia, bà đã dành cho BBC cuộc phỏng vấn về tiểu thuyết đầu tay này.

Nguyễn Phan Quế Mai: 

Tôi đã xây dựng không gian của tiểu thuyết The Mountains Sing (Những ngọn núi ngân vang) trong suốt bảy năm. Trước đó, tôi đã lắng nghe rất nhiều những câu chuyện của người Việt từ miền Bắc tới miền Nam, từ trong nước đến hải ngoại. Tôi cũng đã đọc rất nhiều các tác phẩm hư cấu và phi hư cấu bằng tiếng Việt và tiếng Anh viết về các sự kiện lịch sử Việt Nam, đặc biệt về các sự kiện mà tiểu thuyết của tôi đề cập tới: sự đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam, sự xâm lược của đế quốc Nhật, nạn đói năm Ất Dậu, cải cách ruộng đất, sự chia cắt Bắc Nam, chiến tranh Việt Nam, thời kỳ bao cấp… 

Tất cả những câu chuyện và các tác phẩm kể trên đều cung cấp cho tôi những tư liệu quý và thúc giục tôi sáng tạo nên một tiểu thuyết khác biệt, ở đó, những người phụ nữ là trung tâm tác phẩm: họ là những người kể chuyện, dẫn dắt người đọc qua chiều dài gần một thế kỷ lịch sử Việt Nam, qua sự thăng trầm của bốn thế hệ trong một gia đình người Việt.

Tiểu thuyết này ra đời trong khuôn khổ chương trình Thạc sĩ và Tiến sĩ Viết văn mà tôi thực hiện với trường đại học Lancaster (Anh quốc). Đó là lý do tôi viết nó bằng tiếng Anh thay vì tiếng mẹ đẻ của mình. Một lý do nữa để tôi viết bằng tiếng Anh là hiện nay bạn đọc quốc tế biết rất ít về văn học Việt Nam, và văn học tiếng Anh có rất ít các tác phẩm viết qua đôi mắt và trải nghiệm của người Việt trong nước.

Tôi được sinh ra ở một vùng quê nghèo Bắc bộ và lớn lên ở đồng bằng sông Cửu Long (thị xã Bạc Liêu). Tôi bắt đầu chập chững học tiếng Anh khi vào lớp 8, với sự giúp đỡ của một người thầy mở lớp dạy tiếng Anh tình nguyện cho các trẻ em nghèo. Vì thế việc sáng tác tiểu thuyết đầu tay bằng tiếng Anh là sự liều lĩnh và thử thách lớn, tuy nhiên, tôi đã học hỏi được rất nhiều và biết ơn cơ hội được đặt một chân vào văn học thế giới qua tiểu thuyết này.

BBC: Tuy đây là tác phẩm hư cấu, bà có hy vọng giải thích một số chương lịch sử Việt Nam qua truyện kể của các nhân vật?

Tiểu thuyết “Những ngọn núi ngân vang” là sự kế thừa văn hoá kể chuyện của người Việt: tiểu thuyết bắt đầu bằng việc một người bà kể cho người cháu nghe những gì đã xảy ra với gia đình mình trong lúc hai người phải trốn chạy khỏi những trận bom Mỹ dội xuống Hà Nội. Người cháu tiếp tục những câu chuyện ấy của người bà để rồi khi người bà mất đi, cô viết lại những gì xảy ra với gia đình mình. Khi hoàn thành tiểu thuyết, cô đốt bản sao của bản thảo trước ngôi mộ của người bà đã mất để bà có thể đọc ở thế giới bên kia.

Lịch sử của Việt Nam có rất nhiều thăng trầm, có quá nhiều đau thương, mất mát. Với tiểu thuyết này, tôi muốn tái hiện lại những biến cố chính trong chiều dài lịch sử ấy, qua thân phận của những người dân bình thường, những người ấy rất cần được lắng nghe. 

Lịch sử Việt Nam cũng vô cùng phức tạp, và vì thế không dễ tiếp cận. Với “Những ngọn núi ngân vang”, tôi hy vọng bạn đọc sẽ vào vai các nhân vật trong gia đình họ Trần, để từ đó, họ trực tiếp trải nghiệm các biến cố chính của lịch sử, để rồi cảm nhận sự tác động của các biến cố ấy lên số phận con người. Tuy viết về các sự kiện lịch sử, nhưng trọng tâm của quyển sách này là số phận con người và cách con người vượt qua biến cố để giữ gìn không chỉ mạng sống mà còn phẩm giá, tình yêu, tình cảm gia đình và sự bình an trong tâm tưởng. 

Bạn đọc quốc tế hầu như chỉ biết về Việt Nam như một cuộc chiến tranh. Qua tiểu thuyết này, tôi muốn khắc họa nên hình ảnh của một Việt Nam giàu truyền thống văn hoá bao gồm truyền thống văn học (kể cả văn học dân gian). Dù phải đi qua rất nhiều thảm kịch, nhưng niềm tin và hy vọng vào tương lai, vào lòng tốt con người là những ngọn đuốc sưởi ấm cho các nhân vật trong tiểu thuyết, giúp họ vượt qua nhiều vực thẳm của bóng đêm. 

The Mountains Sing

BBC: Một bài điểm sách ghi nhận rằng “tha thứ và hòa giải – trong gia đình, giữa người Việt và với ngoại bang – là những chủ đề xuyên suốt” trong tiểu thuyết. Bà có hy vọng độc giả người Việt đồng tình với những gì bà viết trong sách, hay sẽ có những người không tán thành?

Một trong những điều thôi thúc tôi viết quyển sách này là sự chia cắt vẫn còn sâu thẳm giữa cộng đồng người Việt. Tiểu thuyết “Những ngọn núi ngân vang” nói về gốc rễ của sự chia cắt ấy, về nỗi đau của một gia đình khi họ bị chia lìa bởi lịch sử, để rồi người Bắc kẻ Nam, anh em ruột thịt phải cầm súng ở hai đầu chiến tuyến. Khi tiểu thuyết kết thúc, nỗi đau chia cắt ấy vẫn còn hằn sâu vào từng thành viên gia đình, dai dẳng và khó nguôi ngoai. Với tiểu thuyết này, tôi ước ao người Việt chúng ta lắng nghe và chia sẻ nhiều hơn các câu chuyện của cộng đồng mình – dù các câu chuyện đó có khác biệt thế nào chăng nữa. Tôi tin rằng khi chúng ta đọc và lắng nghe các câu chuyện của nhau, sẽ có nhiều hơn sự thấu hiểu và cảm thông. 

Tôi tin rằng mỗi gia tộc người Việt đều có những trải nghiệm độc đáo, kịch tích và nhiều màu sắc – những trải nghiệm ấy hoàn toàn có thể biến hoá thành một tiểu thuyết hấp dẫn. Và tôi cũng tin rằng không một câu chuyện nào có thể đại diện cho tất cả mọi trải nghiệm của người Việt. Gia đình họ Trần trong tiểu thuyết của tôi là một gia đình được xây dựng nên bởi trí tưởng tượng. Trải nghiệm của họ phản ánh một phần trải nghiệm của gia đình tôi cũng như trải nghiệm của nhiều gia đình mà tôi đã từng tiếp xúc. Nhưng gia đình Trần có một cuộc sống riêng, nơi đó trí tưởng tượng, bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử, được phép thăng hoa.

Tôi không dám mong đợi rằng mọi người Việt đều đồng tình với những quyết định, suy nghĩ của các nhân vật trong tiểu thuyết Những ngọn núi ngân vang. Tôi chỉ mong những gì xảy ra trong sách khiến bạn đọc xúc động, để từ đó họ liên tưởng và suy ngẫm tới gia đình họ và quê hương của họ, về những gì ông bà cha mẹ của họ đã phải trải qua để cho họ cuộc sống hôm nay. Tôi viết về sự thảm khốc của chiến tranh và xung đột để nói lên giá trị hoà bình, viết về sự chia lìa để nói về giá trị của sự đoàn tụ, viết về cái chết để nói về giá trị của mỗi phút giây bình thường. Tôi luôn ước ao mọi người Việt, dù ở bất cứ nơi đâu, cũng được hưởng một cuộc sống bình an, nơi họ có thể quây quần bên gia đình, được làm việc, học tập, được trân trọng và được yêu thương.




‘The Mountains Sing” A Song Of Many Voices

THÚY ĐINH

The Mountains Sing

by Que Mai Phan Nguyen

Hardcover, 352 pages

Nguyễn Phan Quế Mai

In The Mountains Sing, Nguyễn Phan Quế Mai has created a luminous, complex family narrative that spans nearly a century of Vietnamese history, from the French colonial period through the communist Viet Minh’s rise to power, the separation between North and South Vietnam, the Vietnam War, all the way to the present day. Told alternately by Diệu Lan, born in 1920, and her granddaughter Hương, born in 1960, the novel resembles a choral performance with multiple voices.

Diệu Lan is the family matriarch — bereft of father, husband, brother, and eldest son due to war and occupation, she weathers historical changes and economic hardship with self-reliance, intelligence, creativity, and kindness. Born in the same province as revolutionary leader Hồ Chí Minh, Diệu Lan’s actions reflect her own idea of independence. During the era before Vietnam’s economic reforms of the 1980s, she becomes a black marketeer to improve her family and community living conditions. She introduces contraband American literature to her granddaughter, hoping to broaden Hương’s intellectual horizons, and shows unwavering love to a son who fought in the pro-American South Vietnamese Army.

The Mountains in the title represent the Vietnamese people and their land, and Sing standsfor the novel’s celebration of plural perspectives. Mountains Sing is also the literal meaning of sơn ca, the Sino-Vietnamese word for the hand-carved wooden lark that Hương inherits from her long-lost father. As a symbol of immortality in Vietnamese culture, the sơn ca also brings to mind Yeats’s golden nightingale, his avatar in “Sailing to Byzantium” that sings of “what is past, or passing, or to come.”

The past figures prominently in Quế Mai’s novel, for it still affects the present and the future. The author dedicates The Mountains Sing to her grandmother, who perished in the Great Famine of the 1940s when Japan occupied Vietnam, to her grandfather who died because of the harsh land reform policy imposed by the North Vietnamese Communist government in 1955, and to her uncle, “whose youth the Vietnam War consumed,” as well as millions of Vietnamese and non-Vietnamese who lost their lives in the war.Article continues after sponsor messagehttps://5bacdb423a428db7f08f7e251c8d88b2.safeframe.googlesyndication.com/safeframe/1-0-37/html/container.html

‘The Mountains Sing’ affirms the individual’s right to think, read, and act according to a code of intuitive civility, borne out of Vietnam’s fertile and compassionate cultural heritage.

Born in 1973 in North Vietnam, Quế Mai relocated at six with her family to the South, before winning a university scholarship to study in Australia. She later decided to pursue a writing career exploring the long lasting socio-psychological consequences of the Vietnam War. This background gives Quế Mai an astute and graceful ability to sustain contradictory truths about war, displacement, aesthetic representations, and human nature. In The Mountains Sing, Hương is able to see the humanity of her so-called American enemies because she’s read Laura Ingalls Wilder’s depiction of the close-knit pioneer family in Little House in the Big Woods (a book she acquired from her grandmother Diệu Lan’s black market trade). At the same time, beauty does not exempt a culture from its inhumanity; at one point, Diệu Lan observes that an elegant haiku about a frog by the Japanese poet Basho could not save the Vietnamese from the brutality of their Japanese occupiers.

Most importantly, the novel helps all of us see “the enemy” not as abstract or demonic, but corporeal, even familial. An American bomber who falls out of the sky, Icarus-like, is as vulnerable as someone’s brother who fights for the other side. The Vietnam War is not only an international ideological struggle, but also a civil war among kin. A character laments, “But what if one of my comrades had his gun pointed at your forehead? Would I kill my brother in arms to save my brother in blood?”

In depicting the dire consequences of war and Marxist ideology, which forced citizens and family members to become either traitors or patriots, The Mountains Sing affirms the individual’s right to think, read, and act according to a code of intuitive civility, born out of Vietnam’s fertile and compassionate cultural heritage.

And yet, despite the novel’s wondrously balanced approach, true reparation has yet to take place between the Vietnamese state and its people. The “enemies” that Diệu Lan faces when she returns to her home town are not her true enemies, but merely agents of an oppressive Marxist regime that engineered the disastrous land reform.

At the end of the day, the fact that The Mountains Sing is published in English means its content still faces translation and censorship hurdles before reaching readers in Vietnam. Can Nguyễn Phan Quế Mai’s message be heard in her homeland, where the mountains of Vietnam are still a fortress silencing the sounds of birds?

Thúy Đinhis a writer, literary translator, and co-editor of the Vietnamese e-zine Da Màu (Multitude). Her work has appeared in NBCThinkAsymptotediaCRITICs, Amerasia Journal, Pop Culture Nerd, among others.




Bộ tranh phố cổ Hà Nội

Họa sĩ Phạm Bình Chương

Hong Thanh

Những hình ảnh quen thuộc của Hà Nội như ngõ nhỏ, phố cổ, cây bàng, quán nước… đều hiện ra vô cùng chân thực và đẹp đẽ trong bộ tranh này.

Chắc hẳn bạn sẽ cho rằng đây là ảnh chụp Hà Nội, chứ không phải tranh vẽ bởi sự chân thật và tuyệt đẹp của nó.

Tác giả của bộ tranh này là họa sĩ Phạm Bình Chương (1973). Anh là cái tên tiêu biểu của nhóm nghệ sỹ có tên gọi Nhóm hiện thực – chuyên theo trường phái hiện thực. Họa sĩ Phạm Bình Chương tốt nghiệp khoa hội họa Trường ĐH Mỹ Thuật năm 1995. Hiện anh đang là giảng viên của trường. Anh từng nhận được rất nhiều giải thưởng của Hội Mỹ Thuật Việt Nam trong các năm 1997-1999.

Dù từng vẽ qua rất nhiều chủ đề, nhưng Hà Nội phố luôn là chủ đề bất tận và tâm huyết nhất của anh. Có thể nói, Phạm Bình Chương chính là chàng thi sĩ của Hà Nội trong mảng hội họa. Dù sử dụng lối vẽ thực, nhưng tranh của Phạm Bình Chương vẫn rất thơ và bay bổng, vẽ Hà Nội hiện đại nhưng vẫn yên bình, phảng phất nét cổ kính. Không ép uổng theo một lối Hà Nội phải cổ, hay Hà Nội phải thế này, thế kia. Hà Nội trong tranh của Chương đúng như Hà Nội hiện đại mà chúng ta vẫn yêu thương, nhung nhớ.




XUÂN DIỆU VÀ QUÊ MẸ

(Nhân kỷ niệm 35 năm ngày mất của nhà thơ Xuân Diệu 1985-2020)

Nhiều người Bình Định nhận xét “Nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, “ông hoàng thơ tình Việt Nam” có một khuôn mặt rất “nẫu”, tức rất Bình Định, với nét đẹp cao sang mà hồn hậu, tinh quái mà ngây thơ, mơ màng nhưng ngay thực. Chẳng biết Xuân Diệu nghĩ sao nếu nghe nhận xét này của đồng hương, nhưng sinh thời, trong nhiều bài viết và các buổi nói chuyện, ông thường tâm sự: thiên nhiên, con người, những câu ca dao ở Vạn Gò Bồi, Tùng Giản, Văn Quang, Luật Bình, Kim Trì, ở Bình Định, Quy Nhơn đã làm thành một mảnh rất sâu xa, tinh tế, bền vững trong tâm hồn ông.

Xuân Diệu rất tự hào vì cái gốc “Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong/ông đồ nho lấy cô làm nước mắm” của mình và tình cảm đó làm nên một trong những bài thơ mộc nhất, thương nhất, xúc động nhất của ông:

Làng xóm cười giọng ông đồ trọ trẹ

Nhưng quý ông đồ văn vẻ giỏi giang

Bà ngoại nói: tôi trọng người chữ nghĩa

Nên dám gả con cách tỉnh xa đàng

Tiếng đàn ngoài tiếng đàng trong quấn quít

Vào giữa mái tranh, giuờng chõng cột nhà

Rứa mô chừ? Cha hỏi điều muốn biết

Ngạc nhiên gì mẹ thốt ối chu cha!…

Mẹ thảnh thót: qua thương em nhớ bậu

Cha hát bài phụ tử tình thâm

Năm 18 tuổi, Xuân Diệu bắt đầu xa quê để đi học rồi đi làm ở Huế, Hà Nội, Mỹ Tho, và chỉ vài năm sau, giữa tuổi 20, trong tình cảnh “nỗi đời cơ cực giơ nanh vuốt/cơm áo không đùa với khách thơ”, ông trở thành một trong những chủ soái của phong trào thơ Mới, làm bàng hoàng làng thơ VN thời ấy bằng “một y phục tối tân…lẫn với chút hương xưa của đất nước” như phát hiện của nhà phê bình Hoài Thanh.  Cái “y phục tối tân” thì  có lẽ Xuân Diệu học từ các nhà thơ hiện đại Pháp, còn “chút hương xưa của đất nuớc” , tiếng cây me ríu rít, mùi hương hoa bưởi báo đêm khuya, cái ánh trăng sáng, xa, rộng vô chừng kia thì chắc chắn Xuân Diệu đã mang theo từ đất trời quê mẹ.

Tham gia tổng khởi nghĩa ở Hà Nội, lên Việt Bắc kháng chiến rồi về thủ đô khi đất nước bị chia cắt cho đến 1975, Xuân Diệu đã phải xa quê đằng đẵng hơn 30 năm. May mắn cho ông, “nhớ, tìm con, má đi tập kết/đem miền Nam ra ở với con”, người mẹ của vạn Gò Bồi, làng Tùng Giản đã lặn lội đi tập kết, đem con cá, con tôm, mắm muối, tiếng hò giã gạo, tiếng chày nện cối suốt đêm sao của quê hương ra sống cùng ông ở thủ đô. Tuy vậy, nhà thơ vẫn không nguôi thương nhớ quê hương “Quê má, quê má yêu/ta mang theo sớm chiều/mang theo trong giọng nói/pha Bắc vẫn Nam nhiều” và tha thiết mơ một ngày trở lại “Ôi bao giờ, bao giờ. Ta tắm vào da thịt. Con sông nhỏ Gò Bồi. Quy Nhơn về ngụp biển. Muối đọng ở vành tai”.

Niềm thương nhớ quê hương trong những năm xa cách đó, ngoài thổ lộ trong thơ, đã được Xuân Diệu dồn vào bài phê bình nghiên cứu tuyệt hay “Sống với ca dao dân ca miền Nam Trung bộ”, năm 1963. Cho đến nay, đây vẫn là bài viết công phu nhất, toàn diện nhất, sâu sắc và giàu cảm xúc nhất về ca dao dân ca miền Nam Trung bộ và Bình Định. Với Xuân Diệu, đây là “một thứ máu của tổ quốc”.

Ở bài viết dài gần trăm trang in này, nhà thơ bồi hồi kể chuyện “tôi với em tôi chen chúc nghe hô bài chòi ngày tết ở chợ làng Văn Quang. Làng nhỏ, chợ nhỏ, đồng bào rất hiền lành, anh hô bài chòi cũng hiền, chuyện đêm nằm đò dọc từ Vạn Gò Bồi xuống Giã (Quy Nhơn), nghe “gió nhẹ hiu hiu phần phật trên buồm” và “sóng nhỏ nghìn gợn đập canh cách dưới thân thuyền”, chuyện tục hát giã gạo ở Vạn Gò Bồi, với những đợt hát kéo dài suốt mấy tháng liền.

Trong ký ức Xuân Diệu, dường như mỗi người Bình Định, nhất là phụ nữ, ai cũng có một “pho” ca dao dân ca riêng. Hồi nhỏ là các dì các mợ, bà vú già giữ em ruột ông, bà ngoại ông. Chính nhờ bà ngoại mà ông biết được bài ca dao rất nghịch mà cũng rất buồn này:

Sớm mai em xách cái thõng ra đồng

Em bắt con cua, em bỏ vô trong cái thõng

Nó kêu cái rỏng

Nó kêu cái rảnh

Nó kêu chàng ơi!

Chàng giờ an phận tốt đôi

Em đây lỡ lứa mồ côi một mình

Và cái ông “Tốc xi măng”  ở Quy Nhơn mà Chế Lan Viên cũng biết . Cái con ngươi dở khờ, đở dại, đôi mắt lạc trí ấy đã tay đập nhịp lên đùi, miệng hát cho Xuân Diệu nghe cả một bản trường ca ca dao huê tình rất dài và thật hay. Rồi đến má nhà thơ. Xuân Diệu đi học, ghi chép ca dao dân ca khắp nơi, mà mấy chục năm trời chẳng ngờ má mình cũng là một cái “mỏ” lớn. Mãi đến khi má tập kết ra với ông được 5 năm, tình cờ nói chuyện, ông mới biết má thuộc vô khối ca dao dân ca hay quê mình. Không những thế, bà còn là tác giả của nhiều câu rất đáo để. Ví như câu “Trồng trầu thì phải xẻ mương/làm trai hai vợ phải thương cho đồng”, bà làm là để nhắc khéo chồng phận “lẽ mọn” của mình (Cha Xuân Diệu đã có vợ ở ngoài Bắc, vô Bình Định lại lấy má ông, nên bà phải là vợ “bé”). Hay như câu này:

Anh ngồi trong bếp lửa

                                    đau cái bụng

Em ngồi ngoài cửa

                                   nát nửa lá gan

Biết thuốc chi mà chữa bệnh chàng

Lấy trầm hương cho uống sao chàng vội quên

là bà “đặt” để nhớ chuyện chữa khỏi bệnh hay đau bụng của cha ông bằng cách lấy gừng vùi vô bếp rồi cho ông uống. Khi “đặt”, bà thấy nói “gừng” thì không hay nên nói thành “trầm hương” cho hay…

Xuân Diệu viết “ca dao dân ca Nam Trung bộ, Bình Định đã ru tôi ngủ và đánh thức tôi dậy với những thương mến bao la của quê hương thứ nhất, nơi má đẻ ra mình”. Bởi vậy, bài viết này là một cách đấu tranh thống nhất đất nước của ông năm ấy.

Nhớ quê, yêu quê, nặng tình quê như thế, nên năm 1976, khi được về thăm quê, niềm vui, hạnh phúc rộn lên trong thơ Xuân Diệu “Ba chục năm dư được trở về/quê mừng mình lại đón mừng quê…/Nước không mất nưã, trời xanh thế/Đất hết chia rồi lộng bốn phương”. Đặc biệt cảm động là chuyến trở về với Tuy Phước, với Gò Bồi được Xuân Diệu ghi lại trong bài thơ “Đêm ngủ ở Tuy Phước”:

Đêm ngủ ở Tuy Phước để mà không ngủ

Những con dế cùng tôi thức suốt năm canh

Thức những ngôi sao, thức những bóng cành

Đêm quê hương thương cái hương của đất

Ngủ không được bởi gió nồm từ biển lên cứ nhắc:

– Trọn mình anh đã nằm giữa lòng tôi

Khi má anh sinh ra

Anh đã thở hơi nước mắm ngon của vạn Gò Bồi

Nên tới già thơ anh còn đậm đà thấm thía –

Nhà thơ Huy Cận, bạn thân nhất của Xuân Diệu, có nhận xét: càng về cuối đời, tình yêu quê mẹ của Xuân Diệu càng thiết tha, da diết, ông luôn muốn làm nhiều việc để đền đáp nơi sinh thành.

Có lẽ vì thế mà công trình nghiên cứu văn học lớn cuối cùng của Xuân Diệu là về danh nhân Đào Tấn, đồng hương Tuy Phước của ông.

Còn nhớ đó là khi giới nghiên cứu về Đào Tấn tuy đều đánh giá cao các sáng tạo tuồng bất hủ của cụ nhưng về con người, cuộc đời cụ, thì còn không ít nghi ngại, một số người còn mạt sát cụ thậm tệ về việc làm quan to của triều Nguyễn như một bằng chứng phản bội đất nước.  Xuân Diệu nghe được, rất bất bình và quyết định xung trận. Trong hội thảo lần thứ hai về Đào Tấn tại Quy Nhơn năm 1979, Xuân Diệu đã đăng đàn tới hơn một giờ đồng hồ với tham luận “Đọc thơ và từ của Đào Tấn”. Kiến thức uyên bác, tư liệu phong phú, phân tích tinh tế, lý lẽ sắc sảo, Xuân Diệu đã khắc họa chân dung Đào Tấn không chỉ như một “nhân tài nghệ thuật đặc biệt” mà còn là một nhân cách lớn, một con người hết mực yêu nước thương dân. Bằng một linh cảm thiên tài, chỉ qua lời của Tiết Cương, nhân vật tâm đắc của Đào Tấn, “Thế sự đoản ư xuân mộng/nhân tình bạc tợ thu vân/nghiến rằng cười cười cũng khó khăn/ôm lòng chịu chịu càng sung sướng”, Xuân Diệu đã nhận ra việc làm quan của Đào Tấn thực ra là một “chủ động lớn lao của người chấp nhận sự hy sinh và cảm thấy trong việc nằm gai nếm mật của mình niềm vui sướng của sự tự giác tự nguyện”. Những phát hiện của các nhà nghiên cứu lịch sử sau này đã chứng minh linh cảm của Xuân Diệu là hoàn toàn đúng. Đào Tấn không chỉ là một thiên tài nghệ thuật mà còn là một chính khách lớn. mẫu mực.

Tham luận đầy thuyết phục của Xuân Diệu đã là một “chiêu tuyết’ tuyệt vời cho những oan ức mà cụ Đào phải gánh chịu, là đòn quyết định làm câm bặt mọi ý đồ bôi nhọ cụ. Sau này, Xuân Diệu đã dày công phát triển tham luận trên thành một công trình nghiên cứu lớn và những dòng cuối cùng của công trình này được Xuân Diệu viết vào ngày 7/11/1985, chỉ trước khi ông trút hơi thở cuối cùng 11 ngày (18/12/1985)…

Nhà lưu niệm Xuân Diệu ở Gò Bồi Tuy Phước, Bình Định
Hội đua thuyền trên sông Gò Bồi

Theo FB




Hoài niệm thu về

Hoài niệm thu về bao vấn vương

Cho lá vàng phai những cung đường

Gió sương, lá úa bay khắp ngõ

Xơ xác hoa vàng đã nhạt hương.

Sương khói mờ bay chiều nhớ nhung

Trời thu giá buốt đến lạnh lùng

Buồn nghiêng theo lá rơi về cội

Viết nốt bài thơ lòng nhẹ rung.

Mùa thu vàng úa nét tiêu sơ

Gió lạnh sương bay phủ bóng mờ

Thiếu nữ nhà bên buồn tựa cửa

Nhớ thương ai? mà đứng ngẩn ngơ.

Người ấy! có lẽ ở rất xa

Thương sao! Thiếu nữ nhớ quê nhà

Mấy thu mưa gió trời xa lạ

Tình cũ tàn phai nhuộm bóng tà.

Lê Tuấn

“Người nghệ sĩ lang thang hoài trong tâm tưởng để viết mãi những vần thơ tình cho mùa thu hoài niệm.

Thung lũng hoa vàng. San Jose tháng 9 mùa Covid 2020”

———————————————————————————

Còn một chiếc lá

Bỗng nhận ra mùi lá

Nhẹ bay theo gió về

Sương giăng mờ phố vắng

Mùa thu đứng bên lề.

Em được mùa xúng xính

Quần áo rất điệu đàng

Ai ngoài kia đứng đợi

Bước vào thu nhẹ nhàng.

Thu còn bao nhiêu gió

Cành vơi nhiều lá khô

Cổ thụ già lớn tuổi

Còn chiếc lá chơ vơ.

Lê Tuấn

Người nghệ sĩ lang thang

Tháng 9 mùa Covid 2020.

Hình minh hoa với kỹ thuật photoshop lê tuấn

Ảnh tự chụp, trong công viên quốc gia miền bắc California, nơi đây là vùng rừng núi tuyệt đẹp Yosemite National Park. Tháng 10 mùa thu năm 2018.




Những ngôi nhà độc đáo khó xây

1.Ngôi nhà màu đen được xây dựng ở thung lũng Yucca – California – Mỹ . Một trong những thung lũng khô cạn nhất ở Bắc Mỹ . Với nhiệt độ thường xuyên vượt qua 49 độ C .

— Khi thiết kế , các kiến trúc sư gặp nhiều khó khăn bao gồm cả việc thiếu nước .

* Cửa sổ nhà làm bằng kính , kéo dài từ trần đến sàn giúp lấy ánh sáng phòng khách .

* Trong khi , các phòng ngủ nằm sâu dưới nền đất , để không bị nóng .

2. Được xây dựng trên một khung thép nổi tại hồ Huron ( nằm ở biên giới Mỹ và Canada ).

— Ngôi nhà bao quanh hoàn toàn bởi nước .

— Gia chủ chỉ có thể ra- vào bằng một chiếc cầu nhỏ , bắc liền bên cạnh .

* Nổi trên mặt nước , ngôi nhà có cấu trúc nền bằng thép kết hợp với cầu phao .

* Nhà được thiết kế 2 tầng , bên trong có cửa sổ toàn cảnh nhìn ra mặt nước .

3. Ngôi nhà được xây trên một mõm đá nhỏ cheo leo ở Valle d’ Aosta – Italy .

— Với mục đích là làm nơi trú ẩn cho những người leo núi .

— Nhà có thể phục vụ tối đa 8 người cùng lúc . Với nhà bếp , tiện nghi ăn uống và 8 giường riêng biệt .

* Nằm ở độ cao 3.280m so với mặt nước biển . Ngôi nhà có tầm nhìn ngoạn mục ra dãy núi hùng vĩ .

4. Ẩn bên trong bức tường của một hang động ở Vương Quốc Anh .

— Ngôi nhà được tạo ra bằng cách chạm khắc tay , trên vách đá sa thạch 800 năm tuổi .

* Hơn 70 tấn đá được khai quật để xây dựng công trình này .

5. Ngôi nhà được xây trên một đỉnh núi lửa đã tắt ( cách mặt đất 45m ) ở phía tây sa mạc Mojave – California – Mỹ .

— Nhà được thiết kế hình đĩa bay . Có diện tích 232m vuông , gồm 2 phòng ngủ và 2 phòng tắm .

* Trên đỉnh ngôi nhà có một đài quan sát , cung cấp tầm nhìn 360 độ ra các ngọn núi và sa mscj xung quanh .

6. Ngôi nhà trên đỉnh một tảng đá được xây dựng vào năm 1968 .

— Nằm gần thị trấn Serbia của Bajina Basta .

— Trong suốt 50 năm qua , ngôi nhà vẫn đứng vững trên đỉnh một tảng đá nằm giữa sông Drina




Kẻ sĩ đầy tiết tháo: LS Trần Văn Tuyên

Thũ Lãnh Việt Nam Quốc Dân Đảng/ Xứ Bộ Miền Nam.

Theo FB

“Tôi thà chết vì bàn tay của kẻ thù còn hơn sống yên thân trong sự khinh thường của đồng bào, của bạn bè, của đồng chí và đồng minh”. L/S Trần Văn Tuyên trả lời cho những người trong đó có các viên chức cao cậ́p Mỹ khuyên ông nên đi ra nước ngoài lánh nạn cộng sãn trong những ngày cuối tháng 4-1975.

“Tôi không có tội gì với tổ quốc và đồng bào của tôi cả. Nếu có tội thì đó chỉ là tội chống cộng sản, chống thực dân, chống độc tài và bất công”    đó là hàng chữ duy nhất trong bãn tự khai  trong nhà tù cộng sãn khi chúng nó bắt ông viết bãn tự khai lý lịch.

Trong lịch sử VNCH có hai người cao cấp trong chính quyền đã chết trong ngục tù cộng sản đó:

– Thủ Tướng Phan Huy Quát, chết trong nhà tù Chí Hoà 

– Phó Thủ Tướng Trần Văn Tuyên, chết trong trại tù khổ sai ở miến Bắc. 

Chúng tôi, những hậu duệ xin được phép vinh danh người lãnh đạo cao cấp của miền Nam trước 1975 

– Luật sư Trần Văn Tuyên là một trí thức, một luật sư, một nhà văn, một nhà chính trị yêu nước một nhân vật lịch sử, một chiến sĩ chống cộng đến hơi thở cuối cùng. Ông là một tấm gương đầy khí phách của một Thủ Lãnh Luật Sư Đoàn VNCH, một lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng trong những ngày cuối cùng của tháng 4/1975. Ông không di tản ra ngoại quốc, LS Tuyên đã khẳng định rằng mình “Thà chết vì bàn tay của kẻ thù còn hơn sống yên thân trong sự khinh thường của đồng bào, của bạn bè, của đồng chí và đồng minh” và ông cũng cho biết quyết định của mình như sau : .“Sinh ở đây thì chết cũng ở đây!”

Tìm Hiểu Về Cố Luật Sư TRẦN VĂN TUYÊN

Trước ngày 30-4-1975, LS Tuyên dù có nhiều phương tiện để xuất ngoại nhưng ông đã chọn ở lại và ông đã chết trong trại tù Hà Tây (Bắc Việt) ngày 26-10-1976. Luật sư Trần Văn Tuyên có 7 người con hiện tất cả đều ở hải ngoại. Người con trưởng là LS Trần Tử Huyền, cũng là nhà báo Linh Chi hiện ở vùng Bắc California. Trưởng nữ là bà Trần Đạm Phương, được biết nhiều trong các cuộc tranh đấu cho nhân quyền Việt Nam cũng như cho sự tự do của thân phụ lúc ông bị giam giữ tại Việt Nam. Ba người con trai cuối, các ông Trần Tử Thanh – một lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng, Trần Vọng Quốc và Trần Tử Miễn (một lãnh đạo VNQDĐ ở Pháp) đang theo hướng đi của thân phụ, hoạt động chính trị và tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Nhà báo Trọng Kim, chủ nhiệm, chủ bút báo Ngày Nay cũng là người trong gia đình LS Tuyên, từng giúp ông Tuyên trong việc liên lạc với báo chí ngoại quốc từ đầu thập niên 60 tới lúc mất miền Nam.

QUỐC DÂN ĐẢNG NGƯỜI NAM NƯỚC VIỆT

VÌ DÂN CỨU NƯỚC CÓ “TRẦN VĂN TUYÊN”

Nước NAM anh kiệt tiền nhân,

Bao người ái quốc vì đời cứu dân.

Quyết giành chính nghĩa Người NAM,

Bảo vệ nòi giống da vàng Việt Nam.

Thực dân tàn ác vô lường,

Chúng thường sát hại bao người thương dân.

Ngoại lai cộng sản tam vô,

Bất nhân một lũ tội đồ nội xâm.

Tri ân tưởng nhớ tiền nhân,

Noi gương ái quốc anh linh “Trần Văn Truyên”

Tinh thần nghĩa khí đấu tranh,

Lưu danh tiết tháo sử xanh muôn đời!!!

*****

LS TRẦN VĂN TUYÊN

( Quí Sửu 1913 – Bính Thìn 1976)

Luật sư Tuyên, một trong những người sáng lập Hội Hướng Ðạo Việt Nam, sinh ngày 1-9-1913 tại tỉnh Tuyên Quang, nguyên quán huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Ðông.

Học ở Hà Nội, tốt nghiệp Cử nhân Luật Ðại Học Luật Khoa Hà Nội, dạy học tại Trường Trung Học Thăng Long, tham gia hoạt động chống Pháp từ những năm 1930-1931. Năm 1942 ông bị Pháp bắt giam một thời gian vì “tội thành lập Ðảng Thanh Niên Hưng Quốc”. Sau khi được xử trắng án và tự do, ông thi đỗ ngạch Tri Huyện Tư Pháp, được bổ làm Tri Huyện huyện Thanh Miện, Hải Dương, đến năm 1944 thì từ chức.

Sau Tổng Khởi Nghiã Tháng 8 năm 1945, ông tham chính, giữ chức Ðổng Lý Văn Phòng Bộ Ngoại Giao Chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến. Ðầu năm 1946 ông lưu vong sang Trung Hoa, khi hồ chí minh lùng giết các đảng phái quốc gia.

LS Tuyên giữ chức vụ Tổng-Trưởng Thông-Tin vào năm 1949 trong nội-các của Tướng Nguyễn-Văn-Xuân, sau đó tham gia vào nội các Trần-Văn-Hữu (1949-1951) với chức vụ Bộ Trưởng Phủ Thủ-Tướng. Khi tham gia hội-nghị Pau để thương lượng với chính quyền Pháp trao trả chủ quyền cho Việt-Nam, LS Tuyên đã quyết liệt phản đối sự vi phạm trắng trợn các thỏa ước Pháp đã ký kết. LS Tuyên đã thẳng thắn nói với Cao-Ủy Pháp là Tướng De Lattre de Tassigny rằng ông ta không có quyền can thiệp vào nội bộ Việt-Nam và yêu cầu ông này rời khỏi phòng họp nội-các của chính-phủ Việt-Nam. Tướng De Lattre de Tassigny tức giận ra lệnh trục xuất LS Tuyên ra khỏi Việt-Nam. LS Tuyên đã tuyên bố:

“Không một người Pháp nào có quyền trục xuất một người Việt-Nam ra khỏi nước Việt-Nam”.

Năm 1950 ông về Sài Gòn, có thời làm Bộ Trưởng Bộ Thông Tin, năm 1950-1951 ông giữ chức Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng trong chính phủ Trần văn Hữu. Năm 1954 ông là Cố Vấn Ðặc Biệt trong Phái Ðoàøn Việt Nam (chính quyền Bảo Ðại) dự Hội Nghị Genève nhằm chấm dứt Chiến tranh Ðông Dương. Năm 1965 ông giữ chức Phó Thủ Tướng Ðặc Trách Kế Hoạch, năm 1967 ông là Dân Biểu Quốc Hội, Trưởng Khối Dân Tộc-Xã Hội tại Hạ Nghị Viện Sài Gòn, Cố Vấn Phong Trào Ðấu Tranh Cải Thiện chế độ Lao Tù, Thủ Lãnh Luật Sư Ðoàn Sài Gòn.

Năm 1965, LS Trần Văn Tuyên ra nhận chức Phó Thủ tướng cũng là lúc tình trạng chính trị và quân sự Việt Nam lâm vào hỗn loạn. Lúc ông lên nhận vai trò lãnh đạo cao trong hành pháp cũng là lúc quân Mỹ đổ bộ vào Đà Nẳng. LS Tuyên và Thủ-Tướng Phan Huy Quát chủ trương chống lại việc mang quân Mỹ vào Việt-Nam, nên chỉ sau 4 tháng cầm quyền chính quyền Phan Huy Quát đã bị thay thế vì sự khó chịu của phía Mỹ, nhóm bè phái trong quân đội và phía PG Ấn Quang cũng muốn loại trừ ông.

Trong thời gian ngắn ngủi làm Phó Thủ Tướng trong nội các Phan Huy Quát, LS Tuyên đã công du qua 10 nước Phi Châu và Toà Thánh La-Mã. Phái đoàn Việt-Nam do LS Tuyên lãnh đạo đã được đón tiếp trọng thể ở mọi nơi. Đức Giáo Hoàng Joan Paul VI đã không hạn chế giờ giấc để tiếp chuyện riêng với LS Tuyên. Tổng Thống Houary Boumedienne của Algeria đã tuyên bố: “Tôi đang tiếp một chiến sĩ cách mạng cùng chí hướng chống thực dân Pháp với tôi trước đây chứ không phải tiếp một Phó Thủ-Tướng của một nước. Cuộc công du trở về, Phái đoàn Việt-Nam đã hoàn trả lại cho công quỹ gần 50 ngàn đô la.

Vào năm chót của nền Đệ-Nhị Cộng-Hòa, LS Tuyên được bầu làm Thủ-Lãnh Luật-Sư Đoàn của Tòa Thượng-Thẩm Saigon (1975). Trong những giờ phút cuối cùng các luật sư đến xin giấy giới thiệu để di tản ra ngoại quốc, LS Tuyên sẵn sàng ký cho họ, nhưng cũng nói với các đồng nghiệp là mình quyết định ở lại. Bà Trần-Đạm-Phương theo chồng sống tại Mỹ đã được ít lâu, vào ngày 29.4.1975 điện thoại về để thuyết phục cha dời Viêt-Nam. LS Tuyên đã trả lời: “Thà chết vì bàn tay của kẻ thù còn hơn sống yên thân trong sự khinh thường của đồng bào, của bạn bè, của đồng chí và đồng minh”. Khi ô. Bùi Ngọc Lâm, một đồng chí, cùng hai người con trai của LS Tuyên là Trần Tử Thanh và Trần-Vọng Quốc đến trao công điện của bộ Ngoại Giao Hoa-Kỳ xác nhận đã dành đủ chỗ cho cả gia-đình di tản, LS Tuyên đã khẳng định rằng mình “…không phải là người đi làm bồi cho Mỹ. Sinh ở đây thì chết cũng ở đây…” Tuy nhiên LS Tuyên cho phép các con được tự do quyết định theo ý muốn của mỗi người.

Ngày17.6.1975, nhà cầm quyền Hà-Nội đã bắt LS Tuyên vào “trại cải-tạo” tại Long-Thành. Khi bị bắt buộc viết bản tự kiểm thảo, LS Tuyên vỏn vẹn chỉ viết có mấy hàng chữ dưới đây:“Tôi không có tội gì với tổ quốc và đồng bào của tôi cả. Nếu có tội thì đó chỉ là tội chống cộng sản, chống thực dân, chống độc tài và bất công”

Khi những hàng chữ này lọt ra ngoài lãnh thổ VN và xuất hiện trên các báo chí ngoại quốc, Ký giả Theodore Jacqueney trên trang nhất của tờ báo New York Times ra ngày 17.9.1976 đã gọi LS Tuyên là “Solzhenitsyn của Quần Đảo Ngục Tù Việt Nam” (Solzhenitsyn of Vietnam’s Gulag Archipelago). Đến ngày 5.10.1975, nhà cầm quyền Hà-Nội đã đưa LS Tuyên về một trại giam ở Thủ Đức. Đến tháng 4.1976 LS Tuyên được di chuyển bằng máy bay ra miền bắc và bị giam trong trại Hà Tây sau này đổi tên là Hà Sơn Bình. LS Tuyên chết đột ngột trong trại giam này vào ngày 26.10.1976. Khi qua Pháp vào tháng 6.1977 để xin viện trợ, Thủ Tướng Phạm-Văn-Đồng tuyên bố là ô. Trần-Văn-Tuyên vẫn sống và khoẻ mạnh vì sợ công luận thế giới. Năm 1977, Hội Ân Xá Quốc Tế tuyên xưng LS Tuyên là một tù nhân lương tâm. Đến ngày 19.5.1978, tòa Đại Sứ Hà-Nội tại Hòa-Lan chính thứ trả lời các tổ chức nhân quyền quốc tế là ô. Trần-Văn-Tuyên đã chết vì băng huyết ở trong não bộ. Trong số những người nhân chứng sống từng chứng kiến và đã mô tả cái chết đột ngột của LS Tuyên, họ đã tường thuật lại cái chết của LS Trần Văn Tuyên sau khi di tản khỏi Việt-Nam và hiện đang sống ở hải ngoại là các ông :Phan Vỹ, Thái-Văn-Kiểm, BS Trần Vỹ và BS Nguyễn-Văn-Ái.

LS Tuyên là người chủ xướng tờ báo Sao Trắng của Việt-Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) vào năm 1942. Sau này ông còn là một ký giả cộng tác với nhiều tờ báo trong nước như Thời-Luận, Chính-Luận, Quyết-Tiến, Đại Dân-Tộc, Tin Sáng, v.v. trong khoảng 1958-1975 dưới nhiều bút hiệu khác nhau: Chính Nghiã, XYZ, Trần Côn, v.v. Trong thập niên 40, LS Tuyên còn dùng bút hiệu Trần-Vĩnh-Phúc. Ngoài tiếng mẹ đẻ, ông còn rất thông thạo một số ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Quảng-Đông và tiếng Quan Thoại. Ngoài các báo Việt ngữ, LS Tuyên còn viết bài cho một số báo Pháp là Le Monde, l’Express, France – Asie, v.v

Luật sư Trần văn Tuyên qua đời trong trại cải tạo Hòa Bình ngày 26 Tháng 10, 1976, nhưng phía CS đã dáu nhẹm tin ông chết trong trại tù.

Các tác phẩm tiêu biểu của ông: 

  • Hiu quạnh (1944), 
  • Tình mộng (1953), 
  • Hội Nghị Genève ( 1954), 
  • Việt Nam dưới thời thuộc Pháp (1958), 
  • Chính đảng (1968), 
  • Người khách lạ ( 1969), 
  • Con đường Cách Mạng Việt Nam (1969)…

LS Trần-Văn-Tuyên đã dành cả cuộc đời của mình để tranh-đấu cho nền độc-lập của đất nước và quyền tự do và hạnh-phúc của dân-tộc, chống cộng triệt để, chống Mỹ đưa quân vào VN. Cuộc đời ông là bề dày của những cuộc tranh-đấu bền bỉ, mãnh-liệt, nhưng lại ôn hòa dựa trên căn bản dân quyền và nhân quyền, lấy ngòi bút, tiếng nói, diễn đàn quốc-hội và luật-pháp làm công cụ để đấu-tranh. Chỉ tiếc rằng khi chết đi, ước mộng của ông chưa thành. Sự ra đi của LS Tuyên là một mất mát to lớn cho tổ quốc Việt-Nam, một mất mát lớn cho hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông đã để lại trong lòng mọi người, cả bạn lẫn thù, một niềm tôn-kính sâu sa. Ông đã đi vào lòng đất mẹ do sự chọn lựa của chính mình, đã đi theo Nguyễn-Thái-Học và để lại tấm gương oai hùng muôn đời cho các thế-hệ mai sau. Xin được ghi lại lời nhắn-nhủ của chính LS Trần Văn-Tuyên viết trong Hồi-Ký Hội-Nghị Genève 1954 để thay đoạn kết: “Nhắc lại quãng lịch-sử quá khứ … tôi mong các bạn nhớ bài học lịch-sử để hiểu sự việc ngày nay và chuẩn bị công-việc ngày mai, để sẵn sàng ứng phó với những biến cố lịch-sử “.




MỘT CƠN GIẬN

Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến riêng của mình.
Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói:

Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.

Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.

Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay dằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:

-Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.

-Thầy cho sáu xu.

-Không, bốn xu là đúng giá rồi.
Tôi vừa nói vừa bước đi. Người phu xe đã có tuổi, cứ kéo cái xe theo sau tôi mà lẩm bẩm: “Bốn đồng xu từ đây về nhà bò”. Cái tiếng nhà bò anh ta nhắc đi nhắc lại làm cho tôi khó chịu. Tôi biết đó là một cách của các phu xe cứ đi theo sau khách để làm cho người ta bực tức, tôi lại càng ghét và quay lại gắt:

-Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:

-Lại đây đi mà.
Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:

-Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lại còn vẽ.
Anh xe cãi lại:

-Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!

-Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.

Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.
Tôi đoán không sai, chính là một cái xe hiệu “con lợn” cái tên hiệu cũng xứng đáng một hạng xe tàng ở ngoại ô mà tôi vẫn phải đi. Anh xe này đã vào đây kéo trộm, vì xe ngoại ô không được phép vào thành phố đón khách, nếu không tuân lệnh thì bị phạt từ ba đến bốn đồng bạc. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.

-Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.

Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền. Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:

-Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.

Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.

-Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân… Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:

-Lạy thầy… thầy nói giúp con… thầy làm ơn…

Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe.
Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:

-Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!

Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.

-Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?

Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Những khi nói chuyện với các phu xe khác, tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:

Tôi đi từ phố hàng Bún.

-Vậy phiền ông xuống xe.
Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:

-Allez! Đi về bót!
Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.

Tôi rung mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?

Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu. Qua ô Yên Phụ, nhìn thấy những thợ thuyền tấp nập làm việc dưới ánh đèn trong những căn nhà lá lụp xụp, tôi rảo bước đi mau, hình như trông thấy tôi họ sẽ biết cái hành vi khốn nạn và nhỏ nhen đáng bỉ của tôi ban nãy.

Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt.

Tôi nhất đinh đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình. Đến phố hàng Bột hỏi dò những người chung quanh xưởng xe, tôi biết được anh xe bị phạt đêm hôm ấy là tên Dư, và ở trong một dãy nhà quá ngã tư Khâm Thiên.

Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê.

Người phu xe Dư ở trong ấy. Một bà cụ già gầy giơ xương ngồi cắn chấy ở vệ hè chỉ cho tôi một cái cửa thấp bé ở đầu nhà. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:

-Bẩm thầy muốn gì?

Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đầy những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.

-Bác Dư có nhà không ?

Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.
Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:

-Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.
Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:

-Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:

Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dần số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không đuợc nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.
Người đàn bà ngồi trong cất tiếng ốm yếu nói theo:

-Nó còn bảo hễ không trả nó sẽ bắt lấy thẻ.

-Thế bây giờ bác ta đâu?
Bà cụ trả lời:

Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.
Tôi yên lặng, trong lòng náo nức
Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:

-Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?

Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, măt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thỏang lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.

Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.
Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhích lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.

Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rướm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bươc ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực.
Qua ngưỡng cửa, tôi va phải một người đàn ông ốm yếu tay cắp một cái áo quan con bằng gỗ mới. Đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà.
Đứa bé con đã chết.
Anh Thanh lặng yên một lát như nghĩ ngợi, rồi nói tiếp:

Cái kỷ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi mãi đến bây giờ, rõ rệt như các việc mới xảy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng. Và mỗi lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, lại thấy đau đớn trong lòng, như có một vết thương chưa khỏi.

THẠCH LAM




“Tiểu muội” Chu Đình

“Tiểu muội” Chu Đình
Ảnh: Nikkei Asian Review      

                                                                   

Máy quay các hãng truyền thông nhấp nháy liên tục khi cảnh sát thuộc lực lượng mới được thành lập còng tay và áp giải cô gái trẻ ra khỏi căn hộ của mình vào đêm thứ Hai 10-8-2020. Chu Đình chỉ vừa 23 tuổi. Cô là một trong những nhà bất đồng chính kiến đầu tiên bị bắt bởi Luật an ninh mới, với cáo buộc “thông đồng với các lực lượng ngoại bang”, nếu bị kết án, cô có thể phải đối mặt với án tù chung thân.

Một bức họa (chưa rõ tác giả) về Chu Đình

LÀM CHÍNH TRỊ KHI 15 TUỔI

Chu Đình thuộc thế hệ các nhà hoạt động dân chủ mới ở Hong Kong. Cô tham gia chính trị từ khi còn là một cô bé ở tuổi vị thành niên. Năm đó cô chỉ vừa 15 tuổi. Tiếng nói đấu tranh của cô ngày càng vang xa và vượt khỏi biên giới Hong Kong, gây khó chịu cho chính quyền Trung Quốc, giờ đây họ muốn dập tắt nó. Vụ bắt giữ Chu Đình đêm thứ Hai là vụ bắt giữ mới nhất trong các chuỗi dài những cuộc đối đầu giữa chính quyền Trung Quốc và những nhà đấu tranh ở Hong Kong.

Tại cuộc biểu tình Dù Vàng 2014 (HKFP)

Chu lớn lên trong một gia đình Công giáo không liên quan đến chính trị. Dẫu thế nhưng khi chỉ vừa 15 tuổi, cô đã quan tâm và dấn thân tham gia phong trào chống lại đề xuất đưa chương trình “giáo dục công dân yêu nước” theo ý muốn Bắc Kinh vào các trường học Hong Kong. Các học sinh ở Hong Kong khi đó sợ rằng kiểu giáo dục Đại lục sẽ bóp chết tinh thần khai phóng ở môi trường học thuật tự do Hong Kong với thâm niên hàng thế kỷ. Chu Đình và những thanh thiếu niên trẻ cùng chí hướng đã tổ chức những cuộc biểu tình khổng lồ để chống lại sự áp đặt giáo dục này và đã thành công. Chính quyền Hong Kong cuối cùng phải xuống thang và từ bỏ kế hoạch đưa chương trình “giáo dục yêu nước” vào giảng dạy. Cũng từ những cuộc biểu tình này, Chu đã gặp những người bạn đồng chí hướng, trong số đó có những gương mặt nổi bật khác như Hoàng Chi Phong (Joshua Wong) và La Quán Thông (Nathan Law).

Hai năm sau, Chu cùng bạn bè mình trở thành những gương mặt nổi tiếng trong “Phong trào Dù vàng”, với 79 ngày tọa kháng để phản đối việc Bắc Kinh từ chối cho phép người Hong Kong phổ thông đầu phiếu. Đây là cuộc biểu tình ôn hòa, nhưng thất bại. Dù vậy, một thế hệ trẻ mới đầy bản lĩnh chính trị ở Hong Kong đã được rèn giũa từ những thành công và thất bại đó. Lớp trẻ mới này là một cái gai đang nhú lên và bắt đầu ngày càng gây khó chịu cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Chu Đình và Hoàng Chi Phong trong cuộc biểu tình tháng 9-2014 (HKFP)

TIẾNG TĂM VANG XA

Năm 2016, Chu Đình, Hoàng Chi Phong, La Quán Thông cùng những bạn bè sinh viên học sinh khác chung tay thành lập Đảng ủng hộ dân chủ với tên gọi Hương Cảng Chúng Chí (Demosistō). Hương Cảng Chúng Chí không giống như các đảng ủng hộ dân chủ trước đây ở Hong Kong, những đảng được thành lập từ sau phong trào Thiên An Môn, Demosistō bao gồm những thành phần trẻ, mười tám đôi mươi hừng hực lửa, sẵn sàng lên tiếng đối đầu trực diện với Bắc Kinh để đạt được mục tiêu tranh đấu của mình.

Tuy nhiên con đường đấu tranh không hề bằng phẳng. Năm 2018, Chu Đình là một nhân vật đầu tiên của Đảng Demosistō bị cấm ứng cử trong các cuộc bầu cử địa phương vì Đảng của cô chủ trương “quyền tự quyết cho Hong Kong”. “Chính phủ bằng mọi cách muốn loại bỏ những đảng đối lập, nhưng dù bị trù dập và đàn áp, chúng tôi vẫn cương quyết bảo vệ nhân quyền và tự do” – Chu nói với đám đông biểu tình sau phán quyết cấm cô ứng cử của chính quyền.

Chu Đình đã rất thành công trong vai trò thu hút sự chú ý của quốc tế đến các phong trào dân chủ ở Hong Kong. Nhiệm vụ này thuận lợi một phần do cô thành thạo tiếng Anh, Quảng Đông và tiếng Nhật. Theo cô cho biết, cô tự học tiếng Nhật bằng cách xem truyền hình và các chương trình trên mạng. Nhờ vốn liếng tiếng Nhật của mình, cô đã thu hút được một lượng lớn người Nhật theo dõi trên mạng xã hội của mình. Tài khoản Twitter của cô với ngôn ngữ chủ yếu là tiếng Nhật có 458.000 người theo dõi.

Việc Chu bị bắt đêm 10-8 đã làm mạng xã hội Nhật Bản dậy sóng. Những người theo dõi và các tổ chức chính trị Nhật Bản đồng loạt lên tiếng phản đối việc bắt giữ Chu Đình. Vào thứ Ba 11-8, hashtag #freeagnes (thả tự do cho Chu Đình) là thẻ thịnh hành nhất mạng xã hội ở Hong Kong và Nhật Bản, được tweet 185.000 lần. Trang Facebook của Chu, sau khi đăng thông báo việc cô bị bắt vào đêm thứ Hai, đã tăng số lượng người theo dõi lên 192.000 người.

Trong một chiến dịch vận động tranh cử cho Demosistō năm 2018 (European Pressphoto Agency)

ĐƯƠNG ĐẦU LÀ SỰ LỰA CHỌN

Vận động quốc tế giờ đây đã trở thành một nhiệm vụ quá nguy hiểm ở Hong Kong. “Thông đồng với ngoại bang” là một trong bốn tội nghiêm trọng bị Luật an ninh nhắm tới, người vi phạm có thể bị kết án từ 10 năm đến chung thân.

Từ sau ngày bộ Luật an ninh quốc gia mới được ban hành vào ngày 30-6-2020 với những điều luật mơ hồ, việc loại bỏ những người đối lập chính kiến ở Hong Kong ra khỏi sân khấu chính trị dòng chính như Chu giờ đây trở nên một chuyện quá bình thường. Chỉ riêng tháng Bảy, đã có 12 nhân vật chính trị tranh đấu cho dân chủ bị cấm hoạt động vì quan điểm của họ bị cho là “không thể chấp nhận được”. Những vi phạm bị chính phủ dùng để truất quyền tham gia chính trị hợp pháp bao gồm chỉ trích luật an ninh mới hoặc đăng các khẩu hiệu phản đối lên mạng xã hội.

Các nhân vật của Đảng Demosistō đều hiểu rằng họ sẽ là mục tiêu của Luật an ninh một khi nó được ban hành. Họ đã nhanh chóng giải tán đảng vài giờ trước khi Luật chính thức có hiệu lực. La Quán Thông nhanh chóng rời khỏi Hong Kong để tỵ nạn tại Anh ngay tuần đầu tiên. Chu Đình và Hoàng Chi Phong chọn con đường ở lại Hong Kong bất chấp các rủi ro đang chờ đợi. Ngay cả trong trường hợp không liên quan đến Luật an ninh, những cáo buộc vi phạm khi tham gia các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ lớn năm 2019 cũng đủ đẩy họ vào tù. Tuy nhiên, những người tranh đấu chọn con đường ở lại với Hong Kong quan niệm, “Nếu không ai dám hy sinh cho tự do thì sớm muộn tất cả cũng sẽ bị vùi dập dưới gót giày chuyên chế”. 

Theo https://thenewviet.com/“tieu-muoi”-chu-dinh.html




Ephemeral stone art on the shores of the UK

By Land artist Jon Foreman

Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Stone Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art by Jon Foreman
Land Art

Jon Foreman Website




Under The Lover-Dưới Giàn Hoa Tím




Cờ tướng

Nghiên Cứu Lịch Sử

 · 

  • Tại sao trên bàn cờ Trung Quốc hai bên đều có năm quân Tốt?

Cờ tướng Trung Quốc đã ra đời trước đây hơn hai nghìn năm trong thời kì Chiến Quốc. Thời bấy giờ các nước chư hầu tranh cướp lãnh thổ và quyền lực của nhau, vì thế chiến tranh luôn luôn nổ ra.

Tiểu tốt là một binh chủng trong cờ tướng của Trung Quốc, mỗi bên đều có năm quân Tốt, cách bố cục như thế không thể tách rời khỏi ảnh hưởng của hình thức chiến tranh thời bấy giờ. Thời bấy giờ, hai bên đánh nhau chủ yếu dựa vào bộ binh, mà biên chế cơ bản trong quân đội là ngũ, đó tức là năm lính bộ binh thì họp thành một ngũ, tức là một đơn vị chiến đấu. Mỗi người dùng một trong năm thứ binh khí là cung, thù, mâu, qua, kích. Thế chiến đấu hoàn chỉnh với năm thứ vũ khí như thế này đã được phản ánh trong cờ tướng. Vì thế mỗi bên chơi cờ đều có năm con Tốt, bên đỏ có năm con Tốt, bên đen cũng có năm con Tốt.

Nội dung cờ tướng Trung Quốc đã có một quá trình biến hóa và phát triển. Chẳng hạn : người chơi cờ đời xưa đã tham khảo cờ vây của Trung Quốc, biến 60 ô thành 90 điểm. Đến đời Tống, theo với sự phát minh thuốc súng lại có thêm quân pháo, nhưng tình trạng mỗi bên chơi cờ có năm quân Tốt thì vẫn còn được giữ

  • Tại sao trên bàn cờ tướng Trung Quốc có “Sở hà, Hán giới”?

Các bạn đều thích chơi cờ, nhất là cờ tướng Trung Quốc thì càng được yêu thích. Trên bàn cờ tướng Trung Quốc có một dải trống, dùng làm ranh giới giữa hai bên đỏ và đen, trên dải này có ghi “Sở hà, Hán giới” (sông nước Sở, biên giới nước Hán).

Theo truyền thuyết, sở dĩ có vùng trống này là vì cờ tướng bắt nguồn từ cuộc chiến tranh giữa nước Sở và nước Hán, đã từng diễn ra trong lịch sử Trung Quốc. Năm 206 trước Công nguyên, sau khi nước Tần bị diệt vong, Hạng Vũ tự lập làm Tây Sở Bá vương và phong Lưu Bang làm Hán vương. Đến năm 203, Hạng Vũ mang quân tiến ra ngoài, Lưu Bang thừa cơ kéo quân tiến chiếm vùng Quan Trung và tiến thêm về phía đông. Hạng Vũ đem quân về đánh bại Lưu Bang. Lưu Bang bèn liên hợp các lực lượng chống Hạng Vũ ở các nơi, và lần nữa lại giằng co với Hạng Vũ. Trong hoàn cảnh thiếu lương thực, binh sĩ bị kiệt quệ đến cùng cực, Hạng Vũ phải nêu ra phương án “trung phần thiên hạ” tức là đem đất nước chia làm hai. Hai bên thương lượng với nhau và quyết định lấy Hồng Câu làm đường phân giới, phía tây con sông này thuộc về nước Hán, còn phía đông thuộc về nước Sở. Từ đó đã nảy sinh ra cách nói “Sở hà, Hán giới”.

“Sở hà, Hán giới” này ngày nay ở vào một dải phía đông bắc Vinh Dương ở tỉnh Hà Nam. Đất này phía bắc lên tới sông Hoàng Hà, phía tây dựa vào núi Mang Sơn, phía đông liền với Bình Nguyên, phía nam tiếp với Tung Sơn. Đó là vùng đất mà binh gia các thời đại ắt phải tranh giành với nhau. Ngày nay trên núi Quảng Vũ ở Vinh Dương vẫn còn lưu di chỉ của hai toà thành cổ đối diện với nhau từ xa. Toà thành phía tây gọi là thành Hán vương, còn toà thành phía đông thì gọi là thành Bá vương.

Truyền thuyết kể lại rằng hai toà thành này xưa kia do Lưu Bang và Hạng Vũ xây dựng. Giữa hai toà thành này có một con sông lớn rộng khoảng 300m tức là sông “Hồng Câu” mà người ta thường nói tới.

Khi sáng chế ra cờ tướng Trung Quốc, người ta cho rằng hai bên bố cục thành lũy rành rọt, tựa như con sông Hồng Câu được dùng làm đường phân giới cho hai nước Sở và Hán. Như vậy Sở hà Hán giới đã được đưa vào cờ tướng dùng làm đường phân giới giữa hai bên trên bàn cờ.

  • Cờ tướng Trung Quốc đã ra dời như thế nào?

Cờ tướng là một hoạt động tương đối phổ cập. Cờ tướng đã có lịch sử hết sức lâu đời, đại khái nó bắt nguồn từ trước đây hơn hai nghìn năm. Cuối thời kì Chiến Quốc, trong tập thơ cổ trứ danh Sở Từ đã có viết về cờ tướng. Thời bấy giờ đã thịnh hành một cách chơi gọi là “Lục bác”, mỗi bên có thể đi sáu quân cờ. Đồng thời ở đời Chiến Quốc, các nước chư hầu tách rời nhau và tranh đoạt đất đai của nhau, chiến tranh diễn ra hết năm này qua năm khác. Tình hình xã hội như thế này cũng đã tạo điều kiện cho cờ tướng ra đời. Mà trên bàn cờ “Sở giang (sông nước Sở) và “Hán giới” (biên giới nước Hán) đã có nguồn gốc từ thế kỉ II trước Công nguyên. Đó là do Lưu Bang và Hạng Vũ chống lại ách thống trị của nhà Tần, đi tới thành lập hai nước Sở và Hán.

Đời xưa cờ tướng đã được quảng đại nhân dân ham thích. Cách bố cục của cờ tướng cũng không ngừng được cải tiến. Đến đời nhà Đường, các quân cờ đã có những cái tên : Tướng, Mã, Xa, Tốt. Về cơ bản, cách đi các quân cờ này cũng giống như ngày nay.

Cờ tướng ngày nay đã được định hình vào cuối thời kì Bắc Tống và đầu thời Nam Tống. Nếu suy đoán theo trước tác của những người như Tư Mã Quang, thì dưới triều Bắc Tống đã lưu hành ba loại cờ tướng. Trong đó một loại có 32 quân cờ Tướng, Sĩ, Tượng, Mã, Xe, Pháo, Tốt. Bàn cờ chiều ngang và chiều dọc đều có 9 ô, không có sông. Nhưng đến đời Nam Tống thì thêm con sông ngăn bàn cờ làm đôi, và loại cờ tướng này được lưu hành rộng rãi trong dân gian.

Cuốn Sự lâm quảng kí của đời Tống còn có ghi bản “Tượng kì phổ” (sách ghin cờ tướng) sớm nhất mà hiện nay chúng ta còn có thể được xem.

Sang đến đời Minh, con Tướng ở một bên được đổi tên thành con Sư. Từ đấy cờ tướng Trung Quốc đã được định hình không thay đổi nữa.

Sau khi nước Trung Quốc mới được thành lập, cờ tướng được đưa vào các hạng mục thi đấu thể dục thể thao. Để phân biệt với cờ vua quốc tế, cờ tướng truyền thống được gọi là “Trung Quốc tượng kì” (cờ voi Trung Quốc).




Câu chuyện ma có thật

Người kể: Diễm Vy

Chuyện xảy ra gần 20 năm trước, khi tôi còn làm y tá của một bệnh viện trong một thành phố nhỏ ở tiểu bang Arizona.

Tối hôm đó, bệnh viện của tôi nhận một nhóm nạn nhân của một tai nạn xe hơi thảm khốc. Trên xe là bốn em học sinh đều ở lứa tuổi 17-18, cùng đi về với nhau sau sau bữa tiệc. Người lái xe 18 tuổi, say rượu và chạy xe quá tốc độ, lạc tay lái tông vào một chiếc xe tải đang đậu bên lề đường. Nhờ có thắt dây an toàn, người lái và em ngồi cạnh tuy bị thương nặng nhưng không nguy hiểm tính mạng. Riêng hai em ngồi sau, 1 nam 1 nữ bị thương rất nặng vì không thắt dây an toàn. Em trai bị chấn thương sọ não và chết ngay sau khi xe chở đến bệnh viện. Em gái hôn mê bất tỉnh phải mổ gấp, không biết có cứu được hay không?

Thật đáng buồn, em trai tử vong là một em gốc Việt, 17 tuổi, vừa tốt nghiệp trung học và đang sắp rời nhà để vào một trường đại học danh tiếng. Các em còn lại đều người ngoại quốc.

Lúc đó tôi đang làm tại khu ICU (Intensive Care Unit). Bệnh nhân tôi được giao đêm đó là em gái 17 tuổi của tai nạn vừa kể trên. Một cô bé người ngoại quốc, đẹp hay không thì tôi không biết vì cả khuôn mặt lẫn cái đầu tóc vàng của em đều tím bầm, sưng to như trái dưa hấu vì những cú va chạm kinh khiếp. Em đang được mổ não khẩn cấp trong phòng mổ.

Tôi được (hay bị) kêu vào phòng họp gấp để nhận một nhiệm vụ quan trọng.

Sau khi được biết nhiệm vụ của mình là gì, tôi nhăn nhó phản đối, “Tại sao lại là tôi? Đây là nhiệm vụ của bác sĩ mà!”

“Tôi biết, nhưng người nhà của bệnh nhân không biết tiếng Mỹ rành lắm, cô đi theo thông dịch cho bác sĩ, và ráng van xin họ giúp chúng tôi,” bà y tá trưởng năn nỉ.

Sau một hồi bàn qua tính lại, tôi lê bước đi theo ông bác sĩ đến phòng chứa xác của em trai Việt Nam mới tử nạn, với nhiệm vụ là cùng bác sĩ, năn nỉ gia đình người chết hiến tặng những bộ phận còn tốt trong cơ thể của em cho bệnh viện.

Một em trai 17 tuổi đang khỏe mạnh nhưng chết vì tai nạn, là một ứng cử viên tuyệt vời để làm người hiến tặng, vì hầu hết các bộ phận trong cơ thể em còn rất khỏe, rất trẻ, rất thích hợp để cứu sống các bệnh nhân đang chờ đợi để được thay các bộ phận trong người. Đó là lý do bệnh viện hết sức cầu xin gia đình.

Thời gian đó, đối với người Việt mình, khái niệm hiến tặng bộ phận cơ thể còn rất mới mẻ. Nếu không là cho người thân trong gia đình, hầu như rất ít ai hiến tặng cho những người không quen biết. Huống hồ gì, chuyện cha mẹ đồng ý hiến tặng các bộ phận trong cơ thể của con thì hình như chưa hề xảy ra. Có cha mẹ nào mà nỡ lòng nào làm như thế? Mất con đã đau đớn lắm rồi…

Chúng tôi gặp cha mẹ nạn nhân trong phòng đợi, trong khi người con đang được chờ quyết định để rút tất cả ống support bên trong, tôi bắt đầu trình bày lý do. Quả như tôi lường trước, cho dù có van xin, nài nỉ, giải thích cách mấy, bác sĩ và tôi chỉ nhận được những cái lắc đầu quầy quậy, ánh mắt oán ghét, và những lời xua đuổi.

Tôi lắp bắp xin lỗi rồi bước nhanh như chạy ra khỏi phòng.

Phòng ICU rất vắng lặng vì ở đây toàn những ca rất nặng.. Những y tá cùng trực với tôi đêm đó ai cũng bận rộn với bệnh nhân của mình nên chỉ có một mình tôi ngồi tại nurse station. Thường thì ở ICU, mỗi y tá lãnh hai bệnh nhân trong một ca. Nhưng đêm nay tôi chỉ có một, vì một bệnh nhân mới chuyển sang phòng thường. Bệnh nhân còn lại là cô gái đang trong phòng mổ, nên tôi cũng khá rảnh rỗi, cho đến khi ca mổ xong.

Bỗng nhiên tôi thấy hơi nhức đầu nên cúi gục vào lòng bàn tay một chút cho đỡ mỏi mắt. Khi tôi ngẩng đầu lên thì vụt một cái, thoáng có một bóng người mặc áo trắng lướt thật nhanh qua mặt.

 Tôi đảo mắt nhìn quanh. Không có ai cả!

Tôi vẫn thường thấy lao đao như vậy lắm, có lẽ vì tôi bị chứng bịnh thiếu máu kinh niên. Tôi dụi mắt nhìn kỹ lại một lần nữa, lần này thì thật sự có một bóng áo trắng đang từ từ tiến lại gần tôi.

Tôi dợm đứng dậy để nhìn cho rõ thì thấy có một cậu thanh niên Á Châu rất trẻ, gương mặt xanh xao mệt mỏi đang đi lại phía tôi ngồi. Cậu đi nhẹ nhàng như lướt trên không vậy, xuất hiện trước mặt tôi mà không gây nên một tiếng động. Cậu nhìn tôi, đôi mắt nâu hiền và ngây thơ đến nao lòng. Có vẻ như cậu đang bị lạc đường. Chắc là cậu đi nuôi người nhà bệnh và lạc từ khoa khác sang.

Thấy cậu đứng yên lặng không nói gì, tôi hỏi bằng tiếng Mỹ, “Em cần gì, tôi có giúp được gì cho em không?”

Lạ thay, cậu trả lời bằng tiếng Việt, “Em đi kiếm đồ!”

Giọng của cậu nhỏ và thanh, nghe văng vẳng như từ một nơi xa xôi nào đó vọng về.

“Em bị mất cái gì à?”

“Em làm rớt cái ví trong xe. Trong đó có một món đồ rất quan trọng. Chị kiếm dùm em nghe chị. Nhớ nghe chị…

Không đợi tôi trả lời, cậu quay lưng đi thật nhanh và khuất bóng sau góc quẹo.

Tự nhiên tôi cảm thấy lạnh buốt, cái lạnh từ trong xương lạnh ra. Tôi rùng mình. Lạ thật, Tháng Sáu Mùa Hè ở cái xứ sa mạc này nóng cả trăm độ. Cho dù máy lạnh có mở cũng chỉ vừa đủ. Chưa bao giờ tôi cảm thấy lạnh cóng bằng cái lạnh của hiện tại.

Đầu óc tôi quay cuồng và tiếp tục nhức. Chắc mình sắp bịnh rồi, tôi tự nhủ. Sao tự nhiên lại cảm thấy lạnh và nhức đầu quá. Tôi đứng lên định đi theo cậu bé nhưng rồi lại choáng váng ngồi phịch xuống một chiếc ghế.

Vừa lúc đó, một cô bạn đồng nghiệp từ đâu đi tới. Nhìn thấy sắc mặt tôi, cô la lên, “Oh my God! Trời ơi sao cái mặt cô xanh lè xanh lét thấy ghê quá. Are you OK?”

“Tôi thấy lạnh quá, cô lấy dùm tôi một cái áo lạnh được không?”

Cô bạn nhanh chóng đi lấy cho tôi một cái áo labcoat mới được giặt ủi và hấp nóng. Tôi mặc áo vào, ngồi co ro mà thấy vẫn còn lạnh, mồ hôi rịn ra hai bên thái dương.

Tôi uống thêm hai viên Tylenol. Một lúc sau, tôi thấy từ từ dễ chịu, và lại nghĩ đến cậu bé hồi nãy. Cậu ta là ai, làm sao biết cậu ở đâu, đi kiếm cái xe gì, và cái ví gì nữa chứ?

Cả khu ICU này có 6 phòng. Hiện giờ đang có năm bệnh nhân, mỗi người nằm một phòng. Tôi coi lại danh sách bệnh nhân viết trên bảng treo trên tường. Không có bệnh nhân nào người Việt. Vậy cậu từ khoa nào đi sang đây?

Tôi đi lòng vòng với hy vọng gặp lại cậu bé, nhưng hỏi thăm những nhân viên quanh đó xem có ai gặp một cậu bé người Á châu không, ai cũng lắc đầu không biết.

Thất vọng, tôi trở về khoa đúng lúc bệnh nhân của tôi đã được giải phẫu xong và chuyển về phòng ICU. Bác sĩ bảo em được cứu sống nhưng đôi mắt sẽ bị mù vĩnh viễn vì chấn thương quá nặng. Chỉ có một hy vọng duy nhất là được thay đôi mắt khác em mới có thể thấy lại ánh sáng.

Ba mẹ em ngồi bên giường trong khi em vẫn đang nằm thiêm thiếp. Ông bà yên lặng chắp tay cầu nguyện. Tôi không biết làm gì hơn là ngồi xuống bên cạnh và góp lời cầu nguyện trong lòng.

Người mẹ buồn rầu nói, “Tội nghiệp chúng quá. Rồi đây Jane sẽ ra sao khi tỉnh dậy và biết là người yêu của nó đã chết?”

“Người yêu của Jane là anh Việt Nam ngồi chung xe hả bà?” tôi hỏi.

“Đúng vậy, chúng nó yêu nhau lắm. High school sweethearts mà. Hai đứa đều học giỏi và có tương lai. Thế mà, chỉ qua một đêm, một đứa ra đi vĩnh viễn, một đứa trở nên mù lòa.” Bà sụt sịt khóc.

Tôi ngập ngừng, “Bác sĩ nói con bà còn có hy vọng thấy lại ánh sáng, nếu…”

“Vâng tôi biết! Nhưng ở đâu ra có cặp mắt để thay kia chứ? Nếu đó là cặp mắt của một người còn sống cho con tôi, tôi biết chắc chắn nó sẽ không chịu nhận. Nó là cô gái rất tốt, không bao giờ muốn làm khổ ai.”

“Nhưng nếu đó là cặp mắt của một người vừa mới mất thì hoàn toàn có thể dùng được, chỉ có điều…” tôi bỏ dở câu nói vì tôi biết chuyện đó sẽ không bao giờ xảy ra. Đừng bao giờ nên hỏi cha mẹ cậu bé Việt Nam thêm một lần nữa.

Như đọc được ý nghĩ của tôi, bà mẹ thở dài, “Cô y tá ạ, tôi biết nỗi đau của người mẹ mất con nó khủng khiếp như thế nào. Tôi không dám đòi hỏi gì thêm. Số phận con gái tôi bị mù thì tôi sẽ hết lòng chăm sóc cho nó. Con gái tôi có nghị lực lắm, tôi tin nó sẽ vượt qua…”

Xót xa nhưng cũng rất xúc động trước những lời nói của bà, tôi nhẹ nắm lấy tay bà. Vừa lúc đó, một ông cảnh sát đang rảo bước tới, trên tay cầm một bọc giấy. Ông hỏi tôi, “Người ta chỉ cho tôi là có một cô y tá người Việt ở đây. Cô nói được tiếng Việt chứ?”

“Dạ được. Ông cần gì không?”

“Tôi muốn nhờ cô đi với tôi đến gặp gia đình người tử nạn trong tai nạn xe chiều nay. Chiếc xe bị total lost. Trước khi xe tow kéo xe đi, chúng tôi kiểm tra trong xe và tìm thấy chiếc ví này rớt trong xe. Nó thuộc về người đã chết. Tôi muốn giao lại kỷ vật này cho thân nhân của cậu.”

Ví, xe, người tử nạn… những mảnh rời rạc của chiếc hình puzzle tự nhiên ráp nối lại với nhau một cách có trật tự. Tim tôi đập thình thịch và cổ họng tự dưng tắc nghẽn. Chân tôi bắt đầu run lập cập và tay thì nổi da gà. Sao giống y hệt những điều cậu bé kia vừa nói?

Không lẽ mình vừa gặp ma sao?

Tôi lắp bắp hỏi ông cảnh sát, “Ông có thể cho tôi xem qua chiếc ví được không?”

Ông ngần ngừ một chút rồi nói, “Cũng được, nhưng trong ví không có gì quý giá hết, chỉ có tấm bằng lái xe và một ít tiền mặt vậy thôi!”

Tôi tần ngần mở chiếc ví ra. Thật vậy, trong ví ngoài một ít tiền nhỏ chỉ có tấm bằng lái xe. Tôi tò mò nhìn vào tấm bằng lái và hoảng sợ làm rơi chiếc ví xuống đất. Trên tấm bằng là hình của cậu bé vừa đến gặp tôi ít phút trước đây. Với gương mặt gầy và cặp mắt nâu trong vắt thơ ngây như đang nhìn xoáy vào tôi, như muốn nói một điều gì.

Vậy ra cậu chính là người đã chết đó sao?

Một luồng khí lạnh chạy dọc theo sống lưng của tôi. Tôi thầm thì, nhắc lại lời của cậu bé khi nãy: “Trong ví này có một vật rất quan trọng…”

“Cô nói gì?”

Tôi lượm chiếc ví lên, mở ra xem lại và lật tới lật lui. Quả thật không có gì khác ngoài vài tờ giấy $10 và $5, cùng tấm bằng lái.

Tai tôi văng vẳng nghe tiếng của cậu bé, “chị nhớ giúp em nghe chị, nhớ nghe chị…”

Tấm bằng lái!

Tôi nhìn kỹ lại tấm bằng lái lần nữa. Đây rồi, vật quan trọng mà tôi cần tìm chính là tấm bằng lái này đây.

Trên bằng lái có tên, tuổi và hình chụp của cậu bé. Còn nữa, nằm ngay ngắn ở góc phải của tấm bằng là cái sticker nhỏ màu hồng, trên có dòng chữ “DONOR” màu đen in đậm nét.

Tim tôi đập thình thịch. Như vậy là, chính cậu đã run rủi cho sở cảnh sát tìm thấy chiếc ví rơi trong gầm xe trước khi xe bị kéo đi; chính cậu đã tìm đến tôi, và đưa đẩy cho ông cảnh sát gặp tôi để mọi người có thể biết được ý nguyện của cậu.

Thì ra ngay từ khi mới có bằng lái, cậu đã quyết định là nếu có điều gì xảy ra cho mình, cậu sẽ sẵn sàng hiến tặng những bộ phận còn tốt trong người cho tất cả ai đang cần chúng nên đã tình nguyện ghi tên làm người DONOR. Có phải cậu đến tìm tôi vì biết tôi là người chăm sóc cho người bạn gái thương yêu của cậu đêm nay và muốn nhờ tôi tìm cách để trao tặng cho cô gái đôi mắt của cậu như một kỷ vật cuối cùng?

Tôi chỉ vào chữ “DONOR” và nhờ vị cảnh sát xác minh lại với DMV.

Sau khi xác nhận là cậu bé Việt Nam chính thực đã ghi danh làm người “DONOR”, nhưng đồng thời vị cảnh sát cũng thông báo rằng theo luật pháp, vì cậu bé mất khi cậu chưa đủ 18 tuổi, nên quyết định cuối cùng, cho hay không, cũng vẫn là quyết định của cha mẹ.

Phái đoàn gồm các bác sĩ, cảnh sát cùng với tôi sau khi đưa chiếc ví lại cho cha mẹ cậu và thông báo về tất cả những sự việc trên cho họ.. Trong khi chờ gia đình cậu bé bàn thảo với nhau, chúng tôi đều lui ra ngoài đứng chờ.

5 phút, 10 phút trôi qua. Một bầu không khí yên lặng đến nghẹt thở.

Rồi cha mẹ cậu bé cũng bước ra. Người mẹ ôm mặt khóc, trong khi người cha nghẹn ngào nói với chúng tôi: “Thôi thì con tôi nó đã muốn như vậy, chúng tôi xin nghe theo ý nguyện của cháu. Xin bệnh viện giúp cháu làm tròn tâm nguyện, hãy giúp đỡ tất cả những ai đang chờ được giúp.”

Tôi bật khóc vì quá xúc động. Tất cả những người có mặt lúc đó đều khóc và cảm ơn cha mẹ cậu bé đã làm quyết định đau đớn và khó khăn nhưng rất cao cả này. Cảm ơn ông bà, tôi thầm thì. Trên cao kia, tôi biết cậu bé đang nhìn xuống và mỉm cười.

Những ngày sau đó, có ít nhất là cả chục bệnh nhân đang chờ thay thận, gan, tim, v.v… đã được cứu sống nhờ được ghép những bộ phận trong cơ thể cậu bé. Cô bạn gái cũng đã nhận được cặp mắt của cậu. Trên gương mặt trắng bóc và mái tóc vàng hoe, đôi mắt nâu trong veo luôn tỏa những tia sáng ấm áp dịu dàng. Đôi mắt như biết nói những lời yêu thương đến mọi người. Cậu bé đã ra đi mãi mãi, nhưng tình yêu quảng đại của em vẫn tiếp tục tồn tại.

Ngay sau cái đêm “gặp ma” trong bệnh viện đó, tôi đã suy nghĩ rất nhiều. Tôi về bàn với chồng, và vợ chồng tôi đã cùng đi đến quyết định là ra DMV để ghi tên tình nguyện làm người “DONOR.”

Nếu một mai có người nào phải ra đi trước, chúng tôi không muốn người thân mình ở lại phải suy nghĩ để làm những quyết định đau lòng thế cho mình.

Cát bụi rồi sẽ trở về với cát bụi. Thế thì tiếc làm chi cái xác thân tạm bợ này! Nếu sau khi mình ra đi mà vẫn còn có ích cho người khác thì đó chính là một niềm an ủi và hạnh phúc vô biên cho mọi người chúng ta rồi.

Diễm Vy

======================

Đỗ Thị Thuấn

hoangvan.club




LOÀI HOA CÓ HÌNH DÁNG NGỌT NGÀO NHƯ QUE KEM

Hoa Tulip không những là một trong các loài hoa phổ biến nhất thế giới , nhờ những cánh hoa rực rỡ mà còn là biểu tượng của mùa xuân .

Chúng ta đã quá quen thuộc với các loại hoa Tulip xanh , đỏ , tím , vàng … Nên có thể ít biết đến loài hoa Tulip độc đáo với cánh hoa trắng xen giữa cánh hồng . Khiến chúng trông giống như những que kem ngon lành .

Hoa có hình nón nằm trong chiếc bát màu hồng . Tuyệt đẹp phải không các bạn .

Yến Anh –  PetroTimes




DUY TÂN vị vua yêu nước thương nòi

“Chiều chiều trước bến Vân Lâu,

Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm!

Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông!

Thuyền ai thấp thoáng bên sông,

Nghe câu mái đẩy, chạnh lòng nước non!”

Tác giả 5 câu hò trên là “Ưng Bình Thúc Giạ Thị”, tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Bình (1877-1961), là một Hoàng Thân nhà Nguyễn, cháu nội của Tuy Lý Vương, đang nhắc đến một giai thoại bi tráng của lịch sử dân tộc.

Năm 1916, Trần Cao Vân và Thái Phiên ngồi giả câu cá để bí mật gặp vua Duy Tân bàn việc khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Chẳng may việc bất thành, nhà vua bị quân Pháp bắt và đày đến đảo Réunion.

Vua Duy Tân là con thứ 8 vua Thành Thái, tên húy Vĩnh San lên ngôi năm mới 7 tuổi, sau khi Pháp truất phế vua cha là Thành Thái.

Có giai thoại rằng, mùa hè năm nào vua Duy Tân cũng ra nghỉ mát ở cửa Tùng, một cửa biển đẹp, yên tĩnh, có bãi tắm bằng phẳng, cát trắng và mịn. Một hôm, nhà vua từ bãi tắm lên, hai tay còn dính cát, một thị vệ liền bưng lại một thau nước ngọt mời vua rửa tay, vua vừa rửa vừa hỏi: “Tay bẩn lấy nước mà rửa, nước bẩn lấy chi mà rửa?”.

Thị vệ lúng túng không trả lời được. Nhà vua bèn trả lời cho người thị vệ: “Nước bẩn thì lấy máu mà rửa! Hiểu không?”.

Theo sử sách, ngày 6/5/1916, vua Duy Tân bị thực dân Pháp bắt tại một ngôi chùa cạnh núi Ngũ Phong, đem về giam ở đồn Mang Cá, rồi sau đó đày ra đảo Reunion (châu Phi) cùng với cua cha ThànhThái

Khi bị giam ở Mang Cá, dù rất muốn duy trì thú vui đọc sách, tập thể dục, đánh đàn và nghe hòa nhạc… như thời trong cung, vua Duy Tân vẫn quyết không hạ mình, đòi Pháp một sự chiếu cố nào. Đến ngày nhà vua sắp bị dẫn lên tàu để vào Nam, bắt đầu cuộc hành trình đi đày, một viên đại diện của Khâm sứ đến thăm và hỏi: “Nhà vua có một quỹ tiền riêng lưu trữ tại kho nội vụ. Ngài có cần lấy một ít để đi đường không?”.

Vua Duy Tân đáp: “Tiền đó để cấp cho ông vua cai trị nước Nam, chứ không phải là của tôi – một người tù. Hơn nữa, chính phủ bảo hộ không chu cấp nổi cho một người tù hay sao, mà còn phải lấy tiền mang theo. Tôi không cần có tiền riêng”.

Viên đại diện toà Khâm sứ thấy vua thèm đọc sách, bèn hỏi: “Ngài có một tủ sách quý giá đến mấy ngàn cuốn bằng Pháp văn. Ngài có muốn lấy một bộ nào đem theo đọc cho khuây khỏa không?”. Vua Duy Tân gật đầu nhận ngay và dặn thêm: “Sách tôi rất thích. Nhờ ông lấy giúp bộ Histoires de la Révolution Française (Lịch sử cách mạng Pháp) của Michelet, nhưng phải lấy cho trọn bộ.

Vị đại diện toà Khâm sứ nghe thế sợ quá, không dám về báo cáo lại với phía Pháp.

Ngày 26-12-1945 vua Duy Tân mất trong một tai nạn máy bay ở xứ Bangui thuộc châu Phi.

Đến năm 1987, hài cốt của nhà vua được đưa về Việt Nam, cải táng bên cạnh vua cha Thành Thái.

./.

(ThaiNC sưu tập, tóm lược, và đúc kết)




CÁC TÁC PHẨM GIÀNH GIẢI CUỘC THI NHIẾP ẢNH DƯỚI NƯỚC

Nguồn : An Ngọc – theo Daily Mail .

* Edwar Herreno là nhiếp ảnh gia giành giải chung cuộc với tác phẩm ” Giải tỏa hy vọng ” .

— Bức ảnh này chụp cá mập đầu búa , ở ngoài khơi quần đảo Galapagos .

* Nhiếp ảnh gia Yung Sea Wu giành giải nhất , hạng mục ” Hành vi sinh vật biển ” với tác phẩm ” Mola Mola ” .

— Chụp ngoài khơi đảo Lembongan – Indonesia .

— Bức ảnh cho thấy , Cá Thái Dương ở độ sâu 37m . Rất dễ bị nấm và ký sinh trùng trên da . Nên đôi khi có những con cá nhỏ trợ giúp nó làm sạch trên thân .

* Tác phẩm ” Sự tò mò ” của nhiếp ảnh gia Joanna Smart giải nhất hạng mục ” Nước lạnh ” .

— Bức ảnh con hải cẩu đang tò mò trước ống kính . Chụp ngoài khơi đảo Anaeapa – California – Mỹ .

* Ảnh đẹp huyền ảo về con cá đuối đang lướt nhẹ dưới thợ lặn ở Hawaii .

* Nhiếp ảnh gia Paul Cox đặt tên là ” Vòng tay mở rộng ” giải nhất hạng mục ” Góc rộng ” .

* Khi lặn ngoài khơi Baja- California Sur – Mexico . Jacopo Brunnetti đã chụp được con cá mập mako dài 3m , đang khoe hàm răng sắc nhọn .

— Bức ảnh giải nhất cho hạng mục ” Chân dung tiếp cận ).

* Yannick Bruynoghe chụp được bức ảnh hiếm có về mập voi , đang bơi gần đàn cá nhồng tại rạn san hô Tubbataha ở Philippines .

— Tác phẩm mang tên ” Chào mừng đến với Tubbataha ” , giải nhất cho hạng mục ” Góc rộng nhỏ gọn ” .

* Tanen Atilgen khi đang lặn ở Biển Đỏ ngoài khơi Ai Cập . Đã chụp được ” Chiếc xe máy nổi tiếng của ThisHegorm ” . Anh cho biết , ý tưởng chiếu sáng chiếc xe máy trong xác tàu đắm ThisHegorm không phải là mới . Nhưng thật ra tôi đã chụp nó từ năm 2013 .

— Giải nhất cho hạng mục ” Xác tàu đắm ” .

* Khi đang lặn ngoài khơi bờ biển Batangas ở Philippines . Lars Michaelis chụp được bức ảnh 2 con tôm xương đang đánh nhau .

— Anh đặt tên là ” Tiếng vang trong rừng ” giải nhất cho hạng mục ” Marco ” .

* Uwe Schmolke chụp được khi đang lặn ngoài khơi bờ biển Bali – Indonesia .

— Bức ảnh con sên biển được đặt tên ” Vẻ đẹp ” giải nhất hạng mục ” Compact macro ” .

* Tác phẩm giải nhất hạng mục ” Hành vi nhỏ gọn ” thuộc về nhiếp ảnh gia Stan Chen .

— Bức ảnh chụp 2 con cá rồng , khi lặn ngoài khơi đảo Lembeph – Indonesia .

* Eric Hou chụp được bức ảnh bắt mắt này ở ngoài khơi bờ biển Batangas – Philippines . Giải nhất hạng mục ” Nước đen ” .

— Tác phẩm có tên ” Đỏ ” .

* Bức ảnh táo bạo có tên ” Bong bóng ” . Hạng nhất cho hạng mục ” Nghệ thuật dưới nước ” .

— Nhiếp ảnh gia Rodger Klein cho biết : anh có được bức ảnh này , trong một buổi chụp thử nghiệm tại hồ bơi ở bãi biển Venice – California – Mỹ .




THÁNH ĐƯỜNG MADONNA DELLA CORONA Ở ITALY

THÁNH ĐƯỜNG MADONNA DELLA CORONA Ở ITALY

* Thánh đường Madonna Della Corona ở Italy nổi tiếng thế giới , là nhà thờ cheo leo trên vách núi . Tách biệt với khu dân cư . Kiến trúc độc đáo của nhà thờ được xây dựng từ thế kỷ 16 , kỳ vĩ và cổ kính .

* Nằm trên vách núi đá Beldo , cao 550m . Thánh đường Madonna Della Corona là điểm đến của nhiều du khách . Nguyên do bởi đây là nhà thờ cheo leo trên vách núi đá có kiến trúc đặc biệt .

* Do thánh đường Madonna Della Corona nằm tách biệt với khu dân cư . Nên ở đây vô cùng yên tĩnh , thanh bình và không khí trong lành .

* Năm 1899 , mặt tiền nhà thờ được trùng tu theo phong cách kiến trúc Gothic .

* Trong suốt nhiều thế kỷ , Thánh đường Madonna Della Corona là nơi sinh sống và tu hành của các tu sĩ .

* Để lên đến Thánh đường Madonna Della Corona . Du khách phải đi theo đường bộ với  1.540 bậc thang bằng đá .

* Trên đường lên Thánh đường du khách có thể chiêm ngưỡng 14 bức tượng đồng . Và du khách phải mất 2 tiếng đồng hồ để đi từ dưới lên Thánh Đường Madonna Della Corona .

Theo Internet




Thời Phong Kiến thịnh trị, có phải con quan thì được làm quan?

Thời Phong Kiến thịnh trị, có phải con quan thì được làm quan?

(Cao Văn Thức)

Helios Thư Quán

 ·

Từ xưa đến nay, người đời thường nói “con quan thì lại được làm quan”. Nhưng ở các thời kỳ chế độ phong kiến thịnh trị thì có phải hầu hết con quan thì đều được làm quan hay không? Và muốn làm quan thì phải có những tiêu chuẩn nào? Chúng ta có thể tìm hiểu điều đó ở một nhà nước phong kiến gần với hiện nay nhất là triều Nguyễn thế kỷ XIX.

Nhà Nguyễn buổi đầu, sau khi tiêu diệt vương triều Tây Sơn, thì sử dụng quan chức là những người đã có công lao phò tá chúa Nguyễn trong chiến tranh hoặc một số cựu thần nhà Lê nhằm mua chuộc giới sĩ phu Bắc Hà.

Nhưng sau khi đã củng cố chính quyền vững vàng, ổn định được trật tự xã hội, thì vua Gia Long (1802-1819) đã cho mở khoa thi nho học để kén chọn nhân sự cho bộ máy nhà nước. Thời Gia Long mở được 3 khoa thi, cách nhau 6 năm (1807, 1813, 1819) và chỉ là thi Hương ở cấp địa phương để chọn hương cống và sinh đồ chứ chưa tổ chức được thi Hội ở cấp trung ương để chọn tiến sĩ.

Thời Minh Mạng (1820 – 1840) cho quy định lại 3 năm thi một lần và bắt đầu từ năm 1822 tổ chức thi Hội ở kinh đô để chọn tiến sĩ. Năm 1828, nhà vua cho đổi cách gọi học vị ở cấp thi Hương: hương cống là cử nhân và sinh đồ là tú tài. Thi Hương có tất cả có 4 kỳ tức 4 đợt hoặc 4 vòng loại), người nào đỗ 3 kỳ là tú tài, đỗ 4 kỳ là cử nhân.

Ai đỗ cử nhân thì được quyền thi Hội. Thi Hội cũng có 4 kỳ như thi Hương nhưng mức độ khó hơn rất nhiều; ai đỗ cả 4 kỳ thì được vào thi Đình để sắp xếp thứ bậc tiến sĩ(1). Từ năm 1829, nhà vua cũng cho lấy thêm những người có điểm thi gần sát điểm chuẩn tiến sĩ đệ tam giáp, ghi tên ở bảng riêng gọi là Phó bảng(2).

Những người thi đỗ cử nhân, phó bảng, tiến sĩ đều được triều đình bổ nhiệm ra làm quan. Tú tài muốn ra làm quan thì phải ôn luyện chờ ba năm sau thi lại để giật cho được cái cử nhân, có người thi nhiều lần cũng chỉ đậu lại tú tài. Có thể nói từ năm 1807 trở đi, nhà Nguyễn bắt đầu dùng khoa cử để tuyển chọn quan chức. Từ đó về sau, hầu hết quan chức đều xuất thân khoa bảng. Quan chức ngày đó đều có trình độ học vấn thực sự vì các khoa thi Hương, Hội được tổ chức nghiêm túc, khắt khe và tỉ lệ thí sinh thi đỗ rất ít ỏi. Thi Hương hàng trăm thí sinh thì mới có một người đỗ cử nhân, thi Hội hàng chục cử nhân mới có một người đỗ tiến sĩ. Ngày đó muốn đỗ đạt để ra làm quan đòi hỏi phải là những người thông minh, học giỏi và bền chí, kiên trì học tập trong suốt nhiều năm trời.

Thời phong kiến, người đỗ đạt khoa bảng rất được tôn vinh. Triều đình tôn vinh các nhà khoa bảng vì mục đích thu hút những người ưu tú vào guồng máy nhà nước, để họ đem tài năng phục vụ cho chế độ phong kiến. Xã hội tôn vinh người đỗ đạt vì họ là những người học giỏi làm rạng danh cho quê hương, xóm làng, là những ông Nghè (tiến sĩ), ông Cống (cử nhân) có địa vị cao quý trong xã hội. Người đỗ đạt nhưng chưa ra làm quan cũng đã có vai vế trong địa phương, được làng, tổng nể trọng. Người ra làm quan thì càng được trọng vọng, có địa vị cao quý trong xã hội. Làm quan từ tri huyện trở lên thì được ở trong dinh thự khang trang, đi ra ngoài thì được cưỡi ngựa hoặc ngồi võng điều, che lọng ngà giá trị như ngày nay đi xe hơi loại đắt tiền, có lính tráng theo hầu hạ… Và quan chức ngày xưa thì rất sang trọng, lịch lãm. Sự sang trọng ấy không phải vì cái vỏ bề ngoài (áo quần, võng lọng, ngựa xe…) mà ở nền tảng văn hoá bên trong con người họ. Nền tảng văn hoá được đào luyện từ tấm bé trong các gia đình nho giáo. Nên cái sang trọng của họ toát lên từ văn hoá, chứ không phải là những vật chất trang trí diêm dúa, loè loẹt, khoe mẽ bề ngoài của những kẻ trọc phú học làm sang.

Ngày trước, con quan mà muốn làm quan thì phải chịu khó học hành nghiêm túc, thi cử đỗ đạt. Con quan mà thi không đỗ thì cũng chỉ suốt đời làm thường dân mà thôi. Đơn cử một trong rất nhiều trường hợp tiêu biểu thời bấy giờ là gia đình Hoàng giáp Phạm Văn Nghị ở làng Tam Đăng, tổng An Trung, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn Tam Quang, xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Phạm Văn Nghị nổi tiếng học giỏi, thi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) năm 1838, làm quan đến Đốc học(3) rồi cáo quan về mở trường dạy học; ông có 5 người con trai thì một người đỗ Phó bảng, ba người đỗ cử nhân đều ra làm quan, còn một người không đỗ đạt thì ở nhà làm dân thường.

Thời Nguyễn luật lệ thi cử rất nghiêm khắc nên dù cho cha ông có làm quan chức cao cấp vẫn không thể can thiệp vào chuyện thi cử của con cháu. Luật “hồi tỵ” của triều đình đã quy định rõ là quan chức nào có con em dự thi thì không được ở trong hội đồng chấm thi nơi đó.

Và ở chốn trường thi thì rất sòng phẳng, con em người dân lao động nghèo khó hay con cháu quan chức cao cấp giàu sang thì cũng bình đẳng như nhau. Bài thi của thí sinh được rọc phách và qua hai vòng chấm sơ khảo, phúc khảo, rồi chánh chủ khảo, phó chủ khảo xem lại lần cuối trước khi quyết định công bố danh sách trúng tuyển. Sau đó bài thi và danh sách trúng tuyển phải đệ về kinh đô cho bộ Lễ xét duyệt lại. Vì vậy, trong hội đồng thi từ người cao nhất là ông chánh chủ khảo (chủ tịch hội đồng) cho đến thấp nhất là các ông chấm sơ khảo (vòng 1), người nào cũng phải làm việc nghiêm túc, cẩn thận và không dám “chấm mút” gì cả, vì sơ sẩy một chút là có thể bị tội: nhẹ thì bị giáng chức, cách chức, nặng có thể tù mọt gông hoặc tử hình. Đơn cử trường hợp chấm thi của nhà thơ Cao Bá Quát năm 1841 để thấy kỷ luật thi cử thời nhà Nguyễn khắc khe như thế nào. Năm đó Cao Bá Quát đang làm một chức quan nhỏ (Hành tẩu) ở bộ Lễ, được sung vào hội đồng giám khảo trường thi Hương Thừa Thiên. Trong khi chấm bài ở vòng 1, ông thấy có một số bài thi rất hay nhưng lại mắc đôi chút sai sót nhỏ phải bị đánh hỏng thật đáng tiếc; vì lòng liên tài nên ông đã bàn bạc với một vị sơ khảo khác là Phan Nhạ (bạn đỗ cử nhân đồng khoa với ông trước kia), dùng muội đèn chữa lại sai sót cho các quyển thi này. Nhưng rồi vụ việc phát giác, Cao Bá Quát bị bắt giam trong nhà ngục hơn một năm trời; ông bị thẩm vấn và tra tấn đòn roi rất tàn nhẫn. Cuối cùng ông cũng được tha vì dù vi phạm luật lệ nhưng là do tấm lòng quý trọng nhân tài chứ không có điều gì khuất tất, mờ ám trong việc chấm thi. Các quan khác trong hội đồng chấm thi ở trường Thừa Thiên năm đó cũng bị liên đới, nhiều người bị cách chức, giáng chức, đòn roi…

Con quan chức hay con dân thường mà đỗ đạt (cử nhân, phó bảng, tiến sĩ) thì đều được triều đình bổ dụng làm quan. Thăng tiến trên bước đường hoạn lộ chủ yếu là do tài năng của người đó, chứ không có chuyện cha ông quyền cao chức trọng “lót đường” cho con cháu ngồi vào những chức vụ béo bở như ở một số giai đoạn suy vi trong lịch sử.

Nhưng trong việc sử dụng nhân lực, nhà Nguyễn cũng có đôi chút “ưu ái” – được quy định rõ ràng bằng luật lệ – cho con cái các quan chức cao cấp, có công lao với triều đình. Quan chức cao cấp hàm nhất, nhị phẩm (Tổng đốc, Thượng thư…) thì con cái dù không đỗ đạt hoặc chỉ đỗ tú tài cũng được “tập ấm”(4) và ra làm quan. Tất nhiên là những người được “tập ấm” phải có học vấn, chữ nghĩa chứ loại dốt nát “đặc cán mai” thì không được chọn. Đơn cử một trong nhiều trường hợp tiểu biểu là quan Thượng thư (Bộ trưởng) bộ Công(5) là Đào Tấn, quê ở thôn Vinh Thạnh, tổng Thời Tú, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định (nay thuộc thôn Vinh Thạnh, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định); ông có nhiều con trai, trong đó có 3 người đỗ cử nhân và một người đỗ tú tài. Ngoài 3 người đỗ cử nhân được bổ làm quan, thì người đỗ tú tài cũng được “tập ấm” làm quan; mấy người con trai còn lại thì sức học yếu kém nên chỉ ở nhà làm thường dân mà thôi.

Tuy vậy, nhìn chung đa số những người được “tập ấm” mà ra làm quan thì đều lẹt đẹt ở chức vụ cấp thấp (phủ, huyện) rồi về hưu. Mà cũng phải thôi, triều đình cần những người thông minh, tài giỏi để cáng đáng việc nước, giữ những trọng trách của quốc gia, mà những người làm quan bằng con đường “tập ấm” chắc chắn là khả năng tầm thường vì sinh trưởng trong gia đình quan chức cao cấp, điều kiện học tập thuận lợi, thế mà họ không đỗ đạt hoặc chỉ đỗ làng nhàng (sinh đồ, tú tài) mà thôi.

Trong lịch sử, nhìn chung tỉ lệ con cháu quan chức đỗ đạt làm quan nhiều hơn con em người dân lao động. Như trên đã nói, thi cử thời Nguyễn rất sòng phẳng và công bằng nên không có chuyện “con ông cháu cha” tiêu cực như những thời loạn về sau. Cho nên con quan làm quan nhiều hơn con dân là điều hợp lý, vì xét ra con quan được cộng hưởng nhiều yếu tố thuận lợi hơn con em người dân lao động nghèo:

Thứ nhất, là “gien” thông minh di truyền của cha ông, dòng họ. Thời đó, muốn đỗ đạt làm quan thì phải thông minh, học giỏi.

Ngày trước, các cụ rất ý thức vấn đề “gien”di truyền, vì vậy trong chuyện hôn nhân con cái có quan niệm là phải “lấy vợ chọn tông, lấy chồng chọn giống”.

Những gia đình đỗ đạt khoa bảng thường thông gia với những gia đình tương đương như vậy. Đơn cử một trong rất nhiều trường hợp phổ biến thời bấy giờ: Gia đình Phó bảng Nghiêm Châu Tuệ ở tỉnh Hà Đông trước đây (nay thuộc Hà Nội) thông gia với hầu khắp các gia đình khoa bảng danh giá xứ Bắc Kỳ thời bấy giờ như Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền (Ứng Hoà, Hà Đông), Đình nguyên Tiến sĩ Nguyễn Đình Tuân (Hiệp Hoà, Bắc Giang), Phó bảng Nguyễn Tái Tích (Bất Bạt, Sơn Tây)… Con cháu sinh ra sẽ ảnh hưởng tư chất thông minh của cha ông hai bên nội, ngoại, cộng với những yếu tố khác sẽ học giỏi, đỗ đạt và nối được nghiệp nhà (làm quan), đem lại danh giá cho gia đình, dòng họ…

Ngày đó, những gia đình có truyền thống đỗ đạt khoa bảng được gọi là một cách tôn kính là đại gia, tức gia đình lớn theo nghĩa chữ Hán, chứ không phải chỉ những người giàu có như hiện nay. Ngày đó, những người giàu có mà không có học vấn, ít chữ nghĩa  thì người ta thường gọi là phú hào, hoặc xem nhẹ hơn là trọc phú. Gia đình khoa bảng thì không đời nào họ làm thông gia với gia đình trọc phú vì họ cho đó là hạng người thiếu văn hoá, xảo trá, tâm thuật không tốt. Ngược lại, gia đình khoa bảng, quan chức nhiều đời giàu sang vinh hiển nhưng sẵn sàng thông gia với một gia đình lao động nghèo nếu nhận thấy gia đình ấy nề nếp, đạo đức và có con trai học giỏi. Ví dụ Thượng thư bộ Học(6) là Cao Xuân Dục (quê ở Thịnh Mỹ, Diễn Châu, Nghệ An) đã gả con gái cho một anh học trò nhà rất nghèo nhưng học giỏi là Đặng Văn Thuỵ. Về sau nhờ sự hỗ trợ cả vật chất và tinh thần của gia đình vợ, Đặng Văn Thuỵ đã thi đậu Hoàng giáp Đình nguyên khoa thi Hội năm Giáp Thìn (1904) và làm quan đến Tế Tửu trường Quốc Tử Giám (tương đương Giám đốc Đại học quốc gia ngày nay).

Thứ hai, nhà quan thì đầy đủ sách vở tích luỹ từ nhiều thế hệ trước. Ngày xưa, điều kiện in ấn rất hạn chế nên sách vở in ra ít và khó mua. Vì vậy những nhà nho thường có ý thức sưu tầm và tích luỹ sách vở làm tài liệu học tập cho con cháu. Khoảng ba, bốn đời tích luỹ thì từ tủ sách nhỏ đã trở thành một thư viện gia đình với hàng nghìn cuốn sách. Ngày đó, hầu hết các gia đình khoa bảng đều có một thư viện riêng của gia đình. Ví dụ như quan Thượng thư bộ Học Cao Xuân Dục có 8 người con trai nên mỗi khi mua hoặc mượn được một cuốn sách có giá trị, cụ cho sao chép lại thành 8 bản để phát cho mỗi người con học tập. Thư viện Long Cương của gia đình cụ Thượng Cao thuộc loại lớn nhất xứ Nghệ, hoặc thư viện Hy Long của quan Tuần phủ hưu trí là Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng ở làng Hành Thiện, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định cũng là một thư viện tư nhân tầm cỡ bậc nhất xứ Bắc Kỳ thời bấy giờ với số lượng sách hàng vạn quyển “chứa đầy sáu gian nhà ngói”….

Ngoài việc sách vở đầy đủ thì các gia đình khoa bảng ngày trước đều có truyền thống học tập. Ông dạy cháu, cha dạy con, anh dạy em…và trẻ em được học tập từ rất sớm, khoảng 6, 7 tuổi đã bắt đầu học vỡ lòng. Nhiều nhà khoa bảng giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước, nhưng vẫn tranh thủ thời gian rảnh rỗi để rèn cặp con cháu; nếu quá bận việc quan thì họ mướn thầy đồ về nuôi trong nhà để dạy trẻ em học. Lớn lên đến tuổi thanh thiếu niên thì học trò con nhà quan có thể học tại nhà với cha ông hoặc được gửi đến học ở trường của các bậc đại khoa trong vùng hoặc địa phương khác, dùi mài kinh sử cho đến khi đỗ đạt.

Thứ ba, nhà quan có điều kiện kinh tế đầy đủ hơn nhà dân lao động nghèo. Những nhà khoa bảng làm quan chức vụ càng to thì lương bổng triều đình chu cấp càng khá, nếu vì những lý do khác nhau họ từ quan sớm về mở trường dạy học thì với uy tín và danh vọng, trường của các vị cũng thu hút được môn sinh theo học rất đông; vì vậy nhà quan có điều kiện kinh tế nuôi con ăn học thuận lợi hơn người dân lao động nghèo quanh năm đầu tắt mặt tối, cày thuê cuốc mướn vẫn không đủ ăn.

Thứ tư, đa số quan chức đều ý thức để Đức cho con cháu. Ngày ấy các nhà khoa bảng đại đa số khi ra làm quan đều thanh liêm, vì họ được rèn luyện đạo đức từ chốn “cửa Khổng, sân Trình” và do được giáo dục nền tảng như vậy nên họ rất sợ luật nhân quả, vì vậy họ không nhũng lạm hoặc làm những việc thất đức để di hại cho con cháu. Họ thường làm những việc tốt để đức về sau cho con cháu phát triển bền vững. Ví dụ một số trong hàng trăm trường hợp quan chức thanh liêm thời bấy giờ, ví dụ như Nguyễn Công Trứ làm quan đến Tổng đốc Hải An nhưng khi về hưu vẫn sống thanh bạch với một ít tiền hưu trí và dăm sào đất ruộng do triều đình ban cấp; Nguyễn Khuyến khi về nghỉ hưu mà gia sản vẫn chỉ là “ba gian nhà cỏ thấp le te”(7);

Hoàng Diệu làm quan đến Tổng đốc Hà Nội nhưng tiền lương dành dụm mãi cả hàng năm trời vẫn chưa đủ để lợp lại mái ngói ngôi nhà ở quê đã dột nát…

Hầu hết các gia đình quan chức này đều phúc bền, con cháu đều thành đạt ở những mức độ khác nhau và duy trì được sự phát triển bền vững về sau. Đơn cử hai trường hợp tiêu biểu nhất  trong hàng trăm trường hợp tiêu biểu của sự phát triển bền vững ở các nho gia đạo đức là gia đình Tổng đốc Hoàng Diệu ở làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam và Thượng thư Cao Xuân Dục ở làng Thịnh Mỹ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Gia đình cụ Hoàng Diệu gồm 7 anh em thì có 6 người đỗ đạt (1 Phó bảng, 3 cử nhân và 2 tú tài). Anh em cụ đều làm quan thanh liêm, con cháu về sau cũng thành đạt; trong đó người em trai của cụ Hoàng Diệu là cử nhân Hoàng Văn Bảng có những người cháu nội sau này là những nhà khoa học nổi tiếng như Hoàng Phê (ngôn ngữ học), Hoàng Quý (vật lý), Hoàng Kiệt (mỹ thuật), Hoàng Tụy và Hoàng Chúng (toán học)…trong đó Hoàng Tuỵ là nhà toán học đẳng cấp quốc tế.

Cụ Cao Xuân Dục làm quan đến Thượng thư, rất nhân hậu, giúp đỡ nhiều người khó khăn; cụ có 8 người con thì người con trưởng đỗ Phó bảng, một số người con thứ đỗ cử nhân, tú tài và ra làm quan. Người con trưởng là Cao Xuân Tiếu làm quan đến Thượng thư bộ Lễ(8), hàm nhất phẩm như cha. Khi cụ Cao Xuân Dục qua đời, người con gái là nữ sĩ Cao Ngọc Anh viết bài văn tế về người cha mình, có câu:

“Này ninh, này phú, này quý, này khang

Sống có hậu trời cho đủ phúc”…

Trong hàng cháu của cụ Thượng Cao nổi tiếng nhất là Giáo sư Cao Xuân Huy, nhà Đông phương học và trong hàng chắt nổi tiếng nhất là Giáo sư Cao Xuân Hạo, nhà ngôn ngữ học; ngoài ra còn hàng mấy chục cháu, chắt, chít đỗ kỹ sư, bác sĩ, tiến sĩ… trong và ngoài nước.

Thời kỳ chế độ phong kiến thịnh trị, giáo dục thi cử nghiêm minh, đào tạo ra được những quan chức có tài năng và nhân cách, đóng góp nhiều công lao cho đất nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá…mà tên tuổi còn lưu danh cho đến ngày nay. Con quan mà muốn làm quan, giữ những trọng trách của đất nước thì phải thông minh, học giỏi, thi cử đỗ đạt và yếu tố quan trọng nhất là phải có tài năng thực sự. Con cháu nhà quan ngày đó đi lên bằng đôi chân thật sự của mình chứ hoàn toàn không có sự “lót đường”, nâng đỡ tiêu cực từ thế lực cha ông. Mà có muốn nâng đỡ cũng không được vì cơ chế kiểm soát rất ngặt nghèo: luật pháp nghiêm khắc, cơ quan giám sát như Ngự sử đài thẳng thừng đàn hặc tội lỗi các quan từ trung ương đến địa phương, các quan chức đối trọng nhau trong triều sẵn sàng tố cáo đối thủ, và trên hết là nhà vua cần người tài giỏi để giúp vua trị nước nên trừng trị rất nặng những vụ việc bổ nhiệm bất chính…Vì vậy, nhà quan chỉ có cách duy nhất nâng đỡ con cháu thành đạt là cố gắng lo đầy đủ cơm áo, sách vở, thầy giáo…để đám trẻ có điều kiện học hành đến nơi đến chốn.

Ở những giai đoạn suy vi trong lịch sử, con cháu quan chức thăng tiến bằng sự “lót đường”, dựa dẫm vào thế lực cha ông thì chỉ là những bọn quan lại dốt nát, ăn tàn phá hại đất nước mà thôi.

——-

Chú thích:

1.    Học vị tiến sĩ triều Nguyễn cũng tương tự triều Lê ở thế kỷ XV-XVIII:

·       – 1. Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ (tiến sĩ hạng nhất) gồm: Đệ nhất danh (Trạng nguyên), Đệ nhị danh (Bảng nhãn), Đệ tam danh (Thám hoa). Thực tế triều đình không lấy đỗ tới Trạng nguyên, chỉ từ Bảng nhãn trở xuống. Thời Nguyễn chỉ có 2 người đỗ Bảng nhãn và 9 người đỗ Thám hoa.

·       – 2. Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (tiến sĩ hạng hai) còn gọi là Hoàng giáp: số lượng đỗ không hạn chế, khoa đỗ cao nhất là 4 người, khoa thấp nhất là 1 người; có khoa thi triều đình không lấy đỗ đến Hoàng giáp.

·       – 3. Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (tiến sĩ hạng ba) thường gọi tắt là tiến sĩ: số lượng đỗ không hạn chế, khoa đỗ cao nhất là 10 người, khoa thấp nhất là 2 người; khoa thi nào cũng có người đỗ ở bậc này.

Tất cả tiến sĩ 3 hạng trên đều được yết tên trên bảng chính (Giáp bảng) màu vàng, có vẽ hình rồng nên thường gọi là long bảng (bảng rồng) hoặc hoàng bảng (bảng vàng).

2.    Tiến sĩ lấy thêm, tên yết riêng ở bảng phụ (Phó bảng) màu đỏ.

3.    Đốc học là chức quan phụ trách giáo dục của một tỉnh, tương tự giám đốc Sở GD-ĐT hiện nay.

4.    Triều Nguyễn có lệ tập ấm: con quan hàm chánh nhất, nhị phẩm thì được phong phẩm hàm ở bậc tòng lục phẩm gọi là ấm thọ và được bổ nhiệm làm quan; còn các quan phẩm hàm ở bậc thấp hơn thì còn cái chỉ được tập ấm gọi là ấm sinh. Ấm sinh muốn làm quan thì

phải thi đỗ cử nhân trở lên.

5.    Bộ Công: phụ trách về xây dựng, giao thông; tương tự Bộ Xây Dựng và Bộ Giao thông vận tải hiện nay.

6.    Bộ Học: phụ trách về giáo dục; tương tự Bộ GD-ĐT hiện nay. Thời trước ngành giáo dục do bộ Lễ kiêm nhiệm, đến năm 1906, tách riêng giáo dục ra thành Bộ Học.

7.    Trích trong bài “Thu ẩm” của Nguyễn Khuyến (Nguyễn Văn Huyền chủ biên, Nguyễn Khuyến – Tác phẩm, NXB KHXH, 1984).

8.    Thời phong kiến độc lập, bộ Lễ phụ trách 3 khối: ngoại giao, văn hoá, giáo dục. Thời thuộc Pháp, bộ Lễ chỉ còn phụ trách về văn hoá; tương tự Bộ Văn hoá-Thể thao-Du lịch hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

1.    Nguyễn Ngọc Quỳnh, Hệ thống giáo dục và khoa cử Nho giáo triều Nguyễn, NXB Chính trị Quốc gia, 2011.

2.    Nguyễn Thế Anh, Theo dòng lịch sử, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2017.

3.    Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, NXB Văn Học, 1995.

4.    Nguyễn Q. Thắng, Khoa cử và giáo dục Việt Nam, NXB Tổng hợp TP.HCM, 2005.

5.    Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, NXB KHXH, 2016.

6.    Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Văn Học, 2015.

7.    Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, NXB Lao Động, 2011.

8.    Cao Xuân Dục, Quốc triều khoa bảng lục, NXB Văn Học, 2011.

9.    Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB Hồng Đức, 2012.

10. Lê Văn Giang, Lịch sử giản lược – Hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 2003.

11. Trần Thanh Tâm, Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn, NXB, Thuận Hóa, 1996.

12. Phạm Hồng Thái, “Tuyển dụng, sử dụng quan lại thời phong kiến Việt Nam và một số gợi mở”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, 04-01-2018.