Biển Xanh




Da Cao Cấp

Ngu Yên

Gần nửa thế kỷ sống ở Hoa Kỳ,

nếu bạn chưa gặp kinh nghiệm

bị kỳ thị,

chưa buồn lòng

vì chỉ khác màu da,

có lẽ,

bạn ngây thơ

hoặc ngu ngơ

hoặc giả vờ.

Kỳ thị là phản ứng tự nhiên:

thích hay không thích,

khinh hay không khinh,

sợ hay không sợ.

Kỳ thị là chuyện phải chấp nhận

dù không vui.

Kỳ thị không thể chịu đựng

khi đổ máu

khi tội hình

khi quá độ

khi mạng người bị diệt vong.

Người Việt kỳ thị có hạng trên thế giới.

Hầu hết người Việt già không thích da đen.

Đa số giới Việt trẻ bạn bè đa văn hóa

không phân biệt màu da,

chỉ phân biệt tốt xấu.

Khi người Việt ủng hộ kỳ thị,

có tự hỏi da mình màu gì?

Không thể hơn da đen,

Vì da Việt chưa có Louis Armstrong, Michael Jordan, Muhammad Ali, Whitney Houston, Beyoncé, Denzel Washington, Will Smith, Morgan Freeman, Whoopi Goldberg, George Washington, Alice Ball, Mae C. Jemison, Maya Angelou, Toni Morrison, Langston Hughes, Barrack Obama…

Không thể hơn da Mễ,

Vì da Việt chưa có Octavio Paz, Carlos Fuentes, Anthony Quinn, Jennifer Lopez, Victor Celorio, Victor Ochoa, Pacho Villa, Alfonso Garcia Robles, Mario José Molina…

Chỉ có thể hơn da bản thân.

Khi người Việt ủng hộ da trắng kỳ thị da màu,

đã tự quên mình là ai,

có lẽ,

vì ngây thơ

vì ngu ngơ

vì giả vờ

hoặc nửa nghi nửa ngờ da mình thuộc hàng cao cấp. 




Ý nghĩa niên hiệu của 12 vị vua triều Nguyễn

Việt Nam thời các hoàng đế trị vị, việc đặt và ban hành niên hiệu đều có liên quan mật thiết đến ý chí chính trị của hoàng đế. Bằng hình thức niên hiệu, hoàng đế đã đưa ý chí chính trị của mình thẩm thấu vào cuộc sống thường nhật của quốc gia.

Trước triều Nguyễn, hoàng đế Việt Nam không chỉ có một niên hiệu, thường có việc đổi niên hiệu. Sau chịu ảnh hưởng của đời Minh – Thanh, mỗi đời vua một niên hiệu. Triều Lê Trung Hưng bắt đầu thực hiện mỗi đời vua một niên hiệu. Đến triều Nguyễn thì chế độ này đã được cố định.

Triều Nguyễn có tổng cộng 13 vị hoàng đế, trừ vua Cung Tông kế vị ngắn ngủi 3 ngày ra không có niên hiệu, tổng cộng đã đặt ra 12 niên hiệu, trong đó niên hiệu Hiệp Hòa chưa được sử dụng. Các vua Việt Nam tuy đã nhạt nhòa theo lịch sử nhưng những niên hiệu mà họ để lại làm cho chúng ta sau hàng trăm năm vẫn cảm nhận được ý thức chính trị của họ.

Gia Long – Niên hiệu của vua Nguyễn Thế Tổ (18 năm, 1802 – 1819)

Nguyễn Thế Tổ Nguyễn Phúc Ánh là người sáng lập ra triều Nguyễn. Năm 1802, Nguyễn Thế Tổ đánh bại triều Tây Sơn, thu phục cựu đô Phú Xuân, Quảng Nam và đổi tên là Thuận Hóa. Năm sau, đổi niên hiệu Gia Long, lập ra triều Nguyễn. Đặt quốc hiệu là Nam Việt, về sau, triều Thanh sắc phong ông làm Nam Việt Quốc Vương.

“Đại Nam thực lục – đệ nhất kỷ” có ghi: “Lấy ngày 1 tháng 5 năm nay chiếu cáo thiên hạ, hôm sau chiếu cáo các Thánh, Kỷ Nguyên Gia, lấy kỷ thống nhất để biểu thị mới cái đức”. Ý nghĩa của cái tên Gia Long lấy từ cụm từ “Gia Định Thăng Long”, để bày tỏ ý nghĩa thống nhất thiên hạ (Việt Nam).

Sử Trung Quốc “Thanh sử cảo – Việt Nam truyện” có chép: “Nguyễn Phúc Ánh có được quốc gia nhờ Gia Định, Vĩnh Long binh lực nhiều, nên lấy hai tỉnh làm niên hiệu, gọi là Gia Long”. Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng niên hiệu của hoàng đế lấy ý nghĩa trong 2 từ Gia Định, Thăng Long. Bởi lúc đó khi triều Nguyễn vừa thiết lập, niên hiệu này cũng cho thấy hàm ý triều Nguyễn kế thừa triều Lê chính thống trị vị toàn bộ Việt Nam.

Giai đoạn Gia Long tại vị trị vì, tình hình Việt Nam dần ổn định. Ông đã tiến hành cải cách trên các lĩnh vực quân sự, hành chính, kinh tế, văn hóa, xây dựng lớn nhiều đô thành, đường xá. Tham khảo “Đại Thanh luật” của Trung Quốc, ông đã ban hành “Gia Long luật thư” (sách luật Gia Long), đương thời gọi là “Hoàng triều luật lệ”.

Cuốn “Quốc triều chính biên toát yếu” (bản tóm tắt chính biên triều đình) biên soạn trong những năm Duy Tân triều Nguyễn, đã đánh giá Gia Long Nguyễn Phúc Ánh là:

“Vua đã phục hưng sáng nghiệp, công lao và đức độ đều lớn, tạo phúc cho dân to lớn chưa từng có. Khi bắt đầu lập quốc, vua cho xây dựng thành quách, tu sửa lăng tẩm, dựng đàn Giao Tế, đàn Xã Tắc, ban thưởng tước lộc, mở khoa thi cử chọn nhân tài, chấn hưng lễ nhạc, trường học, định ra pháp luật chế độ, điều luật, bảo tồn dòng dõi nhà Lê, Trịnh, kéo dài chế độ thế tập cho công thần, ngăn quan tướng Tây Sơn, đề phòng cẩn mật Xiêm La, bao dung Chân Lạp, vỗ về Vạn Tượng, uy danh chấn động muôn phương, nhân đức bao trùm các nước nhỏ, quy mô che phủ rộng lớn xa xôi“.

Minh Mạng – Niên hiệu của vua Đại Nam Nguyễn Thánh Tổ (21 năm, 1820 – 1840)

Đại Nam Thánh Tổ, tên húy Nguyễn Phúc Đảm, lên ngôi năm Gia Long thứ 18 (1819), đổi niên hiệu Minh Mạng. Trong thời gian ông trị vì, quốc lực cường thịnh nhất. Sau này vào ngày Giáp Tuất tháng 3 mùa xuân năm Minh Mạng thứ 19, đổi tên quốc hiệu là Đại Nam. Niên hiệu Minh Mạng lấy từ sách “Thượng thư – Hàm hữu nhất đức”: “Khắc hưởng thiên tâm, thụ thiên minh mạng” (Được hưởng lòng trời, thì được cái mệnh sáng của trời).

Vua Minh Mạng là con thứ 4 của Nguyễn Thế Tổ Gia Long. Sau này, hoàng thái hậu Anh Duệ mất sớm, chuyển kế thừa cho con của hoàng hậu Thiên Cao, và coi ông là “đích tử”. Sau đó Nguyễn Phúc Đảm đổi tên thành Nguyễn Phúc Kiểu, được lập làm hoàng thái tử. Niên hiệu Minh Mạng cũng biểu lộ ngôi vị của ông là chính thống, ông lên ngôi là do thiên mệnh.

Trong thời gian vua Minh Mạng trị vì, ông đã tiến hành rất nhiều cải cách. Minh Mạng đã xây dựng thể chế quan lại hệ thống hóa mô phỏng theo triều Mãn Thanh, hoàn thiện chế độ khoa cử, xây dựng chế độ hành tỉnh, đưa triều Nguyễn vào giai đoạn cực thịnh. Một lòng mong muốn xây dựng Việt Nam thành đại đế quốc như triều Thanh, ông đánh nam dẹp tây, mở rộng cương thổ của Việt Nam lớn nhất, thôn tính sát nhập Cam Pu Chia và Lào.

Nhưng về đối ngoại ông lại thi hành chính sách bế quan tỏa cảng. Trong nước thì cấm truyền bá Cơ Đốc giáo, bức hại giáo sỹ, làm cho phương Tây ác cảm, bị người phương Tây gọi là “Nero phương Đông”, đã để lại một mối hậu hoạ sau này. Cuốn “Quốc triều chính biên toát yếu” đã đánh giá Minh Mạng:

“Vua với tư cách thánh thượng kế thừa đại đinh, dốc sức trị quốc, tô điểm thái bình. Học điển cố xưa, sửa sang lễ nhạc, cẩn trọng quyền lực, rà soát pháp luật chế độ, đặt khoa cử chọn nhân tài. Vua cày ruộng khuyến nông, cử quan tuần các tỉnh, đặt chức kinh sát để kiểm tra quan lại. Cho đến ngăn chặn kẻ thân cận lộng quyền, ngăn ngừa cảnh giới hoạn quan, lệnh hoàng thân quốc thích không được can dự việc bên ngoài, ý vua ngăn chặn tệ nạ từ khi còn manh nha ra rất sâu sắc. 21 năm lo nghĩ, cần mẫn, khoan thứ, việc chính sự luôn giữ hàng ngày, phàm tất cả sắc lệnh, phê duyệt, dụ chỉ, bố cáo đều tự vua viết. Bắt đầu dạy chữ giáo hóa các vùng man di, uy danh chấn động Xiêm La, Lào, thánh đức thần công, không thể kể hết“.

Thiệu Trị – Niên hiệu của vua Đại Nam Hiến Tổ (7 năm, 1841 – 1847)

Đại Nam Hiến Tổ Nguyễn Phúc Tuyền tên ban đầu là Nguyễn Phúc Miên Tông, con trai trưởng đích hệ của vua Minh Mạng. Năm Minh Mạng thứ 21 (năm 1840) lên ngôi, niên hiệu Thiệu Trị. Thiệu Trị kế thừa đế quốc Đại Nam hùng mạnh, lãnh thổ bao gồm cả Cao Miên (Cam-pu-chia), Vạn Tượng (Lào)… Để bày tỏ kính trọng cha – vua Minh Mạng nên định niên hiệu là Thiệu Trị, với ý nghĩa là “Thiệu tiên hoàng Minh Mạng chi Trị” (Nối nghiệp trị vì của tiên hoàng Minh Mạng).

Thời gian trị vì Thiệu Trị tôn trọng không thay đổi cách trị vì của vua cha, giữ lại các phép cũ. Về thái độ với phương Tây, Thiệu Trị cũng giống y như vua cha Minh Mạng, có thái độ bảo thủ và đối địch với các nước phương Tây, nhưng trong những năm Thiệu Trị cấm thiên chúa giáo có hòa hoãn hơn thời Minh Mạng. Thiệu Trị tiếp tục các chính sách của vua Minh Mạng, thưởng cho những người bắt các giáo sỹ phương Tây, và đưa các giáo sỹ bị bắt về Thuận Hóa giam giữ, lệnh cho họ dịch các sách phương Tây. Sau này người Pháp bắn pháo đánh Đà Nẵng. Vua Thiệu Trị nổi giận, lại tuyên bố lệnh cấm Thiên Chúa giáo, và tăng cường đàn áp giáo đồ Thiên Chúa giáo trong nước.

Tự Đức – Niên hiệu của vua Đại Nam Dực Tông (36 năm, 1848 – 1883)

Đại Nam Dực Tông Nguyễn Phúc Thì tên gốc là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, con trai đích hệ của vua Thiệu Trị (con trai thứ 2), năm Thiệu Trị thứ 7 lên ngôi, năm sau đổi niên hiệu là Tự Đức. Trong “Đại Nam thực lục đệ tứ kỷ” viết, nghĩa của Tự Đức là “Tự tiên hoàng Thiệu Trị chi Đức” (kế thừa đức của vua cha Thiệu Trị).

Trong thời gian Tự Đức trị vì, nước Đại Nam dần dần suy yếu, người Pháp xâm nhập, xâm chiếm mấy tỉnh phía nam, ký hiệp ước bất bình đẳng, Việt Nam dần dần trở thành thuộc địa Pháp. Về văn hóa, cũng như vua cha coi trọng giáo dục văn hóa là Nho gia, biên soạn nhiều bộ sách sử như “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, và viết “Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca”… Niên hiệu Tự Đức là niên hiệu sử dụng lâu nhất của triều Nguyễn. Các vua kế vị sau là Nguyễn Cung Tông và Hiệp Hòa cũng dùng niên hiệu này.

Tự Đức qua đời tháng 6 năm Tự Đức thứ 36, con nuôi trưởng của ông là Nguyễn Cung Tông Nguyễn Phúc Ưng Chân kế vị, nhưng kế vị được 3 ngày thì bị quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết soán cải di chiếu phế bỏ, và cũng chưa đặt niên hiệu. Sau khi Nguyễn Cung Tông bị phế, quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lập con thứ 29 của vua Thiệu Trị là Lang Quốc Công Nguyễn Phúc Hồng Dật lên ngôi, đổi tên là Nguyễn Phúc Thăng, sửa niên hiệu từ năm sau là năm Hiệp Hòa thứ nhất.

Hiệp Hòa 

Hiệp Hòa có xuất xứ từ sách “Thượng thư – Nghiêu điển” là “Hiệp Hòa vạn bang, lê dân ư biến thời ung” (hòa hiệp với vạn nước thì nhân dân thời biến loạn sẽ trở lại yên bình hài hòa). Đại Nam lúc này đã tơi tả thảm hại, vua mới hy vọng dưới sự trị vì của mình có thể hòa hiệp với nước Pháp, để nhân dân an định. Nhưng vua Hiệp Hòa chỉ là bù nhìn, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết chuyên quyền khiến vua hết sức bất mãn, muốn tiếp nhận chính sách bảo hộ do người Pháp đưa ra để chống lại đại thần phụ chính cường thịnh.

Sự việc bị Nguyễn Văn Tường biết và tấu bẩm Từ Dụ thái hậu. Ngày 29 tháng 11 năm 1883 đảo chính, Tường giết chết Trần Tiễn Thành và phế truất vua Hiệp Hòa, sử sách gọi là phế đế. Vì kế vị 4 tháng vẫn trong năm Tự Đức thứ 36, niên hiệu Hiệp Hòa vẫn chưa chính thức sử dụng.

Kiến Phúc – Niên hiệu của vua Đại Nam Giản Tông (1 năm, 1884).

Đại Nam Giản Tông tên húy là Nguyễn Phúc Hạo, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, là con nuôi của Tự Đức (con thứ 3). Quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết sau khi phế giết vua Hiệp Hòa, ngày 30 tháng 11 năm 1883 lập Giản Tông, đổi niên hiệu là Kiến Phúc. Trị vì 1 năm, thời gian đó Việt Nam và Pháp ký “Hiệp ước Thuận Hóa thứ 2”, Việt Nam trở thành nước bảo hộ của Pháp. Việt Nam đem ấn vàng Việt Nam Quốc Vương do triều Thanh ban nấu chảy, tuyên bố thoát ly quan hệ triều cống với triều Thanh.

Hàm Nghi – Niên hiệu của vua Đại Nam Xuất Đế (năm 1885, phong trào Cần Vương sử dụng đến năm 1889)

Vua Hàm Nghi tên húy là Nguyễn Phúc Minh, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng, con của Kiên Thái Vương. Vua Kiến Phúc mất, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết chuyên quyền không muốn để con nuôi thứ 2 của Tự Đức Nguyễn Phúc Ưng Kỳ lên ngôi, bèn đưa em trai Nguyễn Phúc Ưng Kỳ là Nguyễn Phúc Ưng Ủng lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Hàm Nghi. Hàm Nghi có nguồn gốc từ “Thi Kinh”: “Cảnh viên duy hàn thụ mệnh hàm nghi, bách lộc thị hà” (Núi Cảnh Sơn có sông lớn bao quanh, triều kế thừa triều Thương là thu mệnh trời, tất cả đều thích hợp, trăm lộc đều có cả). Nó phản ánh khát vọng cho nhân dân được yên vui của Hàm Nghi.

Khi vua Hàm Nghi trị vì, Việt Nam đã là thuộc địa của Pháp, người Pháp đối với hoàng thất cũng rất kiêu căng ngỗ ngược. Vua Hàm Nghi được Tôn Thất Thuyết phò tá lấy danh nghĩa hoàng đế ban “Cần vương chiếu”, và xin Mãn Thanh sắc phong, hiệu triệu nhân dân các địa phương nổi dậy chống sự thống trị của người Pháp. Các nơi khắp Việt Nam ào ào khởi binh hưởng ứng. Phong trào nổi dậy chống sự thống trị của người Pháp này được đời sau gọi là phong trào Cần Vương. Sau đó Hàm Nghi bị phản đồ bán đứng cho Pháp, bị bắt và lưu đày ở Algeria.

Đồng Khánh – Niên hiệu của vua Đại Nam Cảnh Tông (4 năm, 1885 – 1888)

Đại Nam Cảnh Tông tên húy là Nguyễn Phúc Biện, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng Thị, là con nuôi thứ 2 của vua Tự Đức, năm Tự Đức thứ 35 được vua Tự Đức sắc phong làm Kiên Giang Quận Công. Sau khi vua Hàm Nghi ra đi phát động phong trào Cần Vương, chính quyền thuộc địa Pháp để vỗ về dân chúng đã thương lượng cùng Từ Dụ thái hậu lập Kiên Giang Quận Công Nguyễn Phúc Ưng Thị làm hoàng đế.

Thế là ngày 9 tháng 8 năm Hàm Nghi thứ nhất, đổi tên theo tên đế hệ là Nguyễn Phúc Biện và làm lễ tấn quang, ngày 10 lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Đồng Khánh, từ ngày 22 tháng 5 năm Hàm Nghi thứ nhất đổi là năm Ất Dậu Đồng Khánh, năm sau bắt đầu gọi là năm thứ nhất. Đồng Khánh có nghĩa là “Trung hưng đồng khánh” (phục hưng lại, tất cả đều vui mừng).

Lúc này triều Nguyễn hoàn toàn phụ thuộc vào Pháp nên để che giấu màu sắc thuộc địa, nên xưng là vua Đồng Khánh và người Pháp hợp tác khôi phục trung hưng Đại Nam. Vua Đồng Khánh tự nhận là “Quả nhân khôi phục lại hưng thịnh”, Đồng Khánh kế vị dưới sự bảo hộ của người Pháp tuyên bố Đại Nam là “Quốc thái dân an, phổ thiên đồng khánh” (Quốc thái dân an, khắp trời đều vui).

Thành Thái – Niên hiệu của vua Thành Thái

Vua Thành Thái tên húy là Nguyễn Phúc Chiêu, tên gốc là Nguyễn Phúc Bửu Lân, là con của Cung Tông. Năm Đồng Khánh thứ 3 vua Đồng Khánh qua đời, Khâm sứ Trung Kỳ người Pháp Lê-na đưa Nguyễn Phúc Bửu Lân lên ngôi, và đổi tên theo tên đế hệ là Nguyễn Phúc Chiêu, đổi niên hiệu là Thành Thái. Thành Thái có nguồn gốc từ “Dịch Kinh” là “Thái, tiểu vãng đại lai, cát hanh. Tắc thị thiên địa giao, nhi vạn vật thông dã” (Thái, đi nhỏ về lớn, tốt lành. Tức là trời đất giao hòa, vạn vật hanh thông). Có ý nghĩa là quẻ Thái là trời đất giao hòa mà Thành. Thái có nghĩa là an định.

Vua Thành Thái lên ngôi chú ý đến quốc sự, đi thị sát dân tình. Trong thời gian trị vì, thể hiện tương đối thân thiện với xã hội phương Tây, cũng là vị quân vương Việt Nam đầu tiên học lái xe, cắt tóc ngắn theo kiểu phương Tây. Tuy chịu ảnh hưởng của giáo dục nước Pháp sâu sắc, nhưng ông cảm thấy đau buồn vì quốc gia mình bị người Pháp khống chế. Năm Thành Thái thứ 17 (1907), vua Thành Thái bổ nhiệm một số quan lại mà chưa được sự đồng ý của chính quyền thực dân Pháp, làm cho người Pháp không tín nhiệm ông. Thế là Khâm sứ Trung Kỳ người Pháp phế truất vua Thành Thái.

Duy Tân – Niên hiệu vua kế tiếp Đại Nam (10 năm, 1907 – 1916)

Vua Duy Tân tên húy là Nguyễn Phúc Hoảng, tên gốc là Nguyễn Phúc Vĩnh San, là con trai vua Thành Thái. Năm Thành Thái thứ 17, Nguyễn Phúc Vĩnh San mới 8 tuổi được lập làm hoàng đế, đổi tên là Nguyễn Phúc Hoảng, đổi niên hiệu là Duy Tân, Duy Tân có nguồn gốc từ sách “Thượng Thư” là “Hàm dữ duy tân” (Tất cả đều được đổi mới), với ý nghĩa là Đại Nam dưới sự bảo hộ của người Pháp, đất nước đổi mới, mọi người dân được an lạc.

Trong thời gian vua Duy Tân trị vì, người Pháp kiêu căng ngỗ ngược, vua Duy Tân cực kỳ căm ghét. Cuối tháng 4 năm 1916 (năm Duy Tân thứ 10), vua Duy Tân bí mật gặp các thành viên của Việt Nam Quang Phục Hội, lên kế hoạch đảo chính. Nhưng đảo chính thất bại. Người Pháp dự định đưa vua Duy Tân trở lại hoàng thành làm hoàng đế, nhưng vua không muốn làm bù nhìn. Thế là vua Duy Tân và vua cha bị lưu đày ở đảo Reunion.

Khải Định – Niên hiệu của vua Đại Nam Hoằng Tông (10 năm, 1916 – 1925)

Tên húy là Nguyễn Phúc Tuấn, tên gốc là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, là con của vua Đồng Khánh. Ngày 18 tháng 5 năm 1916 (ngày 27 tháng 4 năm Duy Tân thứ 10) Nguyễn Phúc Bửu Đảo được thực dân Pháp lập làm hoàng đế Việt Nam, đổi niên hiệu là Khải Định. “Khải” là khai mở, “Định” là bình an, an định. Vì 2 vua Thành Thái, Duy Tân làm trái ngược ý chí của người Pháp, Khải Định mang ý nghĩa cam chịu làm bù nhìn cho người Pháp nên đặt niên hiệu là Khải Định. Trong thời gian trị vì ông đã ban bố nhiều pháp lệnh có lợi cho người Pháp. Ông cũng giống cha ông không nhận được nhiều thiện cảm của người dân Việt Nam.

Khi trị vì, Khải Định đã đến Marseille Pháp, tham gia triển lãm các nước thuộc địa Pháp. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, hoàng đế xuất ngoại thăm viếng. Nhưng chuyến đi Pháp này bị mọi người chê trách. Sau khi vua Khải Định lên bờ cảng Marseille, thì gặp phải sự phản đối của nhóm người Việt lưu vong ở Pháp.

Bảo Đại – Niên hiệu hoàng đế cuối cùng

Vua Bảo Đại, hoàng đế cuối cùng của Việt Nam tên húy là Nguyễn Phúc Thiển, tên gốc là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. Năm Khải Định thứ 10 (1926), Khải Định tạ thế, ông kế vị làm hoàng đế, đổi niên hiệu là Bảo Đại. Bảo Đại lấy từ “Tả Truyện – kỳ lục nhật” là “Tuy vạn bang, lũ phong niên, bảo đại, định công, an dân, hòa chúng” (Dẹp yên vạn nước, liên tiếp được mùa, giữ được vị trí nước lớn, lập công đức, làm dân yên ổn, hòa hợp với tất cả mọi người), ngụ ý là kéo dài phúc tộ nhà Nguyễn, lập công dựng nghiệp.

Các vị Vua triều nhà Nguyễn




Chuyện Cây kiếm của vua Hàm Nghi

Và nghi án Nguyễn Phúc Hồng Bảo

Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi, nhân rảnh rỗi bàn luận thế sự. Tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.

Trong giây phút cảm khái theo dòng lịch sử của gia tộc, anh kể tôi câu chuyện thâm cung bí sử sau đây về nghi án của Nguyễn Phúc Hồng Bảo.

“Lúc còn nhỏ ở Huế, tôi không sống cùng Ba Mạ mà sống cùng ông bà nội. Ôn Mệ cưng tôi lắm, nhứt là Ôn. Tôi muốn gì cũng được, thích gì cũng có. Tuy vậy, tôi vốn là một thằng bé ngoan, không đòi hỏi hay nghịch phá gì quá đáng nên hình như không có vấn đề gì. Chỉ một lần duy nhứt, vâng, một lần duy nhứt tôi bị Ôn bắt nằm xuống nã cho mấy roi.

Ở với ôn mệ, tôi được tự do tung tăng nhà trên xóm dưới, bất cứ chỗ nào muốn chơi đùa phá phách gì cũng được, chỉ chừa một chỗ duy nhứt Ôn dặn dò tôi không được đụng tới, đó là dưới gầm bàn thờ. Ôn tôi để một số đồ đạc gì của dòng họ dưới đó, tôi không biết.

Dĩ nhiên tôi rất vâng lời và không hề xâm phạm tới vùng cấm đó. Nhưng chỉ được một thời gian, sau khi đã nhàm chán và quen thuộc với khắp mọi nơi trong nhà, tôi bắt đầu tò mò và để ý đến vùng bí mật dưới bàn thờ mà bao lâu nay bao giờ cũng được một lớp vài điều che khuất. Trí tò mò của tôi trỗi lên mãnh liệt đến nỗi một hôm không dằn được, đợi Ôn Mệ đi vắng tôi vén màn chui vô xem.

Không có gì cả, ngoại trừ một số sách báo cũ từ thời nào. Chỉ có một cái hộp bằng gỗ cũ kỷ, chạm trỗ tương đối khá tinh vi, dài chừng một mét.

Nếu có điều gì bí mật, chắc chắn phải nằm trong cái hộp này. Tôi nhìn một hồi rồi không dằn được, mở ra, và thấy một thanh kiếm.

Một thanh kiếm rỉ!

Tôi ngạc nhiên vô cùng vì cái vật mà ôn tôi giữ kín và tôn trọng như gia bảo lại là một thanh kiếm tầm thường không có gì đặc biệt, giống như con dao dùng trong nhà dài hơn một chút, và bị rỉ sét trông thật xấu xí.

Tôi thất vọng lắm, tuy nhiên óc tò mò đã được thỏa. Tôi bỏ thanh kiếm vào hộp trả về chỗ cũ và lẳng lặng chui ra.

Nếu câu chuyện cây kiếm đến đây là hết thì tôi đã không bị một trận đòn, và không biết khi nào mới biết đến một lịch sử độc đáo của gia tộc.

Số là lũ con nít chúng tôi trong xóm vẫn tụ họp chơi đùa chia phe đánh nhau hằng ngày. Choảng nhau bằng tay hay súng miệng nổ đoành đoành hoài cũng chán. Một hôm tụi tôi quyết định một trò chơi mới. Cũng là chia phe đánh nhau như mọi khi, nhưng lần này tụi tôi sẽ… đánh kiếm. Mỗi thằng về nhà tự chặt tre hay kiếm một thanh gỗ nào đó tạo cho mình một thanh kiếm. Thằng nào siêng thì làm thêm cái bao cho thêm phần le lói, còn không thì cây kiếm tre thắt ngang lưng cũng oai phong lẩm liệt chán.

Tôi cũng định tự mình làm một cây kiếm tre. Nhưng hôm đó không hiểu phải đi đâu hay sao đó mà không thể làm xong. Đến giờ điểm quân chuẩn bị chiến tranh mà chưa có kiếm. Tôi bỗng nghĩ tới cây kiếm dưới bàn thờ và không suy nghĩ thiệt hơn gì nữa, sẵn dịp Ôn Mệ qua nhà hàng xóm ăn kỵ, tôi vào bàn thờ mở hộp lấy luôn cây kiếm và dông một mạch đến chỗ tụi tôi đã hẹn chia phe quyết chiến.

Dĩ nhiên cây kiếm của tôi tuy trông xấu xí và rỉ sét, nhưng vẫn là cây kiếm thật và rõ ràng là một chiến tướng giữa một bầy kiếm tre yếu ớt chỉ đáng làm quân sĩ. Đêm đó, vì vậy, tôi được bầu làm chủ tướng một phe.

Ỷ có cây kiếm sắt, tôi mặc sức tung hoành chiến trận vì mấy cây kiếm gỗ hay kiếm tre địch quân chạm vào kiếm của tôi không gãy cũng bị… cong hay mẻ, nên chúng nó chạy te hết. Phe tôi chiến thắng vẻ vang.

Sau chiến trận, tôi hối hả chạy về nhà để trả thanh kiếm về chỗ cũ.

Nhưng than ôi, thật là tai bay vạ gió.

Thanh kiếm tôi dắt sau lưng nãy giờ đã không còn nữa. Chắc là đã rơi trên đường chạy về mà không hay.  Tôi sợ quá muốn trở lại kiếm nhưng đường từ nhà tôi tới bãi cỏ nơi chúng tôi chiến đấu khá xa, và trời thì đã tối mịch biết đâu mà mò ?  Nên đành lặng câm vô nhà ngủ, và định bụng sáng mai sẽ dậy thiệt sớm trở lại đường cũ kiếm cây kiếm.

Nhưng có lẽ là định mệnh.

Sáng đó tôi ngủ quên và thức dậy khá trể.

Một thằng bạn trong nhóm đánh nhau hôm qua đi đâu sáng sớm nhặt được cây kiếm đem tới nhà trả ngay …ông nội tôi.

Không còn đường chối cãi.

Lần đầu tiên tôi bị Ôn la một trận tơi bời và phạt quỳ gối.

Tôi biết mình có lỗi, nhưng vẫn ấm ức vì nghĩ rằng cây kiếm vẫn còn đó đã mất đâu? Vả lại đó chỉ là cây kiếm cũ kỷ không có giá trị gì cả mà sao Ôn quý nó như vậy!

Càng nghĩ tôi càng tủi thân. Nghĩ rằng Ôn thương cây kiếm hơn là thương tôi. Vì vậy tôi đâm ra hờn dỗi không ăn uống gì cả mấy bữa liền, cứ ngồi khóc tủi thân…

Thấy tôi cứ tấm tức, Mệ nội dắt tôi tới trước bàn thờ chỉ bức ảnh lớn treo trên tường hỏi tôi có biết đó là ai không?

Tấm ảnh này dĩ nhiên tôi vẫn thấy hằng ngày. Đó là bức họa chân dung một người đàn ông bán thân, đầu đôi mão có vẻ như một ông quan. Tôi lúc đó chỉ biết mang máng là ông tổ của nhà tôi, còn ông là ai tên gì tôi cũng không hề biết.

Mệ tôi trịnh trọng nói rằng người đó là  AN PHONG CÔNG Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là hoàng tử trưởng của vua Thiệu Trị, mà theo lẽ phải lên làm vua nước Việt Nam sau khi vua Thiệu Trị băng hà.  Nhưng dĩ nhiên trong lịch sử thì Hoàng tử thứ Nguyễn Phúc Hồng Nhậm đã lên ngôi, tức là vua Tự Đức.

Và bà kể cho tôi nghe một câu chuyện năm xưa có liên hệ đến lai lịch của gia tộc nhà tôi.

Ngày đó, thật ra mệ tôi chỉ kể một cách đơn giản rằng hoàng tử Hồng Bảo là con lớn nhất, đáng lẽ phải được lên ngôi vua, nhưng vì mẹ là Đinh Thị phạm tội nên bị đuổi về làm thứ dân (tội gì thì mệ tôi cũng không biết). Cả đến họ Nguyễn của hoàng tử Hồng Bảo cũng phải bị đồi sang họ Đinh là họ mẹ. Cho nên ông Cố tôi là con của hoàng tử Hồng Bảo đã từng có thời mang họ Đinh của mẹ lưu lạc trong dân gian, mà đúng ra nếu vẫn giữ họ Nguyễn sẽ có vai vế chữ “Ưng” theo thứ tự “Đế Hệ Thi” của nhà Nguyễn hoàng tộc là

Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh

Bảo Quý Định Long Trường

Hiền Năng Kham Kế Thuật

Thế Thoại Quốc Gia Xương

Nhưng nếu vậy tại sao ông nội tôi không mang họ Đinh, mà trở lại họ Nguyễn?

Mệ kể rằng khi vua Hàm Nghi thoát ly khỏi kinh thành Huế truyền hịch Cần Vương để chống lại thực dân Pháp, ông Cố của tôi, về vai vế cũng như tuổi tác là vai anh của vua Hàm Nghi, đã vì lòng yêu nước đặt việc công trên việc tư đáp ứng hịch Cần Vương của vua dấn thân chống Pháp. Hai anh em đã nhận nhau trong thời gian kháng chiến chống Pháp này.

Đến đây tôi tạm mở một dấu ngoặc về nghi án Hồng Bảo

Sự việc hoàng tử Hồng Bảo tại sao bị thất sủng và con cháu phải đổi sang họ mẹ vốn là một nghi án lớn của triều Nguyễn.

Dòng họ tôi từ xưa đến nay vẫn truyền miệng cho con cháu rằng:  Hoàng tử Hồng Bảo tuy là con trưỏng, nhưng mẹ Định Thị lại là vợ thứ, và xuất thân dân giả. Hoàng tử thứ hai Hồng Nhậm tuy nhỏ hơn vai em, nhưng lại là con của chánh phi Phạm thị của vua Thiệu trị (Nhà Nguyễn không phong chức Hoàng Hậu cho vợ của vua lúc còn sinh tiền). Do đó, đã có sự đấu tranh giữa hai bà. Họ đã làm gì, đó là bí mật thâm cung bí sử. Chỉ biết rằng mẹ con Đinh thị và Hồng Bảo đã thất thế nên bị kết tội và đuổi về làm dân. Hoàng tử Hồng Nhậm lên ngôi thành vua Tự Đức.

Đó là trong gia tôc tôi kể lại như vậy. Sử sách chính thức đối với việc này hình như không thấy ghi lại. Có chăng là những sử liệu nghiên cứu đã đưa khá nhiều giả thuyết và nghi vấn khác nhau.

1-  Có tài liệu ghi rằng Hoàng Tử Hồng Bảo tuy là trưởng, nhưng là một người ham chơi biếng nhác không đủ tài làm vua. Vua cha Thiệu Trị thấy rõ điều này nên trước khi băng hà đã ủy thác lại cho trọng thần Trương Đăng Quế lập Hoàng tử thứ hai Hồng Nhậm vốn tinh anh mẫn cán, xứng đáng làm vua hơn anh.

2- Tài liệu khác cho rằng vua Tự Đức vốn là con của ông quan Trương Đăng Quế này đã đánh tráo vào cung từ nhỏ. Cho nên có dịp là ông Trương Đăng Quế đã thi hành thủ đoạn sửa đổi di chiếu của vua Thiệu Trị truất phế Hồng Bảo lập Hồng Nhậm lên làm vua.

3- Hoàng Tử Hồng Bảo tin rằng mình bị sang đoạt ngôi báu nên đã âm mưu làm phản mong chiếm lại ngôi. Mưu đồ thất bại, Hồng Bảo bị bắt, được vua Tự Đức tha chết chỉ giam vào ngục. Con cháu của Hồng Bảo đều bị đuổi làm thứ dân mang họ Đinh. Hồng Bảo đã thắt cổ tự vẫn trong ngục chết sau đó.

Caí chết của hoàng tử Hồng Bảo cũng là một nghi án, vì nhiều sử gia suy luận rằng vua Tự Đức không muốn mang tiếng giết anh nên giam vào ngục, nhưng đã âm thầm sai người giết chết, rồi dàn cảnh ông Hồng Bảo tự vẫn để diệt trừ mọi mầm mống phản lọan sau này.

Tất cả cũng chỉ là truyền thuyết được ghi lại mà thôi. Không có gì chứng minh cả.

Trở lại với phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi.

Lúc đó gia tộc tôi phải chịu mang họ Đinh lưu lạc trong dân gian, đối với vua Tự Đức có một ân oán như vậy, nhưng lại không liên hệ gì đến vua Hàm Nghi.

Vua Tự Đức vốn không có con và phải nhận cháu làm con nuôi. Sau khi ông  mất con nuôi là Ưng Chân lên nối ngôi tức là vua Dục Đức. Tình hình đất nước bấy giờ rất rôí ren. Phần thì ngoại xâm, phần thì các quan trong triều tranh đấu lẫn nhau, nên vua Dục Đức làm vua được ba ngày lại bị truất phế. Rồi vua Hiệp Hoà, vua Kiến Phúc lần lượt lên ngôi và bị hại trong một thời gian rất ngắn. Dân gian lúc đó có câu

“Nhất giang lưỡng quốc nan bất thuyết

Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường”

Nghĩa là

“Một sông hai nước, lời khó nói

Bốn tháng, ba vua, điềm chẳng lành”

Hai ông Thuyết và Tường đã được nhắc đến trong hai câu ca dao trên.

Ông hoàng Ưng Lịch, là cháu ruột của cả hai ông Hồng Bảo và Hồng Nhậm được đưa lên làm vua Hàm Nghi. Vua Hàm Nghi  đối với nghi án của ông bác Hồng Bảo có một cái nhìn khách quan hơn, và nhất là cảm cái tình của ông cố tôi đã quên thù nhà mà dấn thân giúp vua chống ngoại xâm. Lúc đó đang ở ngoài thành tranh đấu cùng thực dân, vua Hàm Nghi không có bên mình ngọc tỷ, hay cây kiếm lệnh trượng trưng cho uy quyền của Hoàng Gia. Vua bèn rút thanh gươm của người lính hầu cận đang ở bên cạnh để trượng trưng cho cây kiếm đó và tuyên bố “Trẩm từ nay cho phép hậu duệ của An Phong Công được trở về với họ Nguyễn. Và dòng trưởng được phép tiếp tục theo Đế Hệ Thi của Minh Mạng Hoàng Đế.”

Chỉ dòng trưởng mả thôi, còn dòng thứ chỉ có thể trở lại họ Nguyễn nhưng không được quyền theo Đế Hệ Thi.

Lời vua là kim khẩu.

Điều này giải thích tại sao ông nội tôi là Bửu V., Bác cả, anh của ba tôi là Vĩnh Q.,  và người con trai đầu của bác là Bảo C.  Trong khi thân phụ tôi là con thứ nên chỉ được trở về với họ Nguyễn mà không được theo Đế Hệ Thi.

Ngày đó khi lần đầu tiên nghe mệ tôi kể sơ về nguồn gốc của ông Hồng Bảo, tôi thật không ngờ gia đình mình lại có một lý lịch độc đáo như vậy. Và nếu không có sự cảm thông của vua Hàm Nghi ngày ấy thì bây giờ tôi vốn vẫn còn là họ Đinh chứ đâu phải họ Nguyễn!

Cây kiếm đó vua Hàm Nghi đã ban lại cho gia tộc tôi để làm bằng chứng, Ông cố tôi rất trân trọng vì đây là vật của vua ban, truyền lại cho ông nội tôi cất giữ. Tức là cây kiếm rì mà tôi lấy chơi suýt nữa làm rơi mất.

Nó chỉ là cây kiếm bình thường của một ngưòi lính thời bấy giờ mà thôi, nhưng với gia tộc tôi, trong một khoảnh khắc nào đó năm xưa đã trượng trưng cho uy quyền tối thượng của Hoàng Gia, của dòng họ mà vị vua yêu nước Hàm Nghi ban xá cho chi hệ gia tộc An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo được trở về với họ Nguyễn.

Sau bìến cố tết Mậu Thân 1968, căn nhà đó bị đạn bom đánh đổ. Ông Nội tôi cũng mất trong dịp đó nên cây kiếm không biết đã thất lạc về đâu. Vả chăng, nó cũng chỉ là một thỏi sắt rỉ, chỉ có giá trị lịch sử đối với gia tộc tôi mà thôi, còn ngoài ra không có một giá trị nào khác nữa.

Những chuyện thâm cung bí sử, nguồn gốc của gia tộc nhắc đến ở trên dựa một phần trên quyển gia phả ba tôi đã photo lại trước khi lên đường HO sang Mỹ. Tiếc rằng gia phả nhà tôi viết bằng chử Nho, và bảng dịch tiếng Việt thì chưa hoàn thành và dang dở thiếu sót rất nhiều. Tôi phải tự tìm hiểu lấy, đối chiếu qua sách vở và tài liệu từ Internet mà thôi.Ngày nay, gia tộc tôi dĩ nhiên vẫn truyền tụng về nguồn gốc của dòng họ từ Chúa Nguyễn Hoàng trở về sau. Tuy nhiên, thế hệ con cháu bây giờ chắc không còn ai biết và nhớ đến vật gia bảo cây kiếm của vua Hàm Nghi đó nữa.

Và anh kết luận: Những người Việt trong nước cũng như hải ngoại sau năm 1975 thường diễn giải câu sấm Trạng Trình “Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về” nghĩa là ông Nguyễn văn Thiệu đi, nhưng rồi ông Nguyễn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại khi đó còn sống) sẽ về, không biết rằng câu sấm ấy thực ra đã ứng nghiệm từ lâu rồi. “Nguyễn đã đi, và Nguyễn đã về”, ứng vào việc ngai vàng họ Nguyễn đã có lúc lọt vào tay ngoại tộc họ Trương, tức vua Tự Đức. Nhưng mệnh trời khó cãi, vua Tự Đức vì vậy không thể có con nối dõi, phải trao ngai vàng lại cho họ Nguyễn, tức “Nguyễn đã về.”

Nghe xong câu chuyện, tôi hỏi tấm chân dung ông Hồng Bảo hiện nay trong nhà có phải là tấm ở nhà ông nội anh năm xưa? Anh nói không phải. Tấm ảnh đỏ đã bị mất hay cháy trong tết Mậu Thân. Tấm này do anh tự vẽ lấy theo ký ức còn ghi lại trong đầu.

Anh nói thêm nếu tính theo vai vế thì anh hàng chữ “Bảo”, ngang với hoàng tử Bảo Long, Bảo Thắng. Tuy nhiên thân phụ anh là con thứ nên chỉ có thể trở về với họ Nguyễn mà thôi, không thể có chữ “Bảo” đệm trước tên được.

HẾT

Lời người viết:

Bài viết này hoàn toàn dựa vào lời kể của một người nhận là hậu duệ của An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, vị hoàng tử mà nếu không vì những thâm cung bí sử xảy ra như ở trên thì đã là vua nuớc Việt, không phải vua Tự Đức. Lịch sử Việt Nam cho đến ngày nay hầu như cố tình bỏ quên, hay có chăng chỉ là những giai thoại, sử liệu mập mờ về vụ án tại sao vua Thiệu Trị bỏ trưởng Hồng Bảo lập thứ Hồng Nhậm, hay cho đến cái chết của ông Hồng Bảo đến nay vẫn là một nghi án.

Người viết chỉ là kẻ ghi lại, không biết gì về gia phả hoàng tộc họ Nguyễn Phước, không có ý định, và càng không đủ tư cách viết lịch sử. Do đó, bạn đọc chỉ nên xem đây như là câu chuyện dã sử, và nhất là không thể dùng câu chuyện này như một chứng liệu lịch sử nào cả.

./.

ThaiNC




Bí ẩn về ngôi mộ của ông Trần Phú

Trước năm 1975, ngoại ô Sài Gòn có một nghĩa trang rộng lớn, được đặt tên là “Nghĩa trang Đô Thành”, nằm trên đường Lê Văn Duyệt (nối dài Sài Gòn) – đối diện là trại lính Nhảy dù Nguyễn Trung Hiếu, và sau lưng là Cư xá Sĩ Quan Chí Hòa (Bắc Hải).

Nghĩa trang này bị giải tỏa vào năm 1998, một phần đất phía sau bị chia chác biến thành nhà ở, còn một phần mặt tiền trở thành Công viên Lê Thị Riêng.

Khi làm việc đào phá tại nghĩa trang này vào ngày 4.1.1999, lao công bất ngờ tìm thấy mộ của ông Trần Phú (Tổng bí thư đầu tiên của đảng CSVN).

Qua đó, sau 68 năm ngày ông Trần Phú chết, nhà cầm quyền ở thành Hồ mới “phát giác” ra một “chứng tích lịch sử” vô cùng quan trọng – để rồi ngày 12.1.1999 vội vã đưa số xương cốt này về tái an táng tại quê nhà của ông ở tỉnh Hà Tĩnh.

Câu chuyện “bí ẩn’ là ở chỗ, tại sao mộ của một Tổng bí thư đảng CSVN lại nằm trong khu Nghĩa trang Công Giáo, ở phía sau Nghĩa trang Đô Thành (sát với con rạch của Cư xá Sĩ quan Chí Hòa). Nơi  dành riêng cho những người có đạo (có tên Thánh) mới được chôn cất.

Và tại sao tư liệu và lịch sử Đảng CSVN chỉ viết ông bị bắt và mất vào cuối năm 1931, ngoài ra “không ai biết ông mất trong hoàn cảnh nào và chôn cất ở đâu”.

Theo lịch sử hình thành Đảng Cộng Sản ở VN, thì ông Trần Phú là “học trò xuất sắc của Chủ tịch HCM”, được ông Hồ đưa về từ Quảng Châu vào tháng 4 năm 1930.

Cuộc đời làm “Kách Mệnh” của Trần Phú thật ngắn ngủi. Vào ngày 18.4.1931 ông Phú bị Pháp bắt giam, nhưng đến ngày 6.9.1931 (tức chỉ sau 5 tháng) đã qua đời tại bệnh viện Chợ Quán vì bệnh lao, lúc mới 27 tuổi (như vậy khó mà có thể tạo hào quang cho ông Phú là đã bị Thực dân hành hạ dã man đến chết trong tù).

Mới đây trên facebook của ông Trần Đăng Phiệt có nói đến việc mộ của ông Trần Phú được tìm thấy ở Đất Thánh họ đạo Chợ Quán nằm sau Nghĩa trang Đô Thành, với mộ bia và tên tuổi đầy đủ.

Nhà cầm quyền CSVN cũng bán tín bán nghi, nhưng sau khi thử DNA thì xác nhận đây chính là hài cốt của ông Trần Phú nên mới cho đem về Bắc, để lập khu tưởng niệm.

Câu chuyện ly kỳ ở chỗ: “Một cụ già lão thành Cách mạng (bị giam chung với ông Trần Phú) ở Trà Vinh khi tình cờ biết tin “tìm được mộ TBT Trần Phú” trên báo SGGP đã viết một lá thư dài tường thuật đầy đủ quá trình bị giam giữ, theo đạo, rửa tội, chết và an táng của ông Trần Phú tại nhà thương Chợ Quán rồi gởi cho Cha sở xứ đạo Chợ Quán vào ngày 03.7.2018″.

Cha sở họ đạo Chợ Quán lúc đó là Linh mục FX Lê Văn Nhạc; Ngài đã kiểm tra lại tài liệu lưu trữ của Giáo xứ giai đoạn 1930-1940 thì phát giác sổ rửa tội năm 1931 có ghi tân tòng Phê-rô Trần Phú. Sau đó ngài cho sao chụp hồ sơ lưu sổ rửa tội, và bức thư của cụ lão thành Cách mạng Trà Vinh ra làm ba bản. Một gởi cho Chính quyền TP, một gửi lên tòa Tổng Giám mục SG, một lưu tại giáo xứ.

Hiện nay tại bệnh viện Nhiệt Đới (nhà thương Chợ Quán cũ) số 764 Võ Văn Kiệt, P.1, Q.5; bước vào cổng phía tay trái có một công viên nhỏ và tượng đài Đức Mẹ nay vẫn còn lưu giữ, là nơi các dì phước thời xưa mỗi buổi chiều đến thăm nom, chăm sóc bệnh nhân và đưa Mình Thánh cho các bệnh nhân có đạo được rước Chúa. Vào các chiều thứ bảy, các dì tổ chức dạy Giáo lý và có các Cha đến giải tội.

Ông Trần Phú là một trong những bệnh nhân được cảm hóa, tin Chúa và cảm mến Chúa để được rửa tội tại đây. Đi vào hành lang bên tay phải, nhà cầm quyền cho dựng lại “một chuồng cọp” nói là nơi giam giữ ông Trần Phú lúc được đem đến đây chữa bệnh. Người ta cũng dựng lên một bức tượng của ông tại đó.

Một nữ y tá làm việc lâu năm tại nơi này cho biết: “Cái nhà đá nói là nơi giam giữ ông Trần Phú là chuyện tưởng tượng. Bởi thời đó Bệnh viện là bệnh viện, và nếu là phạm nhân thì họ chỉ cần còng tay vào giường và có người canh gác là đủ”.

Riêng Cha sở Lê Văn Nhạc nay đã 80 tuổi. Ngài đang nghỉ hưu tại GX Hạnh Thông Tây, Gò Vấp”. (Hết trích).

Cần biết, một người trưởng thành xin rửa tội vào đạo Công Giáo thủ tục còn khó hơn đứa trẻ sơ sinh. Giáo hội đòi hỏi người tân tòng phải học đạo, có người “đỡ đầu”, và trí óc còn minh mẫn (nếu là bệnh nhân).

Câu chuyện trên, chắc chắn không được nhà cầm quyền CSVN công nhận, bởi Lm Lê Văn Nhạc cho biết, ngài từng được Cán bộ CS đến hỏi thăm khi nhận được “hồ sơ” về việc rửa tội xin vào đạo Công Giáo của ông Trần Phú, và yêu cầu ngài không phổ biến tin tức này.

Và nếu phải nói về việc “ngoài dự kiến” không hay ấy, các văn nô viết lịch sử Đảng cũng sẽ nói “bọn thực dân và tay sai” đã ép buộc Đ/c Trần Phú vào đạo, để phá bỏ hình ảnh “vô thần” của Tổng Bí Thư.

Cho đến nay CSVN đã có 12 người làm TBT, nhưng rất nhiều ông khi chết đã bị hé lộ chuyện vẫn tin tưởng có thế giới bên kia, chứ không “vô thần” như lúc tuyên thệ vào Đảng.

Ông HCM cũng nói khi chết sẽ đi gặp Các Mác và Lê Nin. Ông Lê Khả Phiêu trong nhà có bàn thờ Phật to tướng, và khi hạ huyệt có nhiều sư tụng kinh gõ mõ..v.v.

Hiện nay, khi đi vào Công viên Lê Thị Riêng, người ta sẽ thấy phía bên trái có một tượng đài được xây dựng vào tháng 9.2005 dành cho ông Trần Phú với phù điêu mang hình cờ Đảng, cùng câu nói “nổi tiếng” của ông: “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu”.

Cần biết, trước 1975 đây là nơi đầy “oan khiên, chướng khí”.

Vào năm 1963, gần trăm xác của các binh lính trung thành với TT Ngô Đình Diệm bị quân đảo chính bắn chết, và được đưa về đây.

Đến năm 1968 hơn 2 ngàn xác của Cộng quân bị hạ sát trong trận Tổng tấn công Tết Mậu Thân cũng được “tập kết” thành một lỗ.

Thê thảm hơn, vào ngày 30.4.1975 trên 3 ngàn xác chết của binh lính hai bên, và thường dân cũng được kéo về bỏ chất đống ở nghĩa địa, khiến dân chúng quanh vùng Ngã Ba Ông Tạ phải “ngộp thở” vì mùi tử khí trong nhiều ngày.

Và tất cả những người xấu số chết vào giờ thứ 25 này, đều đã được vùi chung trong một hố chôn tập thể.

Chưa hết, sau Tháng Tư Đen 1975, nhiều chuyến vượt biên không thành với vài chục xác chết của dân vượt biển (ở ấp Hàng Dầu) cũng được chở về đây, chờ người thân đến nhận.

Bên trong Công viên Lê Thị Riêng hiện nay còn có một hồ nước, nhưng không ai dám cho con em đến gần, bởi “các hồn ma nghĩa địa” đã kéo nhiều em chết chìm khi chơi dưới hồ, dù nước không sâu!

Nguyễn Vy Túy

Theo FB




PHƯƠNG XA

Thơ Vũ Hoàng Chương

Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng,

Xô về đông hay giạt tới phương đoài,

Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng,

Lòng cô đơn cay đắng hoạ dần vơi.

Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,

Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,

Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,

Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,

Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,

Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,

Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt,

Treo buồm cao cùng hát tiếng hò khoan.

Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt,

Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan.




ĐÔI GUỐC TRẮNG

Nhật Tiến 

đăng trong Văn Hóa Ngày Nay – Tập 2 – Tháng 7, 1958

Tôi đứng trên vệ đê nhìn xuống. Chuối xanh cả một vùng ven sông. Nắng lấp loáng trên những tầu lá. Vào buổi trưa, bốn bề êm ả quá. Chỉ có tiếng gió rì rào, tiếng chim chiêm chiếp và mơ-hồ có tiếng một nhà máy ở xa xa vẳng lại.

Qua những gốc chuối, bên kia là mặt sông. Nước xanh ngắt. Sóng nước nhòe trong ánh nắng loang-loáng như bạc.Tôi đi xuống dưới ấy. Lối cát trong vườn chuối phẳng lì. Hơi đất phù sa từ mé sông đưa lên âm ẩm. Quanh tôi đầy bóng mát; ánh nắng nghiêng nghiêng trên những tầu lá xanh và mỏng. Những bẹ chuối đang nở hoa.

Có vết chân ai đi trên lối cát. Tôi nhìn ra bờ sông. Bốn bề vắng lặng. Vết đi in sâu xuống thành một hố xinh xinh. Những vết guốc gót nhỏ với bàn chân thon. Tôi lại chăm chú nhìn ra bờ sông. Nắng nhấp nháy chói mắt. Không có ai ở ngoài ấy cả.

Vết guốc quanh co trong vườn chuối. Tôi nghĩ đến một thiếu nữ có mái tóc đen dài, có cặp môi mộng đỏ. Lần theo vết guốc ấy, tôi tưởng tượng đến một cuộc đi chơi của hai người trong bóng mát.

Vết guốc mất dấu ở ven sông. Cát ở đây đẫm nước nên mịn hẳn. Sóng giạt lên bờ rồi rút ra xa. Mấy lớp bọt vàng bị bỏ rơi lại, sùi lên rồi ngấm xuống.

Tôi nhìn vào những lùm cây chìa ra mặt nước. Mấy quả sung chín rơi lõm bõm. Và có một đôi guốc. Đôi guốc trắng nằm ở ven sông, lấm-tấm đất phù sa đỏ.

Tự nhiên tôi hồi hộp. Ở đây không phải có một mình tôi. Có hai người. Tôi và một thiếu nữ đang tắm ở sau bụi cây sung; tôi nhìn về phía ấy, và tưởng tượng sau bụi cây phải là một tà áo trắng mắc vào cành, gió đưa phơ phất. Tôi không nghĩ đến một mảnh quần lụa vo tròn trên bờ cỏ, nhưng nghĩ đến một mái tóc đen dài giãi trên mặt sóng, một thân hình óng ả đang đắm mình dưới làn nước veo. Có tiếng chim hót gần đây. Tôi ước gì mình được là con chim.

Ngoài mặt sông, sóng vẫn nhấp nhô rồi giạt lên bờ cát. Trời xanh lơ lơ. Khúc sông lấp loáng ánh nắng, lượn mình quanh những lùm cỏ, bụi cây. Bờ bên kia là ruộng mía. Đằng sau tôi là lối cát đi trong vườn chuối. Lối cát in những vết guốc lốm đốm chạy vòng lên chân đê.

Ở đây không có mình tôi. Có hai người. Hai đứa. Tôi mỉm cười, trầm ngâm.

Nhưng rồi tôi cũng phải ngược lại lối cũ. Bịn rịn đấy, nhưng cũng đành. Nếu không tôi sẽ xấu hổ với những con chim đang hót ở bờ sông.

Tôi bỏ lại phía sau đôi guốc trắng. Đôi guốc trắng nằm trên lòng cát mịn, có lấm tấm đất phù sa đỏ. Giá mang về được một chiếc để sau này khi quen nhau, lấy nhau rồi hai đứa cùng giở ra xem. Yêu biết mấy.

Và rồi tôi lại đứng trên vệ đê nhìn xuống dưới ấy. Chuối xanh cả một vùng ven sông. Nắng lấp loáng qua những tầu lá. Có những con chim đang chuyền cành. Có một mái tóc đen dài giãi trên mặt sóng và có một đôi guốc trắng nằm ở bờ sông.

Đôi guốc mà chẳng bao giờ còn có người đi.

Vì sáng hôm sau… có tin một thiếu nữ trầm mình ở chỗ ấy.

Nhật Tiến




Nhà văn Nhật Tiến qua đời

Nguyễn Vy Túy

Tuy Nguyen

Ông mất tại Hoa kỳ, thọ 84 tuổi.

ÔNG THEO CHÂN HIỀN THÊ CHỈ SAU 18 NGÀY.

Một nhà văn, nhà giáo đáng kính của thế hệ chúng tôi, đã qua đời  lúc 11 giờ 26 phút trưa ngày 14 Tháng Chín, 2020, (tức 27 Tháng Bảy, Canh Tý), tại thành phố Irvine, Nam California, hưởng thọ 84 tuổi, theo tin loan báo từ gia đình.

Nhà văn Nhật Tiến qua đời chỉ ít ngày “sau sự ra đi của hiền thê là nữ văn sĩ, dịch giả Đỗ Phương Khanh vào ngày 26 Tháng Tám vừa qua”, gia đình cho hay.

Trước 1975, ông là Giáo sư Cố vấn cho Thi Văn Đoàn Trầm Tích ở Sài Gòn (do tôi làm Thi Văn Đoàn trưởng), và từng ký tặng tất cả các tác phẩm của ông và tuần báo Thiếu Nhi do ông làm Chủ bút, cho thư viện của Trường Trung học Văn Đức, và tôi đã có vinh dự đến tòa soạn báo Thiếu Nhi để nhận và đưa về trường.

Cũng chính từ cuộc gặp gỡ này, ông nhận lời làm Cố Vấn.

Năm 1979, khi ông và gia đình gặp nạn Hải tặc trong vùng Vịnh Thái Lan (qua vụ án đảo Kokra), với tư cách chủ bút tuần báo Chuông Sài Gòn, chúng tôi đã vận động độc giả và chính quyền Úc cùng yểm trợ tài chánh để ông và các nhân chứng ra tòa chống lại bọn hải tặc.

Các bức thư trao đổi giữa tòa soạn và ông, chúng tôi vẫn còn cất giữ. Bởi đó là những chứng tích lịch sử về một thời oan trái đầy đau khổ, của những thuyền nhân bất hạnh trên đường vượt biển tìm tự do.

Bây giờ ông đã “đoàn tụ” với vợ trên thiên đường.

Đoạn đường Núi Sọ đầy chông gai, ông và bà đã đi qua.

Nguyện chúc Ông Bà an vui nơi miền cực lạc.

*Nguyễn Vy Túy

Dưới đây là tiểu sử nhà văn Nhật Tiến theo công bố của gia đình.

“Nhà văn Nhật Tiến tên đầy đủ là Bùi Nhật Tiến, sinh ngày 24 Tháng Tám, năm 1936, tại Hà Nội – là tên tuổi lớn trên văn đàn Việt Nam. Ông là tác giả tiếp nối của dòng văn học Tự Lực Văn Đoàn; và, bằng chính đời sống và sáng tác của mình, ông mở rộng những chủ đề và cả phong cách sáng tác theo dòng lịch sử đất nước. Có thể nói, lịch sử đặt ông vào những biến cố lớn của đất nước, để từ đó, thông qua ngòi bút của mình, ông trở thành tiếng nói của thời đại mà chính ông và gia đình là những nhân chứng sống. Năm 1954 ông di cư vào Nam, sống tại Đà Lạt, rồi Sài Gòn. Vượt biển vào Tháng Mười, 1979, và tỵ nạn tại Songkhla (Thái Lan) chín tháng. Ông và gia đình định cư tại California (Hoa Kỳ) từ năm 1980”.

“Về sự nghiệp văn chương, ông đoạt Giải Nhất Giải Văn Chương Toàn Quốc năm 1960-1961, với tác phẩm Thềm Hoang. Trước đó, năm 1952, truyện ngắn của ông lần đầu xuất hiện tại Hà Nội trên nhật báo Giang Sơn và những vở kịch trên tuần báo Cải Tạo năm 1953-1954. Tại Đà Lạt, năm 1954-1955, ông tiếp tục viết kịch truyền thanh cho đài radio tiếng nói của Ngự Lâm Quân. Từ năm 1958, tại Sài Gòn, 1958, ông tham gia Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay do nhà văn Nhất Linh chủ biên”.

Trước năm 1975, tại Việt Nam, ông từng viết cho: Giang Sơn, Cải Tạo, Thời Tập, Chánh Đạo, Bách Khoa, Văn, Tân Phong, Văn Học, Đông Phương. Tại hải ngoại, từ năm 1980 đến nay, ông được mời xuất hiện trên nhiều tờ báo và trang web. Riêng tại California, ông đã từ viết cho: Người Việt, Sài Gòn, Văn Nghệ, Hợp Lưu, Văn Học, Việt Tide, Vietstream, Khai Phóng, Chấn Hưng, Việt Nam Hải Ngoại. Ngoài ra, ông còn có tác phẩm trên Đất Mới (ở Seattle), Ngày Nay (ở Kansas City), Xác Định (ở Virginia). Xa hơn, bên ngoài Hoa Kỳ, ông có bài trên Chuông Saigon, Việt Luận, Chiêu Dương phát hành tại Úc châu, Lửa Việt tại Canada, Độc Lập tại Tây Đức), và Đường Mới, Quê Mẹ tại Pháp.

Tác phẩm của ông bao gồm nhiều thể loại: Truyện dài, truyện ngắn, truyện thiếu nhi, kịch-tiểu thuyết kịch. Đặc biệt, những năm sau này ông làm công việc khảo cứu gần như là văn học sử qua các tác phẩm Ghi Chép và Tiểu Luận. Ngoài viết văn, ông còn là nhà giáo. Ông dạy học, và tham gia các hoạt động văn hóa, giáo dục và xã hội khác. Ông là người viết thỉnh nguyện thư và sau trở thành thành viên của Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (Boat People S.O.S. Committee), từ năm1980 đến 1990.

Các tác phẩm của nhà văn Nhật Tiến đã phát hành.

Truyện dài:

-Những Người Áo Trắng (1959)

-Những Vì Sao Lạc (1960)

-Thềm Hoang (1961)

-Mây Hoàng Hôn (1962)

-Chuyện Bé Phượng (1964)

-Vách Đá Cheo Leo (1965)

-Chim Hót Trong Lồng (1966)

-Tay Ngọc (1968)

-Giấc Ngủ Chập Chờn (1969)

-Quê Nhà Yêu Dấu (1970)

-Mồ Hôi Của Đá (1988)

Truyện ngắn: Đã viết hơn 100 tác phẩm, một số được giới thiệu trong các tuyển tập…

-Những Bước Tiên Của Tôi (1951, tuyển tập truyện và thơ chép tay đã thất truyền)

-Ánh Sáng Công Viên (1963)

-Giọt Lệ Đen (1968)

-Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972)

-Tiếng Kèn (1982)

-Một Thời Đang Qua (1985)

-Cánh Cửa (1990)

-Quê Nhà – Quê Người (1994, in chung với nhà văn Nhật Tuấn)

-Mưa Xuân (2013)

Truyện thiếu nhi:

-Lá Chúc Thư (truyện dài, 1969)

-Theo Gió Ngàn Bay (truyện vừa, 1970)

-Quà Giáng Sinh (truyện vừa, 1970)

-Đóa Hồng Gai (truyện vừa, 1970)

-Kể chuyện Tấm Cám (truyện ngắn, 1970)

-Ngày Tháng Êm Đềm (truyện vừa, 1972)

-Đường Lê Núi Thiên Mã (truyện dài, 1972)

-Thuở Mơ Làm Văn Sĩ (hồi ký, 1973)

Kịch & tiểu thuyết kịch:

-Người Kéo Màn (tiểu thuyết kịch, 1962)

-Hạ Sơn (kịch lửa trại, 1973)

-Công Lý Xã Hội Chủ Nghĩa (kịch một màn, 1988)

-Một Buổi Diễn Kịch (truyện ngắn kịch, 1990)

-Một Khoảnh Đời Thường (kịch một màn, 2013)

-Ông Giáo Hồi Hưu (kịch một màn, 2013)

Ghi chép-Tiểu luận:

-Hải Tặc Trong Vịnh Thái Lan (1981, viết chung với Dương Phục và Vũ Thanh Thủy)

-Thuyền Nhân – Vài Trang Bi Sử (2008)

-Hành Trình Chữ Nghĩa (2012)

-Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác (2012)

-Sự Thật Không Thể Bị Chôn Vùi (2012)

-Một Thời… Như Thế (2012)

-Từ Hội Bút Việt Đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam (2016)




Hồi ký về Đại tá Sử gia Phạm Văn Sơn

Trường Xuân Phu Tử Hồ Quang

Lời người viết: 

Tôi phải viết lại bài này một lần nữa cho rõ ràng hơn. Vì rằng, vừa qua cũng có những bài viết về cái chết của Ðại Tá Sơn, nhưng phần chính không nói được tính khí kiên cường của Ðại Tá mà chỉ xoáy vào mối liên hệ tình cảm cá nhân của 2 bên với nhau…

 

Tôi tuy không phải là người được khiêng xác Ðại Tá đi chôn (việc chôn cất tù nhân chính trị thường do nhóm tù hình sự đảm nhận vào ban đêm, nhằm khỏi gây dư luận xôn xao…) nhưng là người đưa xác Ðại Tá Sơn từ trạm xá đến nhà Vĩnh Biệt trong khuôn viên nhà tù, do đó tôi biết rất rõ về cái chết của Ông.

 

*  *  *

Chúng tôi từ nhiều trại “tập trung cải tạo” thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, gồm đủ mọi thành phần “nặng ký” khác nhau, đều bị chuyển xuống miền trung du, vì Trung Quốc sắp xua quân xâm lăng biên giới… Nói chung, Cộng Sản đã ghép chúng tôi vào loại “ác ôn” vì trong chế độ VNCH chúng tôi đã phục vụ ở các ngành: Tuyên Úy, Tình Báo, An Ninh Quân Ðội, Cảnh Sát, Chiến Tranh Chính Trị, Tâm Lý Chiến…

 

Giai đoạn này chúng tôi không còn được đi lại dễ dàng như khi sống trong núi rừng hồi còn Ðoàn 776 thuộc Nha Quân Pháp (Bộ Quốc Phòng) VC trông coi… mà bị tống ngay vào buồng giam do công an “áo vàng” cai quản. Trên danh xưng, bọn công an trại giam (thuộc Bộ Nội Vụ) bắt chúng tôi phải thừa nhận mình là “Cải Tạo Viên” chứ không phải là “Tù Nhân”…

 

Ngay từ khi bước qua cổng để vào sân trại giam K1 Tân Lập, chúng tôi đã thấy một cái gì đó rờn rợn cả người. Mọi thủ tục khám xét thật là khắc nghiệt, nhìn mặt mày hầm hầm của những tên công an vừa nộ nạt, vừa đấm đá mấy tên tù “hình sự” phụ giúp việc khám xét các tù “chính trị” mới đến mà tất cả chúng tôi thầm nhìn nhau… lắc đầu!

 

Không khí “cải tạo” do công an thuộc Bộ Nội Vụ cai quản làm chúng tôi ngột ngạt thật. Mấy ngày sau chúng tôi mới biết từ miệng các tù hình sự, các cảnh sát bảo vệ mang súng dẫn “đội tù” đi lao động như sau: Trại Tù Tân Lập là trại tù khét tiếng khắc nghiệt nhất tại miền Bắc, còn phân trại K1 là trại “điểm” của tỉnh Vĩnh Phú này.

 

Tỉnh Vĩnh Phú có 2 trại tù lớn, đó là Tân Lập và Phong Quan, nhưng Tân Lập lớn hơn (7 phân trại) và được Bộ Nội Vụ chọn làm trại tù kiểu mẫu cho toàn quốc.

 

Như chúng ta ai cũng biết chuyện “kiểu mẫu” của một trại tù dưới chế độ Cộng Sản luôn luôn phải hiểu rằng sự hà khắc, sự dã man do bọn cai tù áp dụng đối với tù nhân phải thật tàn bạo nhất mới được nâng lên làm “trại kiểu mẫu”. Phân Trại K1 Tân Lập đạt đủ các “tiêu chuẩn” gian ác đó, nên hàng năm mở Ðại Hội Tù Nhân luôn được giữ lá cờ đầu.

 

Chúng tôi bị giam ở trại này từ tháng Mười 1978, vì lúc đó những vùng biên giới phía Bắc là mục tiêu của quân Trung Quốc lăm le xâm chiếm. Và quả thực vào đầu Xuân 1979, Trung Quốc đã xua quân đánh các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam để dạy cho Việt Nam Bài Học Thứ Nhất!

 

Trong số các tù nhân chính trị từ Hoàng Liên Sơn bị đưa về trại tập trung quỷ tha ma bắt này, có Ðại Tá Phạm Văn Sơn.

 

Mặc dầu bị nhốt chung cùng một trại, nhưng lúc đầu anh em chúng tôi chưa biết hết nhau lắm, còn đối với Cộng Sản thì hẳn nhiên chúng quá rõ về lý lịch từng người chúng tôi. Họ phân chia chúng tôi thành nhiều đội theo “tội trạng” để nhốt chung vào một phòng. Phòng giam được bao bọc bởi 4 bức tường kiên cố, trần phòng giam được rào chằng chịt bởi những lớp kẽm gai, tất cả che khuất bằng tấm “pla-phông” cứng. Các cửa sổ của phòng giam đều có những song sắt ngang dọc có đường kính chừng 18mm. Phòng giam tập thể nào cũng có một lối đi chung ở giữa, dọc theo tường của phòng là 1 dãy sạp dài 2 tầng dùng làm chỗ ngủ cho tù nhân. Mỗi phòng giam chứa khoảng 200 tù, tính trung bình mỗi tù nhân có chừng 0.4m bề ngang để nằm, do đó các tù nhân thường nằm ngược đầu nhau mới có thể cựa mình được.

 

Lúc đầu thì Ðại Tá Sơn cũng như các anh em khác ở chung trong đội lao động. Chừng nửa tháng sau, không hiểu tình hình thế nào mà Ðại Tá cùng Cha Thịnh (Ðại Tá Giám đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo), Mục Sư Kỳ (Ðại Tá Giám Ðốc Nha Tuyên Úy Tin Lành) và một người khác nữa tôi quên tên bị đưa vào phòng “cách ly”. Ðể giải thích chuyện này, Công An Trực Trại K1 Tân Lập nói rằng: Ðể tránh “lây lan” cho các “cải tạo viên” khác, nên những người này phải được cho ở riêng… Trên thực tế, Mục Sư Kỳ chỉ bị vàng da, Cha Thịnh bị bệnh “đồi mồi” loang đốm ở vùng môi và cằm, Ðại Tá Sơn cũng bi bịnh này nhưng nặng hơn (khắp cả tay chân mặt mày), bọn cai tù cho đây là bệnh “phong cùi”.

 

Rõ ràng chuyện bệnh tật của 4 người này chỉ là một trong trăm ngàn lý do mà Việt Cộng áp dụng nhằm ngăn cách những người chúng cho là nguy hiểm nhất trong tập thể anh em tù chúng tôi. Sau khi gom 4 người đó vào với nhau rồi, họ thấy việc làm quá trơ trẽn nên mới đưa thêm một Thiếu Úy Ngành Quân Báo còn trẻ, bị mụn nhọt làm thối ngón út của bàn chân trái, vào ở chung để lý giải danh xưng “bệnh cùi” cho hợp lý.

 

Phòng “cách ly” bây giờ gồm 5 người sinh hoạt chung với nhau, không được phép ra ngoài, đến giờ cơm nước, tù hình sự mang đến, không cho bất cứ tù chính trị nào lai vãng lại gần, mặc dù phòng cách ly này không phải là phòng kỷ luật. Phòng kỷ luật là 1 cái hầm nổi, xây gạch kiên cố, chật hẹp, chứa tối đa 2 người, thiếu ánh sáng, có hệ thống cùm chân bằng các khoanh sắt hình móng ngựa.

 

Ngày 2 buổi, trong khi anh em tù nhân chính trị khác làm kiếp lao động khổ sai, thì trong phòng “cách ly”, 4 vị “bự” này phải viết kiểm điểm, nhất là Ðại Tá Phạm Văn Sơn, ông phải trả lời hết mọi câu hỏi mà cán bộ chấp pháp trung ương từ Hà Nội về làm việc đặt ra. Gọi là lấy khẩu cung, nhưng thực chất họ có dụng ý muốn tìm hiểu để học hỏi thêm.

 

Cuộc sống của 5 người cùng “phòng cách ly” vẫn ngày tháng trôi đều: cơm 9kg/tháng, chia làm 2 bữa một ngày. Trưa, tối, bọn hình sự đem cơm tới, mỗi sáng thì ghé xem bên trong có ai bị việc gì không, tiện thể lấy phân để đem ra bón rau cải ở khu lao động, thỉnh thoảng năm ba ngày tên cán bộ trực trại cho họ đi tắm một lần trong giếng gần “đội nhà bếp”.

 

Mấy tháng trôi qua, một hôm cán bộ Việt Cộng phát hiện trong bài viết về lịch sử, khi so sánh 2 chế độ “tù” thời VNCH và thời XHCN của ĐT Sơn một điều gì đó chúng tôi không rỏ, nhưng họ cho đó là một việc làm “đại phản động hay cực kỳ phản động” nên Ban Giám Thị Trại Tân Lập “đặc biệt chiếu cố” bằng quyết định “mật” cho anh Sơn vào ngay hầm biệt giam tại K1. Tất cả anh em chúng tôi khi vi phạm điều gì đều bị gọi tên ra trước sân, riêng trường hợp Ðại Tá Sơn thì quá đặc biệt, ngay cả Cha Thịnh và Mục Sư Kỳ cũng không biết nốt. Cả hai vị này khi gặp tôi chỉ nói rằng:

– Họ chuyển ảnh đi đâu mất rồi, vì có đem theo hết tất cả đồ dùng cá nhân…

Nhàn là một tên “đâm thuê, chém mướn, lừa đảo, cờ bạc”. Tên này vẫn làm Trưởng Ban Thi Ðua để kềm kẹp chúng tôi. Hắn biết rõ Ðại Tá Sơn ở đâu vì y là người đưa cơm hàng ngày cho Ðại Tá Sơn khi bị cùm trong phòng biệt giam.

Một hôm Nhàn than phiền với tôi:
– Cái tên Sơn này cứng đầu… từ hôm bị biệt giam đến nay không chịu ăn chịu uống gì cả, lại còn phóng uế bừa bãi, linh tinh… thối chịu “đếch” được!

Thấy có cơ hội, tôi nói ngay:
– Thế anh đưa cơm hằng ngày cho hắn ta, hắn ta có chửi mắng gì anh không?
– Anh ta đâu có thèm nói năng gì mà chửi với không chửi… Chỉ cái tội viết bậy mà vào cùm nên khổ thân đấy thôi! Các anh bảo nhau mà liệu hồn!
– Tôi nghe nói khi ở phòng cách ly, anh ta được viết những gì đúng theo cán bộ yêu cầu kia mà?

– Thì đương nhiên phải đúng yêu cầu, nhưng diễn tả mặt tích cực thì được, đằng này cứ phanh phui chuyện tiêu cực thì hỏng ngay…

Tôi giả vờ:
– Như thế nào là tiêu cực? Anh cho tôi biết để còn giữ mình có thể cải tạo tốt không chỉ riêng bản thân mà còn giúp anh em khác nữa chứ…?

Nghe tôi hỏi có lý, tên Nhàn vênh mặt có vẻ như một cán bộ công an khi lên lớp cho các tù nhân:
– Anh ta khờ lắm! Viết gì không viết lại viết bài có nội dung đem so sánh hai chế độ tù giữa Chủ Nghĩa Tư Bản và Chủ Nghĩa Xã Hội… còn đem chuyện gian trá trong việc trao trả tù binh của hai bên ra phân tích… Chơi kiểu này thì chết thôi con ạ!

Chừng 4 ngày sau, tôi giả bộ đi ngang qua khu cấm này gọi là coi xem có vấn đề gì cho an ninh trại hay không. Trước khi đi tôi có báo cho tên cán bộ trực trại biết. Tên này dặn thêm: “Anh phải cẩn thận chứ tên Sơn khá nguy hiểm đấy nhé !”. Cũng từ câu nói của tên này, tôi mới xác quyết rằng Ðại Tá Phạm Văn Sơn đang bị kỷ luật.

Làm bộ như đang đi lo việc quan sát phía bên ngoài các phòng kỷ luật, nhìn quanh thấy không có ai, tôi nói nhẹ vọng vào:
– Anh Sơn, em là Q. đây, anh khỏe không? Ðói lắm không? Em vứt vào nửa cái bánh bột nhé!

Giọng thật nhỏ, yếu, vọng ra:
– Q. đó hả?

Tôi không cần gì cả, đừng vứt vào, bọn chúng đến kiểm soát thì chết cả lũ, ráng phải lo giúp các bạn khác nữa… Hôm nay đã 4 ngày tôi nhịn ăn rồi, ít hôm nữa thì anh sẽ rõ những việc tôi làm. Anh mau đi khỏi đây, và từ nãy giờ coi như anh chưa lại chỗ tôi, và cũng đừng nói với ai là tôi đang ở đây, nếu lỡ việc ra thì anh sẽ bị nguy, mà ngay chính tôi cũng không thể thực hiện ý nguyện của mình…

Tôi rón rén bước về phía các phòng giam khác giả vờ đi kiểm soát tổng quát…

Sau giờ xuất trại đi lao động chiều hôm ấy, một tên tù hình sự đến nói với tôi:
– Chú à, cháu đề xuất với chú chuyện này, khó khăn thật đấy, nếu vỡ ra thì cháu chết ngay, nhưng nếu không nói thì không được.

Tôi bảo ngay:
– Mầy lại lèng èng chuyện gì đây, linh tinh nữa phải không? Nhanh lên kẻo đến giờ tao phải phát dầu cho các buồng rồi đây!

Tên hình sự ngập ngừng:
– Vâng ạ, vâng ạ! Chú Sơn bảo chú cho chú ấy xin tờ giấy trắng, còn cháu thì có cây bút chì để chú ấy viết cái gì gì ấy mà…

Tôi như điếc cả 2 lỗ tai, không biết nghe có lầm không, nếu nó gài mình thì ngày mai tôi lại phải vào cùm, nếu nó thật lòng thì mình phải làm sao đây? Tôi giả vờ nạt nộ một hồi, xong nói tiếp:
– Thôi, tao không giải quyết được việc gì đâu, tao bận lắm, mầy ở đây coi văn phòng giúp tao một tí, đừng cho giấy tờ trên bàn gió bay lộn xộn, và không cho bất cứ ai sờ vào món gì cả nghe chưa? Tao phải xuống bệnh xá một tí là về ngay!

Nói xong tôi đi thật vội, không dám nhìn lại cho đến khi phải trở về lấy dùi trống đánh lên 3 tiếng gọi các “trực sinh” (danh xưng dùng cho những tù nhân lo việc vệ sinh, cơm nước cho anh em tù khác ra ngoài lao động) của các phòng đến nhận dầu về thắp trong đêm, chủ yếu để có lửa hút thuốc lào…

Ngoài ra, trong đêm, có ánh sáng leo lét của ngọn đèn tuy làm bằng vỏ chai cưa cổ, nhưng cũng giúp được nhiều việc như rủi có anh em nào đau nặng, cần cấp cứu là phải hô to: “Báo cáo cán bộ, phòng X có người đau nặng, xin được cấp cứu”. Hô to lên như vậy nhiều lần cho tới khi các tên cán bộ vào mở cửa thì anh em mới có thể thấy đường để khiêng người bệnh lên trạm xá. Nếu bệnh quá nặng thì để lại luôn tại trạm xá, nếu bệnh nhẹ hơn thì chỉ nhận 2 viên “xuyên tâm liên” rồi phải khiêng trả lại phòng giam ngay. Nói là “trạm xá” cho oai thôi, chứ thật ra cũng vẫn là một phòng giam bị khóa cửa cẩn thận như mọi phòng giam tù khác. Có nhiều anh em tù chính trị được cấp cứu trong những đêm như vậy, sáng hôm sau đã phải vĩnh viễn ra đi, có khi ngay tại trạm xá, đôi khi ngay tại phòng giam chung. Nói chung, tù chính trị chết nhiều hơn tù hình sự. Gần 2 năm bị giam tại trại Tân Lập, tôi chưa gặp một trường hợp nào tù hình sự bị mạng vong cả.

Hai ngày sau, tên cán bộ trực trại gọi tên Nhàn (Trưởng Ban Thi Ðua) đưa 2 tù hình sự khỏe mạnh khiêng Ðại Tá Sơn từ phòng Kỷ Luật xuống trạm xá, lúc đó đã 8g tối, các tù nhân khác đã vào chỗ ngủ. Màn đêm xuống, từ lâu… Tại trạm xá chả có thuốc men gì để giúp cho Ðại Tá Sơn khỏe lại mặc dầu biết Ðại Tá kiệt sức vì tuyệt thực đã mấy ngày… Thế rồi Ðại Tá bắt đầu đi vào mê sảng… Ðến 2g sáng hôm sau, Ðại Tá Sơn được đưa về lại Phòng Cách Ly cùng với Cha Thịnh, Mực Sư Kỳ, nhưng lúc này ông ta yếu lắm rồi, không nói được lời nào với các người chung phòng. Tình trạng dần dần đi vào mê man… cho đến 8 giờ sáng hôm sau.

Thường thì 7 giờ 30 sáng tên công an làm cán bộ trực trại vào mở cửa phòng cách ly để những người này làm vệ sinh cá nhân, sau đó họ phải vê than đá bột lại thành từng nắm vừa trong hai bàn tay, đem phơi khô để đội nhà bếp lấy về đun bếp. Công việc “vê” than này chỉ dành riêng cho 5 người trong phòng cách ly mà thôi. Hôm đó anh chàng Thiếu Úy Quân Báo, sau khi làm vệ sinh cá nhân xong, thấy Ðại Tá Sơn quá yếu sợ để nằm trong phòng sẽ ngộp thở vì thiếu không khí, nên đã đề nghị mấy người còn lại phụ khiêng Ðại Tá Sơn ra bên ngoài bên đống than đang “nắm” dở… để hưởng chút không khí trong lành.

Lúc đầu Ðại Tá còn gượng ngồi được giống như một người đang làm việc “nắm” than. Nhưng khi lệnh xuất trại đi lao động, thì cũng là lúc Ðại Tá không còn ngồi nổi nữa, ông gục mặt trên đống than dang dở, và bất động… Cũng đúng lúc đó anh tù chính trị làm ở nhà bếp đem xe cải tiến đến… Thay vì chở than về đun bếp như thường lệ, anh ta phải dùng ngay xe nầy để chở Ðại Tá Sơn lên trạm xá cấp cứu… Khi vượt qua sân trại thì đúng vào lúc chỉ còn một đội tù cuối cùng xuất trại, những người đi sau ngoái đầu nhìn ngơ ngác, không biết chuyện gì đã xảy ra… Khi kéo được Ðại Tá Sơn đến trạm xá, những người tù trong này chạy ra để phụ khiêng vào cấp cứu…Nhưng lúc đó Ðại Tá đã tắt thở rồi…

Ðại Tá Phạm Văn Sơn đã vĩnh biệt anh em như vậy đó! Đúng vào ngày 06/12/1978.

Khoảng 11 giờ trưa khi tất cả các tù nhân còn đang ở ngoài bãi lao động, thì xác Ðại Tá Sơn được nhóm tù hình sự và tôi đưa đến “nhà vĩnh biệt”, một cái chòi mái lợp tranh, vách tô bằng đất sét nhồi với rạ do chính anh em tù chúng tôi dựng lên phía Tây đằng sau khu nhà giam của chính mình.

Những bộ quần áo tù rách nát, vá víu chằng chịt được khoác thêm vào người anh Sơn để gọi là tạm ấm khi phải trở về lòng đất lạnh.

Tám giờ tối, các phòng giam của khu tù chính trị được khóa cẩn thận, thì cũng là lúc chiếc hòm bằng cây “vông đồng” sần sùi, tồi tàn đựng xác Ðại Tá được đặt trên xe “cải tiến”, do 4 tên tù hình sự kéo và đẩy đi. Họ chôn anh Sơn cạnh bên kia bờ suối nhỏ, phía bên này là một rừng sắn đang tươi tốt cao ngang lưng, thành quả lao động bằng máu và mồ hôi trong những ngày khổ sai của số người còn sống sót…

Tin về cái chết của Ðại Tá kiêm Sử gia Phạm Văn Sơn được giữ kín. Ðiều này chứng tỏ đã không có sự bình thường như mọi lần trước khi có một trong những anh em chúng tôi ra đi.

Ðại Tá Sơn nằm xuống yên lặng như thế, nhưng mọi việc còn lại gây nhiều chấn động không phải chỉ trong anh em tù với nhau mà ngược lại có sự bàn tán, tranh luận… thể hiện ngay trong nội bộ của bọn chỉ huy trại Tân Lập (K1) do nội dung lá thư viết bằng bút chì trên 1 trang giấy “tự túc” mà tên hình sự đã tự ý lấy tại phòng thi đua. Trong thư Ðại Tá Sơn nói rằng: “Xin các ông hãy xem xét lại cách đối xử với chúng tôi, những hình thức dã man như vừa qua hoàn toàn không có lợi mà ngược lại rồi đây trong lịch sử phải ghi thêm vào đấy vết ô nhục mãi ngàn đời sau cho dân tộc VN… vì đã có một thời mà người cộng sản từng đối xử dã man ngay với đồng bào, đồng loại của mình!” (Thực ra câu này, tôi chỉ viết dựa theo ý chính của tên Nhàn, còn nguyên văn thì không cách nào cá nhân tôi có thể xem được).

Sau biến cố này, bộ mặt sinh hoạt tù khác hẳn, kỷ luật nghiêm ngặt hơn. Về phía ban thi đua được tăng cường thêm 2 người tù chính trị làm trật tự, các đội trưởng phải chịu trách nhiệm hết mọi hành vi của đội viên mình trong mọi nhất cử nhất động.

Bên ngoài tuy phải áp dụng hình thức lao động khổ sai như cũ, nhưng bên trong bọn Việt Cộng đã ngầm bảo nhau cần nhẹ tay hơn. Trước đó, việc nấu nướng riêng tư không cho phép, nay thì có lệnh mỗi tù nhân vào sáng Chủ Nhật có thể xuống bếp trại để hâm lại những thức ăn riêng.

Hôm nay ngồi suy ngẫm lại chuyện cũ thì cái chết của Ðại Tá Sơn nào có khác gì những anh hùng Nguyễn Tri Phương (thà nhịn đói chịu đau mà chết chứ không bao giờ khuất phục giặc Pháp), Hoàng Diệu (lên thành treo cổ tự vẫn chứ không đầu hàng)… Ðại Tá Phạm Văn Sơn tuyệt thực trong nhà kỷ luật, chấp nhận cái chết, vì muốn đòi quyền lợi cho các anh em tù nhân chính trị khác được hưởng đúng theo quy chế của một tù binh theo luật quốc tế, tuy kết quả không như ông mong muốn, nhưng dầu sao cũng làm cho những anh em còn sống được dễ thở hơn…

Ðại Tá Sơn chịu chết để cho anh em chúng tôi sống…

Viết bài này với ước mong có thể thay mặt cho các anh em cùng sống chung với Ðại Tá kiêm Sử gia Phạm Văn Sơn tại trại K1 Tân Lập, xin được thắp nén nhang vái linh hồn Ðại Tá luôn được siêu thoát.

Trường Xuân Phu Tử Hồ Quang
Viết lại vào ngày 18/5/2010
Nguồn : Diễn Đàn Cựu SVQY

Di ảnh cố Đại tá Phạm Văn Sơn




NHỮNG BỨC ẢNH CUỘC THI DU LỊCH AGORA 2020 ĐẸP NHẤT

Theo Internet

* Agaro là ứng dụng di động có 3,5 triệu người dùng . Hầu hết là các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp và không chuyên .

* Đây cũng là đơn vị tổ chức các cuộc thi nhiếp ảnh với nhiều chủ đề khác nhau . Thu hút hàng trăn ngàn người tham gia mỗi năm .

* Năm nay , cuộc thi chủ đề ” Du lịch ( # Travel2020 ) ” diễn ra từ ngày 24/7 đến 7/8/2020 . Nhận được 13.685 ảnh dự thi .

* Sau 1 tháng bình chọn , ban tổ chức đã tìm ra top 50 ảnh tốt nhất . Và trao thưởng 1.000 usd cho tác giả Brian TR ( Tây Ban Nha ) với bức ảnh ” Khoảnh khắc kỳ diệu ” . Ảnh đạt giải nhất này chụp chính tác giả và bạn đồng hành là chú chó cưng , đang ngắm hoàng hôn ở Dolomiter – Italy – qua cửa lều .

* Dưới đây là một số ảnh xuất sắc nhất trong top 50 ảnh du lịch đẹp nhất năm 2020 của Agora :

* Tác phẩm ” Khoảnh khắc kỳ diệu ” của Brian TR , Tây Ban Nha . Giải nhất cuộc thi Du lịch (#Travel2020) của Agora

14

The winner of #Travel2020, Brian, who goes under the Instagram handle @rakia10 took this stunning photo from inside his tent in Seceda, Italy Credit: @rakia10/AGORA IMAGES

From breathtaking mountain views snapped from the opening of a tent to vast desserts of amber hues, over 13,000 snaps were submitted to the photo contest.

A shortlist of 50 finalists was narrowed down by competition judges for the mobile App, Agora, to find the overall winner.

Octavi Royo, Agora’s co-founder and CEO, said: “Thanks to these photos, we can travel to some amazing corners of our planet and see them from the point of view of travel photographers.”

STAY IN THE LOOP

14

The photo was taken on a chilly autumn morning on a road trip to the Black Forest region in Germany by @gloomicious, who was wanting to travel to get away from a stressful time at work Credit: @gloomicious/AGORA IMAGES

UP IN THE AIR

14

Ares Mahol captured his younger cousin’s face, lit up by the sky outside the plane as they flew to Iceland – it was the first time he had ever been on an aeroplane Credit: @ares_mahol/AGORA IMAGES

MELLOW YELLOW

14

German photographer Jörg Petermann wandering through the Austria Alps. The gloomy mist was broken up by cheerful yellow flowers Credit: @jp.photoart/AGORA IMAGES

ALPINE ADVENTURE

14

Snowshoeing in the French Southern Alpes, this photographer stumbled upon a cute snow coated cabin Credit: @ghislainfave/AGORA IMAGES

SHOESTRING TRAVEL

14

@Careless_Wandering shared a hair raising snap of her perching on the edge looking out over Horseshoe Bend in Canada Credit: @careless_wandering/AGORA IMAGES

DREAMBOAT

14

Arnold Maisner took this snap of his partner looking out as they floated along Lake Braies, Italy. Arnold wrote: “Enjoy the moment. Go on a journey and experience something. Get out of the comfort zone.” Credit: @arnold_maisner_photo/AGORA IMAGES

ICE COOL VIEWS

14

British snapper Dan Rose took this beautiful photo inside an ice cave at the foot of the Watzmann mountain Credit: @danrose/AGORA IMAGES

FLYING HIGH

14

@obra19 saw a paraglider float across the sky as the sun rose in the Philippines Credit: @obra19/AGORA IMAGES

WORLD WONDER

14

@Globaltravelphotography took a photo of his girlfriend wearing a traditional Indian Sari in the mosque on the side of the Taj Mahal Credit: @globetravelphotography/AGORA IMAGES

LIGHT UP YOUR LIFE

14

The Great Staples Tor rock formation under the milky way. The photographer used lights and long exposure to frame the landscape, capturing all the detail and magic of the location Credit: @theliamman/AGORA IMAGES

GOLDEN HOUR

14

The photographer captured himself walking down Mouse Tank Rd during golden hour, basking in nature’s glory Credit: @adamdesjardins0211/AGORA IMAGES

14

https://www.the-sun.com/news/1447989/travel-2020-agora-photo-competition/



RU TÌNH

Hôm nào mở cửa mùa Thu,
Nắng hanh mây tụ non mù quyện nhau,
Lửa tình chớm trước duyên sau,
Chiều nào mang sáo qua cầu thang mây.

Hôm nào mở cửa Hạ say,
Sóng trùng dương dợn ngất ngây gió nồng,
Sầu ve phượng vỹ nát lòng,
Ngày nào biển gọi ru dòng tình thơ.

Hôm nào mở cửa Đông mơ,
Trăng non buốt giá soi mờ bóng xiêu,
Người đi lỗi tạ muôn chiều,
Ru tình tạ lỗi cô liêu một thời.

Hôm nào mở cửa Xuân tươi,
Ra đi là mất mộng đời xuân xanh,
Gởi người ở lại an lành!
Gởi người ở lại Mai lành nguyên hương !

Hôm nào người ghé bến thương,
Người mang cả một thiên đường đê mê,
Bên nhau rộn rã non thề,
Thời gian ngừng bặt biển thề dưới trăng !

Tình em vằng vặc trăng rằm,
Tình anh sầu rụng rơi nằm trong thơ,
Bên nhau hò hẹn tận giờ,
Tình ru thắm thiết cuối bờ yêu thương…!

NGUYỄN THIÊN LONG




Huyền thoại về chiếc chuông đồng thời Tây Sơn

Dù cách kinh thành Huế đến hơn bảy cây số nhưng vì sợ Nguyễn Ánh (lên ngôi vua năm 1802) tịch thu chuông quý nên các bô lão trong làng đã “thiến” chuông bằng cách khoan nhiều lỗ trên đỉnh rồi trám chì vào để giảm bớt… tiếng vang của chuông.

Đây là câu chuyện có thật về một quả chuông quý được đúc bằng đồng dưới thời vua Quang Trung. Chúng tôi đã tìm về làng La Chữ, xã Hương Chữ, huyện Hương Trà (tỉnh Thừa Thiên – Huế) để được mục sở thị về huyền tích quả chuông – hiện vật lịch sử đã gắn liền hơn 200 năm với lịch sử dân tộc.

“Sự tích” chuông đồng

Men theo quốc lộ 1A, chúng tôi hỏi đường tìm về làng La Chữ với hi vọng được tận mắt thấy và nghe được tiếng chuông quý mà tiếng đồn về nó bấy lâu nay như một… “huyền thoại”.

Nằm trong hệ thống đình làng, miếu mạo cổ kính, chùa làng La Chữ là một trong những di tích văn hóa lịch sử của tỉnh Thừa Thiên – Huế khi còn giữ lại được nhiều chứng tích của lịch sử. Đặc biệt là quả chuông đồng được đúc vào thời Tây Sơn với nhiều hoa văn độc đáo được dân làng La Chữ bảo vệ suốt mấy trăm năm nay.

Theo ông Hà Xuân Út, Trưởng thôn La Chữ thì quả chuông này được đúc vào năm Quang Trung thứ 4 (1791) do vợ chồng võ tướng Điện tiền Thái bảo Võ Văn Dũng và nhạc phụ Lê Công Học cúng dường. Chuông cao 0,92m, đường kính miệng chuông 1,78m và nặng trên 3,5 tạ.

Ông Lê Phước Vân bên quả chuông quý.

Theo gia phả của làng chép lại thì vợ của võ tướng Võ Văn Dũng là người họ Lê thuộc làng La Chữ, tên là Lê Thị Vi. Sau khi triều Tây Sơn định đô ở Phú Xuân đã cho xây dựng tại làng La Chữ một dinh trấn do tướng Võ Văn Dũng trấn thủ. Là một vị tướng tài giỏi của triều đình, lại là người rể quý của làng La Chữ nên tướng Võ Văn Dũng đều được tất thảy mọi người trong làng quý mến.

Ngoài chuông đồng, tại đây còn có “bãi voi” cũng đã được ghi vào lịch sử của làng. Vào thời điểm đó, làng La Chữ mua được một mảnh đất rộng chừng 7 mẫu từ làng An Đô. Và để giúp triều Tây Sơn, dân làng đã bàn nhau rồi quyết định hiến 7 mẫu đất này cho triều đình làm bãi luyện voi. Trải qua bao biến thiên thăng trầm của lịch sử, giờ đây “bãi voi” một thời gắn liền với tên tuổi của nữ tướng Bùi Thị Xuân – người phụ trách huấn luyện voi chiến tại bãi voi này, vẫn còn những dấu tích. Những vũng voi nằm nay trở thành những vũng nước trũng lớn phủ xanh một màu của lúa mạ.

Ngày nay, bãi voi, chuông đồng của làng La Chữ được nhiều người biết đến bởi những kì tích và huyền tích gắn liền với lịch sử dân tộc.

“Thiến” chuông để… giữ gìn báu vật  

Quả chuông ở chùa làng La Chữ hiện là quả chuông duy nhất được đúc dưới thời vua Quang Trung còn lưu giữ được.

Những hoa văn trên chuông không mang nặng dấu ấn Phật giáo mà được trang trí bằng “bộ tứ” hoa văn: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Theo đó ô Xuân được trang trí bởi các họa tiết, hoa văn như lược sưa, lược dày, gương hoa, thể hiện vẻ đẹp dịu dàng của mùa xuân, của phái đẹp. Ô Hạ được trang trí bởi ngọn lá và thanh gươm, biểu thị cho đấng mày râu anh hùng. Hai bầu rượu được quấn chặt bởi dải lụa được trang trí trên ô Thu và ô Đông là hình chiếc quạt lá và cuốn sách. Bên dưới các ô là hình 8 vị võ tướng tay cầm khí giới và dưới cùng là bộ “tứ linh”: Long, Lân, Quy, Phụng được trang trí tương ứng với mỗi ô.

Những lỗ khoan được trám bằng chì trên đỉnh chuông.

Ông Lê Phước Vân, người đang canh giữ chuông đồng tại chùa La Chữ cho biết: “Nhà tui đã có ba đời từ ông nội, ba tui và nay là tui làm nhiệm vụ canh giữ chuông quý của làng, mỗi ngày chỉ đánh hai lượt từ 3 giờ rưỡi sáng và 7 giờ tối. Dù đã trải qua hàng trăm năm lịch sử với gần chục lỗ đạn trên thân nhưng mỗi khi đánh, tiếng chuông vẫn ngân đến “lắng” lòng người chú à”.

Khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua (năm 1802), ngoài việc xóa bỏ những dấu tích của vương triều cũ như đình làng, miếu mạo… thì nhiều giá trị văn hóa lịch sử của triều Tây Sơn theo đó cũng bị nhà Nguyễn phá hủy. Nhất là việc “tận thu” các hiện vật bằng đồng để làm nguyên liệu đúc vũ khí. Thế nhưng, bằng tình cảm gắn bó bao đời với triều Tây Sơn, người dân làng La Chữ đã bảo vệ chuông đồng thoát nạn “tận diệt” của nhà Nguyễn với nhiều biện pháp…

Theo ông Vân thì quả chuông đồng này tuy không lớn nhưng khi đánh lên lại có tiếng ngân vang xa đến kỳ lạ. Và vì sợ Nguyễn Ánh nghe được tiếng chuông này (dù lúc ấy chuông cách kinh thành Huế hơn 7 cây số – NV) mà cho tịch thu nên các bô lão trong làng đã tìm cách “thiến” chuông nhằm giảm tiếng vang bằng cách khoan nhiều lỗ trên đỉnh rồi trám chì vào đó. Dân làng còn tự xóa đi tên tướng Võ Văn Dũng được khắc trên chuông. Và cứ mỗi lần có binh lính nhà Nguyễn đi lùng sục thì dân làng lại đem chuông giấu xuống giếng, rồi ngụy trang trên miệng giếng. Nhờ vậy mà chuông đồng vẫn giữ được cho đến ngày hôm nay.

“Có một thời, chiến tranh đã tàn phá, thiêu rụi đình, chùa ở đây nhưng phải mất 3 tháng sau, cột trụ to bằng hai người ôm của đình làng mới cháy hết. Còn những lỗ nhỏ trên chuông là do chuông bị trúng đạn vào năm Mậu Thân 1968”, một bô lão trong làng chỉ tay về những lỗ nhỏ do đạn bắn trên chiếc chuông đồng cho biết.

Bằng tình cảm và với những cách làm khác nhau, dân làng La Chữ đã bảo vệ được quả chuông quý đến ngày hôm nay. Và mỗi khi tiếng chuông ngân lên, dân làng nơi đây lại “lắng lòng” để nhớ về một vị võ tướng anh dũng thời Tây Sơn. 

Theo Internet




Nhà văn gốc Việt đầu tiên vào ủy ban chấm giải Pulitzer

11/09/2020

Thông báo của Hội đồng Pulitzer xác nhận không chỉ là người gốc Việt đầu tiên, giáo sư Nguyễn Thanh Việt còn là người Mỹ gốc Á duy nhất từ trước đến nay tham gia chấm giải thưởng danh giá của Mỹ.

Nguyễn Thanh Việt - nhà văn gốc Việt đầu tiên vào ủy ban chấm giải Pulitzer - Ảnh 1.
Giáo sư Nguyễn Thanh Việt – Ảnh chụp màn hình vietnguyen.info

“Đây là một vinh dự khi được chọn vào hội đồng chấm giải Pulitzer. Là một người may mắn từng nhận giải, tôi hiểu tầm ảnh hưởng của giải thưởng tới sự nghiệp của người cầm bút và nhận thức của độc giả ra sao. Tôi rất vui được tham gia vào công việc quan trọng của hội đồng”, giáo sư Nguyễn Thanh Việt chia sẻ trên Twitter cá nhân ngày 9-9.

Nguyễn Thanh Việt hay Viet Thanh Nguyen là tác giả của tiểu thuyết được viết bằng tiếng Anh tên The Sympathizer (tạm dịch: Cảm tình viên) xuất bản năm 2015. Quyển sách đã gây tiếng vang lớn khi thắng giải Pulitzer cho các tác phẩm hư cấu năm 2016 cùng nhiều giải thưởng khác sau đó.

Năm 2017, tuyển tập truyện ngắn The Refugees của Nguyễn Thanh Việt thu hút sự chú ý rộng rãi tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Tập truyện ngắn với lời đề từ “tặng những người tị nạn, ở bất cứ đâu” sau đó đã được xuất bản tại Việt Nam với tên gọi Người tị nạn.

Theo trang web của Hội đồng Pulitzer, Nguyễn Thanh Việt hiện là giáo sư tại Đại học Nam California đồng thời là một cây bút bình luận của tờ New York Times.

Đánh giá về sự gia nhập của nhà văn gốc Việt, đồng chủ tịch hội đồng giám khảo Pulitzer – ông Stephen Engelberg và bà Aminda Marqués Gonzalez – nhấn mạnh: “Những trải nghiệm ấn tượng của Nguyễn Thanh Việt trong vai trò tiểu thuyết gia, nhà báo, người viết tiểu luận và một học giả giúp ông trở thành nhân tố mới tuyệt vời cho hội đồng giám khảo giữa thời đại đầy biến động”.

Sinh ra tại Buôn Mê Thuột năm 1971 và đến Mỹ sau năm 1975, Nguyễn Thanh Việt từng chia sẻ ông hi vọng sẽ sớm có được bản tiếng Việt của Người tị nạn để cha mình có thể đọc.

Tác phẩm gần đây nhất của ông là Chicken of the Sea, một quyển sách dành cho thiếu nhi viết chung với con trai 6 tuổi. Nguyễn Thanh Việt đang hoàn thiện The Committed, cuốn tiếp theo của tiểu thuyết The Sympathizer dự kiến ra mắt vào năm sau.

Joseph Pulitzer, một nhà báo người Mỹ gốc Hungary, là cha đẻ của giải thưởng Pulitzer. Trước khi qua đời, ông đã để lại tài sản tích cóp cùng di nguyện muốn mở một trường đào tạo báo chí và một giải thưởng dành cho người cầm bút.

Giải Pulitzer được trao lần đầu vào năm 1917. Hội đồng chấm giải Pulitzer gồm 19 thành viên có nhiệm kỳ 3 năm.

Theo Internet




Nhìn lại những chặng đường của “Ban Hợp ca Thăng Long” – Ban nhạc đã trở thành huyền thoại

Nếu nói về một ban nhạc danh tiếng nhất trong làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, hầu hết giới chuyên môn, giới ca sĩ, nhạc sĩ và khán giả đều công nhận đó là ban hợp ca Thăng Long, với nòng cốt là 3 tên tuổi đã trở thành bất tử: Ca sĩ Hoài Bắc (tức nhạc sĩ Phạm Đình Chương), danh ca Thái Thanh và ca sĩ Hoài Trung (tức Phạm Đình Viêm).

Từ trái qua: Hoài Bắc (Phạm Đình Chương) – Thái Thanh – Hoài Trung (Phạm Đình Viêm)

Trong 3 người thì Hoài Trung có vẻ kém danh tiếng hơn, nhưng khán giả vẫn chưa thể nào quên một giọng tenor với phong cách trình diễn đặc biệt, tiếng hát ngân dài và có khả năng giả tiếng ngựa hí hoặc các âm thanh khác khi hát bè trong hợp ca. Ông cũng có tài chọc cười nên cứ thấy ông xuất hiện trên sân khấu là khán giả đã cười ồ.

Ngoài 3 cái tên chủ chốt này, thỉnh thoảng ban Thăng Long cũng có sự góp mặt của danh ca Thái Hằng, ca sĩ Khánh Ngọc (vợ Hoài Bắc) và cả nhạc sĩ Phạm Duy – là một trong những ca sĩ đầu tiên hát tân nhạc.

Đại gia đình Thăng Long: hàng trên: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Hoài Trung, hàng dưới: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh

Điều đặc biệt của ban Thăng Long là các thành viên đều là những anh chị em họ Phạm (hoặc dâu rể). Thân phụ của họ là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm (tức Hoài Trung của ban Thăng Long) và 1 người con gái đã không may qua đời sớm khi đi tản cư ở Sơn Tây.

Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.

Từ trái qua: Thái Thanh – Phạm Đình Chương – Thái Hằng

Khi đặt chân vào đến phương Nam, những anh chị em nhà họ Phạm muốn lập một ban nhạc gia đình để đi hát, họ đã chọn cái tên Thăng Long, gợi nhớ về vùng đất Hà Nội, là cố hương gốc gác của họ. Cái tên Thăng Long cũng gắn liền với thời thanh xuân của các anh chị em họ Phạm ở vùng tản cư.

Để nói rõ hơn về nguồn gốc của cái tên Thăng Long, hãy cùng đi ngược về quá khứ vào những năm đầu thập niên 1940, khi ông Phạm Đình Phụng còn ở Hà Nội và mở một cửa hàng bán mứt và ô mai ở phố Bạch Mai tên là Mai Lộc. Thuở đó có một câu bé mới 13 tuổi tên là Nguyễn Cao Kỳ thường đến Mai Lộc để ăn ô mai và đánh đàn mandoline với Phạm Đình Chương 14 tuổi, và Thái Thanh lúc đó mới 9 tuổi thường ngồi một bên để nghe mấy ông anh dạo đàn, thỉnh thoảng còn bị Phạm Đình Chương bắt hát để họ luyện đàn. Nguyễn Cao Kỳ sau đó thành tướng không quân, rồi phó tổng thống, nhưng luôn giữ một tình bạn thâm giao thuở thiếu thời với nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

Đến năm 1946, bắt đầu thời kỳ loạn lạc, nhiều gia đình Hà Nội phải dắt díu nhau đi tản cư, ông bà Phạm Đình Phụng cùng 2 người con trai, 3 người con gái ra vùng Sơn Tây (Lúc này người con trai đầu là Phạm Đình Sỹ đã lấy vợ là Kiều Hạnh và không đi cùng), sau đó dừng chân ở một vùng xuôi gọi là Chợ Đại. Tại đây, ông Phụng mua lại một cái quán và đặt tên là Quán Thăng Long, bán các món phở và cà phê. Trong những người con của ông bà Phụng có cô gái tên là Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy sau này. Thái Hằng cùng với quán cà phê Thăng Long này đã trở thành nhân vật chính trong ca khúc nổi tiếng Cô Hàng Cà Phê của nhạc sĩ Canh Thân.

Phạm Duy và Thái Hằng khi còn trong chiēn khu

Trong hồi ký Phạm Duy, ông kể lại:

“Tại Quán Thăng Long, ông bà có ba người con để giúp đỡ trong việc nấu phở, pha cà phê và tiếp khách. Người con gái lớn tên là Phạm Thị Quang Thái, vào trạc 20 tuổi, biết hát và biết chơi cả đàn guitare hawaienne nữa. Nàng có một vẻ đẹp rất buồn, lại là người ít nói, lúc nào cũng như đang mơ màng nghĩ tới một chuyện gì xa xưa. Văn nghệ sĩ nào khi tới gần nàng thì cũng đều bị ngay một cú sét đánh. Thi sĩ Huyền Kiêu luôn luôn thích làm người tao nhã (galant) và có nhiều lúc, trịnh trọng cầm hoa tới tặng Nàng. Thi sĩ Đinh Hùng, rụt rè hơn, nhờ người chị ruột của tôi – đang tản cư ở Chợ Đại – làm mối. Còn anh họa sĩ hiền lành như bụt và có đôi mắt rất xanh là Bùi Xuân Phái thì ngày ngày tới Quán Thăng Long, ngồi đó rất lâu, im lặng… Ngồi, nhìn, chứ không vẽ. Ngọc Bích cũng soạn một bài hát tỏ tình…”

Chỉ một vài năm sau đó, tất cả các anh chị em họ Phạm là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Thái Thanh (lúc này đi hát với tên là Băng Thanh) đều gia nhập các ban văn nghệ quân đội Việt Minh của Liên Khu IV, hai ông bà chủ quán Thăng Long quyết định rời Chợ Đại di cư vào Thanh Hóa để được sống gần gũi các con. Hai ông bà tới một nơi gọi là Chợ Neo, thuê lại căn nhà lá và mở một quán phở, vẫn lấy tên là Quán Thăng Long.

Những anh chị em và dâu rể nhà Thăng Long. Hàng đứng, từ trái sang: Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Phạm Đình Sỹ. Hàng ngồi: Phạm Duy, Thái Hằng, Kiều Hạnh, Thái Thanh

Tháng 5 năm 1951, đại gia đình họ Phạm quyết định “dinh tê” về Hà Nội. Lúc này Phạm Duy đã cưới Thái Hằng, Phạm Đình Sỹ đã cưới Kiều Hạnh, sinh ra Mai Hương và cùng đi chung. Chỉ 1 tháng sau, đại gia đình Thăng Long quyết định vào vùng đất hứa Sài Gòn để định cư. Tại đây những anh em nhà họ Phạm, mà nòng cốt là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Thanh thành lập ban nhạc lấy tên là Thăng Long, đặt theo tên quán phở gia đình ở vùng Chợ Đại, Chợ Neo trước đây.

Rồi cũng trong một tâm trạng lưu luyến về dĩ vãng chưa xa lắm, Phạm Đình Viêm lấy nghệ danh là Hoài Trung để nhớ về Khu 4, Phạm Đình Chương lấy nghệ danh là Hoài Bắc để nhớ về cố xứ. Còn cô út Băng Thanh chính thức lấy nghệ danh là Thái Thanh cho giống với người chị Thái Hằng.

Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh

Lúc này Thái Hằng đã lập gia đình, bận bịu con nhỏ nên không thể theo hát cùng ban Thăng Long thường xuyên, mà chỉ thỉnh thoảng góp mặt. Tương tự là Khánh Ngọc – vợ của Hoài Bắc. Vì vậy nòng cốt của ban Thăng Long thành lập từ những năm 1950 cho đến năm 1975 chỉ là 3 cái tên Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh. Thời gian đầu họ đến cộng tác với đài phát thanh Pháp Á ở đại lộ de La Somme, mà sau này được đặt lại tên thành Hàm Nghi, ở gần góc đường với đường Công Lý. Ban Thăng Long thành công ngay lập tức mà lối hát khác biệt, có phần bè mới lạ và hấp dẫn. Họ lại có nguồn nhạc phong phú được sáng tác “cây nhà lá vườn” bởi 2 tên tuổi lừng danh là Phạm Duy và Phạm Đình Chương, mang được tính thời đại một cách sắc nét.

Thái Thanh – Hoài Bắc – Hoài Trung trong ban Thăng Long

Ngoài thù lao hát ở đài phát thanh và phòng trà vốn còn rất hạn chế ở Sài Gòn vào đầu thập niên 1950, thì ban Thăng Long kiếm sống chủ yếu là tiền thu thanh trong đĩa nhạc, lúc này vẫn còn là đĩa đá, chứ chưa có dĩa nhựa (vinyl) như sau này.

Ban Thăng Long cũng là một trong những ban nhạc/ca sĩ đầu tiên trình diễn theo hình thức phụ diễn ở rạp chiếu bóng. Nghĩa là các ca sĩ lên hát tân nhạc (gọi là phụ diễn) cho khán giả nghe trước khi phim bắt đầu được chiếu. Đầu tiên là rạp Nam Việt ở chợ cũ góc đường de la Somme và Chaigneau (sau này là Hàm Nghi – Tôn Thất Đạm), lối phụ diễn này của ban Thăng Long thành công ngay lập tức. Ngay sau đó là rạp Văn Cầm ở Chợ Quán, rạp Khải Hoàn và Thanh Bình ở khu chợ Thái Bình – Quận Nhứt liên tục mời ban hợp ca Thăng Long đến phụ diễn.

Thời điểm đó người Sài Gòn vẫn rất mê cải lương, nhưng tân nhạc bắt đầu được ưa chuộng, mà sân khấu đầu tiên chính là ở các rạp chiếu bóng, vì những người đi xem phim chiếu rạp như vậy đa số là dân Tây học rất thích tân nhạc, nên ban Thăng Long có dịp giới thiệu hàng loạt những sáng tác của Phạm Đình Chương, Phạm Duy và nhiều nhạc sĩ thời tiền chiến khác.

Ban Thăng Long lúc này có thêm Khánh Ngọc (áo đậm) và Thái Hằng (áo trắng)

Từ lối hát phụ diễn này, thừa thắng xông lên, ban Thăng Long tổ chức những Đại Nhạc Hội hát tân nhạc ở các rạp vốn được xem là “lãnh địa” của cải lương như rạp Nguyễn Văn Hảo hay Aristo. Lúc này không chỉ là hát phụ diễn nữa mà chương trình ca diễn của ban Thăng Long phong phú hơn nhiều. Các màn đơn ca, hợp ca, hay nhạc cảnh của ban Thăng Long cùng các nghệ sĩ khác được mời tới diễn chung, như Trần Văn Trạch, Phi Thoàn, Xuân Phát, và cả ban vũ Lưu Bình – Lưu Hồng (sau này gắn bó với Maxim’s của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ).

Click để nghe Ban Hợp Ca Thăng Long hát trong băng Sơn Ca 10 năm 1974

Với những hoạt động tân nhạc sôi nổi ngay từ khi mới chân ướt chân ráo đến Sài Gòn từ xứ Bắc, có thể nói ban hợp ca Thăng Long đã có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển tân nhạc ở Sài Gòn thập niên 1950.

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch – người có thời gian cộng tác cùng ban Thăng Long kể lại: “Mỗi xuất hiện của Ban Hợp Ca Thăng Long là một cơn nóng sốt đối với bà con khán giả miền Nam. Cách trình diễn, bài vở họ chọn, ngôn ngữ họ dùng… như một điều gì vừa gợi óc một tò mò, vừa mới mẻ, quyến rũ, lại cũng vừa thân thiết như một vật quý đã mất từ lâu, nay tìm lại được…”

Đạt được thành công to lớn ở phía Nam, những anh chị em nhà họ Phạm bắt đầu “Bắc tiến”, mà thực ra là sự trở về Thăng Long của ban nhạc mang tên Thăng Long, lúc này cùng theo đoàn hát mang tên là Gió Nam, với ý nghĩa là một làn gió mới đến từ phương Nam để đi trình diễn ở Hà Nội. Vì Nhà Hát Lớn giới hạn về không gian, nên rất nhiều thanh niên không mua được vé, phải trèo qua cửa sổ để nghe Gió Nam hát. Trong những người thanh niên đó có Lê Quỳnh, lúc đó hãy còn rất trẻ và hâm mộ tiếng hát Thái Thanh cuồng nhiệt. Đến sau này, khi di cư vào Sài Gòn năm 1954 và trở thành nam tài tử nổi tiếng bậc nhất Miền Nam, ông đến hỏi cưới Thái Thanh và được gia đình ông Phạm Đình Phụng đồng ý.

Ban Hợp Ca Thăng Long đứng trên đỉnh cao cho đến đầu thập niên 1960 thì có một sự cố đau lòng diễn ra trong nội bộ gia đình họ Phạm đã làm rúng động báo giới Sài Gòn. Vụ việc này có thể ai cũng đã rõ nên xin không tiện nói, chỉ biết rằng sau tai tiếng này, cuộc đời Phạm Đình Chương bước sang một giai đoạn khác. Chia tay vợ với vết thương lòng to lớn, ông sống những ngày gần như cắt đứt mọi sự liên lạc, chỉ tiếp xúc giới hạn với 1 vài bằng hữu thân thiết. Gia đình Phạm Duy cũng rời đại gia đình Thăng Long ở đường Bà Huyện Thanh Quan để về cư xá Chu Mạnh Trinh.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương và Khánh Ngọc

Từ thập niên 1960 trở về sau, Hoài Bắc – Phạm Đình Chương sáng tác rất ít, nếu có thì cũng là những ca khúc u sầu như Người Đi Qua Đời Tôi, Khi Cuộc Tình Đã Chêt, hay Nửa Hồn Thương Đau. Nhiều người nói rằng ca khúc Nửa Hồn Thương Đau được ông viết ngay sau khi chia tay Khánh Ngọc, nhưng sự thật không phải vậy. Dư chấn của thảm kịch đã giảm thiểu mọi hoạt động của nhạc sĩ Phạm Đình Chương một thời gian khá dài, và ông chỉ sáng tác Nửa Hồn Thương Đau sau đó đúng 10 năm (1970) và được giới thiệu trong cuốn phim điện ảnh Chân Trời Tím qua tiếng hát Thái Thanh, được lồng vào phần trình diễn của minh tinh Kim Vui trong phim.

Cũng từ thập niên 1960, dù không hoạt động sôi nổi như trước, nhưng Ban Hợp Ca Thăng Long vẫn thu băng dĩa và trình diễn ở phòng trà Đêm Màu Hồng do Hoài Bắc Phạm Đình Chương mở ở Hotel Catinat có 2 mặt tiền đường, số 69 Tự Do và số 36 Nguyễn Huệ.

Hotel Catinat

Cuối năm 1974, ban Thăng Long cùng giọng ca Thái Thanh được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thực hiện riêng một băng nhạc duy nhất, đó là Sơn Ca 10.

Sau năm 1975, thời cuộc đổi thay, mỗi người mỗi ngả. Thái Thanh kẹt lại ở Việt Nam trong 10 năm, từ 1975 đến năm 1985. Trong thời gian đó, Hoài Trung và Hoài Bắc kết hợp cùng cháu ruột là ca sĩ Mai Hương (con của Phạm Đình Sỹ) thành lập ban Thăng Long hải ngoại để trình diễn ở một vài sân khấu hải ngoại.

Ban Thăng Long ở hải ngoại, với Mai Hương thay thế cô ruột là Thái Thanh

Năm 1991, Hoài Bắc Phạm Đình Chương qua đời ở tuổi 62

Năm 2002, Hoài Trung Phạm Đình Viêm qua đời ở tuổi 83

Đến năm 2020, cô em út Thái Thanh – linh hồn của ban hợp ca Thăng Long cũng rời bỏ chúng ta. Tất cả những người đã tạo lập thành ban nhạc huyền thoại năm xưa nay đều đã thành người thiên cổ, nhưng tên tuổi và những đóng góp của họ dành cho tân nhạc vẫn trường tồn với thời gian.

Bài: Đông Kha
Bản quyền bài viết của nhacxua.vn




Châu Công Tử – qúi tộc Hội An

Nguyên Ngọc

Chuyện này đến nay có lẽ chỉ còn mình tôi biết. tôi muốn kể lại, trước hết vì Hội An của tôi, để Hội An hiểu thêm rằng mình từng lạ và “hay” đến thế nào. Đặng mà cố giữ nó.

Năm ấy hình như tôi khoảng 12 tuổi,  cũng có thể chỉ mới 11 vì đến cách mạng tháng Tám 1945 tôi vừa 13, mà  theo tôi nhớ thì ông Nguyễn Tuân tới Hội An trước Cách mạng đâu khoảng  vài ba năm.

Ba tôi, bấy giờ gọi là “thầy thông bưu chính’’, tức đã có đến bằng diplome, hồi ấy thế cũng là trí thức bậc trung. Hình như ông định biến con trai mình thành một nhà bác học, hay tệ nhất cũng là  một nhà văn lừng danh. Ông có lối dạy con rất đặc biệt: ông bắt tôi đọc hầu như toàn bộ văn học Việt Nam đương thời, từ Tự Lực văn đoàn cho đến Tiểu thuyết Thứ bảy, rồi Phổ thông bán nguyệt san, đọc hết luôn tủ sách Văn mới của Hàn Thuyên, các tạp chí Thanh Nghị, Tri Tân, tất nhiên không  thể thiếu báo Ngày nay…, cả Tây sương ký và Trang Tử Nam hoa kinh qua  bản dịch của Nhượng Tống

… Còn sách Tây thì tôi phải đọc trước chương trình quy định ở lớp một, có khi đến hai năm. Ngốn toàn bộ “Những người khốn khổ” và “Nhà thờ Đức Bà Paris” của Victor Hugo, tra từ điển  Larousse đến mờ mắt để lần cho ra cái đoạn lê thê ông nhà văn lắm lời này tả các cánh cửa rậm rạp của nhà thờ Đức Bà… Tôi biết ơn ba tôi đã  biến tôi thành một con mọt sách suốt đời.

Một thành phố chỉ có thể thật sự là “thành phố văn hóa”, như Hội An, khi nó có, từng có, và  biết giữ một lớp tinh hoa cấp cao, một lớp quý tộc văn hoá như thế, có thể nhỏ thôi, có thể nghèo, nhưng là quý tộc, sang trọng, như là cái lõi vàng ròng của đời sống tinh thần và văn hóa chung.

Bây giờ nhớ lại, cứ như ngày ấy tôi vì say sách mà đã thành kẻ mộng du, mới 11 hay 12 tuổi mà đêm nào cũng lang thang một mình trên các đường phố Hội, thường rất khuya, chỉ đi một mình thôi – anh ấy dặn vậy, tìm đến một ngôi nhà cổ bé tí và sâu hun hút. Nhà ấy có hai mặt đường như tất cả các nhà trong phố cổ Hội An, một mặt quay ra Rue du pont japonnais (đường Chùa Nhật Bản) nay là Trần Phú, mặt kia trổ ra Rue Cantonnais (đường  Quảng Đông) nay là Nguyễn Thái Học. Đấy là nhà của một vị nho học nổi  tiếng có cái tên rất lạ: Châu Phi Cơ. Lúc nào cũng thơm nồng mùi thuốc bắc, về đêm càng sực nức. 

Khuya, tôi gõ cửa rất khẽ, đúng ra là chỉ cần chạm nhẹ vào cái khuy đồng ở cửa, lập tức “hạt vừng’’ từ từ mở ra. Anh  Châu Tường Anh, mới nghe tên đã biết tất phải là người rất sang trọng,  rất quý tộc, hình như đêm nào anh cũng sẵn chờ tôi sau cánh cửa dày và nặng, trong đêm đẹp như một bức sơn mài ấy. Vâng, một nhà quý tộc trẻ. Thanh mảnh, hơi gầy và cao, lúc nào cũng mặc áo dài hai lớp, áo dài  trắng bên trong áo lương đen mỏng tan. 

Hội An ngày ấy có một lớp “quý  tộc’’ như vậy của mình. Một lớp quý tộc chập chờn giữa hai thời đại. Còn nho nhã phương Đông, nhưng đọc rành Tây và thường nói chuyện với nhau bằng tiếng Tây. Một lớp quý tộc nghèo mà sang. Những La Hối, Lê Trọng Nguyễn, Dương Minh Ninh, Dương Minh Hòa, Lưu Nghi… tất nhiên cả gia đình họ Nguyễn Tường, những người đã mang tinh hoa phố Hội quê hương tự  trong máu của mình ra trộn với tài hoa Cẩm Giàng Hải Dương để làm nên Tự Lực văn đoàn, cả một thời đại trong văn chương xứ Việt như Hoài Thanh  từng nói… Và anh Châu Tường Anh nữa, bạn vong niên của tôi. Anh lớn hơn  tôi đâu chỉ ba hay bốn tuổi, ở tuổi đó cách nhau chừng ấy đã gần cả một  thế hệ rồi, vậy mà anh kết nạp tôi vào thế hệ anh. Vì anh biết tôi cùng  mê sách. Những người mê sách thì bình đẳng trước văn hóa và vĩnh cửu, và  không có tuổi.

Nhà tôi cũng có một tủ sách, tất nhiên, dày cộp.  Nhưng làm sao dám sánh với sách của anh Châu Tường Anh, dù anh có cuốn  nào tôi cũng có đúng cuốn ấy, không sót. Nhưng sách của tôi là sách  “thường’’, tầm thường, bán đại trà, cứ ra phố là mua được, mua hàng lô cũng còn được nữa là, những cuốn sách “vô danh’’, cũng còn có thể gọi là  “vô chủ’’ nghĩa là ai có cũng được, không đặc biệt là của riêng ai hết, có thể trôi nổi, nay vào tay người này mai vào tay người kia. Lại nữa,  không từ đâu đến, không ai trao cho mình cả, mình có tiền mình đi mua, có thể nơi một quầy vô danh bất kỳ ở một hiệu sách vô danh bất kỳ. Theo một nghĩa nào đó, một cuốn sách như thế không có “cá tính’’, không phải  là riêng nó, chỉ riêng nó, không có hai, duy nhất, đơn nhất, như một  người bạn, người thân, người yêu, của riêng mình… Có một dấu hiệu cho loại sách đó: mép sách được, hay bị, xén bằng dao kim loại, xoẹt một cái  phẳng lì, tăm tắp, chắc cũng có thể với máy móc hiện đại xoẹt một cái  xén phẳng sạch bong hàng chục cuốn…

Tôi để ý: trên bàn của anh Châu Tường Anh tuyệt không có một con dao kim loại nào. Thư phòng của  anh ở trên gác, nhỏ thôi, tường gỗ, bốn mặt tường đều là sách. Và tuyệt không có cuốn sách nào bị xén “công nghiệp’’. Trên bàn có một con dao  bằng ngà, trắng nhờ. Bởi vì ở đây chỉ có toàn những cuốn sách được in hai tờ, hay bốn tờ, dính vào nhau, phải rọc ra. Con dao ngà kia là để  rọc.

Ngày ấy sách được in như thế này: ở những nhà xuất bản lớn,  những cuốn sách hay của những tác giả tên tuổi, bao giờ ở trang giáp  cuối cũng có ghi: “… ngoài những bản thường, có 50 (hay 100) bản đặc  biệt, in trên giấy dó (hay giấy Lafuma), được đánh số từ A1 đến …, có  chữ ký của tác giả và không bán”. Không bán, vì nó vô giá. Bây giờ đến  lúc tôi khoe với các bạn rồi đây: 11 hay 12 tuổi, tôi đã có được một  người bạn vong niên, anh Châu Tường Anh, của Hội An tôi, là chủ nhân của  một tủ sách gồm toàn những cuốn như thế. Và đêm đêm, gần suốt tuổi thơ,  như một kẻ mộng du, tôi bỏ nhà lang thang trên các đường phố Hội An vắng tanh, một mình tìm đến ngôi nhà cổ nhỏ xíu trên đường Chùa cầu Nhật Bản,  chỉ chạm nhẹ vào cánh cửa nặng trịch thì vừng liền mở ra, và anh bạn vong niên của tôi, áo dài trắng bên trong áo lương đen, không nói một lời dắt tôi lên thư phòng của anh. Tôi ngồi yên trên một chiếc ghế nhỏ,  nhìn anh chậm rãi lấy từ giá xuống một cuốn sách mới, không bao giờ tôi  biết từ đâu mà anh có được, tôi không bao giờ dám hỏi. Tôi ngồi yên, sững sờ ngắm anh thực hiện cái nghi lễ thiêng liêng của người mê sách.  Đôi bàn tay các ngón đẹp như của một nghệ sĩ dương cầm, cầm con dao ngà,  rất chậm, rất nhẹ, như sợ làm đau giấy, rọc từng trang sách, mép giấy đó nhẹ nhàng xơ ra, một chút bụi giấy vàng mong manh bay lên và rơi  xuống lấm tấm li ti trên mặt bàn. Tôi những muốn được đưa ngón tay chấm nhẹ một hạt bụi ấy, mà không dám… Vậy đó mỗi đêm, một cuộc thôi miên…  Tôi không đọc sách ở nhà anh Châu Tường Anh, những cuốn sách ấy ở nhà  tôi cũng có, bản in phàm, bán đại trà, ba tôi mua. Tôi đến nhà anh Châu Tường Anh, đêm đêm, mộng du, là để chiêm ngưỡng những cuốn sách vô giá  của anh, được ngửi mùi thơm vừa thoảng vừa ngậy đặc trưng của giấy dó và  của mùi bụi giấy lấm tấm bay ra khi anh rọc sách bằng con dao ngà màu  trắng đục. Tôi cứ ngỡ bụi “phấn thông vàng” của Xuân Diệu cũng đẹp như  thế, thơm nhẹ và sâu như thế, tuy mãi mấy mươi năm sau tôi mới được biết phấn thông vàng thực ở Tây Nguyên. Cũng có hôm anh Châu Tường Anh cho  tôi được tự tay dở vài trang sách. Rất lạ, những trang ấy tôi đã đọc ở nhà rồi, có khi đến thuộc lòng, vậy mà ở đây mỗi con chữ đều long lanh,  và vang lên một cách khác… Nói thế nào nhỉ, chúng trở nên quý tộc hơn,  sang trọng hơn, và bổng như trở nên bí mật hơn… Vâng, mỗi đêm tôi được  hưởng một nghi lễ như vậy của cái đẹp…

Cho tới một bữa, vừa bước lên gác tôi đã nhận ra mùi hương trầm. Anh Châu Tường Anh, không nói một  lời, lặng lẽ chỉ cho tôi ngồi xuống ghế, và ra hiệu cho tôi phải để hai  bàn tay xuống bên dưới mặt bàn. Nghĩa là tuyệt đối không được sờ đến  bất cứ thứ gì. Và ngồi đó chờ… Rất lâu. Rồi anh nhẹ nhàng nhấc từ trên  giá xuống một cuốn sách mới tinh. Sách đã rọc. Các mép giấy dó xơ ra,  còn giữ nguyên từng sợi vàng óng. Chỉ những người chuyên chơi sách mới  biết: sách đẹp chính là ở những xơ giấy dó được giữ quý như vàng đó. Tôi  nhìn trân trân. Cuốn Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân. Anh Châu Tường  Anh dùng mũi dao ngà khẽ lật trang bìa, rất chậm rãi, đến trang lót, rồi càng chậm rãi, đến trang thứ ba. Và tôi sững sờ: lời đề tặng của  chính ông Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân ngày ấy là huyền thoại của chúng tôi. Tự tay ông viết, cái ông Nguyễn Tuân tài hoa, phiêu bạt và ngang tàng  ấy, tự chính tay ông viết, như múa, không phải “Tặng anh Châu Tường  Anh”, cũng không phải “Kính tặng anh Châu Tường Anh”, mà là ”Kính tặng  Tường Anh Châu công tử”… Và bên dưới, chữ ký bay lên, như khói. Có người  bảo: đấy là hình tượng một cánh buồm lộng gió.

Ôi ông Nguyễn  Tuân, chỉ có ông mới nghĩ ra được như vậy, mới viết được như vậy. Tôi có  hỏi kỹ một anh bạn chuyên nghiên cứu văn bản học, anh ấy khẳng định  trước Cách mạng tháng tám Nguyễn Tuân đến Hội An chỉ một lần, năm 1941,  và viết tùy bút Cửa Đại nổi tiếng. Năm đó tôi đúng 11 tuổi. Anh Châu Tường Anh của tôi lớn hơn tôi đâu bốn hay năm tuổi, tức khoảng 15 hay 16. Mà đã “Châu công tử”, kỳ lạ không, đã có thể kết bạn với ông Nguyễn Tuân, đã được chính ông Nguyễn Tuân huyền thoại kết bạn tâm đắc đến mức  tự tay trân trọng tặng Châu công tử một cuốn Vang bóng một thời in giấy dó vàng ươm!

Vâng, Hội An của tôi là vậy đó. Cho phép tôi nói điều này: một thành phố chỉ có thể thật sự là “thành phố văn hóa”, như  Hội An, khi nó có, từng có, và biết giữ một lớp tinh hoa cấp cao, một  lớp quý tộc văn hóa như thế, có thể nhỏ thôi, có thể nghèo, nhưng là quý  tộc, sang trọng, như là cái lõi vàng ròng của đời sống tinh thần và văn hóa chung.

Chắc tôi phải nói thêm chút nữa về người bạn vong niên kỳ lạ của ông Nguyễn Tuân ở Hội An, anh Châu Tường Anh quý tộc nghèo của tôi. Anh mất vào những ngày đầu kháng chiến chống Pháp cuối năm 1946. Không ai biết thật rõ về cái chết của anh. Chỉ nghe đồn đâu đó  ở cửa sông Thu Bồn. Anh quen biết, và hẳn gắn bó nhiều với gia đình  Nguyễn Tường của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Ta biết, họ là Quốc dân  đảng. Trong những ngày cực kỳ rối ren, sôi nổi, hào hùng và thảm khốc của một cuộc chiến tranh ác liệt đang bắt đầu.

Lịch sử mà…

Nguyên Ngọc

Theo FB




Chân dung tin tặc Việt vừa bị trục xuất sau 7 năm ngồi tù ở Mỹ

Đứng sau một trong những hệ thống bán danh tính khách hàng lớn nhất từng tồn tại, tin tặc (hacker) Ngô Minh Hiếu kiếm được hơn 3 triệu USD trước khi bị mật vụ Mỹ bắt tại đảo Guam năm 2013.

Ngô Minh Hiếu sinh năm 1989 ở Gia Lai và có biệt danh Hieupc. Vừa được thả và trục xuất về Việt Nam sau 7 năm ngồi tù tại Mỹ, Hiếu đã liên hệ với trang KrebsOnSecurity từ nơi cậu ta đang phải cách ly bắt buộc do dịch Covid-19, để chia sẻ câu chuyện của bản thân. Hiếu hy vọng sẽ thuyết phục những người giỏi về máy tính đừng đi theo vết xe đổ của mình.

Ở thời đỉnh cao trong “sự nghiệp tội phạm mạng”, Hiếu kiếm tới 125.000 USD/tháng nhờ điều hành dịch vụ bán thông tin cá nhân chi tiết lấy được từ những công ty môi giới dữ liệu hàng đầu thế giới. Và chính lòng tham đã khiến Hiếu rơi vào bẫy của Mật vụ Mỹ.

Trong vài năm bắt đầu từ khoảng 2010, chỉ có một thiếu niên duy nhất ở Việt Nam, tên là Ngô Minh Hiếu, điều hành một trong những dịch vụ nổi tiếng và sinh lời nhiều nhất trên mạng Internet, chuyên bán “fullz” – bộ dữ liệu cá nhân đánh cắp được bao gồm tên, ngày sinh, số thẻ an sinh xã hội, email và địa chỉ thực tế của một khách hàng.

Lúc bị bắt vào năm 2013, Hiếu đã kiếm được trên 3 triệu USD nhờ bán dữ liệu cho những kẻ ăn trộm danh tính và các đường dây tội phạm có tổ chức hoạt động trên đất Mỹ.

Tháng 2/2013, đặc vụ Mỹ Matt O’Neill đã thực hiện thành công kế hoạch dụ Hiếu rời Việt Nam đến Guam, để bắt giữ và đưa ra tòa án tại Mỹ. O’Neill hiện là Giám đốc Trung tâm chiến dịch điều tra toàn cầu của Mật vụ Mỹ, chuyên hỗ trợ điều tra các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia.

O’Neill cho biết đã tiến hành điều tra dịch vụ bán danh tính do Ngô Minh Hiếu điều hành, sau khi đọc về dịch vụ này trong một câu chuyện có tựa đề “Danh tính của bạn trị giá bao nhiêu?” trên trang KrebsOnSecurity năm 2011. Theo ông, hoạt động của Hiếu đã tiếp tay cho cả một thế hệ tội phạm mạng đánh cắp các tài khoản và gian lận tín dụng lên tới hơn 1 tỷ USD.

“Tôi không rõ có tên tội phạm mạng nào gây tổn thất tài chính cho người Mỹ nhiều hơn Hiếu hay không. Cậu ta đã bán thông tin cá nhân của hơn 200 triệu người Mỹ, cho phép mọi đối tượng mua chúng chỉ với giá vài xu”, O’Neill nói.

Khi còn nhỏ, Hiếu được gia đình mua cho một chiếc máy tính và cậu ta đam mê máy tính từ đó. Lớn lên, Hiếu sang New Zealand học đại học và lúc đó, Hiếu đã là admin của nhiều diễn đàn hacker trên web đen. Trong lúc học, nam sinh viên đã phát hiện một lỗ hổng trong mạng lưới máy tính của trường làm lộ dữ liệu thẻ thanh toán. Báo cho quản trị viên IT nhưng không ai quan tâm, Hiếu bèn hack luôn cả hệ thống rồi dùng lỗ hổng đó tấn công các trang web khác và ăn trộm được rất nhiều thẻ tín dụng.

Sau khi bị nhà trường phát hiện và báo cảnh sát, Hiếu phải về nước khi hết học kỳ 1 vì không được gia hạn thị thực. Để trả thù, Hiếu tấn công trang web của trường, khiến nó tê liệt ít nhất 2 ngày.

Về Việt Nam, Hiếu đi học lại nhưng vẫn dành chủ yếu thời gian lần mò trên các diễn đàn tội phạm mạng. Cậu chuyển từ hack cho vui sang hack vì tiền, khi thấy dễ dàng kiếm tiền từ đánh cắp dữ liệu khách hàng. Cậu cũng giao du với một số bạn bè từ các diễn đàn ngầm và bắt đầu nghĩ đến đánh cắp dữ liệu cá nhân để bán.

“Tiền kiếm được quá nhanh đã khiến tôi mờ mắt”, Hiếu tâm sự.

Số tiền phi pháp 3 triệu USD

Một trong những trang web của Ngô Minh Hiếu chuyên cung cấp dịch vụ đánh cắp danh tính.

Mục tiêu lớn đầu tiên của Hiếu là công ty báo cáo tín dụng MicroBilt ở New Jersey.

“Tôi hack nền tảng của họ, đánh cắp cơ sở dữ liệu người dùng để có thể dùng đăng nhập khách hàng nhằm tiếp cận dữ liệu [người dùng] của họ. Tôi đã ở trong hệ thống của họ khoảng gần một năm mà họ không hề hay biết”, Hiếu nhớ lại.

Tiếp đó, Hiếu lập trang Superget[.]info, chuyên bán hồ sơ người dùng cá nhân. Ban đầu, dịch vụ của Hiếu được thực hiện thủ công nhưng sau đó, hacker này tìm ra cách sử dụng các máy chủ mạnh ở Mỹ để tự động thu thập lượng lớn dữ liệu người dùng từ các hệ thống của MicroBilt và các hãng dữ liệu khác. MicroBilt đã phát hiện và đẩy Hiếu ra khỏi hệ thống, nhưng Hiếu trở lại được nhờ một lỗ hổng khác.

Sau này, Hiếu tìm thấy một mục tiêu hấp dẫn hơn, đó là công ty Mỹ Court Ventures chuyên lập hồ sơ công cộng từ tài liệu tòa án. Thứ Hiếu quan tâm thực chất là thỏa thuận chia sẻ dữ liệu của Court Ventures với US Info Search, vì hãng môi giới dữ liệu này có khả năng tiếp cận nhiều hồ sơ người dùng nhạy cảm hơn. Bằng một vài thủ thuật, Hiếu thuyết phục được Court Ventures tin mình là một nhà điều tra tư nhân ở Mỹ.

Năm 2012, Court Ventures được mua lại bởi Experian – một trong những tổ chức tín dụng khách hàng lớn của Mỹ. Hiếu trả cho Experian hàng nghìn đôla mỗi tháng để mua dữ liệu khách hàng, thông qua các tài khoản mới lập và đa số ở Trung cộng, Malaysia và Singapore.

Đặc vụ O’Neill cho biết, trang web của Hiếu thực hiện hàng chục nghìn lệnh truy vấn mỗi tháng và kiếm bộn tiền nhờ ăn chênh lệch. Trong khi Court Ventures thu của Hiếu 0,14USD, thì cậu ta thu của khách hàng 1USD.

Hiếu bị Mật vụ Mỹ để mắt tới và họ phát hiện một số email Hiếu gửi cho các đồng phạm, hướng dẫn cách thanh toán tiền cho Experian bằng cách chuyển khoản từ các ngân hàng châu Á. Các đặc vụ bắt đầu tìm cách đưa Hiếu vào bẫy.

Tính đến năm 2012, Hiếu đã kiếm được hơn 3 triệu USD từ các hoạt động trên mạng. Cậu nói với cha mẹ rằng mình kiếm tiền nhờ phát triển website cho các công ty.

Sa bẫy và hối hận

Cuối cùng, Hiếu đã “cắn câu” của mật vụ Mỹ khi tới Guam để gặp một hacker người Anh nhằm dàn xếp một số vụ việc và thiết lập hợp tác. Hiếu không hay biết người này đã bị kết án và chính là “mồi nhử”, khiến cậu ta sa bẫy ngay khi bước chân xuống máy bay.

Sau khi bị tạm giam 2 tháng ở Guam, Hiếu bị đưa tới New Jersey, nơi hacker thừa nhận đã thâm nhập vào MicroBilt cùng nhiều hệ thống khác. Hiếu kể rằng, trong quá trình xét xử, tòa án liên bang đã nhận khoảng 13.000 thư khiếu nại từ các nạn nhân. Họ trình bày mình bị mất nhà, mất việc và không còn khả năng mua nhà hay duy trì nguồn tài chính. Điều đó khiến Hiếu nhận ra mình là kẻ tồi tệ và cảm thấy rất ân hận.

“Nhà tù là một nơi khốc liệt, nhưng nó cho tôi thời gian nghĩ về cuộc đời và các lựa chọn của mình. Tôi đang cố gắng làm điều tốt và trở nên tốt đẹp hơn mỗi ngày. Giờ đây, tôi hiểu ra rằng tiền chỉ là một phần của cuộc sống, chứ không phải tất cả và cũng không mang lại hạnh phúc thực sự”.

“Tôi hy vọng những tội phạm mạng rút kinh nghiệm từ những gì tôi đã trải qua và dừng tay, thay vào đó hãy sử dụng các kỹ năng của mình góp phần làm cho thế giới tốt đẹp hơn”.

Theo Internet




TẢN ĐÁ THIÊNG Ở MYANMAR

* Nằm chênh vênh trên một vách đá. Golden Rock ở Myanmar dường như thách thức trọng lực và trở thành một địa điểm du lịch nổi tiếng với hàng ngàn tín đồ Phật giáo đến mỗi ngày.

* Tượng đài linh thiêng có hình dáng kỳ lạ này cao gần 8 m, không hề nép vào bên vào bàn đá phía trong mà nhô ra bên ngoài. Khiến nó trông giống sắp rơi thẳng xuống ( nằm ở độ cao hơn 4 km ).

* Vào mùa hành hương từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Các tín đồ Phật giáo đến tảng đá lấp lánh này, còn được gọi là Đền Kyaiktiyo để thiền, tụng kinh và thắp nến xung quanh.

* Chỉ nam Phật tử mới được phép vượt qua hàng rào và dán lá vàng lên tảng đá. Như một dấu hiệu của lòng sùng mộ.

* Nơi đây là địa điểm hành hương linh thiêng thứ 3 đới với Phật tử Myanmar. Vì người ta cho rằng, hòn đá được đặt trên một sợi tóc của Đức Phật. Và người ta cũng cho rằng, những ai đến thăm thánh địa này 3 lần trong năm, sẽ được ban phước lành.

* Từ đỉnh núi, du khách có thể ngắm nhìn toàn cảnh 360 độ tới những ngọn núi Mon State xung quanh.

* Quần thể Đền Kyaiktiyo bao gồm một số đài quan sát, Chùa, Điện thờ Phật và Đền thờ thần Nat.

* Nằm trên cùng của tảng đá là ngôi chùa cao 5,4m. Tất cả đều được mạ một lớp vàng sáng chói. Khiến tảng đá nổi bật giữa khung cảnh xanh tươi cây cối xung quanh.

* Luôn có dòng người hành hương bất tận đến chiêm ngưỡng cảnh tượng của tảng đá vàng Golden Rock.




Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và tài hoa

  NGUYỄN TRỌNG TẠO

   

Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và  tài hoa

Hơn nửa thế kỷ nhầm nơi sinh quê quán.

Thật lạ là hơn nửa thế kỷ người ta tin là nhạc sĩ Hoàng Nguyên sinh ở Quảng Trị. Tất cả tiểu sử giới thiệu tác giả, đều ghi quê quán Quàng Trị, đến nỗi từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia ghi rõ: “Hoàng Nguyên (19321973) là một nhạc sĩ tên tuổi, tác giả các ca khúc nổi danh như Ai lên xứ hoa đào, Cho người tình lỡ… Ông tên thật là Cao Cự Phúc, sinh 3 tháng 11932 tại Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc học Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên có tham gia kháng chiến nhưng rồi từ bỏ quay về thành phố”.

Các tư liệu ấy có 2 cái nhầm: Nơi sinh và năm sinh của ông.

Sự thực, ông sinh ra tại xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Tên thật ông là Cao Cự Phúc, sinh ngày 3.1.1930 (sau này ông khai là sinh năm 1932), mất ngày 21.8.1973.

Tôi quen với Giáo sư Cao Cự Bội sinh năm 1936 tại Diễn Bình là chú của Cao Cự Phúc, nhưng cháu hơn chú 6 tuổi, lớn lên lại biết dạy võ cho chú. Tất nhiên tuổi thiếu thời của Phúc sống và học tập ở quê cùng chú Bội gần chục năm mới rời quê hương. Anh Phúc rời quê là vì mẹ đã mất sớm, cha đi làm sở điện, đến lúc anh 15-16 tuổi theo ông nội vào Vinh học và tham gia quân đội chống Pháp khi còn trẻ. Tổ chức thấy anh thông minh, giao ông nhiệm vụ vào tìm bố làm việc bưu điện ở Quảng Trị để hoạt động bí mật. Anh Phúc vào học xong ở Huế rồi bị bắt vì làm nhạc trong phong trào Hòa bình. Được thả, 1955 lên Đà Lạt dạy Anh văn và âm nhạc, hướng nghiệp cho Nguyễn Ánh 9 sau này trở thành nhạc sĩ. Năm 1957 bị bắt đày ra Côn Đảo vì thành phần Việt minh cũ và cất trữ bản nhạc Tiến quân caTrương Chi của nhạc sĩ Văn Cao. Ra tù, 1961 học thêm đại học Sư phạm Sài Gòn, dạy học, sáng tác âm nhạc. Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau khi ra trường chuyển về Cục Quân Cụ, dưới quyền của Đại tá nhạc sĩ Anh Việt và được giao phụ trách ban nhạc Hương Thời Gian.1973 mất vì tai nạn xe hơi ở Vũng Tàu.

Gần đây tôi có gặp ông Lương Tử Miên, người xã Diễn Bình kém anh mấy tuổi có biết anh Phúc. Ông kể: sau năm 1945, anh Cao Cự Phúc đang ở nhà ông bà nội anh ấy (ở cùng xóm với tôi cách nhà nhau chừng 100m). Hàng ngày tôi vẫn vào nhà học nhóm với chú ruột Cao cự Phúc là Cao Cự An và gặp anh Cao Cự Phúc. Có lần Cao Cự Phúc hướng dẫn cho chúng tôi về âm nhạc. Cao Cự Phúc cũng học Trường Nguyễn Xuân Ôn, trên chúng tôi 2 lớp. Quảng năm 1948 anh Cao Cự Phúc rời nhà ông bà nôi sang nhà bà Hàn Lương cháu nội cụ Nguyễn Xuân Ôn ở xã Diễn Thái vừa làm gia sư vừa đi học tiếp trung học. Từ đó cho đến khi tôi đi lính thì không gặp anh Cao Cự Phúc nữa. Khoảng năm 1949-1950 nghe tin anh Cao Cự Phúc tham gia đoàn tuyên truyền kháng chiên liên khu 4 cùng với nhà văn Bửu Tiến và anh Cao Xuân Hạo (sau này là giáo sư ngôn ngữ học) đi vào chiến khu Ba Lòng (Cam Lộ – Quảng Trị) hoạt động tuyên truyền kháng chiến. Thông tin về Cao Cự Phúc sau đó không có nhiều ở quê nên ít người biết. Còn nói về gốc gác quê hương bản quán và tuổi trẻ thì phải nói anh Phúc quê ở Xóm Chợ xã Diễn Bình huyện Diễn Châu – Nghệ An bây giờ

Như vậy, Cao Cự Phúc xuất hiện ở Quảng Trị đi tìm bố, từ khoảng 19 tuổi, khi ấy anh đã học nhạc ở ban nhạc họ Cao Diễn Châu, học nhạc Nguyễn Văn Thương quen ông nội ở Vinh và sáng tác âm nhạc. Mẹ đẻ anh mất lúc 2 tuổi, mấy năm sau bố anh là ông Thông Bàng lấy vợ kế, sinh con ở Quảng Trị. Từ khi tìm bố ở Quảng Trị, Cao Cự Phúc vào học ở Huế khai tụt 2 tuổi và lấy bút danh Hoàng Nguyên. Sự kiện 1955 bị bắt và được thả đã thôi thúc ra đi, và thẳng Đà Lạt dạy Việt văn, Anh văn và âm nhạc, xuất hiện chùm ca khúc Đà Lạt nổi tiếng của Hoàng Nguyên: Ai lên xứ hoa đào, Bài thơ hoa đào, Đà Lạt mưa bay. Không ai ngờ rằng, Hoàng Nguyên là người nhạc sĩ tài hoa quê tận Diễn Châu, Nghệ An.

Âm nhạc cuộc sống và lãng mạn.

Nếu nói về sáng tác âm nhạc thì Cao Cự Phúc – Hoàng Nguyên là một nhạc sĩ rất nổi tiếng thập niên 50, 60 thế kỷ trước. Ông không chỉ sáng tác nhạc mà còn dạy nhạc, dàn dựng tác phẩm và phát hiện bồi dưỡng những nhạc sĩ trẻ. Nguyễn Ánh 9 là một nhân tố mà ông yêu quý, chăm sóc trở thành người nhạc sĩ tài hoa sau này. Người học trò thuở đấy đã nghĩ về Hoàng Nguyên là một con người có lý tưởng chống Pháp, và âm nhạc của anh đã hiện rõ lý tưởng đó: Có lẽ trong lòng những người yêu nhạc sẽ mãi mãi vang vọng những giai điệu đầy kỷ niệm của thời kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp… “Nếu hiểu rằng anh đi vì lũ giặc tham tàn, thì em ơi, em chớ sầu thương chi! Em thấy chăng khói súng của giặc thù còn mịt mùng và còn che khuất mờ…”. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã viết ca khúc Anh Đi Mai Về này ở tuổi 20 tràn đầy nhiệt huyết trong bối cảnh cả dân tộc đang trường kỳ kháng chiến. Bài hát tức khắc được đón nhận nồng nhiệt và phổ biến rộng khắp. Hiếm có những nhạc sĩ trẻ xưa nay tìm được thành công dứt khoát ngay tác phẩm đầu tay của mình và nhanh chóng thành danh như anh.

Có lúc Hoàng Nguyên đã sáng tác ca khúc khi làm tuyên truyền quân khu 4, cùng tinh thần sáng tác ca khúc với Cao Xuân Hạo đồng hương, nhưng rồi do nhiệm vụ khác nhau. Hoàng Nguyên học ở Huế, các hoạt động Việt Minh bị cách trở thấy xa xăm. Nhiều đêm anh nhớ cảnh hoạt động cùng đồng đội mà vẫn phải chịu đựng qua ngày tháng:

Quên đi những chiều nhìn mây vương sau đèo

Nắng vàng đùa thông reo bên bờ dòng suối lắng

Cùng nhau vỗ súng ca cho đời biên khu

Xa rồi ơi đàn

Đâu đêm trăng vàng cùng chung vui bên rừng

Tiếng trầm hùng vang vang, bóng từng đoàn chiến sĩ,

nguyền dâng sức sống cho quê nhà

Đêm nay xa rồi ơi đàn

Đàn ơi xa rồi,

Lòng vắng mơ chi ngày về, đàn ơi dứt đi đường tơ

Đàn ơi xa rồi, tơ lòng đừng vương vấn

Buồn chi khi non sông còn vương máu, và chiến chinh đang tràn lan

(Đàn Ơi, Xa Rồi)

Ngay cho đến khi đất nước chia đôi, tinh thần thống nhất đất nước vẫn luôn trỗi lên trong anh. Tất cả những mối liên lạc hoạt động như mất hết với anh, và niềm khắc khoải day dứt cùng lý tưởng chỉ lặng lẽ với anh. Anh nghĩ tới “cách chia”, “chia lìa” và vẫn “nhớ thương”, “mong chờ”. Chính vì vậy mà bài hát “Em chờ anh trở lại” đã ra đời sau hiệp thương 1954 như một khao khát nước nhà thống nhất:

Ngày anh ra đi, đường nắng chưa phai màu

Dòng sông chia ly, lờ lững chưa hoen sầu

Ngờ đâu chân anh, lạc bước khi qua cầu

Chiều nay bâng khuâng, chợt xót thương đời nhau.

Ngày anh ra đi, rặng liễu chưa xanh màu

Mà nay bên sông, liễu khuất bến giang đầu

Mười mấy năm qua rồi còn gì đâu? Còn gì đâu

Có chăng là đớn đau.

Em chờ anh trở lại chốn đây

Đường xưa còn đó sánh đôi vai gầy

Em chờ anh tìm về lối cũ

Có em còn đây bên sông này

Đợi chờ ai đến trong vòng tay.

Bài hát là bài tình khúc, khao khát và chia lìa, lãng mạn trên đau khổ. Những bài hát như vẫn phảng phất lý tưởng dân tộc trong đất nước chia đôi. Đó chính là lý tưởng của người nhạc sĩ Hoàng Nguyên trong một giai đoạn lịch sử hiện thực chi phối cả dân tộc.

***

Từ thời Hoàng Nguyên phiêu bạt vào Đà Lạt, anh tung một chùm bài hát trữ tình, lãng mạn rất tươi đẹp, như cảm xúc của du khách rất yêu đời. Những người du khách, nghệ sĩ nghe nhạc, nhập vào những âm thanh bên hồ, tiếng suối, tiên cảnh nên thơ. Có người nghe nhạc Đà Lạt của Hoàng Nguyên rồi gọi ông là “người đội vương miện cho nhan sắc Đà Lạt”. Vâng, âm nhạc của anh xứng đáng vẻ đẹp và tươi sáng của xứ hoa như vẫy mọi con người. Và lời ca của Hoàng Nguyên rất giàu chất thơ, gây mê người thưởng thức:

“Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi

Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi

Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ

Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ

Nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bước lần theo đường hoa

Hoa bay đến muôn người ngại ngần rồi hoa theo chân ai

Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa

Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương

Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên”

Những câu nhạc như dài ra hơn bình thường. Những nốt nhạc lên xuống như núi đồi nối nhau. Những hoa bướm, bướn hoa; những quên lãng, lãng quên như quấn quýt lấy nhau trong một khúc thức mở ra không cùng lấp lánh. Qua bài hát, ta thấy tài năng cả nhạc và lời của Hoàng Nguyên như được trời cho:

Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa 

… Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má aị

Có thể nói Hoàng Nguyên đã mê say Đà Lạt trinh nguyên thuở ban đầu. Chỉ trong thời gian ngắn, 2 ca khúc về Đà Lạt được anh sáng tác, và trở thanh 2 ca khúc bất hủ cho vùng đất này. Bài thứ 2 là “Bài thơ Hoa Đào” anh viết trong một căn phòng đơn sơ của một thầy giáo, “trong khuôn viên Trường Bồ Đề Đà Lạt, nơi anh đang dạy Anh văn cho các lớp trung học. Một chiếc giường đơn, một bàn viết bằng gỗ thông và một cây đàn guitar treo trên vách. Thời gian đó, Hoàng Nguyên còn phụ trách các buổi phát thanh của Hội Phật giáo trên làn sóng Đà Lạt”. Nguyễn Ánh 9 đã nhớ lại như vậy, và đã nghe anh hát cho nghe giai điệu đầu tiên đầy quyến rũ:

Ngày nào dừng chân phiêu lãng 

Khách tới đây khi hoa đào vương lối đi 

Màu hoa in dáng trời 

Tình hoa lưu luyến người 

Bồi hồi lòng lữ khách thấy chơi vơi 

…Ôi! Đà Lạt là mơ 

Giấc mơ tiên nữ giáng xuống trần 

Tóc mây buông lơi tha thướt bên hồ 

Đợi tình quân đến trong giấc mơ…

Và vẫn còn “đợi tình quân đến trong giấc mơ” của  anh lính Cao Cự Phúc ngày nào. Với âm nhạc say sưa da diết như vậy, người ta tin là anh đã gắn bó với đất này như thiên đường của tuổi trẻ. Nhưng anhthú nhận với người học trò yêu quý ngay sau khi anh viết xong bài hát này: “Không, anh chỉ ghé chân để tạm mưu sinh và tìm cảm hứng…”. Vâng, sự “ghé chân” đã dâng lên trog bài hát:

Nhưng rồi mùa hoa tàn 

Người hoa sao vắng mãi 

Bao chiều lòng mong chờ 

Đường hoa sao hững hờ 

Để lòng lữ khách tê tái 

Cất bước đi nhớ hoa đào trên má ai 

Màu hoa in trên má 

Làm khách lưu luyến mãi Đà Lạt ơi!

Chính vì tâm sự ấy mà nỗi lòng bâng khuâng mãi với Đà Lạt, bâng khuâng mãi ­­với lữ khách muôn thời.

Cũng với Đà Lạt, anh còn có những bài hát nữa như “Đường nào lên thiên thai”, “Đà Lạt mưa bay”… Bài hát nào cũng muốn cái đẹp của Đà Lạt như Thiên Đường, không bị phai tàn. Có thể đó là mơ mộng:

Cầm tay em anh hỏi

Đường nào lên Thiên Thai,

Đường nào lên Thiên Thai,

Đường nào lên Thiên Thai?

Nơi hoa xuân không hề tàn,

Nơi bướm xuân không hề nhạt,

Nơi tình xuân không úa màu bao giờ

Và Hoàng Nguyên cứ tin cuộc đời là vậy, với đôi mắt trong đẹp ngây thơ:

Nhìn trong đôi mắt đẹp,

lòng chợt vui như say;

kìa đường lên Thiên Thai,

Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây, tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,

Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.

Rồi một ngày anh chỉ “ghé chân” nơi Đà Lạt, phải rời xa nơi này bởi tù đày vì yêu đời yêu nhạc yêu ca. Âm nhạc của anh vẫn vang lên cũng cuộc sống:

Chừ anh đi rồi mình tôi còn ở lại 

Dalat buồn mưa mãi mãi không thôi…

Rời Đà Lạt, Hoàng Nguyên tiếp tục một cuộc sống khác, nhưng chỉ mấy năm gắn bó bằng âm nhạc, bằng lời thơ, bằng trái tim yêu đời cùng thành phố hoa thơ mộng, anh đã trở thành “Người nhạc sĩ đội vương miện cho nhan sắc Đà Lạt”.

***

Thời gian “sau Đà Lạt” thì cuộc đời rất phức tạp và éo le với Hoàng Nguyên. Năm 1956, anh bị chính quyền lùng bắt ở Đà Lạt do hoạt động tuyên tuyền Quân khu 4 kháng chiến chống Pháp từ lâu và lấy cớ trong nhà có bản Tiến Quân Ca của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, nên anh đã bị bắt và đày ra Côn Đảo năm 1957. Bị tù ở Côn Đảo, do tài giỏi, anh được Chủ đảo mời dạy nhạc cho con gái 19 tuổi, thầy trò đã yêu nhau bốc lửa và mang bầu, phải vận động cuộc tự do để thả Hoàng Nguyên ra tù về Sai Gòn theo ý Chủ đảo. Anh ra tù không lấy con Chủ đảo vì éo le, tiếp tục dạy học và theo học Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1961, anh quen ông Phạm Ngọc Thìn, thị trưởng thành phố Phan Thiết và bà Huỳnh Khanh là nữ diễn viên mến mộ tài năng nhận anh làm em nuôi, rồi trở thành con rể ông bà. Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức, sau đó chuyển về Cục Quân Cụ, lý ban nhạc Hương Thời Gian xuất hiện trên truyền thanh và truyền hình Sài Gòn đến khi bị tai nạn xe hơi kết thúc cuộc đời.

Thời kỳ này âm nhạc miền nam không chỉ nhạc vàng tình yêu, nhạc xanh, nhạc sến mà còn nhạc trẻ, nhạc tây. Hoàng Nguyên từ dòng tiền chiến lãng mạn đến tình yêu sang trọng, rồi nhập vào dòng tân nhạc hay hiện đại. Nhưng câu chuyện tình yêu trong ca nhạc muốn vượt lên, nhưng vẫn phảng phất nỗi niềm tủi đau. Trong khi chuyện gia đình người vợ làm anh u uất không vui, và âm nhạc cũng gieo vào tâm sự:

Những tưởng dài lâu 

như trăng như sao cho đến bạc đầu. 

Nào ngờ trời mưa 

mưa rơi không thôi nát tan tình đầu 

Nước mắt rơi mau 

long lanh giọt sầu xót xa niềm đau. 

(Đừng trách gì nhau)

Ai dám đợi chờ ai 

Và người nay đi xa 

Từ giã bến sông dài 

Để đến hôm nay tôi ngồi đây 

Lặng ngắm hoa soan rơi rụng đầy 

Người ơi! thơ ngây đã lỡ rồi 

Tình xa rồi thì cho tôi chép lại vần thơ xưa.

(Thuở  ấy yêu nhau)

Và bài hát “Cho Người Tình Lỡ”,dù là một chuyện tình đã lỡ, nhưng cái con người nhân văn của nhạc sĩ luôn luôn trĩu nặng trong từng lời thơ nốt nhạc. Âm nhạc cũng mới mẻ lên, nhịp điệu cũng dào dạt hơn, để lại tâm tình càng sâu nặng sau bao yêu thương đau khổ. Bài hát “Cho Người Tình Lỡ”,có gía trị, và được chọn thu vào đĩa 45 vòng do Hãng đĩa Tình Ca Quê Hương sản xuất do Thanh Lan hát cùng bài “Không”của Nguyễn Ánh 9 được Khánh Ly hát. Và đây là đầy đủ lời ca của Hoàng Nguyên”:

Khóc mà chi, yêu thương qua rồi 

Than mà chi, có ngăn được xót xa 

Tiếc mà chi, những phút bên người 

Thương mà chi, nhắc chi chuyện đã qua 

Anh giờ đây như là chim 

Rã rời cánh biết bay phương trời nào 

Em giờ đây như cành hoa 

Trót tả tơi đón đưa ngọn gió nào. 

Mình  nào ngờ, tình rơi như lá rơi. 

Người tình đầy, vòng tay ôm quá lơi. 

Để giờ này một người khóc đêm thâu, 

Một người nén cơn đau nghe mưa mà cúi đầu. 

Thế là hết, nước trôi qua cầu 

Đã chìm sâu những thánh ngày đắm mê 

Thôi đành quên, những tiếng yêu đầu 

Những lời yêu ấy nay đã quá xa. 

Nẻo đường cũ giăng đầy mưa 

Khuất mù lối khiến nên tình đành lỡ 

Ta giờ đây như rừng thu 

Nắng liệm với chiếc lá vàng cuối mùa.

Có thể nói, từ “Ai lên xứ hoa đào”đến“Cho Người Tình Lỡ”,là 2 đỉnh cao của ca khúc đầu đời và cuối đời của nhạc sĩ Hoàng Nguyên.

Hoàng Nguyên – Nhạc sĩ của công chúng.

Thường thì một đời, một sự nghiệp âm nhạc phụ thuộc vào tác phẩm được công chúng yêu thích. Có nhạc sĩ cả nghìn bài đươc 1 bài nổi tiếng, được công chúng ghi danh. Có nhạc sĩ trăm bài được vài bài, dăm bài nổi tiếng là để lại nhiều thế hệ yêu thích. Và có người qua đời, không để lại tác phẩm nào cả. Điều đó là công bằng, tác phẩm được sàng lọc qua thời gian.

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên/Cao Cự Phúc mất sớm do tai nạn khi 43 tuổi, không còn từ năm 1973 đến nay đã 45 năm, nhiều bài hát của anh vẫn còn được công chúng yêu thích, được khắc trên đá, được vang trong cuộc sống. Đó là niềm vinh dự của người nhạc sĩ trong cuộc đời này. Có thể nói, các thế hệ không quên những tác phẩm nổi tiếng của anh, và biết ơn anh.

Và anh có quê, quê gốc nhiều đời, quê cha mẹ sinh ra xã Diễn Bình, Diễn Châu của anh; quê tuổi thanh niên Quảng Trị cùng cha đẻ, mẹ kế và các em của anh; và các miền quê phiêu bạt đã làm nên sự nghiệp của anh.

Là một người bắt đầu hoạt động chống Pháp từ khi còn trẻ, dù môi trường công tác khác nhau có thể mất cả đường dây hoạt động, bị khủng bố, tù đày nhưng anh vẫn trở về cuộc sống nhân văn làm gốc với con người, xã hội. Và cho dù làm với bên này bên kia bằng ngòi bút sáng tác, bằng người dạy học mang kiến thức cho mọi người. Thật đáng kính.

Vì vậy những người yêu anh đã khắc những bản nhạc của anh lên đá, những phù điêu hình ảnh của anh nơi công cộng, và cũng có những người đề nghị đặt tên đường cho anh trên đất Đà Lạt, con đường nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Và theo tôi, nên đặt cả tên đường của anh trên đất Diễn Châu, Nghệ An và trên đất Quảng Trị.

Vâng, sự nghiệp của anh bằng âm nhạc thật rõ ràng. Anh, Hoàng Nguyên/Cao Cự Phúc là người nhạc sĩ lãng mạn và tài hoa.

Hà Nội, 15.7.2018




Chiến hạm USS New York làm từ đống sắt của biến cố 9/11

Ngày 11 tháng 9 năm 2001, khủng bố đã hạ gục hai toà nhà Trung Tâm thương Mại Thế Giới World Trade Center (WTC) tại New York mang theo sinh mạng của hơn 3000 người dân vô tội, cùng một số rất đông cảnh sát, và lính cứu hoả đang thực hiện cuộc cấp cứu.

World Trade Center sụp đổ thành những đống thép, gạch vụn khổng lồ, và chính phủ Hoa Kỳ đã làm một việc rất ý nghĩa. Chính phủ cho gom và sử dụng tất cả những săt và thép vun đó để chế tạo làm thành một chiến hạm đặt tên là USS NEW YORK.

Tám năm sau, ngày 7 tháng 9 năm 2009, chiến hạm tối tân trị giá 1 tỷ đô USS NEW YORK đã hoàn tất và khởi hành chuyến đầu tiên về đất mẹ, tiến vào cảng New York giữa sự chào đón nồng nhiệt và cảm động của toàn cư dân New York city, nhất là thân nhân của những người bị nạn ngay tại World Trade Center ngày ấy.

Trong mỗi gram của 24 tấn thép vụn tại WTC trong chiến hạm khổng lồ USS New York đó đều có một chút thịt, da, máu, và xương của hơn 3000 người đã ngã gục tại hiện trường.

USS New York sau đó sẽ ra khơi với nhiệm vụ được giao phó từ Hải Quân Hoa Kỳ. Như vậy, tuy những nạn nhân WTC đã nằm xuống, nhưng thịt xương của họ vẫn luôn luôn sống còn trong khối thép khổng lồ của chiến hạm USS New York sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ đất nước và lý tưởng tự do của Hoa Kỳ.




Dịch giả HÀ MAI ANH

Người trong hình chính là ông Hà Mai Anh, dịch giả của Tâm hồn cao thượng, cuốn sách gối đầu giường của tôi từ bé thơ. Hà Mai Anh quê ở Thái Bình, ông đậu bằng Cao Ðẳng Tiểu học và trường Sư phạm, từng làm giáo học và hiệu trưởng ở các tỉnh ở Bắc Kỳ.

Hà Mai Anh (1905 – 1975), bút hiệu Mai Tuyết và Như Sơn, là một nhà giáo, cùng là tác giả của nhiều sách giáo khoa về văn chương, toán học và dịch giả nhiều cuốn sách phổ biến như Tâm hồn cao thượng (Les grands cœurs), Vô gia đình (Sans famille), Trong gia đình (En famille)…

Hà Mai Anh quê ở Thái Bình, từng làm hiệu trưởng ở các tỉnh ở Bắc Kỳ. Ông đóng góp nhiều bài vở cho các báo đương thời nhưng sự nghiệp văn học của ông chủ yếu là các tác phẩm mang tính cách giáo dục. Ngay từ năm 1938 cuốn Công dân giáo dục đã được xuất bản tại Nam Định và được chính phủ Bảo hộ chấp thuận dùng làm sách giáo khoa.

Vào những năm đầu 1940, ông dịch cuốn “Tâm hồn cao thượng” (tiếng Ý: Cuore) đoạt Giải thưởng Văn chương của Hội Alexandre de Rhodes Hà Nội năm 1943, dịch từ tiếng Pháp  (Les grands cœurs).

Cuốn này nguyên thủy viết bằng tiếng Ý của Edmondo De Amicis và tại Việt Nam được xem như một cuốn “luân lý giáo khoa thư” của thế kỷ 20 và trở thành “kim chỉ nam” của một thế hệ thiếu niên. Các tác phẩm khác do ông dịch lại từ tiếng Pháp, Anh: 

  • Vô Gia Ðình, Sans famille của Hector Malot (Giải I Dịch thuật 1970)
  • Trong Gia Ðình, En famille của Hector Malot
  • Về với Gia Ðình, Romain Kabris của Hector Malot
  • 80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới, Le tour du monde en 80 jours của Jules Verne
  • Guy-Li-Ve Du Ký. Les voyages de Gulliver của Jonathan Swift
  • Hoàng Kim Ðảo, L’île au trésor của Robert Luis Stevenson
  • Con Voi Chúa, Poo Lorn l’éléphant của Reginald Campbell
  • Chuyện Trẻ Em, Contes de Perrault của Charles Perrault
  • Cầu Vồng Trong Ruộng Lúa, L’arc-en-Ciel dans les rizières của Rosy Chabbert
  • Thuyền Trưởng 15 Tuổi, Un Capitaine de 15 Ans của Jules Verne
  • Thuật Tàng Hình của Vi-Liêm, Le secret de Wilhelm Storitz của Jules Verne
  • Dòng Sông Tráng Lệ, Le superbe Orénoque của Jules Verne
  • Em Bé Bơ Vơ, Oliver Twist của Charles Dickens.

Năm 1954 ông di cư vào Nam làm hiệu trưởng trường Trần Quý Cáp ở Sài Gòn rồi chuyển sang làm việc trong Ban Tu thư và Học liệu thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục của Việt Nam Cộng hòa.

Khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, ông sang Mỹ tỵ nạn và mất ngày 20 tháng 8 năm 1975 tại San Bernadino, CA, Hoa Kỳ, thọ 70 tuổi.

Bạn ông, nhà giáo Bảo Vân Bùi Văn Bảo có làm bài thơ “Khóc Bạn Hà-Mai-Anh” như sau:

Thôi thế là xong nhé bác Hà

Tâm hồn Cao thượng kiếm đâu ra?

Tuổi Xanh đất Mỹ đành thua-thiệt

Sống Mới trời Nam hẳn xót-xa

Về với gia-đình sao vội-vã?

Vòng quanh thế-giới há lâu-la!

Đồng-hương, đồng-quận, thêm đồng-nghiệp

Giọt lệ như sương khóc bạn già.

—- Huy Phương —-




The Mountains Sing: Tiểu thuyết Việt Nam đang làm độc giả phương Tây ‘cảm động’

Lê Quỳnh 

BBC News Tiếng Việt

Nguyễn Phan Quế Mai
Nguyễn Phan Quế Mai

Tiểu thuyết tiếng Anh của một tác giả Việt Nam đang nhận được sự quan tâm tích cực của các nhà phê bình nước ngoài.

The Mountains Sing là tựa đề tiểu thuyết đầu tay của nhà văn – dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai, do nhà xuất bản đặt ở London Oneworld Publications ấn hành năm 2020.

Nhà văn được giải Pulitzer Viet Thanh Nguyen ca ngợi tiểu thuyết The Mountains Sing “cảm động và hấp dẫn”.

Báo chuyên ngành xuất bản Publishers Weekly khen sách: “Lá thư tình gửi Việt Nam xuất sắc, không che giấu nỗi đau này sẽ làm độc giả cảm động.”

Cuốn tiểu thuyết trải dài cả trăm năm lịch sử Việt Nam, tập trung vào một gia đình họ Trần. 

Qua cuộc đời của các nhân vật như Hương và người bà Diệu Lan, The Mountains Sing đề cập đến các biến cố như cải cách ruộng đất ở miền Bắc, chiến tranh với người Mỹ và giữa hai miền Nam – Bắc, và giai đoạn hậu chiến.

Là dịch giả tiếng Anh, bà Nguyễn Phan Quế Mai đã viết The Mountains Sing trực tiếp bằng tiếng Anh.

Hiện đang sống và làm việc ở Indonesia, bà đã dành cho BBC cuộc phỏng vấn về tiểu thuyết đầu tay này.

Nguyễn Phan Quế Mai: 

Tôi đã xây dựng không gian của tiểu thuyết The Mountains Sing (Những ngọn núi ngân vang) trong suốt bảy năm. Trước đó, tôi đã lắng nghe rất nhiều những câu chuyện của người Việt từ miền Bắc tới miền Nam, từ trong nước đến hải ngoại. Tôi cũng đã đọc rất nhiều các tác phẩm hư cấu và phi hư cấu bằng tiếng Việt và tiếng Anh viết về các sự kiện lịch sử Việt Nam, đặc biệt về các sự kiện mà tiểu thuyết của tôi đề cập tới: sự đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam, sự xâm lược của đế quốc Nhật, nạn đói năm Ất Dậu, cải cách ruộng đất, sự chia cắt Bắc Nam, chiến tranh Việt Nam, thời kỳ bao cấp… 

Tất cả những câu chuyện và các tác phẩm kể trên đều cung cấp cho tôi những tư liệu quý và thúc giục tôi sáng tạo nên một tiểu thuyết khác biệt, ở đó, những người phụ nữ là trung tâm tác phẩm: họ là những người kể chuyện, dẫn dắt người đọc qua chiều dài gần một thế kỷ lịch sử Việt Nam, qua sự thăng trầm của bốn thế hệ trong một gia đình người Việt.

Tiểu thuyết này ra đời trong khuôn khổ chương trình Thạc sĩ và Tiến sĩ Viết văn mà tôi thực hiện với trường đại học Lancaster (Anh quốc). Đó là lý do tôi viết nó bằng tiếng Anh thay vì tiếng mẹ đẻ của mình. Một lý do nữa để tôi viết bằng tiếng Anh là hiện nay bạn đọc quốc tế biết rất ít về văn học Việt Nam, và văn học tiếng Anh có rất ít các tác phẩm viết qua đôi mắt và trải nghiệm của người Việt trong nước.

Tôi được sinh ra ở một vùng quê nghèo Bắc bộ và lớn lên ở đồng bằng sông Cửu Long (thị xã Bạc Liêu). Tôi bắt đầu chập chững học tiếng Anh khi vào lớp 8, với sự giúp đỡ của một người thầy mở lớp dạy tiếng Anh tình nguyện cho các trẻ em nghèo. Vì thế việc sáng tác tiểu thuyết đầu tay bằng tiếng Anh là sự liều lĩnh và thử thách lớn, tuy nhiên, tôi đã học hỏi được rất nhiều và biết ơn cơ hội được đặt một chân vào văn học thế giới qua tiểu thuyết này.

BBC: Tuy đây là tác phẩm hư cấu, bà có hy vọng giải thích một số chương lịch sử Việt Nam qua truyện kể của các nhân vật?

Tiểu thuyết “Những ngọn núi ngân vang” là sự kế thừa văn hoá kể chuyện của người Việt: tiểu thuyết bắt đầu bằng việc một người bà kể cho người cháu nghe những gì đã xảy ra với gia đình mình trong lúc hai người phải trốn chạy khỏi những trận bom Mỹ dội xuống Hà Nội. Người cháu tiếp tục những câu chuyện ấy của người bà để rồi khi người bà mất đi, cô viết lại những gì xảy ra với gia đình mình. Khi hoàn thành tiểu thuyết, cô đốt bản sao của bản thảo trước ngôi mộ của người bà đã mất để bà có thể đọc ở thế giới bên kia.

Lịch sử của Việt Nam có rất nhiều thăng trầm, có quá nhiều đau thương, mất mát. Với tiểu thuyết này, tôi muốn tái hiện lại những biến cố chính trong chiều dài lịch sử ấy, qua thân phận của những người dân bình thường, những người ấy rất cần được lắng nghe. 

Lịch sử Việt Nam cũng vô cùng phức tạp, và vì thế không dễ tiếp cận. Với “Những ngọn núi ngân vang”, tôi hy vọng bạn đọc sẽ vào vai các nhân vật trong gia đình họ Trần, để từ đó, họ trực tiếp trải nghiệm các biến cố chính của lịch sử, để rồi cảm nhận sự tác động của các biến cố ấy lên số phận con người. Tuy viết về các sự kiện lịch sử, nhưng trọng tâm của quyển sách này là số phận con người và cách con người vượt qua biến cố để giữ gìn không chỉ mạng sống mà còn phẩm giá, tình yêu, tình cảm gia đình và sự bình an trong tâm tưởng. 

Bạn đọc quốc tế hầu như chỉ biết về Việt Nam như một cuộc chiến tranh. Qua tiểu thuyết này, tôi muốn khắc họa nên hình ảnh của một Việt Nam giàu truyền thống văn hoá bao gồm truyền thống văn học (kể cả văn học dân gian). Dù phải đi qua rất nhiều thảm kịch, nhưng niềm tin và hy vọng vào tương lai, vào lòng tốt con người là những ngọn đuốc sưởi ấm cho các nhân vật trong tiểu thuyết, giúp họ vượt qua nhiều vực thẳm của bóng đêm. 

The Mountains Sing

BBC: Một bài điểm sách ghi nhận rằng “tha thứ và hòa giải – trong gia đình, giữa người Việt và với ngoại bang – là những chủ đề xuyên suốt” trong tiểu thuyết. Bà có hy vọng độc giả người Việt đồng tình với những gì bà viết trong sách, hay sẽ có những người không tán thành?

Một trong những điều thôi thúc tôi viết quyển sách này là sự chia cắt vẫn còn sâu thẳm giữa cộng đồng người Việt. Tiểu thuyết “Những ngọn núi ngân vang” nói về gốc rễ của sự chia cắt ấy, về nỗi đau của một gia đình khi họ bị chia lìa bởi lịch sử, để rồi người Bắc kẻ Nam, anh em ruột thịt phải cầm súng ở hai đầu chiến tuyến. Khi tiểu thuyết kết thúc, nỗi đau chia cắt ấy vẫn còn hằn sâu vào từng thành viên gia đình, dai dẳng và khó nguôi ngoai. Với tiểu thuyết này, tôi ước ao người Việt chúng ta lắng nghe và chia sẻ nhiều hơn các câu chuyện của cộng đồng mình – dù các câu chuyện đó có khác biệt thế nào chăng nữa. Tôi tin rằng khi chúng ta đọc và lắng nghe các câu chuyện của nhau, sẽ có nhiều hơn sự thấu hiểu và cảm thông. 

Tôi tin rằng mỗi gia tộc người Việt đều có những trải nghiệm độc đáo, kịch tích và nhiều màu sắc – những trải nghiệm ấy hoàn toàn có thể biến hoá thành một tiểu thuyết hấp dẫn. Và tôi cũng tin rằng không một câu chuyện nào có thể đại diện cho tất cả mọi trải nghiệm của người Việt. Gia đình họ Trần trong tiểu thuyết của tôi là một gia đình được xây dựng nên bởi trí tưởng tượng. Trải nghiệm của họ phản ánh một phần trải nghiệm của gia đình tôi cũng như trải nghiệm của nhiều gia đình mà tôi đã từng tiếp xúc. Nhưng gia đình Trần có một cuộc sống riêng, nơi đó trí tưởng tượng, bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử, được phép thăng hoa.

Tôi không dám mong đợi rằng mọi người Việt đều đồng tình với những quyết định, suy nghĩ của các nhân vật trong tiểu thuyết Những ngọn núi ngân vang. Tôi chỉ mong những gì xảy ra trong sách khiến bạn đọc xúc động, để từ đó họ liên tưởng và suy ngẫm tới gia đình họ và quê hương của họ, về những gì ông bà cha mẹ của họ đã phải trải qua để cho họ cuộc sống hôm nay. Tôi viết về sự thảm khốc của chiến tranh và xung đột để nói lên giá trị hoà bình, viết về sự chia lìa để nói về giá trị của sự đoàn tụ, viết về cái chết để nói về giá trị của mỗi phút giây bình thường. Tôi luôn ước ao mọi người Việt, dù ở bất cứ nơi đâu, cũng được hưởng một cuộc sống bình an, nơi họ có thể quây quần bên gia đình, được làm việc, học tập, được trân trọng và được yêu thương.




‘The Mountains Sing” A Song Of Many Voices

THÚY ĐINH

The Mountains Sing

by Que Mai Phan Nguyen

Hardcover, 352 pages

Nguyễn Phan Quế Mai

In The Mountains Sing, Nguyễn Phan Quế Mai has created a luminous, complex family narrative that spans nearly a century of Vietnamese history, from the French colonial period through the communist Viet Minh’s rise to power, the separation between North and South Vietnam, the Vietnam War, all the way to the present day. Told alternately by Diệu Lan, born in 1920, and her granddaughter Hương, born in 1960, the novel resembles a choral performance with multiple voices.

Diệu Lan is the family matriarch — bereft of father, husband, brother, and eldest son due to war and occupation, she weathers historical changes and economic hardship with self-reliance, intelligence, creativity, and kindness. Born in the same province as revolutionary leader Hồ Chí Minh, Diệu Lan’s actions reflect her own idea of independence. During the era before Vietnam’s economic reforms of the 1980s, she becomes a black marketeer to improve her family and community living conditions. She introduces contraband American literature to her granddaughter, hoping to broaden Hương’s intellectual horizons, and shows unwavering love to a son who fought in the pro-American South Vietnamese Army.

The Mountains in the title represent the Vietnamese people and their land, and Sing standsfor the novel’s celebration of plural perspectives. Mountains Sing is also the literal meaning of sơn ca, the Sino-Vietnamese word for the hand-carved wooden lark that Hương inherits from her long-lost father. As a symbol of immortality in Vietnamese culture, the sơn ca also brings to mind Yeats’s golden nightingale, his avatar in “Sailing to Byzantium” that sings of “what is past, or passing, or to come.”

The past figures prominently in Quế Mai’s novel, for it still affects the present and the future. The author dedicates The Mountains Sing to her grandmother, who perished in the Great Famine of the 1940s when Japan occupied Vietnam, to her grandfather who died because of the harsh land reform policy imposed by the North Vietnamese Communist government in 1955, and to her uncle, “whose youth the Vietnam War consumed,” as well as millions of Vietnamese and non-Vietnamese who lost their lives in the war.Article continues after sponsor messagehttps://5bacdb423a428db7f08f7e251c8d88b2.safeframe.googlesyndication.com/safeframe/1-0-37/html/container.html

‘The Mountains Sing’ affirms the individual’s right to think, read, and act according to a code of intuitive civility, borne out of Vietnam’s fertile and compassionate cultural heritage.

Born in 1973 in North Vietnam, Quế Mai relocated at six with her family to the South, before winning a university scholarship to study in Australia. She later decided to pursue a writing career exploring the long lasting socio-psychological consequences of the Vietnam War. This background gives Quế Mai an astute and graceful ability to sustain contradictory truths about war, displacement, aesthetic representations, and human nature. In The Mountains Sing, Hương is able to see the humanity of her so-called American enemies because she’s read Laura Ingalls Wilder’s depiction of the close-knit pioneer family in Little House in the Big Woods (a book she acquired from her grandmother Diệu Lan’s black market trade). At the same time, beauty does not exempt a culture from its inhumanity; at one point, Diệu Lan observes that an elegant haiku about a frog by the Japanese poet Basho could not save the Vietnamese from the brutality of their Japanese occupiers.

Most importantly, the novel helps all of us see “the enemy” not as abstract or demonic, but corporeal, even familial. An American bomber who falls out of the sky, Icarus-like, is as vulnerable as someone’s brother who fights for the other side. The Vietnam War is not only an international ideological struggle, but also a civil war among kin. A character laments, “But what if one of my comrades had his gun pointed at your forehead? Would I kill my brother in arms to save my brother in blood?”

In depicting the dire consequences of war and Marxist ideology, which forced citizens and family members to become either traitors or patriots, The Mountains Sing affirms the individual’s right to think, read, and act according to a code of intuitive civility, born out of Vietnam’s fertile and compassionate cultural heritage.

And yet, despite the novel’s wondrously balanced approach, true reparation has yet to take place between the Vietnamese state and its people. The “enemies” that Diệu Lan faces when she returns to her home town are not her true enemies, but merely agents of an oppressive Marxist regime that engineered the disastrous land reform.

At the end of the day, the fact that The Mountains Sing is published in English means its content still faces translation and censorship hurdles before reaching readers in Vietnam. Can Nguyễn Phan Quế Mai’s message be heard in her homeland, where the mountains of Vietnam are still a fortress silencing the sounds of birds?

Thúy Đinhis a writer, literary translator, and co-editor of the Vietnamese e-zine Da Màu (Multitude). Her work has appeared in NBCThinkAsymptotediaCRITICs, Amerasia Journal, Pop Culture Nerd, among others.