Hiện ở P.Long Bình, Q.9, TP.HCM có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm. Có lẽ ít ai biết đây chính là người đã đặt chân đến nước Mỹ cách đây hơn 170 năm.
Tranh vẽ minh họa hành trình của ông Trần Trọng Khiêm
Câu chuyện bắt đầu từ năm 1842 (năm Minh Mạng thứ 23) ở làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao (Phú Thọ) có một chàng thanh niên 21 tuổi tên Trần Trọng Khiêm phạm trọng án. Số là người vợ mới cưới của anh bị tên chánh tổng ép bức, làm nhục rồi sát hại. Căm giận, Trần Trọng Khiêm quyết báo thù. Sau khi tương kế tựu kế giết chết tên vô lại, anh trốn xuống Phố Hiến (Hưng Yên) rồi xin vào làm việc trên một chiếc tàu buôn ngoại quốc, khởi đầu cho những chuyến phiêu lưu khắp năm châu bốn biển.
Suốt 12 năm (1842 – 1854), Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Á sang Âu: Hồng Kông, Anh, Hà Lan, Pháp… Nhờ trí thông minh, đi đến đâu anh cũng cố gắng học tiếng địa phương. Năm 1849, anh đặt chân đến thành phố New Orleans (Mỹ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.
Sau khi đến Mỹ, Trần Trọng Khiêm bấy giờ 28 tuổi, cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Viễn Tây. Trong gần 2 năm, Lê Kim sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Anh đã tham gia đoàn đào vàng do một người Canada tên Mark khởi xướng. Để tham gia đoàn này, tất cả thành viên phải góp tiền mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Lê Kim góp 200 USD vào thời điểm năm 1849. Do biết nhiều ngoại ngữ, anh được ủy nhiệm làm liên lạc cho thủ lĩnh Mark và làm phiên dịch cho những thành viên trong đoàn gồm tiếng Hà Lan, Trung, Pháp… (trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (nhà xuất bản Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Canada, Anh, Pháp, Hà Lan, Mexico…). Anh nói với mọi người rằng anh còn biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt nhưng không cần dùng đến. Lê Kim cũng nói anh không phải người Hoa nhưng đất nước của anh nằm cạnh nước Tàu.
Lê Kim và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua dãy núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là Oh! Suzannah (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc…). Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng, nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm – họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ. Sốt rét và rắn độc cũng đã cướp đi quá nửa số thành viên trong đoàn.
Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người tháo vát, xông xáo lại biết nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được làm phóng viên tự do cho nhiều tờ báo như: Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.
Lê Kim hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng làm việc ở những mỏ khai thác vàng là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Nhiều bài báo của anh đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A.Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, anh đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, tướng Sutter bị bệnh tâm thần và sống lang thang ở các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không ai đoái hoài đến.
Khi gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 USD và chê trách thái độ của người dân San Francisco cũng như nước Mỹ đối với người khai phá ra vùng đất San Francisco.
Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng anh cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.
“Người Minh Hương” cầm quân chống Pháp
Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương (người gốc Hoa, không chịu thần phục nhà Thanh nên di dân sang Việt Nam – NV) đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai.
Trong bức thư bằng chữ Nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Mỹ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường.
Chưa đầy 10 năm sau khi Pháp xâm lược Việt Nam, Lê Kim từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười, trở thành một vị tướng giỏi. Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De La Grandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối: “Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh/Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.
Khánh Thúc Hà (KHANH HA), Ngôi Sao Việt Tỏa Sáng Trên Vòm Trời Văn Học Hoa Kỳ
Nhà văn Khanh Ha (Hà Thúc Khánh)
Phương Hoa
Vừa qua, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ (VNHNVĐB HK) mà tôi tham gia, nhận được một tin vui thật lớn, làm rộn ràng cả diễn đàn Văn Bút. Đó là tin văn sĩ gốc Việt Hà Thúc Khánh (Khánh Hà), phu quân của thành viên Văn Bút văn thi sĩ Nguyễn Phương Thúy, đã đoạt cùng lúc hai giải thưởng văn học giá trị của Hoa Kỳ chỉ cách nhau có một tháng. Giải truyện ngắn “2020 WILLIAM FAULKNER Literary Competition” hồi tháng 9, và đến nay, gần cuối tháng 10, anh lại đoạt tiếp giải “THE 2020 ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” trong cùng một tác phẩm, “THE WOMAN-CHILD.”
Ngoài việc cùng chung sinh hoạt trong Văn Bút VNHNVĐB HK, tôi còn là thành viên nhóm Cô Gái Việt (CGV) cũng ở Hoa Kỳ, một diễn đàn quy tụ toàn nữ văn, thi, nhạc sĩ Việt, do Phương Thúy điều hành. Cô cũng là chủ nhiệm kiêm chủ bút Tuyển Tập Cô Gái Việt, phát hành mỗi năm một lần, gồm những bài viết của thành viên CGV trên nước Mỹ và thế giới, với mục đích góp phần bảo tồn Việt Ngữ và giữ gìn văn hóa Việt Nam nơi hải ngoại, v.v. Nhờ vậy, tôi mới có dịp may được quen biết nhà văn Khánh Hà (Nv KH). Xin kính chia sẻ cùng quý độc giả cuộc trao đổi đầy thú vị dưới đây giữa người viết và Nv KH:
Thưa anh Khánh Hà,
Trước hết, Phương Hoa xin trân trọng chúc mừng anh đã đoạt được hai giải thưởng văn học giá trị vừa rồi, và cám ơn anh dành cho P. Hoa cuộc đổi trao, chia sẻ thật đặc biệt, thật vinh dự này. Là một người viết văn tiếng Việt, và chỉ mới bắt đầu tập tò viết chút ít tiếng Anh gần đây, nên P. Hoa vô cùng khâm phục sự thành công tuyệt vời mà anh giành được khi hội nhập vô dòng chính của văn học Hoa Kỳ. P. Hoa xin phép được hỏi anh đôi điều, mong anh vui lòng chia sẻ để độc giả Việt Báo và bà con đồng hương Việt khắp nơi cùng chia vui với anh.
Nv KH: Xin cám ơn chị P. Hoa đã có nhã ý giới thiệu tôi, một Vietnamese American writer, cho độc giả Việt Báo. Rất hân hạnh được tiếp chuyện với chị hôm nay.
P. Hoa:Dạ cám ơn anh.Thưa anh, xin anh cho biết thêm chi tiết về hai giải thưởng truyện ngắn của WILLIAM FAULKNER Literary Competition” và “ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” đã trao cho tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” cùng giá trị văn học của chúng, và lý do tại sao anh dự thi hai giải thưởng ở hai nơi lại cùng một tác phẩm? Và nếu tiện, xin anh tóm tắt đôi điều về tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” đã đoạt giải?
Nv KH: Thưa chị, giải William Faulkner Literary Competition trao giải nhưng không xuất bản truyện đoạt giải; còn giải Orison Anthology Award in Fiction sau khi trao giải sẽ xuất bản truyện—lịch trình là mùa thu năm 2021. Tóm lại, không có sự mâu thuẫn hay bất đồng giữa hai giải về sự đệ trình của mỗi truyện tranh giải. Truyện “The Woman-Child” được tóm lược như sau:
Set in Vietnam 20 years after the end of the war in a coastal habitat being ruined by modern aquaculture industry, “The Woman-Child” tells a story of a tender relationship between Vietnam-born Minh who as a Vietnamese expatriate living in the United States visits the country as a graduate student, and a young local girl who lives on the seaside with its ever-present ocean and its ecological beauty, set against a backdrop of the Vietnam’s environmental degradation caused by shrimp aquaculture, when half a million hectares of coastal mangrove forests had been razed to become prawn farms to feed the American market.
(P.Hoa xin tạm dịch: Truyện lấy bối cảnh ở Việt Nam, 20 năm sau chiến tranh, trong một môi trường sống ven biển đang bị hủy hoại bởi kỹ nghệ thủy sản tân tiến. “The Woman-Child” kể câu chuyện về mối quan hệ mong manh giữa nhân vật tên Minh, một Việt kiều Mỹ, sau khi tốt nghiệp trở về thăm quê hương, và một cô gái trẻ địa phương sống ven biển với đại dương mênh mông cùng vẻ đẹp sinh thái thiên nhiên tự thuở nào của nó, giờ đây phải đối diện với sự suy thoái môi trường tại Việt Nam do kỹ thuật nuôi tôm, khi nửa triệu mẫu rừng cây đuốc ở ven biển đã bị san bằng để làm khu nuôi tôm cung cấp cho thị trường Mỹ.)
P. Hoa: Tuyệt vời. Thưa anh, ngoài hai giải thưởng này ra, theo chỗ P. Hoa được biết, anh đã từng nhận “không biết cơ man nào” (cười) thành tích. Ví dụ như, 7 lần anh được đề cử vào giải “Pushcart Prize,” một giải thưởng văn học được vinh danh nhiều nhất nước Mỹ kể từ năm 1976, là hội văn học mà hầu hết các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học, viết tiểu luận nổi tiếng ở Hoa Kỳ tham gia từ 1976 cho đến nay. Rồi thì tác phẩm của anh cũng từng vào chung kết giải thưởng “The Mary McCarthy,” “Many Voices Project,” “Prairie Schooner Book Prize,” “The William Faulkner-Wisdom Creative Writing Award,” là những giải thưởng nổi tiếng, và giải “The Sand Hills” dành cho sách hư cấu hay nhất, tiếp đến là giải “Robert Watson” của Greensboro Review về tiểu thuyết hay, và còn nữa… Ôi, đúng là đếm muốn… hụt hơi luôn rồi (cười). Nhờ anh điều chỉnh lại cho đúng, bổ sung thêm những giải thưởng P. Hoa nêu còn thiếu trong danh sách này? Vì P. Hoa biết còn nhiều giải thưởng khác chưa được cập nhật. Đặc biệt, xin anh cho biết, giải thưởng anh nhận đầu tiên là giải thưởng gì? Nhận được năm nào? Và tác phẩm đó tên là gì?
Nv KH: Cám ơn chị đã quá khen, và cũng xin cám ơn chị đã liệt kê đầy đủ. Sự thật là tất cả các giải thưởng đều nặng phần chủ quan, từ giải thưởng nhỏ đến giải thưởng lớn. Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo—on the same vibrations—thì tỷ lệ thắng sẽ cao hơn, với điều kiện tiên quyết là sáng tác phải có giá trị. Tin vui thường đến rất bất ngờ vì có lẽ những gì mình mong muốn thường không bao giờ đến. Giải thưởng văn chương đầu tiên tôi nhận được là Robert Watson Prize, năm 2013 (see link in blue). Truyện ngắn nhan đề Heartbreak Grass (see link in blue).
P. Hoa: “Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo” Nghe “ngồ ngộ” nhưng có lý lắm! (smile).Thưa anh, trong tất cả những giải thưởng của anh, giải thưởng nào mà anh tâm đắc nhất? Giá trị cao nhất? Có kỷ niệm nào đặc biệt đáng nhớ, vui buồn, trong những lần anh được giải, hoặc nhận giải, hoặc khi viết về tác phẩm?
Nv KH: Hai truyện ngắn tâm đắc nhất của tôi là “Heartbreak Grass” và “The Woman-Child.” Trong mỗi truyện người đọc có thể cảm nhận được sự linh động chân thành của những nhân vật và qua bối cảnh của truyện. Thưa chị, viết truyện đã khó thì đoạt một giải văn chương càng khó hơn. Cá vượt vũ môn trong thực tế chỉ là một ảo tượng cho biết bao nhiêu nhà văn. Nhưng tôi rất vui mỗi khi nhận được tin thắng giải mà nói theo tiếng Anh là “a pure joy.”
P. Hoa: Dạ anh. P. Hoa đã từng may mắn đọc qua truyện ngắn “Heartbreak Grass” của anh, nói về người thương phế binh Cộng sản được gọi là “Uncle Chung,” trở về sau trận chiến với hai mắt bị mù và tứ chi đều mất hết, rất sống động và cảm động… nên anh “đánh bại” hết các tác giả khác cũng đúng thôi. Và thưa anh, P. Hoa cũng được biết, truyện “Mrs. Rossi’s Dream” của anh mới xuất bản năm 2019 cũng đã nhận quá nhiều kết quả đẹp. Anh được “Foreword Reviews INDIES” trao cho huy chương Bạc về “Historical Adult Fiction” là tiểu thuyết lịch sử dành cho người lớn, và huy chương Đồng về “War & Military Adult Fiction” tiểu thuyết chiến tranh & quân đội dành cho người lớn, và “Booklist” đã vinh danh là sách mới hay nhất. Anh có thể cho biết chút ít về quyển sách này, anh lấy ý tưởng từ câu chuyện thật hay hư cấu? Và phải mất thời gian bao lâu thì anh hoàn tất quyển sách này?
Nv KH: Tiểu thuyết của tôi thường thành hình bắt đầu từ một hình ảnh. Hình ảnh nguyên thủy chuyển biến thành quyển sách “Mrs. Rossi’s Dream” đến từ một documentary film. Ở đó một bà đồng bóng dẫn một phụ nữ Mỹ đến một nấm mồ nơi thi thể con bà đã được an táng cách đó 20 năm. Lúc bấy giờ tôi đã sống ở đất Mỹ rất lâu và hình ảnh đó vẫn sống trong tôi qua nhiều năm nữa cho đến một hôm tôi cảm nhận được sự thôi thúc phải viết về hình ảnh đó. Trong suốt thời gian viết tôi ngỡ như mình là một đứa bé đang học những điều lạ lùng ở trái đất này, một môi trường đầy đam mê và quyến rũ, đầy những con người đủ chủng tộc, đầy bí ẩn, đầy tham lam, gian ác và hung dữ, nhưng ngược lại cũng đầy tình thương và tha thứ. Một buổi sáng sau hai năm viết liên tục, tôi bước ra ngoài và đứng nhìn cây Hương Đào đang trổ bông rực một góc nhà. Và ve sầu bắt đầu kêu.
P. Hoa: Wow! Thiệt là phải… nín thở khi nghe anh kể (cười), vì có thể thấy sự quyết tâm, cũng như trí tưởng tượng quá phong phú của anh đã thuyết phục được độc giả Mỹ, một điều không phải dễ cho tất cả các nhà văn viết tiếng Anh, nhất là khi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. Và, P. Hoa được biết anh tốt nghiệp ban Văn Chương/Báo Chí ở đại học Ohio, xin cho hỏi, anh có xử dụng bằng cấp này cho việc làm nào khác hay là anh chỉ chuyên viết văn? Về viết văn, cho tới hiện tại anh đã xuất bản được bao nhiêu tác phẩm? Truyện ngắn? Truyện dài?
Nv KH: Tôi không có cơ hội để áp dụng học thức của mình về ngành báo chí; nhưng cách viết của báo thật sự giúp tôi khi viết văn—hành văn của báo chí là ngắn, gọn, gãy, đủ—nói khác hơn là cách diễn đạt phải ngắn gọn và rõ ràng. Đọc Ernest Hemingway có lẽ quí độc giả sẽ thấy tính chất đó. Tác phẩm đầu tiên của tôi là “Flesh,” kế đến là “The Demon Who Peddled Longing,” và tác phẩm gần đây nhất là “Mrs. Rossi’s Dream.” Riêng về truyện ngắn thì tôi có trên 30 truyện đã xuất bản qua nhiều tạp chí văn chương Mỹ–phần lớn là những tạp chí của những chương trình Master of Fine Arts (MFA) do những sinh viên cao học quản lý và điều hành từ các trường đại học khác nhau.
P. Hoa:Dạ, cám ơn anh. Xin cho hỏi, anh có nhà văn thần tượng nào cho phong cách viết của anh không? Và anh có thể cho biết anh có những gửi gắm gì, nhắn gửi gì cho độc giả trong những câu chuyện về chiến tranh như “Mrs. Rossi’s Dream” chẳng hạn?
Nv KH: Thần tượng về văn chương thì tôi không có; tuy nhiên tôi thích đọc Ernest Hemingway, William Faulkner, Cormac McCarthy, Robert Penn Warren. Tác phẩm “Mrs. Rossi’s Dream” hoàn toàn đứng riêng về phương diện chiến tranh. Nó chỉ mô tả sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh và sự mất mát của chúng ta trong tình nhân loại. Là một nhà văn tôi chỉ viết khách quan nên không bao giờ có tham vọng biểu dương một chủ đề hay gởi đời một bài thuyết pháp.
P. Hoa:Dạ anh. Nhưng dù anh có khiêm nhường mà nói thế, độc giả vẫn có thể nhận ra những “sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh” anh mô tả trong truyện, là những nhắn gửi, những lời kêu gọi thống thiết lương tâm loài người về đạo đức, về lòng nhân, và về tình người với nhau. Cho P. Hoa hỏi tiếp, truyện đầu tay bằng tiếng Anh anh viết là khi nào, và đó là chuyện gì? Điều gì đã giúp anh “đánh đâu thắng đó” khi gửi bài dự thi? Anh đã luôn “đoán trước” được chủ ý và yêu cầu của ban giám khảo?
Nv KH: Thưa chị, truyện đầu tay Anh ngữ của tôi được viết lúc tôi là một senior ở trường đại học Ohio University, Athens, trong khi theo học một khóa Creative Writing. Giáo sư của tôi lúc bấy giờ là nhà văn nổi tiếng Daniel Keyes, tác giả của tác phẩm “Flowers for Algernon.” Cuối khóa ông chọn truyện ngắn của tôi và xin phép tôi cho ông gửi đăng trên tờ tạp chí Ohio Review. Nhan đề truyện ngắn là “A Woman from Saigon.” Tôi quên gần hết câu chuyện vì cũng hơn 30 năm rồi. Về việc gửi bài dự thi và “đoán được” chủ ý lẫn yêu cầu của ban giám khảo thì tôi xin lập lại một sự thật, một chân lý cho tất cả tác phẩm dự thi: Tất cả kết quả đều dựa trên sở thích cá nhân; cho nên nếu hợp tính, hợp thẩm mỹ với nhau thì tác phẩm đó sẽ thắng.
P. Hoa:Thưa anh, P. Hoa đã được đọc nhiều truyện ngắn tiếng Việt anh viết cho tờ Tuổi Hoa trước năm 1975. Khi đó anh còn trong tuổi học trò, mà những truyện ngắn anh viết như “Săn Người,” “Hoa Đầu Mùa,” hay “Tổ Ấm,” trên Tuổi Hoa, ngòi bút của anh khi ấy đã rất chững chạc, sắc sảo, rất hay, và đầy vẻ huyền bí không thua gì những nhà văn nổi tiếng. Một tương lai sáng lạn về văn học Việt Nam như thế, tại sao về sau ra nước ngoài anh không tiếp tục viết tiếng Việt nữa, mà chỉ chuyên viết sách tiếng Anh? Còn nữa, anh có dự định dịch sang Việt ngữ những tác phẩm của anh để bà con mình những người không biết nhiều tiếng Anh có thể đọc?
Nhà văn Khanh Ha (Hà Thúc Khánh)
Nv KH: Thưa chị, thưở còn viết cho Tuổi Hoa tôi đang ở tuổi 13-15 và chỉ biết viết vì đam mê. Bao nhiêu năm, sau khi đã trưởng thành tôi không còn sự ngây thơ đó nữa, vì sự tự hào, dù đó là một hảo huyền, đã thúc đẩy tôi sáng tác qua Anh ngữ để đạt một số độc giả rộng lớn hơn. Việc chuyển dịch những gì đã viết từ Anh ngữ sang Việt văn đòi hỏi rất nhiều thì giờ và một tinh thần tận tụy mà tôi không làm được vì đã để hết tâm viết truyện bằng Anh ngữ. Ngoài ra, nếu muốn dịch hay thì nên để một dịch giả khác mình làm chuyện đó. Rất ít có tác giả nào tự dịch những gì mình viết.
P. Hoa: Dạ anh nói đúng lắm. Còn điều này, P. Hoa từng đọc một bài viết dễ thương từ phu nhân Phương Thúy của anh, tựa đề là “Giận”:
Trong đó có đề cập đến một bài tình thơ bằng tiếng Anh, “Gasoline Rainbow” rất ngọt ngào, rất lãng mạn, anh viết cho nàng khi hai người mới yêu nhau. Xem ra hồn thơ Anh ngữ của anh cũng khá là… lai láng (cười). Như vậy, ngoài viết sách, anh có làm thơ tiếng Anh không?
Nv KH: Thưa chị có; nhưng đó cũng như so sánh một chef với một sous-chef. Tình yêu có thể gợi cảm hứng diễn đạt qua vần thơ để bắt giữ những sắc màu lãng mạn lúc đó, và tôi đã làm thơ khi tôi biết yêu. Nhưng cuối cùng tôi vẫn là một nhà văn.
P. Hoa: Anh đối đáp duyên dáng lắm (cười). Là một nhà văn gốc Việt rất thành công trong dòng chính văn học Mỹ quốc, anh thuộc vào hàng “tiền bối” của những cây viết mới bắt đầu, anh có lời khuyên gì, nhắn nhủ gì, bí quyết gì, để dẫn đến sự thành công vượt bực đó mà anh có thể chia sẻ cho những “hậu bối” trên con đường viết lách bằng Anh ngữ, và cả những cơ hội có thể thắng giải văn chương như anh?
Nv KH: Viết văn cũng như tập nấu ăn, thưa chị. Nếu có người chỉ dạy đó chỉ là mắm muối thêm vào thôi. Sự trưởng thành của một nhà văn đến từ chính mình, có nghĩa là viết và viết. Và đọc. Đọc nhiều để bồi bổ kiến thức cho kỹ thuật viết, và viết nhiều để tôi luyện kỹ thuật hầu tìm được tiếng nói của riêng mình. Một nhà văn không có tiếng nói đặc thù cũng giống như “generic drug” so sánh với “brand-name drug.” Nếu đây có thể xem là một lời khuyên thì xin chị chấp nhận.
P.Hoa: Dạ anh, tất nhiên đó là những lời khuyên vô giá! Câu hỏi chót là về sự nghiệp văn chương của anh: Mục tiêu sắp tới của anh là gì? Anh có dự định tranh đoạt những giải thưởng văn học nào trong tương lai? Và hiện anh có đang chuẩn bị in sách mới?
Nv KH: Tôi luôn bận với sáng tác. Lúc đang viết một tiểu thuyết thì tôi đã có một hình ảnh của sáng tác khác sau đó. Tiểu thuyết tôi vừa viết xong đã có một số truyện ngắn trích ra từ đó, đã và sẽ đăng trên một số tạp chí văn chương của Mỹ–Waccamaw Journal, Solstice Literary Magazine, Evening Street Press. Hiện tôi sắp kết thúc phần tham khảo cho sáng tác mới và sẽ bắt đầu viết vào năm tới.
P. Hoa: Hết sảy!Chúc mừng anh! Thật là ngưỡng mộ sức viết ngút ngàn như gió cuốn, như mây bay, như nước chảy của anh, những đức tính và sự quyết tâm ấy không phải nhà văn nào cũng làm được. Và, nếu không có gì bất tiện, anh có thể cho biết anh đến Mỹ năm nào và thuộc diện gì?
Nv KH: Thưa chị tôi du học ở Ohio University, Athens, vào thập niên 70, trước khi chúng ta mất nước vào tay Cộng sản.
P. Hoa: Dạ cám ơn anh. Để kết thúc cuộc trao đổi này, P. Hoa xin chân thành cám ơn anh Khánh Hà rất nhiều, đã bỏ thì giờ quý báu để chia sẻ nhiều điều thú vị và bổ ích cho những cây viết tiếng Anh “mầm non” gốc Việt (như P. Hoa) trong cuộc trò chuyện này. Kính chúc anh cùng gia đình vui khỏe, hạnh phúc, và riêng anh, chúc anh luôn tiến mãi trong sự nghiệp văn chương trên quê hương thứ hai này.
Nv KH: Xin thành thật cám ơn chị. Chúc chị và gia quyến được bình an trong thời COVID-19 này.
P. Hoa: Dạ cám ơn và kính chào anh.
Quý độc giả nếu muốn đọc các truyện ngắn Việt ngữ của nhà văn Khánh Hà đăng trên báo Tuổi Hoa trước 1975 xin mời vô những đường link sau đây. (copy link bỏ lên Google để mở)
Nhớ người từ chốn nghìn trùng Nhớ người tan nát tận cùng thịt da Nhớ hoang sơ, nhớ thật thà Nhớ yêu dấu rất mặn mà tháng năm Nhớ thương dáng đứng, ngồi, nằm Nhẹ như gió thoảng, thì thầm trăng sao Nhớ trong giấc ngủ, chiêm bao Nhớ trong tiếng hát gọi chào bình minh Nhớ từ thuở rất điêu linh Nhớ đời những lúc gập ghềnh, gian nan Tay trong tay vẫn dịu dàng Ta chưa một phút bẽ bàng cho nhau Nhớ người, nhớ trước, nhớ sau Nhớ trăm năm đã đi vào trăm năm
NK-TNC
LẦN ĐẦU VỀ XỨ MẠ
Hai mốt tuổi, theo Mạ về với Huế Xứ sở bao năm với mắt quế môi trầm.. Huế từ trên cao, ẩn hiện giữa mù giăng.. Con luôn miệng..Huế mềm mô hở Mạ?
Huế ẩn hiện trong sương mờ trắng muốt Mạ ngậm ngùi..Con liên tục bấm máy quay Nơi chôn rau cắt rún của Mạ ni.. Huế hiện hữu..hệt tự tình của Mạ! … Mạ quỳ sụp, giữa Thu tàn xao xác lá Vết lăn trầm viễn xứ..bước tha phương Chừ khấu đầu trước Tiên Tổ, Cố Hương.. Con cảm nhận..Nỗi lòng Người Xứ Huế!
Đời thênh thang, phận người như chiếc lá Khi úa vàng..xin được rụng dưới Cội cây! Mặc ngoài tê, mưa gió lạnh giăng đầy.. Răng ấm áp..khi trong lòng Xứ Mạ!
Về Đại Nội trong Trời mưa tầm tã.. Hai mạ con..phó mặc bước trong mưa Giọt ngắn giọt dài, như lấn lướt giọt mưa.. Trong thổn thức khi lần về Nguồn Cội!
Đến Kim Luông..chạng vạng mưa giăng lối Bước chân lạc loài, hiu hắt gió Thu đưa.. Đệ Phủ chong đèn..rêu phong phũ lối xưa Tay trong tay Mạ..
Chiều Huế Thương..Hai lẻ bảy !
NHỮNG LOÀI CHIM ĐẸP NÓI ĐƯỢC TIẾNG NGƯỜI
* Tại sao một số các loài chim học hay bắt chước được tiếng người ?
* Các nhà động vật học cho biết :
— Nguyên nhân mấu chốt là cuống lưỡi của các loài chim ( Vẹt , Sáo …) rất phát triển . Lưỡi nhọn , nhỏ , dài , mềm và rất linh hoạt .
— Cơ hót của chúng tương đối phát triển . Có thể phát ra âm điệu chính xác , rõ ràng . Thêm vào đó , khả năng bắt chước và trí nhớ của chúng cũng khá tốt .
— Do vậy , dưới sự nuôi dưỡng của con người . Một số các loài chim biết nói . Có thể học nói và hát . Khiến mọi người yêu thích .
— Song , các nhà khoa học cũng cho rằng : chúng có thể nói được là do hành vi bắt chước mà thôi . Đó là một loại phản xạ có điều kiện . Chúng chắc chắn không thể giống như con người hiểu được nghĩa của tiếng người được .
* Dưới đây là một số các loài chim nói được tiếng người :
1. Chim Yểng :
— Khả năng học vẹt của chim Yểng rất giỏi .
— Điều thú vị là chúng có thể mô phổng ngữ âm , ngữ điệu .
— Loài chim Yểng gây ấn tượng bởi khả năng phát âm của chúng . Chuẩn xác đến bất ngờ .
2. Vẹt Xám Châu Phi :
— Sống ở các khu vực rừng nhiệt đới Tây và Trung Phi .
— Vẹt Xám Châu Phi là loài chim thông minh nhất thế giới .
— Chúng không những chỉ nghe , hiểu mà còn bát chước giọng nói của con người . Kể cả bắt chước tiếng của các vật xung quanh như chó , mèo … và huýt sáo .
3. Vẹt Indian Ring Parakeet :
— Loài chim này , có thể học được khoảng 200 đến 250 từ .
— Tuy nhiên , Vẹt Indian Ring Parakeet có khả năng mỗi con khác nhau .
— Khả năng ngôn ngữ của chúng tùy thuộc rất lớn vào sự tương tác giữa người và con vật .
4. Sáo Đen :
— Sáo Đen là một trong những loài chim học vẹt được con người đón nhận nhất hiện nay .
— Mặc dù tỉ lệ mở miệng thấp hơn loài chim Yểng nhưng chúng vô cùng thông minh .
— Chim Sáo Đen tính cách cũng tốt .
— Chúng cũng còn có thể học những loại khả năng như : ngậm , tha …
5. Chim Vẹt Cockatoo :
— Với khả năng nghe và bắt chước các loại âm thanh quen thuộc . Mà chúng còn có khả năng nói tiếng người rất tốt .
— Tuy nhiên , rất thông minh nhưng Vẹt Cockatoo lại rất hay nghịch ngợm .
— Đây cũng là loài chim biết nói khá thú vị .
6. Vẹt Scarlet Macw :
— Chúng có khả năng nói rất tốt .
— Đây cũng là loài chim cảnh tuyệt đẹp và lý tưởng .
* Loài chim Vẹt Scarler Macw ban đêm luôn thích giọng sắc lẽm , kêu vài tiếng và thích nói chuyện .
7. Vẹt Eclectus Parrot :
— Đây là loài chim Vẹt có khả năng phát âm rõ nhất về từ vựng .
— Vẹt Eclectus Parrot cũng có thể bắt chước các âm thanh phát ra từ môi trường xung quanh
— Chúng có khả năng hát một bài hát trọn vẹn với giai điệu quen thuộc .
* ( Thông tin thêm ):
— Đây là một trong 5 con chim Vẹt Xám Châu Phi . Đã dạy cho nhau cách nói bậy . Và không hiểu sao , mỗi lần thấy du khách là chúng thường xuyên ” chửi thề ” với du khách . Vì vậy chúng đã buộc phải cách ly .
— 5 chú Vẹt này thuộc Công viên Động vật hoang dã Lincolnshire — Anh .
Sáng nay trời đẹp, rảnh rỗi lại thấy trong người sung sức mà không biết làm gì, bèn cầm máy vô Chợ Lớn kiếm vài tấm hình. Ngang qua một tiệm bán đồ gốm sứ Trung Hoa, ghé vô xem chơi. Thấy mấy cái ấm Tử sa, hỏi cô bé bán hàng, cô chẳng biết gì. Tình cờ ông chủ tiệm đi đâu về, hỏi ổng, ông ta cũng chỉ biết lờ mờ. Ông ta bảo ngộ chỉ biết bán hàng thôi, ngộ không biết nhiều về mấy hàng này đâu, nị biết nói cho ngộ nghe với. Tui nói với ổng sơ lược về mấy điều rồi hỏi ổng có chơi facebook không, ông ta bảo có. Tui mới bảo rằng tui có viết một bài về ấm Tử sa, mời ông vào xem. Về nhà, mở Facebook tìm lại bài viết, chắc tại lâu quá, nó trôi đâu mất rồi. Thôi thì đăng lại lần nữa, xem như giữ trên Facebook cho dễ kiếm.
—————————————————
Ấm Tử Sa dùng chỉ dòng ấm gốm, cụ thể hơn là ấm pha trà được làm từ đất sét Tử Sa, vùng Nghi Hưng thành phố Vô Tích, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.
Các cuộc khai quật khảo cổ cho thấy từ đầu thời Nhà Tống(thế kỷ X) đã có những bình gốm pha trà được làm từ loại đất sét tử sa hay còn gọi “tử nê”. Theo ghi chép của học giả triều Minh Chu Cao Khởi, thời hoàng đế Chính Đức có một nhà sư ở đền Tử Sa, Nghi Hưng đã nặn những bình trà từ đất sét địa phương, chúng được học giới đương thời ưa thích và danh tiếng bình gốm Tử Sa bắt đầu được biết đến.
Ấm trà tử sa, bên cạnh Kinh kịch, quốc họa thủy mặc và lụa Tô Châu được coi là một trong 4 quốc bảo Trung Hoa trong chiến lược bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống.
Tử sa được khai thác từ khu mỏ núi Hoàng Long tỉnh Giang Tô. Thời gian thành tạo cách đây khoảng 350 triệu năm, thuộc kỷ Devon đại cổ sinh Paleozoic. Nằm ở phần rìa cổ của nền sông Dương Tử và giao thoa của 3 đới biển, đất và hồ. Khoáng sản đất sét được thành tạo bởi các phần tử sét hạt mịn và các khoáng vật khác được nước và gió đưa đến.
Tử sa, nghĩa đen là cát màu tím, có thành phần khoáng vật gồm quartz, sét, hydromica và hematite. (Wikipedia)
Hương vị có được trong ấm tử sa do thành phần khoáng vi lượng. Nó có trong chất đất, và vì bề mặt không tráng men nên trong quá trình pha trà nó sẽ hoà vào nước. Khác với tinh dầu trà, nó tồn tại lâu bền trong ấm. Lâu dần lớp khoáng sẽ tích tụ lại và làm tăng hương vị của trà.
Khi chọn mua một ấm tử sa, người ta thường chỉ ra mấy chiêu để ta chọn như thả vào chậu nước, ấm phải nổi, nhận ấm xuống, ấm nổi lên không nghiêng, không bung nắp. Cách nữa là bịt lỗ thông hơi trên nắp thì rót sẽ không ra nước. Còn cách nữa là lấy nắp ấm gõ vào quai sẽ phát ra âm thanh như kim loại chạm vào nhau.
Mua một cái ấm tử sa về để uống trà thì nên chọn ấm đơn giản, ít hoa văn rườm rà, miệng rộng để dễ cho trà vào cũng như khi đổ xác trà. Chú ý chọn một chiếc ấm không dễ ngã đổ khi đặt trên bàn, ấm có hình thể cân đối, cầm thấy sướng tay.
Bằng mắt quan sát ta nên chọn ấm có hình dáng thanh thoát, nhìn thích mắt. Các bộ phận như :thân ấm, nắp, miệng, vòi, quai, đáy phải cân đối, liền lạc. Màu sắc đồng đều trong ngoài. Dấu triện của nghệ nhân hay nhà sản xuất nét chữ sắc sảo, đặt cân đối ở trung tâm đáy ấm, theo trục thẳng từ quai sang vòi ấm. Những chiếc ấm đắt tiền thường có thêm dấu triện phụ dưới nắp và quai cầm thật rõ nét. Vòi ấm có thể dài ngắn khác nhau, nhưng quan trọng là khi rót, nước chảy thông, đều và thẳng dòng, không rơi vãi hay đọng giọt nhểu ra ngoài.
Nghe bằng tai, ta đặt ấm lên lòng bàn tay, tay kia cầm nắp ấm khẽ gõ vào quai, tiếng kêu như kim loại chạm vào nhau.
Cầm trên tay ta thấy ấm trơn tru, mịn màng, không tì vết. Nắp và miệng ấm khít khao, vì ấm Tử sa được nung trong lò liên tục 23 tiếng đồng hồ ở nhiệt độ từ 1.190 – 1.270 độ C (trung bình 1.200 độ C), đòi hỏi tay nghề nghệ nhân phải cao, chất đất phải thật tốt và mịn mới không bị co giãn khi nung. Do tính bào mòn trong quá trình sử dụng, một chiếc ấm dùng càng lâu càng lên nước, không đổi màu, đó mới chính là đặc trưng ưu việt của ấm Tử sa, chứ màu sắc đất không liên quan gì đến chất lượng và công dụng.
Không có ấm Tử sa có mùi thơm, nếu có cũng chỉ do người ta bơm xịt vào vì đất lọc bao lần rồi vào nung, mùi thơm ở đâu mà có.
Sắm cái ấm Tử sa về xài, ta phải biết cách sử dụng và bảo trì nó. Nếu biết cách, sau thời gian dài sử dụng ấm sẽ trở nên sáng ngời, tròn trịa, dày nặng, rắn chắc và tinh khiết…Càng sử dụng, giá trị của ấm càng tăng. Ấm mua về, có người dùng giấy nhám loại nhuyễn thấm nước kỳ cọ mặt trong cho sạch lớp bùn (thời xưa, dùng ngói lợp nhà làm bằng đất đen ở vùng Giang Nam tán thành bột nhuyễn, dùng mấy lớp vải sô bọc lại để chà xát, cọ rửa), sau đó cho ấm vào một nồi nước đun sôi suốt mấy tiếng đồng hồ.
Có người dứt khoát đun sôi ấm như thế trong một nồi trà lớn, để ấm có thể hấp thu chất trà vào các lỗ thông khí kép (khí khổng), loại bỏ mùi của đất.
Uống trà bằng ấm Tử sa cũng như hút thuốc bằng tẩu, nên dùng mỗi loại trà mỗi ấm riêng để giữ được hương vị của mỗi loại trà. Mỗi lần uống xong, khi rửa bộ đồ trà, nên dùng xác trà cũ trong ấm chà xát lên toàn thân ấm, ấm thấm xác trà mà không gây trầy xước, càng chà lâu thân ấm càng đẹp.
Đối với những chiếc ấm cũ bề mặt nứt rạn nhẹ, dùng phương pháp “nước trà dưỡng ấm” có thể khôi phục, những vết nứt rạn sẽ dần dần khít lại, đúng là “tôn cổ xuất tân”.
Cái thú vị của chơi ấm Tử sa là chọn trà cho từng ấm và chọn ấm cho từng loại trà. Chiếc ấm cho ra chén trà ngon lại dùng trà để giữ ấm. Trà và ấm quấn quýt với nhau để cho người thưởng thức chén trà có được một đạo làm cuộc đời thêm đẹp
Viết lại ngày 3.6.2019
DODUYNGOC
Nói thêm:
CÁCH PHA TRÀ KHI DÙNG MỘT ẤM TRÀ MỚI:
Bình trà mới mua về, nên rửa bằng nước nóng. Có người dùng bàn chải đánh răng với kem chà trong và ngoài ấm. Sau đó bỏ vào nồi, đổ nước đun sôi 45 phút. Khi đun nhớ quấn vải quai và vòi cho kỹ, nhớ lót đáy ấm để khỏi bị va đập khi nước sôi. Sau đó, tắt bếp và để nguội. Khi nước nguội, lấy ấm ra rửa lại lần nữa. Cầu kỳ hơn, lại cho ấm vào nồi đun sôi trở lại, mở nắp ấm và cho vào khoảng 3 muỗng loại trà bạn dự định pha với ấm này. Tắt bếp, đậy nắp ấm và hãm trong 30 phút, sau đó đổ hết bã trà và rửa sạch bằng nước ấm. Lặp lại một lần nữa để tăng thêm hương vị trà vào bề mặt ấm trà.
SỬ DỤNG ẤM:
Luôn đổ tràn nước qua miệng ấm khi pha trà, và lau khô ấm bằng vải mềm sẽ làm ấm trà mau chóng có lớp cao trà bóng sáng. Không cọ rửa ấm, chỉ làm sạch bằng nước nóng. Khi bạn muốn đổi loại trà khác thích hợp hơn cho ấm trà, hãy làm lại các bước trước khi sử dụng ấm ở phần trên.
VỊNH LAN HẠ – HẢI PHÒNG
Nếu như Vịnh Hạ Long là viên ngọc chói sáng , được mà giũa kỹ càng . Thì Vịnh Lan Hạ giống như viên ngọc thô , còn ẩn giấu nhiều bí ẩn .
Mới đây , Vịnh Lan Hạ được Hiệp hội CLB Các Vịnh đẹp nhất thế giới chứng nhận nằm trong top Vịnh đẹp nhất .
Nằm ở phía nam Vịnh Hạ Long ( kỳ quan thiên nhiên thế giới ) , Vịnh Lan Hạ ở Hải Phòng trải rộng trên diện tích hơn 7.000 hecta .
Nổi bật bởi vẻ đẹp ngoạn mục của hơn 400 hòn đảo lớn nhỏ , mang nhiều hình dáng kỳ thú . Tất cả các hòn đảo ở Vịnh Hạ Lan đều phủ đầy cây xanh hoặc những thảm thực vật tự nhiên .
CHUYẾN XE CUỐI CÙNG
(Sưu tầm)
Tôi là một tài xế taxi. Không nhiều tài xế nhận làm việc ca đêm. Riêng tôi, vì cuộc hôn nhân mới tan vỡ nên tôi đồng ý. Và vị khách của đêm cuối năm ấy để lại trong tôi một ấn tượng đặc biệt.
Tôi nhận được lời nhắn vào lúc 2:30 sáng. Tôi dừng xe, xung quanh vẫn tối đen, chỉ trừ ánh đèn hắt ra từ một cửa sổ nhỏ ở tầng trệt. Bình thường, cũng như mọi tài xế taxi khác, tôi chỉ bấm còi một hai lần, đợi một chút, nếu vẫn chưa thấy khách ra thì lái xe đi. Nhưng không hiểu tại sao lần này, tôi lại ra khỏi xe, bước lên bậc tam cấp. Không khéo người ta cần mình giúp, tôi nghĩ vậy và gõ cửa.
– Xin chờ một phút – một giọng nói run rẩy cất lên. Sau một lát yên lặng, cửa mở. Một bà cụ nhỏ bé đứng trước mặt tôi, mặc một chiếc váy hoa, đội mũ nhỏ có mạng che mặt. Chiếc valy nhỏ đặt dưới chân. Căn phòng phía sau lưng cụ trông như không có ai ở đã nhiều năm. Tất cả đồ đạc đều được phủ ga trắng. – Cậu mang đồ ra xe giúp tôi được không? – bà cụ hỏi. Một tay tôi nhấc chiếc valy lên, nó còn nhẹ bẫng, còn tay kia thì khuỳnh ra cho bà cụ vịn. Chúng tôi đi rất chậm ra xe.
– Cậu tốt quá!, bà cụ nói nhẹ nhàng mắt không nhìn vào tôi, tựa như đang nói với một ai khác. Khi chúng tôi vào xe, bà đưa cho tôi địa chỉ cần tới và nói: – Cậu có thể đi xuyên qua khu chợ cũ được không? – Nhưng đó không phải là đường ngắn nhất, cụ ạ! – Tôi không vội mà!. Ngừng lại một lát, bà nói tiếp: Tôi đang đến viện dưỡng lão! Mắt bà long lanh: Thế cũng tốt! Đằng nào thì bác sĩ cũng nói rằng tôi không còn sống được bao lâu nữa.
Tôi tắt đồng hồ đo cây số và hỏi: Đầu tiên cụ muốn cháu đưa đi đâu? Hai tiếng đồng hồ, chúng tôi đi lòng vòng quanh thành phố. Bà cụ chỉ cho tôi tòa nhà bà từng làm việc, khu chung cư vợ chồng bà đã thuê khi họ mới cưới. Bà bảo tôi dừng lại trước một cửa hàng nội thất nơi trước đây là sàn nhảy, bà vẫn đến khiêu vũ khi còn thiếu nữ. Thỉnh thoảng bà bảo tôi đi chậm qua một tòa nhà hay một góc phố đặc-biệt-nào-đó dừng lại trong bóng tối và im lặng. Khi những ánh mặt trời đầu tiên xuất hiện phía chân trời, bà cụ đột nhiên nói: Tôi mệt rồi, chúng ta đi thôi.
Chúng tôi tới địa chỉ mà bà cụ đưa cho tôi mà không nói thêm câu nào. Đó là một viện điều dưỡng dành cho những người già không nơi nương tựa. Hai người hộ lý và một chiếc xe lăn đã chờ sẵn ngoài cổng. Bà cụ dừng bước, vừa rút ví ra, vừa hỏi tôi, dịu dàng: – Tôi phải trả cậu bao nhiêu? – Không gì cả, cụ ạ!- Tôi nói – Cậu cũng phải kiếm sống mà – Bà cụ hỏi, giọng vẫn dịu dàng, tuyệt nhiên không có chút ngạc nhiên nào. – Sẽ còn những hành khách khác mà cụ – Tôi trả lời. Bất giác, tôi cúi xuống ôm lấy bà cụ. Bà cũng ôm chặt tôi. – Cậu đã cho tôi rất nhiều – Bà cụ nói – Cám ơn cậu. Tôi siết nhẹ tay bà cụ rồi quay ra. Trời vẫn còn mờ tối. Sau lưng tôi, cánh cửa viện điều dưỡng đã đóng lại. Đó cũng là âm thanh khép lại một cuộc đời.
Cả ngày hôm đó tôi không đón thêm một hành khách nào nữa, tôi lái xe đi lang thang, đắm chìm trong suy nghĩ, rồi băn khoăn tự hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu bà cụ gặp một tài xế dữ dằn, hoặc đang nóng vội trên chuyến xe cuối cùng? Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi bóp còi rồi bỏ đi hoặc từ chối tuyến đường đặc biệt của bà cụ? Và bất giác tôi cảm thấy mình hạnh phúc xiết bao… ít ra tôi hiểu rằng sự cô đơn trong trái tim của một người từng bất hạnh như tôi vẫn còn rất nhiều yêu thương, và vì thế mọi cánh cửa vẫn chưa hề khép lại. “
Tháng 9, 10 là khoảng thời gian hoa bỉ ngạn nở đỏ rực khắp Nhật Bản. Đây là loài hoa biểu tượng mùa thu của đất nước này.
Hoa Higanbana, hay còn gọi với cái tên bỉ ngạn, là một trong những loài hoa mang tính biểu tượng của mùa thu ở Nhật Bản, thường bắt đầu nở từ giữa tháng 9 đến hết tháng 10. Cánh đồng bỉ ngạn lớn nhất Nhật Bản ở Kinchakuda, thành phố Hidaka, tỉnh Saitama. Nơi đây cách thủ đô Tokyo khoảng 1 giờ di chuyển bằng tàu. Ảnh: Sora__films.
Vé vào cửa là 2,86 USD. Vào mùa cao điểm, toàn bộ khu vực này sẽ được bao phủ bởi hơn 500 triệu bông hoa đỏ rực. Du khách sẽ được chiêm ngưỡng khung cảnh ngoạn mục nhất mùa thu. Hoa bỉ ngạn ở đây nở đẹp nhất từ giữa đến cuối tháng 9. Lúc này, lễ hội Kinchakuda Manjushage sẽ được diễn ra. Ảnh: Totsutotsu.
Năm nay, lễ hội bị hủy bởi diễn biến phức tạp của dịch Covid-19. Ngoài ra, Nhật Bản còn nhiều địa điểm khác để du khách ngắm cánh đồng hoa bỉ ngạn như công viên Kenei Gongendo, đền Gugyo-ji, Anao-ji, Katsuragi Hitokotonushi, sông Yakachi và Bảo tàng Tưởng niệm Nankichi Niimi… Ảnh: JW.
Mỗi nơi thu hút du khách bởi một vẻ đẹp riêng. Đền Gugyo-ji là nơi 50.000 cây hoa đỏ 40 năm tuổi nở rộ. Ngoài ra, điểm đến này còn có loài hoa bỉ ngạn trắng, tạo nên sự tương phản giữa ngập tràn sắc đỏ. Dù đang trong mùa dịch, nhiều du khách vẫn tranh thủ ghé thăm cánh đồng bỉ ngạn để ngắm hoa và check-in, sống ảo. Ảnh: Kayllasinzimbra.
Công viên Kenei Gongendo là địa điểm nổi tiếng khác ở tỉnh Saitama để chiêm ngưỡng bỉ ngạn. 3,5 triệu bông bỉ ngạn đỏ nở rộ dưới những tán cây xanh tươi của công viên thu hút lượng lớn du khách ghé thăm hàng năm. Trong khi đó, đền Katsuragi Hitokotonushi nổi bật với hàng bỉ ngạn nở xen kẽ giữa ruộng bậc thang. Ảnh: JW.
Sông Yakachi và Bảo tàng tưởng niệm Nankichi Niimi thu hút với 3 triệu bông nở dọc bờ sông lãng mạn. Bỉ ngạn thuộc cây thân thảo lâu năm, chiều cao khoảng 40-100 cm. Hoa có 3 màu chính đỏ, trắng và vàng. Bỉ ngạn ở Nhật mang ý nghĩa hồi ức đau thương, biểu tượng cho vẻ đẹp của cái chết, sự chua xót khi phân ly, từ biệt… Ảnh: Builtforearth.
Vào mùa hè, khi nhiệt độ quá cao, cây bỉ ngạn sẽ chết. Trong tiếng Nhật, higan (bỉ ngạn) có nghĩa là bồng lai. Theo dân gian, người Nhật cho rằng bỉ ngạn là cửa ngõ để đi vào thế giới của những người đã chết. Vào những ngày người trần gian gặp người âm giới, bỉ ngạn là nơi trú ngụ của những linh hồn. Ảnh: Mosusandesu.
Bích Phương
Vị gì một miếng trầu cay
Không biết tục Ăn Trầu có từ lúc nào. Nhưng hồi nhỏ tôi thấy Bà Nội tôi lúc nào cũng có khay trầu kè kè bên hông. Lâu lâu bà lại cho một cục vào miệng nhai bõm bẽm. Cục này bà làm trước lúc rảnh rỗi, gồm lá trầu, quét một ít vôi, kèm theo miếng cau. Ba thứ đó kẹp chung lại thành một cái gói nhỏ nhỏ như một cục kẹo.
Anh về têm một trăm miếng trầu cho tinh tuyết,
Bỏ vào hộp thiếc, khay cẩn xà cừ
Để em vòng tay vô thưa với thầy, với mẹ: Gả chừ cho anh (*)
Hồi xưa, đi lễ dạm cưới hỏi Vợ không thể không có khay trầu cau. Gia đình Cô dâu mà chịu thì coi như nhận khay trầu, không nhận thì trả lại.
Hỡi cô mặc áo vá vai
Tay ngắn tay dài đã có chồng chưa?
Anh hỏi thì em xin thưa
Vài ba nơi hỏi nhưng chưa nhận trầu (*)
Em này chảnh, vài ba nơi hỏi đó nhe. Hay là Ba Mẹ đã nhận trầu rồi mà lòng em thì còn để ở đâu đâu?
Con chim xanh đậu cành dâu biếc
Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay
Vị gì một miếng trầu cay
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra (*)
Em có chồng như chim vào lồng, như cá cắn câu. Hồi đó anh không chịu mang mâm trầu, để giờ ván đóng thuyền rồi thì coi như là xong. Hồi xưa ăn trầu lại có kèm theo một miếng Quế nữa. Không chỉ có bà già mà gái trẻ cũng ăn. Thiệt là lạ.
Đêm qua trăng sáng mập mờ
Em đi gánh nước tình cờ gặp anh
Vào vườn trẩy quả cau xanh
Bổ ra làm sáu trình anh xơi trầu
Trầu này têm những vôi tàu
Ở giữa đệm quế, đôi đầu thơm cay
Mời anh xơi miếng trầu này
Dù mặn dù nhạt, dù cay dù nồng
Dù chẳng nên đạo vợ chồng
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương (*)
Đàn ông Việt ít ăn trầu cau, sau này thì hình như không còn. Nhưng đàn ông Đài Loan họ vẫn ăn cau, nhất là trong giới bình dân, lao động. Lên xe Taxi, sẽ thấy họ hay nhai bõm bẽm. Những cô gái bán cau ở Đài Bắc ăn mặc rất thiếu vải để câu khách. Không biết cứ tưởng em là gái đứng đường, nhưng lại là gái bán cau.
Đỗ T. Công
(*) ca dao
(*) hình phụ nữ Việt cả 100 năm trước và những cô gái bán cau ở Đài Bắc
Một doanh nhân thành đạt đã già đi và biết rằng đã đến lúc chọn một người kế nhiệm để tiếp quản công ty.
Thay vì chọn một trong những phó giám đốc, hay chọn con của mình, ông quyết định làm một việc khác biệt. Ông gọi tất cả các nhân viên điều hành trẻ tuổi trong công ty của mình lại.
Ông nói, “Đã đến lúc tôi phải từ chức và chọn Giám đốc điều hành tiếp theo. Tôi đã quyết định chọn một trong số các bạn .. “
Các nhân viên điều hành trẻ cảm thấy sốc, nhưng ông chủ tiếp tục: “Hôm nay tôi sẽ tặng cho mỗi người một hạt giống – một hạt giống rất đặc biệt … Tôi muốn bạn trồng hạt giống đó, tưới nước và một năm sau, trở lại đây cùng với những gì bạn đã trồng từ hạt giống tôi đã cho bạn . Sau đó tôi sẽ đánh giá các cây trồng mà bạn mang theo, và người mà tôi chọn sẽ là Giám đốc điều hành tiếp theo. “
Hôm đó, có một người đàn ông tên là Jim đã ở đó, và anh, giống như những người khác, đã nhận được một hạt giống. Anh trở về nhà và rất phấn khích, kể cho vợ nghe câu chuyện. Cô giúp anh lấy một cái chậu, đất , phân bón, và anh đã trồng hạt giống. Mỗi ngày, anh ta đều tưới nước và xem nó có phát triển không. Sau khoảng ba tuần lễ, một số giám đốc điều hành khác bắt đầu nói về hạt giống của họ và những cây kiểng đang bắt đầu phát triển.
Jim vẫn tiếp tục kiểm tra hạt giống của mình, nhưng không có gì phát triển.
Ba tuần, bốn tuần, năm tuần trôi qua, vẫn không có gì.
Bây giờ, những người khác vẫn đang nói về cây trồng của họ, nhưng cây của Jim vẫn không mọc, và anh cảm thấy như mình thất bại.
Sáu tháng trôi qua – vẫn không có gì trong chậu của Jim. Jim biết anh đã giết chết hạt giống của mình. Mọi người khác đều có cây mọc và cao lên, nhưng anh không có gì. Jim đã không nói gì với đồng nghiệp của mình.
Anh chỉ tiếp tục tưới nước và bón phân cho đất . Anh muốn hạt giống nảy mầm.
Cuối cùng, một năm đã trôi qua và tất cả các giám đốc điều hành trẻ của công ty đã đưa các cây trồng của họ đến Giám đốc điều hành để kiểm tra.
Jim nói với vợ rằng anh ta sẽ không đem theo một cái chậu rỗng. Nhưng cô yêu cầu anh trung thực về những gì đã xảy ra. Jim cảm thấy chột dạ, đó sẽ là khoảnh khắc đáng xấu hổ nhất trong cuộc đời anh, nhưng anh biết vợ mình đã đúng. Anh mang chậu rỗng vào phòng họp. Khi Jim đến, anh đã rất ngạc nhiên trước sự đa dạng của các cây trồng do các nhà quản lý khác nắm giữ. Chúng rất xinh đẹp – với mọi hình dạng và kích cỡ. Jim đặt cái chậu trống rỗng của mình trên sàn nhà và nhiều đồng nghiệp cười, một vài người cảm thấy tiếc cho Jim!
Khi Giám đốc điều hành đến, ông đi vòng căn phòng và chào đón các nhân viên điều hành trẻ của mình.
Jim chỉ cố gắng để ẩn ở phía sau. Giám đốc điều hành nói: “Ồ, những cây hoa, cây kiểng đã lớn đến thế nào rồi! Hôm nay một trong các bạn sẽ được bổ nhiệm làm Giám đốc điều hành tiếp theo!”
Bất thình lình, giám đốc điều hành nhìn thấy Jim ở phía sau căn phòng với cái chậu trống rỗng. Ông ra lệnh cho Giám đốc Tài chính mời Jim lên phía trên. Jim rất sợ hãi. Jim nghĩ, “Giám đốc điều hành biết tôi là một người thất bại! Có lẽ ông ta sẽ đuổi tôi! “
Khi Jim đi lên phía trên, giám đốc điều hành hỏi anh ta những gì đã xảy ra với hạt giống của mình – Jim kể cho ông nghe câu chuyện.
Giám đốc điều hành yêu cầu mọi người ngồi xuống trừ Jim. Ông nhìn Jim, và sau đó thông báo cho các giám đốc điều hành trẻ tuổi, “Hãy xem, đây là giám đốc điều hành tiếp theo của các bạn! Tên anh ấy là Jim! “
Jim không thể tin được. Jim thậm chí còn không thể trồng được hạt giống của mình.
“Làm sao ông ấy có thể làm CEO mới?” Những người khác nói.
Giám đốc điều hành nói, “Một năm trước đây, tôi đã cho tất cả mọi người trong căn phòng này một hạt giống. Tôi đã nói các bạn lấy hạt, trồng nó, tưới nước nó, và mang nó trở lại với tôi ngày hôm nay. Nhưng tôi đã cho tất cả các bạn những hạt giống luộc; chúng đã chết – chúng không thể nảy mầm được.
Tất cả các bạn, ngoại trừ Jim, đã mang cho tôi cây to, cây kiểng và hoa. Khi bạn phát hiện ra rằng hạt giống sẽ không mọc, bạn đã thay thế hạt giống khác cho hạt giống cây mà tôi đã cho. Jim là người duy nhất có lòng dũng cảm và trung thực để mang cho tôi một cái chậu với hạt giống của tôi trong đó. Vì vậy, Jim là người sẽ là Giám đốc điều hành mới!
* Nếu bạn gieo sự trung thực, bạn sẽ gặt hái được niềm tin
* Nếu bạn gieo sự tốt lành, bạn sẽ gặt được tình bạn
* Nếu bạn gieo sự khiêm tốn, bạn sẽ gặt hái được nhiều thành công
* Nếu bạn gieo sự kiên nhẫn, bạn sẽ gặt được sự thỏa mãn
* Nếu bạn gieo sự cân nhắc, bạn sẽ gặt được triển vọng tốt
* Nếu bạn gieo sự cần cù, bạn sẽ gặt hái được thành công
* Nếu bạn tha thứ, bạn sẽ gặt được sự hòa giải
Vì vậy, hãy cẩn thận với những gì bạn trồng hôm nay; nó sẽ quyết định những gì bạn sẽ gặt hái được sau này.
Ô giấy lâu đài cổ ở Nhật bản
Những chiếc ô giấy phát sáng mang vẻ đẹp kỳ ảo tựa chốn thần tiên , bên trong lâu đài cổ Okayama — thành phố Okayama – Nhật Bản .
Trước kia , lâu đài được sử dụng như một cơ sở quân sự . Đồng thời cũng là nơi các thương gia , thợ thủ công tham gia gặp gỡ nhằm phát triển thành phố .
Phần lớn , lâu đài bị phá hủy vào năm 1945 . Đến năm 1966 , phần cấu trúc còn lại được tái tạo bằng bê tông .
Bên trong lâu đài sáu tầng này , lưu giữ các hiện vật liên quan đến lịch sử và sự phát triển của lâu đài . Ngoài ra , còn có một xưởng gốm .
Ngày nay , vào ban đêm rất nhiều ô giấy đầy màu sắc , được sắp xếp tại lâu đài và thắp sáng lên . Hiển thị màu sắc cũng như hoa văn nổi bậc rất đẹp mắt .
Máu của loài CUA MÓNG NGỰA
Cua móng ngựa là một loài động vật chân đốt thuộc họ Limilidae. Tồn tại trên Trái Đất từ cách đây 450 triệu năm, loài cua này còn được mệnh danh là những hóa thạch sống. Máu của chúng có màu xanh da trời.
Và có thể bạn chưa biết, thứ chất lỏng đó là một trong những nguồn tài nguyên đắt nhất thế giới. Mỗi lít máu cua móng ngựa có giá khoảng 16.000 USD, tương đương 370 triệu VNĐ. Nhưng tại sao nó lại đắt đến vậy?
Mỗi lít máu của loài cua này có giá 370 triệu đồng
Tồn tại trên Trái Đất từ cách đây 450 triệu năm, loài cua máu xanh này còn được mệnh danh là những hóa thạch sống
Thứ làm nên màu xanh trong máu cua móng ngựa chính là đồng. Nhưng bạn không thể khai thác đồng trong một lít máu mà lãi tới hơn 370 triệu được.
Hợp chất đắt giá nhất mà những con cua móng ngựa nắm giữ trong máu mình là Limulus Amebocyte Lysate (LAL), chất đông máu duy nhất được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ bắt buộc sử dụng cho các thử nghiệm độ an toàn của vắc-xin.
Trước khi biết đến LAL, các nhà khoa học không hề có cách nào để biết vắc-xin họ sản xuất ra, hoặc các dụng cụ y tế mà họ đang sử dụng, có bị nhiễm khuẩn hay không. Để kiểm tra điều đó, họ phải tiêm trước vắc-xin vào những con thỏ, và chờ đợi xem chúng sống chết ra sao, có xuất hiện triệu chứng nhiễm trùng hay không.
Cho đến năm 1970, phát hiện về LAL đã thay đổi toàn bộ quy trình thử nghiệm đó. Một nhà khoa học bây giờ chỉ cần nhỏ một lượng cực nhỏ LAL vào vắc-xin hoặc dụng cụ y tế. Nếu vi khuẩn gram âm xuất hiện trong đó, LAL sẽ bao chúng lại bằng một cái kén thạch nhìn thấy được.
Mặc dù kén thạch này không tiêu diệt vi khuẩn, nhưng nó là hoạt động như một chiếc chuông báo cháy. LAL thông báo cho chúng ta biết về sự hiện diện của mầm bệnh, về khả năng nhiễm trùng có thể gây tử vong nếu vẫn sử dụng vắc-xin hoặc dụng cụ y tế nhiễm khuẩn.
Với tính chất đặc biệt ấy, FDA yêu cầu mọi công ty dược phẩm phải kiểm tra vắc-xin của mình với LAL trước khi đưa ra thị trường. Để có được lượng LAL cần thiết, mỗi năm Hoa Kỳ phải bắt tới 600.000 con cua móng ngựa.
Chúng được đưa vào nhà máy, trích 30% máu sau đó thả trở lại tự nhiên. Chuyến ghé thăm hiến máu cho con người kéo dài từ 24-72 tiếng đồng hồ. Và không phải con cua nào cũng có thể sống sót sau thủ thuật khắc nghiệt ấy.
Có khoảng 30% số lượng cua sẽ chết ngay trong quá trình rút máu. Trong khoảng vài ngày sau đó, sẽ lại có từ 10-25% cua móng ngựa tiếp tục chết vì thiếu máu. Ngay cả khi sống sót, những con cua này nhiều khả năng cũng gặp vấn đề trong việc xác định phương hướng hoặc sinh sản.
Chỉ có những con cua móng ngựa sống trên 2 tuần sau khi mất máu mới có thể hồi phục và tiếp tục sống khỏe mạnh sau đó.
Các nhà khoa học biết nguồn tài nguyên từ máu cua móng ngựa rất quan trọng đối với ngành dược phẩm. Bởi vậy, hoạt động bảo tồn loài cua này rất được chú trọng.
Con người cần bảo tồn cua móng ngựa, nếu không muốn mất đi một nguồn tài nguyên quan trọng
Khai thác máu cua móng ngựa trong hàng thập kỷ đã khiến quần thể loài sinh vật này giảm sút. Trong 40 năm tới, các nhà khoa học ước tính một lượng 30% cua móng ngựa sẽ biến mất.
Năm 2016, Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế đã buộc Mỹ đưa loài cua này vào sách đỏ. Nhiều nhóm vận động bảo đang kêu gọi ngành dược phẩm đối xử nhân đạo với những con cua, trong khi đó, cấm hoàn toàn việc sử dụng loài cua này làm mồi câu cá.
Với những động thái này, quần thể cua móng ngựa ở Nam Carolina đang có dấu hiệu hồi phục trở lại. Bảo vệ loài cua cổ xưa chính là bảo vệ sự an toàn cho những liều vắc-xin của chúng ta.
Theo lẽ tuấn hoàn, năm nào cũng có bốn muà , chuyển dần từ nóng sang lạnh , rồi lại trờ lại từ lạnh sang nóng, có lẽ để dễ dàng thích hợp với những chuyền động đổi thay , tạo hoá đã ban cho ta những khoảng thời gian chen giữa hai thái cực, mà người đời chọn cho hai cái tên Xuân và Thu , rối cũng vì hai cái tên đó mà lòng người cứ mãi vấn vương dao động . nhưng hơn cà, Thu vẫn gieo vào lòng nhân thế những nỗi buồn nhè nhẹ man mác, không biết từ tiết trời đổi thay, từ những tiếng lá lao sao lay động vào nhau trong cơn gió nhẹ, từ những sắc lá đổi mầu lẫn lộn , cũng có thể lả hình ảnh những chiếc lá khô lìa cành, bay lượn đong đưa trước gió, là người đa sầu đa cảm , làm sao tránh khỏi những rung động cảm xúc, nhũng lần xa cách , biệt ly, những mất mát lại ẩn hiện trở lại trong ánh mắt xa săm thẫn thờ. Lâu lắm rồi, trong những vần cổ thơ, còn nói :
“ Một lá Ngô đồng rơi
Cả thiên hạ biết Thu đến … ”
Quả là hơi quá, chốn trần gian nhộn nhịp , chỉ có những tâm hồn nghệ sĩ
lãng mạn mới dành thì giờ ngắm hoa tươi nhìn lá rụng, hồn lặng đi mà
quên đi chuyện thế sự.
Một lần thơ thẩn ngồi đợi nắng lên bên bờ giòng suối, nhìn những
chiếc lá muôn màu, đuổi rượt nhau miệt mài trên giòng nước quanh
co, lúc trồi lên lúc hụp xuống, tưởng chừng như bị cuón hút mất đi.
Nhưng chợt thấy , bên bờ suốí, cũng có những chiếc lá gặp duyên,
trôi giạt vào bên bờ suối, “Đến bờ kia “ thảnh thơi nằm phơi nắng Thu
xen cùng những tảng đá rêu phong, thoát khỏi trầm luân
Còn trong cõi nhân gian sinh tử vô thường, nếu vượt qua được giòng
đời phiền nào, là đến được chốn thảnh thơi , an nhiên tự tại ./.
***
Thu tịch lữ hoài
“ Tối muà Thu nhớ nhà “ thơ Lý Bạch, cụ Tản Đà dịch
Lạnh lùng gió vượt bể thu,
Hồn quê theo gió như vù vù bay.
Chạy dài dãy núi liền mây,
Nước trôi trôi mãi có ngày về chăng?
Đám mây vút mắt xa chừng,
Đứt tươm khúc ruột dưới vừng trăng soi.
Cỏ thơm đẹp mướt thôi rồi,
Áo may mặc rét giục người móc sa!
Giấy mơ rơi giải Ngân hà,
Sao thưa lác đác tỉnh ra khắp trời.
Đoái thương nước cũ ngậm ngùi,
Khóc thương giọt lệ lau chùi đố ai?
Năm nay, 2020 là một năm lắm nỗi đau thương trên cõi trần gian, vốn dĩ đã mang nhiều gian truân nhọc nhằn. Theo ngày tháng, Thu sang đã gần một tháng rồi, trần gian như chưa sẵn sàng đón rước nàng Thu trở lại với chúng ta. Tiết trời chưa hạ giảm cơn nóng nực của muà hè “ lovely summer“ của bà thị trưởng Seattle, vẫn chưa nghe tiếng lá vàng bay lượn lao sao trong từng cơn gió, vẫn chưa thấy lá khô chạy đuổi từng cơn trên hè phố. Hay nàng Thu còn e dè chuyện cảm cúm lăng nhăng, hay quên mang theo khẩu trang, phải trở lại lấy mang theo cho hợp thời trang chốn trần thế.Vượt lên trên, lặng nhìn chuyện thế gian, dọc ngang khó mà phân biệt , đúng sai khó lường, lầm lạc trong chốn thức tình. Mê lầm che khuất nhân tình, tối tăm không biết đường ra lối vào. Tranh cãi chuyện hơn thua nhất thời. Mờ mịt, nổi trôi trong những cảm xúc vô minh. Nhưng rồi cùng với sự chuyển động không ngừng của vũ trụ, mọi chuyện đều phải đổi thay trong từng phút giây, không một điều gì tồn tại mãi mãi trong chốn vô thường.
Ao Thu
Tóc trắng xoã ê chề
Sầu đời dài lê thê
Gương trong mà mù mịt
Sương Thu che lối về
( thơ Lý Bạch )
***
HỐ THIÊN THẠCH 50000 NĂM TUỔI
Nhìn từ trên cao , hố thiên thạch khổng lồ này thường bị nhầm là núi lửa .
Hố thiên thạch Barringer là một trong những hố sâu khổng lồ trên trái đất , hình thành do va chạm với thiên thạch .
Hố này nằm ở phía bắc sa mạc Arizona , cách thành phố Las Vegas – Mỹ khoảng 300 dặm .
Hố nằm ở độ cao trên mặt nước biển khoảng 1.740 m .
Đường kính 1.200 m , sâu 170 m và được bao quanh bởi vành đai 45 m so với đồng bằng xung quanh .
Hố sâu này được tạo nên , một trong những vụ rơi thiên thạch Vevivs hego 300.000 tấn và bay với vạn tốc khoảng 45 đến 60.000 km / giờ .
Bởi kích thước khổng lồ . Trước năm 1960 , mọi người tưởng nhầm đây là miệng núi lửa .
Một trong những đặc điểm thú vị của hố thiên thạch 50.000 năm tuổi này là , định dạng hình vuông của nó . Có thể thấy rõ nếu nhìn từ trên cao .
Điều này được cho là do các mối nối khu vực hiện tại ( các vết nứt ) ở tầng địa chất tại nơi đây tác động .
Sở hữu địa hình gồ ghề , khắc nghiệt đáng sợ . Được ví như mặt trăng trên trái đất .
Khu vực hố thiên thạch là một trong những nơi đào tạo các phi hành gia , trước khi lên mặt trăng .
Hố thiên thạch cũng là điểm du lịch nổi tiếng của Arizona , thuộc sở hữu tư nhân Barringer .
Tại đây , du khách có thể ghé thăm các triển lãm về thiẻn thạch , tiểu hành tinh , không gian , hệ mặt trời và Sao Chổi .
Điều thú vị là du khách có thể thấy thiên thạch nặng 637 pound , được tìm thấy trong khu vực cũng như các mãnh vỡ của miệng núi lửa thiên thạch , được tìm thấy ở Arizona .
Thiên thạch nặng 637 pound được trưng bày tại điểm du lịch hố thiên thạch Barringer .
Người dân địa phương thường đồn đại về sự xuất hiện của UFO ở khu vực này .
Ngày bức tường Berlin bị phá bỏ 9.11.1989 và cả ngày thống nhất nước Đức 3.10.1990 tôi đang ở Việt Nam. Thiếu thông tin nên tôi có cảm giác lẫn lộn. Mừng vì đất nước Đức mà tôi đã gắn bó từ năm 1967 nay thống nhất mà không tốn xương máu. Khi còn là cậu thanh niên 16-17 tuổi, tôi đã chứng kiến sự chia ly của các gia đình Đức nên hiểu nỗi đau của họ.
Tuy biết Đức sẽ khác xa Việt Nam sau 1975, nhưng tôi vẫn lo, không biết số phận của thầy cô và bạn bè tôi sẽ ra sao trong tình hình mới.
Ngay từ khi sang Đức định cư 1991, tôi lập tức lần mò tìm lại gần hết những thầy cô, bạn bè xưa. Điều hạnh phúc nhất là không ai trong số đó phải bất hạnh vì số phận, kể cả những người từng hợp tác với STASI để theo dõi đồng nghiệp.
Con người và cuộc sống ở CHDC Đức (Đông Đức) trong bốn năm 1967-1971 đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp. Nay tôi hay rủ bạn bè trở về trường cũ ở thị trấn nhỏ Königs Wusterhausen để thăm lại những ông bà giáo già. Mỗi lần như vậy, họ lại có dịp được gặp nhau, ăn cơm Việt Nam, nghe nhạc Việt nam. Người nào không tự đi được, chúng tôi cử nhau đón đưa. Nhiều người trước kia không hề thân nhau, giờ đây trở nên thân thiết, gắn kết với nhau.
Họ bảo: Học sinh Việt Nam các em đã trở thành cầu nối của chúng tôi.
Họ đã thành người thân của tôi. Có chuyện gì các ông bà đều gọi cho tôi để tâm sự. Ôn lại chuyện hơn 50 năm trước, chúng tôi vui, cười bò vì những trò ấu trĩ. Các thầy cô thì tự hào về những gì họ đã làm được cho kỹ nghệ điện tử phát thanh truyền hình trong điều kiện bế quan tỏa cảng với phương tây hồi đó.
Hôm nay, trong khi dân cư mạng xôn xao về vụ tranh cử đầy bùn ở Mỹ, về vụ ông Trump bị ám Covid-19, tôi chỉ viết về những người Đông Đức tử tế mà tôi được biết.
Chính những người dân Đông Đức bình dị đã tự tay xóa bỏ bức tường, chính họ là người đã mở đường cho công cuộc thống nhất trong hòa bình chứ không phải thế lực phương tây nào. Điều này được cả nước Đức khẳng định hàng năm, mỗi khi nói đến ngày 9.11, hay 3.10.
Trước mùa thu 1989, những người Đông Đức này đều là công nhân, viên chức, bộ đội, cảnh sát, giáo viên, mậu dịch viên v.v. trong một nhà nước mà quyền công dân bị thu hẹp đến mức tối thiểu. Áp bức, lừa dối, xuyên tạc ngự trị sinh hoạt xã hội. Mọi người dân vẫn sống và thực hiện nghĩa vụ công dân trong cái khuôn đó. Nhưng cái khuôn khổ chật hẹp, đầy rẫy dối trá đó không thể tiệu diệt được hết mầm mống của sự tử tế trong đa số người dân.
Mọi việc bắt đầu vào ngày 7.5.1989, khi một số sinh viên Leipzig phát hiện ra vài vụ gian lận bầu cử hội đồng địa phương. Các bạn kêu gọi biểu tình và tối hôm đó chỉ có 50 bạn trẻ đến dự ở quảng trường thành phố. Lập tức cảnh sát ra tay đánh đập đám sinh viên. Không ngờ bên cạnh đó có rất đông dân chúng đang dự một lễ hội. Chứng kiến cảnh đông đảo cảnh sát đánh đập một nhóm thanh niên nhỏ ôn hòa, dân chúng bỗng thịnh nộ đứng về phía 50 sinh viên. Sự áp đảo của dân chúng khiến cảnh sát phải lùi bước. Ngay tối hôm sau 8.5, sự việc tái diễn. Lần này dân chúng không ai bảo ai kéo đến bảo vệ những người làm lễ thánh trong nhà thờ Nikolai bị công an bao vây. Lý do bao vây vẫn là đề tài „Gian lận bầu cử“ được thuyết trình trong nhà thờ.
Ngọn lửa từ những người bất đồng chính kiến ít ỏi đã lây sang đám đông quần chúng xưa nay chẳng quan tâm đến thời cuộc. Cứ như thế làn sóng dâng lên dần, dẫn đến các cuộc „Biểu tình ngày thứ hai“[1].
STASI càng ra tay, sự tức giận càng tăng. Lúc đầu chỉ có 1.200 người đi biểu tình, dần tăng lên đến hàng trăm ngàn người. Đỉnh điểm là cuộc biểu tình ngày 6.11.1989 tại quảng trường Alexander ở Berlin với gần 1 triệu người tham dự [2].
Ba ngày sau bức tường „sập“.
Bức tường sập, đơn giản chỉ vì có nhiều người Đông Đức bình thường không muốn công an đánh con cháu mình, đơn giản vì nhiều nhà giáo không muốn phải nói dối mãi về lịch sử, đơn giản vì những cô cậu thanh niên không muốn cứ phải nghe kết quả bầu cử 99% năm này qua năm khác, vì có những phóng viên truyền hình đã quyết nói lên sự thật, bất chấp lệnh trên[3].
Trong khi đó, không ít kẻ ác tìm mọi cách phá hoại hạnh phúc của nhân dân, chỉ để giữ quyền lực. Những kẻ này không tiếc máu.
Nhưng bức tường sập mà không đổ máu vì có những sỹ quan STASI như Harald Jäger, tuy trung thành với đảng SED nhưng chấp hành đúng kỷ luật của Đức. Anh chỉ cho phép nổ súng khi bị tấn công[4]. Ở vào những giây phút quyết định, sự tử tế lương thiện cuối cùng đã thắng. Chỉ cần cái thiện nhỉnh hơn cái ác là van được mở. Đó chính là phẩm chất của một dân tộc.
Phẩm chất đó được hình thành lâu dài qua nếp sống văn minh, có kỷ cương. Ngày nay nước Đức thống nhất ca ngợi 14 cầu thủ Đông Đức đã trung thành với nghĩa vụ công dân đến cùng trong trận đấu ngày 12.9.1990 với Bỉ [5]. Không phải cầu thủ nào của Đức cũng như vậy, nhưng cái chất của dân tộc này đủ tập hợp 14 người con. Ở đâu cũng có người tử tế. Nhưng nếu chỉ có 9 hoặc 10 cầu thủ thì đã không có cuộc đấu lịch sử để chứng tỏ phẩm chất của dân tộc.
Phẩm chất đó không phải của chế độ nào.
Sau ngày 3.10.1990, nước Đức vật vã chuyển mình. Nhưng mối lo của tổng thống Pháp F.Mittrand và thủ tướng Anh M.Thatcher về môt chủ nghĩa Xô-Vanh Đức chỉ dẫn đến một nước Đức hòa bình đến mức nhũn nhặn.
Thiên đường TBCN mà một số người Đông Đức hy vọng đã trở thành hiện thực buồn bã. Nạn thất nghiệp ở Đông Đức tuy nay đã xuống mức 7% (so với 5% ở miền Tây), nhưng trong những năm 1990 đã từng ở mức 23%. „Bức tường trong đầu“ phân chia Đông-Tây dần dần thay thế bức tường thép gai.
Khoảng cách về tích lũy của từng gia đình Đông và Tây Đức hiện tại là 60.000 – 21.000 EURO. Lý do: Tư hữu ở miền Đông bị xóa bỏ suốt 45 năm, nay phải làm lại từ đầu, trong khi quá trình này liên tục từ nhiều thế kỷ ở miền Tây. Nhưng điều đó không cản trở miền Đông vươn lên đạt 76% năng lực công nghiệp của miền Tây. Năm 1990, năng suất lao động miền Đông khoảng 30% của miền Tây, nay đã đạt 86% (quy ra lương). Tuy nhiên do giá sinh hoạt ở miền Đông rẻ hơn nên không có chênh lệch nhiều về mức sống.
Có một nghịch lý nhỏ là dân Đông Đức lĩnh lương hưu nhiều hơn các cụ phía Tây. Một phần vì trước kia họ làm viên chức nhiều và phụ nữ đa số đi làm.
Trong quá trình cải tạo miền Đông, người dân Tây Đức đã bỏ ra khoản tiền khổng lồ hàng ngàn tỷ EURO để giúp đỡ đồng bào mình trong suốt 30 năm qua. Thay vào đó, nền quản lý và chính trị miền Tây đã được tạo dựng ở miền Đông. Chỉ có một số ít thành tựu của miền Đông được đưa sang miền Tây.
Tôi có thể đưa ra nhiều con số khác nữa để chứng tỏ bức tường trong đầu dân Đức là có cơ sở.
Nhưng dù sao có đến 75% người Đức coi qua trình thống nhất đất nước là một thành công, chỉ 23% coi đó là thất bại.
Cái đáng nói ở một xã hội dân chủ, tử tế là ở chỗ: Đa số cảm thấy có trách nhiệm phải làm sao hiểu và giúp đỡ 23% kia. Không ai coi họ là phản động hay bất mãn.
[2]Ủy viên bộ chính trị đảng SED Günter Schabowski hôm đó cũng thay mặt đảng SED đến đối thoại với phe đối lâp. Phe đối lập thì chưa hình thành, chẳng có ai lãnh đạo cả
[3] Trung tâm truyền hình Rostock bắt đầu đưa tin về các cuộc biểu tình từ tháng 10.1989, bất chấp lệnh của đài chủ quản từ Berlin.
Tích lũy trung bình của các gia đình Đông và Tây tính theo đơn vị nghìn EUR
Nhớ người
Nhớ người từ chốn nghìn trùng Nhớ người tan nát tận cùng thịt da Nhớ hoang sơ, nhớ thật thà Nhớ yêu dấu rất mặn mà tháng năm Nhớ thương dáng đứng, ngồi, nằm Nhẹ như gió thoảng, thì thầm trăng sao Nhớ trong giấc ngủ, chiêm bao Nhớ trong tiếng hát gọi chào bình minh Nhớ từ thuở rất điêu linh Nhớ đời những lúc gập ghềnh, gian nan Tay trong tay vẫn dịu dàng Ta chưa một phút bẽ bàng cho nhau Nhớ người, nhớ trước, nhớ sau Nhớ trăm năm đã đi vào trăm năm
NK-TNC
Nữ sinh Đồng Khánh nói về bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’
Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,
Tôi chờ người đến với yêu đương.
Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thẳm mờ sương, cát,
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài trong lúc thấy tôi vui,
Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”
Thuở ấy, nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly,
Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biến suy”
Đâu biết lần đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá! – Tôi buồn lắm,
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…
Từ đấy, thu rồi, thu lại thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.
Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng “một người”.
Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ.
Và đỏ như màu máu thắm pha!
Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi…
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!
Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
Người ấy sang sông đứng ngóng đò.
Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
Trời ơi! Người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa… vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?
Tác giả: TTKH
Nguồn:
1. Tiểu thuyết thứ bảy, số 179, 30-10-1937
2. Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 2005
Tác giả bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” là người Phủ Lý?
Giai nhân Hà thành tiết lộ về tác giả bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’
Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.
Trường nữ sinh Đồng Khánh – Hà Nội (College de Jeunes Filles) được thành lập năm 1917, nay là trường THCS Trưng Vương – Hà Nội, là ngôi trường duy nhất của miền Bắc dành riêng cho nữ sinh tới cấp trung học.
Lớp của bà Viên Thị Thuận khóa 1934 – 1942.
Ngôi trường được xây dựng vào những thập niên đầu thế kỷ 20, khi vấn đề nữ quyền đang gặp nhiều rào cản của tư tưởng phong kiến.
Từ đây, nhiều tiểu thư khuê các nhanh chóng bước ra khỏi chốn “màn che trướng rủ” để nhập cuộc với thời đại, trở thành những nữ sinh Đồng Khánh có tiếng duyên dáng và nết na.
Trong số họ có rất nhiều người là bậc kỳ nữ tài hoa sau này, như giáo sư Lê Thi (Dương Thị Thoa) con gái GS Dương Quảng Hàm, nhà giáo Hoàng Xuân Sính – nữ tiến sĩ toán học đầu tiên ở Việt Nam…
Bên cạnh đó, trường Đồng Khánh còn được nhiều người biết đến là ngôi trường của những giai nhân…
Ngôi trường của những giai nhân
Trong tâm trí người Hà Nội xưa, trường nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng với những cô học trò xinh đẹp đầy mộng mơ, hồn thiên thướt tha trong tà áo dài đã trở thành một miền kí ức khó phai.
Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.
Thời gian dẫu nhuốm màu tuổi tác, nhưng vẻ quý phái, thanh tao của giai nhân Hà thành ngày đó vẫn toát ra từ người đàn bà ở tuổi cửu thập cổ lai hy này.
Bằng chất giọng nhỏ nhẹ với phong thái đoan trang, bà Thuận kể: “Muốn vào trường Đồng Khánh học, các học trò phải vượt qua các kỳ thi gắt gao, chỉ ai thực sự học giỏi mới đỗ được vào trường Đồng Khánh”.
Theo bà Thuận, ngày xưa nữ sinh Đồng Khánh được học toàn diện, họ không chỉ được dạy văn hóa, dạy tiếng Pháp mà còn được dạy nữ công gia chánh, hát, đàn piano, thể dục thể thao.
Bên cạnh đó, trường còn dạy thêu thùa may vá, cách tắm và chăm sóc cho trẻ sơ sinh, cách chi tiêu sao cho hợp lý bằng cách phân loại ra tiền điện, tiền nước, tiền ăn…
Ngày đó, nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng không chỉ thông minh, xinh đẹp mà còn hết sức nết na thuỳ mị. Ai cũng dịu dàng đài các, rất đỗi đa cảm nhưng vô cùng kín đáo, tế nhị. Dù có thích ai họ cũng chỉ giữ kín trong lòng hoặc gửi gắm vào những trang lưu bút.
Cựu nữ sinh Đồng Khánh cho biết: “Ngày đó cuộc sống của chúng tôi nói riêng và các tiểu thư đương thời nói chung rất lãng mạn. Chúng tôi thường đọc thơ và chép thơ vào những quyển lưu bút”.
Một cô bạn cùng lớp bà Thuận, so với các bạn có phần cá tính, mạnh mẽ hơn nhưng tâm hồn cũng không kém phần lãng mạn, cô là con gái một bác sĩ.
Cô bạn này có tình cảm với thầy giáo dạy thể thao người Pháp, đẹp trai và phong độ. Bị các bạn trong lớp phát hiện, trêu đùa, cô thường hay ngượng ngùng.
Rồi mối tình đơn phương đó cũng sớm kết thúc khi thấy giáo kết hôn cùng người phụ nữ khác. Còn cô thì gửi nỗi buồn da diết của mối tình đầu tan vỡ vào những quyển sổ lưu bút.
Bà Viên Thị Thuận cho biết thêm, các nữ sinh Đồng Khánh thường mặc áo dài thướt tha, thả mái tóc dài mượt, gọn gẽ đến trường.
Đặc biệt, theo nội quy nhà trường, không ai được phép trang điểm khi đi học. Thế mà các nữ sinh Đồng Khánh lại rất đẹp, đẹp đến hút hồn khiến bao trái tim nam sinh các trường THPT, ĐH phải si mê, ngơ ngẩn. heo đó nam nữ học riêng, buổi chiều tan học, nam sinh từ các trường khác thường mon men đến cổng trường Đồng Khánh, đứng ngắm, nhìn trộm từ xa lúc các cô gái tan học về. Hầu như chàng trai nào cũng mơ được làm quen với một nữ sinh Đồng Khánh.
Họ coi đó là niềm hãnh diện, tự hào để khoe với bạn bè, nhưng điều này quả là chuyện khó, bởi mấy nữ sinh Đồng Khánh luôn lạnh như băng, thâm trầm như biển sâu. Với họ nữ sinh Đồng Khánh luôn là… một ẩn số.
Tác giả bí ẩn của bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”
Bà Thuận cho biết, học sinh nữ từ các tỉnh miền Bắc về đây học tập, phần lớn là con gái gia đình trung lưu, có địa vị trong xã hội. Vào thời gian bà Thuận học năm 3 ở trường Đồng Khánh, có người bạn rất xinh đẹp, tên là Phạm Thị Lý (SN 1922, quê ở Phủ Lý).
Người bạn này của bà được mệnh danh là hoa khôi trường Đồng Khánh, xinh đẹp, thông minh nhưng gia đình muốn bà lấy một người chồng bà không có tình cảm. Vốn có tâm hồn đa sầu, đa cảm nên khi phải lấy người mình không yêu, bà rất buồn bã.
Bà Viên Thị Thuận chia sẻ: “Cũng có thể trong lòng bà ấy đã có ý trung nhân nào khác nhưng ở thời kỳ nữ quyền vừa bắt đầu những bước đi đầu tiên, vẫn mang nặng tư tưởng phong kiến thì việc dành tình cảm cho người con trai nào đó, dẫu “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” là điều không thể. Nên khi phải về lấy chồng bà ấy rất buồn… Trước khi lấy chồng, bà Phạm Thị Lý đã sáng tác bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’ gửi đăng báo bằng bút danh TTKH, với mục đích giấu tên.
Bà không ngờ được bài thơ mình sáng tác trong cái giây phút ngẫu hứng lại trở nên nổi tiếng cho đến ngày nay. Hôm đó, bà Lý cùng tôi đến tòa soạn gửi bài thơ rồi đi thẳng nên chẳng ai tìm được tác giả”.
Bà Thuận cũng cho biết thêm: “Trước khi gửi đăng báo, bà Lý từng đọc cho các bạn trong lớp nghe…”.
Sau này, rất nhiều giả thiết được đưa ra để xác định tác giả thực sự nhưng đều dừng lại ở mức độ nghi vấn, vì tác giả bài thơ chưa bao giờ lên tiếng xác nhận.
Hình như, dù là cuộc hôn nhân “ép buộc” nhưng cuộc đời bà lại vô cùng hạnh phúc. Có thể vì thế, những cảm xúc đầu đời cùng bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” được bà Lý cất gọn trong kí ức.
Vợ chồng bà sinh được 10 người con, sau này bà theo chồng sang Mỹ định cư và mất ở tuổi 80. Và, tác giả của một bài thơ nổi tiếng giờ vẫn là bí ẩn trong văn đàn.
Một nữ sinh nổi tiếng khác của trường Đồng Khánh, không thể không nhắc đến là GS Lê Thi tên thật là Dương Thị Thoa, con gái của cố GS Dương Quảng Hàm.
Bà cùng các anh chị em được cha mẹ cho ăn học tử tế ngay từ khi còn nhỏ. Bà chính là một trong hai nữ sinh đã kéo cờ trong ngày độc lập đầu tiên tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945.
Gần 80 năm đã trôi qua, nữ sinh trường Đồng Khánh cùng khóa bà Thuận chỉ còn lại vài người. Nhưng mỗi dịp có cơ hội gặp gỡ, họ vẫn tranh thủ ngồi lại hàn huyên và ôn lại những kỉ niệm vàng son thủa nào…
Emperor Thành Thái’s Edict to Establish the Quốc Học, 1896
Lê Minh Khai / Tôn Thất Tuệ dịch
Năm 1896, Triều Nguyễn thiết lập một học đường ở Kinh Đô để dạy Pháp Văn, là Quốc Học từ tên gốc là Quốc học trường 國學場; tên tiếng Pháp là Collège National (thời ấy “national” – quốc gia – có nghĩa học tiếng Pháp).
Chính quyền thuộc địa Pháp đã có sáng kiến nầy và được vua Thành Thái (TT) chấp thuận qua sự đồng ý của triều đình.
Để chính thức thành lập Quốc Học, TT đã ban hành một chỉ dụ bằng chữ Hán, nói rõ vua thuận phê chuẩn sự thiết lập nầy. Ít lâu sau, toàn quyền Paul Armand Rousseau ký một nghị định thi hành công lệnh ấy tức là thiết lập ngôi trường, kèm theo bản dịch tiếng Pháp chỉ dụ nêu trên.
So sánh công lệnh Hán Việt và bản tiếng Pháp, thì người dịch đã bỏ nhiều điều. Nếu đọc nguyên văn chỉ dụ nầy, chúng ta có thể biết cái nhìn của vua và triều đình về thế giới rất sâu sắc, không có trong bản đính kèm nghị định của Rousseau.
Chỉ dụ Thành Thái mang nhiều chi tiết thực tiển như cách chọn giáo sư, cách tuyển học sinh thì được dịch chính xác và đầy đủ. Nhưng phần mở đầu của chỉ dụ không được như thế.
Công lệnh bắt đầu với lời giải thích vì sao cần có một trường dạy Pháp ngữ. Bản dịch và bản chính có sự khác biệt to lớn. Sự khác biệt nầy giúp người đọc thấy rằng Hán Văn cổ điển và tiếng Pháp không những thuần túy chỉ là hai ngôn ngữ tách biệt, mà chúng còn cho chúng ta một ý niệm rõ ràng về sự khác nhau giữa hai nền văn hóa và hai thế giới quan khác nhau.
Trích bản dịch: Quand on veut donner un développement sérieux à l’instruction, on ne se borne pas à un enseignement exclusif, de même que pour assurer la régularité de l’enseignement, il est indispensable de créer des cours d’études. Or, eu dehors des livres sacrés de Chine, il existe d’autres ouvrages des divers pays et le mandat de porter la parole est chose très importante dans les relations internationales. ngưng.
Diễn qua chữ Việt: Nếu muốn đem lại cho nền giáo dục một sự phát triển đứng đắng thì không nên tự giới hạn trong sự dạy dỗ chuyên biệt độc quyền. Cũng giống vậy, để bảo đảm tính cách điều hòa của ngành giáo huấn, cần mở thêm các ngành học mới. Ngày nay ngoài những Thánh Điển từ bên Tàu và tác phẩm từ nhiều nước khác nhau, khả năng nói, đàm thoại là điều vô cùng quan trọng trong các mối liên lạc quốc tế.
諭學無常師, 欲其博也。教必立學, 欲其專也. 蓋六經之外別有方書,列國之交,重在辭命。Dụ học vô thường sư, dục kỳ bác giả. Giáo tất lập học, dục kỳ chuyên dã. Cái lục kinh chi ngoại biệt hữu phương thư, liệt quốc chi giao trọng tại từ mệnh.
(Trong phương cách học mà không cần có thầy giáo thường xuyên, thì người học tự tìm cách mở rộng kiến thức. Nhưng trong việc giáo huấn, cần có một học đường dạy những phần chuyên môn hóa. Ngoài “Lục Kinh” còn có sách vở từng khu vực địa phương. Nhưng trong việc giao thiệp giữa các nước cần có khả năng biện thuyết, đàm thoại).
Những danh tự sau đây cho thấy thế giới quan của TT. Học vô thường sư 學無常師; học không cần thầy thường xuyên; Lục Kinh 六經 và phương thư 方書, sách vở từng vùng; từ mệnh 辭命, khả năng thuyết giải, đàm thoại, và liệt quốc chi giao 列國之交, giao tiếp giữa các quốc gia. Nhưng chúng không có trong bản dịch.
Học vô thường sư 學無常師, tìm tòi cầu đạt những kiến thức một cách rộng rãi, nhiều nơi chứ không với một ông giáo kỳ cựu “sỉa rẹn” một chỗ. Ý nầy trước đây học giả Hàn Dũ 韓愈 nhà Đường đã nêu trong luận văn danh tiếng nhan đề sư thuyết 師說.
Thánh nhân vô thường sư: Không Tử sư Đam Tử, Trương Hoằng, Sư Tướng, Lão Đan. Đam Tử chi đồ kỳ hiền bất cập Khổng Tử. Khổng Tử viết: Tam nhân hành tất tắc hữu ngã sư. Thị cố đệ tử bất tất bất như sư. Sư bất tất hiền vu đệ tử. Văn đạo hữu tiên hậu, thuật nghiệp hữu truyền công. Như thị nhi dĩ.
Thánh nhân không có thầy cố định. Khổng Tử chọn làm thầy những ông Đam Tử, Trương Hoằng, Sư Tướng, Lão Đan, nhóm người như Đam Tử không giỏi, không khôn bằng Khổng Tử. Khổng Tử nói: ba người đi trước mặt ta, nhất định có một người là thầy ta. Như vậy đệ tử không nhất thiết kém hơn thầy; và thầy không nhất thiết giỏi hơn khôn hơn đệ tử. Chuyện là một kẻ đã học đạo trước một kẻ khác; hoặc một người nào đó có kỹ năng chuyên môn hóa. Chỉ chừng đó thôi.
TT mở đầu như vậy để giải thích với quần thần vì sao vua đã ra lệnh thiết lập một trường dạy tiếng Tây. Hẵn rõ TT đang gặp sự chống đối của các học sĩ chính thống cửa Khổng sân Trình; nhóm nầy xem người Pháp là man rợ có kiến thức kém. Do đó vua dùng Khổng học mà biện luận. Khi nói Khổng Tử và các hiền giả đều học với bất cứ ai, TT muốn nói con các quan, con triều thần có thể học với người Pháp.
Vua giải thích rằng kiến thức của người Pháp nằm ngoài Lục Kinh (Lục Kinh chi ngoại 六經之外) nhưng nằm trong sách vở từng vùng khác nhau ngoài nước Tàu (phương thư 方書). Người Tây viết về điểm nầy như sau: Or, eu dehors des livres sacrés de Chine, il existe d’autres ouvrages des divers pays. Ngoại trừ những thánh điển của Tàu, còn có những tác phẩm khác từ nhiều xứ khác nhau.
Khi TT chỉ nói Lục Kinh thì bản dịch là các sách linh thiêng của Tàu (les livres sacrés de Chine). Người Tây xem những chương sách người An Nam học là sách Tàu, của Tàu, nhưng TT chỉ đơn giản nói Lục Kinh. Xa hơn tí nữa, trong bản dịch, người Pháp xem Lục Kinh và sách ngoài (phương thư 方書) cùng mức giá trị như nhau; nhưng bản Hán tự của TT không xem như vậy. Thay vào đó, Lục Kinh và phương thư có hệ cấp giá trị không tương đồng.
“Phương” xem như nghịch với trung ương, thủ đô. Phương thư ở cấp tỉnh, Lục Kinh ở kinh đô. Một sự so sánh khác nữa sẽ được dùng là Khổng học phân chia văn 文, viết và ngôn 言 nói; văn giá trị hơn ngôn. Kinh đô là nơi mình có thể thấy vua và quần thần, tức là nhóm người có tài và sính diễn đạt tư tưởng bằng cách viết và tự cho mình là gương mẫu nêu cao nền luân lý trong Lục Kinh. Ở vùng xa kinh đô, dân chúng mù chữ chỉ có khả năng diễn tả ý nghĩ bằng lời nói, do đó người đô hội xem họ thấp kém nhiều phương diện.
Thế giới quan Khổng học đậm đặc như vậy không thể giúp TT nhìn một cách trung hòa bình đẳng Pháp ngữ, là một ngôn ngữ nói (language parlé).
Thứ nhất, khi ghép tiếng Pháp vào phương thư, TT đã truyền đạt ý niệm thấp kém, bởi vì chỉ có dân quê mới diễn tả tư tưởng bằng lỗ miệng, bằng cách nói; có nghĩa tiếng Pháp không thể đứng ngang với Lục Thư.
Thứ hai, khi nói từ mệnh 辭命, khả năng nói, là rất quan trọng trong mối liên lạc giữa các xứ khác nhau, TT đã cho thấy so sánh cao thấp. Hai chữ nầy nằm trong một đoạn danh tiếng trong sách Mạnh tử 孟子. Vài môn đệ của Khổng Tử nói rất hay (thiện vi thuyết từ 善爲說辭). Nhưng Khổng Tử cho biết ông không giỏi nói. 我於辭命則不能也, ngã ư từ mệnh bất năng dã.
Những câu chuyện nhỏ thế này đã nuôi giữ trong đầu các học giả Á Châu hệ cấp bất bình đẳng giữa viết và nói. Khổng Tử không giỏi nói có hề chi vì nói không phải là giá trị hàng đầu. Lập lại, TT gặp khó khăn khi phải giải thích sự cần thiết một ngôi trường dạy Pháp ngữ. TT giải thích vì sao chấp nhận ổn thỏa phải học ở những người một mặt đặt “nói” cao hơn “viết” trên nất thang giá trị, đồng thời thuộc hàng tỉnh chứ không phải trung ương.
Chỉ dụ thành lập QH có nhiều điều hấp dẫn. TT phải đương đầu với những thay đổi khó tin xẩy ra quanh mình. Thế giới đổi thay nầy được phản ảnh qua ngôn từ đã dùng như phương thư và liệt quốc chi giao 列國之交, giao tiếp giữa các quốc gia.
Ngày nay có thành ngữ quan hệ quốc tế 國際關係 (international relations) nhưng chưa có vào thời TT cũng như danh từ ngoại giao 外交, diplomacy chưa có. Trước khi người Pháp đến vào thế kỷ 19, VN chỉ có danh từ bang giao 邦交, liên lạc cấp vùng (domainal relations). Danh tự nầy dùng cho một hệ thống đẳng cấp Đông Á giữa chính quốc (Tàu) và các nước nhỏ chung quanh, những tiểu quốc chư hầu. Thành ngữ nầy xuất hiện 500 năm trước Tây lịch, và thời chiến quốc Xuân Thu. Sách lễ ký 禮記 ghi trong đoạn nói về các nghi lễ triều cống của chư hầu dâng lên vua nhà Chu. Ở VN trước thế kỷ mười chín, danh tự nầy biểu lộ đẳng cấp trong tương quan chính quốc và tiểu quốc giữa nhà Thanh và nhà Nguyễn.
Liệt quốc chi giao 列國之交, interrelations between various countries, người VN bắt đầu dùng vào thế kỷ 19 để nói về sự liên lạc mới có đối với các dân tộc tây phương; đâu đó giữa bang giao và ngoại giao. Trong lúc ấy, liệt quốc chi giao đòi hỏi một kỹ năng mới là nói tiếng Tây; mà lại vào thời 1896, người Việt không sành món nầy.
Do đó phát sinh nhu cầu chính đáng phải mở trường QH năm 1896. Nhưng đó cũng là thách thức của TT: làm sao thuyết phục các học vị trong triều, tức là những người học cách khinh thị những thành phần như người Pháp, khinh thị kiến thức và cách thông tri của họ. Nhưng nay phải đồng ý cho con cháu học những kiến thức ấy, học với những kẻ thấp hèn ấy.
Người Pháp không đủ sức hiểu và không cần hiểu những suy tư thâm sâu và bác học của vua Thánh Thái. Ngày nay với những người thông hiểu Hán tự, chiếu chỉ của Hoàng Đế Thành Thái sẽ cung hiến cái nhìn đầy đủ về thời đại của vua và những khó khăn vua phải đương đầu.–
1.- Một Facebook về lịch sử đăng một bài nhan đề Chiếu Chỉ vua Thành Thái Lập QH, không nói dịch từ chỗ nào. Nhưng xem mấy hàng đầu, độc giả có thể biết từ bản dịch người Pháp kèm vào nghị định của Toàn Quyền Rousseau; tức là bản dịch mà Lê Minh Khai cho thấy sai lạc thiếu sót.
Quand on veut donner un développement sérieux à l’instruction, on ne se borne pas à un enseignement exclusif, de même que pour assurer la régularité de l’enseignement, il est indispensable de créer des cours d’études. Or, eu dehors des livres sacrés de Chine, il existe d’autres ouvrages des divers pays et le mandat de porter la parole est chose très importante dans les relations internationales. (xem hình)
Muốn cho việc giáo dục được hoàn bị, không nên hạn chế học vấn trong khuôn khổ hẹp hòi. Trái lại, để đảm bảo cho việc giáo huấn được điều hòa cần mở ra các lớp học thường xuyên. Nay ngoài những thánh kinh, hiền truyện của Trung Hoa lại còn nhiều sách trước tác ở các nước khác và trách nhiệm của người đại diện phát ngôn trong lúc giao thiệp trên trường quốc tế rất là quan trọng.
Thánh Kinh? The Bible? “Trách nhiệm người phát ngôn?”. Tôi không tin người dịch có một ý niệm căn bản về Hán Tự và Pháp ngữ. “Mandat” trong ngữ cảnh nầy chỉ là khả năng, kỹ năng. “Porter la parole”, một động từ và danh từ bổ túc, là lối nói văn hoa dành cho công việc hằng ngày là phát ra tiếng nói bằng mồm, hoặc cao hơn như biện thuyết, diễn thuyết. Ở đây không có phát ngôn viên. Porte-parole mới là spokeman.
2.- Theo Võ Hương An, người biết rất nhiều về Huế qua các sách khảo cứu, Quốc Học là tên rút ngắn từ bốn chữ Quốc Gia Học Đường; 4 chữ nầy ghi trên một bức hoành nghi hiện treo tại trường. VHA làm rể nhà thầy Nguyễn Đình Hàm, hiệu trưởng đầu tiên khi trường mang tên cũ QH, tiếp theo tên Quốc Học Ngô Đình Diệm 1955. Nguyễn Phúc Bá, lang quân của Lương Thúy Anh, cho biết hiện nay trường còn lưu giữ một văn kiện ghi tên trường Quốc Gia Pháp Tự Học Đường. Về sau còn có tên nhiều người biết là Khải Định. Khải Định, QH nói chung, là những tên về sau. Quốc học trường là tên trên chiếu chỉ nhà vua. Ba chữ nầy nằm ở góc trái trên hình chữ Hán đính kèm.
3. Nhiều người sẽ ngạc nhiên về thuở ban đầu QH là một trường ngôn ngữ. Không rõ lúc nào trường trở nên một học đường đầy đủ. Tham luận với tác giả Lê Minh Khai, tôi cho rằng QH là một Sorbonne của Trung Kỳ, sản xuất một phần lớn thành phần trí thức, cho đến 1975. Nhiều người đã có tú tài QH Khải Định mà chưa một ngày ở trong trường này vì quân lính Pháp đồn trú từ 1946 đến 1954 theo hiệp ước sơ bộ ký với Sainteny. Trường chia làm hai, một nửa xuống trường Việt Anh sau thành Nguyễn Tri Phương cũ, một nửa gởi rể bên Đồng Khánh.
Cách mạng “bài phong” 1954 đã hất cẩm bào Gia Long khỏi đường ngã giữa, tuột áo Khải Định nhưng không tuột … Đồng Khánh để còn giữ cho đến 1975.
4. Vua Thành Thái đề cập “lục kinh” có ý khác “tứ thư ngũ kinh” của Tàu diễn tả Khổng Học. Công thức nầy có từ thời Chu Hy nhà Tống (gọi là Tống Nho), chỉ dùng ngũ kinh, tuy từ trước là lục kinh. Bớt đi kinh nhạc, vì kinh nầy đã mất khi Tần Thùy Hoàng cho đốt sách, chỉ còn đôi chương không quan trọng, nay ghép vào kinh lễ thành tiểu mục nhạc ký. Ngũ kinh là: kinh thi, kinh thư, kinh dịch, kinh lễ và kinh Xuân Thu. Tứ thư: Đại Học, Trung Dung, Khổng Tử và Mạnh Tử. Đa số các sách tiếng Anh thì theo vua Thành Thái và gọi lục kinh là Six Classics.
5. Sau 1954, theo quan điểm chính thức của trường, người sáng lập là ông Ngô Đình Khả, thân sinh của ông Ngô Đình Diệm. 1972, tôi tình cờ gặp thầy cựu hiệu trưởng 1956 Nguyễn Đình Hàm đi họp chi đó nơi tôi làm việc, thầy cho một nội san “Quốc Học” theo đó người sáng lập là toàn quyền Paul Armand Rousseau. Sự thật là ông Ngô Đình Khả được chỉ định thúc đẩy việc xây trường, xem như hiệu trưởng. Toàn quyền Paul Armand Rousseau có ký nghị định thành lập nhưng là một văn kiện thi hành chiếu chỉ của vua Thành Thái; nghị định nầy đã tham chiếu chỉ dụ của vua. Trong hành chánh, nghị định thấp hơn chỉ dụ. Như vậy phải nói người sáng lập QH là Hoàng Đế Thành Thái.
Hình ghép vua Thành Thái và trường QH, dãy lớp học nầy từ ngoài vào nằm bên trái.
Chỉ dụ của vua Thành Thái. Ba chữ Hán ở góc trái phía trên là Quốc Học Trường
Điều 13.- Thành phần trẻ nào đã đậu kỳ thi ra trường sẽ hưởng các quyền lợi, đặc quyền dự trù trong Chỉ Dụ hoàng triều đính kèm nghị định nầy.
Điều 14.- Chi phí nhân viên, vật liệu, xây cất và bảo trì trường ốc sẽ do Chính Phủ An Nam đài thọ.
Điều 15.- Khâm Sứ tại An Nam, Cơ Mật Viện chiếu nhiệm vụ thi hành nghị định nầy.
Hà Nội, ngày 18 tháng Nov, 1896. Ký tên A. Rousseau.
Phó thự bởi Khâm Sứ An Nam., Brière
Kinh đô thành thị coi trọng việc viết (writing); ngoại ô và thôn quê chỉ sành nói (speech).
Thuộc xã Xuân Tiến , huyện Xuân Trường , tỉnh Nam Định .
Không gian kiến trúc được thiết kế mang đậm phong cách phương Tây. Với mái vòm rộng và tháp chuông cao mằm ở giữa. Tổng chiều dài 75 m , rộng 20 m , cao 28 m và tháp chuông cao 46 m
— Bên cạnh nhà thờ Kiên Lao là một hồ nước, tạo khung cảnh cổ kính , thanh bình với tông màu chủ đạo là màu ghi đậm, nên có chút gì đó hơi u tịch .
2. NHÀ THỜ GIÁO HỌ XUÂN YẾN
Nằm ở xã Nghĩa Trung , huyện Nghĩa Đàn , tỉnh Nghệ An, nổi bậc với màu tím lịm , lộng lẫy và tráng lệ
Trong Thiên Chúa Giáo , mài tím được coi là sự sống lại của Chúa Giêsu Kito ; là ơn cứu chuộc cho con người . Màu tím còn là màu nối kết giữa màu xanh ( chỉ Trời ) và màu đỏ ( chỉ con người ) .
Nhà thờ Xuân Yến đã thu hút giới trẻ đến đây tham quan , cầu nguyện , chụp ảnh .
3. NHÀ THỜ GIÁO XỨ ĐÔNG VINH
Ở ấp Đông Hải , tỉnh Đồng Nai, cách thành phố Biên Hòa chưa đầy 1km. Nhìn từ xa trông nhà thờ như một lâu đài tráng lệ .
Toàn bộ nhà thờ được xây dựng bằng đá Magma , theo kiến trúc vừa hiện đại nhưng vẫn mang phong cách cổ kính phương Tây .
Từng chi tiết ở đây , được thiết kế rất tinh xảo và rất tỉ mỉ. Những đường nét chạm khắc hoa văn , mang lại cho bạn một cảm giác như đang đứng một góc trời nào đó ở Paris nước Pháp .
NHỮNG CÂY CẦU CÓ MÁI CHE Ở VÙNG NÔNG THÔN MỸ
Xuất phát từ việc làm ra biện pháp bổ sung để bảo vệ những cây cầu gỗ khỏi các yếu tố thời tiết . Giờ đây , các cây cầu có mái che trở thành hình ảnh thân thuộc ở vùng nông thôn Mỹ .
Thời gian tuyệt vờinhất trong năm , để có được tận hưởng khung cảnh đẹp về những cây cầu có mái che , chính là mùa thu .
* Cây cầu có mái che lâu đời nhất ở Mỹ . Đó là cầu Hyde Hall ở Cooperstown — New York .
Cây cầu được xây dựng năm 1825 .
Tọa lạc ở phía bắc của hồ Otsego , trong công viên Glimmerglass .
Cây cầu giúp người đi bộ qua sông Shadow Brook .
Đây là một trong ba cây cầu có mái che và vách che nằm ngang .
* Cây cầu có mái che Weddle ở Sweet Home – Oregon .
Sau khi xây dựng một cây cầu bằng bê tông kiên cố , qua sông Thomas vào năm 1980 . Cây cầu có mái che này không còn được sử dụng và dự kiến bị phá dỡ vào cuối thập niên đó .
Tuy nhiên , những người yêu thích cây cầu không ủng hộ . Sau này , cây cầu nhận được tài trợ chi phí , sửa chữa , bảo trì và được chuyển đến vị trí hiện nay qua khúc sông Ames .
* Cây cầu có mái che Nghệ Sĩ ở Newry – Maine .
Cây cầu được đặt theo tên một họa sĩ người Mỹ yêu thích công trình kiến trúc này .
* Cây cầu có mái che Stark Covered ở làng Stark – New Hampshire . Được xây dựng năm 1862 ở sông Upper Amonoosuc .
Năm 1890 , một đợt nước dâng cao đã đẩy cây cầu về phía hạ lưu . Đội cứu hộ cùng với những con bò khỏe mạnh đã kéo cây cầu về lại đúng vị trí cũ .
* Cây cầu có mái che Campbell ở Gowensville – Nam Carolina .
Cây cầu tọa lạc trong công viên của quận Greenville .
* Cây cầu có mái che Philippi ở Philippi — Tây Virginia .
Là cây cầu có mái che duy nhất phục vụ hệ thống đường cao tốc Mỹ .
* Cây cầu có mái che Flume ở Lincoln – New Hampshire .
Cây cầu được đặt tên theo một hẻm núi gần đó .
Cây cầu nhìn ra sông Pemigewasset trong công viên Franconia Notch .
Đến nay , người ta vẫn còn tranh cãi xem công trình này được xây dựng vào năm 1871 hay 1886
* Cây cầu có mái che Felton ở Felton – California .
Cây cầu được xây dựng năm 1892 .
Hiện cây cầu chỉ phục vụ cho người đi bộ .
Cây cầu bắc qua sông San Lorenzo . Và là cây cầu có mái che cao nhất nước Mỹ .
* Cây cầu có mái che West Cornwall của Connecticut .
Là một trong những cây cầu mang tính biểu tượng nhất ở New England .
Cây cầu được xây dựng năm 1941 , bắc qua sông Housatonic .
Tuổi thọ đã cao nhưng đến nay , cây cầu vẫn được sử dụng .
* Cây cầu có mái che kỳ quặc ở Covington – Virginia . Được xây dựng năm 1857 .
Đây là cây cầu có mái che lâu đời nhất , còn tồn tại ở Virginia .
* Cây cầu có mái che Goodpasture Covered gần Vida – Oregon .
Cây cầu nổi tiếng với những ô cửa sổ ở hai bên .
Cây cầu được xây dựng năm 1983 .
Cây cầu có mái che này , gây ấn tượng với những ô cửa sổ theo phong cách Gothic .
* Cây cầu có mái che Horton Mill ở quận Blount – Alabama .