Bích Câu Kỳ Ngộ – Mạn Đàm Phần 3




Chết tập thể trong trại tù “cải tạo”!

CHS/PCT/ ĐN54-60,

Cựu tù nhân cải tạo Chế Văn Thức

Lời nói đầu: Khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) non trẻ của Miền Nam Việt Nam bị sụp đổ bởi sự phản bội của nước bạn đồng minh. Quân Cộng sản miền Bắc tiến chiếm Miền Nam, trên thế giới đã có một nhận định cho rằng: sẽ có cuộc tắm máu xảy ra.

Nhưng không, rút kinh nghiệm của các nước cộng sản “anh em” và của chính Cộng Sản Việt Nam (CSVN) qua những lần tắm máu, sau khi cướp được chính quyền, bị thế giới lên án nặng nề. Lần này, sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, CSVN không áp dụng thủ đoạn tắm máu mà thi hành chính sách KHÔ MÁU! Đối với Quân Dân Cán Chính VNCH.

Bài viết sau đây, tôi kể lại một chuyện thật, không hư cấu, một trong trăm ngàn sự thật về chính sách đối xử tàn độc của chế độ CSVN với nhân dân Miền Nam Việt Nam! Đề tài khô khan, mong người đọc thông cảm.


TRẠI TÙ SUỐI MÁU, Biên Hòa.

Phản Kháng Của Tù Cải Tạo Trong Đêm Noel 1978.

Sau ba năm lao động khổ sai trên vùng rừng núi cao nguyên Lambiang (Lâm Viên) cuối dãy Trường Sơn. Những sĩ quan QLVNCH, người tù chính trị không án, được ngụy trang dưới mỹ từ “cải tạo”, do các đơn vị bộ đội quản lý từ sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Nay vì nhu cầu cuộc chiến xâm chiếm nước láng giềng Cambodia vào cuối năm 1978, bộ đội đã chuyễn chúng tôi trở về trại Suối Máu, Biên Hòa, giao qua ngành công an quản lý.

Tùy tình thân giữa bạn tù với nhau, trong các ngày lễ lớn của bất cứ tôn giáo nào, hay những ngày lễ Quốc Gia, ngày tết Dương Lịch, tết Nguyên Đán, chúng tôi từng nhóm tụ năm tụ bảy hàn huyên tâm sự. Chiều hôm 24 tháng 12 năm 1978, từng nhóm bạn gom góp mỗi người một ít đường, gạo nếp, đốt lửa đó đây dọc theo hè nhà, nấu chè lạc để có bửa ăn chung đón mừng ngày Chúa Giáng Sinh. Trên vọng gác, công an trông thấy dấu hiệu lạ trong các khu giam tù từ K1, đên các khu K2, K3. Khoảng 7 giờ tối, từng toán công an võ trang vào bên trong tuần tra, hỏi chúng tôi chuyện gì mà tụ tập, chúng tôi giải thích. Toán tuần tra rão quanh một vòng rồi trở ra ngoài.

Đến 8 giờ tối, hầu hết các K vang lên tiếng cười cùng tiếng vỗ tay. Khu K1 nơi giam tù sĩ quan cấp Thiếu và Trung úy, tuổi chừng 20 đến 30 rất trẻ, còn tràn đầy sinh khí, ồn ào náo động nhất, họ hát Thánh ca, tình ca với những chiếc đàn guitar tự chế.

Các toán công an võ trang trở vào, ra lệnh “cải tạo viên “ giải tán vào bên trong láng (nhà). Chưa đến 10 giờ đêm, giờ ngủ theo quy định của trại, họ cưỡng lệnh không chịu vào. Có tiếng súng nổ, công an võ trang bắt đi ba người tù đem ra ngoài khu giam.

Lập tức, toàn thể tù nhân khu K1 gọi nhau tập trung ở sân trước đối diện với cửa ra vào Ban giám thị trại. Họ dùng tay làm loa che miệng, đồng thanh kêu gọi Giám thị trại thả người trở vào, cũng hướng về các khu K2 giam tù cấp Tá, khu K3 cấp Đại úy để thông báo tình hình và xin tiếp tay yểm trợ, bằng cách tất cả tù nhân ra khỏi láng, làm theo những gì bạn tù K1 yêu cầu với Giám thị trại.

Bên ngoài, Giám thị trại vẫn im lìm, bên trong âm thanh hò reo của tù nhân vang dội toàn khu trại tù Suối Máu. Ngay lúc này, tại K2 các bạn tù cấp Tá, nhanh chóng thành lập Ủy Ban Hành Động (UBHĐ). Thiếu tá Không Quân Lê Thanh Hồng Vân vóc người to cao, làm Trưởng UBHĐ (hiện nay anh đang định cư tại Florida). Thiếu tá Pháo binh Lê Văn Sanh làm Phó Trưởng Ban (nay anh định cư tại Texas) và nhiều thành viên cho từng bộ phận, như bộ phận Hành Động, bộ phận An Ninh, bộ phận Kế Hoạch. Một số thành viên trong UBHĐ chui hàng rào kẻm gai, sang K1 hổ trợ và bàn kế hoạch. Hàng rào kẽm gai ngăn giữa các K trước đấy rất kiên cố, nhưng sau ba năm do bộ đội quản lý, cán binh bộ đội nhổ bớt cọc sắt ấp chiến lược và tháo lấy kẽm gai để làm việc riêng tư, nên nay hàng rào thưa trống, người chui qua lại rất dễ dàng.

Đã giữa khuya, Giám thị trại vẫn không động tĩnh. Bước đầu UBHĐ kêu gọi nhau hát các bản Thánh ca, trong đó bản HANG BELEM :

Ðêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời

Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa.

Trong hang Bê-lem ánh sáng tỏa lan tưng bừng . . .

là bản nhạc dễ hát nhất, hầu như ai cũng hát được, không phân biệt tôn giáo, các bạn tù Ki Tô Hữu hát lớn mọi người cùng hát theo, lặp đi lặp lại liên hồi, chen lẫn với tiếng vổ tay, tiếng kêu gọi thả tù. Trời về khuya tỉnh mịch, âm thanh vang dội đến tận vùng dân cư nhà thờ Hố Nai, Biên Hòa.

Có tiếng động cộc cạch từ những loa phóng thanh đặt sẵn trong các K giam tù, để Giám thị trại thông báo chỉ thị, mở đài (radio) phát thanh Hà Nội, đài Saigòn giải phóng cho tù nhân nghe tin tức vào mỗi sáng sớm và chiều tối. Giám thị trại lên tiếng:

“Yêu cầu tất cả “trại viên cải tạo” trong các K giải tán trở vào láng để ngủ, sau đó Ban giám thị sẽ cho ba trại viên trở vào.”

Không ai bảo ai mọi người đồng loạt trả lời:

“ Phải thả người vào trước đã”.

Hai bên, lời qua tiếng lại giằng co mãi, lồng trong tiếng hát Thánh ca mỗi lúc một vang dội hơn, mặc dù đêm đông giá lạnh nhưng mọi người vẫn kiên trì ngồi dưới sương khuya.

Từ xa vọng lại tiếng động cơ nổ rầm rì, rồi dần dần nghe rõ tiếng xích sắt của xe tăng nghiền trên mặt đường nhựa, từ hướng nhà thờ Hố Nai tiến về trại tù Suối Máu. Bọn cai tù lượng định tình thế, kéo dài thời gian xin chỉ thị cấp trên, điều động xe tăng đến mặt trước của trại tù để thị oai. Không nao núng, UBHĐ đưa ra quyết định, gọi lớn ra bên ngoài:

“Nếu ban giám thị trại không thả người vào, đêm nay tất cả trại viên cải tạo sẽ không vào ngủ”.

Tiếng gầm gừ của máy nổ, tiếng xích sắt của tăng nghiền trên mặt đường mỗi lúc nghe ác liệt hơn, rồi từng loạt đại liên trên tăng thay nhau nổ dòn, đạn hú xé không gian, xẹt ánh lửa vèo vèo ngang qua các nóc nhà trại giam.

Trước tình huống đã cởi lưng cọp không thể lùi, UBHĐ họp bàn quyết định, thông báo cho Giám thị trại:

“Ngày mai toàn thể trại viên cải tạo sẽ TUYỆT THỰC nếu trại không thả người vào”.

Đồng thời loan báo đến các K:

“Yêu cầu tất cả các toán anh nuôi, sáng ngày mai KHÔNG ĐƯỢC RA BỘ CHỈ HUY LÃNH GẠO VÀ THỰC PHÂM, cho đến khi Ban giám thị trại thả người vào.”

Tiếng hát Thánh ca tiếng vỗ tay, tiếng gọi thả tù vẫn tiếp tục vang vang trong đêm khuya. UBHĐ kêu gọi các bạn tù lớn tuổi vào láng để nghỉ trước, nhưng không một ai chịu rời chỗ. Biện pháp TUYỆT THỰC của tù nhân là sự việc bất ngờ đối với Giám thị trại. Phần chủ động của quyết định này thuộc về phía tù nhân. Không một toán anh nuôi nào có thể cưởng lại, không chấp hành, nếu họ muốn sống còn.

Thấy tình thế không thuyết phục được đám tù nhân nếu không thả tù:

“Giám thị trại Bằng lên tiếng yêu cầu toàn thể trại viên cải tạo giải tán vào ngủ. Ba trại viên sẽ trở vào khi làm xong kiểm điểm trong một thời gian ngắn”.
Cùng lúc ấy tiếng máy nổ của xe tăng xa dần khu trại tù Suối Máu.

Khuya lắm rôi, tù nhân vẫn ngồi hát Thánh ca. Bổng có tiếng dây xích sắt lỏn cỏn va chạm vào trụ cổng K1, của mở ba bạn tù bước vào bên trong. Tiêng hoan hô, reo hò gọi tên ba bạn tù. UBHĐ thông báo đến mọi người trở vào láng và bỏ lệnh tuyệt thực, để ngày mai các toán anh nuôi tiếp tục làm nhiệm vụ cơm nước.

ĐƯỜNG VÀO ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Noel, 24 tháng 12 năm 1978, đã là ngày 25 tháng 11 năm Mậu Ngọ, chỉ còn đúng một tháng đến tết Kỷ Mùi 1979. Thời gian này, nước lớn đàn anh Trung Cộng dạy cho bọn đàn em CSVN một bài học ở địa đầu giới tuyến. Không khí trong trại tù sôi sục về thời sự nghe được qua loa phóng thanh của trại.

Sau đêm tù cải tạo phản kháng, chúng tôi nghĩ sẽ có sự trừng phạt đến với một số người. Nhưng không, Giám thị trại, những con cáo già không biểu lộ một thái độ hằn học nào. Ngược lại cục trại giam đưa cán bộ tuyên huấn đến trại nói chuyện về tình hình biên giới Việt Trung, tuyên truyền, đề cao bộ đội cộng sản ở tuyến đầu chống trả quân bành trướng Trung Quốc v.v…

Giám thị trưởng trại tỏ ra thân thiện vui vẽ, liên tiếp vào trại tập họp “trại viên cải tạo” nói chuyện về chánh sách cải tạo khoan hồng của đảng, nhà nước và nhân dân . . . Ngoài ra, giám thị trại bàn đến ngày tết truyền thống, tết Kỷ Mùi, đề ra kế hoạch thi đua, mừng đón Xuân. Mục đích đánh lạc hướng kế hoạch đòn thù mà chúng sẽ áp dụng.

Sau những ngày tết Kỷ Mùi, đầu tháng 2-1979, bửa cơm chiều vừa xong, tù nhân cấp Tá ở K2 chúng tôi, có lệnh tập trung lên hội trường làm việc. Lệnh tập họp bất thường vào chiều tối, mọi người đã đoán có điều bất thường sẽ đến. Quanh hội trường công an võ trang canh gác. Trên bục, giám thị trưởng đọc “lệnh chuyễn trại”.

Trong đời người tù cải tạo, chuyễn trại là cả một cực hình, một nỗi kinh hoàng không kể xiết. Danh sách đen, hơn 350 tù cấp Thiếu, Trung và Đại tá chúng tôi, lần lược được gọi tên, tách riêng, ra sân xếp thành từng đội 30 người. Lệnh cho chúng tôi trở về láng thu xếp tù trang rồi đi ngủ.

Khi có lệnh tất cả tập họp lên sân trại. Chúng tôi được phát một khúc bánh mì bột bo bo kẹp chút thịt heo mỡ. Đúng 4 giờ sáng tiếng ì ầm của đoàn xe Molotova tiến vào trước cổng trại.

Đoàn xe tù lên đường còn trong đếm tối, mãi đến lúc bình minh ló dạng, chúng tôi mới biết đoàn xe đang chạy trên Quốc lộ I, đi về hướng Bắc. Mỗi xe tù có một công an võ trang đi theo, nhưng họ ngôi cùng tài xế ở trước xe, do vậy ở phía sau chúng tôi bàn tán với nhau, đoán già đoán non đủ thứ. Đến trưa đoàn xe tù vào thành phố Phan Rang, đoàn xe ngừng lại ở đầu thành phố. Tài xế vào phố ăn trưa, mỗi chúng tôi cầm khúc bánh mì bo bo ngao ngán.

Người bán hàng rong trong phố, thấy có đoàn xe vừa dừng ở bên ngoài, họ kéo nhau chạy ra, phụ nữ già trẻ có, các cháu nam nữ tuổi rất nhỏ, quần áo bạc màu, rạn rách. Trên tay mỗi người một cái mẹt, một chiếc rổ rá đựng ít củ khoai lan, củ mì (sắn) luộc, mớ trái cây, các loại bánh gói lá chuối. Ra đến nơi, ban đầu họ không biết xe chở khách gì, họ chạy ùa đến rao bán mớ hàng trên tay. Có sự đồng ý của công an võ trang, một số anh em tù chúng tôi đứng lên trong xe, chìa tiền mua thức ăn. Bất chợt một phụ nữ lớn tuổi trong nhóm, nhìn thấy chữ CẢI TẠO thật to, dấu đóng trên lưng áo, trên quần tù nhân. Bà ta la lớn lên gần như gào thét:

“Các chú CẢI TẠO tụi bay ơi, các chú cải tạo tụi bay ơi, đưa lên cho các chú đi đừng lấy tiền của các chú, đưa lẹ lên “.

Cả nhóm nghe theo lời bà. Chúng tôi cầm tiền, cúi gập người xuống năn nĩ các cháu nhỏ lấy tiền, nhưng chúng lắt đầu lia lịa, chúng chia nhau chạy khắp đoàn xe tù, ném đồ ăn lên xe. Một vài cháu lớn tuổi khỏe hơn, chạy thật nhanh vào trong phố gọi thêm các bạn mang hàng ra cho, ra đến nơi đoàn xe tù đã nổ máy chuyễn đi, họ ném theo lên xe tù những gì họ có trên rổ rá và đứng nhìn theo cho đến khi đoàn xe khuất xa – Mắt tôi cay cay nhỏ lệ, không phải chỉ lúc đó mà chính lúc này, tôi đang kể lại ký ức khó quên trong đời tù cải tạo, sau 30 tháng Tư-1975 – Xin nói rõ, trong giai đoạn đầu vào trại tù, bộ đội quản lý, không thu giữ tiền bạc và đồng hồ, nhẩn vàng.

Đoàn xe tù tiếp tục lăn bánh về hướng bắc Quốc lộ I, chúng tôi không đoán được sẽ đi về đâu. Khoảng 4 giờ chiều đoàn xe qua cầu đập Đồng Cam, rồi qua khỏi thị xã Tuy Hòa, Phú Yên đến quận Tuy An, đoàn xe rẽ trái, băng qua thiết lộ hỏa xa, dẫn vào quận Đồng Xuân. Lúc này tôi nhận ra địa danh vì tôi đã từng hành quân trên Khu 22 Chiến Thuật này gồm ba tỉnh: Bình Định, Phú Yên và Phú Bổn.

Trồi lên hụp xuống trên một độc đạo tung bụi đỏ mịt mù, đoàn xe mang chúng tôi vào một thung lũng rọ heo xa hun hút, dưới khí trời vàng vàng mờ ảo trong ánh nắng chiều. Đoàn xe dừng lại trước cổng một trại giam, tứ bề vòng rào lưới B40 và kẽm gai kiên cố. Trại cải tạo XUÂN PHƯỚC quận Đồng Xuân tỉnh Phú Yên, trại tù mang bí số A20. Những trại tù có mang bí số, trực thuộc Cục Quản Lý Trại Giam Trung Ương điều hành, là những trại tù nổi tiếng khắc nghiệt đối với tù nhân

CẢNH ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Trước khi vào đến trại giam A20, đoàn xe vượt qua một đoạn đường, bên phải là sườn đồi đất đỏ sỏi đá, bên trái là một cánh đông đất sét với những thửa rộng lúa cháy vàng bởi nắng hạn. Một cảnh tượng hải hung, thoạt đầu chúng tôi không ai hiểu nổi là hình ảnh gì, mặc dù chúng tôi cũng trong thân phận người tù!

Trên những thửa ruộng khô, đất đai nứt nẻ, lố nhố những toán người không áo không mũ nón, vỏn vẹn chỉ chiếc quần cụt, để lộ đôi ống xương chân khẳng khiu, thân hình da bọc xương với chiếc đầu lâu sậm màu! Hình ảnh ma quái này, ngày nay nếu sống ở Mỹ chúng ta có thể tưởng tượng được. Vào dịp lễ Halloween 31 tháng 10 mỗi năm, trong các của tiệm bán đồ trang trí lễ ma, chưng bày những bộ xương người, đầu lâu trắng hếu, trông ghê rợn, thì cảnh tượng trên cánh đồng khô, người tù đang lao động giống y chang như vậy. Ở đây những bộ xương ma quái kia biết cử động, đôi tay xương xẩu, nặng nề mệt nhọc nâng cây cuốc đưa lên thả xuống, đang đào xới thửa ruộng đất khô cằn chai cứng!

Trước cổng trại, chúng tôi được lùa xuống sắp hàng trên một sân gạch rộng lớn. Trời đã chiều, từ nhiều hướng các đội tù lao động lần lượt kéo về, sắp hàng chờ khám xét nhập trại. Chúng tôi sửng sờ, tận mắt nhìn rõ những bộ áo quần tù, xám tro bạc màu, rách tả tơi, bay phất phơ trên những bộ xương với có chiếc đầu lâu mà chúng tôi đã nhìn thấy trên cánh đồng trước đó. Những người tù đã cởi bỏ áo quần để không cho thấm ướt mồ hôi, hầu giữ ấm được thân thể khi về trại.

Thành phần tù gì? Họ là ai? Họ là tù hình sự. Phần lớn là con cháu của quân nhân, công chức VNCH. Tuổi chừng 15 đến 30, vào tù cải tạo vì không chịu thi hành nghĩa vụ quân sự, không muốn đem thân bỏ mạng nơi chiến trường Cambodia. Không thi hành nghĩa vụ lao động, theo chính sách cưỡng bức lao động cá nhân, hay buộc phải đi lao động thay thế cho thân nhân già yếu trong gia đình. Công tác lao động thường là công trình thủy lợi, đào kênh dẫn nước, vào núi chẻ đá, khuân vác đất đá, đốn gỗ, xây đập ngăn nước. Một thành phần nữa, là con cháu các gia đình “ngụy quân, ngụy quyền và ngụy dân” bị chính quyền địa phương đẩy đi vùng “kinh tế mới”, cuộc sống thiếu thốn quá khổ, bỏ trốn về các thành phố, mua lén bán chui, kiếm sống, giúp đở mẹ, anh em, trong khi ông, cha đang trong tù cải tạo! Chỉ có dưới chế độ cộng sản, mới có chuyện ba thế hệ gặp nhau trong nhà TÙ!

Chúng tôi tù chính trị, được nhốt chung với tù hình sự trong trại giam Xuân Phước, nhưng ở riêng một khu, cách nhau một sân rộng và nhà hội trường. Trại cấm chúng tôi “liên hệ” với tù hình sự, nhưng rồi đó đây chúng tôi cũng tiếp xúc được.

Dãy nhà tôi ở mang số 8, gọi là láng 8, dài chừng 50 met, nơi tôi ở, sát cạnh một “trạm xá”, ngôi nhà nhỏ diện tích độ 10 x 5 mét, mái tranh vách đất, chỉ một cửa nhỏ ra vào . Nói là trạm xá nhưng nhiều ngày, chẳng thấy y tá hay y sĩ vãng lai, cũng không thấy khám bệnh. Thì ra nơi đó, các cháu bị bệnh lao phổi đến thời kỳ quá nặng, cán bộ trại đưa vào cách ly, nằm chờ chết. Tiếng ho sùng sục bên trong liên hồi vọng ra.

Những cháu còn chút sức, lê thân ra ngoài hóng nắng, mở nút áo để lộ thân hình da bọc xương, đầu trọc không còn chút tóc, người co quắp, thở hỗn hễn, đứt đoạn từng hơi! Dãy nhà 8 nằm cuối cùng, sát hàng rào trại, nên họ ngăn một đoạn ngay đầu nhà, chừng 5 met làm thành một phòng nhỏ, phòng xác! Do vậy, bọn tù ở láng 8 chúng tôi, nhìn qua khe cửa, mỗi ngày chứng kiến ít nhất có từ 2 đến 3 xác chết, quấn bằng manh chiếu hay mền. Trên đầu chiếc giường tre, ngọn đèn dầu leo lắc, một chén cơm có cắm đôi đủa. Họ đưa xác vào đó ban đêm sau 7 giờ tối, khi chúng tôi đã vào bên trong láng ngủ và cửa khóa chặt. Ngày hôm sau, lúc chúng tôi xuất trại đi lao động bên ngoài, cán bộ trại cho đội tù hình sự, có tên Đội Tự Giác, dùng xe cải tiến, loại xe thùng có 2 bánh sắt, chở xác chết ra chôn ở một ven rừng đất đỏ, nghĩa địa của trại.

Những lần đi lao động ngang qua đây, chúng tôi đã thấy nhiều nấm mộ lắm rồi.

Tù cải tạo thuộc diện tù chính trị như chúng tôi, thời kỳ do bộ đội quản lý, mặc dù lao động khổ sai trong vùng rừng núi Trường Sơn, nhưng khi làm lao động có thể đi lại đó đây, tìm kiếm rau lá, bẩy chuột, bắt rắn cóc nhái . . . cải thiện bửa ăn, phụ thêm mớ thực phẫm, do vợ con thân nhân, cực khổ gồng gánh, vượt vạn dặm thăm nuôi. Thân xác chúng tôi cũng đã kiệt quệ, nhưng chưa đến nổi nào.

Đến lúc vào tay ngành công an quản lý, tại trại tù A20 này, quy chế đời sống chúng tôi không khác gì so với các cháu tù hình sự. Phần ăn mỗi bửa đều giống nhau. Nấu bếp làm cơm do tù hình sự phụ trách. Bửa ăn sáng trước giờ đi đồng lao động, mỗi phần ăn độ 4, 5 lát “sâm”. gọi là sâm cho vui, cũng để đánh lừa cái miệng, thực ra nó là những lát mì (củ sắn).

Mì do tù nhân trồng trọt, đến mùa thu hoach (bới lấy củ), cán bộ trại bắt tù nhân ngồi giữa đồi trọc, mỗi người một khúc gỗ, một con dao lớn, chặt củ sắn thành nhiều lát, có bề dày bằng nữa đầu lóng tay, những lát mì tung ra phơi nắng ngay tại chỗ, trên nền đất cát đỏ, qua nhiều ngày đêm, bất kể nắng mưa sương gió, cát bụi bám đầy. Đến lúc lát mì khô đã đổi sang màu sậm, được đưa vào các kho chứa, bao bọc bởi những mành tre thưa mỏng, không đủ sức che mưa gió. Những lát mì đóng lại thành cục, lên men trắng, men vàng rồi men đỏ, lát mì không còn lên men được nữa, trở thành những lát Sâm Cao Ly màu đen lánh!

Phần cơm trưa và cơm chiều giống nhau. Chén cơm chỉ là một chén sâm, cỏng lưa thưa một vài hạt cơm! Thức ăn là tô canh rau xanh, rau do tù trồng, được bón loại phân XANH, tức phân người trộn với lá cây xanh, phân lấy từ cầu tiêu nổi có thùng chứa. Những lúc trời nắng hạn, không sản xuất đủ rau xanh, thay canh bằng lưng nửa chén mắm thối!. Cai tù thầu mua tất cả các loại cá do ngư dân đánh bắt, không đủ phương tiện ướp lạnh, không đủ muối ướp mặn, đã ươn sình, thối rữa. Lâu lâu, xe tải chở cá vào trại, đã nghe mùi hôi tanh. Chúng đổ cá vào hồ làm mắm, hồ xây bằng xi măng rất lớn, tường cao 2 mét, chia thành bốn ngăn khoản 3×2 mét, mặt trên bịt kín, chừa một nắp đậy vuông.

Cá không ăn muối cá ươn, ở đây cá đã ươn sình, đưa vào hồ làm mắn, đổ thêm nước lã, lại không bỏ đủ muối, cá lên men mục nát rất nhanh, trở thành nước mắn. Màu nước mắm đen ngồm, tựa nước ống cống chợ cầu ông Lãnh, Saigon! Những khi toán anh nuôi mở nắp hầm lấy mắm, mùi thối xông lên nồng nặc, tỏa đi khắp khu trại giam, đến nín thở. Cầm chén mắm, không cách nào tôi đưa chén mắm lên miệng được, cho dù dùng mấy ngón tay cố bóp kín lỗ mũi. Tôi không ăn được mắm thối, nhưng cũng không đổ bỏ đi. Đại tá bác sĩ Nguyễn Văn Khái cựu Chỉ huy trưởng Tổng Y Viện Cộng Hòa Saigon, khuyên tôi:

“Anh không ăn được anh cho người khác, tuy mắm thối nhưng nó có chất đạm, rất cần cho cơ thể hiện nay”.

Tôi đã đưa mắm cho người bạn, Đại tá Nguyễn Văn Luật, cùng đội lao động với tôi.

Người tù chính trị trong ngục tù cải tạo, có được sự sống còn, phải nhắc đến công lao vô bờ bến của những người vợ. Mãi mãi tôi ghi nhớ công ơn vợ tôi. Nhờ vợ, hơn một năm tôi thoát khỏi cảnh ăn mắm thối. Trước tết Kỹ Mùi-1979, từ Đà Nẵng vợ tôi lặn lội vào trại tù Suối Máu, Biên Hòa thăm nuôi. Khi ngang qua vùng Nha Trang, vợ tôi mua được 12 con mực khô lớn, loại xuất khẩu, họ đem bán chui.

Ngày đầu mới chuyễn đến trại tù A20 này, công an cán bộ khám xét tù trang, tất cả thức ăn do gia đình tiếp tế đều bị tịch thu, tiền bạc đồng hồ, nhẫn vàng bị thu giữ. May mắn cho tôi, tên công an cán bộ lo xốc xáo quần áo, chăm chú lục tìm những thứ mà chúng có thể bỏ túi luôn được.

Chiếc bao cát tôi đựng mấy con mực và gói muối bột, rơi ra một bên nằm cạnh chân tôi. Lẹ chân tôi hất nhẹ vào đống đồ đã khám xong, nhờ vậy tôi giữ được bao thức ăn vợ tôi vừa tiếp tế. Hàng tuần, trại cho tù xuống bếp hâm đồ ăn một lần vào buổi trưa. Tôi cắt một đoạn mực, chừng một lóng tay, xé thật nhỏ cho vào lon ghi-gô thêm chút muối bột, đun sôi làm thành nước mắm, ăn tằn tiện thoát nổi khổ húp mắn thối mỗi bửa!

CHẾT TẬP THỂ TRONG TRẠI TÙ CẢI TẠO.

Từ môi trường sống đó, ngoài bệnh lao như đã kể trên, hầu hết là ở các cháu tù hình sự. Nhiều thứ bệnh khác thi nhau hoành hành trên thân xác người tù, nhất là bệnh kiết lỵ, loại bệnh dễ lây lan, nguy hiễm, tử vong cao.

Người bệnh, bụng đau nhói ruột co thắt, hậu môn luôn bị thúc dục đi tiêu liên tục, nhưng rất khó khăn, chỉ tiêu ra chút ít đờm giãi lẫn lộn máu tươi. Không thuốc men chửa trị, nhiều bệnh nhân kiệt sức không lê ra được khỏi nơi nằm, tiểu tiện tại chỗ, mùi hôi tanh xông lên, từng đàn ruồi nhặng vù vù bay lượn, trông phát khiếp!

Địa ngục trần gian, đại học máu, những ngôn từ dành để chỉ “ Trại Cải Tạo” dưới chế độ cộng sản, không sai chút nào! Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm được Miền Nam, chia người dân Miền Nam ra ba thành phần: “Ngụy quân, ngụy quyền và ngụy dân”, điều tôi không bịa đặt, mà lời nói ra từ cửa miệng bọn cán bộ tuyên huấn, trong những lần tiếp xúc với tù nhân.

Một trong những đòn phép tàn độc cộng sản Hà Nội dùng để trả thù nhân dân Miền Nam là: chính sách Bao Tử. Dùng bao tử để hành hạ thân xác con người, bỏ ĐÓI con người, làm cho con người mất hết lý trí, tiêu tan ý chí kháng cự. Nhưng chúng đã lầm!

Nói đến đói trong trại tù cải tạo, thú thật, tôi viết lên điều này, xin người đọc đừng cho tôi chê trách ai đó. Nếu ai chưa chịu đựng qua cái đói trong ngục tù cải tạo, khi nghe nói đến đói, không thể có cảm nhận như người tù cải tạo đã ĐÓI! họ đơn thuần thấy cái bao tử thiếu thiếu vì lỡ một bửa cơm, hay một vài ngày phải nhịn ăn để trị bệnh. Đói trong trại cải tạo là một đòn thù ác nghiệt, có tính toán của cộng sản.

Bao tử người tù cải tạo, lúc nào cũng trống trơn, cơ trắng bao tử chà xát vào nhau, một cảm giác đau đớn không biết diễn tả thế nào cho đúng. Ăn rồi cũng như chưa ăn!, khổ cho cái bao tử cứ bị đánh lừa triền miên. Sau bửa cơm, tôi buồn tình dùng đũa, gõ vào miệng chén, ngâm nga:

“Mình ngỡ những chưa ăn

ai ngờ đã ăn rồi.

Mình ngỡ những chưa ăn,

ai ngời đã ăn xong!

Ôi tấm thân tù tội …”

Khi viết bài này tôi mới biết, vô tình tôi đã đổi lời một đoạn ngắn trong bản nhạc của một nhạc sĩ ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản, nhạc sĩ Trịnh CS, bài “ Tình Nhớ “ (Tình ngỡ đã quên đi, như lòng cố lạnh lùng…). Lời tôi đổi, nói lên được tính dã man của con người cộng sản, mà Trịnh CS là một.

Các cháu tù hình sự, không còn lối thoát với cơn đói hoành hành thân xác. Trong những giờ làm lao động bên ngoài, các cháu vớ được bất cứ con trùng gì, như dế, châu chấu, cào cào, bọ ngựa hay cả con trùn, các cháu chỉ cần ngắt chân, lặt cánh, phủi phủi rồi đưa vào miệng ăn sống ngon lành! Gặp bửa, có cháu bắt được nhiều mồi hơn ăn tại chỗ không hết, dấu cán bộ, nhắt vào lai ống quần, tay áo, đem về trại đến đêm lén lút ăn tiếp. Ăn để mà sống qua ngày, đa số ngả bịnh, chết lai rai mỗi ngày.

Trại có một đội lao động gọi là Đội tự giác, nhân số khoảng 40, tất cả đều là các cháu tù hình sự. Được tuyển chọn từ những cháu học tập cải tạo “có tiến bộ”, sinh hoạt “có thành tích”!

Đội tự giác xử dụng khoảng 20 chiếc xe cải tiến, xe thùng có hai bánh niềng sắt. Nhận công việc làm từ cán bộ trại và được tự do ra vào trại để thi hành công tác, có công an Quản giáo giám thị, nhưng không có công an võ trang theo canh giữ. Sức khỏe các cháu Đội tự giác có phần khá hơn, nhờ những lúc chuyên chở thực phẩm từ Bộ chỉ huy trại vào khu giam tù, các cháu có cơ hội bòn tỉa được vài chút thức ăn, tuy vậy cũng không thấm đủ vào đâu, đói vẫn hoàn đói!

Những ngày không có công tác chuyên chở, đội tự giác cũng phải lao động cuốc đất trên các ruộng rẫy, nhưng các cháu Đội tự giác được đi lại dễ dãi hơn. Từ đó các cháu cử hai người đi tìm các loại rau cỏ có thể ăn được, dùng chiếc thùng lớn nấu nước để uống trong lúc làm lao động. Gần cuối giờ, cho rau vào thùng nấu chín, mang về trại chia nhau ăn, phụ thêm cho bửa cơm tù chẳng đủ vào đâu!

Mùa hè, miền rừng núi nắng cháy, rau cỏ dại không còn. Lâu lâu, gặp một vài cơn mưa giông, các vườn trồng cây mì (sắn) được bón phân xanh, gặp mưa rào đâm chồi nhanh hơn loại cây cỏ khác. Các cháu Đội tự giác vào vườn mì, hái đọt mì cho vào thùng nấu làm canh. Khoảng giữa tháng 5 năm 1981, đêm khuya đang ngủ, cửa nhà giam số 8 của chúng tôi có tiếng động mở khóa, cán bộ trực trại rọi đèn pin, bước vào gọi lớn: “Anh Khái, anh Nhu, mau theo tôi “ (tức đại tá bác sĩ Nguyễn Văn Khái và đại tá bác sĩ Phạm Văn Nhu )

Cán bộ trực trại dẫn 2 bác sĩ qua khu tù hình sự. Chừng 15 phút sau, hai vị bác sĩ quay trở về nhà giam số 8, vào trong cửa nói lớn:

“Các cháu Đội tự giác ăn canh đọt mì, trúng độc tình trạng rất nguy kịch, xin các bạn ai còn đường, còn đậu xanh, vui lòng nhín cho một ít để chúng tôi cấp tốc cứu các cháu”

Gom góp được một ít đường đậu, hai bác sĩ vội vã quay nhanh trở lại khu giam tù hình sự. Hơn một tiếng đồng hồ sau, hai bác sĩ trở về láng, trầm buồn nói nho nhỏ:

“Cả đội tự giác chết hết rồi ! cháu Sơn ( đội trưởng) to khỏe như vậy cũng đã chết ngay, may ra còn sống được hai em, nhờ đương bị bịnh, ăn ít hơn!”

Đây đó có tiếng sụt sùi vì qúa xúc động, cảm thương cho các cháu! Tôi thực sự lại khóc khi viết đến đây.

Thật vô nhân, tàn ác, giam tù bỏ đói, bệnh hoạn không thuốc men. Gặp lúc nguy ngập như vầy, không phương tiện cứu chữa. Bác sĩ “ngụy quân” đem giam tù đã 6 năm, hai bàn tay trắng, tài nào cứu được mạng người sắp chết. Vậy mà bọn chúng cũng trơ mặt, há mồm lên tiếng kêu, cứu người.

Xế chiều ngày hôm sau, đội tù chúng tôi đang cuốc đất trên thửa ruộng cạnh ven rừng. Xa xa về hướng trại giam, chúng tôi thấy một đoàn xe cải tiến chừng hơn 15 chiếc, các cháu tù hình sự, một đứa kéo, hai đứa đẩy phía sau xe, hì hục kéo qua con đường đất đỏ dưới chân đồi. Chúng tôi đoán biết đó là đoàn xe chở thi hài 37 cháu trong Đội tự giác đã chết tối hôm qua,

Khi đoàn xe gần đến sau lưng chúng tôi, không ai bảo ai, chúng tôi tự động quay mặt về đoàn xe chở xác, bỏ cuốc xẽm xuống đất, tay dở nón mũ áp vào ngực, đứng cúi đầu. Hai công an võ trang canh gác, đứng trên bờ ruộng, ngạc nhiên hét lớn:

– Các anh làm gì vậy, làm gì vậy, tất cả làm việc đi, làm việc đi.

Mặc cho tên công an võ trang quát tháo, chúng tôi cứ tiếp tục đứng im, chờ cho đoàn xe đưa ma qua hết, chúng tôi mới trở lại làm việc. Không có lấy một chiếc quan tài, thi hài của các cháu được bó trong những chiếc chiếu, chăn mền mà các cháu đã dùng để ngủ! Hai ba thi hài chất lên một xe, đưa ra chôn ở một triền đồi, nơi đã có nhiều mộ của các cháu tù hình sự chết lai rai trước đó, tù nhân chính trị chúng tôi cũng đã có người vĩnh viễn nằm đó.

Đến nay, nghĩa địa này đã nằm sâu dưới đáy đập nước thủy điện Xuân Phước, Phú Yên!

Viết để Tưởng Niệm các bạn tù chính trị, các cháu tù hình sự đã bỏ mình trong ngục tù Xuân Phước. Chắc các bạn, các cháu đã siêu thoát về một thế giới Vĩnh Hằng. Cầu xin các bạn, các cháu hộ trì lại cho Đất Nước Việt, Dân Tộc Việt sớm thoát khỏi chế độ Cộng sản tàn bạo, vô nhân!

CHS/PCT/ĐN5460
Cựu TNCT Chế Văn Thức




NHÀ SÁCH TÚ QUỲNH GIÃ TỪ ĐỒNG HƯƠNG

KIỀU MỸ DUYÊN

          Phan Hoàng Yến, chủ nhân nhà sách Tú Quỳnh, khuôn mặt buồn hiu hắt đi tới đi lui, niềm nở với khách hàng, nhưng không nở nổi nụ cười. Bình thường thì Yến hay cười với khách hàng, bây giờ thì nụ cười biến mất, có ai cười được khi cơ sở thương mại đã hơn 41 năm sắp đóng cửa vì không buôn bán được, trả tiền cho chủ phố đều đặn mà tiền thì không vào. Chồng Yến, ông Đặng Văn Thạnh, chiến sĩ của Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân ra đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Yến đã gầy, bây giờ gầy thêm, giọng nói ngày xưa nhỏ nhẹ, bây giờ gần như nói không ra tiếng. Khách hàng của nhà sách Tú Quỳnh đều là người lớn tuổi, độc giả đã từng gắn bó với tiệm sách này từ mấy chục năm qua, có người ra đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại.

          Từ khi tiệm sách sắp đóng cửa, chỉ mở cửa ngày thứ bảy và chúa nhật, đợi đến cuối tháng 12/2020 thì dẹp tiệm luôn. Tôi thường đến mua sách để tặng bằng hữu, những quyển sách tôi chọn lựa là sách triết học về Phật Giáo, Công Giáo, Phật Giáo Tây Tạng, và những quyển sách xuất sắc của những nhà văn nổi tiếng từ mấy chục năm nay.

          Yến tâm sự:

          – Chị em mình quen mấy chục năm rồi phải không chị? Ngày xưa chị hay vào Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân làm phóng sự.

          Tôi gật đầu và nói:

          – Chị nhớ ngày xưa khi chiến sĩ Biệt Động Quân định cư ở Hoa Kỳ, ngừng lại ở tiểu bang Cali, ông Thạnh thường đãi tiệc và mời một số bằng hữu, anh em Biệt Động Quân đến tham dự. Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai, chỉ huy trưởng Biệt Động Quân đến quận Cam, vợ chồng ông Thạnh và anh em gia đình Biệt Động Quân đón tiếp mọi người ân cần, niềm nở.                                   

         Và từ đó, bất cứ chiến sĩ Biệt Động Quân nào về Orange County thì cũng được các anh Biệt Động Quân và gia đình Biệt Động Quân đón tiếp một cách long trọng.

          Nói về tiệm sách Tú Quỳnh, nếu là một nhà văn, nhà báo, hay thương gia đứng ra mở tiệm sách thì không ai ngạc nhiên, nhưng người mở tiệm sách lại là một chiến sĩ Biệt Động Quân, nhiều người lấy làm lạ? Mới định cư ở Hoa Kỳ, người nào cũng vừa đi làm vừa đi học. Vợ chồng ông Đặng Văn Thạnh có một đàn con nhỏ, vừa đi học, vừa đi làm, vừa chăm sóc con nhỏ, mà định mở tiệm sách. Thật ra 45 năm về trước, sách, nhạc là nhu cầu cần thiết cho mọi người, vì lúc đó chưa có truyền thanh, truyền hình, chỉ có báo Trắng Đen của ông bà Việt Đinh Phương ở Glendale, Los Angeles County và báo Hồn Việt của Nguyễn Hoàng Đoan ở miền Nam Cali. Lúc đó, tôi nghe nói ở một tiệm cafe nào đó, ông mời một số anh em Biệt Động Quân ngồi uống cafe, thì ông Thạnh nói ở đây cần một tiệm sách. Tức khắc anh em hưởng ứng ngay và nói anh em sẽ ủng hộ để nhà sách thành hình. Yến, vợ ông Thạnh yểm trợ chồng một cách tích cực.

          Tú Quỳnh ở trong Mini Mall Bolsa, thành phố Westminster, là nhà sách đầu tiên của người Việt tị nạn tại nước Mỹ.

          Có nhà sách rồi thì có tác giả xuất bản sách, in lại sách cũ, sách mới. Tú Quỳnh bán sách mới, cũ, bán CD, DVD nhạc, truyện sách đủ loại sách: triết, tiểu thuyết, thơ, nhạc, sách học trò, nghiên cứu,… Nhà văn bốn phương trời gởi sách đến miền Nam in và Tú Quỳnh phát hành khắp nơi trên thế giới. Sau này ở Orange County có thêm nhiều nhà sách khác như: Văn Bút, Văn Khoa, Tự Lực, … nhưng Tú Quỳnh được đồng bào nhớ tới nhiều nhất vì là nhà sách đầu tiên và có sự liên lạc khắp nơi. Có nhiều tác giả in sách ở Đài Loan rồi Tú Quỳnh phát hành.

          Các thư viện của các trường Đại Học Mỹ cũng đến Tú Quỳnh mua sách. Tôi đã từng gặp một giáo sư đại học UCLA đến đây mua sách, và ông cũng mua Chinh Chiến Điêu Linh của Kiều Mỹ Duyên mấy thùng. Tú Quỳnh là nơi hội ngộ của những người thích sách, nghiền đọc sách, nhất là các nhà văn đến từ Âu Châu, Úc Châu và nhiều nơi khác. Tú Quỳnh là trung tâm gặp gỡ của nhiều văn nghệ sĩ. Đó là lý do lúc ông Đặng Văn Thạnh qua đời, tôi gặp nhiều vị lãnh đạo tôn giáo, văn nghệ sĩ, bằng hữu thăm viếng và cầu nguyện cho ông.

          Khi ông Thạnh qua đời nhiều người khóc, bởi vì nhiều người chịu ơn ông. Ông giúp đỡ nhiều người, phóng khoáng, hứa điều gì với ai thì làm ngay điều đó. Tôi thăm viếng ông lần cuối cùng ở nhà quàng Costa Mesa. Văn nghệ sĩ đứng sắp hàng tiễn ông lần cuối. Yến, vợ ông, con ông không còn tiếng khóc. Tôi thương Yến vô cùng. Yến là người đàn bà rất hiền, ít nói, chỉ biết cười. Sau ngày ông ra đi cho đến khi tiệm sách đóng cửa, Yến không còn cười nữa. Các con của ông có công ăn việc làm, còn lo cho gia đình. Yến và những người mê sách, thương ông Thạnh chỉ còn ngậm ngùi giã từ tiệm sách Tú Quỳnh.

          Tôi nói với Yến:

          – Chị thương em lắm.

          Rồi tôi lặng yên, không còn điều gì hơn để nói nữa. Yến nói nhỏ nhẹ như hơi thở:

          – Em sẽ buồn lắm vì hàng ngày em không còn ra đây nữa.

          Yến không biết lái xe, đi đâu chồng chở, con chở, hay bạn bè cho quá giang hoặc đi xe bus.

          Yến hiền lành, ít nói, được nhiều người thương. Tôi thường gặp các ca sĩ, nhà văn, nhà báo, nhà binh có mặt thường trực ở tiệm sách. Sau khi ông Đặng Văn Thạnh ra đi vĩnh viễn thì sự có mặt của những người bạn thường hiện diện ở tiệm sách là niềm an ủi lớn cho Yến, người chủ tiệm còn lại.

          Đại Tá Biệt Động Quân Nguyễn Văn Đương, Thiếu Tá Hồng và nhiều các cấp chỉ huy hay anh em Biệt Động Quân khác thường đến tiệm sách này. Người từ bốn phương Trời tựu họp về đây. Chủ tiệm đã chia lại nửa phần của không gian này cho hội từ thiện Trương Bửu Diệp, vậy mà vẫn còn không đủ tiền để trả cho chủ phố. Người tị nạn khắp nơi trên thế giới về miền Nam Cali đều ghé thăm tiệm sách Tú Quỳnh. Thường du khách mua quà cho người thân của mình khi đến Orange County là sách và đĩa nhạc.

          Tiệm sách Tú Quỳnh cũng là nơi phát hành bút ký Chiến Trường của Kiều Mỹ Duyên là Chinh Chiến Điêu Linh, Phong Thủy và cuộc sống hôm nay, Phong Thủy Bí Quyết để thành công, và Cẩm Nang Phong Thủy áp dụng cho nhà ở và cơ sở thương mại của tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tung đã tái bản nhiều lần.

          Hôm họp báo để giã từ đọc giả, giã từ đồng hương, Yến chỉ lặng lẽ để cho giáo sư Tô Văn Lai, cựu nghị viện Tony Lâm, ông Nguyễn Ngọc Chân, đạo diễn phim Vì Tôi Là Linh Mục, cũng là chiến sĩ Biệt Động Quân, cựu sinh viên Võ Bị Đà Lạt. Hầu hết báo chí truyền hình đều hiện diện, phát biểu ý kiến nói về sự thành lập của nhà sách Tú Quỳnh rất là cảm động.

          Tuần sau, tôi trở lại tiệm sách để mua thêm sách tặng bằng hữu, đồng hương trẻ. Tôi tìm sách chiến tranh của tác giả Phan Nhật Nam, nhưng chỉ còn một cuốn: Đường Trường Xa Xăm ( Nhà xuất bản Tú Quỳnh, CA 1995). Phan Nhật Nam là phóng viên chiến trường, sinh viên Võ Bị Đà Lạt khóa 18, ở tù nhiều năm dưới chế độ Cộng Sản, định cư ở Mỹ theo diện H.O. Ông sáng tác không ngừng nghỉ và cộng tác với đài truyền hình SBTN và nhiều tờ báo khác nhau. Tôi không tìm được sách “Dấu Binh Lửa” của nhà văn Phan Nhật Nam, mà người bạn yêu lính nhờ tìm dùm. Không tìm được sách, tôi gọi hỏi tác giả. Nhà văn Phan Nhật Nam cho biết sách của ông có bán trên Amazon. Nhà văn Phan Nhật Nam đang sống ở Arizona, nhờ tôi tìm dùm sách của nhà văn Nguyễn Hiến Lê và sách của nhà văn Võ Phiến. Nhà văn Phan Nhật Nam yêu cầu tôi chỉ mua sách ở tiệm sách Tú Quỳnh, vì muốn giúp cho Yến. Nghe tôi gọi, Yến mừng lắm, vội soạn ngay sách mà nhà văn Phan Nhật Nam yêu cầu, hẹn thứ bảy Yến mở cửa tiệm sách tôi đến lấy sách.

          Đồng hương đến Tú Quỳnh mua sách không ai nở nụ cười, âm thầm chọn sách, lựa CD, DVD nhạc,… Hầu như không ai nói chuyện với ai, chỉ nói chuyện với bà chủ tiệm khi trả tiền. Trong các khách mua sách, có một người trẻ hỏi:

          – Cô ơi, sao cháu không thấy Chinh Chiến Điêu Linh của cô Kiều Mỹ Duyên và sách Phong Thủy của tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tung vậy?

          Bà chủ trả lời:

          – Chinh Chiến Điêu Linh và Phong Thủy bán hết từ lâu rồi, đâu còn quyển nào?

          Có những quyển sách đã bán hết. Sở dĩ Chinh Chiến Điêu Linh và Phong Thủy không còn nữa vì tái bản nhiều lần. Những tác giả có chương trình trên nhiều đài tivi, radio nên bán qua tivi, radio cũng đủ.

          Đồng hương nào đến tiệm sách Tú Quỳnh, khuôn mặt cũng buồn buồn. Buồn vì họ biết sẽ không còn có cơ hội gặp lại những người yêu sách, thích đọc sách sẽ có mặt ở đây.

          Hiện nay cũng còn những tiệm sách hiện diện ở miền Nam California như Tự Lực ở đường Brookhurst, thành phố Garden Grove; Văn Bút, Văn Khoa, Làng Văn, Phượng Oanh ở đường Bolsa, thành phố Westminster. Ngày xưa, cũng có vài ba nhà sách ở miền Nam Cali bây giờ đã đóng cửa. Mỗi lần nhà sách đóng cửa, sách chưa bán hết không biết sẽ làm sao?

          Một ông chủ nhà sách, sau khi tiệm sách đóng cửa nói với tôi:

          – Bán sách thành bán giấy, khoảng 90 cent/1pound. Đau lòng thật phải không quý đồng hương?

          Nhà văn Huy Phương, nhà văn quân đội, tù nhân chánh trị in quyển sách cuối đời, và lời tựa “Như Một Lời Chia Tay”, làm cho nhiều người ngậm ngùi. Tôi nói với nhà văn:

          – Tôi rất lạc quan vì Chinh Chiến Điêu Linh của tôi và Phong Thủy của tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tung tái bản 26 lần, vẫn có người mua để tặng cho bạn bè. Mỗi lần có tác giả từ bốn phương Trời đến Orange County ra mắt sách, sách đều bán hết, sách bán chạy như tôm tươi. Thư viện quốc gia, thư viện của các thành phố Hoa Kỳ vẫn có sách Việt Nam. Vẫn có người thích đọc sách, cầm quyển sách trên tay đọc vẫn thấy thoải mái hơn đọc trên computer. Vừa đọc sách vừa nghe nhạc vẫn thích hơn nghe người khác đọc sách qua CD.

          Sách vẫn là nhu cầu cần thiết cho những người thích đọc sách, thích mở mang trí tuệ. Người viết sách phải tìm tòi, phải nghiên cứu, phải đem tim, óc của mình ra để viết cho người khác đọc.

          Tôi không phải là nhà văn, tôi là nhà báo, nhà báo như nhà nhiếp ảnh. Nhiếp ảnh gia đưa máy ảnh lên chụp hình người, cảnh, nhà báo cầm cây bút viết ra những điều mình thấy, mình nghe và có đôi khi diễn tả cảm xúc của mình lúc thấy những cành nghèo khổ, hay sự hy sinh, can đảm, gan lì của người lính ở chiến trường.

          Kiều Mỹ Duyên rất quý mến những người cầm bút nói lến sự thật của cuộc đời hay hư cấu, hay tưởng tượng cũng là sự hy sinh. Người nào viết sách, in sách hay thành lập tiệm sách cũng hy sinh tim óc của mình để làm một việc gì đó mà mình cho là lý tưởng, làm việc gì đó vui hay hữu ích cho người khác cũng là việc làm có lý tưởng.

          Tôi rất quý mến vợ chồng ông Đăng Văn Thạnh, nhưng bây giờ một người đã vĩnh viễn ra đi, một người đàn bà yếu đuối còn lại, Yến. Tôi rất thương Yến, và nhiều người thương Yến, chủ tiệm sách Tú Quỳnh.

                   Tôi nói với Yến:

          – Cuối tháng này em dẹp tiệm, chị sẽ không đến, vì chị không muốn nhìn thấy cái cảnh biệt ly vĩnh viễn. Chị thích khai mạc tiệm sách hơn đến để tiễn đưa dẹp tiệm.

          Cũng như tôi thích đón người thân từ bốn phương Trời về thăm Cali, tôi không thích nhìn nước mắt rơi trên đôi mắt của những người đi hoặc người ở lại.

          Cầu mong cho những cơ sở thương mại được vững bền từ đời ông đến đời cha, đến đời cháu, vì làm việc gì cũng phải để tim óc của mình vào việc đó. Thành công thì vui lắm nhưng thất bại hay bất trắc xảy ra thì… buồn lắm bà con ơi.

          Tôi là người lạc quan thích vui hơn buồn, cho nên tôi thích niềm vui đến với tất cả mọi người. Tôi cầu nguyện cho Yến, chủ nhân còn lại của tiệm sách Tú Quỳnh, và tất cả quý đồng hương luôn mạnh khỏe, bình an, hạnh phúc và may mắn.

          Xin Thượng Đế cho mọi người được thương yêu và bình yên trong cuộc sống hàng ngày.

Orange County, 01/12/2020

Kiều Mỹ Duyên

(kieumyduyen1@yahoo.com)

Nhà sách Tú Quỳnh tại số 9581 Bolsa Ave, Westminster, CA 92683, trong khu Bolsa Mini Mall, là nhà sách đầu tiên của người Việt tị nạn tại nước Mỹ.

Tú Quỳnh là thư viện, đủ loại sách, là nơi mọi người có thể đọc lại những quyển sách một thời tuổi thơ.

Kệ trưng bày các băng cassette, VCD, DVD của các ca sĩ, nghệ sĩ nổi tiếng khắp thế giới

Cuộc họp báo giã từ đọc giả ngày 13/10/2020. Kiều Mỹ Duyên, cựu nghị viện Tony Lâm, bà Phan Hoàng Yến, ông Lương Văn Tỷ và giáo sư Tô Văn Lai ngậm ngùi chia tay nhà sách Tú Quỳnh.




Lục Vân Tiên – VTLV Mạn Đàm Phần 4 (Hết)




CÕI ÂM

https://www.facebook.com/vth.ntt

1

Tôi tốt nghiệp đại học tài chính đúng lúc kinh tế Pháp xuống dốc. Kiếm việc lúc bấy giờ khó ơi là khó, nhớ lại mà rùng mình. Đã tưởng một khi cầm được mảnh bằng trong tay ắt đời phải phơi phới lên hương, thế mà rốt cuộc lũ sinh viên vừa ra trường vẫn phải chạy đôn chạy đáo để xin một việc làm bất kỳ mà không được, khốn nạn là thế. Tôi nộp đơn vào ngành bưu điện là ngành tréo cẳng ngỗng nhất hạng đối với chuyên môn của mình vì chẳng còn đường nào khác. Những người trên thông thiên văn dưới thông địa lý bảo: đó chính là nơi duy nhất tôi có cơ may được nhận.
Đơn gửi đi rồi, tôi dài cổ chờ. Một tháng. Rồi hai tháng. Đùng một cái, giữa tháng thứ ba, đang lui cui rửa chén ăn lương giờ cho một quán ăn Tàu, tôi nhận được giấy làm việc ở Sermages thuộc vùng Basse Normandie. Mừng khôn tả. Thiếu nỗi phát điên.
Sermages là một thị trấn nghèo, với hơn trăm ngàn dân, bé tẹo và già lão, nhà cửa ọp ẹp. Ở ven đô còn sót lại một cổng đá hộc đầy hoa phong lữ, một cái hào sâu tối om dưới bóng những gốc tiêu huyền rậm rạp, một pháo đài đổ nát không biết từ thế kỷ nào… Một thị trấn thích hợp với những ông già chờ chết, nhưng không phải với tôi.
Đồng nghiệp trong sở ăn vận chững chạc, nói năng điềm đạm, có điều rất chi hờ hững với thằng tôi lính mới cứ như thể tôi đã ở bên họ từ khươm mươi niên nào. Nói tóm lại, đó là dân Ăng Lê bên này biển Manche, những robots cổ cồn chính hiệu. Thôi thì đành tự thân vận động, được đến đâu hay đến đó, trời sinh voi trời sinh cỏ. Tôi lấy tạm một phòng hẹp gần sở, trả theo tuần, trong một nhà trọ tồi tàn, có rệp, được mỗn cái giá cũng phải chăng. Từ từ rồi sẽ kiếm cho mình một căn hộ, hoặc một ngôi nhà nhỏ, tôi tính thế. Đã đến lúc phải sống cho ra sống. Chẳng gì bây giờ mình cũng là một viên chức, dù là viên chức quèn. Sermages đâu phải nơi phồn hoa đô hội, giá nhà thuê không thể quá đắt. Vĩnh biệt những chambres de bonnes áp mái ở Paris, mùa hè như trong lò bánh mì, mùa đông tha hồ diện áo ấm trong nhà, nơi trú ngụ của bộ lạc sinh viên nghèo.
Tìm nhà ở đây tưởng dễ, hoá không phải. Lang thang đến vẹt gót giày trong cái tỉnh lỵ bằng cái giạng đái, nói ngoa theo cách người xưa, thế mà hai tháng qua cái vèo vẫn chưa kiếm được chỗ nào ưng ý. Nhà ở cũng như đàn bà, người mình ưng thì không ưng mình, người ưng mình thì mình lại không ưng.
May cho tôi gặp được Ngoạn.
Ngoạn cho biết: ngoài anh và tôi ra, ở chốn đèo heo hút gió này không có một người Việt nào khác. Giúp tôi là nghĩa vụ người đến trước, anh vỗ vai tôi đồm độp, nói bằng giọng đàn anh che chở. Được ăn nhiều thịt hươu thịt vượn từ tấm bé trước khi vượt biên đến xứ này, tôi nghe vậy biết vậy, chứ chẳng mấy tin.
Thấp, đen, cục mịch, với một sợi lông dài mọc ra từ một nốt ruồi trên má, Ngoạn giữ nguyên dáng dấp một ông phó cối vùng đồng bằng Bắc bộ ngày xưa, mặc dầu anh đã ở Pháp trên hai mươi năm. Ngoạn làm nghề sửa chữa vặt trong nhà, người Pháp gọi là plombier. Một thằng không bằng cấp, lại vợ đầm (tốn hơn vợ ta nhiều), hai con nhỏ (tốn hơn con ta nhiều), làm plombier là tốt nhất, anh bảo thế. Plombier là thợ đặt đường ống, theo nghĩa nguyên thuỷ, nhưng plombier làm tuốt tuột mọi việc linh tinh lang tang như mở khoá hóc, đặt hố xí, sửa chữa cửa rả, chạy dây điện ngầm…

  • Giờ công việc oải lắm, cậu ơi. Kinh tế mà đã xuống thì kiếm tiền bằng nghề chó nào cũng vất – Ngoạn tâm sự trong một quán cà phê, nơi mọi ghế ngoài vỉa hè đều xếp quay mặt ra đường, rất Paris – Cậu ngồi bàn giấy, trông thì bảnh, cơ mà chông chênh lắm… Mất việc lúc nào không biết. Ngay cả với nhân viên nhà nước.
    Tôi buồn rầu hình dung cái viễn cảnh ấy. Dễ như Ngoạn nói lắm.
  • Mất việc thì đi làm với tớ – thấy tôi thở dài, Ngoạn an ủi – Nghề tớ không sang, khó thì khó, vẫn còn có đồng ra đồng vào…
  • Anh Ngoạn ạ, gặp anh tôi thật may.
  • May cái con khỉ. Này, đừng gọi tớ là Ngoạn, phải gọi là Nô Ăng, theo cách bọn Tây gọi, chứ không thì đến con vợ tớ nó cũng không hiểu. Bọn Tây không phát âm được vần ng, chúng nó đổi béng cái tên của tớ thành Noan. Cho tiện. Được nghe cậu gọi tớ bằng tên cúng cơm, thấy đã con ráy.
    Tôi kể nông nỗi đi tìm nhà. Anh gật gù, suy nghĩ.
    Một tuần sau anh gọi điện cho tôi biết đã tìm được một căn nhà ngoại ô.
  • Mình xem mấy cái, ưng được cái này. Một đôi thì vừa xinh. Một mình thì quá rộng. Ở lâu được, không phải kiếm chỗ khác.
  • Nhà nhiều phòng?
  • To đùng.
  • Tôi chưa định lấy vợ. Nhà to thì tiền to, hãi lắm.
  • Đã biết là bao nhiêu mà rộn. Rẻ rề hà.
    Tôi chờ Ngoạn cho tôi biết tiền nhà, nhưng anh không vội nói ra.
    Anh miêu tả căn nhà, bảo:
  • Không sang, được cái rẻ.
    Anh xướng lên giá thuê. Tôi trợn mắt.
    Làm sao Ngoạn có thể tìm được ngôi nhà với giá hời đến thế?
  • Làm plombier chẳng khác gì làm anh cắt tóc, tha hồ nghe, đủ chuyện tào lao thiên tôn. – Ngoạn nhẩn nha giải thích – Chủ nhà nào cũng thế, cũng hay tâm sự vụn trong lúc ngó nghiêng mình làm việc. Nhất là các ông bà già. Mình nói có ông bạn cần nhà, thế là người nọ mách, người kia mách, chỉ còn có việc nhấc điện thoại mà hỏi. Giỏi gì đâu.
    Những ngôi nhà tôi đã xem cái nào cũng đắt, giá thuê nếu không gấp ba trung bình thì cũng gấp đôi. Tiếc nỗi, từ căn nhà ngoại ô này đi bộ đến sở tính ra mất gần một tiếng, gặp xe buýt thì cũng phải hai mươi phút. Xe buýt ở đây thưa, nửa giờ một chuyến, lại hay đỗ vặt.
    Nhà sẵn đồ đạc, nhiều nữa là khác. Đến nỗi Ngoạn định sẻ cho tôi một ít đồ dùng ở nhà anh, rốt cuộc chẳng phải mang đến thứ gì.
    Đưa cho tôi chìa khoá, ông già chủ nhà dặn:
  • Mọi thứ ở đây ông cứ việc dùng. Điều kiện duy nhất là đồ đạc trong nhà xin ông đâu để nguyên đó, đừng xê dịch. Nếu ông không chịu thì coi như vụ này không thành.
    Tôi chấp nhận điều kiện ấy ngay lập tức, như bất cứ người thuê nhà gặp giá rẻ nào. Thế này là tốt quá rồi, khỏi phải lang thang các siêu thị, rẽ vào các cửa hàng đồ cũ, tha lỉnh kỉnh trăm thứ bà rằn về nhà.

2

Thế mà rồi tôi quên bẵng lời hứa.
Ở được vài hôm, thấy cái giường đặt ở vị trí đối diện lò sưởi là không phải lối, tôi quyết định dịch nó ra bên cửa sổ, vừa có nhiều khí trời, vừa nhiều ánh sáng, đi làm về có thể nằm ườn ra đọc sách mà không cần phải bật điện. Cái tivi cổ lỗ, thuộc thế hệ tivi màu đầu tiên, to như một tủ lạnh, cũng cần đẩy qua bên phải một chút, xoay lại vị trí để cái màn hình đã bạc phếch không bị phản quang do ánh sáng từ cửa sổ chiếu vào.
Một đêm, chợt thức giấc, tôi thấy có bóng người ngồi thu lu trong chiếc ghế bành đặt bên lò sưởi. Nửa tỉnh nửa mê, tôi nhận ra đó là một người đàn ông đứng tuổi vận áo choàng đen, đội mũ phớt. Tôi nổi da gà. Tôi ở một mình, cửa đóng then cài, làm sao có người vào được?
Trong ánh sáng mờ mờ của sao trời chiếu qua cửa sổ tôi thấy người đó không có vẻ một tên trộm. Trộm gì mà bình thản đến thế trong căn nhà nó đột nhập?
Những gì tôi đọc được thì trong tình huống như thế này cách xử sự khôn ngoan nhất là vờ ngủ say. Người vờ ngủ say, cả trong nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, trong mọi mối quan hệ cá nhân cũng như quan hệ xã hội, người sống theo nguyên tắc ba không – không biết, không nghe, không thấy – bao giờ cũng tìm được lối thoát an toàn.
Mắt hé mở, tôi nhìn thấy tên trộm yên vị một lúc lâu trong bóng tối. Ngồi chán, hắn đứng lên, đi đi lại lại, dáng suy nghĩ, đầu hơi cúi, bàn tay phải đưa lên gãi cằm. Rồi đến bên lò sưởi, hắn nhấc từng thứ trên đó lên mà ngắm nghía. Đầu tiên, hắn ngó nghiêng quan sát kỹ tượng cô vũ nữ pha lê với cánh tay trần bị gãy đã được gắn lại bằng keo trong, rồi đến cái bloc lịch bằng gỗ mà thời gian chết cứng với ngày tháng không đổi, thứ lịch không có năm nên không thể biết được nó dừng lại từ năm nào… Trên lò sưởi là cả một lô một lốc đồ không tên, không biết có tự bao giờ, không hiểu được dùng vào việc gì, tất cả chen chúc nhau trên một diện tích bé nhỏ. Cái nào cũng được tên trộm nhấc lên xem xét với vẻ trìu mến. Đáng ngạc nhiên là hắn không bỏ bất cứ thứ gì vào túi. Xem xong cái nào hắn lại nhẹ nhàng đặt vào chỗ cũ. Cái đáng giá nhất trong số những đồ vật ấy là cái ví của tôi, thì hắn thậm chí không thèm cầm lên.
Sau đó tên trộm đi một vòng căn nhà. Rồi lặng lẽ nhìn về phía giường tôi bằng cái nhìn không mấy thiện cảm, tôi không nhìn rõ nhưng cảm thấy thế bởi điệu bộ lầm lì của hắn.

  • Hừ.
    Hắn phát ra một tiếng duy nhất kể từ lúc tôi thấy hắn.
    Thế rồi hắn bắt đầu cúi xuống. đẩy cái tivi trở lại chỗ cũ. Sau cái tivi là cái ghế bành. Công việc rõ ràng nặng nhọc, tôi nghe hắn thở phì phò. Xong cái ghế, hắn tiến về phía chỗ tôi nằm. Một bầu không khí lạnh lẽo trùm lên tôi, càng lúc càng lạnh hơn, cùng với bước chân nhẹ như bước chân mèo của hắn. Trong khi hắn cố gắng đẩy, tôi có cảm giác thân hình hắn phình to dần, to mãi, trùm lên cả cái giường đang nhích đi từng chút một. Trong bóng đêm dày đặc ở chỗ tôi nằm, cặp mắt hắn gắn chặt vào mặt tôi.
    Tôi hét lên, chồm dậy, giơ tay vớ công tắc đầu giường.
    Đèn bật sáng. Tên trộm biến mất. Tôi run rẩy, mãi mới xỏ chân được vào dép, nhìn quanh căn phòng trống rỗng. Thở hổn hển, người lạnh toát vì sợ, tôi quỳ xuống, ngó vào gầm giường. Chẳng có quái gì hết.
    Tôi đi sang phòng ăn, vào bếp, vào phòng ngủ vẫn để trống từ khi tôi dọn đến. Không có gì hết. Kiểm tra lại mọi khoá cửa thấy vẫn y nguyên.
    Tôi ngồi phịch xuống giường, toàn thân ướt đẫm mồ hôi lạnh.

3

Tôi không kể cho Ngoạn nghe chuyện xảy ra. Tôi ngượng. Khi người đàn ông sợ ma, thiên hạ sẽ nhìn hắn như con nít.
Câu chuyện ban đêm tôi vừa kể không phải đến đấy là hết. Sau lần ấy là những lần khác.
Bây giờ tôi đã biết đích xác tên trộm là ai – một hồn ma. Ma thật sự. Các nhà bác học đeo kính trắng trong các phòng thí nghiệm giải thích hiện tượng hồn ma theo đủ mọi cách, thậm chí với những sở cứ có vẻ khoa học, tôi đã đọc. Nhưng tôi là thằng thực tiễn – tôi thừa nhận cái tôi thấy, giải thích cách gì đối với tôi cũng bằng thừa.
Khốn nạn cho tôi là ở chỗ, sau khi thừa nhận sự hiện hữu của con ma nọ, tôi chẳng biết phải làm gì nó? Đánh nhau với nó thì không được rồi – ai cũng biết ma chỉ là cái bóng. Chỉ còn nước bỏ ngôi nhà này mà đi? Để rồi bắt đầu lại, một lần nữa, cuộc lùng kiếm chỗ ở mới, rất mất thời giờ, nghĩ đến đã phát ớn?
Hồn ma nọ còn hiện về vài lần nữa, lần nào cũng như lần nào, với những cử chỉ lặp lại. Hắn rõ ràng chẳng có ý làm khó cho tôi. Hắn lẳng lặng làm công việc hắn muốn làm, và chỉ có thế. Như tôi đã kể, hắn hiền lành cầm các đồ vật lên ngắm nghía, hì hục đẩy các đồ bị xê dịch về chỗ cũ, một cách bực dọc và hoàn toàn vô tích sự – hôm sau tôi vẫn thấy chúng ở nguyên chỗ. Hắn có vẻ một hồn ma đứng đắn. Mọi cử chỉ của hắn đều khoan thai, chững chạc.
Thôi thì thây kệ, tôi nghĩ, mặc cho hắn làm cái việc hắn muốn. Xét cho cùng, sự hiện diện của hắn đâu có gây ra điều gì tệ hại cho tôi? Nếu hồn ma không đủ sức đẩy đồ vật thì hắn có thể làm được gì với tôi, một thằng người trên sáu chục kí lô?
Có điều sau mấy lần quan sát hắn đánh vật với mấy thứ bị tôi dịch chuyển, tôi đâm ra ái ngại cho hắn. Hắn quá vất vả. Mà hoài công. Nếu là tôi, tôi sẽ vứt ngay cái công việc vô tích sự và mất sức ấy. Hì hục như thế để làm gì cơ chứ?
Còn tôi, tại sao tôi không thể giúp hắn một chút? Gì thì gì, để hắn khốn khổ thế là không nên. Làm người phải có lương tâm. Nghĩ rồi, tôi làm liền, tức là đẩy trả lại mấy đồ vật về chỗ mà hắn muốn.
Đêm đến, hồn ma nghiêng ngó ngắm nghía cái tivi, cái ghế bành, cái giường. Hắn phát hiện ra sự thay đổi vị trí. Hắn tỏ vẻ hài lòng. Thay vì kiểm lại những đồ vật trên lò sưởi, hắn đi bách bộ trong phòng. Trông dáng đi của hắn, nhẹ nhàng chứ không uể oải, hơi nhún nhẩy nữa là khác, tôi biết hắn vui. Hình như hắn còn huýt sáo miệng nữa.
Cuối cùng, xoa hai tay vào nhau, hắn quyết định đi về phía tôi nằm.

  • Này ông bạn!
    Tôi nghe hắn dừng lại ở chân giường.
  • Đừng có giả vờ, tôi biết thừa…
  • Hừm, – tôi ọ ẹ – Tôi ngủ hay tôi thức mắc mớ gì tới ông?
  • Ông bạn này – hắn định đặt tay lên vai tôi, nhưng nghĩ sao, hắn rụt tay lại – Dậy đi!
  • Hừm – tôi lại nói.
    Lạ một cái là tôi không cảm thấy sợ như lần đầu thấy hắn. Nhìn vóc dáng hắn thì thấy hắn đã ở tuổi về già. Hắn có vẻ hiền lành, không phải là loại trẻ để có thể giở trò nghịch ngợm vô trách nhiệm.
  • Ông bạn tốt hơn là tôi nghĩ đấy.
  • Hừm – tôi đáp, vẫn nằm yên chỗ.
  • Này – hắn gọi tôi – nhà có cà phê không?
  • Cà phê hử? Có – tôi che miệng ngáp, vẫn giả giọng ngái ngủ.
  • Tuyệt! – hắn nói, lại xoa hai tay vào nhau, vẻ hài lòng.
  • Capuccino, được không? – tôi hỏi hắn một cách không nhiệt tình.
  • Capuccino? – hắn hỏi lại.
  • Có hộp capuccino hoà tan đấy. Ở trong tủ…
    Hắn nhún vai:
  • Capuccino hoà tan? Ồ, không, tôi không bao giờ xài loại ấy.
  • Tôi không có thứ nào khác.
  • Cả đời tôi chỉ uống expresso. Không dễ gì mà bỏ một thói quen lâu ngày như thế.
    Đúng là một hồn ma Pháp. Hồn ma Anh sẽ không đòi cà phê, mà trà sữa.
  • Ờ, thói quen là thứ không dễ bỏ – tôi lầu bầu – Nhưng đào đâu ra expresso bây giờ? Phải ra tận ga mới có một quán cà phê đêm, ông ơi. Mà là cà phê Thổ, loãng toẹt.
  • Đi uống cà phê vào giờ này ấy à? Có mà điên. Nhà có cà phê bột không?
  • Có. Tôi mới mua, hàng hạ giá. Pha kiểu Thổ ư?
    Hắn lắc đầu:
  • Không. Tôi không thích. Trong nhà có máy pha expresso, ông không biết à?
  • Không.
  • Có đấy. Để tôi chỉ cho ông bạn. Hoá ra ông là một thằng lười – hắn càu nhàu – Ở trong nhà ngần ấy thời gian mà không thèm biết có thứ gì, ở đâu…
  • Cái đó đúng, tôi vốn lười.
  • Dậy đi!
    Tôi uể oải ngồi dậy. Trong phòng tối om. Tôi sờ soạng tìm công tắc điện. Hồn ma giơ tay ngăn:
  • Đừng bật đèn. Tôi không thích ánh sáng. Thắp nến đi, nếu ông muốn. Ông biết nến ở đâu chứ?
  • Không.
    Hắn cười hí hí, hoặc tôi có cảm giác như thế. Tôi nghe thấy tiếng của tôi phát ra, chứ tiếng của hắn thì không. Tưởng chừng nghĩa của câu nói phát ra từ miệng hắn đi thẳng vào nhận thức của tôi, thứ lời nói không mảy may làm rung động không khí.
    Hắn dẫn tôi vào căn phòng nhỏ, thứ phòng chứa đồ, mà tôi chưa hề ngó tới vì sự ngổn ngang trăm thứ bà rằn trong đó. Hắn chỉ cho tôi chỗ để mấy hộp nến. Rồi hắn chỉ tiếp cho tôi lấy ra trong hộc một cái tủ xiêu vẹo, một cái máy pha cà phê Krups nằm bên dưới đủ thứ đồ tập tàng. Thứ máy cổ lỗ sĩ này chẳng còn ai dùng, áp suất hơi của nó quá thấp.
    Tôi vào bếp, bật ga, đun nước. Hắn uống cà phê, còn tôi sẽ uống trà đen. Uống cà phê lúc này có mà thức đến sáng.
    Hắn đứng gần tôi, ngay bên cạnh. Tôi rất muốn nhìn xem mặt hắn thế nào, mà ngại. Biết chỗ để nến rồi tôi cũng không muốn thắp lên là vì thế. Tôi sợ nhìn thấy một cái đầu lâu với hai hố mắt sâu hoắm như những hồn ma trong phim kinh dị của Mỹ. Những hồn ma Mỹ thường giống nhau, chắc hẳn do người Mỹ tiết kiệm, phim nọ dùng lẫn chế vật của phim kia. Một cái đầu lâu dưới vành mũ sùm sụp chắc hẳn rất gớm ghiếc. Hình như hắn dễ coi hơn, dưới vành mũ là một cái mặt chứ không phải một cái đầu lâu, tôi nhác thấy nó trong một thoáng, do vô tình, lúc chúng tôi đi song hàng.
    Hắn hài lòng thưởng thức ly expresso. Hắn uống chậm, từng hớp nhỏ. Với tư cách chủ nhà, tôi hài lòng thấy khách hài lòng. Chúng tôi ngồi cách nhau mấy bước, hắn – trong ghế bành, tôi – trên ghế tựa.
  • Ông bạn, e hèm, biết nói thế nào nhỉ, ừm…
  • Sao?
    Hắn gãi đầu:
  • Tức là, tôi muốn nói, ông là người, hì hì … kể ra… cũng được đấy!
  • Ông quá khen.
    Hồn ma gật gù:
  • Trước hết, tôi phải cảm ơn ông.
  • Ơn huệ gì!
  • Ơn chứ. Rốt cuộc, rồi ông đã chiều theo ý tôi trong việc trả lại mấy thứ nọ về chỗ cũ. Tính tôi thế: tôi không thể nào chịu được khi thấy đồ đạc bị di chuyển khỏi chỗ mà tôi đã chọn cho chúng.
  • Có thể đó là một tính tốt. Ít nhất thì nó cũng là một cái quyền mà người ngoài không nên xâm phạm.
    Hắn cười.
  • Tôi không nghĩ rằng ông làm việc tốt cho tôi nhờ lý trí mách bảo. Ông hiểu chứ? Hừm, biết nói thế nào nhỉ, ở ông ấy, trong việc làm tốt đối với tôi có sự dự phần của tấm lòng, nhờ vào khả năng biết cảm thông với tha nhân, hay nói cách khác, khả năng tìm ra cách hành xử phải đạo do biết đặt mình vào vị trí kẻ khác….
    Lời khen của hắn làm tôi bối rối. Tôi ngượng.
  • Đó chẳng qua là sự lui bước của tôi trước sự kiên trì đáng nể của ông thôi. Hoặc là sự thoả hiệp với tình thế bất khả kháng…
    Hắn nhún vai:
  • Ông khiêm tốn. Điều đó có lợi cho ông. Nhờ khả năng đáng quý ấy ông vượt qua được cảm giác sợ…
  • Tôi chưa hiểu ý ông.
  • Có gì mà không hiểu. Ông thú nhận đi, lần đầu ông thấy tôi ông đã sợ tôi, sợ muốn chết…
    Hắn dùng thời quá khứ khi nói rằng tôi đã sợ hắn. Quả thật bây giờ, không hiểu sao, cảm giác ấy không còn. Tự nhiên, tôi không thấy sợ hắn nữa.
    Nghĩ cũng lạ, thoạt đầu tôi còn hơi sợ một tí, giờ thì không sợ chút nào. Tôi lý luận: nếu không phải một vật thể, cái bóng ngồi trước mặt tôi kia chỉ là một khái niệm. Sợ một khái niệm là dở hơi. Ma, với tôi, và với rất nhiều người, chỉ là một khái niệm. Còn hơn thế, một khái niệm rất đỗi mù mờ.
  • Vâng, tôi đã sợ ông. – tôi gật đầu – Đúng thế. Nhưng khi thấy ông quá vất vả xử lý mối mâu thuẫn giữa hai ý muốn của tôi và của ông, thì tôi đâm ra ái ngại.
  • Hay thật!
  • Khi tôi ái ngại thì cảm giác sợ hãi biến dần. Rồi hết. Ở đời, ông ạ, xét cho cùng, có lắm cái đáng sợ hơn nhiều…
  • Chính xác – hắn gật gù.
  • Có thể còn có một nguyên do khác. Ông không biết chứ tôi đã từng sợ, sợ nhiều thứ, sợ bóng sợ gió, sợ tất cả, sợ lắm lắm.
  • Mon Dieu, Trời ạ.
  • Không phải mình tôi, cả thế hệ chúng tôi sợ, còn hơn thế, cả một giống nòi tôi sợ, ông hình dung nổi không: cả-một-giống-nòi? Không hả? Chúng tôi được huấn luyện từ tấm bé để mà sợ.
  • Có chuyện ấy à?
  • Kết cục là chúng tôi không phải chỉ sợ cái đáng sợ, chúng tôi còn sợ cả những cái chẳng có gì đáng sợ nữa. Trong ngôi nhà của mình, chúng tôi đi lại len lén. Trong thành phố của mình, trong nhà của mình chúng tôi nói chuyện với nhau bằng giọng thì thào, nhìn trước nhìn sau, chúng tôi theo dõi những câu nói của chính mình, lúc nào cũng e phạm phải điều gì cấm kỵ, và lo lắng nhỡ điều đó bị phát giác, bị bẩm báo…
  • Khiếp. Đến thế kia ư?
  • Hì hì, tôi biết mà, ông mù tịt về cái đó, ai không nếm trải nỗi sợ ấy người đó chắc chắn không hiểu nổi. Cả ông nữa, ông cũng không phải ngoại lệ, cho dù ông có là… – tôi định nói “cho dù ông có là ma”, nhưng kịp kìm lại – Tuy nhiên, cái gì cũng có giới hạn. Khi sợ quá nhiều và quá lâu, người ta ắt trở thành dạn dĩ, chẳng sớm thì muộn…
    Nhìn hơi nước lởn vởn trên miệng tách cà phê của hắn, tôi nhắc:
  • Ông uống đi kẻo nguội.
  • Tôi đang uống đây. – hắn nói và cúi xuống nhắp một ngụm – Phải thú thực với ông: khi thấy ông sợ tôi, tôi cũng khoái. Đến khi ông không sợ nữa, thì, ông biết không, tôi hơi buồn một chút. Con người ta bao giờ cũng khoái được thấy người khác sợ mình. Ông nói tiếp về cái sợ của ông đi.
    Hắn nói “con người ta” ngon lành, như thể hắn không phải là ma.
  • À, cái sợ… Nó khủng khiếp một cách âm thầm. Tức là, người ta sợ đấy, mà bề ngoài thì như không. Tôi biết có người chỉ nói hớ có một câu xét cho cùng là vô thưởng vô phạt, vậy mà anh ta sợ đến phát khùng, anh ta cứ đinh ninh rồi sẽ phải trả giá đắt cho câu nói ấy, anh ta dỏng tai nghe ngóng mọi phản ứng, cho đến khi biết chắc rằng chẳng ai nghe thấy nó hết…
  • Sợ là một xúc cảm tồi tệ. Tệ hơn bất cứ cảm xúc nào – hắn trầm ngâm – Nó hạ thấp con người.
  • Đúng thế. Điều khả dĩ có thể an ủi ta là kẻ bắt người sợ mình xét cho cùng lại chính là kẻ cũng sợ… một kẻ khác chẳng hạn. Thật vớ vẩn, phải không ông?
    Tôi triết lý vụn, rồi cười cái triết lý của mình. Hắn gật gù cười theo.
  • Ông có thể kể cho tôi nghe đôi điều về cái mà chúng tôi gọi là cõi âm của ông không? – cà phê kích thích tôi, hay là cái gì khác: nỗi buồn man mác chợt đến trong đêm, hay nỗi chán ngán một cái gì không biết và còn hơn thế, không hiểu – Với tôi, câu trả lời của ông hẳn sẽ rất thú vị.
  • Ông nói ông lười cả tò mò cơ mà.
  • Tôi vẫn lười, cả trong sự tò mò này. Nếu ông không muốn kể, tôi sẽ chẳng vật nài. Tôi không tò mò đến cùng. Tôi chỉ tò mò nhân tiện mà thôi.
    Hắn có vẻ suy nghĩ. Trong bóng tối tôi vẫn chưa thấy mặt hắn. Nửa trên bị vành mũ che khuất, còn nửa dưới thì lẫn vào màu đêm.
  • Chẳng có gì đặc biệt đâu ông ơi. – hắn nói sau một ngụm cà phê – Nó, cõi âm, chỉ là cái âm bản của sự sống mà ông biết. Các ông sống, còn chúng tôi sống lại cái sự sống đã qua. Những cư dân của cõi âm không bao giờ biết đến cái gọi là tương lai. Đối với chúng tôi tất cả đều là quá khứ. Chúng tôi sống trong cái khuôn của thời hiện tại-quá khứ nơi mỗi người.
  • Tại sao lại như thế?
    Hắn cười hích hích:
  • Tại sao, tại sao? Ông cứ như một đứa trẻ vậy.
  • Nhưng mà tại sao chứ?
  • Tại vì chúng tôi đã có tất cả những gì chúng tôi từng có, từ điểm khởi đầu cho tới chỗ kết thúc. Chúng tôi chỉ tồn tại bên trong biên cương của cái khoảng ấy mà thôi.
  • Thế thì chán quá nhỉ?
    Hắn có vẻ phật ý:
  • Không chán hơn nơi người sống đâu. Ông không gặp những người còn sống phây phây mà cuộc đời lại gắn chặt với quá khứ đến nỗi gỡ không ra à?
  • Ờ, cái đó quả có thật. Chẳng hạn như lão tổng thống quá cố của chúng tôi, những năm cuối đời lão ta chẳng biết làm gì khác ngoài việc vỗ ngực khoe những việc lão làm… Mà có tốt đẹp gì cho cam.
  • Tôi biết lão – hắn ngắt lời – Ở cõi âm chúng tôi di chuyển nhanh lắm, như chớp ấy, hoặc nói theo cách bây giờ, nhanh hơn ánh sáng, ông không tưởng tượng nổi đâu. Nhưng tôi không khoái chơi với lũ ngợm ấy. Tôi tởm. Có một thằng cha lúc nào cũng lảm nhảm “Bóp chết từ trong trứng! Cho tuốt vào nhà đá! Bắn bỏ!”, hắn la hét suốt. Khốn nạn, có hồn ma nào buồn nghe hắn đâu. Tuy nhiên, về một mặt nào đó, chúng tôi giống nhau, đáng chán là thế … Tuy chúng tôi không sống bằng quá khứ như hắn, nhưng tựu trung mọi hồn ma đều là những kẻ sống trong quá khứ…
  • Thế còn cháo lú? – tôi rụt rè hỏi – Chuyện đó thế nào?
  • Cháo lú? – hắn hỏi lại – À, tôi hiểu rồi. Ông muốn nói cái món súp miễn phí ở đầu đường vào cõi âm.
    Tôi ngạc nhiên:
  • Vào cõi âm cũng phải đi qua một cái ngưỡng, tựa hồ biên giới giữa các quốc gia sao?
    Hắn nhìn tôi, tủm tỉm:
  • Đại khái vậy. Nhưng cõi âm là một quốc gia đặc biệt, ở đấy không có bất cứ sự phân biệt nào trong mọi nhóm dân cư của nó, không màu da, không chủng tộc, không giàu nghèo, không có sự phân biệt giữa VIP và dân thường. Đi vào đó không phải trình hộ chiếu có visa…
  • Có phải ăn cháo lú xong thì linh hồn sẽ quên sạch mọi sự đời?
  • Không một thứ thuốc an thần nào có thể sánh với nó, cái cháo lú ấy – hắn nói với giọng pha chút khoe khoang – Ông tưởng chỉ ở cõi âm mới có cháo lú sao? Ở cõi dương cũng có đấy. Nó được trộn lẫn vào các bài báo, các làn sóng phát thanh, các chương trình truyền hình, các cuốn sách…
  • Ồ, cái đó thì tôi biết quá đi chứ!
  • Ở cõi dương cháo lú còn có một chút lừa mà người tỉnh táo biết được, ở cõi âm người ta không lừa ai. Ai chả biết rằng cuộc đời nào cũng vậy, chẳng nhiều vui thú, húp một đĩa cháo lú là sẽ quên sạch mọi ưu sầu. Nó chẳng qua là thứ cháo thí cho những linh hồn đau khổ. Chao ôi, ông không tưởng tượng nổi đâu. Các linh hồn xô đẩy, chen lấn, tranh nhau thứ cháo miễn phí ấy. Cảnh tượng phải nói là khủng khiếp. Thậm chí họ còn xô đẩy nhau để được nhận suất cháo phát chẩn, nhà bếp luôn tay múc không kịp…
  • Còn ông?
  • Không. Tôi không húp.
  • Tức là, không bắt buộc?
  • Đâu có. Bắt buộc chứ. Nó là cái lệ cho tất cả.
  • Nhưng bằng cách nào ông không…
  • Dương sao âm vậy, ông ơi, đã không muốn thì cũng có cách để tránh. Mấy anh chàng trông coi vụ phát chẩn cũng như những công chức, họ chắp tay sau lưng đứng nhìn, thỉnh thoảng la hét vài tiếng lấy lệ. Chỉ cần láu cá một chút, lăng xăng thay đổi chỗ xếp hàng, làm ra vẻ mình đã húp rồi… Bọn lãnh tụ, vua quan mà tôi nói ấy, sở dĩ còn nhớ quá khứ là vì chúng vẫn giữ nguyên thói trí trá khi còn sống.
  • Hay nhỉ? Tôi hiểu. Vì không ăn, ông nhớ được tất cả?
    Hắn gật. – Ờ… Tôi giả vờ húp vội húp vàng cho xong – im lặng một lát, hắn tiếp -Lừa lúc thiên hạ không để ý thì quay mặt đi mà nhổ ra.
  • Nhưng ông vừa nói: thứ cháo đó tốt. Nó có mục đích nhân đạo.
  • Ông nói “nhân đạo”? Những kẻ chế ra cháo lú, ở cõi dương cũng như ở cõi âm đều muốn mọi người nghĩ chúng nhân đạo, chúng làm tốt cho mọi người. Ông hãy hình dung một con người không nhớ gì hết, không còn phân biệt tốt xấu hay dở, không biết mình là ai…
  • Ờ nhỉ, thế thì chán thật.
  • Tôi không húp vì tôi còn mấy việc dang dở. Tính tôi thế, làm cái gì chưa xong thì trong lòng bứt rứt. Chẳng hạn như cái tượng vũ nữ ba lê này. Tôi rất thích nó. Đặt nó lên đĩa hát đang quay, trông nó sống lắm, cứ như nó đang múa thật. Một hôm tôi vô ý đánh rơi, làm nó gãy một tay. Tôi đã thử gắn lại bằng mọi thứ keo, chẳng cái nào cho hiệu quả ưng ý. Ông nhìn kỹ thì thấy cái tay gãy tôi gắn hơi lệch.
  • Ông muốn làm nốt những việc ấy?
  • Phải. Nhưng tôi nhầm.
  • Ông không gắn lại được?
    Hắn buồn bã thở dài:
  • Nhầm là nhầm thế này. Đã vào trong cõi âm rồi thì mọi việc trần thế là xong tuốt, chẳng còn cái gì làm tiếp, làm thêm, được nữa. Chỉ có thể nhớ lại thôi. Nhưng nhớ tuốt tuồn tuột quá khứ, cái gì cũng nhớ, thì ngán lắm. Những bước gian truân mình đã nếm trải nay lại trở về với nó lần nữa, rồi lần nữa, như một cuốn phim phải xem đi xem lại… Hay một cuộc tình đã xa, nay tự nhiên phải nhớ lại, chẳng cần ai nhắc cũng nhớ, với đầy đủ chi tiết, và hàng trăm lần y như nhau… Ối giời, mệt vô cùng. Người tình của mình thì đã húp sạch sành sanh đĩa súp lú, gặp mình, nàng ngơ ngác: “Ủa, ông là ai”?
    Một đêm khác, tôi hỏi hắn:
  • Ông bạn này, một con ma, xin lỗi, tôi muốn nói một linh hồn, có thể phù hộ cho một con người không?
  • Ông định lợi dụng tôi đấy hử? – hắn chặn ngang, cười hích hích – Ông định nhờ tôi cái gì đây? Một dãy số loto độc đắc? Một áp phe có lợi?
  • Không, ông hiểu nhầm rồi – tôi vội vã cải chính – Tôi không có ý ấy. Tôi chỉ tò mò thôi.
  • Ông tò mò hơi nhiều – hắn hấm hứ.
  • Chả là tôi muốn kiểm chứng điều thiên hạ tin – đành phải phân trần với hắn – Ông không thấy những người đến với Chúa, với Phật cùng mọi thứ thần thánh trong mọi thứ đền thờ không phải chỉ để tỏ lòng ngưỡng mộ, sùng kính hay sao? Ông không biết rằng họ đến đấy chỉ để mua bán sao? Họ mặc cả với tất tần tật các thứ đấng thiêng liêng: nếu tôi được hưởng ân huệ của các vị, tôi hứa sẽ cúng các vị cái này cái kia. Cái này hay cái kia ấy bao giờ cũng phải lớn tương xứng, hoặc nhiều hơn, so với ân huệ mà họ chờ đợi được hưởng… Ân huệ to thì vật hiến tế phải to.
  • Tôi biết chứ – hắn nhún vai – Nói đến cái lũ khốn nạn ấy làm gì!… Bậy! Bậy hết. Lũ ấy nghĩ về thần thánh của chúng, hệt như thần thánh là những chủ tiệm ở chợ trời, có thể mặc cả thoải mái.
  • Cũng có người nhờ cầu khẩn mà được đấy.
  • Đó là sự trùng hợp của những ngẫu nhiên. Người chết rồi, linh hồn, hay là ma, không trừ cả thần thánh, cũng y như tôi đây này, chẳng có sức lực gì hết, chẳng làm nổi cái gì hết. Ông thấy rồi đấy, chỉ đẩy một cái ghế dịch đi một li mà tôi cũng không làm nổi…
    Lời thú nhận của con ma thực thà na ná một dạng báng bổ.
  • Tôi hiểu rồi, vì thế ông chỉ còn cách ngắm nghía các đồ vật xưa cũ cho hết ngày, à quên, hết đêm, phải không?
  • Tôi còn biết làm cái gì khác hở ông bạn thân mến? – hắn nhún vai trước câu hỏi, theo hắn là dớ dẩn – Nó là cái nghiệp của tôi. Đồng thời, khốn nạn cho tôi, cũng lại là thú vui của tôi.
    Nghe giọng hắn thì biết hắn lại bực mình. Lý luận gì mà lăng nhăng, cù nhầy, chắc hắn nghĩ thế.
  • Ông không thấy những người sống cũng có cái thú vui ấy ư? – hắn nói tiếp, không phải hắn hỏi – Có một thằng cha ở gần đây này, tôi không quen hắn, nhưng tôi quen bố hắn. Hắn viết được độc một cuốn sách, đưa ra những ý tưởng điên rồ, lạ tai lạ mắt, bằng cách chửi khắp thiên hạ, gây ra được một sự ồn ào khá lớn ở những kẻ đần độn, hắn khoái lắm. Nói cho đúng, người khen thì ít, người chê thì nhiều. Thiên hạ bình phẩm thế nào hắn tuyệt nhiên không biết, không thèm biết. Thấy người ta chửi nhiều, hắn càng đinh ninh hắn là nhà tư tưởng lớn. Là nhà tư tưởng lớn thì tất nhiên không phải ai cũng hiểu. Thiên hạ càng chửi nhiều hắn càng thích. Hắn cần cái đó – càng bị chửi nhiều thì càng nổi tiếng, một thứ quảng cáo không công mà. Lâu không thấy có ai chửi thì hắn buồn xo. Cả ngày hắn bận bịu với việc cắt những dòng tán dương hắn trong những bức thư độc giả gửi cho hắn để dán vào một cuốn vở dày cộp, ký tên vào những cuốn sách, bìa cứng hẳn hoi, để gửi cho những người hắn có thể gửi mà không bị trả lại. Hoặc kỳ cạch gõ những lời giáo huấn cho những độc giả còn ngưỡng mộ hắn.
  • Hay nhỉ?
  • Đêm nào hắn cũng hí hoáy làm công việc đó, đến nỗi một ông bạn tôi nhầm, tưởng hắn cũng là ma như mình, mới hiện ra bắt quen. Chỉ đến khi thấy hắn hét lên, lăn đùng ra bất tỉnh nhân sự, ông bạn tôi mới biết hắn là người sống…
    Con ma cười ha hả, tay liên tục vỗ đùi, nhưng không thành tiếng.

4

Rốt cuộc rồi tôi cũng phải thú thật với Ngoạn về hồn ma nọ sau mấy lần anh nhận xét về sức khoẻ sa sút của tôi.

  • Sắc mặt cậu xấu lắm. Xanh, má hóp. Sao vậy?
  • Dạo này tôi kém ngủ.
  • Phải tìm ra nguyên nhân mà giải quyết.
    Chúng tôi đã trở thành thân tình hơn kể từ sau khi anh kiếm chỗ ở cho tôi. Mỗi khi có công việc nặng, cần người phụ, vào những ngày nghỉ cuối tuần anh gọi tôi giúp anh. Gọi là giúp chứ công việc xong anh thanh toán đàng hoàng. Anh hơn tuổi tôi, anh tự cho phép anh gọi tôi bằng “cậu”. Chị Jeanette, vợ anh, và hai cháu thì toa moa với tôi, như người trong nhà.
    Đúng là tôi có ít ngủ thật. Những buổi trò chuyện với hồn ma thường kéo dài. Chứ âm khí âm khiếc quái gì đâu. Ngủ ít thì má hóp. Không thể đổ lỗi cho hồn ma. Hắn đâu có đòi nói chuyện với tôi. Những hôm bận công việc ở sở, về đến nhà, tôi ăn xong là lăn ra ngủ, hắn cũng chẳng đánh thức. Nửa đêm tỉnh dậy, thấy hắn thì chúng tôi cũng chỉ chào nhau một tiếng như hai người láng giềng lịch sự. Tôi mới là kẻ chủ động gợi chuyện, trong khi hắn lại là kẻ kiệm lời. Những câu chuyện với hắn, mỗi khi có, đều thú vị.
    Nghe tôi kể, anh hỏi:
  • Hắn không làm gì cậu thật?
  • Không.
    Ngoạn mở to mắt.
  • Không doạ nạt?
    Tôi lắc.
  • Không.
  • Hắn có làm gì khác không?
    Câu hỏi làm tôi phải suy nghĩ. Hắn còn làm gì nữa nhỉ? Không, hắn chỉ chuyện vãn, thế thôi.
  • Hoàn toàn không!
  • Hoàn toàn không?
    Tôi lại lắc.
  • Vô lý.
    Ngoạn ra chiều suy nghĩ.
  • Cậu phải tìm một cái nhà khác – anh bảo – Ở đấy nguy hiểm. Âm dương cách biệt, người là người, ma là ma, ở lẫn với nhau không được.
  • Tôi nghĩ không cần thiết – tôi nói – Hắn chẳng làm gì hại tôi.
  • Cẩn tắc vô áy náy. Không sao, tôi lại tìm nhà cho cậu lần nữa.
    Anh quyết định ngủ lại nhà tôi một đêm xem hư thực ra sao.
    Nửa đêm, con ma đến, chẳng tỏ vẻ ngạc nhiên thấy có người lạ mặt ở trên giường tôi. Ngoạn nằm im thin thít.
    Sáng ngày ra anh bảo tôi:
  • Nói không biết cậu có tin không, hoá ra tôi đã gặp con ma này.
  • Bao giờ?
  • Lâu rồi. Dễ trên chục năm trước. Hồi mới lập gia đình, tụi tôi nghèo lắm. Đêm đến tôi luôn lượn lờ trong khu nhà giàu – họ thường vứt đồ cũ ra hè. Để kiếm cái dùng, vậy đấy. Có nhiều thứ người ta vứt không phải cũ hẳn, nhưng ở đây thế, cứ dọn đến nhà mới là người ta thay tất tật. Cũng có khi là đồ dùng của người vừa chết, thân nhân không muốn giữ lại, không phải họ tin nhảm, mà vì không thích để những nhìn thấy những đồ vật của người thân đã qua đời, nhiều thứ còn mới nguyên, mà có cũ đôi chút thì cũng còn tốt chán với mình. Đi nhặt mấy thứ đồ bỏ ấy không ai đi ban ngày, xấu hổ chết được…
  • Anh đã gặp con ma này trong những lần đi kiếm đồ Tây quăng?
  • Đúng hắn, với cái mũ phớt sùm sụp, với dáng dấp ấy, như đêm qua tôi thấy. Không lẫn được. Tôi không nghĩ hắn là ma.
  • Hồi đó hắn còn là người sống.
  • Có thể lắm.
  • Hắn chắc cũng đã nhận ra anh, nếu gặp?
  • Hừm, biết đâu đấy, chúng tôi chạm trán luôn, nhưng cố tránh không nhìn mặt nhau. Dân đi nhặt đồ đều thế. Họ không bao giờ chào nhau, gặp vài lần cũng cứ lờ đi, không coi nhau là đã quen… Thậm chí vớ được thứ đồ tốt một mình không khuân nổi cũng không dám nhờ nhau, cứ đứng canh đấy cho tới khi vắng người mới chạy đi tìm cabin điện thoại báo cho người nhà biết để ra khiêng cùng…
  • Anh có thấy hắn nhặt gì không?
  • Không. Hắn cứ lượn lờ quanh đám đồ bỏ, tôi chưa thấy hắn nhặt thứ gì. Con ma này phải trị mới được.

5

Con ma cũng nhận ra Ngoạn.
Hắn bảo tôi, cười hì hì:

  • Ông Nô Ăng. Tôi biết ông ấy quá mà. Tôi giả vờ không nhận ra ông ấy thôi. Chúng tôi gặp nhau luôn. Tôi hồi ấy là một anh ký quèn ở sở hoả xa. Ông biết cái ga Sermages rồi. Gọi là ga cho nó oách, chứ ga ghiếc cái quái gì một khối bê tông xám xịt chỉ nhỉnh hơn trạm biến thế một chút. Ông Nô Ăng bạo gan đấy. Có điều ông kể cho ông ta nghe về tôi làm gì?
  • Có cần phải giữ bí mật về ông không?
    Hắn lắc đầu:
  • Không. Không cần. Tôi là cái có đấy mà không đấy. Nói cách khác, tôi là cái vừa hiện hữu vừa không hiện hữu. Nói về tôi hay không nói về tôi thì cũng thế mà thôi. Chỉ người sống mới có bí mật. Ở chỗ chúng tôi mọi linh hồn đều như cởi truồng trong một cái lồng kính, linh hồn này biết hết về linh hồn kia…
  • Chán quá nhỉ?!
    Hắn cười hích hích.
  • Nhưng các linh hồn thường chỉ biết về những gì linh hồn khác đã làm khi họ còn ở cõi dương… Và chỉ ở những linh hồn không húp hết đĩa cháo vô vị.
  • Ông bảo: các linh hồn chỉ lặp lại những gì họ làm khi còn sống?
  • Ý tôi là: linh hồn chỉ lặp lại thói quen. Những gì họ làm trong cõi âm các linh hồn có thể biết mà cũng có thể không biết, tựa như ở cõi dương vậy – người này không thể biết tất tần tật về người kia. Đôi khi linh hồn cũng làm một cái gì đó chứ, nhưng nó chỉ làm được cái ấy nếu như khi còn sống nó từng làm. Linh hồn, ông bạn ạ, chỉ là cái bóng mờ của quá khứ. Nó khoái lắm nếu có ai tưởng nó có khả năng hành động. May cho các ông, những người sống. Chứ không à? Cứ thử nghĩ mà xem, nếu những thằng đểu chết rồi vẫn tiếp tục đểu được với người sống, thì sao?
    Tôi hoàn toàn đồng ý với hắn:
  • May thật!
  • Ông không nên kể về tôi với ông Nô Ăng.
  • Ông đã nhắc tôi rồi.
  • Ông ấy là người tốt, nhưng ông ấy không vượt qua được định kiến: một con ma là một con ma. Ma là cái người ta không hiểu được. Khi không hiểu được thì người ta nghĩ nó xấu xa, nó không tốt.
  • Tôi không nghĩ ông bạn tôi tồi đến thế. Ông ấy chỉ lo cho tôi thôi…
  • Ông ấy hiểu lầm do không hiểu biết. Nhưng lại tưởng mình biết hết. Trong thực tế, cái ông ấy tưởng mình biết lại là cái hiểu lầm mượn của người khác…
  • Ông có những ý nghĩ hay đáo để.
    Hắn cười khà khà. Cảm giác là thế, chứ không có tiếng.
  • Ông khác, ông không có định kiến. Một ưu điểm đấy. Ông lại còn biết thông cảm nữa…
    Hắn nói tiếp, đượm chút buồn rầu:
    -… dù là thông cảm với một con ma…

7

Ngoạn nói anh sẽ mời một đội bắt ma thiện nguyện để tống con ma khỏi nhà tôi.
Tôi phản đối kịch liệt.
Tôi phản đối vì, xét cho cùng, con ma chẳng làm điều gì xấu cho tôi. Ngược lại, nó còn là một bạn chuyện thú vị. Hà cớ tôi lại xử xấu với nó? Nhưng Ngoạn khăng khăng: phải diệt nó. Đó là một người cứng đầu, đã nghĩ ra cái gì là phải làm cho bằng được.
Đội bắt ma thiện nguyện tha các thứ đồ đạc lỉnh kỉnh của họ đến nhà tôi vào một chủ nhật. Họ lăng xăng đi lại, còn tôi thì ngồi yên trong ghế bành, nơi con ma thường ngồi, với bộ mặt nặng chịch. Ba người trong đội bắt ma – một mục sư về hưu, hai sinh viên trẻ gày nhẳng, cả ba đeo kính cận loại nặng. Với các máy móc đo từ trường, đo nhiệt độ, mọi cái đều là loại cực nhạy. Họ rà soát mọi ngóc ngách – gầm giường, gầm bàn, gầm ghế, gầm tủ, với vẻ mặt nghiêm trang của sứ giả nhà trời đi xuống địa ngục. Kim trên những mặt đồng hồ đặt giữa nhà lắc lư lờ đờ.

  • Con ma này ban ngày không ở đây. – ông mục sư trầm ngâm – Ta sẽ túm được nó ban đêm.
    Tôi giật mình. Đúng là tôi chỉ gặp con ma vào ban đêm.
    Đội bắt ma rất mẫn cán. Hôm sau cả ba lại đến cùng một lúc , lập tức bắt tay vào việc. Mấy người đàn ông đứng tuổi, mặt mũi nghiêm trang ngồi trầm ngâm trước những mặt đồng hồ, mắt dán chặt vào những cái kim. Tôi để mặc họ muốn làm gì thì làm.
    Đúng 12 giờ đêm, nhưng cái kim bắt đầu chuyển động, lúc đầu chậm, sau nhanh dần, rồi lắc loạn xạ. Ông mục sư phán:
  • Nó đến đấy.
    Trống ngực đánh thình thịch, tôi thầm lo cho ông bạn ma của tôi.
    Ngoạn ngồi bên tôi, theo dõi nét mặt tôi bằng cái nhìn dò xét.
    Nhưng khi ông mục sư giơ cao thánh giá đi về góc, theo kim chỉ của một cái máy đặt nằm, thì những cái kim đồng hồ lại lờ đờ trở về chỗ cũ. Ông mục sư lắc đầu:
  • Con ma này khôn phết.
  • Nó lẩn tài lắm. – anh sinh viên cao kều cúi xuống thì thào với anh bạn thấp hơn.
  • Khôn mấy thì khôn, rồi ta cũng sẽ tóm được nó. – mục sư nói to, giọng quả quyết.
    Đúng vào lúc ấy tôi nghe thấy giọng con ma bên tai:
  • Ông bạn ông tệ thật, ông ta dẫn mấy tay này đến đây làm gì cơ chứ?
  • Tôi xin lỗi, tôi đâu có muốn thế – tôi lẩm bẩm trả lời, cốt để Ngoạn khỏi nghe tiếng.
  • Ông có thấy ông Nô Ăng nhà ông là đa sự không?
    Tôi gật đầu.
  • Có điều họ chẳng làm gì được tôi đâu – con ma nói.
  • Thật không?
  • Ông đừng lo cho tôi.
  • Tôi vẫn lo đấy – tôi thì thào – Thật không sao chứ?
  • Thật. Không ai có thể bắt được cái không có.
    Tôi thở ra.
    Ngoạn ngờ vực nhìn vào mặt tôi. Anh kêu lên với ông mục sư đang cảnh giác nhìn quanh trong phòng:
  • Con ma đang ở đây này.
  • Đâu? Nó đâu?
    Ông mục sư quên bẵng mình là người bắt ma, nghĩa là mình phải thấy được con ma trước những người khác.
    Ngoạn chỉ vào tôi:
  • Nó ở bên ông bạn tôi đây này.
    Tôi cãi:
  • Tôi đây, chứ ma nào.
    Ba nhân vật bắt ma xô lại phía tôi. Họ quăng một cái lưới bằng sợi gai hôi hám lên người tôi. Ông mục sư đổ cả bình nước thánh lên đầu tôi. Hẳn ông ta nghĩ nước thánh với liều lượng càng lớn thì hiệu quả càng cao. Rốt cuộc tôi bị ướt như chuột lột, toàn thân bị trói chặt trong tấm lưới gai, còn con ma thì chẳng thấy đâu.

8

Sau cái lần bắt ma bất thành, đội bắt ma đi thẳng. Trong những trường hợp như thế bao giờ cũng có những lý do được đưa ra để bào chữa, kiểu như “trên chủ trương đúng, dưới thực hiện sai”; “trên bảo, dưới không nghe”, theo cách nói quen thuộc ở nước tôi.
Con ma sau đó xuất hiện ít hơn, không phải vì sợ cái gì, mà vì hắn bận bịu chuyện gì đó. Cuối cùng rồi hắn cũng bật mí điều bí mật của hắn:

  • Ông có tin ở thuyết luân hồi không?
  • Tôi chẳng có bằng cớ gì để tin. Một expresso nhá?
  • Không, cảm ơn. Giờ tôi phải đi ngay.
  • Hồn ma cũng biết bận?
  • Không. Hồn ma không bao giờ bận. Nhưng nó cũng có việc phải làm. Ông có muốn đi chơi một lần với tôi không?
    Tôi ngần ngừ.
  • Ông sợ?
  • Không. Nhưng đi đâu?
  • Cứ đi với tôi. Ông sẽ không hối tiếc đâu.
    Chúng tôi đi.
    Về sau này, nhớ lại chuyến đi chơi ban đêm với ông bạn ma, tôi thấy ông ta chẳng hề có ý lừa tôi – chuyến đi thực thú vị.
    Dắt tôi vùn vụt đi qua biên giới hai cõi âm dương không có lính biên phòng mặt lạnh, không có cửa hải quan với những cái nhìn soi mói, qua chỗ các âm hồn bách tính tụ tập húp cháo lú, tây ta lẫn lộn, đen trắng không phân biệt, ông ta đưa tôi tới một thành phố lúc nhúc những hồn ma là hồn ma. Tôi không nhớ là ở đó có cửa hàng cửa hiệu gì không, nhưng tôi gặp khá nhiều hồn ma quen. Có người chết đã lâu, có người mới chết. Họ hoàn toàn không nhận ra tôi. Thậm chí viên cai ngục nổi tiếng ác độc thời tôi ở tù dưới quyền hắn còn nhoẻn cười thân thiện với tôi. Trong tay hắn vẫn có cây roi bằng da xoắn, cũng nổi tiếng không kém gì hắn. Cây roi da ấy, những người tù lưu niên kể, đã lập công xuất sắc – ít nhất đã có ba người tù chết vì nó. Nhưng hắn vẫn giữ nguyên dáng đi ngày trước, cái đầu hơi cúi, cặp mắt láo liên soi mói, cái roi trong tay đập đập vào cẳng chân, sẵn sàng vung lên để quất vào ai đó. Ở một chỗ khác, tôi gặp tên lừa đảo có hạng đã từng lừa không ít người, trong đó có tôi, bằng những lời đường mật về những món lãi kếch xù, nếu chung vốn với hắn. Hắn bị một ông quan mà hắn lừa bắn chết, nghe nói là chết oan, đúng vào lúc hắn mang tiền lãi đến nộp cho ông ta. Hắn cũng không nhận ra tôi, chực sán lại để rỉ tai tôi về một kế hoạch thu lợi cực lớn. Thấy tôi lờ, hắn cũng chẳng giận, lại sán đến người khác, xin lỗi, tôi muốn nói: một hồn ma khác.
    Ông bạn ma của tôi dẫn tôi tới một chỗ có mấy vị lãnh tụ mà tôi quen mặt nhờ những bức chân dung được treo trên tường mọi nhà ở quê tôi. Tôi đồ rằng những vị này cũng gian như ông bạn tôi, không chịu húp cháo lú, hoặc húp rất ít, vì thế họ mới có thể quần tam tụ ngũ bên nhau. Nhưng cái giống lãnh tụ nọ là để sống trong thế giới của những kẻ tuân phục, những kẻ rạp mình trước họ, chứ cả một đống lãnh tụ ở cùng một chỗ với nhau thì ngán lắm. Tất cả bọn họ đều ra lệnh cùng một lúc, mà không biết ra lệnh gì, ra lệnh cho ai, chẳng anh nào chịu nghe anh nào, kể cả anh lãnh tụ bị bắn chết cùng với bà vợ, ngực còn toác hoác vết đạn, vẫn tiếp tục vung tay về phía trước, trong dáng điệu của nhà hùng biện trước đám đông há hốc mồm nghe huấn thị.
  • Ê, anh kia, lại đây!
    Vị lãnh tụ quen thuộc của tôi ngồi ủ rũ trên một bệ đá hoa cương thời cổ La Mã, giữa một đám đông chính khách com lê com táo chỉnh tề lăng xăng đi lại. Ông vẫn trong bộ quần áo bình dân cố hữu, y như một lão nông. Hồi còn sống, ông nổi bật trong các chính khách quốc tế nhờ bộ quần áo này. Trong những cuộc họp long trọng ông là ngôi sao sáng. Tiên phong đạo cốt, ông đi những bước nhẹ nhàng trên trần thế, ban phát bên phải bên trái đủ thứ lộc lớn lộc bé, bằng hiện vật cũng như bằng khen, giấy khen. Bây giờ trông ông giống một anh nhà quê ra tỉnh. Trong đống lãnh tụ xênh xang, ông có một vị trí kém cỏi mà giờ đây người ta ưa dùng chữ khiêm tốn thay vào. Chợt nhận ra tôi là đồng hương, ông vồ lấy tôi, nắm tay tôi kéo lại gần để ân cần hỏi han về đời sống của nhân dân. Cứ như thể thiếu ông trên đời mọi người sẽ khốn khổ lắm, côi cút lắm. Không hiểu sao, lúc ấy tôi lại xúc động đến luống cuống, lễ phép chắp tay trả lời ông như một thần dân ngoan ngoãn. Tôi thưa rằng tôi xa nước lâu rồi, lại chưa về thăm nhà lần nào, tôi không thể báo cáo với ông điều gì.
    Ông bạn ma lập tức túm lấy tôi, lôi xềnh xệch đi chỗ khác:
  • Sao ông lại làm thế?
  • Làm thế là thế nào?
    Ông bạn ma cằn nhằn:
  • Thằng cha ấy là cái quái gì mà trước mặt hắn, nói ông tha lỗi, ông lại phải khúm núm? Ông không thấy rằng hắn chẳng hề quan tâm tới nhân dân nhân diếc gì hết sao? Hắn chẳng cần biết ông là ai, đang ở đâu, làm gì, hắn chỉ lặp lại một thói quen thâm căn cố đế mà thôi. Ố là là, ông này hay thật đấy! Rõ vớ vẩn.
    Tôi ngượng ngùng:
  • Hề hề, tôi cũng không ngờ những thói quen lại sống lâu đến thế.
  • Thế thì khi xuống đây ông đừng có theo gương tôi, nhớ mà húp hết khẩu phần cháo lú của mình. Xem ra nó có ích cho ông đấy.
    Giọng ông ta nửa giận dỗi, nửa khinh miệt.
    Ông ta còn dẫn tôi đi nhiều nơi, cho tôi thấy nhiều điều thú vị khác, viết ra phải một cuốn sách. Tôi thì lại không biết viết văn, tôi viết thì sẽ rất dây cà ra dây muống, toàn những “thì” “là” “mà”, làm khổ người đọc. Điều đáng tiếc là ông ta không đưa tôi đến nơi tôi có thể gặp những người thân trong gia đình. Ông ta bảo cái đó không phải mục đích của chuyến đi.
  • Ông nói đến thuyết luân hồi là có ý nghĩa gì? – trên đường về tôi hỏi ông ta.
  • Là tôi sẽ chia tay với ông, để sống một kiếp khác.
  • Tức là luân hồi là có thật?
    Ông ta nhún vai:
  • Tôi cũng không biết nữa. Tôi chỉ biết lần này tôi phải xực hết một khẩu phần cháo lú. Lầnnày khó mà tránh được. Nghe nói chẳng ai thoát. Tôi sẽ đi khỏi cõi này. Đi đâu, tôi không biết. Có lẽ là để sống kiếp khác. Ăn cháo lú rồi, tôi sẽ không biết ông là ai, người ta bảo vậy, ông cũng không thể nhận ra tôi…
  • Nhưng những vị Lạt Ma ở Tây Tạng đầu thai trong kiếp sau vẫn nhớ chuyện kiếp trước đấy thôi. Người ta thuật lại chuyện đó không phải một lần trong những cuốn sách đứng đắn.
  • Ồ, cái đó thì tôi chịu, thật thế hay không, tôi không biết. Có thể, đó là vì những vị Lạt Ma là những người đặc biệt. Những bậc chân tu. Những vị thánh. Tôi không dám nói họ có thể là những tay đại láu cá.
    Tôi tỉnh dậy trên giường. Vạt nắng sớm lọt qua cửa sổ chảy lênh láng trên sàn.
    Có nghĩa là suốt đêm qua tôi chẳng hề đi đâu. Nhưng cảm giác thực của cuộc du hành với ông bạn ma còn nguyên, hệt như trong sách của Bồ Tùng Linh.
    Khác ở chỗ hồn ma của Pháp không giống hồn ma của Tàu, nó chẳng làm hại gì tôi. Mà cũng có thể những hồn ma Tàu trong Liêu Trai đều là đàn bà, còn đây là một hồn ma đàn ông.
    Tôi thì lại không phải một tên đồng ái.

8

Từ đó tôi không bao giờ gặp lại ông bạn ma nữa. Chắc hẳn ông ta đã đầu thai vào một nhà nào đó và đang bĩnh ra tã.
Tôi cũng hơi ân hận một tí. Chơi với nhau bằng ấy thời gian mà chẳng biết tên họ ông bạn là gì. Hình như ông ta mang cái họ rất phổ biến là Dupont mà tôi thấy được ghi trên một món đồ. Chiết tự ra, Dupont có nghĩa là từ chỗ cây cầu, ở nơi gần cầu. Dòng họ Dupont có từ những thế kỷ xa xưa, cũng như dòng họ Dubois với nghĩa từ khu rừng, ở miền rừng. Nước Pháp có vô số cầu, cầu qua sông, cầu qua suối, ai biết được những người thuộc dòng họ này đến từ cái cầu nào. Trên lò sưởi không có cái ảnh nào của ông ta, mà tôi thì vì sợ nên không dám nhìn vào mặt hồn ma, thế là chẳng biết mặt ngang mũi dọc ông bạn mình ra sao.
Ngoạn rồi cũng ít đến tôi. Anh bận nhiều việc, tôi đồ thế.

  • Này, cậu phải cẩn thận mà giữ lấy chỗ làm – anh dặn tôi – Cái nghề khốn nạn của tôi vậy mà bây giờ thiên hạ cũng tranh nhau xông vào. Tôi phải liên tục hạ giá để giữ khách. May mà họ đã quen mình. Hai đứa con càng lớn càng phải chi nhiều, đủ thứ. Sống như thế này vất vả quá. Chết có khi còn sướng hơn…
    Những lời than thở về cuộc sống không thể gọi là chuyện giữa hai kẻ tha hương. Ở với bà vợ đầm lâu ngày, anh dường như không nhớ gì tới đất nước. Nó xa xôi.
  • Tôi bây giờ có muốn giúp cậu cũng chẳng được – anh nói.
    Tôi rất biết ơn Ngoạn đã giúp tôi nhiều khi còn chân ướt chân ráo đến Sermages, nhưng đúng là chúng tôi không biết nói gì với nhau nữa – chúng tôi không còn những đề tài chung để mà trò chuyện. Cũng phải thôi. Ngoạn là một con người bình thường đúng nghĩa, tức là người chẳng quan tâm tới cái gì khác ngoài cuộc sống hằng ngày của gia đình mình. Những vấn đề chính trị xa lạ với anh. Đối với Ngoạn thế giới nào cũng cũ, tức là thế giới nào cũng thế mà thôi cho một kiếp người với tất cả những lo toan tầm thường của nó. Còn tôi thì dù muốn dù không vẫn cứ vướng vào ba cái chuyện chính trị, như nhiều đồng hương đa sự.
    Khi nghe tôi nói chuyện về tình hình đất nước, hoặc tình hình thế giới, Ngoạn thường ngáp vặt, lúc đầu còn lịch sự giấu giếm, sau thì cố ý cho tôi biết mà chuyển sang chuyện khác. Khi không còn đề tài chung để nói chuyện, người ta rất dễ xa nhau. Có người nói anh dạo này hay ốm vặt, nhưng tôi cũng ngại gọi điện hỏi thăm. Tôi ngại những cuộc điện đàm theo phận sự.
    Một đêm tôi đi dự sinh nhật một bạn đồng nghiệp về, thấy ở bên đường gần nhà tôi người ta vứt lỏng chỏng đồ bỏ có nhiều thứ còn tốt, mới dừng lại xem. Ở đây người ta vứt đồ theo ngày, khu này thứ bảy, khu kia chủ nhật. Tôi chọn được một cây đèn bàn có chân bằng đồng, một thứ đồ cổ, kiểu cây đèn thần trong Nghìn Lẻ Một Đêm. Đã toan kẹp nó vào nách mang về, thì chợt thấy một dáng quen quen đang lúi húi gần đấy.
    Trong ánh đèn đường mờ mờ tôi nhận ra cái bóng ấy: Ngoạn. Dễ là anh lắm, với cái áo khoác tàng tàng, dáng đứng hơi gù. Nhưng tôi không dám chắc trăm phần trăm là anh. Thoáng bắt gặp ánh mắt của tôi, người ấy quay ngoắt.
    “Dân đi nhặt đồ đều thế. Do ngượng ngùng, họ không bao giờ chào nhau, gặp vài lần rồi cũng cứ lờ đi, không coi nhau là đã quen…”
    Ngoạn có lần nói với tôi như thế. Nhưng đó là những người gặp nhau lần này lần khác trong những chuyến đi nhặt đồ, chứ không phải là những người quen nhau như tôi với anh.
    Khi thấy tôi chăm chú nhìn, cái bóng càng lúng túng.
  • Anh Ngoạn hử? – tôi gọi khẽ.
    Cái bóng đứng sững khi nghe tiếng gọi. Nhưng không đáp lại, dù bằng một cái gật đầu.
  • Tôi đây mà – tôi nói.
    Cái bóng vẫn nín lặng.
    Tôi rùng mình vì một ý nghĩ chợt đến. Hay là, nói dại, Ngoạn không còn nữa, mà chưa ai kịp báo tin cho tôi? Anh đã trở thành một con ma. Như Dupont.
    Tôi dụi mắt để nhìn cho kỹ hơn. Chẳng lẽ tôi nhầm?
    Đến lúc ấy thì cái bóng mà tôi ngờ là Ngoạn liếc trộm tôi rất nhanh, rồi quầy quả bỏ đi. Nói nó lướt đi thì đúng hơn, bởi vì vừa thấy nó đấy đã chẳng thấy đâu. Nó tan biến. Trong màn đêm mờ mờ ánh đèn đường và khói sương.
    Ngày mai thể nào tôi cũng phải gọi điện cho Ngoạn. Không, tôi chắc mình nhìn nhầm. Cũng có thể không phải là Ngoạn. Dám thế lắm. Nếu là anh, chắc chắn anh sẽ gọi tôi. Chúng tôi đâu có phải là những người xa lạ đến nỗi phải tránh mặt nhau khi làm cái chuyện có vẻ đáng xấu hổ này. Rất có thể không phải Ngoạn. Nếu anh chết, chị Jeanette ắt đã gọi điện cho tôi – ít nhất thì vào lúc anh qua đời ắt chị phải nhớ rằng anh từ đâu đến và ở Sermages có một người cũng đến từ quê hương anh. Nhưng cũng có thể Jeanette đã quên không báo cho tôi biết trong cơn bối rối. Hoặc ngày mai chị mới báo. Hoặc chị không tìm ra sổ địa chỉ.
    Tôi xua đuổi ý nghĩ rằng Ngoạn đã chết. Nhưng ý nghĩ ấy cứ bám chặt lấy tôi. Sinh hữu hạn tử bất kỳ mà. Ai nói trước được? Anh xuất hiện trước mắt tôi lờ mờ như một bóng ma, nhất định không nhận tôi, nói với tôi một câu. Hoặc giả tôi nhầm, bóng ma ấy lại là Ngoạn thật, còn sống? Mừng rồi lại buồn – sao mà mình tệ thế, đến nỗi không phân biệt nổi người sống với hồn ma?
    Tôi bùi ngùi nhìn vào bóng đêm đã mất dấu bạn mình mà thở dài. Tôi hình dung ra anh trong cái cõi âm đáng ngán – hẳn từ nay anh sẽ phải sống, như cái ông Dupont nọ, quẩn quanh trong giới hạn chật hẹp của một kiếp người từ sinh tới tử, để rồi lặp lại trong suốt đời âm của mình những thói quen cố hữu của đời dương?
    Tôi cầm lấy cây đèn, không nhìn về phía cái bóng vừa biến mất, quay gót về nhà.

2005




NGẮM ĐỊA DANH ĐẸP NHẤT THẾ GIỚI

 Mới đây , Big 7 Travel công bố 50 địa điểm đẹp nhất thế giới năm 2020 .

 Dựa trên bản khảo sát trên 1.5 triệu người dùng Pinterest , Instagram .

 Trong đó , hình ảnh Mù Cang Chải ( Yên Bái — Việt Nam ) được thứ 21

– Đứng thứ 21 : Mù Cang Chải – Yên Bái — Việt Nam . Gồm 3 ảnh 

– Đứng đầu danh sách 50 địa điểm là :

 Vườn quốc gia Torres del Paine — Chile .

 2 ảnh 

– Đứng thứ 2 :

 Là quần đảo Faroe — Đan Mạch .

 2 ảnh .

– Đứng thứ 3 :

 Là vườn quốc gia Grand Teton — Wyoming .

 2 ảnh .

– Đứng thứ 4:

 Là sông Quế Giang — Trung quốc .

 2 ảnh .

– Đứng thứ 5 :

 Là Hồ Bled — Slovenia .

 3 ảnh .

– Đứng thứ 6 :

 Là rạn san hô Great Barrier — Úc .

– Đứng thứ 7 :

 Là vườn quốc gia Banff — Canada .

– Đứng thứ 8 :

 Là Palawan — Philippines .

– Đứng thứ 9 :

 Là Cao nguyên Scotland .

– Đứng thứ 10 :

 Là Kyoto — Nhật Bản .

– Đứng thứ 11:

 Là Vách đá Moher — Ireland .

– Đứng thứ 12 :

 Là khu Thánh địa Uluru — Úc .

– Đứng thứ 13 :

 Là Lanterbrunnen — Thụy Sĩ .

– Đứng thứ 14 :

 Là Hồ bơi nuóc nóng ở Pamukkale — Thổ Nhĩ Kỳ .

– Đứng thứ 15 :

 Là thị trấn Sidi Bou Said — Tunisia .

– Đứng thứ 16 :

 Là Thành phố Chefchaouen — Maroc .

– Đứng thứ 17 :

 Là thành phố biển Positano — Ý .

– Đứng thứ 18 :

 Là đảo Boracay — Philippines .

– Đứng thứ 19 :

 Là Vườn quốc gia Fiordland — New Zealand .

– Đứng thứ 20 :

 Là Thành phố Mostar của Bosnia và Herzegovina .

– Đứng thứ 22 :

 Là Thành phố Marrakesh — Maroc .

– Đứng thứ 23 :

 Là thành phố Matera — Ý .

– Đứng thứ 24 :

 Là thủ đô Paris — Pháp .

– Đứng thứ 25 :

 Là công viên địa chất Trương Dịch , tỉnh Cam Túc — Trung quốc .




Sapa vào mùa hoa mai anh đào




CỨU NGƯỜI NHƯ CỨU LỬA; CỨU LỤT BÀ CON ƠI

KIỀU MỸ DUYÊN

Nhìn những tấm hình của đồng bào lênh đênh trên nước, không ai không khỏi xúc động, đồng bào của mình sao khổ quá! Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp cùng những người thiện nguyện đi cứu trợ. Đức Cha mặc áo phao, nếu ghe lật xuống nước thì người sẽ nổi lên mặt nước nhờ chiếc áo phao này. Năm nào miền Trung cũng bị lụt lội, năm nay còn thê thảm hơn. Các tỉnh Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Hà Tĩnh, nhà cửa tan nát, người thì mất chồng, người thì mất cha, người mẹ ôm con trong lòng sau khi đào đất cát lên thì mẹ và con cùng chết, một gia đình không còn ai sống sót. Người thương người, người Việt ở hải ngoại gửi tiền về giúp nạn nhân bão lụt. Qua nhiều năm kinh nghiệm, tiền, mì, quần áo, thuốc men cứu trợ phải tới tay nạn nhân bão lụt không qua chính quyền. Đồng bào ở dọc theo biển, theo sông khổ nhất. Những chiếc ghe là phương tiện để mưu sinh cũng tan rã theo dòng nước lũ. Nhà sập, người di tản, ghe thuyền vỡ nát theo nước, theo bão lụt.

          Người nghèo lại nghèo thêm. Nạn nhân bão lụt chỉ mong vào lòng hảo tâm của đồng hương ở khắp nơi trên thế giới.

          Chỉ có $5 một bao gạo, ai cũng có thể giúp đỡ được nạn nhân bão lụt. Một đứa trẻ bỏ tiền vào heo đất, nhìn những hình ảnh đau thương của nạn nhân bão lụt ở quê nhà, cũng có thể lấy tiền trong heo đất ra mà cứu trợ.

          Thực phẩm cứu trợ gồm có gạo, mì gói, quần áo, thuốc men, tiền. Người nào nghèo nhất ở chốn bình yên cũng có thể cứu giúp người ở quê nhà.

          Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Tôi còn nhớ quận Hải Lăng thuộc tỉnh Quảng Trị năm Thìn bão lụt, lúc chúng tôi còn là sinh viên đi cứu trợ. Nạn lụt bây giờ thê thảm hơn năm Thìn bão lụt năm xưa, bởi vì rừng bị đốn, hồ nước bị tháo,…

          Thiên tai dồn dập, tội nghiệp người dân bị đọa đày, khổ ơi là khổ. Người nghèo khổ, người nghèo ở những nơi gần biển, gần sông, đa số sống bằng nghề chài lưới, đánh cá, bắt tôm,…

          Sau nạn lụt nhà đâu để ở? Định cư ở đâu? Tiền ở đâu để làm vốn mua lại ghe nhỏ đi chài lưới?

          Xin mời quý đọc giả theo dõi cuộc phỏng vấn Kiều Mỹ Duyên với Đức Giám Mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp, giáo phận Hà Tĩnh:

          – Kính chào Đức Cha, xin Đức Cha gửi lời chào đến quý khán thính giả xem đài.

          – Tôi xin gửi lời chào đến quý thính giả của đài VBS. Rất hân hạnh được gặp quý vị qua đài truyền hình. Chúng tôi cũng đã nhận được sự đóng góp, những món quà của quý vị. Nhân dịp này, thay mặt cho các nạn nhân cảm ơn và gửi lời chào đến tất cả quý vị.

          – Kính xin Đức Cha tường trình với khán giả nhiều nơi, nhiều tiểu bang Hoa Kỳ về việc cứu trợ của Đức Cha gồm những tỉnh nào, làng nào và từ ngày nào cho đến bây giờ. Dù đã có những hình ảnh rất sống động của Đức Cha cũng như các vị thiện nguyện, nhưng chưa hiểu rõ vì không có chú thích, thưa Đức Cha?

          – Chúng tôi hiện thời đang hoạt động ở tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh. Mặc dầu cũng có một giai đoạn nhỏ chúng tôi tháp tùng Đức Cha Tổng Giám Mục Giuse Nguyễn Chí Linh và Đức Cha Đặng Đức Ngân ở Đà Nẵng. Ba anh em chúng tôi có đi một chuyến từ Đà Nẵng vào Huế, Quảng Trị rồi Quảng Bình. Từ đó đế nay, chúng tôi làm nhiều hơn tại Quảng Bình và Hà Tĩnh. Công tác cứu trợ- cứu trợ khẩn cấp- coi như đã chấm dứt hay đang chấm dứt. Bây giờ bắt đầu giai đoạn hai, đó là giai đoạn ổn định và ổn định cuộc sống cho các nạn nhân lũ lụt, trong đó có vấn đề là co nhà cửa, rồi mua lại gia súc, gia cầm và hạt giống cho họ.

          – Thưa Đức Cha, chúng con có niềm tin vào các vị lãnh đạo tinh thần là quà đến tận tay các nạn nhân, nhưng có người thắc mắc là Đức Cha có gặp khó dễ của Chính Quyền địa phương hay không? Vừa rồi nghe cô ca sĩ Thủy Tiên đi cứu trợ gặp trở ngại. Chúng con có đọc thông cáo từ Việt Nam gửi sang, tỉnh Hải Lăng, Quảng Trị gặp khó khăn, do nhà cầm quyền không cho người cứu trợ đến tận nơi phát tận tay cho đồng hương của mình. Đức Cha thấy như thế nào, thưa Đức Cha?

          – Hiện thời ở Việt Nam đã có sắc lệnh là cấm nhận quà cứu trợ nếu không qua Mặt Trận, qua Hội Chữ Thập Đỏ hay chính quyền địa phương. Sắc lệnh đó hình như vẫn còn ở một vài nơi như Hải Lăng, Quảng Trị, nơi tôi đi qua thì nghe giáo dân nói có chuyện đó. Nhưng bản thân tôi, cũng như là phái đoàn Hội Đồng Giám Mục, ở Hà Tĩnh và một số nơi khác chúng tôi chưa gặp khó khăn đó.

          – Thưa Đức Cha, Đức Cha đang giúp cho đồng bào về việc định cư sau lụt. Xin Đức Cha cho biết chương trình đó như thế nào, và nhân cơ họi này, Đức Cha có thể gửi lời đến quý khán thính giả, đồng hương của mình ở nhiều nơi, nhiều tỉnh miền Đông và miền Tây Hoa Kỳ, có những người lên Youtube hay Internet, bên Úc cũng xem, Âu Châu cũng xem. Đức Cha gửi lời đến để đồng bào mình có thể tiếp tay. Ở đây người nào cũng có thể giúp được. 1 bao gạo 10 kg ở Việt Nam $5, một đứa trẻ chừng 7- 10 tuổi có thể đổ ống heo ra giúp được nhiều gạo cho đồng bào của mình, thưa Đức Cha?

          – Cảm ơn chị Kiều Mỹ Duyên đã cho chúng tôi có cơ hội để qua làn sóng, tiếng nói của chúng tôi đến được đồng bào nhiều nơi. Đó là sự hân hạnh. Xin chân thành cảm ơn. Trở lại câu chuyện hậu cứu lụt, ổn định cuộc sống, tái thiết nhà cửa, lo hạt giống, lo gia súc, gia cầm cho người dân. Đó là câu chuyện chúng tôi đã đi khảo sát, để rồi phân loại những công tác lớn, chẳng hạn như là di dời một số hộ nằm ở vùng ven sông hay bị sạt lở do núi. Do núi là vì trong thời gian mấy chục năm vừa rồi, họ chặt phá rừng để trồng keo. Cây keo là cây phá môi sinh rất nhiều. Chính vì vậy đã gây ra sạt lở khắp nơi như đồng bào đã thấy, quý vị đã thấy, những nơi đó phải di dời. Công tác di dời rất tốn kém và cũng đòi hỏi nhà nước phải cấp đất, cấp chỗ cho người dân có thể đến nơi ở mới. Lúc này, chúng tôi cũng đang gặp khó khăn và phải kiên nhẫn để kiếm được vùng đất ổn định cho dân, để di dời nhà họ, xây dựng cuộc sống mới cho gia đình họ. Điểm thứ hai nữa là xây những căn nhà vượt lũ. Tức là, người dân đang sống trong những căn nhà ở vùng trũng, họ phải sống chung với lũ từ đời nọ đến đời kia, họ cũng không rời khỏi vùng đó. Một số gia đình đã xây nhà lầu thì họ có thể được an cư, khi lũ đến, họ lên trên lầu thì không sao cả. Nhưng mà có những gia đình nghèo sống trong những căn nhà xuềnh xoàng, nhà cấp 4 thì phải cần có những căn nhà đa năng hay nhà vượt lũ, vừa là trung tâm dạy học, dạy giáo lý, sinh hoạt. Trên tầng hai, khi có lũ đến thì đó là trung tâm vượt lũ, trung tâm cứu những người nghèo, những người già, trẻ em được đến đó để được an toàn. Chúng tôi hiện thời cũng đã và đang tiếp tục xây dựng một số căn nhà đa năng, căn nhà vượt lũ đó tại những địa điểm, tại những vùng lũ và tại những nơi người dân phải sống chung với lũ. Một số nơi khác may mắn hơn có đất để họ có thể di dời lên cao, thì giúp họ để họ nâng nhà của họ lên một chỗ cao hơn để họ an cư rồi mới lạc nghiệp. Ngoài ra, trong thời gian vừa rồi, giống lúa thóc bị hư hại rất nhiều, gia cầm, gia súc bị chết. Đây cũng là một vấn đề cần giúp họ là làm sao giúp họ bắt đầu cuộc sống mới trong mùa tới, tron những tháng tới. Đó là đại khái những vấn đề mà chúng tôi đưa ra trong chương trình hậu cứu lụt để họ tái định cư, an cư lạc nghiệp, để làm lại cuộc sống, để cùng dân tổ chức lại cuộc sống của họ.

          – Kính thưa quý khán thính giả, đó là lời tâm huyết của Đức Cha Nguyễn Thái Hợp. Đức Cha Nguyễn Thái Hợp đã sống rất lâu ở Thụy Sĩ cũng như ở Vatican. Ngài đi khắp nơi, và trở về Việt Nam ở một nơi khổ thật khổ. Quý vị có về Hà Tỉnh, miền Trung, quý vị nào có trái tim hướng về miền Trung hoặc có cha mẹ, anh em , bà con ở miền Trung, sẽ thấy miền Trung lụt lội quanh năm khổ lắm. Kính thưa Đức Cha, nếu đồng bào muốn giúp thì ở đây có đài truyền hình của Đức Cha giám đốc đài Joseph Nguyễn Ngọc Chuẩn. Khi biết đồng bào mình khổ quá thì mọi người ở đây sẽ mở lòng. Xin Đức Cha cho biết thêm email hay website nào về tin tức cứu trợ để mọi người có thể giúp đỡ?

          – Chúng tôi chưa thấy trận lụt nào mà người Việt Nam giúp nhau nhiều như lần này. Số đoàn đi cứu trợ, số đoàn hướng về miền Trung, những chuyến xe từ Sài Gòn chạy ra miền Trung, từ Hà Nội, miền Bắc đi vào miền Trung,… Chúng tôi thấy lần này, số xe, số đoàn ra miền Trung cứu trợ gấp ba lần so với các trận lụt trước đây. Đa số những chuyến xe đó hầu hết là của tư nhân. Họ đi, họ muốn trao tận tay những món quà của họ. Nhiều khi đó là một nhóm bạn bè, một thôn xóm, một họ đạo, họ thu được rồi họ đi ra. Chúng tôi thấy rất là cảm động và biết ơn. Tôi vẫn nói là lá lành đùm lá rách. Có những trường hợp, thì không những lá lành đùm lá rách mà lá rách ít đùm lá rách nhiều. Nhiều khi, chính những người ở bên cạnh, của những làng bên, những xứ đạo cũng bị lũ lụt, nhưng chính họ lại đi cứu trợ những người bên cạnh. Lá rách ít đùm lá rách nhiều, lá rách tơi tả đùm nhau. Tôi rất cảm động trước tình cảm đó, mà hoàn toàn là do tư nhân, do sự bộc phát của người dân.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ngày 27 tới đây có tổ chức một đêm văn nghệ lấy tên là ” Gánh nhau trong đời”. Có những người giàu hơn gánh những người nghèo, trong cuộc đời rất cần thế này. Nhiều lần cũng có những người nghèo gánh nhau và gánh nhau trong đời. Tôi thấy ý nghĩa đó rất hay, đượm tình người. Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác tỉnh, khác nơi nhưng ta cùng chung một dân tộc, một dòng máu. Ước mong rằng kẻ ít người nhiều, chúng ta cùng nhau gánh nhau trong đời và chắc chắn rằng chúng ta giúp nhau chừng đó, lá lành đùm lá rách thì những nạn nhân ấm lòng hơn. Tôi hy vọng họ sẽ làm lại cuộc đời.

          – Kính thưa Đức Cha, sau đây là câu hỏi của Trung Dương (MC đài): Một số quý đồng hương quyên góp Đức Cha, họ thắc mắc đây là do bên tôn giáo quyên góp số tiền này, và cha có chuyển đến những nơi khác không? Đức Cha giúp cho toàn bộ miền Trung hay một vài tỉnh, thưa Đức Cha?

          – Tôi hiện thời phụ trách Hà Tĩnh và Quảng Bình. Chúng tôi với tư cách Hội Đồng Giám Mục, chúng tôi đã đi một chuyến thăm viếng từ Quảng Nam đến Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị rồi Quảng Bình, Hà Tĩnh. Chúng tôi chia ra làm việc ở mỗi vùng.Tôi đi nhiều ở Quảng Bình và Hà Tĩnh, nơi mà tôi có trách nhiệm. Chúng tôi đã nhận được nhiều món quà do cha Chuẩn chuyển tới. Có lẽ để dễ hơn, quý vị nên gửi về Đài VBS 57.6. Từ đài, cha Chuẩn sẽ chuyển lại cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ phúc đáp khi chúng tôi nhận được. Nếu chuyển về Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế, Quảng Trị thì đài cũng làm được. Nhắn tin cho chúng tôi ở Quảng Bình và Ha Tỉnh. Hãy gửi cho cha Chuẩn rất là đảm bảo. Chúng tôi trong tin thần lá lành đùm lá rách, nếu ở Quảng Nam đang bị lũ lụt nhiều hơn thì chúng tôi cũng sẽ chuyển đến những người nghèo bất phân tôn giáo, bất phân vùng đất.

          – Chúng con chân thành cảm ơn Đức Cha đã trình bày rất tỉ mỉ về việc cứu trợ.

          – Tôi cảm ơn chị Kiều Mỹ Duyên và cha Chuẩn. Qua Đài, chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả những ân nhân xa gần, những người ẩn danh, những người tôi chưa biết tên và chưa từng gặp mặt, nhưng đã giúp đỡ chúng tôi để chúng tôi có thể đưa những món quà của quý vị cho những người bị nạn, những nạn nhân của lũ lụt, bất phân tôn giáo, bất phân công việc, điều kiện xã hội.

          – Kính thưa Đức Cha, ngày 26 đây là ngày lễ Tạ Ơn của nước Mỹ. Chúng con nhân cơ hội này, xin tạ ơn Đức Cha đã lo cho các nạn nhân bị lũ lụt. Đức Cha cho chúng con có cơ hội được tiếp tay với Đức Cha. Xin Thiên Chúa ở cùng Đức Cha, xin Ngài phù hộ cho Đức Cha. Kính chúc Đức Cha thật nhiều sức khỏe để lo cho các nạn nhân. Xin ơn trên ban cho những người có lòng thiện nguyện. Quý đồng hương nếu có nghe lời Đức Cha Nguyễn Thái Hợp từ Hà Tĩnh, thấy thảm cảnh vẫn còn kéo dài sau khi lụt qua rồi, đồng bào mất nhà cửa, mất trâu bò, thuyền ghe, mất người thân,… xin hãy đóng góp của ít lòng nhiều. Xin Đức Cha cho đồng bào của mình đang là nạn nhân và quý đồng hương có lòng hảo tâm.

          – Xin Chúa là Đấng toàn năng, xin Ngài luôn luôn nhớ đến chúng con và xin Ngài cũng nhớ đến một số anh chị em chúng con đang sống trong những hoàn cảnh khó khăn, đang sống trong những nơi mà người ta vẫn nói:

Quê hương tôi gạt sỏi tìm cơm,

Hết mưa thôi hạn lại cơn bão gần.

          Xin Ngài giúp cho những người con đó sớm an cư lạc nghiệp. Và xin Ngài nâng đỡ những cảnh đời tan nát vì bão tố, vì lụt lội, vì bất công, vì đói nghèo. Xin Ngài cho họ luôn luôn cảm thấy tình người, được sưởi ấm bởi tình người cũng như là được bàn tay che chở của Ngài. Amen.

          Quý thính giả vừa nghe cuộc phỏng vấn của Kiều Mỹ Duyên với Đức Giám Mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp ở Hà Tĩnh. Nếu quý đồng hương cần giúp đỡ nạn nhân bão lụt ở các tỉnh miền Trung, xin liên lạc với chúng tôi. Chúng tôi sẽ cho quý vị email của Đức Cha, quý vị có thể liên lạc thẳng về trong nước. Tiền cứu trợ của quý vị nhất định sẽ tới tay đồng bào nạn nhân của lũ lụt.

          Xin Thượng Đế ban phúc lành cho quý vị lãnh đạo tinh thần, quý ân nhân, quý đồng hương nạn nhân của bão lụt có một đời sống an bình và hạnh phúc.

Orange County, 25/11/2020

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)

Đức GM Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và cứu trợ đồng bào vùng bị lũ lụt tại Quảng Bình 20/10/2020

Đức GM Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và cứu trợ đồng bào vùng bị lũ lụt tại Quảng Bình 20/10/2020

Đức GM Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và cứu trợ đồng bào vùng bị lũ lụt tại Quảng Bình 20/10/2020

Đoàn Hội đồng Giám mục Việt Nam thăm, cứu trợ tại Giáo phận Hà Tĩnh 21/10/2020

Ngày 21.10.2020, phái đoàn Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tiếp tục hành trình chia sẻ tình thương của những vị Mục tử đến với quý anh chị em miền Trung tại Giáo xứ Mỹ Chánh và Giáo xứ Trung Quán, Hà Tĩnh

Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và hỗ trợ tái thiết cuộc sống sau lũ lụt tại Quảng Bình ngày 01/11/2020 đến thứ Ba ngày 3/11/2020

Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và hỗ trợ tái thiết cuộc sống sau lũ lụt tại Quảng Bình ngày 01/11/2020 đến thứ Ba ngày 3/11/2020

Thảm cảnh, mẹ ôm con chết sau khi được đào lên từ bùn đất.

Nhà cửa chìm trong biển nước

Nhà cửa chìm trong biển nước




Thanksgiving – Lễ Tạ Ơn




Thần Linh

Thần Linh

Tế Luân

Em là hiện thân của thần linh

Để ta tụng niệm cõi vô hình

Em ngồi đất nứt mọc hoa lạ

Thơm ngát từng mây những cuộc tình.

Trang giấy trắng vần thơ ẩn hiện

Dòng mực đen thấm ướt đường viền

Chỉ một chữ yêu còn hiện diện

Một chữ thôi xóa những ưu phiền.

Chim nhảy nhót mừng ngày huyền thoại

Hoa ngát hương thơm ngát tầng mây

Chỉ một lần hóa thành linh hiển

Mối tình đầu nguyên thủy không phai.

Tế Luân

EM THẦN THOẠI

(kính họa cùng thầy Lê Tuấn)

Em ngồi sợi nắng thẹn lung linh

Suối cũng ngừng reo rọi bóng hình

Gió phủ quanh bờ vai diễm lệ

Ngào thơm hương sắc lẫn hương tình

Ta đắm say cuồng, mơ thoảng hiện

Bờ môi bỏng mọng nét hồng viền

Dáng hoa xuân thắm ngời nhân diện

Chắp cánh cùng bay thoát cõi phiền

Em như giấc mộng đơm thần thoại

Lấp lánh hào quang vẹt áng mây

Ta chốn trần gian lòng khắc khoải

Lo tình muôn thuở sẽ tàn phai

Phương Hoa – NOV 15th 2020

Đêm Thần Tiên

Thiên thần áo trắng đẹp huyền linh

Thánh thiện vời cao một dáng hình

Chỗ ấy em ngồi hoa nở rộ

Trăng sao lấp lánh gợi mơ tình

Vẫy bút say sưa nồng ý tưởng

Tràn nghiên nét mực vẽ tranh viền

Lâng lâng cảm giác vùng sương tỏa

Thế tục lùi xa những não phiền

Tiếng mộng ru hồn say nhịp bước

Cung đàn lã lướt vọng trời mây

Hương lùa tỏa ngát đêm trà nguyệt

Giấc ảo tiên vời khó nhạt phai. 

Minh Thuý Thành Nội

Tháng 11/15/2020




Thảm hoa tím ngợp trời

Hình ảnh thảm hoa tím ở Tà Chì Nhù, VN trải dài bất tận , mênh mông , thơ mộng và hút mắt . Chẳng thua kém gì những cánh đồng hoa Oải Hương ở Pháp .

 Một loài hoa mọc ở Tây Bắc , mang sắc tím như lavender bạt ngàn ven những triền dốc trên đường lên đỉnh núi Phú Lương hay còn gọi là ” Tà Chì Nhù ” ( Trạm Tấu – Yên Bái ). Đây là ngọn núi cao thứ 7 của Việt Nam , có độ cao 2.979 m .

 Người dân tộc Mông gọi hoa tím này là ” Chi Pâu ” nghĩa là ” Không biết ” .

 Thực chất , hoa tím này có tên chính xác là Swertia hoặc Cỏ Mật Rồng hay Đại Tử Đương Dược ( nghĩa là Cây thảo dược có hạt lớn ) .  Là một Chi thuộc Họ Long Đởm Thảo Gentianaceae .

 Theo đó , loài hoa này được miêu tả lần đầu tiên vào năm 1883 . Là một loại thuốc dân gian truyền thống ở vùng Tây Tạng , Vân Nam và Quảng Châu – Trung quốc .

 Ở Việt Nam , họ Long Đởm mọc rất phổ biến ở khu vực núi cao phía Bắc . Là một họ thực vật có hoa chứa khoảng 99 Chi và khoảng 1.740 Loài .

 Đặc trưng nhận dạng là hoa của chúng có hình tia đối xứng và lưỡng tính với các đài hoa , cánh hoa liền và các nhị hoa trên tràng so le với tràng hoa .

 Được sử dụng trong y học cổ truyền và làm hương liệu .

Vân Anh — Petrotimes




NHỮNG BỨC ẢNH ĐẸP VỀ PHONG CẢNH NƯỚC ANH

 Vẻ đẹp miền quê lẫn đô thị của nước Anh , đều được ” bắt trọn ” trong cuộc thi ” Nhiếp ảnh Phong cảnh ” ( Landscape Photographer of the Year 2020 ).

Tác phẩm ” Woolland Woods ” của Chris Frost chụp tại Dorset .

 Tác phẩm ” West Pier Starlings ” của Adrian Mills .

 Chụp tại khu nghĩ mát ven biển Brighton ở phía nam nước Anh .

 Một đàn Sáo Đen bay thành hình đám khói , rất độc đáo ngay phía trên bầu trời West Pier .

 Tác phẩm ” Mirkwood ” chụp tại Buckinghamshire của nhiếp ảnh gia Will Milner .

 Khung cảnh tuyệt đẹp nhìn từ trên cao ở cây cầu cạn Glenfinnan – Scotland của Chris Gorman .

 Anh chụp lúc chỉ còn 20 phút là hoàng hôn buông xuống và khung cảnh tuyết phủ quanh . Khiến nơi này trông như bước ra từ truyện cổ tích .

 Bức ảnh của Martin Birks chụp tại Lake District ( Quận Hồ ). Ở miền núi phía tây bắc nước Anh .

 Anh phải đợi vài tiếng đồng hồ , mới bắt được khoảnh khắc ánh sáng chiếu xuống đỉnh đồi Langdale .

 Tác phẩm đen trắng này có tên là ” Yesnaby Tree Wave ” do Raymond Besant chụp .

 Tác giả kể lại :

— Bão biển đã qua nhưng những đợt sóng lớn vẫn đập vào các vách đá ở Yesnaby . Bờ biển ở phía tây Orkney – Scotland .

— Và anh bị thu hút bởi khoảnh khắc ánh sáng chiếu lên những con sóng bọt tung trắng xóa đó .

 Bức ảnh ” Dawn at Fox Covert ” được Peter North chụp tại Royston , Hertfordshire .

 Anh phải dậy thật sớm để đi tới nơi . Nhưng bù lại , anh được tận mắt nhìn thấy cảnh tượng ánh mặt trời đầu tiên , chiếu rọi qua các tán cây rừng .

 Bức ảnh ” Sugarloaf ” do Drew Buckley chụp vào buổi sáng . Ngay khi bình minh đầu tiên xuyên qua màn mây dày , rọi xuống sườn phía nam núi Surgarlo . Ở Vườn quốc gia Brecon Beacons , xứ Wales .

 Bức ảnh ” Herringfleet Frosty Sunrise ” của David Andrews chụp ở làng Herringfleet tại Suffolk , miền đông nước Anh giáp Biển Bắc .

 Tác giả Steven Cole chụp lại khung cảnh hiếm thấy ở nhà máy điện Ratcliffe-on-Soar ( Nottinghamshire ) .

 Khi nơi này bị bao trùm bởi hơi nước , kết hợp với mặt hồ Sawley Cut . Phản chiếu hình ảnh đêm tĩnh lặng .

 Bức ảnh này còn được đặt tên là ” Cool Power ” .




KIẾP LẦM THAN

Tôi sinh ra giữa núi rừng cao nguyên
Nơi Ba mẹ lưu đày kinh tế mới
Những tháng ngày sống trong miền đen tối
Nên tôi hiểu thế nào là khổ đau !
Những đứa trẻ ở nhà tự giữ nhau
Cho Ba mẹ vào rừng kiếm mây bán
Ba đi trầm, lúc trời còn chưa sáng
Mẹ nấu cơm để đó , rồi đi sau !
Chị ở nhà phải lo trước lo sau
Cơm độn khoai lấy cho em lót dạ
Bầy khỉ đói, vờn quanh nhà chị Cả
Ôm đàn em co dúm lại với nhau !
Rồi những lúc mẹ vắng nhà tôi đau
Sốt rét rừng run từng cơn, tôi sốt
Chiều tối sầm người tôi như lửa đốt
Ba mẹ sao hôm nay vẫn chưa về !

Mẹ đi rừng chẳng may mẹ bị té
Gãy cánh tay Ba phải dắt đi băng
Mẹ ở nhà chị em cứ lăng xăng
Hôm nay vui được ở nhà với mẹ !
Tôi nhõng nhẽo đòi quà mẹ khe khẽ
Chờ Ba về mẹ sẽ dắt đi mua
Đếm từng giờ, đợi từng phút,xót chua
Ba đi rừng một mình rồi lạc lối !
Trời mịt mù Ba lần trong đêm tối
Suốt đêm thâu Ba cũng chẳng về nhà
Đốt đuốt tìm trong muôn vạn xót xa
Lo cho Ba tôi cũng không ngủ được.
Rồi có lần Ba đi rừng trơn trượt
Rớt từ trên đầu thác xuống hố sâu
Họ khiên Ba trong chiếc võng đớn đau
Tôi nhìn Ba mà trong lòng hoảng sợ !

Tuổi thơ tôi lớn lên như thế đó !
Trong rừng thiên nước độc bởi vì đâu ?
Kiếp con người hay là kiếp ngựa trâu ?
Kiếp lầm than miệt mài trong đêm tối .

Theo FB




Vợ chồng bác sĩ Đức gốc Thổ phát triển vaccine Covid-19

 Vợ chồng bác sĩ Đức gốc Thổ phát triển vaccine Covid-19

Cặp đôi trong hình là vợ chồng bác sĩ Uğur Şahin và Özlem Türeci, những người chịu trách nhiệm cốt lõi trong việc phát triển vaccine Covid-19 thử nghiệm, hiệu quả 90% mà chúng ta mới biết hôm qua. Ông bà là các nhà khoa học gốc Thổ Nhĩ Kỳ nay sinh sống ở Đức. Ông 55 còn bà 53 tuổi.

Şahin sinh ra ở Thổ Nhĩ Kỳ được lớn lên ở Đức, nơi cha mẹ ông là công nhân nhà máy Ford. Şahin tiếp tục được đào tạo như một bác sĩ, trước khi trở thành một giáo sư và nhà nghiên cứu chuyên về liệu pháp miễn dịch tại đại học Mainz. Khi làm việc tại các bệnh viện ở Cologne và Hamburg, ông đã gặp nhà miễn dịch học Özlem Türeci, con gái của một bác sĩ người Thổ Nhĩ Kỳ di cư đến Đức.

Cặp đôi gắn bó với nhau vì đam mê nghiên cứu y học và ung thư –  họ mê tới nỗi vào ngày cưới vẫn ở phòng thí nghiệm. Sau đó họ làm ra thuốc trị ung thư mang tên Ganynmed. Và bán nó cho công ty dược phẩm đa quốc gia Nhật Bản Astellas vào năm 2016, với giá 1,4 tỷ usd. Năm 2008, họ lập ra N Biotech để tìm các giải pháp chữa trị ung thư, và có mở rộng ra cho 1 số loại bệnh khác. Quỹ của ông bà tỷ phú Bill Gates đã tài trợ 55 tr usd cho họ.

Vào tháng Giêng, Giáo sư Sahin đã xem một bài báo khoa học về một đợt bùng phát coronavirus mới ở thành phố Vũ Hán, Trung Quốc. Nó khiến ông ngạc nhiên về và tìm hiểu việc làm sao để chuyển từ từ thuốc mRNA chống ung thư sang vaccine chống covid dựa trên mRNA.

BioNTech nhanh chóng phân công khoảng 500 nhân viên để làm việc trên một số hợp chất có thể, và họ đã tìm được đối tác là công ty dược phẩm khổng lồ Pfizer của Mỹ và sự hỗ trợ từ nhà sản xuất dược phẩm Trung Quốc Fosun vào tháng Ba.

Họ đã làm việc cật lực để có thể có kết quả tốt đẹp như loại vaccine đầu tiên đem lại hy vọng cho nhân loại. Ông bà hiện nay là tỷ phú, trong danh sách 100 người giàu nhất nước Đức. Công ty của họ vừa tăng trị giá lên 21 tỷ usd sau sự kiện thành công ban đầu của vaccine. Nhưng ai tiếp xúc với họ cũng luôn kính trọng và yêu quý ông bà vì tính tình khiêm nhường, giản dị và dễ thương.

Ông bà chính là gương thành công của những người nhập cư Thổ Nhĩ Kỳ vào Đức. Và nhân loại mãi mãi biết ơn họ như những lương y từ mẫu, những người đã xuất hiện vào thời điểm khó khăn nhất của loài người, đem lại hy vọng chữa lành bệnh tật và góp phần chặn đứng nạn dịch thế kỷ.

Theo FB




GRIGORI PERELMAN :Thiên tài từ chối giải thưởng toán học

https://en.wikipedia.org/wiki/Grigori_Perelman

Thiên tài từ chối giải thưởng toán học “Fields Medal” cùng triệu đô tiền thưởng G. Perelman.

Thoạt nhìn, ai cũng sẽ nhầm lẫn người đàn ông này là một gã vô gia cư nào đó, với mái tóc bù xù, và quần áo xộc xệch. Nhưng thật ra, ông chính là Grigori Perelman, người được mệnh danh là thiên tài toán học, khi trở thành người duy nhất giải được bài toán hóc búa Poincaré trong 1 thế kỷ qua.Hai nhà báo Marc Nexon và Katia Swarovskaya của tờ Le Point (Pháp) từng tổ chức một chuyến đi dài ngày tới nước Nga, tìm người đàn ông được mệnh danh là thiên tài toán học Grigori Perelman. Khác với những gì người ta có thể tưởng tượng, Perelman sống trong một căn hộ 3 phòng ngủ 65m², tại một tòa chung cư đã cũ, và thậm chí còn không có thang máy. Ông từ chối mọi lời phỏng vấn của phóng viên, cũng như mọi giải thưởng danh giá, và danh tiếng mà mọi người muốn ông nhận.

Mỗi khi có phóng viên tìm đến, ông chỉ trả lời ngắn gọn: “Tôi không trả lời phỏng vấn”. Và khi phóng viên cố nán lại để được trò chuyện với ông lâu hơn: “Nhưng anh vẫn mạnh khỏe chứ?”. Ông trả lời: “Vẫn khỏe, cám ơn và xin chào”. Sau đó, ông vội đóng nhanh cánh cửa lại trước khi phóng viên có cơ hội hỏi thêm câu nào khác nữa.

Đam mê với toán học từ khi còn nhỏ

Grigori Perelman, tên khai sinh đầy đủ là Grigori Yakovlevich Perelman, sinh vào 13/6/1966 tại Leningrad (nay là Saint Petersburg, Nga) trong một gia đình gốc Do Thái. Vào thời điểm mà Liên bang Xô Viết còn chưa sụp đổ, mẹ ông, bà Ludmila là giáo viên dạy toán cho một trường trung cấp kỹ thuật, còn cha là một kỹ sư điện.

Năm 11 tuổi, Perelman đã tỏ ra vượt trội hơn những bạn đồng trang lứa về khả năng lý giải các môn khoa học, và chơi đàn violon. Ông ham học, và yêu thích việc học hơn bất cứ thứ gì trên đời. Có lần Perelman bị sốt cao 39,5 độ C, nhưng sau đó, ông đã lén đem cặp nhiệt kế nhúng vào nước đá để tiếp tục được đến trường.

Năm 14 tuổi, Perelman vào học ở trường số 239 Leningrad (nay là Saint- Pétersbourg), lớp chuyên toán.

Đến năm 1982, khi Perelman 16 tuổi, ông tiếp tục lọt vào danh sách 1 trong 6 thành viên thuộc đội tuyển Liên Xô tham dự cuộc thi Olympic toán quốc tế (IMO) lần thứ 23, tổ chức tại Budapest (Hungary), và giành được huy chương vàng với điểm số tuyệt đối 42/42.

Tuy nhiên, mặc dù thông minh nhưng Perelman được nhiều người nhận xét là có tính cách khá lập dị. Ông hầu như không tha thiết bất cứ thứ gì ngoài việc học tập và nghiên cứu, những gì người khác muốn ông đều không muốn, thậm chí cũng không hề bận tâm đến.

Ví dụ chuyện ăn mặc, có khi người ta thấy ông cài lệch mất một khuy áo, khi lại quên buộc dây giày, và không đi tất vào mùa đông.

Có lúc ông đột nhiên để móng tay rất dài, tận 5cm, và khi có ai hỏi thì ông trả lời: “Giống như việc người ta vẫn để những củ hành mọc ở ban công đó thôi”.

Evgueni Abakoumov, một người bạn từng đi trại hè với Perelman cho biết: “Đừng mất công rủ cậu ấy đi uống bia , bởi tâm trí cậu ấy luôn vẩn vơ ở một nơi nào đó rất xa”. “Thế đối với các cô gái thì sao?”, Evgueni trả lời: “Cậu ấy cũng không quan tâm”.

Perelman sau đó được đặc cách vào học ở trường đại học tổng hợp quốc gia Leningrad (LGU), và nhận được học bổng toàn phần mang tên ‘Lênin’ để chuyển lên làm nghiên cứu sinh.

Năm 1991, Perelman được trao giải thưởng của hội Toán học trẻ Leningrad về những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên môn, và cũng là giải thưởng duy nhất trong đời mà ông nhận.

Năm 1996, Perelman tiếp tục được trao giải thưởng của hiệp hội Toán học châu Âu (EMS) cho các nhà toán học trẻ. Một giải thưởng mà nhiều người ao ước, vì sẽ bảo đảm cho người lĩnh giải được nhận vào làm tại các trường đại học danh giá nhất ở Mỹ và các nước châu Âu. Nhưng Grigori Perelman đã không chần chừ mà nhất quyết từ chối.

Ông tốt nghiệp bằng phó tiến sĩ khoa Toán cơ của LGU, chuyên về lĩnh vực nghiên cứu hình dáng các vật thể trong không gian, và được nhận về công tác cho Phân nhánh Leningrad thuộc viện Toán học cao cấp Steklov (LOMI, hiện là PDMI) lừng danh.

Người đầu tiên giải được giả thuyết Poincaré trong suốt 1 thế kỷ

Trong các lĩnh vực, ông say mê nhất là với hình học. Ở tuổi 26, Perelman từng bay sang Mỹ, dành 3 năm để đọc một loạt bài giảng tại các trường đại học hàng đầu. Và từ đó giả thuyết Poincaré cũng bắt đầu ám ảnh tâm trí Perelman.

(Giả thuyết Poincaré là công thức hình thể của vũ trụ, được nhà toán học người Pháp Jules Henri Poincaré (1854-1912) nêu ra vào năm 1904, là một trong những mệnh đề toán học hóc búa nhất suốt 1 thế kỷ qua chưa có lời giải đáp).

Ông luôn tự giam mình trong nhà, và đắm chìm trong thế giới của mình, nghiên cứu và tìm tòi để giải quyết bài toán hóc búa ấy.

Vào tháng 11/2002, ông đã bất ngờ công bố nghiên cứu dài 59 trang về giả thuyết Poincaré của mình lên mạng xã hội, không thông quá bất cứ tạp chí danh tiếng nào. Dường như, ông không hề quan tâm đến việc đặt bài nghiên cứu mình ở đâu, mà chỉ để thỏa mãn câu trả lời ấy cho riêng mình. Thời điểm ấy, công bố của ông đã trở thành một cú sốc lớn trên toàn thế giới.

“Chúng tôi đã phải cần tới 6 tháng nghiền ngẫm để có thể hiểu được những lập luận trong phần đầu của bài nghiên cứu này”. Gérard Besson, thành viên trong nhóm nghiên cứu, được giao nhiệm vụ đọc và giải mã các kết quả của Perelman.

Tuy nhiên, việc trở nên quá nổi tiếng, khiến ông không hề thoải mái, mà còn tỏ ra khó chịu và kỳ lạ khi nhiều người có thái độ đố kỵ với mình.

“Anh ấy là như vậy. Perelman luôn nghĩ rằng các nhà toán học phải là một cái gì đó rất thuần khiết và trong sáng”. Serguei Roukchine, giáo viên cũ của Perelman, người điều hành một trong các câu lạc bộ toán học nổi tiếng nhất của Saint – Pétersbourg lý giải.

Cũng từ đó, ông càng sống khép mình hơn, không cần đến bất kỳ người bạn nào. “Khi các thành viên của viện ngồi quanh bàn trò chuyện, uống nước chè và ăn bánh ngọt thì Perelman vẫn luôn nán lại ở góc phòng, trước màn hình máy vi tính”.

Từ chối tất cả để quy ẩn

Năm 2005, Perelman bất ngờ nộp đơn từ nhiệm cho Viện Steklov và tuyên bố rút khỏi cộng đồng toán học. Ông cũng yêu cầu hủy hết những thư từ liên lạc có liên quan đến mình.

“Tôi không có bạn và tôi cũng đã tỉnh mộng”, Perelman tuyên bố với viện trưởng Serguei Kisliakov.

Khi Kisliakov ngỏ lời mời Perelman quay trở lại viện bất cứ lúc nào anh muốn, ông đã cám ơn và nói rằng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra.

Không màng đến danh tiếng, hay tiền bạc, những giải thưởng như nỗi ám ảnh đối với ông. Perelman liên tục phải từ chối chúng.

Năm 2006, Liên minh Toán học Quốc tế (IMU) với trụ sở tại Berlin (Đức) quyết định trao huy chương Fields, phần thưởng cao quý vốn được mệnh danh là “giải Fields Medal Toán học” cho Perelman, nhưng ông thẳng thừng từ chối, mặc cho ban tổ chức có thuyết phục thế nào.

Năm 2007, tạp chí học thuật hàng đầu Sience đã tôn vinh danh hiệu Breakthrough of the Year (Khám phá của năm) cho Perelman. Đây là lần đầu tiên trong hơn một thế kỷ tồn tại của mình, tạp chí Sience mới phong danh hiệu này cho lĩnh vực toán học.

Đầu năm 2010, Viện Toán học Clay (CMI), một tổ chức phi lợi nhuận lừng danh có trụ sở ở thành phố Cambridge (Massachusetts, Mỹ), ra quyết định trao giải thưởng Thiên niên kỷ cho ông, vì đã chứng minh được Giả thuyết Poincaré kèm phần thưởng là 1 triệu USD.

Biết tích cách của ông, nên họ thậm chí còn đến tận nhà để trao giải, nhưng cũng như mọi giải thưởng kia, ông đều không nhận, cũng không quan tâm đến.

“Sau khi cân nhắc kỹ giữa việc nhận hay không nhận giải thưởng, tôi tuyên bố từ chối giải thưởng mà Quỹ Clay dự định trao cho tôi”, Perelman cho hay.

Trong những lần hiếm hoi chia sẻ suy nghĩ của mình, ông khẳng định rằng: “Tôi không hứng thú với tiền bạc hay danh vọng. Tôi không muốn bị trưng bày như động vật trong sở thú. Tôi không phải là một anh hùng toán học. Đó là lý do tại sao tôi không muốn mọi người nhìn mình”.

Năm 2011, Grigori Perelman lại một lần nữa, mất công phải từ chối trở thành viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga. Tuy đây chỉ là danh hiệu trong nước nhưng xét về giá trị vật chất thì nó còn lớn hơn tất cả những giải thưởng mà ông từng từ chối trước kia.

“Anh ấy có một đòi hỏi rất cao về đạo đức và từ chối tất cả các dạng thương mại hóa những nghiên cứu khoa học”, Serguei Roukchine lý giải.

Thậm chí, trong thời gian ở ẩn, vẫn còn rất nhiều các trường đại học như Princeton, Berkeley, MIT… những trường hàng đầu của Mỹ thường xuyên gửi lời mời tới Perelman, mong mỏi ông cùng cộng tác và định cư vĩnh viễn ở Mỹ. Nhưng Grigori Perelman kiên quyết từ chối tất cả.

Không ai rõ hiện tại ông sống bằng cái gì, bởi gia đình ông chẳng có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương hưu của mẹ và khoảng tiền nhỏ mà Léna, cô em gái, hiện sống ở Thụy Điển thỉnh thoảng gửi về.

Thậm chí ông cũng rất ít khi đi ra ngoài, và thường chỉ đi ra để mua sắm một cái gì đó. Hàng xóm xung quanh khu chung cư cũng không ai biết nhiều về ông, vì họ thường chỉ trả lời nhau trong một vài câu xã giao nho nhỏ. Thỉnh thoảng cánh nhà báo vẫn tìm đến ông, nhưng đều bị ông từ chối.

Lý giải về việc không muốn nổi tiếng của mình, ông trả lời rằng: “Tôi đã có tất cả những gì mình muốn, nên không quan tâm đến tiền bạc hay danh vọng!”.

“Perelman đã mơ ước chinh phục được đỉnh Everest trong toán và cậu ấy đã làm được điều đó. Giờ đây cậu ấy cảm thấy trống rỗng và muốn rằng mọi người để cậu ấy được yên”, Valery Ryzhik, cựu giáo viên môn toán của Perelman chia sẻ.

Theo Internet




Cuộc bút chiến giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị

ThaiNC

Cuộc bút chiến giữa hai nhà Nho: Tôn Thọ Tường (1825- 1877) người ra cộng tác với Pháp, và Phan Văn Trị (1830-1910), một nhà Nho khác nhưng lại tranh đấu chống Pháp, là một giai thoại văn chương lý thú. Cuộc tranh luận bằng thơ văn giữa hai ông tuy gay go nhưng rất có tính cách văn hóa ở trên văn đàn. Ông Phan Văn Trị (PVT) làm thơ cực lực lên án Ô. Tôn Thọ Tường ( TTT) hợp tác với Pháp là sai trái, là phản bội đất nước, và dĩ nhiên ông TTT cũng đối đáp lại bằng thơ văn lỗi lạc của mình để đưa ra lý lẽ biện hộ cho việc hợp tác với thực dân.

Rất nhiều bài thơ của hai người đã để lại cho đời sau, nhưng được biết đến nhiều nhất là hai bài: “Tôn Phu Nhân Quy Thục”, và “Từ Thứ Quy Tào”.

Có bạn hỏi Tôn Phu Nhân là ai?

Thời Tam Quốc Chí có 3 nước đánh nhau giành thiên hạ

Nhà Ngụy : Tào Tháo

Nhà Thục : Lưu Bị

Nhà Ngô: Tôn Quyền

Một lần kia Lưu Bị vua nước Thục qua nước Ngô. Vua Ngô Tôn Quyền và các tướng lập mưu muốn nhân dịp giết chết Lưu Bị, nhưng nhờ Khổng Minh là quân sư biết trước nên bày mưu để Lưu Bị cưới được em gái Tôn Quyền, tức là “Tôn Phu Nhân”, nhờ sự giúp đỡ của vợ và nhạc mẫu là mẹ Tôn Quyền mà an toàn về nước Thục. Tôn Phu Nhân đã theo chồng, phản anh, phản Đông Ngô thả cọp Lưu Bị về rừng.

Ông Tôn Thọ Tường đã ví mình như Tôn Phu Nhân ấy qua bài thơ:

Tôn Phu Nhân Quy Thục

Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng,

Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông!

Lìa Ngô, bịn rịn chòm mây bạc,

Về Hán, trau tria mảnh má hồng

Son phấn thà cam dày gió bụi,

Đá vàng chi để thẹn núi sông .

Ai về nhắn với Chu Công Cẩn :

Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng

(Tôn Thọ Tường)

Ông TTT đem diển tích Tam Quốc Chí để biện hộ và ví von hành động theo Pháp của mình cũng như Tôn Phu Nhân quy Thục, đã theo chồng thì không thể theo anh. Không thể vẹn cả đôi bề.

Và ông PVT đã đối lại rằng:

“Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,

Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông.

Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng

Duyên về đất Thục đượm màu hồng.

Hai vai tơ tóc bền trời đất,

Một gánh cang thường nâng núi sông

Anh hởi ! Tôn Quyền anh có biết

Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.

(Phan Văn Trị)

Tất cả ý tứ của bài thơ kết lại ở câu cuối : Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng.

Ông Phan Văn Trị nhắn với ông Tôn Thọ Tường rằngTôn Phu Nhân là phận nữ nhi mới thờ chồng cho trọn đạo tam tòng chớ ông là thân nam nhi, bậc thức giả, phải biết chọn chúa mà theo tức là chọn lẽ phải của quốc gia dân tộc, hà cớ chi như phận má hồng, nhắm mắt hùa theo thực dân?

Bài “Tôn Phu Nhân Quy Thục” được giảng dạy trong chương trình trung học, một phần lớn do tính cách văn chương bóng bẩy của cả hai bài thơ. Nhưng nỗi lòng Tôn Phu Nhân thật ra không hoàn toàn phản ảnh con người và hoàn cảnh của ông Tôn Thọ Tuờng.

Bài thơ TỪ THỨ QUY TÀO sau đây của ông mới thực sự bài thơ bày tỏ hết nỗi lòng.

Từ Thứ là ai?

Xin thưa đó là quân sư giỏi của Lưu Bị thời Tam Quốc nói trên. Tào Tháo sợ tài Từ Thứ nên bày kế cho người giả mạo thư của người mẹ ở quê nhà nhắn ông trở về nhà. Ông vì chữ hiếu phải từ giã Lưu Bị về Tào, hứa sẽ không hiến bất cứ mưu kế nào cho Tào Tháo. Và nhất là trước khi đi đã tiến cử Gia Cát Lượng tức Khổng Minh là người tài giỏi hơn mình thập bội cho Lưu Bị.

Ông Tôn Thọ Tường gởi gắm tâm sự mình về với Pháp cũng như Từ Thứ về với Tào Tháo.

Từ Thứ Quy Tào

Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi,

Muối xát lòng ai, nấy mặn mòi.

Ở Hán hãy còn nhiều cột cả,

Về Tào chi sá một cây còi !

Bâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén,

Bịn rịn trông vua biếng giở roi.

Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Ngụy,

Thân này xin gác ngoại vòng thoi!

(Tôn Thọ Tường)

Và Phan Văn Trị đã đối lại rằng:

“Quá bị trên đầu nhát búa voi,

Kinh luân đâu nữa để khoe mòi.

Xăn văn ruổi Ngụy mây ùn đám,

Dáo dác xa Lưu, gió thổi còi.

Đất Hứa nhớ thân sa giọt tủi,

Thành Tương mến chúa nhẹ tay roi!

Về Tào miệng ngậm như bình kín,

Trân trọng lời vàng đáng mấy thoi ?”

(Phan Văn Trị)

Lịch sử cận đại đã chứng minh rằng ông Tôn Thọ Tường không phải là người hoàn toàn đánh mất hết lương tri. Ông ra làm việc với Pháp là con đường giúp nước theo cách riêng của ông. Trong thời gian làm quan cho Pháp, ông không có hành động nào làm hại đến dân tộc và đồng bào. Ông làm quan với quyền hành trong tay có thể bắt bớ Phan Văn Trị và những sĩ phu khác chống đối ông, nếu muốn, nhưng ông đã không làm điều đó. Ngược lại khi nhà cách mạng kháng Pháp Bùi Hữu Nghĩa bị Pháp bắt, ông là người đã đứng ra xin ân xá cho Bùi Hữu Nghĩa.

Trải qua tất cả những bài thơ qua lại giữa hai ông, tuy chính nghĩa vẫn thuộc về ông Phan Văn Trị, nhưng người ta vẫn nhận ra được nỗi khổ tâm thành thực của ông Tôn Thọ Tường qua thơ văn của ông. Trong khi Ô.Phan Văn Trị luôn luôn đanh thép và tấn công trực diện vào con người của ông Tôn Thọ Tường, thì ông Tôn Thọ Tường luôn điềm đạm, muốn chia sẻ, trang trải nỗi lòng mình đối với các vấn đề quốc gia mà thôi.

Tuy hai nhà Nho trên hoàn toàn đối ngược về tư tưởng, nhưng tất cả bài thơ của họ trong cuộc bút chiến đó đều để lại cho hậu thế những áng văn tuyệt tác. Mỗi bài thơ dù của ông Tôn Thọ Tường hay Phan Văn Trị đứng riêng rẽ đều mang một sắc thái riêng biệt đặc sắc, ý thơ sắc bén, đanh thép, nhưng lời thơ lại rất mượt mà, đầy điển cố.

Và đó là cái trí thức đáng kính của người xưa!

ThaiNC




Người Việt đầu tiên đến nước Mỹ

Hà Đình Nguyên

Hà Đình Nguyên

5

Hiện ở P.Long Bình, Q.9, TP.HCM có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm. Có lẽ ít ai biết đây chính là người đã đặt chân đến nước Mỹ cách đây hơn 170 năm.

Tranh vẽ minh họa hành trình của ông Trần Trọng Khiêm /// T.L

Tranh vẽ minh họa hành trình của ông Trần Trọng Khiêm

Câu chuyện bắt đầu từ năm 1842 (năm Minh Mạng thứ 23) ở làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao (Phú Thọ) có một chàng thanh niên 21 tuổi tên Trần Trọng Khiêm phạm trọng án. Số là người vợ mới cưới của anh bị tên chánh tổng ép bức, làm nhục rồi sát hại. Căm giận, Trần Trọng Khiêm quyết báo thù. Sau khi tương kế tựu kế giết chết tên vô lại, anh trốn xuống Phố Hiến (Hưng Yên) rồi xin vào làm việc trên một chiếc tàu buôn ngoại quốc, khởi đầu cho những chuyến phiêu lưu khắp năm châu bốn biển.

Suốt 12 năm (1842 – 1854), Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Á sang Âu: Hồng Kông, Anh, Hà Lan, Pháp… Nhờ trí thông minh, đi đến đâu anh cũng cố gắng học tiếng địa phương. Năm 1849, anh đặt chân đến thành phố New Orleans (Mỹ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.

Sau khi đến Mỹ, Trần Trọng Khiêm bấy giờ 28 tuổi, cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Viễn Tây. Trong gần 2 năm, Lê Kim sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Anh đã tham gia đoàn đào vàng do một người Canada tên Mark khởi xướng. Để tham gia đoàn này, tất cả thành viên phải góp tiền mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Lê Kim góp 200 USD vào thời điểm năm 1849. Do biết nhiều ngoại ngữ, anh được ủy nhiệm làm liên lạc cho thủ lĩnh Mark và làm phiên dịch cho những thành viên trong đoàn gồm tiếng Hà Lan, Trung, Pháp… (trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (nhà xuất bản Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Canada, Anh, Pháp, Hà Lan, Mexico…). Anh nói với mọi người rằng anh còn biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt nhưng không cần dùng đến. Lê Kim cũng nói anh không phải người Hoa nhưng đất nước của anh nằm cạnh nước Tàu.

Lê Kim và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua dãy núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là Oh! Suzannah (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc…). Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng, nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm – họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ. Sốt rét và rắn độc cũng đã cướp đi quá nửa số thành viên trong đoàn.

Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người tháo vát, xông xáo lại biết nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được làm phóng viên tự do cho nhiều tờ báo như: Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.

Lê Kim hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng làm việc ở những mỏ khai thác vàng là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Nhiều bài báo của anh đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A.Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, anh đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, tướng Sutter bị bệnh tâm thần và sống lang thang ở các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không ai đoái hoài đến.

Khi gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 USD và chê trách thái độ của người dân San Francisco cũng như nước Mỹ đối với người khai phá ra vùng đất San Francisco.

Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng anh cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

“Người Minh Hương” cầm quân chống Pháp

Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương (người gốc Hoa, không chịu thần phục nhà Thanh nên di dân sang Việt Nam – NV) đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai.

Trong bức thư bằng chữ Nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Mỹ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường.

Chưa đầy 10 năm sau khi Pháp xâm lược Việt Nam, Lê Kim từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười, trở thành một vị tướng giỏi. Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De La Grandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối: “Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh/Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”. 

(Dựa theo tài liệu của học giả Nguyễn Hiến Lê 1912 – 1984)




Khánh Thúc Hà (KHANH HA), Ngôi Sao Việt Tỏa Sáng Trên Vòm Trời Văn Học Hoa Kỳ

Nhà văn Khanh Ha (Hà Thúc Khánh)

Phương Hoa

Vừa qua, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ (VNHNVĐB HK) mà tôi tham gia, nhận được một tin vui thật lớn, làm rộn ràng cả diễn đàn Văn Bút.  Đó là tin văn sĩ gốc Việt Hà Thúc Khánh (Khánh Hà), phu quân của thành viên Văn Bút văn thi sĩ Nguyễn Phương Thúy, đã đoạt cùng lúc hai giải thưởng văn học giá trị của Hoa Kỳ chỉ cách nhau có một tháng.  Giải truyện ngắn “2020 WILLIAM FAULKNER Literary Competition” hồi tháng 9, và đến nay, gần cuối tháng 10, anh lại đoạt tiếp giải “THE 2020 ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” trong cùng một tác phẩm, “THE WOMAN-CHILD.”

Ngoài việc cùng chung sinh hoạt trong Văn Bút VNHNVĐB HK, tôi còn là thành viên nhóm Cô Gái Việt (CGV) cũng ở Hoa Kỳ, một diễn đàn quy tụ toàn nữ văn, thi, nhạc sĩ Việt, do Phương Thúy điều hành. Cô cũng là chủ nhiệm kiêm chủ bút Tuyển Tập Cô Gái Việt, phát hành mỗi năm một lần, gồm những bài viết của thành viên CGV trên nước Mỹ và thế giới, với mục đích góp phần bảo tồn Việt Ngữ và giữ gìn văn hóa Việt Nam nơi hải ngoại, v.v.  Nhờ vậy, tôi mới có dịp may được quen biết nhà văn Khánh Hà (Nv KH). Xin kính chia sẻ cùng quý độc giả cuộc trao đổi đầy thú vị dưới đây giữa người viết và Nv KH:

Thưa anh Khánh Hà,

Trước hết, Phương Hoa xin trân trọng chúc mừng anh đã đoạt được hai giải thưởng văn học giá trị vừa rồi, và cám ơn anh dành cho P. Hoa cuộc đổi trao, chia sẻ thật đặc biệt, thật vinh dự này.  Là một người viết văn tiếng Việt, và chỉ mới bắt đầu tập tò viết chút ít tiếng Anh gần đây, nên P. Hoa vô cùng khâm phục sự thành công tuyệt vời mà anh giành được khi hội nhập vô dòng chính của văn học Hoa Kỳ. P. Hoa xin phép được hỏi anh đôi điều, mong anh vui lòng chia sẻ để độc giả Việt Báo và bà con đồng hương Việt khắp nơi cùng chia vui với anh.

Nv KH: Xin cám ơn chị P. Hoa đã có nhã ý giới thiệu tôi, một Vietnamese American writer, cho độc giả Việt Báo. Rất hân hạnh được tiếp chuyện với chị hôm nay.

            P. Hoa: Dạ cám ơn anh. Thưa anh, xin anh cho biết thêm chi tiết về hai giải thưởng truyện ngắn của WILLIAM FAULKNER Literary Competition” và “ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” đã trao cho tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” cùng giá trị văn học của chúng, và lý do tại sao anh dự thi hai giải thưởng ở hai nơi lại cùng một tác phẩm? Và nếu tiện, xin anh tóm tắt đôi điều về tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” đã đoạt giải?

Nv KH: Thưa chị, giải William Faulkner Literary Competition trao giải nhưng không xuất bản truyện đoạt giải; còn giải Orison Anthology Award in Fiction sau khi trao giải sẽ xuất bản truyện—lịch trình là mùa thu năm 2021. Tóm lại, không có sự mâu thuẫn hay bất đồng giữa hai giải về sự đệ trình của mỗi truyện tranh giải. Truyện “The Woman-Child” được tóm lược như sau:

Set in Vietnam 20 years after the end of the war in a coastal  habitat being ruined  by modern  aquaculture industry, “The  Woman-Child” tells a story of a tender relationship between Vietnam-born Minh who as a Vietnamese expatriate living in the United States visits the country as a graduate student, and a young local girl who lives  on the  seaside with its  ever-present ocean and its ecological beauty, set against a backdrop of the Vietnam’s environmental degradation caused by shrimp aquaculture, when half a million hectares of coastal mangrove forests had been razed to become prawn farms to feed the American market.

(P.Hoa xin tạm dịch: Truyện lấy bối cảnh ở Việt Nam, 20 năm sau chiến tranh, trong một môi trường sống ven biển đang bị hủy hoại bởi kỹ nghệ thủy sản tân tiến. “The Woman-Child” kể câu chuyện về mối quan hệ mong manh giữa nhân vật tên Minh, một Việt kiều Mỹ, sau khi tốt nghiệp trở về thăm quê hương, và một cô gái trẻ địa phương sống ven biển với đại dương mênh mông cùng vẻ đẹp sinh thái thiên nhiên tự thuở nào của nó, giờ đây phải đối diện với sự suy thoái môi trường tại Việt Nam do kỹ thuật nuôi tôm, khi nửa triệu mẫu rừng cây đuốc ở ven biển đã bị san bằng để làm khu nuôi tôm cung cấp cho thị trường Mỹ.)

            P. Hoa: Tuyệt vời. Thưa anh, ngoài hai giải thưởng này ra, theo chỗ P. Hoa được biết, anh đã từng nhận “không biết cơ man nào” (cười) thành tích. Ví dụ như, 7 lần anh được đề cử vào giải “Pushcart Prize,” một giải thưởng văn học được vinh danh nhiều nhất nước Mỹ kể từ năm 1976, là hội văn học mà hầu hết các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học, viết tiểu luận nổi tiếng ở Hoa Kỳ tham gia từ 1976 cho đến nay. Rồi thì tác phẩm của anh cũng từng vào chung kết giải thưởng “The Mary McCarthy,” “Many Voices Project,” “Prairie Schooner Book Prize,” “The William Faulkner-Wisdom Creative Writing Award,” là những giải thưởng nổi tiếng, và giải “The Sand Hills” dành cho sách hư cấu hay nhất, tiếp đến là giải “Robert Watson” của Greensboro Review về tiểu thuyết hay, và còn nữa… Ôi, đúng là đếm muốn… hụt hơi luôn rồi (cười). Nhờ anh điều chỉnh lại cho đúng, bổ sung thêm những giải thưởng P. Hoa nêu còn thiếu trong danh sách này? Vì P. Hoa biết còn nhiều giải thưởng khác chưa được cập nhật. Đặc biệt, xin anh cho biết, giải thưởng anh nhận đầu tiên là giải thưởng gì? Nhận được năm nào? Và tác phẩm đó tên là gì?

            Nv KH: Cám ơn chị đã quá khen, và cũng xin cám ơn chị đã liệt kê đầy đủ. Sự thật là tất cả các giải thưởng đều nặng phần chủ quan, từ giải thưởng nhỏ đến giải thưởng lớn. Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo—on the same vibrations—thì tỷ lệ thắng sẽ cao hơn, với điều kiện tiên quyết là sáng tác phải có giá trị. Tin vui thường đến rất bất ngờ vì có lẽ những gì mình mong muốn thường không bao giờ đến. Giải thưởng văn chương đầu tiên tôi nhận được là Robert Watson Prize, năm 2013 (see link in blue). Truyện ngắn nhan đề Heartbreak Grass (see link in blue).

            P. Hoa: “Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo” Nghe “ngồ ngộ” nhưng có lý lắm! (smile). Thưa anh, trong tất cả những giải thưởng của anh, giải thưởng nào mà anh tâm đắc nhất? Giá trị cao nhất? Có kỷ niệm nào đặc biệt đáng nhớ, vui buồn, trong những lần anh được giải, hoặc nhận giải, hoặc khi viết về tác phẩm?

            Nv KH: Hai truyện ngắn tâm đắc nhất của tôi là “Heartbreak Grass” và “The Woman-Child.” Trong mỗi truyện người đọc có thể cảm nhận được sự linh động chân thành của những nhân vật và qua bối cảnh của truyện. Thưa chị, viết truyện đã khó thì đoạt một giải văn chương càng khó hơn. Cá vượt vũ môn trong thực tế chỉ là một ảo tượng cho biết bao nhiêu nhà văn. Nhưng tôi rất vui mỗi khi nhận được tin thắng giải mà nói theo tiếng Anh là “a pure joy.”

            P. HoaDạ anh. P. Hoa đã từng may mắn đọc qua truyện ngắn “Heartbreak Grass” của anh, nói về người thương phế binh Cộng sản được gọi là “Uncle Chung,” trở về sau trận chiến với hai mắt bị mù và tứ chi đều mất hết, rất sống động và cảm động… nên anh “đánh bại” hết các tác giả khác cũng đúng thôi.  Và thưa anh, P. Hoa cũng được biết, truyện “Mrs. Rossi’s Dream” của anh mới xuất bản năm 2019 cũng đã nhận quá nhiều kết quả đẹp. Anh được “Foreword Reviews INDIES” trao cho huy chương Bạc về “Historical Adult Fiction” là tiểu thuyết lịch sử dành cho người lớn, và huy chương Đồng về “War & Military Adult Fiction” tiểu thuyết chiến tranh & quân đội dành cho người lớn, và “Booklist” đã vinh danh là sách mới hay nhất. Anh có thể cho biết chút ít về quyển sách này, anh lấy ý tưởng từ câu chuyện thật hay hư cấu? Và phải mất thời gian bao lâu thì anh hoàn tất quyển sách này?

            Nv KH: Tiểu thuyết của tôi thường thành hình bắt đầu từ một hình ảnh. Hình ảnh nguyên thủy chuyển biến thành quyển sách “Mrs. Rossi’s Dream” đến từ một documentary film. Ở đó một bà đồng bóng dẫn một phụ nữ Mỹ đến một nấm mồ nơi thi thể con bà đã được an táng cách đó 20 năm. Lúc bấy giờ tôi đã sống ở đất Mỹ rất lâu và hình ảnh đó vẫn sống trong tôi qua nhiều năm nữa cho đến một hôm tôi cảm nhận được sự thôi thúc phải viết về hình ảnh đó. Trong suốt thời gian viết tôi ngỡ như mình là một đứa bé đang học những điều lạ lùng ở trái đất này, một môi trường đầy đam mê và quyến rũ, đầy những con người đủ chủng tộc, đầy bí ẩn, đầy tham lam, gian ác và hung dữ, nhưng ngược lại cũng đầy tình thương và tha thứ. Một buổi sáng sau hai năm viết liên tục, tôi bước ra ngoài và đứng nhìn cây Hương Đào đang trổ bông rực một góc nhà. Và ve sầu bắt đầu kêu.

P. HoaWow! Thiệt là phải… nín thở khi nghe anh kể (cười), vì có thể thấy sự quyết tâm, cũng như trí tưởng tượng quá phong phú của anh đã thuyết phục được độc giả Mỹ, một điều không phải dễ cho tất cả các nhà văn viết tiếng Anh, nhất là khi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. Và, P. Hoa được biết anh tốt nghiệp ban Văn Chương/Báo Chí ở đại học Ohio, xin cho hỏi, anh có xử dụng bằng cấp này cho việc làm nào khác hay là anh chỉ chuyên viết văn? Về viết văn, cho tới hiện tại anh đã xuất bản được bao nhiêu tác phẩm? Truyện ngắn? Truyện dài?

Nv KH: Tôi không có cơ hội để áp dụng học thức của mình về ngành báo chí; nhưng cách viết của báo thật sự giúp tôi khi viết văn—hành văn của báo chí là ngắn, gọn, gãy, đủ—nói khác hơn là cách diễn đạt phải ngắn gọn và rõ ràng. Đọc Ernest Hemingway có lẽ quí độc giả sẽ thấy tính chất đó. Tác phẩm đầu tiên của tôi là “Flesh,” kế đến là “The Demon Who Peddled Longing,” và tác phẩm gần đây nhất là “Mrs. Rossi’s Dream.” Riêng về truyện ngắn thì tôi có trên 30 truyện đã xuất bản qua nhiều tạp chí văn chương Mỹ–phần lớn là những tạp chí của những chương trình Master of Fine Arts (MFA) do những sinh viên cao học quản lý và điều hành từ các trường đại học khác nhau.

P. Hoa: Dạ, cám ơn anh. Xin cho hỏi, anh có nhà văn thần tượng nào cho phong cách viết của anh không? Và anh có thể cho biết anh có những gửi gắm gì, nhắn gửi gì cho độc giả trong những câu chuyện về chiến tranh như “Mrs. Rossi’s Dream” chẳng hạn?

Nv KH: Thần tượng về văn chương thì tôi không có; tuy nhiên tôi thích đọc Ernest Hemingway, William Faulkner, Cormac McCarthy, Robert Penn Warren. Tác phẩm “Mrs. Rossi’s Dream” hoàn toàn đứng riêng về phương diện chiến tranh. Nó chỉ mô tả sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh và sự mất mát của chúng ta trong tình nhân loại. Là một nhà văn tôi chỉ viết khách quan nên không bao giờ có tham vọng biểu dương một chủ đề hay gởi đời một bài thuyết pháp.

P. Hoa: Dạ anh. Nhưng dù anh có khiêm nhường mà nói thế, độc giả vẫn có thể nhận ra những “sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh” anh mô tả trong truyện, là những nhắn gửi, những lời kêu gọi thống thiết lương tâm loài người về đạo đức, về lòng nhân, và về tình người với nhau. Cho P. Hoa hỏi tiếp, truyện đầu tay bằng tiếng Anh anh viết là khi nào, và đó là chuyện gì?  Điều gì đã giúp anh “đánh đâu thắng đó” khi gửi bài dự thi? Anh đã luôn “đoán trước” được chủ ý và yêu cầu của ban giám khảo?

Nv KH: Thưa chị, truyện đầu tay Anh ngữ của tôi được viết lúc tôi là một senior ở trường đại học Ohio University, Athens, trong khi theo học một khóa Creative Writing. Giáo sư của tôi lúc bấy giờ là nhà văn nổi tiếng Daniel Keyes, tác giả của tác phẩm “Flowers for Algernon.” Cuối khóa ông chọn truyện ngắn của tôi và xin phép tôi cho ông gửi đăng trên tờ tạp chí Ohio Review. Nhan đề truyện ngắn là “A Woman from Saigon.” Tôi quên gần hết câu chuyện vì cũng hơn 30 năm rồi. Về việc gửi bài dự thi và “đoán được” chủ ý lẫn yêu cầu của ban giám khảo thì tôi xin lập lại một sự thật, một chân lý cho tất cả tác phẩm dự thi: Tất cả kết quả đều dựa trên sở thích cá nhân; cho nên nếu hợp tính, hợp thẩm mỹ với nhau thì tác phẩm đó sẽ thắng.

P. Hoa: Thưa anh, P. Hoa đã được đọc nhiều truyện ngắn tiếng Việt anh viết cho tờ Tuổi Hoa trước năm 1975. Khi đó anh còn trong tuổi học trò, mà những truyện ngắn anh viết như “Săn Người,” “Hoa Đầu Mùa,” hay “Tổ Ấm,” trên Tuổi Hoa, ngòi bút của anh khi ấy đã rất chững chạc, sắc sảo, rất hay, và đầy vẻ huyền bí không thua gì những nhà văn nổi tiếng. Một tương lai sáng lạn về văn học Việt Nam như thế, tại sao về sau ra nước ngoài anh không tiếp tục viết tiếng Việt nữa, mà chỉ chuyên viết sách tiếng Anh? Còn nữa, anh có dự định dịch sang Việt ngữ những tác phẩm của anh để bà con mình những người không biết nhiều tiếng Anh có thể đọc?

Nhà văn Khanh Ha (Hà Thúc Khánh)


Nv KH: 
Thưa chị, thưở còn viết cho Tuổi Hoa tôi đang ở tuổi 13-15 và chỉ biết viết vì đam mê. Bao nhiêu năm, sau khi đã trưởng thành tôi không còn sự ngây thơ đó nữa, vì sự tự hào, dù đó là một hảo huyền, đã thúc đẩy tôi sáng tác qua Anh ngữ để đạt một số độc giả rộng lớn hơn. Việc chuyển dịch những gì đã viết từ Anh ngữ sang Việt văn đòi hỏi rất nhiều thì giờ và một tinh thần tận tụy mà tôi không làm được vì đã để hết tâm viết truyện bằng Anh ngữ. Ngoài ra, nếu muốn dịch hay thì nên để một dịch giả khác mình làm chuyện đó. Rất ít có tác giả nào tự dịch những gì mình viết.

P. Hoa: Dạ anh nói đúng lắm. Còn điều này, P. Hoa từng đọc một bài viết dễ thương từ phu nhân Phương Thúy của anh, tựa đề là “Giận”:

(http://nguyenpthuy.jigsy.com/files/documents/0a73d5cd-ab52-4c15-991e-b054ec2934ec.pdf)  


Trong đó có đề cập đến một bài tình thơ bằng tiếng Anh, “Gasoline Rainbow” rất ngọt ngào, rất lãng mạn, anh viết cho nàng khi hai người mới yêu nhau.  Xem ra hồn thơ Anh ngữ của anh cũng khá là… lai láng (cười). Như vậy, ngoài viết sách, anh có làm thơ tiếng Anh không?

            Nv KH: Thưa chị có; nhưng đó cũng như so sánh một chef với một sous-chef. Tình yêu có thể gợi cảm hứng diễn đạt qua vần thơ để bắt giữ những sắc màu lãng mạn lúc đó, và tôi đã làm thơ khi tôi biết yêu. Nhưng cuối cùng tôi vẫn là một nhà văn.

P. Hoa: Anh đối đáp duyên dáng lắm (cười). Là một nhà văn gốc Việt rất thành công trong dòng chính văn học Mỹ quốc, anh thuộc vào hàng “tiền bối” của những cây viết mới bắt đầu, anh có lời khuyên gì, nhắn nhủ gì, bí quyết gì, để dẫn đến sự thành công vượt bực đó mà anh có thể chia sẻ cho những “hậu bối” trên con đường viết lách bằng Anh ngữ, và cả những cơ hội có thể thắng giải văn chương như anh?

            Nv KH: Viết văn cũng như tập nấu ăn, thưa chị. Nếu có người chỉ dạy đó chỉ là mắm muối thêm vào thôi. Sự trưởng thành của một nhà văn đến từ chính mình, có nghĩa là viết và viết. Và đọc. Đọc nhiều để bồi bổ kiến thức cho kỹ thuật viết, và viết nhiều để tôi luyện kỹ thuật hầu tìm được tiếng nói của riêng mình. Một nhà văn không có tiếng nói đặc thù cũng giống như “generic drug” so sánh với “brand-name drug.” Nếu đây có thể xem là một lời khuyên thì xin chị chấp nhận.

P.Hoa: Dạ anh, tất nhiên đó là những lời khuyên vô giá! Câu hỏi chót là về sự nghiệp văn chương của anh: Mục tiêu sắp tới của anh là gì? Anh có dự định tranh đoạt những giải thưởng văn học nào trong tương lai? Và hiện anh có đang chuẩn bị in sách mới?

Nv KH: Tôi luôn bận với sáng tác. Lúc đang viết một tiểu thuyết thì tôi đã có một hình ảnh của sáng tác khác sau đó. Tiểu thuyết tôi vừa viết xong đã có một số truyện ngắn trích ra từ đó, đã và sẽ đăng trên một số tạp chí văn chương của Mỹ–Waccamaw Journal, Solstice Literary Magazine, Evening Street Press. Hiện tôi sắp kết thúc phần tham khảo cho sáng tác mới và sẽ bắt đầu viết vào năm tới.

            P. Hoa: Hết sảy! Chúc mừng anh! Thật là ngưỡng mộ sức viết ngút ngàn như gió cuốn, như mây bay, như nước chảy của anh, những đức tính và sự quyết tâm ấy không phải nhà văn nào cũng làm được. Và, nếu không có gì bất tiện, anh có thể cho biết anh đến Mỹ năm nào và thuộc diện gì?

            Nv KH: Thưa chị tôi du học ở Ohio University, Athens, vào thập niên 70, trước khi chúng ta mất nước vào tay Cộng sản.

            P. Hoa: Dạ cám ơn anh. Để kết thúc cuộc trao đổi này, P. Hoa xin chân thành cám ơn anh Khánh Hà rất nhiều, đã bỏ thì giờ quý báu để chia sẻ nhiều điều thú vị và bổ ích cho những cây viết tiếng Anh “mầm non” gốc Việt (như P. Hoa) trong cuộc trò chuyện này. Kính chúc anh cùng gia đình vui khỏe, hạnh phúc, và riêng anh, chúc anh luôn tiến mãi trong sự nghiệp văn chương trên quê hương thứ hai này.

            Nv KH: Xin thành thật cám ơn chị. Chúc chị và gia quyến được bình an trong thời COVID-19 này.

            P. HoaDạ cám ơn và kính chào anh.

Quý độc giả nếu muốn đọc các truyện ngắn Việt ngữ của nhà văn Khánh Hà đăng trên báo Tuổi Hoa trước 1975 xin mời vô những đường link sau đây. (copy link bỏ lên Google để mở)

*Truyện Ngắn: “Săn Người”  trang 79, — TUỔI HOA số 85 & 86 — Xuân Mậu Thân 1968: https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-bG0wN09Sb29aOEU/view

*“Hoa Đầu Mùa” — TUỔI HOA số 76, 1967:

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-SUExWFFMSlJRckU/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 52, 1966 (serialized Part 1):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-RnRQeFdDQVdybGs/view

*“Tổ Ấm”– TUỔi HOA số 53, 1966  (serialized Part 2):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-REl5Z0RDbGZLRmM/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 54, 1966 (serialized Part 3):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-aGZ2bjhVS0tzZDQ/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 55, 1966 (serialized Part 4):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-cFc3UEEzWGxEU0E/view

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 56, 1966 (serialized Part 5):

*“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 57, 1966 (serialized Part 6):

https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-aDFheFlsc2RhSHc/view

Phương Hoa – Tháng 10/2020




Nhớ người

Nhớ người từ chốn nghìn trùng
Nhớ người tan nát tận cùng thịt da
Nhớ hoang sơ, nhớ thật thà
Nhớ yêu dấu rất mặn mà tháng năm
Nhớ thương dáng đứng, ngồi, nằm
Nhẹ như gió thoảng, thì thầm trăng sao
Nhớ trong giấc ngủ, chiêm bao
Nhớ trong tiếng hát gọi chào bình minh
Nhớ từ thuở rất điêu linh
Nhớ đời những lúc gập ghềnh, gian nan
Tay trong tay vẫn dịu dàng
Ta chưa một phút bẽ bàng cho nhau
Nhớ người, nhớ trước, nhớ sau
Nhớ trăm năm đã đi vào trăm năm

NK-TNC




LẦN ĐẦU VỀ XỨ MẠ

Hai mốt tuổi, theo Mạ về với Huế
Xứ sở bao năm với mắt quế môi trầm..
Huế từ trên cao, ẩn hiện giữa mù giăng..
Con luôn miệng..Huế mềm mô hở Mạ?

Sóng sánh lệ, tiếng nấc dài..rơi lả chả
Huế mềm tê..răng lạnh lẽo mọi ngã đường!
Vệt uốn dài trắng đục, nớ Dòng Hương..
Con cắt cớ, Huế dú mình…răng kỹ rứa!

Càng xuống thấp..Nước mắt Mạ giàn giụa
Bốn mươi ba năm, xa Huế đến tận chừ..
Huế mơ màng trinh bạch nét hoang sơ
Đương nhấp nháp..cơn gió lùa rét buốt !

Huế ẩn hiện trong sương mờ trắng muốt
Mạ ngậm ngùi..Con liên tục bấm máy quay
Nơi chôn rau cắt rún của Mạ ni..
Huế hiện hữu..hệt tự tình của Mạ!

Mạ quỳ sụp, giữa Thu tàn xao xác lá
Vết lăn trầm viễn xứ..bước tha phương
Chừ khấu đầu trước Tiên Tổ, Cố Hương..
Con cảm nhận..Nỗi lòng Người Xứ Huế!

Đời thênh thang, phận người như chiếc lá
Khi úa vàng..xin được rụng dưới Cội cây!
Mặc ngoài tê, mưa gió lạnh giăng đầy..
Răng ấm áp..khi trong lòng Xứ Mạ!

Về Đại Nội trong Trời mưa tầm tã..
Hai mạ con..phó mặc bước trong mưa
Giọt ngắn giọt dài, như lấn lướt giọt mưa..
Trong thổn thức khi lần về Nguồn Cội!

Đến Kim Luông..chạng vạng mưa giăng lối
Bước chân lạc loài, hiu hắt gió Thu đưa..
Đệ Phủ chong đèn..rêu phong phũ lối xưa
Tay trong tay Mạ..

Chiều Huế Thương..Hai lẻ bảy !




NHỮNG LOÀI CHIM ĐẸP NÓI ĐƯỢC TIẾNG NGƯỜI

* Tại sao một số các loài chim học hay bắt chước được tiếng người ?

* Các nhà động vật học cho biết :

— Nguyên nhân mấu chốt là cuống lưỡi của các loài chim ( Vẹt , Sáo …) rất phát triển . Lưỡi nhọn , nhỏ , dài , mềm và rất linh hoạt .

— Cơ hót của chúng tương đối phát triển . Có thể phát ra âm điệu chính xác , rõ ràng . Thêm vào đó , khả năng bắt chước và trí nhớ của chúng cũng khá tốt .

— Do vậy , dưới sự nuôi dưỡng của con người . Một số các loài chim biết nói . Có thể học nói và hát . Khiến mọi người yêu thích .

— Song , các nhà khoa học cũng cho rằng : chúng có thể nói được là do hành vi bắt chước mà thôi . Đó là một loại phản xạ có điều kiện . Chúng chắc chắn không thể giống như con người hiểu được nghĩa của tiếng người được .

* Dưới đây là một số các loài chim nói được tiếng người :

1. Chim Yểng :

— Khả năng học vẹt của chim Yểng rất giỏi .

— Điều thú vị là chúng có thể mô phổng ngữ âm , ngữ điệu .

— Loài chim Yểng gây ấn tượng bởi khả năng phát âm của chúng . Chuẩn xác đến bất ngờ .

2. Vẹt Xám Châu Phi :

— Sống ở các khu vực rừng nhiệt đới Tây và Trung Phi .

— Vẹt Xám Châu Phi là loài chim thông minh nhất thế giới .

— Chúng không những chỉ nghe , hiểu mà còn bát chước giọng nói của con người . Kể cả bắt chước tiếng của các vật xung quanh như chó , mèo … và huýt sáo .

3. Vẹt Indian Ring Parakeet :

— Loài chim này , có thể học được khoảng 200 đến 250 từ .

— Tuy nhiên , Vẹt Indian Ring Parakeet có khả năng mỗi con khác nhau .

— Khả năng ngôn ngữ của chúng tùy thuộc rất lớn vào sự tương tác giữa người và con vật .

4. Sáo Đen :

— Sáo Đen là một trong những loài chim học vẹt được con người đón nhận nhất hiện nay .

— Mặc dù tỉ lệ mở miệng thấp hơn loài chim Yểng nhưng chúng vô cùng thông minh .

— Chim Sáo Đen tính cách cũng tốt .

— Chúng cũng còn có thể học những loại khả năng như : ngậm , tha …

5. Chim Vẹt Cockatoo :

— Với khả năng nghe và bắt chước các loại âm thanh quen thuộc . Mà chúng còn có khả năng nói tiếng người rất tốt .

— Tuy nhiên , rất thông minh nhưng Vẹt Cockatoo lại rất hay nghịch ngợm .

— Đây cũng là loài chim biết nói khá thú vị .

6. Vẹt Scarlet Macw :

— Chúng có khả năng nói rất tốt .

— Đây cũng là loài chim cảnh tuyệt đẹp và lý tưởng .

* Loài chim Vẹt Scarler Macw ban đêm luôn thích giọng sắc lẽm , kêu vài tiếng và thích nói chuyện .

7. Vẹt Eclectus Parrot :

— Đây là loài chim Vẹt có khả năng phát âm rõ nhất về từ vựng .

— Vẹt Eclectus Parrot cũng có thể bắt chước các âm thanh phát ra từ môi trường xung quanh

— Chúng có khả năng hát một bài hát trọn vẹn với giai điệu quen thuộc .

* ( Thông tin thêm ):

— Đây là một trong 5 con chim Vẹt Xám Châu Phi . Đã dạy cho nhau cách nói bậy . Và không hiểu sao , mỗi lần thấy du khách là chúng thường xuyên ” chửi thề ” với du khách . Vì vậy chúng đã buộc phải cách ly .

— 5 chú Vẹt này thuộc Công viên Động vật hoang dã Lincolnshire — Anh .




ẤM TỬ SA

Do Duy Ngoc

LTG

Sáng nay trời đẹp, rảnh rỗi lại thấy trong người sung sức mà không biết làm gì, bèn cầm máy vô Chợ Lớn kiếm vài tấm hình. Ngang qua một tiệm bán đồ gốm sứ Trung Hoa, ghé vô xem chơi. Thấy mấy cái ấm Tử sa, hỏi cô bé bán hàng, cô chẳng biết gì. Tình cờ ông chủ tiệm đi đâu về, hỏi ổng, ông ta cũng chỉ biết lờ mờ. Ông ta bảo ngộ chỉ biết bán hàng thôi, ngộ không biết nhiều về mấy hàng này đâu, nị biết nói cho ngộ nghe với. Tui nói với ổng sơ lược về mấy điều rồi hỏi ổng có chơi facebook không, ông ta bảo có. Tui mới bảo rằng tui có viết một bài về ấm Tử sa, mời ông vào xem. Về nhà, mở Facebook tìm lại bài viết, chắc tại lâu quá, nó trôi đâu mất rồi.   Thôi thì đăng lại lần nữa, xem như giữ trên Facebook cho dễ kiếm.

—————————————————

Ấm Tử Sa dùng chỉ dòng ấm gốm, cụ thể hơn là ấm pha trà được làm từ đất sét Tử Sa, vùng Nghi Hưng thành phố Vô Tích, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.

Các cuộc khai quật khảo cổ cho thấy từ đầu thời Nhà Tống(thế kỷ X) đã có những bình gốm pha trà được làm từ loại đất sét tử sa hay còn gọi “tử nê”. Theo ghi chép của học giả triều Minh Chu Cao Khởi, thời hoàng đế Chính Đức có một nhà sư ở đền Tử Sa, Nghi Hưng đã nặn những bình trà từ đất sét địa phương, chúng được học giới đương thời ưa thích và danh tiếng bình gốm Tử Sa bắt đầu được biết đến.

Ấm trà tử sa, bên cạnh Kinh kịch, quốc họa thủy mặc và lụa Tô Châu được coi là một trong 4 quốc bảo Trung Hoa trong chiến lược bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống.

Tử sa được khai thác từ khu mỏ núi Hoàng Long tỉnh Giang Tô. Thời gian thành tạo cách đây khoảng 350 triệu năm, thuộc kỷ Devon đại cổ sinh Paleozoic. Nằm ở phần rìa cổ của nền sông Dương Tử và giao thoa của 3 đới biển, đất và hồ. Khoáng sản đất sét được thành tạo bởi các phần tử sét hạt mịn và các khoáng vật khác được nước và gió đưa đến.

Tử sa, nghĩa đen là cát màu tím, có thành phần khoáng vật gồm quartz, sét, hydromica và hematite. (Wikipedia)

Hương vị có được trong ấm tử sa do thành phần khoáng vi lượng. Nó có trong chất đất, và vì bề mặt không tráng men nên trong quá trình pha trà nó sẽ hoà vào nước. Khác với tinh dầu trà, nó tồn tại lâu bền trong ấm. Lâu dần lớp khoáng sẽ tích tụ lại và làm tăng hương vị của trà.

Khi chọn mua một ấm tử sa, người ta thường chỉ ra mấy chiêu để ta chọn như thả vào chậu nước, ấm phải nổi, nhận ấm xuống, ấm nổi lên không nghiêng, không bung nắp. Cách nữa là bịt lỗ thông hơi trên nắp thì rót sẽ không ra nước. Còn cách nữa là lấy nắp ấm gõ vào quai sẽ phát ra âm thanh như kim loại chạm vào nhau.

Mua một cái ấm tử sa về để uống trà thì nên chọn ấm đơn giản, ít hoa văn rườm rà, miệng rộng để dễ cho trà vào cũng như khi đổ xác trà. Chú ý chọn một chiếc ấm không dễ ngã đổ khi đặt trên bàn, ấm có hình thể cân đối, cầm thấy sướng tay.

Bằng mắt quan sát ta nên chọn ấm có hình dáng thanh thoát, nhìn thích mắt. Các bộ phận như :thân ấm, nắp, miệng, vòi, quai, đáy phải cân đối, liền lạc. Màu sắc đồng đều trong ngoài. Dấu triện của nghệ nhân hay nhà sản xuất nét chữ sắc sảo, đặt cân đối ở trung tâm đáy ấm, theo trục thẳng từ quai sang vòi ấm. Những chiếc ấm đắt tiền thường có thêm dấu triện phụ dưới nắp và quai cầm thật rõ nét. Vòi ấm có thể dài ngắn khác nhau, nhưng quan trọng là khi rót, nước chảy thông, đều và thẳng dòng, không rơi vãi hay đọng giọt nhểu ra ngoài.

Nghe bằng tai, ta đặt ấm lên lòng bàn tay, tay kia cầm nắp ấm khẽ gõ vào quai, tiếng kêu như kim loại chạm vào nhau.

Cầm trên tay ta thấy ấm trơn tru, mịn màng, không tì vết. Nắp và miệng ấm khít khao, vì ấm Tử sa được nung trong lò liên tục 23 tiếng đồng hồ ở nhiệt độ từ 1.190 – 1.270 độ C (trung bình 1.200 độ C), đòi hỏi tay nghề nghệ nhân phải cao, chất đất phải thật tốt và mịn mới không bị co giãn khi nung. Do tính bào mòn trong quá trình sử dụng, một chiếc ấm dùng càng lâu càng lên nước, không đổi màu, đó mới chính là đặc trưng ưu việt của ấm Tử sa, chứ màu sắc đất không liên quan gì đến chất lượng và công dụng.

Không có ấm Tử sa có mùi thơm, nếu có cũng chỉ do người ta bơm xịt vào vì đất lọc bao lần rồi vào nung, mùi thơm ở đâu mà có.

Sắm cái ấm Tử sa về xài, ta phải biết cách sử dụng và bảo trì nó. Nếu biết cách, sau thời gian dài sử dụng ấm sẽ trở nên sáng ngời, tròn trịa, dày nặng, rắn chắc và tinh khiết…Càng sử dụng, giá trị của ấm càng tăng. Ấm mua về, có người dùng giấy nhám loại nhuyễn thấm nước kỳ cọ mặt trong cho sạch lớp bùn (thời xưa, dùng ngói lợp nhà làm bằng đất đen ở vùng Giang Nam tán thành bột nhuyễn, dùng mấy lớp vải sô bọc lại để chà xát, cọ rửa), sau đó cho ấm vào một nồi nước đun sôi suốt mấy tiếng đồng hồ.

Có người dứt khoát đun sôi ấm như thế trong một nồi trà lớn, để ấm có thể hấp thu chất trà vào các lỗ thông khí kép (khí khổng), loại bỏ mùi của đất.

Uống trà bằng ấm Tử sa cũng như hút thuốc bằng tẩu, nên dùng mỗi loại trà mỗi ấm riêng để giữ được hương vị của mỗi loại trà. Mỗi lần uống xong, khi rửa bộ đồ trà, nên dùng xác trà cũ trong ấm chà xát lên toàn thân ấm, ấm thấm xác trà mà không gây trầy xước, càng chà lâu thân ấm càng đẹp.

Đối với những chiếc ấm cũ bề mặt nứt rạn nhẹ, dùng phương pháp “nước trà dưỡng ấm” có thể khôi phục, những vết nứt rạn sẽ dần dần khít lại, đúng là “tôn cổ xuất tân”.

Cái thú vị của chơi ấm Tử sa là chọn trà cho từng ấm và chọn ấm cho từng loại trà. Chiếc ấm cho ra chén trà ngon lại dùng trà để giữ ấm. Trà và ấm quấn quýt với nhau để cho người thưởng thức chén trà có được một đạo làm cuộc đời thêm đẹp

Viết lại ngày 3.6.2019

DODUYNGOC

Nói thêm:

CÁCH PHA TRÀ KHI DÙNG MỘT ẤM TRÀ MỚI:

Bình trà mới mua về, nên rửa bằng nước nóng. Có người dùng bàn chải đánh răng với kem chà trong và ngoài ấm. Sau đó bỏ vào nồi, đổ nước đun sôi 45 phút. Khi đun nhớ quấn vải quai và vòi cho kỹ, nhớ lót đáy ấm để khỏi bị va đập khi nước sôi. Sau đó, tắt bếp và để nguội. Khi nước nguội, lấy ấm ra rửa lại lần nữa. Cầu kỳ hơn, lại cho ấm vào nồi đun sôi trở lại, mở nắp ấm và cho vào khoảng 3 muỗng loại trà bạn dự định pha với ấm này. Tắt bếp, đậy nắp ấm và hãm trong 30 phút, sau đó đổ hết bã trà và rửa sạch bằng nước ấm. Lặp lại một lần nữa để tăng thêm hương vị trà vào bề mặt ấm trà.

SỬ DỤNG ẤM:

Luôn đổ tràn nước qua miệng ấm khi pha trà, và lau khô ấm bằng vải mềm sẽ làm ấm trà mau chóng có lớp cao trà bóng sáng. Không cọ rửa ấm, chỉ làm sạch bằng nước nóng. Khi bạn muốn đổi loại trà khác thích hợp hơn cho ấm trà, hãy làm lại các bước trước khi sử dụng ấm ở phần trên.