Cánh tay của Ban Tôn giáo Chính phủ vừa được nối dài vươn ra hải ngoại
Ban Tôn giáo Chính phủ vừa ký một thỏa thuận liên quan đến hơn năm triệu người Việt hải ngoại. (Đây là kết quả bầu cử năm 2020, Ông Jose Biden là Tổng Thống thứ 46 Hoa Kỳ).
Ông Vũ Chiến Thắng (trái), Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ và ông Đặng Minh Khôi, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. Ảnh: Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo Tổ Quốc. Minh họa: Luật Khoa.Ngày 27/11/2020, Ban Tôn giáo Chính phủ đã ký một thỏa thuận hợp tác với Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là một thỏa thuận liên quan đến hơn năm triệu người Việt hải ngoại. Ban Tôn giáo Chính phủ đã nói về mục đích của sự hợp tác này một cách rất chung chung, như hỗ trợ hoạt động tôn giáo, nghiên cứu, xây dựng chính sách tôn giáo của người Việt hải ngoại. Tuy nhiên, một vài hoạt động trong năm 2020 của hai cơ quan này có thể cho bạn thấy một góc độ khác. “Đấu tranh với những thế lực chia rẽ đồng bào” Trước khi ký thỏa thuận hợp tác, lãnh đạo của hai cơ quan đã thể hiện một cái nhìn chung về tình hình tôn giáo của người Việt hải ngoại. Vào tháng 5/2020, ông Vũ Chiến Thắng, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ, đã có một bài viết dài đăng trên Tạp chí Cộng sản lên án việc lợi dụng tôn giáo để chống nhà nước. Vị trưởng ban – đồng thời là một thiếu tướng công an – cáo buộc một số tổ chức người Việt hải ngoại đã lợi dụng các vấn đề tôn giáo ở Việt Nam nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. “Một số thế lực nước ngoài đã ban hành báo cáo, phúc trình, thậm chí là đạo luật, nghị quyết ‘lên án’ tình hình bảo đảm quyền con người của Việt Nam, nhất là trên lĩnh vực tôn giáo”, ông Vũ Chiến Thắng viết. Ông cho rằng các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo như vậy đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến Việt Nam, và việc đấu tranh với những tổ chức này được xem là một nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc quan trọng.Hơn một tháng sau, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Đặng Minh Khôi đã đích thân đến trụ sở của Ban Tôn giáo Chính phủ. Trong buổi làm việc với Ban Tôn giáo Chính phủ, ngoài đề cập đến tình hình sinh hoạt tôn giáo của người Việt hải ngoại, Thứ trưởng Khôi phát biểu: “Vẫn tồn tại các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để bôi nhọ, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, gây mất đoàn kết, làm ảnh hưởng tổ chức tôn giáo trong nước”. Ông Khôi cũng tuyên bố rằng hai cơ quan nên sớm “xây dựng, thông qua quy chế phối hợp công tác”, đặc biệt là hợp tác về “hoạt động của cộng đồng chức sắc, tín đồ người Việt Nam ở nước ngoài”.Năm tháng sau, hai cơ quan này đã ký một chương trình phối hợp công tác kéo dài 5 năm (2020 – 2025) nhắm đến hơn năm triệu người Việt hải ngoại.
Lễ ký kết chương trình hợp tác giữa Ban Tôn giáo Chính phủ và Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, ngày 27/11/2020. Ảnh: Ban Tôn giáo Chính phủ.
Luật Khoa đã trao đổi với ông Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc điều hành và Chủ tịch của tổ chức nhân quyền BPSOS có trụ sở tại Mỹ và là người có thâm niên vận động cho tự do tôn giáo ở Việt Nam. Theo ông Thắng, nhận định của ông trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ cho thấy nhà nước “vẫn chưa xem người dân ra gì”, nhưng lại rất quan tâm đến áp lực quốc tế vì đụng chạm đến lợi ích của mình. “Khi các tổ chức nước ngoài, nhắc nhở, đốc thúc hoặc đòi hỏi họ thực thi thì họ cáo buộc rằng đó là lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để gây sức ép về ngoại giao lên Việt Nam. Đúng ra, nhà nước Việt Nam cần tự xét và tự sửa; khi đã cam kết với quốc tế rồi thì họ phải lương thiện, phải thực tâm thi hành đúng và đủ các cam kết ấy”, ông Thắng nói với Luật Khoa. Người dân biết gì về thỏa thuận hợp tác? Ban Tôn giáo Chính phủ cho biết hiện nay có 5,3 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó khoảng 80% là người có tín ngưỡng, tôn giáo. Những nhiệm vụ trong chương trình 5 năm này chỉ được Ban Tôn giáo Chính phủ cho biết một cách rất chung chung. Về mặt luật pháp, việc hợp tác sẽ giúp xây dựng các chủ trương, chính sách, luật pháp liên quan đến tôn giáo của người Việt hải ngoại. Hai bên cùng thống nhất rằng cần phải đổi mới hơn nữa việc vận động, tuyên truyền chính sách của đảng, nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cho người Việt hải ngoại. Việc hợp tác giữa Ban Tôn giáo Chính phủ và Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài sẽ thúc đẩy việc xây dựng cơ chế trao đổi thông tin về hoạt động tôn giáo giữa hai cơ quan. Ngoài ra, từ kết quả hợp tác này, các tổ chức tôn giáo dành cho người Việt hải ngoại cũng sẽ được thành lập. Ban Tôn giáo Chính phủ đã thực hiện một số hoạt động liên quan đến tôn giáo của người Việt Nam ở nước ngoài. Ví dụ như năm 2018, Ban Điều phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập ở Lào. Lễ thành lập ban điều phối này có sự hiện diện của hai cán bộ Ban Tôn giáo Chính phủ, hai thành viên cấp cao Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một cán bộ thuộc Cục An ninh Nội địa Việt Nam.
Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Ngô Sách Thực tham dự sự kiện ra mắt ban điều phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào năm 2018. Ảnh: mattran.org
Năm 2019, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng trong chuyến làm việc ở Campuchia đã tuyên bố rằng sẽ xem xét thành lập Ban Điều phối Phật giáo Việt Nam và Thánh thất Cao Đài tại nước này. Bài viết của ông Vũ Chiến Thắng trên Tạp chí Cộng sản cũng nên là một nguồn thông tin để người Việt Nam chuẩn bị tinh thần cho các hoạt động trong tương lai của cơ quan này ở hải ngoại. Trong bài viết đó, vị trưởng ban đã đề ra những hoạt động về tôn giáo ở hải ngoại trong tương lai, như tham gia nhiều hơn các diễn đàn quốc tế để tuyên truyền chính sách tôn giáo của Việt Nam, “kịp thời định hướng dư luận” về các vấn đề tôn giáo “nổi cộm”, “đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc”, chủ động tuyên truyền đối ngoại về tôn giáo… BPSOS: Chính quyền Việt Nam xâm nhập các cộng đồng tôn giáo ở hải ngoại Hoạt động hợp tác của Ban Tôn giáo Chính phủ và Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài dựa trên một nghị quyết năm 2004 của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Ông Nguyễn Đình Thắng cho rằng một trọng tâm của nghị quyết này trong thực tế là xâm nhập các cộng đồng tôn giáo của người Việt hải ngoại. Ông Thắng nêu một ví dụ liên quan đến đạo Cao Đài ở Mỹ. Năm 2009, Hội thánh Cao Đài Tòa thánh Tây Ninh (còn được gọi là Chi phái 1997) đã công khai thông báo việc một số hội thánh Cao Đài ở thành phố Boston (tiểu bang Massachusetts) và tiểu bang Utah quay về phục tùng Chi phái 1997. Việc này được xem là một thành công của Ban Tôn giáo Chính phủ trong việc thi hành Nghị quyết số 36.
Hội thánh Cao Đài Tòa thánh Tây Ninh được BPSOS cho là một tổ chức tôn giáo quốc doanh. Ảnh: SBS.
Vào năm 2018, BPSOS đã ngăn chặn một hoạt động khác của Chi phái 1997 tại Mỹ mà họ cho là “tinh vi”. Theo đó, văn phòng đại diện của chi phái này ở Mỹ xin được giấy phép độc quyền sở hữu danh hiệu “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Nếu được cấp phép chính thức thì bất kỳ thánh thất nào ở hải ngoại muốn dùng danh hiệu này đều phải được Chi phái 1997 cho phép. Năm 2019, sau các can thiệp pháp lý của BPSOS, giấy phép tạm thời về sở hữu thương hiệu này cho Chi phái 1997 đã bị chính quyền Hoa Kỳ hủy bỏ. Giám đốc điều hành của BPSOS cũng nhận định rằng chính quyền Việt Nam còn tận dụng chính sách thị thực cho người hoạt động tôn giáo để gửi các sư sãi Phật giáo vào Hoa Kỳ. “Cách đưa người xâm nhập vào Hoa Kỳ như sau. Một chùa Phật giáo có thể bảo lãnh dăm người; sau vài năm số người này bỏ ra ngoài, lập chùa mới và mỗi chùa lại bảo lãnh dăm người nữa. Cứ thế tiếp tục. Chắc chắn đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đã không bỏ qua cơ hội này để cài người vào cộng đồng Phật giáo của người Việt ở Hoa Kỳ nhằm thực hiện Nghị quyết số 36”, ông Thắng cho biết. Việt kiều: Từ phản động trở thành “khúc ruột ngàn dặm” Hình ảnh những người miền Nam phải rời bỏ đất nước sau 1975 đã thay đổi liên tục trong mắt chính quyền Việt Nam.Sau ngày 30/4/1975, họ được xem là thành phần “phản động”. Không bao lâu sau, chính quyền lại gọi họ là “khúc ruột ngàn dặm”, “một bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết dân tộc”, mời gọi họ trở về đất nước.
Một buổi gặp gỡ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ năm 2015. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Các nghiên cứu được trình bày trong một bài viết của Luật Khoa cho thấy chính quyền đã chủ động cởi mở các chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo để kích thích chủ nghĩa dân tộc, kêu gọi người Việt Nam trở về nước từ cuối thập niên 1990. Theo Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, một nhà nghiên cứu có ảnh hưởng đến các chính sách tôn giáo của Việt Nam, việc thờ cúng tổ tiên đã được cho là có khả năng nuôi dưỡng lòng trung thành với quốc gia. Sau đó, nhà nước thay đổi cách ứng xử với hoạt động thờ cúng tổ tiên, không còn tẩy chay mà biến nó thành truyền thống dân tộc. Những chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, kích thích tình yêu quê hương đã khiến đông đảo Việt kiều gửi ngoại tệ về cho người thân để làm ăn, cũng như đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Theo nghiên cứu của Kate Jellema, lượng kiều hối gửi về nước vào năm 2004 vào khoảng 3,2 tỷ đô-la Mỹ, nhiều hơn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Năm 2005, hai nhân vật nổi tiếng của miền Nam trước năm 1975 là Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, về thăm Việt Nam. Vào lúc này, Thủ tướng Phan Văn Khải đã kêu gọi người Việt hải ngoại gác lại sự khác biệt trong quá khứ để đóng góp cho đất nước.Cộng đồng người Việt ở nước ngoài vẫn được xem là một nguồn nhân lực, nguồn đầu tư kinh tế đáng kể cho Việt Nam. Tuy vậy, chính quyền Việt Nam chỉ chấp nhận đầu tư kinh tế, chứ không chấp nhận sự chỉ trích của cộng đồng này đối với các chính sách tôn giáo khắc nghiệt.
(thơ song ngữ) CHÚA PHỤC SINH của NGUYỄN NGUYÊN THANH & THANH-THANH
Quan hệ sâu sắc với phong trào ‘Tái lập vĩ đại’ cấp tiến của Chủ nghĩa toàn cầu
Biden có quan hệ sâu sắc với phong trào ‘Tái lập vĩ đại’ cấp tiến của Chủ nghĩa toàn cầu
Ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ Joe Biden phát biểu trước đám đông tại một sự kiện ở tòa thị chính tại Clinton College vào ngày 29 tháng 8 năm 2019 ở Rock Hill, Nam Carolina (Ảnh của Sean Rayford / Getty Images) “Bình mới rượu cũ” – Chủ nghĩa toàn cầu đang lợi dụng dịch viêm phổi Vũ Hán để khởi động phong trào gọi là “Tái lập vĩ đại” nhằm phá bỏ chủ nghĩa tư bản tự do và trật tự thế giới cũ, tập trung quyền lực và tiền cho thành viên của chủ nghĩa toàn cầu… Nó sẽ biến xã hội hiện tại thành xã hội mang màu sắc xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.Chủ nghĩa toàn cầu có vẻ không còn hợp thời ở các nền dân chủ, nhưng những người ủng hộ nó đang lên kế hoạch cho một sự phục hưng trở lại vào tháng Giêng năm nay, nơi họ sẽ khởi động “Cuộc tái lập vĩ đại” từ cái nôi của Davos giàu có, hoàn toàn dựa trên nền tảng lý luận về xã hội chủ nghĩa.
‘Tái lập vĩ đại’ – định nghĩa khác của Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản toàn cầu
Trong nhiều thập kỷ, những người cấp tiến đã cố gắng sử dụng biến đổi khí hậu để biện minh cho những thay đổi chính sách tự do. Nhưng nỗ lực mới nhất của họ – một đề xuất mới được gọi là “Tái lập vĩ đại” – là kế hoạch cấp tiến và đầy tham vọng nhất mà thế giới đã thấy trong nhiều thập kỷ gần đây. Tại một cuộc họp trực tuyến đầu tháng 6/2020 do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tổ chức, một số nhà lãnh đạo doanh nghiệp quyền lực nhất hành tinh, các quan chức chính phủ và các nhà hoạt động đã công bố đề xuất “thiết lập lại” nền kinh tế toàn cầu.Thay vì chủ nghĩa tư bản truyền thống, nhóm này cho rằng thế giới nên áp dụng các chính sách gần gũi và thực thi hình thái xã hội chủ nghĩa, chẳng hạn như đánh thuế tài sản cao, các loại thuế môi trường cao, ủng hộ làn sóng di cư từ nước nghèo sang nước giàu, điều này sẽ tạo ra chính phủ cực lớn, chính phủ sẽ thu tài sản của dân (qua thuế) và phân phối lại (qua quyền chi tiêu, đầu tư và phúc lợi), tất cả nằm dưới một ngôn từ đẹp đẽ “Thỏa thuận Xanh Mới”. Klaus Schwab, người sáng lập và là chủ tịch điều hành WEF, viết trong một bài báo đăng trên trang web của WEF: “Nói tóm lại, chúng ta cần một ‘Sự tái lập vĩ đại’ của chủ nghĩa tư bản”. Schwab cũng nói rằng “tất cả các khía cạnh của xã hội và nền kinh tế của chúng ta” phải được “cải tiến”, “từ giáo dục đến hợp đồng xã hội và điều kiện làm việc”.
Người sáng lập và chủ tịch điều hành của WEF Klaus Schwab bắt tay với Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường trong WEF vào ngày 27 tháng 6 năm 2016 tại Thiên Tân, Trung Quốc (Ảnh của Wang Zhao – Pool / Getty Images)Tham gia cùng Schwab tại sự kiện WEF là hoàng tử Charles, một trong những người đề xuất chính của “Tái lập vĩ đại”; Gina Gopinath, nhà kinh tế trưởng tại Quỹ Tiền tệ Quốc tế; António Guterres, tổng thư ký Liên hợp quốc; và các CEO và chủ tịch của các tập đoàn quốc tế lớn, như Microsoft và BP. Các nhà hoạt động từ các nhóm như Tổ chức hòa bình xanh quốc tế – Greenpeace International và nhiều viện nghiên cứu cũng đã tham dự sự kiện hoặc bày tỏ sự ủng hộ của họ đối với “Sự tái lập vĩ đại”. Cho đến giờ, các nguyên tắc chung của kế hoạch Tái lập vĩ đại đã rất rõ ràng: Thế giới cần các chương trình lớn của chính phủ mới; các chính phủ lớn hơn, quyền lực hơn và người dân, doanh nghiệp ngày một phụ thuộc vào chính phủ. Chương trình nghị sự đưa ra các cải cách chính sách sâu rộng, giống hệt với những chính sách được đưa ra bởi những người theo chủ nghĩa xã hội Mỹ như Thượng nghị sĩ Bernie Sanders (I-Vt.), và đại diện Alexandria Ocasio-Cortez (DN.Y.) trong kế hoạch Green New Deal (Thỏa thuận Xanh mới) của họ .Thẳng thắn mà nói, Davos kêu gọi phát triển chủ nghĩa toàn cầu theo hình thái chủ nghĩa xã hội (cộng sản) – một khái niệm mà WEF đã cố tình tránh sử dụng, đánh tráo bằng khái niệm ‘Tái lập vĩ đại’; bạn có thể dễ dàng kiểm chứng trong vô số kêu gọi và kế hoạch xã hội chủ nghĩa, ẩn danh dưới mỹ từ ‘tiến bộ’ của WEF, được vận hành bởi giới “tinh hoa” mà thôi. Tổng thư ký của Liên đoàn Công đoàn Quốc tế, Sharan Burrow cho biết: “Chúng ta cần thiết kế các chính sách để phù hợp với đầu tư vào con người và môi trường. Nhưng trên tất cả, viễn cảnh dài hạn là về tái cân bằng các nền kinh tế”.
Virus Corona Vũ Hán là cơ hội để chuyển đổi nền kinh tế thế giới sang Chủ nghĩa xã hội toàn cầu?
Một trong những chủ đề chính của cuộc họp tháng 6/2020 là đại dịch viêm phổi Vũ Hán, đã tạo ra một “cơ hội” quan trọng cho nhiều thành viên của WEF để thực hiện chuyển đổi căn bản chủ nghĩa tư bản, điều mà họ thừa nhận rằng sẽ không thể thực hiện được nếu không có đại dịch .“Chúng tôi có cơ hội vàng để nắm bắt điều gì đó tốt đẹp từ cuộc khủng hoảng này – những đợt chấn động chưa từng có của nó có thể khiến mọi người dễ tiếp nhận những tầm nhìn lớn về sự thay đổi”, Thái tử Charles cho biết tại cuộc họp và nói thêm sau đó. “Đó là cơ hội mà chúng tôi chưa từng có trước đây và có thể không bao giờ có nữa”.
Thái tử Anh Charles có bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới trong cuộc họp thường niên của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) ở Davos, vào ngày 22 tháng 1 năm 2020. (Ảnh của Fabrice COFFRINI / AFP/Getty)Bạn có thể tự hỏi làm thế nào những nhà lãnh đạo này lên kế hoạch thuyết phục thế giới thay đổi hoàn toàn nền kinh tế về lâu dài, vì đại dịch viêm phổi Vũ Hán chắc chắn sẽ không là một cuộc khủng hoảng mãi mãi. Câu trả lời là họ đã xác định được một “cuộc khủng hoảng” khác sẽ cần đến sự can thiệp rộng rãi của chính phủ: Biến đổi khí hậu. “Mối đe dọa của biến đổi khí hậu đã xuất hiện dần dần [so với COVID-19] —nhưng thực tế tàn khốc của nó đối với nhiều người và sinh kế của họ trên khắp thế giới, và tiềm năng phá vỡ ngày càng lớn của nó, vượt qua cả Covid-19”, Thái tử Charles nói.Tất nhiên, các quan chức chính phủ, các nhà hoạt động và những người có ảnh hưởng không thể tự mình áp đặt một sự thay đổi mang tính hệ thống ở quy mô này. Đó là lý do tại sao họ đã bắt đầu kích hoạt mạng lưới rộng lớn bao gồm các nhà hoạt động cánh tả trên khắp thế giới, những người sẽ yêu cầu những thay đổi trong suốt năm 2021 phù hợp với “Sự tái lập vĩ đại”.Theo WEF, hội nghị thượng đỉnh Davos năm 2021 bao gồm hàng nghìn thành viên của Cộng đồng Shapers Toàn cầu, các nhà hoạt động thanh thiếu niên ở 400 thành phố trên khắp hành tinh. Chương trình Global Shapers đã tham gia vào các “cuộc đình công về khí hậu” trên diện rộng năm 2019 và hơn 1.300 người đã được đào tạo bởi Dự án Thực tế về Khí hậu, một tổ chức hoạt động vì khí hậu có tầm ảnh hưởng lớn, được tài trợ bởi cựu Phó Tổng thống Al Gore, người phục vụ trong Ban Quản trị của WEF .
Sự đáng sợ của “Tái lập vĩ đại”
Đối với những người ủng hộ thị trường tự do, “Sự Tái lập vĩ đại” thật đáng sợ. Chắc chắn là hệ thống tư bản thân hữu hiện tại của chúng ta có nhiều lỗ hổng, nhưng trao quyền nhiều hơn cho các nhân viên chính phủ, những người đã tạo ra hệ thống thân hữu đó và làm xói mòn quyền sở hữu không phải là cách tốt nhất.Mỹ là quốc gia thịnh vượng, hùng mạnh nhất thế giới, chính vì những nguyên tắc thị trường mà những người ủng hộ “Tái lập vĩ đại” không chỉ bất chấp mà còn đang chối bỏ tất cả các giá trị làm nên nền tảng thịnh vượng bền vững của Mỹ và nhiều nền kinh tế khác. Những người ủng hộ “Tái lập vĩ đại” đã cố gắng lờ đi các thảm họa nhân đạo, các chính quyền độc tài chuyên chế, đói nghèo, bất bình đẳng, áp bức chính tín và đàn áp dân chủ tại các quốc gia có chính phủ thâu tóm tài sản, phân phát lại quyền lợi cho người dân doanh nghiệp trong đất nước của họ theo con đường xã hội chủ nghĩa hoặc cộng sản chủ nghĩa như Triều Tiên, Venezuela, Trung Quốc, Cuba,… Làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn, cánh tả đã chứng minh trong suốt đại dịch viêm phổi Vũ Hán rằng nó có thể thay đổi hoàn toàn thực tế chính trị giữa cuộc khủng hoảng, vì vậy không khó để thấy rằng “Tái lập vĩ đại” cuối cùng có thể thành hiện thực như thế nào.Bạn có thể tưởng tượng George W. Bush hoặc Bill Clinton in hàng nghìn tỷ USD và gửi nó cho hàng triệu người không bị mất việc làm? Điều này không thể tưởng tượng được chỉ vài thập kỷ trước. Ngày nay, chính sách này nhận được sự ủng hộ của lưỡng đảng. Khôi hài, Thái tử Charles đã đúng: Đại dịch hiện nay là “cơ hội vàng” để thay đổi triệt để. Và nếu Al Gore, Thái tử Charles và các thành viên còn lại của WEF có thể thuyết phục đủ mọi người rằng – nỗ lực ngăn chặn biến đổi khí hậu cũng đáng để thúc đẩy nhân loại hướng tới sự kiểm soát nhiều hơn của chính phủ – thì thay đổi triệt để – và thảm khốc – chính là điều chúng ta đang làm để có được.
Khẩu hiệu ‘Xây dựng lại tốt hơn’ của Biden và ‘Tái lập vĩ đại’ của Chủ nghĩa toàn cầu
Nếu, chỉ là NẾU Joe Biden có thể được bầu làm tổng thống tiếp theo của Hoa Kỳ, hầu hết người Mỹ vẫn chưa biết sự thật về hệ tư tưởng cấp tiến của Biden.Mặc dù đã tự coi mình là một đảng viên Dân chủ “ôn hòa” trong nhiều thập kỷ, Biden vẫn luôn cho thấy rằng quan điểm của ông về chủ nghĩa toàn cầu và vị thế của Mỹ trên thế giới khác xa với xu hướng chủ đạo và giá trị cốt lõi mà Mỹ đang theo đuổi. Lập luận này được chứng minh rõ ràng nhất bằng cách xem xét mối quan hệ chặt chẽ của Biden với WEF, diễn đàn hiện đang thúc đẩy một cuộc “Tái lập vĩ đại” đáng lo ngại với chủ nghĩa tư bản tự do, và nhiều tuyên bố mà Biden đã đưa ra trong vài năm qua đều lặp lại tư tưởng Tái lập vĩ đại.Phong trào Tái lập vĩ đại đã được nhiều nhà lãnh đạo thế giới, bao gồm người đứng đầu Liên hợp quốc, Thái tử Charles, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, các tổ chức công đoàn quốc tế và Giám đốc điều hành của các tập đoàn lớn áp dụng rộng rãi.Sử dụng đại dịch viêm phổi Vũ Hán và biến đổi khí hậu làm vũ khí tranh đấu cho sự chuyển đổi cơ bản của nền kinh tế thế giới, phong trào Tái lập vĩ đại nhằm tiêu diệt chủ nghĩa tư bản hiện đại và thay thế nó bằng một hệ thống xã hội chủ nghĩa, thậm chí là cộng sản chủ nghĩa, chẳng hạn như hệ thống thu nhập cơ bản và Thỏa thuận Xanh Mới, cũng như buộc tất cả các công ty trên toàn thế giới phải thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội của cánh tả, vốn giống hệt với phương pháp “cào bằng” mà các quốc gia thất bại chủ nghĩa xã hội đã theo đuổi. Trong một bài báo đăng trên trang web của WEF, người sáng lập và Chủ tịch điều hành WEF Klaus Schwab – người đang dẫn đầu phần lớn phong trào ‘Tái lập vĩ đại’ trên toàn cầu – đã viết rằng “thế giới phải hành động chung và nhanh chóng để cải tiến mọi khía cạnh của xã hội và nền kinh tế của chúng ta, từ giáo dục đến hợp đồng xã hội và điều kiện làm việc”.Schwab cũng viết: “Mọi quốc gia, từ Hoa Kỳ đến Trung Quốc, đều phải tham gia, và mọi ngành công nghiệp, từ dầu khí đến công nghệ, đều phải chuyển đổi. “Nói tóm lại, chúng ta cần một cuộc ‘Tái lập vĩ đại’ của chủ nghĩa tư bản”.Schwab và những người ủng hộ “Tái lập vĩ đại” đổ lỗi cho nhiều vấn đề của thế giới là do sự thất bại của “khế ước xã hội” hiện có và cái mà họ gọi là “chủ nghĩa tư bản cổ đông” – hệ thống kinh tế hiện tại ở phần lớn thế giới phương Tây. Theo “chủ nghĩa tư bản cổ đông”, các cá nhân có thể mua cổ phần của các công ty, sau đó dự kiến sẽ sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà họ có thể bán cho khách hàng để thu lợi nhuận. Mặc dù Biden (theo quan điểm của tác giả) chưa bao giờ được hỏi trực tiếp về việc liệu ông ta có ủng hộ “Tái lập vĩ đại” hay không, nhưng Biden đã đưa ra nhiều nhận xét lặp lại những quan điểm tương tự. Ví dụ, vào tháng Bảy, Biden kêu gọi chấm dứt “kỷ nguyên của chủ nghĩa tư bản cổ đông”. Điều này thật đáng sợ! Chắc chắn là như vậy.
Ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ Joe Biden và Thượng nghị sĩ Kamala Harris (D-CA) lên sân khấu để phát biểu tại Trường trung học Alexis Dupont vào ngày 12 tháng 8 năm 2020 ở Wilmington, Delaware (Ảnh của Drew Angerer / Getty Images)Ngoài ra, cũng giống như WEF và những người ủng hộ Cuộc tái lập vĩ đại, Biden đã nói rằng chính phủ nên sử dụng đại dịch như một lời biện minh để “viết lại hợp đồng xã hội” của Hoa Kỳ.Các kế hoạch “Xây dựng lại tốt hơn” (Build back better) của Biden chính xác là nội dung trong sổ tay của phong trào Tái lập vĩ đại. Trong nhiều năm, những người ủng hộ cuộc Tái lập vĩ đại tại WEF và các nơi khác đã nói về việc “xây dựng lại tốt hơn” bằng cách mở rộng đáng kể quyền lực của chính phủ, theo đuổi các kế hoạch cơ sở hạ tầng “xanh” tốn kém và tăng đáng kể thẩm quyền của các tổ chức quốc tế. Các đề xuất của Biden sẽ làm được điều đó và tên “Xây dựng lại tốt hơn” quá giống với những gì những người khác liên kết với phong trào Tái lập vĩ đại mà WEF đã cho là chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.Ví dụ, vào năm 2016, một chuyên gia phát triển tại Ngân hàng Thế giới, thảo luận về các thảm họa thiên nhiên liên quan đến biến đổi khí hậu, đã viết cho WEF: “Áp lực đối với các chính phủ hiện nay là không phải đợi đến khi một thảm họa xảy ra để ‘xây dựng lại tốt hơn’. Thay vào đó, nhu cầu cấp thiết là phải xây dựng tốt hơn ngay bây giờ, và đánh giá kỹ lưỡng các rủi ro hiện tại đối với cơ sở hạ tầng công nghiệp”. Vào tháng 5 năm 2020, WEF đã đăng lên trang web của mình một bài báo có tiêu đề “‘Xây dựng lại tốt đẹp hơn’ – Đây là cách chúng ta có thể điều hướng những rủi ro mà chúng ta phải đối mặt sau COVID-19”, trong đó người viết lập luận: “Chúng tôi đã xem xét các cách để ‘xây dựng lại tốt hơn’ và rõ ràng là đầu tư vào các nền kinh tế xanh hơn sẽ là một phần rất lớn trong nỗ lực phục hồi”.Vào ngày 13 tháng 7 năm 2020, chưa đầy một tuần sau khi Biden kêu gọi “chấm dứt kỷ nguyên của chủ nghĩa tư bản cổ đông” trong khi quảng bá kế hoạch “Xây dựng lại tốt hơn” của riêng mình, WEF đã xuất bản một bài viết có tiêu đề “Để xây dựng lại tốt hơn, chúng ta Phải phát minh lại chủ nghĩa tư bản. Đây là Cách thức mà chúng ta cần làm”. Và những ví dụ này chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Có nhiều người khác cho thấy WEF sử dụng khẩu hiệu “xây dựng lại tốt hơn” trước và sau khi Biden phát hành các đề xuất chính sách Xây dựng lại tốt hơn của mình.Biden cũng có quan hệ chặt chẽ với nhiều người ủng hộ ‘Tái lập vĩ đại’ và các nhà lãnh đạo tại WEF, nơi Biden đã nhiều lần đưa ra các bài phát biểu quan trọng.Cựu Ngoại trưởng John Kerry – đồng chủ tịch “Đội đặc nhiệm thống nhất” về biến đổi khí hậu của Joe Biden và là người mà nhiều người tin rằng có thể phục vụ trong chính quyền của Biden – đã công khai ủng hộ ‘Tái lập vĩ đại’ và kêu gọi cải cách “khế ước xã hội” của Mỹ. Thị trưởng South Bend Pete Buttigieg, người được bổ nhiệm vào nhóm chuyển tiếp của Biden , là thành viên của Diễn đàn các nhà lãnh đạo trẻ toàn cầu của WEF. Cố vấn chính sách khí hậu của Buttigieg – David Victor, liên kết với WEF và là tác giả của một bài báo dài cho Đại học Yale vào tháng 6 năm 2020 với tiêu đề “Xây dựng lại tốt hơn: Tại sao châu Âu phải dẫn đầu phục hồi xanh toàn cầu”.Hơn nữa, Biden có mối quan hệ chặt chẽ với ít nhất ba thành viên hội đồng quản trị WEF , những người ủng hộ, ở các mức độ khác nhau, nền tảng “Tái lập vĩ đại”: Al Gore, David Rubenstein và Laurence Fink, chủ tịch và giám đốc điều hành của BlackRock, người mà nhiều nhà tài trợ đảng Dân chủ đã báo cáo rằng sẽ trở thành sự lựa chọn của Biden cho vị trí Bộ trưởng ngân khố.
Laurence Fink, chủ tịch và giám đốc điều hành của BlackRock, người mà nhiều nhà tài trợ đảng Dân chủ đã báo cáo rằng sẽ trở thành sự lựa chọn của Biden cho vị trí Bộ trưởng ngân khố. (Ảnh: FABRICE COFFRINI/AFP via Getty Images)Ngoài ra, thành viên hội đồng quản trị WEF và Giám đốc điều hành Salesforce, Marc Benioff là người ủng hộ lâu năm của Kamala Harris.Có thể tìm thấy thêm bằng chứng về mối quan hệ mật thiết của Biden với những người ủng hộ “Tái lập vĩ đại” trong sự ra mắt của Viện Biden, có trụ sở tại Đại học Delaware. Vào năm 2017, khi Viện Biden lần đầu tiên bắt đầu, Biden cho biết ông muốn mô hình hóa một số hoạt động của tổ chức mới sau WEF, và thậm chí ông đã gặp lãnh đạo của WEF và người ủng hộ lớn nhất thế giới về Tái lập vĩ đại, Klaus Schwab, để giúp phát triển một kế hoạch cho tương lai của Viện.Tổng hợp lại, các kế hoạch chính sách, thông điệp chiến dịch và mối liên hệ của Biden với các nhân vật quan trọng của “Tái lập vĩ đại” dường như chỉ ra một kết luận rất khó hiểu: Joe Biden có khả năng là người ủng hộ “Tái lập vĩ đại” triệt để, một đề xuất mà nếu được ban hành, sẽ đại tu hoàn toàn nền kinh tế thế giới – ủng hộ chủ nghĩa tập thể hơn và tập trung quyền lực vào tay giới tinh hoa quốc tế.Nghe có vẻ khó tin, nhưng khi có khói, hầu như luôn có lửa.Thiện Nhân – Thanh Đoàn
Nước Mỹ của Đảng Dân chủ đang đi theo vết xe đổ của chủ nghĩa xã hội dân chủ?
Trong cuốn sách “Sự cám dỗ của Chủ Nghĩa Xã Hội” đã nhấn mạnh lý do tại sao, cụ thể ở đây là chủ nghĩa xã hội lại hấp dẫn người Mỹ đến vậy – không chỉ sinh viên mà ngay cả những người bảo thủ lâu năm. (Wikimedia Commons) Theo Iain Murray, Chủ Nghĩa Xã Hội làm tốt công việc nói lên các giá trị cốt lõi của nước Mỹ, ngay cả khi trên thực tế, nó làm xói mòn những giá trị đó.Sự ủng hộ đối với chủ nghĩa xã hội ở Mỹ không phải là mới, cũng không phải là sự thúc đẩy mang lại thành công cho các chính sách xã hội dân chủ. Nó dường như xuất hiện lại sau vài thập kỷ qua, nhưng theo Iain Murray, lần này sự hiểu biết của mọi người về chủ nghĩa xã hội kém hơn nhiều. Iain Murray – người đứng đầu Trung tâm Tự do Kinh tế tại Viện Doanh nghiệp Cạnh tranh ở Washington, cho biết: “ Hiện tại, thật khó để xác định ý nghĩa của chủ nghĩa xã hội”. Nếu được hỏi, người ta có thể nhắc đến “một nền kinh tế như Thụy Điển”. Ngoại trừ việc Thụy Điển xếp hạng cao hơn Hoa Kỳ về thương mại thị trường tự do, có nhiều mô hình trường học để lựa chọn cạnh tranh và đánh thuế các tập đoàn ở mức tương đương với Hoa Kỳ. Mọi người có thể đề cập đến hệ thống phúc lợi của Thụy Điển, bao gồm chăm sóc sức khỏe miễn phí, chứ không nghĩ rằng hệ thống như vậy tạo ra nhiều cầu hơn cung có thể đáp ứng.Vì vậy, nếu bạn hỏi tiếp “Mong muốn của mọi người là gì?”. Những người theo chủ nghĩa xã hội sẽ nói: “Chúng tôi chỉ muốn sự dân chủ”. Murray nói tiếp: “Họ có xu hướng muốn nói đến một nhà nước mở rộng hơn về pháp lý. Nhà nước sẽ kiểm soát nhiều hơn các ngành công nghiệp và dịch vụ công – một hình thức kiểm soát gián tiếp, kiểm soát vi mô. Cuối cùng sẽ dẫn đến trực tiếp can thiệp vào các doanh nghiệp, từ đó, người chịu trách nhiệm sẽ không phải các doanh nhân mà là quan chức và Chính phủ”. Trong cuốn sách mới của Murray, “Sự cám dỗ của Chủ Nghĩa Xã Hội”, ông đã nhấn mạnh lý do tại sao, cụ thể ở đây là chủ nghĩa xã hội lại hấp dẫn người Mỹ đến vậy – không chỉ sinh viên mà ngay cả những người bảo thủ lâu năm.Ông nói: “Nó thực hiện rất tốt công việc nói lên các giá trị cốt lõi của nước Mỹ, và nó nói với họ ở cấp độ giá trị đó. Có ba giá trị thực sự cốt lõi của Mỹ, đó là công bằng, tự do và cộng đồng.”
“Nó thực hiện rất tốt công việc nói lên các giá trị cốt lõi của nước Mỹ, và nó nói với họ ở cấp độ giá trị đó. Có ba giá trị thực sự cốt lõi của Mỹ, đó là công bằng, tự do và cộng đồng.” (The Epoch Times)Những người ủng hộ chủ nghĩa xã hội nói rằng xã hội hiện tại không công bằng, và chủ nghĩa xã hội là giải pháp sẽ tạo ra sự công bằng đó. Họ nói rằng mọi người không thể được tự do đúng mức trong xã hội này, bị áp bức và bóc lột (các gói cứu trợ ngân hàng và khoản nợ của sinh viên vùng hẻo lánh). Ông cho biết thêm: “Nó trực tiếp đề cập đến những giá trị này. Nhiều người nói rằng chủ nghĩa xã hội là đơn giản, nhưng tôi không nghĩ là như vậy. Nhưng nó rất dễ dàng cung cấp câu trả lời trực quan cho những vấn đề này”. Murray đề cập đến “nhận thức văn hóa” trong cuốn sách của mình, điều này phân tách người Mỹ thành bốn nhóm giá trị: Những người theo chủ nghĩa truyền thống, chủ nghĩa quân bình, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa định mệnh. Những người ở nhóm bốn tin rằng mọi thứ đều do may rủi và họ thường không tham gia bỏ phiếu, vì vậy nhóm thứ tư này không phải là trọng tâm chính của bất kỳ chiến dịch chính trị nào. Trong khi đó, ba nhóm trên có thể bỏ phiếu hoặc thay đổi chọn sang đảng phái khác. Những người theo chủ nghĩa quân bình là những người đã bị chủ nghĩa xã hội lừa gạt hết lần này đến lần khác, vì xã hội từ xưa đến nay chưa bao giờ hoàn toàn bình đẳng. Nhưng có thể thấy phe chủ nghĩa cá nhân ủng hộ việc tái phân phối của cải dưới danh nghĩa cơ quan chính phủ, còn những người theo chủ nghĩa truyền thống chấp nhận các chính sách xã hội chủ nghĩa để trừng phạt các doanh nghiệp, bởi vì các công ty thường không ủng hộ các giá trị truyền thống, Murray viết. “Đó là một triết lý rất duy tâm và chủ nghĩa duy tâm có xu hướng không lo lắng về chi tiết, nhưng chi tiết lại rất quan trọng”, Murray nói. Nó có thể nói lên các giá trị của người Mỹ, nhưng trên thực tế “chúng làm suy yếu những giá trị đó”.
Chủ nghĩa xã hội dân chủ ở Anh
Murray lớn lên ở Anh vào những năm 1970. Cha của ông là một thợ điện không thể kiếm được việc làm vì ông ấy không tham gia công đoàn, và ngược lại không thể tham gia công đoàn vì ông ấy thất nghiệp. Mẹ của ông là một giáo viên và chịu sự cạnh tranh thiên vị. Murray nói: “Tất cả các ngành công nghiệp và tiện ích, v.v. đều đã được quốc hữu hóa, và nói thật đó là một nơi ảm đạm và buồn tẻ trong những năm 1970”. Các liên đoàn lao động có toàn quyền, vì vậy những người không thuộc tầng lớp này phải chịu đựng thống khổ.
“Tất cả các ngành công nghiệp và tiện ích, v.v. đều đã được quốc hữu hóa, và nói thật đó là một nơi ảm đạm và buồn tẻ trong những năm 1970”. (Minh họa: Public Domain)Các công đoàn thực hiện tất cả các quyền thương lượng với doanh nghiệp, điều đó dẫn đến các cuộc đình công thường xuyên. Cũng có nghĩa là sự mất mát của các dịch vụ và tiện ích công cộng là một phần của cuộc sống hàng ngày và trên quy mô lớn, bao gồm cả lạm phát quốc gia và mất tiền tiết kiệm. Vì vậy đình công là một công cụ. “Khi còn nhỏ, tôi phải làm bài tập ở nhà dưới ánh nến vì các nhân viên điện lực đã đình công. Có một thời kỳ được gọi là Mùa Đông Bất Mãn, nơi mọi dịch vụ công đều đình công theo cách này hay cách khác, cho dù đó là công nhân bệnh viện, hay thậm chí là người bốc mộ…. Đến mức có những đống rác khổng lồ trên đường phố bởi vì các công nhân vệ sinh đình công và những người chết nằm không được chôn cất vì những người bốc mộ đang đình công”. Nước Anh cũng giống như Thụy Điển, sau đó bắt đầu tư nhân hóa các ngành công nghiệp sau khi các thử nghiệm chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ hút cạn của cải quốc gia và hạ thấp mức sống.
Nước Anh cũng giống như Thụy Điển, sau đó bắt đầu tư nhân hóa các ngành công nghiệp sau khi các thử nghiệm chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ hút cạn của cải quốc gia và hạ thấp mức sống. (Minh họa: Public Domain)Tất nhiên, hầu hết mọi người sẽ thường được giải thích rằng “bất kỳ nỗ lực nào nhằm cải tạo ra một nhà nước xã hội chủ nghĩa trong quá khứ đều không phải chủ nghĩa xã hội thực sự”. Khi các chính sách xã hội chủ nghĩa được thông qua thành luật, mọi người ăn mừng sự thật rằng chủ nghĩa xã hội đích thực cuối cùng cũng đã xảy ra. “Vài năm đầu, mọi thứ dường như đang đi đúng hướng, nhưng sau đó bánh xe mới thực sự bắt đầu vận hành. Mọi thứ bắt đầu trở nên sai trái vì những mâu thuẫn cố hữu của chủ nghĩa xã hội, bởi vì doanh nghiệp không thể có quyền kiểm soát dân chủ đối với mọi quyết định kinh tế”, Murray nói. Tại thời điểm đó, những người theo chủ nghĩa xã hội bắt đầu đổ lỗi cho những kẻ phá hoại, từ các tác nhân trong nước đến nước ngoài. Sau đó, khi có sự cố bùng phát không thể tránh khỏi xảy ra, họ có thể bỏ đi và tuyên bố rằng đó không phải là chủ nghĩa xã hội thực sự.
Tại thời điểm đó, những người theo chủ nghĩa xã hội bắt đầu đổ lỗi cho những kẻ phá hoại, từ các tác nhân trong nước đến nước ngoài. (Minh họa: Public Domain)Những năm 1970, nước Anh được coi là “kẻ bệnh hoạn của châu Âu” và những năm gần đây thực trạng này đang lặp lại. “Đảng Lao động ở Anh đã đi theo chủ nghĩa xã hội cực đoan hơn trong chiến dịch bầu cử cuối cùng kể từ khi tôi thấy từ những năm 1980”; Murray cho biết: “Chúng tôi biết các chính quyền xã hội chủ nghĩa trước đây đã thất bại, nhưng chúng tôi sẽ làm đúng trong lần này”. Sự sụp đổ của họ thực sự là do hứa hẹn quá nhiều thứ miễn phí. “Ngay cả các cựu thành viên Lao động của Quốc hội cũng chỉ trích điều này bởi vì họ biết một lúc nào đó, mọi người sẽ không còn tin vào những lời hứa. Và rõ ràng, với quy mô thất bại của Đảng Lao động, họ thực sự đã đi quá giới hạn”, Murray nói.Murray chủ yếu hy vọng người Mỹ sẽ hiểu chủ nghĩa xã hội là gì. “Điều quan trọng là chỉ ra những mâu thuẫn của chủ nghĩa xã hội. Thử hỏi tại sao, nếu chủ nghĩa xã hội là bình đẳng, nó luôn tạo ra một giai cấp thống trị mới gồm những quan chức với những đặc quyền riêng của họ? Tại sao, khi những người theo chủ nghĩa xã hội nói rằng họ muốn giống như Thụy Điển, nhưng họ lại không muốn nền kinh tế tự do và cởi mở như Thụy Điển có?”, Murray nói.
Thử hỏi tại sao, nếu chủ nghĩa xã hội là bình đẳng, nó luôn tạo ra một giai cấp thống trị mới gồm những quan chức với những đặc quyền riêng của họ? (Public Domain Vectors)Trong cuốn sách, Murray cũng lưu ý rằng Thủ tướng Anh Boris Johnson đã chiến thắng trong cuộc bầu cử bằng cách nói lên các giá trị ở cấp độ giá trị: Một xã hội công bằng hơn, tự do và tinh thần khởi nghiệp, và thúc đẩy cộng đồng.“Nếu những người chống lại chủ nghĩa xã hội muốn thành công trong thông điệp của họ, họ cũng cần phải làm như vậy”, ông nói.Thiên Bình Theo The Epoch Times
Thăm Lại Bến Sông Xưa
thơ Vệ-Trà Huỳnh Kim Anh. NS Hồng Vân diễn ngâm
Việt Nam Những Tấm Hình Quý Hiếm.
Một kho tàng lịch sử bằng hình ảnh quý báu. Xin quý vị click vào link để xem hình.
Hai Bà Trưng: sanh vào năm 14 Sau Công Nguyên, con của Lạc Tướng vùng châu Phong, dòng dõi Hùng Vương, họ Lạc. Cha mất sớm, Mẹ là Man Thiện nuôi dạy theo cung cách con nhà võ, với tinh thần thượng võ. Về tên Trưng Trắc và Trưng Nhị, vì chị em Bà song sanh nên được đặt là ” trứng trắc ” và ” trứng nhì ” theo ngôn ngữ dân gian nuôi tằm thuở ấy. Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách, con Lạc tướng châu Diên. Hai người rất tâm đầu ý hợp về việc chống ngoại xâm, giặc Hán. Ông Thi Sách bị tên Tô Định, viên Thái Thú Hán quan lừa giết. Nước mất, nhà tan, Bà cùng em Trưng Nhị nổi trống khởi nghĩa tại Mê Linh – Tiếng Trống Mê Linh – vào muà Xuân năm 40, nhiều nơi hưởng ứng. Hai Bà đaị thắng. Tên Tô Định vắt giò lên cỗ, ôm nỗi nhục chạy về Tàu…. Bà Trưng Trắc lên ngôi tức vị Trưng Nữ Vương…, lấy Mê Linh làm Kinh Đô năm 40 SCN Bà Trưng khởi nghiệp từ năm ( 40 – 43 SCN ). Hai Bà song sanh vào năm 14 SCN, khởi nghĩa vào khoảng 27 tuổi Việt. Tuẫn tiết, trầm mình tại Hát Giang lúc 30 tuổi ….!!! Hát Giang: khúc sông Đáy, giữa huyện Phú Thọ – Đan Phượng Mê Linh xưa: khu vực rộng gồm Vĩ̉nh Phúc, Hà Tây, Yên Bái…
1- Trưng Nữ Vương ( 14 – 43 scn ) Tiếng trống trầm hùng buổi xuất chinh… Trưng Vương dõng dạc giữa muôn binh Trước nguyền giết giặc tròn ân nước Sau quyết diệt thù vẹn chữ tình Tô Định khiếp kinh ôm nhục nhã Bà Trưng rạng rỡ ướp quang vinh Ba năm tức vị Vương Trưng nữ Ngùi… sóng Cẩm Khê thệ hủy mình…!! Nguyễn Minh Thanh cẩn tác Tưởng Niệm Hai Bà Trưng nữ anh hùng lập chiến công Phương danh lồng lộng ánh dương hồng Mê Linh trống nổi ban quân lệnh Giao Chỉ binh reo hiệp chữ đồng Giặc Hán bôn đào qui xứ sở Quân Nam oanh liệt cứu non sông Thất cơ Em, Chị… xuôi dòng Hát Chênh chếch trăng soi… mãi chạnh lòng…!! Nguyễn Minh Thanh cẩn tác
Cuộc Di Tản đầy Máu và Nước Mắt
Không phải mãi hai ngày sau người Mỹ mới biết lý do đằng sau vụ di tản rút quân bỏ miền Trung. Vào buổi tối ngày 17.3.1975, tại bữa cơm đãi một số Viên Chức cao cấp Mỹ và Việt Nam tại nhà ông Thomas Polgar, Trưởng CIA, ở Sài Gòn, Tướng Ðặng Văn Quang Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Thiệu, đã lật trang sử khi giải thích quyết định của ông Thiệu. Rất giống người Nga tiêu diệt đội quân của Nã Phá Luân vào năm 1812 bằng cách bỏ đất để câu giờ hầu chấn chỉnh tổ chức quật ngược thế cờ, Tướng Quang cho rằng quyết định của ông Thiệu đi theo chiến lược đó sẽ đánh bại quân Bắc Việt. Tướng Quang nói ‘’Có thể mùa mưa sẽ giúp chúng tôi như thể Ðại Tướng mùa Đông đã giúp người Nga’’.
Tại Cao Nguyên Trung Phần, dân chúng không chờ giải thích. Họ thấy rõ quá rồi nên tự lo lấy.Khi quân Bắc Việt pháo kích Kontum, con đường dẫn xuống Pleiku tràn ngập dân di tản chạy trốn pháo kích. Trong khi các Ðơn Vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu rời các vị trí ở Pleiku và các phi cơ vận tải bay lên bay xuống phi trường suốt ngày đêm, người dân biết ngay đến lúc chạy theo Quân Ðội.
Vào đêm Chủ Nhật, một đoàn xe vận tải dài thòng âm thầm rời khỏi Pleiku từng cái một đèn sáng choang. Phóng viên Nguyễn Tư nghĩ nó ‘’giống như một đoàn xe đi chơi cuối tuần trở về nhà’’. Phía sau, những tiếng nổ lớn phát ra từ các kho đạn bị phá và bầu trời đen nghịt khói từ các bồn xăng đốt cháy.
Trong khi đoàn xe tiến về hướng Nam tung lên những đám bụi đỏ mờ mịt, từng đoàn người dân đi bộ dài như rắn bò hai bên Ðường Quốc Lộ song song với đoàn quân xa. Một vị Nữ Tu Công Giáo nhớ lại ‘’trẻ thơ và trẻ em được chất lên xe bò và người kéo đi. Mọi người đều hoảng hốt. Người ta cố thuê mướn xe bằng mọi giá’’. Trong ba ngày 16, 17, 18, tháng ba, cuộc di tản di chuyển êm thắm khỏi Pleiku và giữa các đoàn quân xa là hàng trăm dân sự đi theo cuộc di tản. Và cũng từ đó bắt đầu một đoàn công voa di tản đầy máu và nước mắt.
Ði được nửa đường tiến ra Duyên Hải, đoàn xe bị khựng lại để cho Công Binh Quân Ðoàn II cố làm xong chiếc cầu nổi ngang qua sông Ea Pa cách đèo Cheo Reo (Phú bổn) vài cây số. Tướng Phạm Văn Phú tiên liệu hai ngày sẽ sửa xong con Ðường số 7 nhưng mãi ba ngày vẫn chưa sửa xong cây cầu. Ðến chiều tối ngày 18.3, xe cộ và lính tráng đã đi được ba ngày và một đám dân tỵ nạn khổng lồ bị khựng lại dọc theo con đường và dồn cục tạm nghỉ ở chung quanh châu thành Tỉnh Phú Bổn. Cái châu thành nhỏ bé cheo leo này làm sao cung cấp đủ nhu cầu cho đoàn di tản này, nhiều người bỏ nhà ra đi chỉ có bộ đồ trên người.
Vì hoảng sợ, địch đe dọa phía sau, đói khát và có những băng lính không còn Cấp Chỉ Huy nữa sanh đạo tặc, đoàn người đòi cứ tiến đi không cần biết hậu quả ra sao. Trước tình thế hỗn quân hỗn quan này, các giới chức lãnh đạo không thể nào thuyết phục dân chúng và điều động xe cộ vũ khí thành một phòng tuyến phòng thủ. Và y như xảy ra khi quân Ðức bao vây khóa chặt Paris năm 1940, dân châu thành cũng chạy trốn, làm tắc nghẽn mọi con đường, Quân Ðội không thể nào di chuyển để bảo vệ họ trước kẻ địch. Tình hình đe dọa hỗn loạn. Cần phải có những bàn tay tổ chức. Nhưng Tướng Lê Duy Tất vẫn còn ở Pleiku với đoàn hậu vệ Biệt Ðộng Quân, trong khi Ðại Tá Lý bị kẹt ở giữa đoàn xe, đã phải bỏ xe đi bộ đến Bộ Chỉ Huy ở Cheo Reo.
Khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu di chuyển xuống Quốc Lộ số 7, Tướng cộng sản Văn tiến Dũng cũng đã bị đánh lừa theo kế hoạch của Tướng Phú. Trước khi khởi sự chiến dịch 275, Dũng đã chỉ vẽ nhiều lần cho tư lệnh sư đoàn 320 về những con Ðường Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không thể nào dùng nó như là lối thoát sau cùng. Tuy nhiên, sau khi nghe tin Tây Phương nói dân chúng đang bỏ Pleiku, các chuyến bay từ Pleiku về Nha Trang tấp nập và Hà Nội đánh tín hiệu ngày 16.3 báo cho biết Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II đã di tản về Nha Trang, Dũng mới bắt đầu nghĩ lại xem có con đường nào khác cho địch quân rút được không.
Ðến 4 giờ chiều cùng ngày, công điện của Hà Nội đến báo, tình báo Bắc Việt báo một đoàn xe dài từ Pleiku tiến về phía Nam xuống Ban Mê Thuột. Tin này làm cho Tướng cộng sản bối rối. Phải chăng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phản công hay là chạy trốn? Tình báo của Dũng cho ông ta câu trả lời ngay sau đó, đúng như tình hình diễn biến ở trên. Ðến lúc này bộ chỉ huy cộng sản mới dở bản đồ ra, chiếu đèn pin và dùng kiếng phóng đại dò tìm địch quân. Kiểm điểm lại, Tướng Dũng và Tướng Kim Tuấn, tư lệnh sư đoàn 320, mới biết bị Tướng Phú lừa ngay trước mắt, Tướng Dũng khiển trách Tướng Kim Tuấn, đồng thời phối trí các đơn vị di chuyển về tụ điểm Quốc Lộ 7 để tiêu diệt đoàn công voa di tản về Tuy Hòa.
Ðoàn xe Quân Dân miền Nam cầu mong sao cho thời gian chậm lại để đi kịp về miền biển không bị cộng sản tấn công. Nhưng không kịp nữa, khi màn đêm buông xuống ngày 18.3 lúc đoàn xe kẹt ở Cheo Reo, quân cộng sản bắt đầu pháo kích vào đám đông dân di tản. Họ hết còn bí mật nữa và kẻ thù ở trong tầm tay. Ðêm ngày 18.3, những đơn vị tiền phong của sư đoàn 302 đụng độ với đoàn xe Quân Ðoàn II ở Cheo Reo. Cùng lúc các đơn vị khác đụng độ với Ðoàn Quân hậu bị Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân ở Thị Trấn Thành An ngã tư Quốc Lộ 14 và Quốc Lộ 7. Ðại Tá Lý đi bộ mãi rồi cũng tới Bộ Chỉ Huy Cheo Reo kịp lúc để giúp điều động Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân vào vị trí phòng thủ chống các cuộc xung phong của quân Bắc Việt ở lối vào Thị Trấn phía Tây. Ðồng thời, pháo binh Bắc Việt rót vào. Ðoàn xe cái đầu ở Cheo Reo nhưng cái đuôi vẫn còn ở Pleiku. Việt cộng tha hồ pháo kích. Sáng hôm sau, xác chết và xác bị thương lính tráng và dân nằm la liệt trên Ðường Phố Cheo Reo (Phú Bổn) cùng với hàng trăm xe cộ bị phá hủy hoặc bỏ rơi. Một phi công trực thăng Không Quân Việt Nam báo cá ‘’Khi tôi bay thấp, tôi có thể nhìn thấy hàng trăm xác chết nằm rải rác dọc theo con đường cạnh các xe còn cháy’’.
Mặc dù lực lượng cộng sản đã chiếm được Phi Trường Phú Bổn, Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân vẫn còn giữ được lối vào châu thành và cây cầu phía Nam sửa xong. Ðây là một cú cải tử hoàn sinh, Ðại Tá Lý và các Cấp Chỉ Huy của ông có cơ hội ra lệnh cho đoàn xe lên đường trở lại với 2.000 xe nổ máy ầm ầm lăn bánh. Nhưng đoàn xe di chuyển không bao lâu, Tướng Phú cho trực thăng đến đón Ðại Tá Lý ra khỏi Cheo Reo. Thế là đầu không còn ai Chỉ Huy chỉ có Tướng Tất Chỉ Huy ở phía sau. Từ ngày 19 trở đi, Chỉ Huy đầu đoàn công voa là những Ðơn Vị Trưởng cấp Tiểu Ðoàn, Ðại Ðội mạnh ai lấy ra lệnh.
Bất kể hỏa lực của cộng sản, trực thăng của Không Quân Việt Nam bắt đầu đáp xuống bốc những người Lính và dân bị thương dọc theo con đường. Khi những người di tản được trực thăng chở đến Phi Trường Tuy Hòa, họ kể những chuyện khủng khiếp xảy ra cho họ. Ngày 19.3, đầu đoàn xe đã đến Sông Côn chỉ còn cách Tuy Hòa 40 km. Nhưng ở đoạn đuôi nửa đường giữa Cheo Reo và Sông Côn, quân Bắc Việt lại đánh ngang hông đoàn xe, lần này ở khoảng Thị Trấn Phú Túc. Không Quân Việt Nam được gọi đến oanh kích chặn tiến quân của địch nhưng đã nhầm lẫn bỏ bom xuống Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân (Làm tổn thất gần 1 Tiểu Ðoàn). Nhưng Liên Ðoàn này vẫn tiếp tục chiến đấu giữ cho con đường mở.
Ðoàn xe chạy qua Cheo Reo cho đến ngày 21.3 thì quân Bắc Việt chọc thủng các vị trí cố thủ của Tiểu Ðoàn 23 Biệt Ðộng Quân, vượt qua chiếm châu thành và cắt đứt con đường. Trong số khoảng 160.000 người của đoàn xe di tản, nhiều người dân bị cô lập với Lính của Ba Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân. Theo lệnh Tướng Phú, Tướng Tất, vẫn còn ở phía sau đoàn xe, phải bỏ mọi vũ khí và quân trang nặng để chạy khỏi Phú Bổn càng nhanh càng tốt. Hàng ngàn người chạy vào rừng. Lính tráng với vợ con bên cạnh bị rượt bắt và tấn công nhiều lần. Một số ít giơ cờ lên được trực thăng đáp xuống bốc. Nhưng đa số cầm chắc bị đói và bị bắt.
Những người may mắn, các bà mẹ trẻ dính máu, các cụ già và phụ nữ người mặc áo dính bùn, và những người lính gào khóc, chân không, bước xuống trực thăng trước khi các phóng viên bủa ra hỏi thăm tin tức tại phi đạo Tuy Hòa. Các trực thăng bắt đầu chở thực phẩm và nước cho đoàn xe vẫn còn dài thòng di chuyển như con rắn vì đã có nhiều người đói.
Trong khi ở đuôi đoàn xe bị tấn công dữ dội và Tướng Tất cùng các Ðơn Vị còn lại cố chống trả bọc hậu, các Ðơn Vị đầu đoàn xe đã tiến vào ranh giới Tuy Hòa, trên con Sông Ba, cách Thị Trấn 20 cây số. Chiếc cầu nổi mà Tướng Cao Văn Viên hứa cũng đến kịp lúc, nhưng không kịp với lực lượng cộng sản đã đắp mô các ngã đường nằm giữa Sông và Tuy Hòa. Chiếc cầu không thể nào chở xe nổi đến chỗ Bắc nên phải mượn 4 phi cơ C-47 của Quân Ðoàn IV chở từng khúc đến.
Ngày 22.3, đúng một tuần sau khi đoàn xe di tản đầy máu và nước mắt rời Pleiku, chiếc cầu được bắc xong, đầu đoàn xe vội vã vượt qua con sông quá nặng làm chiếc cầu phao lật, người trong xe cộ phải lội sông. Nhưng đến cuối ngày, đoàn xe vẫn tiếp tục vượt qua khi chiếc cầu được sửa lật lại. Ngay cả đến thời thiết cũng tiếp tay cho cộng sản để làm cho đoạn cuối đoàn xe đến Tuy Hòa chưa hết nạn.
Trời nắng đột nhiên trở thành mưa gió lạnh lẽo cho người di tản. Không những thời thiết thay đổi xấu gây ra bệnh tật mà nó còn làm cho phi cơ quân sự không bay lên yểm trợ, chống trả những cuộc tấn công dưới đất của việt cộng. Từ ngày 22.3, Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân bị kẹt đánh trong một trận đánh bọc hậu vừa đánh vừa lui trước nỗ lực rượt theo rất rát của quân cộng sản. Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân đã thu góp xe tăng và pháo binh để bảo vệ con đường ở khúc quẹo thung lũng gần cầu nổi. Họ đánh câu giờ để cho người di tản và Lính kịp vượt qua sông.
Ðồng thời, những Ðơn Vị đi đầu đã vượt qua Sông Ba rồi phải phá mô việt cộng để tiến vào Tuy Hòa. Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân chỉ còn ít quân sống sót đã gom góp được hơn chục thiết giáp M-113 vừa đánh vừa ủi các mô tiêu diệt các vị trí cộng sản. Ðến ngày 25.3, vị trí cuối cùng của quân Bắc Việt bị tiêu diệt nốt, Biệt Ðộng Quân bắt tay được với Lực Lượng Ðịa Phương Quân ở phía Ðông Tuy Hòa.
Ðoàn xe khập khễnh tiến vào Tuy Hòa như một đoàn xe ma. Xấp xỉ 60.000 người dân đến đích, hai phần ba hay hơn 100.000 người bị bỏ lại dọc đường, chết sống không ai biết. Về phía Quân Ðội, 20.000 quân tiếp vận và yểm trợ, chỉ còn 5.000 người đến nơi. Sáu Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân 7.000 người, chỉ còn 9.00 đến Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Ðoàn II ở Nha Trang và đóng chốt bảo vệ Thành Phố. Một vị Tướng ở Bộ Tham Mưu đã buồn bã nói: ‘’70% lực lượng tác chiến của Quân Ðoàn II gồm Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, Biệt Ðộng Quân, Pháo Binh, Thiết Giáp, Công Binh Chiến Ðấu và các Ðơn Vị Truyền Tin đã bị tan rã từ ngày 10 đến 25.3’’. Vì thế chuyện phản công tái chiếm Ban Mê Thuột không thể giao phó cho Quân Ðoàn II.
Canh bạc Tướng Phú chọn Quốc Lộ 7 có thể đã an toàn nếu các cầu nổi được bắc kịp thời và Tướng Viên đổ lỗi cho vị Tư Lệnh Quân Ðoàn II. Tướng Viên tin rằng Tướng Phú phải hoãn cuộc di tản ít ngày để cho các Kỹ Sư Công Binh kịp bắc cầu. Tướng Viên cũng tin rằng hoãn lại cho phép điều động sắp xếp kỹ hơn nhất là kiểm soát dân chúng. Theo một vị Tướng Mỹ thông thạo các Sĩ Quan cao cấp Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lỗi lầm không những ở kế hoạch di tản của Tướng Phú mà ở ngay chính Tướng Phú và lỗi lầm đầu tiên và quan trọng nhất là để mất Ban Mê Thuột. Một vị Tư Lệnh Quân Ðoàn cương quyết hơn không cần phải rút quân như vậy. Một Sĩ Quan Tùy Viên Mỹ tuyên bố: ‘’Một vị Tư Lệnh mạnh như Tướng Toàn (Trước đó là Tư Lệnh Quân Ðoàn II) có thể phản công tái chiếm Ban Mê Thuột, sử dụng toàn bộ Hải, Lục, Không Quân có trong tay đã có thể kềm hãm quân Bắc Việt, cố thủ thêm một năm nữa’’.
Nhưng ngày 25.3.1975,không còn cơ hội đó. Cuộc di tản tự làm cho mình thất bại đau đớn, như lời Tướng Viên mô tả, hoàn tất, gây một cơn ác mộng tâm lý và chính trị to lớn cho ông Thiệu, cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cho dân chúng Việt Nam Cộng Hòa. Một dư luận đồn thổi khắp nước và cả ở những viên chức dân sự và quân sự cao cấp nói rằng: Tổng Thống Thiệu và người Mỹ, trong một thỏa hiệp mật của Hiệp Định Paris, đã cố kết với nhau cho cộng sản chiếm một phần lớn lãnh thổ Nam Việt Nam. Tại sao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu can trường suốt hai mươi năm không thua đột nhiên bị ra lệnh rút khỏi Cao Nguyên, bỏ Pleiku và Kontum không một tiếng súng giao tranh ?
Tinh thần đổ vỡ vì mất bốn Tỉnh trong ba tháng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh nặng và vô ích không tái chiếm nổi Ban Mê Thuột đã làm cho dân chúng Nam Việt Nam hết còn tin tưởng Tổng Thống Thiệu có thể bảo vệ họ. Vậy ai khác có thể làm được? Phe đối lập ông Thiệu vô tổ chức, đứng ngoài chờ thời cơ và người Mỹ tiếp tục làm ngơ. Chỉ có ông Thiệu là người phải tìm ra cách nào để lấy lại tinh thần cho Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng trước khi ông tìm ra hướng đi hợp tình thế thì tin xấu từ Quân Ðoàn I bay về. Cũng lại di tản và cuộc di tản Quân Ðoàn I bi thảm không kém để kết thúc ngày 30.4.1975.
Đại Tá Trịnh Tiếu
Nếu Mẹ Trẻ Lại
Tôi vội vàng bỏ vào giỏ xách quả cam và miếng bánh bông lan để chuẩn bị đi thăm mẹ. Nursing Home chỉ cách nhà 15 phút lái xe rất tiện cho tôi đến thăm mẹ mỗi ngày. Tưởng rằng về hưu tôi sẽ có nhiều thì giờ thong thả hơn để thăm mẹ thế mà vẫn thường có lý do bận rộn, không chuyện này thì chuyện kia, lần nào cũng hấp ta hấp tấp.
Hôm nay tôi vừa đi dự đám sinh nhật cháu một người bạn nên về nhà trễ, thế là đi thăm mẹ cũng trễ theo. Ký tên ở ngoài bàn security ngay cửa ra vào của Nursing Home xong tôi vào thang máy lên lầu hai.
Bước vào phòng mẹ thấy hai chiếc giường trống vắng, mẹ tôi và bà “bạn” cùng phòng vẫn chưa về, chắc là hai bà đang ở phòng ăn hoặc phòng khách. Không biết cố tình hay ngẫu nhiên mà họ sắp xếp hai bà già Châu Á nằm chung phòng, bà kia người Phi Luật Tân, nhưng dù bà là người gì, Mỹ đen, Mỹ trắng, Mỹ da đỏ hay Ả Rập thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến nhau vì cả hai bà đều mất trí, ngơ ngẩn, chẳng ai nói với ai một lời nào. Hai giường nằm gần nhau, chỉ cách nhau một tấm màn mà hai thế giới xa xăm vời vợi.
Tôi đến phòng ăn thì thấy mẹ vẫn đang ngồi trong chiếc xe lăn bên sát bàn ăn, trên bàn là những mẩu bánh mì sandwich xé nhỏ nằm trong vũng sữa lênh láng, mẹ tôi đã bốc mẩu bánh mì từ vũng sữa ấy bỏ vào miệng nhai, nhưng có lẽ bà chẳng biết là đang ăn cái gì. Sữa từ bàn chảy vào áo mẹ, sữa dính nhoe nhoét trong bàn tay mẹ. Thấy mà thương.
Mấy năm mẹ nằm trong Nursing Home, hầu như ngày nào tôi cũng đến thăm mẹ nên từ nhân viên an ninh ngoài cửa đến supervisor và các nhân viên chăm sóc người gìa người bệnh trong này ai cũng quen mặt tôi
Thấy vẻ mặt bất bình không vui của tôi người nhân viên đứng gần đó vội trình bày: – Bà ấy vừa làm đổ ly sữa ra bàn tôi bận phía này nên chưa kịp lau. Bao giờ họ cũng có lý do chính đáng, những người gìa người bệnh trong Nursing Home nếu không mất trí nhớ thì cũng lẩm cẩm, cũng ốm đau có ai hiểu gì, có ai còn sức mà lên tiếng trách chê, cho nên họ được chăm sóc thế nào tùy theo lương tâm hay tâm trạng vui buồn của những nhân viên chăm sóc này mà thôi.
Tôi đẩy xe lăn đưa mẹ về phòng, đi qua mặt bà Ann. người cùng phòng với mẹ tôi. Bà Ann đang ngồi gục đầu trong xe lăn trông thật tội nghiệp, bà Ann khoảng 80 tuổi, trẻ hơn mẹ tôi gần chục tuổi mà tình trạng sức khỏe chẳng khá hơn là bao, bà cũng bị mất trí nhớ, cõi mê âm u, cõi tỉnh thì chỉ trong phút giây mơ hồ huyền hoặc.
Thỉnh thoảng tôi gặp con gái bà đến thăm, chúng tôi nói chuyện tôi được biết bà Ann trước kia là dược sĩ. Nhìn nét mặt sáng sủa thông minh của bà tôi đã hình dung ra cô dược sĩ xinh đẹp của mấy chục năm về trước. Chắc cô Ann đã từng có những hạnh phúc, tiền bạc trong tay, nhưng giờ đây là bà Ann lú lẩn chẳng biết gì.
Có lần tôi hỏi bà Ann, bà là dược sĩ phải không, gương mặt đờ đẫn ấy nhìn tôi rồi gật đầu, giây phút hiếm hoi mong manh ấy bà Ann đã chợt nhận ra mình. Mẹ tôi cũng thế, từ một cô gái xinh đẹp đã làm say đắm nhiều chàng trai bây giờ là bà già ngớ ngẩn. Về đến phòng tôi mới phát giác ra mẹ đã “làm xấu” đầy trong tã lót, thế là tôi đỡ mẹ nằm lên giường để lau chùi và thay tã lót cho mẹ..
Kể từ khi gởi mẹ vào Nursing Home tôi đã làm được nhiều việc như những nhân viên chăm sóc đã làm, tôi thay được khăn trải giường, thay tã lót ngay lúc mẹ tôi nằm trên giường. Tôi đã quen với mùi già, mùi hôi thối, mùi bẩn, mùi thuốc men của các cụ già…
Chính tay tôi lau chùi vệ sinh cho mẹ nếu gặp đúng lúc như thế này, hoặc mỗi khi vào thăm mẹ, trước khi ra về tôi đều lau chùi lại mặt mũi, mình mẩy mẹ cho thật sạch sẽ thì mới yên tâm.. Mẹ nằm ngoan ngoãn như một đứa trẻ để yên cho tôi chăm sóc. Khi xong việc tôi sẽ cho mẹ ăn bánh bông lan hay vài múi cam đã bóc hết các lớp vỏ. Bà không còn răng, móm mém nhai và nuốt được tí nào hay tí ấy.
Khi tôi đang đút mẩu bánh bông lan thì đột nhiên mẹ cầm lấy tay tôi giọng reo vui: – Cái vòng đẹp quá, cho … em đi Nãy đi đám sinh nhật về tôi chưa kịp tháo dây chuyền, tháo vòng tay thế mà mẹ già mất trí của tôi cũng nhận ra, mẹ lắp bắp vòi vĩnh tiếp:.. – Cho em… cái vòng tay đi, em… muốn đẹp.
Tôi bất ngờ quá, hiếm khi mẹ cất tiếng nói, hôm nay mẹ lại nói được hai câu và xưng “em” với chính con gái của mẹ. Thật ngộ nghĩnh và đáng yêu. Có điều gì sâu thẳm trong tâm hồn gìa nua mất trí ấy vừa le lói thức dây?
Tôi chiều mẹ tháo chiếc vòng tay đeo vào cổ tay gầy guộc của mẹ. Bỗng dưng tôi chạnh lòng, cổ tay này xưa kia mẹ đã đeo bao nhiêu lần chiếc vòng tay để làm đẹp rồi.. Tuổi già gần đất xa trời mẹ vẫn có nét đẹp của tuổi, khuôn mặt thanh thoát, chân tay dài thon thả. Vậy mà cả đời mẹ hình như chưa được hưởng hạnh phúc. Được đeo chiếc vòng tay mẹ có vẻ hài lòng ăn hết miếng bánh bông lan và ăn thêm vài miếng nữa. Chỉ vài phút sau thì mẹ quên cả chiếc vòng và nhắm mắt đi vào giấc ngủ.
Tôi tự hỏi mẹ có thấy gì trong giấc ngủ không, một quãng đời thanh xuân của mẹ? Tôi lấy lại chiếc vòng vì luật trong Nursing Home các bệnh nhân không được đeo trang sức. Khi tôi đang chuẩn bị ra về thì người nhân viên đẩy xe lăn bà Ann về phòng, anh ta trải lại giường và đỡ bà Ann lên nằm, bà co rúm người lại trong hai cánh tay mạnh khỏe của người nhân viên. Hình như bà Ann cũng biết mắc cỡ bên người khác phái lạ lẫm.
Cô Ann dược sĩ trẻ trung ngày xưa làm sao hình dung ra được cảnh này, cô sẽ thành một bà gìa bệnh hoạn, tàn tạ, mọi sinh hoạt đời thường của cuộc sống hoàn toàn lệ thuộc vào người khác. Tôi về đến nhà chồng tôi hỏi thăm như thường lệ: – Mẹ vẫn khỏe chứ em. Tôi khoe: – Nhưng hôm nay có một chuyện lạ anh ạ, mẹ thấy em đeo vòng tay mẹ thích lắm đòi đeo và xưng “em” với em. Hay là mẹ bắt đầu… tỉnh trí hả anh? – Có thể nhìn cái vòng đeo tay vùng ký ức của mẹ bất chợt lóe lên một hình ảnh xa xưa nào đó. – Ừ nhỉ… ngày xưa mẹ em hay diện, đeo vòng tay… Chồng tôi trêu đùa: – Ngày xưa mẹ em đẹp thế mà con gái mẹ ích kỷ không cho mẹ đi lấy chồng. Chồng tôi vẫn đùa thế, nhưng lần này lòng tôi chợt đau khi nhớ lại nét mặt vui mừng của mẹ được tôi đeo chiếc vòng tay.
Mẹ tôi lấy chồng năm 20 tuổi, là con gái duy nhất trong một gia đình giàu sang được cha mẹ hết mực thương yêu chăm sóc. Sinh được hai chị em tôi, năm mẹ mới 24 tuổi thì cha tôi qua đời vì bạo bệnh, mẹ mang hai con về ở chung với cha mẹ.
Ông bà ngoại tôi nề nếp và cổ hũ phong kiến, nghiêm ngặt khuyên con gái góa của mình phải ở vậy thờ chồng nuôi con. Bà ngoại luôn “tâm lý chiến” thủ thỉ với mẹ tôi: – Con còn muốn gì nữa, danh vọng tiền tài và con cái con đều có đủ. Chồng con mất đi thiên hạ vẫn gọi con là bà bác sĩ, con có gia tài của chồng để lại, con có hai con xinh đẹp đủ nếp đủ tẻ. Nếu con tái giá thì liệu có giữ được mãi những điều này không? Hai con của con sẽ khổ vì cha ghẻ, sẽ hờn giận mẹ đã san sẻ tình thương cho người khác, con có yên tâm mà hưởng hạnh phúc với chồng mới không?
Người góa phụ xinh đẹp trẻ trung đã được nhiều chàng trai dòm ngó, họ đến nhà thăm mẹ thì đến lượt ông ngoại tôi ra tay ngăn cản bằng hành động. Khách ngồi nói chuyện với mẹ thì ông cầm chổi lông gà….phất bụi trên tủ, trên kệ trước mặt khách hết sức lộ liễu khiến không ai dám ngồi lâu. Thậm chí khi họ chào ông để ra về ông ngoại đã đáp lại không cần nể nang lịch sự gì cả: – Phải, mời anh về.
Tôi lớn dần lên và về phe với ông bà ngoại nhất định không muốn mẹ đi lấy chồng, chỉ muốn mẹ mãi là của riêng mình. Năm tôi lên 10 đã biết cầm chổi lông gà phất lên mặt tủ thờ ngoài phòng khách để… đuổi khách của mẹ về. Tôi còn nhớ có ông tên Thảo, là một thanh niên có học thức, con nhà giàu chưa từng lấy vợ, yêu mẹ tôi và sẵn sàng chấp nhận gá nghĩa đá vàng với người góa phụ hai con.
Thế mà ông bà ngoại tôi vẫn không hề cảm động, giữ vững lập trường muốn con gái ở vậy thờ chồng nuôi con suốt đời. Tôi ghét ông Thảo không thua gì ông bà ngoại đã ghét. Mỗi lần nghe mẹ nhắc tên ông Thảo là mặt tôi sưng xỉa lên và tôi khóc ầm ĩ làm mẹ phải năn nỉ dỗ dành.
Mẹ tôi đã buồn, đã khóc vì cha mẹ và con cái ngăn cản. Cuối cùng tình cảm gia đình vẫn cao hơn tình riêng, mẹ tôi từ chối lời cầu hôn của người mình yêu để sống cho trọn vẹn tiết trinh với người chồng quá cố, làm đẹp lòng cha mẹ và con cái. Tuổi xuân của mẹ lặng lẽ trôi qua, hai chị em tôi lớn lên có nghĩa là mẹ đã già đi, tôi nào biết mẹ tôi đã từng khóc thầm vì cô đơn, vì khao khát một tình yêu với mối tình không bao giờ đến đoạn cuối như mong muốn của mẹ.
Năm cuối cùng trung học, trong một dịp theo trường đi cắm trại ở Vũng Tàu tôi đã quen một anh. Anh chàng lính hải quân hào hoa đẹp trai, tàu anh đang cặp bến Vũng Tàu. Anh đã làm quen với tôi khi tôi đang ngồi trên bờ biển nghịch cát. Anh ngồi xuống cạnh tôi: – Chào cô bé, cho anh chơi chung với nhé… Tôi ngỡ ngàng chưa kịp đáp thì anh tiếp: – Em muốn gì cứ… sai anh, anh sẽ làm cho em. Tôi lấy lại bình tĩnh và chanh chua Bắc Kỳ: – Anh xây giùm em căn nhà trên cát và bắt giùm em mấy con dã tràng. – Ôi, cô bé mắng anh hão huyền chứ gì, không cho anh làm quen chứ gì.
Anh cũng là Bắc Kỳ nên quá hiểu con gái Bắc. Anh cứ lì thế mà chẳng công dã tràng tí nào cả, chẳng phù du như xây nhà trên cát gì cả, cuối cùng anh đã quen được tôi, xin địa chỉ nhà và hứa khi nào về Sài Gòn anh sẽ đến thăm tôi. Trời… quả báo tôi. Hôm anh hải quân đến nhà, bà ngoại tôi nhìn anh chăm chăm từ đầu đến chân với vẻ ác cảm như nhìn một…. quân thù, làm như chàng thanh niên xa lạ này sẽ đến bắt cóc đứa cháu gái xinh của bà.
Ông ngoại lại cầm chổi lông gà…. phất bụi trên tủ thờ ngoài phòng khách như những năm xưa đã đuổi khéo khách của mẹ tôi làm tôi vô cùng ái ngại thương cho bộ quần áo hải quân trắng toát của chàng và thương chàng đang lúng túng không dám nói năng gì vì có ông bà ngoại lù lù đứng gần.
Chàng chịu hết nổi bèn đứng dây kính cẩn chào ông bà ngoại tôi: – Xin phép ông bà cháu về ạ. Ông ngoại đáp thẳng thừng, câu nói y chang như ngày xưa với bạn trai của mẹ tôi: – Phải! Mời anh về. Bà ngoại thì “tử tế” hơn, dặn dò:: – Ừ, cháu về chạy xe cẩn thận nhé.
Khách về rồi ông bà ngoại mắng mẹ tôi đã không để ý đến con gái, nó chỉ theo trường đi cắm trại ở biển Vũng Tàu vài hôm đã… dắt về nhà một thằng hải quân chẳng biết nguồn gốc lai lịch con cái nhà ai Thế lỡ nó đi cắm trại trong rừng dắt về nhà… một thằng mán thằng mường chúng ta cũng phải tiếp à. Rồi ông bà ngoại đe dọa tôi liệu cái thần hồn học cho bằng được cái nghề dược sĩ hay bác sĩ như người cha qúa cố của tôi rồi mới được lấy chồng.
Nhưng mối tình đầu của tôi với anh hải quân càng ngày càng thắm thiết, tôi khóc lóc, tôi đe dọa tự tử và đe dọa… sẽ bỏ nhà đi theo anh ta. Thế là ông bà ngoại đành chịu thua đứa cháu gái bướng bỉnh. Mẹ tôi thì dịu dàng nói với tôi: – Con làm đúng khi bảo vệ tình yêu của mình, như mẹ lỡ một đời…
Tôi trở về hiện tại khi chồng tôi cầm tờ tuần báo từ phòng trong đi ra. – Em đang nghĩ gì thế, anh đọc cho em nghe một mẩu tìm bạn bốn phương nè. – Biết rồi, em đọc mục này thường xuyên. – Anh cũng đọc thường xuyên, nhưng hôm nay anh bỗng suy nghĩ ra một điều. Này nhé một bà goá phụ 65 tuổi đang cô đơn cần tìm một người đàn ông nếu hợp sẽ… dìu nhau đi nốt quãng đường còn lại. Tôi bật cười châm biếm: – Dìu nhau là phải rồi vì cả hai cùng già, cùng lạng quạng đi đứng không vững. Sao đã ở vậy đến tuổi 65 mà không tiếp tục cho hết đời luôn nhỉ, lại còn… dở chứng??
– Ban đầu anh cũng nghĩ như em, nhưng bây giờ thì khác, người ta tìm nhau để cuộc sống không cô độc lẻ loi, mà cô độc lẻ loi thì buồn tủi lắm em ơi. Khi ta có đôi, đi đâu ở đâu ta cũng nghĩ ở nơi kia vẫn có người chờ đợi ta về sẽ thấy đời ấm cúng hẳn lên. Tôi băn khoăn: – Có phải anh suy nghĩ thế khi lúc nãy em vừa kể anh nghe mẹ em chợt tỉnh ra trong giây lát khi bà thấy cái vòng đeo tay của em, món trang sức ngày xưa bà thường dùng làm dáng, làm đẹp không? – Chính thế. Ngày ấy mẹ em mới 24 tuổi, trẻ đẹp và nồng nàn tình xuân, thế mà hết cha mẹ đến con cái đã ngăn cản bà tái giá. Em có lỗi một phần trong cuộc đời mẹ cô độc thiếu vắng một người đàn ông, một vòng tay âu yếm, một bờ vai nương tựa .. Tôi nói như rên rỉ: – Nghe anh nói em đau lòng quá! Em thật đáng tội. Hình ảnh mẹ tôi ngày xưa hiện ra khi tôi độ lên 10, mẹ tôi xinh đẹp hay làm duyên làm dáng đeo chiếc vòng tay bằng cẩm thạch lên nước trong xanh.
Thì ra hôm nay trong tiềm thức sâu thẳm lãng quên của mẹ tôi chút kỷ niệm nào đó vẫn còn. Bất giác mắt tôi cay cay… Chồng tôi giục: – Thôi em đi tắm, thay đồ rồi nghỉ ngơi, hôm nay em về muộn để anh sẽ thu gom quần áo em thay và đi giặt …. Thật ấm áp khi bên cạnh tôi luôn có người đàn ông cùng chung vui buồn, chăm sóc lo lắng cho nhau. Thế mà mẹ tôi đã không có những tình cảm này suốt cả một cuộc đời son trẻ.
Tôi đã từng hiểu ra điều này suốt bao nhiêu năm từ khi tôi lấy chồng, hạnh phúc êm ấm bên chồng. Đôi khi tôi thấy lòng áy náy thương mẹ, hối hận ngày xưa tôi đã ngăn cản mẹ lấy chồng, nhưng tôi lại tự an ủi và kiêu hãnh mẹ là người phụ nữ thanh cao lý tưởng trong mắt mọi người, là người mẹ tuyệt vời, người mẹ đáng kính nể và ngưỡng mộ của chị em tôi.
Chưa bao giờ tôi cảm thấy ân hận và bị dày vò như ngày hôm nay. Nếu như tôi cũng cô đơn như mẹ, nếu như đời tôi không có một người đàn ông yêu thương bên cạnh, cuộc đời sẽ chông chênh và buồn lắm. Ngày xưa tôi yêu anh và lấy anh làm chồng thật xứng đáng, ông bà ngoại tôi đã lo ngại “thằng hải quân” đi lênh đênh khắp nơi, mỗi bến bờ quen một cô, cháu sẽ khổ cả đời. Nhưng ông bà đã đoán sai rồi, tiếc rằng ông bà ngoại không sống đến ngày nay để thấy anh hải quân của tôi vẫn là người chồng, người cha tốt.
Anh đi vào phòng tắm ôm ra một rổ quần áo dơ để vào phòng giặt. Thấy tôi vẫn ngồi yên anh ngạc nhiên đến gần: – Em sao thế? Tôi ngước lên nhìn anh, đôi mắt cay cay đã long lanh giọt nước mắt: – Anh ơi, anh có biết em đang nghĩ gì không? Nếu… nếu…. mẹ trẻ lại như xưa… Anh nghe lầm nên hỏi ngược lại: – Nếu em trẻ lại như xưa hả? Vậy em còn muốn yêu anh nữa không? Hay lại chê “thằng hải quân lông bông” như ông bà ngoại em đã chê? Đến bây giờ anh vẫn nhớ cái cảm giác khi lần đầu gặp ông bà ngoại em, nếu tàu anh ra khơi có… đụng độ tàu địch ngay trước mặt anh cũng chưa bối rối đến thế.. – Anh nghe kỹ đây, không phải em mà là mẹ em. Nếu mẹ trẻ lại như xưa, khi em 10 tuổi em sẽ không bắt chước ông ngoại cầm chổi lông gà phất buị trên tủ để đuổi khách của mẹ đâu, em sẽ không đành hanh ghét ông Thảo đâu, em sẽ bảo mẹ đi lấy chồng. Em ân hận lắm. Ôi, nếu mẹ trẻ lại…. nếu mẹ trẻ lại….…. Anh hiểu ra, an ủi tôi: – Chúng ta không thể lấy lại quá khứ, em đừng tự trách mình như thế, hãy sống với hiện tại, chăm sóc mẹ tận tình để báo hiếu mẹ đã hy sinh cả một thời xuân xanh nuôi con khôn lớn. Tôi lau nước mắt mỉm cười: – Vâng, chiều mai em vào thăm mẹ, em lại đeo vào tay mẹ chiếc vòng này để mẹ có khoảnh khắc vui như thiếu phụ còn xuân đang làm đẹp cho mình, cho người tình mình thương mến, dù chỉ là một niềm vui ngớ ngẩn.
Chồng tôi nhắc nhở: – À, em nhớ thăm bà Ann bên cạnh luôn nhé, con cái bà bận rộn không vào thăm thường xuyên như em.
Thanh Duong
Chuyến Đi Biền Biệt
Xin quý vị click vào hình để đọc.
Thung Lũng Hoa Vàng/THE YELLOW FLOWERS VALLEY
THUNG LŨNG HOA VÀNG
Đã tám mùa xuân trên lũng thấp,
Âm thầm theo những bước chân qua.
Hồn tôi chừng mỏi trăm vùi lấp,
Có thấy bao giờ một dáng xưa (?)
Tôi đi giữa phố phường lưu lạc,
Thung lũng Hoa Vàng xanh bóng mây.
Bỗng gặp mùa xuân trong khóe mắt
Cô em ngơ ngác đến nơi này.
Đã mấy năm qua tôi bỏ quên
Trái tim bên dốc đá ưu phiền.
Nắng lên cho đẹp lời âu yếm,
Mỏi mắt ươm tình, say đắm thêm.
Em mang dáng dấp xưa thần thoại,
Chìm đắm trong hương sắc tuyệt vời.
Sóng tóc, tôi mơ miền luyến ái,
Xuân sang len lén giấc yêu người.
Giao thừa tôi có em yêu dấu,
Trong phút linh thiêng của đất trời.
Kỷ niệm đầu năm thành bất tử,
Mong em khỏa lấp một trùng khơi.
Xin tạ ơn em, xõa tóc huyền,
Cho tôi sống lại tuổi xuân êm.
Chợt lòng hoa nở vàng như nắng,
Thung lũng cũng hồng nhân dáng em.
QUỐC NAM
THE YELLOW FLOWERS VALLEY
Multiple years had elapsed in this valley.
I silently pursued the past steps in each alley,
But tired of countless buffetings in my soul
I had never seen any figure in the old role.
While I was drifting in the Yellow Flowers Town
Under the blue sky with clouds at its crown,
Suddenly I met a whole spring in the eyes
Of a beauty wandering herein at her own guise.
For such a sad long time I had forgot and left
My heart somewhere about the steep crag’s cleft.
Now that the sun did rise beautifying the caress,
Lips & peepers sowed love, more passion to bless.
You manifest the manner of a legendary star
To drown me in the wonderful glamour by far.
On your wavy hair I dream of a loving place
In the springtime to ignite the flame of grace.
I have got you, my beloved, this new year’s eve
In the sacred hour that sky and earth conceive.
The souvenir of this prime has become immortal;
Please fill up an entire empty ocean with a chortle.
The Law of Sow and Reap- Vietnamese Version- Author Nguyen Thanh Xuan – Chapter 1
https://www.youtube.com/watch?v=DmjZ–wnexc
Tâm Pháp Khí Công
ÂM DƯƠNG KHÍ CÔNG – MỘT PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TÂM TRÍ – KHÍ – LỰC CỦA VIỆT NAM NGUYÊN LÝ: KHÍ BÌNH => TÂM BÌNH; TÂM BÌNH => SÁNG SUỐT. ÂM DƯƠNG KHÍ CÔNG LÀ GÌ ? Âm Dương Khí Công là công phu luyện thở, nhằm điều chỉnh hai khí Âm và Dương trong hai mạch Nhâm và Đốc. Xin quý vị click vào hình để đọc.
Những Mùa Xuân Trở Lại.
Mùa Xuân là sự bắt đầu của thời gian theo chu kỳ hàng năm, nhưng theo tập quán tống cựu nghênh tân của dân Việt Nam, Xuân là mùa của hy vọng có những tin vui, những sự tốt lành của năm mới. Trong tinh thần đó, tôi lựa ra những bài tôi đã viết về Mùa Xuân kể từ khi đến định cư tại nước Mỹ để tạo thành tuyển tập này.
Xin quý vị click vào hình để đọc.
Ta Trở Lại Vời Huế – I HAVE RETURNED TO HUE
DRAGON & FAIRY IN POETRY
About the Book
This is a new accomplishment by Thanh-Thanh:
One hundred and two English poems and verse translations of pieces by seventy authors living in America, Australia, Belgium, Finland, France, Germany, Norway, and Vietnam.
The author and translator have continued his task already carried out through his former books (“Poems by Selected Vietnamese” and “Vietnamese Choice Poems”) with unfailing enthusiasm and increasing ability.
Xin quý vị click vao hình để đọc.
Kỷ Niệm 28 Năm Thành Lập VTLV.
March 1/2020, VTLV kỷ niệm 28 năm ngày thành lập. Thành thật cám ơn anh Tony Nguyễn, đã lưu giữ giùm VTLV những hình ảnh đẹp của buổi tiệc kỷ niệm 28 năm thành lập Văn Thơ Lạc Việt; đúng ngày này năm qua tháng 3 ngày 1, 2020. Anh gợi cho tôi năm vị nhà văn, thơ lớn của Việt Nam, năm cây tùng cội sinh ra Văn Thơ Lạc Việt:
1/ Trưởng môn Hà Thượng Nhân.
2/ Người tình của Hà Nội: Hoàng Anh Tuấn.
3/ Cây cội thơ tình của Miền Bắc Cali: Chu Toàn Chung.
4/ Nhà văn chuyên về sưu khảo: Dương Huệ Anh.
5/ Nhà văn có lối văn đình đám, một thời trên báo Thằng Mõ San Jose: Thượng Quân.
Không biết những năm sau này có được vui vẻ đông đủ ???
Xin quý vị click vào hình để xem hình sinh hoạt của VTLV.
BÀI THƠ XUÂN HÀNH VÀ CÁC BÀI HỌA
XUÂN HÀNH
Khứ khứ hành nhân viễn,
Trần tuỳ mã bất cùng.
Lữ tình tà nhật hậu,
Xuân sắc tảo yên trung.
Lưu thuỷ xuyên không quán,
Nhàn hoa phát cố cung.
Cựu hương thiên lý tứ,
Trì thượng lục dương phong.
GIẢ ĐẢO (779-843 AD)
XUÂN HÀNH
Người đi thăm thẳm mịt mù,
Bụi hồng vó ngựa sải vù gió sương.
Bâng khuâng lữ khách bên đường,
Cuối chiều xuân sắc khói sương giăng mờ.
Sông loanh quanh quán lặng tờ.
Cố cung vườn ngự bây giờ nở hoa.
Quê xưa vạn lý nhớ nhà,
Liễu hồ chao động lá pha thẵm màu !
NGUYỄN THIÊN LONG
(dịch ” Xuân Hành ” của thi gia Giả Đảo (779-843 AD))
————————————————–
(Bài dịch của thầy Phạm Khắc Trí, thầy dạy môn Hán Văn trường Trung Học Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm Cần Thơ, và các bài họa của Trầm Vân, Ngô Phủ, Nguyễn Phan Ngọc An, Nguyên Nhung và Lê Hữu Uy).
Bài dịch bài thơ Xuân Hành do thầy PKT
XUÂN HÀNH
Ra đi rồi đi mãi,
Ngựa quen bụi đường xa!
Chiều đông sầu lữ thứ,
Sương xuân buông nhạt nhòa.
Quán vắng buồn soi nước,
Tình ai theo hoa trôi.
Quê xưa giờ xa quá,
Gió liểu hồ chơi vơi …
(Họa lại theo ý bài thơ Xuân Hành của thầy PKT)
XUÂN HÀNH
Ra đi vó ngựa bụi mù,
Tình quê đeo đẵng vân du bước đời.
Xuân sầu đẩm giọt sương rơi,
Quạnh hiu quán vắng trăng soi sóng buồn.
Tình ai theo ngọn gió vương,
Quê xa vời vợi nhớ thương từng giờ.
Tiếng chim ngùi hót ngẩn ngơ,
Ngả nghiêng cành liểu bên hồ chơi vơi ….
Trầm Vân
ĐĂNG TRÌNH
Người đi đi biền biệt,
Bất tận bụi rong cương.
Tình khách theo chiều xuống,
Cảnh xuân tỏa mờ sương.
Quán vắng buồn soi nước,
Hoa lòng trôi vấn vương.
Nghìn trùng xa cố lý,
Gió gợn sầu liểu dương.
Ngô Phủ
HIU QUẠNH
Một bước ra đi chẳng hẹn về
Dặm trường gió bụi thỏa yên cương
Tha hương áo não hoàn hôn đổ
Lả chả sương rơi thắm bụi đường
Hiu quạnh trăng vờn soi bóng nước
Hững hờ tin nhạn biết tìm đâu
Cố hương ngàn dặm mờ sông núi
Lất phất hồ thu cánh liểu sầu
Nguyễn Phan Ngọc An
RA ĐI
(Họa theo ý bài thơ Xuân Hành của thầy PKT)
Một lần đi, biết bao giờ trở lại,
Bụi đường in dấu ngựa mịt mù xa.
Chiều dần buông từng chiều sầu lữ thứ,
Mà quanh ta là sương phủ nhạt nhòa.
Dừng chân mõi, quán chiều soi bóng nước,
Có mãnh tình ai gởi cánh hoa trôi,
Quê nhà ơi! Giờ đây xa vời vợi,
Gió thở dài trong dáng liểu chơi vơi …
Nguyên Nhung
NGƯỜI VỀ
(Bài họa và đối ý với bài thơ Ra Đi của Nguyên Nhung)
Khứ khứ hành nhân viễn, Trần tuỳ mã bất cùng. Lữ tình tà nhật hậu, Xuân sắc tảo yên trung. Lưu thuỷ xuyên không quán, Nhàn hoa phát cố cung. Cựu hương thiên lý tứ, Trì thượng lục dương phong.
Tác giả: Giả Đảo (779-843) ]*]
BÀI DỊCH
ĐI CHƠI XUÂN
Người đi, đi đã xa nhà
Bụi đường vó ngựa cuốn xa chẳng tường.
Chiều buông lữ khách hoài hương,
Sắc xuân hoa cỏ khói sương êm đềm.
Bên dòng nuớc, quán vắng im,
Cung xưa hoa nở đua chen khắp vùng,
Quê xưa ngàn dặm nhớ nhung,
Liễu xanh cợt gió bên dòng hồ, ao.
Đỗ Quang Vinh dịch thơ
Thơ diễn ngâm Về Đâu Cánh Chim Côi
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ (Vũ Đình Liên)
Giao Chỉ San Jose
Hơn nửa đời người sống tại San Jose, dài gần nửa thế kỷ, chúng tôi có nhiều bằng hữu. Mỗi lần tiễn người đi, tôi có dịp viết một bài ai điếu. Có duyên thì sáng tác, bất kể thân sơ, nhưng không may mắn viết cho tất cả anh chị em. Không phải vì giàu nghèo hay sự nghiệp hơn kém. Bây giờ gần đến lượt mình bèn góp lại những bài vô tình còn lưu lại trên thế giới ảo để in thành tác phẩm. Giữ cuộc đời của anh chị em còn ở lại bằng văn tự Giao Chỉ. Lấy câu thơ của cụ Vũ Đình Liên làm tựa đề tác phẩm. Mỗi bài tạp văn mang linh hồn của một bằng hữu đã cùng một thời sống gần nhau. Xin gọi là nhờ văn chương một lần giữ Đời cho nhau. Năm nay 2021, nhân danh Viet Museum chúng tôi sẽ đem tất cả các DVD và tác phẩm hiện có và sẽ xuất bản, gửi đi bốn phương cho tất cả bè bạn xa gần. Bán cũng không phải bán, biếu cũng không hẳn là biếu. Chỉ là chương trình nhờ độc giả và khán giả Giữ Đời Cho Nhau. Cuốn tạp văn này cũng thế. Trân trọng.
Giao Chỉ, San Jose.
(1) HÀ THƯỢNG NHÂN, không một lời than thở.
Nhà Thơ Không Có Tác Phẩm.
Những mái đầu cất cao, không một lời than thở. (HTN)
Quả thực bác này đúng là chàng thi sĩ miền quê. Nếu năm trước, khi bác mới được HO qua Mỹ, làng văn thơ hải ngoại mời bác làm chủ tịch Văn bút Việt Nam Tự do thì chắc hẳn ai cũng cho là rất xứng đáng. Ấy vậy mà, bác lại không đủ điều kiện để nộp đơn xin vào làm hội viên bình thường của Văn bút Việt Nam Hải ngoại. Bởi vì dù là tác giả của hàng ngàn bài thơ nhưng chưa bao giờ ông có được một tác phẩm thi ca. Không tác phẩm là không hội viên. Nói gì là chủ tịch.
Chàng thi sĩ niên trưởng ở San Jose của chúng tôi là người Thanh Hóa, quê làng Hà Thượng, sinh năm 1919. Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt (1939- 45) ông bắt đầu làm báo và theo kháng chiến suốt 7 năm. Ðó là thời kỳ bài ca Tuổi Xanh của Phạm Duy gọi lên hồn nước làm rung động toàn thể thanh thiếu niên Việt Nam.
“Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra…”
Thời kỳ đó có lần làng Bình Hải, huyện Yên Mô tổ chức đón các đại biểu liên khu về hội họp. Những cậu bé trong đoàn thiếu niên Kim Ðồng của Hà Nam Ninh chúng tôi hết lòng sùng kính các đàn anh từ liên khu Thanh Nghệ Tĩnh về nói chuyện. Gia đình tôi từ Nam Ðịnh tản cư về Yên Mô, Ninh Bình.Từ miền Hoa Lư, đường vào xứ Nghệ phải qua Thanh Hóa với cây cầu Hàm Rồng đầy huyền thoại.
Các anh từ khu Tư nổi tiếng về họp tại đình làng Bình Hải.Năm đó, tuổi 16 tôi đứng dựa cột đình. Dường như chàng thi sĩ làng Hà Thượng cũng có mặt trong vai trò cán bộ văn hóa quan trọng của kháng chiến. Phần văn nghệ có cả cô bé Thái Thanh 15 tuổi tham dự chống nạn mù chữ hát bài chữ i chữ tờ.
Hơn 60 năm sau, bây giờ 2010, tại San Jose tôi xin gửi đến các bạn bài viết về Trung Tá Phạm Xuân Ninh, tức là nhà thơ Hà Thượng Nhân, người Thanh Hóa.
Một đời văn nghệ
Có thể nói suốt đời bác Ninh là một đời văn nghệ. Ði lính từ đại úy đến trung tá nhưng ông không hề liên quan gì đến quân trường và súng đạn. Làm chủ nhiệm báo Tiền Tuyến nhưng chàng luôn luôn ở hậu phương. Cuộc đời của ông tất cả là bằng hữu và thơ phú.
Năm 1935, cậu Ninh 16 tuổi đã có dịp dự cuộc thi thơ với các bậc tiền bối và đoạt giải với bài Trăng Thu.
“Sương mỏng manh, canh vắng lặng tờ
Buồn xưa náo động mấy vần thơ…
Quả thực bài thơ trúng giải của cậu thư sinh đã làm náo động cả hội thơ Vỹ Dạ thuở xưa. Trải qua 7 năm theo kháng chiến, năm 1952 ông về thành và 1954 ông di cư vào Nam.
Do nhu cầu của tâm lý chiến miền Nam và do thân hữu đề cử, thủ tướng Ngô Ðình Diệm ký lệnh cho me-xừ Phạm Xuân Ninh đặc cách mang lon đại úy trừ bị. Ðây là cấp bậc theo quy chế đồng hóa thuộc bộ quốc phòng. Sau đó ông được đề nghị thăng cấp thiếu tá và trung tá. Suốt 21 năm ông làm việc tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị. Sau 75 ông đi tù tập trung cải tạo từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam. Sau cùng HO qua định cư tại San Jose.
* Anh em văn nghệ cao niên chúng tôi tại San Jose thường ghi nhận rằng cuộc đời từ hoa niên, binh nghiệp, tù đầy, tỵ nạn và định cư trải qua các giai đoạn chính như sau. Lẽ dĩ nhiên cũng có người đi theo thứ tự, có người đặc cách khác anh em. Sau đây là các dấu mốc: 1) Sinh quán, sinh nhật 2) Trường học và quân trường 3) Trại binh, trại gia binh, trại tù, trại tỵ nạn 4) Nhà tạm trú, nhà housing, nhà trả góp, nhà mobile, và nhà dưỡng lão.
Anh bạn cùng khóa Cương quyết II Thủ Ðức của tôi là Trung tá Lực lượng Đặc biệt Ðỗ Hữu Nhơn đã có lần còn nhắc đến chuyện nhà quàn từ Down Hill cho đến Oak Hill. Riêng phần các bác, xin cứ ghi nhận và xem lại để thấy rằng mình đang ở giai đoạn nào và đã đặc cách vượt cấp ra sao.
Sau đây là giai đoạn cuộc đời bằng Anh Ngữ.
DOP, POB / School, Military School / Military Camp, Concentrate Camp, Refugee Camp / Half way House, Housing, Single House, Mobile Home, Nursing Home.
Và cuộc đời bác Ninh của chúng tôi hiện ở giai đoạn hết sức hoàng hôn.Ông đang được điều trị tại khu dưỡng lão Willow Glen, San Jose. Chàng vốn không có tên trong các hội ái hữu quân trường dù là Ðồng Ðế, Thủ Ðức hay Ðà Lạt. Cũng chẳng phải là thành viên của các quân binh chủng bay bướm oai hùng. Ở đây hội ái hữu đồng hương chẳng thiếu địa danh nào nhưng lại chẳng hề có hội đồng hương Thanh Hóa. Nhưng bằng hữu thơ văn thì ai mà chẳng biết Hà Thượng Nhân. Ðặc biệt ông bạn tù là nhà thơ Nguyễn Ðình Tạo, quê làng Ðông Anh sớm tối vào thăm bác Ninh. Bác Ðông Anh là người điều hợp thi đàn Lạc Việt, có bạn Chinh Nguyên làm tổng thư ký. Hội ta vẫn thường trực chuyên chở bác hội viên cố vấn Hà Thượng Nhân. Vì vậy chàng thi sĩ của chúng ta đã từng viết câu thơ mãi mãi tràn đầy tình nghĩa…
“Ta từ có bạn đến giờ,
Lời thơ lại bỗng bất ngờ thành vui…”
Những bài thơ…
Nếu đem in những bài thơ của thi sĩ người làng Hà Thượng thì xoàng ra cũng có được năm bảy tác phẩm. Thực ra với nhiều bút hiệu khác nhau, bác Phạm Xuân Ninh đã từng soạn nhiều tài liệu nghiên cứu do Nha Chiến tranh Tâm lý xuất bản.
Tuy nhiên, đây chỉ là sáng tác thuộc về lãnh vực nghiên cứu của một công chức quốc gia. Còn những vần thơ gan ruột của thi nhân, những bài thơ về tình yêu của nhà thơ thì chưa bao giờ in thành sách.
Ông đã từng viết :
“Ta có một tình yêu, bao la như trời đất.
Ta viết vào trang Thơ, tình yêu ta không mất.”
Và mục đích của cuộc đời được ghi lại.
“Sống chỉ lấy cái tâm làm trọng.
Gửi ngàn sau mấy giọng tiêu dao.”
Trong số hàng ngàn bài thơ của thi nhân tôi thích nhất những bài thơ ông làm trong thời gian ở tù. Trong hằng trăm bài thơ tù, tôi ghi nhận có 3 bài hết sức rung động. Xin giới thiệu bài Thắp Sáng. Xin các bác lưu ý. Mỗi câu thơ đều là một lời kinh đấu tranh.Mỗi câu thơ đều có thể đặt tựa cho cả bài thơ. Bài thơ ngũ ngôn, một sở trường của tác giả như sau:
Thắp sáng muôn vì sao
Nếu như không đau khổ.
Làm sao biết căm hờn.
Càng muôn trùng sóng gió.
Tay chèo càng vững hơn.
Chúng ta cùng có nhau.
Nhìn nhau vui hớn hở.
Trên luống cày khổ đau.
Hoa Tự do vẫn nở
Những mái đầu cất cao.
Không một lời than thở.
Tác giả chỉ giải thích lòng căm hờn bắt nguồn từ thân tù đầy oan trái, tuy nhiên, như lời thơ đã viết, tác giả không nuôi dưỡng căm hờn. Chỉ là:
“Những mái đầu cất cao, không một lời than thở”.
Nhưng có hai bài thơ trong tù tràn ngập yêu thương xin gửi đến các bác đọc lại thật rõ từng lời để cùng rung động với tác giả.
Năm 1975 mới vào tù, ông làm bài Mưa Buồn từ trại Long Giao trong lòng đất quê hương miền Nam. Năm 1978 sau khi bị đưa ra đất Bắc ông làm bài Cỏ Biếc, vào lúc tác giả chuyển trại từ Thác Bà, Yên Bái về Thanh Chương, Nghệ Tĩnh. Ðây là lời thơ của bài Mưa Buồn Long Giao. Xin hãy nhớ cho, tác giả làm bài thơ này vào thời gian sau tháng 4/75.Người tù già ngồi nghe mưa miền Nam tại Long Giao.
Ngũ ngôn tứ tuyệt đoạn cuối, tác giả dùng chữ nẻo cụt chỉ bước đường cùng, tưởng là giấc mơ, tưởng chỉ là cơn ác mộng, hút điếu thuốc lào, hỏi lòng mình đã say chưa.
Mưa Buồn Long Giao
Trời có điều chi buồn?
Mà trời mưa mãi thế!
Cây cỏ có chi buồn?
Mà cỏ cây ứa lệ!
Anh nhớ em từng phút,
Anh thương con từng giây.
Chim nào không có cánh,
Cánh nào không thèm bay.
Người nào không có lòng,
Lòng nào không ngất ngây.
Gửi làm sao nỗi nhớ,
Trao làm sao niềm thương.
Nhớ thương như trời đất,
Trời đất vốn vô thường.
Ngày xưa chim hồng hộc,
Vượt chín tầng mây cao,
Ngày xưa khắp năm châu,
Bước chân coi nhỏ hẹp,
Bây giờ giữa Long Giao,
Ngồi nghe mưa sùi sụt,
Cuộc đời như chiêm bao.
Có hay không nẻo cụt,
Anh châm điếu thuốc lào,
Mình say, mình say sao!!
Trại Long Giao 1975
Và sau cùng là bài Cỏ Biếc làm trong trại tù nơi quê hương của tác giả, liên khu 4, Thanh Nghệ Tĩnh ngày xưa:
Xin Làm Cỏ Biếc
Anh cầm tay em,
Bàn tay khô héo.
Anh nhìn mắt em,
Gió lùa lạnh lẽo.
Anh nhìn lòng mình,
Mùa Đông mông mênh.
Cỏ non mùa Xuân,
Còn vương dấu chân.
Trăng non mùa Hạ,
Ướt đôi vai trần.
Có xa không nhỉ
Ngày xưa thật gần.
Thời gian! Thời gian.
Em vẫn là em…
Nụ cười rạng rỡ,
Ngày nào vừa quen,
Mai đưa em về,
Xin làm cỏ biếc,
Vương chân em đi.
Xin làm giọt mưa
Mưa dầm rưng rức.
Trên vai người yêu,
Sài Gòn Sài Gòn,
Không là quê hương,
Mà sao mình nhớ,
Mà sao mình thương.
Ngày từ trại Thác Bà, Yên Bái về trại 6 Thanh Chương Nghệ Tĩnh 1978.
Ngày nay, tại hải ngoại có biết bao nhiêu Little Saigon. Có bao nhiêu người đã tranh đấu cho tên gọi thành phố Sài Gòn. Nhưng có ai yêu Sài Gòn hơn được người thi sĩ Thanh Hóa.
Saigon Saigon, / không là quê hương.
Mà sao mình nhớ, / mà sao mình thương.
Gửi ông bạn già,
Bác Hà Thượng Nhân, tôi chưa biết ông 60 năm về trước. Hồi thập niên 70 ở Sài Gòn tôi cũng không quen bác. Bác H.O. về San Jose, mới biết bác qua bạn Ðông Anh. Năm xưa, chúng tôi mời bác lên sân khấu nhận giải sự nghiệp một đời của tiểu bang California. Bác chiều lòng anh em mà lên nhận bản tuyên dương, tôi biết bác đâu có quan tâm gì những vinh quang phù phiếm đó.
Tấm lòng bác đôn hậu, tinh thần bác an nhiên.
“Chẳng cầu cạnh, chẳng ưu phiền,
Miễn sao lòng cứ an nhiên là mừng.”
Năm nay bác đã ngoài 90.Tuy không còn hút thuốc lào nhưng đang trải qua giai đoạn khi tỉnh khi mê.Lúc quên lúc nhớ. Khi tỉnh bác làm thơ hay. Khi say thơ vẫn còn hồn. Lúc trẻ lời thơ đã uyên bác.Khi về già thơ vẫn còn tình tứ.
Bác phê bình Giao Chỉ tôi viết văn như bổ củi.Hết bó này đến bó khác.Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm. Hôm nay gặp bó củi cao niên, tôi xin tiếp tục làm công tác bổ củi.Chẻ thật nhỏ ra làm đóm để bác châm lửa hút lại điếu thuốc lào.Tôi có lần hỏi tuổi bác, bác trả lời 9 chục. Rồi nói tiếp: “Mình cũng không biết tại sao lại sống lâu như vậy”. Tôi nói rằng:
“Tại bác sống đời thi sĩ. Sống bên cạnh cuộc đời. Tại bác không sống tỉnh.
Bác sống say say.
Bác tự hỏi lòng : “Mình say sao? Bác say thật rồi.
Hà Thượng Nhân (1920- 11/10/2011) là bút hiệu của nhà thơ Phạm Xuân Ninh, nguyên danh Hoàng Sĩ Trinh.Ông quê ở Hà Thượng, huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa.
Ông từng dạy học ở trường Dũng Lạc Hà Nội và trường Thiếu Sinh Quân Liên khu IV, rồi theo Kháng chiến nhưng đến năm 1952 thì ông về thành rồi di cư vào Nam. Ông gia nhập Quân đội VNCH lúc đó thăng đến cấp trung tá.
Đóng góp văn học
Nhà thơ Hà Thượng Nhân làm Giám đốc Đài Phát thanh Quốc gia, chủ bút rồi chủ nhiệm nhật báo Tiền tuyến, lúc đầu do Cục Tâm lý chiến đảm nhiệm, sau tập thể của quân đội. Với nhật báo Tự Do ông thường góp bài dưới bút hiệu Tiểu Nhã và phụ trách mục thơ châm biếm “Đàn ngang cung”. Bút hiệu khác của ông là Nam Phương Sóc trên báo Ngôn luận. Ông là thành viên của Trung tâm Văn Bút VN.
Về tài văn thơ, ông có biệt tài làm thơ trào phúng nhưng khi còn trẻ tuổi ông cũng sính thơ Đường. Khi vào Huế trong một cuộc chơi thơ, ông có ứng khẩu một bài thơ vịnh “Trăng Thu” được chấm là hay nhất.”
Nhà thơ Hà Thượng Nhân từng được Phủ Quốc vụ khanh Văn hóa của VNCH đề cử làm giám khảo Giải Văn Học Nghệ Thuật về bộ môn Thơ.
Sau năm 1975 ông đi “tù cải tạo” cho đến năm 1983 mới được về và sang định cư ở Hoa Kỳ vào năm 1990 dưới diện HO. Ông mất vào ngày 11/10/2011 tại San Jose California, thọ 91 tuổi.
Sáng 4 tháng 2-2021 nhà văn Duy Lam qua đời ở tuổi 89 tại bệnh viện thành phố Virginia, Hoa Kỳ.
Duy Lam là cháu gọi mấy anh em nhà văn Nhất Linh là cậu ruột, đồng thời anh là một trong ba nhà văn được Nhất Linh chọn lựa có thể trở thành thành viên của Tự Lực Văn Đoàn trong tương lai. Một trích đoạn trong chúc thư (văn nghệ) năm 1953, Nhất Linh viết:
“Giao Thừa năm quý tỵ 1953,
Trong hương trầm của đêm 30 Tết và mắt mờ đi vì thương cảm những người cũ đã khuất hoặc mất tích, lại nghĩ tời những nhân tài mới khả dĩ đem lại một người sinh lực rồi rào hơn làm nhà Tự Lực thay đổi luôn và trẻ mãi, tôi có mấy lời cảm xúc này – và cũng lã chúc thư luôn thể – với một bài thơ để gửi các anh em cũ (bất cứ ở khu nào) và mấy nhân viên tương lai của Tự Lực Văn Đoàn. Trong bẩy tám nhà văn mới chọn lọc được trong hai năm nay, tôi thấy có ba nhà văn chắc chắn xứng đáng là nhân viên Tự Lực Văn Đoàn và tôi tin anh Đỗ Đức Thu cũng như mấy anh mất tích sau này trở về, cũng như tôi sẽ bỏ phiếu bầu một khi ba nhà văn đó đã có đủ số sáng tác để sự quyết định có căn cứ. Ba người đó là Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng và Duy Lam…
Nhất Linh
2 giờ sáng, mồng 1 Tết năm Quý Tỵ
14-2-1953
(Ký tên)
Nhất Linh tự chép tay 5 bản.
2 bản do Đỗ Đức Thu và Nhất Linh giữ, 3 bản gửi 3 nhân viên tương lai.
Bản số 1
Nhất Linh” Hết trích.
Những tác phẩm của Duy Lam gồm có:
Chồng Con Tôi (tập truyện ngắn, 1960)
Gia Đình Tôi (tập truyện ngắn, 1962)
Cái Lưới (truyện dài, 1964)
Nỗi Chết Không Rời (truyện ngắn, cùng viết với Thế Uyên, 1966)
Ngày Nào Còn Đàn Bà (tập văn vui, 1967)
Lột Xác (truyện dài, 1968)
Tuyển Tập Truyện Mới (tập truyện ngắn, 1995)
Thi tập Chân Mây (thơ, 1996)
Em Phải Sống (tập truyện ngắn, 1996)
Where The Cloud Ends (cùng viết với An Nhiên, 2007)
Nhưng có lẽ tập truyện tạo nên tên tuổi Duy Lam là Gia Đình Tôi. Đây là một tập văn vui đăng trong giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay.
Theo nhà văn Nhật Tiến, một nhà văn trẻ gần gũi với Nhất Linh và cũng là cộng tác viên của Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay của ông Nhất Linh thì Duy Lam là cây bút chủ lực của giai phẩm này. Khi nhận định về 2 số cuối 10 và 11 của Giai Phẩm VHNN được ông Nhất Linh giao cho Duy Lam và Tường Hùng phụ trách, Nhật Tiến viết “Và theo thông lệ, ngòi bút Duy Lam vẫn giữ vai trò chủ lực. Ông có tới 5 bài, 2 bài bình luận : một về Văn, một về Hội Họa, 3 bài còn lại là văn vui.
Sau thời gian cộng tác với nhà văn Nhất Linh trên Giai phẩm VHNN mà số đầu ra mắt vào ngày 17-6-1958, Duy Lam được Quân đội điều lên làm huấn luyện viên ở trường Chỉ Huy và Tham Mưu tại Đà Lạt. Tại đó, Trung úy Nguyễn Kim Tuấn, tức Duy Lam, gặp Trung tá Hoàng Xuân Lãm. Tháng 2-1963, Trung tá Hoàng Xuân Lãm được thăng cấp Đại tá và được cử làm Tư lệnh Sư đoàn 23 ở Cao nguyên thì ông Lãm kéo Trung úy Tuấn đi theo làm Chánh văn phòng. Năm 1966 Tướng Lãm đi làm Tư lệnh Sư đoàn 2/BB ở Quảng Ngãi rồi 1966 lên làm Tư lệnh Quân đoàn I mà Bộ Tư lệnh đóng ở Đà Nẵng, Trung úy Duy Lam Nguyễn Kim Tuấn dần dần được thăng chức Trung tá vẫn được Tướng Lãm kéo theo làm Chánh Văn Phòng cho tới Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 Tướng Lãm bị mất chức vì Bắc Quân tấn công chiếm Cổ Thành Quảng Trị và tạo áp lực nặng nề lên Huế.
Quân Đoàn I & Quân Khu 1 gồm 6 tỉnh thị miền Trung là Quảng Ngãi, Quảng Tín, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế và Quảng Trị là vùng đất hạ tầng cơ sở của Cộng sản khá nhiều và đồng thời cũng là địa bàn chính của 2 đảng Quốc gia chống Cộng là Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng. Có thể nói tại nông thôn Vùng 1, người dân nếu không là Việt Quốc hay Đại Việt thì là Việt Cộng và hai bên Quốc Cộng thanh toán nhau quyết liệt.
Gia đình Nguyễn Tường được anh em các cấp trong Việt Nam Quốc Dân Đảng ở mọi địa phương coi như “người nhà”, do đó anh em chúng tôi sinh hoạt với VNQDĐ mà không bao giờ bị hỏi đã tuyên thệ gia nhập đảng chưa, gia nhập hồi nào, ai giới thiệu? Vì vậy trong thời gian ở Đà Nẵng, ngoài nhiệm vụ trong quân đội, Duy Lam dành hết thời gian và tâm trí sinh hoạt, cộng tác và giúp đỡ các Đảng bộ VNQDĐ tại tất cả 6 tỉnh thị để củng cố mặt trận chống Cộng.
Duy Lam cũng chủ trương hợp tác với các tổ chức chống Cộng khác, trong các tổ chức đó có tổ chức kết hợp 6 đảng của GS Nguyễn Ngọc Huy. Một lần GS Huy ra Đà Nẵng, trong cuộc gặp gỡ giữa những người có trách nhiệm tại nhà anh Duy Lam, GS Huy đã gây ấn tượng với tôi khi ông có lối nói chuyện thu hút tất cả người nghe với những câu chuyện đủ mọi loại, một khả năng tôi ít thấy người có được. Khi được chúng tôi tổ chức cho ông nói chuyện với đoàn viên nghiệp đoàn lao động Đà Nẵng, ông chọn đề tài nói về lý thuyết dân chủ rất hàn lâm khiến lúc đầu tôi hơi e-ngại cuộc nói chuyện sẽ khó thành công với thính giả là đoàn viên lao động. Nhưng thật bất ngờ, cuộc nói chuyện của GS Huy thu hút tất cả người tham dự vì họ đã được nghe một đề tài phức tạp qua sự trình bày giản dị mà hấp dẫn. Trong cuộc nói chuyện thân mật tại nhà anh Duy Lam, tôi có hỏi GS Huy hai câu. Trước nhất là con đường học vấn của ông, làm sao vừa tranh đấu bí mật từ thời Pháp thuộc mà ông còn lấy được bằng tiến sĩ? Ông cười nhỏ nhẹ cho biết, “Nhờ ông Diệm đuổi đi năm 1955 nên ông mới có thời giờ sang Pháp tiếp tục học và lấy Tiến sĩ.” Thời điểm đó đang có tin đồn GS Huy có thể được đề cử làm Thủ Tướng cho nên tôi hỏi “Nếu GS được mời làm Thủ Tướng thì GS có nhận lời không?” Ông từ tốn trả lời, “Với một điều kiện, vị Tổng Tham Mưu Trưởng phải là người của tôi.” Thời gian đó cũng từ lâu có tin đồn là Đại tướng Cao Văn Viên đã không muốn làm Tổng Tham Mưu Trưởng, ông muốn về hưu. Chuyện này không ít người trong giới quân đội không nghe nói và cũng biết rõ là với chức Tổng Tham Mưu Trưởng trong lúc chiến tranh sôi động mà ông còn có thời giờ và đầu óc thảnh thơi đi học tại Đại học Văn Khoa Saigon để lấy bằng Cử nhân, trong khi Tổng thống Thiệu lại trực tiếp chỉ huy các Tướng lãnh Tư lệnh Quân đoàn. Anh Duy Lam cho tôi biết chuyến đi đó ra miền Trung của GS Huy chủ yếu gặp Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Cuộc gặp đó có hay không, ở đâu, lúc nào và bàn về chuyện gì thì sau đó tôi không nghe nói và cũng không hỏi lại.
Trên lãnh vực văn nghệ, ngoài việc tiếp tục viết văn, anh còn quan tâm tới việc phát triển sinh hoạt Văn hóa, văn nghệ tại địa phương. Anh là người đã phát hiện ra tài năng của hai họa sĩ Cao Bá Minh và Hoàng Đăng Nhuận. Thời đó Cao Bá Minh rất thân thiết với anh Duy Lam và tôi đã gặp Cao Bá Minh nhiều lần ở nhà anh Duy Lam. Theo lời anh Duy Lam, một hôm Chuẩn Tướng Khánh, Tư lệnh Sư đoàn 1 không quân ở Đà Nẵng điện thoại mời anh Duy Lam sang xem một bức tranh của một quân nhân không quân. Khi sang xem, anh nhận xét với Tướng Khánh là họa sĩ này có tài và anh muốn gặp. Thế là Tướng Khánh cho gọi Cao Bá Minh tới. Sau cuộc gặp đó, anh Duy Lam tổ chức một cuộc triển làm cho Cao Bá Minh và cuộc triển lãm thành công. Từ sau cuộc triển lãm đó, Cao Bá Minh chính thức trở thành họa sĩ trong giới hội họa. Theo lời Cao Bá Minh, nhờ đó anh cũng được một người bạn của anh Duy Lam là Trung tá Trí, Tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn truyền tin ưu đãi hậu hĩnh quá mức so với cấp bực của Cao Bá Minh. Họa sĩ thứ hai là Hoàng Đăng Nhuận. Tôi quen Hoàng Đăng Nhuận, không nhớ do đâu. Nhuận là con ông bà chủ tiệm vàng Kim Chi trên con phố chính của Đà Nẵng, gần nhà anh Duy Lam. Một hôm Nhuận nhờ tôi giới thiệu với anh Duy Lam. Tôi mang cho anh Duy Lam xem một bức tranh của Nhuận, họa phẩm gồm toàn các chấm tròn, một lối sáng tác mà lúc đó lần đầu tiên tôi thấy. Xem xong anh Duy Lam cũng đồng ý làm một triển lãm cho Hoàng Đăng Nhuận. Năm 1986, gặp Hoàng Đăng Nhuận ở một quán café bên sông Hương, Nhuận khoe tôi anh là họa sĩ duy nhất của Huế là hội viên hội họa sĩ Việt Nam. Mới đây tra trên google, được biết Hoàng Đăng Nhuận đã từng có tranh tham dự triển lãm tại Mỹ, Pháp, Hồng Kông, và Singapore. Có tranh tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và Singapore. Năm 2010 trong phần giới thiệu cuộc Triển lãm của Ba Họa Sĩ tại Gallery Chiêu Ê, 89 Minh Mạng, Tp Huế, ban tổ chức viết trịnh trọng “Thứ Bảy này, nếu ai yêu mỹ thuật mà lại đang ở Huế thì nên ghé gallery Chiêu Ê. Triển lãm tranh của ba nghệ sỹ Đinh Cường, Hoàng Đăng Nhuận và Phan Ngọc Minh sẽ diễn ra tại đây, kéo dài khoảng một tuần. Hoàng Đăng Nhuận (sinh năm 1942) và Đinh Cường (sinh năm 1939) đều là những họa sĩ hàng đầu của Huế. (http://soi.today/?p=8527).
Sau đó anh Duy Lam thành lập Ủy Ban Phát Huy Văn Hóa Đà Nẵng gồm một số nhân sĩ, văn nghệ sĩ, trí thức như luật sư Lê Văn Kiềm, luật sư Hồ Công Lộ v…v và người đứng đầu là Bác sĩ Thái Can, để tổ chức một Tuần Lễ Văn Hóa với những diễn giả địa phương như GS Nguyễn Văn Xuân v…v và những diễn giả từ Saigon ra như Phạm Duy v…v Một tuần lễ sinh hoạt văn hóa 7 ngày, mỗi ngày có 2 sinh hoạt trong đó có một cuộc triển lãm hội họa, tất cả đều được đông đảo người tham dự miễn phí được coi là một thành công ngoài dự đoán. Để tổ chức được một tuần lễ văn hóa như vậy rất là khó khăn: Trước tiên là tài chánh chi phí di chuyển, ăn ở cho các diễn giả từ Saigon, thuê mượn và trang trí cơ sở. Tất cả số tiền đó chỉ do một mình anh Duy Lam quyên góp từ các bạn bè của anh. Lại phải là người có uy tín trong giới văn hóa, văn nghệ mới mời được các diễn giả tên tuổi, chuyên nghiệp, cũng lại chính anh Duy Lam mời các văn nghệ sĩ tham dự. Đặc biệt, trong cuộc triển lãm hội họa có nhiều họa sĩ tham dự, có bức tranh Cung Kiếm Mỏi của Hạ Quốc Huy đã từng được giải thưởng khuyến khích của Tổng thống, được một viên chức ngoại giao Hoa Kỳ mua với giá $400,000 đồng (tiền Việt Nam). Bức tranh đó tôi cũng thích. Lúc đó lương một thiếu úy độc thân chưa tới $20 ngàn. Họa sĩ Hạ Quốc Huy không muốn bán. Thấy vậy Duy Lam bàn, “Bán đi chứ! Đâu có họa sĩ nào bán được một bức tranh với giá như thế đâu!” Tưởng cũng nên biết, tại Việt Nam cho tới năm 1975 chỉ mới có hai Tuần lễ sinh hoạt văn hóa do tư nhân tổ chức. Một là Tuần lễ hội chợ có rất nhiều các sinh hoạt do ông Nhất Linh và TLVĐ mời hầu hết giới tinh hoa, trí thức bậc nhất Hà Thành tham gia ban tổ chức tại Hà Nội vào thập niên 1930s. Tuần lễ Văn hóa thứ nhì là tuần lễ này do cá nhân anh Duy Lam, với sự cộng tác của các thân hữu đứng ra tổ chức.
Sau sự thành công vượt dự đoán của Tuần lễ Văn hóa, trong buổi họp tổng kết tại tư gia anh Duy Lam, một lần nữa anh lại đề nghị một đề án mới: Thành lập Viện đại học Quảng Đà. Những buổi họp kế tiếp luân phiên giữa ba tư gia, Duy Lam, BS Thái Can, và LS Hồ Công Lộ đã hình thành Ủy Ban Vận Động Thành Lập Viện Đại Học Cộng Đồng Quảng Đà (UBVĐTLVĐHCĐQĐ) do BS Kiêm nhà thơ Thái Can làm Chủ tịch, Tổng thư ký là Duy Lam. Ủy ban nhận định, nhiều địa phương khác có Viện đại học nhưng đó là Viện đại học công hoặc do các tôn giáo tổ chức, Ủy ban muốn lần đầu tiên Quảng Đà có một Viện đại học do người dân địa phương đứng lên yêu cầu. Với hoàn cảnh hạn chế nhân sự tại địa phương, Ủy ban chỉ thỉnh cầu chính quyền mở Viện đại học cộng đồng với chương trình hai năm và liên kết với Viện đại học Huế để sinh viên sau khi tốt nghiệp tại Viện đại học Quảng Đà có thể tiếp tục ra Viện đại học Huế hoàn tất văn bằng kỹ sư hay cử nhân 4 năm. Bây giờ sang Mỹ, những ai từng theo học đại học cộng đồng (community college) đều hiểu vai trò và mục tiêu của Đại học Cộng đồng, chứ nhớ lại, hồi đó tất cả Ủy ban không ai hiểu khác biệt giữa Đại học Cộng đồng 2 năm và đại học thông thường 4 năm. Họ chỉ nghĩ rằng, thiếu nhân sự nên chỉ dậy chương trình 2 năm rồi sau đó sinh viên sẽ ra Huế hay vào Saigon học tiếp. Dù sao thì với sự vận động của Ủy Ban mà chủ yếu là anh Duy Lam, chính phủ trung ương đã cử Quốc Vụ Khanh Phan Quang Đán ra tiếp xúc với dân chúng. Buổi tiếp xúc do UBVĐTLVĐHCĐQĐ tổ chức được đông đảo đồng bào tham dự đã khiến chính phủ trung ương thấy cần đáp ứng nguyện vọng của dân chúng địa phương. Viện Đại học Cộng đồng Quảng đà được khai giảng mùa thu 1974 với Tiến sĩ Ngô Đồng tốt nghiệp ở Mỹ, thuộc Viện đại học Huế, được mời làm Viện trưởng. Tôi không biết niên khóa đầu tiên Viện có mấy lớp và các giáo sư phụ trách là những ai nhưng tôi có tham dự một buổi với tính cách dự thính lớp Dự bị Văn chương Pháp. Hôm đó giáo sư tên là Lam, một giáo sư trẻ của trường trung học Đà Nẵng giảng về cuốn tiểu thuyết L’Etranger của Albert Camus.
Tháng ba 1975 trong tình hình chiến sự sôi động, Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư lệnh Quân đoàn I tuyên bố tử thủ Huế, anh Duy Lam nói với tôi, Tướng Trưởng tuyên bố tử thủ thì anh, tôi và vợ Tướng Trưởng phải ở lại. Chứ trong ba chúng tôi mà có ai bỏ chạy trước thì dân chúng ai mà tin lời tuyên bố Tử thủ của Tướng Trưởng. Tôi không biết sau đó anh Duy Lam có bàn như vậy với vợ Tướng Trưởng không (anh Duy Lam là anh cô cậu ruột với bà vợ Tướng Trưởng) nhưng hàng ngày tôi gặp bà vợ Tướng Trưởng tôi thấy bà và mấy cháu vẫn sinh hoạt bình thường, không tỏ ý gì là muốn bỏ về Saigon trước. Cả ba chúng tôi đều để gia đình ở lại Đà Nẵng trong lúc có nhiều cấp lớn đã mua vé máy bay đưa gia đình chạy vào Saigon. Dĩ nhiên tất cả bạn bè của anh Duy Lam hay của tôi đều hỏi chúng tôi về chuyện “Liệu Huế có tử thủ không?” Họ nhìn vào hai chúng tôi để biết Tướng Trưởng, một người rể trong gia đình có thực sự tử thủ Huế hay không. Trong thời gian đó trưa nào tôi cũng tới ăn cơm với bà Trưởng. Các cháu ăn trước rồi, chỉ có hai chị em chúng tôi ngồi nói chuyện và ăn cơm trưa với nhau ở cái bàn nhỏ ở khu nhà bếp. Hai chị em chúng tôi không nói chuyện thời sự. Cũng như hiện nay, tại Mỹ, chúng tôi gọi nhau qua phone nhiều lần trong tuần và lần nào cũng nói lâu cả tiếng về những chuyện mà nếu có ai hỏi chúng tôi nói chuyện gì thì cũng không thể nói rõ chuyện gì ra chuyện gì, toàn những “chuyện ngày xưa” chuyện bà nội chúng tôi v…v, tóm lại là những chuyện gia đình. Thực ra trước đó tôi chỉ ghé bà Trưởng ăn cơm và nói chuyện một tuần một lần, nhưng vào thời điểm gay cấn, trưa nào tôi cũng ghé cốt để xem khi nào thì Tổng thống Thiệu ra lệnh Tướng Trưởng bỏ Huế… Rồi ngày đó cũng đến! Một buổi trưa, khi tôi vừa tới, bà Trưởng cho tôi biết Tổng thống Thiệu ra lệnh Tướng Trưởng bỏ Huế. Nghe xong, tôi suýt bật khóc. Từ lâu tôi vẫn nghĩ, Đà Nẵng là trung tâm quân sự, hành chánh và kinh tế nhưng Huế là “thủ phủ tinh thần” của miền Trung. Mất Huế sẽ là mất tất cả miền Trung. Tướng Trưởng là một vị Tư lệnh mà tôi rất quí trọng qua sự liêm khiết, dũng cảm, tận tâm với đơn vị, và thuộc cấp; nhất là đối với những quân nhân ở đơn vị tác chiến; và tôi từng là quân nhân tác chiến trong Sư đoàn 1 của ông trong hai năm. Tôi nghĩ ngay, sau lệnh bỏ Huế thì Tướng Trưởng sẽ trở thành bại tướng và ông sẽ chẳng còn gì. Tôi thương cảm cho ông! Sau vài phút dằn lòng, tôi từ tốn nói với bà Trưởng, “Chiều nay anh về, nhờ chị nói với anh là trong 7 năm qua em chưa bao giờ làm điều gì gây phiền cho anh, nhưng hôm nay em đào ngũ!” Nghe vậy, bà Trưởng chỉ biết từ tốn nói, “Bây giờ thì mạnh ai nấy quyết định!” Vì tôi là sĩ quan trực trung tâm hành quân Bộ chỉ huy cảnh sát Khu I nên tôi không thể lẳng lặng bỏ đi, sẽ gây phiền cho hai sĩ quan trực phiên kế tiếp, tôi lên gặp Đại tá Lộc Chỉ Huy Trưởng để xin nghỉ phép một tuần về Saigon tìm bà mẹ ở Ban Mê Thuột di tản chưa có tin tức. Đại tá Lộc người cao lớn, uy nghiêm nhưng hiền từ, ngồi oai vệ ở chiếc ghế xoay, an ủi tôi “Ừ anh cứ về đi, tôi còn ngồi đây thì tình hình chưa có gì đâu.” Sau đó ông gọi Trưởng ban nhân huấn lên ra lệnh làm giấy phép cho tôi. Tôi chính thức rời nhiệm sở luôn mà không cần đợi lấy giấy phép. Tôi chưa tiết lộ tin đó với ai, chỉ lẳng lặng thu xếp đồ đạc để chuẩn bị rời Đà Nẵng mà chưa biết bao giờ và bằng cách nào.
Mấy ngày sau tôi vẫn tới nhà bà Trưởng để nói chuyện và ăn cơm trưa để xem bao giờ thì bà ấy đi. Một buổi trưa, khi tôi tới thì thấy có một người Mỹ ngồi lẳng lặng ngoài thềm bên cạnh có chiếc máy truyền tin. Khoảng 2 tiếng sau tôi thấy người Mỹ đó nghe máy rồi bảo bà Trưởng cùng mấy con lên xe đi. Tôi lái xe jeep chạy theo ra chổ bãi đáp trực thăng ở ngay cuối đường Độc Lập, cũng rất gần tư dinh. Khi bà Trưởng lên trực thăng, tôi chào bà “Vĩnh biệt chị!” Bà bảo tôi, “Tâm làm gì mà ghê thế, anh còn ở đây mà!”
Thế là mọi chuyện có thể công khai được. Trở về tôi điện thoại dục anh Duy Lam ra đi nhưng anh từ chối. Tôi bảo nếu anh không đi thì để vợ con đi với tôi, anh bảo nếu tôi thuyết phục được vợ anh. Khi tôi gọi dục chị Duy Lam mang mấy cháu đi thì giọng chị vẫn bình thản, “Tôi không đi đâu. Tôi ngồi đây chờ Tuấn.” Từ lúc đó tôi không gặp lại anh Duy Lam ở Đà Nẵng nữa. Tôi biết rằng anh đang vận động thành lập một lực lượng quần chúng bảo vệ Đà Nẵng và anh xin Thị Trưởng Đà Nẵng cấp cho lực lượng đó 2000 ngàn khẩu súng. Tôi không biết việc vận động như vậy của anh diễn tiến ra sao nên tôi không định kể lại sự kiện này. Nhưng cách nay mấy hôm, tình cờ tôi đọc được mẩu đối thoại của 2 facebookers thế này:
Tôi quen anh Daniel Hoàng tức Hoàng Văn Thắng, cựu chánh văn phòng Ty Giáo Dục Đà Nẵng và hiện là giáo viên văn chương Anh trong trường Trung học Mỹ tại thành phố tôi đang ở, San Jose. Qua giới thiệu của Hoàng Văn Thắng tôi biết facebooker “Mongthu Lenhu” là anh Lê Quang Thông, một cựu giáo sư trung học Đà Nẵng, sau này vượt biên sang Pháp tốt nghiệp Thạc sĩ Toán tại Đại học Sorbonne và hiện đang dậy Đại học ở Đức. Trong hai messages trên anh Thông viết “Thắng còn nhớ những ngày cuối cùng ở Đà Nẵng, họp ở hội VM với anh DL bàn chuyện tử thủ? ở phần message cuối, anh Thông viết “Mình những ngày cuối tháng 3 loanh quanh ở hội VM sau lưng Tòa Thị Chính, lúc đó có anh DL ngồi với anh em.” (Ghi chú của Tường Tâm: hội VM là hội Việt Mỹ)
Thật may mắn, sau chuyến bỏ chạy gian khổ, cuối cùng tôi và anh Duy Lam gặp nhau ở Saigon. Tôi thấy chưa bao giờ anh Duy Lam có ý nghĩ sẽ mất miền Nam. Anh và tôi tới nhà GS Nguyễn Ngọc Huy, căn nhà khiên tốn vẫn có người cảnh sát gác bên ngoài. Trong cuộc nói chuyện tôi bày tỏ nhận định là dựa theo những gì tôi quan sát hành động của người Mỹ tại Đà Nẵng trước lúc Đà Nẵng bị bỏ lại, nhất là sau này hành động của người Mỹ được lập lại tại Phan Rang, nơi tôi tá túc trước khi đi ghe vô Saigon, thì Mỹ sẽ bỏ rơi miền Nam. Tôi phát biểu “Theo tôi hiện nay Saigon vẫn yên tĩnh, nhưng khi người Mỹ bỏ đi thì Saigon sẽ rối loạn!” Nhưng vẫn với sự lạc quan, GS Huy từ tốn nhận định “Người Mỹ đã đổ vào đây bao nhiêu tiền của và hy sinh mấy chục vạn người, bây giờ lại đã tìm thấy dầu hỏa, cho nên người Mỹ sẽ không thể bỏ miền Nam. Cùng lắm chúng ta sẽ rút xuống miền Tây sau đó người Mỹ sẽ giúp chúng ta phản công lại, như Nam Hàn trong chiến tranh 1950-53.” Khi ra về anh Duy Lam không nhận định gì, nhưng tôi nói, tôi không hiểu GS Huy có tin tức từ cấp cao của Mỹ ra sao mà tin như vậy, tôi thì vẫn không tin.
Sáng ngày 30-4-1975, khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, tôi đang ở Đường Kỳ Đồng, gần trường Đại học Vạn Hạnh. Tôi đi bộ tới thăm gia đình anh Duy Lam lúc đó đang tạm trú tại nhà người em rể. Chỉ có chị Duy Lam ở nhà. Khi trở ra ngoài đường tôi gặp một đoàn quân nhân nhẩy dù trên đường Trương Minh Giản đang từ phía Tân Sơn Nhất lui dần về trung tâm Saigon. Trong đoàn quân đó có anh Duy Lam đang mặc đồ trận mầu xanh. Tôi hỏi anh định đi đâu thì anh cho biết định theo đoàn quân nhẩy dù chiến đấu…cuối cùng đoàn quân thiện chiến tan hàng gần cầu Trương Minh Giảng.
Từ ngày đó hai chúng tôi chia tay. Hai mươi năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở miền nam tiểu bang California. Duy Lam là trưởng nam của bà Nguyễn thị Thế, em gái của 2 ông Nhất Linh và Hoàng Đạo và chị của Thạch Lam. Truyện Hai Đứa Trẻ của Thạch Lam chính là câu truyện Thạch Lam viết về chính mình và bà chị này.
Theo nhà thơ Luân Hoán (https://www.luanhoan.net/tacgiavn/1htm/duylam.htm) Duy Lam là thành viên ban sáng lập và chấp hành hội Bút Việt, sau đổi tên là Văn Bút Quốc Tế Việt Nam (Nhất Linh, Ðỗ Ðức Thu, Vũ Hoàng Chương, Ðái Ðức Tuấn, Hiếu Chân, Nguyễn Thị Vinh…)
Trên một trang báo Người Việt tại Nam California, nhà văn Lâm Túy Mĩ đã viết, “Quyển tiểu thuyết đầu đời tôi được đọc là quyển “Gia Đình Tôi” của nhà văn Duy Lam, ông là hậu duệ của gia đình Nguyễn Tường …Mùa Hè 1960, ba tôi lấy quyển tiểu thuyết “Gia Đình Tôi” của Duy Lam, một loại tuyển tập truyện ngắn, ông bắt tôi đọc, và nói rằng ba nghĩ con sẽ thích…”
Trong hình đính kèm Duy Lam chụp chung với các thành viên Văn Bút Việt Nam mà anh cùng ông Nhất Linh và một số nhà văn, thơ khác đồng sáng lập thập niên 1960 tại Saigon.
Duy Lam động viên khóa 3 Thủ Đức, cấp bậc cuối cùng, Trung tá Quân đoàn I, tù cải tạo gần 13 năm. Những năm tháng mới sang Hoa Kỳ theo diện HO vợ chồng anh sống tại Orange County, Nam California, sinh hoạt văn nghệ với nhiều thân hữu địa phương. Sau đó 3 người con gái của anh đã đón vợ chồng anh về sống tại Virginia, miền Đông Hoa Kỳ. Tại đây, anh chuyện về hội họa. Căn phòng riêng của anh trưng bày la liệt các họa phẩm của anh. Dần dần trí nhớ của anh có giảm sút…cuối cùng anh bị ngã. Được các con đưa vào nhà thương không lâu sau anh qua đời vì các căn bệnh khác của tuổi già.
Một số bạn tù cho biết trong tù anh Duy Lam vẫn giữ được khí tiết nên bị biệt giam với cùm sắt tới nỗi cổ chân bị thối. May nhờ có trụ sinh của gia đình gửi vào, nếu không thì chân anh đã bị cưa. Ngoài ra trong tù anh có 1 bài thơ cảm động mà nhạc sĩ Xuân Điềm đã phổ nhạc,
Anh Xuân Điểm kể về bài tù khúc “Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết”:
“Nhà văn Duy Lam từ Bắc chuyển trại về Nam có tặng bài thơ nội dung nói về cái chết tức tưởi của đại tá Nguyễn Khoa Dóanh là bào đệ của thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam.
Nhà văn Duy Lam là người tù canh giữ trạm xá nơi đại tá Nguyễn Khoa Dóanh kiệt sức đang nằm chờ chết. Hôm ấy, đại tá Dóanh thều thào với nhà văn Duy Lam rằng ông thèm ngậm một viên kẹo trước khi lìa đời. Sau khi tìm được kẹo về thì đại tá Dóanh cầm chặt viên kẹo trong tay tỏ vẻ vui mừng nhưng không ngậm được nữa vì giờ chết gần kề. Khi nhà văn Duy Lam vuốt mặt lần cuối cho người bạn tù thì viên kẹo rơi ra khỏi tay và nằm trên ngực áo, Ôi! Thương thay, đến chết mà ước mơ thật nhỏ bé cũng không thành sự thật”. (Xuân Điềm)
Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Nắm không buông như níu kéo cuộc đời
Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Người bạn tôi vừa từ bỏ cuộc đời
Mới vừa đây trong tiếng rên hấp hối
Anh đã xin “hãy tìm hộ cho anh
Một chiếc kẹo” . . . vì đã thèm chất ngọt
Nhiều tháng năm chỉ chờ đợi phút này
Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Phút chia ly tôi vuốt mắt bạn hiền
Chiếc kẹo nhỏ rơi nằm trên ngực áo
Kẹo còn đây mà người đã lìa đời . . .
Thế là thôi trong nỗi vui phút cuối
Anh chết đi chiếc kẹo còn trong tay
Đầy cẩn trọng trong nỗi niềm vô vọng
Nhiều tháng năm chỉ chờ đợi phút này
CODA: Tiễn đưa anh những bạn tù đói rách
Chiếc áo thô tẩm liệm cuối đời tù
Khóc cho anh và cho cả chúng ta
Rồi ngày nao . . . cũng sẽ đến lượt . . . mình
Sáng nay, mùng 5 tết âm lịch, tức 15-2-2021, trong khi viết những dòng này tôi đang ngồi ở miền Tây Hoa Kỳ tiễn đưa thân xác anh Duy Lam trở về với cát bụi qua đám tang trực tuyến ở miền Đông với nhiều xúc cảm. Một đời người 90 năm như bóng câu qua cửa sổ, nhưng anh Duy Lam đã luôn sống hữu ích với tinh thần lạc quan, năng nổ của kẻ sĩ nhập thế. Trong giây phút gian nguy của đất nước, anh vẫn lạc quan quên bản thân và gia đình để tập họp dân chúng bàn chuyện tử thủ, anh đã bày tỏ khí tiết anh hùng của một chiến sĩ vô danh.