Liên Đoàn Kiểm Báo KQ-VNCH

Trần Đình Giao 

Liên Đoàn Kiểm Báo.png

TỔNG QUÁT:

Là một trong 7 đơn vị Trung Ương KQ:
– Bộ Chỉ Huy Hành Quân KQ 
– Bộ Chỉ Huy Kỹ-Thuật & Tiếp Vận KQ 
– Trung Tâm Huấn-Luyện KQ 
– Liên-Đoàn Kiểm Báo 
– Trung Tâm Y Khoa KQ 
– Khu Tạo Tác Tân Sơn Nhất 
– Sở Hành Chánh Tài Chánh KQ), trực thuộc Bộ Tư Lệnh KQ,
Liên-đoàn Kiểm-Báo bao gồm hệ thống radar của KQ gồm có 2 Trung-Tâm và 3 Đài Kiểm Báo.

1. Sự Hình Thành và Phát Triển: 

Từ đầu thập niên 60, KQVN bắt đầu xúc tiến việc đào tạo các chuyên viên Hành-Quân và Kỹ-Thuật cần thiết qua các đợt huấn luyện liên tiếp tại các quân trường của KQ Hoa Kỳ. Mặt khác việc xây cất cơ sở và việc thành lập các đơn vị radar cũng lần lượt được thực hiện.
Hệ thống radar được hình thành và phát triển qua những giai đoạn chuyển tiếp sau:

A) Giai đoạn trắc nghiệm và huấn-luyện: 
Một số chuyên viên sau các khóa huấn luyện đầu tiên được bổ nhiệm ở Trung Đội Radar Tân Sơn Nhất, đơn vị radar đầu tiên do KQVN thành lập. Thiết bị điện tử của đơn vị kém hiện đại và cũ nên hoạt động của đơn vị phần lớn chỉ giới hạn trong việc trắc nghiệm và huấn luyện. Việc hỗ trợ không-hành (navigation aid) chỉ được thực hiện theo tình trạng khả dụng của phương tiện điện-tử hay khi cần thiết. Nhiệm vụ của đơn vị nầy chấm dứt sau một thời gian hoạt động ngắn.
B) Giai đoạn điều hành chuyển tiếp: 
Liên-Đoàn Truyền-Tin Điện-Tử được thành lập khoảng năm 1961 với trách nhiệm chỉ huy, điều hành các đơn vị radar đang lần lượt hình thành với số nhân viên được phối trí song song với các thành phần đối nhiệm (counterparts) của KQ Hoa-Kỳ tại cấp đơn vị ở Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Ban Mê Thuột, PleiKu, CầnThơ. Hoạt động của các đơn vị radar được cải tiến dần dần theo nhịp độ bổ sung quân số và công tác huấn luyện tại đơn vị. Nhiệm vụ của Liên-Đoàn Truyền-Tin Điện-Tử chấm dứt khoảng năm 1963.
C) Giai đoạn trực thuộc các Không-Đoàn và Căn cứ KQ (1963- 1965): 
Trong giai đoạn nầy, các đơn vị radar được sát nhập vào tổ chức của Bộ Chỉ Huy Không Chiến, rồi tới các Không-Đoàn và Căn-Cứ KQ. Danh hiệu và danh số đơn vị được chính thức qui định trong bảng cấp-số của Không Quân. Do đó, khoảng năm 1964 danh từ Kiểm Báo (KB) bắt đầu được xử dụng trên giấy tờ cũng như trên thực tế. Các đơn vị Kiểm Báo có danh số của các Không Đoàn và Căn Cứ KQ nơi các đơn vị ấy đồn trú hoặc ở gần nhất. 

Có 2 trung-Tâm và 3 Đài Kiểm Báo:
* Trung-Tâm KB 33 đồn trú trong Không-Đoàn 33 ở Tân Sơn Nhất.
*Trung-Tâm KB 41 ở bên ngoài Không-Đoàn 41 Đà Nẵng.
* Đài KB 741 đồn trú trong Không-Đoàn 74 ở Cần Thơ (con số sau cùng là mã số riêng của đơn vị)
* Đài KB 621 có Không-Đoàn gần nhất là KĐ 62 ở Nha trang.
* Đài KB 921 đồn trú trong Căn-Cứ KQ 92 ở PleiKu.
Trong giai đoạn 63- 65, việc chỉ huy và điều hành hệ thống kiểm báo khá phức tạp. Tùy theo vấn đề, việc theo dõi và kiểm soát điều hành được thực hiện bởi nhiều cấp bộ khác nhau: Bộ Tư-Lệnh KQ, Bộ Chỉ-Huy Không-Chiến, Không-Đoàn, Căn-Cứ.

Khoảng cuối năm 1964, hệ thống Kiểm Báo được chính thức xác nhận. Do Huấn-Thị của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, quy định tổ chức Điều-Kiểm Chiến-Thuật (Tactical Control System) gồm các phần hành thuộc Lục-Quân và Không Quân. Về phía KQ, hệ thống Kiểm Báo được tổ chức song hành với hệ thống Hành-Quân của KQ, bao gồm các Trung Tâm HQ Không trợ (ASOC=Air Support Operation Center, sau cải danh là DASC=Direct Air Support Center) đặt tại mỗi Quân-Đoàn và trực thuộc Bộ Chỉ-Huy Hành-Quân KQ (AOC=Air Operation Center, sau cải danh là TACC=Tactical Air Control Center). Hệ thống Kiểm Báo là phương tiện chủ yếu (tai mắt) trong công tác Điều-Kiểm Chiến-Thuật của Không Quân.
Để cải tiến việc thống nhất chỉ huy và điều hành hệ thống, LIÊN ĐOÀN KIỂM BÁO được thành lập đầu năm 1965, thời điểm mà hoạt động kiểm báo gia tăng đáng kể theo nỗ lực và nhu cầu hành quân của Không Quân Việt Nam.
Bộ Chỉ-Huy Liên-Đoàn Kiểm-Báo đồn trú trong Căn Cứ Tân Sơn Nhất cạnh Bộ Chỉ Huy của Liên-Đoàn Kiểm-Soát Chiến-Thuật 505 (505th Tactical Control Group) của Không Quân Hoa Kỳ (USAF)
Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Liên-Đoàn Kiểm-Báo là Trung Tá Hoàng-Ngọc-Bào, nguyên Chỉ Huy Trưởng Trung-Tâm KB 33 TSN, từ 1961.

2. Nhiệm Vụ:

Chỉ huy và điều hành hệ thống Kiểm Báo để hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản của hệ thống về các mặt:

PHÒNG KHÔNG:

Kiểm soát toàn bộ không phận VNCH, chống lại mọi sự xâm nhập bất hợp pháp của các phi cơ lạ hay của địch.
Hướng dẫn phi cơ nghênh cản (Interceptors) lên ngăn chặn và áp dụng mọi biện pháp cần thiết theo tiêu-lệnh hay chỉ thị của tổ chức Phòng-Không Trung-Ương thông qua Trung-Tâm Phòng-không Vùng (1 đặt tại BCH/HQKQ ở TSN cho Vùng Nam và 1 ở Trung-Tâm KB ở Đà Nẵng cho Vùng Bắc).
Trong cuộc chiến ở VN, KQVN và KQHK đă phối hợp rất chặt chẽ trong nhiệm vụ phòng-không. KQHK dùng phi cơ F-102 và về sau thay thế bằng F-4E. KQVN xử dụng phi cơ F-5E, và tùy theo nhu cầu hay tình trạng báo động, các phi cơ nghênh cản này được đặt túc trực cho hai Vùng Phòng Không Nam và Bắc tại các phi trường Biên Hòa, Phan Rang và Đà Nẵng.

ĐIỀU KIỂM CHIẾN THUẬT:

Theo dõi tất cả các phi vụ Hành Quân Chiến-Thuật KQ bằng các đoản-lệnh (frag order) từ Bộ Chỉ Huy Hành-Quân KQ (TACC) và các Trung-Tâm HQ Không-Trợ (DASC) gửi đến bằng viễn-ấn (teletype).
Đầu thập niên 70, do nhu cầu chiến-thuật, KQVN được trang bị thêm phương tiện hướng dẫn oanh tạc ở cao độ (BOBS=Beacon Only Bombing System). Các đài Hướng-Dẫn được thành lập để hướng dẫn các phi vụ oanh tạc và thả dù chính xác vật liệu ở độ cao của KQ.

HUẤN LUYỆN:

Ngoài việc xúc tiến và kiểm soát điều hành các công tác huấn luyện thường xuyên để duy trì khả năng của đơn vị, Liên-Đoàn KB phối hợp với Liên-Đoàn 505 (USAF) thực thi và hoàn thành Kế-hoạch Tự-Lực (Self Sufficiency Plan) của hệ thống kiểm Báo của KQVN theo kế hoạch chung của KQ Việt-Mỹ.

TRÁCH NHIỆM ĐẶC BIỆT VỀ PHÒNG THỦ CỦA CÁC ĐƠN VỊ KIỂM BÁO ĐỒN TRÚ BIỆT LẬP.

Trách nhiệm này rất quan trọng đối với các đơn vị KB ở ngoài phạm vi hay ở xa nơi đồn trú các đơn vị lớn của KQ (Sư Đoàn, Căn Cứ KQ) như trường hợp TT2KB ở Đà Nẵng và Đ12KB ở Ban Mê Thuột. Các đơn vị KB này cùng với các đơn vị hay thành phần phòng thủ biệt phái, trên thực tế được tổ chức thành các Yếu-Khu trực thuộc các Tiểu Khu địa phương về mặt phòng thủ. Vì đơn vị KB là đơn vị lớn nhất trong Yếu-Khu, nên trách nhiệm chỉ huy phòng thủ yếu khu được giao cho Chỉ Huy Trưởng đơn vị KB kiêm nhiệm.

Có 2 yếu khu liên quan đến công tác phòng thủ cơ sở Kiểm Báo:

Yếu Khu “Sơn Chà” thuộc Tiểu Khu Tiên Sa (Hải Quân) ở Đà Nẵng, có phạm vi phòng thủ bao gồm TT2KB Đà Nẵng.
Yếu Khu 3 của Ban Mê Thuột thuộc Tiểu Khu Darlac, có phạm vi phòng thủ bao gồm Đ12KB ở Ban Mê Thuột và phi trường L-19 trong thành phố BMT.

3. Tổ Chức:

Từ năm 1965, KQVN phát triển mạnh mẽ với sự thành lập các Sư-Đoàn KQ, với tổ chức mới bao gồm thêm các Không-Đoàn, Phi-Đoàn, hoạt động của KQ gia tăng theo nhu cầu hành quân. Hệ thống Điều-Kiểm Chiến-Thuật đã đi vào lề lối hoạt động theo dự trù. Liên-Đoàn Kiểm-Báo sau khi thành lập, đã được tổ chức như sau:

– Bộ Chỉ-Huy Liên-Đoàn
– 2 Trung-Tâm Kiểm Báo: 
. TT1KB ở Tân Sơn Nhất (danh hiệu PARIS CONTROL). 
. TT2KB ở Đà Nẵng (danh hiệu PANAMA CONTROL)
– 3 Đài Kiểm Báo: 
. Đ11KB ở Bình Thủy, Cần Thơ (danh hiệu PADDY CONTROL),
. Đ12KB ở Ban Mê Thuột (danh hiệu PYRAMID CONTROL), và 
. Đ21KB ở PleiKu (danh hiệu PEACOCK CONTROL)
– 3 Đài Hướng Dẫn (BOBS) ở Biên Hòa, Đà Nẵng và PleiKu.

Quân số: 

Quân số cơ hữu Liên-Đoàn Kiểm-Báo gồm khoảng 1000 người (80% so với bảng cấp số) không kể các thành phần biệt phái theo nhu cầu phòng thủ và tổng vụ cho các đơn vị KB đồn trú ở ngoài hay ở xa các Căn Cứ, Sư Đoàn KQ.
– Quân số của Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn gồm 60 người.
– Quân số của Trung Tâm Kiểm Báo theo bảng cấp số gồm từ 250 đến 300 người.
– Quân số mỗi Đài Kiểm Báo từ 150 đến 250 người (chưa kể các thành phần phòng thủ hay tổng vụ biệt phái từ Sư-Đoàn KQ, hay Tiểu-Khu tăng cường cho các đơn vị KB ở xa hoặc ở ngoài phạm vi các Sư-Đoàn KQ gần nhất như trường hợp TT1KB ở Đà Nẵng và Đ12KB ở Ban Mê Thuột.
– Quân số các Đài Hướng Dẫn (BOBS) gồm 21 người mỗi đài.

BỘ CHỈ HUY LIÊN ĐOÀN KIỂM BÁO:

* Đồn trú ở Căn Cứ Tân Sơn Nhất trong lãnh thổ của Sư Đoàn 5 KQ. Ngoài ban Văn Thư Bộ Chỉ Huy, có 5 phòng:

PHÒNG HÀNH QUÂN: Có trách vụ tham mưu và theo dõi hàng ngày các hoạt động hành quân của các đơn vị Kiểm báo qua ban trực HQ bằng phương tiện liên lạc trực tiếp (hot line) với các đơn vị.

PHÒNG KỸ THUẬT: Trách vụ tương tự như Phòng HQ, nhưng về mặt kỹ thuật, qua Ban Kiểm Soát Bảo Trì và Tiếp Liệu, liên lạc trực tiếp với các đơn vị và với Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật Tiếp Vận KQ để theo rõi, kiểm soát điều hành các công tác bảo trì và tiếp liệu ở các đơn vị kiểm báo.

PHÒNG KẾ HOẠCH VÀ NHU CẦU: Theo rõi việc thực thi kế hoạch Tự Lực của LĐKB và các kế hoạch nội bộ của Liên Đoàn.

PHÒNG NHÂN HUẤN: (Personel&Training) Khi thành lập Liên Đoàn có hai phòng Nhân Viên và Huấn Luyện riêng biệt, nhưng sau tổ chức thay đổi, hai phòng được sát nhập làm một và trở thành phòng Nhân Huấn. Phòng NH có trách nhiệm quản trị nhân viên, đảm bảo việc phối trí chuyên viên nhanh chóng tới các đơn vị theo dự trù hay nhu cầu. Theo dõi việc huấn luyện chuyên viên hành quân và kỹ thuật ở cấp đơn vị theo đúng tiêu chuẩn và kế hoạch huấn luyện của Liên Đoàn.

PHÒNG CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ: Theo dõi việc thực thi công tác CTCT tại các đơn vị theo đúng chỉ thị hay tiêu chuẩn của Bộ Tư Lệnh KQ, qua các toán CTCT hướng dẫn học tập, công tác Tâm Lý Chiến và Xã Hội ở cấp đơn vị.
* Công việc của các phòng đều được thuyết trình cho Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn vào mỗi buổi sáng với sự tham dự của các Trưởng phòng.

CÁC ĐƠN VỊ TRƯỞNG TRONG HỆ THỐNG KIỂM BÁO:

Các cấp chỉ huy của Hệ-thống kiểm-báo có nhiệm kỳ tới khi cuộc chiến chấm dứt:
– Chỉ Huy Trưởng LĐKB : Đại Tá Phạm-Duy-Thân 
– TT1KB /Tân Sơn Nhất : Trung Tá Cung-Đinh-Mộc
– TT2KB /Đà Nẵng : Trung Tá Nguyễn-Cầu
– Đ11KB /Cần Thơ : Thiếu Tá Nguyễn-Bửu-Lộc
– Đ12KB /Ban Mê Thuột : Thiếu Tá Hoàng-Bá-Mỹ
– Đ21KB /PleiKu : Thiếu Tá Trần-Quốc-Ban
– Đài Hướng dẫn (BOBS) Biên Hòa : Đại Úy Võ-Văn-Thông
– Đài Hướng dẫn (BOBS) Đ� Nẵng : Đại Úy Trần-Văn-Han
– Đài Hướng dẫn (BOBS) PleiKu : Đại Úy Đào-Đức-Vinh

CÁC ĐƠN VỊ KIỂM BÁO:

Hệ thống kiểm báo bao gồm 2 Trung-Tâm Kiểm-báo, 3 Đài Kiểm-báo và 3 Đài Hướng Dẫn (Bobs).

Trung Tâm và Đài Kiểm báo: Nhiệm vụ chung của các Trung Tâm và Đài Kiểm báo là kiểm soát không phận (Air Surveillance) và vùng phòng không xác đoán được giao phó (ADIZ=Air Defence Identification Zone), yểm trợ, hướng dẫn những phi vụ chiến thuật, (Tactical Air Control) liên lạc chặt chẽ với các Trung Tâm HQ không Trợ (Quân Đoàn), kiểm soát và yểm trợ không hành (Air Radar Control) cho các phi cơ quân sự và dân sự bay trong vùng không phận trách nhiệm.
Tổ chức: các trung-Tâm và Đài Kiểm báo có tổ chức tương tự như nhau, chỉ khác biệt về quân số và máy móc trang bị. Mỗi Trung Tâm hay Đài Kiểm báo đều có :
– Bộ Chỉ Huy và Ban Văn-thư
– phòng hành quân gồm Tổ chức phòng tối (Dark Room) và Ban Huấn Luyện và Duy trì khả năng.
– phòng tối : gồm 3 toán hành quân A, B, C, mỗi toán hướng dẫn bởi một sĩ quan Chỉ Đạo Trưởng(cấp bậc Đại-Úy) và một sĩ quan Phụ tá kiêm sĩ quan Nghênh cản phòng không (Đại-Úy). Ba toán hành quân A, B, C, luân phiên làm việc 24/24 giờ trong phòng Tối. Mỗi toán HQ trong phòng Tối được phân chia theo các ban:

+ Ban Hoạt động và Xác đoán: (M&I=Movement & Identification) theo dõi các phiếu kiểm soát không-lưu (flight strip) của các phi cơ bay vào vùng cũng như bay ra khỏi vùng không phận trách nhiệm.
+ Ban không cảnh (Plotter& Scope reading) quan sát các dấu vết phi cơ trong vùng trên máy radar scope (UPA-35).
+ Ban không Kiểm (Tactical Air Control) xử dụng hệ thống và tuyến viễn liên trên tần số VHF và UHF để liên lạc, hướng dẫn những phi vụ yểm trợ chiến trường bằng máy Radar và giữ liên lạc chặt chẽ với Trung Tâm HQ không Trợ (DASC).
+ Ban Kiểm soát không Hành (Air Radar Control) theo dõi tất cả các phi cơ quân và dân sự bay trong vùng kiểm soát.
+ Ban phòng không Nghênh Cản có nhiệm vụ hướng dẫn phi cơ nghênh cản (F5E) cất cánh nhận dạng (ID) những phi cơ lạ (unknown tracks) và áp dụng mọi biện pháp cần thiết đối với những phi cơ lạ theo tiêu lệnh căn bản về phòng không và chỉ thị của Bộ Chỉ Huy phòng không qua trung gian các Trung Tâm phòng không vùng.
+ Ban Huấn Luyện và Duy Trì khả năng : Theo dõi khả năng chuyên môn của các chuyên viên trong mọi vị trí và trách vụ trong phòng Tối và huấn luyện các chuyên viên HQ và KT theo tiêu chuẩn và kế hoạch của LĐKB.

– phòng Kỹ Thuật gồm Ban Bảo trì Radar và Ban Tiếp Liệu.
Ban Bảo Trì Radar có nhiệm vụ bảo toàn hiệu năng tối đa của các máy điện tử như máy dò phương hướng (Direction finder), máy đo cao độ (Height Finder), các Radar scope và hệ thống truyền tin viễn liên VHF, UHF, Hot Line, Tacan, Beacon v.v…
Ban Tiếp Liệu phụ trách việc liên lạc với phòng Kỹ Thuật LĐKB và Bộ Chỉ Huy KTTV KQ xin bổ xung, dự trữ các bộ phận thay thế cho các máy radar điện tử. Ngoài ra còn một tiểu ban Tiếp liệu tổng quát liên lạc với các Căn cứ hay Sư Đoàn KQ để lo về quân trang, vũ khí, quân xa, xăng nhớt cho Trung Tâm hay Đài Kiểm báo.

ĐÀI HƯỚNG DẪN (BOBS)

các Đài Hướng Dẫn BOBS được thành lập từ đầu thập niên 70 do nhu cầu yểm trợ hành quân của KQ trong giai đoạn chót của cuộc chiến. Về tổ chức, các Đài nầy đều trực thuộc Trung-Tâm hay Đài KB liên hệ nhưng cò cơ sở điều hành riêng biệt. Có 3 Đài hướng dẫn:
– Đài Hướng dẫn Biên Hòa, đồn trú trong căn cứ của SĐ3KQ ở Biên Hòa, trực thuộc TT1KB Tân Sơn Nhất.
– Đài Hướng dẫn PleiKu ở ngoài căn cứ SĐ6KQ ở PleiKu, trực thuộc Đài21KB.
– Đài Hướng dẫn Đà Nẵng, ở kế cận và trực thuộc TT2KB trên đỉnh núi Sơn Chà Đà nẵng.

4. Hoạt Động hành quân và thành Tích công tác:

Là một đơn vị Yểm Trợ hành quân góp mặt khắp 4 vùng Chiến Thuật, Liên Đoàn Kiểm báo với các Trung Tâm và Đài Kiểm báo, đã làm tròn trách vụ được không quân giao phó : kiểm soát không phận 24/24, yểm trợ không hành 24/24 cho các phi cơ quân sự cũng như dân sự, ngoài ra còn phối hợp chặt chẽ với Bộ Chỉ Huy hành quân KQ và các Trung Tâm hành quân không Trợ, theo rõi, yểm trợ, hướng dẫn những phi vụ chiến thuật trên khắp các chiến trường trong nhiệm vụ bảo vệ Miền Nam Tự Do.
TrungTâm Kiểm báo 41 Đà nẵng năm 1965 dưới sự chỉ huy của Đại úy Đặng Văn Tiếp đã hướng dẫn những phi vụ Bắc phạt của không Lực Việt Nam mở đầu là phi vụ ngày 5 tháng 2- 1965 do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ Tư Lệnh KQ hướng dẫn 8 phi tuần khu trục A1H oanh tạc Vĩnh Linh phía Bắc vỹ tuyến 17. Các mục tiêu địch bị tiêu hủy, tất cả phi cơ trở về căn cứ vô sự.
Trong phi vụ ngày 28- 2- 65, TTKB 41 đã hướng dẫn chiếc A1H do Trung Tá Dương Thiệu Hùng Tư Lệnh KĐ 41 lái bị trúng đạn phòng không của địch tại Đồng Hới bay về tới vịnh Đà Nẵng nhảy dù xuống biển an toàn và được trực thăng cứu cấp đưa về Tổng Y Viện Duy Tân.
Trong phi vụ ngày 19- 4- 65, hướng dẫn phi vụ oanh tạc căn cứ tiếp liệu của cộng sản Bắc Việt tại Hà Tĩnh do Trung Tá Tư Lệnh KĐ 23 CT Phạm Phú Quốc chỉ huy đã đạt được kết quả như dự trù nhưng phi cơ Tr/Tá Quốc lái bị trúng đạn phòng không của địch đã đâm xuống gần mục tiêu. TTKB 41 đã phối hợp chặt chẽ với TACC/North Sector của USAF, US Navy 7th Fleet, ASOC 1, hướng dẫn các phi cơ rescue cố cứu Tr/Tá Quốc nhưng vì thời tiết xấu (giông báo) nên phải bỏ cuộc. Trung Tá Phạm Phú Quốc được ghi nhận là mất tích.
Đài Hướng Dẫn (BOBS) Pleiku thuộc Đài Kiểm báo 921 trong chiến dịch Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, đã hướng dẫn nhiều phi tuần A37 thuộc Căn Cứ 60 CT Phù Cát (SĐ 6KQ) và Căn cứ 20 CT Phan Rang (SĐ 2KQ) đánh tập thể và chính xác vào vị trí của một trung Đoàn quân CSBV làm chúng thiệt hại nặng, la hoảng trên Đài phát thanh Hà Nội là Mỹ đã cho B52 oanh tạc trở lại. 
Đài BOBS Pleiku cũng hướng dẫn phi cơ A37 đánh sập cầu Duyên Bình trên Quốc lộ 14 ngăn chặn xe tăng T54 của CSBV từ Campuchia tiến sang uy hiếp quân Đoàn II, đã được Tư Lệnh vùng 2 CT (Tr/Tướng N.V. Toàn) tặng thưởng 200 ngàn đồng.
Trung Tâm Kiểm Báo 41 trong trận hải chiến ngoài quần đảo Hoàng Sa tháng 4 năm 1974 giữa Hải quân VNCH do Hải quân Đại Tá Hồ Văn Ngạc chỉ huy và Hải quân Trung Cộng, đã hướng dẫn phi cơ F5E của KQVN nghênh cản phi cơ MIG 21 của cộng sản Tầu định tấn công các chiến hạm của ta trên đường rút về Đà nẵng.
Đài BOBS Sơn Chà thuộc TTKB 41 đầu năm 1975 đã hướng dẫn 9 chiếc C130 của SĐ 5KQ đánh một trận hỏa công thật đẹp ở Thu Bồn, tiêu diệt một Trung Đoàn Việt Cộng đang âm mưu xâm nhập thị xã Đà nẵng.
Đài Kiểm báo 621 Ban Mê Thuột là đơn vị Kiểm báo đầu tiên được tuyên dương công trạng trước quân-Đoàn II. Trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 của Cộng sản Bắc Việt và mặt trận GPMN, Đài Kiểm báo 621 dưới sự chỉ huy của Đại úy Trần-Đình-Giao đã tử thủ chống trả mãnh liệt nhiều đợt tấn công của quân VC, bảo vệ được cơ sở không bị địch xâm chiếm. Đại úy Giao đã được Trung Tướng Tư Lệnh quân-Đoàn II (Tr/Tg Vĩnh Lộc) thăng cấp Thiếu Tá tại mặt trận và ân thưởng Anh Dũng Bội-Tinh với ngôi sao vàng.
Đài 12 Kiểm báo Ban Mê Thuột, một lần nữa đã chứng tỏ tinh thần chiến đấu anh dũng quyết Tâm bảo vệ cơ sở. ngày 10 tháng 3 năm 1975, dưới sự chỉ huy của Thiếu Tá Hoàng Bá Mỹ, 310 anh em SQ, HSQ, BS thuộc Đài 12 Kiểm báo cùng với thành phần phòng thủ biệt phái, đã chiến đấu chống trả mãnh liệt trước sức tấn công của Trung Đoàn 25 VC và Tiểu Đoàn Đặc công 401 với chiến xa T54 hỗ trợ, cho đến khi bắn hết viên đạn cuối công và bị quân địch tràn ngập. 

– CHT Đài là Thiếu Tá Hoàng-Bá-Mỹ bị thương và bị địch bắt.
– CHP Đài là Thiếu Tá Nguyễn-Văn-Phước cũng bị địch bắt.

các Anh hùng Kiểm báo đã anh dũng đền nợ nước trong trận nầy gồm:
– Đại úy Trần Văn Điệp, SQ Phụ tá phòng hành quân
– Thiếu úy Nguyễn Thế Minh, Trưởng ban Truyền Tin
– Thiếu úy Trần Hữu Thanh, SQ Chiến Tranh Chính Trị.

các Hạ sĩ quan: Thượng Sĩ Phạm Văn Hoa, Th/Sĩ Nguyễn Văn Phước, Th/Sĩ Nguyễn Văn Mẹo, Trung Sĩ I Hoàng Trung Chánh, Tr/Sĩ Nguyễn Văn Mẹo, Th/Sĩ Đào Huy Bích (HQ), Th/Sĩ Đỗ Dự, Th/Sĩ Hàn Bố Quang (TL), Th/Sĩ Trần Văn Khương (BT Radar), Th/Sĩ Trần Quang Tri (Ban VT), Th/Sĩ Y-Braham, Th/Sĩ Y-Wong (phòng vệ) và một số binh sĩ.
Tổ Quốc ghi ơn các anh !

Chú thích: 
Tài liệu nầy được soạn thảo và trình bày do sự đóng góp của cựu Đại Tá Phạm-Duy-Thân (CHT/LĐKB), cựu Trung Tá Nguyễn-Cầu (CHT/TT2KB Đà Nẵng) và cựu Trung Tá Trần-Đình-Giao (cựu CHT/ĐKB Ban Mê Thuột 1965- 1969)
Hoàn tất ngày 5- 5- 2003

HQPD chân thành cám ơn quý Niên Trưởng và xin mạn phép đăng lại bài viết nầy từ http://khongquan-ucchau.cjb.net/, cũng xin gởi đến CB Sĩ Quan Kiểm Báo thuộc khóa 72E đã may mắn thóat chết trong trận đánh Ban Mê Thuộc 1975 nầy với tất cả sự ngưỡng mộ.

Nguyễn-Anh




Bài Thơ Cuối Cùng

Huyền Chi – Thanh Thanh




KHI TÔI CHẾT – THANH THANH Dịch Thơ Tràm Cà Mau: WHEN I HAVE DIED

TRÀM CÀ MAU & THANH-THANH




Khóc Cha

Thơ Vũ Uyên Giang

Thanh Thanh chuyển dịch

KHÓC CHA                              

Trời mùa đông tâm hồn con giá lạnh             

Con về đây nhưng cha đã đi rồi!                   

Không bao giờ còn thấy mặt cha tôi              

Bao giọt lệ trào dâng trong khóe mắt            

Lòng nghẹn ngào nhói đau như dao cắt         

Chỉ vài ngày con đã mất cha yêu.                  

ngày xưa, cha nghiêm khắc rất nhiều            

Vì mong muốn con nên người hữu dụng       

Công ơn cha như trời cao bể rộng         

Như suối nguồn tuôn chảy mãi không ngừng          

Nhớ nụ cười và khuôn mặt bao dung            

Ôi tiếng nói ôn tồn khi giáo dục                    

Nhớ cả những ngọn roi vì lười học       

Bởi ham vui với bè bạn gần nhà…        

Biết làm sao kể lại hết tình cha?                    

Giọt nước mắt lăn dài trên gò má                  

Ngày hôm nay con không còn cha nữa         

Tìm đâu ra hình bóng của cha tôi???             

                             VŨ UYÊN GIANG    

HOT TEARS FOR DAD

The world is in winter but colder is my inner heart;

Here I do return but from this life Dad did depart.

From now on I cannot see any longer my father’s shine;

How to stop from my eyes the stream of fervid brine!

My inside shoots as if cut by knives, the stings gather;

Only in a few days I have lost my beloved father!

I reminisce the old days you were so formidable

Just because you wanted me to become serviceable.

Your immense merit was like high sky, vast ocean,

Your watercourse of love never ceased its motion.  

How I recall your merciful smile and generous face,

Temperate voice when educating me in each case.

I even remember the rod to your good will to bend

For being work-shy festal with a neighboring friend…

Of your bosom I can’t find any word that fully speaks;

Drops of choler are rolling down on my hollow cheeks.

From now on I do not have any more my dear Dad;

Where on earth can I find my father’s image  So sad!

                                Translation by THANH-THANH

Thanh-Thanh

Cơn Ác-Mộng

Với Thượng-Đế

Bảy Mươi Năm Làm Thơ

Vietnamese Choice Poems




KHÔNG-TẶC TIÊU KHÁNH NHA

Ngày 15-7-1981, tù “Ngụy” Lê Xuân Nhuận (người làm thơ, với bút-danh Thanh-Thanh) được đưa từ Đà-Nẵng ra Hà-Nội, bằng phi-cơ. Thấy các biện-pháp an-ninh nên liên-tưởng đến các vụ “không-tặc” trước và sau 1975, Thanh-Thanh đã làm bài thơ “Hà-Nội” trong đó có đề-cập đến một phi-công Việt-Cộng tên Tiêu Khánh Nha, mà tin-tức nghe lén trong các trại “cải tạo” cho là đã cướp phi-cơ bay thoát khỏi Việt-Nam.

Nay được đọc bài “Cướp máy bay quân sự C130 để vượt biên”của Hòa Ái, thuộc Đài RFA (dưới đây) mới biết thêm nhiều chi-tiết liên-quan.

Đây là bài thơ “Hà-Nội” của Thanh-Thanh, in trong tập “Cơn Ác-Mộng” do nhà “Xây-Dựng” xuất-bản năm 1998:

                HÀ-NỘI

Tôi vốn mơ đi khắp nẻo đường

Thăm từng thắng-tích của quê-hương;

Nhưng, từ giới-tuyến1 qua rào trại2,

Tôi khó mong ngày tới Bắc-phương.

1 Vĩ-tuyến 17 (1954-75) phân chia hai Miền Bắc/Nam.

2 Các trại tập-trung “cải-tạo”.

Ấy thế mà tôi bỗng được đi

Ra ngay Hà-Nội – đất “Kinh-Kỳ”

Thoả niềm ao-ước từ thơ-bé,

Tận mắt trông nhìn những biến-di.

Này, chiếc phi-cơ hai quạt quay:

Nhanh năm trăm, và cao năm cây;

Ghế ngồi gọn hẹp kê liền sát;

Người Việt, người Âu, khách đủ đầy.

Chiêu-đãi hai cô nữ-tiếp-viên:

Tóc trần, ống nhựa quấn hai bên,

Vét-can màu trắng, cầu-vai ngược;

Kiến-thức nông+non, sượng dáng-duyên.

Một lát dưa leo, hai miếng ram;

Chả heo nửa lát, lát mì lam;

Chuối chưa chín tới; đường chê bánh;

Trà nhạt… mà ai cũng thoả đàm!

Những vụ An, Trung, Nha, Sơn, Bình3

Bận lòng “chiêu-đãi” lẫn “an-ninh”.

Tôi cười trong bụng:  ngày xưa ấy,

Những Viết và Tân4 đã quấy mình!

 3 Sau Tháng Tư Đen 1975:

      *Vũ Hoàng An, nguyên đại-uý QLVNCH, cướp phi-cơ Việt-Cộng tại Đà-Nẵng, bất-thành, bị xử tử.

      *Có tin đồn Nguyễn Thành Trung (cựu trung-uý phi-công VNCH, đem phi-cơ theo VC trước 30-04-75) đã cướp phi-cơ thoát khỏi Việt-Nam.

      *Tiêu Khánh Nha, thiếu-tá phi-công VC, gốc Hoa, cướp phi-cơ bay thoát VC nên khỏi bị chúng thanh-trừng sau vụ Hoa-Cộng tấn-công 1979.

      *Sơn và Bình là hai trung-uý phi-công VC, thuộc một tổ-chức “bạo-loạn”, cướp trực-thăng bay qua Hoa-Cộng.

 4 Trước 1975:

      *Nguyễn Cửu Viết toan cướp phi-cơ Air Vietnam, đã nổ một chiếc Dakota tại phi-trường Phú-Bài, Huế.

      *Lê Đức Tân toan cướp phi-cơ Air Vietnam, đã nổ một chiếc Boeing gần phi-trường Bửu-Sơn, Ninh-Thuận.

      Cả hai chỉ là phần-tử bất-mãn, không phải VC (cf hồi-ký “Về Vùng Chiến-Tuyến” của Lê Xuân Nhuận).

Hà-Nội đây rồi: dưới nắng trưa,

Sông Hồng đỏ đục nước nguồn mưa;

Quanh nhà đất thấp, vườn ngâm nước;

Tường+mái rêu phong nét cổ xưa.

Mấy chiếc hai hay ba quạt quay

Cong đuôi nằm nghỉ cuối sân bay,

Làm như nhớ thuở chồm lưng địch

Bắt bê-năm-hai hạ xuống đây!5

VC tuyên-truyền:  chúng bay cao hơn B-52, nhảy xuống trên lưng B-52, dùng dao-găm nạy cửa-sổ chui vào, chĩa súng-lục bắt phi-công Mỹ đáp xuống sân bay Gia-Lâm; thế là chúng đã nhiều lần “bắt sống” được cả “giặc lái” lẫn B-52 (!) 

Đáp xuống Gia-Lâm, thấy bán-khai:

Tiếng Anh hai bảng cả hai sai6;

Nhà-ga cũ-kỹ từ Tây-thuộc;

Vắng xưởng, im kho, lặng-lẽ đài.

6 Xem Chương “Sân Bay Gia-Lâm” trong cuốn hồi-ký “Cảnh-Sát-Hoá, Quốc-Sách Yểu-Tử của Việt-Nam Cộng-Hoà” của Lê Xuân Nhuận.

Chẳng tiễn-đưa đi, chẳng đón về;

Phi-công, hành-khách: dép mòn lê.
Đầu đường dăm chiếc mô-tô Nhật,

“U-Oát”, “Com-Măng”, vài ba xe.

Xế trước, bên kia, khách xúm đông:

Cộng-đồng ăn-uống cửa-hàng công.

Mấy tay Tây-Cộng dùng bia lạnh:

Trộn đá trong thau, múc uống chung.

Vào phố, này đây cầu Long-Biên;

Giữa: đường xe-lửa; xe: hai bên.

Qua cầu: xe chạy đường bên trái;

Mỗi nhịp cầu rung: răng lão-niên!

Xe đẹp Miền Nam: của “ngoại-giao”!

“Công-trường”, “vận-tải”: của cần-lao!

Xích-lô, xe đạp; xe bò; ngựa;

Gánh, vác, khiêng, mang, kéo, đẩy nhau.

Không “vét”; không giày; không áo hoa,

Dây chuyền, vòng, nhẫn, nơ, trâm, thoa!

Mọi người tất-tả lo làm-lụng;

Sự sống… gian-nan… hiển-hiện ra.

Chẳng khải-hoàn-môn, kỷ-niêm-đài,

Cờ, hoa, tranh, ảnh, tượng, toà, ngai,

Bích-chương, biểu-ngữ, loa, chiêng, trống

(Tội-nghiệp “Đàng Trong” tưởng “Miệt Ngoài”…)!

Vách, mái lâu năm… nứt, dột rồi!

Tróc sơn bảng hiệu, ố màu vôi!

Có nhà xiêu, vẹo: người còn ở

(Nhiều mái: tranh, rơm, mo, lá thôi)!

Hoa chẳng bồn chăm; nhãn chẳng lồng;

Nước vòi đỏ đục tự nguồn sông;

Cá: nguyên vi, vảy, kho không mỡ;

Rau muống quê chàng, có phải không?

Nóng bức, môi khô, mắt đổ quàng;

Inh tai, nhức óc tiếng đài vang;

Bỗng như điện chạm, da-gà nổi:

Có tiếng buồng bên hát “nhạc vàng”!

Có cái gì như ứ nghẹn hơi;

Mây vây, khí uất tự lưng trời…

Người ta chờ đợi cơn giông tới…

Hà-Nội trân mình – Hà-Nội ơi!

Tôi ngó trừng-trừng miếng bánh khô:

Kiến Nam lơ lảng, Bắc chui vô!

– Hôm nay có một tên tù “Ngụy”

Tới “thủ-đô” mà… tiếc “thủ-đô”!

        Trại Thanh-Liệt (Hà-Nội) 15-7-1981

                           THANH-THANH

================================

Cướp máy bay quân sự C130 để vượt biên – Hòa Ái, RFA

Vào ngày 24/11/1979, một cuộc không tặc máy bay quân sự C130 vô tiền khoán hậu tại sân bay Tân Sơn Nhất của một nhóm 13 người trốn chạy khỏi VN gây chấn động thế giới. Họ là ai? Cuộc vượt biên bằng máy bay này ra sao? Ông Trương Văn Ẩm, người lên kế hoạch cuộc không tặc kể lại câu chuyện sau 36 năm:

“Không có động cơ nào hết bởi vì năm 1975 tôi đã sắp xếp đầy đủ, sẵn sàng chỗ máy bay cho ông già bà già, cho vợ con đi mà cuối cùng bà già với anh em cương quyết không đi. Tôi không đi được thì tôi nghĩ không bao giờ đi nữa”.

Ông Trương Văn Ẩm, một nhân viên trong ngành kỹ thuật hàng không làm việc tại sân bay Tân Sơn Nhất, được giữ lại trong Cục Kỹ thuật Không quân sau năm 1975 bắt đầu câu chuyện kể của mình qua câu hỏi của Hòa Ái rằng động cơ nào khiến ông đi đến quyết định trở thành một tên không tặc đối với chính phủ VN lúc bấy giờ.

Tuy cuộc sống của ông và gia đình không còn được sung túc như thời VNCH nhưng vẫn tốt sau khi Sài Gòn đổi tên thành TP. HCM. Ông Ẩm không hề manh nha nghĩ đến một cuộc ra đi nào sau khi cả gia đình quyết định ở lại VN. Thế nhưng, một chuyến công tác ra Hà Nội đầu tiên và cũng là cuối cùng đã tác động ít nhiều đến cuộc không tặc định mệnh trong cuộc đời ông:

“Đùng một cái vào ngày mùng 2 tháng 9, lễ Quốc khánh năm 1979, tối đang ở nhà coi ti vi với bà con lối xóm thì ông thủ trưởng lái xe jeep ra, đi với mấy người lính, nói với tôi rằng anh có lệnh phải đi công tác Hà Nội. Từ hồi mất nước khi tôi ở lại dù có yêu cầu đi Hà Nội mấy lần nhưng tôi không muốn đi. Không biết tại sao động lực nào xui khiến lần này tôi đi liền. Nhiệm vụ của tôi, thứ nhất là tôi phải coi một chiếc máy bay C30 bị hư lâu rồi mà không sửa được. Nhiệm vụ thứ hai là tôi phải vào Cục Kỹ thuật Không quân, thuộc Bộ Tư lệnh Không quân để thuyết trình những hoạt động máy bay của Mỹ trong này cho mấy ông lớn ngoài đó nghe. Tôi ra Hà Nội, tôi coi thì chiếc máy bay không bị hư hỏng nặng, chỉ bị hư nhẹ thôi nhưng vì mấy người không có kinh nghiệm. Tôi lên coi máy, tôi hỏi rồi tôi chỉ anh em làm có nửa tiếng đồng hồ xong”.

Nhiệm vụ thứ nhất đã hoàn thành nhanh chóng và đến giờ vào Cục Kỹ thuật để thuyết trình. Thế nhưng bức tranh về xã hội miền Bắc dưới chế độ Cộng sản lần lần được hiện ra rõ nét trong tâm tưởng ông Trương Văn Ẩm. Bắt đầu từ giây phút ông bị anh lính gác cổng không cho vào thuyết trình vì cách ăn mặc miền Nam không đúng theo tiêu chuẩn quy định cho đến Thượng úy trực ban cũng không thể can thiệp cho vào để ông làm tròn nhiệm vụ thứ 2 được giao. Vì nguyên nhân này mà ông Ẩm có thời gian tham quan Hà Nội, được tận mắt thấy cảnh đời sống thường nhật của người dân Hà thành, kể cả những trí thức trở về từ các nước Đông Âu.

Do thời tiết bị bão, không có máy bay về lại miền Nam, ông Trương Văn Ẩm quyết định về thăm cố hương Thái Bình, nơi ông di cư từ hồi 8, 9 tuổi. Họ hàng gần xa đều đến đông đủ tay bắt mặt mừng. Trong thời gian 3 ngày thăm viếng, lời khuyên ngắn gọn của người cậu ruột ám ảnh ông Trương Văn Ẩm:

“Cậu tôi nói là tôi phải đi, không được ở lại. ‘Bởi vì mày ở lại mai mốt cũng về cuốc đất. Nó chỉ sử dụng mày một thời gian thôi đến khi nào nó biết hết’”.

Rồi buổi gặp mặt tình cờ với phi công Tiêu Khánh Nha đã khiến ông Trương Văn Ẩm đi đến quyết định cho một chuyến vượt biên bằng máy bay quân sự sau khi nghe chia sẻ của Thượng úy “chế độ mới” này:

“Ông nói cái vụ chiến tranh biên giới năm 1978, tôi mang họ Tiêu, nó nói tôi gốc Tàu mà tôi có biết ông cố nội tôi có phải Tàu không. Nhưng bây giờ nó muốn hất tôi ra khỏi sân bay, không cho tôi được phép đi tới gần máy bay, chờ nó cho về vườn thôi”.

Kế hoạch cho một cuộc vượt thoát bằng cách cướp chiếc máy bay quân sự C130 đang được ông Ẩm phụ trách sửa chữa ở sân bay Tân Sơn Nhất được lập ra chớp nhoáng. Mọi dự trù về xăng nhớt, an ninh, phòng không đều được bàn tính chi ly chỉ vỏn vẹn trong 3 ngày.

“Nếu đi đúng giờ giấc thì mình cất cánh rồi thì F5 Biên Hòa chưa cất cánh. Lý do khi nghe báo động dưới này thì phải gọi lên phòng tác chiến trên đó. Phòng tác chiến phải kiểm tra tới, kiểm tra lui. Đúng thì mới ra lệnh xuống Phòng hành quân và Phòng hành quân mới ra lệnh cho phi công ra máy bay thì mất khoảng 10 đến 15 phút. Thời gian nói chuyện với nhau cũng mất 5,10 phút rồi. Khoảng 25 đến 30 phút máy bay mới cất cánh được mà mình cất cánh 15 phút thì đã mất tiêu rồi”.

Kế hoạch bị trì hoãn, thay vì xuất phát vào giờ G ngày thứ Tư thì mãi đến giờ cơm trưa ngày thứ Bảy, nhóm người trong tổ nhân viên kỹ thuật hàng không của ông Ẩm và 1 bộ đội canh gác máy bay trên mặt đất bị khống chế bắt đầu giây phút trở thành không tặc:

“Khoảng 11 giờ bắt đầu tôi cho anh em quay máy. Khi vừa quay máy được chút xíu, khoảng 5 phút thì có 2 anh bộ đội kéo một chiếc máy bay loại C119 đi ngang ‘taxi way’(đường di chuyển nội bộ trong khu vực sân bay), dừng lại ngay giữa đường, đứng đó là mình không bay ra vô được nữa. Chiếc máy bay đó lớn lắm”.

Theo kế hoạch, vợ chồng và 2 đứa con nhỏ của phi công Tiêu Khánh Nha sẽ xé hàng rào chạy vào sau khi nghe tiếng 4 động cơ chiếc C130 được khởi động. Nếu trục trặc xảy ra thì các động cơ sẽ bị tắt. Đây là tín hiệu cho gia đình phi công này không được di chuyển tiếp cận máy bay. Do bị chiếc C119 chắn ngang, 4 động cơ bị tắt trong khi ông Ẩm đang cố gắng tìm cách giải quyết thì phi công Tiêu Khánh Nha không làm theo kế hoạch:

“Ông Nha nóng ruột, chung hàng rào chạy vô. Ông cứ hỏi, tôi nói anh cứ đi ra đi, ăn cơm xong rồi liên lạc sau. Anh đi ra khỏi đây đi. An ninh, Bảo vệ mà thấy anh với tôi nói chuyện là phiền phức”.

Sau đó không lâu, mọi việc suôn sẻ:

“Tôi sắp xếp xong đàng hoàng thì quay máy khoảng 5 phút sau, nhìn ra phía hàng rào vẫn không thấy gia đình ông Nha đâu hết”.

Trong giây phút căng thẳng không thấy gia đình phi công Tiêu Khánh Nha xuất hiện thì 1 bộ đội chạy đến khiến mọi người chết đứng. Hóa ra là người trong gia đình phi công Nha “ăn theo”, mặc đồ lính, xé rào chạy về hướng máy bay. Cuối cùng 13 người có mặt trong phi hành đoàn bất đắc dĩ và chiếc C130 bắt đầu lăn bánh sau 2 giờ chiều ngày 24/11/1979.

“Vừa lái thẳng chiếc máy bay tới ngang Ga Hàng không Việt Nam, chỗ Đài kiểm soát là tống ga cất cánh lên liền quẹo về hướng Cát Lái. Lúc đầu định đi qua Biên Hòa rồi đi thẳng ra Vũng Tàu nhưng phút chót lại đổi ý. Khi cất cánh lên được rồi thì bay về hướng Thủ Thiêm. Bay khoảng 10 phút là chúng tôi thấy biển đến Vũng Tàu là bắt đầu lên cao. Anh em mừng ôm nhau khóc. Chúng tôi khóc trong máy bay vậy đó”.

Dường như kế hoạch được trót lọt, không gặp trở ngại nào từ lực lượng phòng không VN. Thế nhưng, thời tiết buổi chiều ngày thứ Bảy định mệnh là một thách thức cho nhóm không tặc bao gồm 2 trẻ em:

“La bàn thì không có, bị hư. Bản đồ không có. Chúng tôi theo cách hồi xưa được học địa lý, ra bờ biển Vũng Tàu thì theo bờ biển đi thôi. Trời xấu quá, tối và mưa nên phải bay lên cao. Bay lên cao khoảng 5,7, 10 phút lại xuống. Xuống lần thứ 4 thì chúng tôi thấy cái mỏm của Malaysia. Qua Malaysia thì sẽ đến Singapore. Chúng tôi học địa lý, chúng tôi biết. Bay khoảng 10 phút thì lên lại. Xuống trở lại thì thấy cảng của Singapore đèn đuốc sáng. Chúng tôi nói đúng Singapore phía trước rồi”.

Cất cánh được êm xuôi. Thế hạ cánh thì thế nào:

“Chúng tôi bật liên lạc. Chúng tôi không có tần số nên liên lạc không được. Không có ai trả lời hết thành ra chúng tôi phải đáp bằng tín hiệu gọi là MCC quốc tế. Chúng tôi lắc cánh 3 lần. Bật đèn xanh chớp rồi lắc cánh 3 lần. Khi lắc cánh 3 lần thì chúng tôi nhìn thấy Đài Kiểm soát của sân bay Singapore chớp đèn đỏ. Như vậy đã nhận được tín hiệu của mình nhưng đèn đỏ là không được đáp”.

Và chiếc C130 đáp xuống sân bay Singapore một cách an toàn. Mọi người được yêu cầu chờ trên máy bay, được cung cấp thức ăn và được chở đi vệ sinh. Sau vài giờ đồng hồ, cảnh sát Singapore nói rằng sẽ cho máy bay dẫn đường bay qua Philippines. Đoàn người nhất quyết không đồng ý và khẩn thiết xin được gặp nhân viên Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Singapore.

Nhóm 13 người được giữ lại Singapore. Ngày Chủ Nhật hôm sau được làm việc với cảnh sát của đảo quốc Sư Tử. 2 ngày kế tiếp được gặp nhân viên Hoa Kỳ:

“Trong ngày khai báo thứ Hai và thứ Ba, có một ông Mỹ là Đại úy. Ông nói thẳng ông là CIA. Ông nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt Nam như người Việt Nam vậy. Ông nói chào mừng chúng tôi. Ông nói rằng ‘mấy anh đi làm náo loạn không những Tòa Bạch Ốc, Ngũ Giác Đài, mà náo loạn cả nước Mỹ và thế giới. Chúng tôi nhận các anh nhưng chúng tôi không tin tưởng bởi chúng tôi còn đặt nghi vấn có chuyện sắp xếp của Việt Cộng cho các anh đi. Thành ra tôi đang ở Đức nhưng được lệnh về gấp gặp các anh”.

Kết quả là cả 13 người được quy chế tị nạn chính trị và sẽ được định cư ở Hoa Kỳ. Trả lời câu hỏi “mọi người mong muốn điều gì sau khi nhận được kết quả này”, ông Trương Văn Ẩm ước ao được đặt chân đến Mỹ trước ngày Noel sắp đến. Điều mong ước tưởng chừng không tưởng ấy được đáp ứng. Trong khi mọi người hài lòng với món quà một bộ đồ và đôi giày ba-ta mới chuẩn bị lên đường qua Mỹ đón Noel chỉ trong vòng 1 tuần thì người bộ đội “con tin” lại xin được quay về VN. Dù mọi người khuyên can thế nào thì anh lính cụ Hồ vẫn không thay đổi quyết định:

“Nó khóc lóc nói ba em già 70 tuổi, nếu cho em về nhìn ba em một cái rồi chết cũng được”.

Như hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi tìm tự do, 12 người này đã trở thành không tặc để đi tìm sự sống trong cái chết. Nhà nước CHXHCNVN mở phiên tòa xét xử khiếm diện, tuyên án tử hình đối với Thượng úy phi công Tiêu Khánh Nha, ông Trương Văn Ẩm và những người còn lại bị tuyên từ 20 đến 35 năm tù giam.

Cuộc đời mới ở Hoa Kỳ của 12 người thoắt đó đã 36 năm với nhiều đổi thay. Sau khi đến Mỹ không lâu, 1 người trong nhóm bị bạo bệnh. Tro cốt của người này được gửi về cho gia đình qua đường bưu điện. Thế nhưng tên họ của người đã khuất mang “tội phản quốc” nên bị gửi trả ngược lại Hoa Kỳ. Trong mấy năm qua, 1 thành viên khác trong nhóm trở về VN lại được chào đón như một Việt kiều yêu nước.

Riêng người chủ mưu cuộc không tặc vô tiền khoán hậu, ông Trương Văn Ẩm vẫn kiên định tư tưởng “Tôi chỉ về khi nào không Cộng sản. Còn Cộng sản thì không bao giờ tôi về”, đồng thời vẫn luôn thăm hỏi tông tích của người bộ đội tên Tạo dù đến nay vẫn chưa có manh mối nào. Trong những phút giây bất chợt nhớ về lần vượt thoát, lẫn trong âm thanh văng vẳng tiếng động cơ và cánh quạt của chiếc C130, còn có tiếng khóc nghẹn ngào đòi trở về VN của anh Tạo. Và ông Ẩm tự hỏi “liệu rằng sau bao vật đổi sao dời, người lính trẻ có còn giữ vững lập trường của mình hay chăng?”.

Hòa Ái, phóng viên RFA

Xin đừng send, reply, forward đến địa-chỉ email này. Cám ơn.

Thanh-Thanh@Thanh-Thanh.com




Ngày chiến sĩ trận vong 2021

Giao Chỉ, San Jose.

Nhân ngày tưởng niệm chiến sĩ tại Hoa Kỳ, ghi lại câu chuyện về trận tái chiếm Cổ Thành Quảng trị tôi phải gửi tặng nhiều người. Nhà báo Trùng Dương, tài tử Kiều Chinh và đại tá Ngô văn Định, Đại úy Phan Nhật Nam. Những người còn sống. Đại tá Phạm Văn Chung và chuẩn tướng Trần quốc Lịch những người đã ra đi. Các anh Định, Chung và Lịch cùng khóa võ bị với chúng tôi. Năm 2019 đã hy vọng rằng tháng 4 năm 2020 ghi dấu 45 năm từ khi mất nước 1975 sẽ cùng về San Jose dự quốc hận tại Việt Museum. Cùng ôn lại một thời oanh liệt. Năm 1972 Đại tá Phạm văn Chung Khóa CuongQuyet Đà Lạt lữ đoạn trưởng Mũ Xanh đang giữ vững phòng tuyến trên sông Mỹ Chánh. Tướng Ngô quang Trưởng khóa Cương Quy êt Thủ Đức vừa ra nhận chức quân đoàn 1 để phản công. Ông đã đến ngay Mỹ Chánh và hỏi riêng Phạm Văn Chung.  Giữ được không, ông tương hỏi?  Thưa trung tướng tôi giữ được. Người sinh viên khóa Cương Quyết Đà Lạt bình tĩnh trả lời. Tiếp theo đại tá Trần Quốc Lịch, khóa Cương Quyết Đà Lạt chỉ huy lữ đoàn mũ đỏ vượt sông Mỹ Chánh tiến quân phía núi. Đại tá Ngô Văn Đình, Cương Quyết Đà Lạt vượt sông Mỹ Chánh tiến quân phía biển. Mục tiêu là Cổ Thành. Khi một đơn vị đầu tiên của nhảy dù đã bám được vào tương thành thị trấn thì tai họa chiến tranh đã xảy ra. Phi cơ của phe ta đã thả bom vào đội hình của cả đại đội mụ đỏ. Lính dù bị tổn thất nặng nên ông Trưởng cho lữ đoàn của Trần Quốc Lịch tạm lùi lại để lữ đoàn mũ xanh của Ngô Văn Định lên thay. Trong trận Quảng Trị khóa chúng tôi có mặt một lần 3 đại tá chỉ huy. Viet Museum dự trù xây một tượng đài với 4 trận đánh lịch sử để các bạn cùng khóa về tham dự lễ khánh thành nhưng rồi Covid chặn mất đường về. Phạm văn Chung và Trần quốc lịch đã ra đi. Tháng 3 năm 54 đám thanh niên Bắc Kỳ chúng tôi lên Đà Lạt từ Hà Nội. Đã tình cờ có mặt tại Quảng Trị năm 1972. Cầm quân tham dự trận lịch sử. Nhưng đành lỗi hẹn năm cuối cùng tại San Jose. Xin các bạn đọc câu chuyện dài về cổ th ành Quảng Trị để nhớ về những người không còn nữa. Nhân ngày chiến sĩ trận vong tại Hoa Kỳ.

Ngày chiến sĩ trận vong 2021

Cách đây hơn 150 năm, giữa khi cuộc nội chiến Hoa Kỳ đang diễn ra, tổng thống Lincoln trong bài diễn văn tại Gettyburg đã nói những tư tưởng đi trước thời đại. Ông nói đại ý rằng những người lính bên này hay bên kia đều là những người yêu nước. Mới đây, tôi có dịp xem trên mạng hình ảnh buổi họp mặt của các gia đình tử sĩ miền Bắc VN hy sinh trong trận Quảng Trị năm 1972. Diễn giả cho chương trình tưởng niệm là đại tá Nguyễn Quý Hải, thời gian đánh Quảng Trị ông là sĩ quan chỉ huy pháo đội Bông Lau. Một diễn giả khác là bác sĩ Lê văn An của Bắc Quân. Ông là bác sĩ duy nhất đã có mặt trong Thành Cổ Quảng Trị và là một trong 11 chiến binh còn sống. Vị bác sĩ này đã tả lại những giây phút đau thương oan nghiệt cuối cùng trong vòng vây thị xã. Câu chuyện nhắc đến các chiến binh còn sống dưới hầm sâu của tòa tỉnh trưởng bị bom đánh xập nhưng không có phương tiện để cấp cứu. Hôm nay, giữa không khí vui tươi trong dịp lễ cuối tuần Hoa Kỳ, dù tưởng niệm chiến sĩ trận vong nhưng với dân Mỹ vẫn là ngày Lễ Hội, tôi xin mở lại câu chuyện cũ về cuộc chiến Quảng Trị. Nửa thế kỷ trước, chúng tôi có dịp ra thăm Quảng Trị sau khi Miền Nam lấy lại được Cổ Thành. Sau 81 ngày ác mộng đã trôi qua. Hàng ngàn chiến binh 2 bên đã chết trong một thị xã bé nhỏ ở miền hỏa tuyến. Hà Nội gọi là Thành Cổ. Sài Gòn gọi là Cổ Thành. Khi miền Bắc có lệnh rút quân, chỉ có 11 chiến binh còn sống để trở về. Chúng tôi có dịp gặp một vài chiến binh cộng sản bị bắt tù binh. Trong số này có em nhỏ vượt qua bờ Nam sông Thạch Hãn nhưng không lọt vào trong Thành Cổ. Em thuộc toán quân bơi lạc vào đơn vị TQLC. Ông bạn tôi, đại tá Cao Tiêu của tổng cục chiến tranh chính trị buồn bã nhìn thằng bé quân đội thù nghịch mà hỏi rằng. Con quê ở đâu. Bao nhiêu tuổi. Thưa ông con quê Thái Bình, 16 tuổi. Sao 16 tuổi đã phải đi bộ đội. Con đi thay cho anh con. Anh con bị què chân. Nhưng nhà nào cũng phải đi. Ông Tiêu thở dài mà nói rằng. Để ông sẽ thu xếp cho con. Quê ông cũng ở Thái Bình. Chúng tôi không bao giờ quên được câu chuyện thẩm vấn tù binh ngày hôm đó. Vì vậy, nhân ngày Chiến Sĩ Trận Vong với không khí lễ hội tưng bừng tại Hoa Kỳ, xin kể lại những chuyện không vui của hai miền Nam Bắc trong chiến tranh. Chuyện từ Đại Lộ kinh Hoàng cho đến 81 ngày trận chiến Quảng Trị. Như vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ đã nói. Trong chiến tranh, những chiến binh của hai bên đã hy sinh đều là những người yêu nước. Từ Hà Nội, anh Ba Lê Duẩn ra lệnh phải giữ Thành Cổ bằng mọi giá. Từ Sài Gòn, Tổng Thống Ng Văn Thiệu ra lệnh phải lấy lại Cổ Thành bằng mọi giá. Quảng Trị là con bài trong canh bạc chính trị tại Paris. Chiến binh hai miền Nam Bắc chết trong thị xã Quảng Trị ai là phe thắng ai là phe bại. Xin bằng hữu cùng tôi đọc lại các tác phẩm viết về Đại Lộ Kinh Hoàng và Mùa hè đỏ lửa của miền Nam. Xin đọc qua Mùa hè Cháy, Mãi mãi tuổi 20 và Một thời hoa lửa của miền Bắc. Những mẩu chuyện như sau:

(1)Ngày Chiến sĩ Trận Vong                                                     

 Người Mỹ tưởng niệm những quân nhân đã hy sinh vì đất nước trong ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong. Ngày quốc lễ này năm nay là Thứ hai 31 tháng 5-2021.  Dù còn giới hạn vì Covid nhưng trên khắp nước tổ chức tưởng niệm các tử sĩ với những cuộc diễn hành, các buổi hoà nhạc nói lên tinh thần yêu nước. Có các cộng đồng khác sẽ đánh dấu ngày này bằng những giây phút suy ngẫm trong tĩnh lặng về những người đã ngã xuống trong khi đang phục vụ trong quân đội. Ngày lễ này từng được gọi là Ngày Vinh Danh được tổ chức tại nghĩa trang Arlington vào năm 1868. Ba năm sau cuộc nội chiến đẫm máu ở Hoa Kỳ gây thiệt mạng cho trên 600.000 người. Nhiều trường học được nghỉ lễ vào 3 ngày cuối tuần này và được xem như ngày khởi đầu không chính thức của mùa nghỉ hè. Nhiều gia đình tổ chức các buổi ăn ngoài trời hay đi đến vùng biển, công viên hoặc cắm trại. Nhân dịp đặc biệt này, năm trước chúng tôi đã phổ biến loạt bài về tổn thất trong chiến tranh. Năm nay xin gửi đến tài liệu ghi nhận được về trận Quảng Trị năm 72 để quý vị đọc trong những ngày nghỉ lễ.

(2) Năm 72 Ở Quảng Trị .

Ghi Chú: Một phần bài này viết năm 1990 phổ biến khắp nơi. Bỗng có một cựu pháo thủ Bắc quân thuộc đoàn pháo Bông Lau gửi email cho tôi báo tin rằng không phải pháo Bông Lau của cộng sản bắn trên Đại Lộ Kinh Hoàng. Tôi hỏi lại, nếu Bông Lau không bắn thì pháo nào. Không thấy trả lời. Sách của Dương Phục và Thanh Thủy phát hành có đoạn tả về Đại Lộ Kinh Hoàng.

Thời kỳ trước 1975, khi tôi có dịp phụ trách về binh thư tại bộ Tổng Tham Mưu, thường qua bên Phòng Nhì hoặc Trung ương tình báo tìm đọc các sách báo của miền Bắc. Đọc và ghi chép lại, thêm 1 chút nhận xét, nhưng không phê phán. Đôi khi phải tóm lược lại để trình lên hay phổ biến nội bộ nhưng tuyệt đối không viết thêm những lời tuyên truyền hay lên án.

Ngày nay trên đướng đi tìm tài liệu cho trận Quảng Trị, chúng tôi giữ các nguyên tắc đó. Bây giờ xin quý vị cùng chúng tôi tìm hiểu về miền Bắc Việt Nam thời kỳ đầu thập niên 70.

Để chuẩn bị cho trận mùa hè 72, Hà Nội bắt lính từ năm 1970. Sau khi vét hết nông dân, qua năm 1971 tổng động viên toàn bộ nhân lực thành thị. Các học sinh và sinh viên trên 18 tuổi chuẩn bị nhập ngũ hết. Cũng trong thời gian này, Nga và Tàu hoàn toàn đồng ý viện trợ cho Hà Nội đánh Mỹ. Trong lúc Hoa Kỳ rút quân, bên ta Việt Nam hóa chiến tranh thì Nga Sô viện trợ tối đa cho miền Bắc qua Trung Cộng.

(3) Sau trận mùa hè Phan nhật Nam viết cuốn “Mùa hè đỏ lửa” thì 33 năm sau Hà Nội mới cho ra đời 2 cuốn sách viết về Quảng Trị. Đại tá pháo binh quân đội nhân dân Nguyễn Quý Hải ra đời cuốn “Mùa Hè Cháy” ghi lại con đường nhận pháo Nga Sô từ biên giới Tàu đem về Hà Nội đưa vào đến Quảng Bình, rồi qua Quảng Trị trong trận mùa hè. Với số lượng pháo đủ loại và hỏa tiễn, 5 sư đoàn Bắc quân đã được yểm trợ tối đa để tấn công miền Nam trực tiếp qua Bến Hải.

Tất cả đều ghi rõ trong tác phẩm “Mùa Hè Cháy” và chính từ tác phẩm này tôi có thể đối chiếu với tài liệu còn lưu giữ để có được những trang sử gần chính xác về phía Việt Nam Cộng Hòa. Cũng vào năm 2005 một tác phẩm khác của phe cộng sản tựa đề “Một Thời Hoa Lửa” đã ra đời, cũng nói về đề tài Quảng Trị. Bài viết này sẽ ghi lại rất nhiều chi tiết từ Hoa Lửa do các tác giả miền Bắc sáng tác.

(4) “Mãi mãi tuổi 20” Tập hồi ký được Hà Nội nhắc nhở đến nhiều nhất là: “Mãi mãi tuổi 20,” hồi ký của 1 thanh niên tên Nguyễn văn Thạc. Anh là Sinh Viên đại học Tổng hợp Hà Nội. Đi lính binh nhì truyền tin ngày 6-9-1971 và hy sinh tại chiến trường Quảng Trị ngày 30-7-1972, lúc chưa đầy 20 tuổi và chưa đủ 1 năm lính. Anh bị pháo cắt ngang đùi trái, mất máu nhiều quá nên đã chết. Chôn ngay tại mặt trận Quảng Trị. Thạc để lại cuốn nhật ký 260 trang, viết lời cuối vào ngày 27-7-1972. Ba ngày sau tử trận. Tháng 5-1973 tức là gần 1 năm sau, gia đình chưa có tin tức từ đơn vị, nhưng được đồng đội về báo tin. Sau tháng 4-1975 gia đình không có phương tiện đi tìm xác. Phải chờ đến cuối năm 1976 mới có điều kiện đi tìm. Cải táng từ quận Triệu Phong về huyện Từ Liêm, gần Hà nội vào dịp tết 1977. Tôi đã đọc 2 lần 260 trang sách nhưng không tìm được những dữ kiện về trận Quảng Trị. Hồi ký ghi lại 10 tháng trong quân ngũ của 1 thanh niên miền Bắc, nhưng mới vào trận đã bị thương rồi chết. Nội dung là lời lẽ chân thành đơn giản nhưng không có tình tiết hấp dẫn. Tác phẩm này được giới trẻ miếm Bắc tìm đọc vì đã nhắc đi nhắc lại đến tình yêu tuổi học trò với cô bạn học Như Anh. Cô này hiện nay là di dân sống tại Đức quốc. Vì tác phẩm nặng về tình yêu và thiếu quyết tâm nên đã không được phổ biến suốt 33 năm. Phải chờ đợi đến cuối thế kỷ thứ 20, nhạc vàng miền Nam chinh phục hoàn toàn nền văn hóa vô sản thì hồi ký tình yêu của Nguyễn văn Thạc mới được phổ biến và quảng bá mạnh mẽ.

(5) “Một Thời Hoa Lửa” Đây là tên 1 tác phẩm, đồng thời cũng là tên 1 chương trình do đài truyền hình Việt Nam tại Hà Nội và công ty viễn thông quân đội nhân dân phối hợp tổ chức vào ngày 31 tháng 10 năm 2005. Ban tổ chức mời tất cả bộ đội đã tham dự trận Quảng Trị trên 1.000 người về lại Thành Cổ để dự 1 chương trình văn nghệ. Cùng 1 lúc họ tập hợp lối 5.000 sinh viên Hà Nội tại sân trường đại học Khoa học, Xã hội, Nhân văn cùng tham dự. Báo Nhân dân đã ghi lại là vào ngày 6 tháng 9 năm 1971 tại 30 sân trường đại học và cao đẳng, tổng cộng 10.000 sinh viên lên đường nhập ngũ

Như vậy là 50 năm trước đảng cộng sản đã động viên hầu hết các sinh viên miền Bắc để tấn công miền Nam. Có nhiều trường đại học sau đó đóng cửa, các giáo sư cũng đi lính với học trò. Hầu hết có được 4 tháng huấn luyện và đầu năm 1972 tất cả lên đường vào Nam tham dự vào 3 mặt trận. An Lộc, Kontum, và Quảng trị. 70% bộ đội hy sinh hoặc bị thương. Trận Mậu Thân 68 Việt Cộng hy sinh toàn bộ các đơn vị thuộc Mặt trận giải phóng miền Nam và bộ đội tập kết.

Qua đến trận Mùa hè 72 đảng cộng sản Việt Nam hy sinh khối nhân lực trí thức tương lai của miền Bắc. Người có quyết định sắt máu đó là Lê Duẩn.

  Lúc 10 giờ 30 sáng ngày 30/3/72 trung đoàn pháo Bông Lau khai hỏa trận địa pháo vào căn cứ Carroll, Ái tử và Mai Lộc. Ngày 2/4/1972 căn cứ Carroll thất thủ. Sau đó Ái Tử, Mai Lộc rồi Quảng Trị đều rút quân. Một tháng sau, ngày 1 tháng 5-1972 Bắc quân chiếm đóng trên tỉnh Quảng Trị từ sông Bến Hải đến sông Mỹ Chánh. Sau khi miền Nam rút quân, xác người và di sản chiến tranh vẫn còn trên quốc lộ số 1. Báo chí Sài Gòn ghi lại con đường đã trở thành đại lộ Kinh Hoàng.

Hội nghị hòa đàm Paris bước vào năm thứ 4. Hoa kỳ đơn phương rút quân. Khối cộng sản Nga Sô và Trung Cộng đổ chiến cụ và tiếp viện tối đa vào miền Bắc.

Mở đầu cho giai đoạn thử thách Việt Nam hóa chiến tranh, quân lực Việt Nam Cộng Hòa hành quân Lam Sơn 72. Nam quân vượt sông Mỹ Chánh ngày 28 tháng 6-1972 và kết thúc việc chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị ngày 16 tháng 9-1972. Sau 81 ngày tại một chiến trường khốc liệt nhất trong chiến tranh Việt Nam. Báo chí miền Bắc gọi là Cuộc đụng đầu của lịch sử. Hơn 30 năm qua và cho đến ngày nay, Hà Nội luôn luôn nhắc đến chiến tích đã cầm cự được 81 ngày.

Tại viện bảo tàng lịch sử Thành Cổ hiện nay có bảng tưởng niệm với 81 tờ lịch ghi dấu 81 ngày trong cuộc chiến mùa hè 72. Thêm vào đó có 11 tấm phù điêu tiểu sử 11 chiến binh đã có mặt trong Cổ Thành và còn sống đến ngày nay. Mỗi người đều ghi lại cuộc đời sinh viên, nhập ngũ, chiến đấu và trở về. Phù điêu gọi là Dương bản. Còn Âm bản là mộ bia tưởng niệm chung trên 10.000 bộ đội đã hy sinh.

Trong đêm văn nghệ Hoa Lửa 31/10/2005 họ đã dùng 81 nhạc công trong ban hòa tấu để nhắc lại ý nghĩa của 81 ngày lịch sử.

(7) Cổ Thành gian khổ. Cũng theo tài liệu của miền Bắc, tuyển tập Hoa Lửa ghi lại bút ký, bài viết và lời phát biểu của gần 100 nhân vật về trận mùa hè 72. Sách xuất bản năm 2005 ngôn ngữ Hà Nội đã có khác biệt với tài liệu tuyên truyền phổ biến trước và sau 1975. Không còn những lời miệt thị miền Nam. Họ gọi quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tổng thống Nguyễn văn Thiệu, trung tướng Ngô quang Trưởng. Đồng thời qua tài liệu với nội dung mở rộng đã có đề cập đến số tổn thất, thương vong khủng khiếp, nỗi sợ hãi, việc đào ngũ của chiến binh.

Đặc biệt có những chỗ ghi rõ tuổi tân binh có nhiều em dưới 18 tuổi. Các chú lính mới chưa được huấn luyện và cán bộ quân sự đã dạy bắn hay ném lựu đạn lúc còn ở dưới hầm trong Cổ Thành. Họ lùa tất cả đám lính mới qua sông rồi sẽ huấn luyện sau. Cuộc sống của hàng ngàn bộ đội dưới hầm là một thế giới cực kỳ gian khổ. Các hầm đều ngập nước. Không đủ nước uống. Không đủ ăn. Điều kiện vệ sinh hết sức khốn nạn. Người sống ở chung với thương binh và người chết. Trên 20% thương vong khi vượt sông Thạch Hãn. Sau đây là 1 đoạn nguyên văn của cán bộ quân sự viết lại: “Trong 81 ngày đêm đó, trung bình hàng đêm có 1 đại đội tăng cường hơn 100 người vượt sông và cũng từng đó con người đã ra đi không trở về. Máu thịt hòa vào nước sông trôi ra cửa Việt.”

Một chiến binh khác viết về những ngày sau cùng: Đêm 13/9/1972 Hồ Tú Bảo là sinh viên đại học toán, làm trinh sát cho sư đoàn 325 được lệnh qua sông vào tiếp viện. Suốt 2 ngày 13 và 14 tháng 9 không vượt được sông Thạch Hãn, Ngày 15 tháng 9-72 chuẩn bị vượt sông nhưng bến đáp cả 2 bờ Bắc Nam không còn nữa. Trong thành vẫn có súng nổ. Đến ngày 16/9/72 thì Cổ Thành Quảng Trị đã hoàn toàn im tiếng. Chỉ còn những ngọn khói bốc lên.

Đơn vị được lệnh rút về và hiện nay anh lính trinh sát sư đoàn 325 trở thành giáo sư tin học tại đại học Hà nội.

(8) Cờ bay trên Thành Cổ. Phía Việt Nam Cộng Hòa rất hiểu rõ ý nghĩa của việc tái chiếm Cổ Thành để dành thắng lợi trên bàn hội nghị. Phía Hà nội cũng ghi nhận đây là điểm quan trọng nhất. Hòa đàm Paris dự trù tái nhóm ngày 13 tháng 7-1972. Tài liệu của miền Bắc ghi lại rằng:“Tướng Ngô quang Trưởng đôn đốc nhẩy dù phải chiếm bằng được nhà thờ Tri Bưu ngày 12 và sau đó chỉ còn 500 thước đến Cổ Thành thì phải cắm cờ vào ngày 13/7/72. Kết quả quân Dù của VNCH chiếm được Tri Bưu nhưng quân ủy trung ương Hà Nội ra lệnh trung đoàn 48 và 2 tiểu đoàn địa phương, trung đoàn 95 của sư đoàn 325 phải sẵn sàng để chống vụ cắm cờ bằng mọi giá.

Một trang báo dài của đại tá Nguyễn Hải Như, tham mưu trưởng trung đoàn Thạch Hãn đã mô tả về trận quân Dù đánh xong Tri Bưu nhưng thất bại trong việc treo cờ Cổ Thành ngày 13/7/72. Sau trận đánh đẫm máu mà lính mũ đỏ hy sinh rất nhiều. Tài liệu của cộng sản cũng ghi rõ cách đánh rất dũng mãnh của cả 2 binh đoàn nhẩy dù và thủy quân lục chiến trong trận Cổ Thành. Bên Việt Nam Cộng Hòa có lợi thế thay quân. Đánh rồi ra nghỉ. Đưa thương binh tử sĩ ra khỏi trận địa. Trong khi phía miền Bắc không có điều kiện thuận tiện vì thay quân là phải qua sông và thương vong trên sông Thạch Hãn rất cao.

(9) Sau cuộc chiến. Cũng từ tài liệu của miền Bắc ghi lại, trên toàn thể Việt Nam, Quảng Trị là nơi có 2 nghĩa trang liệt sĩ lớn nhất. Nghĩa trang Trường Sơn và nghĩa trang Quảng Trị. Phần lớn chiến binh cộng sản tử trận được gom lại chôn tại Quảng Trị. Một số lớn còn thất lạc. Các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa khi qua Mỹ được hỏi về di hài lính Mỹ cũng đã tiết lộ thêm về các mộ phần của bộ đội tại miền Nam do bên ta chôn cất. Phía Hoa Kỳ có chuyển tin tức này cho Hà nội. Tuy nhiên về việc tìm kiếm mộ phần của phía Việt Nam Cộng Hòa trước 75 bao gồm thêm di hài tù tập trung “cải tạo“ hiện vẫn chưa được chính quyền Hà Nội lưu tâm. Gần 45 năm sau tháng 4-1975 dân Việt tỵ nạn đã có cả triệu lần trở về cùng với hàng tỷ mỹ kim gửi quà hàng năm, nhưng vết thương chính trị vẫn còn là gánh nặng nên chưa giải tỏa được con đường vào chốn tâm linh.

Thuần túy trên lãnh vực tâm linh, nghĩa tử nghĩa tận, chỉ có chính quyền Hà Nội mới có thẩm quyền và trách nhiệm tối thiểu đối với di hài chiến sĩ miền Nam.

Với danh nghĩa người Mỹ gốc Việt, với sự cộng tác mạnh mẽ của tòa đại sứ Mỹ tại Việt Nam, việc tìm kiếm tảo mộ di hài chiến binh miền Nam đưa về nguyên quán hay chôn tại Nghĩa trang Biên Hòa với sự bảo quản tối thiểu, không có gì khó khăn.

Hà Nội đã bước vào kỷ nguyên mới, phải ý thức được những điều phải làm trong trách nhiệm với lịch sử dân tộc, theo trào lưu tiến hóa của nền văn minh nhân loại.

(10) Hàn gắn thương đau. Năm 1992, hai mươi năm sau mùa hè 72, Hội VMA (Vietnam Memorial Association) gồm các cựu chiến binh Hoa Kỳ muốn hàn gắn thương đau của Việt Nam hậu chiến. VMA dự trù xây trường học tại các nơi hẻo lánh cả 2 miền Nam Bắc. Ban quản trị họp để tìm 1 địa điểm đầu tiên. 8 ông bà Hoa Kỳ bàn về các địa điểm. Ý kiến rất khác biệt, Cô Kiều Chinh là người Việt duy nhất, đồng sáng lập viên của VMA đã đề nghị ngôi trường đầu tiên sẽxây tại Quảng Trị. Nơi mang vết thương lớn nhất của chiến tranh Việt Nam. Nơi chia cắt 2 miền suốt 21 năm. Toàn thể VMA đều đồng ý chọn đất cho ngôi trường tại Đông Hà coi như món quà của người phụ nữ Việt Nam tỵ nạn cộng sản gửi lại quê hương. Bức thông điệp đẹp đẽ biết dường nào. Năm 1954, cha của cô Kiều Chinh bị Việt cộng bỏ tù không bản án và chết trong tù. Thêm một ngôi trường được xây cất tại làng Mọc, quê hương của ông Nguyễn Cửu, thân phụ của cô Nguyễn thị Chinh, tên thật của tài tử Kiều Chinh. Cô ra đi lúc còn nhỏ 1954 và từ đó không bao giờ thấy được mặt cha. Trong phim “Người tình không chân dung” có đoạn Kiều Chinh quay tại nghĩa trang Biên Hòa cũng vào năm 1972. Một ngày nào đó, cô sẽ lên thăm lại nghĩa trang quân đội miền Nam, nơi có rất nhiều chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh tại chiến trường Quảng Trị mùa hè 72. Không thiếu bất cứ 1 quân binh chủng nào, không thiếu bất cứ màu cờ sắc áo nào. Kể cả lính Dù chết dưới chiến hào với cờ vàng pha máu và lính thủy quân lục chiến hy sinh trong thành nội 10 ngày sau cùng, chưa thấy được lá cờ bay trên trời xanh của Cổ Thành Quảng Trị. Phía bên kia Bến Hải một thời, có câu chuyện của họ. Bây giờ đến lượt chúng ta phải kể lại câu chuyện của mình. Nếu anh không nói, ai nói. Bây giờ không nói, bao giờ.

(11) Tổn thất chiến tranh. Vì vậy sau khi nghe chuyện bên kia, chúng ta hãy nói chuyện bên này. Rồi mai đây, vào năm 2025, nửa thế kỷ sau cuộc chiến, sử Việt sẽ ghi rằng chiến tranh Việt Nam đã làm chết 2 triệu dân trên khắp các miền đất nước. Riêng tại Quảng Trị, mùa hè năm 1972 cuộc chiến dằng xé điên cuồng đã giết chết 50 ngàn thanh niên của cả hai miền Nam Bắc. Lịch sử sẽ không cần ghi phần tổn thất hay thắng bại của các đơn vị. Sau này những đóa hoa tưởng niệm thả xuống dòng Thạch Hãn hay con sông Bến Hải sẽ cùng trôi ra biển Đông. Thể hiện tấm lòng của thế hệ tương lai gửi chung cho tất cả linh hồn các chiến binh đã hy sinh cho cuộc chiến tương tàn cuối thế kỷ thứ 20 tại Việt Nam.

(12) NHÂN CHỨNG TRÊN ĐẠI LỘ KINH HOÀNG

Khi đi tìm nhân chứng của 1 chiến trường hết sức oan nghiệt và thê lương, hết sức dũng mãnh và hào hùng, tôi vẫn không quên đoạn đường đầy xác người trên quốc lộ số 1. Ngay khi chiến trường còn vương khói súng, cây bút nhẩy dù, đại úy Phan nhật Nam đã viết “Mùa hè đỏ lửa.” Tác phẩm đem vinh quang cho tác giả đồng thời cũng làm khổ ông sau 1975. Nhưng trước sau “Mùa hè đỏ lửa” đã gắn liền vào tên tuổi Phan nhật Nam.

Phải chờ đến 32 năm sau, Hà Nội mới xuất bản cuốn “Mùa hè cháy“ của đại tá pháo binh “Quân đội Nhân dân” viết về trận pháo kích của trung đoàn pháo Bông Lau, trận pháo dã man trên đường di tản của dân Quảng Trị, giết chết hàng ngàn người và làm đoạn đường trên 2 cây sốgiữa con sông Thạch Hãn và Mỹ Chánh trở thành Đại lộ Kinh Hoàng.

Chúng tôi vẫn đi tìm xem ai là người đặt tên cho đoạn đường của trận thảm sát mùa hè năm 72. Có lẽ chỉ trong chiến tranh Việt Nam mới có cái đại lộ mang tước hiệu kinh hoàng.

Anh phóng viên của bộ Thông Tin có mặt tại Quảng Trị nói rằng bác đi hỏi ông Lê Thiệp trên DC. Khi quân ta phản công ở Mỹ Chánh, ông nhà báo Lê Thiệp có đi theo trên quốc lộ 1 qua lối này. Năm 2005 nhân dịp gặp ông Thiệp tại DC, ông nói rằng không biết tay nào đặt cái tên Đại lộ Kinh Hoàng thật hay. Câu chuyện dừng tại đó. Một lần khác, chúng tôi rao lên là muốn tìm gặp những ai đã chạy trên con đường ác độc vào đúng lúc địch pháo kích. Tôi biết có trung tá Lê huy Linh Vũ của Tổng cục Chiến tranh Chính trị là người đã trải qua và đã viết lại thành cuốn sách. Con gái của trung tá Vũ là họa sĩ Hương Alaska có cho phép chúng tôi in lại cuốn này để tặng các bạn. Nhưng ông Vũ nay không còn nữa. Đại tá Hà Mai Việt, tỉnh trưởng Quảng trị thời kỳ 72 đã nói rằng: “Tại ông không lưu tâm đọc sách của tôi. Mở trang này ra mà xem, nhân chứng sống là ông Phan văn Châu. Tôi đã viết rõ từng trường hợp của trận Quảng Trị trong tác phẩm Thép và Máu. Ông nhân chứng này không những chịu đựng trực tiếp trận pháo trên quốc lộ mà còn nằm lại 1 đêm giữa các xác chết.”

Sau cùng nhờ ông Hà mai Việt, chúng tôi đã gặp nhân chứng sống. Trung sĩ Phan văn Châu năm nay 68 tuổi quả thực là 1 người dân tiêu biểu của miền đất Quảng. Qua máy điện thoại, dường như cả một trời tâm sự tuôn tràn. Những hình ảnh quê hương, chiến tranh, loạn lạc, pháo kích, khói lửa, lẫn lộn giữa trận 72 và trận 75.

Nói đến chuyện đất nước biết bao nhiêu địa danh nào là Nhan Biều, Cầu Ga, Ái Tử, Mai Lĩnh, Cầu Dài. Rồi đến biết bao nhiêu con sông, bao nhiêu rạch nước. Âm thanh đất Quảng của người dân chân chỉ hạt bột, vòng qua quay lại để sau cùng trở về với cái ngày cả gia đình bỏ Nhan Biều mà đi. Ông Châu nói rằng, lúc đó dường như mọi người đã chạy hết. Phan văn Châu là trung sĩ thông dịch viên cho ngành tình báo tại Đà Nẵng đang đi công tác về Ái tử.

Đến khi thiên hạ bỏ chạy hết, thầy thông ngôn trẻ tuổi mặc đồ dân sự cùng 1 đứa cháu, dẫn vợcó bầu với 3 đứa con nhỏ, năm một, sáu, bẩy, tám tuổi. Tất cả vội vàng ra đi bỏ lại phía sau căn nhà mới cất tại Nhan Biều bên bờ Bắc của sông Thạch Hãn.

Vợ con đi trước 1 đoạn với gia đình bà chị. Thằng cháu và ông Châu đi xe gắn máy kéo theo 1 chiếc xe gỗ 2 bánh. Hành trang chất đầy, người kéo, người đẩy chiếc xe qua khỏi cầu Ga, đi được một đoạn dài đến 9 giờ sáng thì pháo nổ ngay trên đường. Con đường đầy người chạy loạn. Cả dân cả lính với đủ mọi thứ xe. Đa số đi bộ vì đường tắc nghẽn nên không thể đi nhanh. Đạn rơi chỗ nào cũng có người chết. Xác bắn tung lên trời. Khói lửa mù mịt. Mạnh ai nấy chạy. Vợ con thất lạc ngay từ lúc đó. Ông Châu nghĩ rằng vợ con có thể đang ở phía trước. Nhưng phía trước hay phía sau thì cũng bị pháo. Khi pháo tạm ngưng thì có người lại tràn ra đi tới. Nhưng phần lớn nằm yên chịu trận. Có nhiều người không chết ở đợt pháo đầu nhưng rồi bị chếtở các đợt pháo sau. Nhiều xác chết trên đường bị pháo đi pháo lại nhiều lần. Bị thương rồi lại bịpháo rồi cũng chết. Biết bao nhiều người cố chạy cho thoát bỏ lại cả gia đình vợ con. Những đứa nhỏ nằm khóc bên xác mẹ. Những em bé sơ sinh bú vú mẹ đã lạnh khô. Có người còn sống thấy đó mà phải bỏ đi. Ông Châu và đứa cháu chạy về phía đông quốc lộ, vùi thây xuống cát mà chịu đựng 1 ngày pháo kích. Đủ loại pháo của cộng sản thay phiên bắn phá suốt một ngày dài. Pháo 122, pháo 130 và pháo 155. Chỉ khi nào có B52 đến thả bom mới thấy địch im tiếng súng được 1 lúc.Toàn thân ông tê liệt dưới trời nắng gắt. Phải bò đến các vũng nước có cả phân trâu và máu người để uống. Khi trời tối dần, tất cả đều im lặng và ghê sợ. Ông Châu và đứa cháu bắt đầu bò quanh lật các xác chết đàn bà và trẻ em lên xem có phải vợ con. Lật một xác phụ nữ mà ông nghĩ rằng người vợ, đầu óc ông mê muội. Thằng cháu còn tỉnh táo nói rằng không phải mợ. Mợcó bụng mà cậu. Mấy người khác còn sống cũng làm như vậy. Tất cả đi tìm xác thân nhân. Nhưng rồi trời tối hẳn, bộ đội Việt Cộng bắt đầu xuất hiện. Chúng tìm đến các xe nhà binh và tìm các quân nhân mặc quân phục bắt đi hết. Cậu cháu ông Châu khai là dân thường nên được lệnh phải nằm yên tại chỗ. Đêm hôm đó, ông Châu thức trắng trên bãi cát đẫm máu của Đại lộ Kinh Hoàng. Hình như có đôi lúc ông cũng thiếp đi. Cũng chẳng còn nhớ rõ. Chung quanh toàn xác chết. Người chết nhiều hơn người sống. Những xác chết cháy như than củi. Ông nghĩ rằng chắc xác vợ con cũng quanh đây. Sáng hôm sau, từ sớm mai những người còn sống đành phải bỏ lại1 cánh đồng xác ở đằng sau để chạy về miền Nam. Đi đến cầu Dài gần sông Mỹ Chánh thì gặp toán tiền sát của thủy quân lục chiến Việt Nam chận lại. Khi biết chắc là không phải quân địch, ông trung úy thủy quân lục chiến phất tay cho qua. Vừa đi khỏi một đoạn đường thì thấy ông sĩ quan bị du kích phía sau bắn sẻ chết ngay tại chổ. Đó là cái chết cuối cùng ông chứng kiến tại Quảng Trị. Tìm xe quá giang về Huế với tâm trạng hết sức não nề. Nhưng rồi phép lạ đầu tiên đến với cuộc đời ông. Ngay tại khu vực tạm cư Phú văn Lâu, thuộc thành phố Huế, ông gặp lại đầy đủ vợ con. Bà vợ bầu đã dẫn 3 đứa con nhỏ đi xuống đường ven biển theo dân địa phương. Đoàn người đi xa quốc lộ nên tránh được pháo kích.

Vợ con dắt díu nhau đi suốt 1 ngày 1 đêm về đến Mỹ Chánh rồi được xe cho bà bầu quá giang về Huế. Hai năm sau người vợ đầu tiên của ông Châu qua đời, sau khi sinh cho ông thêm 3 ngưới con nữa. Cô gái còn nằm trong bụng mẹ trên đại lộ kinh hoàng năm nay đúng 37 tuổi, tốt nghiệp đại học và có gia đình cư ngụ tại miền đông Hoa kỳ.

Những bước chân trần ai trên bãi cát Quảng Trị mùa hè năm 72 của bà mẹ mang bầu không biết có còn vương vấn chút nào trong lòng cô bé nghe pháo kích từ lúc chưa ra đời. Ông Châu nói rằng: Tụi nhỏ chẳng biết gì đâu. Chỉ có đứa lớn nhất năm nay ngoài 40 tuổi là còn nhớ đôi chút. Hỏi rằng thế ông có được bao nhiêu con tất cả. Ông tính nhẩm rồi nói rằng tất cả 10 con. Bà đầu tiên 6 con. Bà thứ hai 3 con. Bà này bỏ tôi đi lấy chồng nên bây giờ vẫn còn ở Việt Nam. Tôi đưa cả 3 cháu đoàn tụ bên này. Bà hiện nay ở với tôi có 1 cháu. Năm nay cháu cũng 24 tuổi rồi. Bà sau này có 1 con riêng. Như vậy là chúng tôi có 11 con. Thế bác có hạnh phúc không. Hạnh phúc chứ. Tất cả là số trời. Ông Châu nói rằng, cái đêm nằm ở đại lộ kinh hoàng, uống nước máu người và phân trâu tôi không bao giờ giờ nghĩ đến có ngày đi Mỹ như bây giờ. Tôi nghĩ rằng bây giờ vợ con chết hết thì mình sẽ ra sao. Làm sao tìm xác. Rồi chôn ở đâu. Hàng trăm xác người chung quanh, biết bao nhiêu xác trẻ con, vợ con tôi đều trong số đó. Không hiểu nó bắn pháo đạn gì quá ác. Tất cả xác chết như than củi chẳng làm sao biết được người nào là người nào.

“Năm 1973 tôi có trở lại, đi qua con đường thấy có đài tưởng niệm, rồi có các mồ chôn tập thể, có mồ chôn riêng rẽ. Lòng tôi hết sức xúc động. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn xúc động. Con cháu tôi thì nhiều nhưng mà làm sao các con hiểu được những gì tôi đã trải qua. Trận 72 quân ta mới lấy lại một nửa Quảng Trị. Đứng bên này dòng Thạch Hãn, bên kia là Nhan Biều, nơi tôi ra đời còn cả ngôi nhà thân yêu. Bên ta đã bị địch chiếm bờ Bắc, chỉ giữ được bờ Nam, đến 75 thì bờNam cũng chẳng còn.”

“Vâng thưa bác, năm nay em 67 tuổi,” ông Châu nói tiếp, “quê ở Nhan Biều, bờ Bắc sông Thạch Hãn, ngay dưới cầu Ga. Nhà em thi vào làm trung sĩ thông dịch viên năm 1966 khóa 11 tại quân đoàn I. Sau 75 em trốn được. Nếu khai thật chắc là bị buộc tội CIA.

Bờ sông Mỹ Chánh và cây cầu mới năm 2009. Mùa hè năm 1972, Nam quân và thường dân đã chạy qua “Đại lộ Kinh hoàng” để rút về phía Nam sông này.

Sau đó em vượt biên rồi đoàn tụ. Trước sau 3 vợ, 11 người con. Bà sau này là bà bền chặt nhất đã sống với nhau 25 năm. Vâng, thưa bác đây chắc chắn là bà sau cùng. Gia đình em rất hạnh phúc. Phần em, dù có bị kinh hoàng nhưng cũng chỉ có 1 ngày 1 đêm. So với người ta có người cả đời kinh hoàng thì nỗi khổ của chúng em có thấm vào đâu.”

Đó là câu chuyện của ông Châu, nhân chứng số 1 của chúng tôi. Tôi hỏi ông Châu câu cuối cùng. “Ông có biết ai đặt tên Đại lộ kinh hoàng.” “Không đâu,” bây giờ ông gọi tôi là cụ. “Cụ với cụHà Mai Việt không biết thì ai mà biết. Nhưng quả thực là kinh hoàng thực đấy các cụ ạ.”




Mùa Xuân Và Thi Nhân – VTLV Hội Thoại Phần 4




CON LÀ CON MÈO TRẠNG QUỲNH CỦA MẠ

Con Là Con Mèo Trạng Quỳnh Của Mạ            

Mạ sinh con đang lúc nhà nghèo khó
Một phần cơm, khoai sắn độn hai phần
Thuở ấu thời, mắm cà cùng muối đậu
Con đã quen ngon miệng món nhà bần.

Lúc mớ rạm ngoài đồng đem ram muối
Muà nước lên con bống thệ kho khô
Những chột nưa mạ nấu cùng tí ruốc
Rau tập tàng vị ngọt những ngày thơ.

 
Đọi rau khoai ngọt ngào con tôm đất
Hũ tép chua có những lát măng vòi
Bánh tráng nướng còn thơm mùi mít trộn
Những món quen con vẫn nhớ trọn đời.

Ngày mưa bão, trên mâm thường trứng luộc
Trưa mùa hè, nước rau muống thay canh
Chút dưa, muối cũng vội vàng xong bữa
Sao mạ hay – ngồi ăn cuối một mình.

Con là con mèo Trạng Quỳnh cuả mạ
Đã phận quen ăn những món ăn nghèo
Trước những mâm đầy sơn hào hải vị
Con dửng dưng như đứa trẻ quen chiều.

Giờ con đã xa nửa vòng trái đất
Biết khi mô mới trở gót quay về
Trên bếp lưả chụm rơm chiều khói tỏa
Con cá cơm mạ nấu bữa canh me.
 
Cho ấm áp thêm cuộc đời trống lạnh
Hạnh phúc này xoa diụ tấm lòng con
Khi hơi toả thơm ngát mùi gạo mới
Trên tay con, miếng cơm cháy thơm dòn.
 
Con, đứa trẻ lạc loài trên xứ lạ
Đang quay cuồng theo cơm áo, ngựa xe
Mà thương mạ vẫn thường hay tựa cửa
Bên mâm cơm, vắng bóng đứa con về.  
 
                              Huy Phương

Mama, I Am Your Self-Contented Cat

                 

You gave birth to me while being destitute:

Potato or cassava doubling rice each meal to suit.

Salted egg-plants and peanuts since childhood,

I had got accustomed to the poor people’s food.

The crabs from the paddy-fields that you fried,

The goby from inundation that you cooked dried,

The chunks of taro you prepared with rousong,

The sundry veg…, that with my youth got along.                                         

The sweet potato buds, with prawns as spices,

The soured shrimps, with bamboo shoot slices,

The grilled pancakes smelling jackfruit, thyme,

The familiar dishes… I remember all my lifetime.

On stormy days, on the salver were boiled eggs;

In summer, water spinach for broth without dregs;

A bit of pickle was enough for a quick repast…

But you Mama always remained alone the last.

Regals are rich, their cats have delicacies to try;

I was Mama’s cat, only meagre dishes did satisfy.

So content with my lot that feasts I did not enjoy,

Indifferent, seeming kittle as a too coshered boy.

Well, now that I have been a hemisphere away,

I do not know when I will come back and stay

There, on the straw fire under smoke you stoop

To cook with anchovies the eve tamarind soup.

So that warmth is added to my empty existence:

Such bliss will appease my heart in this distance,

With the cooking smelling the new harvest rice,

And for me a crisp piece of burned rice as a price.

As a lost young child lonely in a strange land,

Being whirled along means of living’s demand,

I feel so anxious for Mama against the door-case

Or by the food tray always longing to see my face.

Translation by Thanh-Thanh




(thơ song ngữ) CON LÀ CON MÈO TRẠNG QUỲNH CỦA MẠ của HUY PHƯƠNG & THANH-THANH




Mùa Xuân Và Thi Nhân Video Phần 3




Chiều Hội Ngộ VTLV 5-16-2011

Chân Thành Cảm Tạ

Quý Niên Trưởng, Quý anh Chị trong Gia Đình Văn Thơ Lạc Việt.

Đã tham dự, góp tay, để Buổi Chiều Hội Ngộ 2021,  đã Thành công Tốt đẹp, hơn cả những gì mong ước!

Buổi tiệc tuy đơn sơ, nhưng lại đạt được những ưu điểm hiếm có sau:

-Mở đầu cho một sinh hoạt văn nghệ, tụ tập đông người, sau hơm một năm bị cấm đoán.

-Quy tụ những Nhà văn, Thi sĩ thành danh, lão thành cũng như trẻ tuổi, nhiều nhất tại Bắc Cali.

-Nhiều Tác giả ra mắt Tác phẩm nhiều nhất!

-Không khí văn nghệ, yêu thương hiếm có.

Để có được kết quả tốt đẹp này, là nhờ sự góp sức của tất cả Quý Anh Chị, nhất là Anh Chinh Nguyên.

Thật vui, hạnh phúc được cộng tác, làm việc với tất cả Quý vị, lúc nào cũng yêu thương nhau như tình trong Gia đình.

Một lần nữa, xin được gởi lời cảm tạ chân thành, với cả Trái tim! Cám ơn! cám ơn nhiều…nhiều…thật…nhiều!

LVHải

https://www.youtube.com/watch?v=6agMbIzrWVA



Đêm Trong Tù

Cánh cửa tù đóng lại, ngày đã tắt

Những kiếp người ray rứt sống trong tù

Từ bên trong ta nhìn qua khung sắt

Ánh trăng đêm, làn sương trắng xa mù.

Đêm rùng rợn ta thấy toàn bóng qủi

Qủi giam người, loài qỉu đỏ, ma trơi

Chúng lấp ló dưới trời đêm trăng tỏ

Canh giữ tù, rình rập uống máu người.

Ta tỉnh thức giữa tha ma mộ địa

Nghe âm vang, đau buốt lóng xương gầy

Tám năm qua, chừng ấy là vô tận

Chừng ấy thời gian, gẫy cánh chim bay.

Quen với cõi trời, không còn nắng mai

Trời sáng mà sao, đêm vẫn nối dài

Tuổi ta đã quá nửa đời sương gió

Sao vẫn còn thêm, mảnh vụn tù đày.

AET Lê Tuấn

Nỗi đau buồn đã trải qua tám năm tù đày

Dưới chế độ cộng sản

Mùa Xuân Trong Tù

Một dải đường xa, xa rất xa

Sâu thẳm rừng hoang bóng sương mù

Xuân chợt đến, quặn đau nỗi nhớ

Kiếp thân tù, tàn giấc thiên thu.

Ta tưởng thời gian bị lãng quên

Nào ngờ hoa nở nhắc ngày xuân

Tám năm cạn lòng thương sông núi

Một nhánh hoa xuân, nhắc tình gần.

Tết này, còn mang nặng kiếp tù

Ngắm hoa buồn tựa như lá thu

Hạt bụi mưa xuân, đọng trên mắt

Nghe tiếng thở than, bóng sương mù.

Mẹ vẫn chờ mong Tết con về

Nào ngờ, vạn dặm bóng sơn khê

Chợt nghĩ mà đau lòng nỗi nhớ

Mắt mẹ buồn đau giọt lệ mờ.

Anh vẫn chưa về Tết năm nay

Em buồn như mùa thu lá bay

Ngọn gió xuân tình hiu hắt thổi

Cánh nhạn trời xuân, tung cánh bay.

Nghe tiếng thời gian, thèm nỗi nhớ

Nhan sắc mùa xuân đã úa tàn

Nhớ thương nhau tìm trong giấc mộng

Mùa xuân về, hoa lá trên ngàn.

AET. Lê Tuấn

Mùa xuân trong tù

Tại miền trung bắc việt




Bà Huyện Thanh Quan – VTLV Mạn Đàm Phần 5




Mùa Xuân Và Thi Nhân – VTLV Hội Thoại Phần 1




Cha mẹ già và con cái

*Lời rào trước

“Biết rồi ! Khổ lắm ! Nói mãi!”
(“Số Đỏ” – Vũ Trọng Phụng)

Mới đây không lâu tôi nhìn thấy bảng số xe sau một xe nhà đòn (Người Mỹ họ gọi xe chở quan tài là “Hearse”- A vehicle for conveying the coffin at a funeral – Ở Việt Nam người ta gọi đùa xe tang là “Xe Hoa có 8 thằng lơ!”) đọc như sau:



“U2” (You too! –
Có nghĩa là “Sắp tới phiên Bạn!”)



Thật vậy, tính sổ ra thì các sư phụ, sư mẫu hay chính bản thân quý vị và tôi cũng không là ngọai lệ (“no Exception to the Rule”).

 Để chuẩn bị tinh thần cho cái “Chapter 7” (*) và trong khi chờ đợi,  xin mời đọc thêm bài này cho biết mà… nản…

* Nên biết: “Chapter 7” là giai đoạn cuối dẹp tiệm vĩnh viễn  sau khi đã khai khánh tận (“Chapter 11”) và đáo hạn rồi mà vẫn không thể có cơ may nào phục hồi nổi!!!)

Thân mến,


Trần Văn Giang

*

Ông Chu Dung Cơ, Cựu Thủ tướng Trung Cộng từ năm 1998 đến năm 2003, nói về mối liên hệ giữa cha mẹ già và con cái như sau:

“Cha mẹ thương con là vô hạn, con thương cha mẹ là có hạn. Con bệnh cha mẹ buồn lo. Cha mẹ bệnh con đến nhòm một cái, hỏi vài câu thấy là đủ. Con tiêu tiền của cha mẹ thoải mái, cha mẹ tiêu tiền của con chẳng dễ chút nào. Nhà của cha mẹ là của con. Nhà của con không phải là nhà của cha mẹ. Khi ốm đau cha mẹ già  trông cậy vào ai? Nếu chẳng may ốm đau dai dẳng hiếm thấy có đứa con hiếu nào ở bên giường? (‘cứu bệnh sàng tiền vô hiếu tử?’”

Rồi ông gởi lời khuyên đối với các bậc cha mẹ là:

“Khác nhau là như vậy! Người hiểu đời coi việc lo cho con là nghĩa vụ, là niềm vui không mong báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình. Mặc dù cũng có nhiều con cái có hiếu nuôi cha mẹ.”

Theo sách “Luận Ngữ,” khi Tử Du hỏi về chữ Hiếu, Khổng Tử đáp:

“Chữ Hiếu bây giờ được hiểu là có thể nuôi dưỡng cha mẹ. Nhưng ngay cả chó và ngựa cũng đều phải nuôi dưỡng. Nếu thiếu đi sự kính trọng, thì sao có thể phân biệt hai việc đó đây.”

Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.”

Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.

Một người thợ hớt tóc cho tôi biết về con cái của ông ta.  Cả hai đứa con đều có nhà riêng, cùng ở trong quận Cam, nhưng không mấy khi chúng điện thoại hỏi thăm ông? Tháng trước, ông bệnh nặng, nằm nhà một tuần lễ mà cũng chẳng đứa con nào ghé qua thăm. Ông nói thêm:

“Chỉ trừ lúc nào chúng cần nhờ đến ông việc gì đó thì chúng nó ghé qua hay gọi điện thoại thôi…”

Ông buồn bã kết luận:

“Ở Mỹ này, có đến chín đứa con, nhưng cha mẹ già bệnh thì cũng phải vào ‘nursing home’ thôi!”

Nursing home” ở Âu Mỹ, mang tiếng là văn minh, hiện đại nhưng liệu rằng đây có phải là nơi yên ổn cho những ngày cuối cùng của tuổi già không? Tại các viện dưỡng lão trên đất Mỹ mỗi năm có hàng chục nghìn trường hợp khiếu nại vì cách đối xử của nhân viên như bỏ bê, đánh đập; để người già đại tiểu tiện, ói mửa mà không dọn dẹp, không cho uống nước; xâm phạm tình dục; tệ hại nhất là đối với những bệnh nhân “Alzheimer.”

Năm ngoái, phúc trình của Bộ Y Tế tiểu bang Minnesota cho thấy chỉ trong vòng 5 tháng đã có 15 trường hợp bệnh nhân mất trí nhớ bị hành hạ, trong đó có những vụ như bị chọc ghẹo liên tục, bị nhổ nước bọt vào mặt, bị bóp ngực hay hạ bộ. Phải chăng nhà dưỡng lão, chặng cuối đời của người già là chốn địa ngục có thật trên trần gian như thế!

Vậy thì con cái có hiếu tâm, xin cầu nguyện cho các đấng sinh thành sớm ra đi trước khi họ trở thành những người mất trí lú lẫn, nằm suốt ngày một chỗ, tiêu tiểu không kiểm soát được. Thấy cha mẹ lớn tuổi mà còn minh mẫn, mạnh khỏe nên mừng, mà thấy cha mẹ ra đi nhẹ nhàng, trước khi phải chịu những cảnh đau lòng của tuổi già lại càng mừng hơn.

Tuy vậy, rất nhiều gia đình người Việt trên xứ người có được niềm an ủi là họ có những đứa con Việt Nam; nhất là những đứa con của một gia đình nghèo, lớn lên trong chiến tranh và thông cảm được nỗi thiệt thòi bất hạnh của cha mẹ mình.

Lời đón sau

“Be nice to your children because they are the ones who will choose your nursing home(s).”

Steven Wright


Trần Văn Giang

.




Bài hát NẮNG CHIỀU qua tiếng Tàu (3 dialects), Nhật và Việt.

Qua tiếng Tàu (3 dialects), Nhật và Việt

Bài hát NẮNG CHIỀU của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn

Inline image

       NẮNG CHIỀU là tên một ca khúc của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, được sáng tác năm 1952. Bài hát không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà còn nổi tiếng ở Nhật Bản, Đài Loan và Hồng Kông. Tại các nước nói tiếng Hoa, bài hát được biết đến với tên 越南情歌 (Việt Nam tình ca) hay 南海情歌 (Nam hải tình ca) do Thận Chi (慎芝) đặt lời.
       Trong một lần phỏng vấn, Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã nói: “Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành… Tâm sự tôi trong bài Nắng chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 5 năm 1945, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!”
       Năm 1957, Lê Trọng Nguyễn vào Sài Gòn. Ðúng dịp đoàn ca nhạc Nhật Bản sang thăm, ban nhạc Toho Geino có nhờ người chọn ra 12 bản nhạc Việt Nam đang nổi tiếng thời đó để chuẩn bị tập dượt và trình diễn tại Sài Gòn lẫn Nhật Bản, trong đó có bản “Nắng Chiều” và bản này đã được cô ca sỹ nhật Midori Satsuki hát. Năm 1960 Kỹ Lộ Hà 紀露霞, một ca sỹ người Đài Loan, cô yêu mến bản Nắng Chiều nên viết sang lời Hoa ngữ và phổ biến bản này sang Ðài Loan bằng lời ca tiếng Phúc Kiến, sau đó được nữ nghệ nhân Thận Chi 慎芝 (Khưu Tuyết Mai 邱雪梅) viết lại lời bằng âm Quan Thoại phổ biến ở Hồng Kông và các nơi khác. Nhờ những may mắn đó mà Nắng Chiều cứ thế được biết tới tại các nước ở vùng Đông Nam Á và sau năm 1975 lại theo người Việt và người Việt gốc Hoa đi khắp thế giới như hiện nay.
     Nhớ lại khoảng thập niên 1960 của thế kỷ trước, hội Văn Hóa Hoa Việt ở vùng Quận 5 Chợ Lớn có cho phổ biến một tập nhạc Việt đã được dịch ra lời Hoa để cho con em người Hoa có thể hát nhạc Việt được. Tập nhạc này chỉ được in dưới hình thức “quay ronéo” nên không được phổ biến rộng rãi. Tôi còn nhớ trong đó các bản nhạc như “Ai Về Quê Tôi”(Tiến Đạt) Mạnh Phát, “Ngày Trở Về” của Phạm Duy, “Lúa Mùa Duyên Thắm”, “Trăng Soi Duyên Lành”, “Lối Về Xóm Nhỏ” của Trịnh Hưng, “Về Dưới Mái Nhà” của Xuân Tiên, Y Vân, “Duyên Kiếp” của Lam Phương… và tôi thích nhất là bài “NẮNG CHIỀU” của Lê Trọng Nguyễn với lời tiếng Hoa thật hay, không biết là một nhân sĩ nào đó đã dịch thật tài tình, vừa sát nghĩa với lời Việt của Lê Trọng Nguyễn lại vừa có tính cách văn chương và nhất là vừa hợp với các âm giai lên xuống của bản nhạc khi hát  không bị gượng ép chút nào cả ! Lời ca rất tự nhiên nên thơ như được sáng tác bằng tiếng Hoa nguyên gốc vậy ! Và cũng vì thế mà cho đến nay, hơn 60 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ như in lời ca mượt mà gợi cảm đó. Xin được chép lại dưới đây để người Việt gốc Hoa nào đó thích bản nhạc “NẮNG CHIỀU” cùng hát cho vui (Nhớ là hát bằng âm “Quan Thoại”, chữ có màu đỏ bên dưới, chớ không phải âm Việt Hán):

            夕陽                                       TỊCH DƯƠNG là Nắng Chiều           xi yáng        回到渡頭夕陽斜照,                     Hồi đáo độ đầu, tịch dương tà chiếu,   Huí dào dù tóu, xi yáng xié zhào.   (Qua bên nước xưa là hoa về chiều)          金光疏落花葉飄搖。                     Kim quang sơ lạc, hoa diệp phiêu diêu.   Jin guang shu luò hua yè piao yao.(Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa)        來到村莊舉步徬徨,                     Lai đáo thôn trang, cử bộ bàng hoàng,   Lái dào cun zhuang, ju bù páng huáng.(Khi đến cuối thôn chân bước không hồn)        多麼懷念舊時人兒。                     Đa ma hoài niệm, cựu thời nhân nhi.   Duo me huái niàn, jìu shí rén ér.     (Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ)
  *  Từ phần hai của lời ca, sẽ bỏ đi phần phiên âm Việt Hán cho khỏi rườm rà !
        記得妹妹身材稍廋,                     Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy,      Jì dé meì meì shen cái shao sou,        柔和望我雙眸閃爍。                     Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh.      Róu hé wàng wo shuang móu shan shuo.        記得當年妳過庭前,                     Anh nhớ bước em khi nắng vương thềm,      Jì dé dang nián ni guò tíng qián,        粉頰緋紅秀髮輕飄。                     Má em mầu ngà tóc thề nhẹ vương.      Fen xia fei hóng xiù fa qing piao.
– 我回來過庭前,想起誓言,心冰冷,Nay anh về qua sân nắng, chạnh nhớ câu thề, tim tái tê,Wo huí lai guò tíng qián, xiang qi shì yán, xin bing leng,  不知如今,情妹呀,移戀何方?      Chẳng biết bây giờ người em gái,duyên ghé về đâu?Bù zhi rú jin, qíng meì ya, yí liàn hé fang?
– 我回來桑田黃,山歌對答,不再唱,Nay anh về nương dâu úa, giọng hát câu hò, thôi hết đưaWo húi lai sang tián huáng, shan ge dùi dá, bù zài cháng,  苗條俏影,紫花前,往何處尋?      Hình bóng yêu kiều kề hoa tím biết đâu mà tìm?miáo tiáo qiào jing, zi hua qián, wảng hé chù xún?
        沉痛記起竹蔭底下,                         Anh nhớ xót xa dưới tre lá ngà,       Chén tòng jì qi, zhù yin di xià,        含愁望我妳說”愛我”。                      Gợn buồn nhìn anh em nói “mến anh !”.       Hán chóu wàng wo, ni shuo “ai wo”        白雲浮飄夕陽殘照,                         Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi,       Bái yún fú piao, xi yáng cán zhào,        想妳柔情晚霞留停!                         Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi !       Xiang ni róu qíng, wan xía líu tíng!

     Mặc dù một số từ được dịch thoát ý, không có “mot à mot” hay “word by word” gì cả, nhưng đã lột tả được hết ý của tác giả muốn gởi gấm trong lời ca.

      Dưới đây là lời ca bằng tiếng Phước Kiến  (tiếng nói thông dụng ở Đài Loan) với giọng hát của ca sĩ Kỷ Lộ Hà như đã nói ở phần trên :

            Còn dưới đây là … Ca sĩ Hoàng Thanh Nguyên của Tân Gia Ba  hát bài Nắng Chiều ( Tình Ca Việt Nam) với lời ca viết lại như sau :

黃清元 越南情歌
黃清元 越南情歌
黃清元 越南情歌 Hoàng Thanh Nguyên hát VIỆT NAM TÌNH CA (Nắng Chiều) 我又來到湄公河邊,晚風依舊吹動河面, Tôi lại trở về bên bờ dòng Mê-Kông, Gió chiều vẫn thổi lay động mặt sông. 那樣美麗那樣迷戀,情人己離去多年。 Sông đẹp là thế, mơ màng là thế, nhưng người yêu thì đã rời xa nhiều năm rồi.
我又來到舊日河邊,晚霞嬌艷吻著河面, Tôi lại trở về bên bến sông xưa, ráng chiều đẹp đẽ như hôn lấy mặt sông .那樣美麗那樣迷戀,情人己失去多年。 Sông đẹp là thế mơ màng là thế, nhưng người yêu cũ đã đi mất bao năm rồi.
Điệp khúc…
往事一幕幕回到我眼前, Chuyện xưa cứ lần lượt hiện ra trước mắt tôi. 是夢景令人常懷念,夢景令人懷念。 Là mộng ảo dễ khiến người tiếc nuối, mộng ảo nên khiến người tiếc nuối. 何日夢境再回到我眼前, Không biết đến ngày nào cảnh mộng lại trở thành hiện thực trước mắt, 是真情令人長留戀,真情令人懷念。 Thật dễ làm cho người ta lưu luyến mãi, làm cho người ta tiếc thương mãi . 我又來到湄公河邊,晚風依舊吹動河面, (Lời của phần sau giống như lời của phần đầu.那樣美麗那樣迷戀,情人己失去多年。 Những phần trên đây chỉ dịch nghĩa của lời viết lại bằng tiếng Hoa,我又來到湄公河邊,晚風依舊吹動河面, không phải là LỜI CA, nên không thể hát được ). 那樣美麗那樣迷戀,情人己失去多年。
     Còn sau đây là lời HOA của bản nhạc NẮNG CHIỀU của Lê Trọng Nguyễn với tựa đề là :VIỆT NAM TÌNH CA  do nữ nghệ nhân Thận Chi viết lời  (Thận Chi tên thật là Khưu Tuyết Mai 邱雪梅, bà đã cùng chồng là Quan Hoa Thạch 關華石 tổ chức đại nhạc hội “Quần Tinh Hội” ở Đài Loan suốt gần 3 thập niên 1950-1980)

作詞:慎芝                                     Viết lời : Thận Chi
作曲:越南民歌                              Nhạc   : Việt Nam Tình Ca
編曲:陳志遠                                 Hòa âm : Trần Chí Viễn

我又來到昔日海邊          Tôi lại trở về bờ biển của ngày xưa,
海風依舊吹皺海面          Gió biển vẫn làm cho mặt biển gợn sóng như xưa.
那樣熟悉 那樣依戀         Thân thương là thế, quyến luyến là thế, 
只有舊日人兒不見          Chỉ có người xưa là không còn gặp lại.
不敢來到昔日海邊          Tôi không dám trở lại bờ biển của ngày xưa,
海霞嬌艷擁著海面          Nắng chiều thật đẹp như ôm ấp lấy mặt biển.
那樣熟悉 那樣依戀         Thân thương là thế luyến lưu là thế,
只有故人離去多年          Chỉ có cố nhân là đã biền biệt nhiều năm rồi !                              ĐK那往事 一幕幕到我眼前           Chuyện xưa từng lớp từng lớp một như hiện ra trước mắt tôi,
是夢境還是幻想 令人常懷念    Là mơ hay là ảo tưởng, đều khiến cho người ta luyến nhớ.
那夢境 何日能回到眼前           Những chuyện mộng mơ, ngày nào mới thành hiện thực trước mắt.
你又在我的身邊 無限情纏綿    Em lại đến bên tôi với muôn vàn quyến luyến.
不敢來到昔日海邊          Giống như lời trên
海霞嬌艷擁著海面
那樣熟悉 那樣依戀
只有故人離去多年                         ĐK
那往事 一幕幕到我眼前
是夢境還是幻想 令人常懷念
那夢境 何日能回到眼前
你又在我的身邊 無限情纏綿
不敢來到昔日海邊         Giống như lời trên
海霞嬌艷擁著海面
那樣熟悉 那樣依戀
只有故人離去多年

越南情歌 – Nắng Chiều Bài hát nầy hát giống như lời trên đây.

 Còn dưới đây là bài hát Nắng Chiều của ca sĩ Dương Yến, lời hát đúng với bản nhạc chép tay của ĐCĐ kèm theo bên dưới và cũng đúng với những tập nhạc xuất bản ở Đài Loan được bày bán trên các dĩa hè của Quận 5 Chợ Lớn trong thập niên 60 -70 của thế kỷ trước.

【Official Audio】楊燕 – 越南情歌   Dương Yến – Việt Nam Tình Ca

Cuối cùng mời tất cả cùng nghe NẮNG CHIỀU của Lê Trọng Nguyễn với tiếng Nhật Bản:

Nắng Chiều (Lê Trọng Nguyễn) – Satsuki Midori (tiếng Nhật)

Đỗ Chiêu Đức (sưu tầm trên mạng)




TẠ ƠN MẸ

TẠ ƠN MẸ

(Viết thay lời những người con gốc Việt

gửi đến các bà mẹ Hoa Kỳ đã dày công dưỡng dục)

Tạ ơn Mẹ, người không cùng huyết thống

Tóc mẹ vàng, da mẹ trắng như mây

Mẹ vớt con từ vực thẳm lưu đày

Nuôi con lớn bằng tình thương máu mủ

Tạ ơn Mẹ vì con mà lam lũ

Ngày qua ngày trong xưởng máy, nhà kho

Làm thêm giờ cho con được ấm no

Đêm lại thức dạy con từng tiếng Mỹ

Khác ngôn ngữ như ngăn thành, cách lũy

Mẹ dỗ con bằng ánh mắt, vòng tay

Mẹ gốc Âu, con gốc Á, khổ thay

Con là nợ, vì đâu mà mẹ gánh!

Mẹ biết con từ quê hương bất hạnh

Có lũ người hung ác tựa sài lang

Nuốt miền Nam bằng nanh vuốt bạo tàn

Đưa cả nước trở lại thời trung cổ

Cũng từ đó con như chim mất tổ

Tuổi còn thơ đã bỏ mẹ, lìa cha

Xuống thuyền đi trong nước mắt nhạt nhòa

Đem tính mạng gửi trên đầu ngọn sóng

Nhờ ơn Mẹ như trời cao biển rộng

Con mới còn sống sót đến ngày nay

Được nên người trên đất nước thứ hai

Niềm hãnh diện cho cả hai dân tộc

Trong hồn con mẹ rạng ngời ánh đuốc

Sáng bập bùng soi mỗi bước con đi

Lời Mẹ hiền con sẽ mãi còn ghi:

“Là dân Mỹ, nhưng đừng quên gốc Việt!”

Dâng lên Mẹ đóa hồng tươi thắm thiết

Chứa tình con từng cánh đỏ yêu thương

Mai con về quì hôn đất quê hương

Càng nhớ đến ngàn công ơn của Mẹ.

VŨ ĐÌNH TRƯỜNG

THANK YOU, MOTHER!

(To American adoptive mothers who heartily fostered children of Vietnamese origin) 

Thank you, my white-skinned golden-haired mother

Who are not of the same bloodline as me or the other

But you fished me out of the abyss a refugee errant,

Adopted and fostered me with the love of a parent.

Thank you for having taken such painstaking jobs

Days after days in warehouses and workshops,

Toiled and moiled extra hours to make me undeterred,

And stayed up late to teach me each English word.

Pushing language difference as a bad barrier aside,

You soothed me with your look warm and arms wide.

You are an Westerner and I an Easterner, how rare,

I was such a heavy debt, you volunteered to bear!

You knew well that I came from that unhappy land

Where there were many a ferocious and fiendish band

Who invaded the South and confined people to cages,

Brought the whole nation back to the Middle Ages.

Since then I had become a nestless nestling in qualm

In childhood to leave Dad and separate from Mom,

I got into the fleeing boat with hot tears dripping wet

Risking my life entrusted to wave crests full of threat.

Thanks to your high-sky and vast-ocean love, my fay,

That I could survive until I can achieve success today

And become a dignified human in this second home,

A pride for both our peoples under the azure dome.

You are so shining in my soul the glittering torchlight

To enlighten each of my steps scintillating in the night.

Your virtuous advice I will always remember of course:

“Be American but don’t forget your Vietnamese source!”

I respectfully offer you this fresh gorgeous bright rose

Suffused with my affection in each red petal to enclose.

On my repatriation kneeling to kiss my native soil soon

I will bear in mind thousandfold your precious boon.

Translation by THANH-THANH




Trang Thơ Võ Đại Tôn

46 TẾT LƯU VONG/QUỐC HẬN
(LỜI DÂNG LÊN MẸ VIỆT NAM)

MẸ VIỆT NAM ơi
46 năm rồi
Áo con đã rách.
Còn sợi chỉ nào, từ nguồn thiêng huyết mạch
Cho con xin, vá lại áo Đời.
Con đã đi, đường gai góc mòn hơi
Xuyên rừng núi, mồ hôi pha trộn máu.
Về quê hương, nguyện lòng son chiến đấu
Nửa đường đi thành đêm tối lao tù.
Mười năm ôm hận nghìn thu
Lênh đênh chìm theo vận Nước.
Và hôm nay, vạn nẻo đường xuôi ngược
Con vẫn còn tiếp bước Cha Ông.

*

Bao nhiêu năm – Mẹ đã đau lòng
Nghe con khóc từ trùng dương sóng chuyển.
Huyền sử xưa năm mươi con theo Cha về biển
Giống Rồng Thiêng mở rộng cõi bờ.
Còn hôm nay vì hai tiếng Tự Do
Trăm ngàn thây vùi tan nơi vực thẳm.
Năm mươi con vượt rừng sâu muôn dặm
Theo Mẹ hiền – thơm nửa máu dòng Tiên.
Dựng quê hương hùng sử khắp ba miền
Nay Văn Hiến cằn khô cùng sỏi đá.
Những địa danh chôn xương tù gục ngã
Tên kinh hoàng, tủi nhục đến nghìn năm.
Hoàng Liên Sơn không nấm mộ con nằm
Cổng Trời nghe máu khóc.
Dã thú vờn quanh, xiềng gông, tang tóc,
Nghĩa “Con Người” thua chữ sắn khoai.

*

Bao nhiêu năm – em bán hình hài
Tìm miếng cơm manh áo.
Đại Hàn, Đài Loan, xông xáo
Mua em về làm món đồ chơi.
Năm nghìn năm dù nước lửa dầu sôi
Chưa bao giờ mẹ bán con vì đói.
Bầy trẻ thơ còm cõi
Bươi rác nghèo, rách rưới lang thang.
Nghe quanh mình loa vẫn thét “vinh quang”
Đường Tương Lai đá cũng tan thành lệ.

*

Bao nhiêu năm tưởng chào vui thế hệ
Ngẩng cao đầu, tay vói đến năm Châu.
Nhưng cội nguồn và đạo lý chìm sâu
Lo sáng tạo những đua đòi vật chất.
Mùi kim tiền thơm hơn bánh mật
Giấc mơ vàng : – mong thoát khỏi quê hương.
Thúy Kiều xưa, rơi sóng nước Tiền Đường
Nay viết lại thành Tiền Giang, phản động ! () Lũy tre xanh, cánh tay thần Phù Đổng Bao anh hùng dựng Nước thuở ban khai Còn lại đây hoang phế cả đền đài Tên Hùng Vương đành thua tên Bill Gates. ().
Túi càn khôn đã nghèo, thêm rỗng tuếch,
Văn Hóa này còn lại tiếng “bia ôm” !

*

Bao nhiêu năm – răng hổ đói đỏ ngòm
Luôn gầm thét, xé tươi hồn Dân Tộc.
Từ địa đạo ùn lên bao cơn lốc
Thành “đại gia” chễm chệ một phương trời.
Miệng “vô sản” toàn men rượu nồng hơi,
Tay “chuyên chính” ôm bao đầy châu báu.
Dinh thự nguy nga, dựng lên từ máu
Của nhân dân khổ hạnh một đời.
Người thương binh ngẩng mặt nhìn trời
Nghe tiếng khóc trong tiếng cười vang vọng.
Chiếc xe lăn bánh mòn, gãy gọng
Lê thân tàn về cuối hẻm đơn côi.

*

MẸ VIỆT NAM ơi
46 năm rồi, niềm đau quặn thắt.
Đã có bao người lửa lòng nguội tắt
Dĩ vãng quên rồi, hiu hắt tình Quê ?.
Lớp già nua mơ ước nẻo về
Không nhắm mắt, cuối đời lên tiếng nấc.
Còn tuổi trẻ hồn nhiên hoa mật
Nơi xứ người chấp nhận quê hương.

*

Nhưng một ngày mai :
Đường hoa nở hướng dương
Hành trình thôi cúi mặt.
Sẽ có những đàn con vòng tay siết chặt
Kéo mặt trời về lại phương Đông.
Tổ Quốc sẽ tươi hồng
Giữa hào quang Dân Tộc.
Cây Tự Do sẽ đâm chồi nẩy lộc
Lửa Nhân Quyền bừng sáng nẻo thâm u.
Mái trường vui thay thế chốn lao tù
Cho con học từ cội nguồn Nhân Bản.
Không kẻ nào được quyền mua bán\
Thịt da em, nguồn sống của Rồng Tiên.
Hồn Tổ Quốc linh thiêng
Đài cao về chiếm ngự.
Cuộc hành trình từ quê hương – viễn xứ –
Chuyển xoay thành trẩy hội hoa đăng.
Từ phương Nam tung vút cánh chim Bằng
Thành Rồng thiêng Đông Á.
Từ núi cao nghiêng mình ra biển cả
Rạng ngời soi hai chữ : VIỆT NAM.

*

Lời trần tình bao nhiêu năm
Con viết bằng tim máu.
Từ nỗi đau âm thầm chôn giấu
Kính dâng lên TỔ QUỐC hằng yêu.
Mỗi chữ-vần mong gói trọn một điều :
Từ Tâm Thức xin góp chung Hành Động.
Đại cuộc Toàn Dân ban con Lẽ Sống
Hiến dâng đời cho trọn nghĩa Quê Hương.
MẸ VIỆT NAM ơi
Dù gian lao xin tiếp máu Lên Đường
Cho con về với Mẹ.
Vững chân đi, qua trăm ngàn dâu bể
Được quỳ ôm từng mảnh đất quê Cha.
Phút cuối đời xin biến lệ thành hoa
Giữa triều vui Dân Tộc.
Trong lòng con : – Vĩnh hằng TỔ QUỐC
Huy hoàng Văn Hiến – Tự Do !.

VÕ ĐẠI TÔN.

Ghi chú :

  • Văn Học – Trong kỳ thi tốt nghiệp trung học tại Việt Nam năm 2004, qua đề tài bình luận về truyện Kiều của Nguyễn Du, đã có nhiều thí sinh nộp bài viết : Thúy Kiều vì buồn chuyện gia đình đã tự vận tại sông Tiền Giang, may nhờ một nữ cán bộ cộng sản vớt lên, cải tạo tư tưởng phản động, Thúy Kiều giác ngộ, xin được kết nạp vào dảng.
  • Lịch sử – Trong cuộc thăm dò ý kiến sinh viên các trường đại học ở Việt Nam về các vĩ nhân thế giới và dân tộc, đa số sinh viên đều tuyển chọn Bill Gates làm thần tượng số 1 của giới thanh niên hiện nay trong nước.

HỒN CA TRÊN BIỂN ĐÔNG

(Tưởng niệm Quốc Hận)

Kính dâng lên hương hồn hơn nửa triệu đồng bào đã tử nạn trên biển Đông, mong vượt thoát chế độ cộng sản VN, mưu tìm Tự Do sau cơn Quốc Nạn 30 tháng Tư Đen 1975.

                                   Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

 1.

Hồn ai đó ?

Chập chờn trên khói sóng

Dòng máu tươi theo nước chẳng hòa tan.

Hồn ai đó ?

Vạn tinh cầu chao bóng

Đảo ghềnh xa còn vọng tiếng kêu than.

Hãy về đây – trên sóng nước dâng tràn

Chung tiếng khóc nghẹn đau cùng Dân Tộc.

Hồn ai đó?

Đã lìa xa Tổ Quốc

Vẫn còn ôm sông núi xuống mồ hoang.

Tiếng oan khiên từ đáy vực còn vang

Hay chìm đắm giữa khơi ngàn sóng dữ ?

Mảnh thuyền tan, bập bềnh trôi viễn xứ

Biết về đâu ? Hồn phiêu bạt nơi đâu ?

Thân cá Hồi tan tác đã chìm sâu

Không tìm thấy lối quay về chốn cũ !

Giữa trùng khơi vang tiếng cười dã thú

Hải tặc giằng co thân xác – kinh hoàng.

Tiếng Mẹ kêu, dòng máu chảy đầy khoang

Tay vời níu đàn con run khiếp sợ.

Biển lạnh chiều hoang, trần gian nín thở,

Vòng tai ương kiếp nạn đến vô cùng.

Hồn ai đó ?

Bờ Tự Do bốn hướng, cõi mông lung

Tìm đâu thấy – giữa muôn trùng đen thẳm ?

Tiếng kêu “Trời!” trước phút giây chìm đắm

Biến tan vào giông bão, thét trùng dương.

Vực mồ sâu thịt rã máu còn vương

San hô trắng hay là xương ai trắng ?

Dòng tóc đen bám ghềnh xa hoang vắng

Thành rong rêu sẫm tím một màu tang.

Hồn ai đó ?

Chiếc thuyền Không Gian

Trôi về Vô Tận.

Bánh xe Thời Gian chuyển ngàn uất hận

Chập chờn mấy cõi U Minh.

Lịch Sử nghìn thu trang giấy rợn mình

Ghi chép lại phút kinh hoàng Vượt Biển !

2.

Hồn ai đó ?

Đảo hoang sơ, ai về đây khấn nguyện

Mộ bia tàn, ai thắp nén hương dâng ?

Nơi Ba-Đình vui chuốc rượu Vô Thần

Cười nghiêng ngả mừng reo hò chiến thắng !

Đồng ruộng phơi bày xương trắng

Oan khiên máu lệ thành sông.

Bao thây vùi trong sóng nước biển Đông

Còn sót lại mấy hoang tàn di tích ?

Hồn ai đó ?

Đảo xa xôi mộ phần cô tịch

Giấc ngủ chẳng bình an.

Họ còn theo, cố phá đập tan              

Để tô hồng chế độ :

• “Chủ nghĩa huy hoàng, không ai chối bỏ

Không có người vượt thoát để tồn sinh !!!”      (*CSVN tuyên truyền)

Nhưng bia đời như nắng rọi bình minh

Luôn soi rõ từng vết sâu tội ác

Của loài dã tâm với ngôn từ khoác lác

Đang tôn thờ chủ thuyết lai căng.

Hồn ai đó ?

Từ bao cõi vĩnh hằng

Xin về đây chứng kiến.

Tấm lòng chúng tôi, trọn đời Tâm Nguyện

Chí bền gan, xin vẹn Nghĩa Tình.

Dù ngăn cách Tử Sinh

Giữa hai bờ Nhật Nguyệt.

Dù có ai phá tan mộ huyệt

Đến nghìn sau hồn mãi còn đây.

Nhìn trùng khơi sóng nước dâng đầy

Gửi mơ về cố quốc.

Hồn vẫn sống trong lòng Dân Tộc

Vì hai chữ Tự Do.

Chiều GALANG bão tố sóng to

Hay tĩnh lặng trăng rơi thềm đá.

Sáng PINANG nắng xuyên rừng lá

Hay đêm vờn tiếng hát nhân ngư.

Hồn mãi còn đây, dù bia mộ hoang vu

Không tên tuổi – sá gì tên với tuổi !

Dù xác thân đã hòa chung cát bụi

Biển Đông còn – HỒN MÃI SỐNG THIÊN THU!

                                         VÕ ĐẠI TÔN (HOÀNG PHONG LINH)

CÁC ANH CÒN SỐNG MÃI …

(Viết nhân cuộc biểu tìnhngày Quốc Hận lần thứ 36 tại thủ đô Canberra, Úc Đại Lợi, trước tòa đại sứ cộng sản Việt Nam, do Cộng Đồng Người Việt Tự Do tổ chức. Kể từ năm Quốc Hận đầu tiên 30.4.1975 đến nay, đã có những Anh Hùng Nghĩa Sĩ Phục Quốc  bí mật hoạt động tại quốc nội, hoặc từ hải ngoại trở về,  và đã có những người hy sinh vì Quê Hương Dân Tộc,  trong lao tù, nơi pháp trường, hay trên đường về.  Xin kính dâng lên hương hồn Các Anh, với Tâm Nguyện tiếp nối cuộc hành trình của Các Anh một  thời dang dở…)

Võ Đại Tôn

Các Anh đã lên đường

Mấy mươi năm về trước.

Lòng quặn nhớ Quê Hương

Rừng sâu Anh tiến bước.

36 năm rồi, còn ai lội ngược

Dòng sông đời, tưởng nhớ các Anh đây ?

Sau Quốc Nạn, vượt thoát khỏi trùng vây,

Trên sóng nước mang Hồn Quê viễn xứ.

Đời lưu vong, cội nguồn luôn chiếm ngự

Tháng năm dài thao thức chuyện non sông.

Nhìn mây bay, ôm ấp mộng tang bồng

Hồn tượng đá thi gan cùng tuế nguyệt.

Bỏ lại sau lưng trời xứ người băng tuyết

Hay kinh thành hoa lệ chốn phồn vinh.

Đời tự do, sung túc cõi nhân sinh,

Anh trở lại – cùng Toàn Dân chiến đấu.

Nỗi đau riêng, nhìn đàn con yêu dấu,

Người vợ hiền lạc lỏng cảnh xa quê,

Anh lên đường, xuyên mấy nẻo quay về

Cùng Dân Tộc, mong cứu Người cứu Nước.

Bao triệu người ra đi, còn Các Anh về ngược

Vì Quê Hương, chân xẻ núi băng ngàn.

Niềm cô đơn gói trọn một hành trang

Dâng Tâm Nguyện lên Hồn Thiêng Tổ Quốc.

Rừng Hạ Lào lót đường gai góc

Đêm thâm u mưa lũ ngút ngàn.

Sương lạnh chiều hoang

Trăng mờ biên giới.

Đường Anh đi, nẻo xa vời vợi

Hành trang nghèo nhưng nặng nỗi thương Quê.

  • Phút sa cơ Anh vẫn vẹn câu thề

Xin gửi lại lòng son về Đất Mẹ.

Anh nằm xuống, nơi rừng hoang quạnh quẽ

Máu hoen mờ, cây lá phủ thân Anh.

  • Nơi pháp trường, Anh vẫn ngẩng đầu xanh

Mong Tổ Quốc nhận hồn Anh phút cuối.

  • Chốn tù lao, ngàn đêm ngày tăm tối

Anh âm thầm chôn giấu nỗi cô đơn

Vào đáy lòng, không cần khẩn van lơn,

Nuôi sức sống bằng lửa thiêng Sông Núi.

Chỉ xin nguyện làm Người không tên tuổi

Lót đường đi bao Thế Hệ ngày mai !.

                              *

                            *  *

36 năm dài

Trời Úc Châu hôm nay vào Thu lạnh

Thủ Đô người nắng hồng soi ngợp ánh

Cờ Vàng thiêng Tổ Quốc vẫn tung bay.

Bao người con đất Mẹ tụ về đây

Đòi Lẽ Sống, Nhân Quyền trong Tự Chủ

Cho Quê Hương, bị chìm sâu thác lũ

Mấy mươi năm do chế độ hung tàn.

Trời Trung Đông bừng dậy, vết dầu loang

Đòi nhân phẩm, chung thành cơn bão táp.

Bao triều đại độc tài xuôi tay ngã rạp

Trước cuồng phong uất hận của Lòng Dân.

Trời phương Nam rồi cũng sẽ dự phần

Cùng nhân loại thoát ra vòng sợ hải.

Hoa Cách Mạng dù mang tên đủ loại

Cũng đâu bằng Dân Tộc đóa hồi sinh.

Chúng tôi đây, chuyền ánh lửa bình minh

Về Đất Mẹ, cùng Toàn Dân đứng dậy.

Giữa rừng cờ, hôm nay tôi vẫn thấy

Các Anh về – chung tiếng thét loa vang.

Bước Anh đi từ thuở trước băng ngàn

Máu Anh đổ nơi rừng hoang biên giới.

Tiếng Anh thét trong xà lim tăm tối,

Nơi pháp trường Anh đã đứng hiên ngang.

Đang hiện về, trong ánh rợp Cờ Vàng

Chung góp sức cùng chúng tôi vững tiến.

Tôi đứng đây, khóc mừng trong hãnh diện

Biến đau thương ngày Quốc Hận hôm nay

Cùng triệu lòng xin nối tiếp bàn tay

Vung ngọn đuốc lửa thiêng về Đất Tổ.

Chung Lòng Dân, chuyển tang thương phẩn nộ

Thành cuồng phong phăng gốc rễ tham tàn.

Một mùa Xuân đầy ánh sáng vinh quang

Toàn Dân Tộc viết ngàn trang Sử mới.

Trên đỉnh trời, VIỆT NAM cao vời vợi

 Cùng nhân loài vui hạnh phúc ấm no.

Tạ ơn Anh, trong hàng ngũ Tự Do

Anh vẫn sống cùng thiên thu Tổ Quốc !.

Võ Đại Tôn

Canberra, thủ đô Úc Đại Lợi

CUỐI ĐƯỜNG MẸ ĐI

(Quê hương, những ngày di tản đầy máu và nước mắt,

trong tháng 4, 1975 – QUỐC HẬN)

Võ Đại Tôn

Mẹ già đi từ Cam Lộ

Nước mắt chảy mềm Gio Linh.

Gia tài không đầy đôi rổ,

Mẹ nhìn máu lửa Thần Kinh.

Đá đổ mồ hôi : Thạch Hãn

Chạy dài đến đỉnh Hải Vân.

Leo đèo, Mẹ như mê sảng,

Chân voi : sưng đôi bàn chân.

Mẹ đi giữa trời thiêu đốt

Thây con lớp lớp trải dài

Dọc theo con đường Số Một,

Nằm bên dăm củ sắn khoai.

Tam Kỳ chạy vô Quảng Ngãi

Bầy con đói khát bên đàng.

Biển người xô nhau, quằn quại,

Ngã dần… trong tiếng khóc than.

Mẹ vào Quy Nhơn, Phú Bổn,

Nhìn trời khói lửa Pleiku.

Đoạn đường mang tên Mười Bốn

Thành mồ hoang lạnh, thâm u.

Thây ai quàng manh chiếu rách,

Bàn tay nào vói trời cao ?

Ngập vùng tang thương Darlac,

Chân đi, Mẹ khóc nghẹn ngào.

Máu chảy lan dần mạch đất

Nha Trang chết vạn đàn con.

Vào Nam, sức già lây lất

Về đâu ? – Nẻo sống không còn !

Cần Thơ, Hà Tiên, Rạch Giá,

Mẹ lần đến mũi Quê Hương

Cà Mau nhìn ra biển cả

Tàn hơi, Mẹ chết bên đường !

Mẹ già đi từ Cam Lộ

Cuối đường, chết mũi Cà Mau.

Trọn đời sống trong đau khổ

Chết còn trông thấy khổ đau !…

Võ Đại Tôn (1975).

CON SẼ ĐƯA MẸ VỀ…

(Viết trong một  ngày biểu tình Quốc Hận… Trời mưa.)

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

Cụ bà gần 100 tuổi bên cạnh tác giả trong ngày biểu tình Quốc Hận tại thủ đô Canberra, Úc Đại Lợi. )

Hơn Bốn Mươi  vành khăn tang

Trên đầu tôi quấn chặt.

Lòng lính đau quặn thắt

Rụng xuống mặt trời đen.

Đâu phải kẻ ươn hèn

Sao đành buông súng , – khóc !

Đôi giày xưa bên vệ đường tang tóc

Đạp giấc ngủ từng đêm.

Màu áo trận dường như đã lãng quên

Vẫn bao trùm cơn mê thảng thốt.

Đời lưu vong tôi ôm hình Tổ Quốc

Máu chuyển về Quê, tiếng gọi Lên Đường.

Thủ Đô người, trời buốt lạnh mù sương

Tôi đứng cạnh Mẹ Già, rưng nước mắt.

Mẹ nghe không ? – Tiếng đàn con đang thét

Đòi lại Tư Do, Dân Chủ, Tình Người !

Xin Mẹ cho con, dù chỉ một nụ cười

Con cũng đủ vươn mình lên thẳng đứng.

Cho con ôm Mẹ để lòng con thêm vững

Chí bền gan, xuyên suốt hành trình.

Mẹ thấy không ? Trong gió lạnh run mình

Cờ Đại Nghĩa tay đàn con cao phất !

Mẹ nhìn con, ban thêm dòng hương mật

Chuyển Tình Thương, hơi ấm xuyên lòng.

Tuổi Mẹ già, ánh mắt chẳng còn trong

Nhưng con thấy vẫn nguyên dòng Lịch Sử.

Từ thuở ban khai, xuyên rừng sâu núi dữ

Mẹ dắt Con đi, vạn nẻo thăng trầm.

Cầm tay Con tô đậm nét Từ Tâm

Khuyên dựng Nước , trời Nam luôn Tự Chủ.

Nhưng giờ đây, như cuồng phong thác lũ

Trên quê hương bao tội ác tuôn dòng.

Mẹ lưng còng, đời bóng xế lưu vong

Đang đứng giữa đàn con trên xứ lạ.

Xin Mẹ yên lòng, ngày mai rồi hoa lá

Giữa Mùa Xuân Dân Tộc sẽ bừng hương.

Đàn Con đưa Mẹ về, dựng lại Tình Thương

Quỳ dâng Mẹ tháng ngày tươi sáng mới.

Đàn Con dìu Mẹ đi, nắng Xuân hồng phơi phới,

Mẹ-Con mình vui sống với Quê Hương !

Võ Đại Tôn.

VĂN TẾ TƯỞNG NIỆM HAI BÀ TRƯNG

Hôm nay, nhân ngày Tưởng Niệm Nhị Vị Trưng Vương,

Chúng con xin Thành Tâm Kính Lạy :

ANH LINH NHỊ VỊ TRƯNG NỮ VƯƠNG

CÙNG CÁC DANH THẦN, DƯƠNG TƯỚNG,

LIỆT NỮ, ANH HÙNG THẾ HỆ NHỊ TRƯNG

HIỂN LINH CHỨNG GIÁM

Đạo Sống ngàn đời còn sáng tỏ

Muôn Dân vạn thuở tạc công ơn.

Nhị Trưng vì Nước quên thân ngọc

Một dạ sắt son cùng núi sông.

Đất Nước Trời Nam, kết tụ tinh hoa hiển lộ Anh Thư, ngàn năm vằng vặc gương Liệt Nữ,

Non Sông Hồng Lạc, hun đúc gan vàng lẫy lừng Nhi Nữ, muôn đời sáng chói đức Trưng Vương.

Uy linh còn thắm đượm

Danh tiếng vẫn ngát hương.

Vượt thời gian, ân đức thấm nhuần đến cành cây ngọn cỏ

Ngoài vòng định lượng, công ơn ghi tạc cùng sử sách lưu phương.

Nhớ xưa NHỊ VỊ ĐẠI VƯƠNG

Sinh trưởng chốn nho phong nền nếp, vốn dòng lương tướng,

Chuyên nghề canh cửi nông trang, dáng ngọc thiên hương.

Nhưng không may gặp buổi

Đất nước lâm cơn quốc nạn

Đồng bào thảm họa tai ương.

Phường xâm lược chủ trương hưng Hán diệt Di, ưa đồng ghét dị,

Giặc Bắc phương bày nhiều quỷ kế mưu sâu, thủ đoạn khôn lường.

Khát máu tanh lòng, túi tham không đáy, chúng vơ vét sạch sành sơn trạch,

Lòng lang dạ sói, mạnh được yếu thua, giặc san bằng lãnh thổ biên cương.

Bắt cống nạp sừng tê đá quý

Bày dâng hiến trai ngọc đinh hương.

Hãm hại nhân tài anh kiệt

Dập vùi ân đức hiền lương.

Tàn mạt đến côn trùng cây cỏ

Đảo lộn cả luân lý cương thường.

Căm giặc nước, sôi gan tím mật,

Hận thù nhà, lòng quặn đau thương.

Bởi vậy cho nên NHỊ VỊ phải

Liễu yếu đào tơ ra oai tỳ hổ, giục toàn dân giải thù cho Nước,

Khăn tang mài kiếm tỏ dạ kiên trinh, Chị cùng Em rửa hận cho chồng.

Chiêng trống vang rền, giục giã quân dân tướng sĩ quyết vùng lên trừ bạo,

Tuốt gươm vung dáo, quản bao máu lửa hiểm nguy thề tận diệt bạo cường.

Nhi Nữ mà yên cương rong ruổi, tỏ lộ gan vàng dạ sắt,

Anh Thư song gươm dáo xông pha, phô bày chí khí phi thường.

Sáu mươi ngả tiến quân, đánh tan tành giặc Hán,

Trăm nẻo đường vây kín, hãm thái thú họ Tô.

Trời PHONG CHÂU phất phới ngọn cờ tự chủ

Thành MÊ LINH rạng ngời nền bá nghiệp vương.

Ba năm GIAO CHÂU thịnh trị

Ngàn đời ÂU LẠC lưu phương.

Nào ngờ nước Nam chưa qua vận bể dâu

Giặc Hán chưa buông tham vọng

MÃ VIỆN vội vã lên đường.

Móng nền tự chủ còn non yếu

Khó ngăn bầy lang sói điên cuồng.

Tự cổ kim thịnh suy mấy độ

Trường đấu tranh thắng bại lẽ thường.

Tận trung với Nước, dòng SÔNG HÁT sóng gào, thương tiếc Anh Thư tuẩn tiết,

Hết dạ thương Dân, đất MÊ LINH rung chuyển, thấm ơn Liệt Nữ TRƯNG VƯƠNG.

Hơn một ngàn năm Ngài hằng linh hiển cứu Dân độ Nước,

Trải muôn vạn đời, toàn dân thành kính hương khói miếu đường.

Cột Đồng MÃ VIỆN tịch mịch, vùi sâu trong cát bụi,

Sóng xanh SÔNG HÁT uy linh, tỏa sáng khắp muôn phương.

Nước biếc non xanh phơi phới ân sâu nghĩa nặng,

Trời cao đất rộng lồng lộng uy đức Anh Hùng.

Chúng Con nay

Nhân ngày Thánh hóa

Dâng nén Tâm Hương

Hướng lòng tưởng niệm.

Ghi tạc Công Ơn

Cúi xin phù trợ

Cho Con Dân thoát đọa đày tan tác

Cho Đất Nước sớm Dân Chủ Phú Cường !

Uống nước nhớ nguồn

Nhân ngày Giỗ Thánh

Chúng con kính cẩn

Dâng tấc lòng thành.

THƯỢNG HƯỞNG !

********

                        (Võ Đại Tôn cúi đầu chấp bút)




Tháng Tư Về

phut tuong niem final.jpg

Phút Tưởng Niệm Ba Mươi Tháng Tư!

Hôm Nay:

-Bằng giây phút này, 46 năm về trước, Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, đang thở những phút giây cuối cùng, vĩnh biệt tự do, dân chủ, no ấm trên 20 năm!

-Trước giây phút hấp hối, hành trình đi vào cõi chết, bắt đầu với cuộc Triệt thoái Cao Nguyên, quân dân di tản, kẹt cứng trên Tỉnh Lộ 7B, Cộng Sản pháo kích vào đoàn người di tản, hàng ngàn người chết, Tỉnh Lộ 7B đi vào lịch sử với tên mới: Tỉnh Lộ Máu!

-Bằng giây phút này, các tỉnh Miền Trung đã thất thủ, quân dân chạy về phía Nam, Cộng sản đuổi theo bắn giết, xác phơi như cá hộp trên Đại Lộ Kinh Hoàng, trên Đèo Hải Vân, các cửa biển Miền Trung.

-Bằng giây phút này, hàng trăm người Lính VNCH, dùng súng bắn vào đầu mình, trái tim mình, hay dùng lựu đạn nổ tan thân xác, vì không chịu nổi cái nhục đầu hàng, và Kẻ Ác đã thắng cuộc chiến!

-Bằng giây phút này, hàng trăn ngàn người Con Đất Việt, phải rời nơi “chôn nhau cắt rốn,” bỏ Nước ra đi. Sau đó hàng Triệu người, hàng trăm ngàn người đã lấy đại dương làm mồ chôn, trên đường chạy trốn độc tài Cộng Sản.

Xin cúi đầu, nghiêng mình, thắp nén nhang tưởng niệm, những cái chết trong ngày tang thương, đen tối nhất trong lịch sử của Người Dân Việt.

Ngày nào còn Cộng Sản cai trị trên Quê Hương, mãi mãi vẫn là ngày đau thương, Ngày Quốc Hận!

Có chết cũng không quên!

30/4/2021

LVHải

qyuoc han final copy.jpg
tien biet.jpg



BỐ THƯƠNG YÊU của LINH & THANH-THANH

Inline image



Tháng Tư Về

            Nhìn lịch giật mình, ngày tháng trôi nhanh quá, mới đó đã đến tháng tư đen. Từ khi bị dịch Vũ Hán tôi không được đi dự ngày buồn 30 tháng Tư năm 2020, năm nay với tình hình này chắc ban tổ chức cũng khó thực hiện. Dù vậy nhưng ký ức tôi sống dậy mãnh liệt những ngày tháng ấy …

   Khắc Khoải      

Đến tháng tư đen nhắc nhở rồi

Gương nhìn quá khứ trở về thôi

Ai đi tù ngục sâu rừng núi

Kẻ trốn ghe thuyền đắm biển khơi

Tê tái chia tay buồn thấm cảnh

Xót xa giã biệt khổ đeo người

Bao nhiêu chuyện tủi sầu non nước

Trăn trở đêm dài thả mộng trôi

                   MTTN

Còn nhớ năm 2019 …Chị Phương Hoa và tôi đi xem cuốn phim “30 Tháng 4 Năm Đó Bác Ở Đâu” do đài Dân Sinh và hội IRC phối hợp tổ chức.

Phim tài liệu ghép lại với các hình ảnh sưu tầm từ những phút cuối tháng Tư năm 1975…Nhìn ngày cuối các anh lính vẫn ôm súng ở nhiều địa phương, chung sức chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, áo rách sờn vai, mặt mày hoang mang như chim lạc tổ… Cảnh chiếu tiếp những người tù lao động trong rừng núi, trong trại, thân hình tiều tuỵ, nét mặt buồn xo khắc khổ…Tiếng thuyết minh nhắc nhở về những vị anh hùng Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Nguyễn Văn Long, Hồ Ngọc Cẩn … Không khí lắng đọng, hình như mọi người đang xúc động tâm tư, đang khóc với hình ảnh đau thương đất nước miền Nam ngày cuối 30 tháng 4 năm 1975.

Sau buổi chiếu phim, nhân chứng sống là Trung uý Lê Ngọc Danh, Tùy viên Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam (Tư lệnh Quân đoàn 4 vùng 4 Chiến thuật), người đã sát cánh bên tướng Nam, lên có đôi lời kể về những giờ phút cuối của vị Tướng anh dũng này. Ông kể trong nỗi xúc động nghẹn ngào…

            Chiều cuối tướng Nam đi vào Quân y viện thăm anh em thương phế binh, các anh em khóc nói “Thiếu Tướng đừng bỏ chúng tôi“.

Ông an ủi vỗ về:

– Tôi không bỏ, tôi ở lại với anh em …

Trở về tư thất, ông thắp 3 nén hương trước bàn Phật, sau đó người Tùy viên nghe tiếng súng nổ……….

Để kết thúc buổi chiếu phim, người xướng ngôn viên nêu lên câu hỏi:

“30 tháng Tư ngày ấy bác, anh ở đâu? chị ở đâu?….

Ra về lòng tôi nặng trĩu… Bốn mấy năm trôi qua, cuộc sống đã thay đổi, nhưng những người dân miền Nam khó thể quên chuyện ngày ấy. Tiếng Trung uý Lê Ngọc Danh kể về vị anh hùng Nguyễn Khoa Nam vẫn vang trong đầu cho đến giờ phút này. Đêm trăn trở, tôi thức dậy tràn nghiên theo thi hoạ:

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam

Thiếu Tướng hiên ngang ở lại thành

Quân hoài quý mến lớp đàn anh

Giờ cùng ước nguyện còn thơm tiếng

Phút chót câu thề mãi sáng danh

Nước mất buồn đau tìm lối tử

Nhà lìa khổ nhục thoát đường sanh

Can trường súng nổ ngàn thu biệt

Họ Nguyễn Khoa Nam sử sách dành

Minh Thuý Thành Nội

            Giờ phút cuối nghe đài thông báo năm nay (2021) buổi tưởng niệm sẽ tổ chức tại khu Century thuộc thành phố San Jose do Bác Sĩ Phạm Đức Vượng đảm trách. Tôi thấy lòng phấn khởi như máu chảy về nguồn, cùng tâm trạng của những kẻ lưu vong tìm về tổ ấm tưởng nhớ đến ngày Quốc Hận cho vơi bớt nỗi niềm buồn tủi.

***

Hôm nay ngày 25 tháng 4 năm 2021. Buổi sáng trời âm u không có nắng, mây đen từng vùng. Đến nơi đã thấy hàng cờ vàng nối dọc ngoài đường story. Các hội đoàn tề tựu chuẩn bị mọi thứ. Đúng 11 giờ buổi lễ bắt đầu, tôi thấy có sự hiện diện của Thị Trưởng thành phố Westminster Tạ Đức Trí và luật sư Nguyễn Quốc Lân từ Nam Cali lên tham dự. Chương trình bắt đầu buổi lễ chào Quốc Kỳ Mỹ, Việt Nam. Mỗi lần được hát bản Quốc Ca VN thì kỷ niệm ùa về những buổi sáng thứ hai trong sân trường, cả lớp được đứng hát trước cột cờ, ngày xưa hát với tâm trạng bình thản vô tư, bây giờ hát nhưng tim đập mạnh…, nửa vui vì được hát và nửa như se thắt con tim. Kế tiếp lễ dâng hương Tổ Quốc và Lễ tưởng niệm các vị anh hùng “Sinh vi Tướng, Tử vi Thần” đã tuẫn tiết trong những ngày mất nước. Đèn hương nghi ngút vinh danh các anh hùng vị quốc vong thân, đúng là “Anh Hùng tử, khí hùng bất tử”.

   Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng

   Bình Long trận đánh diễn oai hùng,

   Quyết dẹp quân thù núp ẩn bưng.

   Nếm mật, bùn dơ cùng rắn rít,

   Nằm gai muỗi độc với sâu rừng.

   Yên bề trở lại dân chào đón,

   Vững bước quay lui vợ tủi mừng.

   Nước loạn, nhà tan thề tuẫn tiết,

   Anh hùng đáng phục Tướng Lê Hưng.

                                               MTTN

Thiếu Tướng Phạm Văn Phú

Tướng Phạm Phú gương đầu

Uống liều thuốc tử mau

Anh hùng lời hậu thế

Dũng khí tiếng đời sau

Tỵ nạn ông tràn hận

Lưu vong bạn ngập sầu

Bàn vong người tuẫn tiết

Tưởng niệm nỗi buồn đau

                MTTN

Chuẩn Tướng Trần Văn Hai

Chiến sự nguy nàn cảnh bỏ đi

Lời mời tổng thống chẳng ngờ nghi

Sư đoàn bảy bộ binh tư lệnh

Chuẩn Tướng Trần Hai vẫn đảm vì

Ngày cuối tháng tư đất nước tan

Hai mươi viên thuốc quyết không hàng

Đồng Tâm căn cứ nơi làm việc

Cái chết uy nghi đã chuẩn dàn

                 MTTN

Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ

Tử thủ vùng Lai Khê phút cuối

Anh Hùng chẳng sợ đuổi đoàn quân

Bữa cơm măng vịt tình thân

Là giờ phút cuối nghĩa ân trọn kề

Viên đạn súng Colt thề quyết giữ

Can trường “Vị Quốc Tử Theo Thành”

Bởi đau đất nước tan tành

Xem thường cái chết sử sanh nhắc hoài

Quốc hận tháng Tư đài tưởng niệm

Bàn di ảnh khói điểm làn hương

Lòng dân đau xót mến thương

Âm thầm giọt lệ kính tương ngày buồn

                              MTTN

        Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn

   Tổ quốc mang ơn lịch sử bù

   Anh Hùng Hồ Ngọc Cẩn bao thu

   Hăng say quyết tử gìn quân đội

   Nhiệt huyết can trường giữ chiến khu

   Ngạo nghễ hiên ngang khi nhốt ngục

   Oai nghi thách thức lúc giam tù

   Bị đem xử bắn không nao núng

   Điểm mặt la to bọn giặc thù

                            MTTN

    Trung Tá Nguyễn Long Cảnh Sát

   Nhớ buổi đau lòng chuyện bảy lăm

   Tháng tư phút cuối phận con tằm

   Anh hùng mạnh dạn nào lo hãi

   Tướng tá can trường khó dọa hăm

    Chẳng đợi quân thù hành đạn súng

    Đâu chờ bọn giặc xử dao găm

    Nguyễn Long Cảnh Sát không nao dạ

    Tuẫn tiết hiên ngang dáng thẳng nằm

                                   MTTN

            Nhìn di ảnh tôi thấy lạnh toàn thân khi nghe đọc tiểu sử các vị đã tìm cách chết hiên ngang quyết không đầu hàng quân giặc. Mọi người đứng yên chờ đến phiên mình để được thắp cây nhan với tất cả lòng thành kính xúc động. Đang lúc làm lễ trời đổ cơn mưa như nhỏ lệ dùm niềm đau của những người con xa xứ, lưu lạc khắp nơi đã về đây,  cùng chung tâm trạng của kẻ mất nước với nỗi buồn dấy động mạnh lên mỗi khi tháng tư về. Tiếp tục chương trình các vị đại diện trong guồng máy chính quyền, đại diện các đoàn thể lên có đôi lời …..về ngày 30 tháng Tư “. 

        Phần văn nghệ với những bài hùng ca như “Việt Nam Tôi Đâu” (Việt Khang), “Đáp Lời Sông Núi” (Trúc Hồ), “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” (Nguyễn Đức Quang) v…v…Đến bài hát “Tấm Thẻ Bài” (Huyền Anh)

Sau cuộc chiến này còn chi không anh?

Còn chi không anh?

Hay chỉ còn lại tấm thẻ bài

Đang lạnh lùng trên tay em

Giọt máu nào là của Mẹ

Niềm tin nào là của em

Ôi trên tấm thẻ bài này

Tấm thẻ bài này, đã từng

Ấp ủ tất cả giấc mộng yêu đương

Mộng yêu đương không bao giờ đến

Không bao giờ đến nữa vì anh

Không còn mang tấm thẻ bài

Trở về bên em ….

Lời nhạc làm hồn tôi miên man hồi tưởng về quá khứ, hình ảnh những anh lính Việt Nam Cộng Hòa hiện rõ, những người lính Thương Phế Binh, những chiếc xe cứu thương chạy vào Quân Y Viện trong Mang Cá hàng ngày trên đường Đinh Bộ Lĩnh, những hình ảnh cô nhi quả phụ đội khăn tang đầy các phố, những thước phim tài liệu chiếu lính đi hành quân ngâm nửa người dưới nước băng rừng lội suối, hay những lúc hành quân trở về với tấm thân tàn ma dại… Tại sao đã có hiệp định Geneva 1954 chia đôi đất nước mà miền Bắc cứ muốn xâm lấn miền Nam? trong khi các anh lính chiến miền Nam chỉ đánh giặc để tự vệ, bảo vệ làng mạc thôn xóm, lo cho người dân an ổn sinh sống trong thanh bình…Càng nghĩ mắt tôi càng mờ dần thấm thía với bản nhạc “Tấm Thẻ Bài”.

Thương Người Chiến Sĩ VNCH

Cộng Hoà anh lính thuở xa xưa

Hình ảnh oai phong kể mấy vừa

Chiến tích quay về ngang ruộng rẫy

Hành quân ngừng nghỉ dưới cây dừa

Chiều thu đã thắm tình chia sẻ

Phố hạ chưa phai cảnh đón đưa

Áo trận sờn vai đời gió bụi

Thương người đội nắng với dầm mưa

                                    MTTN

Buổi lễ kết thúc vào lúc 3 giờ chiều, bước ra xe lòng tôi nhẹ nhõm bớt phần nào sự buồn rầu, vì được gặp gỡ đồng hương, cùng ngồi lại với nhau dưới bóng cờ vàng, những tấm lòng cùng chung cảnh ngộ, cùng đau chung cho vận mệnh của đất nước, tuy không nói nhưng đã được chia sẻ thật nhiều bằng ánh mắt. Nơi đâu có dân tỵ nạn là nơi đó có ngọn Cờ Vàng, cờ chính nghĩa bay phất phới trong gió, cờ trong tim ấp ủ nỗi niềm hy vọng, và cũng sưởi ấm biết bao nhiêu cho những người con đã lưu lạc mất quê hương …

Tháng Tư Tưởng Niệm

Tháng Tư cúi mặt ngậm ngùi

Bao nhiêu ký ức đẩy lùi đau thương

Tỏ lòng kính cẩn nén hương

Anh hùng khí tử nặng vương lòng người

Tháng Tư đã tắt nụ cười

Bởi giặc miền Bắc lấn trời phương Nam

Hung tàn cướp bóc gian tham

Đọa đầy mọi chốn dân oan thảm sầu

Tháng Tư súng bắn vào đầu

Can trường các vị Tướng câu “tử thành”

Lê Hưng, Nguyên Vỹ quyết hành

Khoa Nam, Ngọc Cẩn thanh danh bỏ mình

Tháng Tư Phạm Phú quyên sinh

Trần Văn Hai cũng chọn vinh quyết thề

Nguyễn Long đã chết giờ kề

Trầm ngâm nhớ lại quặn tê nỗi buồn

Tháng Tư máu nóng dâng cuồng

Tháng Tư khắc khoải lệ tuôn mắt mờ

                                    MTTN

Ngày Buồn

Quốc hận tháng Tư nỗi nhục buồn

Dù trời đổ lệ giọt mưa tuôn

Đồng môn hải ngoại lòng đau uất

Bạn hữu lưu vong máu hận cuồng

Tướng dũng khuôn dung, nào khuất phục

Người hùng di ảnh, chẳng hàng buông

Bàn hương khói tỏa người thành kính

Tỵ nạn Cờ Vàng giữ vững luôn

                                    MTTN

Dù bệnh dịch vẫn chưa chấm dứt, mọi người đi dự đều mang khẩu trang, trời mưa gió lạnh nhưng tinh thần người Việt ở hải ngoại thật mạnh mẽ, ban tổ chức chung góp bàn tay chuẩn bị thời gian dài vất vả. Chúng tôi vô cùng biết ơn ban tổ chức của Bắc Cali.

Minh Thúy (Thành Nội)

 Mùa Quốc Hận 2021

                                                                       




Ngày Quốc Hận 30-4-2006: Khánh Thành Bia Đá Vinh Danh VNCH và Đồng Minh tại Hawaii (phần 2)