CON LÀ CON MÈO TRẠNG QUỲNH CỦA MẠ
Con Là Con Mèo Trạng Quỳnh Của Mạ
Mạ sinh con đang lúc nhà nghèo khó
Một phần cơm, khoai sắn độn hai phần
Thuở ấu thời, mắm cà cùng muối đậu
Con đã quen ngon miệng món nhà bần.
Lúc mớ rạm ngoài đồng đem ram muối
Muà nước lên con bống thệ kho khô
Những chột nưa mạ nấu cùng tí ruốc
Rau tập tàng vị ngọt những ngày thơ.
Đọi rau khoai ngọt ngào con tôm đất
Hũ tép chua có những lát măng vòi
Bánh tráng nướng còn thơm mùi mít trộn
Những món quen con vẫn nhớ trọn đời.
Ngày mưa bão, trên mâm thường trứng luộc
Trưa mùa hè, nước rau muống thay canh
Chút dưa, muối cũng vội vàng xong bữa
Sao mạ hay – ngồi ăn cuối một mình.
Con là con mèo Trạng Quỳnh cuả mạ
Đã phận quen ăn những món ăn nghèo
Trước những mâm đầy sơn hào hải vị
Con dửng dưng như đứa trẻ quen chiều.
Giờ con đã xa nửa vòng trái đất
Biết khi mô mới trở gót quay về
Trên bếp lưả chụm rơm chiều khói tỏa
Con cá cơm mạ nấu bữa canh me.
Cho ấm áp thêm cuộc đời trống lạnh
Hạnh phúc này xoa diụ tấm lòng con
Khi hơi toả thơm ngát mùi gạo mới
Trên tay con, miếng cơm cháy thơm dòn.
Con, đứa trẻ lạc loài trên xứ lạ
Đang quay cuồng theo cơm áo, ngựa xe
Mà thương mạ vẫn thường hay tựa cửa
Bên mâm cơm, vắng bóng đứa con về.
Huy Phương
Mama, I Am Your Self-Contented Cat
You gave birth to me while being destitute:
Potato or cassava doubling rice each meal to suit.
Salted egg-plants and peanuts since childhood,
I had got accustomed to the poor people’s food.
The crabs from the paddy-fields that you fried,
The goby from inundation that you cooked dried,
The chunks of taro you prepared with rousong,
The sundry veg…, that with my youth got along.
The sweet potato buds, with prawns as spices,
The soured shrimps, with bamboo shoot slices,
The grilled pancakes smelling jackfruit, thyme,
The familiar dishes… I remember all my lifetime.
On stormy days, on the salver were boiled eggs;
In summer, water spinach for broth without dregs;
A bit of pickle was enough for a quick repast…
But you Mama always remained alone the last.
Regals are rich, their cats have delicacies to try;
I was Mama’s cat, only meagre dishes did satisfy.
So content with my lot that feasts I did not enjoy,
Indifferent, seeming kittle as a too coshered boy.
Well, now that I have been a hemisphere away,
I do not know when I will come back and stay
There, on the straw fire under smoke you stoop
To cook with anchovies the eve tamarind soup.
So that warmth is added to my empty existence:
Such bliss will appease my heart in this distance,
With the cooking smelling the new harvest rice,
And for me a crisp piece of burned rice as a price.
As a lost young child lonely in a strange land,
Being whirled along means of living’s demand,
I feel so anxious for Mama against the door-case
Or by the food tray always longing to see my face.
Translation by Thanh-Thanh
(thơ song ngữ) CON LÀ CON MÈO TRẠNG QUỲNH CỦA MẠ của HUY PHƯƠNG & THANH-THANH

Mùa Xuân Và Thi Nhân Video Phần 3
Chiều Hội Ngộ VTLV 5-16-2011
Chân Thành Cảm Tạ
Quý Niên Trưởng, Quý anh Chị trong Gia Đình Văn Thơ Lạc Việt.
Đã tham dự, góp tay, để Buổi Chiều Hội Ngộ 2021, đã Thành công Tốt đẹp, hơn cả những gì mong ước!
Buổi tiệc tuy đơn sơ, nhưng lại đạt được những ưu điểm hiếm có sau:
-Mở đầu cho một sinh hoạt văn nghệ, tụ tập đông người, sau hơm một năm bị cấm đoán.
-Quy tụ những Nhà văn, Thi sĩ thành danh, lão thành cũng như trẻ tuổi, nhiều nhất tại Bắc Cali.
-Nhiều Tác giả ra mắt Tác phẩm nhiều nhất!
-Không khí văn nghệ, yêu thương hiếm có.
Để có được kết quả tốt đẹp này, là nhờ sự góp sức của tất cả Quý Anh Chị, nhất là Anh Chinh Nguyên.
Thật vui, hạnh phúc được cộng tác, làm việc với tất cả Quý vị, lúc nào cũng yêu thương nhau như tình trong Gia đình.
Một lần nữa, xin được gởi lời cảm tạ chân thành, với cả Trái tim! Cám ơn! cám ơn nhiều…nhiều…thật…nhiều!
LVHải
Đêm Trong Tù
Cánh cửa tù đóng lại, ngày đã tắt
Những kiếp người ray rứt sống trong tù
Từ bên trong ta nhìn qua khung sắt
Ánh trăng đêm, làn sương trắng xa mù.
Đêm rùng rợn ta thấy toàn bóng qủi
Qủi giam người, loài qỉu đỏ, ma trơi
Chúng lấp ló dưới trời đêm trăng tỏ
Canh giữ tù, rình rập uống máu người.
Ta tỉnh thức giữa tha ma mộ địa
Nghe âm vang, đau buốt lóng xương gầy
Tám năm qua, chừng ấy là vô tận
Chừng ấy thời gian, gẫy cánh chim bay.
Quen với cõi trời, không còn nắng mai
Trời sáng mà sao, đêm vẫn nối dài
Tuổi ta đã quá nửa đời sương gió
Sao vẫn còn thêm, mảnh vụn tù đày.
AET Lê Tuấn
Nỗi đau buồn đã trải qua tám năm tù đày
Dưới chế độ cộng sản
Mùa Xuân Trong Tù
Một dải đường xa, xa rất xa
Sâu thẳm rừng hoang bóng sương mù
Xuân chợt đến, quặn đau nỗi nhớ
Kiếp thân tù, tàn giấc thiên thu.
Ta tưởng thời gian bị lãng quên
Nào ngờ hoa nở nhắc ngày xuân
Tám năm cạn lòng thương sông núi
Một nhánh hoa xuân, nhắc tình gần.
Tết này, còn mang nặng kiếp tù
Ngắm hoa buồn tựa như lá thu
Hạt bụi mưa xuân, đọng trên mắt
Nghe tiếng thở than, bóng sương mù.
Mẹ vẫn chờ mong Tết con về
Nào ngờ, vạn dặm bóng sơn khê
Chợt nghĩ mà đau lòng nỗi nhớ
Mắt mẹ buồn đau giọt lệ mờ.
Anh vẫn chưa về Tết năm nay
Em buồn như mùa thu lá bay
Ngọn gió xuân tình hiu hắt thổi
Cánh nhạn trời xuân, tung cánh bay.
Nghe tiếng thời gian, thèm nỗi nhớ
Nhan sắc mùa xuân đã úa tàn
Nhớ thương nhau tìm trong giấc mộng
Mùa xuân về, hoa lá trên ngàn.
AET. Lê Tuấn
Mùa xuân trong tù
Tại miền trung bắc việt
Bà Huyện Thanh Quan – VTLV Mạn Đàm Phần 5
Mùa Xuân Và Thi Nhân – VTLV Hội Thoại Phần 1
Cha mẹ già và con cái

*Lời rào trước
“Biết rồi ! Khổ lắm ! Nói mãi!”
(“Số Đỏ” – Vũ Trọng Phụng)
Mới đây không lâu tôi nhìn thấy bảng số xe sau một xe nhà đòn (Người Mỹ họ gọi xe chở quan tài là “Hearse”- A vehicle for conveying the coffin at a funeral – Ở Việt Nam người ta gọi đùa xe tang là “Xe Hoa có 8 thằng lơ!”) đọc như sau:
“U2” (You too! – Có nghĩa là “Sắp tới phiên Bạn!”)
Thật vậy, tính sổ ra thì các sư phụ, sư mẫu hay chính bản thân quý vị và tôi cũng không là ngọai lệ (“no Exception to the Rule”).
Để chuẩn bị tinh thần cho cái “Chapter 7” (*) và trong khi chờ đợi, xin mời đọc thêm bài này cho biết mà… nản…
* Nên biết: “Chapter 7” là giai đoạn cuối dẹp tiệm vĩnh viễn sau khi đã khai khánh tận (“Chapter 11”) và đáo hạn rồi mà vẫn không thể có cơ may nào phục hồi nổi!!!)
Thân mến,
Trần Văn Giang
*
Ông Chu Dung Cơ, Cựu Thủ tướng Trung Cộng từ năm 1998 đến năm 2003, nói về mối liên hệ giữa cha mẹ già và con cái như sau:
“Cha mẹ thương con là vô hạn, con thương cha mẹ là có hạn. Con bệnh cha mẹ buồn lo. Cha mẹ bệnh con đến nhòm một cái, hỏi vài câu thấy là đủ. Con tiêu tiền của cha mẹ thoải mái, cha mẹ tiêu tiền của con chẳng dễ chút nào. Nhà của cha mẹ là của con. Nhà của con không phải là nhà của cha mẹ. Khi ốm đau cha mẹ già trông cậy vào ai? Nếu chẳng may ốm đau dai dẳng hiếm thấy có đứa con hiếu nào ở bên giường? (‘cứu bệnh sàng tiền vô hiếu tử?’”
Rồi ông gởi lời khuyên đối với các bậc cha mẹ là:
“Khác nhau là như vậy! Người hiểu đời coi việc lo cho con là nghĩa vụ, là niềm vui không mong báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình. Mặc dù cũng có nhiều con cái có hiếu nuôi cha mẹ.”
Theo sách “Luận Ngữ,” khi Tử Du hỏi về chữ Hiếu, Khổng Tử đáp:
“Chữ Hiếu bây giờ được hiểu là có thể nuôi dưỡng cha mẹ. Nhưng ngay cả chó và ngựa cũng đều phải nuôi dưỡng. Nếu thiếu đi sự kính trọng, thì sao có thể phân biệt hai việc đó đây.”
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.”
Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Một người thợ hớt tóc cho tôi biết về con cái của ông ta. Cả hai đứa con đều có nhà riêng, cùng ở trong quận Cam, nhưng không mấy khi chúng điện thoại hỏi thăm ông? Tháng trước, ông bệnh nặng, nằm nhà một tuần lễ mà cũng chẳng đứa con nào ghé qua thăm. Ông nói thêm:
“Chỉ trừ lúc nào chúng cần nhờ đến ông việc gì đó thì chúng nó ghé qua hay gọi điện thoại thôi…”
Ông buồn bã kết luận:
“Ở Mỹ này, có đến chín đứa con, nhưng cha mẹ già bệnh thì cũng phải vào ‘nursing home’ thôi!”
“Nursing home” ở Âu Mỹ, mang tiếng là văn minh, hiện đại nhưng liệu rằng đây có phải là nơi yên ổn cho những ngày cuối cùng của tuổi già không? Tại các viện dưỡng lão trên đất Mỹ mỗi năm có hàng chục nghìn trường hợp khiếu nại vì cách đối xử của nhân viên như bỏ bê, đánh đập; để người già đại tiểu tiện, ói mửa mà không dọn dẹp, không cho uống nước; xâm phạm tình dục; tệ hại nhất là đối với những bệnh nhân “Alzheimer.”
Năm ngoái, phúc trình của Bộ Y Tế tiểu bang Minnesota cho thấy chỉ trong vòng 5 tháng đã có 15 trường hợp bệnh nhân mất trí nhớ bị hành hạ, trong đó có những vụ như bị chọc ghẹo liên tục, bị nhổ nước bọt vào mặt, bị bóp ngực hay hạ bộ. Phải chăng nhà dưỡng lão, chặng cuối đời của người già là chốn địa ngục có thật trên trần gian như thế!
Vậy thì con cái có hiếu tâm, xin cầu nguyện cho các đấng sinh thành sớm ra đi trước khi họ trở thành những người mất trí lú lẫn, nằm suốt ngày một chỗ, tiêu tiểu không kiểm soát được. Thấy cha mẹ lớn tuổi mà còn minh mẫn, mạnh khỏe nên mừng, mà thấy cha mẹ ra đi nhẹ nhàng, trước khi phải chịu những cảnh đau lòng của tuổi già lại càng mừng hơn.
Tuy vậy, rất nhiều gia đình người Việt trên xứ người có được niềm an ủi là họ có những đứa con Việt Nam; nhất là những đứa con của một gia đình nghèo, lớn lên trong chiến tranh và thông cảm được nỗi thiệt thòi bất hạnh của cha mẹ mình.
Lời đón sau
“Be nice to your children because they are the ones who will choose your nursing home(s).”
– Steven Wright
Trần Văn Giang
.
Bài hát NẮNG CHIỀU qua tiếng Tàu (3 dialects), Nhật và Việt.
Qua tiếng Tàu (3 dialects), Nhật và Việt
Bài hát NẮNG CHIỀU của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn
NẮNG CHIỀU là tên một ca khúc của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, được sáng tác năm 1952. Bài hát không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà còn nổi tiếng ở Nhật Bản, Đài Loan và Hồng Kông. Tại các nước nói tiếng Hoa, bài hát được biết đến với tên 越南情歌 (Việt Nam tình ca) hay 南海情歌 (Nam hải tình ca) do Thận Chi (慎芝) đặt lời.
Trong một lần phỏng vấn, Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã nói: “Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành… Tâm sự tôi trong bài Nắng chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 5 năm 1945, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!”
Năm 1957, Lê Trọng Nguyễn vào Sài Gòn. Ðúng dịp đoàn ca nhạc Nhật Bản sang thăm, ban nhạc Toho Geino có nhờ người chọn ra 12 bản nhạc Việt Nam đang nổi tiếng thời đó để chuẩn bị tập dượt và trình diễn tại Sài Gòn lẫn Nhật Bản, trong đó có bản “Nắng Chiều” và bản này đã được cô ca sỹ nhật Midori Satsuki hát. Năm 1960 Kỹ Lộ Hà 紀露霞, một ca sỹ người Đài Loan, cô yêu mến bản Nắng Chiều nên viết sang lời Hoa ngữ và phổ biến bản này sang Ðài Loan bằng lời ca tiếng Phúc Kiến, sau đó được nữ nghệ nhân Thận Chi 慎芝 (Khưu Tuyết Mai 邱雪梅) viết lại lời bằng âm Quan Thoại phổ biến ở Hồng Kông và các nơi khác. Nhờ những may mắn đó mà Nắng Chiều cứ thế được biết tới tại các nước ở vùng Đông Nam Á và sau năm 1975 lại theo người Việt và người Việt gốc Hoa đi khắp thế giới như hiện nay.
Nhớ lại khoảng thập niên 1960 của thế kỷ trước, hội Văn Hóa Hoa Việt ở vùng Quận 5 Chợ Lớn có cho phổ biến một tập nhạc Việt đã được dịch ra lời Hoa để cho con em người Hoa có thể hát nhạc Việt được. Tập nhạc này chỉ được in dưới hình thức “quay ronéo” nên không được phổ biến rộng rãi. Tôi còn nhớ trong đó các bản nhạc như “Ai Về Quê Tôi”(Tiến Đạt) Mạnh Phát, “Ngày Trở Về” của Phạm Duy, “Lúa Mùa Duyên Thắm”, “Trăng Soi Duyên Lành”, “Lối Về Xóm Nhỏ” của Trịnh Hưng, “Về Dưới Mái Nhà” của Xuân Tiên, Y Vân, “Duyên Kiếp” của Lam Phương… và tôi thích nhất là bài “NẮNG CHIỀU” của Lê Trọng Nguyễn với lời tiếng Hoa thật hay, không biết là một nhân sĩ nào đó đã dịch thật tài tình, vừa sát nghĩa với lời Việt của Lê Trọng Nguyễn lại vừa có tính cách văn chương và nhất là vừa hợp với các âm giai lên xuống của bản nhạc khi hát không bị gượng ép chút nào cả ! Lời ca rất tự nhiên nên thơ như được sáng tác bằng tiếng Hoa nguyên gốc vậy ! Và cũng vì thế mà cho đến nay, hơn 60 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ như in lời ca mượt mà gợi cảm đó. Xin được chép lại dưới đây để người Việt gốc Hoa nào đó thích bản nhạc “NẮNG CHIỀU” cùng hát cho vui (Nhớ là hát bằng âm “Quan Thoại”, chữ có màu đỏ bên dưới, chớ không phải âm Việt Hán):
夕陽 TỊCH DƯƠNG là Nắng Chiều xi yáng 回到渡頭夕陽斜照, Hồi đáo độ đầu, tịch dương tà chiếu, Huí dào dù tóu, xi yáng xié zhào. (Qua bên nước xưa là hoa về chiều) 金光疏落花葉飄搖。 Kim quang sơ lạc, hoa diệp phiêu diêu. Jin guang shu luò hua yè piao yao.(Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa) 來到村莊舉步徬徨, Lai đáo thôn trang, cử bộ bàng hoàng, Lái dào cun zhuang, ju bù páng huáng.(Khi đến cuối thôn chân bước không hồn) 多麼懷念舊時人兒。 Đa ma hoài niệm, cựu thời nhân nhi. Duo me huái niàn, jìu shí rén ér. (Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ)
* Từ phần hai của lời ca, sẽ bỏ đi phần phiên âm Việt Hán cho khỏi rườm rà !
記得妹妹身材稍廋, Anh nhớ trước đây dáng em gầy gầy, Jì dé meì meì shen cái shao sou, 柔和望我雙眸閃爍。 Dịu dàng nhìn anh đôi mắt long lanh. Róu hé wàng wo shuang móu shan shuo. 記得當年妳過庭前, Anh nhớ bước em khi nắng vương thềm, Jì dé dang nián ni guò tíng qián, 粉頰緋紅秀髮輕飄。 Má em mầu ngà tóc thề nhẹ vương. Fen xia fei hóng xiù fa qing piao.
– 我回來過庭前,想起誓言,心冰冷,Nay anh về qua sân nắng, chạnh nhớ câu thề, tim tái tê,Wo huí lai guò tíng qián, xiang qi shì yán, xin bing leng, 不知如今,情妹呀,移戀何方? Chẳng biết bây giờ người em gái,duyên ghé về đâu?Bù zhi rú jin, qíng meì ya, yí liàn hé fang?
– 我回來桑田黃,山歌對答,不再唱,Nay anh về nương dâu úa, giọng hát câu hò, thôi hết đưaWo húi lai sang tián huáng, shan ge dùi dá, bù zài cháng, 苗條俏影,紫花前,往何處尋? Hình bóng yêu kiều kề hoa tím biết đâu mà tìm?miáo tiáo qiào jing, zi hua qián, wảng hé chù xún?
沉痛記起竹蔭底下, Anh nhớ xót xa dưới tre lá ngà, Chén tòng jì qi, zhù yin di xià, 含愁望我妳說”愛我”。 Gợn buồn nhìn anh em nói “mến anh !”. Hán chóu wàng wo, ni shuo “ai wo” 白雲浮飄夕陽殘照, Mây lướt thướt trôi khi nắng vương đồi, Bái yún fú piao, xi yáng cán zhào, 想妳柔情晚霞留停! Nhớ em dịu hiền nắng chiều ngừng trôi ! Xiang ni róu qíng, wan xía líu tíng!
Mặc dù một số từ được dịch thoát ý, không có “mot à mot” hay “word by word” gì cả, nhưng đã lột tả được hết ý của tác giả muốn gởi gấm trong lời ca.
Dưới đây là lời ca bằng tiếng Phước Kiến (tiếng nói thông dụng ở Đài Loan) với giọng hát của ca sĩ Kỷ Lộ Hà như đã nói ở phần trên :
Còn dưới đây là … Ca sĩ Hoàng Thanh Nguyên của Tân Gia Ba hát bài Nắng Chiều ( Tình Ca Việt Nam) với lời ca viết lại như sau :
黃清元 越南情歌
黃清元 越南情歌
黃清元 越南情歌 Hoàng Thanh Nguyên hát VIỆT NAM TÌNH CA (Nắng Chiều) 我又來到湄公河邊,晚風依舊吹動河面, Tôi lại trở về bên bờ dòng Mê-Kông, Gió chiều vẫn thổi lay động mặt sông. 那樣美麗那樣迷戀,情人己離去多年。 Sông đẹp là thế, mơ màng là thế, nhưng người yêu thì đã rời xa nhiều năm rồi.
我又來到舊日河邊,晚霞嬌艷吻著河面, Tôi lại trở về bên bến sông xưa, ráng chiều đẹp đẽ như hôn lấy mặt sông .那樣美麗那樣迷戀,情人己失去多年。 Sông đẹp là thế mơ màng là thế, nhưng người yêu cũ đã đi mất bao năm rồi.
Điệp khúc…
往事一幕幕回到我眼前, Chuyện xưa cứ lần lượt hiện ra trước mắt tôi. 是夢景令人常懷念,夢景令人懷念。 Là mộng ảo dễ khiến người tiếc nuối, mộng ảo nên khiến người tiếc nuối. 何日夢境再回到我眼前, Không biết đến ngày nào cảnh mộng lại trở thành hiện thực trước mắt, 是真情令人長留戀,真情令人懷念。 Thật dễ làm cho người ta lưu luyến mãi, làm cho người ta tiếc thương mãi . 我又來到湄公河邊,晚風依舊吹動河面, (Lời của phần sau giống như lời của phần đầu.那樣美麗那樣迷戀,情人己失去多年。 Những phần trên đây chỉ dịch nghĩa của lời viết lại bằng tiếng Hoa,我又來到湄公河邊,晚風依舊吹動河面, không phải là LỜI CA, nên không thể hát được ). 那樣美麗那樣迷戀,情人己失去多年。
Còn sau đây là lời HOA của bản nhạc NẮNG CHIỀU của Lê Trọng Nguyễn với tựa đề là :VIỆT NAM TÌNH CA do nữ nghệ nhân Thận Chi viết lời (Thận Chi tên thật là Khưu Tuyết Mai 邱雪梅, bà đã cùng chồng là Quan Hoa Thạch 關華石 tổ chức đại nhạc hội “Quần Tinh Hội” ở Đài Loan suốt gần 3 thập niên 1950-1980)
作詞:慎芝 Viết lời : Thận Chi
作曲:越南民歌 Nhạc : Việt Nam Tình Ca
編曲:陳志遠 Hòa âm : Trần Chí Viễn
我又來到昔日海邊 Tôi lại trở về bờ biển của ngày xưa,
海風依舊吹皺海面 Gió biển vẫn làm cho mặt biển gợn sóng như xưa.
那樣熟悉 那樣依戀 Thân thương là thế, quyến luyến là thế,
只有舊日人兒不見 Chỉ có người xưa là không còn gặp lại.
不敢來到昔日海邊 Tôi không dám trở lại bờ biển của ngày xưa,
海霞嬌艷擁著海面 Nắng chiều thật đẹp như ôm ấp lấy mặt biển.
那樣熟悉 那樣依戀 Thân thương là thế luyến lưu là thế,
只有故人離去多年 Chỉ có cố nhân là đã biền biệt nhiều năm rồi ! ĐK那往事 一幕幕到我眼前 Chuyện xưa từng lớp từng lớp một như hiện ra trước mắt tôi,
是夢境還是幻想 令人常懷念 Là mơ hay là ảo tưởng, đều khiến cho người ta luyến nhớ.
那夢境 何日能回到眼前 Những chuyện mộng mơ, ngày nào mới thành hiện thực trước mắt.
你又在我的身邊 無限情纏綿 Em lại đến bên tôi với muôn vàn quyến luyến.
不敢來到昔日海邊 Giống như lời trên
海霞嬌艷擁著海面
那樣熟悉 那樣依戀
只有故人離去多年 ĐK
那往事 一幕幕到我眼前
是夢境還是幻想 令人常懷念
那夢境 何日能回到眼前
你又在我的身邊 無限情纏綿
不敢來到昔日海邊 Giống như lời trên
海霞嬌艷擁著海面
那樣熟悉 那樣依戀
只有故人離去多年
越南情歌 – Nắng Chiều Bài hát nầy hát giống như lời trên đây.
Còn dưới đây là bài hát Nắng Chiều của ca sĩ Dương Yến, lời hát đúng với bản nhạc chép tay của ĐCĐ kèm theo bên dưới và cũng đúng với những tập nhạc xuất bản ở Đài Loan được bày bán trên các dĩa hè của Quận 5 Chợ Lớn trong thập niên 60 -70 của thế kỷ trước.
【Official Audio】楊燕 – 越南情歌 Dương Yến – Việt Nam Tình Ca

Cuối cùng mời tất cả cùng nghe NẮNG CHIỀU của Lê Trọng Nguyễn với tiếng Nhật Bản:
Đỗ Chiêu Đức (sưu tầm trên mạng)
TẠ ƠN MẸ
TẠ ƠN MẸ
(Viết thay lời những người con gốc Việt
gửi đến các bà mẹ Hoa Kỳ đã dày công dưỡng dục)
Tạ ơn Mẹ, người không cùng huyết thống
Tóc mẹ vàng, da mẹ trắng như mây
Mẹ vớt con từ vực thẳm lưu đày
Nuôi con lớn bằng tình thương máu mủ
Tạ ơn Mẹ vì con mà lam lũ
Ngày qua ngày trong xưởng máy, nhà kho
Làm thêm giờ cho con được ấm no
Đêm lại thức dạy con từng tiếng Mỹ
Khác ngôn ngữ như ngăn thành, cách lũy
Mẹ dỗ con bằng ánh mắt, vòng tay
Mẹ gốc Âu, con gốc Á, khổ thay
Con là nợ, vì đâu mà mẹ gánh!
Mẹ biết con từ quê hương bất hạnh
Có lũ người hung ác tựa sài lang
Nuốt miền Nam bằng nanh vuốt bạo tàn
Đưa cả nước trở lại thời trung cổ
Cũng từ đó con như chim mất tổ
Tuổi còn thơ đã bỏ mẹ, lìa cha
Xuống thuyền đi trong nước mắt nhạt nhòa
Đem tính mạng gửi trên đầu ngọn sóng
Nhờ ơn Mẹ như trời cao biển rộng
Con mới còn sống sót đến ngày nay
Được nên người trên đất nước thứ hai
Niềm hãnh diện cho cả hai dân tộc
Trong hồn con mẹ rạng ngời ánh đuốc
Sáng bập bùng soi mỗi bước con đi
Lời Mẹ hiền con sẽ mãi còn ghi:
“Là dân Mỹ, nhưng đừng quên gốc Việt!”
Dâng lên Mẹ đóa hồng tươi thắm thiết
Chứa tình con từng cánh đỏ yêu thương
Mai con về quì hôn đất quê hương
Càng nhớ đến ngàn công ơn của Mẹ.
VŨ ĐÌNH TRƯỜNG
THANK YOU, MOTHER!
(To American adoptive mothers who heartily fostered children of Vietnamese origin)
Thank you, my white-skinned golden-haired mother
Who are not of the same bloodline as me or the other
But you fished me out of the abyss a refugee errant,
Adopted and fostered me with the love of a parent.
Thank you for having taken such painstaking jobs
Days after days in warehouses and workshops,
Toiled and moiled extra hours to make me undeterred,
And stayed up late to teach me each English word.
Pushing language difference as a bad barrier aside,
You soothed me with your look warm and arms wide.
You are an Westerner and I an Easterner, how rare,
I was such a heavy debt, you volunteered to bear!
You knew well that I came from that unhappy land
Where there were many a ferocious and fiendish band
Who invaded the South and confined people to cages,
Brought the whole nation back to the Middle Ages.
Since then I had become a nestless nestling in qualm
In childhood to leave Dad and separate from Mom,
I got into the fleeing boat with hot tears dripping wet
Risking my life entrusted to wave crests full of threat.
Thanks to your high-sky and vast-ocean love, my fay,
That I could survive until I can achieve success today
And become a dignified human in this second home,
A pride for both our peoples under the azure dome.
You are so shining in my soul the glittering torchlight
To enlighten each of my steps scintillating in the night.
Your virtuous advice I will always remember of course:
“Be American but don’t forget your Vietnamese source!”
I respectfully offer you this fresh gorgeous bright rose
Suffused with my affection in each red petal to enclose.
On my repatriation kneeling to kiss my native soil soon
I will bear in mind thousandfold your precious boon.
Translation by THANH-THANH
Trang Thơ Võ Đại Tôn
46 TẾT LƯU VONG/QUỐC HẬN
(LỜI DÂNG LÊN MẸ VIỆT NAM)
MẸ VIỆT NAM ơi
46 năm rồi
Áo con đã rách.
Còn sợi chỉ nào, từ nguồn thiêng huyết mạch
Cho con xin, vá lại áo Đời.
Con đã đi, đường gai góc mòn hơi
Xuyên rừng núi, mồ hôi pha trộn máu.
Về quê hương, nguyện lòng son chiến đấu
Nửa đường đi thành đêm tối lao tù.
Mười năm ôm hận nghìn thu
Lênh đênh chìm theo vận Nước.
Và hôm nay, vạn nẻo đường xuôi ngược
Con vẫn còn tiếp bước Cha Ông.
*
Bao nhiêu năm – Mẹ đã đau lòng
Nghe con khóc từ trùng dương sóng chuyển.
Huyền sử xưa năm mươi con theo Cha về biển
Giống Rồng Thiêng mở rộng cõi bờ.
Còn hôm nay vì hai tiếng Tự Do
Trăm ngàn thây vùi tan nơi vực thẳm.
Năm mươi con vượt rừng sâu muôn dặm
Theo Mẹ hiền – thơm nửa máu dòng Tiên.
Dựng quê hương hùng sử khắp ba miền
Nay Văn Hiến cằn khô cùng sỏi đá.
Những địa danh chôn xương tù gục ngã
Tên kinh hoàng, tủi nhục đến nghìn năm.
Hoàng Liên Sơn không nấm mộ con nằm
Cổng Trời nghe máu khóc.
Dã thú vờn quanh, xiềng gông, tang tóc,
Nghĩa “Con Người” thua chữ sắn khoai.
*
Bao nhiêu năm – em bán hình hài
Tìm miếng cơm manh áo.
Đại Hàn, Đài Loan, xông xáo
Mua em về làm món đồ chơi.
Năm nghìn năm dù nước lửa dầu sôi
Chưa bao giờ mẹ bán con vì đói.
Bầy trẻ thơ còm cõi
Bươi rác nghèo, rách rưới lang thang.
Nghe quanh mình loa vẫn thét “vinh quang”
Đường Tương Lai đá cũng tan thành lệ.
*
Bao nhiêu năm tưởng chào vui thế hệ
Ngẩng cao đầu, tay vói đến năm Châu.
Nhưng cội nguồn và đạo lý chìm sâu
Lo sáng tạo những đua đòi vật chất.
Mùi kim tiền thơm hơn bánh mật
Giấc mơ vàng : – mong thoát khỏi quê hương.
Thúy Kiều xưa, rơi sóng nước Tiền Đường
Nay viết lại thành Tiền Giang, phản động ! () Lũy tre xanh, cánh tay thần Phù Đổng Bao anh hùng dựng Nước thuở ban khai Còn lại đây hoang phế cả đền đài Tên Hùng Vương đành thua tên Bill Gates. ().
Túi càn khôn đã nghèo, thêm rỗng tuếch,
Văn Hóa này còn lại tiếng “bia ôm” !
*
Bao nhiêu năm – răng hổ đói đỏ ngòm
Luôn gầm thét, xé tươi hồn Dân Tộc.
Từ địa đạo ùn lên bao cơn lốc
Thành “đại gia” chễm chệ một phương trời.
Miệng “vô sản” toàn men rượu nồng hơi,
Tay “chuyên chính” ôm bao đầy châu báu.
Dinh thự nguy nga, dựng lên từ máu
Của nhân dân khổ hạnh một đời.
Người thương binh ngẩng mặt nhìn trời
Nghe tiếng khóc trong tiếng cười vang vọng.
Chiếc xe lăn bánh mòn, gãy gọng
Lê thân tàn về cuối hẻm đơn côi.
*
MẸ VIỆT NAM ơi
46 năm rồi, niềm đau quặn thắt.
Đã có bao người lửa lòng nguội tắt
Dĩ vãng quên rồi, hiu hắt tình Quê ?.
Lớp già nua mơ ước nẻo về
Không nhắm mắt, cuối đời lên tiếng nấc.
Còn tuổi trẻ hồn nhiên hoa mật
Nơi xứ người chấp nhận quê hương.
*
Nhưng một ngày mai :
Đường hoa nở hướng dương
Hành trình thôi cúi mặt.
Sẽ có những đàn con vòng tay siết chặt
Kéo mặt trời về lại phương Đông.
Tổ Quốc sẽ tươi hồng
Giữa hào quang Dân Tộc.
Cây Tự Do sẽ đâm chồi nẩy lộc
Lửa Nhân Quyền bừng sáng nẻo thâm u.
Mái trường vui thay thế chốn lao tù
Cho con học từ cội nguồn Nhân Bản.
Không kẻ nào được quyền mua bán\
Thịt da em, nguồn sống của Rồng Tiên.
Hồn Tổ Quốc linh thiêng
Đài cao về chiếm ngự.
Cuộc hành trình từ quê hương – viễn xứ –
Chuyển xoay thành trẩy hội hoa đăng.
Từ phương Nam tung vút cánh chim Bằng
Thành Rồng thiêng Đông Á.
Từ núi cao nghiêng mình ra biển cả
Rạng ngời soi hai chữ : VIỆT NAM.
*
Lời trần tình bao nhiêu năm
Con viết bằng tim máu.
Từ nỗi đau âm thầm chôn giấu
Kính dâng lên TỔ QUỐC hằng yêu.
Mỗi chữ-vần mong gói trọn một điều :
Từ Tâm Thức xin góp chung Hành Động.
Đại cuộc Toàn Dân ban con Lẽ Sống
Hiến dâng đời cho trọn nghĩa Quê Hương.
MẸ VIỆT NAM ơi
Dù gian lao xin tiếp máu Lên Đường
Cho con về với Mẹ.
Vững chân đi, qua trăm ngàn dâu bể
Được quỳ ôm từng mảnh đất quê Cha.
Phút cuối đời xin biến lệ thành hoa
Giữa triều vui Dân Tộc.
Trong lòng con : – Vĩnh hằng TỔ QUỐC
Huy hoàng Văn Hiến – Tự Do !.
VÕ ĐẠI TÔN.
Ghi chú :
- Văn Học – Trong kỳ thi tốt nghiệp trung học tại Việt Nam năm 2004, qua đề tài bình luận về truyện Kiều của Nguyễn Du, đã có nhiều thí sinh nộp bài viết : Thúy Kiều vì buồn chuyện gia đình đã tự vận tại sông Tiền Giang, may nhờ một nữ cán bộ cộng sản vớt lên, cải tạo tư tưởng phản động, Thúy Kiều giác ngộ, xin được kết nạp vào dảng.
- Lịch sử – Trong cuộc thăm dò ý kiến sinh viên các trường đại học ở Việt Nam về các vĩ nhân thế giới và dân tộc, đa số sinh viên đều tuyển chọn Bill Gates làm thần tượng số 1 của giới thanh niên hiện nay trong nước.
HỒN CA TRÊN BIỂN ĐÔNG
(Tưởng niệm Quốc Hận)
Kính dâng lên hương hồn hơn nửa triệu đồng bào đã tử nạn trên biển Đông, mong vượt thoát chế độ cộng sản VN, mưu tìm Tự Do sau cơn Quốc Nạn 30 tháng Tư Đen 1975.
Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
1.
Hồn ai đó ?
Chập chờn trên khói sóng
Dòng máu tươi theo nước chẳng hòa tan.
Hồn ai đó ?
Vạn tinh cầu chao bóng
Đảo ghềnh xa còn vọng tiếng kêu than.
Hãy về đây – trên sóng nước dâng tràn
Chung tiếng khóc nghẹn đau cùng Dân Tộc.
Hồn ai đó?
Đã lìa xa Tổ Quốc
Vẫn còn ôm sông núi xuống mồ hoang.
Tiếng oan khiên từ đáy vực còn vang
Hay chìm đắm giữa khơi ngàn sóng dữ ?
Mảnh thuyền tan, bập bềnh trôi viễn xứ
Biết về đâu ? Hồn phiêu bạt nơi đâu ?
Thân cá Hồi tan tác đã chìm sâu
Không tìm thấy lối quay về chốn cũ !
Giữa trùng khơi vang tiếng cười dã thú
Hải tặc giằng co thân xác – kinh hoàng.
Tiếng Mẹ kêu, dòng máu chảy đầy khoang
Tay vời níu đàn con run khiếp sợ.
Biển lạnh chiều hoang, trần gian nín thở,
Vòng tai ương kiếp nạn đến vô cùng.
Hồn ai đó ?
Bờ Tự Do bốn hướng, cõi mông lung
Tìm đâu thấy – giữa muôn trùng đen thẳm ?
Tiếng kêu “Trời!” trước phút giây chìm đắm
Biến tan vào giông bão, thét trùng dương.
Vực mồ sâu thịt rã máu còn vương
San hô trắng hay là xương ai trắng ?
Dòng tóc đen bám ghềnh xa hoang vắng
Thành rong rêu sẫm tím một màu tang.
Hồn ai đó ?
Chiếc thuyền Không Gian
Trôi về Vô Tận.
Bánh xe Thời Gian chuyển ngàn uất hận
Chập chờn mấy cõi U Minh.
Lịch Sử nghìn thu trang giấy rợn mình
Ghi chép lại phút kinh hoàng Vượt Biển !
2.
Hồn ai đó ?
Đảo hoang sơ, ai về đây khấn nguyện
Mộ bia tàn, ai thắp nén hương dâng ?
Nơi Ba-Đình vui chuốc rượu Vô Thần
Cười nghiêng ngả mừng reo hò chiến thắng !
Đồng ruộng phơi bày xương trắng
Oan khiên máu lệ thành sông.
Bao thây vùi trong sóng nước biển Đông
Còn sót lại mấy hoang tàn di tích ?
Hồn ai đó ?
Đảo xa xôi mộ phần cô tịch
Giấc ngủ chẳng bình an.
Họ còn theo, cố phá đập tan
Để tô hồng chế độ :
• “Chủ nghĩa huy hoàng, không ai chối bỏ
Không có người vượt thoát để tồn sinh !!!” (*CSVN tuyên truyền)
Nhưng bia đời như nắng rọi bình minh
Luôn soi rõ từng vết sâu tội ác
Của loài dã tâm với ngôn từ khoác lác
Đang tôn thờ chủ thuyết lai căng.
Hồn ai đó ?
Từ bao cõi vĩnh hằng
Xin về đây chứng kiến.
Tấm lòng chúng tôi, trọn đời Tâm Nguyện
Chí bền gan, xin vẹn Nghĩa Tình.
Dù ngăn cách Tử Sinh
Giữa hai bờ Nhật Nguyệt.
Dù có ai phá tan mộ huyệt
Đến nghìn sau hồn mãi còn đây.
Nhìn trùng khơi sóng nước dâng đầy
Gửi mơ về cố quốc.
Hồn vẫn sống trong lòng Dân Tộc
Vì hai chữ Tự Do.
Chiều GALANG bão tố sóng to
Hay tĩnh lặng trăng rơi thềm đá.
Sáng PINANG nắng xuyên rừng lá
Hay đêm vờn tiếng hát nhân ngư.
Hồn mãi còn đây, dù bia mộ hoang vu
Không tên tuổi – sá gì tên với tuổi !
Dù xác thân đã hòa chung cát bụi
Biển Đông còn – HỒN MÃI SỐNG THIÊN THU!
VÕ ĐẠI TÔN (HOÀNG PHONG LINH)
CÁC ANH CÒN SỐNG MÃI …
(Viết nhân cuộc biểu tìnhngày Quốc Hận lần thứ 36 tại thủ đô Canberra, Úc Đại Lợi, trước tòa đại sứ cộng sản Việt Nam, do Cộng Đồng Người Việt Tự Do tổ chức. Kể từ năm Quốc Hận đầu tiên 30.4.1975 đến nay, đã có những Anh Hùng Nghĩa Sĩ Phục Quốc bí mật hoạt động tại quốc nội, hoặc từ hải ngoại trở về, và đã có những người hy sinh vì Quê Hương Dân Tộc, trong lao tù, nơi pháp trường, hay trên đường về. Xin kính dâng lên hương hồn Các Anh, với Tâm Nguyện tiếp nối cuộc hành trình của Các Anh một thời dang dở…)
Võ Đại Tôn
Các Anh đã lên đường
Mấy mươi năm về trước.
Lòng quặn nhớ Quê Hương
Rừng sâu Anh tiến bước.
36 năm rồi, còn ai lội ngược
Dòng sông đời, tưởng nhớ các Anh đây ?
Sau Quốc Nạn, vượt thoát khỏi trùng vây,
Trên sóng nước mang Hồn Quê viễn xứ.
Đời lưu vong, cội nguồn luôn chiếm ngự
Tháng năm dài thao thức chuyện non sông.
Nhìn mây bay, ôm ấp mộng tang bồng
Hồn tượng đá thi gan cùng tuế nguyệt.
Bỏ lại sau lưng trời xứ người băng tuyết
Hay kinh thành hoa lệ chốn phồn vinh.
Đời tự do, sung túc cõi nhân sinh,
Anh trở lại – cùng Toàn Dân chiến đấu.
Nỗi đau riêng, nhìn đàn con yêu dấu,
Người vợ hiền lạc lỏng cảnh xa quê,
Anh lên đường, xuyên mấy nẻo quay về
Cùng Dân Tộc, mong cứu Người cứu Nước.
Bao triệu người ra đi, còn Các Anh về ngược
Vì Quê Hương, chân xẻ núi băng ngàn.
Niềm cô đơn gói trọn một hành trang
Dâng Tâm Nguyện lên Hồn Thiêng Tổ Quốc.
Rừng Hạ Lào lót đường gai góc
Đêm thâm u mưa lũ ngút ngàn.
Sương lạnh chiều hoang
Trăng mờ biên giới.
Đường Anh đi, nẻo xa vời vợi
Hành trang nghèo nhưng nặng nỗi thương Quê.
- Phút sa cơ Anh vẫn vẹn câu thề
Xin gửi lại lòng son về Đất Mẹ.
Anh nằm xuống, nơi rừng hoang quạnh quẽ
Máu hoen mờ, cây lá phủ thân Anh.
- Nơi pháp trường, Anh vẫn ngẩng đầu xanh
Mong Tổ Quốc nhận hồn Anh phút cuối.
- Chốn tù lao, ngàn đêm ngày tăm tối
Anh âm thầm chôn giấu nỗi cô đơn
Vào đáy lòng, không cần khẩn van lơn,
Nuôi sức sống bằng lửa thiêng Sông Núi.
Chỉ xin nguyện làm Người không tên tuổi
Lót đường đi bao Thế Hệ ngày mai !.
*
* *
36 năm dài
Trời Úc Châu hôm nay vào Thu lạnh
Thủ Đô người nắng hồng soi ngợp ánh
Cờ Vàng thiêng Tổ Quốc vẫn tung bay.
Bao người con đất Mẹ tụ về đây
Đòi Lẽ Sống, Nhân Quyền trong Tự Chủ
Cho Quê Hương, bị chìm sâu thác lũ
Mấy mươi năm do chế độ hung tàn.
Trời Trung Đông bừng dậy, vết dầu loang
Đòi nhân phẩm, chung thành cơn bão táp.
Bao triều đại độc tài xuôi tay ngã rạp
Trước cuồng phong uất hận của Lòng Dân.
Trời phương Nam rồi cũng sẽ dự phần
Cùng nhân loại thoát ra vòng sợ hải.
Hoa Cách Mạng dù mang tên đủ loại
Cũng đâu bằng Dân Tộc đóa hồi sinh.
Chúng tôi đây, chuyền ánh lửa bình minh
Về Đất Mẹ, cùng Toàn Dân đứng dậy.
Giữa rừng cờ, hôm nay tôi vẫn thấy
Các Anh về – chung tiếng thét loa vang.
Bước Anh đi từ thuở trước băng ngàn
Máu Anh đổ nơi rừng hoang biên giới.
Tiếng Anh thét trong xà lim tăm tối,
Nơi pháp trường Anh đã đứng hiên ngang.
Đang hiện về, trong ánh rợp Cờ Vàng
Chung góp sức cùng chúng tôi vững tiến.
Tôi đứng đây, khóc mừng trong hãnh diện
Biến đau thương ngày Quốc Hận hôm nay
Cùng triệu lòng xin nối tiếp bàn tay
Vung ngọn đuốc lửa thiêng về Đất Tổ.
Chung Lòng Dân, chuyển tang thương phẩn nộ
Thành cuồng phong phăng gốc rễ tham tàn.
Một mùa Xuân đầy ánh sáng vinh quang
Toàn Dân Tộc viết ngàn trang Sử mới.
Trên đỉnh trời, VIỆT NAM cao vời vợi
Cùng nhân loài vui hạnh phúc ấm no.
Tạ ơn Anh, trong hàng ngũ Tự Do
Anh vẫn sống cùng thiên thu Tổ Quốc !.
Võ Đại Tôn
Canberra, thủ đô Úc Đại Lợi

CUỐI ĐƯỜNG MẸ ĐI
(Quê hương, những ngày di tản đầy máu và nước mắt,
trong tháng 4, 1975 – QUỐC HẬN)
Võ Đại Tôn
Mẹ già đi từ Cam Lộ
Nước mắt chảy mềm Gio Linh.
Gia tài không đầy đôi rổ,
Mẹ nhìn máu lửa Thần Kinh.
Đá đổ mồ hôi : Thạch Hãn
Chạy dài đến đỉnh Hải Vân.
Leo đèo, Mẹ như mê sảng,
Chân voi : sưng đôi bàn chân.
Mẹ đi giữa trời thiêu đốt
Thây con lớp lớp trải dài
Dọc theo con đường Số Một,
Nằm bên dăm củ sắn khoai.
Tam Kỳ chạy vô Quảng Ngãi
Bầy con đói khát bên đàng.
Biển người xô nhau, quằn quại,
Ngã dần… trong tiếng khóc than.
Mẹ vào Quy Nhơn, Phú Bổn,
Nhìn trời khói lửa Pleiku.
Đoạn đường mang tên Mười Bốn
Thành mồ hoang lạnh, thâm u.
Thây ai quàng manh chiếu rách,
Bàn tay nào vói trời cao ?
Ngập vùng tang thương Darlac,
Chân đi, Mẹ khóc nghẹn ngào.
Máu chảy lan dần mạch đất
Nha Trang chết vạn đàn con.
Vào Nam, sức già lây lất
Về đâu ? – Nẻo sống không còn !
Cần Thơ, Hà Tiên, Rạch Giá,
Mẹ lần đến mũi Quê Hương
Cà Mau nhìn ra biển cả
Tàn hơi, Mẹ chết bên đường !
Mẹ già đi từ Cam Lộ
Cuối đường, chết mũi Cà Mau.
Trọn đời sống trong đau khổ
Chết còn trông thấy khổ đau !…
Võ Đại Tôn (1975).
CON SẼ ĐƯA MẸ VỀ…
(Viết trong một ngày biểu tình Quốc Hận… Trời mưa.)
Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

Cụ bà gần 100 tuổi bên cạnh tác giả trong ngày biểu tình Quốc Hận tại thủ đô Canberra, Úc Đại Lợi. )
Hơn Bốn Mươi vành khăn tang
Trên đầu tôi quấn chặt.
Lòng lính đau quặn thắt
Rụng xuống mặt trời đen.
Đâu phải kẻ ươn hèn
Sao đành buông súng , – khóc !
Đôi giày xưa bên vệ đường tang tóc
Đạp giấc ngủ từng đêm.
Màu áo trận dường như đã lãng quên
Vẫn bao trùm cơn mê thảng thốt.
Đời lưu vong tôi ôm hình Tổ Quốc
Máu chuyển về Quê, tiếng gọi Lên Đường.
Thủ Đô người, trời buốt lạnh mù sương
Tôi đứng cạnh Mẹ Già, rưng nước mắt.
Mẹ nghe không ? – Tiếng đàn con đang thét
Đòi lại Tư Do, Dân Chủ, Tình Người !
Xin Mẹ cho con, dù chỉ một nụ cười
Con cũng đủ vươn mình lên thẳng đứng.
Cho con ôm Mẹ để lòng con thêm vững
Chí bền gan, xuyên suốt hành trình.
Mẹ thấy không ? Trong gió lạnh run mình
Cờ Đại Nghĩa tay đàn con cao phất !
Mẹ nhìn con, ban thêm dòng hương mật
Chuyển Tình Thương, hơi ấm xuyên lòng.
Tuổi Mẹ già, ánh mắt chẳng còn trong
Nhưng con thấy vẫn nguyên dòng Lịch Sử.
Từ thuở ban khai, xuyên rừng sâu núi dữ
Mẹ dắt Con đi, vạn nẻo thăng trầm.
Cầm tay Con tô đậm nét Từ Tâm
Khuyên dựng Nước , trời Nam luôn Tự Chủ.
Nhưng giờ đây, như cuồng phong thác lũ
Trên quê hương bao tội ác tuôn dòng.
Mẹ lưng còng, đời bóng xế lưu vong
Đang đứng giữa đàn con trên xứ lạ.
Xin Mẹ yên lòng, ngày mai rồi hoa lá
Giữa Mùa Xuân Dân Tộc sẽ bừng hương.
Đàn Con đưa Mẹ về, dựng lại Tình Thương
Quỳ dâng Mẹ tháng ngày tươi sáng mới.
Đàn Con dìu Mẹ đi, nắng Xuân hồng phơi phới,
Mẹ-Con mình vui sống với Quê Hương !
Võ Đại Tôn.


VĂN TẾ TƯỞNG NIỆM HAI BÀ TRƯNG
Hôm nay, nhân ngày Tưởng Niệm Nhị Vị Trưng Vương,
Chúng con xin Thành Tâm Kính Lạy :
ANH LINH NHỊ VỊ TRƯNG NỮ VƯƠNG
CÙNG CÁC DANH THẦN, DƯƠNG TƯỚNG,
LIỆT NỮ, ANH HÙNG THẾ HỆ NHỊ TRƯNG
HIỂN LINH CHỨNG GIÁM
Đạo Sống ngàn đời còn sáng tỏ
Muôn Dân vạn thuở tạc công ơn.
Nhị Trưng vì Nước quên thân ngọc
Một dạ sắt son cùng núi sông.
Đất Nước Trời Nam, kết tụ tinh hoa hiển lộ Anh Thư, ngàn năm vằng vặc gương Liệt Nữ,
Non Sông Hồng Lạc, hun đúc gan vàng lẫy lừng Nhi Nữ, muôn đời sáng chói đức Trưng Vương.
Uy linh còn thắm đượm
Danh tiếng vẫn ngát hương.
Vượt thời gian, ân đức thấm nhuần đến cành cây ngọn cỏ
Ngoài vòng định lượng, công ơn ghi tạc cùng sử sách lưu phương.
Nhớ xưa NHỊ VỊ ĐẠI VƯƠNG
Sinh trưởng chốn nho phong nền nếp, vốn dòng lương tướng,
Chuyên nghề canh cửi nông trang, dáng ngọc thiên hương.
Nhưng không may gặp buổi
Đất nước lâm cơn quốc nạn
Đồng bào thảm họa tai ương.
Phường xâm lược chủ trương hưng Hán diệt Di, ưa đồng ghét dị,
Giặc Bắc phương bày nhiều quỷ kế mưu sâu, thủ đoạn khôn lường.
Khát máu tanh lòng, túi tham không đáy, chúng vơ vét sạch sành sơn trạch,
Lòng lang dạ sói, mạnh được yếu thua, giặc san bằng lãnh thổ biên cương.
Bắt cống nạp sừng tê đá quý
Bày dâng hiến trai ngọc đinh hương.
Hãm hại nhân tài anh kiệt
Dập vùi ân đức hiền lương.
Tàn mạt đến côn trùng cây cỏ
Đảo lộn cả luân lý cương thường.
Căm giặc nước, sôi gan tím mật,
Hận thù nhà, lòng quặn đau thương.
Bởi vậy cho nên NHỊ VỊ phải
Liễu yếu đào tơ ra oai tỳ hổ, giục toàn dân giải thù cho Nước,
Khăn tang mài kiếm tỏ dạ kiên trinh, Chị cùng Em rửa hận cho chồng.
Chiêng trống vang rền, giục giã quân dân tướng sĩ quyết vùng lên trừ bạo,
Tuốt gươm vung dáo, quản bao máu lửa hiểm nguy thề tận diệt bạo cường.
Nhi Nữ mà yên cương rong ruổi, tỏ lộ gan vàng dạ sắt,
Anh Thư song gươm dáo xông pha, phô bày chí khí phi thường.
Sáu mươi ngả tiến quân, đánh tan tành giặc Hán,
Trăm nẻo đường vây kín, hãm thái thú họ Tô.
Trời PHONG CHÂU phất phới ngọn cờ tự chủ
Thành MÊ LINH rạng ngời nền bá nghiệp vương.
Ba năm GIAO CHÂU thịnh trị
Ngàn đời ÂU LẠC lưu phương.
Nào ngờ nước Nam chưa qua vận bể dâu
Giặc Hán chưa buông tham vọng
MÃ VIỆN vội vã lên đường.
Móng nền tự chủ còn non yếu
Khó ngăn bầy lang sói điên cuồng.
Tự cổ kim thịnh suy mấy độ
Trường đấu tranh thắng bại lẽ thường.
Tận trung với Nước, dòng SÔNG HÁT sóng gào, thương tiếc Anh Thư tuẩn tiết,
Hết dạ thương Dân, đất MÊ LINH rung chuyển, thấm ơn Liệt Nữ TRƯNG VƯƠNG.
Hơn một ngàn năm Ngài hằng linh hiển cứu Dân độ Nước,
Trải muôn vạn đời, toàn dân thành kính hương khói miếu đường.
Cột Đồng MÃ VIỆN tịch mịch, vùi sâu trong cát bụi,
Sóng xanh SÔNG HÁT uy linh, tỏa sáng khắp muôn phương.
Nước biếc non xanh phơi phới ân sâu nghĩa nặng,
Trời cao đất rộng lồng lộng uy đức Anh Hùng.
Chúng Con nay
Nhân ngày Thánh hóa
Dâng nén Tâm Hương
Hướng lòng tưởng niệm.
Ghi tạc Công Ơn
Cúi xin phù trợ
Cho Con Dân thoát đọa đày tan tác
Cho Đất Nước sớm Dân Chủ Phú Cường !
Uống nước nhớ nguồn
Nhân ngày Giỗ Thánh
Chúng con kính cẩn
Dâng tấc lòng thành.
THƯỢNG HƯỞNG !
********
(Võ Đại Tôn cúi đầu chấp bút)

Tháng Tư Về
Phút Tưởng Niệm Ba Mươi Tháng Tư!
Hôm Nay:
-Bằng giây phút này, 46 năm về trước, Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, đang thở những phút giây cuối cùng, vĩnh biệt tự do, dân chủ, no ấm trên 20 năm!
-Trước giây phút hấp hối, hành trình đi vào cõi chết, bắt đầu với cuộc Triệt thoái Cao Nguyên, quân dân di tản, kẹt cứng trên Tỉnh Lộ 7B, Cộng Sản pháo kích vào đoàn người di tản, hàng ngàn người chết, Tỉnh Lộ 7B đi vào lịch sử với tên mới: Tỉnh Lộ Máu!
-Bằng giây phút này, các tỉnh Miền Trung đã thất thủ, quân dân chạy về phía Nam, Cộng sản đuổi theo bắn giết, xác phơi như cá hộp trên Đại Lộ Kinh Hoàng, trên Đèo Hải Vân, các cửa biển Miền Trung.
-Bằng giây phút này, hàng trăm người Lính VNCH, dùng súng bắn vào đầu mình, trái tim mình, hay dùng lựu đạn nổ tan thân xác, vì không chịu nổi cái nhục đầu hàng, và Kẻ Ác đã thắng cuộc chiến!
-Bằng giây phút này, hàng trăn ngàn người Con Đất Việt, phải rời nơi “chôn nhau cắt rốn,” bỏ Nước ra đi. Sau đó hàng Triệu người, hàng trăm ngàn người đã lấy đại dương làm mồ chôn, trên đường chạy trốn độc tài Cộng Sản.
Xin cúi đầu, nghiêng mình, thắp nén nhang tưởng niệm, những cái chết trong ngày tang thương, đen tối nhất trong lịch sử của Người Dân Việt.
Ngày nào còn Cộng Sản cai trị trên Quê Hương, mãi mãi vẫn là ngày đau thương, Ngày Quốc Hận!
Có chết cũng không quên!
30/4/2021
LVHải
BỐ THƯƠNG YÊU của LINH & THANH-THANH
Tháng Tư Về
Nhìn lịch giật mình, ngày tháng trôi nhanh quá, mới đó đã đến tháng tư đen. Từ khi bị dịch Vũ Hán tôi không được đi dự ngày buồn 30 tháng Tư năm 2020, năm nay với tình hình này chắc ban tổ chức cũng khó thực hiện. Dù vậy nhưng ký ức tôi sống dậy mãnh liệt những ngày tháng ấy …
Khắc Khoải
Đến tháng tư đen nhắc nhở rồi
Gương nhìn quá khứ trở về thôi
Ai đi tù ngục sâu rừng núi
Kẻ trốn ghe thuyền đắm biển khơi
Tê tái chia tay buồn thấm cảnh
Xót xa giã biệt khổ đeo người
Bao nhiêu chuyện tủi sầu non nước
Trăn trở đêm dài thả mộng trôi
MTTN
Còn nhớ năm 2019 …Chị Phương Hoa và tôi đi xem cuốn phim “30 Tháng 4 Năm Đó Bác Ở Đâu” do đài Dân Sinh và hội IRC phối hợp tổ chức.
Phim tài liệu ghép lại với các hình ảnh sưu tầm từ những phút cuối tháng Tư năm 1975…Nhìn ngày cuối các anh lính vẫn ôm súng ở nhiều địa phương, chung sức chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, áo rách sờn vai, mặt mày hoang mang như chim lạc tổ… Cảnh chiếu tiếp những người tù lao động trong rừng núi, trong trại, thân hình tiều tuỵ, nét mặt buồn xo khắc khổ…Tiếng thuyết minh nhắc nhở về những vị anh hùng Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Nguyễn Văn Long, Hồ Ngọc Cẩn … Không khí lắng đọng, hình như mọi người đang xúc động tâm tư, đang khóc với hình ảnh đau thương đất nước miền Nam ngày cuối 30 tháng 4 năm 1975.
Sau buổi chiếu phim, nhân chứng sống là Trung uý Lê Ngọc Danh, Tùy viên Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam (Tư lệnh Quân đoàn 4 vùng 4 Chiến thuật), người đã sát cánh bên tướng Nam, lên có đôi lời kể về những giờ phút cuối của vị Tướng anh dũng này. Ông kể trong nỗi xúc động nghẹn ngào…
Chiều cuối tướng Nam đi vào Quân y viện thăm anh em thương phế binh, các anh em khóc nói “Thiếu Tướng đừng bỏ chúng tôi“.
Ông an ủi vỗ về:
– Tôi không bỏ, tôi ở lại với anh em …
Trở về tư thất, ông thắp 3 nén hương trước bàn Phật, sau đó người Tùy viên nghe tiếng súng nổ……….
Để kết thúc buổi chiếu phim, người xướng ngôn viên nêu lên câu hỏi:
“30 tháng Tư ngày ấy bác, anh ở đâu? chị ở đâu?….
Ra về lòng tôi nặng trĩu… Bốn mấy năm trôi qua, cuộc sống đã thay đổi, nhưng những người dân miền Nam khó thể quên chuyện ngày ấy. Tiếng Trung uý Lê Ngọc Danh kể về vị anh hùng Nguyễn Khoa Nam vẫn vang trong đầu cho đến giờ phút này. Đêm trăn trở, tôi thức dậy tràn nghiên theo thi hoạ:
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam
Thiếu Tướng hiên ngang ở lại thành
Quân hoài quý mến lớp đàn anh
Giờ cùng ước nguyện còn thơm tiếng
Phút chót câu thề mãi sáng danh
Nước mất buồn đau tìm lối tử
Nhà lìa khổ nhục thoát đường sanh
Can trường súng nổ ngàn thu biệt
Họ Nguyễn Khoa Nam sử sách dành
Minh Thuý Thành Nội
Giờ phút cuối nghe đài thông báo năm nay (2021) buổi tưởng niệm sẽ tổ chức tại khu Century thuộc thành phố San Jose do Bác Sĩ Phạm Đức Vượng đảm trách. Tôi thấy lòng phấn khởi như máu chảy về nguồn, cùng tâm trạng của những kẻ lưu vong tìm về tổ ấm tưởng nhớ đến ngày Quốc Hận cho vơi bớt nỗi niềm buồn tủi.
***
Hôm nay ngày 25 tháng 4 năm 2021. Buổi sáng trời âm u không có nắng, mây đen từng vùng. Đến nơi đã thấy hàng cờ vàng nối dọc ngoài đường story. Các hội đoàn tề tựu chuẩn bị mọi thứ. Đúng 11 giờ buổi lễ bắt đầu, tôi thấy có sự hiện diện của Thị Trưởng thành phố Westminster Tạ Đức Trí và luật sư Nguyễn Quốc Lân từ Nam Cali lên tham dự. Chương trình bắt đầu buổi lễ chào Quốc Kỳ Mỹ, Việt Nam. Mỗi lần được hát bản Quốc Ca VN thì kỷ niệm ùa về những buổi sáng thứ hai trong sân trường, cả lớp được đứng hát trước cột cờ, ngày xưa hát với tâm trạng bình thản vô tư, bây giờ hát nhưng tim đập mạnh…, nửa vui vì được hát và nửa như se thắt con tim. Kế tiếp lễ dâng hương Tổ Quốc và Lễ tưởng niệm các vị anh hùng “Sinh vi Tướng, Tử vi Thần” đã tuẫn tiết trong những ngày mất nước. Đèn hương nghi ngút vinh danh các anh hùng vị quốc vong thân, đúng là “Anh Hùng tử, khí hùng bất tử”.
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng
Bình Long trận đánh diễn oai hùng,
Quyết dẹp quân thù núp ẩn bưng.
Nếm mật, bùn dơ cùng rắn rít,
Nằm gai muỗi độc với sâu rừng.
Yên bề trở lại dân chào đón,
Vững bước quay lui vợ tủi mừng.
Nước loạn, nhà tan thề tuẫn tiết,
Anh hùng đáng phục Tướng Lê Hưng.
MTTN
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú
Tướng Phạm Phú gương đầu
Uống liều thuốc tử mau
Anh hùng lời hậu thế
Dũng khí tiếng đời sau
Tỵ nạn ông tràn hận
Lưu vong bạn ngập sầu
Bàn vong người tuẫn tiết
Tưởng niệm nỗi buồn đau
MTTN
Chuẩn Tướng Trần Văn Hai
Chiến sự nguy nàn cảnh bỏ đi
Lời mời tổng thống chẳng ngờ nghi
Sư đoàn bảy bộ binh tư lệnh
Chuẩn Tướng Trần Hai vẫn đảm vì
Ngày cuối tháng tư đất nước tan
Hai mươi viên thuốc quyết không hàng
Đồng Tâm căn cứ nơi làm việc
Cái chết uy nghi đã chuẩn dàn
MTTN
Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ
Tử thủ vùng Lai Khê phút cuối
Anh Hùng chẳng sợ đuổi đoàn quân
Bữa cơm măng vịt tình thân
Là giờ phút cuối nghĩa ân trọn kề
Viên đạn súng Colt thề quyết giữ
Can trường “Vị Quốc Tử Theo Thành”
Bởi đau đất nước tan tành
Xem thường cái chết sử sanh nhắc hoài
Quốc hận tháng Tư đài tưởng niệm
Bàn di ảnh khói điểm làn hương
Lòng dân đau xót mến thương
Âm thầm giọt lệ kính tương ngày buồn
MTTN
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn
Tổ quốc mang ơn lịch sử bù
Anh Hùng Hồ Ngọc Cẩn bao thu
Hăng say quyết tử gìn quân đội
Nhiệt huyết can trường giữ chiến khu
Ngạo nghễ hiên ngang khi nhốt ngục
Oai nghi thách thức lúc giam tù
Bị đem xử bắn không nao núng
Điểm mặt la to bọn giặc thù
MTTN
Trung Tá Nguyễn Long Cảnh Sát
Nhớ buổi đau lòng chuyện bảy lăm
Tháng tư phút cuối phận con tằm
Anh hùng mạnh dạn nào lo hãi
Tướng tá can trường khó dọa hăm
Chẳng đợi quân thù hành đạn súng
Đâu chờ bọn giặc xử dao găm
Nguyễn Long Cảnh Sát không nao dạ
Tuẫn tiết hiên ngang dáng thẳng nằm
MTTN
Nhìn di ảnh tôi thấy lạnh toàn thân khi nghe đọc tiểu sử các vị đã tìm cách chết hiên ngang quyết không đầu hàng quân giặc. Mọi người đứng yên chờ đến phiên mình để được thắp cây nhan với tất cả lòng thành kính xúc động. Đang lúc làm lễ trời đổ cơn mưa như nhỏ lệ dùm niềm đau của những người con xa xứ, lưu lạc khắp nơi đã về đây, cùng chung tâm trạng của kẻ mất nước với nỗi buồn dấy động mạnh lên mỗi khi tháng tư về. Tiếp tục chương trình các vị đại diện trong guồng máy chính quyền, đại diện các đoàn thể lên có đôi lời …..về ngày 30 tháng Tư “.
Phần văn nghệ với những bài hùng ca như “Việt Nam Tôi Đâu” (Việt Khang), “Đáp Lời Sông Núi” (Trúc Hồ), “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” (Nguyễn Đức Quang) v…v…Đến bài hát “Tấm Thẻ Bài” (Huyền Anh)
Sau cuộc chiến này còn chi không anh?
Còn chi không anh?
Hay chỉ còn lại tấm thẻ bài
Đang lạnh lùng trên tay em
Giọt máu nào là của Mẹ
Niềm tin nào là của em
Ôi trên tấm thẻ bài này
Tấm thẻ bài này, đã từng
Ấp ủ tất cả giấc mộng yêu đương
Mộng yêu đương không bao giờ đến
Không bao giờ đến nữa vì anh
Không còn mang tấm thẻ bài
Trở về bên em ….
Lời nhạc làm hồn tôi miên man hồi tưởng về quá khứ, hình ảnh những anh lính Việt Nam Cộng Hòa hiện rõ, những người lính Thương Phế Binh, những chiếc xe cứu thương chạy vào Quân Y Viện trong Mang Cá hàng ngày trên đường Đinh Bộ Lĩnh, những hình ảnh cô nhi quả phụ đội khăn tang đầy các phố, những thước phim tài liệu chiếu lính đi hành quân ngâm nửa người dưới nước băng rừng lội suối, hay những lúc hành quân trở về với tấm thân tàn ma dại… Tại sao đã có hiệp định Geneva 1954 chia đôi đất nước mà miền Bắc cứ muốn xâm lấn miền Nam? trong khi các anh lính chiến miền Nam chỉ đánh giặc để tự vệ, bảo vệ làng mạc thôn xóm, lo cho người dân an ổn sinh sống trong thanh bình…Càng nghĩ mắt tôi càng mờ dần thấm thía với bản nhạc “Tấm Thẻ Bài”.
Thương Người Chiến Sĩ VNCH
Cộng Hoà anh lính thuở xa xưa
Hình ảnh oai phong kể mấy vừa
Chiến tích quay về ngang ruộng rẫy
Hành quân ngừng nghỉ dưới cây dừa
Chiều thu đã thắm tình chia sẻ
Phố hạ chưa phai cảnh đón đưa
Áo trận sờn vai đời gió bụi
Thương người đội nắng với dầm mưa
MTTN
Buổi lễ kết thúc vào lúc 3 giờ chiều, bước ra xe lòng tôi nhẹ nhõm bớt phần nào sự buồn rầu, vì được gặp gỡ đồng hương, cùng ngồi lại với nhau dưới bóng cờ vàng, những tấm lòng cùng chung cảnh ngộ, cùng đau chung cho vận mệnh của đất nước, tuy không nói nhưng đã được chia sẻ thật nhiều bằng ánh mắt. Nơi đâu có dân tỵ nạn là nơi đó có ngọn Cờ Vàng, cờ chính nghĩa bay phất phới trong gió, cờ trong tim ấp ủ nỗi niềm hy vọng, và cũng sưởi ấm biết bao nhiêu cho những người con đã lưu lạc mất quê hương …
Tháng Tư Tưởng Niệm
Tháng Tư cúi mặt ngậm ngùi
Bao nhiêu ký ức đẩy lùi đau thương
Tỏ lòng kính cẩn nén hương
Anh hùng khí tử nặng vương lòng người
Tháng Tư đã tắt nụ cười
Bởi giặc miền Bắc lấn trời phương Nam
Hung tàn cướp bóc gian tham
Đọa đầy mọi chốn dân oan thảm sầu
Tháng Tư súng bắn vào đầu
Can trường các vị Tướng câu “tử thành”
Lê Hưng, Nguyên Vỹ quyết hành
Khoa Nam, Ngọc Cẩn thanh danh bỏ mình
Tháng Tư Phạm Phú quyên sinh
Trần Văn Hai cũng chọn vinh quyết thề
Nguyễn Long đã chết giờ kề
Trầm ngâm nhớ lại quặn tê nỗi buồn
Tháng Tư máu nóng dâng cuồng
Tháng Tư khắc khoải lệ tuôn mắt mờ
MTTN
Ngày Buồn
Quốc hận tháng Tư nỗi nhục buồn
Dù trời đổ lệ giọt mưa tuôn
Đồng môn hải ngoại lòng đau uất
Bạn hữu lưu vong máu hận cuồng
Tướng dũng khuôn dung, nào khuất phục
Người hùng di ảnh, chẳng hàng buông
Bàn hương khói tỏa người thành kính
Tỵ nạn Cờ Vàng giữ vững luôn
MTTN
Dù bệnh dịch vẫn chưa chấm dứt, mọi người đi dự đều mang khẩu trang, trời mưa gió lạnh nhưng tinh thần người Việt ở hải ngoại thật mạnh mẽ, ban tổ chức chung góp bàn tay chuẩn bị thời gian dài vất vả. Chúng tôi vô cùng biết ơn ban tổ chức của Bắc Cali.
Minh Thúy (Thành Nội)
Mùa Quốc Hận 2021

Ngày Quốc Hận 30-4-2006: Khánh Thành Bia Đá Vinh Danh VNCH và Đồng Minh tại Hawaii (phần 2)
GS Nguyễn Văn Canh Tâm Tình Nhân Mùa Quốc Hận Lần Thứ 46
Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm – VTLV Mạn Đàm Phần 3
Nơi Cây Đa Bến Cũ
thơ Vệ-Trà Huỳnh Kim Anh. Nhạc sỹ Đức Quảng. Trình bày CS Hạnh Nguyên
Nơi cây đa bến cũ
Rét mướt gió Xuân về
Gió lay từng nhánh lá
Bờ tre trên đường quê
Con về thăm làng cũ
Gốc phượng xưa đã già
Thăm dòng sông bến nước
Tổ tiên biền biệt xa
Cha cho con đôi cánh
Mẹ dắt con vào đời
Công Cha như núi Thái
Lòng Mẹ tựa biển khơi
Mồ hôi Cha ướt áo
Mẹ dãi dầu nắng mưa
Trên dặm trường rong ruổi
Quên nhọc nhằn sớm trưa
Cha dạy con lối rẽ
Vững bước trên đường đời
Giờ Cha không còn nữa
Ngậm ngùi gọi, Cha ơi !
Cố hương dù vạn dặm
Xa khuất nẻo đường quê
Thăm Cha, thăm nguồn cội
Dẫu xót xa lối về
Dân oan trên khắp nẻo
Căm hờn nỗi nhà tan
Chân đau trong cùm xích
Kiếp lao tù nghiệt oan
Nỗi đau còn chồng chất
Trong tận cùng, Cha ơi !
Mẹ sẽ về lần nữa
Bên Cha cuối cuộc đời…
Nơi cây đa bến cũ
Vẫn sớm nắng chiều mưa
Người đi rồi, đi mãi
Có còn nhớ bến xưa…?
San Jose, California 02/ 06/ 2021
Vệ-Trà Huỳnh Kim Anh
NỖI LÒNG MẸ THÁNG TƯ
Tưởng Nhớ LÝ TỐNG


Một Cõi Nhớ Thương
Sáng tác: Yen Sơn | Ca sĩ: Nguyên Hậu
