Bút thuật trong Đoạn Trường Tân Thanh




Tiếng Việt Tuyệt Vời




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT LỄ VU LAN

NHỮNG CA KHÚC VỀ MẸ – THÁI PHẠM – Ca Khúc THƯƠNG NHỚ MẸ HIỀN -Thơ LÊ VĂN HẢI

CA KHÚC NGÀY MẪU TỪ NHỚ MẸ – PHƯƠNG HOA

****

Ca khúc:  Vu Lan Nhớ Mẹ

Thơ:  phamphanlang

Nhạc:  Vĩnh Điện

Ca sĩ:  Ngọc Quy

Hòa âm:  Quang Đạt

Vu Lan nhớ Mẹ

Mùa báo hiếu con không về thăm Mẹ

Thắp nén hương ngôi mộ nhỏ lưng đồi

Quê nghèo ấy nay đã quá xa xôi

Nhớ thương Mẹ tim quặn đau nhỏ lệ

Mẹ đã mất mười năm hơn có lẻ

Sao dường như Mẹ vẫn mãi bên đời

Vẫn vẳng nghe tiếng Mẹ hát ầu ơi

Ru con ngủ những ngày còn thơ dại

Đêm hôm ấy con vẫn còn nhớ mãi

Phút lâm chung Mẹ nắm chặt tay con

Môi thì thào những lời cuối không tròn

“Đừng khóc nữa con ơi đừng khóc nữa”

Mẹ đi rồi con mất nơi nương tựa

Nơi xứ người thân lạc lõng bơ vơ

Thèm làm sao những đêm tối trăng mờ

Gặp lại Mẹ trong giấc mơ êm ái…

PhamPhanLang

Cha mẹ và Con Cái nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu

Đây là bài số bảy trăm bảy mươi bảy(777) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB

Hằng năm vào tháng bảy âm lịch, các chùa tổ chức đại lễ Vu Lan để tưởng nhớ công ơn của cha mẹ đã qua đời hay còn tại thế.  

Nhiều chùa như tu viện Bửu Hưng ở Vancouver, WA cũng làm lễ chúc thọ cho quý Phật tử  niên kỷ từ 70 tuổi trở lên rất trang trọng. Đây là một lễ nghi tốt đẹp và thiết thực nhất vì là một dịp để cho quý vị cao niên có một ngày vui đạo hạnh với con cháu và các đạo hữu. Một món  quà nho nhỏ do chùa gửi tặng nhưng lại có ý nghĩa chúc phúc lành tuổi thọ đến cho quý vị cao niên này, đồng thời nhắc nhở con cháu của họ rằng: họ còn có phúc vì cha mẹ họ còn sống hiện tại như nhà thơ Đỗ Trung Quân đã tâm tình  như sau:

 Mẹ

Xin tặng cho những ai được diễm phúc còn có Mẹ  
– Đỗ Trung Quân – 
 
Con sẽ không đợi một ngày kia,   
Khi Mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc  
Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ?  
Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt  
Chạy điên cuồng qua tuổi Mẹ già nua  
Mỗi ngày qua con lại thấy bơ vơ  
Ai níu nổi thời gian?  ai níu nổi?  
Con mỗi ngày một lớn lên,Mẹ mỗi ngày thêm già cỗi  
Cuộc hành trình thầm lặng phía hoàng hôn…  

…. Hôm nay…  anh đã bao lần dừng lại trên phố quen  
Ngả nón đứng chào xe tang qua phố, ai mất Mẹ?  sao lòng anh hoảng sợ  
Tiếng khóc kia bao lâu nữa  …của mình?  
Bài thơ này xin thắp một bình minh,trên đời Mẹ bao năm rồi tăm tối  
Bài thơ như một nụ hồng. Con cài sẵn cho tháng ngày sẽ tới ….

Đã bao lần tôi nghe bài hát Bông Hồng Cài Áo mỗi độ Vu Lan về là đã bao lần tôi lại thấy rưng rưng xúc động với lời nhạc êm ả, trữ tình đầy tình thương yêu trìu mến của Thầy Nhất Hạnh và nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ:

“Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho anh
Và một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười

Ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm….

 Mẹ, Mẹ là giòng suối dịu hiền
Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối

Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời ”

Khi nhận được đoá hoa hồng màu đỏ hay màu hồng cài trên ve áo bạn hãy vui sướng đi:

“Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh, thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi.”

Hình như khi còn trẻ, chúng ta không biết hay chưa biết thương yêu cha mẹ vì chúng ta còn bận lo những chuyện khác mà ta cho rằng đó là quan trọng đối với chúng ta hơn như học hành, yêu đương, rong chơi với bè bạn, theo đuổi lý tưởng hay sự nghiệp v…v…

Bởi thế có đôi lúc ta đã:
“Có đôi lúc ta quên nhìn trán Mẹ
Còn bao nhớ thương dù ta lớn khôn rồi

Có đôi lúc ta quên thời gian qua
Đường ta càng xa, vòng tay Mẹ ngắn lại”

Chúng ta vẫn nghĩ là tình yêu của cha mẹ đối với con cái là một điều tự nhiên và đó là bổn phận và trách nhiệm của mẹ cha. Cha mẹ nếu thương con thì phải thỏa mãn những đòi hỏi, mong muốn của con cái. Nếu không làm đúng theo ý muốn của con cái thì sẽ bị con cái phiền trách và đổ tội là chẳng có thương con. Chúng ta chỉ nghĩ đến cái lợi cho mình mà không quan tâm đến sự khó khăn hay nỗi khổ tâm của cha mẹ nếu họ không đáp ứng nhu cầu của con cái. Phải đợi đến khi chúng ta làm cha làm mẹ rồi chúng ta mới biết thương cha mẹ hơn một chút như người xưa thường nói: “Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.”

Tôi đã nhiều lần sám hối vì:

Tôi lại nhớ quãng đời thời non trẻ
Những ngày xưa khi còn mẹ còn cha
Đã bao lần phạm lỗi với mẹ già
Khi không được những gì mình ước muốn
Tôi nào biết đã gây bao phiền muộn
Làm mẹ tôi nước mắt phải tuôn rơi
Phải bao đêm mất ngủ nghẹn ngào lời
Khi con trẻ không nghe lời dạy bảo (Thơ SL)

Và lại càng đau đớn hơn nữa khi:

“Nay mất mẹ, bây giờ tôi mới hiểu
Thế nào là tình mẫu tử thiêng liêng
Ngôn từ nào định nghĩa chữ Mẹ hiền:
Là Đức Mẹ, là Quan Âm, thị hiện” (Thơ SL)

   Người viết thỉnh thoảng vào nghe pháp thoại của  Thầy Thích  Pháp Hòa  ở Canada và Thầy Thích Tánh Tuệ ở Mỹ.

 Nhân mùa Vu Lan mời Bạn cùng tôi nghe pháp thoại  Thầy Pháp Hòa ở Canada  qua Youtube dưới đây:

Làm gì cho cha mẹ mùa Vu Lan Báo Hiếu  Thầy Pháp Hòa

https://www.youtube.com/embed/8mJED3rBiDk?feature=oembed

Và 

Pháp Thoại Vu Lan , Như Nhiên Thích Tánh Tuệ 08/25

https://www.youtube.com/embed/zaJpkfAKpSk?feature=oembed

Mời đọc

Mauhoahongcaiao 2.jpg

Màu Hoa Hồng Cài  Áo

Viết tặng những người con trong Ngày Lễ Vu Lan

                                   SL

Trên áo anh cài hoa hồng màu đỏ

Mừng cho anh còn có Mẹ trên đời

Để nụ cười còn nở ở trên môi

Để được thấy đời anh còn có phúc

Mẹ già như cành khô, cây gỗ mục.

Những khi trời gió bão hoặc mưa to

Là lúc anh sợ hãi lẫn âu lo

Cây đổ gãy! Thế là con mất Mẹ

Anh sẽ thấy nếu đời anh mất Mẹ

Là anh buồn đau khổ biết dường nào

Như đêm đen thiếu vắng ánh trăng sao!

Như buổi sáng thiếu mây hồng giọt nắng

Anh sẽ nhận cánh hoa hồng màu trắng

Cài áo anh vào buổi Lễ Vu Lan

Nghe lời kinh mà nước mắt chực tràn

Anh thương mẹ, công ơn người cao rộng

Mẹ chín tháng cưu mang mầm nụ sống

Mẹ đớn đau khi nở nhụy khai hoa

Mẹ nhọc nhằn, dù mẹ trẻ hay già

Con khôn lớn cũng nhờ giòng sữa Mẹ

Mẹ lo lắng chăm nuôi đàn con trẻ

Lúc ấu thơ cho đến tuổi trưởng thành

Lúc khổ nghèo hay thành đạt công danh

Thương con cháu, không tính toan vụ lợi

Rằm Tháng Bảy, mùa Vu Lan  đã tới

Chúc mẹ già vẫn nở nụ cười tươi

Chúc người con, lòng sung sướng vui cười

Cài ve áo, chiếc hoa hồng màu đỏ

Ôi! Buồn lắm!  Hoa hồng màu trắng đó!

Trên áo tôi! Tôi mất Mẹ lẫn Cha

Mùa Vu Lan khi nghe đến lời ca

Bông hồng cài áo! Lệ nhòa đôi mắt!

Sương Lam

(trích trong Tuyển Tập Góp Nhặt Hương Sen)

 Mời xem

Youtube Màu Hoa Hồng Cài Áo- Thơ Sương Lam -Ảnh Thơ Trinh Huỳnh- Ca sĩ Tâm Hảo trình bày

https://www.youtube.com/embed/Vnj-rtDp9jY?feature=oembed

Xin chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé.

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

 Sương Lam

    (Nguồn: tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên internet, qua email bạn gửi-MCTN 777-ORTB 1208-9-2-2025 )

Sương Lam

Website: www.suonglamportland.wordpress.com

http://www.youtube.com/user/suonglam

Lễ Vu Lan – Mùa hiếu hạnh và tri ân

Lễ Vu Lan, diễn ra vào rằm tháng Bảy âm lịch, từ lâu đã trở thành một trong những ngày lễ quan trọng và thiêng liêng trong đời sống tâm linh của người Việt Nam. Đây không chỉ là ngày lễ lớn của Phật giáo mà còn là dịp để mọi người con thể hiện lòng hiếu thảo, tưởng nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, tri ân ông bà tổ tiên. Đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” đã gắn bó với dân tộc qua bao đời, và lễ Vu Lan chính là dịp cụ thể hóa truyền thống cao quý đó.

Nguồn gốc của lễ Vu Lan bắt nguồn từ câu chuyện cảm động về Bồ Tát Mục Kiền Liên. Dù sở hữu thần thông quảng đại, ông vẫn bất lực trước cảnh khổ của mẹ mình nơi địa ngục. Khi ấy, Đức Phật dạy rằng chỉ có sức mạnh cộng đồng – sức mạnh của chư Tăng trong ngày rằm tháng Bảy – mới có thể cứu vớt mẹ ông. Từ đó, lễ Vu Lan trở thành ngày báo hiếu, nhắc nhở con người ở mọi thời đại rằng hiếu hạnh chính là nền tảng của đạo làm người.

Trong ngày Vu Lan, người ta thường đến chùa tụng kinh, cầu siêu cho cha mẹ và tổ tiên. Nghi thức cài bông hồng trên áo đã trở thành biểu tượng đẹp: bông hồng đỏ cho những ai còn cha mẹ, bông hồng trắng cho những ai cha mẹ đã khuất. Hình ảnh ấy không chỉ gây xúc động mà còn đánh thức trong mỗi người niềm biết ơn và sự trân trọng đối với tình mẫu tử, phụ tử thiêng liêng. Ngoài ra, nhiều gia đình chuẩn bị mâm cơm chay, làm việc thiện và hồi hướng công đức cho cha mẹ, ông bà. Những việc làm tuy giản dị nhưng chất chứa tình thương, lòng hiếu kính.

Vu Lan trong so sánh với các nền văn hóa Á Đông

Điều đặc biệt là tinh thần báo hiếu của Vu Lan không chỉ giới hạn trong văn hóa Việt Nam, mà còn hiện diện trong nhiều nền văn hóa Á Đông khác, dưới những hình thức riêng biệt:

  • Lễ Obon ở Nhật Bản: Cũng diễn ra vào tháng Bảy (theo lịch âm hoặc dương tùy vùng), Obon là dịp để người Nhật tưởng nhớ tổ tiên. Họ dọn dẹp mộ phần, thắp đèn lồng để dẫn linh hồn tổ tiên về thăm gia đình. Các điệu múa Bon Odori truyền thống cũng là cách để cộng đồng gắn kết, chia sẻ niềm tri ân.
  • Tết Trung Nguyên ở Trung Hoa: Diễn ra cùng thời điểm với Vu Lan, Trung Nguyên được xem là ngày “xá tội vong nhân”. Người Hoa cúng tế để cầu siêu cho những linh hồn cô đơn, đồng thời cũng là dịp tưởng nhớ tổ tiên. Tín ngưỡng này nhấn mạnh đến tinh thần từ bi, cứu độ những vong linh không nơi nương tựa.
  • Chuseok ở Hàn Quốc: Tuy không hoàn toàn giống Vu Lan, nhưng Chuseok (lễ hội mùa thu, rằm tháng Tám) cũng mang đậm tinh thần tri ân tổ tiên. Người Hàn thường về quê quây quần bên gia đình, dâng cúng tổ tiên và tỏ lòng biết ơn.

Những nét tương đồng này cho thấy, trong văn hóa Á Đông, tình cảm gia đình và lòng hiếu thảo luôn được coi trọng. Tuy mỗi quốc gia có nghi thức và phong tục riêng, nhưng tất cả đều chung một điểm: hướng con người về cội nguồn, nuôi dưỡng lòng biết ơn và tình đoàn kết gia đình.

Giá trị của Vu Lan trong đời sống hiện đại

Ngày nay, trong guồng quay hối hả của cuộc sống, lễ Vu Lan mang giá trị như một hồi chuông nhắc nhở. Nó giúp con người dừng lại, nghĩ về mái nhà, dành thời gian cho cha mẹ, ông bà. Vu Lan không chỉ dừng lại ở nghi thức cúng lễ, mà còn khuyến khích con cháu thể hiện hiếu hạnh bằng hành động thiết thực: một lời thăm hỏi, một vòng tay ấm áp, hay đơn giản là dành thời gian ở bên cha mẹ khi họ còn sống.

Lễ Vu Lan, vì thế, không chỉ là ngày lễ Phật giáo mà còn là một phần của di sản tinh thần dân tộc. Nó nuôi dưỡng lòng nhân ái, khơi gợi sự gắn bó giữa các thế hệ, và giữ cho sợi dây truyền thống gia đình luôn bền chặt. Mỗi mùa Vu Lan đi qua, chúng ta lại thêm một lần được nhắc nhở rằng: công cha nghĩa mẹ như trời biển, và hiếu hạnh chính là con đường trở về với nhân bản, nhân văn.

Sưu tầm online




TÂM TÌNH 70 NĂM

                                                       

Anh Đà Điểu Siêng Năng Cao Ngọc Cường và chị Vành Khuyên Yêu Đời Nguyễn Thu Hương tổ chức buổi họp mặt hôm 23 tháng 8 – 2025 tại tư gia của Mado. Đà Điểu Siêng Năng cho biết: “Mừng 70 Năm Hướng Đạo của anh Hươu Hăng Hái là “cái cớ” để các Trưởng và Anh chị Em có cơ hội gặp nhau, hâm nóng tình Hướng Đạo …”.

Thật vậy! Buổi họp mặt không những với sự hiện diện của Tráng Sinh Tráng Đoàn Nguyễn Trãi (Toán Lam Sơn) như Cao Cường, Quốc Thắng & Bích, Kiêm Thiện, Chí Hiếu, Bé Tư, Quốc Anh, Nhân Đinh, Thanh Hùng, Trung Cương, Mado, Phạm Xoàn, Thanh An,  Hương & Mỹ, Thu Thảo, Tuyết Hoa… mà còn có mặt các Trưởng và Trưởng Niên: Cao Bình, Kenneth Tô, Triết Trần, Trung Tường & Mai Hoa, Thăng Võ & bề trên, Phước Hoàn, Thu Châu, Lê Hạnh, Mỹ Dung… Có ba người bạn của Hướng Đạo là anh chị Đỗ Hữu Phương (hàng xóm của Mado, bạn của Hươu và Nhạn) và chị Hồng Vân (bạn của Thanh An từ Dallas).

Thường thì các cuộc họp mặt hay diễn ra vào buổi chiều, nhưng lần này diễn ra nhằm buổi trưa cho tiện việc các Trưởng có tí tuổi thấy đường lái xe trở về. Nhưng chắc đó là “cái cớ” thôi. Trưa hay chiều thì cũng thế thôi…Từ 11 cho đến 12 giờ anh chị em lần lượt đến. Có anh ở xa cũng đến khá đúng giờ như anh Chí Hiếu, Phước Hoàn, Trung Tường, Kiêm Thiện (9 bó + 3 đến sớm nhất). Nhìn từng gương mặt khi bắt tay trái Hươu đều nhớ tên rừng của các anh chị, Hươu vẫn thích gọi tên của các anh chị bằng những tên rừng một cách trân trọng và thân thiết: Đà Điểu Siêng Năng, Sáo Tận Tâm, Trâu Tín Cần, Sóc Nhiệt Thành, Sói Nhiệt Thành, Báo Bền Chí, Sói Trung Kiên, Hà Mã Tận Tụy, Hoẳng Hay Hát, Hoẳng Nhiệt Tâm, Vành Khuyên Yêu Đời, Nhạn Trắng Nhu Mì, Thiên Nga Hiền Lành, Kim Tước Trung Trực, Sáo Trực Tính, Vàng Anh Kiên Tâm, Hoàng Yến Kiên Tâm…

Anh chị em giải quyết vấn đề bao tử vào đúng giờ “Ngọ Tây” trước khi ngồi quanh ở phòng khách để xem Slideshow hình ảnh “Hành trình 70 Năm Hướng Đạo” của Hươu. Slideshow này do sáng kiến của chị Vành Khuyên Yêu Đời. Cách nay hơn một tháng khi chị gọi điện thoại bảo Hươu gửi cho chị một số hình ảnh sinh hoạt Hướng Đạo từ trong nước ra đến hải ngoại. Mất cả gần hai tuần Hươu mới tìm ra một số hình gửi cho Vành Khuyên. Chị và người con trai đã thực hiện Slideshow này. Rất may là Hươu còn giữ được một số hình ảnh trắng đen lúc mới bước chân vào Hướng Đạo. Hươu có cơ hội giải thích một số hình ảnh xuất hiện trên màn hình.

Vui nhất có lẽ là lúc Hươu nhận được các món quà từ tay các anh chị tặng. Đặc biệt là một sừng Hươu được gắn trên chiếc Hoa Bách Hợp bằng gỗ có chữ ký của tất cả anh chị em. Quà Hướng Đạo vẫn là những thứ vô cùng quý báu. Một mặt nó thể hiện được tình Hướng Đạo, mặt khác nó đem lại niềm vui lớn cho người nhận. Đối với Hươu, cái sừng Hươu hay những chú Hươu bằng gỗ, bằng kim loại, những chiếc bút nịt, những chiếc patche kỷ niệm các sự kiện Hướng Đạo đã làm giàu thêm cho kho tàng báu vật của Hươu lâu nay.

Ngoài những lời chúc mừng và tặng quà Hướng Đạo từ anh chị em đến dự buổi họp mặt, Hươu còn nhận được quà và những lời chúc mừng từ các Trưởng và anh chị em Tráng Sinh từ các nơi gửi về. Hai nữ Tráng Sinh Phan Nữ Lan (Dallas) tên rừng Bạch Yến Nhân Hậu và Ngô Lý Thị Thanh (Indiana) tên rừng Thỏ Đảm Đang đã gửi tặng một tấm plaque bằng thủy tinh mừng Hươu 70 Năm Hướng Đạo. Trưởng Nguyễn Thị Hai từ Dallas gọi chúc mừng và cho biết Trưởng hủy chuyến đi xuống Houston vì mấy cái răng của chị phản đối rất dữ dội nên phải đi nha sĩ trị chúng. Xin cám ơn chị Hải Ngưu Khéo Léo. Chị Minh Xuân từ thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts viết: “Chúc mừng anh Hươu Hăng Hái. Mong anh được vui khỏe để tiếp tục sinh hoạt lâu dài với Anh Chị Em. Tabtt. Minh Xuân”. Còn anh Hươu Điềm Tỉnh Nguyễn Cửu Lâm, đương kiêm Tráng Trưởng “muôn năm” của Tráng Đoàn Nguyễn Trãi thì viết qua email rằng: “Anh Hươu ơi! 70 Năm Hướng Đạo rồi, còn 30 năm nữa là tròn thế kỷ. Cứ thế mà đi nhé! Chúc anh mọi điều tốt lành. Tabtt. Hươu Điềm Tỉnh. California.”

Trưởng Nguyễn Văn Thuất – Voi Cần Mẫn ở thành phố Sydney, xứ Kangaroo tận phía nam bán cầu viết: “Chúc mừng anh Châu đến được một mốc điểm thật đặc biệt trên đường Hướng Đạo. Hoan hô những tình cảm chân thành và đậm đà của Anh Chị Em trong Tráng Đoàn Nguyễn Trãi. Tabtt. Thuất.”. Ngoài ra Trưởng Voi Cần Mẫn còn gửi tặng một chiếc Patch kỷniệm.

Tiết mục ca hát không thể nào không có trong những lần họp mặt như thế  này. Những bài hát ngắn và vui kèm theo chương trình hát “Du Ca” đã được đưa vào chương trình sinh hoạt trong các kỳ trại miền hay trại họp bạn. Ca hát xưa nay vẫn là một mục trong sinh hoạt Hướng Đạo. Những bài hát này thường có nội dung đề cao lòng yêu nước, mến cảnh thiên nhiên, ca ngợi quê hương, ca ngợi lòng yêu nước và những anh hùng liệt nữ Việt Nam… Nhớ lại trước đây mỗi lẫn có trại họp bạn Miền hay Thế Giới thường có chương trình dành cho các Trưởng và phụ huynh. Hươu đã đưa chương trình ca hát này vào sinh hoạt bằng những tiêu đề “Hát Cho Việt Nam, Đêm Việt Nam…”. Chương trình thực hiện kể từ trại Thẳng Tiến X tổ chức tại Texas 2014 và tiếp sau đó trong các trại họp bạn XI, XII và các trại họp bạn Trưởng Niên cũng có tiết mục ca hát này.

Cơ hội để anh chị em cùng ngồi bên nhau hát bằng những bài hát đã trở thành phổ biến chẳng những trong Hướng Đạo mà còn cả trong một số hội đoàn Trẻ khác nữa. Với cây đàn thùng, anh Hoẳng Hay Hát giữ giọng và giữ nhịp, chị Vành Khuyên bấm máy cho các bài hát hiện lên màn hình. Lâu lâu được hát to, hát nhiều nên hình như anh chị nào cũng thấy hai lá phổi của mình có cơ hội hít và thở nhiều hơn…

Đồng hồ trên vách tường chỉ hơn ba giờ. Cuộc vui nào rồi cũng phải đến giờ chia tay. Một vòng tròn nhỏ, tay trong tay cất lời tạm biệt “Gặp nhau đây rồi chia tay. Ngày vàng như đã vụt qua trong phút giây. Niềm hăng say còn chưa phai. Đường trường sông núi hẹn mai ta sum vầy…” “Lúc thú vui này lòng càng quyên luyến anh em chúng mình. Lúc thú vui này lòng càng những muốn anh em thấu tình. Rời tay nhau chớ lâu nhé! Tình anh em chớ quên nhé! Lòng anh em nhớ nhau tuy xa mà hóa ra gần…”.

Mọi người quyến luyến ra về và không quên hẹn găp nhau trong trại mùa đông cuối tháng 10.

Đáng lẽ bài viết này đến đây là chấm dứt. Nhưng Hươu muốn nhân cơ hội này để thưa thêm đôi điều. Hươu muốn gửi lời cám ơn đến anh Đà Điểu Siêng Năng và chị Vành Khuyên Yêu Đời đã tổ chức buổi họp mặt thân tình này. Cám ơn các anh chị có mặt và tặng quà buổi hôm đó. Cám ơn các anh chị từ xa gửi lời chúc đến Hươu. Cám ơn chị Thỏ Đảm Đang và Bạch Yến Nhân Hậu tặng món quà quý và đẹp. Cám ơn Trưởng Nguyễn Văn Thuất từ Australia xa xôi. Không quên anh Sóc Nhiệt Thành đã tặng patch kỷ niệm 95 Năm và 100 Năm Hướng Đạo Việt Nam. Cám ơn anh Sói Nhiệt Thành đã design và giúp thực hiện patch 70 Năm cho Hươu…

Trong buổi họp mặt trên anh Đà Điểu Siêng Năng có nói với Anh Chị Em rằng: “Nếu anh Hươu chơi Hướng Đạo suốt mấy mươi năm như thế mà không có sự yểm trợ của vợ thì có lẽ cuộc chơi của anh cũng không được như ý …”. Vậy nên Hươu phải gửi lời cám ơn đến “người trong nhà” tức là vợ của Hươu mà trong anh em Hướng Đạo vui gọi là “bề trên”. Phải thành thật khai báo rằng “bề trên của Hươu chẳng những không ngăn trở mà cũng đã ghi danh sinh hoạt Hướng Đạo. Hai vợ chồng cùng đi họp, đi trại và tham dự các trại lớn từ khi còn ở trong nước cũng như lúc ra ở nước ngoài, cùng đi dự trại họp bạn thế giới. Cũng từng ngủ bụi ngủ bờ, lội sông, băng suối và chung một niềm vui với anh chị em Hướng Đạo. Tên rừng của “bề trên” Hươu là Nhạn Trắng Nhu Mì.

Có chút tâm tình Hươu cũng muốn thưa thêm. Nhìn lại quãng đời ngoài tám mươi tuổi của mình, trong đó có 70 năm gắn bó với Phong Trào Hướng Đạo. Xin nói thẳng: Nếu không “chơi” Hướng Đạo thì chưa chắc Hươu đã thành người tương đối tử tế như ngày hôm nay. Hươu chỉ dám nói “tương đối tử tế” thôi. Vì ngẫm lại Hươu vẫn còn nhiều điều bất cập, nhiều khuyết điểm, nhiều điều bất toàn trong cuộc sống đầy cam go, đặc biệt 17 năm sau năm 1975. Có một điều là dù bất cứ trong hoàn cảnh nào Hươu cũng đã “Cố Gắng” như một Sói Con, “Sắp Sẵn” như một Thiếu Sinh và “Giúp Ích” như một Tráng Sinh. Hươu đã từng tâm sự với một số anh chị em rằng: “Mình coi Hướng Đạo như là một triết lý sống”. Một thứ triết lý thực tiễn và hữu ích dẫn tới sự thành công trong đời, thành công về phẩm hạnh. Thành công về lòng trung chánh. Thành công trong nghĩa vụ “Giúp Ích”. Do vậy Hươu không thể không bày tỏ lòng biết ơn đối với Phong Trào Hướng Đạo. Nhớ ơn huân tước Baden Powell. Nếu không có Ngài thì làm gì trong hơn một thế kỷ qua giới trẻ (và cả người lớn) khắp năm châu có một Phong Trào “Luyện Người” hữu ích. Nhớ ơn Trưởng sáng lập Hướng Đạo Việt Nam Trần Văn Khắc cùng các Trưởng tiền bối đã dắt đưa Hươu vào con đường Thiện Lành.

Bảy Mươi Năm – Một chặng đường thật dài – Nhiều lần tưởng chừng như ngả quỵ. Nhưng rồi với Ba Lời Hứa và chiếc Gậy Nạng của “Tráng Sinh Lên Đường”, Hươu đã tránh được những “tảng đá ngầm” đang chực chờ nhận chìm mình. “Tảng Đá Ngầm” là hình ảnh mà huân tước Baden Powell đã dùng để khuyến cáo các Tráng Sinh khi vào đời được ghi trong cuốn “Đường Thành Công” xuất bản lần đầu vào tháng 6 năm 1922.

Ngoài ra, đời sống tâm linh cũng đã giúp cho Hươu có một nơi nương tựa vững chắc và tinh tấn.

Phong Châu

Tháng 8-2025




Tưởng Nhớ Nhà Thơ Hoàng Phong Linh Võ Đại Tôn

Vương Trùng Dương

Chiến Hữu Võ Đại Tôn, sau nhiều năm lâm bệnh trầm trọng, qua đời tối Thứ Sáu 23/5/2025 tại bệnh viện Bankstown (NSW), hưởng thọ 90 tuổi. Ngoài thơ, văn, anh được gọi là nhà hoạt động chính trị, nhà đấu tranh cho quê hương, Tổ Quốc. Với tôi trong tình thân đồng hương (đề cập trong bài viết nầy) nên anh cho biết gọi nhau là “chiến hữu”.

Các tác phẩm thơ, văn: Lời Viết Cho Quê Hương (Năm 1979 tại Hoa Kỳ). Đoản Khúc Người Ra Đi  (Năm 1986 tại Úc Châu). Hồi ký Tắm Máu Đen (Năm 1992 tại Úc, Hoa Kỳ năm 2000). Thơ Tiếng Chim Bên Dòng Thác Champy (Năm 1992 tại Úc Châu và năm 2000 tái bản tại Hoa Kỳ). Tập Truyện Chim Bắc Cành Nam (2002). Tuyển Tập Thơ Văn Tổ Quốc – Hành Trình 30 Năm” (Úc Châu 2005).

Trước đây, cũng vào tháng 5, tôi viết bài Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh (1945-1950) của Võ Đại Tôn. Theo lời anh, tăm đắc với bài viết nầy vì chỉ có người đồng hương mới hiểu rõ nơi chốn để chia sẻ.

Nay đăng lại bài viết:

Hồi ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh (1945-1950) của Võ Đại Tôn ra đời cách nay một thập niên. Tại California, sách đã ra mắt ngày 16/5/2010, tại phòng họp của cơ quan Stockton Boulevard Partnership, Bắc California quy tụ các hội đoàn, đoàn thể, nhân sĩ và đồng hương tham dự rất đông để nghe diễn giả Võ Đại Tôn từ Úc sang, với tuổi đời 75. Trong bài viết của Khuất Đẩu ở trong nước “Để Tang Cho Sách” ghi lại thời điểm từ “chiến dịch bài trừ văn hóa” xuống đường đốt sách 21/5/1975… trong đó, những tài liệu trung thực về giai đoạn lịch sử nầy đã bị tiêu hủy. Bài viết mới nhất (4/2021) của Song Thao ở Canada: Tháng Tư Nghĩ Về Sách Sài Gòn Xưa “Gần hai chục năm trước, khi Cộng Sản tiếp thu Hà Nội, trò đốt sách đã được bày ra. Trên hai thập niên sau, họ làm y chang lại, bài vở là một thứ bổn cũ soạn lại”. Đọc lại với bao nỗi ngậm ngùi!

Ngày 12/6/2010 trong buổi sinh hoạt “Hành trình công tâm để xây dựng lại niềm tin” và ra mắt thơ văn của tác giả Võ Đại Tôn tại nhà hàng Emerald Bay, Santa Ana đã được các văn hữu như Cao Tiêu, Nguyên Sa, Đỗ Tiến Đức và các nhân sĩ… ca ngợi tinh thần đấu tranh của chiến sĩ Quốc Gia cho lý tưởng tự do, dân chủ.

Nay đọc các bài viết trong nước đã bị lệch lạc, bóp méo sự thật vì dựa vào tài liệu tuyên truyền… Vì vậy viết lại hồi ký của tác giả Võ Đại Tôn, chứng nhân thời cuộc để trả lại sự thật của giai đoạn lịch sử: “Cái gì của César, hãy trả lại César”.

Với hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” trong tháng 6/2010 qua nhận định của Nguyễn Mạnh Trinh cho thấy: Đọc bút ký “Tắm Máu Đen” rồi đọc “Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh”, và đọc những bài thơ ký tên Hoàng Phong Linh, tôi cảm nhận rõ một điều: Sáng tác của ông là tình yêu dành cho quê hương đất nước. Phải có một tình yêu mạnh mẽ thúc đẩy nên con người chiến sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ hòa hợp thành một con người Việt Nam đã chiến đấu trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh từ lúc tuổi thơ cho đến khi trưởng thành. Là chiến sĩ, ông hành động theo lý tưởng của mình, chấp nhận hy sinh gian khổ. Là thi sĩ, ông làm thơ, để gần hơn với mơ mộng, để yêu thương hơn quê hương. Là văn sĩ, ông mang tấm lòng thiết tha của mình giãi bày tâm can của một người nặng lòng với đất nước…

Sau khi dẫn chứng những đoạn trong hồi ký, phân tích với đoạn kết: Đọc bút ký “Tắm Máu Đen” rồi đọc “Hồi Ký Tuổi Thơ & Chiến Tranh”, và đọc những bài thơ ký tên Hoàng Phong Linh, tôi cảm nhận rõ một điều: Sáng tác của ông là tình yêu dành cho quê hương đất nước. Phải có một tình yêu mạnh mẽ thúc đẩy nên con người chiến sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ hòa hợp thành một con người Việt Nam đã chiến đấu trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh từ lúc tuổi thơ cho đến khi trưởng thành. Là chiến sĩ, ông hành động theo lý tưởng của mình, chấp nhận hy sinh gian khổ. Là thi sĩ , ông làm thơ, để gần hơn với mơ mộng, để yêu thương hơn quê hương. Là văn sĩ, ông mang tấm lòng thiết tha của mình giãi bày tâm can của một người nặng lòng với đất nước.

Trong hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” của Võ Đại Tôn in bài giới thiệu của Trần Trung Đạo, là đồng hương, tuy tuổi đời cách nhau hơn hai mươi năm nhưng cùng chung cảnh ngộ đau buồn và cùng chung tâm cảm.

“Chúng tôi những người con đi xa, gánh trên vai đôi gánh nặng. Đất nước, quê hương, tình thương và nỗi nhớ. Nhiều khi tôi thèm làm một con chim nhỏ, bay về đậu trên tấm bia và đọc cho mẹ nghe những bài thơ được đan kết từ mấy mươi năm trầm luân thống khổ. Nhưng không, đôi cánh chúng tôi quá nhỏ và quảng trời thì quá xa, ước mơ cũng chỉ là mơ ước. Chúng tôi chọn lựa một cách sống mà chúng tôi nghĩ là đúng nhất cho đời mình và đất nước nhưng chọn lựa nào mà chẳng có hy sinh. Chúng tôi đã phải hy sinh những riêng tư thân thiết nhất.

… Từ thuở chào đời, tôi đã là một đứa bé bất hạnh. Mẹ và anh chị tôi đều mất rất sớm. Trí nhớ của tôi còn quá non nớt để giữ lại hình ảnh mẹ. Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có đến một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống.

Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ giòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ.

Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn là tuyệt đối. Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu, một ngôi làng dệt lụa bên bờ sông Thu Bồn. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ, nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày buồn và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Một tuổi thơ như thế có thể tạm gọi là tuổi thơ bất hạnh. Nhưng tuổi thơ tôi không phải là bất hạnh nhất hay ít bất hạnh hơn anh Võ Đại Tôn.

… Anh bất hạnh hơn tôi vì mẹ anh, người đàn bà vốn đang trọng bịnh trong người, đã phải chết trong hoàn cảnh vô cùng thảm thương, đau đớn.

… Anh Võ Đại Tôn cũng đã xác định quan điểm này trong hồi ký Tuổi Thơ và Chiến Tranh: “Viết lại cho tuổi trẻ của tôi trong nỗi trầm luân của cả một Dân Tộc và viết cho Tuổi Trẻ Việt Nam với niềm mong ước các thế hệ tương lai hiểu thấu, tránh xa, ngăn chặn, cùng nhau vượt qua mọi chướng ngại để cứu nguy Tổ Quốc và hóa giải mọi trở lực để quang phục quê hương.

… Với tuổi đã ngoài bảy mươi, lẽ ra anh nên dành khoảng thời gian mà anh tự nhận là “hoàng hôn của một đời người” để đi đây đi đó thăm viếng người thân, tạm biệt bạn bè, hay ngồi an nhàn bên tách trà, chén rượu, nhìn mặt trời lên cao ngoài biển rộng, nhìn bóng tà dương khuất dần sau đỉnh núi cao, không, anh không thể an nhàn như thế được. Còn một hơi thở anh còn đóng góp, còn cất lên được một tiếng nói anh còn tìm cách để trao gởi những ước mơ chưa làm được hết của anh cho các thế hệ mai sau. Anh cố gắng dành thời gian còn lại để viết. Dù bàn tay anh có run hơn, đôi mắt có yếu hơn, anh vẫn cố gắng viết, bởi vì con người ai cũng phải chết nhưng sự thật lịch sử phải được sống, sống cho hôm nay và cho mãi mãi về sau…”.

Với hồi ký của anh Võ Đại Tôn qua các bài viết của các văn hữu, trong đó có Trần Trung Đạo và Nguyễn Mạnh Trinh, tôi thấy cũng đủ để cảm nhận những gì tác giả Võ Đại Tôn chia sẻ sau sáu thập niên về nơi cố hương.

Trong thời gian qua, anh và tôi thường viết qua email, anh than tuổi già sức yếu, mỗi lần nghĩ đến đất nước và cố hương lòng đau quặn thắt, không cầm được nước mắt. Cho đến lúc nầy, anh vẫn mang niềm đau vì không về được cố hương, không ôm mồ mẹ trong vòng tay như lúc tuổi thơ!

Trong mùa đại dịch quái ác nầy, ở nhà chán quá, tôi lục lại những quyển sách cũ ra đọc lại để giết thời giờ, nào ngờ hồi ký của anh Võ Đại Tôn, một lần nữa làm tôi xúc động nên ghi lại những dòng cảm nghĩ.

Sau biến cố tang thương của đất nước, tháng năm 1975, vợ chồng anh Võ Đại Tôn vượt biển sang Mã Lai đến định cư tại Úc Châu năm 1976.

Năm 1972, Võ Đại Tôn (Trung Tá) kết hôn với chị Tuyết Mai, dạy ở trung học Long Khánh và làm xướng ngôn viên đài truyền hình Việt Nam, băng tần số 9. Năm 1978, vợ chồng sinh được cháu trai Võ Đại Nam (Cu Lỳ) và sau đó mở quá cà phê Cu Lỳ để có dịp gặp gỡ thân hữu. Với cuộc sống gia đình đang hạnh phúc như vậy nhưng anh mang nặng tấm lòng nợ nước nên tháng 2 năm 1981 trở về lại quê hương để tham gia kháng chiến phục quốc (qua đường rừng Thái-Lào) nhưng đã bị sa cơ vào tháng 10, 1981, tại biên giới Lào Việt.

Anh bị tù biệt giam hơn 10 năm tại tại trại tù Thanh Liệt (B-14), ngoại thành Hà Nội. Thế nhưng từ khi ở tù cho đến khi được thả ra để trở về Úc, anh là người đi giữa hai lằn đạn bởi thủ thuật Cộng Sản Hà Nội đã dàn dựng, gài bẫy, bôi nhọ… khi anh nói rồi bị cắt xén để phát thanh và đăng báo!

Trong cuộc họp báo quốc tế ngày 13 tháng 7 năm 1982 tại Hà Nội, anh lên án chế độ tàn bạo CSVN nhưng do CS tổ chức, dàn dựng thì thành phần hiện diện (trong và ngoài nước) là người của tổ chức nên việc phổ biến qua thủ thuật tráo trở, đánh lận con đen. (Trong bài Phỏng Vấn Võ Đại Tôn, 40 Năm Đấu Tranh của Hữu Nguyên đã trả lời chi tiết về chuyến trở lại phục quốc và cuộc họp báo).

Khi được ra khỏi trại tù CS, anh cũng được ăn uống và chụp hình đăng báo… Từ nhỏ anh đã chứng kiến những trò gian manh, lật lọng của Việt Minh trong gia đình nhưng không hiểu vì sao anh lại bị gài bẫy dàn dựng như vậy? Điều bí ẩn đó tuy bất thường với mọi người nhưng với anh chỉ là “vở kịch” của bọn chúng trong giai đoạn, anh vẫn tiếp tục con đường đấu tranh suốt cuộc đời ở hải ngoại.

Trong thời điểm đó có hàng vạn sĩ quan, viên chức VNCH đang bị cầm tù ở miền Bắc nhưng CS không dàn dựng mà đem con cờ phục quốc ra với dụng ý đen tối cho thành phần nầy trước công luận. Vào thời điểm năm 1981, ở Úc có ít người Việt tỵ nạn, chưa có tổ chức đấu tranh nào, anh dấn thân trong đơn lẽ, tổ chức là trái tim và con đường quang phục là quê hương.

Với tôi, khi còn ở trong nước đã biết và khi tỵ nạn tại Hoa Kỳ khi đọc hai nguồn tin trái ngược nhau bênh vực và chống đối… nên im lặng. Ngay cả bản thân anh cũng bị xuyên tạc là “Hạ sĩ quan thông dịch viên, viên chức quèn của VNCH”!.

Khi người chồng ra đi, cuối năm 1981 chị Tuyết Mai dẹp quán rồi vào làm việc ở Bưu Điện Úc. Sau khi biết tin chồng bị cầm tù, chị đã vận động với báo chí và chính quyền can thiệp cho chồng (thân phụ chị bị chết trong lao tù CS) nên chị quyết tâm tranh đấu đến cùng cho đến khi cuối năm 1991, Bộ Ngoại Giao Úc báo tin cho biết anh Võ Đại Tôn được ra tù và trở lại Úc… Có lẽ trong hoàn cảnh nghiệt ngã nhất, bi thảm nhất chỉ có người vợ mới cảm thông và lặng lẽ tìm mọi cách để cứu thoát cho chồng. Hình ảnh chị cũng như bao người “vợ tù cải tạo”  đã viết nên “trang sử” đẹp, đáng trân trọng…

Trong email, tôi nói anh viết vài dòng tiểu sử cho chính xác, và anh chỉ viết là người lính, viên chức VNCH, là chiến sĩ đấu tranh cho lý tưởng Quốc Gia, Dân Tộc. Cấp bậc, chức vụ có gì đáng nói… mà điều đáng nói đã thể hiện qua thơ văn của Hoàng Phong Linh, Võ Đại Tôn trong bốn thập niên qua. Nay tuổi anh đã gần đất xa trời, đau yếu những vẫn giữ vững tinh thần chống Cộng, yêu chuộng tự do, dân chủ cho quê hương, đất nước. Tôi hiểu và nhân quyển hồi ký nầy để chia sẻ cho nhau.

Thật ra, viết về hồi ký nầy chỉ là phần nhỏ với tóm lực, phải đọc từng dòng trong hồi ký mới cảm nhận được những gì tác giả nói lên trong tận đáy lòng.

*

Quê nội tôi nằm bên cạnh sông Thu Bồn, từ Quốc Lộ I, từ cầu Cao Lâu chạy dài theo hướng Đông xuống các làng ở phía Nam thành phố Hội An. Tên gọi xã Điện Phương hiện nay qua những lần thay đổi thuộc quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ranh giới xã Điện Phương ở phía Tây thành phố Hội An, phía Bắc giáp Tỉnh Lộ 608 (Vĩnh Điện – Hội An), phía Đông của Quốc Lộ 1 (cạnh cầu Cao Lâu) và phía Nam giáp sông Thu Bồn). Điện Phương vẫn giữ tên các làng cũ như Thanh Chiêm, Phước Kiều, Phú Chiêm, Kim Bồng (thời gian thuộc xã Cẩm Kim)… Theo dòng lịch sử thì những làng nầy được hình thành mấy trăm năm về trước thời Nguyễn Hoàng, trong đó có di dân từ Thanh Hóa. Vài làng nơi nầy nổi tiếng nghề đúc đồng từ thời vua Tự Đức. Nghề bánh tráng và mì Quảng nổi tiếng từ xưa. Làng Kim Bồng rất nổi tiếng về nghề mộc, hầu hết các kiến trúc cổ kính của Hội An đều do bàn tay tài hoa của nơi nầy. Nghề diệt chiếu phổ biến ở nhiều làng.

Dòng họ Tộc Trần có 5 phái nên con cháu rất đông, ở dọc theo tả và hữu ngạn sông Thu Bồn trong hai xã Xuyên Quang, Xuyên Thái, quận Duy Xuyên (nay là xã Duy Phước) cũng gần với làng Kim Bồng. Nhà thờ Tộc Trần của tôi có ở Phú Chiêm và nhà thờ Tộc Võ của anh ở Kim Bồng.

Cũng như các nơi khác của Quảng Nam, đất đai khô cằn vào mùa hè, nghề nông vất vả nên người dân phải sống bằng những ngành nghề khác. Hơn nữa ở địa danh nầy gần sông Thu Bồn nên gánh chịu bao thiên tai vào mùa bão lụt. Quê nội anh Võ Đại Tôn ở Kim Bồng, cũng khoảng thập niên 1920, thân phụ anh ra Đà Nẵng lập nghiệp, xây dựng cơ ngơi vững chắc.

Hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” dày 212 trang, bài giới thiệu của Trần Trung Đạo (trang 5 đến trang 26) ghi nhận những điều, theo tôi, là đồng hương, cùng cảnh ngộ, cùng văn giới, chứng nhân nỗi thống khổ với nhau, nơi cố hương, thăng trầm của lịch sử, cảm nhận nỗi lòng anh Võ Đại Tôn qua thơ văn… mới viết được như vậy. Bài viết là tâm bút, khó có người cầm bút thứ hai trang trải với tận đáy lòng.

“Tôi sinh ra tại Hải Châu, thị xã Đà Nẵng nhưng thực ra nguyên quán dòng họ Ông Cha là làng Kim Bồng, xã Điện Phương… Tôi là đứa con thứ tám trong số mười người con của cha mẹ tôi, chín anh em trai và một chị gái” (trang 32).

“Gia đình bác, cha mẹ và chú tôi, đầu sống chung trong một ngôi nhà tạ Ngã Năm thành phố Đà Nẵng Được xây cất từ năm 1924, hiện nay là Long Phụng Từ Đường thuộc Tộc Võ)” (trang 34). Bác, cha và chú anh trúng thầu với người Pháp xây cất ngôi nhà thờ Thiên Chúa Giáo Chính Tòa (nhà thờ Con Gà) năm 1923, nổi danh công trình độc đáo. Vì vậy cha mẹ anh cho con cái học trường Pháp ở Đà Nẵng.

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật đầu hàng, Việt Minh cướp chính quyền. Pháp trở lại Việt Nam, khi Pháp chiếm lại Đà Nẵng và lập lại hệ thống cai trị, cuộc chiến xảy ra… Hồi ký ghi lại giai đoạn tản cư vì chiến tranh (1945-1950). Giữa năm 1946, sợ chiến tranh xảy ra ở thành phố Đà Nẵng nên gia đình anh di tản về quê nội ở Kim Bồng “Tuổi thơ của tôi bắt đầu đi vào một khúc quanh gai góc, vì chiến tranh” (trang 51).

Rồi từ đó người dân sống trong tình cảnh “một cổ hai tròng”, ngày thì bị Pháp bố ráp (ruồng, càn), Việt Minh bắt phải nộp gạo để nuôi quân trong khi người dân thiếu thốn ăn cơm độn với khoai, sắn. Và đêm thì bị Việt Minh bắt thanh niên (nam, nữ) tham gia lực lượng chống Pháp. Riêng gia đình anh gặp phải tình cảnh trớ trêu vì nghi còn thân Pháp. Việt Minh còn bắt buộc nhà của anh phải treo hình “cụ Hồ” cũng là trò thâm độc vì khi Pháp đi ruồng bố vào nhà mà thấy hình nầy thì đốt nhà để gây lòng hận thù với Pháp. Trong hồi ký, anh tả từng chi tiết về thủ đoạn gây tai họa cho gia đình anh.

Trong một lần Pháp đi ruồng, vào nhà anh lục soát, chú và các anh chị nói chuyện bằng tiếng Tây nên không làm khó dễ gì cả. Nhưng tai họa lại giáng lên đầu nhà anh “Từ lúc có Tây qua làng ruồng bố, rồi có người cố tình phao tin đồn là nhà tôi điềm chỉ cho Tây bắt cán bộ Việt Minh…” (trang 88). Ông “chủ tịch, cán bộ cao cấp của Cộng Sản” là con trai của người tá điền làm ruộng cho nhà anh, trở thành hung thần. Trong khi tất cả cơ ngơi song thân anh ở Đà Nẵng bị Tây tịch thu thì gia đình anh ở làng quê bị kết tội thân Tây. Gia đình bị cô lập, sống trong hoàn cảnh khó khăn, luôn luôn bị rình rập, cả tuổi thơ của anh chịu đựng mọi cơ cực. Nỗi đau tột cùng khi mẹ anh bị ho lao, làm cái chòi nhỏ để ở riêng vì sợ bị lây (theo ý mẹ anh), không có thuốc men nên bị cơn đau hành hạ ngày đêm. Trước tình thế đó “Sau nhiều đêm bàn tán, thêm nhiều ý kiến tính tới tính lui. Tôi được biết bác và cha tôi đồng thuận để cho mẹ tôi về lại Đà Nẵng, có hai chú đi theo” (trang 104). Đoạn đường từ Kim Bồng theo đường bộ ra Đà Nẵng rất khó khăn vì bị kiểm soát gắt gao cả Việt Minh và Tây. “Lúc ra đi, mẹ tôi 43 tuổi, chú Tám Dương 47, còn chú Mười 31 (Tháng 6 năm 1947)” (trang 110). Chuyến đi định mệnh đã biệt tăm cho đến năm 1959, 1960 mới biết thảm cảnh xảy ra!.

“Đến năm 1955, các anh tôi đều đã là sĩ quan trong Quân Đội Quốc Gia. Tôi vẫn còn đi học tại Sài Gòn. Anh Hai tôi được đi tu nghiệp tại Pháp (trường bộ binh  Saint Maxent), có gởi về cho anh Năm tôi một bức thư dài kể lại chi tiết sự kiện năm 1949 về đôi giày cườm của mẹ tôi tại làng Cổ Lưu (xã Điện Nam, Quảng Nam), kèm theo một bản đồ ghi rõ địa điểm liên hệ… Lúc nầy anh Năm tôi phục vụ tại Phân Khu Nam-Ngãi-Định trong chiến dịch tiếp thu hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Anh Sáu tôi thì đã mãn khóa sĩ quan trừ bị Thủ Đức (khóa 4/54, và đi tu nghiệp khóa “commando” ở Watchay – Hải Phòng (Ghi thêm: Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, nhập khóa ngày 23 tháng 11 năm 1953 (dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại) và mãn khóa ngày 1 tháng 6 năm 1954. Tổng số sĩ quan ra trường hồi đó là 1200)… Chúng tôi phải đợi đến năm 1959 (gần 13 năm sau, đêm mẹ và hai chú tôi ra đi từ làng Kim Bồng, 1947) sau khi anh Năm tôi được bổ nhiệm làm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 2 Bộ Binh… Năm 1960, anh Năm tôi được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng Quảng Nam” (trang 118, 119).

Tác giả chỉ gọi anh chị theo thứ tự trong đình như cách gọi của nhiều gia đình mà thôi. Anh Năm của anh là Đại Tá Võ Hữu Thu, lúc đó ở Quảng Nam có sự tranh chấp đảng phái và tôn giáo nên chọn vị tỉnh trưởng của địa phương, không tôn giáo. Đại Tá Võ Hữu Thu nổi tiếng thanh liêm, cương trực, người dân nơi nầy rất quý mến (sau nầy ứng cử vào Dân Biểu Quốc Hội).

(Ghi thêm: Năm 1960, anh Võ Đại Tôn làm Trưởng Ban 5, Trại Biệt Kích Long Thành, anh thông thạo tiếng Pháp và Anh nên không cần thông dịch viên nên sau nầy họ xuyên tạc, gán anh là hạ sĩ quan thông dịch viên. Sang thời Đệ Nhị Cộng Hòa, chính phủ Phan Huy Quát thành lập ngày 16/02/1965 nâng Phủ Đặc Ủy Dân Vận Chiêu Hồi thành Bộ Chiêu Hồi. Tổng Trường đầu tiên là Trần Văn Ân (trong tháng 3) kế đến là đến là Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị. Anh Võ Đại Tôn, sĩ quan cấp tá trong QL Việt Nam Cộng Hòa, đã từng được biệt phái ngoại ngạch sang nhiều công vụ dân chính và sau cùng Giám Đốc Công Tác Bộ Chiêu Hồi).

Trở lại với hồi ký “Anh Năm tôi có nhờ ông Quận Trưởng quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam lúc bấy giờ (ông Trần Quốc Thái) đưa đi thám sát vùng làng Cổ Lưu (theo bản đồ của anh Hai tôi vẽ lại)… Ông Quận Trưởng còn cho biết là trước đây trong thời kỳ chiến tranh, khu vực nầy do Việt Minh (Cộng Sản) kiểm soát. Có một đảng viên Cộng Sản tên là Huỳnh Thân làm trưởng ban ám sát, nổi tiếng giết người không run tay trong làng nầy và các vùng lân cận. Trong một cuộc hành quân của Quân Đội Quốc Gia, t5en6 thân bị bắt và hiện còn giam tại lao xá tỉnh Quảng Nam ở Hội An…

Qua hồ sơ lý lịch và những bản cung khai của tên Thân nầy, các cơ quan anh ninh Quốc Gia tại địa phương kiểm chứng, anh Năm tôi cho chuyển đương sự về sở An Ninh Quân Đội để thẩm vấn thêm, Anh tôi đích thân hỏi cung, ghi thêm chi tiết nhiều sự kiện vào hồ sơ tội ác của đương sự” (trang 118, 119).

Theo lời kể của hai ông Minh và Miêng (chủ nhà, ân nhân giúp tá túc) và lời cung khai của Huỳnh Thân, tên sát thủ ghi lại:

“Mẹ và hai chú tôi từ giã nhà hai ông Minh và Miêng vào giữa đêm khuya sau khi vào nhà xin tạm nghỉ chân một lúc, băng qua làng Cổ Lưu để ra đường cái thì bị một nhóm Việt Minh (Cộng Sản) bắt giữ… Cả ba người đã bị tra kháo, đánh đập suốt 3 ngày đêm, bị kết tội là tìm đường đi “liên lạc” với Tây” (trang120) và đề cập đến các thủ đoạn tra khảo quá tàn nhẫn, nhất là người đàn bà đang bị bệnh ho lao trầm trọng.

“Hắn và hai tên thanh niên dẫn ba người ra một bãi cát trống, đêm sáng lờ mờ qua ánh trăng khuyết. Không có đem theo đèn đuốc gì cả, chỉ có cầm theo hai cái cuốc. Hắn bắt mẹ tôi ngồi riêng một chỗ. Còn hai chú thì được lệnh lấy cuốc tự đào một cái hố nhỏ. Xong rồi, khi chú Mười tôi còn đang đứng bên miệng hố, chưa biết làm gì thêm, thì thình lình tên Thân chụp một cái cuốc, phang ngang lưng chú một nhát mạnh làm chú ngã chúi xuống hố, nằm sấp, đau quằn quại.

Trước cảnh tượng bất ngờ như vậy, chú Tám Dương tôi chưa kịp la lên thì hắn đứng phía sau dùng chân đạp chú té xuống hố. Chú tôi vừa cố lóp ngóp bò lên vừa la xin tha mạng. Hắn đứng trên miệng hố cát, cầm cuốc phang xuống, trúng ngay vào trán của chú tôi, làm chú té bật ngửa ra, nằm đè trên lưng chú Mười. Hai người chưa chết.

Rồi, hắn đến xốc mẹ tôi đứng dậy trong khi mẹ tôi đang ôm mặt khóc lớn. Hắn lạnh lùng dẫn mẹ tôi đến cạnh miệng hố, xô xuống thật mạnh, mẹ tôi rớt xuống, nằm sấp trên người chú Tám. Hắn đứng trên hố, cầm cuốc cúi xuống phang mấy nhát thật mạnh vào lưng mẹ tôi, làm cả thân hình mẹ tôi quằn cong lại.

Cả ba người chưa chết, nhưng không còn sức bò dậy được nữa, nằm im trong máu, chung một hố cát cạn. Tên Thân và đồng bọn dùng cuốc xúc cát lấp hố lại rồi bỏ đi. Chôn sống!” (trang 124, 125).

Với tội ác dã man tày trời của tên Huỳnh Thân, nhưng người con của mẹ – Đại Tá Tỉnh Trưởng Quảng Nam –  với cái tâm nhân bản của người Quốc Gia, không đem ra xử bắn mà “Sau nhiều ngày bàn tính trước sự đau khổ cùng cực của gia đình, anh Năm tôi đành phải chuyển tên Thân ra lao xá Thừa Phủ ở Huế để cho chính quyến xét xử theo luật pháp về nhiều tôi trạng giết người khác, không để cho chúng tôi thấy mặt hắn” (trang 130).

Ba quan tài được di chuyển từ làng Cở Lưu về bờ sông Thu Bồn gần Hội An để an táng.

Anh lại chứng kiến hình ảnh quá bi thương: Nước Trôi Mồ Mẹ. Năm 1972, anh từ Sài Gòn ra Quảng Nam trong một chuyến công tác, đứng bên nầy bờ sông Hội An thấy nước lụt dâng lên ngập cả làng Kim Bồng bên kia sông, tưởng chừng nước cuốn trôi luôn mồ mẹ anh nên xúc động làm bài thơ:

“Con quỳ bên ni dòng sông

Bên tê mồ Mẹ!

Trời ơi, nước ngập tràn đồng

Từng khúc xương trôi đau lòng con trẻ.

Con mang trong người thịt xương của Mẹ

Chừ trông nước lụt dâng về

Con còn bên ni, Mẹ mất bên tê,

Sóng bao la vỗ, bốn bề Mẹ mô?

Ngày xưa Mẹ chết, con khóc mắt khô,

Chừ xương Mẹ trôi, hồn con nước lụt.

…

Con quỳ bên ni, linh hồn tê buốt

Mần răng mà về bên tê chừ, Mẹ ôi!

Quê hương nước ngập tận trời

Hồn con khóc suốt một đời không nguôi!…”

(Trang 142, 144)

Sau khi mẹ anh và hai người chú ra đi biệt tăm, cha và người thân trong gia đình anh còn ở lại làng quê Kim Bồng trong 3 năm, năm tháng đó với anh là tháng này bất hạnh, đau thương nhất, địa ngục của của cuộc đời. Tuổi thơ của anh được mẹ cưng nhất, nuông chìều, lúc nào cũng gần gũi bên mẹ nay mất đi hình ảnh thiêng liêng, cao quý nhất mà anh luôn luôn tơn thờ cùng với cuộc sống tận cùng của xã hợi với bao đắng cay!

“Chúng tôi về lại Đà Nẵng sau gần 5 năm (1945-1950) đi tản cư về làng quê Kim Đồng, vì chiến tranh… Tôi đã mất tuổi thơ và điều đau đớn nhất, còn in sâu vào suốt đời tôi mãi đến hôm nay, là tôi đã mất mẹ!” (trang 183).

Cũng như anh, quê nội tôi ở các làng nơi đây lâu đời, thầy tôi là nhà nho, sùng đạo Phật nên rời quê rất sớm khoảng năm 1920 theo dòng Trường Giang vào Thăng Bình mưu sinh với chữ  nghĩa, lập nghiệp và các anh chị ra đời từ đó. Tuổi thơ học ở Hội An nên thỉnh thoảng tôi ghé về quê nội… cho đến nay hơn sáu thập niên, tôi chưa biết gì về cố hương, ngay nhà thờ Tộc Trần và nơi chốn xa xưa chỉ được biết qua hình ảnh, email của các cháu…

Trong thời kỳ Việt Minh, tôi chưa biết gì, chỉ nghe qua lời kể của anh chị trong gia đình, hình như các làng quê miền Trung dọc theo duyên hải, ở đâu cũng vậy, người dân hoàn cảnh “một cổ hai tròng” qua các năm dài. Tôi đã đọc nhiều về sử liệu trong giai đoạn nầy như quyển Chiến Tranh 1946-1954 (từ chiến tranh Việt Minh – Pháp đến chiến tranh ý thức hệ Quốc – Cộng) của Trần Gia Phụng năm 2018, dày 568 trang. Đây là một quyển sách viết rất công phu với chú thích và hình ảnh trong bộ sách Sử Việt Đại Cương của tác giả trong mấy thập niên ở Canada. Nhưng chưa đọc tác phẩm nào viết lại giai đoạn nầy ở làng quê của 3 miền để am tường. Bút ký lịch sử Một Cơn Gió Bụi của cụ Trần Trọng Kim cho đến nay được đánh giá là tác phẩm quan trọng của giai đoạn lịch sử nhưng tổng quát trên chính trường…

Hồi ký “Tuổi Thơ & Chiến Tranh” của tác giả Võ Đại Tôn chỉ đề cập đến quãng thời gian 5 năm (1945-1950) xảy trong gia đình và nơi cố hương với gọng kìm giữa Việt Minh & Pháp. Tháng 6 năm 1948, Hiệp định Vịnh Hạ Long, Pháp đồng ý thành lập Quốc Gia Việt Nam gồm cả ba miền Bắc Trung Nam, nằm trong Liên Hiệp Pháp. Hè năm 1949 chính phủ Quốc Gia Việt Nam ra đời, cựu hoàng Bảo Đại về nước làm Quốc Trưởng, đất nước có hai chính phủ trong tình trạng tranh tối tranh sáng. Theo sách của Trần Gia Phụng: “Lãnh thổ hai chính phủ không phân biệt giới tuyến rõ rệt. Chính phủ nào cũng tự nhận là chủ nhân chính thống toàn bộ đất nước” (Sđd trang 235)… nên ngoại trừ ở những thành phố lớn, những nơi “xôi đậu”, làng quê bị Việt Minh răn đe, ám sát người theo Quốc Gia và đảng phái đối lập… tình trạng càng căng thẳng và bi đát giữa cuộc chiến ý thức hệ Quốc/Cộng trước khi phân chia hai miền chiến tuyến. Qua sử liệu giúp tôi liên tưởng đến các bài viết đã đọc với bối cảnh, thân phận, nỗi đau thực sự trên quê hương!

Từ lâu, qua thơ văn của anh Võ Đại Tôn mới nhận nhau là đồng hương, khi đọc lại hồi ký của anh Võ Đại Tôn mới biết thêm được gốc gác, gợi lại trong tôi niềm cảm xúc.

Anh viết hồi ký nầy, theo lời chia sẻ, bằng trái tim, cảm xúc tột cùng và theo anh, nhiều lúc mắt nhòe đi trước màn hình computer vì quá xúc động. Lời thật chân tình và thán phục anh có trí nhớ rất tốt.

Có hiểu nỗi lòng, lý tưởng của anh mới hiểu được vì sao khi vừa mới tỵ nạn tại Úc, vợ anh còn trẻ, con thơ nhưng anh đành từ bỏ để chọn con đường gian nguy.

Tôi không đề cập đến vấn đề chính trị ở đây vì trong quá khứ, như đã nói, anh là nạn nhân “đi giữa hai lằn đạn”. Anh đã đi  khắp nơi gặp gỡ, trình bày công cuộc dấn thân cho chính nghĩa. Như đã đề cập, anh không bao giờ nhắc đến thân thế của gia đình, của những người anh trong Quân Lực VNCH mà chỉ nói về bản thân từ khi rời quê hương và trở lại cố hương với cái mộng, nếu gọi là “đội đá vá trời” để “quang phục quê hương”! Vì sao và tại sao, chỉ có trái tim chân chính của anh với tinh thần đầy nhiệt huyết người con họ Võ ở Kim Bồng ảnh hưởng những bậc tiền nhân ngày xưa của Quảng Nam đã hy sinh cho đại cuộc.

Sự dấn thân cho quê hương của anh Võ Đại Tôn đã trả cái giá quá đắt từ lao tù và cả thị phi, từ tấm lòng chân chính của bản thân đến sự hoài nghi của nhiều người và sự đánh phá của kẻ thù… nhưng với tôi, anh vẫn là chiến sĩ, người lính của QLVNCH.

Với bút hiệu Hoàng Phong Linh qua các bài thơ trước năm 1975. Sau nầy với các thi phẩm Lời Viết Cho Quê Hương, Đoản Khúc Người Ra Đi và Tiếng Chim Bên Dòng Thác Champy, nhà xuất bản Bất Khuất ấn hành năm 1992, dày 119 trang.

Một số bài thơ của anh đã được phổ nhạc, trong đó có bài Mẹ Việt Nam Ơi! Chúng Con Vẫn Còn Đây, sáng tác năm 1972 được Nguyễn Ánh 9 phổ thành ca khúc vào tháng Giêng 1975. Ca khúc nầy được các ca sĩ trình bày, phổ biến rộng rãi vào thời điểm đó. Ở hải ngoại, Việt Dzũng và Nguyệt Ánh khi lưu diễn khắp nơi đều mở đầu với ca khúc nầy. Bài thơ và ca khúc nầy cho đến nay vẫn được người Việt tị nạn hải ngoại coi như lời tâm niệm.

Lời kết trong hồi ký của anh: “Tôi đã mất Tuổi Thơ và điều đau đớn nhất in sâu vào suốt cuộc đời tôi mãi đến hôm nay là tôi đã mất Mẹ” niềm đau và nỗi lòng của người con, chiến sĩ Quốc Gia bị đánh mất quê hương!

*

Trong những năm qua, anh nằm trong bệnh viện, thỉnh thoảng hai anh em email với nhau, anh không than cho bệnh tật bản thân vì đã một đời cống hiến cho quê hương và đã trải qua bao nhiêu nghiệt ngã, đau thương nhưng than cho tuổi già đau yếu nên không được theo đuổi giấc mơ cho quê hương được tự do, thanh bình!

Nay anh đã ra người thiên cổ! Vĩnh biệt Chiến Hữu Võ Đại Tôn! Xin thắp nén hương lòng tưởng nhớ đến anh.

Little Saigon 5/2025

Vương Trùng Dương




MEMBER LIST (TEST)


[member_list]