Mãi Còn Nợ Anh
TÌNH THU

Ngọc Hạnh
Trời đã vào Thu, lá trên cành cây chung quanh nhà tôi đã đổi màu tuyệt đẹp, vàng cam, hồng
hồng, vàng tươi….Thỉnh thoảng một cơn gió thoảng qua là hàng ngàn chiếc lá rơi như đàn bướm lượn, đẹp mắt vô cùng.. Nhìn lá vàng rơi tôi nhớ đến những lần đi du ngoạn mùa Thu với bạn bè cùng sống trong vùng, do một nhà văn kiêm nhà thơ lão thành khởi xướng và hướng dẫn. Anh như con chim đầu đàn, từng là chủ bút các Tuần báo, Nguyệt san ở Việt nam và Hoa kỳ, xuất bản nhiều tâp thơ, truyện ngắn, truyện dài… Nhìn thác nước, trời xanh hay bất cứ cảnh đẹp nào anh là sáng tác một bài thơ.Tuổi cao nhưng thơ văn anh ướt át, tình cảm đậm đà chẳng khác chi người trẻ tuổi. Anh yêu thiên nhiên, sông núi, yêu quê hương, và yêu… người đẹp.
Theo anh con người có thể đẹp về thể chất hay tâm hồn. Lúc nào gặp cũng thấy y phục anh cũng tươm tất, chỉnh tề. Tóc anh bạc trắng như ông tiên nhưng nếu ai hỏi anh bao nhiêu tuổi, anh chỉ cười và bảo nhà văn nhà thơ không có tuổi. Lúc chị còn ở trên đời, anh là người chồng tốt, chăm sóc, đưa vợ đi đây đó. Chị bệnh anh tận tình chạy chữa, săn sóc thưc ăn giấc ngủ. Anh còn chịu khó đón đưa các bạn khác đến nhà chơi mà chược với chị cho chị vui. Vì phần lớn thơ anh là thơ tình, ngọt ngào, nên tôi hỏi chị có ghen tị với những người tình trong thơ văn của anh không. Chị trả lời liền, “đó là nguồn cảm hứng để sáng tác, không có thật đâu.” Hỏi chị nếu có kiếp sau chị có bằng lòng làm vợ anh lần nữa không, chi trà lời là “bằng lòng cả hai tay”, vui chưa.
Chị mất ít lâu anh có bạn gái. Tại sao không? Có người trò chuyện cho vui khoảng đời còn lại là điều may mắn, không phải ai cũng có được ở tuổi vàng như anh. Anh quan niệm sống một ngày vui một ngày. Buồn bã, âu sầu phiền muộn ảnh hưởng đền sức khỏe, mang bệnh làm phiền gia đình là không có anh. Các con anh có hiếu, mua xe mới để anh đi lại và đưa đón… bạn gái cho an toàn.
Theo anh tình yêu là đề tài không bao giờ chán từ ngàn năm trước, từ Âu sang Á, từ vị vua sang
cả cho đến thường dân áo vải chân đất. Vì tình yêu mà hoàng tử nước Anh chia tay với vợ, một
công nương xinh đẹp, cưới một phụ nữ lớn tuổi có chồng có con, nhan sắc thua kém vợ mình rất
xa. Vì tình yêu các bà vợ tù không quản ngại đường xá xa xôi, từ Nam ra Bắc tay xách, nách
mang, lội suối qua đèo thăm chồng trong trại cải tạo.
Và hôm nay vì tình yêu cô bạn Hảo của tôi cũng ngất ngư, nàng xin nghỉ một ngày để đến tôi chơi và tâm sự. Hảo có bạn trai. Hai người quen nhau trên mạng lưới. Lúc đầu tưởng là trò chuyện cho vui ai ngờ thành bạn thân. Họ nghiện thư nhau từ lúc nào chẳng biết. Không có thư thì mong.
Xa cách nhau mấy ngàn dặm nhưng họ điện thư cho nhau hàng ngày, kể cho nhau nhưng chuyện
bình thường trong ngày, trên báo chí sách vở, tin tưc …
Hảo học ở anh tính lạc quan, hiếu học. Tục ngữ, ca dao, văn, thơ, địa lý, lich sử, âm nhạc bạn Hảo giảng trơn tru. Ngoài ra bạn Hảo có tính thương người. May mắn được chỗ làm tốt, có lương cao, anh thường giúp đỡ người nghèo, bệnh tật ở quê nhà. Hảo muốn đóng góp với anh trong việc thiện nhưng anh bảo có thể lo nổi môt mình. Anh chuyễn cho Hảo xem thư cám ơn của cá nhân hay hội đoàn. Anh cũng hay nhắc tới người Mẹ đã qua đời với lòng ngưỡng mộ, kính yêu. Lúc sinh tiền bà đã nêu gương tốt cho con, hay giúp đỡ, cưu mang người nghèo khó.
Bạn Hảo còn là người khéo nói. Anh nhẹ nhàng, ân cần, và có tình khôi hài. Được điên thư anh,
Hảo khúc khích cười một mình. Họ có cảm tưởng rất gần gủi nhau tuy cách xa hàng 5, 6 giờ bay.
Hảo vui khi nhận điện thư của bạn, có khi 3, 4 lần một ngày cho đến khi Hảo hết hồn nghe bạn
bảo ngơ ngẩn nhớ thương, muốn vượt ngàn dặm đến thăm Hảo để tính chuyện lâu dài…Hảo
phân vân. Anh chưa hưu trí và ít tuổi hơn Hảo nhưng anh quan niệm giống số người Mỹ, chàng
kém tuổi hơn nàng vẫn có thể yêu nhau và ở với nhau lâu dài, Anh nêu trường hợp của Halle
Berry và Demi Moore… và anh nói tuổi tác chênh lệch, tiếng đời dị nghị, anh không bận tâm. Anh bảo tuổi nào cũng đẹp, cuộc đời nào cũng đáng yêu nếu biết sống cho hợp với tính tình mình, nếu biết yêu đời, biết yêu người và biết vui, biết thụ hưởng những gì trời cho. Anh nói nếu muốn thì có thể xin đổi đi tiểu bang khác dễ dàng.
Xúc động, Hảo tự hỏi thương yêu lúc mùa thu của cuộc đời thì có nên chăng? Hảo phân vân,
vương vấn. Bao nhiêu năm lẻ loi, bận bịu với bổn phận. Nay các con trưởng thành được nhàn hạ tung tăng, gặp chuyện này thật là chẳng giống ai. Truyện Kiều đã có câu
Ma đưa lối, quỷ dẫn đuờng
Tìm chi nhưng lối đoạn trường mà đi ……
Thật là bỏ thì thương, vương thi tội. Hảo bàn với tôi có nên khuyên anh quên đi “dự tính lâu dài” của anh chăng. Bạn bè quý mến nhau, chia sẻ , tâm sư với nhau là quý lắm rồi,là ơn phươc bề trên, tham lam chỉ cực thân thôi.Thừơng quen biết thì nhiều nhưng bạn thân có được mấy người, hiếm như mưa sa mạc. Nghe Hảo tâm sự tôi nhớ lại bài TINH GÌA của Phan Khôi:
……..Ôi, đôi ta tình thương nhau thì đã nặng Mà lấy nhau thi không đặng…Nhưng ……….. Buông nhau thì sao nỡ ….
Theo tôi mỗi người môt duyên phân, tùy quan niêm mỗi người. Nếu có thể đem niềm vui đến cho bạn mình và bản thân, không làm phiền kẻ khác, tại sao không. Đó là ý kiến của người quê mùa nhưng Hảo quyết đinh mà thôi.Vả lại đâu cần phải sống chung mới hạnh phúc. Nhà thơ niên trưởng kể với tôi mỗi ngày ông tặng cho ngươi yêu một bài thơ dù nàng không phải là thi sĩ.
Thỉnh thoảng anh mới găp và đưa nàng đi nghe nhạc, xem phim… Anh vui, khỏe mạnh cho đến
khi lìa đời thình lình vì bệnh tim (?) và các con cũng vui lây.
Nhìn ra sân hoa cúc đang nở rộ màu sắc rực rỡ nhưng sẽ phai tàn, buồn hiu khi mùa Đông đến và tôi chợt nhớ câu thơ của cô em Ngọc Dung:
Xuân của đất trời, Xuân đi rồi đến
Xuân của loài người, Xuân đến rồi đi
Tôi cầu mong Hảo và mọi người có đủ niềm vui, có tình yêu thương,được hạnh phúc, sống vui
trên đời dù ở quê hương hay hải ngoại…
Ngọc Hạnh.
Hoa Thịnh Đốn và Bức Tường Đá Đen
Ký sự

Tuần lễ vừa qua vợ chồng người cháu gọi bằng cô từ Cali đến Virginia thăm tôi. Đã lâu cô cháu chưa gặp nhau, chỉ liên lạc qua điện thoại hay điện thư mà thôi. Mấy lần hai cháu đinh đi thăm cô nhưng việc nhà việc sở lần lữa mãi.
Nhân dịp được nghỉ lễ “Chiến Sĩ Trận Vong“ (Memorial Day) hai cháu quyết đinh ghé Virginia thăm cô và các em họ, trên đường đi Luân Đôn dự lễ tốt nghiệp con gái. Từ Cali bay thẳng đến Luân Đôn giá máy bay rẻ hơn từ Washington DC đi Luân Đôn dù đường bay ngắn hơn.
Tháng 5 vẫn còn mùa Xuân, thời tiết mát mẻ, khí hậu Virginia rất đẹp. Trời không lạnh cũng không nóng nực. Mưa xuân đủ ướt đất cho hoa cỏ xanh tươi mát mắt. Công viên và tư gia sân cỏ xanh mướt, hoa các loại đua nhau nở rộ quyến rũ bướm ong.
Cháu cho biết San Jose thời tiết năm nay hơi bất thường, tháng 5 mà có hôm còn lạnh, ra đường phải mặc ấm. Hai cháu chẳng lạ gì vùng Hoa Thinh Đốn nên chỉ loanh quanh ở nhà với cô và các em cho đến một hôm vào gần cuối tuần, lúc đi thủ đô Washington DC, hai cháu muốn ghé thăm bức tường đá đen “Đài tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Chiến Tranh Việt Nam” (VietNam Veterans Memorial).
Tôi cũng chưa biết bức tường, dù cư ngụ ngay tại vùng thủ đô gần 40 năm. Đến đài Tưởng Niệm các chiến sĩ tôi bùi ngùi xót xa cho gia đình họ, cho những góa phụ cô đơn và các con mồ côi thiếu sự chăm sóc của cha thân yêu. Tôi có đọc báo, xem tin tức cách đây mấy mươi năm khi mới khánh thành bức Tường Đá Đen nhưng toàn là hàm thụ, chưa thấy tận nơi bao giờ. Bà con bạn bè ở xa về chơi đều được các con cháu đưa đi thăm thủ đô và bức tường ghi tên những chiến binh Hoa Kỳ và người ngoại quốc đã chết hoặc mất tích trong chiến tranh Việt Nam.
Lần này tôi cùng đi với các cháu có lẽ vì thấy một số xe mô tô ồn ào chạy trên đường phố nhắc tôi nhớ còn vài ngày nữa là đến ngày lễ “Chiến Sĩ Trận Vong“. Các cựu chiến binh năm nào cũng đến thủ đô đến từ các tiểu bang khác để dự lễ, mỗi người một chiếc mô tô, chẳng ai đèo ai.
Chúng tôi đến khu công viên quốc gia Washington DC., tìm chỗ đậu xe cũng dễ vì không phải ngày cuối tuần nhưng phải đi bộ khoảng ngắn. Đi vào cuối tuần gay go hơn nhiều, khó tìm chỗ đậu, tốt hơn là đi Metro vừa nhanh vừa khỏi tìm chỗ đậu xe khó khăn.
Bức tường Đá Đen nằm trong khu công viên quốc gia, diện tích 8.100 m2, gần khu vườn cây. Nơi đây mát mẻ nhờ cây cao cho bóng mát, dưới đất thảm cỏ xanh mượt êm như nhung, lối đi bằng thẳng phẳng phiu. Những băng gỗ đặt rải rác theo lối đi cho khách nghỉ chân. Những người viếng bức tường đủ sắc tộc, Ấn Độ, người da trắng, da đen, da vàng, trẻ em, người lớn, nam, nữ, cụ già, có em bé trong xe nôi cho mẹ đẩy đi. Ngày thường không mấy đông nhưng vào cuối tuần hay ngày lễ nơi này rất đông người thăm viếng. Người già, trẻ, thanh niên thanh nữ, chen chúc trên con đường ngắn. Hôm tôi đến có những vị mặc quân phục đứng tuổi đến viếng bức tường, dò tìm tên người thân trên bảng đá đen.
Dưới chân bức tường rải rác một vài cành hoa hay nguyên cả bó hoa tươi.
Mới vào khu vườn đã thấy tượng 3 quân nhân mang súng bằng đồng đứng trên bục gần bức tường. Ba người nhưng khác màu da: một da đen, một da trắng, và một người quốc tịch khác, người Á Châu?
Một số du khách đứng chờ chụp ảnh kỷ niệm với bức tượng, có người chăm chỉ đọc những dòng chữ ghi trên bảng đồng dưới chân tượng.
Cách khoảng ngắn cũng trong công viên có tượng mấy phụ nữ cũng bằng đồng, đang đỡ người nam mặc quân phục, một thương binh? Tôi không xem được bảng chú thích nơi chân tượng nên không biết họ là ai. Mọi người chỉ muốn vào xem bức tường Đá Đen. Tuy khu vực này mát mẻ nhờ có bóng cây nhưng nơi bức tường thì nắng, chẳng có bóng cây nào cả.
Từ trước, tôi vẫn nghĩ Bức Tường Đá Đen hình vuông dài nhưng không phải quý vi ơi, tường hình chữ V, trải dài từ cao đến thấp, không cùng một chiều cao đâu. Chỗ cao nhất 3 mét và chỗ thấp nhất 20cm, dài 150 m ghép lại bằng 72 tấm đá hoa cương quý màu đen mang về từ Ấn Độ (Bungalore), ghi tên hơn 58,276 người Mỹ và ngoại quốc đã chết hay mất tích trong chiến tranh Việt Nam (tháng 5/2019). Trong số này có 8 phụ nữ phần lớn là y tá, 16 nhà truyền nhà giáo, 1,200 người mất tích. Lúc đầu chỉ có 57, 937 người có tên trên bảng đá đen lạnh lẽo mà thôi.
Đứng nơi “Bức Tường” quý vị có thể nhìn thấy cây “bút chì”(Washington Monument ) đỉnh nhọn và cao ở xa xa.
Theo tài liệu công viên Tường Đá Đen xây từ 26/3/82 khánh thành 9/11/82, tốn khoảng 9 triệu mỹ kim. Tác giả bản vẽ là cô Maya Lin, sinh viên kiến trúc đại học Yale lúc cô mới 21 tuổi, người Mỹ gốc Hoa. Tuy gốc người Hoa nhưng cô sinh trưởng ở Ohio, Hoa Kỳ. Bản vẽ cô được chọn trong hơn cả ngàn bản vẽ của các kiến trúc sư khác gửi về thm dự cuộc thi tuyển. Bức tường màu đen, tên người khắc vào bức tường màu trắng.
Dù hơn 30 năm tường vẫn sạch sẽ không bám bụi bẩn. Được biết mỗi chủ nhật thứ II trong tháng từ tháng 4 đến tháng 10 có nhóm người tình nguyện nam và nữ đến sắn tay áo nhúng khăn vào nước sà phòng cọ rửa bức tường kỷ niệm. Họ là cựu nam, nữ chiến binh Hoa kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Tôi liên tưởng hình ảnh những người mang hoa thăm mộ người thân trong các nghĩa trang. Họ đâu chờ đến đúng ngày kỷ niệm. Việc làm của họ người ngoài nhìn vào có vẻ như nhàm chán vô nghĩa nhưng thực ra được gần bức tường có ghi tên người thân cũng ấm áp,làm nhẹ nỗi đau buồn ít nhiều. Nếu không đoàn người đi mô tô đâu bỏ công vượt hàng ngàn dặm đường xa thăm bức tưng kỷ niệm mỗi năm.
Tôi chợt nhớ bà hàng xóm cũ. Hai vợ chồng bà có người con trai duy nhất đã tham gia chiến tranh Việt Nam và mất trước khi Mỹ rút quân 2 tuần. Bà kể lại với giọng thản nhiên nhưng tôi biết bà đau lòng khi nhắc lại chuyện cũ.
Thật không hiểu được, tuổi trẻ, con một, nhà khá giả lại đi tham dự cuộc chiến ở quốc gia xa lắc xa lơ, thiếu tiện nghi vật chất, để cho cha mẹ lo sợ nhớ thương. Sau này ông bà bán gian nhà đang ở rộng rãi, mua nhà khác nhỏ hơn có 1 một tầng thôi. Lúc bán nhà Bà mời tôi sang nhà bà chơi bảo thích gì thì lấy và bà nói đùa là” trừ cái đàn piano” vì bà là giáo sư dạy đàn. Nhìn hình con trai bà, một thanh niên khôi ngô sớm vĩnh viễn ra đi cho quê hương Việt Nam, buồn ơi là buồn.
Định mệnh trớ trêu, tre khóc măng. Chồng bệnh, con mất sớm nhưng xem bà có vẻ bình an có lẻ nhờ ở đức tin mạnh mẽ chăng. Tôi thấy ông bà đi nhà thờ mỗi chủ nhật và thường đến thăm bức Tường Đá Đen ở thủ đô dù chẳng phải ngày lễ.
Thật ra Bức Tường Đá Đen cách hồ Tidal Basin thơ mộng thủ đô Washington DC không bao xa, có thể đi tản bộ trước hay sau khi thăm Bức Tường cũng tiện lắm: gió mát, cảnh trí an lành thanh nhã.
Theo cháu tôi công viên quốc gia thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nơi có các đài kỷ niệm đã thu hút người thăm viếng đông nhất nước, 4, 5 triệu du khách mỗi năm…Hai vợ chồng cháu tôi rời Virginia vài ngày trước lễ”Chiến Sĩ Trận Vong” nhưng đã thấy các đoàn mô tô to ồn ào chạy trên đường lộ hướng về thủ đô. Tuy nhiên họ chưa vào thành phố chỉ ngụ các khách sạn ở ngoại ô vùng Virginia. Nhìn là biết họ từ xa về, áo da chắn gió, mũ bảo vệ, kính đen thật to… Chiếc xe thì to gấp rưỡi chiếc xe mô tô bình thường, tiếng máy nổ cũng ồn ào hơn các xe mô tô nhỏ.

Theo tôi biết các tiểu bang Hoa kỳ đều có tổ chức lễ “Chiến Sĩ Trận Vong” vào thứ hai tuần lễ cuối cùng của tháng 5 nhưng có lẻ thủ đô Hoa Thịnh Đốn tổ chức trọng thể nhất. Các cuộc diễn hành đẹp mắt, y phục, đi đứng trang nghiêm từ các học sinh đến các đòan thể, các binh chủng khác nhau… Các đoàn quân nhạc với nhạc khí sáng ngời, y phục thẳng nếp. Các màn múa súng điêu luyện vui mắt. Ở nghĩa trang quân đội Arlington Washington DC trước mỗi mộ bia đều có cắm lá cờ Hoa kỳ nhỏ.

Có lẽ quý vị cũng đã xem diễn hành trên màn ảnh rồi. Tôi chỉ muốn nói đến sự hiện diện của các Hội Đoàn và công đồng người Việt vùng Maryland, Virginia và Washington DC trong buổi diễn hành. Đồng bào hải ngoại cũng vui thấy đại kỳ và cờ Việt Nam Cộng Hòa phất phới trong buổi lễ, các tà áo dài phụ nữ Việt tha thướt xuất hiện trong đoàn diễn hành long trọng và trang nghiêm ở Washington DC.
Trong 32 năm nay, vào ngày lễ “Chiến sĩ Trận Vong” từ các tiểu bang khác, cả ngàn cưu chiến binh lái mô tô trải qua bao nhiêu ngàn dặm, chịu nắng gió nhọc nhằn về Washington DC.

Có tài liệu cho biết năm 2018 khoảng 100,000 người lái xe mô tô về thủ đô dự buổi diễn hành ngày lễ Memorial Day. Tuy đường xa nhưng họ về vừa dự diễn hành vừa thăm tường kỷ niệm, tưởng nhớ, vinh danh các cựu chiến binh anh dũng, các đồng đội đã vì lý tưởng cao quý, hy sinh cuộc sống riêng tư an lành tốt đẹp, tham gia chiến tranh Viêt Nam, một quốc gia xa xôi khác tiếng nói màu da với người Hoa kỳ. Một số lớn những người này bỏ mình nơi xa lạ, không ai ruột thịt thân yêu trong giờ phút lâm chung, vĩnh biệt trần gian vì nước Mỹ từng muốn giúp một quốc gia đồng minh chống Cộng.

Đoàn xe mô tô phủ bụi đường xa được dân chúng thủ đô nhiệt liệt hoan nghênh, đón chào. Tiếng máy xe ồn ào, ầm ĩ vang dội cả khu phố khi đoàn xe đi qua.Ngày thứ hai 27/ 5/19 họ tâp trung và khởi hành từ bãi đậu Pentagon vào buổi trưa, đi qua Memorial Bridge, đại lộ Constitution đến West Potomac Park. Xe nào cũng có lá cờ Hoa Kỳ mới rực rỡ như một rừng cờ di động, Điểm cuối đoàn xe là Vietnam Veterans Memorial.
Thường đoàn Rolling Thunder đến Washington DC vào cuối tuần, thăm viếng vài nơi thủ đô, chuyện trò với các đoàn thể, người quen… và chính thức dự lễ Chiến sĩ Trận Vong vào ngày thứ hai.
Năm nay, 2019, là năm cuối cùng đoàn Rolling Thunder tham dự diễn hành ngày lễ Memorial Day ở Washington DC. Tôi nghĩ họ mệt mỏi do tuổi cao và đường xa, vì các cưu chiến binh người trẻ nhất cũng trên 60 tuổi. Nhưng, theo báo chí nguyên nhân họ không tiếp tục tham dự vì lý do tài chính. Tiền thuê bãi đậu xe và mướn người giữ an ninh ở Pentagon cao. Đoàn mô tô Rolling Thunder diễn hành ngày “Chiến Sĩ Trận Vong” mấy chục năm quen lệ như một “truyền thống”, vắng đòan xe sẽ có nhiều người tiếc nhớ.
Được biết Rolling Thunder thành lập năm 1987 với số thành viên khiêm tốn, năm kế tiếp 1988 có 2,500 người tham dự và từ đó đến nay năm nào họ cũng về thủ đô dự lễ Chiến Sĩ Trận Vong.
Từ đây về sau mỗi năm vào tháng 5, dân chúng vùng thủ đô hết còn nghe tiếng máy xe mô tô ồn ào và rồi những cựu chiến binh trên đường phố, hình ảnh quen thuộc với dân chúng.
Nhìn bề ngoài những người này trông bặm trợn, hùng hổ nhưng thật ra tình cảm họ cũng nồng nàn, tha thiết với chiến hữu, đồng đội. Trông cách họ chịu khó vượt bao nghìn dặm đến thăm đài kỷ niệm, nhẹ nhàng dò tìm tên người thân hay đồng đội trên bức tượng đá vô tri lạnh ngắt thì biết.
Đi viếng đài tưởng niệm tôi xót xa nghĩ đến những người đã nằm xuống cho quê hương tôi dù họ là người Hoa kỳ hay nước khác.Tôi nhớ nghĩa trang Biên Hòa không người thăm viếng thường xuyên như ngày trước và liên tưởng hậu quả tang thương do chiến tranh. Riêng nước VN cả triệu người phải rời bỏ quê hương, cửa nhà tan nát, gia đình ly tán. Họ vượt biển, một số chìm sâu trong lòng biển cả hay mất xác trong rừng rậm, làm mồi cho thú dữ…
Phần lớn những người có tên trên bức tường đen đã có gia đình,có cuộc sống êm đềm với vợ trẻ con thơ hay cha mẹ thân yêu nhưng họ đã chết cho đất nước Việt Nam và con số không nhỏ. Xin vô cùng tri ân các cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, dù họ qua đời hay còn khỏe mạnh, lành lặn hay thương tật. Quân nhân nhất là chiến binh trong thời chiến theo tôi là những người cực nhất trong các ngành nghề. Họ không quản ngại nắng mưa, vào rừng lên núi , xa gia đình, người thân yêu… Xin ơn trên ban phước lành cho các cựu chiến binh và gia đình họ. Cầu mong họ có đời sống tốt đẹp an vui. Bên ngoài nắng nhẹ, trời trong, đàn chim hót líu lo, nhảy nhót tung tăng và bướm vờn quanh khóm hoa Xuân rực rỡ màu sắc…
Ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong 2019
Ngọc Hạnh
RIU ĐƠ (REALTOR)
RIU ĐƠ (REALTOR)
Người ta mua+bán cho người ta,
Mình chỉ trung-gian giới-thiệu nhà;
Tốt xấu, miễn mình rao bán được,
Hoa-hồng là đủ, nghĩ gì xa?
Trẻ-trung mơ một túp lều tranh,
Hai trái tim non, giấc mộng lành.
(Ảo-tưởng ngây-ngô mà chiếm ngự
Hồn mình cả một quãng ngày xanh!).
Lớn lên ước có ngôi nhà đẹp
Với đủ tiện-nghi khỏe mọi đường.
(Tổ ấm gia-đình mà ổn-định
Thì đời như đã khá lên hương!).
(Mặc cho khuyết-điểm nhà thiên-hạ
Mình thấy mà lơ hoặc cãi thông,
Thuyết-phục khách hàng — đâu dối gạt?
Cốt sao bán được mới thành-công!)
Thế nhưng, chủ mới thì khoan-khoái,
Thỏa-mãn sau khi tậu được nhà;
Mình lại khôn nguôi cơn bứt-rứt:
Ngày đêm so-sánh với người ta!
Này ngôi biệt-thự trên đồi trúc,
Gió mát, trăng thanh, cảnh tịnh nhàn.
(Khác hẳn nhà mình, khu thị-tứ:
Bốn bề náo-nhiệt, trí khôn an!)
Này tòa nhà mới bên xa-lộ,
Tiện việc giao-thông, phát-triển nghề.
(Khác hẳn nhà mình, vùng phụ-cận:
Tàu, xe, trường, chợ, khó tư bề!)
Kiểu xưa, kiểu mới, kiểu trung-dung,
Nào mốt Âu Tây, nếp Á Đông,
Thêm những tân-trang đầy sáng-tạo
Mỗi nơi đôi nét, tuyệt vô cùng.
Mỗi ngày mỗi thấy thêm nhà mới
Ưng ý làm sao, hấp-dẫn sao!
Ngó lại nhà mình: xưa lý-tưởng,
Nay lòng bỗng gợn chút nao nao.
Ôi nhà, ôi cửa, ôi vườn tược,
Chắt bóp bao lâu mới có mày;
Song bởi sống rành ngành địa-ốc
Nên mày xuống giá, phụ-phàng thay!
THANH-THANH
Ca Khúc Mới Nhất | Vay | Nhạc & Lời : Nguyễn Đình Hòa
TIễn biệt Nhà thơ Nhất Tuấn


Thiền Trong Thơ Văn – Hội Thoại Phần Cuối
Thơ diễn ngâm “Thư Xuân Gởi Chị”
Thơ Vệ-Trà Huỳnh Kim Anh. NS Hồng Vân & Ngọc Sang diễn đạt
CHÀO MẸ RA ĐI
Nhạc Phạm Mạnh Đạt Thơ Đỗ Trung Quân
Thơ diễn ngâm Non Nước…Nước Non Xa
Còn Nỗi Ngậm Ngùi
Thơ Vệ-Trà Huỳnh Kim Anh
Thơ YÊU EM và XIN ĐỔI KIẾP NÀY

CD HOA TÍM NGƯỜI XƯA
Bé Victoria Thuý Vi

MƯỢN
Sáng tác : Nguyễn Đình Hòa
CẦM CHẦU [Ca trù Thái Hà – Xuân Mai]
Trả Cho Người
Một Niềm Đau
Sáng tác: Thiên Phương | Ca sĩ: Ngọc Quý
THÀNH NGỮ VIỆT NAM
Phan Lục
Trong kho tàng văn học Việt Nam có những thể loại như dân ca, cách ngôn, ngạn ngữ, ca dao, tục ngữ, đặc ngữ, thành ngữ v.v… là những câu, những ý hoặc những lời nói ngắn gọn được lưu truyền trong dân gian rất lâu ngày quen miệng để trở thành những mảng văn học.
Thành ngữ là tập hợp những từ cố định quen dùng, có nghĩa, gọi tên sự vật, hiện tượng, tính chất, hành động v.v… mà thường không thể suy ra từ nghĩa của từng từ riêng biệt. Trong mọi thứ tiếng của các nước trên thế giới cũng đều có thành ngữ mà ta thường không thể cắt nghĩa riêng từng từ được. Ví dụ, trong tiếng Anh có thành ngữ “buckle down” nghĩa là “dùng nhiều sức lực hơn” chứ không phải là “hãy mở khóa ra” trái nghĩa với “buclkle up’ là “hãy thắt chặt khóa lại”. Trong tiếng Việt có thành ngữ “chó cậy gần nhà” nghĩa là “ỷ thế, nhờ cậy vào thế thuận lợi mà tỏ ra hung hăng, dọa nạt, bắt chẹt hay làm tình, làm tội người khác” chứ không có ý gọi ai đó là “chó”. Hoặc thành ngữ “gái đĩ già mồm” nghĩa là “đã sai rành rành mà còn to tiếng cãi vã, chửi rủa ầm ĩ để lấp liếm” chứ không có ý mạt sát “mày là con đĩ” v.v…
Vì vậy, khi đọc tiếng Việt cũng như khi dạy con cháu chúng ta học tiếng Việt thì cần phải tra cứu để hiểu rõ nghĩa của các từ ngữ Hán-Việt, nhất là các thành ngữ, để tránh những hiểu lầm đáng tiếc. Là người Việt, bất cứ định cư ở nơi nào, ta cũng cần phải nói và hiểu tiếng Việt một cách chính xác để lưu truyền cho con cháu chúng ta gìn giữ tinh hoa của nền văn hóa dân tộc.
Sau đây, xin nêu định nghĩa của một số ít thành ngữ tiếng Việt (khác nhau từng địa phương):
Ác báo ác lai: Làm điều ác cho người thì điều ác ấy sẽ đến với mình.
Bã chà bợt chợt: Có lời nói, cử chỉ lẳng lơ.
Cá mè một lứa: Đồng loạt, cùng một giuộc với nhau cả, coi ngang hàng nhau, không phân biệt đối xử cho hợp lẽ.
Cả vú lấp miệng em: Dùng quyền lực, thế mạnh của mình để chèn ép, lấn át người khác.
Cha chung không ai khóc: Những việc chung liên quan đến nhiều người mà không có người nào chịu trách nhiệm chính nên thường bị bỏ mặc, bê trễ, không ai lo liệu.
Chó cùng dứt giậu: Liều lĩnh, làm xằng bậy một cách thiếu cân nhắc, tính toán do bị đẩy vào bước đường cùng.
Chó nhảy bàn độc: Bất tài, dốt nát, thiếu năng lực, kém cỏi nhưng gặp cơ hội nên chiếm được địa vị cao sang rồi cứ bám mãi,
Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng: Chưa chi đã vội hợm hĩnh, lên mặt với người khác.
Chưa học bò đã lo học chạy: Hấp tấp làm những việc quá khả năng nên khó bề thực hiện được.
Đội váy nát mẹ: Hợm hĩnh, tinh ranh, ra vẻ ta đây để lòe bịp, dọa dẫm người từng trải và hiểu biết hơn mình.
Gieo gió gặt bão: Gây ra điều ác thì phải chuốc lấy hậu quả to lớn của hành động độc ác ấy.
Khẩu tâm bất nhất: Nói lời tốt đẹp nhưng nghĩ và làm những việc xấu xa, vô đạo đức.
Miệng quan trôn trẻ: Tùy tiện, đúng sai bất chấp, thường hay tráo trở không đáng tin cậy trong lời nói của bọn có quyền thế.
Mồm loa mép giải: Lắm lời, đanh đá, nói lấy được bất chấp đúng sai.
Nát giỏ còn tre: Dù mất mát nhưng vẫn còn vốn liếng, còn khắc phục được.
Nát đá phai vàng: Không giữ được lòng chung thủy và phản lại tình cảm đã có.
Ngậm máu phun người: Đặt điều gièm pha, vu khống một cách độc ác, đê tiện nhằm làm hại, gieo tai vạ cho người khác.
Ngư long biến hóa: Đỗ đạt, thành đạt trong học hành, thi cử.
Ngư thủy duyên hài: Hợp nhau, dễ gắn bó với nhau, dễ nên duyên vợ chồng.
Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã: Những kẻ xấu tìm đến với nhau để thực hiện những mưu đồ xấu xa, đồi bại của chúng.
Quân sư quạt mo: Người bày mưu kế, mách nước tồi, kém.
Quấy hôi bôi nhọ: Làm những việc không hay, không tốt gây tiếng xấu.
Râu ông nọ cắm cằm bà kia: Chắp vá, lẫn lộn một cách tùy tiện nên trở thành khập khiễng không ăn khớp, không phù hợp với nhau.
Sông sâu sóng cả: Khó khăn, gian truân, nguy hiểm phải trải qua.
Sống chết mặc bay: Thái độ ích kỷ, thờ ơ, vô trách nhiệm, bỏ mặc, không để ý, không quan tâm đến ai, chỉ lo cho riêng mình.
Sờ chẳng ra, rà chẳng thấy: Túng thiếu quá đến mức chẳng có tí gì hoặc chẳng biết lần tìm ở đâu để mà sống.
Sủa càn cắn bậy: Nói năng xằng bậy, linh tinh, bạ đâu nói đó, thiếu đắn đo suy nghĩ, thiếu đứng đắn.
Sứa vượt qua đăng: Làm một việc vượt quá khả năng của mình.
Sưng mày sưng mặt: Có vẻ bực bội, tức giận, tỏ ra bất đắc dĩ phải chấp nhận làm một việc gì.
Tép lặn tép lội: Lắm mồm, hay nói điêu ngoa.
Tiền có đồng, cá có con: Rõ ràng, minh bạch, không mập mờ được.
Thần hồn nát thần tính: Hoảng sợ, tự huyễn hoặc, gây cho mình nỗi sợ hãi do non gan, yếu bóng vía, không tự chủ được mình.
Thế thần bịch thóc: Nhờ có của cải mà tỏ rõ uy lực, quyền thế.
Tránh hùm mắc hổ: Rủi ro, không thoát khỏi tai họa.
Trâu lấm vẩy càn: Người có khuyết điểm, có tội lỗi mà cứ đổ vấy cho người khác.
Trên đe dưới búa: Ở vào tình thế bị kìm kẹp, thúc ép từ nhiều phía, khó bề đối xử và giải quyết cho hợp lý.
Trên răng dưới dái: Trắng tay, nghèo khổ, không còn chút của cải, tài sản hoặc chức vụ nào.
Trơ như mặt thớt: Trơ lì, không biết hổ thẹn khi làm điều sai trái dù bị chống đối.
Trơ tráo như gáo múc dầu: Trơ lì, ngang ngược, không biết hổ thẹn.
Vắng như chùa bà Đanh: Trở nên vắng lặng, ít người đến, gây nên cảnh u buồn (ở nơi mà trước kia có người hay lui tới).
Vào trong mắc đó, ra ngoài mắc đăng: Ở vào thế bị kẹt, bí bách, không có lối thoát.
Vắt nước không lọt tay: Keo kiệt, giữ từng chút một, không hề mất cho ai cái gì.
Xôi hỏng bỏng không: Mất tất cả, mất trắng, không được cái gì.
Trên đây chỉ đơn cử một ít thành ngữ tiếng Việt trên muôn ngàn lời nói trong văn học dân gian. Qua các định nghĩa, ta thấy các thành ngữ cũng thật khó hiểu nếu không tra cứu kỹ mà chỉ nhìn vào nghĩa đen của từng từ thì sẽ có sự hiểu lầm rất tai hại. Ta có thể dùng một thành ngữ làm đề tài cho một bài học để dạy con cháu chúng ta không những về cách dùng tiếng Việt chính xác mà còn về đạo lý làm người nữa.
Phan Lục
Cảm Tạ Hoa Kỳ
Thơ Thanh Thanh
CẢM-TẠ HOA-KỲ
Xin cảm-tạ Hoa-Kỳ đã cứu chúng tôi
Thoát quỷ dữ cướp Quyền Người, Quyền Sống.
Trên quê cũ, chúng trù nòi, dập giống,
Dù trí-thức, bình-dân, cách-mạng, tu-hành.
Xin cảm-tạ Hoa-Kỳ về bài học phân-ranh
Giữa quân-lực với quyền-hành chính-trị.
Nước cũ chúng tôi, nằm trong tay vũ-bị,
Dị-ứng độc-tài nên cơ-cấu khuynh-vong.
Xin cảm-tạ Hoa-Kỳ về gương sáng nêu chung,
Phân-lập rõ giữa giáo-quyền, chính-sự.
Dân cũ chúng tôi bị khuôn rào trí-lự,
Giáo-sĩ độc-tôn nên sự-nghiệp suy-đồi.
Xin cảm-tạ Hoa-Kỳ đã hiến sẵn sinh-môi
Cho thể-xác lẫn tinh-thần phát-triển.
Dân nước chúng tôi mất tự-do thể-hiện
Quyền làm ăn, suy nghĩ, phát-biểu, an-sinh.
Xin cảm-tạ Hoa-Kỳ đã nuôi dưỡng Niềm Tin
Về một Tương-Lai phục-hồi chân-giá-trị
Cho Quê Mẹ chúng tôi rỡ-ràng địa-vị
Trên mặt địa-cầu ai nấy góp công xây…
THANK YOU, AMERICA!
Thank you, America! for rescuing us from hell,
Humble humans deprived of all rights to life.
In our old country our enemies cruelly quell
Laborers, intellects, revolutionaries, monks alike.
Thank you, America! for teaching us systematism
By which military is only a part of attribution.
In our late republic existed militarism
Causing dictatorship to erode the constitution.
Thank you, America! for the example to settle
The difference between politics and religion.
In our poor nation the priests did meddle
In worldly powers, and it was mutual demolition.
Thank you, America! for granting us medium
To develop our bodies and expand our minds.
In our left-behind state there is no freedom
To work and enjoy, think and express any kinds.
Thank you, America! for nursing us deep hope
For a near future we can True Virtue attain
So that our Motherland emerge on the globe,
Our People, with your help, Man’s Value regain.
THANH-THANH
Liên Đoàn Kiểm Báo KQ-VNCH
Trần Đình Giao
TỔNG QUÁT:
Là một trong 7 đơn vị Trung Ương KQ:
– Bộ Chỉ Huy Hành Quân KQ
– Bộ Chỉ Huy Kỹ-Thuật & Tiếp Vận KQ
– Trung Tâm Huấn-Luyện KQ
– Liên-Đoàn Kiểm Báo
– Trung Tâm Y Khoa KQ
– Khu Tạo Tác Tân Sơn Nhất
– Sở Hành Chánh Tài Chánh KQ), trực thuộc Bộ Tư Lệnh KQ,
Liên-đoàn Kiểm-Báo bao gồm hệ thống radar của KQ gồm có 2 Trung-Tâm và 3 Đài Kiểm Báo.
1. Sự Hình Thành và Phát Triển:
Từ đầu thập niên 60, KQVN bắt đầu xúc tiến việc đào tạo các chuyên viên Hành-Quân và Kỹ-Thuật cần thiết qua các đợt huấn luyện liên tiếp tại các quân trường của KQ Hoa Kỳ. Mặt khác việc xây cất cơ sở và việc thành lập các đơn vị radar cũng lần lượt được thực hiện.
Hệ thống radar được hình thành và phát triển qua những giai đoạn chuyển tiếp sau:
A) Giai đoạn trắc nghiệm và huấn-luyện:
Một số chuyên viên sau các khóa huấn luyện đầu tiên được bổ nhiệm ở Trung Đội Radar Tân Sơn Nhất, đơn vị radar đầu tiên do KQVN thành lập. Thiết bị điện tử của đơn vị kém hiện đại và cũ nên hoạt động của đơn vị phần lớn chỉ giới hạn trong việc trắc nghiệm và huấn luyện. Việc hỗ trợ không-hành (navigation aid) chỉ được thực hiện theo tình trạng khả dụng của phương tiện điện-tử hay khi cần thiết. Nhiệm vụ của đơn vị nầy chấm dứt sau một thời gian hoạt động ngắn.
B) Giai đoạn điều hành chuyển tiếp:
Liên-Đoàn Truyền-Tin Điện-Tử được thành lập khoảng năm 1961 với trách nhiệm chỉ huy, điều hành các đơn vị radar đang lần lượt hình thành với số nhân viên được phối trí song song với các thành phần đối nhiệm (counterparts) của KQ Hoa-Kỳ tại cấp đơn vị ở Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Ban Mê Thuột, PleiKu, CầnThơ. Hoạt động của các đơn vị radar được cải tiến dần dần theo nhịp độ bổ sung quân số và công tác huấn luyện tại đơn vị. Nhiệm vụ của Liên-Đoàn Truyền-Tin Điện-Tử chấm dứt khoảng năm 1963.
C) Giai đoạn trực thuộc các Không-Đoàn và Căn cứ KQ (1963- 1965):
Trong giai đoạn nầy, các đơn vị radar được sát nhập vào tổ chức của Bộ Chỉ Huy Không Chiến, rồi tới các Không-Đoàn và Căn-Cứ KQ. Danh hiệu và danh số đơn vị được chính thức qui định trong bảng cấp-số của Không Quân. Do đó, khoảng năm 1964 danh từ Kiểm Báo (KB) bắt đầu được xử dụng trên giấy tờ cũng như trên thực tế. Các đơn vị Kiểm Báo có danh số của các Không Đoàn và Căn Cứ KQ nơi các đơn vị ấy đồn trú hoặc ở gần nhất.
Có 2 trung-Tâm và 3 Đài Kiểm Báo:
* Trung-Tâm KB 33 đồn trú trong Không-Đoàn 33 ở Tân Sơn Nhất.
*Trung-Tâm KB 41 ở bên ngoài Không-Đoàn 41 Đà Nẵng.
* Đài KB 741 đồn trú trong Không-Đoàn 74 ở Cần Thơ (con số sau cùng là mã số riêng của đơn vị)
* Đài KB 621 có Không-Đoàn gần nhất là KĐ 62 ở Nha trang.
* Đài KB 921 đồn trú trong Căn-Cứ KQ 92 ở PleiKu.
Trong giai đoạn 63- 65, việc chỉ huy và điều hành hệ thống kiểm báo khá phức tạp. Tùy theo vấn đề, việc theo dõi và kiểm soát điều hành được thực hiện bởi nhiều cấp bộ khác nhau: Bộ Tư-Lệnh KQ, Bộ Chỉ-Huy Không-Chiến, Không-Đoàn, Căn-Cứ.
Khoảng cuối năm 1964, hệ thống Kiểm Báo được chính thức xác nhận. Do Huấn-Thị của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, quy định tổ chức Điều-Kiểm Chiến-Thuật (Tactical Control System) gồm các phần hành thuộc Lục-Quân và Không Quân. Về phía KQ, hệ thống Kiểm Báo được tổ chức song hành với hệ thống Hành-Quân của KQ, bao gồm các Trung Tâm HQ Không trợ (ASOC=Air Support Operation Center, sau cải danh là DASC=Direct Air Support Center) đặt tại mỗi Quân-Đoàn và trực thuộc Bộ Chỉ-Huy Hành-Quân KQ (AOC=Air Operation Center, sau cải danh là TACC=Tactical Air Control Center). Hệ thống Kiểm Báo là phương tiện chủ yếu (tai mắt) trong công tác Điều-Kiểm Chiến-Thuật của Không Quân.
Để cải tiến việc thống nhất chỉ huy và điều hành hệ thống, LIÊN ĐOÀN KIỂM BÁO được thành lập đầu năm 1965, thời điểm mà hoạt động kiểm báo gia tăng đáng kể theo nỗ lực và nhu cầu hành quân của Không Quân Việt Nam.
Bộ Chỉ-Huy Liên-Đoàn Kiểm-Báo đồn trú trong Căn Cứ Tân Sơn Nhất cạnh Bộ Chỉ Huy của Liên-Đoàn Kiểm-Soát Chiến-Thuật 505 (505th Tactical Control Group) của Không Quân Hoa Kỳ (USAF)
Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Liên-Đoàn Kiểm-Báo là Trung Tá Hoàng-Ngọc-Bào, nguyên Chỉ Huy Trưởng Trung-Tâm KB 33 TSN, từ 1961.
2. Nhiệm Vụ:
Chỉ huy và điều hành hệ thống Kiểm Báo để hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản của hệ thống về các mặt:
PHÒNG KHÔNG:
Kiểm soát toàn bộ không phận VNCH, chống lại mọi sự xâm nhập bất hợp pháp của các phi cơ lạ hay của địch.
Hướng dẫn phi cơ nghênh cản (Interceptors) lên ngăn chặn và áp dụng mọi biện pháp cần thiết theo tiêu-lệnh hay chỉ thị của tổ chức Phòng-Không Trung-Ương thông qua Trung-Tâm Phòng-không Vùng (1 đặt tại BCH/HQKQ ở TSN cho Vùng Nam và 1 ở Trung-Tâm KB ở Đà Nẵng cho Vùng Bắc).
Trong cuộc chiến ở VN, KQVN và KQHK đă phối hợp rất chặt chẽ trong nhiệm vụ phòng-không. KQHK dùng phi cơ F-102 và về sau thay thế bằng F-4E. KQVN xử dụng phi cơ F-5E, và tùy theo nhu cầu hay tình trạng báo động, các phi cơ nghênh cản này được đặt túc trực cho hai Vùng Phòng Không Nam và Bắc tại các phi trường Biên Hòa, Phan Rang và Đà Nẵng.
ĐIỀU KIỂM CHIẾN THUẬT:
Theo dõi tất cả các phi vụ Hành Quân Chiến-Thuật KQ bằng các đoản-lệnh (frag order) từ Bộ Chỉ Huy Hành-Quân KQ (TACC) và các Trung-Tâm HQ Không-Trợ (DASC) gửi đến bằng viễn-ấn (teletype).
Đầu thập niên 70, do nhu cầu chiến-thuật, KQVN được trang bị thêm phương tiện hướng dẫn oanh tạc ở cao độ (BOBS=Beacon Only Bombing System). Các đài Hướng-Dẫn được thành lập để hướng dẫn các phi vụ oanh tạc và thả dù chính xác vật liệu ở độ cao của KQ.
HUẤN LUYỆN:
Ngoài việc xúc tiến và kiểm soát điều hành các công tác huấn luyện thường xuyên để duy trì khả năng của đơn vị, Liên-Đoàn KB phối hợp với Liên-Đoàn 505 (USAF) thực thi và hoàn thành Kế-hoạch Tự-Lực (Self Sufficiency Plan) của hệ thống kiểm Báo của KQVN theo kế hoạch chung của KQ Việt-Mỹ.
TRÁCH NHIỆM ĐẶC BIỆT VỀ PHÒNG THỦ CỦA CÁC ĐƠN VỊ KIỂM BÁO ĐỒN TRÚ BIỆT LẬP.
Trách nhiệm này rất quan trọng đối với các đơn vị KB ở ngoài phạm vi hay ở xa nơi đồn trú các đơn vị lớn của KQ (Sư Đoàn, Căn Cứ KQ) như trường hợp TT2KB ở Đà Nẵng và Đ12KB ở Ban Mê Thuột. Các đơn vị KB này cùng với các đơn vị hay thành phần phòng thủ biệt phái, trên thực tế được tổ chức thành các Yếu-Khu trực thuộc các Tiểu Khu địa phương về mặt phòng thủ. Vì đơn vị KB là đơn vị lớn nhất trong Yếu-Khu, nên trách nhiệm chỉ huy phòng thủ yếu khu được giao cho Chỉ Huy Trưởng đơn vị KB kiêm nhiệm.
Có 2 yếu khu liên quan đến công tác phòng thủ cơ sở Kiểm Báo:
Yếu Khu “Sơn Chà” thuộc Tiểu Khu Tiên Sa (Hải Quân) ở Đà Nẵng, có phạm vi phòng thủ bao gồm TT2KB Đà Nẵng.
Yếu Khu 3 của Ban Mê Thuột thuộc Tiểu Khu Darlac, có phạm vi phòng thủ bao gồm Đ12KB ở Ban Mê Thuột và phi trường L-19 trong thành phố BMT.
3. Tổ Chức:
Từ năm 1965, KQVN phát triển mạnh mẽ với sự thành lập các Sư-Đoàn KQ, với tổ chức mới bao gồm thêm các Không-Đoàn, Phi-Đoàn, hoạt động của KQ gia tăng theo nhu cầu hành quân. Hệ thống Điều-Kiểm Chiến-Thuật đã đi vào lề lối hoạt động theo dự trù. Liên-Đoàn Kiểm-Báo sau khi thành lập, đã được tổ chức như sau:
– Bộ Chỉ-Huy Liên-Đoàn
– 2 Trung-Tâm Kiểm Báo:
. TT1KB ở Tân Sơn Nhất (danh hiệu PARIS CONTROL).
. TT2KB ở Đà Nẵng (danh hiệu PANAMA CONTROL)
– 3 Đài Kiểm Báo:
. Đ11KB ở Bình Thủy, Cần Thơ (danh hiệu PADDY CONTROL),
. Đ12KB ở Ban Mê Thuột (danh hiệu PYRAMID CONTROL), và
. Đ21KB ở PleiKu (danh hiệu PEACOCK CONTROL)
– 3 Đài Hướng Dẫn (BOBS) ở Biên Hòa, Đà Nẵng và PleiKu.
Quân số:
Quân số cơ hữu Liên-Đoàn Kiểm-Báo gồm khoảng 1000 người (80% so với bảng cấp số) không kể các thành phần biệt phái theo nhu cầu phòng thủ và tổng vụ cho các đơn vị KB đồn trú ở ngoài hay ở xa các Căn Cứ, Sư Đoàn KQ.
– Quân số của Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn gồm 60 người.
– Quân số của Trung Tâm Kiểm Báo theo bảng cấp số gồm từ 250 đến 300 người.
– Quân số mỗi Đài Kiểm Báo từ 150 đến 250 người (chưa kể các thành phần phòng thủ hay tổng vụ biệt phái từ Sư-Đoàn KQ, hay Tiểu-Khu tăng cường cho các đơn vị KB ở xa hoặc ở ngoài phạm vi các Sư-Đoàn KQ gần nhất như trường hợp TT1KB ở Đà Nẵng và Đ12KB ở Ban Mê Thuột.
– Quân số các Đài Hướng Dẫn (BOBS) gồm 21 người mỗi đài.
BỘ CHỈ HUY LIÊN ĐOÀN KIỂM BÁO:
* Đồn trú ở Căn Cứ Tân Sơn Nhất trong lãnh thổ của Sư Đoàn 5 KQ. Ngoài ban Văn Thư Bộ Chỉ Huy, có 5 phòng:
PHÒNG HÀNH QUÂN: Có trách vụ tham mưu và theo dõi hàng ngày các hoạt động hành quân của các đơn vị Kiểm báo qua ban trực HQ bằng phương tiện liên lạc trực tiếp (hot line) với các đơn vị.
PHÒNG KỸ THUẬT: Trách vụ tương tự như Phòng HQ, nhưng về mặt kỹ thuật, qua Ban Kiểm Soát Bảo Trì và Tiếp Liệu, liên lạc trực tiếp với các đơn vị và với Bộ Chỉ Huy Kỹ Thuật Tiếp Vận KQ để theo rõi, kiểm soát điều hành các công tác bảo trì và tiếp liệu ở các đơn vị kiểm báo.
PHÒNG KẾ HOẠCH VÀ NHU CẦU: Theo rõi việc thực thi kế hoạch Tự Lực của LĐKB và các kế hoạch nội bộ của Liên Đoàn.
PHÒNG NHÂN HUẤN: (Personel&Training) Khi thành lập Liên Đoàn có hai phòng Nhân Viên và Huấn Luyện riêng biệt, nhưng sau tổ chức thay đổi, hai phòng được sát nhập làm một và trở thành phòng Nhân Huấn. Phòng NH có trách nhiệm quản trị nhân viên, đảm bảo việc phối trí chuyên viên nhanh chóng tới các đơn vị theo dự trù hay nhu cầu. Theo dõi việc huấn luyện chuyên viên hành quân và kỹ thuật ở cấp đơn vị theo đúng tiêu chuẩn và kế hoạch huấn luyện của Liên Đoàn.
PHÒNG CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ: Theo dõi việc thực thi công tác CTCT tại các đơn vị theo đúng chỉ thị hay tiêu chuẩn của Bộ Tư Lệnh KQ, qua các toán CTCT hướng dẫn học tập, công tác Tâm Lý Chiến và Xã Hội ở cấp đơn vị.
* Công việc của các phòng đều được thuyết trình cho Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn vào mỗi buổi sáng với sự tham dự của các Trưởng phòng.
CÁC ĐƠN VỊ TRƯỞNG TRONG HỆ THỐNG KIỂM BÁO:
Các cấp chỉ huy của Hệ-thống kiểm-báo có nhiệm kỳ tới khi cuộc chiến chấm dứt:
– Chỉ Huy Trưởng LĐKB : Đại Tá Phạm-Duy-Thân
– TT1KB /Tân Sơn Nhất : Trung Tá Cung-Đinh-Mộc
– TT2KB /Đà Nẵng : Trung Tá Nguyễn-Cầu
– Đ11KB /Cần Thơ : Thiếu Tá Nguyễn-Bửu-Lộc
– Đ12KB /Ban Mê Thuột : Thiếu Tá Hoàng-Bá-Mỹ
– Đ21KB /PleiKu : Thiếu Tá Trần-Quốc-Ban
– Đài Hướng dẫn (BOBS) Biên Hòa : Đại Úy Võ-Văn-Thông
– Đài Hướng dẫn (BOBS) Đ� Nẵng : Đại Úy Trần-Văn-Han
– Đài Hướng dẫn (BOBS) PleiKu : Đại Úy Đào-Đức-Vinh
CÁC ĐƠN VỊ KIỂM BÁO:
Hệ thống kiểm báo bao gồm 2 Trung-Tâm Kiểm-báo, 3 Đài Kiểm-báo và 3 Đài Hướng Dẫn (Bobs).
Trung Tâm và Đài Kiểm báo: Nhiệm vụ chung của các Trung Tâm và Đài Kiểm báo là kiểm soát không phận (Air Surveillance) và vùng phòng không xác đoán được giao phó (ADIZ=Air Defence Identification Zone), yểm trợ, hướng dẫn những phi vụ chiến thuật, (Tactical Air Control) liên lạc chặt chẽ với các Trung Tâm HQ không Trợ (Quân Đoàn), kiểm soát và yểm trợ không hành (Air Radar Control) cho các phi cơ quân sự và dân sự bay trong vùng không phận trách nhiệm.
Tổ chức: các trung-Tâm và Đài Kiểm báo có tổ chức tương tự như nhau, chỉ khác biệt về quân số và máy móc trang bị. Mỗi Trung Tâm hay Đài Kiểm báo đều có :
– Bộ Chỉ Huy và Ban Văn-thư
– phòng hành quân gồm Tổ chức phòng tối (Dark Room) và Ban Huấn Luyện và Duy trì khả năng.
– phòng tối : gồm 3 toán hành quân A, B, C, mỗi toán hướng dẫn bởi một sĩ quan Chỉ Đạo Trưởng(cấp bậc Đại-Úy) và một sĩ quan Phụ tá kiêm sĩ quan Nghênh cản phòng không (Đại-Úy). Ba toán hành quân A, B, C, luân phiên làm việc 24/24 giờ trong phòng Tối. Mỗi toán HQ trong phòng Tối được phân chia theo các ban:
+ Ban Hoạt động và Xác đoán: (M&I=Movement & Identification) theo dõi các phiếu kiểm soát không-lưu (flight strip) của các phi cơ bay vào vùng cũng như bay ra khỏi vùng không phận trách nhiệm.
+ Ban không cảnh (Plotter& Scope reading) quan sát các dấu vết phi cơ trong vùng trên máy radar scope (UPA-35).
+ Ban không Kiểm (Tactical Air Control) xử dụng hệ thống và tuyến viễn liên trên tần số VHF và UHF để liên lạc, hướng dẫn những phi vụ yểm trợ chiến trường bằng máy Radar và giữ liên lạc chặt chẽ với Trung Tâm HQ không Trợ (DASC).
+ Ban Kiểm soát không Hành (Air Radar Control) theo dõi tất cả các phi cơ quân và dân sự bay trong vùng kiểm soát.
+ Ban phòng không Nghênh Cản có nhiệm vụ hướng dẫn phi cơ nghênh cản (F5E) cất cánh nhận dạng (ID) những phi cơ lạ (unknown tracks) và áp dụng mọi biện pháp cần thiết đối với những phi cơ lạ theo tiêu lệnh căn bản về phòng không và chỉ thị của Bộ Chỉ Huy phòng không qua trung gian các Trung Tâm phòng không vùng.
+ Ban Huấn Luyện và Duy Trì khả năng : Theo dõi khả năng chuyên môn của các chuyên viên trong mọi vị trí và trách vụ trong phòng Tối và huấn luyện các chuyên viên HQ và KT theo tiêu chuẩn và kế hoạch của LĐKB.
– phòng Kỹ Thuật gồm Ban Bảo trì Radar và Ban Tiếp Liệu.
Ban Bảo Trì Radar có nhiệm vụ bảo toàn hiệu năng tối đa của các máy điện tử như máy dò phương hướng (Direction finder), máy đo cao độ (Height Finder), các Radar scope và hệ thống truyền tin viễn liên VHF, UHF, Hot Line, Tacan, Beacon v.v…
Ban Tiếp Liệu phụ trách việc liên lạc với phòng Kỹ Thuật LĐKB và Bộ Chỉ Huy KTTV KQ xin bổ xung, dự trữ các bộ phận thay thế cho các máy radar điện tử. Ngoài ra còn một tiểu ban Tiếp liệu tổng quát liên lạc với các Căn cứ hay Sư Đoàn KQ để lo về quân trang, vũ khí, quân xa, xăng nhớt cho Trung Tâm hay Đài Kiểm báo.
ĐÀI HƯỚNG DẪN (BOBS)
các Đài Hướng Dẫn BOBS được thành lập từ đầu thập niên 70 do nhu cầu yểm trợ hành quân của KQ trong giai đoạn chót của cuộc chiến. Về tổ chức, các Đài nầy đều trực thuộc Trung-Tâm hay Đài KB liên hệ nhưng cò cơ sở điều hành riêng biệt. Có 3 Đài hướng dẫn:
– Đài Hướng dẫn Biên Hòa, đồn trú trong căn cứ của SĐ3KQ ở Biên Hòa, trực thuộc TT1KB Tân Sơn Nhất.
– Đài Hướng dẫn PleiKu ở ngoài căn cứ SĐ6KQ ở PleiKu, trực thuộc Đài21KB.
– Đài Hướng dẫn Đà Nẵng, ở kế cận và trực thuộc TT2KB trên đỉnh núi Sơn Chà Đà nẵng.
4. Hoạt Động hành quân và thành Tích công tác:
Là một đơn vị Yểm Trợ hành quân góp mặt khắp 4 vùng Chiến Thuật, Liên Đoàn Kiểm báo với các Trung Tâm và Đài Kiểm báo, đã làm tròn trách vụ được không quân giao phó : kiểm soát không phận 24/24, yểm trợ không hành 24/24 cho các phi cơ quân sự cũng như dân sự, ngoài ra còn phối hợp chặt chẽ với Bộ Chỉ Huy hành quân KQ và các Trung Tâm hành quân không Trợ, theo rõi, yểm trợ, hướng dẫn những phi vụ chiến thuật trên khắp các chiến trường trong nhiệm vụ bảo vệ Miền Nam Tự Do.
TrungTâm Kiểm báo 41 Đà nẵng năm 1965 dưới sự chỉ huy của Đại úy Đặng Văn Tiếp đã hướng dẫn những phi vụ Bắc phạt của không Lực Việt Nam mở đầu là phi vụ ngày 5 tháng 2- 1965 do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ Tư Lệnh KQ hướng dẫn 8 phi tuần khu trục A1H oanh tạc Vĩnh Linh phía Bắc vỹ tuyến 17. Các mục tiêu địch bị tiêu hủy, tất cả phi cơ trở về căn cứ vô sự.
Trong phi vụ ngày 28- 2- 65, TTKB 41 đã hướng dẫn chiếc A1H do Trung Tá Dương Thiệu Hùng Tư Lệnh KĐ 41 lái bị trúng đạn phòng không của địch tại Đồng Hới bay về tới vịnh Đà Nẵng nhảy dù xuống biển an toàn và được trực thăng cứu cấp đưa về Tổng Y Viện Duy Tân.
Trong phi vụ ngày 19- 4- 65, hướng dẫn phi vụ oanh tạc căn cứ tiếp liệu của cộng sản Bắc Việt tại Hà Tĩnh do Trung Tá Tư Lệnh KĐ 23 CT Phạm Phú Quốc chỉ huy đã đạt được kết quả như dự trù nhưng phi cơ Tr/Tá Quốc lái bị trúng đạn phòng không của địch đã đâm xuống gần mục tiêu. TTKB 41 đã phối hợp chặt chẽ với TACC/North Sector của USAF, US Navy 7th Fleet, ASOC 1, hướng dẫn các phi cơ rescue cố cứu Tr/Tá Quốc nhưng vì thời tiết xấu (giông báo) nên phải bỏ cuộc. Trung Tá Phạm Phú Quốc được ghi nhận là mất tích.
Đài Hướng Dẫn (BOBS) Pleiku thuộc Đài Kiểm báo 921 trong chiến dịch Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, đã hướng dẫn nhiều phi tuần A37 thuộc Căn Cứ 60 CT Phù Cát (SĐ 6KQ) và Căn cứ 20 CT Phan Rang (SĐ 2KQ) đánh tập thể và chính xác vào vị trí của một trung Đoàn quân CSBV làm chúng thiệt hại nặng, la hoảng trên Đài phát thanh Hà Nội là Mỹ đã cho B52 oanh tạc trở lại.
Đài BOBS Pleiku cũng hướng dẫn phi cơ A37 đánh sập cầu Duyên Bình trên Quốc lộ 14 ngăn chặn xe tăng T54 của CSBV từ Campuchia tiến sang uy hiếp quân Đoàn II, đã được Tư Lệnh vùng 2 CT (Tr/Tướng N.V. Toàn) tặng thưởng 200 ngàn đồng.
Trung Tâm Kiểm Báo 41 trong trận hải chiến ngoài quần đảo Hoàng Sa tháng 4 năm 1974 giữa Hải quân VNCH do Hải quân Đại Tá Hồ Văn Ngạc chỉ huy và Hải quân Trung Cộng, đã hướng dẫn phi cơ F5E của KQVN nghênh cản phi cơ MIG 21 của cộng sản Tầu định tấn công các chiến hạm của ta trên đường rút về Đà nẵng.
Đài BOBS Sơn Chà thuộc TTKB 41 đầu năm 1975 đã hướng dẫn 9 chiếc C130 của SĐ 5KQ đánh một trận hỏa công thật đẹp ở Thu Bồn, tiêu diệt một Trung Đoàn Việt Cộng đang âm mưu xâm nhập thị xã Đà nẵng.
Đài Kiểm báo 621 Ban Mê Thuột là đơn vị Kiểm báo đầu tiên được tuyên dương công trạng trước quân-Đoàn II. Trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 của Cộng sản Bắc Việt và mặt trận GPMN, Đài Kiểm báo 621 dưới sự chỉ huy của Đại úy Trần-Đình-Giao đã tử thủ chống trả mãnh liệt nhiều đợt tấn công của quân VC, bảo vệ được cơ sở không bị địch xâm chiếm. Đại úy Giao đã được Trung Tướng Tư Lệnh quân-Đoàn II (Tr/Tg Vĩnh Lộc) thăng cấp Thiếu Tá tại mặt trận và ân thưởng Anh Dũng Bội-Tinh với ngôi sao vàng.
Đài 12 Kiểm báo Ban Mê Thuột, một lần nữa đã chứng tỏ tinh thần chiến đấu anh dũng quyết Tâm bảo vệ cơ sở. ngày 10 tháng 3 năm 1975, dưới sự chỉ huy của Thiếu Tá Hoàng Bá Mỹ, 310 anh em SQ, HSQ, BS thuộc Đài 12 Kiểm báo cùng với thành phần phòng thủ biệt phái, đã chiến đấu chống trả mãnh liệt trước sức tấn công của Trung Đoàn 25 VC và Tiểu Đoàn Đặc công 401 với chiến xa T54 hỗ trợ, cho đến khi bắn hết viên đạn cuối công và bị quân địch tràn ngập.
– CHT Đài là Thiếu Tá Hoàng-Bá-Mỹ bị thương và bị địch bắt.
– CHP Đài là Thiếu Tá Nguyễn-Văn-Phước cũng bị địch bắt.
các Anh hùng Kiểm báo đã anh dũng đền nợ nước trong trận nầy gồm:
– Đại úy Trần Văn Điệp, SQ Phụ tá phòng hành quân
– Thiếu úy Nguyễn Thế Minh, Trưởng ban Truyền Tin
– Thiếu úy Trần Hữu Thanh, SQ Chiến Tranh Chính Trị.
các Hạ sĩ quan: Thượng Sĩ Phạm Văn Hoa, Th/Sĩ Nguyễn Văn Phước, Th/Sĩ Nguyễn Văn Mẹo, Trung Sĩ I Hoàng Trung Chánh, Tr/Sĩ Nguyễn Văn Mẹo, Th/Sĩ Đào Huy Bích (HQ), Th/Sĩ Đỗ Dự, Th/Sĩ Hàn Bố Quang (TL), Th/Sĩ Trần Văn Khương (BT Radar), Th/Sĩ Trần Quang Tri (Ban VT), Th/Sĩ Y-Braham, Th/Sĩ Y-Wong (phòng vệ) và một số binh sĩ.
Tổ Quốc ghi ơn các anh !
Chú thích:
Tài liệu nầy được soạn thảo và trình bày do sự đóng góp của cựu Đại Tá Phạm-Duy-Thân (CHT/LĐKB), cựu Trung Tá Nguyễn-Cầu (CHT/TT2KB Đà Nẵng) và cựu Trung Tá Trần-Đình-Giao (cựu CHT/ĐKB Ban Mê Thuột 1965- 1969)
Hoàn tất ngày 5- 5- 2003
HQPD chân thành cám ơn quý Niên Trưởng và xin mạn phép đăng lại bài viết nầy từ http://khongquan-ucchau.cjb.net/, cũng xin gởi đến CB Sĩ Quan Kiểm Báo thuộc khóa 72E đã may mắn thóat chết trong trận đánh Ban Mê Thuộc 1975 nầy với tất cả sự ngưỡng mộ.
Nguyễn-Anh
Bài Thơ Cuối Cùng
Huyền Chi – Thanh Thanh

