Sứ Mệnh Tinh Thần

Yên Sơn

1.
Đang nín thở, nằm bẹp dí trong một góc tối tăm ở một nơi xa lạ để chạy trốn công an Việt cộng thì nghe tiếng dọng cửa ầm ầm. Tôi cố khom mình, nhích sâu thêm một chút vào bóng tối bỗng bị lọt thỏm… xuống sàn nhà, đau điếng! Mở bừng mắt, mồ hôi vã như tắm, tôi thở phào, vui mừng… khi biết mình đang nằm trong phòng khách sạn vừa trải qua một giấc mơ kinh hoàng!

Chưa kịp hoàn hồn thì lại nghe tiếng gõ cửa. “Ai đó?” “cần dọn phòng không?” “Chưa cần”. Đó là mẩu đối thoại với người bồi phòng ở ngoài hành lang. Tôi leo lên giường nằm xuống, cố ngủ thêm một chút nữa nhưng không tài nào chợp mắt được vì những tiếng ồn ào bên ngoài xông vào phòng rất khó chịu. Nhìn đồng hồ bàn thấy đã qua trưa! Tôi lại hoảng hốt bước như nhảy vào phòng tắm, làm vệ sinh rồi sắp xếp công việc phải làm hôm nay. Việc phải làm hôm nay cũng là lý do chính tôi về Quảng Ngãi lần này.

2.
Tôi đã rời xa Quảng Ngãi khá lâu; bây giờ về đây, thấy đâu đâu cũng đều xa lạ, nhưng trong tôi vẫn như bùi ngùi, luyến tiếc một thứ gì đó. Có lẽ tuổi xuân chăng chứ cảnh không cũ và người người đều xa lạ. Quảng Ngãi trong tâm thức của tôi là những hình ảnh thân thương, mộc mạc nhưng diệu kỳ vô cùng. Quảng Ngãi trong tôi là dòng sông Trà, sông Vệ mông mênh; là những con đò ngang mỏng manh; là những bờ xe nước kỳ vĩ; là những tiếng xe ngựa gõ lộp cộp trên đường đá; là những đêm trăng sáng, trời trong bạn bè kéo nhau ra bãi cát ngủ qua đêm. Quảng Ngãi trong tôi là an vui, thanh bình suốt thời tuổi thơ mầu nhiệm… Lòng tôi lâng lâng cảm xúc, bâng khuâng, rưng rức lạ lùng!

Ra khỏi khách sạn, trời nắng chói chang, tính tìm một anh xe ôm để đi đến chỗ cần đến. Vâng, đi về xóm nhỏ thì chỉ có đi xe ôm mới tiện tìm kiếm. Đang lớ ngớ giữa một chỗ xô bồ, phía trước khách sạn Trung Tâm trên đường Lê Lợi, Quảng Ngãi. Có lẽ đây là nơi tụ tập chờ khách của những người chạy xe ôm, xích lô đạp. Họ tụ năm tụ ba tán dóc, đánh cờ, binh xập xám, nói nói cười cười xen lẫn tiếng cãi cọ ồn ào cả một góc phố. Tôi nghĩ cần một tách cà phê trước khi đi. Bước vào quán cà phê bên đường ngồi xuống. Trong lòng xôn xao lạ. Biết là không gian này không phải là sự chọn lựa của tôi. Có bóng dáng của các em bé bán vé số dạo. Tiếng mời chào đủ các âm giọng ba miền đất nước. Đầu óc tôi mụ mị trong không gian hỗn tạp tiếng người, tiếng còi xe; trên tay ôm một chiếc bình sành nhỏ đựng tro cốt của Huệ – một người học trò ngoan hiền- đưa về từ Mỹ.

Vừa ngồi vào bàn thì một đám nhóc bán vé số nhào tới mời chào. Tôi lắc đầu nói không mua mặc dù chúng nó năn nỉ dai dẳng. Tôi ngồi làm thinh, mặt mày nghiêm và buồn được một lúc thì chúng nó bỏ đi. Xong lại có thằng bé đánh giày trờ tới “chú đánh giày không chú”. “Trời đất, chú mang giày thể thao mà đánh nỗi gì?” “Giày thể thao thì đánh theo giày thể thao chú ơi.” “Không đâu cháu, chú cần uống ly nước rồi đi công việc gấp.”

Thằng bé vừa đi thì một bé gái rất nhỏ – có lẽ chừng 5-6 tuổi là cùng – sà đến bên tôi: “Chú mua giùm con ít vé số đi chú?” “Không, chú không mua đâu cháu.” “Chú làm ơn giúp con; mua mấy tờ cũng được. Con cần bán rất nhiều vé số hôm nay vì mạ con đang bệnh, cần tiền mua thuốc!”

Tôi nghĩ tụi nhỏ bán vé số bao giờ cũng có những lý do bi đát để câu khách nên tôi chẳng quan tâm gì lắm. Chỉ khi nhìn kỹ con bé, thấy mặt mũi sáng sủa, xinh xắn nhưng gầy gò, chiếc áo bà ba có hai miếng vá ở khuỷu tay và vai, chân đi đôi dép mòn cả gót làm tôi chạnh lòng! Với số tuổi này đáng lẽ cháu ở nhà vui chơi sao lại tả tơi bán vé số! Nhìn quanh một lượt thấy lũ nhóc bán vé số đều không khác gì nhau mấy nhưng tự nhiên tôi có thiện cảm với con bé này. Không biết vì cái giọng Huế nhỏ nhẹ dễ thương của nó có dự phần trong tình cảm bất chợt này không; đối với trẻ con, nhất là các bé gái bao giờ tôi cũng dành nhiều cảm tình hơn. Tôi dạy con nít hơn 40 năm qua nên tôi rất yêu mến trẻ con; thế nhưng, tuổi đời đã đi qua ngã sáu rồi, tôi vẫn chưa có cơ hội thực tập hai tiếng “ông cháu” mầu nhiệm.
– Chú không mua vé số nhưng chú có thể tặng cháu ít tiền ăn bánh mì được không? Miệng nói tay móc túi lấy ra một ít tiền lẻ đưa cho con bé.
Nó khoa tay từ chối và đi thụt lui vài bước:
– Dạ không được mô chú. Chú mua vé số thì con rất vui. Rất cám ơn chú nhưng con không xin tiền.
– …? Tôi bỡ ngỡ, chưa biết ứng xử sao.
– Mạ con dặn không được lấy tiền của người khác.
– Thì cháu có lấy của ai đâu, chú tự nguyện, kể như tiền chú mua vé số thôi mà?
– Chú mua vé số thì con bán. Còn không mua thì con không lấy mô. Chú mua giùm con một ít đi?
– Chú không thích vé số. Người ta nói trúng số xui lắm!
– Con mới nghe chú nói lần đầu. Chú không mua thì con đi nghe.
Con bé mới chừng ấy tuổi mà đối đáp như người lớn. Nó dợm bước đi, tôi vội vã nắm tay con bé giữ lại:
– Được rồi, được rồi! Chú mua.
Con bé nhoẻn miệng cười dễ thương hết sức:
– Chú mua mấy vé nì?
Thấy con bé cầm trên tay một xấp, tôi hỏi:
– Một tấm bao nhiêu tiền cháu?
– Dạ 10 ngàn!
– Phần cháu lời được bao nhiêu mỗi tấm
– Dạ tám trăm!
– Từ sáng tới giờ cháu bán được bao nhiêu?
– Dạ tệ lắm! Chắc chỉ khoảng hơn 10 tấm thôi!

Trong đầu tôi làm vội một con toán: 10 tấm được 8 ngàn, khoảng 40 xu Mỹ.
– Bán bao nhiêu mới đủ tiền thuốc cho mẹ cháu?
– Dạ không biết nơi, nhưng chắc cần bán nhiều lắm
– Cháu đếm thử cháu còn bao nhiêu tờ?

Con bé mở to đôi mắt có vẻ ngạc nhiên, quẹt ngón trỏ bé tý vào miệng, cắm cúi đếm một hồi rồi ngước lên nói:
– Dạ còn đúng 86 tờ.
– Nếu hết ngày mà cháu bán không hết thì làm sao?
– Cuối ngày phải trở lại đại lý để thanh toán. Số không bán được sẽ bị phạt 10%.
– Vậy làm sao? Bây giờ đã xế bóng?
– Có lẽ con phải bán tới khuya!
– Cuối ngày! Tới khuya!?
Như hiểu ý tôi nó nói liền:
– Dạ cuối ngày là lúc mình đem tới đại lý thanh toán. Con xin người ta tới 10 giờ đêm. Nếu hết sớm thì được về sớm. Chú mua giùm con 10 vé nghe?
– Nếu chú mua hết thì cháu về nhà với mẹ hay đi bán tiếp?
Con bé trố mắt như không tin những gì nó vừa nghe:
– Chú noái thiệt không?
– ….! – Tôi không nói gì, chờ đợi câu trả lời tiếp của nó.
– Rứa thì con sẽ về mua thuốc cho mạ trước rồi tính tiếp. Con bé nói như reo.

Tôi đưa tay đỡ tập vé số trên tay con bé, móc bóp đưa cho nó tờ 50 đô. Nó ngập ngừng một thoáng xong cầm tờ giấy bạc rồi móc cục tiền bó bằng dây thun trong túi đưa hết cho tôi và nói: “đây là tiền thối lại cho chú nè.” “sao cháu chưa đếm mà đưa hết cho chú vậy?” “đó là tiền con bán 14 tấm vé số từ sáng giờ đó.” Tôi đẩy tay nó, bảo giữ luôn không cần thối lại, nó không chịu; nó nhất định chỉ lấy đúng số tiền vé số mà thôi, dù tôi có năn nỉ thêm cũng vô ích. Tôi thầm nghĩ, ở cái xã hội băng hoại, mục nát từ thượng tầng đến các anh công an đứng đường này sao còn có được những tâm hồn lương thiện, đoan hậu như thế! Ước gì những kẻ ăn trên ngồi trốc có được một chút liêm sỉ của con bé này thì đất nước mình, dân tộc mình đâu đến nỗi tang thương, khuất phục như hôm nay! Vừa cảm phục vừa thương con bé quá, muốn ôm nó vào lòng.
Vì thấy nó có vẻ ngập ngừng khi cầm tờ 50 đô nên để chắc ăn, tôi dắt nó qua tiệm vàng kế bên đổi ra tiền VN và đưa cho nó đúng con số nó muốn. Nó đếm lại lần nữa rồi ngước mắt lên nhìn tôi nhỏen miệng cười nói:
– Con đếm lại cho chắc chú không đưa hơn số tiền vé số.
Tôi cười méo vì thương tính nết ngay thẳng và hồn nhiên của con bé; tôi đưa tay xoa đầu tạm biệt con bé với nhiều lưu luyến, và cũng không quên chúc mẹ nó chóng lành bệnh.

3.
Tôi ngoắc một anh xe ôm. Hai anh cùng chạy tới hỏi tôi muốn đi đâu. Tôi nói tôi chỉ cần một anh cho tôi đi về địa chỉ này. Vì không biết hỏi anh nào nên tôi xòe số địa chỉ ghi trên tờ giấy ra giữa. Một anh nói 65 ngàn một chiều. Anh kia nói 45 ngàn… rồi hai anh cãi nhau, “đây chạy tới Mỹ Khê mà 45 ngàn, tính giựt khách người ta hay sao?” “Chỉ chạy tới Tịnh Khê mà đòi chặt người ta 65 ngàn!” “Anh có biết chỗ này gần bãi biển Mỹ Khê hay không?” “Nhưng chưa tới cầu Mỹ Khê, cũng không phải ra bãi tắm!”… Thấy hai người cãi nhau mãi mất thì giờ, tôi chọn anh bạn lấy 45 ngàn. Thật ra 65 hay 45 cũng chỉ thêm $1 USD mà thôi, đâu có bao nhiêu nhưng tôi theo anh 45 ngàn vì thấy anh ta có vẻ thật thà hơn nhiều.
Tôi leo lên xe ngồi sau gợi chuyện:
– Anh nghĩ bao lâu mình sẽ tới nơi?
– Dạ khoảng 45 phút là nhiều.
– Tôi không gấp lắm, anh chạy an toàn là tốt nhất.
– Dạ, vậy cứ đi đường chính theo Quốc lộ 24B là tốt nhất.
– Mình đi đường mới qua ngã Tam Thương phải không?
– Dạ, em sẽ chạy theo Lê Thánh Tôn, rẽ trái đường Đinh Tiên Hoàng, cũng là đường Bà Triệu, qua cầu mới, rẽ phải theo quốc lộ 24B về hướng Mỹ Khê.
– Anh cứ chạy đường nào nhanh và an toàn là được rồi.
– Mà anh tìm ai ở đó vậy?
– Một người quen.
– Em có thể biết tên không, may ra em biết?
– Anh ở vùng đó à?
– Dạ, nhà em ở gần chợ Tịnh Khê, không xa địa chỉ anh sắp tới.
– Anh biết ai tên Phạm Thị Phương Lan, một người đàn bà khoảng tuổi 30?
– Vậy thì xin lỗi, em không biết.

Anh xe ôm khoảng hơn 40 tuổi. Ăn nói lịch sự và có vẻ thành thật. Tôi cảm thấy yên tâm. Trên đường xe cộ tấp nập đủ loại. Anh vừa chạy vừa kể chuyện khi tôi hỏi để mà hỏi “anh có gia đình vợ con rồi chứ?” Có lẽ anh cũng đã biết tôi không phải là người ở đây nên “cạn mạch sầu” thao thao bất tuyệt. Anh kể chuyện anh sinh ra không có cha. Cha anh là lính Sư đoàn 2, chết trên đường chạy loạn tháng 3/1975. Vì là gia đình “ngụy quân” nên mẹ con anh bị chế độ mới ức hiếp đủ điều trong đời sống cơ bần. Mười năm sau mẹ anh bạo bệnh mất và anh mồ côi cả cha lẫn mẹ từ đó. Anh ở với Nội được mấy năm, không làm gì được để giúp mà còn là gánh nặng cho một gia đình cũng tả tơi không kém. Sau đó anh tự bươn chải để sống cho tới bây giờ. Ngày ngày chạy xe ôm mưu sinh, có một con trai đang học cấp một; có vợ buôn bán nhỏ ngoài chợ Tịnh Khê…

Tôi ngồi nghe anh kể chuyện với tiếng gió ào ào bên tai, nên chỉ nghe mà không góp chuyện. Trong lòng tôi đang bâng khuâng, hồi hộp nghĩ tới chuyện gặp gỡ sắp tới!

Xe chạy khoảng gần tiếng đồng hồ thì tới khu Trường Trung Học Cơ Sở Võ Bẩm nằm bên trái quốc lộ; đối diện bên kia lộ là trường Trung học Phổ Thông Sơn Mỹ. Anh tài xế nói với tôi sắp tới nơi rồi. Tôi giật mình vì khu này ở gần họ hàng nhà tôi. Nhìn đồng hồ thấy hơn 2 giờ chiều. Thấy vẫn còn sớm, hơn nữa tôi cũng cần thêm thời gian để ổn định tinh thần trước khi giáp mặt; tôi đề nghị ghé vào quán uống nước trước khi vào nhà. Tôi đã từng nhiều lần hồi hộp trước ngưỡng cửa sinh tử của cuộc đời, nhưng chỉ đơn thuần hồi hộp trước khi loạt đạn đầu tiên được bắn ra khỏi nòng súng. Còn sứ mệnh (mission) của tôi lần này coi bộ khó khăn hơn nhiều; ngoài sự hồi hộp, lòng tôi còn đầy thương cảm và bối rối. Dẫu đã có được tấm hình bỏ túi do người học trò đưa để dễ nhận diện – tấm hình chụp chung của hai người hơn hai năm trước – nhưng vẫn không hình dung được người ấy bây giờ ra sao, sẽ phản ứng ra sao trước một thực tế phũ phàng.

Ngồi uống nước độ hơn mười phút, chúng tôi chạy tới địa chỉ đã ghi. Tôi đưa tay gõ cửa một lúc lâu mới có một ông cụ ra mở cửa. Tôi hơi bỡ ngỡ:
– Thưa Bác cháu muốn hỏi thăm cô Phương Lan.
– Ồ! Cô ấy đã về ở trên thành phố tháng trước rồi. Mà anh là ai, quen biết ra sao với cô đó?
– Thưa Bác, có người ở bên Mỹ nhờ cháu tìm giúp cho họ.
– Trông tướng tá chú chắc mới bên Mỹ về phải không?
– Dạ phải!
– Chờ con tui một chặp, nó về đưa chú địa chỉ của cô ấy. Khi dọn đi, cô có dặn con tui, nếu có người quen nào muốn tìm, nhất là người ở bên Mỹ, thì đưa địa chỉ cho họ.
Tôi sốt ruột quá, hỏi “bao lâu nữa con Bác mới về?” Ông cụ cười mỉm nói “chắc chặp nữa thôi, nó chạy qua trường mầm non đón con về liền, chắc không lâu nữa đâu.” Nói xong mời chúng tôi vào nhà ngồi đợi. Cụ mời chúng tôi hai tách trà thơm.

Ngồi một lúc, tôi cứ thắp thỏm ngó mong. Anh tài xế biết tôi nóng ruột nên hỏi “anh có muốn đi một vòng trong lúc chờ đợi không, em không tính tiền thêm đâu?” “Thôi mình đợi đi anh!” Thật tình tôi cũng muốn chạy ra biển cho khuây khỏa nhưng trong lòng cứ nôn nao muốn lấy địa chỉ ngay để còn đi tìm. Thời gian cứ chậm chạp, chậm chạp!

Hơn 20 phút mới thấy một thiếu phụ dắt cháu nhỏ vào nhà. Bỡ ngỡ nhìn chúng tôi. Ông cụ nói liền “người ở Mỹ về muốn tìm chị Lan, Ba nói họ chờ con về đưa họ địa chỉ.” Thiếu phụ quay qua hỏi tôi:
– Chắc ông là người muốn tìm chị Lan?
– Tôi tên Phong, ở Mỹ về, tìm giúp cho một người khác.
– Sao người đó không tự về tìm lấy?
– Có, nhưng không nói được!
Tôi chỉ chiếc bình sành trên tay. Thiếu phụ có vẻ tái mặt, lúng túng, lẳng lặng đi vào trong một lúc đem ra một tờ giấy có ghi địa chỉ đưa cho tôi.
– Xin chia buồn với ông. Có lẽ ba tôi đã cho ông biết chị Lan dọn về thành phố tháng rồi. Chị Lan ốm yếu không biết có chịu nỗi sự đau buồn này không. Chúc ông may mắn.
Tôi cám ơn cô ta và nói lời từ giã với hai cha con. Hỏi anh xe ôm có muốn đưa tôi trở lại thành phố tìm tới địa chỉ này không. Anh trả lời là rất vui lòng và cũng sẽ lấy thêm 45 ngàn nữa thôi. Tôi nói không thành vấn đề, chỉ mong làm cho xong trách nhiệm hôm nay cho nhẹ mình.

4.
Về lại thành phố hơn 4 giờ chiều. Địa chỉ ở trong hẻm Ngô Quyền với hai cái xẹt (sur), khu chợ Quảng Ngãi, rất khó tìm. Anh xe ôm vừa chạy vừa hỏi thăm, cuối cùng cũng tới được. Địa chỉ là một căn nhà nhỏ trông gọn gàng, sạch sẽ. Tôi lại hồi hộp đưa tay gõ cửa, nghe tiếng trả lời của một cụ bà người Huế; rồi cửa xịch mở. Một bà cụ trông gầy gò ốm yếu, lưng lại cong, ngó tôi từ đầu tới chân:
– Cậu muốn tìm ai?
– Thưa Bác có phải cô Phương Lan ở đây không ạ?
– Cậu là ai mà biết tên con gái tui?
– Thưa Bác có người bên Mỹ nhờ cháu tìm giúp.
– Phải thằng Huệ nhờ cậu không?
– Dạ phải.
– Mời cậu vào nhà nói chuyện.
– Vâng cho cháu trả tiền xe cho họ về đã.
– Nếu anh muốn em ở quanh đây chờ anh cũng được. – Anh tài xế vội nói.
– Cám ơn anh, đây về khách sạn không xa lắm, hơn nữa không biết phải bao nhiêu lâu mới xong. Khi xong việc tôi sẽ gọi xe khác chắc không khó lắm đâu.
– Theo me thấy anh có thể đi bộ tới khách sạn cũng được.
Tôi đưa cho anh ta 200 ngàn VND mới đổi ở tiệm vàng hồi trưa. Anh ta gãi đầu lúng túng:
– Em tên Minh, mỗi ngày em đều loanh quanh trước khách sạn Trung Tâm và bến xe Quảng Ngãi. Anh cần đi đâu em sẽ hướng dẫn anh không sợ bị người ta lường gạt.
– Vâng, nếu cần tôi sẽ tìm anh.

Nhìn anh tài xế đi khuất, tôi theo bà cụ vào nhà. Căn phòng nhỏ trông rất tươm tất, vắn khéo nhưng có vẻ đạm bạc. Bà cụ mời tôi ngồi vào chiếc ghế duy nhất bên cạnh chiếc bàn con kê sát tường; tôi ý tứ đặt hũ tro cốt xuống chiếc bàn. Từ trưa đến giờ tôi ôm cứng trên tay, chỉ để xuống được 15 phút ở quán nước dưới Tịnh Khê. Bà cụ vén tấm màn ngăn làm phòng ngủ và ngồi trên cạnh giường.
– Mạ con hắn vừa ra chợ chắc cũng sắp về. Cậu ngồi đợi được chớ? Để tui lấy nước mời cậu.
– Dạ thưa Bác không cần đâu ạ, cháu vừa uống nước rồi.
Nói là nói vậy chứ tôi cũng đã khát nước, chỉ vì thấy nhà đơn chiếc quá và bà cụ cũng gầy gò trông tội nghiệp.
– Cậu mới về hay về lâu rồi? Hiện ở mô?
– Thưa Bác, cháu tên Phong, từ Saigon về Đà Nẵng xế trưa hôm qua, vậy mà mãi tới khuya xe mới về tới khách sạn Trung Tâm trên đường Lê Thánh Tôn gần đây.
– Dường như cậu ở bên Mỹ về?
– Sao Bác biết?
– Thì trông bộ dạng của cậu và nghe cậu nói thằng Huệ bên Mỹ nhờ cậu ra đây tìm em Lan.
– Dạ vâng ạ! Để Phương Lan về cháu sẽ kể hết đầu đuôi luôn ạ.
Tôi sốt ruột quá, đứng lên ngó mong ra cửa. Bà cụ nhận là mẹ của Phương Lan nhưng sao không nghe Huệ nhắc tới khi còn sống.
– Thưa Bác cho cháu để cái bình ở đây, cháu ra hẻm mua bao thuốc lá về liền.
– Được được, cậu cứ để đó tôi coai cho, không mất đi mô mà lo.

Tôi lang thang ra đầu hẻm, ngồi ngay quán cóc đầu con hẻm để ngó chừng; gọi ly cà phê đá và mua gói thuốc lá của một bà bán bên cạnh, phì phà chờ đợi. Tôi nghĩ ngồi ở đây, nếu mẹ con cô ấy về nhà nhất định phải đi qua con hẻm này, nên yên tâm ngồi chờ. Thế mà tôi đã hút hết hai điếu thuốc, uống hết ly cà phê mà vẫn không thấy tăm dạng của một cô gái khoảng 30 tuổi đi với đứa con nhỏ nào cả. Sự chờ đợi thật vô cùng khó chịu, thấy thời gian đi chậm như rùa. Tôi nghĩ tôi phải vô nhà kẻo bà cụ trông.

Tính đưa tay gõ cửa thì cửa xịch mở. Một thiếu phụ với suối tóc đen mượt, dài chấm lưng, gương mặt thanh tú, khả ái nhưng trông võ vàng, tiều tụy. Đôi mắt đỏ ngầu, dường như vừa mới khóc. Tôi lúng túng hẳn. Nàng cũng chưa kịp nói gì thì một con bé phía sau lưng vượt lên trước:
– Ủa chào chú!
Tôi kinh ngạc thấy con bé bán vé số khi trưa.
– Mạ ơi, đúng là chú ni là người mua hết vé số của con khi trưa mà con noái với mạ đó! – Con bé quay sang nói với mẹ nó.
– Chào anh. Anh Phong phải không? Tôi là Phương Lan, mẹ của cháu Lan Huệ! – Giọng nàng sũng nước mắt.
– ….
– Mời anh vào nhà đã.
– Con qua quán dì Tám mua cho mạ mấy chai nước ngọt; nhớ lấy ít nước đá.
– Dạ mạ!
– Không cần đi đâu cháu. -Tôi giữ vai ngăn con bé lại.
– Anh để cháu đi, nhà chẳng có gì.

Thấy không tiện ngăn cản thêm, tôi đành buông tay, theo nàng bước vào nhà. Thấy bà cụ vẫn ngồi trên giường mặt buồn dàu dàu, tôi gật đầu chào, nói với cụ cũng như nói với Phương Lan:
– Xin lỗi Bác, cháu đợi lâu sốt ruột quá nên ra ngoài đầu hẻm uống nước. Tưởng đâu Phương Lan về đường đó mà không thấy nên ngồi hơi lâu.
– Tôi tưởng cậu đi luôn rồi chớ!
– Dạ đâu có! Cháu về đây chỉ có một việc này thôi mà!
– Cậu ngồi xuống đi rồi nói chuyện.
Phương Lan đẩy chiếc ghế về phía tôi và ngồi chiếc đối diện. Chắc có lẽ chiếc ghế để trong bếp mới được mang ra. Tôi chưa biết mở lời cách nào thì nàng nói tiếp:
– Mạ con em đi đường trong nên anh không thấy là phải. Khi vô tới nhà, thấy trên bàn có cái bình sành này, bé Lan Huệ nói liền “sao giống cái bình của chú mua vé số của con khi trưa quá!”
– …
– Con bé về lúc trưa, khoe với em, “có một cái chú chắc ở đâu mới tới; tụi thằng Tèo, thằng Dũng bị chú từ chối mà chú lại mua của con, còn mua hết nữa chứ!” Rồi nó khoe là “chú nớ cố cho tiền con mà con nhớ lời dặn của mạ nên nhất định không lấy.”
– Vâng, sự thực là vậy! Phương Lan dạy con hay quá! Chính vì sự thông minh và thực thà của nó mà tôi đã “phải lòng nó”.
– Cám ơn anh, tuy gia đình em nghèo nhưng lúc mô em cũng nhắc con “nghèo cho sạch, rách cho thơm”. Em đâu có muốn bắt con đi bán vé số, chỉ vì thời gian gần đây em bệnh triền miên không làm ăn chi được hết. Ba thế hệ tùy thuộc vào em mà sức em tàn, lực em kiệt! Cả tuần nay lại nằm liệt một chỗ, ăn uống khó khăn. Con bé thương mẹ, nhất định đòi cho nó đi bán vé số tạm thời. Cũng may, cháu được nhiều người thương, nhưng không vì vậy mà em để con phải khổ lâu. Chỉ vì đang mùa hè cháu nghỉ ở nhà không việc chi làm và chưa biết làm răng để thoát ra khỏi hoàn cảnh tối tăm ni. Khi trưa nó về lại mang theo một chị y tá chích dạo… cách đây vài tiếng đồng hồ, em mới ngồi dậy nỗi, ráng cùng đi với cháu ra nhà thuốc tây mua thuốc theo lời dặn của cô y tá; cũng là cách cho đỡ quẫn trí, cuồng chân.

Nàng thao thao như để che giấu cảm xúc; như để cho tôi có thêm bình tĩnh. Ngồi nghe nàng nói mà lòng tôi xót xa, bối rối, vẫn chưa dám mở lời.

Cánh cửa xịch mở, con bé đã về cầm theo mấy lon nước ngọt và một cục nước đá nhỏ. Tôi nhìn con bé với tất cả trìu mến. Nó đi thẳng vào bếp, nghe tiếng nước chảy, tiếng chặt đá và tiếng ly tách lịch kịch. Tôi ngó vẩn vơ chung quanh phòng. Bà cụ vẫn ngồi yên kiên nhẫn nhai trầu. Tôi nhìn qua khung cửa sổ. Bên ngoài bóng chiều đã xuống thấp, tiếng rao hàng cũng thưa thớt dần. Tôi đưa mắt nhìn nàng nhưng không đủ can đảm nhìn lâu. Con bé đem cho bà một ly nước trước khi đặt hai ly trên bàn chúng tôi ngồi, xong tới ngồi bên cạnh giường gần bà ngó tôi… Tôi bảo con bé “chú không uống nước ngọt được, uống vào là sưng cuống họng, ho liền trong vòng 30 phút. Cháu cho chú tách nước lạnh rất tốt. Con bé ngó mẹ nó, thấy Phương Lan gật đầu, nó lại chạy xuống bếp đem lên cho tôi một ly đá lạnh. Tôi đưa ly nước ngọt cho nó, nó ngần ngừ nhìn mẹ và mẹ nó gật đầu ra dấu đồng ý.
Bỗng nhiên, nàng nhìn thẳng vào mắt tôi:
– Có phải anh mang cho chúng tôi một tin rất xấu không?
Tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực; miệng tôi chát đắng, ấp úng không nói nên lời!
– Có phải đây là hũ tro cốt của Huệ?
– …!

Tôi nghẹn lời chưa kịp trả lời. Người thiếu phụ đang ngồi trước mặt tôi quá sức thông minh và thẳng thắn. Tôi bối rối nhìn bà cụ rồi nhìn con bé. Không gian vô cùng tĩnh mịch, thỉnh thoảng nghe tiếng rao hàng của những người bán rong đi ngang trước cửa. Lòng tôi chùng xuống, nghe nhịp tim đập bồi hồi. Mọi người như rất chú tâm để nghe tôi xác nhận. Phương Lan vừa khóc vừa nói:
– Em đã sẵn sàng nghe anh xác nhận. Cả tháng ni em đã linh tính có điều bất thường, mặc dù đã hơn hai năm rồi không nghe tin tức chi của Huệ. Dù vậy, em vẫn nhất quyết không tin Huệ quên bỏ mạ con em.
– Vâng, Huệ không bao giờ quên bỏ mẹ con Phương Lan. Có quá nhiều đau thương đã xảy ra cho Huệ, nhưng nó nhất định không nói với ai, kể cả tôi. Tôi là thầy dạy võ của Huệ. Huệ đã đến học với tôi gần bốn năm. Tính Huệ hiền hòa ít nói nhưng siêng năng và vô cùng lễ phép. Những ngày lễ tết, Huệ thường đến nhà thăm và tặng quà cáp, đôi khi đi với Mẹ. Nhìn cách đối đáp với mẹ nó, tôi biết Huệ là một người con chí hiếu. Dần dà tôi coi nó như một người thân và không lấy tiền học phí của nó nữa. Mỗi lần có tiệc vui trong gia đình đều có nó tham dự, vài lần đi chung với Mẹ nó. Dù vậy, khi tôi hỏi chuyện gia đình vợ con thì nó chỉ cười buồn mà không nói. Tôi biết Huệ chắc có điều gì khó nói nên tôi tôn trọng sự riêng tư không hề hỏi nữa. Mỗi lần đến tập xong rồi về. Lâu lâu tôi không thấy tới thì tôi gọi hỏi thăm. Rồi Huệ lại bất chợt xuất hiện, vẫn tập tành siêng năng, kỷ luật như thường.
Tôi ngưng lại, bưng ly uống một ngụm nước. Nước đá lạnh như làm cho tôi bình thản trở lại. Tôi thong thả đặt ly xuống bàn, hắng giọng tiếp:
– Cách đây khoảng hai năm, buổi chiều, lúc tôi đang dạy lớp thì nghe điện thoại của Huệ. Tôi bắt điện thoại để nghe tiếng nấc của Huệ, “Thầy ơi! Mẹ em mất rồi!” Tôi sửng sốt hỏi “Mẹ đau bệnh gì vậy?” “Dạ, Mẹ em bị ung thư buồng trứng!” “Mới phát giác hay lâu rồi?” “Dạ chữa trị cả năm rồi Thầy ạ!” “Mẹ đang được quàn ở đâu?” “Dạ nhà quàn Vĩnh Phước.” “Có người thân nào ở đó với em không?” “Kính Thầy em là người duy nhất, em không có thân nhân, chỉ có hai mẹ con thôi!” Thế là tôi giao lớp cho học trò lớn, lái xe xuống ngay với Huệ vì tôi nghĩ Huệ đang cần tôi.
Phương Lan nấc nhẹ, nước mắt đầm đìa. Con bé lấy khăn tay đưa cho mẹ nó. Tôi cũng nghẹn ngào, khó khăn nói tiếp:
– Sau khi tang lễ hoàn tất, Huệ càng lúc càng vắng mặt ở trường. Tôi nghĩ có lẽ Huệ vì quá đau buồn nên hết muốn tập luyện. Lâu lâu không thấy thì tôi lại gọi hỏi thăm an ủi. Có lần tôi đề nghị “hay là em về ở chung với Thầy”, Huệ nói nó không muốn bán căn nhà kỷ niệm của mẹ nó. Những khi tôi thắc mắc về sự tập tành không đều đặn của Huệ nó đều nói “thầy đừng lo nhiều cho em, khi nào khỏe em sẽ đi tập.” Dù trong đầu tôi nghĩ “bây giờ chỉ có một thân một mình mà sao không khỏe?” nhưng tôi không nói ra điều đó. Bẵng đi một thời gian khá lâu tôi không nghe thấy gì ở Huệ nữa, tôi định tạo bất ngờ cho Huệ bằng cách ghé ngang nhà không báo trước. Tôi bàn với nhà tôi nhưng nhà tôi không bằng lòng. Nhà tôi nói “mình là người lớn, là cương vị thầy nữa, không nên làm như vậy dù thật lòng thương mến. Mỗi người có một cuộc sống riêng tư, đừng đặt người khác trước những ngỡ ngàng đáng ân hận…” Thế là tôi chỉ còn biết thương nhớ và đầy thắc mắc.

Tôi ngưng lại uống nước. Mọi người vẫn kiên nhẫn ngồi chờ. Tôi cố ngậm hớp nước lạnh thật lâu để dằn cơn xúc động trước khi nói tiếp:
– Cách đây hai tháng, Huệ gọi nói muốn gặp tôi gấp, có việc vô cùng hệ trọng cần nhờ. Tiếng nói nghe rất yếu ớt. Địa chỉ là nhà thương MD Anderson, khu Medical Center gần trung tâm phố Houston. Lòng tôi nghi nghi ngại ngại. MD Anderson là trung tâm ung bứu nổi tiếng thế giới cũng là nơi làm việc của nhà tôi gần 20 năm qua. Buông điện thoại xong là tôi lái xe đi ngay. Vào đến nơi mới biết Huệ đang nằm điều trị tại khu chăm sóc đặc biệt (intensive care unit). Trông Huệ tiều tụy quá mức làm tôi rất ngỡ ngàng. Hình ảnh chú học trò văn vẻ, mạnh khỏe, đẹp trai chỉ còn lại vài đường nét lu mờ trên người bệnh. Huệ bị ung thư ruột già thời kỳ chót; đã kinh qua hóa trị rồi xạ trị nhưng không thoát. Tôi bốc điện thoại gọi nhà tôi nhờ hỏi thăm vị Bác sĩ chuyên môn xem lại hồ sơ. Hóa ra, vị Bác sĩ chuyên môn này lại là cấp trên của nhà tôi và cũng là Bác sĩ đang chăm sóc cho Huệ. Ông ta nói với tôi rằng khi Huệ nhập viện thì đã quá trễ! Ông đã cố gắng hết sức nhưng không cứu được. Vì Huệ không có thân nhân nên họ đang làm thủ tục chuyển Huệ qua hospice- nơi chăm sóc cho những bệnh nhân không còn phương án trị liệu. Nói cách khác là nằm chờ chết!

Tôi phải dừng lại vì Phương Lan khóc nức nở thành tiếng. Nàng lẩm bẩm, “Huệ ơi! Thế mà em đã trách oan cho anh rồi!” Đột nhiên nàng tuột xuống khỏi ghế ngồi; tôi nhanh tay chụp được tay nàng giữ lại để khỏi va đầu vào bàn; đứng phắt dậy đỡ lưng nàng trước khi đụng đất. Con bé khóc thét lên gọi mẹ ơi mẹ hỡi. Bà cụ cũng vội vàng chạy xáp tới. Tôi vội vã bế xốc nàng đặt ngay ngắn trên giường, khuyên bà cụ và con bé bình tĩnh… Tôi dùng hai đầu ngón trỏ xoa bóp liên tục vào hai đại huyệt Nhĩ Môn và Thái Dương hai bên mặt nàng được một lúc thì nàng tỉnh dậy. Bà cụ lấy chai dầu xanh dưới gối xức vào hai bên thái dương cho nàng. Nàng tiếp tục khóc rấm rứt:
– Em xin lỗi, anh kể tiếp đi.
– Phương Lan tịnh dưỡng chút đi rồi tôi sẽ kể tiếp.
Bóng tối đã chiếm gần trọn căn phòng. Bà cụ bảo con bé thắp đèn lên. Con bé đứng dậy bưng chiếc đèn dầu ở góc phòng, quẹt diêm đốt. Ánh sáng lù mù trông căn phòng nghiêng ngả, thê lương hơn. Tôi bỗng sực nhớ từ sáng tới giờ chưa ăn gì. Tôi đề nghị đưa cả nhà đi ăn nhưng tất cả 3 người đồng loạt từ chối. Tôi nghĩ ngay ra một phương cách:
– Thưa Bác và cô Phương Lan, cả ngày nay bận rộn nên tôi chưa có gì trong bụng, nếu không ăn tối tôi sẽ không đủ sức nói chuyện thêm!
– Rất tiếc nhà em cũng chẳng có gì để mời anh. Phương Lan gượng ngồi dậy, con bé đỡ lưng mẹ nó.
– Thế thì thường ngày 3 người ăn uống ra sao?
– Dạ ăn cho qua ngày anh à. Lúc em không bệnh thì buôn bán vặt vãnh ngoài chợ mỗi ngày. Hai năm trước, em nhận được 10 ngàn đô la của Huệ gửi cho, kèm theo bức thư nói rằng “em cố gắng dùng số tiền này buôn bán đỡ đần trong thời gian tới chờ anh làm thủ tục giấy tờ bão lãnh.” Thế rồi bặt tin luôn. Em có gửi thư và gọi điện thoại nhiều lần nhưng không thấy hồi âm. Em cay đắng nghĩ rằng, Huệ đã thí cho mạ con em 10 ngàn để rồi trốn biệt! Em cố nghĩ tốt cho Huệ nhưng càng ngày em càng thấy suy nghĩ Huệ đã bỏ mạ con em đúng hơn tất cả những lý do em bào chữa khác.

Kể tới đây lại khóc òa. Con bé lấy khăn ướt lau mặt cho mẹ nó. Được một lúc, nàng trấn tỉnh lại nói tiếp:
– Anh biết không, “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. buôn bán nhỏ để nuôi ba miệng ăn nên càng ngày vốn càng hao hụt. Vì thế, tháng trước khi con em nghỉ hè, em quyết định dọn về thành phố để xoay xở may ra khá hơn; ai ngờ lòng người lừa lọc, họ nhẫn tâm giựt mất lẽ sống của ba người chúng em khi em nộp tiền sang một cái sạp bán trái cây ngoài chợ Quảng Ngãi. Tuần sau em tới nhận sạp thì mới biết đó là trò lường gạt. Không tìm được thủ phạm, lại tiếc tiền và lo sợ không biết gia đình sẽ sinh sống ra sao nên kiệt sức quỵ dần, nằm liệt giường cả tuần nay. Đó là lý do em đành lòng để Lan Huệ đi bán vé số tạm thời.
– Phương Lan nghỉ chút đi, đừng nói nữa. Bây giờ phải giải quyết buổi ăn tối trước đã. Chuyện đâu còn có đó. Thế nào cũng có con đường sáng cho Cụ và hai mẹ con Phương Lan. Tin tôi đi!
– Rứa thì anh tính răng em xin nghe theo. Nhưng người em yếu quá, em không thể ra ngoài được.
Tôi chưa biết nói sao, bà cụ đỡ lời:
– Huệ, mi chạy ra quán chú Tư nói chú cho người mang cho mình 4 phần cơm đặc biệt để đãi khách rồi mạ mi thanh toán sau.
– Cô với Bác nghỉ chút đi, cháu đi cùng với Lan Huệ.
Con bé ngó mẹ nó, thấy mẹ nó gật đầu:
– Con dẫn đường bác Phong đi đi.

Tôi nắm tay con bé, muốn truyền tất cả sự thương yêu của Ba nó qua trái tim ướt sũng của tôi. Với số tuổi này ở bên Mỹ sung sướng biết bao nhiêu, trong khi con bé này phải ngày ngày lê gót đi khắp phố phường bán vé số lo thuốc cho mẹ! Còn đau đớn nào bằng! Tôi trìu mến hỏi nó:
– Lan Huệ, cháu bao nhiêu tuổi rồi?
– Dạ con 7 tuổi!
– Cháu học lớp mấy?
– Con vừa xong lớp một ở dưới Tịnh khê. Đầu mùa hè mạ con dọn về đây; khai trường con sẽ ghi danh lớp hai.
– Nếu có Ông Tiên cho cháu một mơ ước bây giờ, cháu sẽ mơ ước điều gì?
– Ước cho mạ con khỏe mạnh và con có cha như lũ bạn trong lớp. Nó nói liền không cần suy nghĩ.
– Đã nói là chỉ có một thôi mà!
Nó cúi gầm xuống, bước đi theo tay kéo của tôi. Không biết nó tính toán cái gì trong cái đầu bé tí đó. Được một lát nó ngước lên nói:
– Ba con chết rồi, rứa cho con xin mạ khỏe mạnh như xưa.
Con bé này vừa thông minh vừa chí hiếu giống như ba mẹ nó. Tôi cũng chợt đau lòng thay cho nó. Nếu có điều kiện học hành đàng hoàng, chắc chắn nó sẽ nên người hữu dụng mai sau. Tôi tự nhủ thầm “chắc chắn cháu sẽ có tương lai tốt đẹp thôi”
Chúng tôi bước vào một tiệm ăn nhỏ xíu bên ngoài con hẻm. Con bé nhìn tôi, tôi nhìn nó:
– Bà và Mẹ cháu muốn ăn món gì?
– Khi nãy Bà nói mua 4 phần cơm đặc biệt đãi khách.
– Cháu muốn ăn gì khác không?
– Hủ tíu mì! Nhưng chỗ ni chỉ bán cơm thôi.
– Ở đâu bán hủ tíu mì?
– Ngoài đường lớn mới có.
– Xa không?
– Một con hẻm nữa là tới đường Ngô Quyền sẽ thấy tiệm liền hà!
– Rồi, chú cháu mình đi.
– Không được mô chú. Không mua cơm về nhà sẽ bị Bà và Mạ la chết.
– Chú chịu trách nhiệm cho. Hơn nữa mẹ cháu không được khỏe làm sao nuốt cơm cho trôi; Bà cũng già rồi, cơm khó nuốt lắm.
– Vậy thì về nhà chú nói là tại chú muốn ăn hủ tíu mì đó nghe.
– Được rồi, chú hứa.

Tôi đưa ngón tay ngoéo ngón tay bé tí của nó. Nhìn mặt cười rạng rỡ của nó tôi càng thương hơn. Tôi bỗng ước ao nó làm con, làm cháu gì của tôi cũng được, tôi sẽ lo lắng, thương yêu nó hết lòng để bù trừ những bất hạnh trong mấy năm qua.
Về đến nhà với 4 tô hủ tíu mì đựng trong hai cái gà-mèn, tôi nói liền:
– Tôi mua hủ tíu mì cho Bác và Phương Lan dễ ăn nha.

Nói xong kín đáo nhìn con bé nháy mắt, nó mỉm cười quay đi đồng lõa. Bà cụ và Phương Lan ráng ăn một ít rồi ngừng. Riêng con bé ăn một cách ngon lành làm tôi muốn chảy nước mắt. Có lẽ lâu lắm nó chưa được ăn món ăn xa xỉ này.

Sau bữa ăn ngắn, thấy không tiện ở lâu, tôi đề nghị ngày mai tôi trở lại sớm để nói cho hết câu chuyện. Phương Lan dụ dự nhưng đồng ý. Có lẽ bất đắc dĩ chứ có cách nào hơn.
– Cháu xin chào Bác và mẹ con Phương Lan. Sáng mai mấy giờ tiện cho tôi trở lại?
– Giờ nào anh ngủ dậy thì tới cũng được ạ. Anh đang ở khách sạn nào?
– Khách sạn Trung Tâm trên đường Lê Lợi.
– Chỗ nớ cách đây không xa lắm.
– Nếu biết trước tôi đâu mất nửa ngày đi tìm!

Chợt để ý thấy hũ tro cốt của Huệ đã được đặt lên bàn thờ có nén hương đang cháy.
– Thưa Bác và cô Phương Lan, trước khi ra về, tôi muốn được thắp nhang cảm tạ trời đất và tạm an vị tro cốt của em Huệ.
– Cám ơn anh đã chu đáo!

Phương Lan vừa âm thầm khóc vừa bước tới trước bàn thờ, lấy một nén nhang run run đốt. Tôi nghĩ có lẽ nàng sẽ khóc suốt đêm nay. Tôi không biết an ủi cách nào, đành lặng lẽ cầm nén nhang từ tay nàng trao, đứng trước bàn khấn vái lớn cho mọi người cùng nghe.
– Huệ ơi! Cuối cùng thì em cũng đã về bên vợ con như ý nguyện. Thầy cảm tạ hương linh em đã giúp Thầy vượt qua nhiều thử thách để chu toàn lời hứa với em. Dĩ nhiên công việc chưa xong, hy vọng trong vài ngày nữa sẽ được. Em an nghỉ và ở bên vợ con phù trợ cho họ vượt qua tất cả nghịch cảnh do ông trời thử thách, sớm cho họ được bình an từ tinh thần đến vật chất. Thầy cũng đã hứa với em, Thầy sẽ để tâm tới bé Lan Huệ từ hôm nay. Bây giờ kể như đã xong phần quan trọng nhất, những việc khác chắc không có gì để lo. Ngày mai, Thầy sẽ trở lại đây để lo cho xong trách nhiệm em giao phó. Tạm biệt Huệ.

Tôi cắm nhang xong quay lại đã thấy Phương Lan mắt lệ đầm đìa, dang tay ôm chặt tôi, gục đầu trên vai khóc nức nở:
– Mạ con em đội ơn anh. Còn nhiều điều em nôn nóng muốn biết nhưng không còn thắp thỏm như mấy năm qua nữa. Huệ đã về với mạ con em dù chỉ là di cốt nhưng trong thâm tâm em cũng đã thấy mãn nguyện lắm rồi. Vô vàn cám tạ tấm chân tình anh đã dành cho chúng em, và đặc biệt cho mạ con em. Hẹn gặp anh sáng mai và chúc anh ngủ ngon đêm nay.

Tôi nghĩ phải có niềm cảm xúc sâu sắc lắm mới khiến một người con gái Việt Nam biểu lộ cử chỉ thân mật như vậy. Tôi quá bất ngờ nên đâm ra lúng túng, một tay buông thõng, một tay ngại ngùng đập nhẹ trên chiếc vai gầy run rẩy, thổn thức để nói lời an ủi. Nàng cố dằn cơn xúc động, buông tay, ngả nghiêng bước tới giường nằm vật xuống gối khóc vùi. Con bé giờ này cũng khóc theo mẹ và bà Cụ cứ lấy tay áo quẹt nước mắt. Tôi bối rối chôn chân tại chỗ. Tình cảnh rất khó lòng, đi không nỡ ở không được! Không quay mặt lại, Phương Lan nói trong nước mắt nhưng dứt khoát “anh đi về kẻo muộn, mai chúng em gặp lại anh”. Tạm biệt!

Tôi bước qua khuôn cửa, thuận tay khép lại, nghe nặng bước chân, tâm hồn chùng xuống thật thấp với tấm lòng đầy trắc ẩn và âu lo lẫn xót thương. Một gia đình nhỏ với 3 thế hệ toàn là đàn bà đứng trước một nghịch cảnh đớn đau. Tôi thấy mình bất lực quá trước đau thương to tát của 3 người đàn bà đáng thương này.

5.
Màn đêm phủ kín khu phố; những ngọn đèn đường vàng vọt trải xuống cảnh vật chung quanh một màu ảm đạm, thê lương. Đâu đây tiếng dế kêu vang như hòa cùng tiếng khóc than của một người thiếu phụ mất chồng và một đứa con gái nhỏ mất cha.

Có chiếc xe ôm trờ tới, tôi bảo anh ta cho tôi trở về khách sạn Trung Tâm. Anh ta nhìn tôi chằm chặp, nói “anh có thể đi bộ được mà”. “Tôi không thể đi thêm bước nào nữa”. Anh tài xế nhìn tôi ái ngại, “anh có muốn tôi chạy quanh một vòng cho khuây khỏa không?” “Cám ơn anh, tôi cần một giấc ngủ!”
Chỉ xa hơn một lốc đường và tốn không đầy 3 phút chạy xe, anh tài xế đã đổ tôi xuống trước khách sạn. Bước xuống xe, hai chân muốn khuỵu xuống. Về đến phòng, không kịp thay đồ, tôi tuột giày nằm vật mình trên nệm… Một ngày đầy âu lo, vất vả làm rệu rã cả tâm hồn lẫn thể xác! Thế nhưng có ngủ được đâu. Niềm xót thương đứa học trò tình nghĩa đã ra đi, để lại vợ con trong hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã như hiện tại cứ dâng đầy, làm hai con mắt ráo hoảnh. Tôi cố làm mọi cách để quên hết mọi chuyện, áp dụng mọi phương pháp để dỗ giấc ngủ… nhưng hình ảnh đau thương của một gia đình 3 thế hệ cứ chập chờn làm cay đôi mắt.
Cứ ray rứt như thế cho đến quá nửa khuya, tôi bật dậy vào phòng tắm mở nước đầy bồn, nằm ngâm mình với những suy tư dằn vặt rồi ngủ quên cho tới gần sáng khi tiếng loa tuyên truyền vang lên ra rả bên ngoài khách sạn.

Lau mình sạch sẽ xong, tôi lại vùi đầu vào gối cố ngủ tiếp nhưng không thể nào, cứ nghĩ tới những công việc cần phải làm trước mắt, trong ngày hôm nay… tôi nóng lòng trông cho trời mau sáng…

7 giờ sáng, tôi thay đồ ra hàng quán trước khách sạn uống mấy cốc cà phê chờ đợi. Tôi nghĩ có lẽ mọi người cũng nóng lòng muốn biết hết câu chuyện, và tôi cũng muốn nói cho xong, cho nhẹ lòng. Thấy còn nhiều thì giờ, tôi quyết định đi bộ theo con đường anh xe ôm chạy tối hôm qua. Đi dọc theo đường Quang Trung để nhớ về một thời… Ngày xưa, tôi cũng có “người yêu bé nhỏ” có tiệm bán xe đạp ở trên con đường này. Khi đi ngang qua trường Trung học Trần Quốc Tuấn – ngôi trường nổi tiếng năm xưa không biết bây giờ có còn được dư hương ngày tháng cũ hay cũng chỉ còn là những kỷ niệm muôn màu như tuổi ấu thơ của tôi đã biệt mù trong thế kỷ trước… Ngôi trường đồ sộ hơn nhiều so với “năm xưa”. Bây giờ đang là mùa Hè, sân trường lác đác người và xe cộ, những tàng phượng vỹ đỏ ối sân trường cho tôi nhiều bồi hồi nhớ tiếc.

Quẹo phải Nguyễn Nghiêm, quẹo trái Ngô Quyền, quẹo vào hai con hẻm, tới trước nhà thấy cửa trước mở hé. Vừa bước qua khoảng sân hẹp đã thấy Phương Lan đứng chờ:
– Em nghĩ tối qua chắc anh không ngủ được… nên mới tới trễ?
– Bằng vào đâu cô nói vậy?
– Nhìn mặt anh trỏm lơ em đoán rứa. Vì không ngủ được, anh trằn trọc suốt đêm và rồi ngủ quên lúc về sáng?
– Nếu vậy tôi cũng có thể nói cô đã thức và khóc trắng đêm.
Phương Lan cúi mặt như cố giấu đôi mắt đỏ ngầu, sưng húp.
– Dạ, em mô có muốn rứa nhưng nước mắt cứ tuôn hoài. Em đã tốn biết bao nhiêu nước mắt trước khi anh về nhưng có lẽ trời sinh ra em với hồ nước mắt lớn hơn bình thường!
Bé Lan Huệ cũng vui mừng ôm chầmm lấy tôi khi tôi vừa đặt chân qua ngưỡng cửa. Cụ bà cũng đã thức, đang ngồi trên mép giường nhai trầu bỏm bẻm.
– Cháu chào Bác ạ. Tối qua Bác ngủ được tí nào không?
– Ngủ nghê chi được cậu. Mạ con chúng nó khóc hoài cả đêm. Hơn nữa tui cũng buồn cho số phận của con cháu quá!
– Vâng thưa Bác, cháu là người ngoài mà cũng buồn não nuột cho hoàn cảnh của gia đình Bác huống chi người ruột thịt, và là con là vợ. Chuyện đã xảy ra rồi, bây giờ những người còn sống phải sống cho đáng sống để linh hồn người ra đi không quá nặng nề.
– Anh uống cà phê chưa? – Phương Lan hỏi.
– Đã uống ở khách sạn rồi.

Ngửi thấy mùi khói nhang nồng nực, tôi đưa tay kéo thêm cánh cửa mở rộng hơn chút nữa, xong tự động ngồi xuống chỗ ngồi hôm qua. Phương Lan cũng ngồi xuống ghế đối diện. Trông nàng có vẻ bình tĩnh hơn nhiều. Trên chiếc bàn nhỏ có một chiếc bình trà nhỏ với 4 cái tách nằm úp trong một cái đĩa vừa đủ lớn. Nàng khoan thai rót trà ra ba tách, đẩy về phía tôi một chung, gật đầu thay lời mời và hai tay bưng một chung đứng lên mời bà cụ. Trở lại ghế ngồi, nhắm môi vào chung trà rồi nhẹ nhàng đặt xuống, nhìn thẳng vào tôi, giọng tâm sự:
– Anh Phong à! Suốt đêm qua em đã nghĩ thấu đến thực tế đời mình. Huệ đã chết rồi và em có bổn phận phải sống tốt để lo cho cháu Lan Huệ. Chừ em đã bình tĩnh hơn nhiều rồi; anh có thể kể hết ngọn ngành câu chuyện.
– Hôm qua mình ngừng ở chỗ Huệ sắp chuyển nhà thương.
– Anh nói Huệ bị ung thư không cứu chữa kịp và vì Huệ không có thân nhân nên người ta chuẩn bị đưa Huệ qua chỗ nằm chờ chết… Trời ơi nghe đau lòng quá! Huệ có vợ, có con mà!
Nói tới đây nàng lại nấc lên, nước mắt lại tuôn trào. Tôi ái ngại nhìn nàng, nhìn con bé, nhìn bà cụ, nhìn quanh căn phòng, nhìn lên bàn thờ nghi ngút khói hương… Để làm nhẹ không khí ảm đạm, tôi nói như chọc nàng:
– Cô mới nói là cô đã bình tĩnh rồi mà?
Nàng nhích môi như cố mỉm cười nhưng là nụ cười méo xệch trên bờ môi khô héo:
– Em xin lỗi, em sẽ cố gắng!
– Tôi mong cô cố gắng nhiều hơn nữa vì những gì tôi sắp nói ra sẽ vô cùng bi thiết. Cô nên nhớ, đàng nào Huệ cũng đã chết rồi; bổn phận của tôi phải làm những gì Huệ gửi gắm; và bổn phận của cô là giữ gìn sức khỏe thật tốt để chăm sóc cụ bà trong lúc tuổi già và lo tương lai cho bé Lan Huệ, giọt máu duy nhất của Huệ.

6.
Tối hôm đó Huệ mệt quá không nói được gì ngoài câu “em trông mong Thầy giúp em, vì em không còn ai thân thuộc ngoài vợ và con gái nhỏ còn ở VN.” Tôi quá bất ngờ để nghe như vậy nhưng không tiện nói gì vì Huệ lả đi. Tôi quanh quẩn với Huệ tới khuya, khi thấy Huệ đã tạm ổn tôi ra về vì không chuẩn bị trước.
Sáng sớm hôm sau tôi trở lại thì người ta đã chuyển Huệ qua nhà thương hospice. Theo lời chỉ dẫn của phòng y tá trực, tôi chạy qua với Huệ.

Huệ thấy tôi vào mừng rỡ gượng ngồi dậy, “em trông Thầy từ sáng sớm đến giờ! Em đã ký giấy ủy quyền pháp lý cho Thầy với bệnh viện tối hôm qua.” Tôi ngăn không cho ngồi dậy, nhưng Huệ nói hôm nay Huệ thấy khỏe hơn nhiều. Tôi bấm nút cho chiếc giường cao lên tối đa, chặn thêm vài chiếc gối sau lưng để Huệ ngồi thoải mái. Tôi ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh giường.
– Huệ nói “hôm nay em phải nói hết sự thật cho Thầy biết vì em rất cần đến sự hy sinh và giúp đỡ của Thầy.”
Tôi lo sợ Huệ phải vận động tâm lực nhiều quá không tốt:
– Thì khi nào em thật khỏe kể Thầy nghe cũng được.
– Thầy không cần phải lo cho sức khỏe của em nữa. Em biết thời gian của em không còn được bao lâu, bác sĩ và y tá cũng đã nói cho em biết là em có thể ra đi bất cứ lúc nào.
Tôi mủi lòng ráng cầm nước mắt:
– Nếu Thầy có thể giúp được gì cho em, Thầy rất vui lòng. Đã từ lâu Thầy coi em như người thân trong gia đình. Chỉ vì em ít nói nên Thầy không rõ em nghĩ sao.
– Em xin Thầy cho em nói hết mọi việc xong Thầy sẽ cho em biết ý kiến của Thầy; nhất là sau này, khi có dịp Thầy nói lại với vợ con em giùm em.
Dù trong thâm tâm tôi nghĩ sẽ chẳng có cơ hội đó nhưng vì tôn trọng thời gian hiếm hoi còn lại của chú học trò, tôi gật đầu lắng nghe.
– Em sẽ nói điều cần nói trước và không theo thứ tự nào. Những gì em không kịp nói thì cũng đành, Thầy không cần bận tâm. Em cũng xin Thầy tha thứ vì em đã không cho Thầy biết về đời sống riêng tư của em. Và còn tự ý làm một việc mà không hỏi ý kiến Thầy trước. Em sẽ nói tới sau. Em biết Thầy ngạc nhiên lắm khi biết em đã có vợ có con ở Việt Nam.

7.
Bảy năm về trước em đi cùng mẹ em về Mỹ Khê, Quảng Ngãi lần đầu tiên thăm mộ phần của ba em. Theo lời mẹ em kể, ba em bị giết trong trại tù Cộng sản vì trốn trại khi em chưa đầy tuổi. Trong chuyến đi này em gặp và thương yêu một người con gái đồng cảnh ngộ tên Phạm Thị Phương Lan, dân Mỹ Khê gốc Huế. Sau khi về Mỹ, chúng em vẫn thường xuyên liên lạc càng ngày càng mật thiết. Chúng em thật sự yêu nhau, muốn tiến đến hôn nhân. Trong thời gian quen biết em nhận thấy Phương Lan là một cô gái hiền hòa, xinh đẹp, tâm hồn đoan hậu và là một người con hiếu đễ. Nàng không hề đòi hỏi bất cứ một điều gì ở em, kể cả khi em đề nghị làm giấy tờ cho nàng sang Mỹ. Đến lúc này em mới biết mẹ con Phương Lan không còn thân nhân nào ở Việt Nam!
Dĩ nhiên tất cả việc riêng tư này em đều cho mẹ em biết. Mẹ em nói em đủ khôn lớn rồi có thể tự quyết định tương lai cho mình; mẹ không lo được gì và cũng sẽ không phản đối.

Vì quá yêu thương và tin tưởng lẫn nhau, sáu tháng sau, em xin phép Mẹ trở lại Quảng Ngãi một mình để làm một đám cưới đơn giản nhằm hợp thức hóa hôn nhân. Em về lại Mỹ hỏi thăm nhiều Luật sư Di trú về trường hợp của chúng em. Ai cũng nói là không có cách nào cho tới khi Phương Lan trở thành công dân Hoa Kỳ mới bảo lãnh cho mẹ nàng qua được.

Tụi em chưa biết tính sao thì được tin Phương Lan có mang. Em vừa mừng vui vừa buồn bã… Rồi Phương Lan sinh hạ một bé gái. Em tức tốc bay về khi nàng còn trong nhà thương. Chúng em đồng ý đặt tên cho con là Lan Huệ để đánh dấu mối tình sâu đậm của chúng em. Việc bảo lãnh vẫn dậm chân tại chỗ. Không ai nói với ai nhưng trong thâm tâm đều biết rất khó để chúng em đoàn viên trong nghịch cảnh éo le này. Em thương yêu mẹ của nàng như yêu thương mẹ của em. Chúng em cùng đau đớn chấp nhận số phận. Không dám nói ra nhưng ai cũng biết chỉ khi nào hai bà mẹ trăm tuổi thì chúng em mới có cơ hội chung sống với nhau, hoặc bên này hoặc bên kia…

Nói tới đây thì Huệ mệt quá phải ngưng lại. Tôi khuyên Huệ nằm xuống nghỉ ngơi đợi lúc khỏe sẽ tiếp. Huệ ra dấu xin uống nước, cùng lúc cô y tá vào thăm bệnh. Tôi bước ra ngoài, gọi nhà tôi hỏi ông bác sĩ về tình trạng sức khỏe của Huệ. Ông ta khuyên, nếu là người thân thì nên chuẩn bị tinh thần và vui vẻ với Huệ được lúc nào hay lúc nấy (enjoy him while you could). Tôi cố làm tỉnh, trở lại phòng. Huệ đã đỡ mệt và muốn tôi ngồi bên giường để Huệ nói tiếp.
– Thưa Thầy, Thầy đừng lo cho em, em cần nói ngay những điều cần nói chỉ sợ không còn đủ giờ. Dạ, cách đây khoảng ba năm, mẹ em ngả bệnh rồi mất vài năm trước như Thầy đã biết. Trong thời gian mẹ em bệnh, em phải luôn ở bên mẹ sau giờ đi làm, dù Mẹ ở nhà hay trong bệnh viện, vì chỉ có hai mẹ con. Ngoài ra, em còn phải cáng đáng tài chánh cho mọi chi phí trong gia đình kể cả thuốc men. Những khó khăn này em chỉ giữ riêng em chứ không dám nói với Phương Lan vì em nghĩ chẳng lợi ích gì mà còn tạo thêm sự lo lắng cho nhau hơn thôi. Em chỉ nói với Phương Lan về bệnh tình của mẹ em. Phương Lan tỏ ra rất thông cảm và khuyên em yên tâm lo cho mẹ là quan trọng hơn hết. Sự cao thượng của nàng đã an ủi em không ít. Trong khi đó tiền để dành càng ngày càng cạn dần, em lo sợ nếu không tính ngay thì cuộc sống của mẹ con Phương Lan sẽ rất khó khăn; vì thế, em quyết định lấy ra 10 ngàn đô gửi cho nàng, khuyến khích tìm cách buôn bán sống tạm trong thời gian khó khăn sắp tới. Bệnh tình của mẹ em trở nên nguy kịch nên em không còn tâm trí nào để nghĩ tới việc riêng của mình. Để rồi chưa đầy năm sau mẹ em lìa đời! Tang lễ cho mẹ xong, tinh thần em suy sụp đáng kể, tài chánh kiệt quệ. Cả tháng sau em mới nguôi ngoai, dần dần phục hồi. Trong thời gian bị bệnh em có nghĩ nhiều về vợ con nhưng em không muốn liên lạc trong lúc cùng quẫn. Em dự định trở lại sở làm một thời gian để dành đủ tiền sẽ về thăm mẹ con Phương Lan; lúc gặp nhau sẽ giải thích sự vắng bóng của em trong thời gian qua cũng không muộn. Nhằm lúc kinh tế khó khăn, hãng xưởng sa thải nhân viên hoặc đóng cửa và vì vậy em bị cho nghỉ việc luôn!”
Thấy Huệ ra dấu xin uống nước, tôi nói em nghỉ một lát nhưng Huệ lắc đầu. “Thầy để em nói, phần này mới là quan trọng.”

Ba tháng sau em vẫn chưa tìm ra việc làm, em buồn chán quá sức, ăn ngủ thất thường lại nhớ vợ, nhớ con đứt ruột… rồi ngã bệnh. Ông bác sĩ gia đình chỉ nói có lẽ tại em buồn rầu rồi sinh bệnh; bảo em về cố tĩnh dưỡng, ăn uống, ngủ nghỉ điều độ một thời gian sẽ khỏi; rồi cho cái toa mua mớ trụ sinh về uống.

Thấy cơn đau bụng thuyên giảm đi nhiều em chưa kịp mừng thì phải nhờ ông bạn hàng xóm đưa đi cấp cứu vì bụng dưới của em đau không chịu nỗi!

Sau khi khám nghiệm, bác sĩ nói em có vấn đề ở ruột già! Họ gửi em đi các chuyên khoa để xác nghiệm… Sự xác nhận cuối cùng là em bị ung thư ruột già không còn cách chữa trị như Thầy đã biết. Họ đề nghị em làm xạ trị không ổn, đổi qua hóa trị cũng vô phương. Trong thời gian điều trị, em sợ em khó thể vượt qua nên đã lo sắp xếp mọi thứ từ ngân hàng, nhà cửa, xe cộ, hang bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm nhân thọ; đi luật sư làm di chúc; làm giấy ủy quyền pháp lý (power of attorney). Em đã để tên Thầy là người đại diện pháp lý, có toàn quyền định đoạt về tài sản khiêm nhường của em kể cả thân xác này sau khi em không còn tự quyết định được nữa. Em hoàn toàn tin tưởng vào tấm lòng nhân ái của Thầy; và Thầy là người thân duy nhất của em bên Mỹ. Tất cả sổ sách, giấy tờ, chìa khóa em đựng trong hộp sắt để tại Chase Bank trên đường Bellaire Blvd., Houston, TX gần đường Synott; và đây là chìa khóa chiếc hộp sắt em xin trân trọng giao lại cho Thầy quản thủ. Sau khi em chết rồi, Thầy cứ theo di chúc mà giúp em hoàn thành tâm nguyện.

Nói xong, Huệ cởi chiếc chìa khóa đeo trên tay đưa cho tôi rồi nhắm mắt lịm đi. Hơi thở gấp gáp, mặt tái nhợt! Tôi hoảng hốt gọi y tá trực vào phòng xem xét… Một lúc sau Huệ tỉnh lại. Huệ nhìn tôi gượng mỉm cười, môi mấp máy, yếu ớt nhưng thần thái có vẻ tự tại lắm. Tôi nắm chặt tay Huệ và áp tai để nghe:
– Bây giờ thì em yên tâm rồi. Thầy hứa với em đi! Em chỉ ân hận là không chính miệng em kể lại cho vợ em nghe về những trầm luân của em; em biết Phương Lan đang buồn trách em và rồi nàng sẽ đau đớn lắm khi biết tất cả sự thật. Và em cũng ân hận không được nhìn được mặt đứa con gái yêu quý; hơn ba năm qua chắc nó đã lớn lắm rồi…

Nói tới đây Huệ thở hắt ra và nhắm mắt lại, hai giọt nước mắt lăn dài trên đôi má gầy nhom. Tôi ngó nhịp tim vẫn đập nhưng không đều đặn và hơi thở yếu dần đi. Một tay nắm, một tay ôm vai, tôi áp miệng vào tai Huệ thì thầm: “Thầy tuyên hứa với em sẽ làm tất cả những gì em muốn Thầy làm.” Huệ mở bừng mắt ra, cố siết nhẹ tay tôi, mỉm miệng cười xong trút hơi thở cuối cùng!

8.
Phương Lan hự lên một tiếng rồi ngất xỉu. Tôi đã đề phòng nên đỡ nàng kịp lúc, bế xốc nàng đặt lên giường, làm các động tác như hôm qua. Ngoài xoa bóp ở hai huyệt Nhĩ Môn và Thái Dương, lần này tôi phải nắn bóp thêm huyệt Thần Đình trên đỉnh đầu để trợ não. Tiếng khóc của bà cụ và con bé quyện hòa với mùi hương trầm u uất làm đau xé tim gan. Dù vậy, tôi cũng cố bình tĩnh để trấn an hai người trong lúc nước mắt cứ chực tuôn trào.

Một lúc sau Phương Lan tỉnh dần nhưng lại hôn mê ngay. Tôi thực sự lo sợ cho sức khỏe của nàng, nên vừa nắn bóp các huyệt đạo cho nàng vừa bảo con bé mở toang các cánh cửa cho thoáng khí và chạy tìm gấp người y tá hôm nọ. Nó vừa khóc vừa chạy đi. Bà cụ lu bu xức dầu xanh lên mũi, lên thái dương Phương Lan. Tôi xem mạch nàng vẫn điều hòa dù hơi thở có yếu ớt. Tôi biết, ai mà không sốc với hoàn cảnh đau đớn cùng cực như vầy!

Vài phút sau nàng lai tỉnh, ngỏ lời xin uống nước. Tôi lấy tách trà và giúp nàng ngồi dậy. Thân hình nàng ẻo lả như cọng bún; tôi phải để nàng tựa vào tôi và chậm chạp cho nàng uống từng hớp nước xong đặt nàng nằm gối đầu lên hai chiếc gối chồng cao.
Khoảng mười phút sau, cô ý tá và con bé hớt hải bước vào nhà. Người y tá hành sự thành thạo, bày đồ nghề và chích cho nàng một ống thuốc khỏe (?); tôi không buồn hỏi loại thuốc gì vì thấy cô ta đã chích cho Phương Lan hôm qua rất tốt. Cô y tá ra về hẹn tối sẽ tới chích thêm một ống nữa.
Tôi nhẹ nhàng nói với Phương Lan:
– Tôi chia sẻ sự đau đớn, mất mát to lớn của Phương Lan nhưng cô phải ráng khỏe, chúng ta còn vài việc cần làm, tôi chỉ có thể ở đây vài hôm nữa thôi.
Phương Lan lại òa khóc. Tôi khuyên giải:
– Người đi đã đi, người ở lại mới là quan trọng. Bà cụ và bé Lan Huệ chỉ trông cậy vào cô, và đó cũng là ước nguyện của Huệ.
– Dạ, em hiểu!
– Tôi nghĩ tốt nhất bây giờ tôi về khách sạn, để mọi người nghỉ ngơi; sau trưa tôi trở lại, rất mong Phương Lan khỏe đi ra ngoài được, chúng ta có việc cần làm.
– Bao giờ anh trở lại Mỹ?
– Xong việc ở đây, tôi trở lại Mỹ Khê, ghé thăm mồ mả ông bà một hôm xong về Saigon thăm bạn bè vài hôm.
– Quê anh cũng ở Mỹ Khê? – Nàng có vẻ ngạc nhiên.
– Dòng họ, bà con tôi hầu hết ở đó.
– Anh có liên hệ chi với dòng họ Trương Quang không?
– Dòng họ của tôi.
– Em sém làm dâu nhà Trương Quang.
– ??? – Tôi ngó nàng chờ đợi.
– Cũng may, em khám phá sớm gia đình nớ có thân nhân làm lớn trong chính quyền Việt cộng nên chấm dứt liên hệ liền.
– Ăn nhằm gì tới tương lai của cô?
– Em không thích liên hệ tới Việt cộng!
– Cô chưa biết tôi là ai sao dám nói những điều như vậy?
– Em chắc anh không phải Việt cộng, vì Việt cộng không có trái tim từ ái, không có tấm lòng nhân hậu.
– Thôi bỏ qua chuyện này đi Phương Lan, tôi không muốn tai bay họa gửi cho ai hết.
– Bi chừ em thấy khỏe nhiều rồi, anh không cần phải đi tới đi lui. Anh muốn em đi mô và làm chi mà anh noái rất cần?
– Buổi trưa các ngân hàng có làm việc hay không?
– Em không lui tới những chỗ nớ nên không rõ. Chắc ăn mình có thể tới đó sau 1 giờ chiều. Ở trên đường Hùng Vương gần nhà có Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam, đó là chi nhánh của Vietcombank.
– Rất tốt! Vậy liệu cô và mọi người đi tiệm ăn trưa với tôi được không, xong tôi với cô đi nhà bank lúc 2 giờ, để cho họ còn ngủ trưa an giấc.
– Mạ em không thích đi tiệm ăn mô. Mình mua thức ăn đem về nhà như hôm qua được không anh?
Tôi dành phần đi mua thức ăn cùng với bé Lan Huệ. Con bé vui hẳn lên, tự động nắm tay tôi kéo đi. Không ai nói ăn gì nên tôi tự quyết định tới tiệm cơm gà nổi tiếng ở gần chợ Quảng Ngãi mua về.
Trong suốt bữa ăn gia đình, tôi cố pha trò để phá tan không khí u trầm nhưng không thành công mấy. Phương Lan và bà cụ vẫn chỉ ăn chút đỉnh; tôi và con bé cứ ăn ngon lành vì bụng đói. Tôi chưa nói gì về những dự định sắp tới, chỉ mở hé chút chút là ngoài tin buồn cũng sẽ có tin vui…

9.
Sau khi Huệ trút hơi thở sau cùng và trong lúc chờ giảo nghiệm, tôi dàn xếp với nhà thương rồi cấp tốc chạy về ngân hàng Chase mở tủ sắt đọc di chúc để biết phải làm gì.

Trong di chúc, Huệ cho tôi chi tiết để liên lạc với hãng bảo hiểm nhân thọ AIG ngay sau khi Huệ tắt thở để được hướng dẫn. Huệ muốn được hỏa thiêu; nhờ tôi tìm cách bán căn nhà và chiếc xe; đến nhà băng đóng trương mục, lấy hết tiền ra; đến ngôi chùa nơi để di ảnh của Mẹ, trích ra $5 ngàn để cúng chùa. Khẩn cầu tôi đi Việt Nam về Mỹ Khê tìm gặp mẹ con Phương Lan trao lại tất cả số tiền còn lại để nàng buôn bán nuôi con và lo cho mẹ già sau khi chi trả tất cả những khoản chi phí cần thiết, kể cả chi phí cho chuyến đi của tôi; tiền bảo hiểm nhân thọ ký thác vào quỹ học vấn cho con gái Lan Huệ. Huệ cũng bày tỏ ước mong Phương Lan sẽ thay Huệ chăm sóc mồ mả của Ba Huệ ở Mỹ Khê…

Tôi chảy nước mắt vì những toan tính tình nghĩa và chu đáo của Huệ. Tôi gọi ngay cho hãng bảo hiểm. Ngạc nhiên thay, họ đã biết trước, đã chuẩn bị sẵn giấy tờ cho tôi ký nộp qua internet. Tôi thắc mắc hỏi họ, họ chia buồn và nói với tôi Huệ đã chuẩn bị cho việc ra đi từ mấy tuần trước. Nhờ vậy mọi thủ tục rất suôn sẻ.

Sau khi xong việc tang lễ, tôi mang hũ tro cốt để tạm vào chùa (cho tới khi tôi mang đi Việt Nam) nhân dịp đến cúng viếng theo lời dặn của Huệ. Vị trụ trì cũng là chỗ quen biết lâu dài nên dành cho tôi mọi sự dễ dàng. Tôi nhờ chú em làm địa ốc đăng bảng bán nhà sau khi đã mướn người dọn dẹp, lau chùi, cắt cỏ sạch sẽ. Nhà trệt có 3 phòng ngủ, rộng 1700 square feet, hai phòng tắm, mái nhà thay chưa quá 5 năm, nhà để xe riêng, khoản đất ¼ mẫu, bàn ghế tủ giường còn nguyên vẹn. Chú em đề nghị đăng giá $120 ngàn gồm luôn đồ đạt. Đồng thời tôi cũng liên lạc với một người bạn quen, có công ty mua bán xe cũ để bán chiếc xe của Huệ. Chiếc xe Toyota Camry 2008, bạn nói vì thương hoàn cảnh của Huệ nên mua giúp $10 ngàn, không tính thuế. Tôi liên lạc với hãng bảo hiểm AIG làm thủ tục chuyển hết số hiện kim vào một trương mục đặc biệt tôi vừa mở ở ngân hàng Citibank. Trong khi đó tôi cũng xếp đặt công việc ở trường võ, giao cho một học trò lớn tuổi, cao đẳng nhất để trông coi trong thời gian tôi vắng mặt.
Trong đời tôi thăng trầm cũng lắm, gian nan cũng thừa trong bất cứ công việc gì tôi làm; thế nhưng, trong tiến trình lo cho Huệ mọi việc đều trơn tru, mau lẹ. Nhiều lúc tôi nghĩ có lẽ Huệ theo phò hộ cho tôi nên mọi chuyện mới êm thắm như vậy.

Nhà đăng bảng chưa đầy một tháng đã có mấy người muốn mua; trong số đó có một cặp vợ chồng lớn tuổi người Việt ở California mới dọn về, muốn mua một căn nhà nho nhỏ, trả tiền mặt, để an hưởng tuổi già. Họ hẹn đến xem nhà rồi đồng ý mua luôn với giá $122 ngàn tiền mặt, đặt cọc 20% ngay trong ngày. Chú em tôi vui mừng gọi báo cho biết; rồi năm ngày sau, giấy tờ sang nhượng hoàn tất. Chú em chỉ lấy ít tiền công tượng trưng.

Tôi làm một cuốn sổ nhỏ, ghi tất cả những dữ kiện về tài chánh của Huệ để sau này trao lại cho Phương Lan.

***

Hai giờ chiều chúng tôi có mặt ở ngân hàng. Phương Lan rất đỗi ngạc nhiên thấy tôi mở hai trương mục, một cho nàng và một dành riêng cho con bé. Càng ngạc nhiên đến nỗi không tin là sự thật khi tôi chuyển ngân vào mỗi trương mục. Tổng số tiền cho nàng là $124+ ngàn (gồm tiền bán nhà, bán xe, sổ tiết kiệm); của con bé $105+ ngàn (gồm $100 ngàn trị giá bảo hiểm và tiền lời). Tôi đề nghị nàng lấy ra một ít để chi dụng và lo thuốc men, số còn lại để trong nhà băng cho an toàn cho tới lúc cần dùng thì lấy. Nàng đồng ý lấy ra 10 triệu tiền mặt.

Tôi thật không ngờ mọi sự việc lại xảy ra một cách mau lẹ và suôn sẻ như vậy. Khi mọi thủ tục đã xong, tôi mở xách tay lấy ra tờ di chúc của Huệ để lại cho riêng tôi, và cuốn sổ tài chánh trao lại cho Phương Lan giữ làm kỷ niệm. Tôi cũng nói luôn ước nguyện của Huệ muốn nàng thay Huệ chăm sóc mộ phần của ông cụ. Nước mắt lại lả chả rơi; nàng sụt sùi khóc như thế suốt trong thời gian làm thủ tục giấy tờ.

Tôi thở phào khoan khoái như trút được gánh nặng trên lưng. Cám ơn người nhân viên ngân hàng rối rít. Chúng tôi đứng dậy ra khỏi nhà băng. Đôi chân tôi nhẹ tênh, tâm hồn tôi bềnh bồng. Sức khỏe Phương Lan quá yếu, tôi phải dìu nàng ra cửa gọi taxi đưa nàng về nhà. Tôi dự định về tới nhà dặn dò đâu đó xong xuôi sẽ nói lời từ giã với mọi người. Phương Lan rất yếu để đi hết hai con hẻm nhưng tôi ngại người ta dòm ngó đành để nàng chậm chạp bước đi một mình, tôi theo sát sau canh chừng. Khi tới ngõ đã thấy bà Cụ và con bé bắc ghế ngồi trước cửa như trông đợi. Con bé thấy mẹ chạy lại ôm chầm, dìu mẹ nó vào giường rồi xoay lại ôm tôi và khóc. Tôi cảm động ôm chặt con bé vào lòng, thủ thỉ:
– Từ nay về sau cháu ngoan của chú không cần đi bán vé số nữa. Ba của cháu đã chuẩn bị hết việc học hành cho cháu rồi. Cháu phải hứa với chú học hành ngoan ngoãn để nên người hữu dụng mai sau. Đó cũng là ước nguyện của ba cháu. Ba cháu đã thương nhớ cháu vô cùng!
Con bé khóc lớn, nói trong tiếng nấc:
– Dạ con hứa với Ba, con hứa với Chú!
Tôi gật đầu chào bà cụ, bế con bé trên tay cùng bước đến trước bàn thờ khói hương nghi ngút, tôi đặt con bé xuống, loay hoay đốt hai nén nhang, trao cho con bé một… Phương Lan cũng tới đứng một bên từ lúc nào, tôi trao nén nhang còn lại cho nàng và đốt thêm một cây khác. Tôi khấn lớn:
– Huệ quý mến, Thầy đã giữ trọn lời hứa với em rồi đó, đã chu toàn tốt đẹp một “mission” tưởng đâu “impossible”; một sứ mạng tinh thần đầy nước mắt. Thầy biết chắc có sự phù trợ của em nên mọi việc đều thông suốt, hoàn mỹ. Thầy cám ơn em. Bên kia thế giới chắc em đang nở nụ cười mãn nguyện. Thầy tiếc cho em có vợ đẹp con ngoan mà không cùng cộng hưởng hạnh phúc gia đình lâu dài. Có lẽ mỗi người chúng ta khi sinh ra đã được xếp đặt cho một định mệnh riêng biệt. Định mệnh của em có nghiệt ngã nhưng Thầy chắc những người thân yêu này sẽ làm rạng danh em. Cầu xin linh hồn em đời đời an lạc nơi cõi vĩnh hằng.
Phương Lan khóc rấm rứt, cắm nhang rồi phũ phục xuống đất lạy trước di cốt của Huệ. Con bé cũng quỳ lạy theo mẹ. Cụ bà ngồi ở cạnh giường tự nãy giờ cũng lặng lẽ đứng dậy thắp nhang lên bàn thờ.

Ngoài hiên bóng chiều mờ dần, tiếng ồn ào của thị tứ cũng lắng xuống cùng với tiếng rao hàng thỉnh thoảng vang lên. Tôi ngỏ lời chào tạm biệt nhưng ai cũng năn nỉ tôi ở thêm chút nữa. Phương Lan vừa khóc vừa nói:
– Lần chia tay này không chắc có lần tái ngộ. Xin anh ở lại dùng bữa cơm cuối cùng với chúng em. Em không biết nói gì hơn ngoài tấm lòng tri ân sâu xa của gia đình em đối với nghĩa cử cao đẹp của anh. Em xin lạy anh một lạy đền ơn…
Tôi nhảy tránh qua một bên để nghe nàng nói tiếp:
– Em xin hứa với anh và vong linh Huệ, em sẽ tự lo thân mình, bảo trọng sức khỏe và tận tình chăm sóc Lan Huệ; nhất định cháu sẽ học hành tới nơi tới chốn để có một tương lai rạng rỡ như di ngôn của Ba nó. Việc mồ mả của Ba Huệ, em đã là vợ của Huệ nên đã và đang thay mặt chồng lo việc hương khói từ lúc cưới nhau đến giờ.
– Cậu ráng ở lại với chúng tôi một lúc nữa nghe. -Bà cụ nói.
– Chú đi con buồn lắm!
Nói xong nó lại khóc ròng. Tôi cũng buồn bã nói:
– Trước sau gì cũng phải chia tay. Tôi sẽ đưa số điện thoại của tôi bên Mỹ cho Phương Lan để khi nào cần thiết thì liên lạc. Việc tôi làm hoàn toàn do lòng tự nguyện và do tấm lòng quý mến người học trò đầy tình nghĩa của tôi. Vì thế, tôi không dám nhận cái lạy đền ơn của cô nhưng tôi nhận lời với mọi người… ở lại dùng cơm tối với gia đình.

Tôi lại đi với Bé Lan Huệ mua thức ăn đổi món nhưng bà cụ và Phương Lan cũng chẳng ăn uống gì khá hơn mặc dù cô ý tá đã trở lại chích thêm cho nàng một ống thuốc khỏe.
Khoảng 9g tối tôi ra về, lòng tràn ngập niềm vui, chân bước lâng lâng, tâm hồn nhẹ nhàng… nhưng khi về tới phòng thì đôi mi nặng trĩu, đôi chân rời rã, đặt lưng nằm xuống là ngủ vùi một giấc, không còn biết trời trăng gì cả cho tới hơn 8 giờ sáng hôm sau khi những tiếng động của mấy người dọn phòng làm tôi thức giấc.

10.
Tôi xếp đặt thì giờ để đi Mỹ Khê thăm nhà thờ Đại Tôn, nhà thờ Tiểu Tôn và nhà thờ Thái Bảo Trương Đăng Quế một chuyến; nhân tiện ghé thăm một vài người bà con thân thuộc rồi sáng mai trở về Saigon, tuần sau về lại Mỹ.

Vừa bước ra phòng khách, tôi khựng lại vì thấy Phương Lan đã đứng đó từ lúc nào! Nàng có vẻ mừng ra mặt nhưng bỗng nước mắt lại rơi! Tôi chưa kịp nói gì thì nàng đã nói:
– Em sợ anh đi sớm nên đến đây chờ từ lúc 6g sáng hỏi thăm chị Lễ Tân (front desk) cho biết anh còn đang ngủ nên ngồi chờ tới bây giờ.
Tôi ái ngại nhìn nàng và mời nàng ngồi xuống ghế, âu lo hỏi:
– Có chuyện gì không Phương Lan?
– Dạ không có gì quan trọng lắm. Tối qua khi anh về rồi em vẫn bâng khuâng thương tiếc Huệ nên không ngủ được. Em lấy bản Di Chúc của Huệ và cuốn sổ nhỏ của anh đưa ra xem. Em thấy anh ghi tỉ mỉ việc tài sản của Huệ và chi tiết chi tiêu nhưng không thấy chi phí cho chuyến đi của anh như lời Huệ muốn nên em đến tìm anh để xin anh cho em gửi lại tất cả chi phí theo lời dặn dò của Huệ trong di chúc. Nếu không, em sẽ áy náy suốt đời.
– Phương Lan không cần phải áy náy. Như tôi đã nói, công việc này hoàn toàn tự nguyện như một nghĩa cử cuối cùng đối với một người học trò yêu quý đã đặt hết niềm tin vào mình. Thật sự lúc đầu tôi nghĩ sẽ làm như vậy, nhưng suy đi nghĩ lại tôi thấy không thể làm như thế được, nhất là khi thấy tình cảnh sống của Bà cụ và mẹ con Phương Lan. Thật ra, tất cả những chi phí cho chuyến đi này đối với tôi không đáng là bao nhiêu, mong cô yên tâm để cho tôi có cơ hội làm được một việc đáng làm và kể như quà tặng của tôi dành cho gia đình cô vậy.
Phương Lan đứng lên tiến lại phía tôi. Tôi cũng ngập ngừng đứng dậy, nàng ôm choàng tôi vừa khóc vừa nói:
– Anh đã noái rứa thì em xin nghe. Mạ con em xin kết cỏ ngậm vành cảm tạ tấm lòng cao thượng của anh.
Thấy mọi người nhìn làm tôi luống cuống, gỡ tay nàng dìu ngồi xuống ghế:
– Xin đừng nói chuyện ân nghĩa nữa. Cô hãy ráng bảo dưỡng sức khỏe thật tốt để lo cho bà cụ và cháu Lan Huệ. Tôi không cần nhắc cô cũng thừa biết là rất nên cẩn thận trong việc giao tế. Cũng không cần bày là cô cần phải làm gì để có tương lai tốt đẹp hơn. Tôi quý mến con bé lắm, nó rất thông minh, hiếu nghĩa giống ba mẹ nó. Xin giữ liên lạc; nếu tôi có dịp trở lại Quảng Ngãi lần sau, tôi sẽ tìm thăm mọi người. Bây giờ thì tôi phải đi Mỹ Khê. Kể như đây là lần từ giã cuối cùng.
– Em ước phải chi sức khỏe của em tốt em sẽ đi cùng với anh về Mỹ Khê hôm nay luôn.
– Khi nào xong hết mọi việc và sức khỏe cho phép, cô về cúng ông cụ mâm cơm là tốt rồi!
– Em xin nghe lời anh. Chúc anh đi bình yên.

Chúng tôi cùng đứng dậy sánh vai bước ra cửa. Không gian bên ngoài tràn ngập tiếng còi xe và tiếng người qua lại ồn ào bất tận. Phương Lan cúi mặt bước đi bên tôi, nghe tiếng nàng sụt sịt nhưng tôi làm như không để ý, nói lời từ biệt lần nữa. Bất ngờ nàng quay lại ôm chặt tôi, sau một khoảnh khắc, buông tay quay mặt vội vã bước đi hòa lẫn vào đám đông tấp nập trên đường. Tôi thương cảm nhìn theo “tội nghiệp cho một kiếp con người”.

Ánh nắng hè chói chang, cùng tiếng ve sầu râm ran hòa nhập vào hoạt cảnh của một thành phố cố vươn mình lên trong một xã hội phát triển không mấy trật tự.
Đó, Quảng Ngãi quê tôi!

Mùa Hè 2014

Sứ Mệnh Tinh Thần




Giỗ Tổ Hát Bội

KIỀU MỸ DUYÊN

Giỗ Tổ hát bội lần thứ 10 tại Thư Viện Việt Nam

10872 Westminster Ave, Suite 214 & 215

          Tôi dặn cô thư ký mỗi lần thư viện Việt Nam trên lầu có hội họp của cộng đồng người Việt Nam thì cho tôi hay. Người ta tổ chức vất vả thì phải có người tham dự, có thư mời hay không tôi vẫn đến. Thường thường, tôi đến nơi sinh hoạt của cộng đồng Việt Nam bao giờ cũng được ân cần mời vào phòng họp và mời vào ghế ngồi dù đến muộn. Vẫn chưa có một người nào ban tổ chức đuổi ra, có lẽ đó là phước đức ông bà để lại cho con cháu nhờ. Bởi vậy, cuối tuần tôi hay đi như bay show của các ca sĩ.

          Chủ nhật 10/10/2021, Câu Lạc Bộ Hát Bội và nghệ sĩ Thiên Thanh tổ chức giỗ Tổ hát bội, một môn nghệ thuật cổ truyền tại thư viện Việt Nam. Tôi vừa bước vào cửa, cô tiếp tân với nụ cười thật tươi, cô nói cảm ơn tôi đã thông báo dùm trên đài truyền hình và đài phát thanh. Trong chiếc áo dài lộng lẫy, cô nói nhanh như nhà binh. Cô cũng là ca sĩ nhưng hôm nay làm nhiệm vụ tiếp tân mời khách ngồi và ăn trưa. Nhiều ca nghệ sĩ có mặt trong ban tổ chức. Đỗ Thanh, giám đốc Entertainment, là một trong những mạnh thường quân đóng góp cho lễ giỗ hát bội. Đỗ Thanh ca cải lương rất hay và ca tân nhạc cũng xuất sắc

          Tôi chợt nhìn lên bàn thờ nho nhỏ, đó là bàn thờ Tổ. Thường hát cải lương, hát bội đều có Tổ nghiệp. Các ca nghệ sĩ thường khấn lạy Tổ nghiệp trước khi diễn. Hình ca sĩ Phi Nhung đặt cạnh bàn thờ. Ca sĩ Phi Nhung vừa qua đời, cô hát được cải lương và tân nhạc. Cô được mọi người mến chuộng nhắc đến nhiều vì có lẽ cô ca cổ nhạc rất hay, rất có hồn. Phi Nhung chết vì bệnh Covid-19 ở Việt Nam, hỏa táng ở Việt Nam đem tro về Hoa Kỳ. Con gái của Phi Nhung, Wendy Phạm mơ ước thi hài của mẹ được đem về Mỹ, nhưng than ôi, mơ ước không thực hiện được vì nhiều thủ tục phức tạp nên phải hỏa táng ở Việt Nam, đem tro về lại Mỹ và được làm lễ cầu siêu  ở chùa Huệ Quang, thành phố Santa Ana.

          Một người vừa ra đi, nhiều người thương mến.

Bàn Thờ Tổ

          Khi chúng tôi vừa đến thì trên sân khấu nhiều nghệ sĩ đang trổ tài. Người nào hát cũng hết lòng với trái tim của họ để trong tiếng hát lời ca. Hội trường im lặng, tiếng đàn, tiếng hát hòa lẫn với nhau, mọi người thưởng thức các nhạc phẩm một cách say mê.

          Ngày xưa ở Việt Nam, môn cải lương và hát bội được nhiều người yêu chuộng, nhưng khi ra ngoại quốc, những môn này vẫn còn tồn tại nhưng không được tổ chức thường xuyên vì quá tốn kém, không nhiều người thưởng thức những môn nghệ thuật này. Lâu lâu chúng tôi mới nghe nói tới có tổ chức hát cải lương, hát bội nhưng không nhiều.

          Tiếng hát Ái Liên trên sân khấu vẫn nỉ non, với tiếng đàn da diết của các nhạc sĩ. Tôi còn nhớ tôi gặp Ái Liên ở chùa Bảo Quang, chùa Huệ Quang và nhiều chùa khác khi cô vừa định cư ở Hoa Kỳ. Cô đi hát nhiều lắm, hát ở các chùa miễn phí. Tiếng hát của cô đi vào lòng của mọi người. Nhiều nghệ sĩ hiện diện hôm nay đi hát rất nhiều, hát miễn phí. Tôi rất ngưỡng mộ những nghệ sĩ làm việc từ thiện vì nghệ thuật. Tôi cũng gặp ca sĩ Minh Tuyết ở chùa Bảo Quang, Đạo Tràng Nhân Quả, các viện dưỡng lão. Tiếng hát của Ái Liên và Minh Tuyết càng ngày càng điêu luyện. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, luyện tập thường xuyên, hát sẽ hay thêm.

          Môn hát bội và cải lương được nhiều người yêu chuộng ở Việt Nam trước năm 1975, sang Hoa Kỳ 2 môn nghệ thuật này không được thịnh hành lắm, vì số nghệ sĩ lớn tuổi điêu luyện hát 2 môn này không nhiều, và từ từ số người lớn tuổi đã ra đi, đồng bào thưởng thức 2 môn này cũng không đông lắm. Giáo sư Dương Ngọc Bầy, giáo sư dạy hát bội trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn trước 1975, cho biết hát bội là môn nghệ thuật đầu tiên của ngành ca diễn dân tộc. Tại miền Nam California, nghệ sĩ Thiên Thanh tiếp tục nối gót giáo sư duy trì môn hát bội.

          Trước năm 1975, tôi làm cho nhật báo Hòa Bình, chủ nhiệm là linh mục Trần Du. Nhân viên của tòa soạn toàn là người Bắc, chỉ vài người Nam là tôi và ký giả Hồ Nam, cho nên tất cả thiệp mời đi xem hát bội, cải lương đều được giao cho tôi. Ban đầu, tôi không biết gì về hát bội và cải lương nhưng đi xem mãi tôi đam mê lúc nào không hay? Đây là môn nghệ thuật rất khó diễn xuất, chẳng hạn nghệ sĩ Phùng Há diễn xuất làm tướng, trang phục lộng lẫy, diễn xuất rất linh động. Nếu một người không có sức khỏe khó có thể diễn xuất mấy giờ liên tục múa gươm, múa kiếm, vừa diễn xuất vừa hát cùng một lúc. Hồi đó, nhiều khán giả mê Phùng Há lắm, trong đó có tôi. Trước 1975, rất nhiều nghệ sĩ cải lương nổi tiếng như nghệ sĩ Bích Thuận, Bích Sơn, nghệ sĩ Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Hùng Cường, Bạch Tuyết, Kim Cương, v.v. làm say đắm lòng người mộ điệu.

          Tôi là phóng viên viết tin tức, viết đủ loại, viết với trái tim của mình, viết về trẻ mồ côi, người già trong viện dưỡng lão, viết về lính, viết về chiến tranh, làm thơ, nhưng chưa có bài thơ nào được nhạc sĩ phổ nhạc. Có lẽ lúc đó tôi không quen nhạc sĩ, dù nhạc sĩ đến thăm tờ báo Hòa Bình rất nhiều.

Nghệ sĩ Bích Thuận

Nghệ sĩ Phùng Há

Nghệ sĩ Bích Sơn

          Hát bội, hát cải lương, người nghệ sĩ phải tập luyện nhiều lắm, không khác gì võ sinh đi tập võ ở võ đường, từ giờ này đến giờ khác, tóc ướt mồ hôi. Viết về hát bội, về cải lương nhiều năm, tôi rất kính phục những nghệ sĩ đam mê hai môn nghệ thuật này.

          Hôm nay, rất tiếc tôi đến trễ, tính của tôi là người đúng giờ nhưng cuối tuần chạy từ chỗ này đến chỗ khác, đường xá cuối tuần hay kẹt xe nên đến trễ, dù văn phòng tôi ở dưới lầu, bước lên lầu chỉ mấy phút.

          Những tà áo dài tha thướt, lộng lẫy bước lên cầu thang. Hôm nay, không phải chỉ hát bội, hát cải lương mà có những ca sĩ rất trẻ, thế hệ thứ hai, thứ ba hát tân nhạc. Ở Mỹ này, sao cô nào cũng đẹp. Thư viện Việt Nam không phải là rạp hát, nhưng tình cảm của đồng bào yêu nghệ thuật hát bội và cải lương làm cho hội trường ấm áp hơn, vui vẻ hơn.  Thức ăn bày đầy trên bàn: xôi, thịt quay, trái cây, v.v. Vừa ăn, vừa nghe hát miễn phí, người nào cũng vui, khuôn mặt rực rỡ vì được nghe hát.

          Chương trình ngày giỗ tổ hát bội rất phong phú ở thư viện Việt Nam đường Westminster và Euclid, thành phố Garden Grove. Đồng bào tham dự trang phục rất chỉnh tề, phụ nữ mặc áo dài, có các cụ tóc bạc phơ, đa số là người Nam. Ban tổ chức làm theo phong tục cổ truyền: chào cờ, tế lễ, đọc diễn văn của ban tổ chức, cảm tưởng của quan khách, v.v.

          Các tiết mục biểu diễn: Quang Trung Bắc Tiến (Ngọc Ân vai vua Quang Trung, Thiên Thanh vai công chúa Ngọc Hân), Thi Sách và Trưng Trắc (Ngọc Ân trong vai Thi Sách, Ái Liên trong vai Trưng Trắc), ca sĩ Bích Thuận với bài Về đi anh, Minh Hùng ca tân cổ, Don Nguyễn ca tân cổ, Quế Phương với Cát bụi cuộc đời, ca sĩ Tuyết Minh với Chuyện một con đò, Minh Tâm với Cung đàn xưa của Văn Phụng, và nhiều ca sĩ khác như Mỹ Hiếu, Hoàng Ngọc Thúy, Lam Phương, Diệu Liên, Hạnh Cư, Oscar, mục sư David Huỳnh, v.v.

          Một buổi giỗ tổ vô cùng phong phú với nhiều nghệ sĩ tham dự, ban nhạc hùng hậu, không khí rất vui. Cô xướng ngôn viên vui vẻ làm cho hội trường lúc nào cũng náo nhiệt.

          Mong rằng trong cộng đồng Việt Nam được tổ chức nhiều buổi hát bội, hát cải lương. Nếu phổ biến rộng rãi chắc chắn sẽ được nhiều người hưởng ứng. Nghe nhạc miễn phí, ca sĩ hát với trái tim của mình, được mời hay không được mời, đồng bào mình biết thì cũng sẽ đến.

          Chúc cho người có lòng nào cũng được đón nhận một cách nồng nhiệt. Mong lắm thay.

Orange County, 18/10/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




Chớm Thu

Hình như trời đất… chớm thu …

Không gian tim tím sương mù sa sa .

Chim khuyên cũng biếng hát ca ,

Nằm Yên trong ổ mộng mơ bên chồng .

– Vườn ai hoa nhạt sắc hồng ,

Bướm quên thệ nguyện – quên lòng tương tư .

 Cô em qua ngõ quên dù ,

Xoã nguyên mái tóc – y bờ liễu xanh .

– Dung nhan em chớm khuynh thành ,

Cho vừa giấy mực thơ anh gieo vần .

Vào thu …man mác nắng vàng ,

Ấm lòng anh …

Như chiếc  khăn  quàng em trao .

– Chớm Thu – Chớm thu …

Thật rồi sao ….

THƯ KHANH Seattle CHỚM THU




Vĩnh biệt một nhân vật phụ nữ lịch sử

bay final.jpg

Vĩnh biệt một nhân vật phụ nữ lịch sử: Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu nhân của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vừa mới qua đời tại San Diego.

(TM tổng hợp)tam final.jpg

*Phác họa chút nét chân dung

Bà sinh năm 1931, tên Nguyễn Thị Mai Anh là con gái thứ bảy (nên còn có biệt danh Cô Bảy Mỹ Tho) trong một gia đình Công giáo ngoan đạo, ở Mỹ Tho, có mười anh chị em. Tin Bà vừa tạ thế năm 2021, Tai California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 90 tuổi.

Lúc còn là cô gái trẻ, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng người em gái là cô Tám Hảo thường xuyên lên Sài Gòn để đi học và thăm thân nhân. Do gia đình quen biết với Dược sĩ Huỳnh Văn Xuân, làm việc ở viện bào chế Trang Hai, hai chị em Bà được giới thiệu làm trình dược viên, (giới thiệu thuốc) tại Viện bào chế Roussell. Chính ông Huỳnh Văn Xuân làm mai mối cho Nguyễn Văn Thiệu (lúc đó đang đeo lon Trung úy) quen Mai Anh. Mặt khác, cậu Mai Anh là Đặng Văn Quang cũng là bạn đồng khóa Trường Võ bị Đà Lạt với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nên cả hai người được khuyến khích, cổ võ se duyên thành vợ chồng. Dù có đôi chút trở ngại vì Mai Anh theo đạo Công giáo. Ông Bà chính thức cử hành hôn lễ năm 1951. Sau này, vào năm 1958, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mới rửa tội theo đạo.

Thời gian Ông Thiệu cầm quyền, Bà hoàn toàn không can dự vào chính trường, mà chỉ chú tâm vào các hoạt động xã hội.

Ở cương vị là Phu Nhân của Tổng Thống, Bà rất thông cảm với sự thiếu thốn những trung tâm y tế phục vụ người dân. Vì thế, sau nhiều năm hoạt động xã hội, Bà Nguyễn Thị Mai Anh là người đã gợi ý và khởi xướng thành lập một bệnh viện phục vụ người dân, ngay tại thủ đô Saigon.

Bệnh viện Vì Dân tọa lạc tại ngã tư Bảy Hiền, thường được giới bình dân Sài Gòn hay kêu đó là “bệnh viện Bà Thiệu!” Bệnh viện được xây dựng do Bà vận động quyên tiền từ thiện của nhiều người bao gồm: Thân hào Nhân sĩ, Thương gia, Kỹ nghệ gia.

Bệnh viện Vì Dân là bệnh viện tư nhân, nhưng được điều hành như bệnh viện công. Người dân vào khám và chữa bệnh được miễn phí hoàn toàn. Sau khi Bác Sỹ khám bệnh xong thì bệnh nhân được phát thuốc theo toa. Nếu ai bị bệnh nặng thì được nằm lại bệnh viện để chữa bệnh.

Bệnh viện Vì Dân được khánh thành ngày 20 tháng 3 năm 1973, với 400 giường bệnh và nhiều phân khoa khác nhau: Khoa Ngoại và Nội trú, khoa giải phẫu, khoa xét nghiệm, khoa tai mũi họng, khoa quang tuyến, nhãn khoa, khoa nhi đồng, nhà thuốc tây. Bệnh Viện Vì Dân là bệnh viện lớn và tân tiến nhất ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Bệnh viên có nhiều vị Bác Sỹ và Y Tá chuyên môn, cũng như xử dụng những dụng cụ y khoa tân tiến nhất.

Sau 72, cuộc chiến càng ngày càng leo thang, sau khi quyết định cuộc “Triệt Thoái Cao Nguyên”, ngày 21 tháng 4 năm 1975, do những áp lực từ chiến trường, từ các Quốc gia đồng minh, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức trên đài truyền hình. Sau đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng gia đình rời khỏi Việt Nam vào đêm 25 tháng 4, và bay tới Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch với tư cách là Đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa. Lúc đầu cả gia đình sang sống tại Đài Loan, nơi trước đó ông Nguyễn Văn Kiểu, anh ông Thiệu làm Đại sứ.

Sau khi con trai thứ hai, Nguyễn Quang Lộc sang Anh Quốc học, thì cả nhà lại sang London định cư, và sống ở đó trong suốt 15 năm. Khi mấy người con sang Mỹ để tiếp tục con đường học vấn năm 1985, thì cả nhà cũng đến định cư tại thành phố Boston, Hoa kỳ, vì Bà Mai Anh muốn ở gần những người con tthân yêu của mình.

Ông bà có 3 người con là:

– Nguyễn Thị Tuấn Anh (Trưởng nữ)

– Nguyễn Quang Lộc (Trưởng nam)

– Nguyễn Thiệu Long (Thứ nam)

Ngày 29 tháng 9 năm 2001, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ trần tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess Medical Center thuộc thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ, sau khi bị đột quỵ ở nhà. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được an táng tại Boston. Lúc mất ông hưởng thọ 78 tuổi.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Tôi mong có dịp về lại Việt Nam thăm mồ mả Ông Bà, và mang tro cốt của ổng (chồng, Nguyễn Văn Thiệu) về khi đất nước bình yên; Ông Già có trối rằng: “Nếu được thì đem chôn tại quê ông ở Phan Rang, nếu không thì rải một nửa xuống biển và một nửa trên núi”, Bà nói như vậy về ước vọng của Bà như một phụ nữ Việt Nam bình thường, không quên ơn Tổ tiên dòng họ “cây có gốc, người có cội”.

Những  người từng làm việc trong Dinh Độc Lập dưới thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói về Bà như sau: “Chúng tôi luôn luôn giữ lòng quý mến đối với Tổng thống Phu nhân. Bà lúc nào cũng giữ nếp sống bình dị của người đàn bà phúc hậu, bao dung của sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đối với chúng tôi, Bà Thiệu là hình ảnh một người mẹ, một người vợ hiền đảm đang hơn là một vị Đệ Nhất Phu nhân. Tuy sống trong tột đỉnh của quyền thế và nhung lụa giàu sang, nhưng Bà Thiệu là người đáng kính, không có cái kênh kiệu của một người có quyền thế, mà chỉ biết lo cho gia đình, phụng sự xã hội mà thôi.”

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc nào cũng vui vẻ và thân thiện với tất cả mọi người chung quanh. Khuôn mặt phúc hậu và nhân cách của Bà làm người đối diện cảm thấy gần gũi yêu thương và kính trọng. “Bà không bao giờ câu nệ về cách cư xử của nhân viên thuộc cấp. Mỗi lần gặp mặt, Bà luôn luôn lên tiếng hỏi thăm sức khỏe chúng tôi trước, không kịp để chúng tôi chào Bà. Điều đặc biệt là Bà không bao giờ đề cập đến bất cứ chuyện gì có liên quan đến việc làm chính trị của Tổng Thống Thiệu với chúng tôi.”

Hằng tháng, nhất là những dịp Lễ Tết, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thường đi ủy lạo Thương binh ở khắp bốn vùng chiến thuật cũng như tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Đồng thời bà còn tham gia rất nhiều hoạt động xã hội và từ thiện nữa. Nhận thấy xã hội còn nhiều nhiễu nhương nên Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã thành lập “Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội” vào ngày 1 tháng 6 năm 1968 để an ủi và giúp đỡ người dân. Bà nói: “Xã hội bây giờ đang nhiễu nhương. Phụ nữ phải tham gia làm công tác xã hội với sự yêu thương và đồng cảm, để có thể xoa dịu phần nào sự đau khổ người dân của đất nước!”.

Cả thời gian Ông Thiệu cầm quyền, Bà dành hầu hết thì giờ của mình để cứu trợ những người tỵ nạn chiến tranh, quả phụ mất chồng trong cuộc chiến và đặc biệt là những cô nhi bị bỏ rơi. Trong một lần đi thăm trẻ em mồ côi ở cô nhi viện Don Bosco tại Saigon, thì Bà bồng một em bé lên, với khuôn mặt rạng rỡ và nụ cười rất tươi, Bà nói với mọi người hiện diện rằng: “Một trong những đặc ân mà tôi thích nhất, là cái ngày mà tôi được quyền ôm và gọi tất cả các em cô nhi là các con của tôi.“

Nhân lúc bế giảng khóa học dành cho những bà vợ của thành viên nội các tại Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 năm 1968, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Phụ nữ, ngoài nhiệm vụ ở hậu phương là yểm trợ tiền tuyến, bằng cách giúp băng bó những vết thương mà còn có thể xông pha ngoài chiến trận để đánh giặc như Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị nữa. Tôi nghĩ rằng phụ nữ nên tự nguyện học một khóa căn bản về quân sự để có chút hiểu biết hầu có thể giúp đỡ tiền tuyến lúc cần thiết”.

Không những Bà thường xuyên đi hiến máu, Bà còn khuyến khích mọi người đi hiến máu như Bà. Năm nào Bà cũng tham dự ngày lễ diễn hành nhân ngày giỗ Hai Bà Trưng. Ngay cả lúc cư ngụ ở Mỹ, Bà vẫn tham dự ngày lễ giỗ Hai Bà hằng năm.

Mặc dầu là vợ của một Tổng Thống, nhưng vì sinh trưởng ở Mỹ Tho, nên giọng nói và tánh tình của Bà hiền hậu và dễ thương như những người dân chất phát sinh trưởng ở miền Nam.

Vào năm 1972, một người Hoa Kỳ làm việc tại Việt Nam, đã xin phép lấy tên Bà Nguyễn Thị Mai Anh đặt cho một giống Lan: “Brassolaeliocattleya Mai Anh.”

Năm 2009, Bà dọn qua sống với gia đình con trai là anh Nguyễn Quang Lộc thuộc tiểu bang California, vì Bà muốn ở gần con cháu của mình. Bấy giờ Bà đã hơi lớn tuổi nên sức khỏe của Bà không còn được như xưa. Tuy nhiên những lễ giỗ TT Thiệu, mà người Việt khắp nơi tổ chức, Bà vẫn cố gắng có mặt.

*Lời kết: Ra đi, nhưng để lại hình ảnh đẹp!

“Đất nước còn, còn tất cả, đất nước mất, mất tất cả!” hay “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, hảy nhỉn những gì CS làm!” như lời cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói, bao nhiêu năm trôi qua, chân lý ấy vẫn không sai.

Sau 46 năm, qua gần nửa thế kỷ, càng thêm thổn thức, thương nhớ 2 nền Cộng Hòa. Còn đâu những hình ảnh những người chiến sĩ chiến đấu quên mình, mang lại an toàn, thanh bình cho người dân. Những người hậu phương không quên ơn, có lòng đi thăm thương bệnh binh, ra ngoài tiền tuyến, đến các bệnh viện nơi hậu phương, hoặc tiền đồn hiểm nguy, mà bà Nguyễn Văn Thiệu là một trong những người đầy tấm lòng, muốn phục vụ đền ơn các Chiến Sĩ VNCH hy sinh vì nước như thế.

Sau khi Sài gòn sụp đổ, trưa ngày 30 tháng Tư, 75, Phu nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trở về với vai trò người mẹ, người vợ của đời thường khép kín, không còn xuất hiện trước đám đông, không còn ống kính truyền hình ghi nhận hình ảnh của bà khi đi ủy lạo thương bệnh binh ở các Tổng Y Viện Cộng Hòa, và các y viện tiền tuyến, nơi bệnh viện Vì Dân hay làm các công tác xã hội.

Sau bao nhiêu năm vật đổi sao dời, một mệnh phụ phu nhân ngày nào, nay vẫn giữ được nét thanh tao, quý phái, đường bệ, vẫn tươi cười hân hoan chào đón những cộng sự viên năm xưa của chồng mình, những chiến sĩ từng hy sinh cam khổ, vì dân mà chiến đấu, vì nước mà hy sinh, bảo vệ Miềm Nam tự do hạnh phúc trên 20 năm. Tuy quyền thế tột đỉnh, vẫn đối xử với mọi người, bằng một nụ cười đôn hậu của người phụ nữ miền Nam sông nước hiền hòa.

Vâng! Bà là đệ nhất phu nhân của đệ nhị Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa, Tổng Thống Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu khuê danh Nguyễn Thị Mai Anh là như thế. Bình dị, thân thiện, với tấm lòng nhân ái, Bà ra đi để lại hình ảnh rất đẹp trong tin người dân Miền Nam. Tin Bà mất đã làm nhiều người thương tiếc.

Một điều lạ là, Cộng sản VN sau 75, có kế hoạch bôi xấu các lãnh tụ miền Nam, nhưng lại không đụng đến Bà! (Bà Kỳ thì có!)

Nhắc lại một hình ảnh đẹp, từ một chân dung để tưởng nhớ một Nền Cộng Hòa, mà có muôn ngàn điều để hãnh diện về những vai trò “chiến sĩ” cùng chung lưng chiến đấu, họ ở tiền tuyến hay hậu phương, trong quân ngũ, hay dân chính, hoặc chỉ là những người vợ chiến sĩ, “Tình Quân Dân Cá Nước” một thời tay trong tay cùng nhau giữ nước. Nhưng vận nước vào thời kỳ đen tối, để mất tất cả.

Nơi xứ người, vắng bóng quê hương mờ khuất. Chúng ta cần có những điều cần ghi nhớ và hãnh diện của một thời dân chủ tự do no ấm, khi thời gian qua mau, nhắc nhở cho con cháu, trong đó có hình ảnh cao quý của Phu Nhân TT, Nguyễn Thị Mai Anh!

Sống đẹp như thế, Chúa sẽ rước Bà vào nước Thiên Đàng!

Vộ Cùng Thương Tiếc.bon final.jpg

mot final.jpg
hai final.jpg
nam final.jpg
ba ba final.jpg



(thơ song ngữ) NHỚ ƠI của CAO NGUYÊN & THANH-THANH




Triết Học Và Thiền

Biên Khảo: Louis Tuấn Lê

Viết cho Chủ Đề Quyển Sách:

Triết Học Và Thiền & Bên Dòng Chảy Văn Thơ

Triết lý xuất hiện từ lúc nào? Phải chăng nó bắt đầu từ khi loài người có ngôn ngữ? Con người chỉ được gọi là người, khi con người biết nói, con người biết nói là con người biết nghe. Nói được là nghe được, nói là hỏi, hỏi là trả lời. Lúc con người biết nói là lúc triết lý xuất hiện, vì biết nói là biết hỏi, hỏi là triết lý. Đứng trước sự vật, con người nguyên thủy bắt đầu ngạc nhiên.

Chính sự ngạc nhiên tạo ra ngôn ngữ, thi ca và triết học, chính sự ngạc nhiên sinh ra tư tưởng, sự ngạc nhiên chính là câu hỏi. Triết học chính là lời giải đáp cho sự ngạc nhiên.

Sự ngạc nhiên xuất hiện cùng lúc với ý thức và ý thức có nghĩa là hỏi. Hỏi thì phải hỏi về vấn đề gì? vì nếu không hỏi về điều gì? thì không phải là câu hỏi, nghĩa là không phải là ý thức. Hỏi là triết lý, đặt câu hỏi về điều gì? sự hỏi này chính là triết học. Triết học là hỏi về triết lý, mà nói gọn là “Triết lý là gì?”.

“Triết lý là gì?” là hỏi về điều muốn hỏi, nghĩa là cái đó “Là gì? Cái ấy là gì?” nói gọn lại cũng chung một ý “Là Gì? ”. Như vậy ý thức quay ngược trở lại ý thức, hay nói cách khác là ý thức tự hỏi ý thức. Bởi vì triết lý là ngạc nhiên, mà triết học là ngạc nhiên về sự ngạc nhiên này.

Tôi đang tìm tòi trong kho tàng văn chương của triết học, cố tìm xem có điều gì để định nghĩa về tính chất của Thiền Định. Nhưng hoàn toàn không thấy, khi tìm hiểu thêm về lãnh vực triết học tôi lại khám phá ra một điều thú vị. Triết học chỉ là trò phân tích ngôn từ.

          “Triết học đã chết”. Ai dám nói câu này? Đó chính là Stephen Hawking, người có bộ óc thông thái nhất của thời đại chúng ta. Trong cuốn (The Grand Design) tạm dịch “Đại Thiết Kế”, ông khẳng định triết học đã chết “Philosophy is dead!”

Thật ra không phải một mình Stephen Hawking xác nhận về điều này, mà trước đó Voltaire từng nói: “Triết học chỉ là xuyên tạc đời sống, nó chỉ là thức ăn nuôi trí tò mò của con người”. Ngoài ra những triết gia lớn khác cũng đều có chung một nhận định tương tự về triết học.

Friedrich Nietzsche (1844 – 1900) cho rằng: “Hồn sâu xa của Hy Lạp chịu ảnh hưởng của Đông Phương huyền bí nên cũng có một dòng huyền niệm đi liền với một dòng tư duy sáng sủa. Cái hồn ấy bị Socrates “Triết gia Hy Lạp cổ đại” bóp chết bằng tuyên dương lý trí: lấy ý thức sáng sủa minh triết mà xua đuổi năng lực ẩn tàng bên trong. Socrates chỉ biết phê bình mà không hề kiến thiết và ông thiếu hẳn óc huyền niệm bởi năng khiếu biện lý đã được vun tưới đến mức cực đoan nên đã cắt đứt với dòng truyền thống.”

Tóm lại, ba triết gia Nietzsche, Jaspers, Heidegger nhận ra rằng vì những sai lầm của các bậc tiền bối Socrates, Plato, Aristotle mà Triết cổ điển Phương Tây bị cắt đứt với truyền thống tâm linh, tức cội nguồn Minh Triết, để trở thành duy lý, một tri thức luận, một lĩnh vực chuyên môn hẹp không ảnh hưởng gì nhiều đến đời sống.

Do tính chất tư duy phân tích nên Châu Âu hình thành quan niệm Nhị Nguyên, chia thế giới thành hai mặt đối lập: sáng và tối, tốt và xấu; thiện và ác. Từ đó nảy sinh những trường phái triết học để lý giải cho một quan niệm riêng.

Phân chia thành nhiều trường phái, triết lý khác nhau, một sự đối kháng trong triết lý rồi nẩy sinh ra trường phái thứ ba nhầm để dung hoà hai trường phái đối kháng. Cứ như thế, triết học ngày càng duy lý, duy niệm, ngày càng xa rời cuộc sống, trở nên kinh điển khô cứng mất sức sống, dẫn đến cái chết không tránh khỏi. Đó là sự thật mà phải sau 2200 năm con người mới nhận ra.

Trong khi đó ở phương Đông, mang tính chất tư duy tổng hợp và quan niệm Nhất Nguyên nên trí tuệ không đi theo hướng hình thành khoa học thực nghiệm và triết học duy lý. Triết lý Phương Đông, phát hiện ra năm dạng vật chất làm nên vũ trụ là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. “Five Elements”.

Nhưng nền tư tưởng phương Đông không đi vào tìm hiểu bản chất của những thành tố đó để tạo ra khoa học thực nghiệm, mà cố công tìm hiểu về sự quan hệ giữa chúng. Từ đó khám phá khái niệm ngũ hành với nghĩa rộng lớn hơn, tìm hiểu sâu hơn về tính chất ngũ hành tương sinh, tương khắc để làm ra Dịch lý.

Có thể nói rằng, tương sinh & tương khắc là hai quy luật luôn tồn tại song hành cùng với nhau, có tác dụng duy trì sự cân bằng trong vũ trụ. Nếu chỉ có sinh mà không có khắc thì sự phát triển cực độ sẽ tạo nên nhiều tác hại. Ngược lại nếu chỉ có khắc mà không có sinh thì vạn vật sẽ không thể nảy nở, và phát triển. Do đó sinh – khắc tạo ra quy luật chế hóa không thể tách rời.

Đó chính là Kinh Dịch, một trước tác kinh điển và lâu đời nhất của phương Đông. Kinh Dịch ẩn chứa một tư tưởng triết lý uyên bác và thâm sâu nhất, đó là quan niệm Nhất Nguyên – Vạn Vật Đồng Nhất Thể.

Mỗi vật thể là một khối thống nhất của hai mặt đối lập. Nó như hai mặt khác biệt của đồng tiền, chính vì sự khác biệt “không đối kháng” mà đồng tiền mới mang một giá trị nhất định. Từ quan niệm Nhất Nguyên không cho phép sự đối lập trong cùng một vật thể, do dó không nẩy sinh ra những triết lý đối lập cạnh tranh nhau. Do đó triết học Phương Đông có phần khác biệt với triết học phương Tây.

Trong đoạn mở đầu của bài viết, tôi đã trình bày muốn đi tìm một triết lý để định nghĩa về Thiền Định. Nhưng tôi đã bị khựng lại, vì nhiều triết gia lỗi lạc của nhiều thời kỳ đã chứng minh (Triết học Tây Phương đã chết). Tôi chỉ còn biết quay về với triết học Đông Phương bởi vì nền triết học Phương Đông vẫn còn giữ được cái hồn của sự vật.

Tôi tiếp tục đi vào kho tàng văn học để tìm hiểu, và chợt nhận ra một nguồn tư tưởng phù hợp để định nghĩa về Thiền Định.

Thiền định không hề là một dạng của sự tư duy có tính tâm linh mà là một tình trạng vắng bặt tư duy. Mọi triết lý để cố định nghĩa về thiền định, có thể ví như những lời to tiếng bàn luận về sự lặng yên, còn thiền định là bản thân chính là sự lặng yên. Đó chính là nguồn tư tưởng của triết gia OSHO

Tên thật của ông là Rajneesh Chandra Mohan Jain. Người ta biết đến ông với tên Bhagwan Shree Rajneesh. Tháng 2 năm 1989, ông tự đổi tên là Osho. Osho vốn là danh xưng tiếng Nhật Bản cổ, có nghĩa là “đạo sư” của một dòng Thiền

Theo quan niệm của Osho. Đối với đời người, giá trị cao cả nhất của cuộc đời là lòng yêu thương, sự vui cười và thiền định. Niềm ân thưởng vô giá nhất của cuộc đời là trải nghiệm được sự giác ngộ tâm linh (spiritual enlightenment).

Sự giác ngộ đó được ông miêu tả là “nằm yên trong trạng thái bình thường của sự hiện hữu của tất cả mọi vật đang dựng xây vũ trụ”. Con người chúng ta lẽ ra ai cũng có thể trải nghiệm được trạng thái giác ngộ đó, nhưng sự thực là con người bị đánh lạc hướng do hoạt động tư duy cũng như do mong ước và dục vọng sinh ra bởi sự ràng buộc của xã hội.

Vì thế, thay vì hưởng được niềm vui cao cả của sự hữu hiện, con người rơi vào một tình trạng của sợ hãi và ức chế.

Osho (1931-1990) là một vị thiền sư hết sức kỳ lạ của thế kỷ hai mươi. Triết gia Osho cũng có lời giải thích về Thiền. Theo nhận định của ông. Thiền có nghĩa là nhận biết bất kỳ điều gì, khi bạn làm với sự nhận biết thì đó là thiền. Không phải là hành động mà chính là phẩm chất của bạn mang vào hành động, điều đó mới là vấn đề của suy tư và Thiền Quán Chiếu.

Đi bộ có thể là thiền nếu bạn bước một cách nhận biết. Ngồi có thể là thiền nếu bạn ngồi với nhận biết. Nghe chim hót có thể là thiền nếu bạn nghe với nhận biết. Nghe tiếng ồn bên trong tâm trí bạn có thể là thiền nếu bạn giữ nguyên nhận biết và tỉnh táo. Toàn bộ vấn đề là ở chỗ: con người không nên hướng vào mơ ngủ. Thế thì bất kỳ điều gì bạn làm cũng là thiền.

Osho vốn là một con người “nổi loạn”, luôn luôn chống lại qui tắc của xã hội. Không những ông không hề sợ bị xã hội lên án, xưa nay ông chuyên khiêu khích sự ổn định của một định chế có sẵn, kể cả một nền đạo lý chung của con người. Nhất quán với quan niệm thiền định tích cực của mình, khoảng cuối những năm 60, ông bắt đầu thuyết giảng một số bài về tình dục, được ghi lại dưới nhan đề

          Từ tình dục đến ý thức siêu việt (From Sex to Superconsciouness), trong đó ông cho rằng “đối với phép Tantra thì mọi thứ đều thiêng liêng, không có gì không thiêng liêng” và mọi sự đè nén tình dục đều là sự tự huỷ vì người ta không thể chuyển hoá tình dục nếu không nếm trải nó “một cách đích thực và đầy ý thức”.

Thật ra quan niệm của ông không có gì sai. Bởi vì thực tế mỗi người đi tìm đạo tu thân, nếu đi đến chỗ tích cực và muốn chuyển hoá, đều phải tìm một phương cách riêng cho chính bản thân mình, để chuyển hoá năng lực của tình dục.

Đó là một con đường chứa nhiều hiểm nguy. Nhưng muốn “chuyển hoá” thì đó là con đường không thể tránh né, cũng như hoa sen không thể toả hương thơm nếu không bám chặt vào bùn đất để rút tỉa tinh hoa của năng lực nằm trong bóng tối. Và đó chính là con đường Kim Cương Thừa mà từ thế kỷ thứ 8, con người đã thực hành để đạt đến sự thành tựu.  

Osho chỉ là người muốn thực hiện rộng rãi Kim Cương Thừa trong thế kỷ 20 tại Phương Tây, nhưng có lẽ ông đã phạm một sai lầm. Đó là Kim Cương Thừa chỉ dành cho những bậc thượng căn, không phải cho quần chúng.

Nếu Osho nghe những lời này, hẳn ông sẽ không nói “tất cả là thượng căn” vì ông quan niệm ai cũng là Thượng Đế cả, không có gì là không thiêng liêng. Chính điều này ông đã ngộ nhận và dẫn đến nhận xét sai về chúng sinh.

Theo quan niệm của riêng tôi. Con người được chuyển tiếp từ nhiếu kiếp khác nhau, có người đến từ Thượng Căn, những bậc cao quý, có người đến từ Hạ Căn, một cấp thấp hơn, có người đến từ Ngã Quỷ (loại người hung ác), có người đến từ Súc Sinh, loại người mà bản chất còn mang nhiều thú tánh. Nói chung con người đến từ nhiều kiếp khác nhau, cùng đến với trái đất này, để trải nghiệm và học hỏi thêm kinh nghiệm làm người. Do đó mỗi cá nhân phải chịu trách nhiệm với nhân qủa do chính mình tạo nghiệp.

Trở lại với triết gia Osho. Ông quan niệm thế nào về tình yêu?

“Tình yêu không có ranh giới. Tình yêu không thể ghen tị, bởi vì tình yêu không thể sở hữu. Tình yêu là xấu xa bởi chính ý tưởng rằng bạn có ai đó bởi vì bạn yêu. Bạn có ai đó, có nghĩa là bạn đã giết ai đó và biến họ thành hàng hóa. Chỉ có điều có thể được sở hữu đó là tình yêu mang lại tự do. Tình yêu là tự do.”

Ông bị kết tội môi giới làm giả hôn nhân cho những đệ tử mang quốc tịch Ấn kết hôn với những đệ tử mang quốc tịch Hoa Kỳ, để hợp pháp hoá việc định cư.  Osho cũng bị truy tố về tội khai man trên những giấy tờ di trú. Ông bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ trở về Ấn Độ. 

Osho qua đời vào năm 1990, nhưng công việc và những tác phẩm của ông vẫn tiếp tục được xuất bản bởi hơn 200 nhà xuất bản trên toàn thế giới và hơn 60 ngôn ngữ.

Đúng ra trước khi nhắc đến triết gia OSHO, tôi phải nhắc đến Jiddu Krishnamurti, bởi vì Krishnamurti (1895-1986) sinh ra và trưởng thành trước Osho, nhưng tôi nhắc đến những gì gần nhất rồi mới đi đến cái xa hơn.

Jiddu Krishnamurti (1895 – 1986) Được sinh ra trong một gia đình thuộc tầng lớp Brahmin tại Ấn Độ, nhưng Krishnamurti khẳng định rằng mình không thuộc bất cứ quốc tịch, tầng lớp, tôn giáo hay trường phái triết học nào. Ông dành suốt quãng đời còn lại của mình đi khắp thế giới như một nhà diễn thuyết độc lập. 

Tờ báo “The New York Times” gọi ông là người “từ bỏ mọi loại hình tôn giáo”. Tờ báo “The Guardian” đặt cho ông danh xưng “bậc thầy không tin vào những bậc thầy”. Ông tuyên bố rằng những tổ chức, với những tư tưởng vốn có làm lu mờ đi sự hiểu biết của mỗi cá nhân.

Chính vì quan niệm từ bỏ mọi loại hình tôn giáo, nên ông xem niềm tin vào Thượng Đế chỉ là cách con người né tránh nỗi khổ và một hình thức lệ thuộc độc hại, giả tạo: “Bởi vì trái tim chúng ta đã héo tàn, nên Thượng Đế trở nên vô cùng quan trọng”.

Ông coi các đạo sư hay bậc thầy tinh thần là không cần thiết. “Đạo sư cũng trở nên vô ích khi bạn chỉ biết có chút ít về chính mình. Không có đạo sư, không có sách vở hay kinh điển nào có thể giúp bạn tự biết mình”.

Ông nói. “Chân lý là vùng đất không lối mòn” (Truth is the pathless land) đây cũng là câu tuyên ngôn nổi tiếng của ông, cho rằng nếu chạy theo một ai hay điều gì đó, dù là đạo sư hay Thượng Đế, dù là một hệ thống, tổ chức hay phương pháp, con người sẽ không bao giờ tìm thấy sự thật. Ông dành hơn 65 năm để diễn thuyết về tự do tâm lý dành cho bất cứ ai trên thế giới muốn lắng nghe mình.

          Ông quan niệm. Trong mọi phương diện cuộc sống, chúng ta dễ “nghiện công thức” và những thứ gì có sẵn, vì chúng dễ nắm lấy và mang lại cho ta sự an toàn, làm dịu những cảm giác bấp bênh.

Bởi vì mỗi người đều có khả năng vô biên về sự tự thức tỉnh này, nếu họ không bị những xiềng xích của truyền thống về sự sợ hãi, không bị những “đạo sư” che mất ánh sáng của chính họ tự chiếu. 

(This Light in Oneself). Ánh sáng này không ai có thể “cho” người khác, không thể nhận được từ người khác truyền qua như truyền lửa từ ngọn nến này qua ngọn nến khác. Nếu ánh sáng mà có được nhờ sự từ người khác truyền qua thì chỉ là ánh sáng của ngọn nến, nó sẽ tắt. Chính sự tĩnh lặng, quán chiếu thâm sâu nội tâm, người ta sẽ thức tỉnh, sẽ xuất hiện ánh sáng của chính bản thân.

Ông luôn luôn nhắc nhở sự tĩnh tâm, tự thanh lọc những kiến chấp đã tích lũy trong tâm trí qua thời gian, để tự giải thoát. 

Trong “Tự do đầu tiên và cuối cùng”, Krishnamurti nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thoát khỏi mọi định kiến, quy định, thoát khỏi mạng lưới tư duy, mọi hệ thống, uy quyền, để có được sự tự do tuyệt đối.

Krishnamurti: (Tự do đầu tiên và cuối cùng). Con người là kẻ tự giải phóng bản thân. Triết gia Phạm Công Thiện đã dịch quyển sách này. Ông đã viết về Krishnamurti như sau:

               Khắp thế giới không ai còn lạ gì tên tuổi Krishnamurti. Từ nửa thế kỷ nay, Krishnamurti đã đi lang thang cô độc khắp trái đất, đã kêu gọi mọi người giải phóng khỏi mọi nô lệ ràng buộc trong đời sống đau thương này.

Tiếng nói của Krishnamurti là tiếng nói lặng lẽ của một con người đã tự giải phóng bản thân, của một con người đã trải qua tất cả mọi đau đớn không cùng, đã sống một triệu mùa ở hỏa ngục, đã tự giải thoát và nhìn thấy được Thực Tại toàn diện của đời sống, ca ngợi giòng đời vô tận, ngây ngất với tiếng cười lặng lẽ của mười triệu năm hư vô trong đêm tối nặng trĩu trái đắng mật đen.

Krishnamurti đã được nhân loại nhận là hậu thân của Phật Thích Ca và Chúa Giê Su. Krishnamurti đã được mấy trăm triệu người ở thế giới tôn lên ngôi vị đấng Đạo Sư, bậc Giáo Chủ của nhân loại, thế mà Krishnamurti đã giải tán hết mọi tôn giáo, tổ chức, đã phủ nhận tất cả tín điều, đã phá hủy hết mọi triết lý và ý thức hệ, đã đập vỡ hết mọi thần tượng và, trên năm mươi năm trời đã một mình bước đi lang thang khắp nẻo đường trần gian, không tiền, không bạc, không hành lý, không gia đình, không quê hương, không truyền thống, chỉ một mình và chỉ đi một mình, cô đơn, cô độc, sống tràn trề, sống bất tận, sống vỡ bờ như một thác nước ào ạt, tuôn chảy mãnh liệt nhưng vẫn trầm lặng, nói rất nhiều mà vẫn im lặng, đi rất nhiều mà vẫn tịch nhiên bất động, gắn kết đời sống mà vẫn cưới hỏi sự chết, chết và sống giao nhau.

Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại trong lịch sử là sự trần truồng tuyệt đối của tâm hồn ông. Ông chỉ giữ lại cho mình một chỗ đứng độc nhất: một con người, với ý nghĩa giản dị đơn sơ của con người. Mang lấy xác thịt mảnh khảnh của con người, ông nương tựa trọn vẹn vào tâm linh, đồng thời ý thức rằng tâm linh và thể xác chỉ là một, không khác nhau.

Chúng ta hãy cùng ca hát với Krishnamurti bài ca tình yêu:
Trong những hải đảo xa xôi xanh thẫm
Trên giọt sương mong manh
Trên con sóng vỡ bụi
Trên ánh nước lung linh
Trên cánh chim tung trời
Trên lá non đầu xuân
Người sẽ nhìn thấy nét mặt Người Yêu của ta
Trong đền điện linh thiêng
Trong vũ trường mê đắm
Trên nét mặt thánh thiện của tu sĩ
Trong bước đi lảo đảo của người say rượu
Nơi những gái điếm giang hồ và những trai tân trinh nữ
Ngươi sẽ gặp Người Yêu của ta.

Điều làm nổi bật tư tưởng Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại trong lịch sử là sự trần truồng tuyệt đối của tâm hồn ông.

Ông chỉ giữ lại cho mình một chỗ đứng độc nhất, là một con người, với ý nghĩa giản dị đơn sơ của con người. Mang lấy xác thịt mảnh khảnh của con người, ông nương tựa trọn vẹn vào tâm linh, đồng thời ý thức rằng tâm linh và thể xác chỉ là một, không khác nhau.

Ông chỉ giữ lấy một sứ mệnh độc nhất là tước bỏ con người ra ngoài tất cả những huyền tưởng, ảo giác, phá hủy cho sụp đổ tất cả chống nạng giả tạo của những lý tưởng, những tín ngưỡng, ngẫu tượng,  phá hủy tất cả mọi hình thức chống đỡ con người, để trả con người trở lại sự tôn nghiêm trọn vẹn, sức mạnh vẹn toàn của nhân tính.

Người ta thường gọi ông là “Đấng Đạo Sư của Thế Gian”. Nếu có người xứng đáng được gọi danh hiệu như thế thì người ấy chính là Krishnamurti. Đối với tôi, điều quan trọng nhất trong thái độ tâm linh của Krishnamurti là ông không bao giờ muốn chúng ta coi ông như là bậc đạo sư, như một bậc thầy, mà chỉ muốn là một con người, với tất cả ý nghĩa đơn giản thông thường của hiện thể.

Krishnamurti đem đến một khái niệm mới là “Thực tại sáng tạo” đó là khi chúng ta lãnh hội với một nhận thức không chọn lựa, định kiến, so sánh.

Khi “thực tại sáng tạo” đi vào bản ngã và tiềm thức, con người sẽ xuất hiện tình thương và sự hiểu biết đích thực. Đó là sự tự do hoàn toàn trong tâm trí, khi sự thật hiện hữu trong từng khoảnh khắc.

Đó là tình yêu thương không mang tính cá nhân hay phi cá nhân, không thể định nghĩa hay mô tả bằng tâm trí, dù riêng biệt hay bao hàm.

Chỉ khi có được sự “tự do đầu tiên và cuối cùng” này, thì con người mới loại bỏ những hoạt động vị ngã như những xung đột, những mối nguy hại, lừa dối có mục đích. Khi quá trình này dừng lại, tình yêu thương và nhận thức đúng đắn xuất hiện, con người mới có thể giải quyết được các vấn đề gây khủng hoảng, chấm dứt chiến tranh, đau khổ, suy sụp… 

Đây là tư tưởng trọng yếu và bao quát trong tất cả các tác phẩm của Krishnamurti.

Có thể nói, trải nghiệm đọc sách Krishnamurti không hề dễ chịu. Người đọc nôn nóng, không chịu tư duy sẽ dễ nản chí và gấp sách lại sau vài trang đầu.

Dịch giả Nguyên Phong (người phóng tác Hành trình về phương Đông, Dấu chân trên cát) có lần nhận xét:

“Nếu anh đọc kỹ sách của Krishnamurti thì ông ấy không hề khuyên bảo dạy hay trả lời gì hết, mà bắt anh phải tư duy suy nghĩ chiêm nghiệm để tự tìm ra câu trả lời”.

Cũng như trong những buổi nói chuyện khi ông còn sống, người ta hỏi Krishnamurti một câu, ông lập tức xoay vấn đề và hỏi ngược lại, để người hỏi phải suy luận và tự tìm ra lời giải.

Nhưng với ai thật sự nghiền ngẫm, tư tưởng Krishnamurti có thể thay đổi hoàn toàn góc nhìn của họ về cuộc đời, về cách họ làm mọi việc.

Kết luận Jiddu Krishnamurti là bậc hiền nhân, một triết gia, nhà tư tưởng, nhà giáo lãng du, nhà khoa học và nhà tâm lý học đột phá, song ông còn được xưng tụng là “người bài trừ thần tượng”, thậm chí được gọi là “kẻ nổi loạn”. Bởi những lời dạy của ông luôn dựa vào sự thấu triệt về tình trạng bị khuôn định của con người, chứ không dựa trên những hiểu biết thuộc sách vở, hay kinh sách.

Ở tuổi 90, Krishnamurti đã diễn thuyết tại Liên Hợp Quốc về chủ đề hòa bình và nhận thức, và ông đã được trao tặng Huân chương Hòa Bình của Liên Hợp Quốc năm 1984. Buổi nói chuyện trước công chúng cuối cùng của ông diễn ra tại Madras, Ấn Độ, tháng 1 năm 1986, một tháng trước khi ông qua đời tại nhà riêng tại Thánh phố cổ kính Ojai, California.

Hai triết gia nổi tiếng và gần gũi nhất với thời gian hiện tại, đó là Krishnamurti và Osho. Hai luồn tư tưởng gần như phá vỡ mọi trật tự của những khuôn định Triết Học và Tôn Giáo. Cả hai bị gán tội là “Kẻ nổi loạn”, nhưng cả hai được người đời tôn vinh như là hậu thân của Phật Thích Ca và Chúa Giê Su. Tuy nhiên cả hai vị triết gia đều phủ nhận mọi tước vị, chỉ muốn là một con người bình thường.

Chúng ta tiếp tục đi tìm những tư tưởng có nhiều ảnh hưởng nhất trên thế giới liên quan đến Thiền Định. Mọi người sẽ dễ dàng nhận ra Thiền Sư Thích Nhất Hạnh tại Làng Mai miền tây nam nước Pháp.

Triết lý sống của ông là hãy quan tâm đến Thời Gian hiện tại.

Ông chủ trương: “thông qua chánh niệm, chúng ta có thể học sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại, cách duy nhất để phát triển hòa bình, cả trong bản thân và toàn xã hội.”

Vài nét về tiểu sử Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Sinh năm 1926 tại Thừa Thiên – Huế với tên khai sinh là Nguyễn Xuân Bảo. Ông xuất gia theo Thiền Tông vào năm 16 tuổi tại chùa Từ Hiếu. Thiền sư tốt nghiệp viện Phật học Bảo Quốc, tu học thiền theo trường phái Đại Thừa của Phật Giáo và chính thức trở thành nhà sư vào năm 23 tuổi. Ông vừa là thiền sư vừa là giảng viên, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu, nhà hoạt động xã hội, và người vận động cho hòa bình.

          Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người tiên phong trong việc đưa Phật Giáo qua Phương Tây, thành lập sáu tu viện và hàng chục trung tâm tu tập ở Mỹ và Châu Âu, cùng với hơn 1.000 cộng đồng thực hành chánh niệm được gọi là “sanghas”.

Ông đã xây dựng một cộng đồng rộng lớn, gồm hơn 600 nhà sư và nữ tu trên toàn thế giới, cùng với hàng chục ngàn sinh viên đang theo học, áp dụng các giáo lý về chánh niệm, hòa bình và xây dựng cộng đồng trong các trường học, nơi làm việc, kinh doanh và thậm chí là cả nhà tù trên khắp thế giới.

          Đối với Thiền sư Thích Nhất Hạnh yếu tố thời gian chính là tư tưởng trọng yếu bao quát nhất trong triết lý của ông.

Theo ông thời gian thật sự vô giá. Đôi khi, chính vì nhịp sống vội vã, chúng ta để vụt mất đi những phút giây dành cho chính bản thân, gia đình và những giá trị khác trong cuộc sống của mình.

Ông mời gọi chúng ta hãy:

“Chậm lại một chút, sống trọn từng phút giây và cảm nhận sự hiện hữu của vạn vật trong từng khoảnh khắc, ta sẽ biết được mình đã bỏ lỡ những vẻ đẹp gì của cuộc đời trong những tháng ngày chạy đua với nhịp sống”.

Cuộc sống hiện đại luôn đi liền với những lo toan. Chúng ta luôn bị ám ảnh bởi ngày mai, không biết mọi thứ sẽ đi về đâu hay chuyện gì sẽ xảy đến. Chính vì lẽ đó, chúng ta đánh mất đi biết bao cơ hội để trải nghiệm hiện tại, được làm những thứ mình thích và ở cạnh những người ta yêu thương.

Lời nhắn nhủ của ông đến với mọi người, hãy tập trung, sống hết mình và tạo ra hạnh phúc ở ngay thời điểm hiện tại.

Sự vội vã tất bật của cuộc sống khiến chúng ta di chuyển quá nhanh, để rồi ta không còn thời gian để tận hưởng những khoảnh khắc dù chỉ là nhỏ nhất của cuộc đời.

Đôi khi, thiền định không chỉ là phương pháp duy nhất để đạt được sự an bình thư thái, chỉ cần chúng ta đưa ý thức của bản thân về hiện tại, bước đi chậm hơn, thở đều, nhìn ngắm xung quanh với tâm thái rạng rỡ, cũng đủ để bản thân ta thấy bình yên hơn mà tiếp tục hành trình cuộc sống. Với Thiền sư Thích Nhất Hạnh, bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể làm tâm mình lặng đi để cảm nhận sự chuyển động của vạn vật xung quanh:

Đi mà không tới

Trong cuộc sống bận rộn hằng ngày, ta không bị một áp lực thúc đẩy đi về phía trước. Ta thường phải “rảo bước”. Rảo bước để đi đến đâu, ta ít khi tự hỏi mình. Thiền hành cũng như đi bách bộ, không có mục đích đi tới một địa điểm nào trong thời gian cũng như trong không gian.

Mục đích của thiền hành là thiền hành. Cái quan trọng là đi chứ không phải tới. Thiền hành không phải là phương tiện. Thiền hành là cứu cánh. Mỗi bước chân là sự sống mỗi bước chân là sự an lạc. Vì vậy ta đi mà không cần phải rảo bước. Vì vậy ta sẽ đi chậm lại. Đi mà như không đi; đi mà không bị một mục đích nào kéo ta về phía trước. Vì vậy mà khi ta đi, ta có thể nở một nụ cười.

Bước chân thanh thản

Trong cuộc sống hằng ngày, bước chân ta trĩu nặng lo âu, thấp thỏm và sợ hãi. Có khi cuộc đời của chúng ta chỉ là một chuỗi năm tháng lo âu.

Bước chân ta vì thế không được thanh thản. Trái đất của chúng ta thật đẹp, trên trái đất có biết bao nhiêu nẻo đường tuyệt đẹp. bạn có biết quanh ta có bao nhiêu ngõ trúc quanh co, bao nhiêu con đường lúa thơm tho, bao nhiêu bìa rừng xanh mát, bao nhiêu lối đi đẹp màu lá rụng, nhưng ít khi ta thưởng thức được, cũng bởi vì lòng ta không thanh thản, bước chân ta không thanh thản.

Thiền hành là tập đi trở lại với những bước chân thanh thản. Hồi ta một tuổi rưỡi, ta tập đi những bước chập chững. Bây giờ đây thực tập thiền hành, ta cũng sẽ lại đi những bước chập chững như thế. Sau nhiều tuần lễ tập đi, ta có thể bước những bước vững chãi, an lạc, vô ưu.

Theo quan niệm của thiền sư Thích Nhất Hạnh. Chánh niệm là một nghệ thuật tập trung tư tưởng vào ngay thời điểm hiện tại, là một cách để phát triển sự bình an và hạnh phúc trong cuộc sống của chúng ta.

Qua tư tưởng của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh tôi liên tưởng đến tư tưởng của triết gia Osho, ông mời gọi chúng ta sự sáng tạo, làm bừng cháy một sức mạnh tiềm ẩn bên trong, sáng tạo từ những bước đầu tiên.

          Ông khiến chúng ta nhận ra rằng, bản chất cuộc sống là một vũ điệu, một bài thơ mỹ miều, chứ nó không trơ trọi như một cục đá sừng sững trước mặt bạn. Và vũ điệu đó, bài thơ đó, là do chính bạn viết nên. Không ai có thể làm hộ bạn điều đấy. Và dĩ nhiên, nếu muốn sáng tạo, điều đầu tiên bạn cần làm là tự mình bước ra khỏi đám đông. Bạn phải tự vạch ra cho mình hướng đi riêng, và tự mình giải mã những bí ẩn mà không để tư tưởng bị tác động bởi bất kỳ một yếu tố nào. Kết quả là dần dần, bạn sẽ được tận hưởng cuộc sống một cách đúng nghĩa và trọn vẹn nhất.

Osho cũng nhận biết về hạnh phúc xuất phát từ tâm hồn. Ông cho rằng con người vẫn hay ước mơ về điều mà họ luôn muốn có, nhưng chưa có được.

Cũng giống như vậy, ai càng đau khổ, người ấy càng khát khao được hạnh phúc. Bất hạnh càng nhiều, nỗi khát khao ấy càng lớn.

Tuy nhiên, hạnh phúc không có nghĩa là chối từ sự khổ đau. Cũng không phải là chịu đựng sự âm ĩ và mãi khóc than cho nỗi đau đó.

Trong Hạnh phúc tại tâm, Osho không định nghĩa hạnh phúc, cũng chẳng chỉ ra lý thuyết hạnh phúc. Osho không chỉ cho ta cách khước từ đau khổ để kiếm tìm hạnh phúc.

Osho cũng không khuyến khích chịu đựng và khóc than đau khổ. Osho muốn chúng ta chăm sóc nỗi khổ đau, đối diện và vượt qua nó. Trong những bài viết đầu tiên ông đã viết.

Khi bạn làm với sự nhận biết thì đó là thiền. Không phải là hành động mà chính là phẩm chất của bạn mang vào hành động, điều đó mới là vấn đề của suy tư và Thiền Quán Chiếu.

Tôi đã miên man trình bày, biên khảo một chủ đề quá rộng lớn, vượt ra ngoài sự hiểu biết nhỏ bé của tôi, mặc dù ngôn từ không thể nào đủ sức dẫn đưa luồn tư tưởng vào sự mênh mông của Tiết Học và Thiền Định, nhưng ít ra chúng ta cũng nhận biết một khái niệm bao quát về hai nguồn tư tưởng này.

Để từ đó mỗi người trong chúng ta có thể tìm thấy một lối đi riêng cho chính mình, ung dung tự tại. Hãy bước đi mà không đến, vì nơi đến chính là tâm hồn của mỗi người chúng ta.

Tôi xin mượn bài thơ ngắn do tôi viết, để kết thúc bài viết bao la như biển rộng, mây trời, biết bao giờ mới đến nơi. Thôi thì xin kết thúc nơi đây qua bài thơ (Nhìn vào tâm)

 Nhìn Vào Tâm

Hướng vào tâm hồn, ta nhìn thấy

Phật nằm trong thánh địa tâm này

Đáy hồn ta báu vật gìn giữ

Thiện tánh trong ta khối lượng đầy.

Ta còn tìm đến tận nơi xa

Mà quên khó báu, trong hồn ta

Nơi đây hiện diện chân hoàn mỹ

Đừng kiếm nơi nào ngoài chính ta.

Trân trọng

Louis Tuấn Lê

San Jose October 7, 2021

Công Án Thiền Là Gì?

Biên Khảo: Louis Tuấn Lê

Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta cần hiểu rõ hơn về từ ngữ công án. “Công án” là cách phát âm từ chữ “kun-an” của Trung Hoa và ý nghĩa của chữ công án là “một bức công văn đặt trên án thư”. Nhưng từ ngữ này được các Thiền Sư, đem vào thiền học một cách khác thường, thoạt đầu “công án” chỉ là một mẩu đối thoại hoặc một biến cố nào đó xảy ra giữa Thiền Sư và đệ tử của ngài.

Tóm lại, công án có nghĩa là một câu chuyện Thiền, một vấn đề Thiền. Tham công án thường ngụ ý là cố giải quyết một vấn đề Thiền.

Như câu hỏi: “Ai là kẻ niệm Phật?” hay “Tất cả các pháp quy về một, cái một ấy quy về đâu?” hoặc chỉ một chữ “Vô” (Có nghĩa là không hay hư không).

          Công án thiền cũng là ngôn ngữ, là hành động nhưng chúng ta không thể hiểu nó bằng tư duy, bằng lý giải trong suy tưởng, mà chỉ có thể thâm nhập vào trong nó, hiểu biết nó bằng trực giác.

Thế nên những công án Thiền không phải là đối tượng để cho chúng ta có thể tiếp cận hay hiểu nó bằng cảm nhận qua tri thức, bằng triết lý, chúng ta không thể lý giải bằng ngôn ngữ, văn tự theo cách hiểu thông thường. 

Nghĩa là những Thiền ngữ này, tức phương tiện khai thị của các Thiền Sư hoàn toàn không giống như những bài toán, những luận đề hay là những lý thuyết khoa học mà con người có thể biện giải, phân tích, luận bàn đúng sai, phải trái, để rồi dẫn đến một kết luận tương đối hay và cho ra một đáp án chung nhất có thể chấp nhận được. 

Trong Thiền Tông, thuật ngữ quan trọng này chỉ một phương pháp tu tập thiền định đặc biệt.

Công án có thể là một đoạn kinh, một kinh nghiệm giác ngộ, một câu chuyện về một vị sư, một cuộc đàm thoại, vấn đáp hay một cuộc pháp chiến. Nhưng chúng có chung một điều là đề cập đến thể tính của vạn vật.

Đặc trưng của công án là thường thường nghịch lý, “nằm ngoài phạm vi của lý luận”. Công án không phải là “câu đố” thông thường vì nó không hề được giải đáp bằng lý luận, muốn hiểu nó phải có cách nhìn khác, ở một cấp độ khác của nhận thức.

Công án là một bài toán, một câu đố mà người học trò nhận được ở vị thầy mình, một đề tài Thiền mà người ấy phải luôn luôn giữ trong tâm thức, không dùng đến lý luận lô gích, cho đến khi một ngày kia câu trả lời xuất hiện bằng trực giác, một cách bỗng nhiên, sáng tỏ. Chứng ngộ.

Khoảng giữa thế kỉ thứ 10, Thiền tông bắt đầu dùng công án như phương tiện để giáo hoá và các thiền sinh sử dụng chúng làm đối tượng quán tưởng trong lúc thiền. Vì lời giải của công án thường nằm ngoài lý luận, nên thiền sinh thấy rõ giới hạn của tư duy và bị buộc phải chuyển hoá tâm thức bằng một bước nhảy của trực giác, nhảy qua khỏi sự mâu thuẫn của lý luận nhị nguyên.

Với tâm thức này, thiền sinh có một kinh nghiệm trực tiếp về thể tính. Phương tiện công án được phổ biến trong các dòng thiền Lâm Tế tông, Tào Động tông ở Trung Quốc và Nhật Bản.

Thường thường đó là một câu truyện ngắn gọn, một giai thoại hay một cuộc đối đáp giữa hai thầy trò, mà điểm đặc biệt là tính chất ngược đời, theo từng quan niệm của nó. Như vậy nó không phải là một sự bí ẩn phải khám phá ra, một giải đáp cho một câu hỏi, nhưng đúng hơn là một bài tập tâm thức có thể đưa tới chứng ngộ, còn gọi là tuệ giác hay trí huệ Bát Nhã.

Trên thực tế, công án là một phương tiện, một mẹo được xem như một sự bổ túc có ích lợi cho Thiền định và thường được dùng bởi trường phái Lâm Tế (Nhật: Rinzai), nhưng đối với trường phái Tào Động (Nhật: Soto) xem nó là phụ.

Trong vài thế kỷ gần đây, công án đã trở nên phổ biến, đôi khi một cách quá đáng, chúng đã trở thành một con đường bắt buộc, như những đề tài luận án theo qui ước, thay thế tinh thần “dĩ tâm truyền tâm” giữa thầy và trò, đặc biệt trong Thiền.

Ảnh hưởng sai lầm đó đã bị chính các vị Thiền Sư chỉ trích, và khuyến cáo rằng mỗi câu chuyện là một câu chuyện đặc biệt xẩy ra ở một hoàn cảnh đặc biệt, trong một sự liên hệ cá nhân giữa thầy và trò.

Trong những công án, người ta phân biệt thoại đầu, là một chữ hoặc một thành ngữ, một câu hỏi căn bản đặt lên bởi một vị thầy. Nghĩa gốc thoại đầu là “nói, đầu”.

Có một số thí dụ quen thuộc về những công án:

“Bộ mặt đầu tiên của anh trước khi cha mẹ anh sinh ra như sao?”.

“Khi vỗ hai bàn tay người ta nghe thấy một tiếng vỗ, vậy thì đâu là tiếng vỗ của một bàn tay?”

 “Cái gì suy nghĩ?”

“Anh hiện nay đang làm gì?” 

Đại loại là như thế, có những câu hỏi thật ngớ ngẩn, nó như muốn phá vỡ mọi trật tự vốn có.

Phương tiện công án được phổ biến trong các dòng thiền Lâm Tế Tông, Tào Động Tông ở Trung Quốc và Nhật Bản. Người ta cho rằng, nếu gom góp lại có tất cả khoảng 1700 công án, đây chỉ là một con số mang giá trị trừu tượng, trong số 1,700 công án, có vào khoảng 500-600 công án, ngày nay còn được lưu hành tại Nhật.

Qua bài viết rất hạn hẹp, tôi không thể nào đem vào đây những công an thiền. Chỉ là một tượng chưng về những công án thiền mà chúng ta thương nghe nói đến, hay còn ghi chép trong các sách vở.

Chúng ta nên nhắc lại một vài câu chuyện đối đáp hay trong tập truyện “Truyền Đăng Lục” Chương sách Mã Tổ:

“Một vị tăng hỏi Mã Tổ: ‘Tại sao ngài lại dậy là “tâm chính là Phật?” .

Đó là để dỗ dành đứa bé đang khóc, người thầy trả lời.  

Khi nó nín khóc rồi thì sao?

Tôi dậy: ‘Không tâm, không Phật.’

Nếu có người không là cái này, không là cái kia, ngài dậy sao?

Tôi sẽ dậy: ‘Chúng sanh cũng không”.

Xin để bạn đọc suy nghĩ về sự tinh tế của những câu trả lời, và xin nhắc lại rằng trong Đại Thừa, giữa Tâm, Phật và Chúng Sanh, không có gì khác biệt (Tâm Phật chúng sanh, tam vô sai biệt ).

            Sự phủ định cái “không”. Câu truyện sau đây không có trong tập công án này, nhưng rất điển hình, bởi vì câu chuyện cho chúng ta thấy rõ rằng trong tinh thần Thiền, sự chấp chặt vào cái Không cũng phải được xả bỏ.

“Một vị tăng tới thăm Triệu Châu và nói:

Tôi không mang gì theo hết.

Hãy bỏ đi’, vị thầy trả lời.

Nhưng tôi không mang gì theo hết, thì phải bỏ gì ?’

Nếu ông không có gì bỏ hết, thì hãy mang về đi.

Nghe thấy vậy, vị tăng hốt nhiên chứng ngộ”.

Trong câu truyện này, vị tăng bị thắc mắc vì đi tới tay không, ông chấp chặt vào cái không đó, cho nên câu trả lời của Triệu Châu, phủ nhận cái không đó, đã làm cho vị tăng ý thức được rằng cái không đó không có thật.

Câu Chuyện. “Gậy trúc của Thủ Sơn”, chủ đề là cách kêu gọi một đồ vật:

Hòa thượng Thủ Sơn giơ gậy trúc lên trước chúng mà hỏi:

Này các ông, nếu gọi là gậy trúc thì xúc phạm, không gọi là gậy trúc thì trái nghịch. Vậy thì các ông gọi là gì? 

Khi hối thúc học trò trả lời, vị thầy đẩy học trò vào một ngõ bí: không thể dùng được ngôn từ, không thể không dùng nó được. Gọi tên một vật, tức là chấp vào tên của nó, không gọi tên nó, tức là phủ nhận sự vật. Lối thoát duy nhất là vượt qua khỏi cái nhị nguyên đó, hoặc bằng cách lên tiếng nói, hoặc bằng cách chứng tỏ rằng câu hỏi đó vô nghĩa.

 Câu chuyện “Qui Sơn đá đổ tịnh bình”.

Diễn tả sự hiểu biết vượt qua khỏi ngôn từ trong tinh thần Thiền :

“Hòa thượng Qui Sơn trước kia ở với Bách Trượng, giữ chức điển tòa (đầu bếp). Bách Trượng sắp chọn người đến núi Đại Qui làm trú trì, bèn mời Qui Sơn cùng ông thủ tòa Hoa Lâm ra đối đáp trước chúng, ai nói trúng sẽ được đi. Bách Trượng đặt một tịnh bình (chai nước) dưới đất, rồi hỏi:

Không được gọi là tịnh bình, thì gọi là gì?

Ông thủ toà đáp: – Không thể gọi nó là khúc cây.

Bách Trượng quay sang hỏi Qui Sơn.

Sơn liền đá đổ tịnh bình rồi quay đi.

Bách Trượng cười lớn, nói: ‘Thủ toà đã thua hòn núi rồỉ’.Vá phái Qui Sơn đi làm tổ khai sơn. 

Như vậy, trong khi thủ tòa Hoa Lâm còn bị sa lầy vào sự mô tả bằng lời nói, Qui Sơn đã vượt qua khỏi những dính mắc, ngôn từ, khẳng định cũng như phủ định, bằng cách chỉ thẳng vào sự vật bằng một động tác làm cho đồ vật được lập tức nhận ra không là gì, nó vượt qua sự mô tả bằng ngôn từ.

 Sự vô lý của câu hỏi. 

Có một cách trả lời khác là chứng minh sự vô lý, vô nghĩa của câu hỏi, hoặc là tính chất hão huyền của sự lựa chọn giữa hai câu hỏi. Câu hỏi vô nghĩa, thì trả lời cũng vô nghĩa, có thể nói là như vậy.

Đó là trường hợp của câu chuyện bất hủ.”Nam Tuyền chém mèo”:  

Hòa thượng Nam Tuyền, nhân tăng chúng hai bên Đông và Tây tranh nhau một con mèo, bèn giơ con mèo lên nói:

Các ông nói được thì con mèo được tha, nói không được thì ta chém. Chẳng ai biết nói sao. Nam Tuyền bèn chém con mèo.  

Buổi chiều, Triệu Châu trở về. Nam Tuyền kể lại chuyện cho Triệu Châu nghe. Triệu Châu liền cởi dép, để lên đầu mà đi ra.

Nam Tuyền than : Nếu lúc đó có ông, thì đã cứu được con mèo rồi ! 

Trong câu chuyện này, những tâm hồn đa cảm chắc hẳn sẽ bị sốc vì sự tàn nhẫn của Nam Tuyềnđối với con mèo:

Làm sao một vị Thiền Sư, đệ tử của Phật, có thể giết một sinh vật để thử học trò mình ? Tâm từ bi ngài để đi đâu ? Dĩ nhiên, người ta cũng có thể đặt câu hỏi về sự thật của câu chuyện này.

Biết đâu đó chỉ là một đồ chơi, chẳng hạn một chiếc tượng mèo bằng gỗ mà các tăng chúng tranh giành nhau, và vị thầy sẽ phá hủy nếu họ không bênh vực được ? Dù sao chăng nữa, ở đây không đặt ra vấn đề luân lý, và trong tinh thần Thiền, sự bám chặt vào luân lý cũng là một trở ngại trên con đường kiến tánh.

Ở đây các học trò cũng ở trong thế không thể lựa chọn được, nếu có ai lên tiếng đòi lại con mèo thuộc phía mình, hoặc van xin tha chết cho con mèo, thì cũng là sai lầm; không lên tiếng thì đưa tới kết quả như chúng ta đã thấy.

Trong công án này, chúng ta phải thấy rằng cử chỉ hài hước và kỳ quặc của Triệu Châu, thật ra là một cách tránh đỡ cực kỳ khôn khéo, tài tình, như một chiêu kiếm, gạt phăng chiêu tấn công của vị thầy:

Câu hỏi đã vô lý, thì câu trả lời phải vô lý;

Câu hỏi có hành động điên khùng, thì phản ứng cũng điên khùng.

Qua cử chỉ của mình, Triệu Châuđã chứng tỏ rằng hành động chém mèo cũng vô lý và điên khùng không kém gì hành động cởi dép và để lên đầu mà đi.

Vị thầy đã công nhận chịu thua, và con mèo đáng lẽ ra đã được cứu sống…

Câu trả lời kỳ quặc: một sự nhắc nhở trở về hiện tại. Câu hỏi điên, câu trả lời điên, một sự nhắc nhở đúng thời điểm nhất.

          Trong nhiều câu truyện Thiền, những câu trả lời của các vị Thầy có vẻ kỳ quặc, không đâu vào đâu, vô nghĩa hoặc hoàn toàn xa lạ với câu hỏi.

Ví dụ:Ba cân gai của Động Sơn” 

 Một vị tăng hỏi Hòa thượng Động Sơn: ‘Phật là gì ?

Trả lời: Ba cân gai. 

Câu chuyện: “Cây bách trước sân”

Một vị tăng hỏi Triệu Châu: Thế nào là ý Tổ sư từ phương Tây sang?

Trả lời: Cây bách ở trước sân.

Câu Chuyện:  “Xa lìa khỏi ngôn ngữ” 

Một vị tăng hỏi Phong Huyệt:

“Nói hay im đều là vụn vặt, làm sao hiểu mà không mắc?”

Trả lời: Nhớ mãi Giang Nam vào tháng ba, chim chá cô hót giữa trăm hoa thơm’. Đây là bài thơ của Đỗ Phủ:

“Trường ức Giang Nam tam nguyệt lý,

Chá cô đề xứ bách hoa hương”

Thơ dịch:

“Giang Nam nhớ mãi ngày xuân ấm,

muôn hoa lừng tiếng chá cô kêu”.

Trả lời: mượn câu thơ của Đỗ Phủ. Mượn theo ý thơ để trả lời câu hỏi, đây chính là điều hiểu mà không mắc.

Cho phép vượt qua khỏi lời nói và sự im lặng, và cũng một phần nào làm lắng đọng được sự lo lắng của vị tăng khách, qua không khí tĩnh lặng, an lành mang lại bởi câu thơ.  

Các câu trả lời của các vị Thiền sư, dù có vẻ kỳ quặc, vô nghĩa thế nào chăng nữa, cũng không phải được lựa chọn một cách ngẫu nhiên. Chúng nhằm chứng minh cho người nghe là không thể trả lời một cách lô gích “logic”

Một lời giải hợp lý, chỉ trói buộc vào vòng luẩn quẩn của khái niệm và ngôn ngữ, đồng thời kéo trở lại hiện tại là cái có thể đạt được tức thì, một sự hiện hữu thực tại không thể trối bỏ.

Như cây bách nhìn thấy trước sân, hoặc ba cân gai mà vị Thầy vừa nói tới, hoặc bài thơ mà ngài vừa nhớ lại.

Thêm một câu chuyện dẫn chứng, hãy trở lại hiện tại, sống trọn vẹn mỗi lúc ,mỗi giây.

Câu chuyện: Triệu Châu rửa bát

          Một vị tăng hỏi Triệu Châu:

Tôi mới vào chùa (Tùng lâm), xin ngài chỉ dậy cho.

          Ông ăn cháo chưa?’ Châu hỏi.

Ăn cháo rồi. Tăng trả lời.

Đi rửa bát đi. Châu nói.

Vị tăng liền tỉnh ngộ

Một câu truyện tương tự tả lại sự gặp gỡ giữa Triệu Châu và Lâm Tế. 

Lâm Tế lúc đó đang rửa chân.

Ý nghĩa của Tổ sư đến từ phương Tây là gì ?’ Triệu Châu hỏi.

Ông thấy đó, tôi đang rửa chân. Lâm Tế trả lời.

Triệu Châu tiến tới gần, tỏ vẻ lắng tai nghe.

Tôi phải đổ cho ông một gáo nước dơ thứ hai mới được, Lâm Tế nói.

Triệu Châu nghe vậy, bỏ đi.  

Như vậy, tất cả các vị Thiền sư không ngừng nhắc nhở cho học trò trở lại hiện tại, sống trọn vẹn mỗi lúc, giữ niệm (pali sati, sanskrit smrti, Nhật nen)

Điều đó có nghĩ là “tâm trong hiện tại”.

Đó chính là giữ chánh niệm (pali samma-sati), thuộc về Tám Chánh Đạo được dậy bởi đức Phật Thích Ca.

Đối với người hành Thiền, không có gì không phải là Thiền. Không chỉ riêng cuộn gai, cây bách, bát cháo, nước rửa chân, mà ngay cả mọi sự vật trên thế giới này, núi, sông, đất, ánh mặt trời, tất cả những gì tâm nhận thức được là Thiền.

Tâm bình thường là đạo

Bình thường là đạo(Bình thường tâm thị đạo)

Triệu Châu hỏi Nam Tuyền:

          Thế nào là đạo?          

Tâm bình thường là đạo, Tuyền đáp.  

Có thể tìm đến không? Châu hỏi

Tìm đến tức là sai, Tuyền nói

Không tìm đến, làm sao biết là đạo?’Châu hỏi

Đạo không thuộc biết hay không biết. Biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu đạt được đạo bất nghi, lúc đó như thái hư, trống không rỗng tuếch, há có thể nói được phải trái sao?’

Châu nghe vậy liền đốn ngộ.

Vô Môn làm bài kệ tụng sau đây:

“Xuân có trăm hoa, thu có trăng,

Hạ về gió mát, tuyết đông giăng.

Ví lòng thanh thản không lo nghĩ,

Ấy chốn trần gian buổi đẹp trời”. 

Không có gì có vẻ đơn giản hơn là « tâm bình thường », giản dị, tự nhiên, thanh thản. Tuy nhiên điều đó không phải là dễ, bởi vì tâm lý con người thường hay phức tạp, cho nên phải có một sự cố gắng thực hành liên tục để làm cho nó trở thành « bình thường ».

Đồng thời cũng không nên tìm kiếm nó, tại vì tìm kiếm nó, như lời của Nam Tuyền, là chất chứa thêm những ý nghĩ không cần thiết, tức là đã đi sai đường.

Đó cũng là lời dậy của vua Trần Nhân Tông, vị tổ sáng lập ra phái Thiền Việt Nam Trúc Lâm Yên Tử, trong một bài thơ dài kết thúc bằng bốn câu :

          Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc xan hề, thốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. 

Dịch:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

Đói thì ăn đã, mệt ngủ liền.

Trong nhà của báu, thôi tìm kiếm,

Truớc cảnh vô tâm, chớ hỏi Thiền.

Một trong những thói quen cố hữu của con người là chấp chặt vào vẻ ngoài và những đức tính tưởng tượng của một số nhân vật, nhất là những vị mà họ kính trọng nhất.

Câu chuyện: “Que cứt khô của Vân Môn”

Một vị tăng hỏi Vân Môn :

Thế nào là Phật ?’ 

Que cứt khô. Vân Môn trả lời. 

Câu trả lời, dưới mắt một tín đồ tôn giáo thuần thục, thì đó là một sự phỉ báng, xúc phạm nặng nề đối với bề trên.Dưới mắt một Phật tử chính thống thuần thành, thì đó là một câu trả lời thô lỗ, tục tằn, bất kính.

Nhưng trong Thiền,người ta gặp không ít những lời lẽ kỳ cục, gây sửng sốt như: “Đừng có nằm mơ lớn tiếng như vậy!” hay “Hãy súc miệng đi, nói thối quá” hay “Cho ta chút nước để ta rửa tai”. Có rất nhiều những câu nói nghe không chịu nổi.

Thật ra, ở đây cũng vậy, câu trả lời tự nó không có ý nghĩa gì. Nó chỉ nhằm lay chuyển người trước mặt, bằng cách đập tan những định kiến của người đó.

Khi vị tăng đặt ra câu hỏi, chắc hẳn trong đầu ông Tăng, đã có hình ảnh của một vị Phật toàn bích, tinh khiết, thiêng liêng,v.v., thật ra là một vị Phật tưởng tượng, giả mạo mà Vân Môn muốn lật tẩy, muốn phá hủy, bằng cách gọi nó là một “que cứt khô”. Đó chính là ý nghĩa của câu ”gặp Phật giết Phật”, giết cái hình tượng Phật giả mạo mà chúng ta đã tạo nên trong đầu óc và tin là có thật.

          Cuộc đối thoại này cũng gợi lên một câu truyện về Tuệ Trung Thượng Sĩ, là thầy của vua Trần Nhân Tông:

Một vị tăng hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ :

Thế nào là thanh tịnh Pháp thân ?’

Ra vào trong bãi cứt trâu, nghiền ngẫm trong vũng đái ngựa. Trung trả lời.

Thoạt nghe thì có vẻ thô tục, lỗ mãng, nhưng thật ra đối với người đã thấy rõ bản lai diện mục của mình, thì đái, ỉa cũng bình thường và tự nhiên như ăn, uống, và một cục phân trâu cũng không dơ bẩn hay trong sạch hơn một đóa hoa sen. Trong sạch hay dơ bẩn chỉ là những sản phẩm của sự phân biệt trí thức, là những ảo tưởng gây nên bởi tâm lý con người.

Cũng như lời dậy của Lục tổ Huệ Năng:

“Khi trân quí khái niệm thanh tịnh và dính mắc vào nó, ta sẽ chuyển đổi thanh tịnh thành sai lầm. Sự thanh tịnh không có hình tướng, và khi ta đã ấn định một hình thức thể hiện sự thanh tịnh, thì ta đã đi ngược lại bản tánh của mình, và trở thành nô lệ của sự thanh tịnh.”

Vài thế hệ sau, Hoàng Bá Hi Vận cũng tuyên bố : 

“Nếu ta nhìn đức Phật dưới vẻ thanh tịnh, giác ngộ và hoàn toàn giải thoát, và chúng sanh dưới vẻ ô nhiễm, vô minh và ngụp lặn trong luân hồi, thì ta sẽ không bao giờ tuệ giác, mặc dù sau vô số kiếp. Đó là tại chúng ta chấp chặt vào vẻ ngoài, vào hình tướng”.

Rốt cục, khi tìm lại nguồn gốc, chúng ta thấy rằng Kinh Kim Cương, là một trong những bài kinh căn bản của Thiền, dã dậy cho chúng ta nên coi chừng vẻ ngoài của sự vật và nên lìa xa nó : 

“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng

“Tất cả những gì có hình tướng đều là hư vọng”.

Chúng ta cũng thấy trong Kinh sự cảnh cáo không nên dính mắc vào những hình tượng cũng như những kinh kệ hướng về đức Phật : 

“Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”

Nếu lấy hình sắc để tìm ta, lấy âm thanh để cầu ta, thì người ấy theo tà đạo, không thể thấy được Như Lai. Và dĩ nhiên, trong Kinh có một câu nổi tiếng đã gây nên đại ngộ nơi Huệ Năng và vua Trần Thái Tông: 

Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.

Không nên để tâm dính mắc vào ở một nơi nào.

Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều đại nhà Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Ngài đã để lại 43 công án Thiền, để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia.

43 công án thiền do Thiền Sư Thích Nhất Hạnh dịch thuật. (tôi không trích dẫn vì quá dài)

Thiền ngữ của các bậc giải thoát nói ra như mây bay, như gió thổi, như sấm sét, như mưa rào, chợt đến, chợt đi, thoắt biến, thoắt hiện, không từ một gốc gác, một trụ xứ nào, khiến không một mảy may suy tưởng, tri thức có thể nắm bắt, nương vịn. Tuỳ căn cơ, trí tuệ, và đặc biệt là phước duyên sâu dày của từng người cầu đạo đối với pháp môn này, mà ngay trong chỗ biến hóa khôn lường của từng lời vượt thoát kia vừa chợt lìa miệng vị Tổ, thiền ngữ tự có công năng kỳ đặc, nhiệm mầu, kích thích sự khai mở tuệ nhãn một cách tích cực, hiệu quả tức thì.

Đó là thứ ngôn ngữ, hành động xuất phát từ cảnh giới tự chứng, vượt tri kiến, lìa đối đãi nhơn quả, có công năng vừa chặn lấp, đánh đổ, triệt tiêu toàn bộ mọi ngóch ngách có thể nghĩ ngợi, suy lường bằng thế trí của người đối diện, vừa kích thích sự phát huy mạnh mẽ tiềm năng trực giác, vừa cùng lúc biết khai mở lối thoát đúng thời điểm cho trực giác phóng xuất, ngay đó tánh thấy biết bổn lai bùng vỡ, cũng là hốt nhiên ngộ nhập bản thể.

Công án là một công cụ cao cấp, không có sức mạnh siêu nhiên ẩn tàng nào nhưng lại có thể giúp hành giả giác ngộ khi thực hành đúng đắn. Thiền sư Genki gọi chúng là ‘cách mở nắp lon’ cho Tâm của bạn.

Công án chỉ nên được dùng sau khi bạn đã vào được chánh định. Chánh định là trạng thái của tâm khi tất cả ý niệm, suy nghĩ, cảm thọ, phán đoán, đã im bặt, và tâm đã trở nên sáng tỏ, lặng lẽ, phản chiếu một cách tự nhiên, trôi chảy tự do trong khoảnh khắc này.

Nếu tâm bạn chưa đắc định, thì đừng tu tập gì với công án. Công án sẽ quậy lên dòng nước của tâm, và nếu tâm đang có sẵn sự hỗn loạn thì pháp tham công án sẽ chỉ làm cho mọi chuyện tệ hơn. Đó là lý do vì sao Thiền sư Genki chỉ trao cho công án trong khi vào các kỳ nhập thất Sesshins.

Công án sẽ (Không) được giải đáp. Bất kỳ đáp ứng mô tả nào: kiểu như trả lời có hay không, hay kiểu như cái này, như cái kia, đều sẽ bị bác bỏ. Thường thường, công án không cần gì tới lời nói ngôn ngữ. Một vài cử chỉ đột khởi cũng là đủ rồi. Công án không được trả lời, nhưng được giải quyết.

Để tham một công án có nghĩa là để một công án hoạt động trong bạn. Khi một mức độ chánh định đã đạt được, bạn đưa công án vào tâm.

Cách khởi công án thích hợp nhất là nêu câu hỏi một cách dịu dàng nhưng liên tục vào ý thức. Đừng mất thì giờ tìm cách hiểu công án. Hãy để nó đưa tâm của bạn xuyên qua chất vấn này, và đừng có nỗ lực nào giải đáp nó.

Bất kỳ phân tích nào cũng chỉ làm uổng phí thì giờ, và tận cùng kiểu đó chỉ cao lắm là sản xuất ra một câu trả lời kiểu Thiền giả mạo.

Công án là một khí cụ nhắm tới chỗ diễn dịch, giải thích, bắt chước hay phân tích của chúng ta mà đánh vào, và rồi, chỉ sau khi chúng ta cạn kiệt hay là buông bỏ hết mọi kiểu khảo sát, điều tra loại đó, thì một mức độ thâm sâu hơn của tham cứu mới có thể dò tới được.

Ví dụ như câu chuyện về: Tách trà

Một vị giáo sư của một trường đại học danh tiếng đến tìm gặp Thiền Sư, vì đã được nghe nói về trí tuệ cũng phẩm hạnh cao quý của ngài. Để chứng tỏ bản thân với Thiền Sư, ông ta giới thiệu một cách đầy tự hào về tất cả các danh hiệu, bằng cấp mà ông ta đã đạt được trong suốt những năm dài vất vả học tập và làm việc. Sau đó, vị giáo sư nói lí do của chuyến viếng thăm, đó là muốn tìm hiểu tất cả những trí tuệ của Thiền.

Thay vì đưa ra lời giải đáp, Thiền sư mời ông ta ngồi xuống và pha một ấm trà. Ngài rót cho giáo sư một chén trà và khi đầy chén, ngài vẫn tiếp tục rót.

Vị giáo sư nhìn nước trà tràn ra bàn cho đến khi không nhịn được nữa, bèn lên tiếng: “Trà đã đầy tràn rồi, không thêm được nữa đâu!.

Bấy giờ, Thiền sư mới thong thả đặt ấm trà xuống và nói:

Thì cũng như chén trà này, ông mang đầy những tư kiến và thành kiến. Làm sao tôi có thể chỉ cho ông về Thiền nếu ông không tự làm cạn cái chén của mình.

Câu chuyện này dạy cho chúng ta rằng: Với một tâm trí đầy những thành kiến, những suy nghĩ bảo thủ, chúng ta không thể học hỏi, tiếp thu những tri thức mới, những triết lý cao đẹp ở đời. Thể hiện một thái độ khiêm cung, dẹp bỏ sự chấp ngã là chúng ta đang tự làm cạn những chiếc chén tâm hồn của mình.

Để kết luận:

Như chúng ta đã biết, hơn bốn thập kỷ qua phong trào học Thiền, đã và đang phát triển mạnh trên toàn thế giới, nhằm đáp ứng những nhu cầu cấp bách, do môi trường sống chung quanh đang tác động, qua đó con người là nạn nhân chính do nền văn minh cơ khí vật chất hiện đại mang lại.

Chúng đã làm băng hoại tất cả mọi giá trị tinh thần, kể cả những thành tựu về vật chất do chính chúng ta đẻ ra. Từ những đòi hỏi đó, chỉ có Thiền mới đáp ứng và giải quyết một cách trực tiếp, sự điều hòa cuộc sống thế giới, trong đó con người là yếu tố cần thiết cho mọi quyết định này, do đó Thiền học hiện đang là đối tượng cần được phát triển mạnh. 

Chính vì muốn có sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa, nên Thiền đã trở thành đối tượng nhận thức tư duy cho mọi người, và cũng từ đó chúng đẻ ra không ít, những sai lầm trong phương pháp học, cũng như trong việc thực hành do chính con người tạo ra, mà cái hậu quả của chúng sẽ trở thành một tác dụng nguy hiểm, đối với chính họ và những người đi sau.

Hiện tại, Thiền đã trở thành một phong trào thời thượng, để trang điểm cho một nội dung trống rỗng, mà con người đang đổ xô chạy theo nó và, tự đánh mất chính mình.

Thiền đa và đang đi vào lãnh vực kinh tế, trở thành một loại sản phẩm mua bán, được quảng cáo rầm rộ trên các món hàng, trên các thực phẩm trên mọi nhu cầu tiêu thụ của khách hàng. Chúng ta nhận ra vô số những sản phẩm mang nhãn hiệu ZEN.

Đó là một hiện tượng suy đồi của Thiền, chứ không phải là một sự phát triển. Vì chúng đã phản bội lại truyền thống và, sự kế thừa của Thiền Tông mà chủ đích nhắm đến của nó là: 

“Trực chỉ nhơn tâm kiến tính thành Phật,

giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự.” 

Với tinh thần này thì rõ ràng những việc làm hiện tại của chúng ta, trong việc cố gắng đại chúng hóa Thiền tông bằng cách bàn luận, định nghĩa, phân tích Thiền như thế này, hay như thế kia qua những bộ luận dày cộm, với mục đích là để cho mọi người cùng hiểu như chúng ta; hay bày ra những trò hí luận ngoa ngôn xạo ngữ, nhằm trang điểm cho một thứ kiến thức què quặt qua cửa miệng.

Họ đâu biết rằng, việc bàn công án của họ, không những không đem đến cho mọi người một sự đạt ngộ nào về Đạo Thiền, mà ngược lại còn làm cho người ta xa lìa ngăn cách hơn.

Họ cứ tưởng rằng: Lý Thiền lý Đạo là như thế này hay như thế kia, rồi an tâm cho rằng mình đã đạt Đạo, đã đạt Thiền. Từ đó, chấp vào khái niệm ngôn từ qua lời bàn của chúng ta, cho đó là Đạo là Thiền, thế là muôn kiếp ngàn đời, họ bị chết chìm trong mớ khái niệm ngôn từ đó, làm sao thoát ra được?

Cho dù chúng ta nỗ lực giảng giải phân tích đến chỗ kỳ cùng của nó, và khiến cho mọi người hiểu được, thấy được đi chăng nữa, thì cái hiểu và cái thấy này, vẫn là cái hiểu cái thấy về một khái niệm biểu hiện cho một thực tại, mà chúng ta chưa được thấy như thực chính nó.

Do đó, cái hiểu và cái thấy này, vẫn ở trong vọng thức điên đảo phân biệt. Còn tự nó, lý Thiền lý Đạo vẫn ở ngoài tầm tay và ngoài trí phân biệt của chúng ta.

Tôi xin mượn câu nói của triết gia Osho để kết thúc cho bài biên khảo này.

 “Thiền định không hề là một dạng của sự tư duy có tính tâm linh mà là một tình trạng vắng bặt tư duy. Mọi triết lý để cố định nghĩa về thiền định, có thể ví như những lời to tiếng bàn luận về sự lặng yên, còn thiền định là bản thân chính là sự lặng yên.” Đó chính là nguồn tư tưởng của triết gia OSHO.

Và tôi cũng xin kết thúc bài viết rất mênh mông bao la như biển cả, không biết đâu là bến bờ. Với ngôn ngữ thông thường làm sao có đủ nghĩa để giái thích hết mọi sự.

Thôi thì xin mượn bài thơ (Hồn Mê) mang chút tâm ý Thiền do tôi viết để kết thúc bài biên khảo này. Nếu có điều gì thiếu xót, hay sai trái. Rất mong quý đọc giả lượng tình tha thứ.

Chỉ là một chút lòng thiền, ghi lại những gì đã sưu tầm, biên khảo, với mục đích thâu tóm lại cho ngắn gọn, giúp người đọc dễ nhận biết, để từ đó tìm hiểu thêm, đi sâu vào những Công Án Thiền, nhầm khai mở trí tuệ.

Hồn Mê

Mê đắm khi tâm ma trú ngụ                

Bình an, là khi Thiền lên ngôi

Tham sân si tất cả tan biến

Tâm ý bừng lên sáng đạo trời.

Đừng cho tà kiến, vào suy nghĩ

Ma tâm đè nén dòng tư duy

Toạ thiền, xa lánh ba điều ấy

Cảm hóa hồn ta ngay tức thì.

Nhân sinh vốn tánh, tâm lương thiện

Trong như gương chiếu sáng lòng thiền

Hoá thân chánh kiến từ tâm đạo

Nhập thể, đi về trong cõi tiên.

Trân Trọng

Louis Tuấn Lê

San Jose October 13, 21

Ghi chú:

Biên khảo theo nhiều nguồn tư liệu tìm kiếm trên Google Search.




Giao Chỉ đọc hồi ký Kiều Chinh

Người đi tìm quá khứ

Giao Chỉ đọc hồi ký Kiều Chinh

lf.jpg

Kiều Chinh by Kiều Chinh                                                                                     

(Đoạn mở đầu viết lúc chưa đọc sách, đoạn sau viết sau khi đọc sách)              

Nhà xuất bản nổi tiếng của Hoa Kỳ Barnes and Noble vừa phát hành cuốn hồi ký 500 trang của Kiều Chinh. Giới văn chương Mỹ gọi cô là nghệ sĩ lưu vong. Tra cứu trên Internet chúng ta thấy bản văn Anh ngữ nhà Barnes khen ngợi tác giả. Bản văn Việt Ngữ khen ngợi cô Kiều Chinh do nữ đại úy Phan của quân lực Mỹ viết. Cuốn hồi ký đặc biệt này đã ghi bán 30 đồng giấy thường và sách bìa cứng giá 40 đồng. Đại úy Phan là nữ quân nhân trẻ hiếm có đọc được cuốn hồi ký tiếng Việt đã ước mong rằng sẽ có phiên bản Anh Ngữ sớm phát hành.

Trong cộng đồng Việt Nam cũng đã có khá nhiều hồi ký chính trị của các nhà lãnh đạo và các nhân vật nổi tiếng trong trường văn trận bút. Nhưng rất hiếm những cây bút nữ lưu Việt Nam viết hồi ký văn nghệ. Trong giới điện ảnh thì chỉ có riêng Kiều Chinh. Đã có nhiều tác giả viết về con người thường được coi là đệ nhất minh tinh của màn ảnh miền Nam Việt Nam từ sau cuộc di cư 1954. Bây giờ đến lượt Kiều Chinh viết về mình. Xem ra có phần muộn màng. Một số lớn khán giả của cô không còn nữa. Chẳng còn Mai Thảo để điểm sách hay Nguyên Sa để đọc thơ. Ngay như bạn ta Bùi Bảo Trúc cũng chờ đợi mãi không được, đành bỏ đi. Đặc biệt các danh tài văn nghệ nữ giới dù cao niên bao nhiêu các khán giả muôn đời vẫn thấy còn trẻ mãi nên suốt đời luôn gọi là cô. Cô Thái Thanh. Cô Thanh Nga. Cô Kiều Chinh. Dù cô còn đó hay cô đã đi xa. Tiếc thay các cô đi xa mà chẳng để lại Hồi Ký. May thay cô Kiều Chinh chưa vội đi xa và còn để lại hồi ký. Tác giả mới gọi cho chúng tôi nói là sách đã có rồi. 500 trang bìa cứng thì dù nội dung ra sao quả thực cũng là một tác phẩm nặng ký đấy. Hỏi rằng sách có nói gì đến ông Trump hay Biden không. Không có đâu. Nếu vậy sách này hiền. Có nói đến trận Covid 19 không? Không có. Nếu vậy sách này lành mạnh. Sách đã chích đủ 2 kỳ. Nếu vậy Hồi Ký này khỏe mạnh đấy. Có thể đọc mà không phải đeo khẩu trang. Anh Giao Chỉ sẽ order nhà Barnes để xem Kieu Chinh By Kieu Chinh ra sao. Như vậy sách sẽ không có chữ ký. Bèn đi máy bay xuống nhận sách có chữ ký của tác giả. Tò mò xem cô Kiều Chinh viết về cô ra sao

Một cuộc đời nên quay thành phim: 

Sau cùng tôi đã đọc hết 500 trang sách. Dù đã quen biết đôi chút với đệ nhất minh tinh Việt Nam, và đọc khá nhiều sách và tài liệu viết về Kiều Chinh nhưng phải đọc hồi ký này mới thực sự biết rõ về cuộc đời của cô kiều nữ Nguyễn Thị Chinh. Quả thực không thể thuật sự tóm tắt về cả cuộc đời, nhưng có thể ghi lại những nhận xét để giúp cho quý độc giả muốn biết tin tức. Kiều Chinh không phải là nhà văn. Không phải là cây viết chuyên nghiệp nên tác phẩm đã có người biên tập. Một nhà thơ làm công việc này và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chúng ta có thể hiểu rằng KC đã ghi chép và ngồi kể lại cuộc đời để người chấp bút viết lại. Một tác phẩm công phu với rất nhiều chi tiết, đầy đủ hình ảnh và những tình tiết éo le hấp dẫn từng phân đoạn. Tôi nghĩ rằng tác phẩm nên ghi tên nhà thơ chấp bút. Các hồi ký danh tiếng của thế giới đều có tên người biên tập. Mai này nếu có ai nghĩ rằng nên quay cuộc đời KC thành phim thì diễn tiến của tác phẩm hết sức đầy đủ và phong phú. Bao gồm cả bi kịch và rất nhiều giây phút vinh quang hào hứng.

Những lần tuyên dương và những giải thưởng.

Kiều Chinh trong suốt cuộc đời đã được gặp biết bao nhiêu danh nhân thế giới. Được nhận sự khen ngợi và tưởng thưởng của rất nhiều lãnh vực và trong nhiều hoàn cảnh. Các vị nguyên thủ quốc gia, các tỷ phú giám đốc công ty thương mại và điện ảnh. Các vị lãnh đạo tôn giáo. Nhưng nếu độc giả lưu ý sẽ thấy trường hợp vô cùng đặc biệt là trước giây phút lâm chung cô dâu Nguyễn Thị Chinh đã được sự khen thưởng của bà mẹ chồng khó tính. Con Chinh đâu rồi, lại đây để mẹ cảm ơn. Không lời khen ngợi nào giá trị hơn. Một tuyên dương đặc biệt khác là giây phút KC cùng với các cựu quân nhân Mỹ tại VN khánh thành trường tiểu học cho trẻ em nghèo làng Mọc là làng quê của thân phụ. Không có ai trao giải hay tuyên dương người tài tử danh tiếng trở về trả nợ quê hương. Nhưng chính hoạt động nhân đạo này đã đem lại oan khiên chính trị khi cô bị lên án theo cộng sản và chịu nhục nhã bị đuổi xuống tại diễn đàn Bolsa khi lên giới thiệu thượng nghị sĩ McCain

Những chuyến bay và những giây phút trên mây. 

Trong suốt cuộc đời KC là người đi mây về gió nhiều nhất. Hàng trăm chuyến bay. Nếu không phải là bạn bè của các tỷ phú thượng hạng làm sao có cơ hội nằm ngủ trên giường bay trên phản lực tư nhân bay về Việt Nam khi đi công tác việc thiện. Ai được mời bữa ăn tối giữa đại đô thị Hoa Kỳ đưa rước bằng trực thăng từ nóc nhà cao ốc này đến nóc nhà cao ốc khác. Cùng với biết bao nhiêu chuyến đi từ phi trường này đến phi trường khác có người đưa đón hay chỉ một mình lẻ bóng. Phải kể thêm cả những chuyến bay vô định vào những ngày vô tổ quốc sau 30 tháng tư 1975.

Bi kịch của đời người nổi tiếng.

Tác phẩm dành rất nhiều trang để nhắc lại bi kịch đau thương của bà mẹ với người con trai trong tai nạn. Không phải chỉ vì tình thương mà gồm cả lòng can đảm khi đòi hỏi chứng kiến các chuyên viên trực tiếp cứu chữa bệnh nhân. Thêm một chương khác đã viết về niềm thất vọng cùng cực khi KC đã quyết định tự vẫn. Những đoạn đời này tuy là thảm kịch nhưng cũng đã vô tình đem lại quân bình cho một tác phẩm không phải tất cả đều là khải hoàn ca.

Bốn nhân vật trong một cuộc đời.  

Sinh ra trong một gia đình giàu có, nhưng bất hạnh trở thành mồ côi mẹ lúc niên thiếu và xa rời người cha thân yêu lúc trưởng thành. KC trong suốt cuộc đời đã đóng vai một người vợ bị bỏ rơi, một bà mẹ đơn thân. Nhưng đờingười đàn bà bị tình phụ lại trở thành cơ hội của định mệnh. Ai đứa con sáo sang sông. Con sáo sổ lồng, con sáo bay xa. Là một tài tử duy nhất của VN đóng hàng trăm phim danh tiếng từ trong nước đến hải ngoại. Trong tất cả các bộ phim đều là hình ảnh của thế giới tự do. Vai trò thứ ba gần như là diễn giả Anh ngữ duy nhất của Việt Nam đi nói chuyện chuyên nghiệp có khế ước thù lao. Hàng trăm lần thuyết giảng đều là các đề tài văn hóa xã hội ca ngợi nhân quyền và quyền bình đẳng của phụ nữ. Sau cùng KC cũng là nhân vật đi làm việc thiện tình nguyện cùng các tổ chức bất vụ lợi Hoa Kỳ hướng về quê hương Việt Nam. Trải qua bao năm chinh chiến người chiến binh Hoa Kỳ và Việt Nam đã chiến đấu bên nhau. Ngày nay cựu quân nhân Mỹ trở lại Việt Nam trên cả 3 miền đất nước qua sứ mạng hòa bình xây trường cho con trẻ. Kiều Chinh là phụ nữ duy nhất miền Nam nhập cuộc. Cô tham dự cuộc chiến tranh chính trị bên cạnh các chiến binh Hoa Kỳ. Cả 4 vai trò đều vượt qua điểm trung bình đến gần hoàn thiện. Điều đáng ghi nhận là trong vai trò làm vợ, làm dâu và làm mẹ Việt Nam, cô bé di cư Bắc Kỳ 16 tuổi đã làm tròn bổn phận. Suốt cuộc đời tài tử, diễn giả và xã hội người mẹ đơn thân không bị lôi cuốn vào những chuyện ái tình tục lụy tuy rằng đã gặp nhiều cơ hội. Nhiều chuyến đi huy hoàng trong những vai quan trọng, tác giả đã dành 1 chương viết về chuyến đi của một phật tử cô đơn, lôi thôi, lếch thếch kéo theo hành trang tìm về nước Phật.

Đặc điểm của hồi ký. 

Đây là cuốn sách mà tác giả tự mình đi tìm lại quá khứ. Sự xuất sắc của một con người không hề được trang bị đầy đủ khi bước vào đời. Tác giả không phải là người có trình độ đại học. Không qua một lớp huấn luyện về kịch nghệ. Khởi sự từ nghịch cảnh, xa cách anh chị và người cha ngay từ tuổi thơ trong hoàn cảnh di cư đất nước chia đôi. Với thân hình cao và thon thả, cô gái trở thành thiếu phụ đi đóng phim và quen biết với giới văn nghệ và lấy trường đời làm lớp học. Người phụ nữ lễ giáo không buông thả đã sống trong tinh thần tự lập và đạo đức để đạt được thành công. Khéo léo trong giao tế, có thiên phú về diễn xuất và Anh ngữ nên đã sớm trở thành một phụ nữ kiểu mẫu và điển hình trong chiến tranh cũng như sau này ở thời hậu chiến. Nhưng cũng phải ghi thêm rằng nàng là người có nhiều tham vọng và nắm bắt được cơ hội qua tình bằng hữu.

 Hoa Kỳ là miền đất của cơ hội. 

KC với sự giao thiệp tinh tế và khôn ngoan nên có rất nhiều bạn bè ở mọi nơi và mọi quốc tịch. Đã gặp nhiều cơ hội giúp cô vượt qua nghịch cảnh. Duy có một điều là người nổi tiếng KC dù có bao nhiêu bạn bè nhưng sau cùng cũng vẫn rất cô đơn. Bao nhiêu người thân được chia xẻ những giây phút vinh quang hay những ngày thăng hoa trong điện ảnh. Ai chứng kiến trong những lần diễn giả nói chuyện với 3 ngàn khán giả đứng lên vỗ tay. Niềm vui này ai là người để chia xẻ. Làm sao người nổi tiếng đã có được những giai đoạn sống đặc biệt như thế. Phải chăng vì cuộc sống riêng tư gia đình không hạnh phúc. Ai đưa lối, ai dẫn đường để tìm những lối đoạn trường mà đi. Phải chăng chính cuộc chiến tranh Việt Nam đã đưa thiên hạ tìm đến một phụ nữ Việt Nam được chọn làm tài tử toàn thời gian lâu dài đến thế. Người nổi tiếng cô đơn trong những chuyện đi về và trong cả những giấc ngủ đợi chờ trình diễn từ những chân trời xa lạ. 

Sau cùng tác giả nào cũng phải về già. Nàng đã cố xây dựng một CÕI TÔI cho tuổi hoàng hôn, nhưng rồi phải thay đổi xuống cấp đến 5 lần. Cõi riêng cứ nhỏ dần. Rồi cũng như mọi người, cõi riêng khi thành cát bụi thì cũng sẽ như chúng ta. Trong lòng đất ai cũng sẽ có ngôi nhà một phòng ngủ cho giấc ngàn thu nhỏ bé. Không cần phóng tắm. Chẳng bận tâm nóng lạnh hay điện nước. Nhưng hơn mọi người nàng để lại một hồi ký 500 trang kể rằng đã có lần buồn muốn chết nhưng rồi phải sống lại để gửi đến bằng hữu. Ra mắt sách để tìm lại chính mình.

Tháng qua, tôi xuống quận Cam gặp một bà già thanh tú ngoài 80 mà sao còn khỏe mạnh, gương mặt quen thuộc lái xe nhanh nhẹn. Ai mà trông như Kiều Chinh sao còn trẻ vậy. Tôi nhận được sách tặng có chữ ký . Xin cảm ơn bằng bài viết chân tình. 

Năm 1954 có anh thiếu úy rất trẻ dẫn lính đi làm phu khuân vác đón di cư. Ngày chẵn công tác ở bến tàu, ngày lẻ ở phi trường. Có nhiều cô gái Hà Nội ngu ngơ tròn mắt ngắm cảnh Sài Gòn. Trong số này có cả cô bé Nguyễn thi Chinh 16 tuổi.

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393




Mưa Tạnh Nỗi Nhớ

CAO MỴ NHÂN 

Cơn mưa mới đến, hay cơn mưa vừa tạnh, đều khiến những nghệ sĩ sáng tác bâng khuâng…

Tại sao lại có trạng thái tâm hồn như vậy nhỉ ? 

Nghệ sĩ sáng tác, nghệ sĩ trình diễn, hay tất cả mọi người trong chúng ta đều vấn vương trong đầu óc thứ cảm giác mau chóng, ngắn ngủi, khi cơn mưa sắp đến, hay cơn mưa vừa tạnh,  là vì ngay lúc đó, sắp đón nhận một quang cảnh khác .

” Lòng như mưa tạnh nhớ lưng chừng…”

( Đàn thu, tay ngọc – Đinh Hùng – Thục Vũ ) 

Nhạc sĩ  Thục Vũ, có cuộc sống nội tâm hào sảng nhưng ôn hoà, ông tên thật là Vũ Văn Sâm ( 1932 – 1976 ) nguyên trung tá QL/VNCH, đơn vị sau cùng là Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị / Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức . 

Bài thơ đẹp như ngà ngọc của Thi sĩ Đinh Hùng ( 1920- 1967) 

đã được nhạc sĩ phổ nhạc nguyên tác, không thay đổi hình thức thơ, chứng tỏ nhạc sĩ Thục Vũ dấu trong lòng một tâm hồn thi sĩ . 

Hôm nay tôi xin giới thiệu với quý vị cái trạng thái lưng chừng trong nỗi nhớ thiết tha của nhạc sĩ gốc võ quan. 

Bạn đọc có thể hình dung được một tráng sĩ thời xưa, hay một chiến sĩ nói theo thời nay, chính xác hơn là thời VNCH. 

Cái nỗi nhớ ngập ngừng, bâng khuâng, sau cơn mưa vừa tạnh.

Hình như làm chưa xong…một bài thơ, một khuôn nhạc …chẳng hạn, mà vì công chuyện trước mặt, hay là bổn phận phải gấp rút lên đường để thi hành công tác, thí dụ thế . 

Trung tá Vũ Văn Sâm với nhân dáng và tâm tư tình cảm hết sức huynh đệ chi binh. Ông cũng giống như quý huynh đệ chi binh là sống hết mình cho gia đình, quân đội, tổ quốc. 

Huynh đệ chi binh dù ở cấp bậc nào, binh chủng nào, cũng không quên ” Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm” , huống chi những chữ đó là tinh thần trường hiệu của Quân Trường Võ Khoa Thủ Đức, những hình ảnh đã đi vào cuộc đời binh nghiệp của ông, trung tá Vũ Văn Sâm, tức nhạc sĩ Thục Vũ, thì làm sao có thể ung dung ngồi chờ mưa dứt hẳn, nắng khô đường trường đang ướt át chứ. 

” Bốn dây tuyệt vọng đau hàng phím 

   Hoa dịu làn môi nghẹn khúc ca…” 

            ( Đinh Hùng  – Thục Vũ ) 

Cơn mưa đã tạnh, nên không thể như Thúc Sinh ngồi thầm lặng nghe Thuý Kiều đàn hát khúc đoạn trường, xuất thần đến nỗi :

Bốn dây như khóc như than

Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng

Cũng trong một tiếng tơ đồng

Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm 

   ( Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du ) 

trước mặt chánh thất  Hoạn Thư được . 

Vốn ôn hoà, mã thượng, vị quan 5 đã mang phong cách cây tùng che chở cho một khóm hoa mong manh trên thềm nắng, cuộc tình cũng lưng chừng như cơn mưa vừa tạnh,  khách tình quân trở về gia trang uống rượu bồ đào . 

Ở đó người khuê phụ mở tiệc mừng xuân thắm, để: 

” Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc

   Hối giao phu tế mịch phong hầu  ” 

      ( Khuê Oán – Vương Xương Linh ) 

Nhạc sĩ Thục Vũ – Vũ Văn Sâm đâu cần phải sa trường lập công danh nữa, ông đã có sẵn công hầu “Trung tá QL/ VNCH” rồi, phu nhân ông chỉ nhắc ông vui xuân đừng quên nhiệm vụ đó thôi . 

Ngày tôi hạnh ngộ người khuê phụ nêu trên, là khi nhạc sĩ trung tá Vũ Văn Sâm đã thất lộc ở trại tù nơi rừng thiêng nước độc ngoài Bắc rồi. 

Bấy giờ tôi cũng vừa từ nông trường hậu tù cải tạo về. 

Phu nhân trung tá Vũ Văn Sâm ghé chơi nhà chị ruột tôi ở khu nhà thờ Ba Chuông Phú Nhuận. 

Bà tới với nhã ý là xin phép cho con gái đầu lòng của tôi ra đi vượt biên với gia đình bà, đồng thời gặp người con trai thứ nhất của bà đang ” tị nạn ” ở cùng khu nhà thờ vừa nêu. 

Con gái đầu lòng của tôi là bạn học với con trai thứ hai của bà, bà muốn giúp tôi cho một cháu vượt biên, để đỡ gánh nặng gia đình đang bức bách, vì chế độ cộng sản bần cùng hoá nhân dân miền nam sau cuộc đổi đời. 

Ngay buổi gặp gỡ sơ giao, nhưng vì gốc gác chúng tôi là các gia đình quân nhân chế độ cũ, nên thân nhau ngay, biết tôi làm thơ, bà hỏi thăm liền: 

” Chị làm thơ thì chắc biết Lệ Khánh chứ ? ” 

Tôi chưa kịp trả lời, bà tiếp luôn: 

” Cô ấy làm thơ nói : Em là con gái trời bắt xấu, đó ” 

Tôi ngắm phu nhân nhạc sĩ Thục Vũ, Trung tá Vũ Văn Sâm, bà đẹp một cách trang trọng, bình bệ, kẻ cả, thật là quý phái, tôi bật cười : 

Chị à, em có nghe nhà thơ Lệ Khánh viết ” trời bắt xấu ” gì đó, nhưng không quen. 

Phu nhân Trung tá Vũ Văn Sâm cười mỉm: 

” Ông Sâm nhà này là ưa cô ấy đấy ” 

Tôi lặng thinh, vì mình cũng lỡ làm thơ, nên không biết nói thế nào cho đẹp ý người khuê phụ đảm đang, linh hoạt mà rất cao sang đẹp đẽ kia nữa. 

Đúng như ” Sơ yếu lý lịch ” của vị quan 5 hào hoa nhưng đằm thắm, ông bà có 5 cháu: cô chị đầu đã vượt biên tới Canada, 

4 cậu em trai thì cũng ra biển nhiều lần, nhưng còn kẹt lại. 

Bà Vũ Văn Sâm có một sạp hàng trong chợ Bà Chiểu, gần nhà, cũng trong khuôn viên chợ Bà Chiểu luôn. 

Phải nói bà là người vợ rất đảm đang, chững chạc của nhạc sĩ Trung tá Vũ Văn Sâm. Bà trực tiếp chăm sóc cha mẹ già và đàn con 5 cháu. Vậy mà không sơ sót một sự việc nào trong nhà. 

Đã thế, sau khi Trung tá Nhạc sĩ vô tù cải tạo, rồi mệnh chung, phu nhân ông vẫn không buông lơi một bổn phận đối với gia đình. 

Bà tiếp tục nuôi cha mẹ già và đàn con, cả khi Cộng sản xâm chiếm miền nam, bà vẫn giữ lòng tin, lần lượt cho 3 cháu lớn đi vượt biên. Song có thành công mà cũng có thất bại. 

Riêng chuyến dự trù cho cháu gái con tôi ra đi, thì cuối cùng tôi đã cám ơn nhã ý của bà, năm đó cháu học lớp 12, có ý thi lấy bằng tú tài đã, rồi tính sau. 

Chao ôi ” lòng như mưa tạnh, nhớ lưng chừng ” chỉ có ai mang tâm trạng nửa vời của nghệ sĩ, mới thông cảm những nỗi buồn không dứt khoát được lòng mình …

Nhạc sĩ Thục Vũ viết nhiều nhạc lính, có một bài ” kinh điển ” trong kho tàng văn thơ nhạc hoạ tù cải tạo, là bài 

” Anh Ở Đây ” viết chung với nhạc sĩ Trung tá Vũ Đức Nghiêm lúc mới tập trung được ít lâu ở Long Giao. 

Lời nhạc nhắn nhủ vợ con ông, nhạc sĩ Thục Vũ, thời gian trước khi ra Bắc. 

Sau đó, ông cùng bạn tù bị chuyển tới vùng núi rừng sương giá bốn mùa, trại thuộc phần đất Hoàng Liên Sơn, tôi không trực tiếp hỏi thăm phu nhân vị trung tá nhạc sĩ vốn tài hoa ấy. 

Nhưng bỗng một ngày tôi đến Minnesota, ra mắt sách năm 1996, Trung tá Mai Quỳ vốn thật xưa làm Tâm Lý Chiến  trường võ khoa Thủ Đức, vị tá 5 này bấy giờ là đại uý. Và tôi đã có thơ đăng trên đặc san Thủ Đức từ ngày đó.

Trung tá Mai Quỳ tới dự buổi sinh hoạt văn nghệ vừa nêu, đã kêu tôi rồi nói thật thiết tha: 

” Này Cao Mỵ Nhân, khi nào về thăm quê cô ở Sa Pa, tìm ghé thăm mộ Trung tá Vũ Văn Sâm, nhạc sĩ Thục Vũ đó. Tụi tôi đưa nó ra tận chân núi. Cả vạt đồi hoa ban trắng biết không ” 

Tôi lặng người đi, tôi không quên, nhưng tôi có về vùng trời mà gió hú gọi sương phủ kín núi rừng quanh năm đó đâu. 

Tới nay, tôi lại thấm câu thơ của thi sĩ Đinh Hùng mà nhạc sĩ Trung tá Vũ Văn Sâm đã phổ nhạc: 

” Lòng như mưa tạnh nhớ lưng chừng …” 

Hình như trạng thái lưng chừng đã thay cho sự bộc bạch khó nói ở đời, để thoái thác hay là giữ kín trong lòng một chuyện gì mà không hay chưa kết thúc được.

              CAO MỴ NHÂN   




Cần nên xem lại cuộc khủng hoảng tái chế plastic hiện tại

Mai Thanh Truyết
Allentown NJ – 1-10-2021




Rừng Thu




Người Giàu Ở Khắp Nơi

Kiều Mỹ Duyên

Tỷ phú, triệu phú ở Orange County nhiều lắm. Người Việt Nam tị nạn tỷ phú ở Mỹ chỉ có 9 người nhưng triệu phú thì nhiều lắm, nhiều lắm. Nơi nào có người Việt Nam tị nạn là nơi đó có triệu phú. Già cũng là triệu phú, trẻ cũng là triệu phú. Đầu tư vào địa ốc trở thành triệu phú là chuyện bình thường, từ 1 đến 5 triệu mỹ kim thì ai cũng làm được, dễ quá mà, miễn là phải chăm chỉ làm ăn, dành dụm, đầu tư sinh lợi, có ai mà không là triệu phú chứ?

         Một buổi tiếp tân của một ngân hàng vừa mới khai trương 2 tháng, chủ nhân là tỷ phú Stephen Gordon, người Do Thái, ở Newport Beach. Orange County gồm có 34 thành phố, Newport Beach là một thành phố giàu trong 6 thành phố của quận này. Buổi tiếp tân của ngân hàng Genesis, quan khách tham gia khoảng 300 người, trong đó có 10 tỷ phú: 1 tỷ phú người Mỹ gốc Việt là ông Frank Jao, còn 9 tỷ phú kia là người Mỹ đến từ Âu Châu. Tỷ phú Steve Mihaylo đã tặng cho đại học Cal State Fullerton 35 triệu để xây thêm phòng ốc cho sinh viên, và tỷ phú Frank Jao đã từng là Founder của đại học Fullgright.

         Trước khi buổi tiếp tân bắt đầu, tỷ phú Stephen Gordon tiếp chúng tôi gồm có 5 người khách: 2 vợ chồng luật sư ở Los Angeles, 3 người Việt Nam là khách. Chủ Tịch cũng là giám đốc điều hành của ngân hàng Genesis cho chúng tôi biết ông sẽ mở thêm 15 chi nhánh, Newport Beach là trụ sở chính. Tỷ phú giám đốc điều hành ngân hàng là người Mỹ, gốc Do Thái đến từ Âu Châu, tiếp chúng tôi với tư cách truyền thông được mời. Với sự tham dự của 11 người trong ban điều hành rất quan trọng, những người này có 25 năm kinh nghiệm trở lên. Trong 11 người lãnh đạo nhà băng này có một ông Mỹ hãnh diện giới thiệu vợ ông là người Việt Nam, người Đà Nẵng. Ông khen vợ ông hết mình, vợ ông hiền lành, làm thẩm mỹ, nhà ở Los Angeles. Ông đang làm ở Los Angeles mà đến Newport Beach để làm việc với tỷ phú Gordon. Những người được làm việc với nhà băng mới này phải thật giỏi, đương nhiên là lương rất cao.

         Đặc biệt nhà băng Genesis không cho mượn tiền mua nhà, chỉ cho mượn tiền mua chung cư từ 5 đơn vị trở lại, hoặc shopping center. Người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới giàu nhờ đầu tư vào bất động sản, nhà băng, Hollywood, v.v.

         Những người đầu não của nhà băng Genesis là bà Jamie Carter, phó giám đốc đặc trách về điều hành, ông Bob Bihr, phó giám đốc về định giá nhà, ông Christopher Ware đặc trách về hành chánh, ông Brian Fitxmaurice lo về tín chỉ, ông Andy Gallardo, luật sư, bà Lauren Dibiase, đặc trách về tìm khách hàng, Jenny Simmons, giám đốc điều hành, và Will Han, giám đốc tài chánh. Ngoài truyền thông Việt Nam, có nữ ký giả người Phi Luật Tân tên là Cora M. Oriel làm cho báo Asian Journal, v.v.

         Người Do Thái đi đến đâu đầu tư về nhà đất, shopping, hột xoàn. Ở New York những tòa nhà cao nhất ở Times Square chủ nhân là người Do Thái, cửa hàng hột xoàn chủ nhân cũng là người Do Thái. Họ hướng về quê hương của họ, tuy họ ít người hơn các sắc dân khác nhưng họ có quyền lực vì họ giàu, họ không làm chính trị nhưng họ ủng hộ đồng hương của họ làm chính trị hoặc người địa phương làm chính trị. Quê hương của người Do Thái không lọt vào tay kẻ thù vì có những người Do Thái lưu vong yêu thương quê hương của họ và hết lòng giúp đỡ quê hương của mình.

         Tỷ phú Stephen Gordon có rất nhiều năm kinh nghiệm trong ngành ngân hàng. Ông đã từng điều hành cho nhiều nhà băng như Opus Bank, Commercial Capital.

         Tỷ phú Frank Jao nói về tỷ phú Stephen Gordon như sau:

         – Ông Gordon có kế hoạch, có kinh nghiệm nhiều năm trong ngành ngân hàng. Tôi tin trong 3 năm nữa ông sẽ phát triển mạnh mẽ ngân hàng này.

         Tôi cũng tin như thế vì một người có 35 năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp, lại là tỷ phú, quyết tâm làm việc thì thế nào cũng thành công. Tiền sẵn trong tay, mướn người giỏi, trả lương cao thì thế nào cũng thành công theo ý muốn.

         Người Mỹ gốc Việt tham dự buổi tiếp tân này không nhiều như ông Frank Jao, Đức Nguyễn, John Dương, Peter Nguyễn, Kiệt Nguyễn (đến từ Sacramento), Như Hảo, Minh Nguyễn, Mindy, v.v.

         20 món ăn đãi khách, thức ăn Việt Nam của chủ nhà hàng là Việt Phạm, cháu nội của chủ báo Trắng Đen là ông bà Việt Định Phương. Người trẻ này rất thành công và làm việc từ thiện rất nhiều trong mùa dịch cúm này.

         Người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới, ở nơi nào họ cũng giàu, đoàn kết, yêu thương quê hương của họ. Tình báo của họ rất giỏi, tại sao người Do Thái làm ở Ngũ Giác Đài mà không có người nào chết khi bị dội bom, vì cộng đồng của họ biết trước. Cộng đồng của họ thông báo cho người Mỹ gốc Do Thái biết trước, không đi làm ngày hôm đó nên tránh thiệt mạng.

         Hiện nay người Việt Nam tị nạn khắp nơi trên thế giới, nếu chúng ta yêu thương nhau, đùm bọc lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, giúp cho người trẻ vào dòng chính, hành pháp, lập pháp và tư pháp thì cộng đồng tị nạn Việt Nam rất mạnh. Người Việt Nam ở hải ngoại giúp đỡ người trong nước, người Việt Nam thương người Việt Nam như người Do Thái thương người Do Thái, thì thế nào đồng bào của chúng ta cũng sẽ có sức mạnh để đương đầu với giặc Tàu trong nước.

         Người Việt Nam tị nạn đầu tư vào địa ốc nhiều lắm. Người Do Thái rất thông minh cứ 2 người thì có một người tốt nghiệp đại học 4 năm. Người Việt Nam rất chăm chỉ làm ăn, chăm chỉ học thì người Việt Nam sẽ làm nở mày nở mặt ở xứ người. Mỗi năm người Việt Nam ở hải ngoại giúp về cho bà con của mình 18 tỷ Mỹ kim, với số tiền giúp cho bà con của mình để sống, cho con cháu đi học, thế nào tuổi trẻ cũng vươn lên, thế hệ sau sẽ khá hơn thế hệ trước.

         Bác sĩ Tâm Nguyễn, người Việt Nam duy nhất là Board Directr của ngân hàng Genesis.

         Bác sĩ Tâm Nguyễn nói:

         – Đây là ngân hàng duy nhất bỏ vốn ra 57 triệu. Tất cả nhân viên muốn làm cho ngân hàng Genesis phải có nhiều năm kinh nghiệm. Tôi rất hân hạnh được chọn vào hội đồng quản trị, là người Châu Á duy nhất. Với một ngân hàng toàn là người có kinh nghiệm, có lãnh đạo giỏi thì nhất định phải thành công. Những người có kinh nghiệm làm việc ở đây đến từ những ngân hàng khác như Bank of America, Chase, từ San Bernardino, Riverside, Los Angeles County thì nhất định phải thành công.

         Sự tự tin ở người trẻ này vươn lên từ ánh mắt, từ giọng nói hùng hồn.

         Mở cơ sở thương mại với số vốn quá nhiều trong lúc dịch cúm Covid Delta đang hăm dọa thật là người có can đảm, nhưng khi đã nói tỷ phú, tỷ tức là 1,000 triệu thì số vốn bỏ ra 57 triệu đâu có nghĩa gì đối với một tỷ phú?

         Chúng tôi chúc ngân hàng Genesis thành công, trong nhà băng này có người trẻ Việt Nam lãnh đạo trong hội đồng quản trị.

         Chúc lành, chúc lành và chúc lành.

Orange County, 12/10/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




Hãy là, Đừng như ..

 




QUYỀN TƯ HỮU

Hòa Nguyễn

(Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước ngày 30/4/1975)

Tôi là Hòa Nguyễn, sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước ngày 30/4/1975.

          Sau ngày 30/4/1975, theo lệnh gọi của Ban Quân Quản Sài Gòn, tôi ra trình diện đi tù cải tạo.

          Những ngày đầu vào trại tù ở Long Giao, Long Khánh, người quản giáo của đội tôi là Thiếu Úy Thăng. Buổi chiều lúc đầu mới ổn định chỗ ở, trong đám tù cải tạo, anh em chúng tôi độ một tiểu đội.

          Anh Thiếu Úy Thăng hỏi anh em chúng tôi:

          – Các anh có biết thế nào là Xã Hội Chủ Nghĩa không?

          Tất cả đều im lặng, riêng tôi tự nghĩ: chỉ biết miền Nam Việt Nam trước 30/4/1975 là Việt Nam Cộng Hòa, còn miền Bắc Việt Nam là Cộng Sản Bắc Việt.

          Một lúc sau không anh em nào có ý kiến thì Thiếu Úy Thăng nói:

          – Xã Hội Chủ Nghĩa là xã hội mà nơi đó nhu cầu anh cần 5 đôi giày, xã hội cho thêm đôi thứ 6 anh không lấy.

          Lại một lần nữa tôi tự suy nghĩ miền Nam mình thua là đúng vì mình lấy tới đôi thứ 60.

          Nhưng thực tế không phải vậy. Do đó, tôi suy nghĩ tới câu nói bất hữu của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu: đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn những gì Cộng Sản làm.

          Đến ngày tôi được ra tù, chính Thiếu Úy Thăng này lại trực tiếp nói với tôi như sau: anh Hòa, nhà cầm quyền trại đã xét cho anh về đoàn tụ với gia đình, anh coi chừng lạc hậu với xã hội chủ nghĩa mới bên ngoài. Sau khi nghe lời khuyên này và thực tế tiếp xúc với xã hội mới- Xã Hội Chủ Nghĩa thì tôi càng thấm thía câu nói của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đúng 100%.

          Nhưng tôi suy nghĩ mặc dầu câu nói bất hủ ấy nhưng Việt Nam vẫn còn Cộng Sản.

          Vị lãnh tụ của liên bang Xô Viết là ngài Gorbachev. Chính ông ta nói: chính bản thân tôi đã cống hiến hơn nửa đời người cho Đảng Cộng Sản. Bây giờ ông thấy sai nên đã giải thể chế độ Cộng Sản tại Liên Xô lúc đó ông là lãnh tụ tối cao. Một số nước theo Cộng Sản ở Đông Âu cũng noi theo Liên Xô mà giải thể chế độ Cộng Sản.

          Đến hôm nay 2021, thế giới loài người vẫn còn Cộng Sản như Trung Hoa, Bắc Hàn, Việt Nam, v.v.

Chúng tôi là chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

          Trước 1975, tôi cùng giòng họ gia đình sống trong miền Nam Việt Nam sống dưới chế độ Tư Bản, nhưng có bao giờ nghĩ ra định nghĩa Tư Bản là gì hay thế nào là Tư Bản.

          Qua thời gian ở tù dưới chế độ Cộng Sản vì tôi là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước 1975. Lúc được ra khỏi tù Cộng Sản, lúc về nhà tôi mới suy nghĩ và định nghĩa hai chữ Tư Bản như sau:

Tư: là Tư Hữu

Bản: là bản chất

          Vậy Tư Bản là bản chất Tư Hữu, nếu chấp nhận định nghĩa này là đúng:

Đúng một cách toàn diện.

Đúng một cách triệt để và

Đúng một cách khoa học.

          Thì thử hỏi có người nào sinh ra trên hành tinh này mà không có Tư Hữu. Có nghĩa không có Cộng Sản trên khắp năm châu mà loài người đang sống. Như vậy vĩnh viễn không còn đi biểu tình chống Cộng như đã làm trong quá khứ bao thế kỷ qua. Chắc quý độc giả đồng ý.

          Bằng chứng không có một ai sống dưới chế độ Tư Bản mà bỏ trốn sang các nước Cộng Sản, mà chỉ có ngược lại. Dân từ các nước Cộng Sản phải đổi mạng sống để trốn sang các nước Tư Bản, như Mỹ, Úc, Nhật, Canada, v.v.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

          Lúc ra khỏi nhà tù Cộng Sản mà chúng nó gọi là trại cải tạo về với gia đình ở địa phương thì bị công an khu vực theo dõi và hàng tháng phải đến công an phường trình diện. Tinh thần lúc bấy giờ hoảng sợ, vô cùng hoang mang, lại phần gia đình thuộc hộ đánh tư sản. Bất ngờ có 1 thằng què vào nhà bảo đóng cửa và công an khu vực nói hộ này bị kiểm kê tư sản. Ngay lúc đó, hộ tôi bán nước mía xay cũng là hình thức thuộc ngành nghề lao động chân tay kiếm sống. Sau khi đóng cửa, rồi họ đi kiểm tra và khám xét toàn nhà. Tôi nhớ nhà có tủ sắt, họ bảo tôi mở tủ sắt. Lúc khám tủ sắt thì có duy nhất cây kiềng chạm là kỷ niệm của 2 vợ chồng lúc đám cưới 1972 là 1 lượng vàng 24 kara, ngoài ra không tiền mặt, dollar, có giá trị ngoài vật dụng trên thì trong nhà như bàn ghế, tủ giường, chén bát. Nhưng sau đó họ không rút lui mà cho thằng què ở lại 24/24 trong nhà phía trước, mỗi lần tôi muốn đi đâu phải qua nó khám xét trong người, rồi hỏi đi đâu và khi nào về lại.

          Trong lúc nhà bị như vậy, và tôi nghe là họ muốn đuổi tôi và gia đình đi kinh tế mới để họ lấy nhà tôi cho trụ sở công an phường 23, quận 3 hoặc cho ủy ban phường 23, quận 3, vì nhà tôi thuộc mặt tiền.

          Khi nghe vậy tôi hoảng sợ và tìm đến nhà chị quen tên Kim. Chị Kim là 1 cô giáo từ Hà Nội vào Sài Gòn sau ngày 30/4/1975. Tôi nhờ chị Kim lo để gia đình tôi thoát khỏi diện đánh tư sản. Chị đồng ý giúp tôi.

          Chị nói:      

          – Lúc kiểm kê đột xuất mà tìm thấy trong nhà chỉ có duy nhất 1 cây kiềng chạm mà lại là vật kỷ niệm ngày cưới của 2 vợ chồng thì không thể nói là thuộc diện tư bản mại bản.

          Do đó, chị Kim nhận lời lo và nói lệ phí là 1 lượng vàng 24 kara. Tôi đồng ý.

          Ngày qua ngày vì quá lo sợ nên tôi thường hối thúc chị Kim. Cuối cùng, chị nói quận 3 đã đồng ý cấp giấy giải tỏa cho hộ gia đình anh chị và đã gửi về ủy ban nhân dân phường 23, quận 3 rồi, nhưng phường muốn gia đình tôi đi kinh tế mới.

          Cuối cùng, phường 23, quận 3 phải đem giấy giải tỏa là không thuộc diện tư sản xuống. Lúc bấy giờ, vợ tôi, Ngô Ngọc Liên đứng tên chủ hộ, nên trong giấy giải tỏa có ghi câu rất quan trọng như sau: Hộ Ngô Ngọc Liên không thuộc diện cải tạo tư sản lần này.

          Trước hoàn cảnh đe dọa như vậy làm cho tôi có ý nghĩ đưa cả gia đình vượt biên. Cả nhà đi 2 lần gồm 2 vợ chồng và 3 con nhỏ, cháu gái nhỏ nhất chưa đầy 1 tuổi.

          Lần đầu nghe bạn ra Nha Trang thì bị gạt, lần 2 đi Rạch Giá cũng bị gạt. Tiền mất tật mang nhưng may cả 2 lần, cả nhà bình an khi về lại nhà ở Sài Gòn.

          Đến 1978 có chương trình cho đăng ký cho người Hoa đi bán chính thức, lúc đó tôi đến Biên Hòa đăng ký với văn phòng bà Xíu ở Biên Hòa. Vì vợ tôi có ông nội là người Hoa 100% là họ Ngô nên không thay đổi, riêng tôi phải đổi họ là Lý Gia Hòa cùng các con. Chuyến đi có xe đưa ra Vũng Tàu và lên tàu có hộ tống. Giây phút này rất vui mừng.

          Tàu sơn màu đen là vỏ sắt mũi Thái Lan. Tôi nhớ lúc lên tàu hễ có chỗ lọt được 1 bàn chân là chỗ cho 1 người. Tàu nhỏ mà chở tới 300 hành khách. Lúc lên tàu, tôi không thấy gì ngoài đoàn người chen nhau và xung quanh tàu chỉ toàn là galon nước uống. Mỗi hộ gia đình chỉ phát cho 1 galon nước uống, ngoài ra không có gì khác. Lúc đó, trong đầu tôi suy nghĩ làm sao cho ông Lê Duẩn chứng kiến cảnh này, vì vào thời đó ông Lê Duẩn là Tổng Bí Thư nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

          Tôi muốn ông Lê Duẩn thấy người Việt miền Nam sợ Cộng Sản hơn đại dương hùng vĩ mà đi tìm tự do, sợ Cộng Sản mà 10 phần là chết hết 9, mà người Việt vẫn đánh đổi vì quá sợ Cộng Sản.

          Tàu đã chết máy giữa đại dương, cuối cùng thuê 1 tàu đánh cá ở Vũng Tàu kéo vào bờ. Lúc về đến Vũng Tàu thì đường ai nấy đi. Lại thêm 1 lần tiền mất tật mang. Nghĩ lại ông bà mình đặt tên biển là đại dương đúng 1000% luôn. Nếu không may 1 chiếc tàu chở người vượt biên dù 300, 400 hay 1000 người mà có chìm cũng không nghe mùi hôi thúi.

          Chỉ vì quá sợ Cộng Sản mà đánh đổi mạng sống.

          Đả đảo Cộng Sản.

          Đả đảo Xã Hội Chủ Nghĩa.

          Việt Nam Cộng Hòa muôn năm

          Tự do muôn năm.

          Theo Tư Bản, theo mẫu của Hoa Kỳ là số một. Toàn thế giới nếu quốc gia nào cũng xây dựng theo mô hình USA thì không một ai phải rời bỏ Tổ Quốc thân yêu của xứ sở mình. Bằng chứng trước 1975, toàn thể viên chức hoặc sinh viên sau thời gian đi tu nghiệp hoặc được đào tạo tại các trường đại học ở USA, Canada, Pháp, Nhật, v.v. Toàn thể viên chức hoặc sinh viên sau khóa tu nghiệp hoặc đào tạo tại các đại học trên, họ đều trở về nước để phục vụ Tổ Quốc miền Nam Việt Nam trước 1975.

          Nếu được vậy, thế giới sẽ sống trong hòa bình, không chiến tranh, không hận thù.

          Tôi xin nhấn mạnh điều này, ngay cả những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam như Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông ta không phải là người vô sản, vô sản đây có nghĩa là tài sản của đất nước, của nhân dân đều vào nhà Nguyễn Tấn Dũng. Tài sản của ông ta lên đến hàng tỷ dollars, và chính gia đình ông ta cũng sang định cư tại Hoa Kỳ. Tại sao?

          Đảng Cộng Sản Việt Nam đã hy sinh hơn 2 triệu người dân Việt Nam để thành lập chế độ Cộng Sản, nhưng cuối cùng họ lại dùng Chủ Nghĩa Tư Bản để làm giàu. Vậy 2 triệu người dân chết để làm gì? (Dennic Draged)

          Chủ nghĩa Tư Bản không hoàn hảo, nhưng nó là hệ thống tuyệt vời nhất trong lịch sử nhân loại, đây là suy nghĩ của Milton Friedman.

          Chủ nghĩa Cộng Sản và chủ nghĩa xã hội đã giết nhiều người hơn tất cả những cuộc chiến tranh trong thế kỷ 20 cộng lại. (Khuyết danh)

          Chủ nghĩa Tư Bản không thể tồn tại nếu không có tự do. Trong khi đó, chủ nghĩa xã hội không thể nào tồn tại nếu cho phép tự do. (Milton Friedman)

          Vũ khí đã giết nhiều người nhất trong lịch sử nhân loại là chủ nghĩa Cộng Sản và chủ nghĩa xã hội. (Khuyết danh)

          Hãy nhìn bao nhiêu người từ xứ Cộng Sản bất chấp cái chết để vượt biên qua xứ Tư Bản. Nhiêu đó đủ cho chúng ta thấy nhân loại đã sáng suốt bình chọn ra sao? (Milton Friedman)

          Chủ nghĩa xã hội có thể thành công ở hai nơi: thiên đường, nơi mà không cần nó và địa ngục, nơi mà đã có nó. (Ronald Reagan, Tổng Thống USA)

          Kính thưa các chính trị gia trong các nước Tư Bản trên toàn thế giới, thưa tất cả giới trẻ đang sinh sống trong xã hội Tư Bản, các bạn đừng bao giờ có ý nghĩ về việc xây dựng hay sống để nếm mùi của xã hội Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa. Nơi đó, người dân xa thành thị không có một giếng nước sạch để uống, trẻ em không có cầu để qua sông đi đến trường học mà chính các cháu phải ngồi trong bao nylon để phụ huynh dẫn qua sông  mỗi khi các cháu đến trường. Trong khi đó, giới cầm quyền Cộng Sản thì ngồi chễm chệ trên một chiếc ghế bằng vàng 24 kara trị giá cả triệu dollars.

          Với hiện tình nóng ở Hồng Kông, không biết Tập Cận Bình có biến Hồng Kông thành Thiên An Môn thứ hai không?

          Tôi là Hòa Nguyễn viết bài này, tôi sanh năm 1948, năm nay tôi 73 tuổi. Tôi có ý nghĩ về định nghĩa thế nào là Tư Bản từ năm 1978, lúc đó tôi được ra khỏi nhà tù Cộng Sản Việt Nam.

          Tôi viết bài này từ cảm xúc của tôi về người hùng, cố Đại Úy sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã qua đời, người hùng Lý Tống.

Đại Úy sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – Lý Tống

          Tôi và gia đình đến Hoa Kỳ năm 1990 và cùng định cư tại thành phố Westminster, bang California từ đó đến nay.

          Đã sinh ra và làm người thì không một ai lại không có Tư Hữu. Tư Hữu đã có trong máu từ khi một trẻ sơ sinh chào đời. Một đứa trẻ lúc còn bú sữa mẹ, miệng đang ngậm vú bên phải của mẹ, thì tay kia giữ vú còn lại của mẹ và nếu có ai dành sẽ không được. Điều đó nói rõ Bản Chất Tư Hữu của nó.

          Nếu hiểu và xác định dứt khoát là thế thì xã hội loài người đang hiện sống trên trái đất duy nhất này tuyệt đối không có Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa. Vì chính ngay trong hàng ngũ lãnh đạo tối cao đầy quyền lực của Đảng Cộng Sản Việt Nam nói riêng, họ là những người được gọi là Tư Sản Đỏ, tài sản của họ lên hàng tỷ dollars. Nếu không là Tư Bản Đỏ thì tại sao cựu Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam là ông Nông Đức Mạnh là con rơi của Hồ Chí Minh ngồi trên hai chiếc ghế bằng vàng 24 kara có trị giá một triệu dollars cho một chiếc, đó là chưa kể bất động sản hay những tài sản khác. Hay Tổng Bí Thư kiêm Chủ Tịch nước Nguyễn Phú Trọng được công ty Formasa tặng cho ông Trọng một tượng Hồ Chí Minh bằng vàng 24 kara.

          Ngoài ra vị tướng Lê Đức Anh vừa qua đời, tài sản vị tướng này vô số kể. Tất cả những gì tôi chỉ nhắc lại chứ qua dư luận và truyền thông, 90 triệu dân Việt Nam từ trong nước ra hải ngoại, ai mà không biết.

          Nhân đây, tôi muốn nói thêm về hai từ “CHÍNH TRỊ”.

          Theo cá nhân tôi, cũng là một định nghĩa theo lương tâm của con người sinh ra, lớn lên và được sống trong xã hội Tư Bản, CHÍNH TRỊ là người lãnh đạo cai trị dân bằng con đường chính Đảng, có nghĩa là giới lãnh đạo đất nước phải nghĩ ra cách làm cho dân giàu nước mạnh trong tình lý có đạo đức con người, chứ không độc tài như dưới chế độ Cộng Sản hay xã hội chủ nghĩa.

          Vì như ông Milton Friedman nói:

          – Xã hội chủ nghĩa không thể nào tồn tại nếu cho phép tự do, có nghĩa dưới chế độ Cộng Sản hay xã hội chủ nghĩa chỉ có độc tài đảng trị. Thêm vào đó, hàng ngũ công an, băng đảng và đám xã hội đen ngày đêm khủng bố và đàn áp dân lành. Điều này xảy ra hàng ngày tại xã hội nước cộng hòa xã hội Việt Nam.

          Cựu Tổng Thống Hoa Kỳ, Tổng Thống Ronald W. Reagan nói:

          – Làm thế nào để biết người đó là một người Cộng Sản? Đó là những người đọc Marx và Lenin. Và làm thế nào để bạn biết người đó là người chống Cộng Sản? Đó là những người hiểu Marx và Lenin.

          Ông Frank Zappa nói:

          – Chủ nghĩa Cộng Sản không thành công được, vì mọi người ai cũng muốn có quyền Tư Hữu.

          Để kết luận bài viết này, trong quá khứ có nhiều câu nói để đời mà tôi đã ghi lại, tuy nhiên cho đến hôm nay 2021, thế giới này vẫn còn sự hiện diện và tồn tại của chế độ Cộng Sản hay xã hội chủ nghĩa. Nếu không còn Cộng Sản và xã hội chủ nghĩa thì lúc đó mọi dân tộc được sống trong hòa bình, không còn chiến tranh, sống thịnh vượng trên chính Tổ Quốc quê cha, đất mẹ của mình.

          Phải công bằng mà nói là trên thế gian này không một ai có tinh thần chống Cộng Sản hơn người hùng Lý Tống, cố sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã vĩnh viễn ra đi năm 2019. Thân xác anh đang từng ngày thiêu hủy thành cát bụi, thế nhưng chủ nghĩa Cộng Sản vẫn còn hiện hữu.

          Đó là lý do tại sao hôm nay tôi muốn gửi lời nhắn này đến với giới lãnh đạo trong xã hội tư bản nhất là với cựu Tổng Thống Trump của Hoa Kỳ, cùng toàn thể đồng bào trên thế giới, kính gửi đến đồng hương trong nước cũng như hải ngoại.

          Chúng ta phải khẳng định và công nhận bản chất trong mỗi con người chúng ta trên toàn trái đất này là có Tư Hữu. Đời xưa ông bà ta nói:

Anh em là ruột, là rà

Anh em có cửa có nhà anh em.

          Ngụ ý cũng nói lên Quyền Tư Hữu. Như vậy, tuyệt đối không có con người Cộng Sản, không có chế độ Cộng Sản hay xã hội chủ nghĩa trên trái đất mà nhân loại đang sống.

          Trân trọng kính chào.

Westminster, 10/ 2021

HÒA NGUYỄN

Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn

Trước ngày 30/04/1975




CÔNG ƠN CHA MẸ

Người ta đứng ở trên đời,

Ai không cha mẹ dễ trời sinh chăng ?

Công cha mẹ sánh bằng sơn hải, (1)

Đạo làm con ta phải báo ơn.

Ngồi mà nghĩ lại nguồn cơn,

Công Cha như núi Thái Sơn (2) chưa tầy.

Ôi từ mẫu (3) dài thay nghĩa Mẹ !

Nước đầy nguồn khôn lẽ nào đong.

Công Cha, nghĩa Mẹ mênh mông,

10- Để dạ từng phút, ghi lòng từng giây.

Ngày lên MỘT chân tay mềm mại,

Tuổi lên HAI ai phải giắt đi ?

aaaaLên BA thơ dại biết gì,

Ai cho học nói, ai thì dạy ăn ?

Ngày lên BỐN áo quần mặc ấm,

Hỏi ai người mua sắm cho con ?

Lên NĂM tuổi khá lớn khôn,

Con đau ai phải bồn chồn lo toan ?

Ngày lên SÁU họp đoàn bạn nhỏ,

20- Ai dạy câu nhớ Tổ Hùng Vương ?

Tuổi vừa lên BẢY đến trường,

Bút ai vẫn sắm, giấy thường ai mua ?

Ngày lên TÁM thi đua sớm tối,

Ai mong con học giỏi Thầy vui ?

Đến năm lên CHÍN, lên MƯỜI,

Ai mong con được sáng ngời tương lai ?

Ngày MƯỜI MỘT, MƯỜI HAI tươi thắm,

Tuổi thanh xuân như gấm thêu hoa,

Đến năm tuổi đã MƯỜI BA,

30- Văn chương, Sử địa,(4a) Kỷ hà (4bnhập tâm. (4c)

Tuổi MƯỜI BỐN, MƯỜI LĂM  đã tới,

Thời gian đi chẳng đợi ai đâu !

Xưa nay trong cõi hoàn cầu,

Nếu không Cha Mẹ, ai sau nên người ??

Tuổi MƯỜI SÁU tốt tươi dáng vóc,

Ai ngày đêm săn sóc cho con ?

Đến năm MƯỜI BẢY tuổi tròn,

Ai khuyên con luyện tâm hồn thẳng ngay ?

Tuổi MƯỜI TÁM tràn đầy nhựa sống,

40- Đem sức dài vai rộng đua chen.

Trả xong món nợ sách đèn(5)

Nghìn sau bia đá (6) còn tên rành rành.

Khi con đã trưởng thành khôn lớn,

Tuổi vào đời mơn mởn như hoa.

Anh trên em dưới thuận hòa,

Gả chồng dựng vợ ấy là hợp luân (7)

Rồi con cháu dần dần đông đúc,

Thuận lẽ trời kế tục (8) ông cha.

Măng non thay thế tre già, (9)

50- Nuôi con mới hiểu lòng Cha Mẹ mình.

Lời Cha Mẹ đinh ninh (10) trong dạ,

Chữ hiếu thân (11) chớ khá lãng quên.

Nếp nhà phải giữ lấy nền,

Để cho giòng họ vang rền tiếng khen.

Phải nghĩ đến ơn đền nghĩa trả,

Giọt máu đào nước lã một ao. (12)

Công Cha núi Thái ngút cao,

Thẳm sâu nghĩa Mẹ khác nào biển Đông.

Ăn trái chín, kẻ trồng phải nhớ, (13)

60- Uống nước trong ai nỡ quên sông. (14)

Người mà bỏ chữ gia phong (15)

Là không nhớ gốc Cha, Ông trong đời.

Ghi lòng tạc dạ con ơi !!

64-Đừng nên tiếng xấu để đời người khinh.

TRƯỜNG GIANG

GHI CHÚ : Chỉ dành cho giới trẻ VIỆT NAM sinh tại ngoại quốc

1-SƠN HẢI: SƠN= trái núi, Hải=biển nước. Ý nói : Công ơn Cha Mẹ sinh đẻ ra con cao như núi, rộng như biển, khó lấy vật gì khác dể so sánh được .

2- THÁI SON: Tên một trái núi rất cao và to lớn ở phía Tây nước Tàu.

3- TỪ MẪU:.Từ = hiền lành , mẫu = người mẹ. TỪ MẪU = Người mẹ hiền lành, phúc hậu, không làm việc gì độc ác  có hại đến người  ở xung quanh.

4a-SỬ ĐỊA ; Một cuốn sách ghi chép mọi việc quan trọng ở trong và ngoài nước Việt Nam

4b-KỶ HÀMôn toán đo lường trong toán học .

4c- NHẬP TÂMGhi nhớ trong lòng (trái tim)

5- TRẢ XONG MÓN NỢ SÁCH ĐÈNCuốn sách và ánh sáng của cây đèn là do cha me và các thầy cô cung cấp cho học trò sinh sống, học tập. Sau khi tốt nghiệp, các Tân khoa phải tận lực dùng sự hiểu biết của mình dể truyền dạy lại cho các thế hệ tuong lai. Đó là cách người học trò trả lại món nợ trong suốt thời gian học tập dể họ báo dáp công ơn::

A-Dưỡng dục của các đấng sinh thành

B- của các thầy cô đã tận tụy giảng huấn cho học sinh trở nên người trí thức..

Điều quan trọng là các tân khoa đã góp công vào việc làm cho dất nước văn minh giàu mạnh, không thua kém bất cứ mot Quóc gia nào trên thê giới.

6-BIA ĐÁ:Một tảng đá do thợ chuyên môn đẽo gọt thành một hình chữ nhật trong đó ghi tên vinh danh các Cử Nhân, Tiến sỹ thời xưa, đồng thời khuyến khích các thế hệ tương lai noi gương những người  đi trước dể cố gắng học hành.

7- HỢP LUÂNViệt Nam tuy đã văn minh, tân tiến,vẫn theo luân thường, dạo lý  do Thánh Tổ Khổng Tử người nước Lỗ bên Tàu sáng lập gọi là Đạo Nho..

Luân lý của Đạo Nho là:

Anh em nhu thể chân tay”

“Vợ chồng như đũa có đôi”

Trong gia đình, trai gái khi dã dến tuổi trưởng thành (18 tuổi) thì phải dưng vợ, gả chồng để nhân số trong giòng họ ngày một tăng thêm. Đó là nguyên tắc hợp luân, xưa nay tại VIỆT NAM chưa có gì thay dổi.

8– KẾ TỤC:  Kế tiếp, người đi trước, kẻ theo sau, tại Việt Nam chưa bao giờ thay dổi

9- THAY THẾ TRE GIÀ:Luật sinh tồn xưa nay, khi cây tre đã già, khô héo thì phải chết, nhường chỗ cho mầm  măng non thay thế. Người ta cũng vậy, khi  còn trẻ tuổi, có dùng sức khỏe đẻ nuôi nấng, chăm sóc cha mẹ thì mới biết đến công ơn khi mình còn trẻ, cha mẹ đã chăm lo, săn sóc dến mình như thế nào.

Có nuôi con mới biết long cha mẹ là như vậy đó….

10- ĐINH NINH:Luôn luôn ghi nhớ trong lòng, không bao giờ thay đởi

11- HIẾU THÂN:.Người con trai biết vâng lời cha mẹ.

12:NƯỚC LÃ MỘT AO Phương ngôn tục ngữ Việt Nam có câu : “ Một giọt máu đào, hơn ao nước lã”. Nghĩa là, Anh em cùng mốt cha mẹ sinh ra bao giờ cũng quý yêu nhau. Chính vì thế, người Việt thường nói” không ai có thể lấy một ao nước lã để làm thành một giọt máu  được.

13- KẺ TRỒNG PHẢI NHỚTục ngữ Việt Nam có câu “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Được ăn trái cây ngon ngọt, phải nhớ ơn người trồng ra cây đó. Ý nói, con dược nên người  có tài, có đức dộ hon người, không làm diều gì có hại đền ngườii xung quanh là nhớ có cha mẹ tận tình giáo huấn, Vậy bổn phận của con là phải có bổn phận báo ơn sự giáo huấn của cha mẹ mình.

14- AI NỠ QUÊN SÔNGTỤC NGỮ ViỆT NAM cũng có câu” Uống nước nhớ nguồn.. Khi được uống nước trong cho khỏi khát thì phải nhớ đến dòng sông chứa đựng nước đó.

Trong gia dình, nếu  con cái mọi người đều làm điều tốt lành là nhò có ông bà,cha mẹ phúc đức, chí làm việc tốt lành dối với mọi người xung quanh dể làm gương.Bởi vậy, con cháu phải nhớ ơn ông bà, cha mẹ  về phương diện này.

15- GIA PHONG:Lề thói, khuôn phép của mỗi gia đình, con cháu phải tuân theo./.




Chăm sóc sức khỏe của Bạn vào “Mùa Thu Yêu Thương!”

(LVHải lượm lặt)

thu da ve.jpg

Lời Hỏi Thăm Sức Khỏe.

Kính Quý Niên Trưởng, Quý Anh Chị trong Văn Thơ Lạc Việt.

Thời gian qua, Hải bận rộn với đám cưới đứa con gái, cha ông mình nói đúng “ma chê, cưới trách!” Có cố gắng nhiều, nhưng vẫn còn nhiều lỗi lầm, đáng trách. Mong Quý Vị bỏ qua cho những thiếu sót,… chắc chắn có! (Nếu Hải có 10 đứa con gái, gả chồng đến đứa thứ mười, lúc đó, việc tổ chức mới hoàn hảo hơn!) Còn có một đứa, thì đành chịu! “hổng” có kinh nghiệm!

Đến khi nhớ phải gởi lời cám ơn và hỏi thăm sức khỏe đến Quý Anh Chị, thì trời đã…vào Thu!

Mùa Thu là mùa đặc biệt dành cho những văn nhân, thi sĩ, riêng của Văn Thơ Lạc Việt.

Nhớ những ngày đầu tiên đến Mỹ, định cư ở tiểu bang Michigan, có lẽ lần đầu tiên trong đời, sững sờ với cảnh đẹp mùa Thu ở Ngũ Đại Hồ. Muôn mầu muôn sắc, là vàng ngập đường đi, có những con đường mòn, khi xe chạy qua, lá vàng từng đám bay cao, không còn nhìn thấy xe đàng trước, đàng sau, mở cửa sổ xe, giơ tay, cũng chộp được một nắm!

Cảnh mùa Thu trên đất nước Hoa Kỳ này thật đẹp như tranh! quá tuyệt vời. Nhưng người đẹp tên Thu này cũng kèm theo nhiều …rắc rối lắm đó Quý Vị ơi!

Kể từ mùa Thu năm đó, không có năm nào không bị Cúm mùa Thu vật! kể cả những năm sau này, cho dù đã chích ngừa!

Nên nhân đây, xin gởi một bài lượm lặt về sức khỏe, để Quý Anh Chị chú ý, khi chúng ta bắt đầu tiếp xúc với…Em Thu nhé! Em khó tính lắm đó. Hoa càng đẹp càng độc, Mùa càng đẹp càng…dễ Bịnh! (Hu! Hu!)thu mot.jpg

Chăm sóc sức khỏe của Bạn vào “Mùa Thu Yêu Thương!”

(LVHải lượm lặt)thu yeu thuong.jpg

*5 bệnh cần phòng tránh nhất trong mùa thu

       Ai cũng nghĩ mùa thu là mùa mát mẻ nhưng thực tế, đây lại là mùa mà bạn dễ mắc nhiều bệnh nhất, như hen suyễn, dị ứng, đau họng, suy tim, viêm loét dạ dàỵ và chục thứ bệnh liên quan đến mùa này.

Mùa thu được coi là thời điểm thời tiết có nhiều thay đổi, thậm chí là thời điểm nối kết giữa mùa hè và mùa đông. Chính vì vậy, vào thu, nhiệt độ ngày và đêm có thể thất thường, biến đổi nhiệt độ lớn. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến bạn có thể mắc nhiều bệnh, nếu không biết cách chăm sóc tốt cho sức khỏẹ, nhiều người có tuổi hay qua đời nhất, trong mùa này.

       Vậy, những bệnh cụ thể bạn có nguy cơ mắc nhiều hơn cả trong mùa thu là những bệnh gì?

       1. Đau họng

       Vào mùa thu, hệ thống miễn dịch của cơ thể thường bị suy giảm hơn so với các mùa khác, vì vậy bạn rất dễ bị cảm lạnh. Hơn nữa, vào mùa thu, sự thay đổi nhiệt độ, không khí lúc ẩm, lúc hanh khô, kết hợp với gió mạnh, có thể khiến cho các loại virus (vi khuẩn) gây bệnh sinh xôi, nẩy nở mạnh. Chỉ cần một chút lơ là trong việc chăm sóc sức khỏe, là sức đề kháng của bạn đã có thể giảm xuống, khiến cho khả năng mắc các bệnh viêm nhiễm, đặc biệt là viêm miệng, đau họng. Các triệu chứng khi bị đau họng có thể bao gồm: Sưng họng, ớn lạnh, sốt, đau đầu, buồn nôn và hay thỉnh thoảng bị nôn mửa. Họng tấy đỏ và amiđan sưng, đôi khi có hạch rất nguy hiểm.

       Để đề phòng bệnh phát triển, bạn nên tham khảo tư vấn của bác sĩ để có thuốc ngừa và biện pháp phòng bệnh tốt nhất.

       2. Hen suyễn dị ứng

       Giống như mùa xuân, mùa thu là thời điểm mà con người dễ bị dị ứng hơn hẳn mùa hè và mùa đông. Với nguy cơ mắc bệnh dị ứng cao, bạn cũng rất dễ mắc bệnh hen suyễn dị ứng trong mùa nàỵ

       Hen suyễn dị ứng, thường là do cơ thể phản ứng với thứ gây dị ứng như phấn hoa, lông thú vật, nấm mốc, vật dụng bụi bặm gây ra. Triệu chứng thường gặp nhất của hen suyễn dị ứng thường là khó thở, đôi khi nghẹt thở!

       Nếu bạn là người dễ bị dị ứng với phấn hoa, thì hãy lập kế hoạch các hoạt động ngoài trời khôn ngoan để tránh phấn hoa và cây cỏ, đây là nguyên nhân dị ứng phổ biến nhất. Phấn hoa xuất hiện nhiều trong những ngày khô và gió, giảm nhanh vào những ngày ít gió, mưa hoặc ẩm ướt. Nếu bạn thường bị dị ứng với nấm mốc, bụi bặm hay chất gây dị ứng trong nhà, thì bạn cần giữ cho nhà cửa sạch sẽ, giữ độ ẩm trong nhà ở mức thích hợp, để hạn chế nấm mốc và các yếu tố khác có thể gây dị ứng phát triển.

       Dùng thuốc ngừa dị ứng cũng là cách để phòng bệnh, tuy nhiên, khi dùng thuốc, một vài loại, bạn nên tham khảo tư vấn của bác sĩ.

       3. Loét dạ dày.

       Loét dạ dày là bệnh mà bạn có thể gặp tại bất kì thời điểm nào trong năm. Tuy nhiên, vào mùa thu, khi hệ thống miễn dịch của bạn giảm, thì cơ thể bạn cũng khó chống tác ảnh hưởng của các vi khuẩn gây bệnh, do đó, hệ tiêu hóa của bạn càng bị ảnh hưởng nặng nề, nguy cơ loét dạ dày càng tăng.

       Bệnh loét dạ dày, thường xuất phát từ nguyên nhân cơ bản như: hút thuốc lá, uống nhiều rượu, căng thẳng, thói quen ăn uống nghèo dinh dưỡng, mắc các bệnh mãn tính, di truyền, Các triệu chứng phổ biến nhất khi bị loét dạ dày là mất cảm giác ngon miệng, đau bụng và nôn mửạ. Đặc biệt, các cơn đau do loét dạ dày thường xuất hiện ngay sau bữa ăn. Có người xuất hiện sau khi ăn vài tiếng.

       Dù cho có bị đau lúc nào đi nữa, thì bạn vẫn nên đi gặp bác sĩ, để biết chính xác nguyên nhân tại saọ

       4. Suy tim, trụy tim.

       Vào mùa thu, những người có vấn đề về tim mạch, sẽ càng tăng nguy cơ bị bệnh tim. Đó là bởi vì, khi thay đổi thời tiết đột ngột, cơ thể phải đấu tranh để thích ứng với sự biến đổi khí hậu, từ đó có thể làm quá tải hệ thống tim mạch chịu đựng, gây hậu quả nghiêm trọng cho tim mạch, ví dụ như suy tim.

       Để phòng ngừa bệnh tim mạch, bạn nên chú ý đến chế độ dinh dưỡng nhiều rau xanh, hoa quả và cá, hạn chế chất béo có hại, không hút thuốc và chăm chỉ thể dục để điều hòa hệ tim mạch.

       Nếu bạn có vấn đề về tim mạch, hay huyết áp bạn cần chú ý theo dõi và điều chỉnh hoạt động của tim và mạch, huyết áp, để ngăn chặn các cơn phát bệnh, không nên để đến khi bị bệnh trầm trọng mới điều trị. Bịnh tin còn được gọi là “ những tên sát thủ thầm lặng!”

       5. Bệnh đau mắt đỏ

       Bệnh đau mắt đỏ hay còn gọi là bệnh viêm màng mắt. Bệnh thường gặp vào mùa hè đến cuối mùa thu. Vào thời điểm này, thời tiết từ nắng nóng chuyển sang mưa, độ ẩm không khí cao, khi giao mùa, nên khiến cho hệ thống miễn dịch và sức đề kháng bị suy yếu đi nhiều, cơ thể mất khả năng phòng bệnh, nên dễ bị vi khuẩn gây bệnh tấn công.

       Bên cạnh đó, môi trường nhiều khói bụi, vệ sinh kém, sử dụng nước ô nhiễm, dùng chung khăn mặt, ka8n lau, cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh bùng phát.

       Bệnh đau mắt đỏ thường có biểu hiện rõ nhất là mắt đỏ và có “dỉ mắt.” Dỉ mắt có thể màu xanh hoặc màu vàng tùy vào tác nhân gây bệnh. Mi mắt sưng húp, mọng, mắt đỏ (do cương tụ mạch máu), đau nhức, chảy nước mắt.

       Để chữa bệnh đau mắt đỏ hiệu quả nhất, phải phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Vì vậy, nếu không may bị bệnh, tốt nhất bạn nên đi khám bác sĩ. Để phòng bệnh, bạn cần chú ý vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, khi ra ngoài phải có biện pháp bảo vệ mắt (đeo kiếng) và tránh tiếp xúc với người bị bệnh.em khong.jpg

*Bạn gái: 6 lời khuyên giữ gìn vóc dáng thon gọn trong mùa thu

       Mùa thu, thời tiết dễ chịu khiến bạn cảm thấy ngon miệng hơn, từ bữa ăn đến giấc ngủ. Điều này gây “nguy hiểm” cho vóc dáng thon thả của bạn.

       Dưới đây là 6 cách giúp bạn duy trì vóc dáng trong mùa thu nàỵ

       1. Tận dụng lợi thế của thời tiết

       Mùa thu với tiết trời dễ chịu, là khoảng thời gian tuyệt vời và thích hợp để bạn tập thể dục ngoài trời và tận hưởng không khí thoáng mát. Đi bộ, đạp xe, là những môn thể thao thích hợp trong mùa nàỵ

       Nhiều lớp học tại phòng tập thể dục và các nơi khác bắt đầu vào mùa thu, do đó, bạn cũng nên chọn và tham gia một lớp học nào đó thích hợp với mình.

       2. Xem tivi, kết hợp hoạt động

       Trong khi bạn xem tivi, bạn vẫn có thể đi bộ hoặc chạy tại chỗ, đứng lên hoặc ngồi xuống. Trong một chương trình dài, bạn nên dành ra khoảng 20 phút để tranh thủ vận động cơ thể.

       Mùa thu là khoảng thời gian tuyệt vời và thích hợp để bạn tập thể dục ngoài trời và tận hưởng không khí thoáng mát.

       3. Tập thể dục trong mọi tình huống

       Để đi tới những nơi không quá xa, thay vì đi ô tô, bạn có thể thay đổi thói quen lười biếng, bằng cách đi bộ. Trong những trường hợp khác, thay vì đi thang máy, bạn hãy đi cầu thang cấp để vận động được nhiều hơn.

       Vận động thường xuyên như vậy cũng sẽ giúp bạn đốt cháy được các chất béo dư thừa trong cơ thể, không phải lo đến chuyện tăng cân và “phát tướng”.

       4. Nâng niu, chăm sóc bản thân

       Mùa thu là thời gian để trẻ hóa cơ thể, tâm trí và tinh thần. Massage một chút, ngồi thiền hay tham dự một lớp học nghệ thuật, vẽ, nhạc, làm thơ, sẽ giúp bạn cảm thấy yêu bản thân mình hơn, đồng thời cũng tốt hơn cho sức khỏẹ

       Điều này giúp bạn cảm thấy tốt hơn về cả thể chất, tình cảm lẫn tinh thần. Một khi tâm trạng bạn đã thoải mái, bạn sẽ kiểm soát việc ăn uống của mình tốt hơn.

       5. Nhớ quy tắc 30 ngày

       Phải mất khoảng 4 tuần để cơ thể thích ứng với những thay đổi trong lối sống, đó là lý do tại sao có nhiều người vội từ bỏ “kế hoạch” của họ trong vòng 30 ngày đầu tiên, vì cảm thấy không tiến bộ.

       Hãy cố gắng gắn bó với kế hoạch giữ dáng của bản thân trong một tháng, sau đó, bạn sẽ cảm thấy dễ dàng hơn để tiếp tục.

       6. Tìm động lực của bạn

       Mỗi người có những mục tiêu khác nhaụ. Điều quan trọng cần làm đầu tiên là phải khám phá ra những mục tiêu cá nhân của mình, cho dù đó là giảm cân hay là giữ dáng sau khi đã giảm cân.

       Nhưng mục tiêu là không đủ để bạn cố gắng thực hiện hàng ngày. Vì vậy, hãy chọn một điều gì đó làm động lực thúc đẩy sẽ giúp bạn cố gắng hơn và có khả năng “hoàn thành” mục tiêu. Ví dụ như: Bạn phải giảm cân, để mặc vừa một chiếc áo khoác rất đẹp trong mùa Giáng Sinh, Tết Tây, Tết Ta sắp tớithu chin.jpg

       *Củ cải: thực phẩm dinh dưỡng tốt nhất cho mùa thu

       Ăn lá củ cải có tác dụng làm đẹp da. Bởi trong lá củ cải giàu vitamin A, vitamin C. Có thể phòng chống da lăo hóa, ngăn chặn h́ình thành các vết thâm nám, giữ cho da được trắng mềm.

       Ngoài vitamin, hàm lượng chất xơ trong củ cải cũng khá nhiều, đặc biệt là chất xơ thực vật trong lá càng phong phú. Các chất xơ thực vật này, có thể tiêu trừ táo bón, bài trừ độc tố, từ đó giúp cải thiện làn da, tránh da thô ráp, giảm mụn bọc.

       Giảm đau

       Hiệu quả giảm đau của củ cải rất tốt. Nếu bị đau mỏi cơ bắp hoặc đau khớp, bạn có thể trực tiếp lấy củ cải gọt vỏ, lấy vỏ đắp lên chỗ đau, cũng có thể bỏ vỏ củ cải vào trong một cái túi vải để chườm nóng.

       Khi bị đau răng, có thể đặt túi chườm nóng lên bề mặt da, trên má, hoặc cũng có thể dùng bông tăm nhúng vào nước củ cải và đắp vào chỗ răng đaụthu nam.jpg

*10 cách ngăn ngừa dị ứng trong mùa thu

       Khi chuyển sang mùa thu, cũng là lúc chuyển thời tiết, nên rất nhiều người dễ bị dị ứng. Sau đây là một số hướng dẫn đơn giản, giúp bạn đề phòng dị ứng hiệu quả và thiết thực.

       1. Kiểm tra định kỳ

       Nấm mốc thường phát triển nhanh vào đầu mùa thu và do vậy, thật khôn ngoan khi kiểm tra mọi khu vực trong nhà có nguy cơ ẩn chứa nấm mốc.

       Luôn thay thế những tấm thảm đã bị nước làm hỏng và ẩm ướt, cần bảo đảm những chiếc vòi nước nhà bạn không bị rò rỉ, sàn nhà bị thối mục.

       2. Đừng biến ngôi nhà thành hộp kính

       Cần giữ độ ẩm trong nhà ở mức 50% hoặc ít hơn, tránh sự phát triển của nấm mốc và các bụi bẩn trong nhà, nếu bạn có tiền sử bị dị ứng.

       Ở những phòng thấp như dưới tầng hầm, có thể là một trở ngại, khó khăn, trong trường hợp này, sử dụng mái giảm độ ẩm là lý tưởng nhất.

       3. Chú ý độ ẩm trong nhà

       Bạn có thể mua dụng cụ tạo và hút ẩm, để giữ độ ẩm ở mức thích hợp và giảm thiểu các triệu chứng dị ứng.

       Đồng thời cũng nên kiểm tra ảnh hưởng của mức hơi ẩm, do cây cảnh trong nhà gây ra, đặc biệt trong phòng ngủ.

       4. Chú ý tới chất chống dị ứng

       Nếu bạn bị dị ứng với các chất dị ứng ở trong nhà, nên phủ lên gối và đệm lớp chống dị ứng. 

       Một nghiên cứu gần đây của nước Anh cho biết “hạn chế thời gian sử dụng giường vào ban ngày” sẽ giảm lượng đáng kể bụi bẩn, nấm mốc ở giường.

5. Có kế hoạch hoạt động ngoài trời

Nên lập kế hoạch các hoạt động ngoài trời khôn ngoan để tránh phấn hoan và các vật ẩm mốc, nguồn dị ứng phổ biến nhất. Phấn hoa xuất hiện nhiều trong những ngày khô và gió, giảm nhanh vào những ngày ít gió, mưa hoặc ẩm ướt.

       6. Vệ sinh máy điều hòa

       Chỉ sử dụng máy điều hòa khi cần thiết và đừng quên vệ sinh, lau chùi máỵ

       7. Giữ nhà cửa thoáng sạch 

       Đời sống tình dục cũng có thể bị ảnh hưởng nếu tình trạng dị ứng không được kiểm soát tốt. Một nghiên cứu gần đây phát hiện ra rằng, có hơn 80% các cặp đôi thừa nhận, có những ảnh hưởng tiêu cực của dị ứng, đối với đời sống tình dục cũng như giấc ngủ. Do vậy, luôn bảo đảm các vật dụng sạch sẽ và cửa nhà thoáng mát, cũng là cách giảm nguy cơ dị ứng, nâng cao đời sống tình dục.

       8. Thuốc chống dị ứng

       Ngăn ngừa các triệu chứng dị ứng, bằng thuốc chống dị ứng. Cũng nên đi khám để được kê thuốc khi dị ứng da, giúp hạn chế đến mức tối đa các triệu chứng dị ứng khó chịụ

       9. Không để các chất gây kích ứng trong nhà

       Tránh để các chất gây kích ứng trong nhà, như các sản phẩm tẩy rửa, vật dụng gia đình, nhà vệ sinh nếu gia đình có người bị bệnh dị ứng và hen suyễn. Tốt nhất nên có thiết bị thông gió ở trong nhà.

       10. Chú ý chất liệu sàn nhà

       Sàn nhà tốt nhất là sàn bằng gỗ, có vải sơn lót sàn nhà và sàn bằng đá lát. Nếu sàn nhà bạn trải thảm, nên coi lại, sử dụng máy hút bụi có phù hợp không.thu ha noi.jpg

*3 điều cần làm cho chính mình trong mùa thu

       Mùa thu, nhiệt độ nóng lạnh thất thường, độ ẩm trong không khí tương đối cao và khí hậu có xu hướng khô. Khí hậu khô dễ dẫn đến khô miệng, khô da, viêm họng, ngứa.

       Vào mùa thu, nếu không cẩn thận dễ bị cảm lạnh, nhức đầu, đầy hơi, dạ dày, đau khớp và một loạt các triệu chứng khác.

       Dưới đây là một số mẹo giúp bạn khỏe mạnh hơn trong mùa thu:

       – Đầu tiên: Ăn uống đúng cách để bảo vệ đường tiêu hóa

       Trong mùa thu, vi khuẩn sinh sản nhanh chóng và thực phẩm dễ hư hỏng, nên càng dễ ảnh hưởng đến đường tiêu hóa. Mùa này, các rắc rối liên quan đến dạ dày và bệnh đường ruột xảy ra thường xuyên và liên tục. Những người bị viêm dạ dày mãn tính, nên chú ý giữ ấm bụng, để ngăn chặn đau bụng do lạnh bụng và làm cho các bệnh nặng thêm.

       Ngoài ra, chúng ta cũng nên chú ý tăng cường tập thể dục và chế độ ăn uống. Các chế độ ăn uống của những người bị bệnh dạ dày nên được giữ ấm, mềm và tươi. Bạn nên ăn nhiều, nhưng ăn làm nhiều bữa và mỗi bữa ăn một ít với một thời gian nhất định.

       – Thứ hai: Chú ý giữ ấm cổ, cột sống, chận tay.

Ngay từ lúc vào thu đã có sự khác biệt nhiệt độ giữa ngày và đêm. Vì vậy, nếu không cẩn thận, nhiều người có thể sẽ bị cảm lạnh. Trong trường hợp bị cảm lạnh, có thể dẫn tới co thắt mạch máu và độ cứng cơ ở cổ. Các chuyên gia cho rằng, trước tiên chúng ta nên chú ý đến sự ấm áp của cổ. Khi mùa thay đổi, đàn ông nên cố gắng mặc áo cổ cao, phụ nữ nên có khăn quàng hoặc khăn cổ, cần cả khăn choàng đầu.

       Các hoạt động thể chất vào mùa này sẽ giúp các cơ quan trong cơ thể hoạt động tốt hơn, thực hiện các chức năng hay hơn. Ngoài ra, phát triển các thói quen làm việc đúng, chú ý đến tư thế ngồi trong công việc và đời sống, chú ý đến giấc ngủ, sẽ giúp bạn sống khỏe mạnh.

       – Thứ ba: Thay quần áo kịp thời để chống lạnh

       Cũng do sự khác biệt nhiệt độ giữa ngày và đêm, giữa trong nhà và ngoài trời, mà mùa này dễ gặp các bệnh như viêm họng, viêm phổi và các bệnh hô hấp xảy ra thường xuyên. Do vậy, chúng ta nên chú ý thay quần áo theo đúng điều kiện thời tiết thay đổi, để tránh bị nóng quá hoặc lạnh quá.

       Đừng đứng trước quạt hay điều hòa để làm mát sau khi ra mồ hôi, không ăn nhiều và ăn quá nhanh các đồ uống lạnh và các loại thực phẩm khác. Bạn nên uống nhiều nước đun sôi để giữ ấm cơ thể.thu vang.jpg

*Điều trị cảm lạnh và cảm cúm mùa thu

       Nếu trong thời điểm giao mùa này, bạn hoặc người thân trong gia đình bị cảm lạnh hoặc cảm cúm ghé thăm, thì hãy áp dụng những biện pháp tự nhiên sau để mau chóng thoát khỏi nó nhé!

       Vì sao cảm lạnh và cảm cúm thường hoành hành lúc thu đông?

       Nhiều người nghĩ rằng 2 bệnh này thường xuất hiện vào mùa đông nhưng thực tế mùa thu cũng là mùa có thể phát sinh bệnh.

       Nguyên nhân bởi vì mùa thu thường có những cơn mưa thu bất chợt, mỗi khi bạn đi ngoài đường hoặc khi ban đêm, bạn vẫn thường nằm trước quạt máy, mà lại không giữ ấm được phần ngực và cổ sẽ sinh ra cảm lạnh và cảm cúm. Khi ấy toàn thân bạn sẽ có dấu hiệu đau mỏi, khó chịu, sốt nóng sốt lạnh, nhức đầu, đau họng và họ.

       Do đó, thay vì sử dụng những loại thuốc giảm đau, hạ sốt bằng kháng sinh không cần theo toa để điều trị, bạn hãy sử dụng những biện pháp tự nhiên dưới đây nhé, để tránh những tác dụng phụ không cần thiết ảnh hưởng tới sức khỏẹthu muoi mot.jpg

9 mẹo tự nhiên điều trị cảm lạnh và cảm cúm mùa thu đông

       1. Hỉ mũi thường xuyên

       Điều quan trọng để hỉ mũi của bạn thường xuyên khi bị sổ mũi do cảm lạnh, là để chất nhầy không tiếp tục xâm nhập vào trong mũi. Nhưng khi bạn hỉ mũi, áp lực ấy có thể gây đau tai bạn đấy!

       Vì thế cách tốt nhất để hỉ mũi của bạn, là bấm một ngón tay trên một lỗ mũi, trong khi bạn nhẹ nhàng hỉ lỗ mũi kia. Cuối cùng, bạn nên rửa tay kỹ càng trước và sau khi hỉ mũi nhé!

       2. Nghỉ ngơi

       Nếu bạn bị cảm lạnh hoặc cảm cúm ghé thăm, hãy dành thời gian nghỉ ngơi để tiếp thêm năng lượng cho cơ thể, nhằm tạo ra hệ miễn dịch khỏe mạnh.

       Vì thế, nếu cảm thấy mệt mỏi, bạn hãy đừng ngần ngại nằm xuống nghỉ ngơi, dưới tấm chăn ấm nhé! 

       3. Súc miệng

       Súc miệng có thể làm giảm tạm thời sự đau họng. Vì thế, bạn hãy thử pha một muỗng cà phê muối hòa tan trong nước ấm và dùng dung dịch này súc miệng ngày 4 lần. Hiệu quả lắm!

       Để giảm sự đau cổ họng, bạn hãy tự chế một loại nước súc miệng có chứa trà xanh (một chất tanin) để thắt chặt các màng tế bàọ

       Hoặc bạn cũng có thể sử dụng mật ong, bằng cách trộn một muỗng canh lá mâm xôi hay nước chanh, trong 2 ly nước nóng, với một muỗng cà phê mật ong. Hãy đợi cho đến khi hỗn hợp này nguội và dùng nước này để súc miệng.

       4. Uống nước nóng

       Uống nước nóng hoặc nước canh nóng, có thể làm giảm nghẹt mũi, giúp ngăn ngừa sự mất nước và làm dịu viêm màng mũi và cổ họng của bạn.

       5. Tắm dưới vòi sen

       Tắm dưới vòi sen giúp dưỡng ẩm mũi và giúp bạn thư giãn. Nếu bạn cảm thấy chóng mặt từ bệnh cúm, hãy dùng bọt biển để tắm khắp cơ thể nhé.

       6. Thoa tinh dầu bạc hà cho mũi

       Bạn có thể thoa một lượng nhỏ tinh dầu dưới mũi, để giúp thở tốt hơn và làm dịu da bị kích thích ở hốc mũị

       Bạn có thể sử dụng tinh dầu bạc hà, bạch đàn hoặc long não đều ổn, vì chúng đều có thành phần làm tê giúp làm giảm cơn đau của mũị

       7. Áp dụng chườm nóng hoặc lạnh

       Sử dụng chườm nóng hoặc lạnh xung quang xoang tắc nghẽn, có thể giúp bạn cảm thấy thoải mái hơn. Bạn có thể mua những gói chườm này tại nhà thuốc, hoặc tự làm gói chườm nóng hoặc lạnh của riêng bạn.

       Cách đơn giản nhất là bạn nên lấy một chiếc khăn ẩm và để nó trong lò vi sóng 55 giây (kiểm soát nhiệt độ để bảo đảm phù hợp với bạn.) Hoặc lấy một túi đậu Hà Lan đông lạnh nhỏ, để sử dụng như một gói chườm lạnh.

       8. Sử dụng gối đầu đặc biệt

       Nếu như bạn quá ngạt mũi, bạn có thể gối đầu bằng chiếc gối đặc biệt có đệm lò xọ Điều này sẽ trợ giúp mũi của bạn dễ thở và dễ thoát nước hơn.

       9. Không ra ngoài trời trừ khi cần thiết

       Thường thì những thay đổi áp suất không khí bất ngờ, sẽ càng làm cho tình trạng cảm cúm hoặc cảm lạnh của bạn trở nên trầm trọng hơn.

       Do đó, hạn chế ra ngoài không khí nếu có thể nhé. Nếu bạn phải đi ra ngoài trời, hãy sử dụng một loại thuốc thông mũi và mang theo một bình xịt mũi để sử dụng ngay trước khi đi và dừng lạị

       Ngoài ra, nhai kẹo cao su và nuốt thường xuyên cũng có thể giúp giảm bớt áp lực.

       Lưu ý:

       Nếu sau khi áp dụng những mẹo điều trị tự nhiên trên, mà các triệu chứng vẫn nặng hơn, thì bạn nên tìm tới thăm khám bác sĩ thôi!thu ba.jpg

*Thu về! khung cảnh đẹp muôn mầu, nhưng để không bị ốm lúc giao mùa!

       Bạn đừng để mình mắc phải chứng đau họng hay cảm cúm, tiêu chảỵ, khi thời tiết đang giao mùa bởi hoàn toàn có thể phòng ngừa chúng.

       Dinh dưỡng hợp lý

       Dinh dưỡng hợp lý giúp nâng cao sức đề kháng của cơ thể với bệnh tật. Chế độ ăn cần đáp ứng nhu cầu về năng lượng, ăn thiếu và thừa đều có hại. Bạn cần lên một chế độ ăn cung cấp đủ nhu cầu các chất dinh dưỡng bao gồm:

       – Chất đạm (chiếm 10 – 15% năng lượng do đạm cung cấp trong 1 bữa ăn) có nhiều trong thức ăn động vật (thịt, cá, sữa, trứng) và thức ăn thực vật như đậu, đỗ, lạc.

       – Chất béo và tinh bột giúp cung cấp năng lượng chính. Không nên chỉ ăn chất béo động vật (dầu, mỡ) mà nên có 1/3 là chất béo nguồn gốc thực vật (vừng, lạc).

       – Vitamin và khoáng chất có trong rau xanh và quả chín sẽ giúp cung cấp vitamin, chất xơ và các chất khoáng cần thiết cho cơ thể.

       Chế độ ăn cần đáp ứng nhu cầu về năng lượng, ăn thiếu và thừa đều có hạị

       Bên cạnh chế độ ăn dinh dưỡng bạn cần tuân thủ chế độ ăn hợp lý: ăn đủ 3 bữa chính nhưng luôn ưu tiên cho bữa sáng, vẫn bữa quan trọng nhất cung cấp năng lượng cho cơ thể.

       Một mặt quan trọng khác của dinh dưỡng hợp lý là thức ăn cần đảm bảo vệ sinh, thức ăn cần chế biến sạch sẽ, không bị ôi thiu, không chứa các chất có hại cho cơ thể.

       Hoạt động thể lực tăng sức đề kháng tự nhiên

       Luyện tập thể lực thường xuyên sẽ có những tác động tích cực lên hệ miễn dịch, đồng thời sự tiếp xúc với môi trường tự nhiên, sẽ giúp cơ thể dần dần có được nguồn kháng thể tự nhiên, là nguồn vũ khí quan trọng giúp đề kháng với bệnh tật.

       Bạn hãy chọn cho mình một môn thể dục, thể thao phù hợp với thể lực cơ thể để luyện tập hàng ngày. Thể dục thể thao không những giúp bạn có một cơ thể cân đối mà hơn cả là có khả năng giúp cơ thể bạn chống đỡ lại với nhiều loại bệnh tật.

       Cân bằng thời gian sinh hoạt và nghỉ ngơi

       Bạn phải làm được điều này vì sức khoẻ chỉ có hạn, bạn cần có thời gian để cơ thể nạp năng lượng mới có thể tiếp tục làm việc. Cân bằng được thời gian sinh hoạt và nghỉ ngơi sẽ giúp bạn tránh bị quá tải, tránh được stress, căng thẳng là những nguyên nhân hàng đầu làm phát sinh bệnh tật.

       Giữ vệ sinh thân thể

       “Việc rửa tay thường xuyên với xà phòng có thể ngăn chặn được 47% các bệnh liên quan tới đường tiêu hóa và hơn 30% các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp cấp” (Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)).

       Như vậy, chỉ với một thói quen đơn giản là rửa tay sạch sẽ, đúng cách trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, có thể giúp bạn phòng tránh vô số những bệnh truyền nhiễm qua đường tay, miệng như tiêu chảy cấp, viêm gan, nhiễm giun sán, nhiễm ký sinh trùng nguy hiểm đường ruột.

       Xúc miệng nước muối, nhỏ nước muối sinh lý để rửa mũi và rửa mắt, sẽ giúp bạn phòng ngừa bệnh về được hô hấp.

       Mùa Thu, mùa có nhiều cảnh đẹp nên thơ nhất trong năm, tuy nhiên lại không tốt với sức khỏe. Mùa mà ai cũng nên đi chích ngừa, để bảo vệ sức khỏe cho chính mình.

       Khung cảnh có nên thơ cách mấy đi chăng nữa, mà thân thể bịnh lên, bịnh xuống thì…cũng như không!thu bay.jpg

Kính Chúc Quý Văn Thi Hữu trong Văn Thơ Lạc Việt Một Mùa Thu mơ mộng, yêu thương, vui vẻ, hạnh phúc, sáng tác hăng say, ca tụng Nàng Thu mỗi ngày một bài thơ như Thi sĩ Lê Tuấn nhé.thu muoi.jpg

con nai vàng.jpg
kinh chuc.jpg



Nơi Cây Đa Bến Cũ




Xin Được Làm Hạt Muối

Xin được làm hạt muối

Tan vào lòng biển khơi

Sài Gòn trong đau nặng

Thương lắm, đồng bào ơi !

Hạt muối không thêm mặn

Mà trọn vẹn nghĩa tình

“ Lá lành đùm lá rách “

Đùm mãnh đời điêu linh

Biết làm sao nói hết

Bần cùng bao phận đời

Vì ngăn sông cấm chợ

Đau qúa, Sài Gòn ơi !

Tri ân nhóm thiện nguyện

Cùng những lòng hảo tâm

Nhọc nhằn vượt rào chốt

Giúp mãnh đời tối tăm

Mỏi mòn gói trợ cấp

Đảng, Bác hứa giúp dân

Vì nặng “ơn Bác, Đảng”

Dân dài cổ ngóng trông

Đảng ra tay tàn độc

Đang cướp bóc dân lành

Trong vật tư y tế

Nơi trạm chốt vây quanh

Vì đâu mà nên nỗi

Cai trị bởi nhóm người

Gian tham và tàn ác

Đau lắm, Việt Nam ơi !

Đồng bào ơi ! Của tôi

Tiếng vọng buồn đâu đây

Thương người đi kẻ ở

Cánh chim đau lìa bầy

Biết bao giờ dân hiểu

Đất nước đang thụt lùi

Dập vùi bao thế hệ

Chỉ riêng lòng Đảng vui…?

San Jose, California 09/30/2021

Vệ-Trà Huỳnh Kim Anh

San Jose, California 09/30/2021




GIẾNG TRĂNG (Thơ PhamPhanLang. Nhạc Vĩnh Điện)




Dấu Chân Tình Hè

Minh Thúy

Bao nhiêu giai đoạn lo âu lần lượt từ khi dịch bệnh Covid-19, giờ lại nghe tin tức những biến thể Delta. Chúng tôi gồm có chị Đỗ Dung, chị Phương Hoa, chị Lê Diễm tin tưởng mình đã chích 2 liều Pfizer hoặc Moderna nên có ý làm cánh chim bay theo trời hạ, sau khi được chị Phan Lang mời về thăm nhà mới của chị ở “Thành Phố Lướt Sóng” tại Mỹ, nơi có bãi biển Huntington Beach xinh đẹp.

Tôi có nhân duyên được trang chủ Minh Châu Trời Đông gồm chị Ngọc Hà và chị Đỗ Dung làm moderator và Cô Gái Việt là bà bầu Phương Thuý mời gia nhập hội. Đặt biệt hai hội này dành riêng giới phụ nữ, chị em sinh hoạt tâm tình, làm thơ nối đuôi chung đề tài nào đó hoặc vốn liếng thơ văn, nhạc rất dồi dào, gởi cho nhau đọc và nghe giải trí. Tiếp theo tôi được chủ tịch hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc là chị Hồng Thuỷ mời nhập hội viên, từ đó tôi quen chị Phan Lang, một phụ nữ Việt Nam đầu tiên gia nhập quân đội Mỹ với chức vụ Trung Tá, người đàn bà tài sắc vẹn toàn. Chị có bản tính lạc quan, mạnh mẽ hay nghĩ thoáng về mọi chuyện, quyết định nhanh chóng và năng nổ trong các việc. Khi nhớ những kỷ niệm buồn, duyên phận dang dở với người chồng xấu số của chị đã qua đời, nhớ về quê hương đang đau khổ hoặc nhớ thương cha mẹ già ở bên kia quả địa cầu… thì chị dâng lên cảm xúc tràn trên những bài thơ đọc rất buồn và cảm động.

Được biết chồng chị là anh Phạm văn Diên, một cựu thiếu tá trước 75 đã từng chỉ huy chiến hạm PGM615 (loại nhỏ). Đến Mỹ năm 75 anh chị đã làm đủ nghề sinh sống như thợ mộc, thợ hồ, rửa bát đĩa cho nhà hàng, nhổ cỏ, hái trái cây, trông nom trại gà. Anh Diên hoạt động hăng say cùng thân hữu vận động thành lập hội Ái Hữu người Việt đầu tiên tại Columbia, mở trường dạy Việt Ngữ, tổ chức lễ hội truyền thống, Tết Trung Thu, Tết Nguyên Đán, tranh đấu nhân quyền, tự do ở Việt Nam, gây quỹ cứu thuyền nhân…v…v…

Anh chị vừa làm vừa theo học chương trình đại học tại University of Maryland, Eastern Shore. Chị tốt nghiệp 2 bằng cử nhân, trong đó có bằng Nutrition và Dietetics (dinh dưỡng học), chị vẫn tiếp tục học lên thạc sĩ, và chị chọn chương trình Army (Quân Đội).

Anh Diên mất năm 1985 vào dịp lễ Độc Lập, trong buổi tiệc picnic ở bờ biển Foley Beach, SC nằm cách Columbia 3 tiếng đồng hồ lái xe từ nhà anh chị, vì trẻ con bị sóng cuốn, anh cứu con cùng vài trẻ khác sống, nhưng anh đã bỏ mạng, thượng nghĩ sĩ South Carolina (thời đó ban bằng khen cũng như báo chí, mọi người thương tiếc ngưỡng mộ xem anh như một vị anh hùng.

Năm 2002 chị “Phan Lang về hưu, các con đều ăn học thành tài. Chị lập gia đình với Barry (người Mỹ), trước kia là sĩ quan Không quân trong Quân Lực Hoa Kỳ, Barry học lại tốt nghiệp bằng PhD, dạy trường University of Hawaii vài năm, sau này làm việc cho US Navy/Submarine, công việc của Barry là Technical Director at Theater Antisubmarine Warfare Force US Pacific Fleet cho đến ngày về hưu. (Mời đọc bài phỏng vấn rất tỉ mỉ của ông Phạm Tín An Ninh về Trung Tá Phan Lang trên Google).

Hiện nay anh chị sinh sống trên hòn đảo Oahu / Hawaii. Thời gian gần đây vợ chồng chị về mua thêm căn nhà vùng Huntington Beach. Tánh chị thích sống với bạn bè, luôn tham dự họp mặt trung học trường Võ Tánh Nha Trang, bạn mấy diễn đàn MCTĐ, CGV kể cả VBVNHNVĐBHK. Chị mở lòng mời tất cả các chị em về nhà chơi không phân biệt, chỉ đến bằng cái tình thân thiện vui vẻ và cởi mở, chính thái độ hòa nhã nhiệt tình đó làm chúng tôi hứng chí. 

Bắc Cali gồm chị Đỗ Dung, chị Phương Hoa, chị Lê Diễm và tôi rủ nhau về. Ban đầu dự tính chị Lê Diễm lái xe, chị LD là người sinh hoạt năng nổ ngoài cộng đồng những việc lợi ích, viết báo, phóng viên, rất mạnh mẽ tài giỏi, nhưng chúng tôi cũng mong có người đàn ông thay phiên chị lái xe, vì còn lại ba người này yếu tay lái chẳng dám, cuối cùng bạn chị giúp lái phụ.

Đúng lúc tin tức cảnh báo những biến thể của Delta, ông xã chị Phương Hoa lo sợ hăm he “đi về phải cách ly nửa tháng”, chị im lặng âm thầm cuốn gói ra đi. Ông xã chị Đỗ Dung thấy vợ đi chơi với sự háo hức mạnh mẽ nên thương và chìu chuộng, anh cùng hai con đưa chị đến tập trung nhà tôi đầy vẻ khuyến khích. 

Chúng tôi khởi hành ngày 16/7 từ 12 giờ trưa đến hơn 7 giờ tối đến nhà chị Phan Lang. Chúc Anh và chồng đến thăm hẹn mai sẽ chở chúng tôi đi nhiều cảnh đặc biệt của LA, gặp lúc vùng LA có lệnh phải đeo khẩu trang, tính lui tính tới cũng hơi ngán nên dự định hủy bỏ. Chủ nhà dọn sẵn buổi tiệc tối gồm bánh bèo, bánh lọc, món xào chay, gỏi và bún bò. Phần đói lại thấy các món VN do một tay chị PL đứng bếp đảm trách, và vui quá với không khí ấm cúng nên ăn thật ngon miệng.

Barry (chồng chị PL) có nét mặt hiền hậu như tiên ông, ít nói và vô cùng lịch sự với khách. Phe đàn bà ham chụp hình nên chị PL kêu gọi Barry mãi hoài, ông mỉm cười hòa chung niềm vui của vợ trông rất dễ mến.

Đêm nói chuyện râm ran, thức dậy sớm tiếp tục nói, nghe các chị kể chuyện cùng không khí ăn hưởng, tinh thần tôi thấy sảng khoái chị lạ. Sáng các chị em phụ chị PL lột mít, lặt rau, còn chị PL đứng suốt buổi làm đủ món mới, bún xáo tôm thịt bò, nem chả, đổ bánh, nấu món chay cho chị Phương Hoa dùng. Bày ra một bàn xong, lại lẹ làng chớp hình, hối thúc chuyển hình qua các phone, mỗi người đều say sưa dán con mắt vào phone chẳng thiết ăn uống, cho đến khi có chị Như Hảo (đài Mẹ Việt Nam) và chị Kiều Mỹ Duyên (phóng viên chiến trường trước 75) đến thăm mới buông phone vào nhập tiệc.

Chiều có khách đến thăm, dùng chung buổi cơm chiều với món cá kho tộ, tôm thịt kho thật đậm đà, cứ thế vì vui, vì được ngồi chung nên ăn đến cứng bụng …tới đâu thì tới, lên cân thì mặc lên cân…Tối chị PL chở đi xem biển và khu shopping chốc lát, đêm về xem hình từ máy chị PL edit cẩn thẩn từng tấm một rất công phu.

Sáng kế tiếp thức dậy thấy cảnh nhà yên ắng, nghĩ chị PL có lẽ nấu ăn phục vụ bạn quá mệt, nên không dám thức dậy, chị em chạy ra biển lội nước nhìn từng đợt sóng trắng dập dồ thật đẹp, chị Lê Diễm đứng tập thể dục, chị Phương Hoa nhặt từng con sò màu đen, trắng, vàng xinh xắn dạt vào theo từng đợt sóng, tôi dầm chân dưới nước nhìn ngắm mây trời lửng thừng bay, nước xanh mát mênh mông thả hồn về khoảng thời gian đi vượt biên năm nào…

Tiếp tục chương trình các chị đi thăm bạn, có lẽ vì ăn chơi vui quá nên mọi người hồn tự đi xa, bước xuống quên khoá cửa xe, leo lên xe mò chìa khoá không có, chạy vào văn phòng chị Như Hảo tìm. Ghé khu Phước Lộc Thọ mua áo dài, giày dép mỗi người một bao lớn. Thỏa mãn xong, chị Lê Diễm đang cầm phone chị Đỗ Dung lấy địa chỉ, ghé vào nhà khác đón bạn chị, lúc trở ra xe nổ máy, chị Đỗ Dung tìm phone không thấy, chị Lê Diễm chạy trở vào thấy để quên trên bàn. Chị Kiều Mỹ Duyên gọi Lê Diễm không hay, nên gọi chị Phan Lang nhờ chuyển máy, chị PL đưa phone qua chị LD nói chuyện.

Ra về chia tay, ôm nhau bịn rịn hồi lâu, khi xe chạy được 2/3 đường về trong đêm tối, tình cờ chị Đỗ Dung mở phone đọc email, thấy chị Phan Lang nhắn “phone lạc đâu rồi, các chị xem giúp, PL không có internet connection cho TV, GPS cho xe, và không có số phone bạn bè dù dùng phone Barry để gọi”, chị Phương Hoa vội vàng dùng phone gọi số của chị PL thì nó reng trong túi xách của chị Lê Diễm!!! Đọc email vừa thương nhưng cũng mắc cười nghĩ trớ trêu nghịch cảnh, tiếng cười vỡ oang đến nghẹn vì không thể đè nén.  

Đến San Jose hơn 1 giờ sáng, chị Lê Diễm đầy tình cảm chịu khó chở chị Đỗ Dung về tận nhà. Anh Thọ ra đón mừng rỡ, chị Đỗ Dung chỉ chồng lấy các thứ trên xe xuống. Xe chạy gần đến nhà tôi thì chị Đỗ Dung gọi “Mình quên gói quần áo mua nơi khu Phước Lộc Thọ”!!!

“Tới rồi …tới rồi…” tiếng chị Lê Diễm thoải mái nói. Xe leo lên thềm đậu, chị Phương Hoa nhanh nhẹn nhảy xuống chuyền đồ của chị xuống mở sẵn xe và nhờ tôi chuyền qua, trong khi chị tranh thủ dọn thùng sách phía trên. Trước khi ra về chị PH kỹ càng kiểm lại các thứ mới phát hiện tôi bỏ …lộn các thứ trở lại xe chị Lê Diễm!!! (May mắn chị LD chưa về).

Ôi thôi …lứa tuổi này còn được đi xa, gặp bạn bè chị em là điều hiếm hoi và quý hoá, chứ cái đầu ai hình như cũng lơ lửng bay cao…hay tại vui quá nên dư âm vẫn còn ngây ngất những ngày bên nhau?!!!

Cám ơn chị Phan Lang đã bày tỏ tình cảm qua nghĩa cử thương yêu trải rộng cùng bạn bè, tất cả kỷ niệm sẽ được nâng niu giữ gìn trong ký ức như cất giữ tinh hoa đẹp trong cuộc sống

Bóng Mát Trường Xưa 

            Cuối tháng bảy, tin tức bên Việt Nam bị dịch Covid_19 lây lan nặng nề, trí óc bị chi phối, những việc làm theo dự tính của group trường học vẫn phải bước tới. Trước khi về Sacramento tôi nhờ ông xã chuyển tiền của chị em trong gia đình đóng góp, gởi về Huế cũng như Sài Gòn nhờ người nhà bên đó giúp đỡ những kẻ nghèo khổ hoặc người bán hàng rong, bán vé số bị bế tắt, trong lòng mới thấy nhẹ nhàng bớt ray rức là mình không vô cảm.      

Ngày xưa ngôi trường Nữ Trung Học Thành Nội nằm trong thành, học sinh ở ngoài thành học Đồng Khánh, ai ở trong thành học trường Thành Nội. Cô Tôn nữ Tiểu Bích làm Hiệu Trưởng thời đó đã bỏ công rất nhiều từ thuở khai sơ, khi trường Đồng Khánh quá đông không cung ứng đủ lớp học, ty giáo dục cho xây thêm ngôi trường nữ trong thành chỉ có đệ nhất cấp, lên đệ tam lại trở qua trường Đồng Khánh học tiếp, sau thời gian Cô Tiểu Bích vận động xin xây thêm lên đệ nhị cấp hoàn thành. Ngôi trường thọ được 10 năm cho đến tháng tư năm 75 thì thay tên và đổi hiệu trưởng.

Thời đó Cô xã giao bên ngoài rất lanh lẹ. Còn nhớ mỗi cuối kỳ nghỉ hè Cô xin được xe nhà binh đến chở học sinh đi biển Cảnh Dương, biển Thuận An, có lần tàu hải quân đón tại bờ sông Hương chở thầy trò đi thăm Điện Hòn Chén thật ngoạn mục. Cô luôn có những thông báo yêu cầu học sinh thêu khăn để nhà trường gởi ra tiền tuyến làm quà cho các anh chiến sĩ, hoặc dẫn học sinh vào thăm các anh bị thương nằm Quân y Viện trong Mang Cá, năm vừa qua Cô Tiểu Bích cùng Cô Thanh Loan (hiệu trưởng trường Đồng Khánh), phối hợp quyên góp cựu học sinh tiền gởi các anh Thương Phế Binh ở quê nhà, do các cựu học sinh bên đó chia nhau đến tận địa chỉ theo danh sách. Cô sống rất tình cảm, mùa đông thường đan len phát cho các học sinh nghèo, chính vì vậy mà chị Xuân Ba tuy chỉ học một năm và sau đổi vào Nha Trang, nhưng mối ân tình nhận chiếc áo len ngày ấy vẫn nằm trong trái tim của chị. Qua Mỹ chị vẫn trăn trở thương yêu Cô nên bỏ công tìm kiếm những đứa con trường Thành Nội lưu lạc trên xứ người liên kết và tổ chức những buổi họp mặt tình nghĩa. Cô Tiểu Bích và một số học sinh lọt ra nước ngoài ở rải rác. Năm nay Cô đã 84 tuổi làm bạn đời với một bác sĩ người Mỹ tên Fred, hiện ở tại thủ phủ Sacramento thuộc Bắc Cali. Tháng này là Sinh Nhật 89 của Thầy Fred.

Nói về tình nghĩa Thầy trò thật là tinh khiết chứa đựng tình thương, lòng biết ơn quý mến sâu đậm “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Chờ đợi qua mùa dịch dự định một nhóm tổ chức về thăm Cô hiệu trưởng nay cũng lớn tuổi, ngày tháng qua mau nào ai biết hôm mai, nên muốn tạo cho cô niềm vui được lúc nào hay lúc đó.

SÁNG THỨ SÁU ngày 23/7 tôi cùng Thanh Xuân, Phương Chi và cô giáo Đạm Tuyết thuê xe Uber về nhà Cô Hiệu Trưởng, đặc biệt, Phương Chi từ San Diego tình cờ lên thăm con trên SF, ghé nhà tôi chơi, nghe về chuyến họp mặt liền đổi vé máy bay ở lại thêm hai ngày để đi chung. Từng đợt đến kế tiếp, chị Xuân Ba đến từ New York, chị Mễ Khuê từ Colorado, Hoàng Yến từ Texas, vợ chồng anh Tân, Dạ Điểm cũng như vài bạn đến từ Santa Ana. Tại Sacramento có 4 cặp vợ chồng khởi xướng nhiệt tình lo phần ăn uống trong mấy ngày. Vậy là học trò xông pha đại náo nhà Cô hiệu trưởng. Người ta thường nói “chật bụng chứ không chật nhà”. Cô và Phu Quân hân hoan đón chào tất cả. Chúng tôi chiếm giữ phòng ốc cho đến phòng khách, từ dưới thảm lên ghế sofa.

Chiều thứ sáu tập trung tay bắt mặt mừng. Thức ăn tràn ngập do bốn đầu bếp Kim Xuân, Huỳnh Thơ, Dạ Minh, Phạm Vinh tự tay nấu nào là miếng gà, nem chả, bánh lọc trần, bánh gói, bún bò chạo tôm, xôi trắng, xôi đậu đỏ, gà bóp rau răm, chè bột lọc, đậu xanh, và nhiều món lạ, chưa kể Dạ Điểm và rể Tân từ Santa Ana vác cả gia tài gồm bịch Vả to, hũ tôm chua bự lớn, giỏ trái cây, và nhổ cả vườn rau đem đến, Chị Thí anh Phước đặt áo đồng phục màu cam tặng và mấy chục đòn bánh tét, ngoài ra các chị em khác còn mang những món ăn vặt linh tinh, cô Đạm Tuyết mang mấy bịch kẹo chocolate lớn, lem thèm dân bị tiểu đường chơi.

Kể thêm hai cặp Dạ Điểm & Tân, Phước & Thí luôn làm người hùng nhiệt tình mọi việc từ tài chánh, vật chất cũng như công lao để chị em có những cuộc họp thật đầy đủ. Lần này Thao Thao bỏ công hướng dẫn cuộc vui với nhiều địa danh tuyệt vời.

Đêm nhộn nhịp ăn hưởng, nói chuyện râm ran, nói say sưa, nhắc nhở kỷ niệm thời đi học, nhắc tên Thầy Cô ngày ấy. Cô Tiểu Bích ngồi nhìn đàn con cười sung sướng và giỡn hết ga, rể Tân có một bụng chuyện tếu xổ ra làm chị em cười thắt ruột. Còn nhớ những lần họp mặt trước, chị Xuân Ba kể chuyện tiếu lâm, cô Đạm Tuyết nhăn mặt

– đừng nói rứa

Nhưng chị Xuân Ba không nghe và vẫn thao thao bất tuyệt, cô không biết gọi ai quay qua tôi

– Thuý…Thuý …mấy người ni …mấy người ni… chi… lạ…

Tức thì rể khác quay nhìn cô cười  

            – “Đừng nói rứa” thì mần răng cô cho ra những “nhi đồng cứu quốc” đó tề

Cô biết không trả lời được với lũ “nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò” nên đành im lặng trong khi lũ này cười ngắc nghẻo. Có người còn nói

– “đừng nói rứa” chứ sau này sẽ có một ngày cô nói “kể nữa đi” cho mà xem

Giờ đây rể Tân kể đều đều cô Đạm Tuyết im lặng nghe và cười “hiểu rồi…hiểu rồi’ cô Tiểu Bích khoái trá nhái lại

– “đừng nói rứa” hay là “nói nữa đi”… ha…ha… “Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” 

Vì đề tài tạo những trận cười dòn dã nên rể Tân càng hăng hái, cống hiến thêm nhiều chuyện vui nữa.

SÁNG THỨ BẢY, Cô trò ra William B Pond Recreation Area trong William B Pond Regional Park, bên bờ sông American River, người khiêng kẻ vác thức ăn, các ông rể ra trước dựng lều che nắng. Vui hơn nữa có anh Luận & chị Dạ Minh, chị Yến, chị Hồng Soan và chị Minh Thu đến.

Chị em trường Nữ Thành Nội lại điệu đà trong tà áo dài tha thướt chụp chung, chụp riêng, làm mấy ông rể Tân, Phước, Hào, Huy và đặc biệt là rể Lâm chạy ê càng chiều lòng quý nữ. Chưa xong, …màn hai thay đổi xiêm y đồng phục quần trắng áo cam đứng ngồi nghiêng ngả, trong khi trời nóng trên 100 độ, mấy ông rể mồ hôi nhễ nhại thật dễ thương vẫn vui vẻ bị mấy bà la gọi ơi ới, khi hình chất như núi mới thỏa mãn bày biện thức ăn trưa. Chị Yến (khóa đàn chị) đem món bánh ướt chả lụa chay do tự tay chị làm thật ngon miệng. Thỏa mãn bao tử xong, cô trò xuống suối lội nước trong veo thấy từng viên sỏi, giòng nước mát rượi giữa trưa nắng hè, mọi người ngâm chân hưởng làn gió mát dễ chịu, rồi khoái quá ngâm mình ướt từ cổ đến chân.

Trở về nhà Cô Tiểu Bích…. chị em mệt lả, nằm nghỉ dưỡng sức cho tỉnh táo, chờ khoẻ chơi tiếp. Bốn chị em đầu bếp lại tiếp tục sửa soạn thức ăn khác cho buổi tối để mừng sinh nhật thầy Fred, đặc biệt chị Dạ Minh đặt món Tira Misu tại tiệm bánh Ettore’s nổi tiếng tặng cô thầy rất ngon, kế tiếp Huỳnh Thơ làm chè Khúc Bạch, tôi thấy món lạ quá nên muốn học hỏi, bạn cho biết loại chè này gồm có: Gelatine, Sữa Tươi, Sữa Đặc, trái cây (Xoài, Nhãn, Vải, Chôm Chôm, Strawberry… v..v…)       Đêm văn nghệ bỏ túi thân mật, có hai giọng ca hay nhất là rể Phước và Kim Xuân được yêu cầu hát hoài, tới khuya cuộc vui dừng lại để ngày mai chuẩn bị lên đường đi chơi nơi khác.

SÁNG CHỦ NHẬT mờ sương mọi người thức dậy chào nhau, tiếng nói râm ran, mùi cà phê thơm phức, chị Thí luôn là người nội trợ giỏi, đảm đang lo hâm nồi bún bò, cắt bánh tét phục vụ mọi người ăn sáng no nê. Đúng 9 giờ cả đoàn tập trung tại nhà cô Tiểu Bích. Xe chạy khoảng hơn 2 tiếng đến Hotel Tahoe Hacienda Inn thuộc South Lake Tahoe Meadows, ăn trưa xong chờ lấy chìa khoá phòng đẩy hành lý vào. Chúng tôi đi bộ ra biển, trên đường nhìn toàn những cây thông cao bao bọc dẫn đến bãi, khách đạp xe nhàn lãm, người đông trên biển, chị em lội nước vui chơi mấy tiếng đồng hồ rồi trở về thay đổi xiêm y chuẩn bị đi ăn tối. Một… hiền phụ chạy qua phòng tôi thở dài

– Mình đem hai bộ áo dài, ba bộ đầm nhưng quên mang giày dép

Tôi trố mắt 

– rứa thì khi leo lên xe mi đi chân đất à? mi ở Stockton chứ mô có xa

– mình…mình…quên 

Lại được trận cười nữa, chị em đem dư giày đưa thử, sau cũng có đôi mang vừa, 10 phút sau bạn tôi trong chiếc dress thật sang trọng, càng đẹp thêm nhờ bạn có dáng cao ráo, thon thả quý phái, cộng thêm lối nói chuyện nhẹ nhàng ngọt ngào với nụ cười luôn nở trên môi thoải mái. Ơi chao! đến cái tuổi …quên…quên đủ thứ xảy ra trong nhóm liên tục mấy ngày qua.

Thao Thao tìm ra quán Thai On Ski Run, trời đêm gió mát ngồi ngoài sân say sưa nói chuyện trong lúc chờ đợi, không ngờ quán đông khách quá, chúng tôi bắt đầu thấy đói bụng nhưng phải đợi hơn một tiếng đồng hồ thức ăn mới đem ra từ từ. Ngồi ăn cùng nhau không phải là điều dễ nên chúng tôi cảm thấy hạnh phúc lâng lâng biết quý những giây phút hiện tại.

SÁNG THỨ HAI đoàn tiếp tục đi tới Nevada Beach, bãi biển này vào cửa đóng $10 mỗi xe, nơi cắm trại với khung cảnh chung quanh là những cây thông cao vợi. Sáng sớm biển vắng người yên tĩnh, nắng hạ đang còn lưng chừng, một vùng sương mù bên kia những dãy núi, nước màu xanh ngọc dịu mát, bãi cát vàng mịn màng êm như nhung. Các chị em tha hồ tung tăng lội nước, chờ những con sóng nhào tới nhảy lên đầy thích thú. Nhìn Hoàng Yến nhảy liên tục dưới nước khiến tôi đầy kinh ngạc, vì đêm đầu tiên mới đến, Hoàng Yến vô ý bị vấp chân nơi bậc thềm va chạm mạnh, chân sưng vù, chị em hoảng sợ, người lấy đá, người lấy thau cho bạn ngâm chân, từ đó bạn đi cà nhắc từng bước và chân vẫn còn sưng…Đang còn ngơ ngẩn bỗng thấy Thanh Xuân chạy trên cát, có điều gì đó làm tôi khựng lại suy nghĩ chưa ra, sau sực nhớ Thanh Xuân bị gãy xương, một chân bắt vít ốc đã mấy năm, vì vậy Thanh Xuân không thể tham dự những cuộc họp mặt vì hễ chân đi bộ một đoạn là sẽ đau và sưng vù, lần này trước khi tham dự, Thanh Xuân cũng hơi lo chuyện đi bộ sẽ ảnh hưởng đến cổ chân…vậy mà bây giờ nhìn Hoàng Yến và Thanh Xuân chạy nhảy, thật hết sức ngạc nhiên, đến hỏi hai người có đau chân không? cả hai cười khì lắc đầu. Niềm vui giúp tinh thần mạnh mẽ đến như vậy, giúp vượt qua vết thương của thể xác đến không còn biết đau đớn gì, tôi mỉm cười như vừa tìm ra chân lý.

Vẫn tiếp tục đeo nhau xúm xít hành các ông rể chụp hình không biết bao nhiêu là đủ, có hai cặp còn ngồi lên lưng chồng nhờ rể khác chụp hình nữa…Vậy đó! toàn những cô nữ sinh Thành Nội một thời áo trắng đội nón bài thơ, tan trường như bươm bướm lượn hướng về cửa Đông Ba, cửa Thượng Tứ hay Cầu Kho, Tây Lộc hoặc trên đường Phượng Bay có bóng mát êm dịu của hàng cây xanh, có hồ Sen tươi mát trước cổng Đại Nội. Nay tỵ nạn trên xứ người, gầy công cày bừa chăm nuôi các con ăn học nên người, đạt danh phận cao hãnh diện, giờ họ đã thành bà nội, bà ngoại cả rồi chứ đâu còn trẻ nhỏ, nhưng chị em bạn học cũ gặp nhau bỗng sống lại thời nghịch ngợm hồn nhiên. Ôi! cuộc gặp gỡ giữa tình thầy trò, tình bạn thật đáng giá níu lại tuổi thanh xuân và cũng sẽ được tăng tuổi thọ, tôi nghĩ vậy. 

Dọc theo bờ biển thong dong hưởng khí trời trong mát, nắng đã lên cao chiếu hồng rực rỡ, thương quá tiếng sóng rì rào êm ái. Thả mặc các bạn vẫn say mê chụp hình, tôi ngồi xuống duỗi thẳng đôi chân chờ những đợt sóng cuồn cuộn tấp đến, trời xanh dịu theo những cụm mây trắng nhẹ nhàng, biển mênh mông bát ngát, vài cánh buồm nhấp nhô xa tít đưa tâm hồn tôi trở về ngôi trường Thành Nội, nhớ bạn bè, thầy cô, số còn sống, số đã qua đời, cứ vậy miên man từ hình ảnh này qua kỷ niệm khác say sưa cho đến khi chị em gọi đi về.

Dọn dẹp hành lý check out ra về vẫn còn luyến tiếc khung cảnh Nevada Beach quá đẹp. Anh Tân và Dạ Điểm mời cả đoàn ăn trưa, muốn những người thổ địa vùng Sacramento chọn dùm nhà hàng, nghe cô Tiểu Bích và các em nói có nhà hàng Lemon Grass rất ngon cũng như khung cảnh lịch sự, nhưng rất tiếc thứ hai đóng cửa. Cô Tiểu Bích nhờ thầy Fred chọn dùm tên tiệm là Summer 52 nằm trong khu shopping rộng lớn. Tiệm dành cho cả đoàn theo sự đặt chỗ của thầy Fred vào gian phòng riêng biệt, cho nên phe ta lại hát hò, hợp ca thoải mái dù ồn ào vẫn không ảnh hưởng bên ngoài. Rể Tân trả tiền nhưng Cô Thầy đã thanh toán tự hồi nào làm anh khựng người chẳng nói nên lời. Tuy ăn trưa nhưng cũng kéo dài tới chiều thong thả.

Về nhà cô Tiểu Bích phát hiện mất chùm chìa khoá và các giấy tờ tùy thân, học trò lớp xổ tung vali cũng như túi xách của Cô ra tìm, lớp gọi phone liên lạc hotel nhờ kiếm giúp, vẫn không có kết quả, thầy Fred lên máy gọi cancel số các thẻ visa.

Đêm cuối cùng, cô muốn ngồi nói chuyện hoài dù cô Đạm Tuyết nhắc nhở bao nhiêu lần là “đã khuya rồi” 

Cô Tiểu Bích nói

– Rất vui vì cuối đời có được hạnh phúc bên thầy Fred, và thêm bầy học trò luôn xúm xít quanh cô, lại được chị Xuân Ba tìm kiếm thêm cựu nữ sinh, tổ chức những cuộc họp mặt đầy tình nghĩa thầy trò, hôm nay dù sau mùa dịch, chỉ là cuộc văn nghệ bỏ túi nhưng thật sự quá vui, trò chơi đâu kéo cô theo đó, có ai sung sướng bằng cô không?

Giờ khuya cả nhà ngủ say, thầy Fred nghe tiếng nước chảy ầm ầm sau vườn, dậy phát hiện ống nước bể, rể Tân thức theo phụ hứng nước nhiều bình trước khi khoá ống.

SÁNG THỨ BA thức sớm, Cô lo nước và bánh trái cho chúng tôi bới theo, Dạ Điếm và anh Tân cùng về một lượt. Tôi muốn học tánh Cô dù gặp xui xẻo điều gì, Cô vẫn nhanh chóng đẩy lùi nhường bước cho sự vui vẻ và nụ cười lạc quan tiếp tục, Thầy Cô chở ra bến xe đò Hoàng, chúng tôi leo xe ngồi thúc giục cô trở về, nhưng thầy cô vẫn đứng đợi cho đến khi xe chạy.

Chuyến đi như được hồi sinh lại cuộc sống, tươi vui trọn vẹn. Trước tiên em cám ơn thầy Fred và cô Tiểu Bích, đã để tụi em tới phá nhà phá cửa, ăn sạch hết tủ lạnh, và buổi cuối được thầy cô đãi ăn nhà hàng đắt tiền, cám ơn Huỳnh Thơ và anh Minh, Phạm Vinh và anh Huy, Chị Dạ Minh và anh Luận, Kim Xuân và Lâm đã lo phần thực phẩm ê hề, cám ơn chị Thí anh Phước, Dạ Điểm anh Tân cung cấp thêm thức ăn ngập mặt, thương lắm những người ở xa đầy nhiệt huyết như chị Mễ Khuê, chị Xuân Ba và Hoàng Yến cùng các chị em khác đã góp mặt, cám ơn Thao Thao tìm tòi những phong cảnh đẹp, thuê khách sạn, sắp xếp tổ chức chu đáo và người quan trọng nữa là cô Đạm Tuyết đã kêu gọi, liên lạc thông tin gói trọn niềm vui dâng đến Cô Tiểu Bích của mùa hè 2021.

Ngày Hè Của Lính

Chủ nhật ngày 8 /8 quý hội đoàn cựu quân nhân tổ chức buổi picnic tại Lake Cunningham Park tại thành phố San Jose (Bắc Cali). Ngày rực nắng họp mặt vui chơi văn nghệ. Nhìn các chú, các anh trong mọi binh chủng QLVNCH, mái đầu điểm sương trắng, có chú đi chậm chạp chống gậy vẫn cố gắng tham dự để gặp bạn hữu tìm kiếm niềm vui tuổi già, tôi đi quanh quan sát và thật sự xúc động nhìn họ tay bắt mặt mừng với nét mặt rạng rỡ.

Tôi hồi tưởng đến những ngày xa xưa, thời nữ sinh mặc áo dài trắng cắp sách đến trường, thì các anh phải xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi non sông, thời các anh chiến đấu dũng cảm với quân thù để bảo vệ đất nước, cho chúng tôi 20 năm sống trong tự do no ấm. Đối với tôi người lính VNCH ngày ấy quá hy sinh công lao xương máu cho tổ quốc thật kiên cường. Biết bao nhiêu trận chiến thắng từ trong Nam ra đến miền Trung, tôi nhớ có lần được cô Hiệu Trưởng điều động học trò ra Phu Vân Lâu,  dưới sự sắp xếp hướng dẫn của các nữ quân nhân để choàng vòng hoa chiến thắng cho các anh trong trận đánh tại Quảng Trị, cảm giác hồi hộp e dè đứng trước mặt người lính, nhạc vang rộn ràng  “ Vòng hoa chiến thắng, chúng em xin dâng tặng anh …” cho đến khi nhạc ngừng với tiếng nói trên loa “Các em nữ sinh choàng vòng hoa chiến thắng cho các anh chiến sĩ VNCH “, tay tôi run run pha lẫn chút mắc cỡ mà trong lòng vui theo niềm vui của các anh. Bên cạnh đó chiến tranh cũng đem đến nỗi đau khổ cho người lính Thương Phế Binh, hay những vị anh hùng tử trận, đã để lại bao nhiêu hình ảnh bi thương cô nhi quả phụ mặt còn non trẻ đã quấn vành khăn tang ẵm con thơ đi đầy đường.

Sau 75, miền Nam thất thủ lại càng điêu đứng cảnh vào tù, những người vợ khổ cực gánh gồng bươn chải thật tội nghiệp. Nay nhờ sự ân huệ cứu giúp của đất nước Mỹ, một phần lớn Cựu Quân Nhân VNCH và gia đình được qua Mỹ tỵ nạn. Nhưng trong lòng các anh vẫn mang nỗi buồn nhục khôn nguôi, dù vậy, các anh chị vẫn bắt tay vào đời sống thực tế, làm lụng nuôi con. Thế hệ con cháu nay đã thành danh rạng rỡ trên xứ Mỹ, thì người cha bắt đầu mỏi gối lưng còng, tuy vậy họ vẫn vận dụng tối đa sức lực bằng cách tổ chức gây quỹ hay quyên góp tiền bạc để chia sẻ các anh TPBVNCH còn lại ở trong nước.

Nhìn những khuôn mặt già nua tươi cười, có số mặc lại bộ quân phục ngày nào, họ chào nhau, ngồi lại với nhau từng nhóm trò chuyện ăn uống, tôi cảm nhận ra mình cũng đang vui theo niềm vui của các chú các anh. Nhóm chị em chúng tôi góp hai tiết mục hợp ca bài “Việt Nam” và “Cô Gái Việt” cũng như hát chào cờ. Mùa hè nhen lên sinh khí yêu đời của một ngày nắng rực rỡ, tạm quên nỗi lo lắng về dịch Delta…

Lễ Vu Lan 

Mùa báo hiếu đã đến, nhận nhiều thư mời dự từ các Chùa, trước tiên tôi đến Chùa Phổ Từ đúng ngày rằm tháng bảy. Không khí Chùa vẫn còn e dè theo dịch bịnh Covid chưa xong nay lại thêm nạn Delta. Rằm tháng bảy niềm tin của người con Phật theo câu chuyện ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên, chỉ biết làm phước và hồi hướng công đức cho cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp cũng như hiện tại luôn được siêu thoát vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc, cầu nguyện nạn dịch Covid -19 đi khỏi cho nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng được nhận mọi sự bình an trở lại, nhất là quê hương dân hiền đang đói khổ thảm hại. 

          Quý Thầy cho thời pháp về câu chuyện của ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát, tứ chúng bịt khẩu trang ngồi tụng kinh thành tâm, các em gia đình Phật tử Chánh Hoà mừng ngày kỷ niệm 16 năm thành lập, gia đình Phật tử Chánh Tâm sau giờ hành lễ, tề tựu trong chánh điện thưởng thức màn trình diễn âm nhạc đặt biệt của cô Vân Ánh Võ và dàn nhạc Trăng Máu (Blood Moon Orchestra),  một chương trình âm nhạc miễn phí  dành cho cộng đồng với sự hỗ trợ của rất nhiều cá nhân và các quỹ văn hoá của tiểu bang: Vietnamese Educational & Cultural Association (Veca), Alliance for California Traditional Arts (ACTA), California Arts Council (CAC), Vietnamese American Non-governmental Network(VANGO), và quỹ hỗ trợ tài năng trẻ của chính họ lập ra: “Music Bridge” . Mọi người được thưởng thức bé Kira đàn bài “Lòng Mẹ”, cô Vân Ánh bài “Mưa Trên Phố Huế”, dân ca miền Trung… v…v… thật hay và thấm thía. Mùa thu lãng vãng đó đây theo luồng gió mát, bóng nắng yếu ớt mơn man những giàn hoa vàng, đỏ tươi thắm, mùa hạ sắp ra đi, nhưng tình hạ đã để lại trong lòng tôi những kỷ niệm thân thương nhẹ nhàng vô cùng.

                                                                   Minh Thuý Thành Nội 2021







Hội Thoại Tuyển tập “Sống Với Tâm Nhàn”

https://m.youtube.com/watch?v=nAOG0qFjF7g&t=1093s



LÀM THẾ NÀO ĐỂ THÊM BẠN BỚT THÙ?

KIỀU MỸ DUYÊN

          Ông bà mình thường dạy con cháu: thêm bạn bớt thù. Câu này tôi thuộc lòng. Tôi thường nói với các chuyên viên của tôi: mọi người trong chúng ta chỉ có một cha, một mẹ sinh mình ra là thương mình, nhưng làm thế nào ra đời được nhiều người thương mới là chuyện khó? Chỉ có Trời hại mình, mình mới chết, còn như mình sống thật thà ngay thẳng, nếu có người bắt nạt mình thì sẽ có người khác bênh vực ngay. Cho nên sống làm sao để cho người khác thương thì nhất định không sợ đói.

          Mình chào mọi người bằng nụ cười hồn nhiên, đâu có mất gì đâu, tại sao không cười chứ? Nụ cười hay tiếng cười đem sự vui vẻ, thân thiện với người khác, tại sao không cười chứ? Tôi thích nhìn nụ cười, tôi thích nghe tiếng cười reo vui của người xung quanh tôi, ai cũng thích vui, không ai thích nhìn người khác khóc, tiếng khóc thường đem đến cho người khác buồn phiền.

          Một hôm đẹp trời, cô thư ký của tôi cho cá ăn, và nói:

          – Kiếp sau con sẽ làm cá, cá ăn rồi bơi lội nhởn nhơ, mỗi ngày có người đem thức ăn đến, cuối tuần có người lau chùi bồn cá, để cho nước trong veo. Làm cá sướng hơn làm người, suốt đời có người cho ăn, thảnh thơi bơi lội.

          Tôi nói:

          – Đây là cá kiểng cho người ta ngắm. Ở trong các nhà hàng có cá lội nhởn nhơ, hay tôm hùm cũng bơi lội nhưng khách đến, nhân viên của nhà hàng đem cá sống đến và nói với khách: ông bà có thích con cá này hay con tôm hùm này không?

          Thế rồi, con tôm, con cá bị chặt đầu, lột da đem lên lò lửa. Than ôi, xong đời con cá, con tôm hùm.

          Nhiều khi con tôm, con cá mới vừa chào đời một vài ba tháng đã vào bụng khách hàng.

Cá kiểng nhởn nhơ bơi lội vì có người chăm sóc.

          Tuổi trẻ ở Mỹ bây giờ cũng thích ăn chay. Ăn chay không phải vì đạo, nhưng ăn chay vì tránh sát sinh. Tôi rất ngưỡng mộ người trẻ ăn chay một cách ngon lành. Có nhiều người ăn chay không quen, ăn một cách miễn cưỡng, vì không muốn làm mất lòng người khác đã mời mình.

          Sống ở đời làm vừa lòng người khác rất khó, vì mỗi người một tính, cùng cha mẹ nhiều khi anh chị em còn khác tính nhau, nói chi người ở ngoài gia đình.

          Người thích uống trà nóng, người thích uống nước lạnh, nên tôn trọng ý kiến lẫn nhau, đừng làm phiền người khác, nhất là đừng để ý đến đời tư của người xung quanh, dù người đó là bạn của của mình hay người thân trong gia đình của mình.

          Sống để cho người xung quanh thương rất khó, làm cho người ta ghét mình thì dễ, chỉ cần một câu nói, một cử chỉ, hay ánh mắt có thể làm cho người ta giận mình, ghét mình.

Thêm bạn bớt thù: hãy khoan dung.

          Một người bạn suốt đời làm việc xã hội thường nói với tôi:

          – Mình làm cho người khác 99 điều tốt, họ rất hài lòng, chỉ cần làm một điều họ không bằng lòng là họ ghét mình ngay, và những điều mình làm tốt họ đổ ra sông ra biển.

          Tại sao người ta thích nuôi chó, chó không nói, chỉ biết sủa nhưng rất trung thành với chủ. Chủ chết, chó ra mộ của chủ nằm dài, để chứng tỏ lòng trung thành, còn con người mau quên lắm, người chết rồi vài năm sau có ai còn nhớ mình?

          Tôi nói:

          – Bạn bi quan quá, đâu có đến đỗi như thế.

          Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn qua đời đã mấy năm rồi nhưng mỗi lần đi ngang qua con đường Westminster, công viên của Garden Grove, tôi đều nhớ đến chị Hạnh Nhơn, nhớ ánh đèn sân khấu, nhớ đến Đại nhạc hội Cảm Ơn Anh Người Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhớ đến thương phế binh, cô nhi quả phụ ở quê nhà.

          Người mang ơn người vẫn ở trong lòng người còn hiện hữu quanh đây. Một người quên thì còn 99 người nhớ, nhớ cả người tốt lẫn người xấu. Nhà độc tài Hitler đã chết lâu rồi nhưng người sinh thời vẫn nhớ sự độc ác của nhà độc tài này.

          Sống làm sao để người khác thương? Hãy thêm bạn bớt thù.

Thêm bạn bớt thù: hãy tha thứ.

          Những đứa trẻ được ông bà, cha mẹ giáo dục một cách cẩn thận, sống với trái tim nhân hậu của mình, sống được thương yêu và dạy bảo thương yêu người khác, khi đứa trẻ lớn lên, nếu được giáo dục kỹ lưỡng, sống với trái tim nhân hậu của mình, chia sẻ những gì mình có, giúp người xung quanh những gì họ cần, thì làm sao mà không được thương yêu chứ?

          Đừng bao giờ dạy con cháu của mình: con ăn thức ăn này ngon, mặc áo này đẹp, đi xe này sang trọng, mà hãy dạy những đứa trẻ: con hãy thương yêu người nghèo, khi thấy một cụ già đi chợ, con có thể khuân thức ăn dùm các cụ vào xe, hãy dìu dắt cụ già qua đường; vào trường học, nếu con thấy bằng hữu của con không mang theo thức ăn trưa, con chia sẻ thức ăn của con với bạn bè của con, con hãy sống với trái tim nhân hậu của mình.

          Rồi từ từ đứa nhỏ lớn lên, những điều học hỏi từ nhỏ, đứa trẻ thương yêu người xung quanh và được thương yêu, nhất định đứa trẻ sẽ thành công trong xã hội này.

          Không ai sống một mình, mà thường sống với mọi người. Còn nhỏ thì sống với ông bà, cha mẹ, khi lớn lên sống với vợ chồng, hay sống với đoàn thể, sống với công ăn việc làm, sống làm sao cho vui, sống được thương yêu và thương yêu người khác. Nhất định trong đời sống của chúng ta không nên gieo rắc oán thù, không thù ai thì lòng mình sẽ bình thản, hạnh phúc. Sống làm sao buổi tối về nhà trong lòng mình thanh thản, ngủ ngon. Nhất định không nhìn ai với ánh mắt thù hằn. Thù người khác để làm gì chứ? Mệt cái đầu lắm? Nếu sống không để ai thù mình, tốt nhất là không nghe, không thấy và không nói: không nghe những gì xấu của người khác, không nói những gì làm phiền người khác, không thấy những gì người khác làm không tốt. Nếu làm được 3 điều này, nhất định sẽ không gây thù, gây oán với ai?

Nếu sống không để ai thù mình, tốt nhất là không nghe, không thấy và không nói.

          Ông bà mình thường nói: lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Ông bà, cha mẹ dạy con cháu giống nhau, người nào cũng học nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, v.v. nhưng học xong có thực hành được hay không còn tùy từng người, có người nghe từ tai này rồi sang tai kia, nghe rồi quên ngay.

          Nếu người nào cũng nói năng một cách khéo léo, khéo nhưng phải thành thật chứ không phải nói ngọt như đường, như mật lịm nhưng nói vậy không phải vậy. Nếu lời nói thành thật từ tâm của mình mà ra thì người nghe sẽ cảm nhận được những gì mình nói là thật sẽ cảm kích lắm.

          Giúp người cũng vậy, giúp xong quên ngay, thi ân bất cầu báo, nhưng nếu mình nhận sự giúp đỡ của người khác thì mình phải nhớ, dù người làm ơn cho mình không cần báo đáp. Mình giúp người này thì sẽ có người khác giúp cho con cháu của mình. Sống được người thương thì đi bất cứ nơi đâu trên quả đất này cũng không sợ đói.

          Một thương gia thường tâm sự với tôi:

          – Chị ơi, em không sợ gì hết, không sợ nắng gió, bão táp của cuộc đời, nhưng em sợ người ta ghét em. Nhiều khi mình nói lỡ lời bị người ta thù mình, dù vô tình cũng thế. Nhất là em sợ làm mất lòng người thân.

          Tôi đề nghị:

          – Mỗi buổi tối, sau khi em tập thể dục, em nên suy nghĩ ngày hôm nay mình có làm mất lòng ai không? Ghi ra những lời mình nói, những việc mình làm có thể làm mất lòng người khác. Nếu ngày nào mình cũng kiểm điểm việc làm của mình thì mình sẽ đi đến hoàn hảo. Buổi tối, em cầu nguyện trước khi đi ngủ thì nên kiểm điểm lại chính mình trước khi cầu nguyện. Cầu nguyện cho tất cả những người thân yêu của mình được bình yên, đồng bào của mình được may mắn và hạnh phúc.

          Tôi thường viết ra những việc làm hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng và những người tôi sẽ gặp, sẽ gọi điện thoại, làm việc gì tôi viết ra giấy, một ngày viết ra chừng 20 việc phải làm, những việc chưa làm hết  ngày hôm nay thì hôm sau tiếp tục làm cho xong. Một cuộc đời mấy chục năm nghe dài lắm nhưng thật sự quá ngắn vì có những mơ ước chưa thực hiện được, có những việc làm chưa xong. Có một việc duy nhất mà ông bà, cha mẹ dạy cho con cháu là thêm bạn bớt thù, sống phải thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau. Có ai tự hào mình làm được tất cả những gì mình mơ ước trong cuộc đời này?

Kiều Mỹ Duyên mơ ước những đứa trẻ ở các nước đang phát triển có đủ cơm ăn, áo mặc, và được giáo dục một cách cẩn thận.
(Kiều Mỹ Duyên thăm cô nhi viện ở Cà Mau)

          Thôi thì sống có mơ ước hơn là không có mơ ước gì, thực hiện được hay không còn tùy từng người. Riêng tôi, tôi mơ những đứa trẻ ở các nước đang phát triển có đủ cơm ăn, áo mặc, được giáo dục một cách cẩn thận. Những đứa trẻ là hình ảnh của thiên thần, những đứa trẻ lớn lên vào đời, sẽ sống hạnh phúc, giúp người và giúp đời.

          Nếu chúng ta sống với trái tim nhân hậu, yêu thương mọi người, không làm mất lòng ai thì đời sống sẽ vui và hạnh phúc hơn. Chúng ta sẽ nhìn thấy nhiều nụ cười hồn nhiên trên khuôn mặt mọi người hơn là nhìn những khuôn mặt nhăn nhó, giận hờn, mắt trợn dọc dữ dằn. Đời sống sẽ êm đẹp hơn nếu được thương yêu và có nhiều bằng hữu hơn kẻ thù.

          Mong mọi người đến với nhau bằng sự yêu thương, đùm bọc hơn là đến với nhau bằng sự thù hằn?

          Xin Thượng Đế ban phúc lành cho tất cả mọi người.

Orange County, 14/9/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)