(thơ song ngữ) TƯỞNG NIỆM CHIẾN SĨ TRẬN VONG của TỪ PHONG & THANH-THANH




Bến Xuân Xưa




Lời trối trăng của T.T. Ngô Đình Diệm




(thơ song ngữ) NHỮNG TẤM LÒNG NHÂN ÁI của NGỌC AN & THANH-THANH




Đọc Truyện Đội Đập Đá Trại 6 Nghệ Tĩnh Phần 1 & 2




NGƯỜI TÌNH CỦA CHAPA.

CAO MỴ NHÂN 

Mới sáng ngày ra, tôi đã nghe thấy tiếng réo gọi từ thâm tâm, chàng A Phủ muôn đời ở Chapa xưa, mà tôi không thể nào quên được dáng hình thô kệch, ngốc nghếch, ngơ ngác …bên tai, cùng tiếng gió hú nhẹ thôi, lẫn trong hơi thở dài toàn mùi thuốc lá rừng . 

Tôi tung mền ngồi dậy, nhìn ra cửa sổ, mặt trời hôm nay mầu vàng, không thật đỏ thắm như mấy tuần trước đây, có nghĩa là khí lạnh của sương đêm còn bao phủ . 

Đó là mầu mặt trời ở lâm nguyên nhiều cây cao và ghê hồn như lúc nào cũng có ma đứng cạnh …

Và đó cũng là mầu mặt trời đẹp nhất, vào những ngày trong sáng nhất, ấm áp nhất ở nơi tôi đã được sinh ra, CHAPA, vâng , tôi muốn kể hay chỉ cần nhắc lại thời thơ ấu, niên thiếu, quanh ngôi nhà có 3 mặt tường là kiến thật dày, còn vách tường phía sau đã áp vô đá núi . 

Đó là hình ảnh đầu tiên tôi thường thấy mỗi năm vào dịp xuân về, cùng hình ảnh chàng a phủ bất biến trong tâm tư tôi, mỗi mùa xuân tôi trở lại gặp chàng, người tình cổ quái của Chapa thủa đệ nhất bán thế kỷ 20 vừa qua, nghĩa là trước cái năm đất nước VIỆT NAM chia đôi,  1954.

Tôi phải dựa vào chàng ta, một nhân vật thực hư ẩn hiện trong ký ức 70 năm qua. 

Ông này, chàng a phủ bây giờ rất buồn, và rất nhiều năm rồi đã rất buồn mỗi lần người mán mường ấy cô đơn đi trên con đường không còn một dấu vết cũ .

Chàng a phủ Chapa, phải chỉ danh rõ ràng là người Mèo mới đúng. Cho dẫu sau này , tôi được biết không còn danh xưng Mèo nữa , mà nào là H ‘Mong, nào Miêu, Dao,thậm chí còn kêu chàng là Miu gì đó …

Nhưng là chi thì là, với tôi thủa ở Chapa trước khi phải về châu thổ sông Hồng Hà, tôi vẫn thấy dân chúng sinh sống ở lâm nguyên này, vẫn chỉ nói với nhau 2 chữ : người Mèo . 

Thế thì đã hơn một lần tôi kể với quý vị là người Mèo, mà trong đó có chàng a phủ chung chung kia, cư ngụ trên những vạt núi cao nhất, phía tầng thấp hơn của núi non là xã hội của người Mán . 

Rồi cứ như thế, càng gần thế giới người Kinh, tức Việt tộc văn minh, tiện nghi là các sắc tộc cơ bản như : Mường, Tày , Nùng ( còn gọi là Nông ? ) , Sáng sủa đẹp mắt vẫn là người Thái ( Thái trắng, Thái đen ) . 

Trở lại Chapa như tôi muốn kể  hôm nay về chàng a phủ cùng những gì chung quanh chàng ta…

Sáng nay A Phủ nhắc rằng : ” Có thấy mùa xuân sắp về không , cho dẫu còn mùa trăng đông rét mướt nữa , nhưng trong khắp các buôn bản, nhất là ở lũng Mường Hoa, không khí sinh tồn rất lạ . ” 

Còn những hơn trăm ngày nữa mới thấy mặt mùa xuân, sao bản Mường Hoa mừng rỡ điều chi vậy chứ ? ” 

À, họ ra sức thay đổi những luống hoa, họ ra sức dệt thổ cẩm đủ mầu như sắc hoa ngoài trời , nhất là họ tự may những xiêm y sặc sỡ , không phân biệt tuổi tác, họ thảnh thơi sống giữa thiên nhiên …

Thì vốn từ xưa vậy rồi, có chi khác hơn đâu ? 

Hơn chứ, hơn nhiều lắm , dù không phải hơn theo tiếng hú vượn xa, tiếng chim gần nhà vv… mà chúng ta không thể tìm thấy một Chapa thơ mộng, thần thoại nữa . 

Tôi rời Chapa đi lâu quá rồi, tôi không hiểu những điều bạn nói a phủ à. 

Thế này nhé, chữ CHAPA, đã chỉ còn trong ký ức những ai sống ở đó mấy chục năm xưa rất xưa thôi. Chapa nay kêu là SA PA, vâng SA PÁ , chính là Sa PÁ nguyên bản của H’ MONG đấy, người Trung Hoa lại làm rõ nghĩa ra SA PA là Bãi Cát . 

Thế thì từ đây, chúng mình cứ kêu BÃI CÁT cho hiểu ngay nha. 

Được, cũng có nghĩa là ngày xưa, tôi được sinh ra nơi Bãi Cát ư ? Thì có sao đâu.

Đừng liên tưởng máy móc vậy, bạn vừa nói ngôi nhà thủa bé thơ bạn ở với cha mẹ, là ngôi nhà ” thần thoại ” toàn vách tường bằng kiến cơ mà, ô nhà như các lâu đài trong chuyện cổ tích vậy nhỉ ? 

A , đó chỉ là ” Nhà chức vụ ” ba tôi được cấp từ thời Tây, ba tôi không làm công việc giám đốc sở máy điện kiêm sở máy nước Chapa, sẽ không được ở nhà đó nữa . 

Một loạt những vị công chức cao cấp ở Chapa thời đó như ba tôi, đều có nhà ở như vậy , bởi lẽ Chapa là làng nghỉ mát của những ông tây bà đầm người Pháp sống trên toàn cõi Đông Dương thời Pháp thuộc, nên không lạ khi Chapa mang mầu sắc Âu Châu từ buổi đầu tiên khai sáng, đầu thế kỷ 20 vừa qua. 

Đứng trước một rừng đào cánh kép tươi vui, rực rỡ, người ta dễ quên đi những bộn bề ý thức, tư duy mà sau này  có thể hiểu  phạm trù ý thức hệ, thì Chapa thủa đó chính là ngưỡng cửa của thiên đường nơi hạ giới Việt Miên Lèo, mà thực dân Pháp tóm gọn trong 2 chữ Đông Dương quen tai. 

Và nếu quý vị cần biết chi tiết về một SA PA, hậu thân của CHAPA xưa, lập tức có hằng trăm phương tiện giúp quý vị đi tới một SA PA, không phải CHAPA, nơi sanh quán của tôi. 

Do đó tôi không tổng hợp công việc của một hướng dẫn viên du lịch, tôi lại thầm thì với chàng a phủ già nua, hay có thể gọi là lão phu miền núi Fan Si Pan, tiếng Mèo là Hua Si Pan, được hiểu là Núi Đá Khổng Lồ , cao 3143 m, coi như cao nhất Đông Dương đấy . 

Nhưng với a phủ lỗi thời, thì hàng loạt a phủ hiện đại với quần jean, áo khoác da bò, hút thuốc Ăng Lê 3 số 5 , túi thổ cẩm để làm dáng với các cô gái thị thành từ nam ra bắc, quý vị sẽ không thể thấy được những đoạn đường rừng lá to bản , có ngàn loài hoa hiếm, độc, mà sắc hoa anh túc tuyệt vời tự nó thích hợp với cảm quan khách mộ điệu : không giới hạn mầu sắc, và không bó buộc hình thể. 

Bởi đó là loài hoa làm say đắm, huyễn hoặc …lòng người , hoa nha phiến, hay hoa thuốc phiện vậy . 

Lớp a phủ xa xưa không bị loài hoa trên làm đắm chìm cuộc sống, vì một lý do rất dản dị, nó từ cây độc nở ra, nhưng nó chỉ ví như hoa dại ở núi cao, rừng thẳm.

Nếu không có ánh sáng văn minh, không có phong thái huyễn hư, nha phiến hoa không được biết đến . 

Song khi loài hoa anh túc đó được thế nhân chính thức đánh giá về sắc mầu hoa bướm  thiên nhiên, hoa thuốc phiện mới xứng danh là hoa khôi thẩm mỹ . 

Có ai mang nó về nhà làm tươi đẹp khuôn viên, sảnh đường không ? Nó, hoa anh túc ấy, lại bị lẫn lộn với hoa phù dung ở các vùng đồng bằng . 

Hoá cho nên người ta chỉ mượn một chút danh nghĩa ” phù dung ” nơi các bàn đèn thuốc phiện : Khói phù dung. 

Cái chất khói phù dung này đã quấn quýt, vấn vương không ít những thi sĩ, chính khách đi tìm một thế giới hoang tưởng . 

Người a phủ cuối cùng, có lẽ vậy thật, vì lớp tuổi ông ta trẻ nhất đã sắp tròn trăm năm, ông ta thở dài chỉ cho tôi cái biên giới hoa đào dù đẹp thế , từ Lai Châu tới Cao Bằng cả trăm năm trước, nhất là từ nửa thế kỷ nay, đã phạt ngang . 

Việt Nam là Việt Nam, Vân Nam là Trung quốc , không phải vì hoa mà chín bỏ làm mười , người ta đã thực sự không thương tiếc mầu hoa đỏ như ánh rạng đông nữa . 

Biên giới hoa đào đã lở loét trầm kha . 

Bên này vực hào sâu là cây gỗ lớn, để thay thế mỗi 5 hay 10 năm sinh lợi. 

Đôi nơi còn trải thảm hoa trắng xoá, đó là hoa ban dưới trạm đường vô định ở chân núi Hoàng Liên . 

Cũng ở dưới lớp hoa ban trắng mầu tang đó, là những nấm mồ sĩ quan VIỆT NAM CỘNG HOÀ bị đi tù tập trung cải tạo, bị chôn vùi nông cạn, không có giọt nước mắt thân nhân rớt thấm ướt thân tàn, vì đường trường cách trở . 

Nghĩ cho cùng, SA PA  hay SA PÁ bây giờ, đã qua thế kỷ mới , 1/5 của kiếp người xa lạ, còn gì nơi ngưỡng cửa thiên đường đông nam châu Á nhỉ . 

Chứ nếu không quý vị sẽ hỏi là, nếu cái BÃI CÁT  Sa Pa đó cứ mặc nhiên trước thăng trầm xã hội, qua những biến thiên lịch sử, thì chúng ta có gì hay tìm gì nơi Làng Chapa ( Village Chapa ) còn được dịch ra là Xã Xuân Viên, huyện Chapa

 Tỉnh Laokay, bây giờ gọi là thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai đó . 

Như vậy, làm thế nào dịch sát tên cái Bãi Cát SA PA thuộc Phố Cổ ( Lao Cai tiếng Hoa là Lão Nhai , để nam thanh nữ tú ra Chợ Tình gặp gỡ, hẹn hò, nên duyên chồng vợ .

Ngoài rặng núi Fan Si Pan cao ngất ngưởng mà đa số dân sắc tộc quanh vùng tây bắc kêu là ” Tảng  Đá Khổng Lồ, 

hiện nay người ta khai thác thành những điểm du lịch được xếp vào hạng nhất VN, trên đó có đỉnh Hàm Rồng, sân Ngắm , sân Mây vv…

Cùng những khoanh ruộng xanh mướt bò vòng quanh sườn núi cũ, tôi tìm thấy được một chút xíu vùng Cát Cát xưa, đoạn đường đèo không dài lắm . 

Sương mù không đặc lắm, nên pha ánh nắng có chỗ  mầu hồng lạt,  có chỗ lại vàng anh như mầu mật ong. 

Tôi nói với a phủ, ngày tôi còn bé, mẹ tôi cho đi chơi Cát Cát để mua rau gì đó, cùng những trái bắp to hột mầu vàng, nhưng luộc thì mềm và bở ra, ăn thật  ngọt và bùi lắm .

A phủ lắc đầu: ” Bây giờ không có và không cần nữa, người ta thích những cái khác, người ta muốn mầu sắc Hanoi, Saigon, và cả bên Mỹ ” .

Tôi có vẻ như đi tìm một cái bóng của mình. 

Tôi thấy tôi không giống ngày xưa, và càng không giống bây giờ, buông tiếng thở dài nhẫn nhịn, a phủ ngô nghê thế mà cũng hiểu ra điều khó diễn tả của tôi. 

Cũng chẳng nên buồn, vì thời gian là cái thước đo đúng nhất, và còn là gói thuốc nhuộm muôn mầu . 

Không phải như thời đệ nhất bán thế kỷ trước, người Mèo 

dệt  thổ cẩm là để bán cho du khách, cho nghệ sĩ trình diễn, người bản địa này thích mặc đồ thời đại như quần bò, áo thung có chữ Mỹ ghi dưới  hững hình ảnh rất tây phương cơ. 

Chúng tôi trở lại thành phố, để đi đúng con đường thủa ấu thơ, từ dưới dốc lên cao, dãy nhà 2 bên đường đổi thay hoàn toan, nhưng điều may mắn nhất, là khu nhà thờ đá vẫn hình thức vậy,  chung quanh làm thêm cơ ngơi khác. 

 Khách quan thì Nhà Thờ Đá Sa Pa là điểm du lịch nặng ký nhất . 

Chị MỸ tôi, khi mới 4 tuổi đã được cha xứ làm lễ rửa tội ở nhà thờ đá này . 

Nhà Thờ Đá ở down town Sa Pa bây giờ là viên ngọc quý, là tài sản …duy nhất của xưa thì kêu Làng, nay kêu Phường Sa Pa , thuộc Thị xã Sa Pa, tỉnh Lao Cai, nơi chỉ rộng 9274 m vuông với dân số cơ bản là 8975 người, thống kê năm 2009 , không kể du khách thay đổi thường ngày . 

Vẫn đứng ở khu Nhà Thờ Đá SA PA, tôi ngó lên cái dốc trước mặt, lưng chừng độ 2/3 con dốc là nhà ba tôi xưa, 1/3 lên đỉnh núi, và tất cả phần đất chung quanh núi là khu rừng đào cánh kép, mùa xuân hoa nở bạt ngàn như xác pháo toàn hồng ở miền suôi. 

Ngoài cửa lớn từ đường đi vào lòng nhà thờ là cội đào cố hữu , hay cây đào cựu cảm , bởi chưng ai biết Sa Pa  rành rẽ cho bằng A Phủ, người tình vĩnh cửu của CHAPA trong rất xa xăm huyền thoại bản Mèo thân quen, đã mất hút…

            CAO MỴ NHÂN 




Đọc Truyện Hồi Ký Đội Đập Đá. Trại 6 Nghệ Tĩnh Phần 1.




Sài Gòn Buồn – So Sad Saigon City

Đỗ Vẫn Trọn – Thanh Thanh

Sài Gòn Buồn


Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Tiếng hàng rao tắt lịm trong đêm

Những em bé đánh giày không còn thấy

Người bán vé số, kẻ ăn xin, giờ co cụm nơi đâu?

Những con đường, ngõ hẻm lặng thinh!

Chiều nay được tin em mất!

Sài Gòn buồn nhỏ lệ thương đau

Xác em giờ ở mãi nơi đâu?

Bình Hưng Hòa hay lò thiêu nào đó?

Không tang lễ, không người đưa tiễn!

Không họ hàng bái biệt hương linh

Em cô đơn về nơi vô định

Sài Gòn buồn, đánh mất phồn hoa

Sài Gòn giờ giới nghiêm

Sài Gòn u tịch phảng phất trầm hương

Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Vườn Tao Đàn vắng hẳn bước chân vui

Công viên buồn nhớ bóng ai qua

Dáng em ngồi hờ hững giữa mùa thi

Phố đi bộ chào quên người viễn khách

Nguyễn Trãi về trống vắng hơi đêm

Phố xá đìu hiu, trống trải

Tiếng còi xe như ngừng thở đêm qua

Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Buổi chiều hẹn không còn nắng rực

Bến Bạch Đằng gió lộng theo sau

Hoài mong chờ người qua bến đỗ

Em đâu rồi!

Biền biệt nơi đâu?

Nhớ Sài Gòn, lòng giăng nhiều cảm xúc

Những bạn bè, hàng quán thân quen

Những trưa về đón đợi ở Gia Long

Bao nhan sắc làm cho người khốn đốn

Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Chuông giáo đường không còn ngân thánh

Đức Bà buồn quy tích trăm năm

Tan Lễ về không cùng em xuống phố

Chủ nhật hồng đâu nữa trong mắt nhung

Bụi đường, xe cộ, đèn xanh/đỏ

Lê Thánh Tôn yên ắng lạ thường thay

Bàn Cờ, Tân Định hiu hắt đêm về

Phạm Ngũ Lão buồn xo người khách lạ

Duy Tân đổ bóng chiều hoang phế

Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Sài Gòn những cơn mưa buổi chiều

Không còn dòng người vội vã

Đâu xe cộ chen nhau hối hả

Không dù che, màu sắc áo mưa thưa

Cả mặt đường chỉ mỗi tiếng mưa rơi

Anh nhớ mãi ngày ta cùng sánh bước

Nắm tay em trong nắng sớm ban mai

Sài Gòn thả bộ trên đường phố

Bóng em về òa vỡ hân hoan

Sân trường cũ tóc dài bên áo trắng

Anh đứng nhìn quên cả tiếng chuông vang

Hàng phượng vĩ ngập đầy trong ánh mắt

Con đường về dẫn lối lá me bay

Nhớ Sài Gòn như lòng đang chảy máu

Nước mắt rơi theo từng người lâm bệnh

Sài Gòn của tôi, Sài Gòn của em

Giờ như chiếc lá vàng ủ rũ

Người quét đường ngơ ngẩn nhìn theo

Sài Gòn ơi! Sài Gòn đầy kỷ niệm

Góc thiên đường còn mãi đâu đây

Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Sài Gòn đầy thương nhớ!

Sài Gòn bật khóc

Sài Gòn im lặng đáng sợ!

Sài Gòn của tôi đâu?

Bóng kiêu hãnh giai nhân huyền thoại

Ủ rũ lòng một thoáng nhớ hương xưa

Sài Gòn, nhịp sống như ngừng thở

Kẻ tật nguyền mất hẳn trong đêm

Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Những chiếc xe nối đuôi về quê cũ

Tìm an bình nơi những cánh đồng xanh

Mơ Sài Gòn lặng lẽ hồi sinh

Thầm ao ước một ngày trở lại

Sài Gòn buồn như chưa từng có

Khắc khoải lòng thương nhớ, Sài Gòn ơi!

Đỗ Vẫn Trọn

San Jose, ngày 28 tháng Bảy năm 2021

So Sad Saigon City


Saigon under permanent curfew is so sad.

The cries are no longer heard at night – it’s bad!

The shoeshine boys are no longer seen.

Where the lottery sellers, beggars, have been?

How silent is each street, alley, wayside!

This evening I learned that that child already died!

Saigon is grievous to drop bitter tears somehow.

But what’s happened to his corpse now?

Bình Hưng Hòa or a certain crematory?

Without funeral, mourners – such sob story!

No relatives kowtowing to take leave of his soul

That errs to the unknown beyond all alone in dole.

Saigon is sorry to have lost its bonanza prime.

Saigon fell under this permanent curfew, triste time.

Spleenful agarwood and incense waft through the air.

Saigon under the current curfew is so bare.

In Tao Dan are absent the footsteps recently snappy:

The garden is missing the then people so happy,

The schoolgirl sitting absorbed in her coming tests,

The walking lane welcoming the strange guests.

Currently is deserted Nguyen Trai Boulevard,

The roads, shops forlorn, emptied, barred.

The car horn has stopped sounding since last night.

Saigon under permanent curfew – What a bite!

No more sunlight on the late evening date.

Along Bach Dang marina the draught did not bate.

Looking forward to seeing my sweetheart,

Alas! From me she kept herself apart,

Where are you now, my dear?

Reminiscing about Saigon, my emotion is still clear.

The old friends, the familiar shops as a rule,

The afternoons waiting at Gia Long girls’ school:

How many beauties to make lads lovelorn.

Saigon under this curfew: in our flesh a thorn.

The church bells have ceased their holy toll,

Our Lady with fold converges on the eternal goal.

After the Mass I can’t walk you around the city,

The rose Sunday disappears in your eyes the pretty.

No more vehicles, smoke, dust, traffic lights.

Le Thanh Ton Road quiet: uncommon sights.

Ban Co, Tan Dinh areas at night become moody,

On Pham Ngu Lao Avenue the traveler feels broody.

Duy Tan at dusk exposes a haggard hue.

Saigon under extended curfew is so blue.

There is no more a Saigon under afternoon rain

With flows of vehicles squeezing into each lane,

People making way through the jostling crowd,

Multicolor umbrellas, raincoats under thundercloud,

On the walk only the raindrops are heard.

I always remember that day, each being a lovebird,

I held your hand, in the morning sun,

We paced around, roaming Saigon – What fun!

Your image reappears in my mind: delight to access.

The old schoolyard, your long hair, white dress:

I stood watching, not paying attention to the bell.

The rows of flamboyant seemed in my eyes to dwell.                              

My way back was guided by the tamarind leaves.

As if my heart bleeds, how I miss Saigon! It grieves.

My tears fall as long as each compatriot falls ill.

Saigon of my soul, and Saigon of my beloved, still,

Presently looks like a glumly leaf marcescent to sore,

The street sweeper bewilderedly watches for.

Oh, Saigon! Saigon full of souvenirs,

A bit of paradise remains here though disaster clears.

Saigon under permanent curfew is so gray.

Saigon is overflowing with love, to miss the heyday.

Saigon bursts into wails, loud.

Saigon keeps quiet, storm-cloud!

Where is my Saigon? Laden with booty,

From the proud legendary beauty

Who reminds me of her once outstanding civic duty.

Saigon’s life now seems to stop breathing in blight,

The wounded handicapped disappear into the night.

Saigon under the current curfew tempts fate.

Bumper-to-bumper transports take people to evacuate

To their old countryside to find peace in mirth.

But they do dream of a near Saigon’s rebirth

And wish to return to that city someday soon.

Saigon like never before is with misfortune to swoon.

I deeply feel compassion for you, Saigon my dear!

Translation by THANH-THANH

Thanh-Thanh.com

LeXuanNhuan.com




PHẢI GIỮ AN TOÀN CHO CHÍNH MÌNH VÀ GIA ĐÌNH MÌNH




Happy Halloween! Con Ma Sói Xuất Hiện Giữa Ban Ngày Với Khách Không Nhà (Homeless) –

Lê Văn Hải

(San Jose) Còn 3 ngày nữa là Lễ Hội Hlloween, sáng hôm nay, Thứ Năm ngày 28 tháng 10 năm 2021, trong bữa cơm chiêu đãi những khách không nhà (Homeless) thường xuyên, vào 2 ngày trong tuần, Thứ Năm và Thứ Sáu. Mọi việc đang diễn ra bình thường, thình lình một “Con Ma Sói!” xuất hiên giữa ban ngày! Miệng dính đầy máu, gầm gừ, hung hãn, giơ móng vuốt nhọn hoắc, như muốn ăn tươi nuốt sống những người đứng gần.

Nhưng có điều ngạc nhiên, là mọi người hiện diện, đã không sợ, còn tươi cười chỉ trỏ thích thú. Nhiều người còn đòi chụp hình chung.

Vì họ biết đây chỉ là con ma sói giả. (Do Anh Lê Văn Hải, Trưởng Nhóm Mõ Nhân Ái, hóa trang.) Chỉ có mục đích mang niềm vui, tiếng cười đến cho mọi người, trong dịp lễ Mừng Ma Quỷ năm nay mà thôi.

Con ma sói tiến đến gần, tiếp xúc từng khách không nhà, đổi thái độ hung hãn, thân ái trao kẹo và bao lì xì có chút tiền mặt, và còn hay hơn là con ma này còn biết nói tiếng người! “Happy Halloween!”

Đây chỉ là hoạt động truyền thống kéo dài biết bao nhiêu năm nay, (28 năm) nhằm mang lại chút niềm vui, an ủi đến với những người khốn khổ, bị gạt ra khỏi bên lề cuộc sống. Rất thèm những tình thương vào những dịp lễ hội cuối năm. Gồm Lễ Tạ Ơn, Thank Giving, có Gà tây, Giáng Sinh có Ông Già Noel phát quà, Tết Tây, Tết Ta có Bao lì xì đỏ….

Vào những ngày hết năm, đây là thời gian khắc nghiệt, khó khăn nhất đối với người Homeless. Ngoài trời lạnh giá, không người thân chung quanh, nhìn xã hội với những sinh hoạt hân hoan hạnh phúc, đoàn tụ. Còn mình thì một miếng ăn cũng không có, chỗ ở thì màn trời chiếu đất, “hòn đá gối đầu” cũng không! Nên rất tủi thân, chán chường. Năm nào cũng có nhiều người tự tử, tìm cái chết đau thương cóng lạnh, trong những ngày khốn khổ này.

Chính vì thế Nhóm Mõ Nhân Ái, đã cố gắng mang không khí tình thương gia đình đến với họ, coi họ như người thân ruột thịt. Nhiều người Homeless rất cảm động tâm sự: “Hóa ra các bạn Việt Nam luôn luôn còn nghĩ đến chúng tôi! Nhất là vào những dịp lễ! Chưa thấy nhóm nào đối xử tử tế với chúng tôi như thế. Cám ơn, cám ơn rất nhiều!”

Cali là tiểu bang có vấn nạn ngưởi không nhà thê thảm nhất, mãi mãi không thể giải quyết thảm trạng này. Chiếm 40 phần trăm Homeless trên toàn quốc. Giá sinh hoạt đắt đỏ, hễ thất nghiệp là ra ngoài đường! Là một trong những nguyên nhân chính.

Nhóm của Anh Hải, Mõ Nhân Ái đã bền bỉ theo đuổi công tác nhân ái này hơn môt phần tư thế kỷ! Hoạt động được một thời gian dài như thế, vì bên anh còn rất nhiều nhóm thiện nguyện khác cộng tác, chưa kể rất nhiều ân nhân ẩn danh đứng đàng sau, luôn luôn hổ trợ những việc làm của anh.

Nhân dịp này, anh cũng đại diện Nhóm, xin chuyển lời cảm tạ chân thành từ đáy tim. “Một miếng khi đói, bằng gói khi no!” trong tinh thần “thương người như thể thương thân,” xin Thượng Đế trả công bội hậu cho tấm lòng tốt của Quý Vị. Và cũng không quên “Happy Halloween!”

Chủ Nhật Tuần Này, Ngày 31 Tháng 10, Nước Mỹ Tưng Bừng Mừng Lễ Hội Halloween!

(LVHải Tổng hợp)

Halloween hay còn gọi là lễ hội người hóa trang thành Ma Quỷ! Đây là một trong những lễ hội vui nhộn nhất, mà các bạn trẻ vô cùng yêu thích. Bởi sức thu hút huyền bí, nhiều màu sắc, sáng tạo đẹp mắt, hấp dẫn.

Đây là lễ hội kỳ quái nhất, sắp đến ngày này, khắp nơi trên nước Mỹ đều có những hình ảnh về ngày lễ Halloween trưng bày khắp nơi. Hình “thằng bù nhìn” bằng rơm, mặc áo vải, rách rưới, nằm bên cạnh mấy chùm bắp khô. Rồi hình bà phù thủy mũi nhọn hoắc, mặc áo đen ngồi bay trên cán chổi. Rất thiếu sót nếu không có quả bí ngô được khắc theo hình mặt người, cười toét miệng, đến mắt. Chưa kể những hình những con ma, con dơi, đủ hình dạng, được dán lên cửa kính hay cửa sổ trước nhà và trên lối đi.

Trong siêu thị, các cửa hàng tạp hóa, bán đồ gia dụng và các tiệm thuốc tây, không ai không thấy hàng núi kẹo khổng lồ đủ loại, đủ kiểu, đủ màu được bày bán. Cùng với các loại y phục để mặc hóa trang trong ngày nàỵ. Mặt nạ quỷ nhe nanh, ma cà rồng miệng bê bết máu, cho đến những mặt nạ kỳ quái. Rồi những bộ y phục hóa trang tương đối hiền lành hơn, rập theo các nhân vật trong những phim hoạt họa ăn khách. Gần đây còn có thêm các khuôn mặt các chính trị gia.

Lễ Halloweeen tại Mỹ được trẻ em đón mừng nồng nhiệt nhất, so với các ngày lễ khác. Nhưng không phải nó chỉ dành riêng cho các em không thôi. Ngày này, 31/10, trẻ con được cha mẹ, anh chị dẫn đi xin kẹo, là điều dĩ nhiên. Nhưng những nguời trưởng thành, từ 18 đến 24, cũng vẫn thường hay mở tiệc tưng bừng hay đi dự dạ tiệc hóa trang. Số người ở độ tuổi từ 25 đến 44, thường là phụ huynh thì dẫn con em đi xin kẹo, hoặc ở nhà, khoét những quả bí ngô thành hình mặt người cười, người Mỹ gọi là Jack OLantern. Và hầu hết những ông bà lớn tuổi thì ở nhà, để phát kẹo khi trẻ con gõ cửa đến xin.

Halloween là lễ được nhiều người trang hoàng và ăn mừng lớn thứ nhì trong các lễ hội mùa Đông ở Mỹ. Nó được coi là ngày lễ mở đầu cho mùa lễ hội cuối năm. Người Mỹ tiêu tiền khá nhiều và trung bình trong những năm trở lại đây, các nhà bán lẻ đã thu về, tổng cộng trên hàng tỉ đô la cho ngày lễ kỳ quái nàỵ!

*Tại sao ngày lễ Halloween lại rơi vào 31/10? Và tại sao phải có những hình ảnh, trang phục ma quái như thế?

Theo một trong những truyền thuyết bắt nguồn từ văn hóa của người Celt thời cổ Ireland, thì 31/10, là lúc chính thức chấm dứt mùa Hè nắng ấm, họ tin rằng cũng chấm dứt mùa của sự sống trên dương gian!

Chuyện kể rằng vào ngày này, những hồn ma vất vưởng chết trong năm đó, sẽ trở lại trần thế, tìm một người nào đó nhập xác! để mong còn được tồn tại sau khi chết. Thế nhưng người dương thế thì lại không muốn bị ma bắt hồn, nên đến tối ngày 31/10 họ tắt đèn, tắt bếp lửa, để cho nhà cửa lạnh lẽo như cõi âm phủ. Họ còn mặc quần áo giả trang, cho lẫn lộn với đám ma quỉ và khua động khắp xóm làng để đuổi tà mạ.

Còn vì sao quả bí ngô lại được khoét theo hình mặt người cười toét miệng?

Tại Hoa Kỳ, các bà nội trợ đã mang quả bí này ra khoét ruột, rồi khắc hình mặt người trên đó từ hàng trăm năm naỵ. Cũng theo truyền thuyết của người Ireland, thì xưa có một anh chàng biệt danh là “Jack” tính tình “Hà tiện” Một hôm anh chàng Jack này mời quỷ đi uống rượụ Nhưng Jack lại không muốn trả tiền rượu, nên chàng ta bèn dụ dỗ con quỷ hãy hóa phép tự biến thành thành đồng tiền, để Jack mua rượu cùng nhậu cho vuị. Khi quỷ nghe bùi tai biến thành đồng tiền, thì Jack nhặt ngay lấy bỏ vào túi áo, trong đó có sẵn một thánh giá bằng bạc, khiến quỷ không thể trở lại nguyên hình được nữạ Nhưng rồi sau Jack đã giải phóng cho quỷ, với điều kiện là quỷ không được quấy nhiễu Jack trong suốt 1 năm, và nếu Jack chết, quỷ cũng không được tịch thu lấy linh hồn của Jack.

Cho đến năm sau, Jack lại đánh lừa được quỷ cú nữa, để quỷ leo lên cây cao hái quả. Trong lúc quỷ còn đương loay hoay trên cây, thì Jack khắc ngay một thánh giá vào thân cây, thế là quỷ sợ không dám leo xuống. Cho đến khi quỷ hứa, không được quấy nhiễu Jack thêm 10 năm nữạ, rồi Jack mới bóc chỗ vỏ cây có khắc thánh giá đị, quỷ mới leo xuống được.

Chẳng bao lâu sau đó thì anh chàng Jack lừa đảo qua đời. Hồn ma của Jack đến gõ cửa thiên đường, nhưng thượng đế không nhận cho một kẻ tinh ranh láu cá như vậy vào cõi trờị. Xuống địa ngục thì gặp quỷ bị lừa khi trước, còn tức tối, nên Jack muốn vào địa ngục cũng không xong. Tuy nhiên giữ lời hứa không bắt hồn Jack, quỷ đuổi jack đi lang thang và chỉ cho Jack một cục than hồng, để mà dò dường trong đêm tốị, Jack bỏ cục than cháy đỏ vào trong một củ cải tròn khoét ruột làm đèn, từ đó cứ luẩn quẩn khắp cõi dương gian. Người Ireland gọi là Jack of the Lantern, tức là Jack lồng đèn, và sau biến thành Jack OLantern.

Người Ireland khoét ruột củ cải tròn hoặc củ khoai tây theo hình mặt người cười láu cá như vậy, đem bày ở bệ cửa sổ hay gần cửa ra vào, để xua đuổi những hồn ma vất vưởng như Jack, khỏi xâm nhập vào gia cư của họ. Khi những di dân từ Ireland và Anh Quốc tới Hoa Kỳ, họ thấy rằng quả bí đỏ, tức bí ngô hay bí rợ, một thổ sản phong phú ở vùng đất mới, là nguyên liệu thích hợp nhất để họ khoét ruột tỉa hình mặt anh chàng Jack Lantern.

Quả bí đỏ, xưa nay vẫn tượng trưng cho sự phong phú của mùa màng miền Bắc Mỹ, được trồng rất nhiều tại Hoa Kỳ. Hàng năm vào trước lễ Halloween mấy tuần, các nông gia mở hội thi xem ai trồng được quả bí kỷ lục to nhất. Miền Bắc Cali, khu vực “Vịnh Nửa Vầng Trăng” thường đạt thành tích này, với những quả bí khổng lồ nặng cả gần hàng ngàn pound.

Ngoài trái bí ngô, còn nhiều hình ảnh khác gắn liền trong trong ngày lễ

*Chuyện về quả táo Pomona

Cây táo từ lâu đã được gắn với hình ảnh nữ thần bất tử và trí tuệ. Nếu bổ ngang một quả táo, sẽ lộ ra hình ngôi sao 5 cánh, biểu tượng cho nữ thần trong niềm tin của người Châu Âu ngày xưạ. Táo Pomona là những quả táo được thả trong chậu nước, hoặc trên sợi dâỵ. Những thanh niên tới tuổi cập kê tìm mọi cách để lấy quả táo và người nào làm được thì sẽ là người sớm được lập gia đình. Ngoài ra còn nhiều truyền thuyết dân gian khá lý thú như ai gọt vỏ táo Pomona trước một cái gương, bên cạnh một cây nến cháy, thì sẽ nhìn thấy hình ảnh của người vợ (chồng) tương lai trong gương, hoặc cố gắng giữ vỏ táo càng lâu thì cuộc đời của bạn được kéo dài thêm 100 năm!

*Tục hóa trang với những bộ trang phục kỳ quái.

Người Châu Âu thì cho rằng, những bộ trang phục kỳ quái trong ngày Halloween, không phải có xuất xứ từ người Celtic, mà có xuất xứ từ chính những người Châu Âụ Vào thế kỷ thứ 9, ngày 2/11 hàng năm và cũng là ngày cầu cho các linh hồn, những giáo dân thường ăn mặc rách rưới giống như những kẻ ăn mày, rồi đi từ làng này sang làng kia để xin những mẫu bánh vụn tượng trưng cho thức ăn nuôi dưỡng linh hồn. Những người này tin rằng, họ càng xin được nhiều mẩu bánh, thì linh hồn của những người thân của họ sẽ nhận được càng nhiều những lời cầu nguyện. Các giáo dân tin rằng, những lời cầu nguyện này sẽ giúp cho những linh hồn người thân của họ còn mắc kẹt ở đâu đó sẽ được lên thiên đàng.

*Tục xin kẹo trong ngày Halloween

“Trick Or Treat” Đây là sinh hoạt chính của hầu hết trẻ em và thiếu niên tại Hoa Kỳ trong đêm Halloween.

“Trick or Treat” có nghĩa “Cho kẹo hay bị ghẹo! bị phá phách!”

“Trick” nguyên nghĩa là đánh lừa, trò chơi tinh ma nghịch ngợm. “Treat” là tiếp đón, đối xử tử tế, tiếp đãị. Các em nhỏ và thiếu niên, thanh niên hóa trang với áo quần và mặt nạ hình ma quỷ, rồi cầm lồng đèn đi từ nhà này sang nhà khác trong xóm, gõ cửa và nói “trick or treat”. Câu này có nghĩa là: “Nếu muốn chúng tôi không chơi xấu, thì hãy đãi chúng tôi cái gì đi!” Thông thường những người láng giềng luôn luôn tiếp đón bằng kẹo và trái câỵ.

*Một điều ít người biết: Tuy là Mừng Ma Quỷ, nhưng Lễ nhưng vẫn có ý nghĩa giáo dục.

Hành động và cuộc đời của Jack đã trở thành những kinh nghiệm để tuổi trẻ rút ra một bài học làm người, đó là:

-Sống không nên tham lam, bủn xỉn, keo kiệt, để chết khỏi phải lang thang!

-Phải có lòng bác ái, từ bi, biết giúp đỡ kẻ khó khăn, xử tử tế, cho dù họ đã qua đời!

Không nên chơi đùa với ma quỷ. Ma quỷ hiểu theo nghĩa bóng là những trò lừa lọc, đe dọa, làm cho người khác sợ hãi, những việc làm tinh quái do trí thông minh và tưởng tượng của tuổi trẻ sáng tạo ra, có khi làm hại đến người, đến xã hội. Chơi đùa, giao du với ma quỷ sẽ dễ bị cám dỗ đi vào đường tối tăm và tội lỗị. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng!”

Tuy nhiên, chuyện anh chàng Jack trong đêm Halloween cũng ghi nhận một thái độ sòng phẳng của quỷ, đó là “ân đền, oán trả” và “giữ lời hứa”. Dù rằng sự “giữ lời hứa” này đã làm cho Jack rơi vào thân phận cô hồn lang thang vất vưởng. Quỷ còn giữ chữ tín, hướng chi con người. Người không giữ chữ tín, trong cuộc sống khó mà thành công.

Đối với các xã hội Âu, Mỹ Halloween đã trở thành lễ hội vui chơi hằng năm cho trẻ em và cả người lớn. Hầu như ít người quan tâm tìm hiểu ý nghĩa xây dựng nhân bản của nó.

*Ý nghĩa nhân bản: Nghĩ đến cả người chết, hướng chi người sống!

Nếu đào sâu hơn, có lẽ sẽ tìm thấy tính cách nhân bản trong câu chuyện. Thử đặt câu hỏi: tại sao dưới ánh sáng khoa học và kỹ thuật mà các nước Âu, Mỹ vẫn dành một ngày lễ hội cho người của “cõi Âm” mà đại diện là chàng Jack?

Jack là nhân vật tưởng tượng nhưng đã thực sự hiện thân trong cuộc đời, trong thân phận làm người, mà lại là một người cô đơn, không nơi cư ngụ (Homeless!) Khi chết, Jack trở thành cô hồn, không chỗ dung thân. Thiên Đàng và Địa Ngục đều từ chối!

Truyền thống lễ hội Âu Mỹ đã dành cho Jack một ngàỵ, một ngày được trở lại với cõi dương thế. Trong ngày đó, Jack có thể sống vui chơi thoải mái, vì tình người sống đã hóa trang thành ma quỷ để linh hồn Jack có chỗ trà trộn vào cho đỡ cô đơn. Đây là ý nghĩa nhân bản sống phải biết giúp đỡ nhau của lễ hội Halloween.

Lời kết

Ngày lễ Halloween được du nhập vào Mỹ từ năm 1840, theo chân những người di cư sang Mỹ. Đầu tiên nó chỉ diễn ở các nông trại miền quê, nhưng ngày nay cũng giống như nhiều quốc gia khác, Halloween đã trở thành một ngày lễ chung vui chơi, dùa giỡn cho tất cả mọi người, trên nhiều quốc gia, nhằm để quên đi những lo âu trong đời sống. Giới trẻ tại Việt Nam cũng rất thích ngày lễ này.

Lời chúc

Kính chúc Quý vị và Gia Đình, nhất là những Bé tí hon lời chúc cho ngày lễ, (đậm mầu sợ hãi từ Ma Quỷ):

Một ngày Lễ Halloween gặp những điều bất ngờ, khủng khiếp và rùng rợn! Sáng gặp quỷ hút máu! chiều gặp ma lưỡi dài, tối mơ thấy mình lạc xuống địa ngục! bị cưa người, máu lênh láng, chưa hết! rồi bị bỏ vào chiên trong chảo dầu! (Khà!Khà!)

Nhưng dù sao đi nữa, người lớn cứ bình tĩnh đón một Lễ Halloween vui vẻ, hạnh phúc nha! Và các bạn trẻ đi xin được nhiều kẹo, dù bị ma nhát, sợ muốn chết! nhưng vẫn nhớ nhiều cảm giác thích thú trong ngày Lễ đặc biệt này.

Happy Halloween! Chúc Mừng Lễ Ma Quỷ 2021!




DIỄM CA

https://m.youtube.com/watch?time_continue=192&v=oOpydALOwKM&feature=emb_logo



LÀM VIỆC TỪ THIỆN: ĐẤU GIÁ TRANH $2.2 TRIỆU

Kiều Mỹ Duyên




KHÓC BẠN

Ấu Oanh

“Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…”

Từ thuở ấu thơ, anh em chúng tôi đều được mẹ ru bằng bài thơ Khóc Bạn của cụ Tam nguyên Yên Đổ khóc ông cố nội chúng tôi là cụ Nghè Dương Khuê. Bài thơ trở thành bài ca dao nằm trong ký ức tôi từ ngày đó, hơn 40 năm sau lại bật ra như những lời nhớ thương tha thiết của tôi với người bạn thân: Vũ Hoàng Oanh. Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê lúc tuổi đời đã xế chiều nên nỗi nhớ chỉ là ngậm ngùi, còn tôi khóc bạn khi tuổi đời chưa tới 50 là cái khóc xót thương vô hạn.

Ngày còn học Trưng Vương thì Oanh học trên tôi một lớp. Chúng tôi chỉ biết nhau nhưng chưa phải là bạn. Mãi đến khi thi vào trường Sư Phạm, vô tình làm sao, hai đứa trùng tên nên có số báo danh kế nhau. Gặp nhau ở trường thi, lại ngồi cạnh nhau thì không quen cũng thành quen huống chi chúng tôi cùng là dân TV lại biết nhau từ trước. Dĩ nhiên hai đứa tôi mau chóng kết hợp với nhau, cóp qua cóp lại bài nhau nên kết quả là hai đứa cùng đậu và còn được xếp chung vào một lớp. Tôi và Oanh trở thành bạn thân từ đấy.

Oanh không đẹp nhưng dễ thương với đôi má bầu bĩnh, đôi mắt hơi đượm buồn, lúc nào cũng như vướng vất một câu hỏi gì chưa được giải đáp.Nhưng điều mà bạn bè nhớ nhất ở Oanh là tính tình đôn hậu, chiều bạn và tử tế với mọi người.

Đời học trò, dẫu rằng lớp học trò này đang chuẩn bị làm người lớn, vẫn có biết bao niềm vui nỗi buồn non trẻ để chia sẻ cùng nhau. Đôi khi thấy bạn bè có người yêu đến đón hoặc ghé thăm, đôi mắt hỏi han cuả Oanh chợt tối lại, vương một chút buồn bã. Tôi gạn hỏi, Oanh chỉ lắc đầu, nhiều lần sau nữa, chẳng đặng đừng, Oanh cười mỉm chi đáp “Nhớ bồ” “Thế bồ đâu rồi” “Bồ thuộc người khác rồi”, rồi nhanh chóng Oanh lảng ngay “Thôi khỉ ạ, đừng hỏi nữa, chuyện xưa rồi”.

Thời gian trôi thật nhanh. Gần đến ngày ra trường, chúng tôi gấp rút học thi và ráo riết chuẩn bị các bài thi thực tập. Một hôm, gặp phải bài thi hóc búa, tôi hỏi mượn Oanh một bài mẫu vì Oanh rất chăm chỉ trong việc sưu tầm các bài dạy mẫu, còn tôi là con cháu họ lười nên rất chểnh mảng. Oanh đang hí hoáy viết nên bảo “Mở cặp ra, ngăn bên trái đó”. Tôi mở cặp lục lọi. Bài mẫu chẳng thấy đâu, tôi vớ ngay được một lá thư. Quên béng ngay bài dạy, tôi len lén kéo nhẹ tờ thư ra khỏi bao và liếc thật nhanh vài giòng. “Ồ, thư tình”, tôi thầm kêu trong đầu. Vừa lúc đó Oanh quay sang, thấy vậy, Oanh vội vã quăng ngay cây bút, soài người giựt lại lá thư, miệng la bài hải “Ố́í, ối, trả đây, trả đây”. Lá thư không dài và cũng không có những lời lẽ yêu đương hoa mỹ nhưng đọc thì biết ngay đó là thư tình, thư tình cuả một nhà văn. Ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ cuả một người viết văn thì có muôn ngàn cách để bày tỏ tình yêu. Tôi mừng thấy bạn bẽn lẽn cất lá thư. Một chút ửng hồng trên đôi má bầu bĩnh… Từ đó tôi thấy Oanh hay cười hơn.

Trong khi chờ đợi kết quả sắp hạng ra trường, chúng tôi phải đi khám sức khoẻ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Hôm đó Oanh chở tôi bằng chiếc Vélo Solex mượn được. Chỉ còn cách bệnh viện khoảng 100m thì bất ngờ xe đang chạy ngon trớn bỗng đâm xầm vào một đống đá xanh đổ ngay giữa lòng đường. Xe mất thăng bằng đổ ập xuống, quăng hai đứa chúng tôi ra hai nơi. Lúc đó tôi đang có thai cháu đầu lòng khoảng 4 tháng. Hốt hoảng, Oanh bật dậy lao ngay về phía tôi mà không thấy rằng 1 đầu gối quần bị rách để lộ vết thương rướm máu và 1 bàn tay bị đá xanh đâm nát máu thấm đỏ cả. Oanh lính quýnh ôm nâng tôi dậy, mặt tái mét, miệng líu lại “Oanh, Oanh có sao không? Có đau bụng không?” Tôi tuy cũng rất lo sợ cho cái thai nhưng thấy Oanh quá lo lắng cho tôi, tôi thấy lòng cồn cào thương bạn nên vội trấn an “Mình không sao, đừng lo. Thôi mau nhấc xe dậy, vào ngay bệnh viện nhờ họ băng bó cho Oanh”.

Ra trường, tôi về dạy ở Gia Định, còn Oanh xuống Biên Hoà. Như một xui khiến của số mệnh, người yêu của Oanh, nhà văn Dương Hùng Cường, còn có bút hiệu là Dê Húc Càn đồng thời là một quân nhân cũng đang làm việc tại phi trường Biên Hoà. Họ đã được gần nhau, cuộc tình dẫn đến kết cuộc tốt đẹp là cái đám cưới vào năm 1964. Năm sau, 1965, Oanh sinh cháu đầu lòng Dương Mạc Thi rồi tiếp theo Oanh sinh liền 7 cô công chúa trong vòng 10 năm. Khi anh Cường đổi về làm việc tại Sài gòn thì Oanh cũng được thuyên chuyển về dạy học taị trường Hồng Bàng (sau năm 1975 thì dạy tại trường Hùng Vương, cùng thuộc quận 5). Chúng tôi lại có dịp gần gũi nhau.

Vào khoảng năm 74 tôi thấy Oanh ngoài giờ dạy ở trường công còn dạy thêm ở 2 trung tâm tư nữa. Thấy tôi thắc mắc sao Oanh dạy quá nhiều, không còn thời giờ dành cho các con nữa thì Oanh tâm sự: “Ông Cường giành phần chăm mấy đứa nhỏ. Ông ấy bảo, ổng ru con hay hơn mình”, rồi Oanh xuống giọng “Mình phải dạy thêm lấy tiền cho ông Cường in truyện”.

Nói là chăm sóc con chứ thật ra thì lúc đó gia đình nào cũng có người giúp việc, lo cơm nước, giặt giũ, bế bồng trẻ nhỏ rồi. Tôi thông cảm với Oanh vì thời gian đó, lương hai vợ chồng gom lại, dẫu rằng anh Cường còn viết báo thêm cũng chỉ đủ chi tiêu cho một gia đình mười mấy miệng ăn mà thôi. Muốn in sách truyện, Oanh phải cật lực giúp chồng.

Thế là bao nhiêu tiền bạc dành dụm được đều đổ dồn vào việc cho ra đời đứa con tinh thần “Vĩnh biệt Phượng”.

Thương thay, sách vừa xuất xưởng, chưa kịp phân phối ra ngoài thì ngày 30 tháng 4 như một cơn cuồng phong ập đến, xoá tan hết bao ước mơ, bao xây đắp cuả cả một miền Nam thân yêu trong đó có 2 gia đình chúng tôi. Ông xã tôi cũng như anh Dương Hùng Cường đều trở thành tù nhân cuả chế độ mới và 2 gia đình chúng tôi trở thành những nạn nhân như trăm ngàn gia đình quân nhân công chức chế độ cũ, luôn luôn bị soi mói, rình rập, theo rõi, lúc nào cũng sống trong phập phồng, lo lắng, sợ sệt… Với đồng lương chết đói, chúng tôi vẫn phải cố bám vào trường lớp để khỏi phải bị đuổi đi vùng kinh tế mới. Hai đứa tôi cùng chia nhau cái ngậm ngùi cuả số phận. Oanh 7 con và tôi 6, gia tài chỉ là hai bàn tay trắng với cõi lòng đầy ắp âu lo. Chúng tôi càng gắn bó với nhau hơn. Hai đứa lăn lưng ra làm đủ mọi việc

Thoạt đầu là bán sách. Lúc bấy giờ chủ trương của chế độ mới là thiêu hủy hết số sách báo của miền Nam được gọi là văn hoá đồi truỵ, tàn dư Mỹ ngụy. Chúng tôi lại thuộc các gia đình văn nghệ sĩ, càng bị để ý, bị lục xoát thường xuyên hơn. Nếu trái lệnh sẽ bị ghép vào đủ thứ tội tình. Để được yên thân nuôi con và cũng là để che mắt thế gian, chúng tôi gom góp hết số “tàn dư Mỹ ngụy” trong nhà, nhờ người quen dẫn giắt lên chợ sách Nguyễn Huy Thiệp bày bán. Nhìn những cuốn sách mình từng nâng niu yêu quý từ từ đội nón ra đi, lòng tôi bùi ngùi khôn tả. Cầm cuốn “Chạy trốn Tự do” mà ông xã tôi mới dịch trước đó không lâu, tôi thầm tự hỏi: “Tại sao laị dịch cuốn sách mang cái tên oan nghiệt này?” Cuốn “Vĩnh Biệt Phượng” cuả anh Dương Hùng Cường cũng cùng chung số phận, phơi mặt trên 1 tấm ni lông trải dưới mặt đường con phố NHT. Tôi và Oanh thủ 2 cái nón rộng vành, hễ liếc xa xa thấy người quen kẻ thuộc hay bạn bè gần xa cuả chồng thì lập tức cái nón được kéo sụp xuống. Ôi thời thế có ai học đến chữ ngờ!

Một hôm vào khoảng xế trưa, hai đứa đang ngồi vêu ra thì một cháu gái cuả Oanh đạp xe lên tìm mẹ, báo tin em bé út vừa phải vào nhà thương. Khi đó cháu Dao Tiên mới non 1 tuổi. Oanh hốt hoảng ra về. Hôm sau, rồi hôm sau nữa cũng không thấy Oanh lên tôi đoán chắc Oanh phải ở trong bệnh viện với con. Ba, bốn hôm sau Oanh trở lại, cặp mắt còn sưng, oà khóc, nói “Oanh ơi, cháu Dao Tiên mất rồi. Cháu mất vì thiếu dinh dưỡng, vì đói ăn đó Oanh ạ!”

“Nghề” bán sách cuả chúng tôi do thời cuộc mà tự sinh thì cũng do thời cuộc mà tự diệt. Ch́úng tôi học quấn thuốc lá, vào bao rồi đem vô Chợ Lớn bán nhưng cũng chẳng được bao lâu thì chợ thuốc lá cũng bị càn quét. Tôi nhờ biết may vá từ nhỏ nên quay ra may quần áo con nít đem giao các chợ, còn Oanh thì đi bỏ mối bánh kẹo cho các căn tin trường học. Cứ thế, chúng tôi lần hồi sống qua ngày.

Ngoài lúc đi kiếm cơm, chúng tôi còn rủ nhau đi kiếm chồng tù. Hai năm trời biền biệt không chút tin tức, chúng tôi lo sợ cho số phận các ông chồng. Dò la, thăm hỏi chẳng có kết quả, chúng tôi đánh bạo rủ nhau lên tận ban Quân quản Thành phố để hỏi han. Câu trả lời cũng chỉ như bao nơi khác: “Cứ yên tâm chờ đợi”. Cuối cùng thì cuối năm 1977 cũng có tin về sau hơn 2 năm kể từ ngày các sĩ quan cuả chế độ cũ nghe lời đường mật “Chuẩn bị đồ ăn uống và vật dụng cá nhân trong vòng 10 ngày để đi trình diện”. Ông xã tôi bị nhốt ở trại Hàm Tân, còn anh Cường thì ở Long Khánh. Cứ 3 tháng chúng tôi được phép thăm nuôi tiếp tế thức ăn và thuốc men 1 lần. Hai đứa lại có dịp chỉ bảo nhau làm món gì để được lâu, thuốc nào cần nhất v..v.. để mang lên trại.

Tôi còn nhớ thời gian đó, mỗi chiều tối, sau giờ tan trường, Oanh thường ghé tôi, có khi ở đến tận khuya. Các con Oanh ở nhà đã có cô cháu gái mà Oanh cưu mang từ sau năm 75 chăm nom cơm nước. Chúng tôi ngồi bên nhau chia sẻ mọi điều. Tôi hiểu Oanh nhiều nỗi lo lắng vì nợ nần thúc giục mà không có phương cách giải quyết. Tôi đỡ hơn Oanh một chút là tôi còn có mẹ. Đôi khi hai đứa ngồi bên nhau hàng giờ mà chẳng nói với nhau một tiếng nhưng chúng tôi đều hiểu rằng chúng tôi đang chia nhau nỗi sầu khổ âm thầm.

Một hôm, khoảng sau Tết năm 1978 Oanh ghé tôi theo lệ thường, nhưng hôm đó vẻ mặt Oanh rất bần thần, ngồi hoài không nói. Tôi hỏi:

– Hôm nay Oanh có chuyện gì không mà như mất hồn vậy?

Oanh vẫn ngồi yên không nói. Tôi đứng dậy rót cho bạn 1 ly nước, đến ngồi gần bên ân cần:

– Có việc gì hả Oanh?

Sau một phút ngập ngừng, Oanh nói khẽ thật khẽ như sợ có ai nghe thấy:

– Ta nói cái này, đừng giật mình nhé…Mình có bầu.

Tôi giật thót mình, hai lỗ tai lùng bùng.

– Oanh nói gì? Ai có bầu?

– Mình.

– Hả?

– Mình có bầu thật đấy, vừa đi khám bác sĩ về xong.

Tôi trân trối nhìn Oanh, vẫn không tin ở hai tai mình. Biết vậy, Oanh mới tỉ tê khai:

– Hôm Tết rồi đi thăm ông Cường, trại cho ở lại một đêm…

Tôi thở phào như trút được cho chính mình gánh nặng nghìn cân. Oanh nói tiếp:

– Oanh ơi, dẫn mình đi phá đi, mới được khoảng hai tháng thôi, phá chắc dễ.

Tôi ngỡ ngàng hỏi lại:

– Phá? Sao lại phá?

– Chứ để thì làm sao coi được. Ai đời cô giáo có chồng đi tù mà lại mang bầu. Đâu có ai hiểu…

– Thì nói ra cho mọi người biết.

– Ai tin? Bạn bè, rồi còn học trò nữa chứ. Eo ôi, nghĩ đến là ta rùng mình rồi.

Tôi chợt thấy Oanh có lý. Ừ, ai mà tin nổi, nhất là thời buổi này. Toàn ban giám hiệu đều là người cách mạng, họ sẽ có cớ để bêu riếu, để bôi tro trát trấu lên đầu lên cổ vợ con “ thằng ngụy”. Tôi thở dài:

– Ừ, để mình tính xem.

Nói vậy cho Oanh yên lòng chứ thật ra tôi cũng chẳng biết tính làm sao. Tối đến, trong bữa cơm gia đình, tôi nói chuyện với mẹ tôi về việc Oanh muốn tôi chia sẻ.

Mẹ tôi bảo:

– Ngày mai Oanh có ghé, con gọi mẹ, mẹ hỏi cô ấy một tí.

– Mẹ hỏi gì hả mẹ?

– Có phải Oanh toàn con gái không?

– Vâng, 7 đứa, bỏ 1 còn 6, toàn là gái cả.

– Mẹ muốn tính xem lần này có bầu, Oanh sẽ sinh trai hay gái.

– Trai hay gái thì thay đổi được gì hả mẹ. Cũng bia miệng mà thôi.

– Mình sẽ nghĩ cách giùm cô ấy. Vả lại, vì sợ bia miệng mà phá bỏ đi một đứa con của mình thì sẽ mang tội con ạ.

Mẹ tôi đặc biệt có một cách tính rất tài tình để biết người mẹ sẽ sinh trai hay gái. Cụ có dạy cho tôi một bài toàn chữ Hán, tôi học mãi không thuộc (vì mình có biết tí teo chữ Hán nào đâu). Tôi đã chép vào 1 cuốn sổ để dành nhưng qua hết đợt bố ráp này đến đợt bố ráp khác nó đã không cánh mà bay.

Dẫu rằng cả Oanh và anh Cường đều không mang tư tưởng “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” nhưng cha mẹ nào mà chả mong ước mình có đủ cả trai lẫn gái.

Sau khi gặp mẹ tôi, Oanh mừng lắm, không còn nghĩ đến việc phá thai nữa vì tin tưởng rằng lần này sẽ sinh được một quý tử.

Thông thường, cứ mỗi đầu tháng, các giáo viên chúng tôi đều phải họp toàn trường để kiểm điểm công việc dạy và thực hiện các chỉ thị của Phòng hoặc Sở giáo dục. Tôi xúi Oanh trong phiên họp kỳ này lấy cớ báo cáo 1 công việc gì đó rồi bôi mặt cám ơn nhà nước đã cho chúng tôi được gặp mặt, tiếp tế cho chồng ở trại giam lại còn gia ân cho ở lại trại 1 ngày 1 đêm nhân dịp Tết vừa qua nữa. Việc đó quả nhiên hiệu nghiệm. Oanh tuy bị trêu chọc song đã thoát được cơn hiểm nguy. Cũng may mắn cho Oanh, chỉ vài tháng sau khi cái bụng bầu của Oanh lộ rõ thì anh Cường được về.

Một hôm tôi vừa từ chợ về nhà thì đã thấy anh Cường ngồi đợi. Không kịp để tôi hỏi han câu nào, anh đã vào đề liền:

– Oanh sinh rồi chị, ở Bệnh viện Hùng Vương, con trai.

– Ồ, chúc mừng anh. Chắc là Oanh vui lắm. Kỳ này hai ông bà có quý tử, phải ăn mừng thôi

Không trả lời câu nói đùa của tôi, anh chìa ra mảnh giấy cỏn con nói:

– Oanh gửi chị cái này.

Tôi vội vàng mở mảnh giấy đọc “Oanh ơi, cứu bồ, cho mình mượn 50 đồng để đóng tiền bệnh viện nhé”.

Tôi vừa đi giao hàng về nhưng cũng chỉ có trong tay 30 đồng. Tôi vội vã đạp xe lại ngay nhà chị bạn cùng trường. Tuy chẳng giầu có gì nhưng chị tương đối khá giả hơn chúng tôi vì những tháng ngày xa xưa trước 75, chị là con kiến biết lo xa, ki cóp mua vàng để dành, (trong khi tôi lại là con ve, kêu ra rả hết muà hè, chỉ biết rong chơi ca hát, cho nên khi đông về thì đói rã răng). Chị lại có lòng tốt nên bạn bè khi cơ nhỡ chị đều sẵn sàng san sẻ.

Trao cho anh Cường năm chục bạc xong, tôi biết ngày mai không có tiền chợ cho con song trong lòng vẫn vui vì mừng cho bạn, càng mừng hơn vì thấy cách tính của mẹ tôi thật chính xác, không làm cho Oanh mừng hụt. Nhưng người mừng nhất ắt hẳn là anh Dương Hùng Cường. Anh đặt tên cho cháu là Phụng Hoàng, Dương Phụng Hoàng, con chim quí.

Khoảng 3,4 năm sau khi ra tù, anh Cường liên lạc được với nhà văn Trần Tam Tiệp đang cư ngụ tại Pháp xin lên tiếng kêu gọi Văn Bút Quốc Tế can thiệp và giúp đỡ cho một số các gia đình văn nghệ sĩ Miền Nam còn kẹt lại quê nhà, đang gặp rất nhiều khó khăn cả về 2 mặt vật chất lẫn tinh thần. Ít lâu sau đó, mỗi năm gia đình chúng tôi nhận được từ 1 đến 3 thùng thuốc tây gửi từ Pháp về (nhưng có lẽ đó là do chính tiền cuả anh TTTiệp, chứ không phaỉ của VBQT). Song song với thùng quà đôi khi còn có cả 1,2 tờ báo Kháng Chiến nữa. Rồi anh bảo anh em bên nhà viết bài gửi sang. Những thùng quà tuy ít ỏi này cũng đã giúp được gia đình chúng tôi qua những cơn vô cùng bĩ cực. Nhưng oan nghiệt thay, cũng chính những thùng quà này lại đưa chồng tôi, Khuất Duy Trác, anh Dương Hùng Cường và một số các văn nghệ sĩ khác như các nhà văn Dzoãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thuỷ, Hiếu Chân, các nhà thơ Lý Thụy Ý, Trần Ngọc Tự… vào tù lần thứ hai. Bọn Công an thành phố còn viết nguyên một cuốn truyện đầy tính bịa đặt và vu cáo có tên Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, hòng bôi bẩn và hạ giá nhóm văn ngệ sĩ trên, sửa soạn dư luận cho một bản án thật nặng nề. Chúng đem giam một số tại nhà giam Chí Hoà, số còn lại tại trại giam Phan Đăng Lưu, có ông xã tôi và anh Cường. Oanh và tôi lại có cùng một địa chỉ để tới lui. Số phận chúng tôi cứ gắn chặt với nhau trong những hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy.

Do từ việc bỏ bánh kẹo cho các căn-tin trường học, Oanh lần hồi biết được cách thức để đấu thầu toàn bộ cả căn-tin cuả mỗi trường. Oanh rủ tôi làm công việc này. Thế là hai chúng tôi cùng khởi sự tại một ngôi trường Tàu trong Chợ Lớn. Sau này rành rẽ rồi thì mỗi đứa làm ở mỗi trường khác nhau.

Cứ vào cuối mỗi năm học, giáo viên các trường đều phải điều chỉnh lại tờ lý lịch đã khai từ những ngày đổi đời 30/4/75. Năm 1980, con gái thứ hai của tôi đi vượt biên, tôi không khai. Đến khi ông xã tôi bị bắt lại lần 2 tôi cũng không khai. Ban giám hiệu nhà trường chắc hẳn không biết nên tôi vẫn được yên thân. Bất ngờ, vào đầu năm 87, hiệu trưởng mời tôi lên nói chuyện. Bà hỏi han tôi về tình hình gia đình, chồng con, công việc v..v.. và cuối cùng bà hỏi tôi có up to date lý lịch đầy đủ cho mỗi năm không. Tôi manh nha thấy điều gì đó không ổn. Tuần lễ sau tôi xin nghỉ bệnh và tuần kế tiếp tôi tống tiếp lá đơn xin thôi việc. Ở thời điểm này, chiến dịch tống khứ gia đình vợ con tù cải tạo đi kinh tế mới đã chấm dứt vì hoàn toàn thất bại. Từ các vùng kinh tế mới, biết bao gia đình đói rách tả tơi, bệnh hoạn, người sống kẻ chết, lũ lượt kéo về thành phố, nằm la liệt tại các công viên, chợ, nhà thờ, chùa…chính quyền không thể xua đuổi vì họ không còn nơi chốn để dung thân nữa. Do đó tôi không còn lo sợ vì phải lên rừng lập nghiệp. Lại nữa tống khứ đi được một con vợ “ngụy”, cũng nhẹ gánh lo cho ban giám hiệu nên họ nhận đơn mà không hỏi han gì cả.

Thời gian này rộ lên rất nhiều tin tức về việc Mỹ sẽ đón các sĩ quan QLVNCH bị tù cải tạo. Tuy rằng chỉ là tin đồn miệng, chẳng có một nguồn xác thực nào nhưng chúng tôi vẫn cứ nuôi hy vọng trong lòng để tiếp tục sống và tiếp tục chịu đựng.

Một ngày đầu tháng 12 năm 1987, lúc đó khoảng 2-3 giờ trưa tôi đang ở nhà thì cô cháu gái cuả Oanh đến, mặt mũi phờ phạc, nói như đứt hơi: “Cô ơi, chú Cường mất rồi, cô con đang xỉu ở nhà, cô xuống mau đi cô”

Khi tôi bước chân vào đến nhà thì thấy Oanh đang vật vã vừa khóc vừa gào: “Tôi không sống một mình đâu, trời ơi là trời. Anh Cường ơi, em không sống một mình đâu!!” Tôi ôm lấy tấm thân gầy guộc của bạn, lòng đau xót từng cơn và nước mắt cứ mặc tình tuôn chảy… Không biết bao lâu sau, khi kêu gào đã quá mệt, tôi đỡ Oanh nằm xuống giường rồi bảo với các con Oanh: “ để yên cho mẹ nghỉ một chút”.

Hàng xóm xung quanh nghe tiếng khóc, vài ba người lấp ló ngoài cửa.

Bình tâm trở lại, tôi hỏi thăm cháu Linh, cháu tỉ tê kể: “Sáng nay cháu ở nhà, công an khu vực tới đòi gặp mẹ. Cháu bảo mẹ đang dạy ở trường, anh ấy nhắn bảo mẹ ra phường gấp có giấy báo cuả bố. Khi cháu ra trường bảo cho mẹ biết thì mẹ vẫn nghĩ là tin mừng. Mẹ bảo chắc bố được thả…ồ, hay là…Mỹ đón. Mẹ bảo cháu về trước, chuẩn bị đồ vest cho Bố. Đến khi hai mẹ con ra đến phường nhận giấy mới vỡ lẽ…Họ bảo sáng ra đến giờ tập họp, không thấy bố ra, đến đập cửa phòng cũng không thấy bố cháu trả lời, họ mở khoá ra thì thấy bố cháu đã mất rồi.”

Oanh được phép đến trại giam Phan Đăng Lưu để nhận diện xác chồng trước khi được phép chôn cất. Đám tang phải làm gấp ngày hôm sau và chỉ cho 2 người mang áo quan vào lấy xác tại khám Chí Hoà mà thôi. Hôm sau tôi đi cùng với Oanh nhưng phải ngồi chờ ngoài gốc cây trước cổng trại cùng với các con nhỏ cuả Oanh. Số bạn bè và họ hàng thân thuộc đến đưa tiễn đều không được tập trung một nơi mà phải phân tán rải rác dọc theo con đường Hoà Hưng, chờ đợi khi xe tang ra đến đầu đường rồi mới được tháp tùng theo. Ôi, quân Cộng sản sao mà độc ác. Người sống chúng không tha đã đành, người chết chúng cũng không cho chôn cất tử tế…Huyệt mộ đã lấp lại rồi nhưng Oanh vẫn đứng trơ trơ như một bức tượng. Nước mắt đâu?

Có lẽ nó đã chảy ngược vào lòng. Tôi chợt nhớ đến bài thơ “Đi nhận xác chồng” của Lê Thị Ý:

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu

Thật tội nghiệp cho bạn tôi. Cũng thật tội nghiệp cho những người phụ nữ trót sinh ra trong thời đại chúng tôi.

Vết thương tang chồng chưa ngưng chảy máu thì 3 tháng sau Oanh lại phải rứt ruột đẩy đứa con gái đầu lòng thân yêu, Dương Mạc Thi, ra đi trong một chuyến vượt biển với bao bất trắc chờ đợi. Than ôi, đó cũng là lần cuối cùng Oanh nắm đ̣ược bàn tay nhỏ bé cuả con: chuyến tàu chở cháu Thi đã không bao giờ tới bến. Chỉ trong vòng 4 tháng Oanh đưa hình hai người thương yêu nhất đời mình lên chùa…

Rồi dòng đời lại tất bật trôi đi. Oanh vội vã bịt kín những vết thương, giấu chặt nó vào tận cùng trái tim để ngày ngày phải đối mặt với những cam go của cuộc sống, với tương lai cuả bầy con còn lại. Thời gian sau này chúng tôi ít gặp nhau hơn vì mỗi đứa thầu riêng mỗi trường mà công việc thì quá đa đoan, tất bật, cần đến rất nhiều thời gian, Oanh lại vẫn theo đuổi công việc dạy học.

Mùa hè năm 1989, giữa chúng tôi có vài chuyện không vui, tôi giận Oanh. Biết mình không đúng, xin lỗi tôi không xong, Oanh nhờ một cô bạn khác đến năn nỉ, tôi vẫn gan cùng mình không chịu làm hoà. Gần 2 tháng trời chúng tôi không gặp nhau. Một buổi trời đã chạng vạng tối, một anh bạn tù cuả ông xã tôi, hốt hoảng đến báo tin Oanh bị đụng xe, đã đưa vào bệng viện Trưng Vương, nhưng tình trạng hình như không được ổn. Tôi tức tốc vào thẳng nhà thương trong tâm trạng rối bời và thật hồi hộp.

Oanh nằm đó, bất động, đôi mắt đã khép lại vĩnh viễn…Tôi bật lên khóc nức nở, nắm lấy tay bạn, sờ lên mặt bạn, vuốt trên người bạn, tôi muốn gào lên “Oanh ơi. Oanh ơi, mình đây, mình đang ở bên Oanh đây, mình không còn giận Oanh nữa đâu, tỉnh dậy đi Oanh ơi!!!” Tôi đưa tay bứt mớ tóc trên đầu xem mình có thật sự tỉnh không, có phải đây là sự thật không…Nỗi hối hận trong tôi trào lên, tôi giận tôi, tôi ghét tôi, tôi là con bạn tồi, sao tôi cố chấp thế…Tuy đã cố dằn vì chỗ đông người, cổ họng tôi vẫn bật lên tiếng gọi “Oanh ơi. Oanh ơi. Dậy đi, mình thương Oanh lắm, có nghe mình nói không?”

Tôi ngồi bên Oanh như thế, nước mắt tiếp tục chảy không thôi, biết bao điều muốn vuột ra khỏi trái tim nên lồng ngực đau thắt… Lâu lắm, chợt nghe tiếng bà dì Oanh nói “Cô phụ tôi thay quần áo cho Oanh nhé. Người bây giờ còn mềm, thay dễ”.

Tôi nâng đầu Oanh dậy tay chạm ngay vết thương sau ót, máu còn dính bết vào tóc. Đến lúc thay áo lại phát hiện ra phần dưới cũng bị thương, hình như vỡ xương hông thì phải. Ôi, đau đớn biết bao!

Mãi sau này các cháu con Oanh mới kể rằng, sáng hôm đó, một cậu nhỏ mới quen đến chở Oanh về Thủ Đức để đi hỏi vợ giùm cho cậu ta. Buổi chiều, trên đường về, đã gần đến nhà, đang băng qua con lộ Lý Thường Kiệt để vào ngõ thì bị một xe hơi do người tài xế say rượu đâm phải.

Oanh là thế đấy, hay làm chuyện bao đồng để giúp người.

Oanh mất đi bỏ lại bầy con 5 đứa. Con chim quý, Phụng Hoàng, của vợ chồng Oanh sinh bất phùng thời, mới 10 tuổi đầu đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhưng như một định luật bù trừ, hai con lớn cuả Oanh tiếp tục công việc của mẹ, không những đã duy trì được mức sống đầy đủ cho gia đình mà các cháu còn dìu dắt nhau học hành tới nơi tới chốn nữa. Nếu người ta tin có linh hồn thì chính linh hồn người Mẹ, day dứt lúc ra đi đã quay trở lại thế gian này để phù trợ cho các con vươn lên trong cuộc sống.

Hôm nay ngồi viết những dòng hồi tưởng này về một phần đời không nhỏ của bạn tôi, Vũ Hoàng Oanh, người phụ nữ tâm tính hiền lành, hay giúp đỡ người khác nhưng số phận cay nghiệt đã dành cho cuộc đời bao tang thương, oan trái. Khi sống, tâm tư luôn mòn mỏi vì lo toan cơm áo, còn mang nặng những vết thương không cơ hàn gắn. Đến lúc lià đời, lại ra đi trong một cơn mê khốc liệt với thân thể đớn đau, với cõi lòng đứt đoạn vì bầy con thơ dại.

Oanh ơi, những dòng hồi ức hôm nay cũng còn là những nén hương muộn màng mình thắp lên để nhớ đến Oanh, nhớ đến một quãng đời hai chúng ta cùng chung bước trải dài từ tuổi học trò cho đến khi vĩnh biệt.

Ngủ đi Oanh, hỡi bạn hiền,
Ngủ cho say nhé, triền miên giấc nồng
Chuông chùa vọng giữa thinh không
Đưa hồn an lạc về vùng tịnh yên.

Ấu Oanh
Hai mươi năm, ngày giỗ bạn, 21.6.1989 – 21.6.2009

Tiểu sử nhà văn Dương Hùng Cường

Sinh ngày 1-10-1934 tại Hà Nội, gia nhập Không Quân thụ huấn cơ khí viên tại Pháp năm 1953, trở thành hạ sĩ quan cơ khí phục vụ tại nhiều đơn vị. Từ giữa thập niên 1960 phục vụ tại Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Không Quân với cấp bậc Chuẩn Úy. Là một cây bút nổi tiếng trong giới văn nghệ, báo chí Sài Gòn, ông có 3 tác phẩm đã xuất bản: Lính Thành Phố, Buồn Vui Phi Trường và Vĩnh Biệt Phượng. Sau năm 1975, bị tù cải tạo tới năm 1979. Năm 1984, bị bắt giam với tội danh gián điệp do viết bài gửi ra nước ngoài và qua đời tại nhà tù T20 Phan Đăng Lưu, Gia Định năm 1987.




MƯA  SEATTLE — VƯỜN  THƯỢNG & BÌNH

rain raining GIF

MƯA  SEATTLE

Seattle mưa sáng, mưa chiều

Mưa trưa, mưa tối…sáng chiều đều mưa

Không mưa trời lạnh có thừa

Mưa nhiều trời ấm, mưa vừa lạnh se

Mưa rơi như bức màn the

Mưa khoe niềm nhớ, mưa che nỗi buồn

Mưa tuôn ướt đẫm mặt đường

Ướt đôi mi…nhớ…con đường ngày xưa

Lá me đổ xuống giống mưa

Saigon ngày ấy cũng mưa sáng chiều

Hoàng Mai Nhất

VƯỜN  THƯỢNG & BÌNH

Đường về nhà tôi cây xăng đầu ngõ

Kế bên chùa chuông gỏ lúc chiều buông

Nhà của tôi hoa Hồng trồng ngoài cổng

Cúc đủ màu, Thược Dược nở trong sân

Vườn nhà tôi cây Thông có bốn

Bụi Trúc vàng bên cạnh mấy cây Plum

Cuối mùa Thu, Hồng giòn cho trái    

Vườn Thượng Bình, đừng ngại ghé sang chơi  

             
 Hoàng Mai Nhất               




Cầu Nguyện Cho Một Người Hiền Vừa Ra Đi

KIỀU MỸ DUYÊN




Sứ Mệnh Tinh Thần

Yên Sơn

1.
Đang nín thở, nằm bẹp dí trong một góc tối tăm ở một nơi xa lạ để chạy trốn công an Việt cộng thì nghe tiếng dọng cửa ầm ầm. Tôi cố khom mình, nhích sâu thêm một chút vào bóng tối bỗng bị lọt thỏm… xuống sàn nhà, đau điếng! Mở bừng mắt, mồ hôi vã như tắm, tôi thở phào, vui mừng… khi biết mình đang nằm trong phòng khách sạn vừa trải qua một giấc mơ kinh hoàng!

Chưa kịp hoàn hồn thì lại nghe tiếng gõ cửa. “Ai đó?” “cần dọn phòng không?” “Chưa cần”. Đó là mẩu đối thoại với người bồi phòng ở ngoài hành lang. Tôi leo lên giường nằm xuống, cố ngủ thêm một chút nữa nhưng không tài nào chợp mắt được vì những tiếng ồn ào bên ngoài xông vào phòng rất khó chịu. Nhìn đồng hồ bàn thấy đã qua trưa! Tôi lại hoảng hốt bước như nhảy vào phòng tắm, làm vệ sinh rồi sắp xếp công việc phải làm hôm nay. Việc phải làm hôm nay cũng là lý do chính tôi về Quảng Ngãi lần này.

2.
Tôi đã rời xa Quảng Ngãi khá lâu; bây giờ về đây, thấy đâu đâu cũng đều xa lạ, nhưng trong tôi vẫn như bùi ngùi, luyến tiếc một thứ gì đó. Có lẽ tuổi xuân chăng chứ cảnh không cũ và người người đều xa lạ. Quảng Ngãi trong tâm thức của tôi là những hình ảnh thân thương, mộc mạc nhưng diệu kỳ vô cùng. Quảng Ngãi trong tôi là dòng sông Trà, sông Vệ mông mênh; là những con đò ngang mỏng manh; là những bờ xe nước kỳ vĩ; là những tiếng xe ngựa gõ lộp cộp trên đường đá; là những đêm trăng sáng, trời trong bạn bè kéo nhau ra bãi cát ngủ qua đêm. Quảng Ngãi trong tôi là an vui, thanh bình suốt thời tuổi thơ mầu nhiệm… Lòng tôi lâng lâng cảm xúc, bâng khuâng, rưng rức lạ lùng!

Ra khỏi khách sạn, trời nắng chói chang, tính tìm một anh xe ôm để đi đến chỗ cần đến. Vâng, đi về xóm nhỏ thì chỉ có đi xe ôm mới tiện tìm kiếm. Đang lớ ngớ giữa một chỗ xô bồ, phía trước khách sạn Trung Tâm trên đường Lê Lợi, Quảng Ngãi. Có lẽ đây là nơi tụ tập chờ khách của những người chạy xe ôm, xích lô đạp. Họ tụ năm tụ ba tán dóc, đánh cờ, binh xập xám, nói nói cười cười xen lẫn tiếng cãi cọ ồn ào cả một góc phố. Tôi nghĩ cần một tách cà phê trước khi đi. Bước vào quán cà phê bên đường ngồi xuống. Trong lòng xôn xao lạ. Biết là không gian này không phải là sự chọn lựa của tôi. Có bóng dáng của các em bé bán vé số dạo. Tiếng mời chào đủ các âm giọng ba miền đất nước. Đầu óc tôi mụ mị trong không gian hỗn tạp tiếng người, tiếng còi xe; trên tay ôm một chiếc bình sành nhỏ đựng tro cốt của Huệ – một người học trò ngoan hiền- đưa về từ Mỹ.

Vừa ngồi vào bàn thì một đám nhóc bán vé số nhào tới mời chào. Tôi lắc đầu nói không mua mặc dù chúng nó năn nỉ dai dẳng. Tôi ngồi làm thinh, mặt mày nghiêm và buồn được một lúc thì chúng nó bỏ đi. Xong lại có thằng bé đánh giày trờ tới “chú đánh giày không chú”. “Trời đất, chú mang giày thể thao mà đánh nỗi gì?” “Giày thể thao thì đánh theo giày thể thao chú ơi.” “Không đâu cháu, chú cần uống ly nước rồi đi công việc gấp.”

Thằng bé vừa đi thì một bé gái rất nhỏ – có lẽ chừng 5-6 tuổi là cùng – sà đến bên tôi: “Chú mua giùm con ít vé số đi chú?” “Không, chú không mua đâu cháu.” “Chú làm ơn giúp con; mua mấy tờ cũng được. Con cần bán rất nhiều vé số hôm nay vì mạ con đang bệnh, cần tiền mua thuốc!”

Tôi nghĩ tụi nhỏ bán vé số bao giờ cũng có những lý do bi đát để câu khách nên tôi chẳng quan tâm gì lắm. Chỉ khi nhìn kỹ con bé, thấy mặt mũi sáng sủa, xinh xắn nhưng gầy gò, chiếc áo bà ba có hai miếng vá ở khuỷu tay và vai, chân đi đôi dép mòn cả gót làm tôi chạnh lòng! Với số tuổi này đáng lẽ cháu ở nhà vui chơi sao lại tả tơi bán vé số! Nhìn quanh một lượt thấy lũ nhóc bán vé số đều không khác gì nhau mấy nhưng tự nhiên tôi có thiện cảm với con bé này. Không biết vì cái giọng Huế nhỏ nhẹ dễ thương của nó có dự phần trong tình cảm bất chợt này không; đối với trẻ con, nhất là các bé gái bao giờ tôi cũng dành nhiều cảm tình hơn. Tôi dạy con nít hơn 40 năm qua nên tôi rất yêu mến trẻ con; thế nhưng, tuổi đời đã đi qua ngã sáu rồi, tôi vẫn chưa có cơ hội thực tập hai tiếng “ông cháu” mầu nhiệm.
– Chú không mua vé số nhưng chú có thể tặng cháu ít tiền ăn bánh mì được không? Miệng nói tay móc túi lấy ra một ít tiền lẻ đưa cho con bé.
Nó khoa tay từ chối và đi thụt lui vài bước:
– Dạ không được mô chú. Chú mua vé số thì con rất vui. Rất cám ơn chú nhưng con không xin tiền.
– …? Tôi bỡ ngỡ, chưa biết ứng xử sao.
– Mạ con dặn không được lấy tiền của người khác.
– Thì cháu có lấy của ai đâu, chú tự nguyện, kể như tiền chú mua vé số thôi mà?
– Chú mua vé số thì con bán. Còn không mua thì con không lấy mô. Chú mua giùm con một ít đi?
– Chú không thích vé số. Người ta nói trúng số xui lắm!
– Con mới nghe chú nói lần đầu. Chú không mua thì con đi nghe.
Con bé mới chừng ấy tuổi mà đối đáp như người lớn. Nó dợm bước đi, tôi vội vã nắm tay con bé giữ lại:
– Được rồi, được rồi! Chú mua.
Con bé nhoẻn miệng cười dễ thương hết sức:
– Chú mua mấy vé nì?
Thấy con bé cầm trên tay một xấp, tôi hỏi:
– Một tấm bao nhiêu tiền cháu?
– Dạ 10 ngàn!
– Phần cháu lời được bao nhiêu mỗi tấm
– Dạ tám trăm!
– Từ sáng tới giờ cháu bán được bao nhiêu?
– Dạ tệ lắm! Chắc chỉ khoảng hơn 10 tấm thôi!

Trong đầu tôi làm vội một con toán: 10 tấm được 8 ngàn, khoảng 40 xu Mỹ.
– Bán bao nhiêu mới đủ tiền thuốc cho mẹ cháu?
– Dạ không biết nơi, nhưng chắc cần bán nhiều lắm
– Cháu đếm thử cháu còn bao nhiêu tờ?

Con bé mở to đôi mắt có vẻ ngạc nhiên, quẹt ngón trỏ bé tý vào miệng, cắm cúi đếm một hồi rồi ngước lên nói:
– Dạ còn đúng 86 tờ.
– Nếu hết ngày mà cháu bán không hết thì làm sao?
– Cuối ngày phải trở lại đại lý để thanh toán. Số không bán được sẽ bị phạt 10%.
– Vậy làm sao? Bây giờ đã xế bóng?
– Có lẽ con phải bán tới khuya!
– Cuối ngày! Tới khuya!?
Như hiểu ý tôi nó nói liền:
– Dạ cuối ngày là lúc mình đem tới đại lý thanh toán. Con xin người ta tới 10 giờ đêm. Nếu hết sớm thì được về sớm. Chú mua giùm con 10 vé nghe?
– Nếu chú mua hết thì cháu về nhà với mẹ hay đi bán tiếp?
Con bé trố mắt như không tin những gì nó vừa nghe:
– Chú noái thiệt không?
– ….! – Tôi không nói gì, chờ đợi câu trả lời tiếp của nó.
– Rứa thì con sẽ về mua thuốc cho mạ trước rồi tính tiếp. Con bé nói như reo.

Tôi đưa tay đỡ tập vé số trên tay con bé, móc bóp đưa cho nó tờ 50 đô. Nó ngập ngừng một thoáng xong cầm tờ giấy bạc rồi móc cục tiền bó bằng dây thun trong túi đưa hết cho tôi và nói: “đây là tiền thối lại cho chú nè.” “sao cháu chưa đếm mà đưa hết cho chú vậy?” “đó là tiền con bán 14 tấm vé số từ sáng giờ đó.” Tôi đẩy tay nó, bảo giữ luôn không cần thối lại, nó không chịu; nó nhất định chỉ lấy đúng số tiền vé số mà thôi, dù tôi có năn nỉ thêm cũng vô ích. Tôi thầm nghĩ, ở cái xã hội băng hoại, mục nát từ thượng tầng đến các anh công an đứng đường này sao còn có được những tâm hồn lương thiện, đoan hậu như thế! Ước gì những kẻ ăn trên ngồi trốc có được một chút liêm sỉ của con bé này thì đất nước mình, dân tộc mình đâu đến nỗi tang thương, khuất phục như hôm nay! Vừa cảm phục vừa thương con bé quá, muốn ôm nó vào lòng.
Vì thấy nó có vẻ ngập ngừng khi cầm tờ 50 đô nên để chắc ăn, tôi dắt nó qua tiệm vàng kế bên đổi ra tiền VN và đưa cho nó đúng con số nó muốn. Nó đếm lại lần nữa rồi ngước mắt lên nhìn tôi nhỏen miệng cười nói:
– Con đếm lại cho chắc chú không đưa hơn số tiền vé số.
Tôi cười méo vì thương tính nết ngay thẳng và hồn nhiên của con bé; tôi đưa tay xoa đầu tạm biệt con bé với nhiều lưu luyến, và cũng không quên chúc mẹ nó chóng lành bệnh.

3.
Tôi ngoắc một anh xe ôm. Hai anh cùng chạy tới hỏi tôi muốn đi đâu. Tôi nói tôi chỉ cần một anh cho tôi đi về địa chỉ này. Vì không biết hỏi anh nào nên tôi xòe số địa chỉ ghi trên tờ giấy ra giữa. Một anh nói 65 ngàn một chiều. Anh kia nói 45 ngàn… rồi hai anh cãi nhau, “đây chạy tới Mỹ Khê mà 45 ngàn, tính giựt khách người ta hay sao?” “Chỉ chạy tới Tịnh Khê mà đòi chặt người ta 65 ngàn!” “Anh có biết chỗ này gần bãi biển Mỹ Khê hay không?” “Nhưng chưa tới cầu Mỹ Khê, cũng không phải ra bãi tắm!”… Thấy hai người cãi nhau mãi mất thì giờ, tôi chọn anh bạn lấy 45 ngàn. Thật ra 65 hay 45 cũng chỉ thêm $1 USD mà thôi, đâu có bao nhiêu nhưng tôi theo anh 45 ngàn vì thấy anh ta có vẻ thật thà hơn nhiều.
Tôi leo lên xe ngồi sau gợi chuyện:
– Anh nghĩ bao lâu mình sẽ tới nơi?
– Dạ khoảng 45 phút là nhiều.
– Tôi không gấp lắm, anh chạy an toàn là tốt nhất.
– Dạ, vậy cứ đi đường chính theo Quốc lộ 24B là tốt nhất.
– Mình đi đường mới qua ngã Tam Thương phải không?
– Dạ, em sẽ chạy theo Lê Thánh Tôn, rẽ trái đường Đinh Tiên Hoàng, cũng là đường Bà Triệu, qua cầu mới, rẽ phải theo quốc lộ 24B về hướng Mỹ Khê.
– Anh cứ chạy đường nào nhanh và an toàn là được rồi.
– Mà anh tìm ai ở đó vậy?
– Một người quen.
– Em có thể biết tên không, may ra em biết?
– Anh ở vùng đó à?
– Dạ, nhà em ở gần chợ Tịnh Khê, không xa địa chỉ anh sắp tới.
– Anh biết ai tên Phạm Thị Phương Lan, một người đàn bà khoảng tuổi 30?
– Vậy thì xin lỗi, em không biết.

Anh xe ôm khoảng hơn 40 tuổi. Ăn nói lịch sự và có vẻ thành thật. Tôi cảm thấy yên tâm. Trên đường xe cộ tấp nập đủ loại. Anh vừa chạy vừa kể chuyện khi tôi hỏi để mà hỏi “anh có gia đình vợ con rồi chứ?” Có lẽ anh cũng đã biết tôi không phải là người ở đây nên “cạn mạch sầu” thao thao bất tuyệt. Anh kể chuyện anh sinh ra không có cha. Cha anh là lính Sư đoàn 2, chết trên đường chạy loạn tháng 3/1975. Vì là gia đình “ngụy quân” nên mẹ con anh bị chế độ mới ức hiếp đủ điều trong đời sống cơ bần. Mười năm sau mẹ anh bạo bệnh mất và anh mồ côi cả cha lẫn mẹ từ đó. Anh ở với Nội được mấy năm, không làm gì được để giúp mà còn là gánh nặng cho một gia đình cũng tả tơi không kém. Sau đó anh tự bươn chải để sống cho tới bây giờ. Ngày ngày chạy xe ôm mưu sinh, có một con trai đang học cấp một; có vợ buôn bán nhỏ ngoài chợ Tịnh Khê…

Tôi ngồi nghe anh kể chuyện với tiếng gió ào ào bên tai, nên chỉ nghe mà không góp chuyện. Trong lòng tôi đang bâng khuâng, hồi hộp nghĩ tới chuyện gặp gỡ sắp tới!

Xe chạy khoảng gần tiếng đồng hồ thì tới khu Trường Trung Học Cơ Sở Võ Bẩm nằm bên trái quốc lộ; đối diện bên kia lộ là trường Trung học Phổ Thông Sơn Mỹ. Anh tài xế nói với tôi sắp tới nơi rồi. Tôi giật mình vì khu này ở gần họ hàng nhà tôi. Nhìn đồng hồ thấy hơn 2 giờ chiều. Thấy vẫn còn sớm, hơn nữa tôi cũng cần thêm thời gian để ổn định tinh thần trước khi giáp mặt; tôi đề nghị ghé vào quán uống nước trước khi vào nhà. Tôi đã từng nhiều lần hồi hộp trước ngưỡng cửa sinh tử của cuộc đời, nhưng chỉ đơn thuần hồi hộp trước khi loạt đạn đầu tiên được bắn ra khỏi nòng súng. Còn sứ mệnh (mission) của tôi lần này coi bộ khó khăn hơn nhiều; ngoài sự hồi hộp, lòng tôi còn đầy thương cảm và bối rối. Dẫu đã có được tấm hình bỏ túi do người học trò đưa để dễ nhận diện – tấm hình chụp chung của hai người hơn hai năm trước – nhưng vẫn không hình dung được người ấy bây giờ ra sao, sẽ phản ứng ra sao trước một thực tế phũ phàng.

Ngồi uống nước độ hơn mười phút, chúng tôi chạy tới địa chỉ đã ghi. Tôi đưa tay gõ cửa một lúc lâu mới có một ông cụ ra mở cửa. Tôi hơi bỡ ngỡ:
– Thưa Bác cháu muốn hỏi thăm cô Phương Lan.
– Ồ! Cô ấy đã về ở trên thành phố tháng trước rồi. Mà anh là ai, quen biết ra sao với cô đó?
– Thưa Bác, có người ở bên Mỹ nhờ cháu tìm giúp cho họ.
– Trông tướng tá chú chắc mới bên Mỹ về phải không?
– Dạ phải!
– Chờ con tui một chặp, nó về đưa chú địa chỉ của cô ấy. Khi dọn đi, cô có dặn con tui, nếu có người quen nào muốn tìm, nhất là người ở bên Mỹ, thì đưa địa chỉ cho họ.
Tôi sốt ruột quá, hỏi “bao lâu nữa con Bác mới về?” Ông cụ cười mỉm nói “chắc chặp nữa thôi, nó chạy qua trường mầm non đón con về liền, chắc không lâu nữa đâu.” Nói xong mời chúng tôi vào nhà ngồi đợi. Cụ mời chúng tôi hai tách trà thơm.

Ngồi một lúc, tôi cứ thắp thỏm ngó mong. Anh tài xế biết tôi nóng ruột nên hỏi “anh có muốn đi một vòng trong lúc chờ đợi không, em không tính tiền thêm đâu?” “Thôi mình đợi đi anh!” Thật tình tôi cũng muốn chạy ra biển cho khuây khỏa nhưng trong lòng cứ nôn nao muốn lấy địa chỉ ngay để còn đi tìm. Thời gian cứ chậm chạp, chậm chạp!

Hơn 20 phút mới thấy một thiếu phụ dắt cháu nhỏ vào nhà. Bỡ ngỡ nhìn chúng tôi. Ông cụ nói liền “người ở Mỹ về muốn tìm chị Lan, Ba nói họ chờ con về đưa họ địa chỉ.” Thiếu phụ quay qua hỏi tôi:
– Chắc ông là người muốn tìm chị Lan?
– Tôi tên Phong, ở Mỹ về, tìm giúp cho một người khác.
– Sao người đó không tự về tìm lấy?
– Có, nhưng không nói được!
Tôi chỉ chiếc bình sành trên tay. Thiếu phụ có vẻ tái mặt, lúng túng, lẳng lặng đi vào trong một lúc đem ra một tờ giấy có ghi địa chỉ đưa cho tôi.
– Xin chia buồn với ông. Có lẽ ba tôi đã cho ông biết chị Lan dọn về thành phố tháng rồi. Chị Lan ốm yếu không biết có chịu nỗi sự đau buồn này không. Chúc ông may mắn.
Tôi cám ơn cô ta và nói lời từ giã với hai cha con. Hỏi anh xe ôm có muốn đưa tôi trở lại thành phố tìm tới địa chỉ này không. Anh trả lời là rất vui lòng và cũng sẽ lấy thêm 45 ngàn nữa thôi. Tôi nói không thành vấn đề, chỉ mong làm cho xong trách nhiệm hôm nay cho nhẹ mình.

4.
Về lại thành phố hơn 4 giờ chiều. Địa chỉ ở trong hẻm Ngô Quyền với hai cái xẹt (sur), khu chợ Quảng Ngãi, rất khó tìm. Anh xe ôm vừa chạy vừa hỏi thăm, cuối cùng cũng tới được. Địa chỉ là một căn nhà nhỏ trông gọn gàng, sạch sẽ. Tôi lại hồi hộp đưa tay gõ cửa, nghe tiếng trả lời của một cụ bà người Huế; rồi cửa xịch mở. Một bà cụ trông gầy gò ốm yếu, lưng lại cong, ngó tôi từ đầu tới chân:
– Cậu muốn tìm ai?
– Thưa Bác có phải cô Phương Lan ở đây không ạ?
– Cậu là ai mà biết tên con gái tui?
– Thưa Bác có người bên Mỹ nhờ cháu tìm giúp.
– Phải thằng Huệ nhờ cậu không?
– Dạ phải.
– Mời cậu vào nhà nói chuyện.
– Vâng cho cháu trả tiền xe cho họ về đã.
– Nếu anh muốn em ở quanh đây chờ anh cũng được. – Anh tài xế vội nói.
– Cám ơn anh, đây về khách sạn không xa lắm, hơn nữa không biết phải bao nhiêu lâu mới xong. Khi xong việc tôi sẽ gọi xe khác chắc không khó lắm đâu.
– Theo me thấy anh có thể đi bộ tới khách sạn cũng được.
Tôi đưa cho anh ta 200 ngàn VND mới đổi ở tiệm vàng hồi trưa. Anh ta gãi đầu lúng túng:
– Em tên Minh, mỗi ngày em đều loanh quanh trước khách sạn Trung Tâm và bến xe Quảng Ngãi. Anh cần đi đâu em sẽ hướng dẫn anh không sợ bị người ta lường gạt.
– Vâng, nếu cần tôi sẽ tìm anh.

Nhìn anh tài xế đi khuất, tôi theo bà cụ vào nhà. Căn phòng nhỏ trông rất tươm tất, vắn khéo nhưng có vẻ đạm bạc. Bà cụ mời tôi ngồi vào chiếc ghế duy nhất bên cạnh chiếc bàn con kê sát tường; tôi ý tứ đặt hũ tro cốt xuống chiếc bàn. Từ trưa đến giờ tôi ôm cứng trên tay, chỉ để xuống được 15 phút ở quán nước dưới Tịnh Khê. Bà cụ vén tấm màn ngăn làm phòng ngủ và ngồi trên cạnh giường.
– Mạ con hắn vừa ra chợ chắc cũng sắp về. Cậu ngồi đợi được chớ? Để tui lấy nước mời cậu.
– Dạ thưa Bác không cần đâu ạ, cháu vừa uống nước rồi.
Nói là nói vậy chứ tôi cũng đã khát nước, chỉ vì thấy nhà đơn chiếc quá và bà cụ cũng gầy gò trông tội nghiệp.
– Cậu mới về hay về lâu rồi? Hiện ở mô?
– Thưa Bác, cháu tên Phong, từ Saigon về Đà Nẵng xế trưa hôm qua, vậy mà mãi tới khuya xe mới về tới khách sạn Trung Tâm trên đường Lê Thánh Tôn gần đây.
– Dường như cậu ở bên Mỹ về?
– Sao Bác biết?
– Thì trông bộ dạng của cậu và nghe cậu nói thằng Huệ bên Mỹ nhờ cậu ra đây tìm em Lan.
– Dạ vâng ạ! Để Phương Lan về cháu sẽ kể hết đầu đuôi luôn ạ.
Tôi sốt ruột quá, đứng lên ngó mong ra cửa. Bà cụ nhận là mẹ của Phương Lan nhưng sao không nghe Huệ nhắc tới khi còn sống.
– Thưa Bác cho cháu để cái bình ở đây, cháu ra hẻm mua bao thuốc lá về liền.
– Được được, cậu cứ để đó tôi coai cho, không mất đi mô mà lo.

Tôi lang thang ra đầu hẻm, ngồi ngay quán cóc đầu con hẻm để ngó chừng; gọi ly cà phê đá và mua gói thuốc lá của một bà bán bên cạnh, phì phà chờ đợi. Tôi nghĩ ngồi ở đây, nếu mẹ con cô ấy về nhà nhất định phải đi qua con hẻm này, nên yên tâm ngồi chờ. Thế mà tôi đã hút hết hai điếu thuốc, uống hết ly cà phê mà vẫn không thấy tăm dạng của một cô gái khoảng 30 tuổi đi với đứa con nhỏ nào cả. Sự chờ đợi thật vô cùng khó chịu, thấy thời gian đi chậm như rùa. Tôi nghĩ tôi phải vô nhà kẻo bà cụ trông.

Tính đưa tay gõ cửa thì cửa xịch mở. Một thiếu phụ với suối tóc đen mượt, dài chấm lưng, gương mặt thanh tú, khả ái nhưng trông võ vàng, tiều tụy. Đôi mắt đỏ ngầu, dường như vừa mới khóc. Tôi lúng túng hẳn. Nàng cũng chưa kịp nói gì thì một con bé phía sau lưng vượt lên trước:
– Ủa chào chú!
Tôi kinh ngạc thấy con bé bán vé số khi trưa.
– Mạ ơi, đúng là chú ni là người mua hết vé số của con khi trưa mà con noái với mạ đó! – Con bé quay sang nói với mẹ nó.
– Chào anh. Anh Phong phải không? Tôi là Phương Lan, mẹ của cháu Lan Huệ! – Giọng nàng sũng nước mắt.
– ….
– Mời anh vào nhà đã.
– Con qua quán dì Tám mua cho mạ mấy chai nước ngọt; nhớ lấy ít nước đá.
– Dạ mạ!
– Không cần đi đâu cháu. -Tôi giữ vai ngăn con bé lại.
– Anh để cháu đi, nhà chẳng có gì.

Thấy không tiện ngăn cản thêm, tôi đành buông tay, theo nàng bước vào nhà. Thấy bà cụ vẫn ngồi trên giường mặt buồn dàu dàu, tôi gật đầu chào, nói với cụ cũng như nói với Phương Lan:
– Xin lỗi Bác, cháu đợi lâu sốt ruột quá nên ra ngoài đầu hẻm uống nước. Tưởng đâu Phương Lan về đường đó mà không thấy nên ngồi hơi lâu.
– Tôi tưởng cậu đi luôn rồi chớ!
– Dạ đâu có! Cháu về đây chỉ có một việc này thôi mà!
– Cậu ngồi xuống đi rồi nói chuyện.
Phương Lan đẩy chiếc ghế về phía tôi và ngồi chiếc đối diện. Chắc có lẽ chiếc ghế để trong bếp mới được mang ra. Tôi chưa biết mở lời cách nào thì nàng nói tiếp:
– Mạ con em đi đường trong nên anh không thấy là phải. Khi vô tới nhà, thấy trên bàn có cái bình sành này, bé Lan Huệ nói liền “sao giống cái bình của chú mua vé số của con khi trưa quá!”
– …
– Con bé về lúc trưa, khoe với em, “có một cái chú chắc ở đâu mới tới; tụi thằng Tèo, thằng Dũng bị chú từ chối mà chú lại mua của con, còn mua hết nữa chứ!” Rồi nó khoe là “chú nớ cố cho tiền con mà con nhớ lời dặn của mạ nên nhất định không lấy.”
– Vâng, sự thực là vậy! Phương Lan dạy con hay quá! Chính vì sự thông minh và thực thà của nó mà tôi đã “phải lòng nó”.
– Cám ơn anh, tuy gia đình em nghèo nhưng lúc mô em cũng nhắc con “nghèo cho sạch, rách cho thơm”. Em đâu có muốn bắt con đi bán vé số, chỉ vì thời gian gần đây em bệnh triền miên không làm ăn chi được hết. Ba thế hệ tùy thuộc vào em mà sức em tàn, lực em kiệt! Cả tuần nay lại nằm liệt một chỗ, ăn uống khó khăn. Con bé thương mẹ, nhất định đòi cho nó đi bán vé số tạm thời. Cũng may, cháu được nhiều người thương, nhưng không vì vậy mà em để con phải khổ lâu. Chỉ vì đang mùa hè cháu nghỉ ở nhà không việc chi làm và chưa biết làm răng để thoát ra khỏi hoàn cảnh tối tăm ni. Khi trưa nó về lại mang theo một chị y tá chích dạo… cách đây vài tiếng đồng hồ, em mới ngồi dậy nỗi, ráng cùng đi với cháu ra nhà thuốc tây mua thuốc theo lời dặn của cô y tá; cũng là cách cho đỡ quẫn trí, cuồng chân.

Nàng thao thao như để che giấu cảm xúc; như để cho tôi có thêm bình tĩnh. Ngồi nghe nàng nói mà lòng tôi xót xa, bối rối, vẫn chưa dám mở lời.

Cánh cửa xịch mở, con bé đã về cầm theo mấy lon nước ngọt và một cục nước đá nhỏ. Tôi nhìn con bé với tất cả trìu mến. Nó đi thẳng vào bếp, nghe tiếng nước chảy, tiếng chặt đá và tiếng ly tách lịch kịch. Tôi ngó vẩn vơ chung quanh phòng. Bà cụ vẫn ngồi yên kiên nhẫn nhai trầu. Tôi nhìn qua khung cửa sổ. Bên ngoài bóng chiều đã xuống thấp, tiếng rao hàng cũng thưa thớt dần. Tôi đưa mắt nhìn nàng nhưng không đủ can đảm nhìn lâu. Con bé đem cho bà một ly nước trước khi đặt hai ly trên bàn chúng tôi ngồi, xong tới ngồi bên cạnh giường gần bà ngó tôi… Tôi bảo con bé “chú không uống nước ngọt được, uống vào là sưng cuống họng, ho liền trong vòng 30 phút. Cháu cho chú tách nước lạnh rất tốt. Con bé ngó mẹ nó, thấy Phương Lan gật đầu, nó lại chạy xuống bếp đem lên cho tôi một ly đá lạnh. Tôi đưa ly nước ngọt cho nó, nó ngần ngừ nhìn mẹ và mẹ nó gật đầu ra dấu đồng ý.
Bỗng nhiên, nàng nhìn thẳng vào mắt tôi:
– Có phải anh mang cho chúng tôi một tin rất xấu không?
Tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực; miệng tôi chát đắng, ấp úng không nói nên lời!
– Có phải đây là hũ tro cốt của Huệ?
– …!

Tôi nghẹn lời chưa kịp trả lời. Người thiếu phụ đang ngồi trước mặt tôi quá sức thông minh và thẳng thắn. Tôi bối rối nhìn bà cụ rồi nhìn con bé. Không gian vô cùng tĩnh mịch, thỉnh thoảng nghe tiếng rao hàng của những người bán rong đi ngang trước cửa. Lòng tôi chùng xuống, nghe nhịp tim đập bồi hồi. Mọi người như rất chú tâm để nghe tôi xác nhận. Phương Lan vừa khóc vừa nói:
– Em đã sẵn sàng nghe anh xác nhận. Cả tháng ni em đã linh tính có điều bất thường, mặc dù đã hơn hai năm rồi không nghe tin tức chi của Huệ. Dù vậy, em vẫn nhất quyết không tin Huệ quên bỏ mạ con em.
– Vâng, Huệ không bao giờ quên bỏ mẹ con Phương Lan. Có quá nhiều đau thương đã xảy ra cho Huệ, nhưng nó nhất định không nói với ai, kể cả tôi. Tôi là thầy dạy võ của Huệ. Huệ đã đến học với tôi gần bốn năm. Tính Huệ hiền hòa ít nói nhưng siêng năng và vô cùng lễ phép. Những ngày lễ tết, Huệ thường đến nhà thăm và tặng quà cáp, đôi khi đi với Mẹ. Nhìn cách đối đáp với mẹ nó, tôi biết Huệ là một người con chí hiếu. Dần dà tôi coi nó như một người thân và không lấy tiền học phí của nó nữa. Mỗi lần có tiệc vui trong gia đình đều có nó tham dự, vài lần đi chung với Mẹ nó. Dù vậy, khi tôi hỏi chuyện gia đình vợ con thì nó chỉ cười buồn mà không nói. Tôi biết Huệ chắc có điều gì khó nói nên tôi tôn trọng sự riêng tư không hề hỏi nữa. Mỗi lần đến tập xong rồi về. Lâu lâu tôi không thấy tới thì tôi gọi hỏi thăm. Rồi Huệ lại bất chợt xuất hiện, vẫn tập tành siêng năng, kỷ luật như thường.
Tôi ngưng lại, bưng ly uống một ngụm nước. Nước đá lạnh như làm cho tôi bình thản trở lại. Tôi thong thả đặt ly xuống bàn, hắng giọng tiếp:
– Cách đây khoảng hai năm, buổi chiều, lúc tôi đang dạy lớp thì nghe điện thoại của Huệ. Tôi bắt điện thoại để nghe tiếng nấc của Huệ, “Thầy ơi! Mẹ em mất rồi!” Tôi sửng sốt hỏi “Mẹ đau bệnh gì vậy?” “Dạ, Mẹ em bị ung thư buồng trứng!” “Mới phát giác hay lâu rồi?” “Dạ chữa trị cả năm rồi Thầy ạ!” “Mẹ đang được quàn ở đâu?” “Dạ nhà quàn Vĩnh Phước.” “Có người thân nào ở đó với em không?” “Kính Thầy em là người duy nhất, em không có thân nhân, chỉ có hai mẹ con thôi!” Thế là tôi giao lớp cho học trò lớn, lái xe xuống ngay với Huệ vì tôi nghĩ Huệ đang cần tôi.
Phương Lan nấc nhẹ, nước mắt đầm đìa. Con bé lấy khăn tay đưa cho mẹ nó. Tôi cũng nghẹn ngào, khó khăn nói tiếp:
– Sau khi tang lễ hoàn tất, Huệ càng lúc càng vắng mặt ở trường. Tôi nghĩ có lẽ Huệ vì quá đau buồn nên hết muốn tập luyện. Lâu lâu không thấy thì tôi lại gọi hỏi thăm an ủi. Có lần tôi đề nghị “hay là em về ở chung với Thầy”, Huệ nói nó không muốn bán căn nhà kỷ niệm của mẹ nó. Những khi tôi thắc mắc về sự tập tành không đều đặn của Huệ nó đều nói “thầy đừng lo nhiều cho em, khi nào khỏe em sẽ đi tập.” Dù trong đầu tôi nghĩ “bây giờ chỉ có một thân một mình mà sao không khỏe?” nhưng tôi không nói ra điều đó. Bẵng đi một thời gian khá lâu tôi không nghe thấy gì ở Huệ nữa, tôi định tạo bất ngờ cho Huệ bằng cách ghé ngang nhà không báo trước. Tôi bàn với nhà tôi nhưng nhà tôi không bằng lòng. Nhà tôi nói “mình là người lớn, là cương vị thầy nữa, không nên làm như vậy dù thật lòng thương mến. Mỗi người có một cuộc sống riêng tư, đừng đặt người khác trước những ngỡ ngàng đáng ân hận…” Thế là tôi chỉ còn biết thương nhớ và đầy thắc mắc.

Tôi ngưng lại uống nước. Mọi người vẫn kiên nhẫn ngồi chờ. Tôi cố ngậm hớp nước lạnh thật lâu để dằn cơn xúc động trước khi nói tiếp:
– Cách đây hai tháng, Huệ gọi nói muốn gặp tôi gấp, có việc vô cùng hệ trọng cần nhờ. Tiếng nói nghe rất yếu ớt. Địa chỉ là nhà thương MD Anderson, khu Medical Center gần trung tâm phố Houston. Lòng tôi nghi nghi ngại ngại. MD Anderson là trung tâm ung bứu nổi tiếng thế giới cũng là nơi làm việc của nhà tôi gần 20 năm qua. Buông điện thoại xong là tôi lái xe đi ngay. Vào đến nơi mới biết Huệ đang nằm điều trị tại khu chăm sóc đặc biệt (intensive care unit). Trông Huệ tiều tụy quá mức làm tôi rất ngỡ ngàng. Hình ảnh chú học trò văn vẻ, mạnh khỏe, đẹp trai chỉ còn lại vài đường nét lu mờ trên người bệnh. Huệ bị ung thư ruột già thời kỳ chót; đã kinh qua hóa trị rồi xạ trị nhưng không thoát. Tôi bốc điện thoại gọi nhà tôi nhờ hỏi thăm vị Bác sĩ chuyên môn xem lại hồ sơ. Hóa ra, vị Bác sĩ chuyên môn này lại là cấp trên của nhà tôi và cũng là Bác sĩ đang chăm sóc cho Huệ. Ông ta nói với tôi rằng khi Huệ nhập viện thì đã quá trễ! Ông đã cố gắng hết sức nhưng không cứu được. Vì Huệ không có thân nhân nên họ đang làm thủ tục chuyển Huệ qua hospice- nơi chăm sóc cho những bệnh nhân không còn phương án trị liệu. Nói cách khác là nằm chờ chết!

Tôi phải dừng lại vì Phương Lan khóc nức nở thành tiếng. Nàng lẩm bẩm, “Huệ ơi! Thế mà em đã trách oan cho anh rồi!” Đột nhiên nàng tuột xuống khỏi ghế ngồi; tôi nhanh tay chụp được tay nàng giữ lại để khỏi va đầu vào bàn; đứng phắt dậy đỡ lưng nàng trước khi đụng đất. Con bé khóc thét lên gọi mẹ ơi mẹ hỡi. Bà cụ cũng vội vàng chạy xáp tới. Tôi vội vã bế xốc nàng đặt ngay ngắn trên giường, khuyên bà cụ và con bé bình tĩnh… Tôi dùng hai đầu ngón trỏ xoa bóp liên tục vào hai đại huyệt Nhĩ Môn và Thái Dương hai bên mặt nàng được một lúc thì nàng tỉnh dậy. Bà cụ lấy chai dầu xanh dưới gối xức vào hai bên thái dương cho nàng. Nàng tiếp tục khóc rấm rứt:
– Em xin lỗi, anh kể tiếp đi.
– Phương Lan tịnh dưỡng chút đi rồi tôi sẽ kể tiếp.
Bóng tối đã chiếm gần trọn căn phòng. Bà cụ bảo con bé thắp đèn lên. Con bé đứng dậy bưng chiếc đèn dầu ở góc phòng, quẹt diêm đốt. Ánh sáng lù mù trông căn phòng nghiêng ngả, thê lương hơn. Tôi bỗng sực nhớ từ sáng tới giờ chưa ăn gì. Tôi đề nghị đưa cả nhà đi ăn nhưng tất cả 3 người đồng loạt từ chối. Tôi nghĩ ngay ra một phương cách:
– Thưa Bác và cô Phương Lan, cả ngày nay bận rộn nên tôi chưa có gì trong bụng, nếu không ăn tối tôi sẽ không đủ sức nói chuyện thêm!
– Rất tiếc nhà em cũng chẳng có gì để mời anh. Phương Lan gượng ngồi dậy, con bé đỡ lưng mẹ nó.
– Thế thì thường ngày 3 người ăn uống ra sao?
– Dạ ăn cho qua ngày anh à. Lúc em không bệnh thì buôn bán vặt vãnh ngoài chợ mỗi ngày. Hai năm trước, em nhận được 10 ngàn đô la của Huệ gửi cho, kèm theo bức thư nói rằng “em cố gắng dùng số tiền này buôn bán đỡ đần trong thời gian tới chờ anh làm thủ tục giấy tờ bão lãnh.” Thế rồi bặt tin luôn. Em có gửi thư và gọi điện thoại nhiều lần nhưng không thấy hồi âm. Em cay đắng nghĩ rằng, Huệ đã thí cho mạ con em 10 ngàn để rồi trốn biệt! Em cố nghĩ tốt cho Huệ nhưng càng ngày em càng thấy suy nghĩ Huệ đã bỏ mạ con em đúng hơn tất cả những lý do em bào chữa khác.

Kể tới đây lại khóc òa. Con bé lấy khăn ướt lau mặt cho mẹ nó. Được một lúc, nàng trấn tỉnh lại nói tiếp:
– Anh biết không, “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”. buôn bán nhỏ để nuôi ba miệng ăn nên càng ngày vốn càng hao hụt. Vì thế, tháng trước khi con em nghỉ hè, em quyết định dọn về thành phố để xoay xở may ra khá hơn; ai ngờ lòng người lừa lọc, họ nhẫn tâm giựt mất lẽ sống của ba người chúng em khi em nộp tiền sang một cái sạp bán trái cây ngoài chợ Quảng Ngãi. Tuần sau em tới nhận sạp thì mới biết đó là trò lường gạt. Không tìm được thủ phạm, lại tiếc tiền và lo sợ không biết gia đình sẽ sinh sống ra sao nên kiệt sức quỵ dần, nằm liệt giường cả tuần nay. Đó là lý do em đành lòng để Lan Huệ đi bán vé số tạm thời.
– Phương Lan nghỉ chút đi, đừng nói nữa. Bây giờ phải giải quyết buổi ăn tối trước đã. Chuyện đâu còn có đó. Thế nào cũng có con đường sáng cho Cụ và hai mẹ con Phương Lan. Tin tôi đi!
– Rứa thì anh tính răng em xin nghe theo. Nhưng người em yếu quá, em không thể ra ngoài được.
Tôi chưa biết nói sao, bà cụ đỡ lời:
– Huệ, mi chạy ra quán chú Tư nói chú cho người mang cho mình 4 phần cơm đặc biệt để đãi khách rồi mạ mi thanh toán sau.
– Cô với Bác nghỉ chút đi, cháu đi cùng với Lan Huệ.
Con bé ngó mẹ nó, thấy mẹ nó gật đầu:
– Con dẫn đường bác Phong đi đi.

Tôi nắm tay con bé, muốn truyền tất cả sự thương yêu của Ba nó qua trái tim ướt sũng của tôi. Với số tuổi này ở bên Mỹ sung sướng biết bao nhiêu, trong khi con bé này phải ngày ngày lê gót đi khắp phố phường bán vé số lo thuốc cho mẹ! Còn đau đớn nào bằng! Tôi trìu mến hỏi nó:
– Lan Huệ, cháu bao nhiêu tuổi rồi?
– Dạ con 7 tuổi!
– Cháu học lớp mấy?
– Con vừa xong lớp một ở dưới Tịnh khê. Đầu mùa hè mạ con dọn về đây; khai trường con sẽ ghi danh lớp hai.
– Nếu có Ông Tiên cho cháu một mơ ước bây giờ, cháu sẽ mơ ước điều gì?
– Ước cho mạ con khỏe mạnh và con có cha như lũ bạn trong lớp. Nó nói liền không cần suy nghĩ.
– Đã nói là chỉ có một thôi mà!
Nó cúi gầm xuống, bước đi theo tay kéo của tôi. Không biết nó tính toán cái gì trong cái đầu bé tí đó. Được một lát nó ngước lên nói:
– Ba con chết rồi, rứa cho con xin mạ khỏe mạnh như xưa.
Con bé này vừa thông minh vừa chí hiếu giống như ba mẹ nó. Tôi cũng chợt đau lòng thay cho nó. Nếu có điều kiện học hành đàng hoàng, chắc chắn nó sẽ nên người hữu dụng mai sau. Tôi tự nhủ thầm “chắc chắn cháu sẽ có tương lai tốt đẹp thôi”
Chúng tôi bước vào một tiệm ăn nhỏ xíu bên ngoài con hẻm. Con bé nhìn tôi, tôi nhìn nó:
– Bà và Mẹ cháu muốn ăn món gì?
– Khi nãy Bà nói mua 4 phần cơm đặc biệt đãi khách.
– Cháu muốn ăn gì khác không?
– Hủ tíu mì! Nhưng chỗ ni chỉ bán cơm thôi.
– Ở đâu bán hủ tíu mì?
– Ngoài đường lớn mới có.
– Xa không?
– Một con hẻm nữa là tới đường Ngô Quyền sẽ thấy tiệm liền hà!
– Rồi, chú cháu mình đi.
– Không được mô chú. Không mua cơm về nhà sẽ bị Bà và Mạ la chết.
– Chú chịu trách nhiệm cho. Hơn nữa mẹ cháu không được khỏe làm sao nuốt cơm cho trôi; Bà cũng già rồi, cơm khó nuốt lắm.
– Vậy thì về nhà chú nói là tại chú muốn ăn hủ tíu mì đó nghe.
– Được rồi, chú hứa.

Tôi đưa ngón tay ngoéo ngón tay bé tí của nó. Nhìn mặt cười rạng rỡ của nó tôi càng thương hơn. Tôi bỗng ước ao nó làm con, làm cháu gì của tôi cũng được, tôi sẽ lo lắng, thương yêu nó hết lòng để bù trừ những bất hạnh trong mấy năm qua.
Về đến nhà với 4 tô hủ tíu mì đựng trong hai cái gà-mèn, tôi nói liền:
– Tôi mua hủ tíu mì cho Bác và Phương Lan dễ ăn nha.

Nói xong kín đáo nhìn con bé nháy mắt, nó mỉm cười quay đi đồng lõa. Bà cụ và Phương Lan ráng ăn một ít rồi ngừng. Riêng con bé ăn một cách ngon lành làm tôi muốn chảy nước mắt. Có lẽ lâu lắm nó chưa được ăn món ăn xa xỉ này.

Sau bữa ăn ngắn, thấy không tiện ở lâu, tôi đề nghị ngày mai tôi trở lại sớm để nói cho hết câu chuyện. Phương Lan dụ dự nhưng đồng ý. Có lẽ bất đắc dĩ chứ có cách nào hơn.
– Cháu xin chào Bác và mẹ con Phương Lan. Sáng mai mấy giờ tiện cho tôi trở lại?
– Giờ nào anh ngủ dậy thì tới cũng được ạ. Anh đang ở khách sạn nào?
– Khách sạn Trung Tâm trên đường Lê Lợi.
– Chỗ nớ cách đây không xa lắm.
– Nếu biết trước tôi đâu mất nửa ngày đi tìm!

Chợt để ý thấy hũ tro cốt của Huệ đã được đặt lên bàn thờ có nén hương đang cháy.
– Thưa Bác và cô Phương Lan, trước khi ra về, tôi muốn được thắp nhang cảm tạ trời đất và tạm an vị tro cốt của em Huệ.
– Cám ơn anh đã chu đáo!

Phương Lan vừa âm thầm khóc vừa bước tới trước bàn thờ, lấy một nén nhang run run đốt. Tôi nghĩ có lẽ nàng sẽ khóc suốt đêm nay. Tôi không biết an ủi cách nào, đành lặng lẽ cầm nén nhang từ tay nàng trao, đứng trước bàn khấn vái lớn cho mọi người cùng nghe.
– Huệ ơi! Cuối cùng thì em cũng đã về bên vợ con như ý nguyện. Thầy cảm tạ hương linh em đã giúp Thầy vượt qua nhiều thử thách để chu toàn lời hứa với em. Dĩ nhiên công việc chưa xong, hy vọng trong vài ngày nữa sẽ được. Em an nghỉ và ở bên vợ con phù trợ cho họ vượt qua tất cả nghịch cảnh do ông trời thử thách, sớm cho họ được bình an từ tinh thần đến vật chất. Thầy cũng đã hứa với em, Thầy sẽ để tâm tới bé Lan Huệ từ hôm nay. Bây giờ kể như đã xong phần quan trọng nhất, những việc khác chắc không có gì để lo. Ngày mai, Thầy sẽ trở lại đây để lo cho xong trách nhiệm em giao phó. Tạm biệt Huệ.

Tôi cắm nhang xong quay lại đã thấy Phương Lan mắt lệ đầm đìa, dang tay ôm chặt tôi, gục đầu trên vai khóc nức nở:
– Mạ con em đội ơn anh. Còn nhiều điều em nôn nóng muốn biết nhưng không còn thắp thỏm như mấy năm qua nữa. Huệ đã về với mạ con em dù chỉ là di cốt nhưng trong thâm tâm em cũng đã thấy mãn nguyện lắm rồi. Vô vàn cám tạ tấm chân tình anh đã dành cho chúng em, và đặc biệt cho mạ con em. Hẹn gặp anh sáng mai và chúc anh ngủ ngon đêm nay.

Tôi nghĩ phải có niềm cảm xúc sâu sắc lắm mới khiến một người con gái Việt Nam biểu lộ cử chỉ thân mật như vậy. Tôi quá bất ngờ nên đâm ra lúng túng, một tay buông thõng, một tay ngại ngùng đập nhẹ trên chiếc vai gầy run rẩy, thổn thức để nói lời an ủi. Nàng cố dằn cơn xúc động, buông tay, ngả nghiêng bước tới giường nằm vật xuống gối khóc vùi. Con bé giờ này cũng khóc theo mẹ và bà Cụ cứ lấy tay áo quẹt nước mắt. Tôi bối rối chôn chân tại chỗ. Tình cảnh rất khó lòng, đi không nỡ ở không được! Không quay mặt lại, Phương Lan nói trong nước mắt nhưng dứt khoát “anh đi về kẻo muộn, mai chúng em gặp lại anh”. Tạm biệt!

Tôi bước qua khuôn cửa, thuận tay khép lại, nghe nặng bước chân, tâm hồn chùng xuống thật thấp với tấm lòng đầy trắc ẩn và âu lo lẫn xót thương. Một gia đình nhỏ với 3 thế hệ toàn là đàn bà đứng trước một nghịch cảnh đớn đau. Tôi thấy mình bất lực quá trước đau thương to tát của 3 người đàn bà đáng thương này.

5.
Màn đêm phủ kín khu phố; những ngọn đèn đường vàng vọt trải xuống cảnh vật chung quanh một màu ảm đạm, thê lương. Đâu đây tiếng dế kêu vang như hòa cùng tiếng khóc than của một người thiếu phụ mất chồng và một đứa con gái nhỏ mất cha.

Có chiếc xe ôm trờ tới, tôi bảo anh ta cho tôi trở về khách sạn Trung Tâm. Anh ta nhìn tôi chằm chặp, nói “anh có thể đi bộ được mà”. “Tôi không thể đi thêm bước nào nữa”. Anh tài xế nhìn tôi ái ngại, “anh có muốn tôi chạy quanh một vòng cho khuây khỏa không?” “Cám ơn anh, tôi cần một giấc ngủ!”
Chỉ xa hơn một lốc đường và tốn không đầy 3 phút chạy xe, anh tài xế đã đổ tôi xuống trước khách sạn. Bước xuống xe, hai chân muốn khuỵu xuống. Về đến phòng, không kịp thay đồ, tôi tuột giày nằm vật mình trên nệm… Một ngày đầy âu lo, vất vả làm rệu rã cả tâm hồn lẫn thể xác! Thế nhưng có ngủ được đâu. Niềm xót thương đứa học trò tình nghĩa đã ra đi, để lại vợ con trong hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã như hiện tại cứ dâng đầy, làm hai con mắt ráo hoảnh. Tôi cố làm mọi cách để quên hết mọi chuyện, áp dụng mọi phương pháp để dỗ giấc ngủ… nhưng hình ảnh đau thương của một gia đình 3 thế hệ cứ chập chờn làm cay đôi mắt.
Cứ ray rứt như thế cho đến quá nửa khuya, tôi bật dậy vào phòng tắm mở nước đầy bồn, nằm ngâm mình với những suy tư dằn vặt rồi ngủ quên cho tới gần sáng khi tiếng loa tuyên truyền vang lên ra rả bên ngoài khách sạn.

Lau mình sạch sẽ xong, tôi lại vùi đầu vào gối cố ngủ tiếp nhưng không thể nào, cứ nghĩ tới những công việc cần phải làm trước mắt, trong ngày hôm nay… tôi nóng lòng trông cho trời mau sáng…

7 giờ sáng, tôi thay đồ ra hàng quán trước khách sạn uống mấy cốc cà phê chờ đợi. Tôi nghĩ có lẽ mọi người cũng nóng lòng muốn biết hết câu chuyện, và tôi cũng muốn nói cho xong, cho nhẹ lòng. Thấy còn nhiều thì giờ, tôi quyết định đi bộ theo con đường anh xe ôm chạy tối hôm qua. Đi dọc theo đường Quang Trung để nhớ về một thời… Ngày xưa, tôi cũng có “người yêu bé nhỏ” có tiệm bán xe đạp ở trên con đường này. Khi đi ngang qua trường Trung học Trần Quốc Tuấn – ngôi trường nổi tiếng năm xưa không biết bây giờ có còn được dư hương ngày tháng cũ hay cũng chỉ còn là những kỷ niệm muôn màu như tuổi ấu thơ của tôi đã biệt mù trong thế kỷ trước… Ngôi trường đồ sộ hơn nhiều so với “năm xưa”. Bây giờ đang là mùa Hè, sân trường lác đác người và xe cộ, những tàng phượng vỹ đỏ ối sân trường cho tôi nhiều bồi hồi nhớ tiếc.

Quẹo phải Nguyễn Nghiêm, quẹo trái Ngô Quyền, quẹo vào hai con hẻm, tới trước nhà thấy cửa trước mở hé. Vừa bước qua khoảng sân hẹp đã thấy Phương Lan đứng chờ:
– Em nghĩ tối qua chắc anh không ngủ được… nên mới tới trễ?
– Bằng vào đâu cô nói vậy?
– Nhìn mặt anh trỏm lơ em đoán rứa. Vì không ngủ được, anh trằn trọc suốt đêm và rồi ngủ quên lúc về sáng?
– Nếu vậy tôi cũng có thể nói cô đã thức và khóc trắng đêm.
Phương Lan cúi mặt như cố giấu đôi mắt đỏ ngầu, sưng húp.
– Dạ, em mô có muốn rứa nhưng nước mắt cứ tuôn hoài. Em đã tốn biết bao nhiêu nước mắt trước khi anh về nhưng có lẽ trời sinh ra em với hồ nước mắt lớn hơn bình thường!
Bé Lan Huệ cũng vui mừng ôm chầmm lấy tôi khi tôi vừa đặt chân qua ngưỡng cửa. Cụ bà cũng đã thức, đang ngồi trên mép giường nhai trầu bỏm bẻm.
– Cháu chào Bác ạ. Tối qua Bác ngủ được tí nào không?
– Ngủ nghê chi được cậu. Mạ con chúng nó khóc hoài cả đêm. Hơn nữa tui cũng buồn cho số phận của con cháu quá!
– Vâng thưa Bác, cháu là người ngoài mà cũng buồn não nuột cho hoàn cảnh của gia đình Bác huống chi người ruột thịt, và là con là vợ. Chuyện đã xảy ra rồi, bây giờ những người còn sống phải sống cho đáng sống để linh hồn người ra đi không quá nặng nề.
– Anh uống cà phê chưa? – Phương Lan hỏi.
– Đã uống ở khách sạn rồi.

Ngửi thấy mùi khói nhang nồng nực, tôi đưa tay kéo thêm cánh cửa mở rộng hơn chút nữa, xong tự động ngồi xuống chỗ ngồi hôm qua. Phương Lan cũng ngồi xuống ghế đối diện. Trông nàng có vẻ bình tĩnh hơn nhiều. Trên chiếc bàn nhỏ có một chiếc bình trà nhỏ với 4 cái tách nằm úp trong một cái đĩa vừa đủ lớn. Nàng khoan thai rót trà ra ba tách, đẩy về phía tôi một chung, gật đầu thay lời mời và hai tay bưng một chung đứng lên mời bà cụ. Trở lại ghế ngồi, nhắm môi vào chung trà rồi nhẹ nhàng đặt xuống, nhìn thẳng vào tôi, giọng tâm sự:
– Anh Phong à! Suốt đêm qua em đã nghĩ thấu đến thực tế đời mình. Huệ đã chết rồi và em có bổn phận phải sống tốt để lo cho cháu Lan Huệ. Chừ em đã bình tĩnh hơn nhiều rồi; anh có thể kể hết ngọn ngành câu chuyện.
– Hôm qua mình ngừng ở chỗ Huệ sắp chuyển nhà thương.
– Anh nói Huệ bị ung thư không cứu chữa kịp và vì Huệ không có thân nhân nên người ta chuẩn bị đưa Huệ qua chỗ nằm chờ chết… Trời ơi nghe đau lòng quá! Huệ có vợ, có con mà!
Nói tới đây nàng lại nấc lên, nước mắt lại tuôn trào. Tôi ái ngại nhìn nàng, nhìn con bé, nhìn bà cụ, nhìn quanh căn phòng, nhìn lên bàn thờ nghi ngút khói hương… Để làm nhẹ không khí ảm đạm, tôi nói như chọc nàng:
– Cô mới nói là cô đã bình tĩnh rồi mà?
Nàng nhích môi như cố mỉm cười nhưng là nụ cười méo xệch trên bờ môi khô héo:
– Em xin lỗi, em sẽ cố gắng!
– Tôi mong cô cố gắng nhiều hơn nữa vì những gì tôi sắp nói ra sẽ vô cùng bi thiết. Cô nên nhớ, đàng nào Huệ cũng đã chết rồi; bổn phận của tôi phải làm những gì Huệ gửi gắm; và bổn phận của cô là giữ gìn sức khỏe thật tốt để chăm sóc cụ bà trong lúc tuổi già và lo tương lai cho bé Lan Huệ, giọt máu duy nhất của Huệ.

6.
Tối hôm đó Huệ mệt quá không nói được gì ngoài câu “em trông mong Thầy giúp em, vì em không còn ai thân thuộc ngoài vợ và con gái nhỏ còn ở VN.” Tôi quá bất ngờ để nghe như vậy nhưng không tiện nói gì vì Huệ lả đi. Tôi quanh quẩn với Huệ tới khuya, khi thấy Huệ đã tạm ổn tôi ra về vì không chuẩn bị trước.
Sáng sớm hôm sau tôi trở lại thì người ta đã chuyển Huệ qua nhà thương hospice. Theo lời chỉ dẫn của phòng y tá trực, tôi chạy qua với Huệ.

Huệ thấy tôi vào mừng rỡ gượng ngồi dậy, “em trông Thầy từ sáng sớm đến giờ! Em đã ký giấy ủy quyền pháp lý cho Thầy với bệnh viện tối hôm qua.” Tôi ngăn không cho ngồi dậy, nhưng Huệ nói hôm nay Huệ thấy khỏe hơn nhiều. Tôi bấm nút cho chiếc giường cao lên tối đa, chặn thêm vài chiếc gối sau lưng để Huệ ngồi thoải mái. Tôi ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh giường.
– Huệ nói “hôm nay em phải nói hết sự thật cho Thầy biết vì em rất cần đến sự hy sinh và giúp đỡ của Thầy.”
Tôi lo sợ Huệ phải vận động tâm lực nhiều quá không tốt:
– Thì khi nào em thật khỏe kể Thầy nghe cũng được.
– Thầy không cần phải lo cho sức khỏe của em nữa. Em biết thời gian của em không còn được bao lâu, bác sĩ và y tá cũng đã nói cho em biết là em có thể ra đi bất cứ lúc nào.
Tôi mủi lòng ráng cầm nước mắt:
– Nếu Thầy có thể giúp được gì cho em, Thầy rất vui lòng. Đã từ lâu Thầy coi em như người thân trong gia đình. Chỉ vì em ít nói nên Thầy không rõ em nghĩ sao.
– Em xin Thầy cho em nói hết mọi việc xong Thầy sẽ cho em biết ý kiến của Thầy; nhất là sau này, khi có dịp Thầy nói lại với vợ con em giùm em.
Dù trong thâm tâm tôi nghĩ sẽ chẳng có cơ hội đó nhưng vì tôn trọng thời gian hiếm hoi còn lại của chú học trò, tôi gật đầu lắng nghe.
– Em sẽ nói điều cần nói trước và không theo thứ tự nào. Những gì em không kịp nói thì cũng đành, Thầy không cần bận tâm. Em cũng xin Thầy tha thứ vì em đã không cho Thầy biết về đời sống riêng tư của em. Và còn tự ý làm một việc mà không hỏi ý kiến Thầy trước. Em sẽ nói tới sau. Em biết Thầy ngạc nhiên lắm khi biết em đã có vợ có con ở Việt Nam.

7.
Bảy năm về trước em đi cùng mẹ em về Mỹ Khê, Quảng Ngãi lần đầu tiên thăm mộ phần của ba em. Theo lời mẹ em kể, ba em bị giết trong trại tù Cộng sản vì trốn trại khi em chưa đầy tuổi. Trong chuyến đi này em gặp và thương yêu một người con gái đồng cảnh ngộ tên Phạm Thị Phương Lan, dân Mỹ Khê gốc Huế. Sau khi về Mỹ, chúng em vẫn thường xuyên liên lạc càng ngày càng mật thiết. Chúng em thật sự yêu nhau, muốn tiến đến hôn nhân. Trong thời gian quen biết em nhận thấy Phương Lan là một cô gái hiền hòa, xinh đẹp, tâm hồn đoan hậu và là một người con hiếu đễ. Nàng không hề đòi hỏi bất cứ một điều gì ở em, kể cả khi em đề nghị làm giấy tờ cho nàng sang Mỹ. Đến lúc này em mới biết mẹ con Phương Lan không còn thân nhân nào ở Việt Nam!
Dĩ nhiên tất cả việc riêng tư này em đều cho mẹ em biết. Mẹ em nói em đủ khôn lớn rồi có thể tự quyết định tương lai cho mình; mẹ không lo được gì và cũng sẽ không phản đối.

Vì quá yêu thương và tin tưởng lẫn nhau, sáu tháng sau, em xin phép Mẹ trở lại Quảng Ngãi một mình để làm một đám cưới đơn giản nhằm hợp thức hóa hôn nhân. Em về lại Mỹ hỏi thăm nhiều Luật sư Di trú về trường hợp của chúng em. Ai cũng nói là không có cách nào cho tới khi Phương Lan trở thành công dân Hoa Kỳ mới bảo lãnh cho mẹ nàng qua được.

Tụi em chưa biết tính sao thì được tin Phương Lan có mang. Em vừa mừng vui vừa buồn bã… Rồi Phương Lan sinh hạ một bé gái. Em tức tốc bay về khi nàng còn trong nhà thương. Chúng em đồng ý đặt tên cho con là Lan Huệ để đánh dấu mối tình sâu đậm của chúng em. Việc bảo lãnh vẫn dậm chân tại chỗ. Không ai nói với ai nhưng trong thâm tâm đều biết rất khó để chúng em đoàn viên trong nghịch cảnh éo le này. Em thương yêu mẹ của nàng như yêu thương mẹ của em. Chúng em cùng đau đớn chấp nhận số phận. Không dám nói ra nhưng ai cũng biết chỉ khi nào hai bà mẹ trăm tuổi thì chúng em mới có cơ hội chung sống với nhau, hoặc bên này hoặc bên kia…

Nói tới đây thì Huệ mệt quá phải ngưng lại. Tôi khuyên Huệ nằm xuống nghỉ ngơi đợi lúc khỏe sẽ tiếp. Huệ ra dấu xin uống nước, cùng lúc cô y tá vào thăm bệnh. Tôi bước ra ngoài, gọi nhà tôi hỏi ông bác sĩ về tình trạng sức khỏe của Huệ. Ông ta khuyên, nếu là người thân thì nên chuẩn bị tinh thần và vui vẻ với Huệ được lúc nào hay lúc nấy (enjoy him while you could). Tôi cố làm tỉnh, trở lại phòng. Huệ đã đỡ mệt và muốn tôi ngồi bên giường để Huệ nói tiếp.
– Thưa Thầy, Thầy đừng lo cho em, em cần nói ngay những điều cần nói chỉ sợ không còn đủ giờ. Dạ, cách đây khoảng ba năm, mẹ em ngả bệnh rồi mất vài năm trước như Thầy đã biết. Trong thời gian mẹ em bệnh, em phải luôn ở bên mẹ sau giờ đi làm, dù Mẹ ở nhà hay trong bệnh viện, vì chỉ có hai mẹ con. Ngoài ra, em còn phải cáng đáng tài chánh cho mọi chi phí trong gia đình kể cả thuốc men. Những khó khăn này em chỉ giữ riêng em chứ không dám nói với Phương Lan vì em nghĩ chẳng lợi ích gì mà còn tạo thêm sự lo lắng cho nhau hơn thôi. Em chỉ nói với Phương Lan về bệnh tình của mẹ em. Phương Lan tỏ ra rất thông cảm và khuyên em yên tâm lo cho mẹ là quan trọng hơn hết. Sự cao thượng của nàng đã an ủi em không ít. Trong khi đó tiền để dành càng ngày càng cạn dần, em lo sợ nếu không tính ngay thì cuộc sống của mẹ con Phương Lan sẽ rất khó khăn; vì thế, em quyết định lấy ra 10 ngàn đô gửi cho nàng, khuyến khích tìm cách buôn bán sống tạm trong thời gian khó khăn sắp tới. Bệnh tình của mẹ em trở nên nguy kịch nên em không còn tâm trí nào để nghĩ tới việc riêng của mình. Để rồi chưa đầy năm sau mẹ em lìa đời! Tang lễ cho mẹ xong, tinh thần em suy sụp đáng kể, tài chánh kiệt quệ. Cả tháng sau em mới nguôi ngoai, dần dần phục hồi. Trong thời gian bị bệnh em có nghĩ nhiều về vợ con nhưng em không muốn liên lạc trong lúc cùng quẫn. Em dự định trở lại sở làm một thời gian để dành đủ tiền sẽ về thăm mẹ con Phương Lan; lúc gặp nhau sẽ giải thích sự vắng bóng của em trong thời gian qua cũng không muộn. Nhằm lúc kinh tế khó khăn, hãng xưởng sa thải nhân viên hoặc đóng cửa và vì vậy em bị cho nghỉ việc luôn!”
Thấy Huệ ra dấu xin uống nước, tôi nói em nghỉ một lát nhưng Huệ lắc đầu. “Thầy để em nói, phần này mới là quan trọng.”

Ba tháng sau em vẫn chưa tìm ra việc làm, em buồn chán quá sức, ăn ngủ thất thường lại nhớ vợ, nhớ con đứt ruột… rồi ngã bệnh. Ông bác sĩ gia đình chỉ nói có lẽ tại em buồn rầu rồi sinh bệnh; bảo em về cố tĩnh dưỡng, ăn uống, ngủ nghỉ điều độ một thời gian sẽ khỏi; rồi cho cái toa mua mớ trụ sinh về uống.

Thấy cơn đau bụng thuyên giảm đi nhiều em chưa kịp mừng thì phải nhờ ông bạn hàng xóm đưa đi cấp cứu vì bụng dưới của em đau không chịu nỗi!

Sau khi khám nghiệm, bác sĩ nói em có vấn đề ở ruột già! Họ gửi em đi các chuyên khoa để xác nghiệm… Sự xác nhận cuối cùng là em bị ung thư ruột già không còn cách chữa trị như Thầy đã biết. Họ đề nghị em làm xạ trị không ổn, đổi qua hóa trị cũng vô phương. Trong thời gian điều trị, em sợ em khó thể vượt qua nên đã lo sắp xếp mọi thứ từ ngân hàng, nhà cửa, xe cộ, hang bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm nhân thọ; đi luật sư làm di chúc; làm giấy ủy quyền pháp lý (power of attorney). Em đã để tên Thầy là người đại diện pháp lý, có toàn quyền định đoạt về tài sản khiêm nhường của em kể cả thân xác này sau khi em không còn tự quyết định được nữa. Em hoàn toàn tin tưởng vào tấm lòng nhân ái của Thầy; và Thầy là người thân duy nhất của em bên Mỹ. Tất cả sổ sách, giấy tờ, chìa khóa em đựng trong hộp sắt để tại Chase Bank trên đường Bellaire Blvd., Houston, TX gần đường Synott; và đây là chìa khóa chiếc hộp sắt em xin trân trọng giao lại cho Thầy quản thủ. Sau khi em chết rồi, Thầy cứ theo di chúc mà giúp em hoàn thành tâm nguyện.

Nói xong, Huệ cởi chiếc chìa khóa đeo trên tay đưa cho tôi rồi nhắm mắt lịm đi. Hơi thở gấp gáp, mặt tái nhợt! Tôi hoảng hốt gọi y tá trực vào phòng xem xét… Một lúc sau Huệ tỉnh lại. Huệ nhìn tôi gượng mỉm cười, môi mấp máy, yếu ớt nhưng thần thái có vẻ tự tại lắm. Tôi nắm chặt tay Huệ và áp tai để nghe:
– Bây giờ thì em yên tâm rồi. Thầy hứa với em đi! Em chỉ ân hận là không chính miệng em kể lại cho vợ em nghe về những trầm luân của em; em biết Phương Lan đang buồn trách em và rồi nàng sẽ đau đớn lắm khi biết tất cả sự thật. Và em cũng ân hận không được nhìn được mặt đứa con gái yêu quý; hơn ba năm qua chắc nó đã lớn lắm rồi…

Nói tới đây Huệ thở hắt ra và nhắm mắt lại, hai giọt nước mắt lăn dài trên đôi má gầy nhom. Tôi ngó nhịp tim vẫn đập nhưng không đều đặn và hơi thở yếu dần đi. Một tay nắm, một tay ôm vai, tôi áp miệng vào tai Huệ thì thầm: “Thầy tuyên hứa với em sẽ làm tất cả những gì em muốn Thầy làm.” Huệ mở bừng mắt ra, cố siết nhẹ tay tôi, mỉm miệng cười xong trút hơi thở cuối cùng!

8.
Phương Lan hự lên một tiếng rồi ngất xỉu. Tôi đã đề phòng nên đỡ nàng kịp lúc, bế xốc nàng đặt lên giường, làm các động tác như hôm qua. Ngoài xoa bóp ở hai huyệt Nhĩ Môn và Thái Dương, lần này tôi phải nắn bóp thêm huyệt Thần Đình trên đỉnh đầu để trợ não. Tiếng khóc của bà cụ và con bé quyện hòa với mùi hương trầm u uất làm đau xé tim gan. Dù vậy, tôi cũng cố bình tĩnh để trấn an hai người trong lúc nước mắt cứ chực tuôn trào.

Một lúc sau Phương Lan tỉnh dần nhưng lại hôn mê ngay. Tôi thực sự lo sợ cho sức khỏe của nàng, nên vừa nắn bóp các huyệt đạo cho nàng vừa bảo con bé mở toang các cánh cửa cho thoáng khí và chạy tìm gấp người y tá hôm nọ. Nó vừa khóc vừa chạy đi. Bà cụ lu bu xức dầu xanh lên mũi, lên thái dương Phương Lan. Tôi xem mạch nàng vẫn điều hòa dù hơi thở có yếu ớt. Tôi biết, ai mà không sốc với hoàn cảnh đau đớn cùng cực như vầy!

Vài phút sau nàng lai tỉnh, ngỏ lời xin uống nước. Tôi lấy tách trà và giúp nàng ngồi dậy. Thân hình nàng ẻo lả như cọng bún; tôi phải để nàng tựa vào tôi và chậm chạp cho nàng uống từng hớp nước xong đặt nàng nằm gối đầu lên hai chiếc gối chồng cao.
Khoảng mười phút sau, cô ý tá và con bé hớt hải bước vào nhà. Người y tá hành sự thành thạo, bày đồ nghề và chích cho nàng một ống thuốc khỏe (?); tôi không buồn hỏi loại thuốc gì vì thấy cô ta đã chích cho Phương Lan hôm qua rất tốt. Cô y tá ra về hẹn tối sẽ tới chích thêm một ống nữa.
Tôi nhẹ nhàng nói với Phương Lan:
– Tôi chia sẻ sự đau đớn, mất mát to lớn của Phương Lan nhưng cô phải ráng khỏe, chúng ta còn vài việc cần làm, tôi chỉ có thể ở đây vài hôm nữa thôi.
Phương Lan lại òa khóc. Tôi khuyên giải:
– Người đi đã đi, người ở lại mới là quan trọng. Bà cụ và bé Lan Huệ chỉ trông cậy vào cô, và đó cũng là ước nguyện của Huệ.
– Dạ, em hiểu!
– Tôi nghĩ tốt nhất bây giờ tôi về khách sạn, để mọi người nghỉ ngơi; sau trưa tôi trở lại, rất mong Phương Lan khỏe đi ra ngoài được, chúng ta có việc cần làm.
– Bao giờ anh trở lại Mỹ?
– Xong việc ở đây, tôi trở lại Mỹ Khê, ghé thăm mồ mả ông bà một hôm xong về Saigon thăm bạn bè vài hôm.
– Quê anh cũng ở Mỹ Khê? – Nàng có vẻ ngạc nhiên.
– Dòng họ, bà con tôi hầu hết ở đó.
– Anh có liên hệ chi với dòng họ Trương Quang không?
– Dòng họ của tôi.
– Em sém làm dâu nhà Trương Quang.
– ??? – Tôi ngó nàng chờ đợi.
– Cũng may, em khám phá sớm gia đình nớ có thân nhân làm lớn trong chính quyền Việt cộng nên chấm dứt liên hệ liền.
– Ăn nhằm gì tới tương lai của cô?
– Em không thích liên hệ tới Việt cộng!
– Cô chưa biết tôi là ai sao dám nói những điều như vậy?
– Em chắc anh không phải Việt cộng, vì Việt cộng không có trái tim từ ái, không có tấm lòng nhân hậu.
– Thôi bỏ qua chuyện này đi Phương Lan, tôi không muốn tai bay họa gửi cho ai hết.
– Bi chừ em thấy khỏe nhiều rồi, anh không cần phải đi tới đi lui. Anh muốn em đi mô và làm chi mà anh noái rất cần?
– Buổi trưa các ngân hàng có làm việc hay không?
– Em không lui tới những chỗ nớ nên không rõ. Chắc ăn mình có thể tới đó sau 1 giờ chiều. Ở trên đường Hùng Vương gần nhà có Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam, đó là chi nhánh của Vietcombank.
– Rất tốt! Vậy liệu cô và mọi người đi tiệm ăn trưa với tôi được không, xong tôi với cô đi nhà bank lúc 2 giờ, để cho họ còn ngủ trưa an giấc.
– Mạ em không thích đi tiệm ăn mô. Mình mua thức ăn đem về nhà như hôm qua được không anh?
Tôi dành phần đi mua thức ăn cùng với bé Lan Huệ. Con bé vui hẳn lên, tự động nắm tay tôi kéo đi. Không ai nói ăn gì nên tôi tự quyết định tới tiệm cơm gà nổi tiếng ở gần chợ Quảng Ngãi mua về.
Trong suốt bữa ăn gia đình, tôi cố pha trò để phá tan không khí u trầm nhưng không thành công mấy. Phương Lan và bà cụ vẫn chỉ ăn chút đỉnh; tôi và con bé cứ ăn ngon lành vì bụng đói. Tôi chưa nói gì về những dự định sắp tới, chỉ mở hé chút chút là ngoài tin buồn cũng sẽ có tin vui…

9.
Sau khi Huệ trút hơi thở sau cùng và trong lúc chờ giảo nghiệm, tôi dàn xếp với nhà thương rồi cấp tốc chạy về ngân hàng Chase mở tủ sắt đọc di chúc để biết phải làm gì.

Trong di chúc, Huệ cho tôi chi tiết để liên lạc với hãng bảo hiểm nhân thọ AIG ngay sau khi Huệ tắt thở để được hướng dẫn. Huệ muốn được hỏa thiêu; nhờ tôi tìm cách bán căn nhà và chiếc xe; đến nhà băng đóng trương mục, lấy hết tiền ra; đến ngôi chùa nơi để di ảnh của Mẹ, trích ra $5 ngàn để cúng chùa. Khẩn cầu tôi đi Việt Nam về Mỹ Khê tìm gặp mẹ con Phương Lan trao lại tất cả số tiền còn lại để nàng buôn bán nuôi con và lo cho mẹ già sau khi chi trả tất cả những khoản chi phí cần thiết, kể cả chi phí cho chuyến đi của tôi; tiền bảo hiểm nhân thọ ký thác vào quỹ học vấn cho con gái Lan Huệ. Huệ cũng bày tỏ ước mong Phương Lan sẽ thay Huệ chăm sóc mồ mả của Ba Huệ ở Mỹ Khê…

Tôi chảy nước mắt vì những toan tính tình nghĩa và chu đáo của Huệ. Tôi gọi ngay cho hãng bảo hiểm. Ngạc nhiên thay, họ đã biết trước, đã chuẩn bị sẵn giấy tờ cho tôi ký nộp qua internet. Tôi thắc mắc hỏi họ, họ chia buồn và nói với tôi Huệ đã chuẩn bị cho việc ra đi từ mấy tuần trước. Nhờ vậy mọi thủ tục rất suôn sẻ.

Sau khi xong việc tang lễ, tôi mang hũ tro cốt để tạm vào chùa (cho tới khi tôi mang đi Việt Nam) nhân dịp đến cúng viếng theo lời dặn của Huệ. Vị trụ trì cũng là chỗ quen biết lâu dài nên dành cho tôi mọi sự dễ dàng. Tôi nhờ chú em làm địa ốc đăng bảng bán nhà sau khi đã mướn người dọn dẹp, lau chùi, cắt cỏ sạch sẽ. Nhà trệt có 3 phòng ngủ, rộng 1700 square feet, hai phòng tắm, mái nhà thay chưa quá 5 năm, nhà để xe riêng, khoản đất ¼ mẫu, bàn ghế tủ giường còn nguyên vẹn. Chú em đề nghị đăng giá $120 ngàn gồm luôn đồ đạt. Đồng thời tôi cũng liên lạc với một người bạn quen, có công ty mua bán xe cũ để bán chiếc xe của Huệ. Chiếc xe Toyota Camry 2008, bạn nói vì thương hoàn cảnh của Huệ nên mua giúp $10 ngàn, không tính thuế. Tôi liên lạc với hãng bảo hiểm AIG làm thủ tục chuyển hết số hiện kim vào một trương mục đặc biệt tôi vừa mở ở ngân hàng Citibank. Trong khi đó tôi cũng xếp đặt công việc ở trường võ, giao cho một học trò lớn tuổi, cao đẳng nhất để trông coi trong thời gian tôi vắng mặt.
Trong đời tôi thăng trầm cũng lắm, gian nan cũng thừa trong bất cứ công việc gì tôi làm; thế nhưng, trong tiến trình lo cho Huệ mọi việc đều trơn tru, mau lẹ. Nhiều lúc tôi nghĩ có lẽ Huệ theo phò hộ cho tôi nên mọi chuyện mới êm thắm như vậy.

Nhà đăng bảng chưa đầy một tháng đã có mấy người muốn mua; trong số đó có một cặp vợ chồng lớn tuổi người Việt ở California mới dọn về, muốn mua một căn nhà nho nhỏ, trả tiền mặt, để an hưởng tuổi già. Họ hẹn đến xem nhà rồi đồng ý mua luôn với giá $122 ngàn tiền mặt, đặt cọc 20% ngay trong ngày. Chú em tôi vui mừng gọi báo cho biết; rồi năm ngày sau, giấy tờ sang nhượng hoàn tất. Chú em chỉ lấy ít tiền công tượng trưng.

Tôi làm một cuốn sổ nhỏ, ghi tất cả những dữ kiện về tài chánh của Huệ để sau này trao lại cho Phương Lan.

***

Hai giờ chiều chúng tôi có mặt ở ngân hàng. Phương Lan rất đỗi ngạc nhiên thấy tôi mở hai trương mục, một cho nàng và một dành riêng cho con bé. Càng ngạc nhiên đến nỗi không tin là sự thật khi tôi chuyển ngân vào mỗi trương mục. Tổng số tiền cho nàng là $124+ ngàn (gồm tiền bán nhà, bán xe, sổ tiết kiệm); của con bé $105+ ngàn (gồm $100 ngàn trị giá bảo hiểm và tiền lời). Tôi đề nghị nàng lấy ra một ít để chi dụng và lo thuốc men, số còn lại để trong nhà băng cho an toàn cho tới lúc cần dùng thì lấy. Nàng đồng ý lấy ra 10 triệu tiền mặt.

Tôi thật không ngờ mọi sự việc lại xảy ra một cách mau lẹ và suôn sẻ như vậy. Khi mọi thủ tục đã xong, tôi mở xách tay lấy ra tờ di chúc của Huệ để lại cho riêng tôi, và cuốn sổ tài chánh trao lại cho Phương Lan giữ làm kỷ niệm. Tôi cũng nói luôn ước nguyện của Huệ muốn nàng thay Huệ chăm sóc mộ phần của ông cụ. Nước mắt lại lả chả rơi; nàng sụt sùi khóc như thế suốt trong thời gian làm thủ tục giấy tờ.

Tôi thở phào khoan khoái như trút được gánh nặng trên lưng. Cám ơn người nhân viên ngân hàng rối rít. Chúng tôi đứng dậy ra khỏi nhà băng. Đôi chân tôi nhẹ tênh, tâm hồn tôi bềnh bồng. Sức khỏe Phương Lan quá yếu, tôi phải dìu nàng ra cửa gọi taxi đưa nàng về nhà. Tôi dự định về tới nhà dặn dò đâu đó xong xuôi sẽ nói lời từ giã với mọi người. Phương Lan rất yếu để đi hết hai con hẻm nhưng tôi ngại người ta dòm ngó đành để nàng chậm chạp bước đi một mình, tôi theo sát sau canh chừng. Khi tới ngõ đã thấy bà Cụ và con bé bắc ghế ngồi trước cửa như trông đợi. Con bé thấy mẹ chạy lại ôm chầm, dìu mẹ nó vào giường rồi xoay lại ôm tôi và khóc. Tôi cảm động ôm chặt con bé vào lòng, thủ thỉ:
– Từ nay về sau cháu ngoan của chú không cần đi bán vé số nữa. Ba của cháu đã chuẩn bị hết việc học hành cho cháu rồi. Cháu phải hứa với chú học hành ngoan ngoãn để nên người hữu dụng mai sau. Đó cũng là ước nguyện của ba cháu. Ba cháu đã thương nhớ cháu vô cùng!
Con bé khóc lớn, nói trong tiếng nấc:
– Dạ con hứa với Ba, con hứa với Chú!
Tôi gật đầu chào bà cụ, bế con bé trên tay cùng bước đến trước bàn thờ khói hương nghi ngút, tôi đặt con bé xuống, loay hoay đốt hai nén nhang, trao cho con bé một… Phương Lan cũng tới đứng một bên từ lúc nào, tôi trao nén nhang còn lại cho nàng và đốt thêm một cây khác. Tôi khấn lớn:
– Huệ quý mến, Thầy đã giữ trọn lời hứa với em rồi đó, đã chu toàn tốt đẹp một “mission” tưởng đâu “impossible”; một sứ mạng tinh thần đầy nước mắt. Thầy biết chắc có sự phù trợ của em nên mọi việc đều thông suốt, hoàn mỹ. Thầy cám ơn em. Bên kia thế giới chắc em đang nở nụ cười mãn nguyện. Thầy tiếc cho em có vợ đẹp con ngoan mà không cùng cộng hưởng hạnh phúc gia đình lâu dài. Có lẽ mỗi người chúng ta khi sinh ra đã được xếp đặt cho một định mệnh riêng biệt. Định mệnh của em có nghiệt ngã nhưng Thầy chắc những người thân yêu này sẽ làm rạng danh em. Cầu xin linh hồn em đời đời an lạc nơi cõi vĩnh hằng.
Phương Lan khóc rấm rứt, cắm nhang rồi phũ phục xuống đất lạy trước di cốt của Huệ. Con bé cũng quỳ lạy theo mẹ. Cụ bà ngồi ở cạnh giường tự nãy giờ cũng lặng lẽ đứng dậy thắp nhang lên bàn thờ.

Ngoài hiên bóng chiều mờ dần, tiếng ồn ào của thị tứ cũng lắng xuống cùng với tiếng rao hàng thỉnh thoảng vang lên. Tôi ngỏ lời chào tạm biệt nhưng ai cũng năn nỉ tôi ở thêm chút nữa. Phương Lan vừa khóc vừa nói:
– Lần chia tay này không chắc có lần tái ngộ. Xin anh ở lại dùng bữa cơm cuối cùng với chúng em. Em không biết nói gì hơn ngoài tấm lòng tri ân sâu xa của gia đình em đối với nghĩa cử cao đẹp của anh. Em xin lạy anh một lạy đền ơn…
Tôi nhảy tránh qua một bên để nghe nàng nói tiếp:
– Em xin hứa với anh và vong linh Huệ, em sẽ tự lo thân mình, bảo trọng sức khỏe và tận tình chăm sóc Lan Huệ; nhất định cháu sẽ học hành tới nơi tới chốn để có một tương lai rạng rỡ như di ngôn của Ba nó. Việc mồ mả của Ba Huệ, em đã là vợ của Huệ nên đã và đang thay mặt chồng lo việc hương khói từ lúc cưới nhau đến giờ.
– Cậu ráng ở lại với chúng tôi một lúc nữa nghe. -Bà cụ nói.
– Chú đi con buồn lắm!
Nói xong nó lại khóc ròng. Tôi cũng buồn bã nói:
– Trước sau gì cũng phải chia tay. Tôi sẽ đưa số điện thoại của tôi bên Mỹ cho Phương Lan để khi nào cần thiết thì liên lạc. Việc tôi làm hoàn toàn do lòng tự nguyện và do tấm lòng quý mến người học trò đầy tình nghĩa của tôi. Vì thế, tôi không dám nhận cái lạy đền ơn của cô nhưng tôi nhận lời với mọi người… ở lại dùng cơm tối với gia đình.

Tôi lại đi với Bé Lan Huệ mua thức ăn đổi món nhưng bà cụ và Phương Lan cũng chẳng ăn uống gì khá hơn mặc dù cô ý tá đã trở lại chích thêm cho nàng một ống thuốc khỏe.
Khoảng 9g tối tôi ra về, lòng tràn ngập niềm vui, chân bước lâng lâng, tâm hồn nhẹ nhàng… nhưng khi về tới phòng thì đôi mi nặng trĩu, đôi chân rời rã, đặt lưng nằm xuống là ngủ vùi một giấc, không còn biết trời trăng gì cả cho tới hơn 8 giờ sáng hôm sau khi những tiếng động của mấy người dọn phòng làm tôi thức giấc.

10.
Tôi xếp đặt thì giờ để đi Mỹ Khê thăm nhà thờ Đại Tôn, nhà thờ Tiểu Tôn và nhà thờ Thái Bảo Trương Đăng Quế một chuyến; nhân tiện ghé thăm một vài người bà con thân thuộc rồi sáng mai trở về Saigon, tuần sau về lại Mỹ.

Vừa bước ra phòng khách, tôi khựng lại vì thấy Phương Lan đã đứng đó từ lúc nào! Nàng có vẻ mừng ra mặt nhưng bỗng nước mắt lại rơi! Tôi chưa kịp nói gì thì nàng đã nói:
– Em sợ anh đi sớm nên đến đây chờ từ lúc 6g sáng hỏi thăm chị Lễ Tân (front desk) cho biết anh còn đang ngủ nên ngồi chờ tới bây giờ.
Tôi ái ngại nhìn nàng và mời nàng ngồi xuống ghế, âu lo hỏi:
– Có chuyện gì không Phương Lan?
– Dạ không có gì quan trọng lắm. Tối qua khi anh về rồi em vẫn bâng khuâng thương tiếc Huệ nên không ngủ được. Em lấy bản Di Chúc của Huệ và cuốn sổ nhỏ của anh đưa ra xem. Em thấy anh ghi tỉ mỉ việc tài sản của Huệ và chi tiết chi tiêu nhưng không thấy chi phí cho chuyến đi của anh như lời Huệ muốn nên em đến tìm anh để xin anh cho em gửi lại tất cả chi phí theo lời dặn dò của Huệ trong di chúc. Nếu không, em sẽ áy náy suốt đời.
– Phương Lan không cần phải áy náy. Như tôi đã nói, công việc này hoàn toàn tự nguyện như một nghĩa cử cuối cùng đối với một người học trò yêu quý đã đặt hết niềm tin vào mình. Thật sự lúc đầu tôi nghĩ sẽ làm như vậy, nhưng suy đi nghĩ lại tôi thấy không thể làm như thế được, nhất là khi thấy tình cảnh sống của Bà cụ và mẹ con Phương Lan. Thật ra, tất cả những chi phí cho chuyến đi này đối với tôi không đáng là bao nhiêu, mong cô yên tâm để cho tôi có cơ hội làm được một việc đáng làm và kể như quà tặng của tôi dành cho gia đình cô vậy.
Phương Lan đứng lên tiến lại phía tôi. Tôi cũng ngập ngừng đứng dậy, nàng ôm choàng tôi vừa khóc vừa nói:
– Anh đã noái rứa thì em xin nghe. Mạ con em xin kết cỏ ngậm vành cảm tạ tấm lòng cao thượng của anh.
Thấy mọi người nhìn làm tôi luống cuống, gỡ tay nàng dìu ngồi xuống ghế:
– Xin đừng nói chuyện ân nghĩa nữa. Cô hãy ráng bảo dưỡng sức khỏe thật tốt để lo cho bà cụ và cháu Lan Huệ. Tôi không cần nhắc cô cũng thừa biết là rất nên cẩn thận trong việc giao tế. Cũng không cần bày là cô cần phải làm gì để có tương lai tốt đẹp hơn. Tôi quý mến con bé lắm, nó rất thông minh, hiếu nghĩa giống ba mẹ nó. Xin giữ liên lạc; nếu tôi có dịp trở lại Quảng Ngãi lần sau, tôi sẽ tìm thăm mọi người. Bây giờ thì tôi phải đi Mỹ Khê. Kể như đây là lần từ giã cuối cùng.
– Em ước phải chi sức khỏe của em tốt em sẽ đi cùng với anh về Mỹ Khê hôm nay luôn.
– Khi nào xong hết mọi việc và sức khỏe cho phép, cô về cúng ông cụ mâm cơm là tốt rồi!
– Em xin nghe lời anh. Chúc anh đi bình yên.

Chúng tôi cùng đứng dậy sánh vai bước ra cửa. Không gian bên ngoài tràn ngập tiếng còi xe và tiếng người qua lại ồn ào bất tận. Phương Lan cúi mặt bước đi bên tôi, nghe tiếng nàng sụt sịt nhưng tôi làm như không để ý, nói lời từ biệt lần nữa. Bất ngờ nàng quay lại ôm chặt tôi, sau một khoảnh khắc, buông tay quay mặt vội vã bước đi hòa lẫn vào đám đông tấp nập trên đường. Tôi thương cảm nhìn theo “tội nghiệp cho một kiếp con người”.

Ánh nắng hè chói chang, cùng tiếng ve sầu râm ran hòa nhập vào hoạt cảnh của một thành phố cố vươn mình lên trong một xã hội phát triển không mấy trật tự.
Đó, Quảng Ngãi quê tôi!

Mùa Hè 2014

Sứ Mệnh Tinh Thần




Giỗ Tổ Hát Bội

KIỀU MỸ DUYÊN

Giỗ Tổ hát bội lần thứ 10 tại Thư Viện Việt Nam

10872 Westminster Ave, Suite 214 & 215

          Tôi dặn cô thư ký mỗi lần thư viện Việt Nam trên lầu có hội họp của cộng đồng người Việt Nam thì cho tôi hay. Người ta tổ chức vất vả thì phải có người tham dự, có thư mời hay không tôi vẫn đến. Thường thường, tôi đến nơi sinh hoạt của cộng đồng Việt Nam bao giờ cũng được ân cần mời vào phòng họp và mời vào ghế ngồi dù đến muộn. Vẫn chưa có một người nào ban tổ chức đuổi ra, có lẽ đó là phước đức ông bà để lại cho con cháu nhờ. Bởi vậy, cuối tuần tôi hay đi như bay show của các ca sĩ.

          Chủ nhật 10/10/2021, Câu Lạc Bộ Hát Bội và nghệ sĩ Thiên Thanh tổ chức giỗ Tổ hát bội, một môn nghệ thuật cổ truyền tại thư viện Việt Nam. Tôi vừa bước vào cửa, cô tiếp tân với nụ cười thật tươi, cô nói cảm ơn tôi đã thông báo dùm trên đài truyền hình và đài phát thanh. Trong chiếc áo dài lộng lẫy, cô nói nhanh như nhà binh. Cô cũng là ca sĩ nhưng hôm nay làm nhiệm vụ tiếp tân mời khách ngồi và ăn trưa. Nhiều ca nghệ sĩ có mặt trong ban tổ chức. Đỗ Thanh, giám đốc Entertainment, là một trong những mạnh thường quân đóng góp cho lễ giỗ hát bội. Đỗ Thanh ca cải lương rất hay và ca tân nhạc cũng xuất sắc

          Tôi chợt nhìn lên bàn thờ nho nhỏ, đó là bàn thờ Tổ. Thường hát cải lương, hát bội đều có Tổ nghiệp. Các ca nghệ sĩ thường khấn lạy Tổ nghiệp trước khi diễn. Hình ca sĩ Phi Nhung đặt cạnh bàn thờ. Ca sĩ Phi Nhung vừa qua đời, cô hát được cải lương và tân nhạc. Cô được mọi người mến chuộng nhắc đến nhiều vì có lẽ cô ca cổ nhạc rất hay, rất có hồn. Phi Nhung chết vì bệnh Covid-19 ở Việt Nam, hỏa táng ở Việt Nam đem tro về Hoa Kỳ. Con gái của Phi Nhung, Wendy Phạm mơ ước thi hài của mẹ được đem về Mỹ, nhưng than ôi, mơ ước không thực hiện được vì nhiều thủ tục phức tạp nên phải hỏa táng ở Việt Nam, đem tro về lại Mỹ và được làm lễ cầu siêu  ở chùa Huệ Quang, thành phố Santa Ana.

          Một người vừa ra đi, nhiều người thương mến.

Bàn Thờ Tổ

          Khi chúng tôi vừa đến thì trên sân khấu nhiều nghệ sĩ đang trổ tài. Người nào hát cũng hết lòng với trái tim của họ để trong tiếng hát lời ca. Hội trường im lặng, tiếng đàn, tiếng hát hòa lẫn với nhau, mọi người thưởng thức các nhạc phẩm một cách say mê.

          Ngày xưa ở Việt Nam, môn cải lương và hát bội được nhiều người yêu chuộng, nhưng khi ra ngoại quốc, những môn này vẫn còn tồn tại nhưng không được tổ chức thường xuyên vì quá tốn kém, không nhiều người thưởng thức những môn nghệ thuật này. Lâu lâu chúng tôi mới nghe nói tới có tổ chức hát cải lương, hát bội nhưng không nhiều.

          Tiếng hát Ái Liên trên sân khấu vẫn nỉ non, với tiếng đàn da diết của các nhạc sĩ. Tôi còn nhớ tôi gặp Ái Liên ở chùa Bảo Quang, chùa Huệ Quang và nhiều chùa khác khi cô vừa định cư ở Hoa Kỳ. Cô đi hát nhiều lắm, hát ở các chùa miễn phí. Tiếng hát của cô đi vào lòng của mọi người. Nhiều nghệ sĩ hiện diện hôm nay đi hát rất nhiều, hát miễn phí. Tôi rất ngưỡng mộ những nghệ sĩ làm việc từ thiện vì nghệ thuật. Tôi cũng gặp ca sĩ Minh Tuyết ở chùa Bảo Quang, Đạo Tràng Nhân Quả, các viện dưỡng lão. Tiếng hát của Ái Liên và Minh Tuyết càng ngày càng điêu luyện. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, luyện tập thường xuyên, hát sẽ hay thêm.

          Môn hát bội và cải lương được nhiều người yêu chuộng ở Việt Nam trước năm 1975, sang Hoa Kỳ 2 môn nghệ thuật này không được thịnh hành lắm, vì số nghệ sĩ lớn tuổi điêu luyện hát 2 môn này không nhiều, và từ từ số người lớn tuổi đã ra đi, đồng bào thưởng thức 2 môn này cũng không đông lắm. Giáo sư Dương Ngọc Bầy, giáo sư dạy hát bội trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn trước 1975, cho biết hát bội là môn nghệ thuật đầu tiên của ngành ca diễn dân tộc. Tại miền Nam California, nghệ sĩ Thiên Thanh tiếp tục nối gót giáo sư duy trì môn hát bội.

          Trước năm 1975, tôi làm cho nhật báo Hòa Bình, chủ nhiệm là linh mục Trần Du. Nhân viên của tòa soạn toàn là người Bắc, chỉ vài người Nam là tôi và ký giả Hồ Nam, cho nên tất cả thiệp mời đi xem hát bội, cải lương đều được giao cho tôi. Ban đầu, tôi không biết gì về hát bội và cải lương nhưng đi xem mãi tôi đam mê lúc nào không hay? Đây là môn nghệ thuật rất khó diễn xuất, chẳng hạn nghệ sĩ Phùng Há diễn xuất làm tướng, trang phục lộng lẫy, diễn xuất rất linh động. Nếu một người không có sức khỏe khó có thể diễn xuất mấy giờ liên tục múa gươm, múa kiếm, vừa diễn xuất vừa hát cùng một lúc. Hồi đó, nhiều khán giả mê Phùng Há lắm, trong đó có tôi. Trước 1975, rất nhiều nghệ sĩ cải lương nổi tiếng như nghệ sĩ Bích Thuận, Bích Sơn, nghệ sĩ Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Hùng Cường, Bạch Tuyết, Kim Cương, v.v. làm say đắm lòng người mộ điệu.

          Tôi là phóng viên viết tin tức, viết đủ loại, viết với trái tim của mình, viết về trẻ mồ côi, người già trong viện dưỡng lão, viết về lính, viết về chiến tranh, làm thơ, nhưng chưa có bài thơ nào được nhạc sĩ phổ nhạc. Có lẽ lúc đó tôi không quen nhạc sĩ, dù nhạc sĩ đến thăm tờ báo Hòa Bình rất nhiều.

Nghệ sĩ Bích Thuận

Nghệ sĩ Phùng Há

Nghệ sĩ Bích Sơn

          Hát bội, hát cải lương, người nghệ sĩ phải tập luyện nhiều lắm, không khác gì võ sinh đi tập võ ở võ đường, từ giờ này đến giờ khác, tóc ướt mồ hôi. Viết về hát bội, về cải lương nhiều năm, tôi rất kính phục những nghệ sĩ đam mê hai môn nghệ thuật này.

          Hôm nay, rất tiếc tôi đến trễ, tính của tôi là người đúng giờ nhưng cuối tuần chạy từ chỗ này đến chỗ khác, đường xá cuối tuần hay kẹt xe nên đến trễ, dù văn phòng tôi ở dưới lầu, bước lên lầu chỉ mấy phút.

          Những tà áo dài tha thướt, lộng lẫy bước lên cầu thang. Hôm nay, không phải chỉ hát bội, hát cải lương mà có những ca sĩ rất trẻ, thế hệ thứ hai, thứ ba hát tân nhạc. Ở Mỹ này, sao cô nào cũng đẹp. Thư viện Việt Nam không phải là rạp hát, nhưng tình cảm của đồng bào yêu nghệ thuật hát bội và cải lương làm cho hội trường ấm áp hơn, vui vẻ hơn.  Thức ăn bày đầy trên bàn: xôi, thịt quay, trái cây, v.v. Vừa ăn, vừa nghe hát miễn phí, người nào cũng vui, khuôn mặt rực rỡ vì được nghe hát.

          Chương trình ngày giỗ tổ hát bội rất phong phú ở thư viện Việt Nam đường Westminster và Euclid, thành phố Garden Grove. Đồng bào tham dự trang phục rất chỉnh tề, phụ nữ mặc áo dài, có các cụ tóc bạc phơ, đa số là người Nam. Ban tổ chức làm theo phong tục cổ truyền: chào cờ, tế lễ, đọc diễn văn của ban tổ chức, cảm tưởng của quan khách, v.v.

          Các tiết mục biểu diễn: Quang Trung Bắc Tiến (Ngọc Ân vai vua Quang Trung, Thiên Thanh vai công chúa Ngọc Hân), Thi Sách và Trưng Trắc (Ngọc Ân trong vai Thi Sách, Ái Liên trong vai Trưng Trắc), ca sĩ Bích Thuận với bài Về đi anh, Minh Hùng ca tân cổ, Don Nguyễn ca tân cổ, Quế Phương với Cát bụi cuộc đời, ca sĩ Tuyết Minh với Chuyện một con đò, Minh Tâm với Cung đàn xưa của Văn Phụng, và nhiều ca sĩ khác như Mỹ Hiếu, Hoàng Ngọc Thúy, Lam Phương, Diệu Liên, Hạnh Cư, Oscar, mục sư David Huỳnh, v.v.

          Một buổi giỗ tổ vô cùng phong phú với nhiều nghệ sĩ tham dự, ban nhạc hùng hậu, không khí rất vui. Cô xướng ngôn viên vui vẻ làm cho hội trường lúc nào cũng náo nhiệt.

          Mong rằng trong cộng đồng Việt Nam được tổ chức nhiều buổi hát bội, hát cải lương. Nếu phổ biến rộng rãi chắc chắn sẽ được nhiều người hưởng ứng. Nghe nhạc miễn phí, ca sĩ hát với trái tim của mình, được mời hay không được mời, đồng bào mình biết thì cũng sẽ đến.

          Chúc cho người có lòng nào cũng được đón nhận một cách nồng nhiệt. Mong lắm thay.

Orange County, 18/10/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




Chớm Thu

Hình như trời đất… chớm thu …

Không gian tim tím sương mù sa sa .

Chim khuyên cũng biếng hát ca ,

Nằm Yên trong ổ mộng mơ bên chồng .

– Vườn ai hoa nhạt sắc hồng ,

Bướm quên thệ nguyện – quên lòng tương tư .

 Cô em qua ngõ quên dù ,

Xoã nguyên mái tóc – y bờ liễu xanh .

– Dung nhan em chớm khuynh thành ,

Cho vừa giấy mực thơ anh gieo vần .

Vào thu …man mác nắng vàng ,

Ấm lòng anh …

Như chiếc  khăn  quàng em trao .

– Chớm Thu – Chớm thu …

Thật rồi sao ….

THƯ KHANH Seattle CHỚM THU




Vĩnh biệt một nhân vật phụ nữ lịch sử

bay final.jpg

Vĩnh biệt một nhân vật phụ nữ lịch sử: Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu nhân của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vừa mới qua đời tại San Diego.

(TM tổng hợp)tam final.jpg

*Phác họa chút nét chân dung

Bà sinh năm 1931, tên Nguyễn Thị Mai Anh là con gái thứ bảy (nên còn có biệt danh Cô Bảy Mỹ Tho) trong một gia đình Công giáo ngoan đạo, ở Mỹ Tho, có mười anh chị em. Tin Bà vừa tạ thế năm 2021, Tai California, Hoa Kỳ, hưởng thọ 90 tuổi.

Lúc còn là cô gái trẻ, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng người em gái là cô Tám Hảo thường xuyên lên Sài Gòn để đi học và thăm thân nhân. Do gia đình quen biết với Dược sĩ Huỳnh Văn Xuân, làm việc ở viện bào chế Trang Hai, hai chị em Bà được giới thiệu làm trình dược viên, (giới thiệu thuốc) tại Viện bào chế Roussell. Chính ông Huỳnh Văn Xuân làm mai mối cho Nguyễn Văn Thiệu (lúc đó đang đeo lon Trung úy) quen Mai Anh. Mặt khác, cậu Mai Anh là Đặng Văn Quang cũng là bạn đồng khóa Trường Võ bị Đà Lạt với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nên cả hai người được khuyến khích, cổ võ se duyên thành vợ chồng. Dù có đôi chút trở ngại vì Mai Anh theo đạo Công giáo. Ông Bà chính thức cử hành hôn lễ năm 1951. Sau này, vào năm 1958, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mới rửa tội theo đạo.

Thời gian Ông Thiệu cầm quyền, Bà hoàn toàn không can dự vào chính trường, mà chỉ chú tâm vào các hoạt động xã hội.

Ở cương vị là Phu Nhân của Tổng Thống, Bà rất thông cảm với sự thiếu thốn những trung tâm y tế phục vụ người dân. Vì thế, sau nhiều năm hoạt động xã hội, Bà Nguyễn Thị Mai Anh là người đã gợi ý và khởi xướng thành lập một bệnh viện phục vụ người dân, ngay tại thủ đô Saigon.

Bệnh viện Vì Dân tọa lạc tại ngã tư Bảy Hiền, thường được giới bình dân Sài Gòn hay kêu đó là “bệnh viện Bà Thiệu!” Bệnh viện được xây dựng do Bà vận động quyên tiền từ thiện của nhiều người bao gồm: Thân hào Nhân sĩ, Thương gia, Kỹ nghệ gia.

Bệnh viện Vì Dân là bệnh viện tư nhân, nhưng được điều hành như bệnh viện công. Người dân vào khám và chữa bệnh được miễn phí hoàn toàn. Sau khi Bác Sỹ khám bệnh xong thì bệnh nhân được phát thuốc theo toa. Nếu ai bị bệnh nặng thì được nằm lại bệnh viện để chữa bệnh.

Bệnh viện Vì Dân được khánh thành ngày 20 tháng 3 năm 1973, với 400 giường bệnh và nhiều phân khoa khác nhau: Khoa Ngoại và Nội trú, khoa giải phẫu, khoa xét nghiệm, khoa tai mũi họng, khoa quang tuyến, nhãn khoa, khoa nhi đồng, nhà thuốc tây. Bệnh Viện Vì Dân là bệnh viện lớn và tân tiến nhất ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Bệnh viên có nhiều vị Bác Sỹ và Y Tá chuyên môn, cũng như xử dụng những dụng cụ y khoa tân tiến nhất.

Sau 72, cuộc chiến càng ngày càng leo thang, sau khi quyết định cuộc “Triệt Thoái Cao Nguyên”, ngày 21 tháng 4 năm 1975, do những áp lực từ chiến trường, từ các Quốc gia đồng minh, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức trên đài truyền hình. Sau đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng gia đình rời khỏi Việt Nam vào đêm 25 tháng 4, và bay tới Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch với tư cách là Đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa. Lúc đầu cả gia đình sang sống tại Đài Loan, nơi trước đó ông Nguyễn Văn Kiểu, anh ông Thiệu làm Đại sứ.

Sau khi con trai thứ hai, Nguyễn Quang Lộc sang Anh Quốc học, thì cả nhà lại sang London định cư, và sống ở đó trong suốt 15 năm. Khi mấy người con sang Mỹ để tiếp tục con đường học vấn năm 1985, thì cả nhà cũng đến định cư tại thành phố Boston, Hoa kỳ, vì Bà Mai Anh muốn ở gần những người con tthân yêu của mình.

Ông bà có 3 người con là:

– Nguyễn Thị Tuấn Anh (Trưởng nữ)

– Nguyễn Quang Lộc (Trưởng nam)

– Nguyễn Thiệu Long (Thứ nam)

Ngày 29 tháng 9 năm 2001, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ trần tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess Medical Center thuộc thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ, sau khi bị đột quỵ ở nhà. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được an táng tại Boston. Lúc mất ông hưởng thọ 78 tuổi.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Tôi mong có dịp về lại Việt Nam thăm mồ mả Ông Bà, và mang tro cốt của ổng (chồng, Nguyễn Văn Thiệu) về khi đất nước bình yên; Ông Già có trối rằng: “Nếu được thì đem chôn tại quê ông ở Phan Rang, nếu không thì rải một nửa xuống biển và một nửa trên núi”, Bà nói như vậy về ước vọng của Bà như một phụ nữ Việt Nam bình thường, không quên ơn Tổ tiên dòng họ “cây có gốc, người có cội”.

Những  người từng làm việc trong Dinh Độc Lập dưới thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói về Bà như sau: “Chúng tôi luôn luôn giữ lòng quý mến đối với Tổng thống Phu nhân. Bà lúc nào cũng giữ nếp sống bình dị của người đàn bà phúc hậu, bao dung của sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đối với chúng tôi, Bà Thiệu là hình ảnh một người mẹ, một người vợ hiền đảm đang hơn là một vị Đệ Nhất Phu nhân. Tuy sống trong tột đỉnh của quyền thế và nhung lụa giàu sang, nhưng Bà Thiệu là người đáng kính, không có cái kênh kiệu của một người có quyền thế, mà chỉ biết lo cho gia đình, phụng sự xã hội mà thôi.”

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc nào cũng vui vẻ và thân thiện với tất cả mọi người chung quanh. Khuôn mặt phúc hậu và nhân cách của Bà làm người đối diện cảm thấy gần gũi yêu thương và kính trọng. “Bà không bao giờ câu nệ về cách cư xử của nhân viên thuộc cấp. Mỗi lần gặp mặt, Bà luôn luôn lên tiếng hỏi thăm sức khỏe chúng tôi trước, không kịp để chúng tôi chào Bà. Điều đặc biệt là Bà không bao giờ đề cập đến bất cứ chuyện gì có liên quan đến việc làm chính trị của Tổng Thống Thiệu với chúng tôi.”

Hằng tháng, nhất là những dịp Lễ Tết, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thường đi ủy lạo Thương binh ở khắp bốn vùng chiến thuật cũng như tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Đồng thời bà còn tham gia rất nhiều hoạt động xã hội và từ thiện nữa. Nhận thấy xã hội còn nhiều nhiễu nhương nên Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã thành lập “Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội” vào ngày 1 tháng 6 năm 1968 để an ủi và giúp đỡ người dân. Bà nói: “Xã hội bây giờ đang nhiễu nhương. Phụ nữ phải tham gia làm công tác xã hội với sự yêu thương và đồng cảm, để có thể xoa dịu phần nào sự đau khổ người dân của đất nước!”.

Cả thời gian Ông Thiệu cầm quyền, Bà dành hầu hết thì giờ của mình để cứu trợ những người tỵ nạn chiến tranh, quả phụ mất chồng trong cuộc chiến và đặc biệt là những cô nhi bị bỏ rơi. Trong một lần đi thăm trẻ em mồ côi ở cô nhi viện Don Bosco tại Saigon, thì Bà bồng một em bé lên, với khuôn mặt rạng rỡ và nụ cười rất tươi, Bà nói với mọi người hiện diện rằng: “Một trong những đặc ân mà tôi thích nhất, là cái ngày mà tôi được quyền ôm và gọi tất cả các em cô nhi là các con của tôi.“

Nhân lúc bế giảng khóa học dành cho những bà vợ của thành viên nội các tại Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 năm 1968, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Phụ nữ, ngoài nhiệm vụ ở hậu phương là yểm trợ tiền tuyến, bằng cách giúp băng bó những vết thương mà còn có thể xông pha ngoài chiến trận để đánh giặc như Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị nữa. Tôi nghĩ rằng phụ nữ nên tự nguyện học một khóa căn bản về quân sự để có chút hiểu biết hầu có thể giúp đỡ tiền tuyến lúc cần thiết”.

Không những Bà thường xuyên đi hiến máu, Bà còn khuyến khích mọi người đi hiến máu như Bà. Năm nào Bà cũng tham dự ngày lễ diễn hành nhân ngày giỗ Hai Bà Trưng. Ngay cả lúc cư ngụ ở Mỹ, Bà vẫn tham dự ngày lễ giỗ Hai Bà hằng năm.

Mặc dầu là vợ của một Tổng Thống, nhưng vì sinh trưởng ở Mỹ Tho, nên giọng nói và tánh tình của Bà hiền hậu và dễ thương như những người dân chất phát sinh trưởng ở miền Nam.

Vào năm 1972, một người Hoa Kỳ làm việc tại Việt Nam, đã xin phép lấy tên Bà Nguyễn Thị Mai Anh đặt cho một giống Lan: “Brassolaeliocattleya Mai Anh.”

Năm 2009, Bà dọn qua sống với gia đình con trai là anh Nguyễn Quang Lộc thuộc tiểu bang California, vì Bà muốn ở gần con cháu của mình. Bấy giờ Bà đã hơi lớn tuổi nên sức khỏe của Bà không còn được như xưa. Tuy nhiên những lễ giỗ TT Thiệu, mà người Việt khắp nơi tổ chức, Bà vẫn cố gắng có mặt.

*Lời kết: Ra đi, nhưng để lại hình ảnh đẹp!

“Đất nước còn, còn tất cả, đất nước mất, mất tất cả!” hay “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, hảy nhỉn những gì CS làm!” như lời cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói, bao nhiêu năm trôi qua, chân lý ấy vẫn không sai.

Sau 46 năm, qua gần nửa thế kỷ, càng thêm thổn thức, thương nhớ 2 nền Cộng Hòa. Còn đâu những hình ảnh những người chiến sĩ chiến đấu quên mình, mang lại an toàn, thanh bình cho người dân. Những người hậu phương không quên ơn, có lòng đi thăm thương bệnh binh, ra ngoài tiền tuyến, đến các bệnh viện nơi hậu phương, hoặc tiền đồn hiểm nguy, mà bà Nguyễn Văn Thiệu là một trong những người đầy tấm lòng, muốn phục vụ đền ơn các Chiến Sĩ VNCH hy sinh vì nước như thế.

Sau khi Sài gòn sụp đổ, trưa ngày 30 tháng Tư, 75, Phu nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trở về với vai trò người mẹ, người vợ của đời thường khép kín, không còn xuất hiện trước đám đông, không còn ống kính truyền hình ghi nhận hình ảnh của bà khi đi ủy lạo thương bệnh binh ở các Tổng Y Viện Cộng Hòa, và các y viện tiền tuyến, nơi bệnh viện Vì Dân hay làm các công tác xã hội.

Sau bao nhiêu năm vật đổi sao dời, một mệnh phụ phu nhân ngày nào, nay vẫn giữ được nét thanh tao, quý phái, đường bệ, vẫn tươi cười hân hoan chào đón những cộng sự viên năm xưa của chồng mình, những chiến sĩ từng hy sinh cam khổ, vì dân mà chiến đấu, vì nước mà hy sinh, bảo vệ Miềm Nam tự do hạnh phúc trên 20 năm. Tuy quyền thế tột đỉnh, vẫn đối xử với mọi người, bằng một nụ cười đôn hậu của người phụ nữ miền Nam sông nước hiền hòa.

Vâng! Bà là đệ nhất phu nhân của đệ nhị Chính Thể Việt Nam Cộng Hòa, Tổng Thống Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu khuê danh Nguyễn Thị Mai Anh là như thế. Bình dị, thân thiện, với tấm lòng nhân ái, Bà ra đi để lại hình ảnh rất đẹp trong tin người dân Miền Nam. Tin Bà mất đã làm nhiều người thương tiếc.

Một điều lạ là, Cộng sản VN sau 75, có kế hoạch bôi xấu các lãnh tụ miền Nam, nhưng lại không đụng đến Bà! (Bà Kỳ thì có!)

Nhắc lại một hình ảnh đẹp, từ một chân dung để tưởng nhớ một Nền Cộng Hòa, mà có muôn ngàn điều để hãnh diện về những vai trò “chiến sĩ” cùng chung lưng chiến đấu, họ ở tiền tuyến hay hậu phương, trong quân ngũ, hay dân chính, hoặc chỉ là những người vợ chiến sĩ, “Tình Quân Dân Cá Nước” một thời tay trong tay cùng nhau giữ nước. Nhưng vận nước vào thời kỳ đen tối, để mất tất cả.

Nơi xứ người, vắng bóng quê hương mờ khuất. Chúng ta cần có những điều cần ghi nhớ và hãnh diện của một thời dân chủ tự do no ấm, khi thời gian qua mau, nhắc nhở cho con cháu, trong đó có hình ảnh cao quý của Phu Nhân TT, Nguyễn Thị Mai Anh!

Sống đẹp như thế, Chúa sẽ rước Bà vào nước Thiên Đàng!

Vộ Cùng Thương Tiếc.bon final.jpg

mot final.jpg
hai final.jpg
nam final.jpg
ba ba final.jpg



(thơ song ngữ) NHỚ ƠI của CAO NGUYÊN & THANH-THANH




Triết Học Và Thiền

Biên Khảo: Louis Tuấn Lê

Viết cho Chủ Đề Quyển Sách:

Triết Học Và Thiền & Bên Dòng Chảy Văn Thơ

Triết lý xuất hiện từ lúc nào? Phải chăng nó bắt đầu từ khi loài người có ngôn ngữ? Con người chỉ được gọi là người, khi con người biết nói, con người biết nói là con người biết nghe. Nói được là nghe được, nói là hỏi, hỏi là trả lời. Lúc con người biết nói là lúc triết lý xuất hiện, vì biết nói là biết hỏi, hỏi là triết lý. Đứng trước sự vật, con người nguyên thủy bắt đầu ngạc nhiên.

Chính sự ngạc nhiên tạo ra ngôn ngữ, thi ca và triết học, chính sự ngạc nhiên sinh ra tư tưởng, sự ngạc nhiên chính là câu hỏi. Triết học chính là lời giải đáp cho sự ngạc nhiên.

Sự ngạc nhiên xuất hiện cùng lúc với ý thức và ý thức có nghĩa là hỏi. Hỏi thì phải hỏi về vấn đề gì? vì nếu không hỏi về điều gì? thì không phải là câu hỏi, nghĩa là không phải là ý thức. Hỏi là triết lý, đặt câu hỏi về điều gì? sự hỏi này chính là triết học. Triết học là hỏi về triết lý, mà nói gọn là “Triết lý là gì?”.

“Triết lý là gì?” là hỏi về điều muốn hỏi, nghĩa là cái đó “Là gì? Cái ấy là gì?” nói gọn lại cũng chung một ý “Là Gì? ”. Như vậy ý thức quay ngược trở lại ý thức, hay nói cách khác là ý thức tự hỏi ý thức. Bởi vì triết lý là ngạc nhiên, mà triết học là ngạc nhiên về sự ngạc nhiên này.

Tôi đang tìm tòi trong kho tàng văn chương của triết học, cố tìm xem có điều gì để định nghĩa về tính chất của Thiền Định. Nhưng hoàn toàn không thấy, khi tìm hiểu thêm về lãnh vực triết học tôi lại khám phá ra một điều thú vị. Triết học chỉ là trò phân tích ngôn từ.

          “Triết học đã chết”. Ai dám nói câu này? Đó chính là Stephen Hawking, người có bộ óc thông thái nhất của thời đại chúng ta. Trong cuốn (The Grand Design) tạm dịch “Đại Thiết Kế”, ông khẳng định triết học đã chết “Philosophy is dead!”

Thật ra không phải một mình Stephen Hawking xác nhận về điều này, mà trước đó Voltaire từng nói: “Triết học chỉ là xuyên tạc đời sống, nó chỉ là thức ăn nuôi trí tò mò của con người”. Ngoài ra những triết gia lớn khác cũng đều có chung một nhận định tương tự về triết học.

Friedrich Nietzsche (1844 – 1900) cho rằng: “Hồn sâu xa của Hy Lạp chịu ảnh hưởng của Đông Phương huyền bí nên cũng có một dòng huyền niệm đi liền với một dòng tư duy sáng sủa. Cái hồn ấy bị Socrates “Triết gia Hy Lạp cổ đại” bóp chết bằng tuyên dương lý trí: lấy ý thức sáng sủa minh triết mà xua đuổi năng lực ẩn tàng bên trong. Socrates chỉ biết phê bình mà không hề kiến thiết và ông thiếu hẳn óc huyền niệm bởi năng khiếu biện lý đã được vun tưới đến mức cực đoan nên đã cắt đứt với dòng truyền thống.”

Tóm lại, ba triết gia Nietzsche, Jaspers, Heidegger nhận ra rằng vì những sai lầm của các bậc tiền bối Socrates, Plato, Aristotle mà Triết cổ điển Phương Tây bị cắt đứt với truyền thống tâm linh, tức cội nguồn Minh Triết, để trở thành duy lý, một tri thức luận, một lĩnh vực chuyên môn hẹp không ảnh hưởng gì nhiều đến đời sống.

Do tính chất tư duy phân tích nên Châu Âu hình thành quan niệm Nhị Nguyên, chia thế giới thành hai mặt đối lập: sáng và tối, tốt và xấu; thiện và ác. Từ đó nảy sinh những trường phái triết học để lý giải cho một quan niệm riêng.

Phân chia thành nhiều trường phái, triết lý khác nhau, một sự đối kháng trong triết lý rồi nẩy sinh ra trường phái thứ ba nhầm để dung hoà hai trường phái đối kháng. Cứ như thế, triết học ngày càng duy lý, duy niệm, ngày càng xa rời cuộc sống, trở nên kinh điển khô cứng mất sức sống, dẫn đến cái chết không tránh khỏi. Đó là sự thật mà phải sau 2200 năm con người mới nhận ra.

Trong khi đó ở phương Đông, mang tính chất tư duy tổng hợp và quan niệm Nhất Nguyên nên trí tuệ không đi theo hướng hình thành khoa học thực nghiệm và triết học duy lý. Triết lý Phương Đông, phát hiện ra năm dạng vật chất làm nên vũ trụ là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. “Five Elements”.

Nhưng nền tư tưởng phương Đông không đi vào tìm hiểu bản chất của những thành tố đó để tạo ra khoa học thực nghiệm, mà cố công tìm hiểu về sự quan hệ giữa chúng. Từ đó khám phá khái niệm ngũ hành với nghĩa rộng lớn hơn, tìm hiểu sâu hơn về tính chất ngũ hành tương sinh, tương khắc để làm ra Dịch lý.

Có thể nói rằng, tương sinh & tương khắc là hai quy luật luôn tồn tại song hành cùng với nhau, có tác dụng duy trì sự cân bằng trong vũ trụ. Nếu chỉ có sinh mà không có khắc thì sự phát triển cực độ sẽ tạo nên nhiều tác hại. Ngược lại nếu chỉ có khắc mà không có sinh thì vạn vật sẽ không thể nảy nở, và phát triển. Do đó sinh – khắc tạo ra quy luật chế hóa không thể tách rời.

Đó chính là Kinh Dịch, một trước tác kinh điển và lâu đời nhất của phương Đông. Kinh Dịch ẩn chứa một tư tưởng triết lý uyên bác và thâm sâu nhất, đó là quan niệm Nhất Nguyên – Vạn Vật Đồng Nhất Thể.

Mỗi vật thể là một khối thống nhất của hai mặt đối lập. Nó như hai mặt khác biệt của đồng tiền, chính vì sự khác biệt “không đối kháng” mà đồng tiền mới mang một giá trị nhất định. Từ quan niệm Nhất Nguyên không cho phép sự đối lập trong cùng một vật thể, do dó không nẩy sinh ra những triết lý đối lập cạnh tranh nhau. Do đó triết học Phương Đông có phần khác biệt với triết học phương Tây.

Trong đoạn mở đầu của bài viết, tôi đã trình bày muốn đi tìm một triết lý để định nghĩa về Thiền Định. Nhưng tôi đã bị khựng lại, vì nhiều triết gia lỗi lạc của nhiều thời kỳ đã chứng minh (Triết học Tây Phương đã chết). Tôi chỉ còn biết quay về với triết học Đông Phương bởi vì nền triết học Phương Đông vẫn còn giữ được cái hồn của sự vật.

Tôi tiếp tục đi vào kho tàng văn học để tìm hiểu, và chợt nhận ra một nguồn tư tưởng phù hợp để định nghĩa về Thiền Định.

Thiền định không hề là một dạng của sự tư duy có tính tâm linh mà là một tình trạng vắng bặt tư duy. Mọi triết lý để cố định nghĩa về thiền định, có thể ví như những lời to tiếng bàn luận về sự lặng yên, còn thiền định là bản thân chính là sự lặng yên. Đó chính là nguồn tư tưởng của triết gia OSHO

Tên thật của ông là Rajneesh Chandra Mohan Jain. Người ta biết đến ông với tên Bhagwan Shree Rajneesh. Tháng 2 năm 1989, ông tự đổi tên là Osho. Osho vốn là danh xưng tiếng Nhật Bản cổ, có nghĩa là “đạo sư” của một dòng Thiền

Theo quan niệm của Osho. Đối với đời người, giá trị cao cả nhất của cuộc đời là lòng yêu thương, sự vui cười và thiền định. Niềm ân thưởng vô giá nhất của cuộc đời là trải nghiệm được sự giác ngộ tâm linh (spiritual enlightenment).

Sự giác ngộ đó được ông miêu tả là “nằm yên trong trạng thái bình thường của sự hiện hữu của tất cả mọi vật đang dựng xây vũ trụ”. Con người chúng ta lẽ ra ai cũng có thể trải nghiệm được trạng thái giác ngộ đó, nhưng sự thực là con người bị đánh lạc hướng do hoạt động tư duy cũng như do mong ước và dục vọng sinh ra bởi sự ràng buộc của xã hội.

Vì thế, thay vì hưởng được niềm vui cao cả của sự hữu hiện, con người rơi vào một tình trạng của sợ hãi và ức chế.

Osho (1931-1990) là một vị thiền sư hết sức kỳ lạ của thế kỷ hai mươi. Triết gia Osho cũng có lời giải thích về Thiền. Theo nhận định của ông. Thiền có nghĩa là nhận biết bất kỳ điều gì, khi bạn làm với sự nhận biết thì đó là thiền. Không phải là hành động mà chính là phẩm chất của bạn mang vào hành động, điều đó mới là vấn đề của suy tư và Thiền Quán Chiếu.

Đi bộ có thể là thiền nếu bạn bước một cách nhận biết. Ngồi có thể là thiền nếu bạn ngồi với nhận biết. Nghe chim hót có thể là thiền nếu bạn nghe với nhận biết. Nghe tiếng ồn bên trong tâm trí bạn có thể là thiền nếu bạn giữ nguyên nhận biết và tỉnh táo. Toàn bộ vấn đề là ở chỗ: con người không nên hướng vào mơ ngủ. Thế thì bất kỳ điều gì bạn làm cũng là thiền.

Osho vốn là một con người “nổi loạn”, luôn luôn chống lại qui tắc của xã hội. Không những ông không hề sợ bị xã hội lên án, xưa nay ông chuyên khiêu khích sự ổn định của một định chế có sẵn, kể cả một nền đạo lý chung của con người. Nhất quán với quan niệm thiền định tích cực của mình, khoảng cuối những năm 60, ông bắt đầu thuyết giảng một số bài về tình dục, được ghi lại dưới nhan đề

          Từ tình dục đến ý thức siêu việt (From Sex to Superconsciouness), trong đó ông cho rằng “đối với phép Tantra thì mọi thứ đều thiêng liêng, không có gì không thiêng liêng” và mọi sự đè nén tình dục đều là sự tự huỷ vì người ta không thể chuyển hoá tình dục nếu không nếm trải nó “một cách đích thực và đầy ý thức”.

Thật ra quan niệm của ông không có gì sai. Bởi vì thực tế mỗi người đi tìm đạo tu thân, nếu đi đến chỗ tích cực và muốn chuyển hoá, đều phải tìm một phương cách riêng cho chính bản thân mình, để chuyển hoá năng lực của tình dục.

Đó là một con đường chứa nhiều hiểm nguy. Nhưng muốn “chuyển hoá” thì đó là con đường không thể tránh né, cũng như hoa sen không thể toả hương thơm nếu không bám chặt vào bùn đất để rút tỉa tinh hoa của năng lực nằm trong bóng tối. Và đó chính là con đường Kim Cương Thừa mà từ thế kỷ thứ 8, con người đã thực hành để đạt đến sự thành tựu.  

Osho chỉ là người muốn thực hiện rộng rãi Kim Cương Thừa trong thế kỷ 20 tại Phương Tây, nhưng có lẽ ông đã phạm một sai lầm. Đó là Kim Cương Thừa chỉ dành cho những bậc thượng căn, không phải cho quần chúng.

Nếu Osho nghe những lời này, hẳn ông sẽ không nói “tất cả là thượng căn” vì ông quan niệm ai cũng là Thượng Đế cả, không có gì là không thiêng liêng. Chính điều này ông đã ngộ nhận và dẫn đến nhận xét sai về chúng sinh.

Theo quan niệm của riêng tôi. Con người được chuyển tiếp từ nhiếu kiếp khác nhau, có người đến từ Thượng Căn, những bậc cao quý, có người đến từ Hạ Căn, một cấp thấp hơn, có người đến từ Ngã Quỷ (loại người hung ác), có người đến từ Súc Sinh, loại người mà bản chất còn mang nhiều thú tánh. Nói chung con người đến từ nhiều kiếp khác nhau, cùng đến với trái đất này, để trải nghiệm và học hỏi thêm kinh nghiệm làm người. Do đó mỗi cá nhân phải chịu trách nhiệm với nhân qủa do chính mình tạo nghiệp.

Trở lại với triết gia Osho. Ông quan niệm thế nào về tình yêu?

“Tình yêu không có ranh giới. Tình yêu không thể ghen tị, bởi vì tình yêu không thể sở hữu. Tình yêu là xấu xa bởi chính ý tưởng rằng bạn có ai đó bởi vì bạn yêu. Bạn có ai đó, có nghĩa là bạn đã giết ai đó và biến họ thành hàng hóa. Chỉ có điều có thể được sở hữu đó là tình yêu mang lại tự do. Tình yêu là tự do.”

Ông bị kết tội môi giới làm giả hôn nhân cho những đệ tử mang quốc tịch Ấn kết hôn với những đệ tử mang quốc tịch Hoa Kỳ, để hợp pháp hoá việc định cư.  Osho cũng bị truy tố về tội khai man trên những giấy tờ di trú. Ông bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ trở về Ấn Độ. 

Osho qua đời vào năm 1990, nhưng công việc và những tác phẩm của ông vẫn tiếp tục được xuất bản bởi hơn 200 nhà xuất bản trên toàn thế giới và hơn 60 ngôn ngữ.

Đúng ra trước khi nhắc đến triết gia OSHO, tôi phải nhắc đến Jiddu Krishnamurti, bởi vì Krishnamurti (1895-1986) sinh ra và trưởng thành trước Osho, nhưng tôi nhắc đến những gì gần nhất rồi mới đi đến cái xa hơn.

Jiddu Krishnamurti (1895 – 1986) Được sinh ra trong một gia đình thuộc tầng lớp Brahmin tại Ấn Độ, nhưng Krishnamurti khẳng định rằng mình không thuộc bất cứ quốc tịch, tầng lớp, tôn giáo hay trường phái triết học nào. Ông dành suốt quãng đời còn lại của mình đi khắp thế giới như một nhà diễn thuyết độc lập. 

Tờ báo “The New York Times” gọi ông là người “từ bỏ mọi loại hình tôn giáo”. Tờ báo “The Guardian” đặt cho ông danh xưng “bậc thầy không tin vào những bậc thầy”. Ông tuyên bố rằng những tổ chức, với những tư tưởng vốn có làm lu mờ đi sự hiểu biết của mỗi cá nhân.

Chính vì quan niệm từ bỏ mọi loại hình tôn giáo, nên ông xem niềm tin vào Thượng Đế chỉ là cách con người né tránh nỗi khổ và một hình thức lệ thuộc độc hại, giả tạo: “Bởi vì trái tim chúng ta đã héo tàn, nên Thượng Đế trở nên vô cùng quan trọng”.

Ông coi các đạo sư hay bậc thầy tinh thần là không cần thiết. “Đạo sư cũng trở nên vô ích khi bạn chỉ biết có chút ít về chính mình. Không có đạo sư, không có sách vở hay kinh điển nào có thể giúp bạn tự biết mình”.

Ông nói. “Chân lý là vùng đất không lối mòn” (Truth is the pathless land) đây cũng là câu tuyên ngôn nổi tiếng của ông, cho rằng nếu chạy theo một ai hay điều gì đó, dù là đạo sư hay Thượng Đế, dù là một hệ thống, tổ chức hay phương pháp, con người sẽ không bao giờ tìm thấy sự thật. Ông dành hơn 65 năm để diễn thuyết về tự do tâm lý dành cho bất cứ ai trên thế giới muốn lắng nghe mình.

          Ông quan niệm. Trong mọi phương diện cuộc sống, chúng ta dễ “nghiện công thức” và những thứ gì có sẵn, vì chúng dễ nắm lấy và mang lại cho ta sự an toàn, làm dịu những cảm giác bấp bênh.

Bởi vì mỗi người đều có khả năng vô biên về sự tự thức tỉnh này, nếu họ không bị những xiềng xích của truyền thống về sự sợ hãi, không bị những “đạo sư” che mất ánh sáng của chính họ tự chiếu. 

(This Light in Oneself). Ánh sáng này không ai có thể “cho” người khác, không thể nhận được từ người khác truyền qua như truyền lửa từ ngọn nến này qua ngọn nến khác. Nếu ánh sáng mà có được nhờ sự từ người khác truyền qua thì chỉ là ánh sáng của ngọn nến, nó sẽ tắt. Chính sự tĩnh lặng, quán chiếu thâm sâu nội tâm, người ta sẽ thức tỉnh, sẽ xuất hiện ánh sáng của chính bản thân.

Ông luôn luôn nhắc nhở sự tĩnh tâm, tự thanh lọc những kiến chấp đã tích lũy trong tâm trí qua thời gian, để tự giải thoát. 

Trong “Tự do đầu tiên và cuối cùng”, Krishnamurti nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thoát khỏi mọi định kiến, quy định, thoát khỏi mạng lưới tư duy, mọi hệ thống, uy quyền, để có được sự tự do tuyệt đối.

Krishnamurti: (Tự do đầu tiên và cuối cùng). Con người là kẻ tự giải phóng bản thân. Triết gia Phạm Công Thiện đã dịch quyển sách này. Ông đã viết về Krishnamurti như sau:

               Khắp thế giới không ai còn lạ gì tên tuổi Krishnamurti. Từ nửa thế kỷ nay, Krishnamurti đã đi lang thang cô độc khắp trái đất, đã kêu gọi mọi người giải phóng khỏi mọi nô lệ ràng buộc trong đời sống đau thương này.

Tiếng nói của Krishnamurti là tiếng nói lặng lẽ của một con người đã tự giải phóng bản thân, của một con người đã trải qua tất cả mọi đau đớn không cùng, đã sống một triệu mùa ở hỏa ngục, đã tự giải thoát và nhìn thấy được Thực Tại toàn diện của đời sống, ca ngợi giòng đời vô tận, ngây ngất với tiếng cười lặng lẽ của mười triệu năm hư vô trong đêm tối nặng trĩu trái đắng mật đen.

Krishnamurti đã được nhân loại nhận là hậu thân của Phật Thích Ca và Chúa Giê Su. Krishnamurti đã được mấy trăm triệu người ở thế giới tôn lên ngôi vị đấng Đạo Sư, bậc Giáo Chủ của nhân loại, thế mà Krishnamurti đã giải tán hết mọi tôn giáo, tổ chức, đã phủ nhận tất cả tín điều, đã phá hủy hết mọi triết lý và ý thức hệ, đã đập vỡ hết mọi thần tượng và, trên năm mươi năm trời đã một mình bước đi lang thang khắp nẻo đường trần gian, không tiền, không bạc, không hành lý, không gia đình, không quê hương, không truyền thống, chỉ một mình và chỉ đi một mình, cô đơn, cô độc, sống tràn trề, sống bất tận, sống vỡ bờ như một thác nước ào ạt, tuôn chảy mãnh liệt nhưng vẫn trầm lặng, nói rất nhiều mà vẫn im lặng, đi rất nhiều mà vẫn tịch nhiên bất động, gắn kết đời sống mà vẫn cưới hỏi sự chết, chết và sống giao nhau.

Điều làm nổi bật Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại trong lịch sử là sự trần truồng tuyệt đối của tâm hồn ông. Ông chỉ giữ lại cho mình một chỗ đứng độc nhất: một con người, với ý nghĩa giản dị đơn sơ của con người. Mang lấy xác thịt mảnh khảnh của con người, ông nương tựa trọn vẹn vào tâm linh, đồng thời ý thức rằng tâm linh và thể xác chỉ là một, không khác nhau.

Chúng ta hãy cùng ca hát với Krishnamurti bài ca tình yêu:
Trong những hải đảo xa xôi xanh thẫm
Trên giọt sương mong manh
Trên con sóng vỡ bụi
Trên ánh nước lung linh
Trên cánh chim tung trời
Trên lá non đầu xuân
Người sẽ nhìn thấy nét mặt Người Yêu của ta
Trong đền điện linh thiêng
Trong vũ trường mê đắm
Trên nét mặt thánh thiện của tu sĩ
Trong bước đi lảo đảo của người say rượu
Nơi những gái điếm giang hồ và những trai tân trinh nữ
Ngươi sẽ gặp Người Yêu của ta.

Điều làm nổi bật tư tưởng Krishnamurti và nói lên sự khác nhau giữa Krishnamurti và những bậc giáo chủ vĩ đại trong lịch sử là sự trần truồng tuyệt đối của tâm hồn ông.

Ông chỉ giữ lại cho mình một chỗ đứng độc nhất, là một con người, với ý nghĩa giản dị đơn sơ của con người. Mang lấy xác thịt mảnh khảnh của con người, ông nương tựa trọn vẹn vào tâm linh, đồng thời ý thức rằng tâm linh và thể xác chỉ là một, không khác nhau.

Ông chỉ giữ lấy một sứ mệnh độc nhất là tước bỏ con người ra ngoài tất cả những huyền tưởng, ảo giác, phá hủy cho sụp đổ tất cả chống nạng giả tạo của những lý tưởng, những tín ngưỡng, ngẫu tượng,  phá hủy tất cả mọi hình thức chống đỡ con người, để trả con người trở lại sự tôn nghiêm trọn vẹn, sức mạnh vẹn toàn của nhân tính.

Người ta thường gọi ông là “Đấng Đạo Sư của Thế Gian”. Nếu có người xứng đáng được gọi danh hiệu như thế thì người ấy chính là Krishnamurti. Đối với tôi, điều quan trọng nhất trong thái độ tâm linh của Krishnamurti là ông không bao giờ muốn chúng ta coi ông như là bậc đạo sư, như một bậc thầy, mà chỉ muốn là một con người, với tất cả ý nghĩa đơn giản thông thường của hiện thể.

Krishnamurti đem đến một khái niệm mới là “Thực tại sáng tạo” đó là khi chúng ta lãnh hội với một nhận thức không chọn lựa, định kiến, so sánh.

Khi “thực tại sáng tạo” đi vào bản ngã và tiềm thức, con người sẽ xuất hiện tình thương và sự hiểu biết đích thực. Đó là sự tự do hoàn toàn trong tâm trí, khi sự thật hiện hữu trong từng khoảnh khắc.

Đó là tình yêu thương không mang tính cá nhân hay phi cá nhân, không thể định nghĩa hay mô tả bằng tâm trí, dù riêng biệt hay bao hàm.

Chỉ khi có được sự “tự do đầu tiên và cuối cùng” này, thì con người mới loại bỏ những hoạt động vị ngã như những xung đột, những mối nguy hại, lừa dối có mục đích. Khi quá trình này dừng lại, tình yêu thương và nhận thức đúng đắn xuất hiện, con người mới có thể giải quyết được các vấn đề gây khủng hoảng, chấm dứt chiến tranh, đau khổ, suy sụp… 

Đây là tư tưởng trọng yếu và bao quát trong tất cả các tác phẩm của Krishnamurti.

Có thể nói, trải nghiệm đọc sách Krishnamurti không hề dễ chịu. Người đọc nôn nóng, không chịu tư duy sẽ dễ nản chí và gấp sách lại sau vài trang đầu.

Dịch giả Nguyên Phong (người phóng tác Hành trình về phương Đông, Dấu chân trên cát) có lần nhận xét:

“Nếu anh đọc kỹ sách của Krishnamurti thì ông ấy không hề khuyên bảo dạy hay trả lời gì hết, mà bắt anh phải tư duy suy nghĩ chiêm nghiệm để tự tìm ra câu trả lời”.

Cũng như trong những buổi nói chuyện khi ông còn sống, người ta hỏi Krishnamurti một câu, ông lập tức xoay vấn đề và hỏi ngược lại, để người hỏi phải suy luận và tự tìm ra lời giải.

Nhưng với ai thật sự nghiền ngẫm, tư tưởng Krishnamurti có thể thay đổi hoàn toàn góc nhìn của họ về cuộc đời, về cách họ làm mọi việc.

Kết luận Jiddu Krishnamurti là bậc hiền nhân, một triết gia, nhà tư tưởng, nhà giáo lãng du, nhà khoa học và nhà tâm lý học đột phá, song ông còn được xưng tụng là “người bài trừ thần tượng”, thậm chí được gọi là “kẻ nổi loạn”. Bởi những lời dạy của ông luôn dựa vào sự thấu triệt về tình trạng bị khuôn định của con người, chứ không dựa trên những hiểu biết thuộc sách vở, hay kinh sách.

Ở tuổi 90, Krishnamurti đã diễn thuyết tại Liên Hợp Quốc về chủ đề hòa bình và nhận thức, và ông đã được trao tặng Huân chương Hòa Bình của Liên Hợp Quốc năm 1984. Buổi nói chuyện trước công chúng cuối cùng của ông diễn ra tại Madras, Ấn Độ, tháng 1 năm 1986, một tháng trước khi ông qua đời tại nhà riêng tại Thánh phố cổ kính Ojai, California.

Hai triết gia nổi tiếng và gần gũi nhất với thời gian hiện tại, đó là Krishnamurti và Osho. Hai luồn tư tưởng gần như phá vỡ mọi trật tự của những khuôn định Triết Học và Tôn Giáo. Cả hai bị gán tội là “Kẻ nổi loạn”, nhưng cả hai được người đời tôn vinh như là hậu thân của Phật Thích Ca và Chúa Giê Su. Tuy nhiên cả hai vị triết gia đều phủ nhận mọi tước vị, chỉ muốn là một con người bình thường.

Chúng ta tiếp tục đi tìm những tư tưởng có nhiều ảnh hưởng nhất trên thế giới liên quan đến Thiền Định. Mọi người sẽ dễ dàng nhận ra Thiền Sư Thích Nhất Hạnh tại Làng Mai miền tây nam nước Pháp.

Triết lý sống của ông là hãy quan tâm đến Thời Gian hiện tại.

Ông chủ trương: “thông qua chánh niệm, chúng ta có thể học sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại, cách duy nhất để phát triển hòa bình, cả trong bản thân và toàn xã hội.”

Vài nét về tiểu sử Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Sinh năm 1926 tại Thừa Thiên – Huế với tên khai sinh là Nguyễn Xuân Bảo. Ông xuất gia theo Thiền Tông vào năm 16 tuổi tại chùa Từ Hiếu. Thiền sư tốt nghiệp viện Phật học Bảo Quốc, tu học thiền theo trường phái Đại Thừa của Phật Giáo và chính thức trở thành nhà sư vào năm 23 tuổi. Ông vừa là thiền sư vừa là giảng viên, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu, nhà hoạt động xã hội, và người vận động cho hòa bình.

          Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người tiên phong trong việc đưa Phật Giáo qua Phương Tây, thành lập sáu tu viện và hàng chục trung tâm tu tập ở Mỹ và Châu Âu, cùng với hơn 1.000 cộng đồng thực hành chánh niệm được gọi là “sanghas”.

Ông đã xây dựng một cộng đồng rộng lớn, gồm hơn 600 nhà sư và nữ tu trên toàn thế giới, cùng với hàng chục ngàn sinh viên đang theo học, áp dụng các giáo lý về chánh niệm, hòa bình và xây dựng cộng đồng trong các trường học, nơi làm việc, kinh doanh và thậm chí là cả nhà tù trên khắp thế giới.

          Đối với Thiền sư Thích Nhất Hạnh yếu tố thời gian chính là tư tưởng trọng yếu bao quát nhất trong triết lý của ông.

Theo ông thời gian thật sự vô giá. Đôi khi, chính vì nhịp sống vội vã, chúng ta để vụt mất đi những phút giây dành cho chính bản thân, gia đình và những giá trị khác trong cuộc sống của mình.

Ông mời gọi chúng ta hãy:

“Chậm lại một chút, sống trọn từng phút giây và cảm nhận sự hiện hữu của vạn vật trong từng khoảnh khắc, ta sẽ biết được mình đã bỏ lỡ những vẻ đẹp gì của cuộc đời trong những tháng ngày chạy đua với nhịp sống”.

Cuộc sống hiện đại luôn đi liền với những lo toan. Chúng ta luôn bị ám ảnh bởi ngày mai, không biết mọi thứ sẽ đi về đâu hay chuyện gì sẽ xảy đến. Chính vì lẽ đó, chúng ta đánh mất đi biết bao cơ hội để trải nghiệm hiện tại, được làm những thứ mình thích và ở cạnh những người ta yêu thương.

Lời nhắn nhủ của ông đến với mọi người, hãy tập trung, sống hết mình và tạo ra hạnh phúc ở ngay thời điểm hiện tại.

Sự vội vã tất bật của cuộc sống khiến chúng ta di chuyển quá nhanh, để rồi ta không còn thời gian để tận hưởng những khoảnh khắc dù chỉ là nhỏ nhất của cuộc đời.

Đôi khi, thiền định không chỉ là phương pháp duy nhất để đạt được sự an bình thư thái, chỉ cần chúng ta đưa ý thức của bản thân về hiện tại, bước đi chậm hơn, thở đều, nhìn ngắm xung quanh với tâm thái rạng rỡ, cũng đủ để bản thân ta thấy bình yên hơn mà tiếp tục hành trình cuộc sống. Với Thiền sư Thích Nhất Hạnh, bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể làm tâm mình lặng đi để cảm nhận sự chuyển động của vạn vật xung quanh:

Đi mà không tới

Trong cuộc sống bận rộn hằng ngày, ta không bị một áp lực thúc đẩy đi về phía trước. Ta thường phải “rảo bước”. Rảo bước để đi đến đâu, ta ít khi tự hỏi mình. Thiền hành cũng như đi bách bộ, không có mục đích đi tới một địa điểm nào trong thời gian cũng như trong không gian.

Mục đích của thiền hành là thiền hành. Cái quan trọng là đi chứ không phải tới. Thiền hành không phải là phương tiện. Thiền hành là cứu cánh. Mỗi bước chân là sự sống mỗi bước chân là sự an lạc. Vì vậy ta đi mà không cần phải rảo bước. Vì vậy ta sẽ đi chậm lại. Đi mà như không đi; đi mà không bị một mục đích nào kéo ta về phía trước. Vì vậy mà khi ta đi, ta có thể nở một nụ cười.

Bước chân thanh thản

Trong cuộc sống hằng ngày, bước chân ta trĩu nặng lo âu, thấp thỏm và sợ hãi. Có khi cuộc đời của chúng ta chỉ là một chuỗi năm tháng lo âu.

Bước chân ta vì thế không được thanh thản. Trái đất của chúng ta thật đẹp, trên trái đất có biết bao nhiêu nẻo đường tuyệt đẹp. bạn có biết quanh ta có bao nhiêu ngõ trúc quanh co, bao nhiêu con đường lúa thơm tho, bao nhiêu bìa rừng xanh mát, bao nhiêu lối đi đẹp màu lá rụng, nhưng ít khi ta thưởng thức được, cũng bởi vì lòng ta không thanh thản, bước chân ta không thanh thản.

Thiền hành là tập đi trở lại với những bước chân thanh thản. Hồi ta một tuổi rưỡi, ta tập đi những bước chập chững. Bây giờ đây thực tập thiền hành, ta cũng sẽ lại đi những bước chập chững như thế. Sau nhiều tuần lễ tập đi, ta có thể bước những bước vững chãi, an lạc, vô ưu.

Theo quan niệm của thiền sư Thích Nhất Hạnh. Chánh niệm là một nghệ thuật tập trung tư tưởng vào ngay thời điểm hiện tại, là một cách để phát triển sự bình an và hạnh phúc trong cuộc sống của chúng ta.

Qua tư tưởng của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh tôi liên tưởng đến tư tưởng của triết gia Osho, ông mời gọi chúng ta sự sáng tạo, làm bừng cháy một sức mạnh tiềm ẩn bên trong, sáng tạo từ những bước đầu tiên.

          Ông khiến chúng ta nhận ra rằng, bản chất cuộc sống là một vũ điệu, một bài thơ mỹ miều, chứ nó không trơ trọi như một cục đá sừng sững trước mặt bạn. Và vũ điệu đó, bài thơ đó, là do chính bạn viết nên. Không ai có thể làm hộ bạn điều đấy. Và dĩ nhiên, nếu muốn sáng tạo, điều đầu tiên bạn cần làm là tự mình bước ra khỏi đám đông. Bạn phải tự vạch ra cho mình hướng đi riêng, và tự mình giải mã những bí ẩn mà không để tư tưởng bị tác động bởi bất kỳ một yếu tố nào. Kết quả là dần dần, bạn sẽ được tận hưởng cuộc sống một cách đúng nghĩa và trọn vẹn nhất.

Osho cũng nhận biết về hạnh phúc xuất phát từ tâm hồn. Ông cho rằng con người vẫn hay ước mơ về điều mà họ luôn muốn có, nhưng chưa có được.

Cũng giống như vậy, ai càng đau khổ, người ấy càng khát khao được hạnh phúc. Bất hạnh càng nhiều, nỗi khát khao ấy càng lớn.

Tuy nhiên, hạnh phúc không có nghĩa là chối từ sự khổ đau. Cũng không phải là chịu đựng sự âm ĩ và mãi khóc than cho nỗi đau đó.

Trong Hạnh phúc tại tâm, Osho không định nghĩa hạnh phúc, cũng chẳng chỉ ra lý thuyết hạnh phúc. Osho không chỉ cho ta cách khước từ đau khổ để kiếm tìm hạnh phúc.

Osho cũng không khuyến khích chịu đựng và khóc than đau khổ. Osho muốn chúng ta chăm sóc nỗi khổ đau, đối diện và vượt qua nó. Trong những bài viết đầu tiên ông đã viết.

Khi bạn làm với sự nhận biết thì đó là thiền. Không phải là hành động mà chính là phẩm chất của bạn mang vào hành động, điều đó mới là vấn đề của suy tư và Thiền Quán Chiếu.

Tôi đã miên man trình bày, biên khảo một chủ đề quá rộng lớn, vượt ra ngoài sự hiểu biết nhỏ bé của tôi, mặc dù ngôn từ không thể nào đủ sức dẫn đưa luồn tư tưởng vào sự mênh mông của Tiết Học và Thiền Định, nhưng ít ra chúng ta cũng nhận biết một khái niệm bao quát về hai nguồn tư tưởng này.

Để từ đó mỗi người trong chúng ta có thể tìm thấy một lối đi riêng cho chính mình, ung dung tự tại. Hãy bước đi mà không đến, vì nơi đến chính là tâm hồn của mỗi người chúng ta.

Tôi xin mượn bài thơ ngắn do tôi viết, để kết thúc bài viết bao la như biển rộng, mây trời, biết bao giờ mới đến nơi. Thôi thì xin kết thúc nơi đây qua bài thơ (Nhìn vào tâm)

 Nhìn Vào Tâm

Hướng vào tâm hồn, ta nhìn thấy

Phật nằm trong thánh địa tâm này

Đáy hồn ta báu vật gìn giữ

Thiện tánh trong ta khối lượng đầy.

Ta còn tìm đến tận nơi xa

Mà quên khó báu, trong hồn ta

Nơi đây hiện diện chân hoàn mỹ

Đừng kiếm nơi nào ngoài chính ta.

Trân trọng

Louis Tuấn Lê

San Jose October 7, 2021

Công Án Thiền Là Gì?

Biên Khảo: Louis Tuấn Lê

Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta cần hiểu rõ hơn về từ ngữ công án. “Công án” là cách phát âm từ chữ “kun-an” của Trung Hoa và ý nghĩa của chữ công án là “một bức công văn đặt trên án thư”. Nhưng từ ngữ này được các Thiền Sư, đem vào thiền học một cách khác thường, thoạt đầu “công án” chỉ là một mẩu đối thoại hoặc một biến cố nào đó xảy ra giữa Thiền Sư và đệ tử của ngài.

Tóm lại, công án có nghĩa là một câu chuyện Thiền, một vấn đề Thiền. Tham công án thường ngụ ý là cố giải quyết một vấn đề Thiền.

Như câu hỏi: “Ai là kẻ niệm Phật?” hay “Tất cả các pháp quy về một, cái một ấy quy về đâu?” hoặc chỉ một chữ “Vô” (Có nghĩa là không hay hư không).

          Công án thiền cũng là ngôn ngữ, là hành động nhưng chúng ta không thể hiểu nó bằng tư duy, bằng lý giải trong suy tưởng, mà chỉ có thể thâm nhập vào trong nó, hiểu biết nó bằng trực giác.

Thế nên những công án Thiền không phải là đối tượng để cho chúng ta có thể tiếp cận hay hiểu nó bằng cảm nhận qua tri thức, bằng triết lý, chúng ta không thể lý giải bằng ngôn ngữ, văn tự theo cách hiểu thông thường. 

Nghĩa là những Thiền ngữ này, tức phương tiện khai thị của các Thiền Sư hoàn toàn không giống như những bài toán, những luận đề hay là những lý thuyết khoa học mà con người có thể biện giải, phân tích, luận bàn đúng sai, phải trái, để rồi dẫn đến một kết luận tương đối hay và cho ra một đáp án chung nhất có thể chấp nhận được. 

Trong Thiền Tông, thuật ngữ quan trọng này chỉ một phương pháp tu tập thiền định đặc biệt.

Công án có thể là một đoạn kinh, một kinh nghiệm giác ngộ, một câu chuyện về một vị sư, một cuộc đàm thoại, vấn đáp hay một cuộc pháp chiến. Nhưng chúng có chung một điều là đề cập đến thể tính của vạn vật.

Đặc trưng của công án là thường thường nghịch lý, “nằm ngoài phạm vi của lý luận”. Công án không phải là “câu đố” thông thường vì nó không hề được giải đáp bằng lý luận, muốn hiểu nó phải có cách nhìn khác, ở một cấp độ khác của nhận thức.

Công án là một bài toán, một câu đố mà người học trò nhận được ở vị thầy mình, một đề tài Thiền mà người ấy phải luôn luôn giữ trong tâm thức, không dùng đến lý luận lô gích, cho đến khi một ngày kia câu trả lời xuất hiện bằng trực giác, một cách bỗng nhiên, sáng tỏ. Chứng ngộ.

Khoảng giữa thế kỉ thứ 10, Thiền tông bắt đầu dùng công án như phương tiện để giáo hoá và các thiền sinh sử dụng chúng làm đối tượng quán tưởng trong lúc thiền. Vì lời giải của công án thường nằm ngoài lý luận, nên thiền sinh thấy rõ giới hạn của tư duy và bị buộc phải chuyển hoá tâm thức bằng một bước nhảy của trực giác, nhảy qua khỏi sự mâu thuẫn của lý luận nhị nguyên.

Với tâm thức này, thiền sinh có một kinh nghiệm trực tiếp về thể tính. Phương tiện công án được phổ biến trong các dòng thiền Lâm Tế tông, Tào Động tông ở Trung Quốc và Nhật Bản.

Thường thường đó là một câu truyện ngắn gọn, một giai thoại hay một cuộc đối đáp giữa hai thầy trò, mà điểm đặc biệt là tính chất ngược đời, theo từng quan niệm của nó. Như vậy nó không phải là một sự bí ẩn phải khám phá ra, một giải đáp cho một câu hỏi, nhưng đúng hơn là một bài tập tâm thức có thể đưa tới chứng ngộ, còn gọi là tuệ giác hay trí huệ Bát Nhã.

Trên thực tế, công án là một phương tiện, một mẹo được xem như một sự bổ túc có ích lợi cho Thiền định và thường được dùng bởi trường phái Lâm Tế (Nhật: Rinzai), nhưng đối với trường phái Tào Động (Nhật: Soto) xem nó là phụ.

Trong vài thế kỷ gần đây, công án đã trở nên phổ biến, đôi khi một cách quá đáng, chúng đã trở thành một con đường bắt buộc, như những đề tài luận án theo qui ước, thay thế tinh thần “dĩ tâm truyền tâm” giữa thầy và trò, đặc biệt trong Thiền.

Ảnh hưởng sai lầm đó đã bị chính các vị Thiền Sư chỉ trích, và khuyến cáo rằng mỗi câu chuyện là một câu chuyện đặc biệt xẩy ra ở một hoàn cảnh đặc biệt, trong một sự liên hệ cá nhân giữa thầy và trò.

Trong những công án, người ta phân biệt thoại đầu, là một chữ hoặc một thành ngữ, một câu hỏi căn bản đặt lên bởi một vị thầy. Nghĩa gốc thoại đầu là “nói, đầu”.

Có một số thí dụ quen thuộc về những công án:

“Bộ mặt đầu tiên của anh trước khi cha mẹ anh sinh ra như sao?”.

“Khi vỗ hai bàn tay người ta nghe thấy một tiếng vỗ, vậy thì đâu là tiếng vỗ của một bàn tay?”

 “Cái gì suy nghĩ?”

“Anh hiện nay đang làm gì?” 

Đại loại là như thế, có những câu hỏi thật ngớ ngẩn, nó như muốn phá vỡ mọi trật tự vốn có.

Phương tiện công án được phổ biến trong các dòng thiền Lâm Tế Tông, Tào Động Tông ở Trung Quốc và Nhật Bản. Người ta cho rằng, nếu gom góp lại có tất cả khoảng 1700 công án, đây chỉ là một con số mang giá trị trừu tượng, trong số 1,700 công án, có vào khoảng 500-600 công án, ngày nay còn được lưu hành tại Nhật.

Qua bài viết rất hạn hẹp, tôi không thể nào đem vào đây những công an thiền. Chỉ là một tượng chưng về những công án thiền mà chúng ta thương nghe nói đến, hay còn ghi chép trong các sách vở.

Chúng ta nên nhắc lại một vài câu chuyện đối đáp hay trong tập truyện “Truyền Đăng Lục” Chương sách Mã Tổ:

“Một vị tăng hỏi Mã Tổ: ‘Tại sao ngài lại dậy là “tâm chính là Phật?” .

Đó là để dỗ dành đứa bé đang khóc, người thầy trả lời.  

Khi nó nín khóc rồi thì sao?

Tôi dậy: ‘Không tâm, không Phật.’

Nếu có người không là cái này, không là cái kia, ngài dậy sao?

Tôi sẽ dậy: ‘Chúng sanh cũng không”.

Xin để bạn đọc suy nghĩ về sự tinh tế của những câu trả lời, và xin nhắc lại rằng trong Đại Thừa, giữa Tâm, Phật và Chúng Sanh, không có gì khác biệt (Tâm Phật chúng sanh, tam vô sai biệt ).

            Sự phủ định cái “không”. Câu truyện sau đây không có trong tập công án này, nhưng rất điển hình, bởi vì câu chuyện cho chúng ta thấy rõ rằng trong tinh thần Thiền, sự chấp chặt vào cái Không cũng phải được xả bỏ.

“Một vị tăng tới thăm Triệu Châu và nói:

Tôi không mang gì theo hết.

Hãy bỏ đi’, vị thầy trả lời.

Nhưng tôi không mang gì theo hết, thì phải bỏ gì ?’

Nếu ông không có gì bỏ hết, thì hãy mang về đi.

Nghe thấy vậy, vị tăng hốt nhiên chứng ngộ”.

Trong câu truyện này, vị tăng bị thắc mắc vì đi tới tay không, ông chấp chặt vào cái không đó, cho nên câu trả lời của Triệu Châu, phủ nhận cái không đó, đã làm cho vị tăng ý thức được rằng cái không đó không có thật.

Câu Chuyện. “Gậy trúc của Thủ Sơn”, chủ đề là cách kêu gọi một đồ vật:

Hòa thượng Thủ Sơn giơ gậy trúc lên trước chúng mà hỏi:

Này các ông, nếu gọi là gậy trúc thì xúc phạm, không gọi là gậy trúc thì trái nghịch. Vậy thì các ông gọi là gì? 

Khi hối thúc học trò trả lời, vị thầy đẩy học trò vào một ngõ bí: không thể dùng được ngôn từ, không thể không dùng nó được. Gọi tên một vật, tức là chấp vào tên của nó, không gọi tên nó, tức là phủ nhận sự vật. Lối thoát duy nhất là vượt qua khỏi cái nhị nguyên đó, hoặc bằng cách lên tiếng nói, hoặc bằng cách chứng tỏ rằng câu hỏi đó vô nghĩa.

 Câu chuyện “Qui Sơn đá đổ tịnh bình”.

Diễn tả sự hiểu biết vượt qua khỏi ngôn từ trong tinh thần Thiền :

“Hòa thượng Qui Sơn trước kia ở với Bách Trượng, giữ chức điển tòa (đầu bếp). Bách Trượng sắp chọn người đến núi Đại Qui làm trú trì, bèn mời Qui Sơn cùng ông thủ tòa Hoa Lâm ra đối đáp trước chúng, ai nói trúng sẽ được đi. Bách Trượng đặt một tịnh bình (chai nước) dưới đất, rồi hỏi:

Không được gọi là tịnh bình, thì gọi là gì?

Ông thủ toà đáp: – Không thể gọi nó là khúc cây.

Bách Trượng quay sang hỏi Qui Sơn.

Sơn liền đá đổ tịnh bình rồi quay đi.

Bách Trượng cười lớn, nói: ‘Thủ toà đã thua hòn núi rồỉ’.Vá phái Qui Sơn đi làm tổ khai sơn. 

Như vậy, trong khi thủ tòa Hoa Lâm còn bị sa lầy vào sự mô tả bằng lời nói, Qui Sơn đã vượt qua khỏi những dính mắc, ngôn từ, khẳng định cũng như phủ định, bằng cách chỉ thẳng vào sự vật bằng một động tác làm cho đồ vật được lập tức nhận ra không là gì, nó vượt qua sự mô tả bằng ngôn từ.

 Sự vô lý của câu hỏi. 

Có một cách trả lời khác là chứng minh sự vô lý, vô nghĩa của câu hỏi, hoặc là tính chất hão huyền của sự lựa chọn giữa hai câu hỏi. Câu hỏi vô nghĩa, thì trả lời cũng vô nghĩa, có thể nói là như vậy.

Đó là trường hợp của câu chuyện bất hủ.”Nam Tuyền chém mèo”:  

Hòa thượng Nam Tuyền, nhân tăng chúng hai bên Đông và Tây tranh nhau một con mèo, bèn giơ con mèo lên nói:

Các ông nói được thì con mèo được tha, nói không được thì ta chém. Chẳng ai biết nói sao. Nam Tuyền bèn chém con mèo.  

Buổi chiều, Triệu Châu trở về. Nam Tuyền kể lại chuyện cho Triệu Châu nghe. Triệu Châu liền cởi dép, để lên đầu mà đi ra.

Nam Tuyền than : Nếu lúc đó có ông, thì đã cứu được con mèo rồi ! 

Trong câu chuyện này, những tâm hồn đa cảm chắc hẳn sẽ bị sốc vì sự tàn nhẫn của Nam Tuyềnđối với con mèo:

Làm sao một vị Thiền Sư, đệ tử của Phật, có thể giết một sinh vật để thử học trò mình ? Tâm từ bi ngài để đi đâu ? Dĩ nhiên, người ta cũng có thể đặt câu hỏi về sự thật của câu chuyện này.

Biết đâu đó chỉ là một đồ chơi, chẳng hạn một chiếc tượng mèo bằng gỗ mà các tăng chúng tranh giành nhau, và vị thầy sẽ phá hủy nếu họ không bênh vực được ? Dù sao chăng nữa, ở đây không đặt ra vấn đề luân lý, và trong tinh thần Thiền, sự bám chặt vào luân lý cũng là một trở ngại trên con đường kiến tánh.

Ở đây các học trò cũng ở trong thế không thể lựa chọn được, nếu có ai lên tiếng đòi lại con mèo thuộc phía mình, hoặc van xin tha chết cho con mèo, thì cũng là sai lầm; không lên tiếng thì đưa tới kết quả như chúng ta đã thấy.

Trong công án này, chúng ta phải thấy rằng cử chỉ hài hước và kỳ quặc của Triệu Châu, thật ra là một cách tránh đỡ cực kỳ khôn khéo, tài tình, như một chiêu kiếm, gạt phăng chiêu tấn công của vị thầy:

Câu hỏi đã vô lý, thì câu trả lời phải vô lý;

Câu hỏi có hành động điên khùng, thì phản ứng cũng điên khùng.

Qua cử chỉ của mình, Triệu Châuđã chứng tỏ rằng hành động chém mèo cũng vô lý và điên khùng không kém gì hành động cởi dép và để lên đầu mà đi.

Vị thầy đã công nhận chịu thua, và con mèo đáng lẽ ra đã được cứu sống…

Câu trả lời kỳ quặc: một sự nhắc nhở trở về hiện tại. Câu hỏi điên, câu trả lời điên, một sự nhắc nhở đúng thời điểm nhất.

          Trong nhiều câu truyện Thiền, những câu trả lời của các vị Thầy có vẻ kỳ quặc, không đâu vào đâu, vô nghĩa hoặc hoàn toàn xa lạ với câu hỏi.

Ví dụ:Ba cân gai của Động Sơn” 

 Một vị tăng hỏi Hòa thượng Động Sơn: ‘Phật là gì ?

Trả lời: Ba cân gai. 

Câu chuyện: “Cây bách trước sân”

Một vị tăng hỏi Triệu Châu: Thế nào là ý Tổ sư từ phương Tây sang?

Trả lời: Cây bách ở trước sân.

Câu Chuyện:  “Xa lìa khỏi ngôn ngữ” 

Một vị tăng hỏi Phong Huyệt:

“Nói hay im đều là vụn vặt, làm sao hiểu mà không mắc?”

Trả lời: Nhớ mãi Giang Nam vào tháng ba, chim chá cô hót giữa trăm hoa thơm’. Đây là bài thơ của Đỗ Phủ:

“Trường ức Giang Nam tam nguyệt lý,

Chá cô đề xứ bách hoa hương”

Thơ dịch:

“Giang Nam nhớ mãi ngày xuân ấm,

muôn hoa lừng tiếng chá cô kêu”.

Trả lời: mượn câu thơ của Đỗ Phủ. Mượn theo ý thơ để trả lời câu hỏi, đây chính là điều hiểu mà không mắc.

Cho phép vượt qua khỏi lời nói và sự im lặng, và cũng một phần nào làm lắng đọng được sự lo lắng của vị tăng khách, qua không khí tĩnh lặng, an lành mang lại bởi câu thơ.  

Các câu trả lời của các vị Thiền sư, dù có vẻ kỳ quặc, vô nghĩa thế nào chăng nữa, cũng không phải được lựa chọn một cách ngẫu nhiên. Chúng nhằm chứng minh cho người nghe là không thể trả lời một cách lô gích “logic”

Một lời giải hợp lý, chỉ trói buộc vào vòng luẩn quẩn của khái niệm và ngôn ngữ, đồng thời kéo trở lại hiện tại là cái có thể đạt được tức thì, một sự hiện hữu thực tại không thể trối bỏ.

Như cây bách nhìn thấy trước sân, hoặc ba cân gai mà vị Thầy vừa nói tới, hoặc bài thơ mà ngài vừa nhớ lại.

Thêm một câu chuyện dẫn chứng, hãy trở lại hiện tại, sống trọn vẹn mỗi lúc ,mỗi giây.

Câu chuyện: Triệu Châu rửa bát

          Một vị tăng hỏi Triệu Châu:

Tôi mới vào chùa (Tùng lâm), xin ngài chỉ dậy cho.

          Ông ăn cháo chưa?’ Châu hỏi.

Ăn cháo rồi. Tăng trả lời.

Đi rửa bát đi. Châu nói.

Vị tăng liền tỉnh ngộ

Một câu truyện tương tự tả lại sự gặp gỡ giữa Triệu Châu và Lâm Tế. 

Lâm Tế lúc đó đang rửa chân.

Ý nghĩa của Tổ sư đến từ phương Tây là gì ?’ Triệu Châu hỏi.

Ông thấy đó, tôi đang rửa chân. Lâm Tế trả lời.

Triệu Châu tiến tới gần, tỏ vẻ lắng tai nghe.

Tôi phải đổ cho ông một gáo nước dơ thứ hai mới được, Lâm Tế nói.

Triệu Châu nghe vậy, bỏ đi.  

Như vậy, tất cả các vị Thiền sư không ngừng nhắc nhở cho học trò trở lại hiện tại, sống trọn vẹn mỗi lúc, giữ niệm (pali sati, sanskrit smrti, Nhật nen)

Điều đó có nghĩ là “tâm trong hiện tại”.

Đó chính là giữ chánh niệm (pali samma-sati), thuộc về Tám Chánh Đạo được dậy bởi đức Phật Thích Ca.

Đối với người hành Thiền, không có gì không phải là Thiền. Không chỉ riêng cuộn gai, cây bách, bát cháo, nước rửa chân, mà ngay cả mọi sự vật trên thế giới này, núi, sông, đất, ánh mặt trời, tất cả những gì tâm nhận thức được là Thiền.

Tâm bình thường là đạo

Bình thường là đạo(Bình thường tâm thị đạo)

Triệu Châu hỏi Nam Tuyền:

          Thế nào là đạo?          

Tâm bình thường là đạo, Tuyền đáp.  

Có thể tìm đến không? Châu hỏi

Tìm đến tức là sai, Tuyền nói

Không tìm đến, làm sao biết là đạo?’Châu hỏi

Đạo không thuộc biết hay không biết. Biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu đạt được đạo bất nghi, lúc đó như thái hư, trống không rỗng tuếch, há có thể nói được phải trái sao?’

Châu nghe vậy liền đốn ngộ.

Vô Môn làm bài kệ tụng sau đây:

“Xuân có trăm hoa, thu có trăng,

Hạ về gió mát, tuyết đông giăng.

Ví lòng thanh thản không lo nghĩ,

Ấy chốn trần gian buổi đẹp trời”. 

Không có gì có vẻ đơn giản hơn là « tâm bình thường », giản dị, tự nhiên, thanh thản. Tuy nhiên điều đó không phải là dễ, bởi vì tâm lý con người thường hay phức tạp, cho nên phải có một sự cố gắng thực hành liên tục để làm cho nó trở thành « bình thường ».

Đồng thời cũng không nên tìm kiếm nó, tại vì tìm kiếm nó, như lời của Nam Tuyền, là chất chứa thêm những ý nghĩ không cần thiết, tức là đã đi sai đường.

Đó cũng là lời dậy của vua Trần Nhân Tông, vị tổ sáng lập ra phái Thiền Việt Nam Trúc Lâm Yên Tử, trong một bài thơ dài kết thúc bằng bốn câu :

          Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc xan hề, thốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. 

Dịch:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

Đói thì ăn đã, mệt ngủ liền.

Trong nhà của báu, thôi tìm kiếm,

Truớc cảnh vô tâm, chớ hỏi Thiền.

Một trong những thói quen cố hữu của con người là chấp chặt vào vẻ ngoài và những đức tính tưởng tượng của một số nhân vật, nhất là những vị mà họ kính trọng nhất.

Câu chuyện: “Que cứt khô của Vân Môn”

Một vị tăng hỏi Vân Môn :

Thế nào là Phật ?’ 

Que cứt khô. Vân Môn trả lời. 

Câu trả lời, dưới mắt một tín đồ tôn giáo thuần thục, thì đó là một sự phỉ báng, xúc phạm nặng nề đối với bề trên.Dưới mắt một Phật tử chính thống thuần thành, thì đó là một câu trả lời thô lỗ, tục tằn, bất kính.

Nhưng trong Thiền,người ta gặp không ít những lời lẽ kỳ cục, gây sửng sốt như: “Đừng có nằm mơ lớn tiếng như vậy!” hay “Hãy súc miệng đi, nói thối quá” hay “Cho ta chút nước để ta rửa tai”. Có rất nhiều những câu nói nghe không chịu nổi.

Thật ra, ở đây cũng vậy, câu trả lời tự nó không có ý nghĩa gì. Nó chỉ nhằm lay chuyển người trước mặt, bằng cách đập tan những định kiến của người đó.

Khi vị tăng đặt ra câu hỏi, chắc hẳn trong đầu ông Tăng, đã có hình ảnh của một vị Phật toàn bích, tinh khiết, thiêng liêng,v.v., thật ra là một vị Phật tưởng tượng, giả mạo mà Vân Môn muốn lật tẩy, muốn phá hủy, bằng cách gọi nó là một “que cứt khô”. Đó chính là ý nghĩa của câu ”gặp Phật giết Phật”, giết cái hình tượng Phật giả mạo mà chúng ta đã tạo nên trong đầu óc và tin là có thật.

          Cuộc đối thoại này cũng gợi lên một câu truyện về Tuệ Trung Thượng Sĩ, là thầy của vua Trần Nhân Tông:

Một vị tăng hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ :

Thế nào là thanh tịnh Pháp thân ?’

Ra vào trong bãi cứt trâu, nghiền ngẫm trong vũng đái ngựa. Trung trả lời.

Thoạt nghe thì có vẻ thô tục, lỗ mãng, nhưng thật ra đối với người đã thấy rõ bản lai diện mục của mình, thì đái, ỉa cũng bình thường và tự nhiên như ăn, uống, và một cục phân trâu cũng không dơ bẩn hay trong sạch hơn một đóa hoa sen. Trong sạch hay dơ bẩn chỉ là những sản phẩm của sự phân biệt trí thức, là những ảo tưởng gây nên bởi tâm lý con người.

Cũng như lời dậy của Lục tổ Huệ Năng:

“Khi trân quí khái niệm thanh tịnh và dính mắc vào nó, ta sẽ chuyển đổi thanh tịnh thành sai lầm. Sự thanh tịnh không có hình tướng, và khi ta đã ấn định một hình thức thể hiện sự thanh tịnh, thì ta đã đi ngược lại bản tánh của mình, và trở thành nô lệ của sự thanh tịnh.”

Vài thế hệ sau, Hoàng Bá Hi Vận cũng tuyên bố : 

“Nếu ta nhìn đức Phật dưới vẻ thanh tịnh, giác ngộ và hoàn toàn giải thoát, và chúng sanh dưới vẻ ô nhiễm, vô minh và ngụp lặn trong luân hồi, thì ta sẽ không bao giờ tuệ giác, mặc dù sau vô số kiếp. Đó là tại chúng ta chấp chặt vào vẻ ngoài, vào hình tướng”.

Rốt cục, khi tìm lại nguồn gốc, chúng ta thấy rằng Kinh Kim Cương, là một trong những bài kinh căn bản của Thiền, dã dậy cho chúng ta nên coi chừng vẻ ngoài của sự vật và nên lìa xa nó : 

“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng

“Tất cả những gì có hình tướng đều là hư vọng”.

Chúng ta cũng thấy trong Kinh sự cảnh cáo không nên dính mắc vào những hình tượng cũng như những kinh kệ hướng về đức Phật : 

“Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”

Nếu lấy hình sắc để tìm ta, lấy âm thanh để cầu ta, thì người ấy theo tà đạo, không thể thấy được Như Lai. Và dĩ nhiên, trong Kinh có một câu nổi tiếng đã gây nên đại ngộ nơi Huệ Năng và vua Trần Thái Tông: 

Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.

Không nên để tâm dính mắc vào ở một nơi nào.

Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều đại nhà Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Ngài đã để lại 43 công án Thiền, để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia.

43 công án thiền do Thiền Sư Thích Nhất Hạnh dịch thuật. (tôi không trích dẫn vì quá dài)

Thiền ngữ của các bậc giải thoát nói ra như mây bay, như gió thổi, như sấm sét, như mưa rào, chợt đến, chợt đi, thoắt biến, thoắt hiện, không từ một gốc gác, một trụ xứ nào, khiến không một mảy may suy tưởng, tri thức có thể nắm bắt, nương vịn. Tuỳ căn cơ, trí tuệ, và đặc biệt là phước duyên sâu dày của từng người cầu đạo đối với pháp môn này, mà ngay trong chỗ biến hóa khôn lường của từng lời vượt thoát kia vừa chợt lìa miệng vị Tổ, thiền ngữ tự có công năng kỳ đặc, nhiệm mầu, kích thích sự khai mở tuệ nhãn một cách tích cực, hiệu quả tức thì.

Đó là thứ ngôn ngữ, hành động xuất phát từ cảnh giới tự chứng, vượt tri kiến, lìa đối đãi nhơn quả, có công năng vừa chặn lấp, đánh đổ, triệt tiêu toàn bộ mọi ngóch ngách có thể nghĩ ngợi, suy lường bằng thế trí của người đối diện, vừa kích thích sự phát huy mạnh mẽ tiềm năng trực giác, vừa cùng lúc biết khai mở lối thoát đúng thời điểm cho trực giác phóng xuất, ngay đó tánh thấy biết bổn lai bùng vỡ, cũng là hốt nhiên ngộ nhập bản thể.

Công án là một công cụ cao cấp, không có sức mạnh siêu nhiên ẩn tàng nào nhưng lại có thể giúp hành giả giác ngộ khi thực hành đúng đắn. Thiền sư Genki gọi chúng là ‘cách mở nắp lon’ cho Tâm của bạn.

Công án chỉ nên được dùng sau khi bạn đã vào được chánh định. Chánh định là trạng thái của tâm khi tất cả ý niệm, suy nghĩ, cảm thọ, phán đoán, đã im bặt, và tâm đã trở nên sáng tỏ, lặng lẽ, phản chiếu một cách tự nhiên, trôi chảy tự do trong khoảnh khắc này.

Nếu tâm bạn chưa đắc định, thì đừng tu tập gì với công án. Công án sẽ quậy lên dòng nước của tâm, và nếu tâm đang có sẵn sự hỗn loạn thì pháp tham công án sẽ chỉ làm cho mọi chuyện tệ hơn. Đó là lý do vì sao Thiền sư Genki chỉ trao cho công án trong khi vào các kỳ nhập thất Sesshins.

Công án sẽ (Không) được giải đáp. Bất kỳ đáp ứng mô tả nào: kiểu như trả lời có hay không, hay kiểu như cái này, như cái kia, đều sẽ bị bác bỏ. Thường thường, công án không cần gì tới lời nói ngôn ngữ. Một vài cử chỉ đột khởi cũng là đủ rồi. Công án không được trả lời, nhưng được giải quyết.

Để tham một công án có nghĩa là để một công án hoạt động trong bạn. Khi một mức độ chánh định đã đạt được, bạn đưa công án vào tâm.

Cách khởi công án thích hợp nhất là nêu câu hỏi một cách dịu dàng nhưng liên tục vào ý thức. Đừng mất thì giờ tìm cách hiểu công án. Hãy để nó đưa tâm của bạn xuyên qua chất vấn này, và đừng có nỗ lực nào giải đáp nó.

Bất kỳ phân tích nào cũng chỉ làm uổng phí thì giờ, và tận cùng kiểu đó chỉ cao lắm là sản xuất ra một câu trả lời kiểu Thiền giả mạo.

Công án là một khí cụ nhắm tới chỗ diễn dịch, giải thích, bắt chước hay phân tích của chúng ta mà đánh vào, và rồi, chỉ sau khi chúng ta cạn kiệt hay là buông bỏ hết mọi kiểu khảo sát, điều tra loại đó, thì một mức độ thâm sâu hơn của tham cứu mới có thể dò tới được.

Ví dụ như câu chuyện về: Tách trà

Một vị giáo sư của một trường đại học danh tiếng đến tìm gặp Thiền Sư, vì đã được nghe nói về trí tuệ cũng phẩm hạnh cao quý của ngài. Để chứng tỏ bản thân với Thiền Sư, ông ta giới thiệu một cách đầy tự hào về tất cả các danh hiệu, bằng cấp mà ông ta đã đạt được trong suốt những năm dài vất vả học tập và làm việc. Sau đó, vị giáo sư nói lí do của chuyến viếng thăm, đó là muốn tìm hiểu tất cả những trí tuệ của Thiền.

Thay vì đưa ra lời giải đáp, Thiền sư mời ông ta ngồi xuống và pha một ấm trà. Ngài rót cho giáo sư một chén trà và khi đầy chén, ngài vẫn tiếp tục rót.

Vị giáo sư nhìn nước trà tràn ra bàn cho đến khi không nhịn được nữa, bèn lên tiếng: “Trà đã đầy tràn rồi, không thêm được nữa đâu!.

Bấy giờ, Thiền sư mới thong thả đặt ấm trà xuống và nói:

Thì cũng như chén trà này, ông mang đầy những tư kiến và thành kiến. Làm sao tôi có thể chỉ cho ông về Thiền nếu ông không tự làm cạn cái chén của mình.

Câu chuyện này dạy cho chúng ta rằng: Với một tâm trí đầy những thành kiến, những suy nghĩ bảo thủ, chúng ta không thể học hỏi, tiếp thu những tri thức mới, những triết lý cao đẹp ở đời. Thể hiện một thái độ khiêm cung, dẹp bỏ sự chấp ngã là chúng ta đang tự làm cạn những chiếc chén tâm hồn của mình.

Để kết luận:

Như chúng ta đã biết, hơn bốn thập kỷ qua phong trào học Thiền, đã và đang phát triển mạnh trên toàn thế giới, nhằm đáp ứng những nhu cầu cấp bách, do môi trường sống chung quanh đang tác động, qua đó con người là nạn nhân chính do nền văn minh cơ khí vật chất hiện đại mang lại.

Chúng đã làm băng hoại tất cả mọi giá trị tinh thần, kể cả những thành tựu về vật chất do chính chúng ta đẻ ra. Từ những đòi hỏi đó, chỉ có Thiền mới đáp ứng và giải quyết một cách trực tiếp, sự điều hòa cuộc sống thế giới, trong đó con người là yếu tố cần thiết cho mọi quyết định này, do đó Thiền học hiện đang là đối tượng cần được phát triển mạnh. 

Chính vì muốn có sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa, nên Thiền đã trở thành đối tượng nhận thức tư duy cho mọi người, và cũng từ đó chúng đẻ ra không ít, những sai lầm trong phương pháp học, cũng như trong việc thực hành do chính con người tạo ra, mà cái hậu quả của chúng sẽ trở thành một tác dụng nguy hiểm, đối với chính họ và những người đi sau.

Hiện tại, Thiền đã trở thành một phong trào thời thượng, để trang điểm cho một nội dung trống rỗng, mà con người đang đổ xô chạy theo nó và, tự đánh mất chính mình.

Thiền đa và đang đi vào lãnh vực kinh tế, trở thành một loại sản phẩm mua bán, được quảng cáo rầm rộ trên các món hàng, trên các thực phẩm trên mọi nhu cầu tiêu thụ của khách hàng. Chúng ta nhận ra vô số những sản phẩm mang nhãn hiệu ZEN.

Đó là một hiện tượng suy đồi của Thiền, chứ không phải là một sự phát triển. Vì chúng đã phản bội lại truyền thống và, sự kế thừa của Thiền Tông mà chủ đích nhắm đến của nó là: 

“Trực chỉ nhơn tâm kiến tính thành Phật,

giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự.” 

Với tinh thần này thì rõ ràng những việc làm hiện tại của chúng ta, trong việc cố gắng đại chúng hóa Thiền tông bằng cách bàn luận, định nghĩa, phân tích Thiền như thế này, hay như thế kia qua những bộ luận dày cộm, với mục đích là để cho mọi người cùng hiểu như chúng ta; hay bày ra những trò hí luận ngoa ngôn xạo ngữ, nhằm trang điểm cho một thứ kiến thức què quặt qua cửa miệng.

Họ đâu biết rằng, việc bàn công án của họ, không những không đem đến cho mọi người một sự đạt ngộ nào về Đạo Thiền, mà ngược lại còn làm cho người ta xa lìa ngăn cách hơn.

Họ cứ tưởng rằng: Lý Thiền lý Đạo là như thế này hay như thế kia, rồi an tâm cho rằng mình đã đạt Đạo, đã đạt Thiền. Từ đó, chấp vào khái niệm ngôn từ qua lời bàn của chúng ta, cho đó là Đạo là Thiền, thế là muôn kiếp ngàn đời, họ bị chết chìm trong mớ khái niệm ngôn từ đó, làm sao thoát ra được?

Cho dù chúng ta nỗ lực giảng giải phân tích đến chỗ kỳ cùng của nó, và khiến cho mọi người hiểu được, thấy được đi chăng nữa, thì cái hiểu và cái thấy này, vẫn là cái hiểu cái thấy về một khái niệm biểu hiện cho một thực tại, mà chúng ta chưa được thấy như thực chính nó.

Do đó, cái hiểu và cái thấy này, vẫn ở trong vọng thức điên đảo phân biệt. Còn tự nó, lý Thiền lý Đạo vẫn ở ngoài tầm tay và ngoài trí phân biệt của chúng ta.

Tôi xin mượn câu nói của triết gia Osho để kết thúc cho bài biên khảo này.

 “Thiền định không hề là một dạng của sự tư duy có tính tâm linh mà là một tình trạng vắng bặt tư duy. Mọi triết lý để cố định nghĩa về thiền định, có thể ví như những lời to tiếng bàn luận về sự lặng yên, còn thiền định là bản thân chính là sự lặng yên.” Đó chính là nguồn tư tưởng của triết gia OSHO.

Và tôi cũng xin kết thúc bài viết rất mênh mông bao la như biển cả, không biết đâu là bến bờ. Với ngôn ngữ thông thường làm sao có đủ nghĩa để giái thích hết mọi sự.

Thôi thì xin mượn bài thơ (Hồn Mê) mang chút tâm ý Thiền do tôi viết để kết thúc bài biên khảo này. Nếu có điều gì thiếu xót, hay sai trái. Rất mong quý đọc giả lượng tình tha thứ.

Chỉ là một chút lòng thiền, ghi lại những gì đã sưu tầm, biên khảo, với mục đích thâu tóm lại cho ngắn gọn, giúp người đọc dễ nhận biết, để từ đó tìm hiểu thêm, đi sâu vào những Công Án Thiền, nhầm khai mở trí tuệ.

Hồn Mê

Mê đắm khi tâm ma trú ngụ                

Bình an, là khi Thiền lên ngôi

Tham sân si tất cả tan biến

Tâm ý bừng lên sáng đạo trời.

Đừng cho tà kiến, vào suy nghĩ

Ma tâm đè nén dòng tư duy

Toạ thiền, xa lánh ba điều ấy

Cảm hóa hồn ta ngay tức thì.

Nhân sinh vốn tánh, tâm lương thiện

Trong như gương chiếu sáng lòng thiền

Hoá thân chánh kiến từ tâm đạo

Nhập thể, đi về trong cõi tiên.

Trân Trọng

Louis Tuấn Lê

San Jose October 13, 21

Ghi chú:

Biên khảo theo nhiều nguồn tư liệu tìm kiếm trên Google Search.




Giao Chỉ đọc hồi ký Kiều Chinh

Người đi tìm quá khứ

Giao Chỉ đọc hồi ký Kiều Chinh

lf.jpg

Kiều Chinh by Kiều Chinh                                                                                     

(Đoạn mở đầu viết lúc chưa đọc sách, đoạn sau viết sau khi đọc sách)              

Nhà xuất bản nổi tiếng của Hoa Kỳ Barnes and Noble vừa phát hành cuốn hồi ký 500 trang của Kiều Chinh. Giới văn chương Mỹ gọi cô là nghệ sĩ lưu vong. Tra cứu trên Internet chúng ta thấy bản văn Anh ngữ nhà Barnes khen ngợi tác giả. Bản văn Việt Ngữ khen ngợi cô Kiều Chinh do nữ đại úy Phan của quân lực Mỹ viết. Cuốn hồi ký đặc biệt này đã ghi bán 30 đồng giấy thường và sách bìa cứng giá 40 đồng. Đại úy Phan là nữ quân nhân trẻ hiếm có đọc được cuốn hồi ký tiếng Việt đã ước mong rằng sẽ có phiên bản Anh Ngữ sớm phát hành.

Trong cộng đồng Việt Nam cũng đã có khá nhiều hồi ký chính trị của các nhà lãnh đạo và các nhân vật nổi tiếng trong trường văn trận bút. Nhưng rất hiếm những cây bút nữ lưu Việt Nam viết hồi ký văn nghệ. Trong giới điện ảnh thì chỉ có riêng Kiều Chinh. Đã có nhiều tác giả viết về con người thường được coi là đệ nhất minh tinh của màn ảnh miền Nam Việt Nam từ sau cuộc di cư 1954. Bây giờ đến lượt Kiều Chinh viết về mình. Xem ra có phần muộn màng. Một số lớn khán giả của cô không còn nữa. Chẳng còn Mai Thảo để điểm sách hay Nguyên Sa để đọc thơ. Ngay như bạn ta Bùi Bảo Trúc cũng chờ đợi mãi không được, đành bỏ đi. Đặc biệt các danh tài văn nghệ nữ giới dù cao niên bao nhiêu các khán giả muôn đời vẫn thấy còn trẻ mãi nên suốt đời luôn gọi là cô. Cô Thái Thanh. Cô Thanh Nga. Cô Kiều Chinh. Dù cô còn đó hay cô đã đi xa. Tiếc thay các cô đi xa mà chẳng để lại Hồi Ký. May thay cô Kiều Chinh chưa vội đi xa và còn để lại hồi ký. Tác giả mới gọi cho chúng tôi nói là sách đã có rồi. 500 trang bìa cứng thì dù nội dung ra sao quả thực cũng là một tác phẩm nặng ký đấy. Hỏi rằng sách có nói gì đến ông Trump hay Biden không. Không có đâu. Nếu vậy sách này hiền. Có nói đến trận Covid 19 không? Không có. Nếu vậy sách này lành mạnh. Sách đã chích đủ 2 kỳ. Nếu vậy Hồi Ký này khỏe mạnh đấy. Có thể đọc mà không phải đeo khẩu trang. Anh Giao Chỉ sẽ order nhà Barnes để xem Kieu Chinh By Kieu Chinh ra sao. Như vậy sách sẽ không có chữ ký. Bèn đi máy bay xuống nhận sách có chữ ký của tác giả. Tò mò xem cô Kiều Chinh viết về cô ra sao

Một cuộc đời nên quay thành phim: 

Sau cùng tôi đã đọc hết 500 trang sách. Dù đã quen biết đôi chút với đệ nhất minh tinh Việt Nam, và đọc khá nhiều sách và tài liệu viết về Kiều Chinh nhưng phải đọc hồi ký này mới thực sự biết rõ về cuộc đời của cô kiều nữ Nguyễn Thị Chinh. Quả thực không thể thuật sự tóm tắt về cả cuộc đời, nhưng có thể ghi lại những nhận xét để giúp cho quý độc giả muốn biết tin tức. Kiều Chinh không phải là nhà văn. Không phải là cây viết chuyên nghiệp nên tác phẩm đã có người biên tập. Một nhà thơ làm công việc này và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chúng ta có thể hiểu rằng KC đã ghi chép và ngồi kể lại cuộc đời để người chấp bút viết lại. Một tác phẩm công phu với rất nhiều chi tiết, đầy đủ hình ảnh và những tình tiết éo le hấp dẫn từng phân đoạn. Tôi nghĩ rằng tác phẩm nên ghi tên nhà thơ chấp bút. Các hồi ký danh tiếng của thế giới đều có tên người biên tập. Mai này nếu có ai nghĩ rằng nên quay cuộc đời KC thành phim thì diễn tiến của tác phẩm hết sức đầy đủ và phong phú. Bao gồm cả bi kịch và rất nhiều giây phút vinh quang hào hứng.

Những lần tuyên dương và những giải thưởng.

Kiều Chinh trong suốt cuộc đời đã được gặp biết bao nhiêu danh nhân thế giới. Được nhận sự khen ngợi và tưởng thưởng của rất nhiều lãnh vực và trong nhiều hoàn cảnh. Các vị nguyên thủ quốc gia, các tỷ phú giám đốc công ty thương mại và điện ảnh. Các vị lãnh đạo tôn giáo. Nhưng nếu độc giả lưu ý sẽ thấy trường hợp vô cùng đặc biệt là trước giây phút lâm chung cô dâu Nguyễn Thị Chinh đã được sự khen thưởng của bà mẹ chồng khó tính. Con Chinh đâu rồi, lại đây để mẹ cảm ơn. Không lời khen ngợi nào giá trị hơn. Một tuyên dương đặc biệt khác là giây phút KC cùng với các cựu quân nhân Mỹ tại VN khánh thành trường tiểu học cho trẻ em nghèo làng Mọc là làng quê của thân phụ. Không có ai trao giải hay tuyên dương người tài tử danh tiếng trở về trả nợ quê hương. Nhưng chính hoạt động nhân đạo này đã đem lại oan khiên chính trị khi cô bị lên án theo cộng sản và chịu nhục nhã bị đuổi xuống tại diễn đàn Bolsa khi lên giới thiệu thượng nghị sĩ McCain

Những chuyến bay và những giây phút trên mây. 

Trong suốt cuộc đời KC là người đi mây về gió nhiều nhất. Hàng trăm chuyến bay. Nếu không phải là bạn bè của các tỷ phú thượng hạng làm sao có cơ hội nằm ngủ trên giường bay trên phản lực tư nhân bay về Việt Nam khi đi công tác việc thiện. Ai được mời bữa ăn tối giữa đại đô thị Hoa Kỳ đưa rước bằng trực thăng từ nóc nhà cao ốc này đến nóc nhà cao ốc khác. Cùng với biết bao nhiêu chuyến đi từ phi trường này đến phi trường khác có người đưa đón hay chỉ một mình lẻ bóng. Phải kể thêm cả những chuyến bay vô định vào những ngày vô tổ quốc sau 30 tháng tư 1975.

Bi kịch của đời người nổi tiếng.

Tác phẩm dành rất nhiều trang để nhắc lại bi kịch đau thương của bà mẹ với người con trai trong tai nạn. Không phải chỉ vì tình thương mà gồm cả lòng can đảm khi đòi hỏi chứng kiến các chuyên viên trực tiếp cứu chữa bệnh nhân. Thêm một chương khác đã viết về niềm thất vọng cùng cực khi KC đã quyết định tự vẫn. Những đoạn đời này tuy là thảm kịch nhưng cũng đã vô tình đem lại quân bình cho một tác phẩm không phải tất cả đều là khải hoàn ca.

Bốn nhân vật trong một cuộc đời.  

Sinh ra trong một gia đình giàu có, nhưng bất hạnh trở thành mồ côi mẹ lúc niên thiếu và xa rời người cha thân yêu lúc trưởng thành. KC trong suốt cuộc đời đã đóng vai một người vợ bị bỏ rơi, một bà mẹ đơn thân. Nhưng đờingười đàn bà bị tình phụ lại trở thành cơ hội của định mệnh. Ai đứa con sáo sang sông. Con sáo sổ lồng, con sáo bay xa. Là một tài tử duy nhất của VN đóng hàng trăm phim danh tiếng từ trong nước đến hải ngoại. Trong tất cả các bộ phim đều là hình ảnh của thế giới tự do. Vai trò thứ ba gần như là diễn giả Anh ngữ duy nhất của Việt Nam đi nói chuyện chuyên nghiệp có khế ước thù lao. Hàng trăm lần thuyết giảng đều là các đề tài văn hóa xã hội ca ngợi nhân quyền và quyền bình đẳng của phụ nữ. Sau cùng KC cũng là nhân vật đi làm việc thiện tình nguyện cùng các tổ chức bất vụ lợi Hoa Kỳ hướng về quê hương Việt Nam. Trải qua bao năm chinh chiến người chiến binh Hoa Kỳ và Việt Nam đã chiến đấu bên nhau. Ngày nay cựu quân nhân Mỹ trở lại Việt Nam trên cả 3 miền đất nước qua sứ mạng hòa bình xây trường cho con trẻ. Kiều Chinh là phụ nữ duy nhất miền Nam nhập cuộc. Cô tham dự cuộc chiến tranh chính trị bên cạnh các chiến binh Hoa Kỳ. Cả 4 vai trò đều vượt qua điểm trung bình đến gần hoàn thiện. Điều đáng ghi nhận là trong vai trò làm vợ, làm dâu và làm mẹ Việt Nam, cô bé di cư Bắc Kỳ 16 tuổi đã làm tròn bổn phận. Suốt cuộc đời tài tử, diễn giả và xã hội người mẹ đơn thân không bị lôi cuốn vào những chuyện ái tình tục lụy tuy rằng đã gặp nhiều cơ hội. Nhiều chuyến đi huy hoàng trong những vai quan trọng, tác giả đã dành 1 chương viết về chuyến đi của một phật tử cô đơn, lôi thôi, lếch thếch kéo theo hành trang tìm về nước Phật.

Đặc điểm của hồi ký. 

Đây là cuốn sách mà tác giả tự mình đi tìm lại quá khứ. Sự xuất sắc của một con người không hề được trang bị đầy đủ khi bước vào đời. Tác giả không phải là người có trình độ đại học. Không qua một lớp huấn luyện về kịch nghệ. Khởi sự từ nghịch cảnh, xa cách anh chị và người cha ngay từ tuổi thơ trong hoàn cảnh di cư đất nước chia đôi. Với thân hình cao và thon thả, cô gái trở thành thiếu phụ đi đóng phim và quen biết với giới văn nghệ và lấy trường đời làm lớp học. Người phụ nữ lễ giáo không buông thả đã sống trong tinh thần tự lập và đạo đức để đạt được thành công. Khéo léo trong giao tế, có thiên phú về diễn xuất và Anh ngữ nên đã sớm trở thành một phụ nữ kiểu mẫu và điển hình trong chiến tranh cũng như sau này ở thời hậu chiến. Nhưng cũng phải ghi thêm rằng nàng là người có nhiều tham vọng và nắm bắt được cơ hội qua tình bằng hữu.

 Hoa Kỳ là miền đất của cơ hội. 

KC với sự giao thiệp tinh tế và khôn ngoan nên có rất nhiều bạn bè ở mọi nơi và mọi quốc tịch. Đã gặp nhiều cơ hội giúp cô vượt qua nghịch cảnh. Duy có một điều là người nổi tiếng KC dù có bao nhiêu bạn bè nhưng sau cùng cũng vẫn rất cô đơn. Bao nhiêu người thân được chia xẻ những giây phút vinh quang hay những ngày thăng hoa trong điện ảnh. Ai chứng kiến trong những lần diễn giả nói chuyện với 3 ngàn khán giả đứng lên vỗ tay. Niềm vui này ai là người để chia xẻ. Làm sao người nổi tiếng đã có được những giai đoạn sống đặc biệt như thế. Phải chăng vì cuộc sống riêng tư gia đình không hạnh phúc. Ai đưa lối, ai dẫn đường để tìm những lối đoạn trường mà đi. Phải chăng chính cuộc chiến tranh Việt Nam đã đưa thiên hạ tìm đến một phụ nữ Việt Nam được chọn làm tài tử toàn thời gian lâu dài đến thế. Người nổi tiếng cô đơn trong những chuyện đi về và trong cả những giấc ngủ đợi chờ trình diễn từ những chân trời xa lạ. 

Sau cùng tác giả nào cũng phải về già. Nàng đã cố xây dựng một CÕI TÔI cho tuổi hoàng hôn, nhưng rồi phải thay đổi xuống cấp đến 5 lần. Cõi riêng cứ nhỏ dần. Rồi cũng như mọi người, cõi riêng khi thành cát bụi thì cũng sẽ như chúng ta. Trong lòng đất ai cũng sẽ có ngôi nhà một phòng ngủ cho giấc ngàn thu nhỏ bé. Không cần phóng tắm. Chẳng bận tâm nóng lạnh hay điện nước. Nhưng hơn mọi người nàng để lại một hồi ký 500 trang kể rằng đã có lần buồn muốn chết nhưng rồi phải sống lại để gửi đến bằng hữu. Ra mắt sách để tìm lại chính mình.

Tháng qua, tôi xuống quận Cam gặp một bà già thanh tú ngoài 80 mà sao còn khỏe mạnh, gương mặt quen thuộc lái xe nhanh nhẹn. Ai mà trông như Kiều Chinh sao còn trẻ vậy. Tôi nhận được sách tặng có chữ ký . Xin cảm ơn bằng bài viết chân tình. 

Năm 1954 có anh thiếu úy rất trẻ dẫn lính đi làm phu khuân vác đón di cư. Ngày chẵn công tác ở bến tàu, ngày lẻ ở phi trường. Có nhiều cô gái Hà Nội ngu ngơ tròn mắt ngắm cảnh Sài Gòn. Trong số này có cả cô bé Nguyễn thi Chinh 16 tuổi.

Giao Chi San Jose.   giaochi12@gmail.com  (408) 316 8393