Happy Thanksgiving 2021

mung le.jpg

Lời Chúc Đến Quý Niên Trưởng, Quý Anh Chị Trong Văn Thơ Lạc Việt Nhân Mùa Lễ Tạ Ơn – Happy Thanksgiving 2021

Trong tinh thần Mùa Tạ Ơn, Hải và Gia Đình xin gửi lời cầu chúc tốt đẹp nhất đến tất cả Quý Niên Trưởng, Quý Anh Chị và Gia Quyến:

Một ngày Lễ Tạ Ơn hạnh phúc, an lành, mọi điều may mắn. Xin Cảm tạ Trời, Người, Đời, sau 75, mang thân phận Người Tị Nạn CS, đã cho chúng ta được sống trên Quê Hương thứ hai, nước Mỹ này, với đầy đủ tự do no ấm, dân chủ và quyền làm người.

Không quên nhắc nhở, hoa Tự Do được nở, là do tưới bằng máu của những người Chiến Sĩ Hoa Kỳ đã nằm xuống, xin dâng những bông hồng cảm tạ trong ngày lễ này.

Cũng xin Tạ Ơn tình thương tình mến, của những tấm lòng, trong mục đích chung “bảo vệ và phát huy tiếng Mẹ” để Văn Thơ Lạc Việt vẫn trường tồn và hoạt động mạnh mẽ, hữu hiệu trên 30 năm qua.

Tâm tình Cảm Tạ là giữ truyền thống tốt đẹp:

Khi còn ở Việt Nam, chúng ta mừng Năm Mới với ba ngày Tết, cũng là ba ngày Tạ Ơn. Mồng Một dành để tạ ơn Đất Trời và Cha Mẹ. Mồng Hai dành để tạ ơn Thầy Cô và bà con thân quyến. Và Mồng Ba dành cho Bạn Bè.

Như thế từ thuở còn bé, truyền thống và phong tục nơi quê nhà, đã chỉ cho ta biết tạ ơn Trời, tạ ơn Người và tạ ơn Đời.

Nay trên xứ người, lại còn có ngày Lễ Tạ Ơn, cộng với truyền thống tốt đẹp của Cha Ông, trong tinh thần “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây.” Đặc biệt, xin cám ơn tất cả những giúp đỡ chân tình dành cho Hải trong chức vụ Hội trưởng gần một năm qua, cảm tạ những ân tình đáng quý mến này.

Một lần nữa, xin cầu chúc tất cả Quý Vị và Gia Quyến: Một Lễ Tạ Ơn an bình, tràn ngập tình người, ơn phước từ Trời Cao.

Mừng Lễ Tạ Ơn – Happy Thanksgiving 2021

LVHải

anh hai.jpg

Nhóm Mõ Nhân Ái Mang Không Khí Lễ Tạ Ơn 2021 Sớm Đến Với Người Không Nhà (Homeless)

(San jose) Thứ Năm tuần sau mới đúng là ngày Lễ Tạ Ơn, nhưng Thứ Năm tuần này, ngày 18 tháng 11 năm 2021, lúc 8 giờ 30 sáng, Anh Hải đã diện Nhóm Mõ Nhân Ái, đem chút không khí ngày lễ đến những người không nhà, tại sân cỏ gần thư viện Tully, San jose.

Với 5 hộp quà, cho tiết mục xổ số lấy hên, trên 50 bao lì xì, tiền mặt gấp đôi những ngày bình thường, tặng cho Homeless. Đây là những mục vui, cộng thêm vào Bữa cơm truyền thống mừng lễ Tạ Ơn.

Không khí chợt vui nhộn hẳn lên, một khách không nhà với nụ cười tươi, ôm anh Hải nói lời cám ơn: “Nhờ Quý Anh Chị, chúng tôi đã hưởng được chút không khí thương yêu của ngày lễ. Happy Thanksgiving! Chẳng có Nhóm nào đối xử nặng tình người như Nhóm các anh cả.”

Buổi cơm, phát quà, cộng vào những tiết mục chơi vui, diễn ra trong tình thân mật gia đình, ấm cúng tình người, trong một buổi sáng chớm đông se lạnh.

trung thuong.jpg

Một khách không nhà khá trẻ, người VN tâm sự: “Cám ơn Quý Anh Chị Nhóm Mõ Nhân Ái và nhiều ân nhân. Không có sự giúp đỡ của quý vị thời gian qua, nhiều người tụi em sống không nổi! Khổ sở thân xác đau một, cảm giác bị xã hội bỏ rơi, đau đớn hơn nhiều!”

Câu tâm sự này, có lẽ là món quả an ủi quý báu nhất cho những người đã có thiện chí, thiện tâm phụng sự, vì nhận thấy có kết quả giúp đỡ thiết thực.

Nhân đây, trong tinh thần Mùa Tạ Ơn, tôi xin đại diện Nhóm, chân thành gởi lời cảm tạ đến với tất cả Quý Ân nhân đã góp tay trong công tác nhân ái này. Xin Thượng Đế trả công bội hậu cho Quý Vị và Gia Quyến, vì những điều tốt đẹp mà quý vị đã thực hiện nhằm giúp đỡ tha nhân. Phần thưởng đầu tiên quý vị nhận được từ Thượng Đế, đó là niềm vui an bình trong tâm hồn. “Bình an dưới thế cho người thiện tâm!” Cám ơn tất cả! đặc biệt năm dịch bệnh Covid khó khăn vừa qua, vì tấm lòng mà Quý vị yểm trợ, mà chương trình đã đi được đoạn đường dài trên 28 năm!

loi chuc ta on.jpg



ĐƯỜNG CHIM HẠ LÀO

Vào một buổi sáng, Sai gòn còn chìm trong màn sương mai mỏng, chúng tôi, tất cả gồm 10 người, thuộc SĐ IV và SĐ III KQ tề tựu đông đủ trước phòng Đặc Trách Quan Sát BTLKQ, và được Thiếu Tá Trưởng Phòng hướng dẫn ra bãi đậu Phi Cơ, chiếc DC4 ngoan ngoãn chờ đợi chúng tôi ở đó.

Hoa Tiêu lên mở máy, taxi, rồi cất cánh trực chỉ Nha Trang….Đáp Nha Trang hồi 8 giờ sáng, nửa tiếng sau cất cánh lại, vượt mây mưa và hàng trăm cây số núi rừng lên Pleiku, để nhận thêm mấy Sĩ Quan Liên Lạc KQ, rồi mới bay thẳng ra Đông Hà.

Trên lộ trình cuối cùng này, trần mây thấp và dày đặc, Phi cơ tránh mây, đã phải bay lên cao, lên cao mãi…Tôi đoán chừng cao độ khoảng 15 ngàn bộ! Không khí buốt lạnh, làm chúng tôi ngồi co ro trong những chiếc áo Blouzon và phải hút thuốc lá liên miên. Sau gần một tiếng đồng hồ trôi theo mây gió đường xa, Phi cơ chao nghiêng, chúng tôi nhìn thấy thành phố Quảng Trị hiện ra mờ xa dưới cánh, một Phố Thị mà riêng tôi đã non mười năm bỏ xa biền biệt…

Bây giờ, thì mỗi người thả hồn trôi theo những suy tưởng, những băn khoăn, và niềm lo lắng về sứ mạng sắp phải thi hành, trên Chiến trường khốc liệt, mà chúng tôi ai nấy đã biết ít nhiều qua báo chí, và đài phát thanh.

Phi Trường Ái Tử, hiện ra lờ mờ dưới lớp mây mù, in một vệt đen dài trong màn mưa mỏng, con tàu xà thấp cánh gió, đáp nhẹ và quay đậu, đổ chúng tôi xuống sân đậu.

Cơn mưa buồn và nhẹ hất vào mặt chúng tôi, giữa chốn mênh mông của Phi trường.

Chúng tôi đứng co ro khúm múm, trong cái lạnh buốt giá của mùa mưa xứ này. Sau 15 phút thấp thỏm chờ đợi, thì một chiếc xe Dodge cũ kỹ chạy lại gần, mười mấy khuôn mặt KQ từ trên xe nhảy xuống, chào hỏi qua loa, rồi vội vã phóng lên Phi cơ, như trút bỏ tất cả khó nhọc lại cho trận chiến! Cho chúng tôi! Những ngày tháng rét lạnh, hiểm nguy và vất vả, nhọc nhằn….

Họ là những người hết hạn biệt phái và chúng tôi là lớp người tiếp nối nhiệm vụ của họ…

Chúng tôi lên xe về căn cứ, bảy cây số ngàn đuờng xe, với khung cảnh nhuộm đầy sắc thái Chiến Tranh, âm thanh hỗn loạn của Phi cơ, Trọng Pháo, Xe Tăng, Vận tải, chuyển quân rầm rộ…

Không khí mổi lúc mỗi ngồm ngộp, tạo nên bao nỗi giao động trong tâm hồn mọi người, cơn mưa như tấm màn lưới nhện, đan nhẹ vào không gian giá rét và không khí lạnh lẽo bao trùm rộng lớn.

Chúng tôi đến Biệt Đội VO10, một biệt đội thuộc biệt đoàn Tiền Phương, do Thiếu tá Mạnh làm Biệt Đội Trưởng,

Biệt Đội này gồm các loại máy bay như: HU1, H34, OV2, OV10.

Với nhiệm vụ Đổ Bộ, Tải Thương, yểm trợ Hỏa Lực.

Chúng tôi ở chung với anh em PĐ 110, và PĐ 114, cùng các Sĩ Quan Không Trợ, bay OV2 hướng dẫn C47 và C119 yểm trợ hỏa Lực ban Đêm.

Căn nhà chúng tôi tá túc, chỉ là một kho chứa vật liệu cũ của Hoa Kỳ, vừa chật chội lại vừa thiếu thốn tiện nghi,

Buổi Sáng, buổi Trưa chúng tôi dùng bữa ở Mess hall của Bộ Binh Hoa Kỳ, buổi chiều về nhận Briefing và đi bay, mỗi ngày chúng tôi có khoảng 24 Phi Vụ.

Chúng tôi bay phối hợp với Đồng Minh Hoa Kỳ, trên loại máy bay OV10.

Đây là loại Phi cơ vừa có thể bay bằng hệ thống Phản Lực, vừa có thể bay bằng hệ thống Cánh quạt.Trang bị 8 nòng Minigun và 14 Rockets, hoặc loại 4 nòng Minigun và 28 Rockets. Cũng có thể trang bị Minigun và 02 trái bom 250 lbs, tùy theo tình hình của Chiến trường.

Biệt đội có chừng 20 chiếc OV10, Hoa Tiêu Mỹ biệt phái từ Thái Lan qua.

Chúng tôi bay mỗi ngày 02 Phi vụ, mỗi Phi vụ từ 4 đến 5 tiếng đồng hồ.

Phần nhiều cất cánh dưới Trời mưa, và lên đến 9, 10 ngàn bộ mới lấy hướng, bình phi, và vượt hàng trăm cây số đường núi mới qua Hạ Lào.

Thời tiết vùng Hành quân thường tương đối tốt hơn vùng xuất phát.

Chúng tôi bay 7 hoặc 8 ngàn bộ trên mục tiêu. dưới tầm mắt chúng tôi là một màu xanh rừng núi, điệp điệp trùng trùng, một vùng hoang vu xa lạ, đầy dẫy huyền thoại về rừng thiêng nước độc, khói lửa bốc cháy ngút ngàn, ven sườn đồi, chân núi, triền dốc, lối mòn, chỗ nào cũng lăn lóc, ngổn ngang xe Tăng, vận Tải Bắc Việt.

Hệ thống đường mòn và khe suối ở đây chằng chịt, chi chit.

Đồi 31, một ngọn đồi chiến lược, một cao điểm Quân sự, luôn luôn ở trong tầm mắt, trong liên tưởng thường trực với một trận giao tranh khốc liệt, bây giờ trơ trọi hoang tàn…

Mỗi Phi Xuất của chúng tôi hướng dẫn từ 4 đến 12 Phi tuần Phản lực Hoa Kỳ, U2

Oanh kích phần nhiều là tiếp cận, vì Cộng quân luôn bám sát các cánh quân Dù, Biệt động quân, Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 1 Bộ Binh.

Phản lực Mỹ gồm có A3, A4, A6, A7, F100, F4C,

F.A.C Việt Nam gồm những KQ ưu tú trong ngành Quan Sát, nên mặc dù hỏa lực của Địch rất mạnh (theo tin tức của Tình Báo thì có chừng 2 ngàn súng Phòng Không của Địch luôn hoạt động) chúng tôi cũng vẫn liên lạc chặt chẽ thường xuyên với Quân Bạn, và hướng dẫn oanh kích thật chính xác mục tiêu, gây nhiều nỗi kinh hoàng cho Địch Quân cũng như những tổn thất trầm trọng cho đối phương.

Thời tiết thường xấu, nhất là tại các vùng hành quân, mây, mưa, gió, đạn Phòng Không vẫn là những đe dọa thiết thực đối với KQ.

Mặc dù vậy, chúng tôi đã tình nguyện gia nhập Quân Chủng Không Quân, làm việc trong đơn vị tác chiến, nên cho dù hiểm nguy cách mấy, chúng tôi vẫn không sờn lòng.

Có lao vào vùng lửa đạn, mới có những cảm giác “không tả”, “vô lường” vì cao xạ phòng không của Địch lúc nào cũng đan từng mảng lưới lửa đạn, và tạo thành từng rừng bông khói trắng từ 8, 10, 12 đến 14 ngàn bộ….Điều đó có nghĩa là: Phi cơ lúc nào cũng bay trong tầm hiệu quả của Phòng Không Địch!

Phương thức “né đạn” là phải bay lượn thường xuyên, nhất là những lúc xạ kích hoặc chỉ điểm, chúng tôi phải rất cảnh giác và khéo léo “Xàng qua, Xàng lại” để tránh đạn của Địch.

Thông thường mọi người vẫn quan niệm “Đạn tránh người” nhưng thực tế ở chiến trận “Hành Quân Hạ Lào” này, thì…”Người phải tránh đạn”!!!

Vì OV10 có thể bay được bằng chong chóng và phản lực, nên rất lợi hại, muốn bay chậm hay bay nhanh đều dễ dàng hành động, cũng vì ưu điểm đó, mà giờ này tôi mới còn có cơ hội ngồi viết bài này!

Mỗi Phi vụ ở Chiến trường Hạ Lào, tưởng chừng như gấp 5, gấp 7 lần so với những Phi vụ ỡ vùng IV hay ở Miên, luôn luôn được ăn “G”, Black out và red out, là chuyện “cơm bữa”.

Ngày mới ra đây, Phi vụ đầu tiên chưa quen, có anh đã “cho chó ăn chè”, phần đông thì cũng rất mệt mỏi và…thần kinh giao động!

Nhưng khi “quen nước quen cái” rồi, thì bổn phận, trách nhiệm đã lấn áp tất cả, có khó khăn, gian nguy, mới nảy sanh lòng quyết thắng, khả năng và kinh nghiệm mới có cơ hội được thể hiện tròn nét,

Vâng, những ngày biệt phái từ vùng IV ra vùng I, để tham dự trận đánh lịch sử Hạ Lào đã qua rồi, nhưng nó vẫn còn mãi với những kỷ niệm vàng son, trong muôn vàn kỷ niệm nối kết của cuộc đời xông pha lửa đạn, mong có một đất nước Việt Nam Hòa Bình Thịnh Trị, muôn người như một, sống chan hòa tình thương đồng loại.

Tưởng cũng nên đan cử ra đây, một vài kỷ niệm, mà chính nó đã tô thành những nét son chói đỏ trong lịch sử chiến tranh Đông Dương, một niềm hãnh diện lớn lao cho Sư Đoàn IV KQ cũng như Phi Đoàn 116 vậy.

Đồi 31 là một cao điểm Quân Sự do Tiểu đoàn 39 Biệt động Quân trấn giữ. Trời hôm đó hơi xấu, trần mây thấp, mà áp lực địch có phần nặng hơn mọi ngày, Địch với súng cối, hỏa tiễn, bắn như mưa bão lên đồi, khói lửa và cát bụi bốc cao mịt mù, đồng thời xe Tăng và Bộ Binh Bắc Việt kéo ào ạt lên đồi, như chốn không người, Đại úy Tôn Thất Tân (PĐ110) và Đại úy Nguyễn viết Trường (PĐ 116) đã cố gắng tập trung các Phi tuần Phản Lực của Hoa Kỳ, để dội những trận mưa bom xuống Địch, hòng đập tan âm mưu dã man của chúng, hàng loạt MK82, BLU27, BLU32, rơi xuống như vũ bão, khiến Địch Quân khựng lại. Nhưng, rất sui, khi đó có một Phi cơ loại F4C bị trúng đạn phòng không, hai Phi Công Hoa Kỳ nhảy dù xuống đất, thế là theo lệnh của trên, tất cả các Phi Công Mỹ được lệnh bỏ Đồi 31, để cấp cứu hai Phi Công bị nạn này,

Đại úy Tân và Đại úy Trường đành nghẹn ngào và uất hận khi chứng kiến Địch quân tràn ngập đồi 31!

Trước đó mấy ngày, Đại úy Nguyễn viết Trường đi bay với một trung uý Mỹ trên loại máy bay VO10, anh được biết có một Phi hành đoàn trực thăng Hoa Kỳ gồm 07 người, đã bị trúng đạn phòng không của địch, họ đã sống trong nỗi kinh hoàng trong 02 ngày 03 đêm, mọi phương tiện cấp cứu của Hoa Kỳ đều thất bại, Phi cơ đến cứu không vào được mục tiêu vì hỏa lực Địch mạnh vô cùng.

Đại úy Nguyễn viết Trường ( PĐ 116) quan sát mục tiêu, khi biết có thể liên lạc trực tiếp với Phi hành đoàn bị nạn, anh đã cho biết với kinh nghiệm bao năm chiến đấu với Cộng Quân, anh có thể cứu được 07 người Mỹ này, và chỉ cần thời gian là nửa ngày mà thôi!

Sau khi được sự chấp thuận của hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ, anh bắt đầu tiến hành những phương cách của riêng mình nghĩ ra,

Thoạt tiên, anh đề nghị cho oanh kích dữ dội một mục tiêu cách xa đó, với mục đích đánh lạc hướng suy nghĩ của Địch quân, trong lúc đó anh đề nghị cho “đổ” một toán Hắc Báo cách nơi toán lâm nạn khoảng 10 Km, rồi hướng dẫn họ đến mục tiêu giải cứu 07 quân nhân Hoa Kỳ, để giữ an toàn cho đám Hắc Báo, anh đã cho thả bom theo hình chữ U xung quanh toán Hắc Báo,

Phi Tuần, F.A.C, và toán Hắc Báo đã được phối hợp một cách nhịp nhàng và hữu hiệu, dưới tài điều động của Đại uý Nguyễn viết Trường, kết quả toán Hắc Báo đã đến nơi chỉ định an toàn.

Khi toán Hắc Báo và Phi đoàn thọ nạn liên lạc được nhau, sẵn sàng thực hiện việc giải cứu, Đại uý Trường đề nghị cho thả bom theo hình chữ L và hướng dẫn trực thăng đến “bốc” toàn bộ mọi người về căn cứ Khe Sanh, theo hướng do anh chỉ định.

Thời gian cấp cứu vỏn vẹn đúng nửa ngày, theo như tiên đoán của anh. Thật là một Phi vụ tuyệt vời,

Câu trả lời cho các báo chí ngoại quốc của Đại úy Trường là:

“ Bất cứ một người Việt Nam nào khi gặp trường hợp như anh, đều làm được như anh, có khi còn hay hơn anh nhiều”.

Kết quả, Đại úy Nguyễn Viết Trường được tuyên dương và gắn huy chương tại Bộ Tư lệnh Không Quân, là chiến sĩ xuất sắc, được đi du ngoạn Đài Loan, Hồng Kông, và được báo chí Việt Nam, và báo chí Mỹ đăng hình và phỏng vấn.

Trong một Phi vụ khác, Phi hành đoàn gồm Đại uý Hudges và Đại úy Mai trí Dũng (PĐ116) cùng bay trên OV10, số đuôi 789, cất cánh lúc 16 giờ 15 phút, tại căn cứ Ái Tử, đến vùng hành quân, hướng dẫn 02 Phi cơ A6 oanh kích tiếp cận, cho một vị trí của Dù, tình hình rất nguy khốn, vì Địch quân vây hãm và tấn công dữ dội…

Lúc xuống bắn Rockets để đánh dấu mục tiêu, ở cao độ 5000 bộ, phi cơ trúng một loạt phòng không của Địch, động cơ ngưng hoạt động, khi kéo lên, cũng bị thêm một loạt cao xạ khác, làm nổ tung ổ đạn Minigun bên trái, nhưng cả hai đồng quyết định cố gắng bay về Đà Nẵng đáp, vì có nhảy dù ra ở đây cũng chết vào tay quân thù, rất may mắn, đáp Đà Nẵng an toàn,

Phi hành đoàn quả là gan dạ và “hết xảy”!

Những Phi vụ nêu trên, cho thấy khả năng và lòng can đảm của những người Không Quân chúng tôi có thừa!

Nhưng cuộc chiến Việt Nam với nhửng ràng buộc vào Đồng Minh, đã ít nhiều ảnh hưởng đến tinh thần và lòng yêu nước của chúng tôi!

Đến nay, Lịch sử đã sang trang, những người đáng phải thắng lại thua, những người đáng phải thua lại thắng!

Đất nước Việt Nam còn nhiều trăn trở, lắm đau thương, cho đến nay mấy chục năm Trời đã trôi qua, nhưng những chứng nhân lịch sử vẫn ít nhiều còn tồn tại, họ đã, đang và sẽ nghĩ gì? Hành động gì? Chắc không ai trong chúng ta không biết và không hiểu, hơn nữa có một điều khẳng định được:

Họ đã một thời vì lòng yêu nước, vì chính nghĩa Quốc Gia, đã cống hiến tuổi thanh Xuân cho Quê Hương đọa đầy này!

Thật đáng trân trọng lắm thay!

SA GIANG

(NGUYỄN VĂN ĐỨC PĐ116)




PHẬT SỐNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG

1 câu chuyện có thật

Sinh ra tại Edinburgh (Scotland) nhưng Scott Neeson đã chuyển tới Australia định cư khi mới 5 tuổi. Ông là con trai của một lao công và một quân nhân. Năm 17 tuổi, Scott quyết định bỏ học và sống dựa vào tiền trợ cấp thất nghiệp. Nhờ chương trình hỗ trợ của chính phủ, ông được nhận vào vào một rạp chiếu phim là nhân viên kỹ thuật phòng chiếu.

Câu chuyện nhẽ ra sẽ kết thúc tại đây nếu không phải Scott là người khá tham vọng và tràn đầy nhiệt huyết. Người đàn ông này kiên trì leo lên từng bậc thang trong ngành điện ảnh, từ một nhân viên phát hành phim đến nhân viên kinh doanh phim. Cuối cùng, mọi công sức của Scott cũng được đền đáp khi ông được bổ nhiệm là Giám đốc Chi nhánh Australia của hãng 20th Century Fox (nay là 20th Century Studios thuộc Disney).

Bước ngoặt đến với Scott vào năm 2000 khi ông chuyển tới Los Angeles để tiếp quản vị trí trong mơ – Chủ tịch của 20th Century Fox International. Ông có thu nhập hơn 1,5 triệu USD/năm, sánh vai cùng với những tài tử hạng A của Hollywood trên thảm đỏ.

Chuyến đi định mệnh tới bãi rác nghèo nhất Campuchia
Trong 10 năm tại Fox, Scott đã có một sự nghiệp thành công rực rỡ, giám sát nhiều bộ phim có doanh thu cao nhất thời đại như Titanic, Star Wars, and X-Men. Đối với nhiều người, vị Chủ tịch sở hữu mọi thứ trong tay: một vị trí quyền lực trong ngành phim, những người bạn nổi tiếng, một căn biệt thự nguy nga, siêu xe và du thuyền.

Tuy nhiên, ông vẫn cảm thấy thiếu điều gì đó. “Tôi nghĩ là mình có vấn đề. Càng kiếm được nhiều, tôi càng không hạnh phúc”, ông tâm sự.

Năm 2003, chỉ vài tuần trước khi nhận vị trí mới ở Sony Pictures, Scott tới Phnom Penh (Campuchia) để du lịch. Chuyến đi 6 tuần này đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông.

“Tôi muốn xem nơi nghèo nhất đất nước”, Scott nói. “Họ đưa tôi đến Stung Meanchey – một bãi rác sâu hơn 90m và rộng hơn 100.000 m2”.

Tại đây, Scott chứng kiến hơn 1.500 đứa trẻ đang nhặt nhạnh giữa cái nóng hơn 50 độ C, xung quanh là đống rác đang phân hủy đầy và thải khí mê-tan, còn mặt đất như bị nung chảy. Ông còn bị bỏng ở chân do không để ý nơi mình giẫm lên. Khắp nơi nồng nặc mùi hôi thối.

Nhiều đứa trẻ ở đây bị cha mẹ bỏ rơi vì nợ nần, ốm đau, nghiện rượu hoặc tái hôn. Chúng buộc phải tìm phế liệu ở bãi rác này để đam bán, hôm nào may mắn thì được khoảng 1 USD (khoảng 23.000 VNĐ)
Scott muốn giúp những đứa trẻ này, nhưng ông có thành kiến với các tổ chức từ thiện. Cựu Chủ tịch 20th Century Fox sợ tiền không đến tay các em, lại lo “một cây chẳng làm nên non”.

“Lý do thứ ba: Đây vốn không phải là chuyện của tôi”, ông nói. “Tại Mỹ, bạn như đang sống ở bên kia thế giới. Bạn trả tiền thuế và chính phủ có quyền quyết định các khoản viện trợ nước ngoài”.

Tuy nhiên, bản chất lương thiện khiến Scott không thể lờ đi hoàn cảnh của lũ trẻ.

“Tôi biết chúng sẽ không bao giờ rời khỏi bãi rác nà. Chúng sống ở đây, chết cũng ở đây. Chúng có thể trở thành nạn nhân buôn người. Những bà mẹ sẽ sinh con tại đây. Điều này chẳng khác nào tận thế. Thật kinh khủng”, ông nói.

Khi thấy một đứa trẻ 9 tuổi đi ngang qua mình trong bộ dạng rách rưới, Scott đau lòng khôn xiết. Bụi bẩn, rác thải bám đầy người đứa trẻ, khiến ông còn chẳng thể nhận ra em là trai hay gái. Chỉ mất 90 phút và 35 USD tiền phí dịch vụ, Scott đã giúp đứa trẻ đó được tới trường và có tiền trang trải sinh hoạt hàng tháng.

Đây cũng là lúc mọi hoài nghi về từ thiện biến mất trong lòng ông.

“Là một con người, là một sinh vật đang sống trên Trái đất này, đây là nghĩa vụ của tôi. Tôi không ngờ rằng việc thay đổi số phận của đứa trẻ đó lại dễ như vậy”, ông cho biết.

Cuộc sống giằng xé giữa hai thế giới giàu – nghèo
Khi quay về Mỹ để bắt đầu công việc mới, Scott Neeson tự hứa sẽ không để bản thân rơi vào cảnh khủng hoảng tuổi trung niên thường thấy tại Los Angeles.

“Tôi đã làm việc hơn 26 năm trong ngành điện ảnh. Từ một nhân viên kỹ thuật chiếu bóng tại rạp phim lưu động, tôi đã nỗ lực hết mình để có ngày hôm nay. Tôi sẽ không vứt bỏ mọi thứ đi như vậy”, ông thuyết phục chính mình.

Tuy nhiên, khao khát được giúp đỡ lũ trẻ khiến Scott suy nghĩ rất nhiều. Trong một năm sau đó, cựu Chủ tịch 20th Century Fox vừa làm việc tại Hollywood, vừa tới Campuchia để làm thiện nguyện.

Có hai thế giới song song tồn tại trong cuộc sống của ông: Mỗi tháng, ông sẽ dành 3 tuần để giải quyết công việc, ngồi ghế hạng nhất trên máy bay, tham dự giải Oscars, gặp gỡ các ngôi sao điện ảnh, kiếm cả triệu USD/năm. Sau đó, ông sẽ gửi số tiền này đến Campuchia.

“Điều tôi không tính tới là những sang chấn tâm lý do phải liên tục chuyển đổi giữa hai thế giới khác nhau trong vòng 24 tiếng. Một bên là lối sống buông thả và xa hoa, một bên là bãi rác nghèo nàn và tồi tệ – nơi lũ trẻ có thể chết trước mặt bạn chỉ vì thiếu sự chăm sóc y tế cơ bản”, ông nói.

“Tôi không thể sống giữa hai thế giới như vậy được”.

Dù vậy, phải đến khi chứng kiến một khoảnh khắc sinh tử khó quên, Scott Neeson mới hạ quyết tâm buông bỏ tất cả.

Vào thời điểm đó, cựu Chủ tịch 20th Century Fox đang đàm phán với một diễn viên nổi tiếng cho bộ phim sắp công bố. Xong việc, ông bay tới Campuchia, còn ngôi sao kia đến Tokyo (Nhật Bản).

Scott tới thẳng bãi rác và gặp bốn đứa trẻ mồ côi dưới 10 tuổi. Các em đang hấp hối và không ai có thể đưa các em tới bệnh viện. Ông hoảng sợ và không biết mình nên làm gì.

Đúng lúc ấy, nam diễn viên vừa bay tới Tokyo kia gọi điện cho Scott. Anh ta khá bực mình vì công ty ông đã cung cấp sai tiện nghi trên chuyên cơ. “Tôi không nên bị làm khó như vậy”, ngôi sao đó phàn nàn.

“Đó là điều anh ta đã nói với tôi, khi tôi đang đứng trước mặt những đứa trẻ hấp hối”, ông nhớ lại. “Chính giây phút ấy đã thức tỉnh tôi; mọi nỗi lo lắng về việc bỏ Hollywood để tới sống ở Campuchia đều biến mất. Đó là tín hiệu rõ ràng nhất cho thấy tôi đang đi đúng hướng”.

Ngay lập tức, Scott trở về Los Angeles và xin từ chức vào ngày thứ Hai.

Không phải ai cũng nghĩ quyết định của Scott là đúng đắn. “Cả thế giới đều cho rằng tôi bị điên khi từ bỏ công việc trong mơ đó”, cựu Chủ tịch 20th Century Fox nhớ lại. “Nhưng tôi không cần nó nữa”.
Năm 2004, Scott chuyển hẳn tới Campuchia và thành lập Quỹ Trẻ em Campuchia (CCF). Tổ chức này giúp đỡ các cộng đồng nghèo đang sống nhờ bãi rác ở Steung Meanchey, cung cấp các chương trình giáo dục, lãnh đạo, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc trẻ em và hướng nghiệp.

Để có tiền, Scott không ngần ngại từ bỏ mọi thứ mình sở hữu. Ông bán biệt thự sang trọng ở Los Angeles, tổ chức một buổi garage sale (bán đồ cũ) để loại bớt “những thứ vô dụng” trong nhà. Kể cả siêu xe Porsche và du thuyền ông cũng không cần tới.

Vứt bỏ hào quang Hollywood để tới bãi rác làm từ thiện
Khi mới bắt đầu, mục tiêu của Scott chỉ là đưa 80 trẻ em ở bãi rác Stung Meanchey đến trường. Năm 2007, khi con số này lên tới 200 em, CCF đã thành lập một trung tâm cộng đồng, xây dựng các trường học lưu động, cung cấp nước sạch, lương thực và các dịch vụ cơ bản cho người dân nơi đây.

Năm 2009, bãi rác khổng lồ này chính thức đóng cửa. Số học sinh tại CCF cũng đã đạt số lượng 500 em. Tổ chức này mở thêm nhiều phòng khám tại địa phương, cung cấp dịch vụ y tế và tư vấn miễn phí cho người dân ở mọi lứa tuổi.

“Tôi khiến nhân viên phát điên”, Scott nói về 300 cấp dưới của mình, nhiều người trong số họ cũng từng lớn lên ở bãi rác. “Nếu nghĩ ra một kế hoạch nào đó, tôi muốn nó được thực hiện trong vòng 48 tiếng. Bạn không muốn mọi người phải chịu khổ quá lâu”.

Điều khiến Scott ấn tượng nhất về lũ trẻ là dù sống trong cảnh khốn cùng, chúng không bao giờ vòi tiền.

“Mỗi lần tôi đến bãi rác, các em sẽ chạy theo tôi và nói: ‘Som tov rien’ (Xin hãy cho cháu đi học)”, ông nhớ lại. “Thật khó để nói không, bởi đơn giản là chúng chỉ hỏi xin một cơ hội”.
Trong vòng 16 năm qua, Scott Neeson đã thay đổi hoàn toàn số phận của hơn 3.300 mảnh đời bất hạnh ở đây. Sreyoun – cô bé 9 tuổi năm xưa được ông cứu giúp – đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành tài chính và kinh tế vào năm 2019. 80% số trẻ được CCF hỗ trợ đều vào được đại học, theo đuổi các chuyên ngành như luật, kỹ sư xây dựng dân dụng, tâm lý học…

Vị doanh nhân này cũng chia sẻ rằng ông nhớ mặt, nhớ tên của từng đứa trẻ mà mình đã cứu, bởi “mỗi em là một cuộc hành trình”.

Bên cạnh đó, Scott cũng có nhiều đóng góp tích cực trong việc giảm tỷ lệ tử vong ở sản phụ và trẻ sơ sinh tại Stung Meanchey. Ông còn cùng người cao tuổi ở đây khôi phục lại những giá trị truyền thống đã mai một tại Campuchia, để thế hệ trẻ có thể hiểu hơn về văn hóa nước mình.

Giờ đây, Scott Neeson vẫn sống một cuộc đời giản dị ở Phnom Penh, tiếp tục theo đuổi sứ mệnh cứu người của mình. Ông thường mặc áo phông và quần canvas trắng, chân đi đất, nhìn như dân Campuchia thứ thiệt.

Trên bức tường trong văn phòng ông, bên cạnh những chiếc poster phim có chữ ký người nổi tiếng là hàng trăm tấm ảnh trước-và-sau của từng đứa trẻ được cứu giúp.

Sống quá lâu ở Campuchia, Scott Neeson đã thấm nhuần không ít tư tưởng Phật giáo. Ông hiểu rằng mình phải thay đổi bản thân trước khi thay đổi những số phận ngoài kia.

“Bạn phải bỏ đi cái tôi của mình”, ông nói. Đây chính là lý mà vị doanh nhân này cố gắng rèn luyện để vượt qua sự phán xét của chính mình và người khác, kiên trì với lý tưởng của mình.

“Tôi chưa từng cảm thấy vừa không có gì, vừa có tất cả như lúc này”, Scott bày tỏ. “Về mặt vật chất, tôi không còn gì. Nhưng lạ thay, tôi cũng không cần chúng. Đó là một cảm giác tuyệt vời. Nó đem lại sự tự do tuyệt đối”.

“Sống ở Hollywood có nhiều lợi ích – những chiếc xe limo hiện đại, những chuyên cơ đắt tiền, những cô bạn gái xinh đẹp, được tham dự Oscars. Tuy nhiên, đó không còn là lối sống mà tôi theo đuổi nữa, khi tôi có thể thay đổi cuộc sống của hàng trăm đứa trẻ theo hướng tốt hơn”.

Scott Neeson tâm niệm rằng ông chính là người may mắn nhất thế gian này.

“Có những người sống cả một đời mà chưa từng trải qua giây phút giác ngộ như khi tôi gặp lũ trẻ ngày ấy tại bãi rác Stung Meanchey. Tôi cảm thấy thật may mắn”, vị doanh nhân mỉm cười nói

(Theo CCF, Csmonitor, Lion’s Roar)




TẠ ƠN ĐẤT HỨA

    CAO MỴ NHÂN 

Khi còn ở quê hương VN xa vời, tôi thường nhận được những tấm thiệp hoa, cùng hình ảnh người thân, bạn hữu ở Mỹ gởi về, viết là : ” Ngày lễ Tạ Ơn, đang vui sum họp ” . 

Bấy giờ tôi chưa hiểu được toàn vẹn danh nghĩa ngày lễ Tạ Ơn ngoài dòng chữ rất đẹp :” Thanksgiving Day ” . 

Tất nhiên đó là một ngày lễ Tạ Ơn rồi . Nhưng lịch sử và sinh hoạt nó như thế nào chứ ? 

Song cũng không phải là điều bức thiết khiến tôi phải tìm hiểu ngay, giữa chuỗi ngày cứ chất chồng lên nhau : 

Sống lam lũ , tối tăm, u uất ở xã hội cộng sản vô thần, vô sản, vô tâm, vô ý thức . 

Và mơ ước được sống trong không khí giàu sang, cơm ăn áo mặc dư thừa, tinh thần thoải mái, thanh cao, đức tin chan hoà sùng thượng …

Tất nhiên là thoát khổ, thoát nghèo rồi . 

Cho tới một ngày, chương trình HO mở rộng, gia đình tôi đã đến được Hoa Kỳ vào đầu thập niên cuối thế kỷ vừa qua, chúng tôi đã được hưởng một ngày lễ Tạ Ơn của USA  bao hàm ý nghĩa …cảm tạ trời đất vv…

Có thể hiểu từ những năm 1621 xa xưa, tới khi tôi biết được sự trù phú lương nông, hoa màu sơ khởi đã trải qua bao thời kỳ khai phá, để hình thành nên một xã hội trù phú, tân tiến như  thủa nay, hỏi sao không cám ơn Thượng Đế đã khiến trời đất nở hoa chứ . 

Gia đình tôi được sống trong ân sủng của Đấng Tối Cao, Tối Đại vô cùng, kể từ mùa Lễ Tạ Ơn năm 1991 ấy . Chắc đó cũng là dịp chúng tôi cảm tạ tất cả những gì liên hệ tới cuộc sống tôi ở xứ xở lưu vong này . 

Không biết quý vị trưởng thượng, cao niên từ nơi quý tộc tới chốn bình dân có khái niệm gì về chú gà tây, chứ tôi xin thú thực rằng hồi ở quê hương ” nghèo nàn lạc hậu ” , chưa bao giờ tôi nghĩ mình có thể xơi một miếng gà tây.

Trước hết cái gì bé nhỏ, vừa phải thôi, thì luôn luôn được ưu ái là ” ta, của ta ” thí dụ gà ta, vẫn thả rong ngoài sân vườn mỗi nhà nếu có.

Cái gì to lớn, lạ lùng hơn là có  chữ ” tây ” kèm theo ngay, như ” Gà tây ” chẳng hạn . 

Bên cạnh đó thì có : hành tây, tỏi tây, khoai tây …vv…

Thế nên , sự việc làm một con gà tây đã có vẻ kỳ lạ, mà ăn thịt nó thì chu choa, đơn đớn thế nào . 

Tôi vẫn xin thưa là theo cách nhìn quê mùa của tôi thôi. 

Do đó, cái cảnh ở chợ Mỹ kia, đã đến năm thứ ba, nghe rộn ràng ngày lễ Thanksgiving, tôi vẫn không hề nôn nao chuyện gà tây, gà tồ…

Bà chủ nhà kêu tôi chuẩn bị ra chợ Vons xếp hàng, để được chợ tặng không cho một con gà tây ăn mừng lễ Tạ Ơn . 

Nhưng tôi chỉ đi theo Julie cho biết . 

Bà ta bảo là cứ nhận con gà tây đã làm sẵn sạch sẽ đó, bà sẽ  tặng lại vợ chồng người Mễ nghèo khổ, đông con trong khu nhà tôi đang ở. 

Mãi tới 8 giờ sáng, tôi mới ôm được cái thùng carton đựng con gà tây, biểu tượng cho lòng nhiệt thành của người Mỹ Hợp Chủng Quôc , hậu thân của nhiều lớp di cư tự phát từ châu Âu đi tìm đường sinh sống . 

Bà Julie tươi cười : ” Không sao, không hầm kiểu văn hoá Mỹ , thì cứ nấu nướng kiểu gà thường VN, có sao đâu. Nấu khéo cũng ngon lắm đấy.” 

Cũng dịp đó, tôi đang làm thư ký văn phòng cho trường thẩm mỹ Redondo Beach, không khí trường lớp  có vẻ vui tươi, hồn nhiên, có lẽ tâm tính ” gà tây ” vốn cũng vui vẻ, hoan ca như vậy . 

Bà Julie lại là một giáo viên dạy Nail tóc cho trường, bà bắt đầu phụ bà giám đốc công việc buổi chiều lẽ Thanksgiving năm đó, 1993 . 

Mỗi nhân viên và học viên được tặng một phần quà , gồm một con gà tây đã làm sẵn và một chai rượu vang đỏ bự chát, e phải nặng 2 lít . 

Tất nhiên tôi cũng được, và chẳng lẽ không nhận, mất vui . 

Bà giám đốc là phu nhân một vị Thiếu tá Quân Cảnh, gốc Võ bị Quốc Gia Đà Lạt. 

Vị quan tư Quân Cảnh nêu trên là chỉ huy trưởng Trại Giam Tù binh Cộng Sản Non Nước, thuộc QDI/ QKI của …tôi , nên tôi quen từ trước 30-4-1975, ông bà đã giúp tôi việc làm thư ký trường thẩm mỹ này . 

Tôi có vẻ ngần ngừ không muốn nhận quà Thanksgiving rắc rối ấy. Phu nhân Thiếu tá Quân cảnh nói cũng tếu như chúng tôi : ” Anh, là tôi đấy, người Bắc Kỳ quốc xưa cứ hay gọi bạn gái là anh cho thân thiện , có biết từ thủa 1975, tôi, là bà ấy, sang Mỹ, thú thiệt tôi chả hề nấu cái con gà tây này đâu, nhưng hay đi ăn Thanksgiving ở nhà bạn bè ” 

Tôi tần ngần : ” Thế thì bà cho tôi làm gì chứ ? ” 

Bà cười : ” Để anh thấy ngày lễ của con gà tây, mà này hồi chúng tôi mới sang đây, người Mỹ ở miền đông tôi ở trước , gia đình tôi lại đi nhà thờ nữa, họ welcome lắm, họ bảo mấy người đã đến Đất Hứa, hãy cám ơn Thượng Đế  ” . 

Rút cuộc tôi cũng mang gà tây và rượu vang đỏ về nhà . 

Rượu vang đỏ thì cứ lâu lâu xài nó một lần trong bếp núc . 

Còn con gà tây ngồi làm cảnh trong tủ lạnh vài tuần,chẳng ai thèm xin, nên sau thời gian đó, tôi tống tiễn nó vô túi rác, gởi thùng rác cho nó đi xa. 

Sau này thì dần dà chuyện gà tây ở Hoa Kỳ trong mùa lễ Tạ Ơn Trời Đất cảnh vật mùa màng lương thực, với những người di dân từ nhiều nơi trên thế giới tới, đã trở nên quen thuộc . 

Đôi khi Thanksgiving  Day còn như một nét đan thanh của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, các sắc tộc hiện diện khắp USA , như muốn làm dáng thêm cho cuộc sống tha hương thêm phong phú, ý nhị và nhất là hoà đồng, để không còn cảm giác riêng lẻ bơ vơ nơi quê hương mới, nơi Thượng Đế đã dành cho bất cứ ai tìm tới Ngài. 

Tức là Thượng Đế đã quan phòng và biết chắc bất cứ ai đó tìm về, chạy tới, muốn được và đã hưởng lẽ sống  tự nhiên, bình đẳng của mỗi người ta ở trái đất này. 

          CAO MỴ NHÂN 




MỘT BÀI TẠ ƠN

Tạ ơn đất nước xa khơi 

Một ngày là nghĩa, một đời là ân 

Tạ ơn sông núi, tha nhân

Chén cơm quê mẹ, bao năm no đầy 

Tạ ơn xứ sở bên này 

Đại dương bát ngát hồn say thái bình

Tạ ơn huynh đệ chi binh

Từ đi bỏ lại những hình bóng quen

Tạ ơn cha mẹ anh em 

Người thân và cả nhà bên láng giềng 

Giờ thì tạm lắng ưu phiền 

Tạ ơn chiến hữu khắp miền hành quân

Tạ ơn ngào ngạt hương xuân 

Xoá đi tất cả phù vân mơ hồ 

Thủa này cho tới muôn thu

Tạ ơn anh ở hồn thơ của mình …

      CAO MỴ NHÂN 

25 – 11 – 2021




Thân Phận Người Phụ Nữ

Kiều Mỹ Duyên




Ngày Cựu Chiến Binh

Nhớ hay quên đừng lạnh lùng quay gót

Chiến tranh đã qua người lính còn đây

Tóc đã bạc, nỗi đau hờn vong quốc

Rượu ân tình, xin hẹn buổi sum vầy.

Một chút tự hào, lòng thêm đau nhói

Đêm còn mơ, bừng tỉnh cõi hư không

Vết thương xưa hằn sâu trên da thịt

Nhận nỗi buồn mà thẹn với núi sông.

Lê Tuấn

Người lính già chưa giải ngũ




(thơ song ngữ) TƯỞNG NIỆM CHIẾN SĨ TRẬN VONG của TỪ PHONG & THANH-THANH




Bến Xuân Xưa




Lời trối trăng của T.T. Ngô Đình Diệm




(thơ song ngữ) NHỮNG TẤM LÒNG NHÂN ÁI của NGỌC AN & THANH-THANH




Đọc Truyện Đội Đập Đá Trại 6 Nghệ Tĩnh Phần 1 & 2




NGƯỜI TÌNH CỦA CHAPA.

CAO MỴ NHÂN 

Mới sáng ngày ra, tôi đã nghe thấy tiếng réo gọi từ thâm tâm, chàng A Phủ muôn đời ở Chapa xưa, mà tôi không thể nào quên được dáng hình thô kệch, ngốc nghếch, ngơ ngác …bên tai, cùng tiếng gió hú nhẹ thôi, lẫn trong hơi thở dài toàn mùi thuốc lá rừng . 

Tôi tung mền ngồi dậy, nhìn ra cửa sổ, mặt trời hôm nay mầu vàng, không thật đỏ thắm như mấy tuần trước đây, có nghĩa là khí lạnh của sương đêm còn bao phủ . 

Đó là mầu mặt trời ở lâm nguyên nhiều cây cao và ghê hồn như lúc nào cũng có ma đứng cạnh …

Và đó cũng là mầu mặt trời đẹp nhất, vào những ngày trong sáng nhất, ấm áp nhất ở nơi tôi đã được sinh ra, CHAPA, vâng , tôi muốn kể hay chỉ cần nhắc lại thời thơ ấu, niên thiếu, quanh ngôi nhà có 3 mặt tường là kiến thật dày, còn vách tường phía sau đã áp vô đá núi . 

Đó là hình ảnh đầu tiên tôi thường thấy mỗi năm vào dịp xuân về, cùng hình ảnh chàng a phủ bất biến trong tâm tư tôi, mỗi mùa xuân tôi trở lại gặp chàng, người tình cổ quái của Chapa thủa đệ nhất bán thế kỷ 20 vừa qua, nghĩa là trước cái năm đất nước VIỆT NAM chia đôi,  1954.

Tôi phải dựa vào chàng ta, một nhân vật thực hư ẩn hiện trong ký ức 70 năm qua. 

Ông này, chàng a phủ bây giờ rất buồn, và rất nhiều năm rồi đã rất buồn mỗi lần người mán mường ấy cô đơn đi trên con đường không còn một dấu vết cũ .

Chàng a phủ Chapa, phải chỉ danh rõ ràng là người Mèo mới đúng. Cho dẫu sau này , tôi được biết không còn danh xưng Mèo nữa , mà nào là H ‘Mong, nào Miêu, Dao,thậm chí còn kêu chàng là Miu gì đó …

Nhưng là chi thì là, với tôi thủa ở Chapa trước khi phải về châu thổ sông Hồng Hà, tôi vẫn thấy dân chúng sinh sống ở lâm nguyên này, vẫn chỉ nói với nhau 2 chữ : người Mèo . 

Thế thì đã hơn một lần tôi kể với quý vị là người Mèo, mà trong đó có chàng a phủ chung chung kia, cư ngụ trên những vạt núi cao nhất, phía tầng thấp hơn của núi non là xã hội của người Mán . 

Rồi cứ như thế, càng gần thế giới người Kinh, tức Việt tộc văn minh, tiện nghi là các sắc tộc cơ bản như : Mường, Tày , Nùng ( còn gọi là Nông ? ) , Sáng sủa đẹp mắt vẫn là người Thái ( Thái trắng, Thái đen ) . 

Trở lại Chapa như tôi muốn kể  hôm nay về chàng a phủ cùng những gì chung quanh chàng ta…

Sáng nay A Phủ nhắc rằng : ” Có thấy mùa xuân sắp về không , cho dẫu còn mùa trăng đông rét mướt nữa , nhưng trong khắp các buôn bản, nhất là ở lũng Mường Hoa, không khí sinh tồn rất lạ . ” 

Còn những hơn trăm ngày nữa mới thấy mặt mùa xuân, sao bản Mường Hoa mừng rỡ điều chi vậy chứ ? ” 

À, họ ra sức thay đổi những luống hoa, họ ra sức dệt thổ cẩm đủ mầu như sắc hoa ngoài trời , nhất là họ tự may những xiêm y sặc sỡ , không phân biệt tuổi tác, họ thảnh thơi sống giữa thiên nhiên …

Thì vốn từ xưa vậy rồi, có chi khác hơn đâu ? 

Hơn chứ, hơn nhiều lắm , dù không phải hơn theo tiếng hú vượn xa, tiếng chim gần nhà vv… mà chúng ta không thể tìm thấy một Chapa thơ mộng, thần thoại nữa . 

Tôi rời Chapa đi lâu quá rồi, tôi không hiểu những điều bạn nói a phủ à. 

Thế này nhé, chữ CHAPA, đã chỉ còn trong ký ức những ai sống ở đó mấy chục năm xưa rất xưa thôi. Chapa nay kêu là SA PA, vâng SA PÁ , chính là Sa PÁ nguyên bản của H’ MONG đấy, người Trung Hoa lại làm rõ nghĩa ra SA PA là Bãi Cát . 

Thế thì từ đây, chúng mình cứ kêu BÃI CÁT cho hiểu ngay nha. 

Được, cũng có nghĩa là ngày xưa, tôi được sinh ra nơi Bãi Cát ư ? Thì có sao đâu.

Đừng liên tưởng máy móc vậy, bạn vừa nói ngôi nhà thủa bé thơ bạn ở với cha mẹ, là ngôi nhà ” thần thoại ” toàn vách tường bằng kiến cơ mà, ô nhà như các lâu đài trong chuyện cổ tích vậy nhỉ ? 

A , đó chỉ là ” Nhà chức vụ ” ba tôi được cấp từ thời Tây, ba tôi không làm công việc giám đốc sở máy điện kiêm sở máy nước Chapa, sẽ không được ở nhà đó nữa . 

Một loạt những vị công chức cao cấp ở Chapa thời đó như ba tôi, đều có nhà ở như vậy , bởi lẽ Chapa là làng nghỉ mát của những ông tây bà đầm người Pháp sống trên toàn cõi Đông Dương thời Pháp thuộc, nên không lạ khi Chapa mang mầu sắc Âu Châu từ buổi đầu tiên khai sáng, đầu thế kỷ 20 vừa qua. 

Đứng trước một rừng đào cánh kép tươi vui, rực rỡ, người ta dễ quên đi những bộn bề ý thức, tư duy mà sau này  có thể hiểu  phạm trù ý thức hệ, thì Chapa thủa đó chính là ngưỡng cửa của thiên đường nơi hạ giới Việt Miên Lèo, mà thực dân Pháp tóm gọn trong 2 chữ Đông Dương quen tai. 

Và nếu quý vị cần biết chi tiết về một SA PA, hậu thân của CHAPA xưa, lập tức có hằng trăm phương tiện giúp quý vị đi tới một SA PA, không phải CHAPA, nơi sanh quán của tôi. 

Do đó tôi không tổng hợp công việc của một hướng dẫn viên du lịch, tôi lại thầm thì với chàng a phủ già nua, hay có thể gọi là lão phu miền núi Fan Si Pan, tiếng Mèo là Hua Si Pan, được hiểu là Núi Đá Khổng Lồ , cao 3143 m, coi như cao nhất Đông Dương đấy . 

Nhưng với a phủ lỗi thời, thì hàng loạt a phủ hiện đại với quần jean, áo khoác da bò, hút thuốc Ăng Lê 3 số 5 , túi thổ cẩm để làm dáng với các cô gái thị thành từ nam ra bắc, quý vị sẽ không thể thấy được những đoạn đường rừng lá to bản , có ngàn loài hoa hiếm, độc, mà sắc hoa anh túc tuyệt vời tự nó thích hợp với cảm quan khách mộ điệu : không giới hạn mầu sắc, và không bó buộc hình thể. 

Bởi đó là loài hoa làm say đắm, huyễn hoặc …lòng người , hoa nha phiến, hay hoa thuốc phiện vậy . 

Lớp a phủ xa xưa không bị loài hoa trên làm đắm chìm cuộc sống, vì một lý do rất dản dị, nó từ cây độc nở ra, nhưng nó chỉ ví như hoa dại ở núi cao, rừng thẳm.

Nếu không có ánh sáng văn minh, không có phong thái huyễn hư, nha phiến hoa không được biết đến . 

Song khi loài hoa anh túc đó được thế nhân chính thức đánh giá về sắc mầu hoa bướm  thiên nhiên, hoa thuốc phiện mới xứng danh là hoa khôi thẩm mỹ . 

Có ai mang nó về nhà làm tươi đẹp khuôn viên, sảnh đường không ? Nó, hoa anh túc ấy, lại bị lẫn lộn với hoa phù dung ở các vùng đồng bằng . 

Hoá cho nên người ta chỉ mượn một chút danh nghĩa ” phù dung ” nơi các bàn đèn thuốc phiện : Khói phù dung. 

Cái chất khói phù dung này đã quấn quýt, vấn vương không ít những thi sĩ, chính khách đi tìm một thế giới hoang tưởng . 

Người a phủ cuối cùng, có lẽ vậy thật, vì lớp tuổi ông ta trẻ nhất đã sắp tròn trăm năm, ông ta thở dài chỉ cho tôi cái biên giới hoa đào dù đẹp thế , từ Lai Châu tới Cao Bằng cả trăm năm trước, nhất là từ nửa thế kỷ nay, đã phạt ngang . 

Việt Nam là Việt Nam, Vân Nam là Trung quốc , không phải vì hoa mà chín bỏ làm mười , người ta đã thực sự không thương tiếc mầu hoa đỏ như ánh rạng đông nữa . 

Biên giới hoa đào đã lở loét trầm kha . 

Bên này vực hào sâu là cây gỗ lớn, để thay thế mỗi 5 hay 10 năm sinh lợi. 

Đôi nơi còn trải thảm hoa trắng xoá, đó là hoa ban dưới trạm đường vô định ở chân núi Hoàng Liên . 

Cũng ở dưới lớp hoa ban trắng mầu tang đó, là những nấm mồ sĩ quan VIỆT NAM CỘNG HOÀ bị đi tù tập trung cải tạo, bị chôn vùi nông cạn, không có giọt nước mắt thân nhân rớt thấm ướt thân tàn, vì đường trường cách trở . 

Nghĩ cho cùng, SA PA  hay SA PÁ bây giờ, đã qua thế kỷ mới , 1/5 của kiếp người xa lạ, còn gì nơi ngưỡng cửa thiên đường đông nam châu Á nhỉ . 

Chứ nếu không quý vị sẽ hỏi là, nếu cái BÃI CÁT  Sa Pa đó cứ mặc nhiên trước thăng trầm xã hội, qua những biến thiên lịch sử, thì chúng ta có gì hay tìm gì nơi Làng Chapa ( Village Chapa ) còn được dịch ra là Xã Xuân Viên, huyện Chapa

 Tỉnh Laokay, bây giờ gọi là thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai đó . 

Như vậy, làm thế nào dịch sát tên cái Bãi Cát SA PA thuộc Phố Cổ ( Lao Cai tiếng Hoa là Lão Nhai , để nam thanh nữ tú ra Chợ Tình gặp gỡ, hẹn hò, nên duyên chồng vợ .

Ngoài rặng núi Fan Si Pan cao ngất ngưởng mà đa số dân sắc tộc quanh vùng tây bắc kêu là ” Tảng  Đá Khổng Lồ, 

hiện nay người ta khai thác thành những điểm du lịch được xếp vào hạng nhất VN, trên đó có đỉnh Hàm Rồng, sân Ngắm , sân Mây vv…

Cùng những khoanh ruộng xanh mướt bò vòng quanh sườn núi cũ, tôi tìm thấy được một chút xíu vùng Cát Cát xưa, đoạn đường đèo không dài lắm . 

Sương mù không đặc lắm, nên pha ánh nắng có chỗ  mầu hồng lạt,  có chỗ lại vàng anh như mầu mật ong. 

Tôi nói với a phủ, ngày tôi còn bé, mẹ tôi cho đi chơi Cát Cát để mua rau gì đó, cùng những trái bắp to hột mầu vàng, nhưng luộc thì mềm và bở ra, ăn thật  ngọt và bùi lắm .

A phủ lắc đầu: ” Bây giờ không có và không cần nữa, người ta thích những cái khác, người ta muốn mầu sắc Hanoi, Saigon, và cả bên Mỹ ” .

Tôi có vẻ như đi tìm một cái bóng của mình. 

Tôi thấy tôi không giống ngày xưa, và càng không giống bây giờ, buông tiếng thở dài nhẫn nhịn, a phủ ngô nghê thế mà cũng hiểu ra điều khó diễn tả của tôi. 

Cũng chẳng nên buồn, vì thời gian là cái thước đo đúng nhất, và còn là gói thuốc nhuộm muôn mầu . 

Không phải như thời đệ nhất bán thế kỷ trước, người Mèo 

dệt  thổ cẩm là để bán cho du khách, cho nghệ sĩ trình diễn, người bản địa này thích mặc đồ thời đại như quần bò, áo thung có chữ Mỹ ghi dưới  hững hình ảnh rất tây phương cơ. 

Chúng tôi trở lại thành phố, để đi đúng con đường thủa ấu thơ, từ dưới dốc lên cao, dãy nhà 2 bên đường đổi thay hoàn toan, nhưng điều may mắn nhất, là khu nhà thờ đá vẫn hình thức vậy,  chung quanh làm thêm cơ ngơi khác. 

 Khách quan thì Nhà Thờ Đá Sa Pa là điểm du lịch nặng ký nhất . 

Chị MỸ tôi, khi mới 4 tuổi đã được cha xứ làm lễ rửa tội ở nhà thờ đá này . 

Nhà Thờ Đá ở down town Sa Pa bây giờ là viên ngọc quý, là tài sản …duy nhất của xưa thì kêu Làng, nay kêu Phường Sa Pa , thuộc Thị xã Sa Pa, tỉnh Lao Cai, nơi chỉ rộng 9274 m vuông với dân số cơ bản là 8975 người, thống kê năm 2009 , không kể du khách thay đổi thường ngày . 

Vẫn đứng ở khu Nhà Thờ Đá SA PA, tôi ngó lên cái dốc trước mặt, lưng chừng độ 2/3 con dốc là nhà ba tôi xưa, 1/3 lên đỉnh núi, và tất cả phần đất chung quanh núi là khu rừng đào cánh kép, mùa xuân hoa nở bạt ngàn như xác pháo toàn hồng ở miền suôi. 

Ngoài cửa lớn từ đường đi vào lòng nhà thờ là cội đào cố hữu , hay cây đào cựu cảm , bởi chưng ai biết Sa Pa  rành rẽ cho bằng A Phủ, người tình vĩnh cửu của CHAPA trong rất xa xăm huyền thoại bản Mèo thân quen, đã mất hút…

            CAO MỴ NHÂN 




Đọc Truyện Hồi Ký Đội Đập Đá. Trại 6 Nghệ Tĩnh Phần 1.




Sài Gòn Buồn – So Sad Saigon City

Đỗ Vẫn Trọn – Thanh Thanh

Sài Gòn Buồn


Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Tiếng hàng rao tắt lịm trong đêm

Những em bé đánh giày không còn thấy

Người bán vé số, kẻ ăn xin, giờ co cụm nơi đâu?

Những con đường, ngõ hẻm lặng thinh!

Chiều nay được tin em mất!

Sài Gòn buồn nhỏ lệ thương đau

Xác em giờ ở mãi nơi đâu?

Bình Hưng Hòa hay lò thiêu nào đó?

Không tang lễ, không người đưa tiễn!

Không họ hàng bái biệt hương linh

Em cô đơn về nơi vô định

Sài Gòn buồn, đánh mất phồn hoa

Sài Gòn giờ giới nghiêm

Sài Gòn u tịch phảng phất trầm hương

Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Vườn Tao Đàn vắng hẳn bước chân vui

Công viên buồn nhớ bóng ai qua

Dáng em ngồi hờ hững giữa mùa thi

Phố đi bộ chào quên người viễn khách

Nguyễn Trãi về trống vắng hơi đêm

Phố xá đìu hiu, trống trải

Tiếng còi xe như ngừng thở đêm qua

Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Buổi chiều hẹn không còn nắng rực

Bến Bạch Đằng gió lộng theo sau

Hoài mong chờ người qua bến đỗ

Em đâu rồi!

Biền biệt nơi đâu?

Nhớ Sài Gòn, lòng giăng nhiều cảm xúc

Những bạn bè, hàng quán thân quen

Những trưa về đón đợi ở Gia Long

Bao nhan sắc làm cho người khốn đốn

Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Chuông giáo đường không còn ngân thánh

Đức Bà buồn quy tích trăm năm

Tan Lễ về không cùng em xuống phố

Chủ nhật hồng đâu nữa trong mắt nhung

Bụi đường, xe cộ, đèn xanh/đỏ

Lê Thánh Tôn yên ắng lạ thường thay

Bàn Cờ, Tân Định hiu hắt đêm về

Phạm Ngũ Lão buồn xo người khách lạ

Duy Tân đổ bóng chiều hoang phế

Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Sài Gòn những cơn mưa buổi chiều

Không còn dòng người vội vã

Đâu xe cộ chen nhau hối hả

Không dù che, màu sắc áo mưa thưa

Cả mặt đường chỉ mỗi tiếng mưa rơi

Anh nhớ mãi ngày ta cùng sánh bước

Nắm tay em trong nắng sớm ban mai

Sài Gòn thả bộ trên đường phố

Bóng em về òa vỡ hân hoan

Sân trường cũ tóc dài bên áo trắng

Anh đứng nhìn quên cả tiếng chuông vang

Hàng phượng vĩ ngập đầy trong ánh mắt

Con đường về dẫn lối lá me bay

Nhớ Sài Gòn như lòng đang chảy máu

Nước mắt rơi theo từng người lâm bệnh

Sài Gòn của tôi, Sài Gòn của em

Giờ như chiếc lá vàng ủ rũ

Người quét đường ngơ ngẩn nhìn theo

Sài Gòn ơi! Sài Gòn đầy kỷ niệm

Góc thiên đường còn mãi đâu đây

Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Sài Gòn đầy thương nhớ!

Sài Gòn bật khóc

Sài Gòn im lặng đáng sợ!

Sài Gòn của tôi đâu?

Bóng kiêu hãnh giai nhân huyền thoại

Ủ rũ lòng một thoáng nhớ hương xưa

Sài Gòn, nhịp sống như ngừng thở

Kẻ tật nguyền mất hẳn trong đêm

Sài Gòn buồn, giờ giới nghiêm

Những chiếc xe nối đuôi về quê cũ

Tìm an bình nơi những cánh đồng xanh

Mơ Sài Gòn lặng lẽ hồi sinh

Thầm ao ước một ngày trở lại

Sài Gòn buồn như chưa từng có

Khắc khoải lòng thương nhớ, Sài Gòn ơi!

Đỗ Vẫn Trọn

San Jose, ngày 28 tháng Bảy năm 2021

So Sad Saigon City


Saigon under permanent curfew is so sad.

The cries are no longer heard at night – it’s bad!

The shoeshine boys are no longer seen.

Where the lottery sellers, beggars, have been?

How silent is each street, alley, wayside!

This evening I learned that that child already died!

Saigon is grievous to drop bitter tears somehow.

But what’s happened to his corpse now?

Bình Hưng Hòa or a certain crematory?

Without funeral, mourners – such sob story!

No relatives kowtowing to take leave of his soul

That errs to the unknown beyond all alone in dole.

Saigon is sorry to have lost its bonanza prime.

Saigon fell under this permanent curfew, triste time.

Spleenful agarwood and incense waft through the air.

Saigon under the current curfew is so bare.

In Tao Dan are absent the footsteps recently snappy:

The garden is missing the then people so happy,

The schoolgirl sitting absorbed in her coming tests,

The walking lane welcoming the strange guests.

Currently is deserted Nguyen Trai Boulevard,

The roads, shops forlorn, emptied, barred.

The car horn has stopped sounding since last night.

Saigon under permanent curfew – What a bite!

No more sunlight on the late evening date.

Along Bach Dang marina the draught did not bate.

Looking forward to seeing my sweetheart,

Alas! From me she kept herself apart,

Where are you now, my dear?

Reminiscing about Saigon, my emotion is still clear.

The old friends, the familiar shops as a rule,

The afternoons waiting at Gia Long girls’ school:

How many beauties to make lads lovelorn.

Saigon under this curfew: in our flesh a thorn.

The church bells have ceased their holy toll,

Our Lady with fold converges on the eternal goal.

After the Mass I can’t walk you around the city,

The rose Sunday disappears in your eyes the pretty.

No more vehicles, smoke, dust, traffic lights.

Le Thanh Ton Road quiet: uncommon sights.

Ban Co, Tan Dinh areas at night become moody,

On Pham Ngu Lao Avenue the traveler feels broody.

Duy Tan at dusk exposes a haggard hue.

Saigon under extended curfew is so blue.

There is no more a Saigon under afternoon rain

With flows of vehicles squeezing into each lane,

People making way through the jostling crowd,

Multicolor umbrellas, raincoats under thundercloud,

On the walk only the raindrops are heard.

I always remember that day, each being a lovebird,

I held your hand, in the morning sun,

We paced around, roaming Saigon – What fun!

Your image reappears in my mind: delight to access.

The old schoolyard, your long hair, white dress:

I stood watching, not paying attention to the bell.

The rows of flamboyant seemed in my eyes to dwell.                              

My way back was guided by the tamarind leaves.

As if my heart bleeds, how I miss Saigon! It grieves.

My tears fall as long as each compatriot falls ill.

Saigon of my soul, and Saigon of my beloved, still,

Presently looks like a glumly leaf marcescent to sore,

The street sweeper bewilderedly watches for.

Oh, Saigon! Saigon full of souvenirs,

A bit of paradise remains here though disaster clears.

Saigon under permanent curfew is so gray.

Saigon is overflowing with love, to miss the heyday.

Saigon bursts into wails, loud.

Saigon keeps quiet, storm-cloud!

Where is my Saigon? Laden with booty,

From the proud legendary beauty

Who reminds me of her once outstanding civic duty.

Saigon’s life now seems to stop breathing in blight,

The wounded handicapped disappear into the night.

Saigon under the current curfew tempts fate.

Bumper-to-bumper transports take people to evacuate

To their old countryside to find peace in mirth.

But they do dream of a near Saigon’s rebirth

And wish to return to that city someday soon.

Saigon like never before is with misfortune to swoon.

I deeply feel compassion for you, Saigon my dear!

Translation by THANH-THANH

Thanh-Thanh.com

LeXuanNhuan.com




PHẢI GIỮ AN TOÀN CHO CHÍNH MÌNH VÀ GIA ĐÌNH MÌNH




Happy Halloween! Con Ma Sói Xuất Hiện Giữa Ban Ngày Với Khách Không Nhà (Homeless) –

Lê Văn Hải

(San Jose) Còn 3 ngày nữa là Lễ Hội Hlloween, sáng hôm nay, Thứ Năm ngày 28 tháng 10 năm 2021, trong bữa cơm chiêu đãi những khách không nhà (Homeless) thường xuyên, vào 2 ngày trong tuần, Thứ Năm và Thứ Sáu. Mọi việc đang diễn ra bình thường, thình lình một “Con Ma Sói!” xuất hiên giữa ban ngày! Miệng dính đầy máu, gầm gừ, hung hãn, giơ móng vuốt nhọn hoắc, như muốn ăn tươi nuốt sống những người đứng gần.

Nhưng có điều ngạc nhiên, là mọi người hiện diện, đã không sợ, còn tươi cười chỉ trỏ thích thú. Nhiều người còn đòi chụp hình chung.

Vì họ biết đây chỉ là con ma sói giả. (Do Anh Lê Văn Hải, Trưởng Nhóm Mõ Nhân Ái, hóa trang.) Chỉ có mục đích mang niềm vui, tiếng cười đến cho mọi người, trong dịp lễ Mừng Ma Quỷ năm nay mà thôi.

Con ma sói tiến đến gần, tiếp xúc từng khách không nhà, đổi thái độ hung hãn, thân ái trao kẹo và bao lì xì có chút tiền mặt, và còn hay hơn là con ma này còn biết nói tiếng người! “Happy Halloween!”

Đây chỉ là hoạt động truyền thống kéo dài biết bao nhiêu năm nay, (28 năm) nhằm mang lại chút niềm vui, an ủi đến với những người khốn khổ, bị gạt ra khỏi bên lề cuộc sống. Rất thèm những tình thương vào những dịp lễ hội cuối năm. Gồm Lễ Tạ Ơn, Thank Giving, có Gà tây, Giáng Sinh có Ông Già Noel phát quà, Tết Tây, Tết Ta có Bao lì xì đỏ….

Vào những ngày hết năm, đây là thời gian khắc nghiệt, khó khăn nhất đối với người Homeless. Ngoài trời lạnh giá, không người thân chung quanh, nhìn xã hội với những sinh hoạt hân hoan hạnh phúc, đoàn tụ. Còn mình thì một miếng ăn cũng không có, chỗ ở thì màn trời chiếu đất, “hòn đá gối đầu” cũng không! Nên rất tủi thân, chán chường. Năm nào cũng có nhiều người tự tử, tìm cái chết đau thương cóng lạnh, trong những ngày khốn khổ này.

Chính vì thế Nhóm Mõ Nhân Ái, đã cố gắng mang không khí tình thương gia đình đến với họ, coi họ như người thân ruột thịt. Nhiều người Homeless rất cảm động tâm sự: “Hóa ra các bạn Việt Nam luôn luôn còn nghĩ đến chúng tôi! Nhất là vào những dịp lễ! Chưa thấy nhóm nào đối xử tử tế với chúng tôi như thế. Cám ơn, cám ơn rất nhiều!”

Cali là tiểu bang có vấn nạn ngưởi không nhà thê thảm nhất, mãi mãi không thể giải quyết thảm trạng này. Chiếm 40 phần trăm Homeless trên toàn quốc. Giá sinh hoạt đắt đỏ, hễ thất nghiệp là ra ngoài đường! Là một trong những nguyên nhân chính.

Nhóm của Anh Hải, Mõ Nhân Ái đã bền bỉ theo đuổi công tác nhân ái này hơn môt phần tư thế kỷ! Hoạt động được một thời gian dài như thế, vì bên anh còn rất nhiều nhóm thiện nguyện khác cộng tác, chưa kể rất nhiều ân nhân ẩn danh đứng đàng sau, luôn luôn hổ trợ những việc làm của anh.

Nhân dịp này, anh cũng đại diện Nhóm, xin chuyển lời cảm tạ chân thành từ đáy tim. “Một miếng khi đói, bằng gói khi no!” trong tinh thần “thương người như thể thương thân,” xin Thượng Đế trả công bội hậu cho tấm lòng tốt của Quý Vị. Và cũng không quên “Happy Halloween!”

Chủ Nhật Tuần Này, Ngày 31 Tháng 10, Nước Mỹ Tưng Bừng Mừng Lễ Hội Halloween!

(LVHải Tổng hợp)

Halloween hay còn gọi là lễ hội người hóa trang thành Ma Quỷ! Đây là một trong những lễ hội vui nhộn nhất, mà các bạn trẻ vô cùng yêu thích. Bởi sức thu hút huyền bí, nhiều màu sắc, sáng tạo đẹp mắt, hấp dẫn.

Đây là lễ hội kỳ quái nhất, sắp đến ngày này, khắp nơi trên nước Mỹ đều có những hình ảnh về ngày lễ Halloween trưng bày khắp nơi. Hình “thằng bù nhìn” bằng rơm, mặc áo vải, rách rưới, nằm bên cạnh mấy chùm bắp khô. Rồi hình bà phù thủy mũi nhọn hoắc, mặc áo đen ngồi bay trên cán chổi. Rất thiếu sót nếu không có quả bí ngô được khắc theo hình mặt người, cười toét miệng, đến mắt. Chưa kể những hình những con ma, con dơi, đủ hình dạng, được dán lên cửa kính hay cửa sổ trước nhà và trên lối đi.

Trong siêu thị, các cửa hàng tạp hóa, bán đồ gia dụng và các tiệm thuốc tây, không ai không thấy hàng núi kẹo khổng lồ đủ loại, đủ kiểu, đủ màu được bày bán. Cùng với các loại y phục để mặc hóa trang trong ngày nàỵ. Mặt nạ quỷ nhe nanh, ma cà rồng miệng bê bết máu, cho đến những mặt nạ kỳ quái. Rồi những bộ y phục hóa trang tương đối hiền lành hơn, rập theo các nhân vật trong những phim hoạt họa ăn khách. Gần đây còn có thêm các khuôn mặt các chính trị gia.

Lễ Halloweeen tại Mỹ được trẻ em đón mừng nồng nhiệt nhất, so với các ngày lễ khác. Nhưng không phải nó chỉ dành riêng cho các em không thôi. Ngày này, 31/10, trẻ con được cha mẹ, anh chị dẫn đi xin kẹo, là điều dĩ nhiên. Nhưng những nguời trưởng thành, từ 18 đến 24, cũng vẫn thường hay mở tiệc tưng bừng hay đi dự dạ tiệc hóa trang. Số người ở độ tuổi từ 25 đến 44, thường là phụ huynh thì dẫn con em đi xin kẹo, hoặc ở nhà, khoét những quả bí ngô thành hình mặt người cười, người Mỹ gọi là Jack OLantern. Và hầu hết những ông bà lớn tuổi thì ở nhà, để phát kẹo khi trẻ con gõ cửa đến xin.

Halloween là lễ được nhiều người trang hoàng và ăn mừng lớn thứ nhì trong các lễ hội mùa Đông ở Mỹ. Nó được coi là ngày lễ mở đầu cho mùa lễ hội cuối năm. Người Mỹ tiêu tiền khá nhiều và trung bình trong những năm trở lại đây, các nhà bán lẻ đã thu về, tổng cộng trên hàng tỉ đô la cho ngày lễ kỳ quái nàỵ!

*Tại sao ngày lễ Halloween lại rơi vào 31/10? Và tại sao phải có những hình ảnh, trang phục ma quái như thế?

Theo một trong những truyền thuyết bắt nguồn từ văn hóa của người Celt thời cổ Ireland, thì 31/10, là lúc chính thức chấm dứt mùa Hè nắng ấm, họ tin rằng cũng chấm dứt mùa của sự sống trên dương gian!

Chuyện kể rằng vào ngày này, những hồn ma vất vưởng chết trong năm đó, sẽ trở lại trần thế, tìm một người nào đó nhập xác! để mong còn được tồn tại sau khi chết. Thế nhưng người dương thế thì lại không muốn bị ma bắt hồn, nên đến tối ngày 31/10 họ tắt đèn, tắt bếp lửa, để cho nhà cửa lạnh lẽo như cõi âm phủ. Họ còn mặc quần áo giả trang, cho lẫn lộn với đám ma quỉ và khua động khắp xóm làng để đuổi tà mạ.

Còn vì sao quả bí ngô lại được khoét theo hình mặt người cười toét miệng?

Tại Hoa Kỳ, các bà nội trợ đã mang quả bí này ra khoét ruột, rồi khắc hình mặt người trên đó từ hàng trăm năm naỵ. Cũng theo truyền thuyết của người Ireland, thì xưa có một anh chàng biệt danh là “Jack” tính tình “Hà tiện” Một hôm anh chàng Jack này mời quỷ đi uống rượụ Nhưng Jack lại không muốn trả tiền rượu, nên chàng ta bèn dụ dỗ con quỷ hãy hóa phép tự biến thành thành đồng tiền, để Jack mua rượu cùng nhậu cho vuị. Khi quỷ nghe bùi tai biến thành đồng tiền, thì Jack nhặt ngay lấy bỏ vào túi áo, trong đó có sẵn một thánh giá bằng bạc, khiến quỷ không thể trở lại nguyên hình được nữạ Nhưng rồi sau Jack đã giải phóng cho quỷ, với điều kiện là quỷ không được quấy nhiễu Jack trong suốt 1 năm, và nếu Jack chết, quỷ cũng không được tịch thu lấy linh hồn của Jack.

Cho đến năm sau, Jack lại đánh lừa được quỷ cú nữa, để quỷ leo lên cây cao hái quả. Trong lúc quỷ còn đương loay hoay trên cây, thì Jack khắc ngay một thánh giá vào thân cây, thế là quỷ sợ không dám leo xuống. Cho đến khi quỷ hứa, không được quấy nhiễu Jack thêm 10 năm nữạ, rồi Jack mới bóc chỗ vỏ cây có khắc thánh giá đị, quỷ mới leo xuống được.

Chẳng bao lâu sau đó thì anh chàng Jack lừa đảo qua đời. Hồn ma của Jack đến gõ cửa thiên đường, nhưng thượng đế không nhận cho một kẻ tinh ranh láu cá như vậy vào cõi trờị. Xuống địa ngục thì gặp quỷ bị lừa khi trước, còn tức tối, nên Jack muốn vào địa ngục cũng không xong. Tuy nhiên giữ lời hứa không bắt hồn Jack, quỷ đuổi jack đi lang thang và chỉ cho Jack một cục than hồng, để mà dò dường trong đêm tốị, Jack bỏ cục than cháy đỏ vào trong một củ cải tròn khoét ruột làm đèn, từ đó cứ luẩn quẩn khắp cõi dương gian. Người Ireland gọi là Jack of the Lantern, tức là Jack lồng đèn, và sau biến thành Jack OLantern.

Người Ireland khoét ruột củ cải tròn hoặc củ khoai tây theo hình mặt người cười láu cá như vậy, đem bày ở bệ cửa sổ hay gần cửa ra vào, để xua đuổi những hồn ma vất vưởng như Jack, khỏi xâm nhập vào gia cư của họ. Khi những di dân từ Ireland và Anh Quốc tới Hoa Kỳ, họ thấy rằng quả bí đỏ, tức bí ngô hay bí rợ, một thổ sản phong phú ở vùng đất mới, là nguyên liệu thích hợp nhất để họ khoét ruột tỉa hình mặt anh chàng Jack Lantern.

Quả bí đỏ, xưa nay vẫn tượng trưng cho sự phong phú của mùa màng miền Bắc Mỹ, được trồng rất nhiều tại Hoa Kỳ. Hàng năm vào trước lễ Halloween mấy tuần, các nông gia mở hội thi xem ai trồng được quả bí kỷ lục to nhất. Miền Bắc Cali, khu vực “Vịnh Nửa Vầng Trăng” thường đạt thành tích này, với những quả bí khổng lồ nặng cả gần hàng ngàn pound.

Ngoài trái bí ngô, còn nhiều hình ảnh khác gắn liền trong trong ngày lễ

*Chuyện về quả táo Pomona

Cây táo từ lâu đã được gắn với hình ảnh nữ thần bất tử và trí tuệ. Nếu bổ ngang một quả táo, sẽ lộ ra hình ngôi sao 5 cánh, biểu tượng cho nữ thần trong niềm tin của người Châu Âu ngày xưạ. Táo Pomona là những quả táo được thả trong chậu nước, hoặc trên sợi dâỵ. Những thanh niên tới tuổi cập kê tìm mọi cách để lấy quả táo và người nào làm được thì sẽ là người sớm được lập gia đình. Ngoài ra còn nhiều truyền thuyết dân gian khá lý thú như ai gọt vỏ táo Pomona trước một cái gương, bên cạnh một cây nến cháy, thì sẽ nhìn thấy hình ảnh của người vợ (chồng) tương lai trong gương, hoặc cố gắng giữ vỏ táo càng lâu thì cuộc đời của bạn được kéo dài thêm 100 năm!

*Tục hóa trang với những bộ trang phục kỳ quái.

Người Châu Âu thì cho rằng, những bộ trang phục kỳ quái trong ngày Halloween, không phải có xuất xứ từ người Celtic, mà có xuất xứ từ chính những người Châu Âụ Vào thế kỷ thứ 9, ngày 2/11 hàng năm và cũng là ngày cầu cho các linh hồn, những giáo dân thường ăn mặc rách rưới giống như những kẻ ăn mày, rồi đi từ làng này sang làng kia để xin những mẫu bánh vụn tượng trưng cho thức ăn nuôi dưỡng linh hồn. Những người này tin rằng, họ càng xin được nhiều mẩu bánh, thì linh hồn của những người thân của họ sẽ nhận được càng nhiều những lời cầu nguyện. Các giáo dân tin rằng, những lời cầu nguyện này sẽ giúp cho những linh hồn người thân của họ còn mắc kẹt ở đâu đó sẽ được lên thiên đàng.

*Tục xin kẹo trong ngày Halloween

“Trick Or Treat” Đây là sinh hoạt chính của hầu hết trẻ em và thiếu niên tại Hoa Kỳ trong đêm Halloween.

“Trick or Treat” có nghĩa “Cho kẹo hay bị ghẹo! bị phá phách!”

“Trick” nguyên nghĩa là đánh lừa, trò chơi tinh ma nghịch ngợm. “Treat” là tiếp đón, đối xử tử tế, tiếp đãị. Các em nhỏ và thiếu niên, thanh niên hóa trang với áo quần và mặt nạ hình ma quỷ, rồi cầm lồng đèn đi từ nhà này sang nhà khác trong xóm, gõ cửa và nói “trick or treat”. Câu này có nghĩa là: “Nếu muốn chúng tôi không chơi xấu, thì hãy đãi chúng tôi cái gì đi!” Thông thường những người láng giềng luôn luôn tiếp đón bằng kẹo và trái câỵ.

*Một điều ít người biết: Tuy là Mừng Ma Quỷ, nhưng Lễ nhưng vẫn có ý nghĩa giáo dục.

Hành động và cuộc đời của Jack đã trở thành những kinh nghiệm để tuổi trẻ rút ra một bài học làm người, đó là:

-Sống không nên tham lam, bủn xỉn, keo kiệt, để chết khỏi phải lang thang!

-Phải có lòng bác ái, từ bi, biết giúp đỡ kẻ khó khăn, xử tử tế, cho dù họ đã qua đời!

Không nên chơi đùa với ma quỷ. Ma quỷ hiểu theo nghĩa bóng là những trò lừa lọc, đe dọa, làm cho người khác sợ hãi, những việc làm tinh quái do trí thông minh và tưởng tượng của tuổi trẻ sáng tạo ra, có khi làm hại đến người, đến xã hội. Chơi đùa, giao du với ma quỷ sẽ dễ bị cám dỗ đi vào đường tối tăm và tội lỗị. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng!”

Tuy nhiên, chuyện anh chàng Jack trong đêm Halloween cũng ghi nhận một thái độ sòng phẳng của quỷ, đó là “ân đền, oán trả” và “giữ lời hứa”. Dù rằng sự “giữ lời hứa” này đã làm cho Jack rơi vào thân phận cô hồn lang thang vất vưởng. Quỷ còn giữ chữ tín, hướng chi con người. Người không giữ chữ tín, trong cuộc sống khó mà thành công.

Đối với các xã hội Âu, Mỹ Halloween đã trở thành lễ hội vui chơi hằng năm cho trẻ em và cả người lớn. Hầu như ít người quan tâm tìm hiểu ý nghĩa xây dựng nhân bản của nó.

*Ý nghĩa nhân bản: Nghĩ đến cả người chết, hướng chi người sống!

Nếu đào sâu hơn, có lẽ sẽ tìm thấy tính cách nhân bản trong câu chuyện. Thử đặt câu hỏi: tại sao dưới ánh sáng khoa học và kỹ thuật mà các nước Âu, Mỹ vẫn dành một ngày lễ hội cho người của “cõi Âm” mà đại diện là chàng Jack?

Jack là nhân vật tưởng tượng nhưng đã thực sự hiện thân trong cuộc đời, trong thân phận làm người, mà lại là một người cô đơn, không nơi cư ngụ (Homeless!) Khi chết, Jack trở thành cô hồn, không chỗ dung thân. Thiên Đàng và Địa Ngục đều từ chối!

Truyền thống lễ hội Âu Mỹ đã dành cho Jack một ngàỵ, một ngày được trở lại với cõi dương thế. Trong ngày đó, Jack có thể sống vui chơi thoải mái, vì tình người sống đã hóa trang thành ma quỷ để linh hồn Jack có chỗ trà trộn vào cho đỡ cô đơn. Đây là ý nghĩa nhân bản sống phải biết giúp đỡ nhau của lễ hội Halloween.

Lời kết

Ngày lễ Halloween được du nhập vào Mỹ từ năm 1840, theo chân những người di cư sang Mỹ. Đầu tiên nó chỉ diễn ở các nông trại miền quê, nhưng ngày nay cũng giống như nhiều quốc gia khác, Halloween đã trở thành một ngày lễ chung vui chơi, dùa giỡn cho tất cả mọi người, trên nhiều quốc gia, nhằm để quên đi những lo âu trong đời sống. Giới trẻ tại Việt Nam cũng rất thích ngày lễ này.

Lời chúc

Kính chúc Quý vị và Gia Đình, nhất là những Bé tí hon lời chúc cho ngày lễ, (đậm mầu sợ hãi từ Ma Quỷ):

Một ngày Lễ Halloween gặp những điều bất ngờ, khủng khiếp và rùng rợn! Sáng gặp quỷ hút máu! chiều gặp ma lưỡi dài, tối mơ thấy mình lạc xuống địa ngục! bị cưa người, máu lênh láng, chưa hết! rồi bị bỏ vào chiên trong chảo dầu! (Khà!Khà!)

Nhưng dù sao đi nữa, người lớn cứ bình tĩnh đón một Lễ Halloween vui vẻ, hạnh phúc nha! Và các bạn trẻ đi xin được nhiều kẹo, dù bị ma nhát, sợ muốn chết! nhưng vẫn nhớ nhiều cảm giác thích thú trong ngày Lễ đặc biệt này.

Happy Halloween! Chúc Mừng Lễ Ma Quỷ 2021!




DIỄM CA

https://m.youtube.com/watch?time_continue=192&v=oOpydALOwKM&feature=emb_logo



LÀM VIỆC TỪ THIỆN: ĐẤU GIÁ TRANH $2.2 TRIỆU

Kiều Mỹ Duyên




KHÓC BẠN

Ấu Oanh

“Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta…”

Từ thuở ấu thơ, anh em chúng tôi đều được mẹ ru bằng bài thơ Khóc Bạn của cụ Tam nguyên Yên Đổ khóc ông cố nội chúng tôi là cụ Nghè Dương Khuê. Bài thơ trở thành bài ca dao nằm trong ký ức tôi từ ngày đó, hơn 40 năm sau lại bật ra như những lời nhớ thương tha thiết của tôi với người bạn thân: Vũ Hoàng Oanh. Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê lúc tuổi đời đã xế chiều nên nỗi nhớ chỉ là ngậm ngùi, còn tôi khóc bạn khi tuổi đời chưa tới 50 là cái khóc xót thương vô hạn.

Ngày còn học Trưng Vương thì Oanh học trên tôi một lớp. Chúng tôi chỉ biết nhau nhưng chưa phải là bạn. Mãi đến khi thi vào trường Sư Phạm, vô tình làm sao, hai đứa trùng tên nên có số báo danh kế nhau. Gặp nhau ở trường thi, lại ngồi cạnh nhau thì không quen cũng thành quen huống chi chúng tôi cùng là dân TV lại biết nhau từ trước. Dĩ nhiên hai đứa tôi mau chóng kết hợp với nhau, cóp qua cóp lại bài nhau nên kết quả là hai đứa cùng đậu và còn được xếp chung vào một lớp. Tôi và Oanh trở thành bạn thân từ đấy.

Oanh không đẹp nhưng dễ thương với đôi má bầu bĩnh, đôi mắt hơi đượm buồn, lúc nào cũng như vướng vất một câu hỏi gì chưa được giải đáp.Nhưng điều mà bạn bè nhớ nhất ở Oanh là tính tình đôn hậu, chiều bạn và tử tế với mọi người.

Đời học trò, dẫu rằng lớp học trò này đang chuẩn bị làm người lớn, vẫn có biết bao niềm vui nỗi buồn non trẻ để chia sẻ cùng nhau. Đôi khi thấy bạn bè có người yêu đến đón hoặc ghé thăm, đôi mắt hỏi han cuả Oanh chợt tối lại, vương một chút buồn bã. Tôi gạn hỏi, Oanh chỉ lắc đầu, nhiều lần sau nữa, chẳng đặng đừng, Oanh cười mỉm chi đáp “Nhớ bồ” “Thế bồ đâu rồi” “Bồ thuộc người khác rồi”, rồi nhanh chóng Oanh lảng ngay “Thôi khỉ ạ, đừng hỏi nữa, chuyện xưa rồi”.

Thời gian trôi thật nhanh. Gần đến ngày ra trường, chúng tôi gấp rút học thi và ráo riết chuẩn bị các bài thi thực tập. Một hôm, gặp phải bài thi hóc búa, tôi hỏi mượn Oanh một bài mẫu vì Oanh rất chăm chỉ trong việc sưu tầm các bài dạy mẫu, còn tôi là con cháu họ lười nên rất chểnh mảng. Oanh đang hí hoáy viết nên bảo “Mở cặp ra, ngăn bên trái đó”. Tôi mở cặp lục lọi. Bài mẫu chẳng thấy đâu, tôi vớ ngay được một lá thư. Quên béng ngay bài dạy, tôi len lén kéo nhẹ tờ thư ra khỏi bao và liếc thật nhanh vài giòng. “Ồ, thư tình”, tôi thầm kêu trong đầu. Vừa lúc đó Oanh quay sang, thấy vậy, Oanh vội vã quăng ngay cây bút, soài người giựt lại lá thư, miệng la bài hải “Ố́í, ối, trả đây, trả đây”. Lá thư không dài và cũng không có những lời lẽ yêu đương hoa mỹ nhưng đọc thì biết ngay đó là thư tình, thư tình cuả một nhà văn. Ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ cuả một người viết văn thì có muôn ngàn cách để bày tỏ tình yêu. Tôi mừng thấy bạn bẽn lẽn cất lá thư. Một chút ửng hồng trên đôi má bầu bĩnh… Từ đó tôi thấy Oanh hay cười hơn.

Trong khi chờ đợi kết quả sắp hạng ra trường, chúng tôi phải đi khám sức khoẻ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Hôm đó Oanh chở tôi bằng chiếc Vélo Solex mượn được. Chỉ còn cách bệnh viện khoảng 100m thì bất ngờ xe đang chạy ngon trớn bỗng đâm xầm vào một đống đá xanh đổ ngay giữa lòng đường. Xe mất thăng bằng đổ ập xuống, quăng hai đứa chúng tôi ra hai nơi. Lúc đó tôi đang có thai cháu đầu lòng khoảng 4 tháng. Hốt hoảng, Oanh bật dậy lao ngay về phía tôi mà không thấy rằng 1 đầu gối quần bị rách để lộ vết thương rướm máu và 1 bàn tay bị đá xanh đâm nát máu thấm đỏ cả. Oanh lính quýnh ôm nâng tôi dậy, mặt tái mét, miệng líu lại “Oanh, Oanh có sao không? Có đau bụng không?” Tôi tuy cũng rất lo sợ cho cái thai nhưng thấy Oanh quá lo lắng cho tôi, tôi thấy lòng cồn cào thương bạn nên vội trấn an “Mình không sao, đừng lo. Thôi mau nhấc xe dậy, vào ngay bệnh viện nhờ họ băng bó cho Oanh”.

Ra trường, tôi về dạy ở Gia Định, còn Oanh xuống Biên Hoà. Như một xui khiến của số mệnh, người yêu của Oanh, nhà văn Dương Hùng Cường, còn có bút hiệu là Dê Húc Càn đồng thời là một quân nhân cũng đang làm việc tại phi trường Biên Hoà. Họ đã được gần nhau, cuộc tình dẫn đến kết cuộc tốt đẹp là cái đám cưới vào năm 1964. Năm sau, 1965, Oanh sinh cháu đầu lòng Dương Mạc Thi rồi tiếp theo Oanh sinh liền 7 cô công chúa trong vòng 10 năm. Khi anh Cường đổi về làm việc tại Sài gòn thì Oanh cũng được thuyên chuyển về dạy học taị trường Hồng Bàng (sau năm 1975 thì dạy tại trường Hùng Vương, cùng thuộc quận 5). Chúng tôi lại có dịp gần gũi nhau.

Vào khoảng năm 74 tôi thấy Oanh ngoài giờ dạy ở trường công còn dạy thêm ở 2 trung tâm tư nữa. Thấy tôi thắc mắc sao Oanh dạy quá nhiều, không còn thời giờ dành cho các con nữa thì Oanh tâm sự: “Ông Cường giành phần chăm mấy đứa nhỏ. Ông ấy bảo, ổng ru con hay hơn mình”, rồi Oanh xuống giọng “Mình phải dạy thêm lấy tiền cho ông Cường in truyện”.

Nói là chăm sóc con chứ thật ra thì lúc đó gia đình nào cũng có người giúp việc, lo cơm nước, giặt giũ, bế bồng trẻ nhỏ rồi. Tôi thông cảm với Oanh vì thời gian đó, lương hai vợ chồng gom lại, dẫu rằng anh Cường còn viết báo thêm cũng chỉ đủ chi tiêu cho một gia đình mười mấy miệng ăn mà thôi. Muốn in sách truyện, Oanh phải cật lực giúp chồng.

Thế là bao nhiêu tiền bạc dành dụm được đều đổ dồn vào việc cho ra đời đứa con tinh thần “Vĩnh biệt Phượng”.

Thương thay, sách vừa xuất xưởng, chưa kịp phân phối ra ngoài thì ngày 30 tháng 4 như một cơn cuồng phong ập đến, xoá tan hết bao ước mơ, bao xây đắp cuả cả một miền Nam thân yêu trong đó có 2 gia đình chúng tôi. Ông xã tôi cũng như anh Dương Hùng Cường đều trở thành tù nhân cuả chế độ mới và 2 gia đình chúng tôi trở thành những nạn nhân như trăm ngàn gia đình quân nhân công chức chế độ cũ, luôn luôn bị soi mói, rình rập, theo rõi, lúc nào cũng sống trong phập phồng, lo lắng, sợ sệt… Với đồng lương chết đói, chúng tôi vẫn phải cố bám vào trường lớp để khỏi phải bị đuổi đi vùng kinh tế mới. Hai đứa tôi cùng chia nhau cái ngậm ngùi cuả số phận. Oanh 7 con và tôi 6, gia tài chỉ là hai bàn tay trắng với cõi lòng đầy ắp âu lo. Chúng tôi càng gắn bó với nhau hơn. Hai đứa lăn lưng ra làm đủ mọi việc

Thoạt đầu là bán sách. Lúc bấy giờ chủ trương của chế độ mới là thiêu hủy hết số sách báo của miền Nam được gọi là văn hoá đồi truỵ, tàn dư Mỹ ngụy. Chúng tôi lại thuộc các gia đình văn nghệ sĩ, càng bị để ý, bị lục xoát thường xuyên hơn. Nếu trái lệnh sẽ bị ghép vào đủ thứ tội tình. Để được yên thân nuôi con và cũng là để che mắt thế gian, chúng tôi gom góp hết số “tàn dư Mỹ ngụy” trong nhà, nhờ người quen dẫn giắt lên chợ sách Nguyễn Huy Thiệp bày bán. Nhìn những cuốn sách mình từng nâng niu yêu quý từ từ đội nón ra đi, lòng tôi bùi ngùi khôn tả. Cầm cuốn “Chạy trốn Tự do” mà ông xã tôi mới dịch trước đó không lâu, tôi thầm tự hỏi: “Tại sao laị dịch cuốn sách mang cái tên oan nghiệt này?” Cuốn “Vĩnh Biệt Phượng” cuả anh Dương Hùng Cường cũng cùng chung số phận, phơi mặt trên 1 tấm ni lông trải dưới mặt đường con phố NHT. Tôi và Oanh thủ 2 cái nón rộng vành, hễ liếc xa xa thấy người quen kẻ thuộc hay bạn bè gần xa cuả chồng thì lập tức cái nón được kéo sụp xuống. Ôi thời thế có ai học đến chữ ngờ!

Một hôm vào khoảng xế trưa, hai đứa đang ngồi vêu ra thì một cháu gái cuả Oanh đạp xe lên tìm mẹ, báo tin em bé út vừa phải vào nhà thương. Khi đó cháu Dao Tiên mới non 1 tuổi. Oanh hốt hoảng ra về. Hôm sau, rồi hôm sau nữa cũng không thấy Oanh lên tôi đoán chắc Oanh phải ở trong bệnh viện với con. Ba, bốn hôm sau Oanh trở lại, cặp mắt còn sưng, oà khóc, nói “Oanh ơi, cháu Dao Tiên mất rồi. Cháu mất vì thiếu dinh dưỡng, vì đói ăn đó Oanh ạ!”

“Nghề” bán sách cuả chúng tôi do thời cuộc mà tự sinh thì cũng do thời cuộc mà tự diệt. Ch́úng tôi học quấn thuốc lá, vào bao rồi đem vô Chợ Lớn bán nhưng cũng chẳng được bao lâu thì chợ thuốc lá cũng bị càn quét. Tôi nhờ biết may vá từ nhỏ nên quay ra may quần áo con nít đem giao các chợ, còn Oanh thì đi bỏ mối bánh kẹo cho các căn tin trường học. Cứ thế, chúng tôi lần hồi sống qua ngày.

Ngoài lúc đi kiếm cơm, chúng tôi còn rủ nhau đi kiếm chồng tù. Hai năm trời biền biệt không chút tin tức, chúng tôi lo sợ cho số phận các ông chồng. Dò la, thăm hỏi chẳng có kết quả, chúng tôi đánh bạo rủ nhau lên tận ban Quân quản Thành phố để hỏi han. Câu trả lời cũng chỉ như bao nơi khác: “Cứ yên tâm chờ đợi”. Cuối cùng thì cuối năm 1977 cũng có tin về sau hơn 2 năm kể từ ngày các sĩ quan cuả chế độ cũ nghe lời đường mật “Chuẩn bị đồ ăn uống và vật dụng cá nhân trong vòng 10 ngày để đi trình diện”. Ông xã tôi bị nhốt ở trại Hàm Tân, còn anh Cường thì ở Long Khánh. Cứ 3 tháng chúng tôi được phép thăm nuôi tiếp tế thức ăn và thuốc men 1 lần. Hai đứa lại có dịp chỉ bảo nhau làm món gì để được lâu, thuốc nào cần nhất v..v.. để mang lên trại.

Tôi còn nhớ thời gian đó, mỗi chiều tối, sau giờ tan trường, Oanh thường ghé tôi, có khi ở đến tận khuya. Các con Oanh ở nhà đã có cô cháu gái mà Oanh cưu mang từ sau năm 75 chăm nom cơm nước. Chúng tôi ngồi bên nhau chia sẻ mọi điều. Tôi hiểu Oanh nhiều nỗi lo lắng vì nợ nần thúc giục mà không có phương cách giải quyết. Tôi đỡ hơn Oanh một chút là tôi còn có mẹ. Đôi khi hai đứa ngồi bên nhau hàng giờ mà chẳng nói với nhau một tiếng nhưng chúng tôi đều hiểu rằng chúng tôi đang chia nhau nỗi sầu khổ âm thầm.

Một hôm, khoảng sau Tết năm 1978 Oanh ghé tôi theo lệ thường, nhưng hôm đó vẻ mặt Oanh rất bần thần, ngồi hoài không nói. Tôi hỏi:

– Hôm nay Oanh có chuyện gì không mà như mất hồn vậy?

Oanh vẫn ngồi yên không nói. Tôi đứng dậy rót cho bạn 1 ly nước, đến ngồi gần bên ân cần:

– Có việc gì hả Oanh?

Sau một phút ngập ngừng, Oanh nói khẽ thật khẽ như sợ có ai nghe thấy:

– Ta nói cái này, đừng giật mình nhé…Mình có bầu.

Tôi giật thót mình, hai lỗ tai lùng bùng.

– Oanh nói gì? Ai có bầu?

– Mình.

– Hả?

– Mình có bầu thật đấy, vừa đi khám bác sĩ về xong.

Tôi trân trối nhìn Oanh, vẫn không tin ở hai tai mình. Biết vậy, Oanh mới tỉ tê khai:

– Hôm Tết rồi đi thăm ông Cường, trại cho ở lại một đêm…

Tôi thở phào như trút được cho chính mình gánh nặng nghìn cân. Oanh nói tiếp:

– Oanh ơi, dẫn mình đi phá đi, mới được khoảng hai tháng thôi, phá chắc dễ.

Tôi ngỡ ngàng hỏi lại:

– Phá? Sao lại phá?

– Chứ để thì làm sao coi được. Ai đời cô giáo có chồng đi tù mà lại mang bầu. Đâu có ai hiểu…

– Thì nói ra cho mọi người biết.

– Ai tin? Bạn bè, rồi còn học trò nữa chứ. Eo ôi, nghĩ đến là ta rùng mình rồi.

Tôi chợt thấy Oanh có lý. Ừ, ai mà tin nổi, nhất là thời buổi này. Toàn ban giám hiệu đều là người cách mạng, họ sẽ có cớ để bêu riếu, để bôi tro trát trấu lên đầu lên cổ vợ con “ thằng ngụy”. Tôi thở dài:

– Ừ, để mình tính xem.

Nói vậy cho Oanh yên lòng chứ thật ra tôi cũng chẳng biết tính làm sao. Tối đến, trong bữa cơm gia đình, tôi nói chuyện với mẹ tôi về việc Oanh muốn tôi chia sẻ.

Mẹ tôi bảo:

– Ngày mai Oanh có ghé, con gọi mẹ, mẹ hỏi cô ấy một tí.

– Mẹ hỏi gì hả mẹ?

– Có phải Oanh toàn con gái không?

– Vâng, 7 đứa, bỏ 1 còn 6, toàn là gái cả.

– Mẹ muốn tính xem lần này có bầu, Oanh sẽ sinh trai hay gái.

– Trai hay gái thì thay đổi được gì hả mẹ. Cũng bia miệng mà thôi.

– Mình sẽ nghĩ cách giùm cô ấy. Vả lại, vì sợ bia miệng mà phá bỏ đi một đứa con của mình thì sẽ mang tội con ạ.

Mẹ tôi đặc biệt có một cách tính rất tài tình để biết người mẹ sẽ sinh trai hay gái. Cụ có dạy cho tôi một bài toàn chữ Hán, tôi học mãi không thuộc (vì mình có biết tí teo chữ Hán nào đâu). Tôi đã chép vào 1 cuốn sổ để dành nhưng qua hết đợt bố ráp này đến đợt bố ráp khác nó đã không cánh mà bay.

Dẫu rằng cả Oanh và anh Cường đều không mang tư tưởng “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” nhưng cha mẹ nào mà chả mong ước mình có đủ cả trai lẫn gái.

Sau khi gặp mẹ tôi, Oanh mừng lắm, không còn nghĩ đến việc phá thai nữa vì tin tưởng rằng lần này sẽ sinh được một quý tử.

Thông thường, cứ mỗi đầu tháng, các giáo viên chúng tôi đều phải họp toàn trường để kiểm điểm công việc dạy và thực hiện các chỉ thị của Phòng hoặc Sở giáo dục. Tôi xúi Oanh trong phiên họp kỳ này lấy cớ báo cáo 1 công việc gì đó rồi bôi mặt cám ơn nhà nước đã cho chúng tôi được gặp mặt, tiếp tế cho chồng ở trại giam lại còn gia ân cho ở lại trại 1 ngày 1 đêm nhân dịp Tết vừa qua nữa. Việc đó quả nhiên hiệu nghiệm. Oanh tuy bị trêu chọc song đã thoát được cơn hiểm nguy. Cũng may mắn cho Oanh, chỉ vài tháng sau khi cái bụng bầu của Oanh lộ rõ thì anh Cường được về.

Một hôm tôi vừa từ chợ về nhà thì đã thấy anh Cường ngồi đợi. Không kịp để tôi hỏi han câu nào, anh đã vào đề liền:

– Oanh sinh rồi chị, ở Bệnh viện Hùng Vương, con trai.

– Ồ, chúc mừng anh. Chắc là Oanh vui lắm. Kỳ này hai ông bà có quý tử, phải ăn mừng thôi

Không trả lời câu nói đùa của tôi, anh chìa ra mảnh giấy cỏn con nói:

– Oanh gửi chị cái này.

Tôi vội vàng mở mảnh giấy đọc “Oanh ơi, cứu bồ, cho mình mượn 50 đồng để đóng tiền bệnh viện nhé”.

Tôi vừa đi giao hàng về nhưng cũng chỉ có trong tay 30 đồng. Tôi vội vã đạp xe lại ngay nhà chị bạn cùng trường. Tuy chẳng giầu có gì nhưng chị tương đối khá giả hơn chúng tôi vì những tháng ngày xa xưa trước 75, chị là con kiến biết lo xa, ki cóp mua vàng để dành, (trong khi tôi lại là con ve, kêu ra rả hết muà hè, chỉ biết rong chơi ca hát, cho nên khi đông về thì đói rã răng). Chị lại có lòng tốt nên bạn bè khi cơ nhỡ chị đều sẵn sàng san sẻ.

Trao cho anh Cường năm chục bạc xong, tôi biết ngày mai không có tiền chợ cho con song trong lòng vẫn vui vì mừng cho bạn, càng mừng hơn vì thấy cách tính của mẹ tôi thật chính xác, không làm cho Oanh mừng hụt. Nhưng người mừng nhất ắt hẳn là anh Dương Hùng Cường. Anh đặt tên cho cháu là Phụng Hoàng, Dương Phụng Hoàng, con chim quí.

Khoảng 3,4 năm sau khi ra tù, anh Cường liên lạc được với nhà văn Trần Tam Tiệp đang cư ngụ tại Pháp xin lên tiếng kêu gọi Văn Bút Quốc Tế can thiệp và giúp đỡ cho một số các gia đình văn nghệ sĩ Miền Nam còn kẹt lại quê nhà, đang gặp rất nhiều khó khăn cả về 2 mặt vật chất lẫn tinh thần. Ít lâu sau đó, mỗi năm gia đình chúng tôi nhận được từ 1 đến 3 thùng thuốc tây gửi từ Pháp về (nhưng có lẽ đó là do chính tiền cuả anh TTTiệp, chứ không phaỉ của VBQT). Song song với thùng quà đôi khi còn có cả 1,2 tờ báo Kháng Chiến nữa. Rồi anh bảo anh em bên nhà viết bài gửi sang. Những thùng quà tuy ít ỏi này cũng đã giúp được gia đình chúng tôi qua những cơn vô cùng bĩ cực. Nhưng oan nghiệt thay, cũng chính những thùng quà này lại đưa chồng tôi, Khuất Duy Trác, anh Dương Hùng Cường và một số các văn nghệ sĩ khác như các nhà văn Dzoãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thuỷ, Hiếu Chân, các nhà thơ Lý Thụy Ý, Trần Ngọc Tự… vào tù lần thứ hai. Bọn Công an thành phố còn viết nguyên một cuốn truyện đầy tính bịa đặt và vu cáo có tên Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, hòng bôi bẩn và hạ giá nhóm văn ngệ sĩ trên, sửa soạn dư luận cho một bản án thật nặng nề. Chúng đem giam một số tại nhà giam Chí Hoà, số còn lại tại trại giam Phan Đăng Lưu, có ông xã tôi và anh Cường. Oanh và tôi lại có cùng một địa chỉ để tới lui. Số phận chúng tôi cứ gắn chặt với nhau trong những hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy.

Do từ việc bỏ bánh kẹo cho các căn-tin trường học, Oanh lần hồi biết được cách thức để đấu thầu toàn bộ cả căn-tin cuả mỗi trường. Oanh rủ tôi làm công việc này. Thế là hai chúng tôi cùng khởi sự tại một ngôi trường Tàu trong Chợ Lớn. Sau này rành rẽ rồi thì mỗi đứa làm ở mỗi trường khác nhau.

Cứ vào cuối mỗi năm học, giáo viên các trường đều phải điều chỉnh lại tờ lý lịch đã khai từ những ngày đổi đời 30/4/75. Năm 1980, con gái thứ hai của tôi đi vượt biên, tôi không khai. Đến khi ông xã tôi bị bắt lại lần 2 tôi cũng không khai. Ban giám hiệu nhà trường chắc hẳn không biết nên tôi vẫn được yên thân. Bất ngờ, vào đầu năm 87, hiệu trưởng mời tôi lên nói chuyện. Bà hỏi han tôi về tình hình gia đình, chồng con, công việc v..v.. và cuối cùng bà hỏi tôi có up to date lý lịch đầy đủ cho mỗi năm không. Tôi manh nha thấy điều gì đó không ổn. Tuần lễ sau tôi xin nghỉ bệnh và tuần kế tiếp tôi tống tiếp lá đơn xin thôi việc. Ở thời điểm này, chiến dịch tống khứ gia đình vợ con tù cải tạo đi kinh tế mới đã chấm dứt vì hoàn toàn thất bại. Từ các vùng kinh tế mới, biết bao gia đình đói rách tả tơi, bệnh hoạn, người sống kẻ chết, lũ lượt kéo về thành phố, nằm la liệt tại các công viên, chợ, nhà thờ, chùa…chính quyền không thể xua đuổi vì họ không còn nơi chốn để dung thân nữa. Do đó tôi không còn lo sợ vì phải lên rừng lập nghiệp. Lại nữa tống khứ đi được một con vợ “ngụy”, cũng nhẹ gánh lo cho ban giám hiệu nên họ nhận đơn mà không hỏi han gì cả.

Thời gian này rộ lên rất nhiều tin tức về việc Mỹ sẽ đón các sĩ quan QLVNCH bị tù cải tạo. Tuy rằng chỉ là tin đồn miệng, chẳng có một nguồn xác thực nào nhưng chúng tôi vẫn cứ nuôi hy vọng trong lòng để tiếp tục sống và tiếp tục chịu đựng.

Một ngày đầu tháng 12 năm 1987, lúc đó khoảng 2-3 giờ trưa tôi đang ở nhà thì cô cháu gái cuả Oanh đến, mặt mũi phờ phạc, nói như đứt hơi: “Cô ơi, chú Cường mất rồi, cô con đang xỉu ở nhà, cô xuống mau đi cô”

Khi tôi bước chân vào đến nhà thì thấy Oanh đang vật vã vừa khóc vừa gào: “Tôi không sống một mình đâu, trời ơi là trời. Anh Cường ơi, em không sống một mình đâu!!” Tôi ôm lấy tấm thân gầy guộc của bạn, lòng đau xót từng cơn và nước mắt cứ mặc tình tuôn chảy… Không biết bao lâu sau, khi kêu gào đã quá mệt, tôi đỡ Oanh nằm xuống giường rồi bảo với các con Oanh: “ để yên cho mẹ nghỉ một chút”.

Hàng xóm xung quanh nghe tiếng khóc, vài ba người lấp ló ngoài cửa.

Bình tâm trở lại, tôi hỏi thăm cháu Linh, cháu tỉ tê kể: “Sáng nay cháu ở nhà, công an khu vực tới đòi gặp mẹ. Cháu bảo mẹ đang dạy ở trường, anh ấy nhắn bảo mẹ ra phường gấp có giấy báo cuả bố. Khi cháu ra trường bảo cho mẹ biết thì mẹ vẫn nghĩ là tin mừng. Mẹ bảo chắc bố được thả…ồ, hay là…Mỹ đón. Mẹ bảo cháu về trước, chuẩn bị đồ vest cho Bố. Đến khi hai mẹ con ra đến phường nhận giấy mới vỡ lẽ…Họ bảo sáng ra đến giờ tập họp, không thấy bố ra, đến đập cửa phòng cũng không thấy bố cháu trả lời, họ mở khoá ra thì thấy bố cháu đã mất rồi.”

Oanh được phép đến trại giam Phan Đăng Lưu để nhận diện xác chồng trước khi được phép chôn cất. Đám tang phải làm gấp ngày hôm sau và chỉ cho 2 người mang áo quan vào lấy xác tại khám Chí Hoà mà thôi. Hôm sau tôi đi cùng với Oanh nhưng phải ngồi chờ ngoài gốc cây trước cổng trại cùng với các con nhỏ cuả Oanh. Số bạn bè và họ hàng thân thuộc đến đưa tiễn đều không được tập trung một nơi mà phải phân tán rải rác dọc theo con đường Hoà Hưng, chờ đợi khi xe tang ra đến đầu đường rồi mới được tháp tùng theo. Ôi, quân Cộng sản sao mà độc ác. Người sống chúng không tha đã đành, người chết chúng cũng không cho chôn cất tử tế…Huyệt mộ đã lấp lại rồi nhưng Oanh vẫn đứng trơ trơ như một bức tượng. Nước mắt đâu?

Có lẽ nó đã chảy ngược vào lòng. Tôi chợt nhớ đến bài thơ “Đi nhận xác chồng” của Lê Thị Ý:

Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu

Thật tội nghiệp cho bạn tôi. Cũng thật tội nghiệp cho những người phụ nữ trót sinh ra trong thời đại chúng tôi.

Vết thương tang chồng chưa ngưng chảy máu thì 3 tháng sau Oanh lại phải rứt ruột đẩy đứa con gái đầu lòng thân yêu, Dương Mạc Thi, ra đi trong một chuyến vượt biển với bao bất trắc chờ đợi. Than ôi, đó cũng là lần cuối cùng Oanh nắm đ̣ược bàn tay nhỏ bé cuả con: chuyến tàu chở cháu Thi đã không bao giờ tới bến. Chỉ trong vòng 4 tháng Oanh đưa hình hai người thương yêu nhất đời mình lên chùa…

Rồi dòng đời lại tất bật trôi đi. Oanh vội vã bịt kín những vết thương, giấu chặt nó vào tận cùng trái tim để ngày ngày phải đối mặt với những cam go của cuộc sống, với tương lai cuả bầy con còn lại. Thời gian sau này chúng tôi ít gặp nhau hơn vì mỗi đứa thầu riêng mỗi trường mà công việc thì quá đa đoan, tất bật, cần đến rất nhiều thời gian, Oanh lại vẫn theo đuổi công việc dạy học.

Mùa hè năm 1989, giữa chúng tôi có vài chuyện không vui, tôi giận Oanh. Biết mình không đúng, xin lỗi tôi không xong, Oanh nhờ một cô bạn khác đến năn nỉ, tôi vẫn gan cùng mình không chịu làm hoà. Gần 2 tháng trời chúng tôi không gặp nhau. Một buổi trời đã chạng vạng tối, một anh bạn tù cuả ông xã tôi, hốt hoảng đến báo tin Oanh bị đụng xe, đã đưa vào bệng viện Trưng Vương, nhưng tình trạng hình như không được ổn. Tôi tức tốc vào thẳng nhà thương trong tâm trạng rối bời và thật hồi hộp.

Oanh nằm đó, bất động, đôi mắt đã khép lại vĩnh viễn…Tôi bật lên khóc nức nở, nắm lấy tay bạn, sờ lên mặt bạn, vuốt trên người bạn, tôi muốn gào lên “Oanh ơi. Oanh ơi, mình đây, mình đang ở bên Oanh đây, mình không còn giận Oanh nữa đâu, tỉnh dậy đi Oanh ơi!!!” Tôi đưa tay bứt mớ tóc trên đầu xem mình có thật sự tỉnh không, có phải đây là sự thật không…Nỗi hối hận trong tôi trào lên, tôi giận tôi, tôi ghét tôi, tôi là con bạn tồi, sao tôi cố chấp thế…Tuy đã cố dằn vì chỗ đông người, cổ họng tôi vẫn bật lên tiếng gọi “Oanh ơi. Oanh ơi. Dậy đi, mình thương Oanh lắm, có nghe mình nói không?”

Tôi ngồi bên Oanh như thế, nước mắt tiếp tục chảy không thôi, biết bao điều muốn vuột ra khỏi trái tim nên lồng ngực đau thắt… Lâu lắm, chợt nghe tiếng bà dì Oanh nói “Cô phụ tôi thay quần áo cho Oanh nhé. Người bây giờ còn mềm, thay dễ”.

Tôi nâng đầu Oanh dậy tay chạm ngay vết thương sau ót, máu còn dính bết vào tóc. Đến lúc thay áo lại phát hiện ra phần dưới cũng bị thương, hình như vỡ xương hông thì phải. Ôi, đau đớn biết bao!

Mãi sau này các cháu con Oanh mới kể rằng, sáng hôm đó, một cậu nhỏ mới quen đến chở Oanh về Thủ Đức để đi hỏi vợ giùm cho cậu ta. Buổi chiều, trên đường về, đã gần đến nhà, đang băng qua con lộ Lý Thường Kiệt để vào ngõ thì bị một xe hơi do người tài xế say rượu đâm phải.

Oanh là thế đấy, hay làm chuyện bao đồng để giúp người.

Oanh mất đi bỏ lại bầy con 5 đứa. Con chim quý, Phụng Hoàng, của vợ chồng Oanh sinh bất phùng thời, mới 10 tuổi đầu đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhưng như một định luật bù trừ, hai con lớn cuả Oanh tiếp tục công việc của mẹ, không những đã duy trì được mức sống đầy đủ cho gia đình mà các cháu còn dìu dắt nhau học hành tới nơi tới chốn nữa. Nếu người ta tin có linh hồn thì chính linh hồn người Mẹ, day dứt lúc ra đi đã quay trở lại thế gian này để phù trợ cho các con vươn lên trong cuộc sống.

Hôm nay ngồi viết những dòng hồi tưởng này về một phần đời không nhỏ của bạn tôi, Vũ Hoàng Oanh, người phụ nữ tâm tính hiền lành, hay giúp đỡ người khác nhưng số phận cay nghiệt đã dành cho cuộc đời bao tang thương, oan trái. Khi sống, tâm tư luôn mòn mỏi vì lo toan cơm áo, còn mang nặng những vết thương không cơ hàn gắn. Đến lúc lià đời, lại ra đi trong một cơn mê khốc liệt với thân thể đớn đau, với cõi lòng đứt đoạn vì bầy con thơ dại.

Oanh ơi, những dòng hồi ức hôm nay cũng còn là những nén hương muộn màng mình thắp lên để nhớ đến Oanh, nhớ đến một quãng đời hai chúng ta cùng chung bước trải dài từ tuổi học trò cho đến khi vĩnh biệt.

Ngủ đi Oanh, hỡi bạn hiền,
Ngủ cho say nhé, triền miên giấc nồng
Chuông chùa vọng giữa thinh không
Đưa hồn an lạc về vùng tịnh yên.

Ấu Oanh
Hai mươi năm, ngày giỗ bạn, 21.6.1989 – 21.6.2009

Tiểu sử nhà văn Dương Hùng Cường

Sinh ngày 1-10-1934 tại Hà Nội, gia nhập Không Quân thụ huấn cơ khí viên tại Pháp năm 1953, trở thành hạ sĩ quan cơ khí phục vụ tại nhiều đơn vị. Từ giữa thập niên 1960 phục vụ tại Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Không Quân với cấp bậc Chuẩn Úy. Là một cây bút nổi tiếng trong giới văn nghệ, báo chí Sài Gòn, ông có 3 tác phẩm đã xuất bản: Lính Thành Phố, Buồn Vui Phi Trường và Vĩnh Biệt Phượng. Sau năm 1975, bị tù cải tạo tới năm 1979. Năm 1984, bị bắt giam với tội danh gián điệp do viết bài gửi ra nước ngoài và qua đời tại nhà tù T20 Phan Đăng Lưu, Gia Định năm 1987.




MƯA  SEATTLE — VƯỜN  THƯỢNG & BÌNH

rain raining GIF

MƯA  SEATTLE

Seattle mưa sáng, mưa chiều

Mưa trưa, mưa tối…sáng chiều đều mưa

Không mưa trời lạnh có thừa

Mưa nhiều trời ấm, mưa vừa lạnh se

Mưa rơi như bức màn the

Mưa khoe niềm nhớ, mưa che nỗi buồn

Mưa tuôn ướt đẫm mặt đường

Ướt đôi mi…nhớ…con đường ngày xưa

Lá me đổ xuống giống mưa

Saigon ngày ấy cũng mưa sáng chiều

Hoàng Mai Nhất

VƯỜN  THƯỢNG & BÌNH

Đường về nhà tôi cây xăng đầu ngõ

Kế bên chùa chuông gỏ lúc chiều buông

Nhà của tôi hoa Hồng trồng ngoài cổng

Cúc đủ màu, Thược Dược nở trong sân

Vườn nhà tôi cây Thông có bốn

Bụi Trúc vàng bên cạnh mấy cây Plum

Cuối mùa Thu, Hồng giòn cho trái    

Vườn Thượng Bình, đừng ngại ghé sang chơi  

             
 Hoàng Mai Nhất               




Cầu Nguyện Cho Một Người Hiền Vừa Ra Đi

KIỀU MỸ DUYÊN