Hạt Mưa Niềm Nhớ





Kính thưa quí vị,
Giới thiệu một tác phẩm thơ luôn luôn làm tôi bối rối. Bối rối vì người làm thơ nói lên cảm xúc rất riêng tư của mình mà người đọc nhiều khi chỉ thấy thoáng qua, nên có thể không giới thiệu tới cái phần xâu xa của tác gỉa. Khác với chính khách, thi sĩ không đại diện cho đám đông, không nhân danh quần chúng. Người làm thơ chỉ phát biểu cảm xúc của riêng mình, với cảm quan rất cá biệt. Nói như nhà thơ Nguyễn Đức Sơn: “thơ là những gì phức biệt có riêng tôi”. Chính với cái cá biệt đó thi sĩ đã dựng lên một thế giới của riêng mình. Trong thế giới riêng đó thiên nhiên đột nhiên có sức sống, có mầu sắc, có hương vị riêng mà chỉ thi sĩ nghe thấy nhìn thấy ngửi thấy.
Với người không làm thơ buồn vui không liên quan tới mưa nắng. Chẳng hạn trời mưa chỉ nghe tiếng mưa rơi, nhưng nơi một người làm thơ như Huy Cận ông thấy cả sức nặng của bầu trời tạo nên cái buồn của mình:
Đêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn
Ngược lại nơi Xuân Diệu, một tri kỷ của Huy Cận, thì cái buồn nó tới vì thi sĩ thấy trời nhẹ đi:
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
Cùng là nỗi buồn mà ngừơi thì thấy vì trời nặng, người thì thấy vì trời nhẹ. Hoàn toàn ngược chiều nhau. Thi sĩ là người đã tái tạo thiên nhiên như vậy. Chính cái cảm xúc khác biệt đó đã làm một người viết thành thi sĩ. Thi sĩ thấy và cảm những điều mà chỉ ông ta thấy và cảm mà người khác không thấy, không cảm.
Nhìn mây bay ta có thể nghĩ tới trời nắng hay sắp mưa, nhìn hoa nở ta thấy mùa xuân đang tới, nhưng ở Lý Bạch mấy trăm năm trước thì:
Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung
Nghĩa là nhìn mây bay ông nhớ tới xiêm áo tha thướt của nàng, nhìn hoa nở ông nhớ tới khuôn mặt diễm lệ của nàng. Những xúc động đó tới từ môt tâm hồn phong phú mà cũng rất riêng tư. Nhà thơ Joseph Brodsky, trong diễn văn nhận giải Nobel Văn Chương năm 1987 viết là: “Nếu nghệ thuật có dạy một cái gì cho nghệ sĩ thì đó chính là cái tính cách riêng tư của cuộc sống con người.” Ông nhận xét là người ta có thể chia sẻ nhiều thứ như bánh mì, chiếc giường, niềm tin nhưng không thể chia một bài thơ.
Chính vì cái rất đỗi tư riêng đó nhận xét về thơ luôn luôn là môt nghi vấn. May thay dù khởi đi từ cảm xúc riêng, bài thơ thành công luôn luôn truyền đạt đuợc tới người đọc cái cảm xúc của tác gỉa để người đọc cùng cảm cái rung động của tác gỉa. Từ một nỗi niềm tư để hòa vào một cái rất chung. Từ một cái riêng lẻ thành một cái rất tập thể.
Chính nhờ thế mà thơ trở thành phổ biến. Nó chuyên chở cái mà nhiều người cảm thấy nhưng không viết ra: tình yêu, nỗi nhớ nhung, mối hoài cảm v…v…. Băn khoăn, yêu vu vơ ở tuổi 20, dào dạt nỗi nhớ quê ở tuổi trưởng thành, ngậm ngùi với những hoài cảm khi xa quê hương. Thơ Hoàng Song Liêm là như vậy. Trong 100 trang thơ, từ những bài làm vào thập niên 50 tới những bài làm gần đây người đọc thấy tràn ngập tình yêu và nỗi nhớ nhung quê hương mà ông muốn truyền tới người đọc.
Rụt rè như:
Đo đắn phong thư gìn giữ mãi
Mong chờ hẹn dịp để trao đưa
Nhưng rồi e ấp tay dè dặt
Tha thiết bao nhiêu bấy hững hờ
Bâng khuâng như:
Hái bông hoa trong một vườn dị thảo
Ngát hương lòng ta gửi tặng riêng em
Em chẳng nhận cả trời sẩu não
Ta trở về ngồi đợi bóng trăng lên
Tập thơ gồm 46 bài tác gỉa sáng tác từ 1952 tới những năm gần đây. Sinh ra trong một đất nước chiến tranh, và chính ông là một sĩ quan đứng trên một chiến tuyến nhưng thơ ông không hề có dấu vết chiến tranh. Học Chu Van An từ 1948 tới 1954, rồi di cư vào Nam ông đồng hóa vào quân đội, làm trưởng ban biên tập cho Nha Chiến Tranh Tâm Lý. Sau đó chuyển sang Không Quân phục vụ trong ngành cơ khí cho tới 1965 mới chuyển sang Tâm Lý Chiến, làm chủ bút cho báo Lý Tưởng của Không Quân.
Từ khi còn đi học ông đã làm thơ đăng báo. Ông cộng tác với báo Tia Sáng, Giác Ngộ, Hồ Gươm, Giang Sơn khi chưa tới 20 và nhiều bài thơ trong tập thơ ra mắt hôm nay ông đã sáng tác vào thời kỳ trên dưới 20 tuổi.
Chất liệu trong thơ của ông ở thời kỳ này là tâm sự của tuổi 20, có tình yêu, có viễn mơ:
Đò ơi Ta một kẻ phiêu linh
Trọn tuổi hoa mơ mộng viễn trình
Ghé bến đây rung chèo dật sóng
Cho cùng theo với kiếp lênh đênh
Cũng như mọi thanh niên cùng lứa tuổi, ông cũng nghĩ tới chiến tranh đang chờ đợi:
Ngày mai khói lửa ngụt sa trường
Thân dấn vào trong lớp súng gươm
Khí uất căm hờn say bóng nguyệt
Quên tình dứt đứt cả tơ vương
Nhưng những xúc động về chiến tranh chỉ thoáng qua, hầu hết thơ trong thời kỳ này là tình yêu.
Hơn một nửa sau tập thơ là nỗi nhớ:
Nhớ thời bạch diện áo thư sinh
Nhớ thủa hàn vi ước mộng lành
Nhớ thủa mắt trong tình mới chớm
Ngẩn ngơ mầu áo, áo ai xanh
Mặc dù có 20 năm quân ngũ, và trưởng thành trong giai đoạn khốc liệt của chiến tranh, thơ Hoàng Song Liêm không hề mang một dấu vết chiến tranh hay hận thù. Thơ của ông không có bom đạn, không có lửa cháy, không có nước mắt. Có lẽ tình yêu chan chứa đã che đi những vết hằn của chiến tranh.
Nếu đọc thơ là để nghiêng tâm hồn mình xuống với kỷ niệm, đề những hoài cảm xôn xao trở về thì phần 2 trong thơ Hoàng Song Liêm đã đưa người đọc tới những hòai cảm đó.
Khi lưu vong mỗi người có một phản ứng khác nhau, có người chua xót, có người ngậm ngùi. Phần lớn là cay đắng vì đã bị bứt khỏi gốc rễ để đối diện với thử thách mới; xót xa vì bị đẩy khỏi thân quen để vật lộn với xa lạ. Thơ vì thế chua cay, bao phủ bởi những day dứt quê hương. Như thơ Cao Tần:
Mai mốt anh về có thằng túm hỏi
Mày qua bên Mỹ học được củ gì
Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi
Nói mày hay ông thượng đẳng culi
Ông rửa bát chì hơn bà nội trợ
Ông quét nhà sạch hơn em bé ngoan
Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió
Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan
Nhưng dù với những đắng cay chất ngất, lòng nhung nhớ quê hương vẫn trán đầy đâu đó với những hình ành ngọt ngào:
Em hãy tìm về sau căn nhà cũ
Đứng bên rào mà ngó lại vườn xưa
Em nhớ nhé dưới tàn cây trứng cá
Những trái mọng hồng trong ánh nắng sau mưa
Với Hoàng Song Liêm người đọc không thấy cái cay đắng, cái hận thù của kẻ lưu đầy. Tràn ngập trong thơ ông là cái diụ dàng trong hoài niệm. Buồn đấy nhưng không là cái buồn chua xót, nhớ đấy nhưng không là cái nhớ đắng cay. Đó là những xúc động trước cảnh trí nơi quê người làm trạnh nhớ quê hương đất tổ:
Vầng trăng ai xẻ nửa
Chênh chếch mãi non đoài
Mây trời mây viễn xứ
Lòng ai thương nhớ ai?
Cũng như hầu hết những người xa quê hương trong cái lạnh nơi quê người ông nhớ lại những hình ảnh quê xưa,; nhưng những nhung nhớ đó không hằn học, không chua chát mà nhiều tình người:
Bên ấy mùa này đã lạnh chưa
Sầu nghiêng gối lẻ bóng trăng mờ
Tình xa một nửa tim còn thiếu
Thao thức năm canh giấc mộng chờ
Bên ấy giờ này qúa nửa đêm
Phòng riêng nệm ấm giấc mơ chìm
Hành tinh ai cắt làm hai mảnh
Chiều xế bên này bóng nhớ em
Và cùng với thời gian tăng, lòng tha thiết với quê càng tăng thêm, ta thấy thơ ông bàng bạc những cảm xúc về quê hương:
Ôi quê hương gợi nhớ thủa nào xa
Hong tuổi dại nghe lời ru của mẹ
Bài ca dao thuộc nằm lòng tấm bé
Thương cái cò lặn lội mãi bờ ao
Với tuổi thất thập mà vẫn sáng tác thơ, ông đã cho thấy cái tha thiết với thi ca với văn chương Việt Nam. Thông thường cái mất mát lớn trong văn chương khi xa quê hương là người viết mất đi cái sức sáng tạo mà khi trong còn trong nước rất dồi dào. Chúng ta có thề thấy hiện tương này phổ biến trong rất nhiều giới làm văn hoá Việt Nam. Vẽ không như xưa, viết không như xưa, làm nhạc không như xưa. Như cây trồng đất mới, rất ít bén rễ mới.
Sáng tạo và xuất bản trong điều kiện lưu vong là đã nuôi dưỡng dòng văn học Việt không những cho chúng ta, thế hệ ra đi đầu tiên, mà còn cho những thế hệ mai sau. Nước Nhật có một tục lệ là mỗi năm chọn mười bài thơ hay nhất sáng tác trong nước và ngoài nước để chính tác gỉa đọc thơ cho Nhật Hoàng trong một buổi lễ vào dịp Tết. Nhà văn Võ Phiến có nhắc tới Thi Sĩ Minoru Fujita một người sống lưu lạc ngoài nước Nhật từ nhỏ đã được chon. Đó là một trường hợp rất đặc biệt vì ông ta đã sống xa quê hương rất lâu, trở nên xa lạ với sinh hoạt trong nước. Có môt người tìm được một bài thơ ngắn của ông dịch sang tiếng Anh:
I no longer know
What they are saying
In my native land
But I know the flowers
Smell the same
Tạm phóng dịch: Quê hương cho dù biến đổi, và mình cho dù đã xa lạ với vấn đề của xã hội mới, ngôn ngữ mới, nhưng tôi biết nơi đó hoa vẫn tỏa một mùi thơm cũ, mùi hương đó mãi mãi không thay đổi.
Như vậy chừng nào hoa xưa vẫn tỏa mùi thơm cũ nhà thơ vẫn cảm đươc mùi hương xưa, chừng đó nhà thơ vẫn thấy gần gũi với quê hương, vẫn làm thơ với ngôn ngữ quê hương và vẫn được tán thưởng cho dù sống trong hay ngòai nước.
Xin cám ơn qúi vị.
Hoàng Song Liêm là một trong những con người di tản tương đối thành công. Anh là một Sĩ quan Không Quân cấp Tá. Cộng Sản vào Nam, anh đã sớm đào thoát chạy ra nước ngoài.Anh không bị một ngày tù như phần đông những người bạn cùng trang lứa với anh. Sang đến Hoa Kỳ,anh làm ăn khá giả, con cái tương đối thành công nhưng lời thơ anh vẫn u uất buồn :
Tết lạnh quê người phai sắc áo
Người đi nẻo khuất vẫn chưa về
Nghiêng bầu lại rót mùi cay đắng
Gió lạnh phòng không chẳng liếp che !
Không có liếp nào che cả. Mới biết tấm lòng thương quê nhớ nước mãnh liệt đến chừng nào. Bỏ nước ra đi vì anh không thể sống dưới một chế độ không có Tự do,Dân Chủ.Có tự do, Dân chủ rồi nhưng còn một cái gì đó anh không có. Đó là quê hương. Quê hương không phải chỉ là song,là núi, là mồ mả ông cha,là họ hang, làng mạc. Quê hương lại còn là những làn gió, những ánh trăng, những cơn mưa gió thất thường, những con đường lầy lội, những mái rơm, mái rạ, những con người lầm than, đói khổ. Nó là cuộc đời, là tuổi trẻ của chúng ta. Là tiếng mẹ ru, là mùi thơm hoa cau, hoa bưởi, là đêm khuya tiếng chiếc mo cau rụng ở vườn sau. Ôi quê hương ! Là thứ chúng ta không thể diễn tả bằng lời nhưng nỗi mất mát quê hương vẫn hiện hữu trong chúng ta từng giây, từng phút.
Toàn thể tập thơ không bài nào là không đề cập đến quê hương. Quê hương và tuổi trẻ. Quê hương và thời gian. Càng về già,chúng ta càng quý tuổi trẻ,càng ngậm ngùi vì thời gian qua mau.
Dài tay năm ngón xanh xao
Sầu mây tóc trắng chiêm bao nửa vời.
Dài tay mười ngón tay xuôi,
Sầu đôi hộc mắt, môi cười ngẩn ngơ.
Quẩn quanh năm tháng thừa dư,
Gai chông nhọn hoắt,chân dò dẫm đi.
“Sầu đôi hộc mắt”hai con mắt lõm xuống vì đêm không ngủ được vì sống ở đây không thực sự là sống. Sống ở đây đối với người chỉ còn có nghĩa là tồn tại….
Năm cửa ô xưa băm sáu phố
Xa quê hương, nhất là quê hương ấy lại là Hà Nội thanh lịch thì là sao những người con của Hà Nội có thể quên được năm cửa ô, quên được Hà Nội băm sáu phố phường.
Năm 1954, Mai Thảo bỏ miền Bắc đã viết một cuốn truyện thật hay:” Đêm giã từ Hà Nội”. Hay vì thực, vì chân thành. Nghệ thuật chỉ làm nên những bài thơ, chỉ tâm hồn mới là thi sĩ. Câu nói đó của một thi nhân Pháp viết cách đây hàng thế kỷ mà muôn đời vẫn đúng.
Tôi nhớ mãi đến Hoàng Song Liêm những ngày mới chập chững bước vào đời.Khi ấy,chúng tôi còn là quân nhân trong ngành Tâm Lý Chiến. Liêm thì ngoài 20, còn tôi ngoài 3 chục. Liêm còn độc thân , tôi đã có ba bốn con. Chúng tôi gặp nhau và tự nhiên thấy rất gần gũi, thân thiết với nhau,vì chúng tôi cùng làm thơ và cùng yêu thơ…
Phương Nam mù mịt trời phương Bắc,
Mây trắng giang hồ , mây viễn phưong..
Tôi biết tại sao Liêm lại giao cho tôi viết mấy lời đầu của cuốn sách. Vì Liêm cũng như tôi, chúng tôi thích sự chân thành. Nếu như lối viết của Vũ Hoàng Chưong, của Huy Cận cổ rồi thì làm sao chúng ta còn thưởng thức được Tản Đà, còn thưởng thức được ca dao. Hoá ra cuộc sống của thi ca còn ngắn ngủi hơn cả cuộc sống của con người nữa hay sao ? Mới không phải là tìm ra lối diễn tả kỳ cuc. Mới là cách nhìn sự vật. Nhiều người nhìn mà có thấy gì đâu ? hang nghìn năm trước, Lý Bạch nhìn trăng và nói thế này :
Nhân phan minh nguyệt bất khả đắc
Nguyệt hành khước dữ nhân tương tuỳ.
(Người với lên trăng thì không được,
(Nhưng người đi đâu thì trăng theo đó )
Hoặc:
Kim nhân bất kiến cổ thì nguyệt,
Kim nguyệt tằng kinh chiếu cố nhân.
Người ngày nay không thấy trăng ngày xưa
( Nhưng ) trăng ngày nay vẫn thấy người ngày xưa.
Kiếp sống của con người thật là phù du so với cảnh vật. Lý Bạch chỉ nhìn và diễn tả. Ông không cần biện luận. Cần gì phải biện luận. Chúng ta chỉ đọc cũng đủ thấm thía cho cuộc sống ngắn ngủi của kiếp nhân sinh.
Hoàng Song Liêm năm mươi năm rồi anh mới lại cho tôi đọc thơ . Thơ anh vẫn trẻ như ngày nào. Hình dáng chúng ta không còn như xưa nữa nhưng tinh thần chúng ta nào có gì đổi khác.
Tôi mừng cuộc đời chưa làm tôi mất một người bạn, một người thơ.
HÀ THƯỢNG NHÂN
Trần Tuấn Kiệt
Có những người văn nghệ đã thành danh từ vài thập niên trước, nhưng vì hoàn cảnh lịch sử, cuộc đời họ đã một thời gian im lặng, hay sinh hoạt văn hóa ở một nơi xa xôi nào mà người trong nước không biết, đó là trường hợp anh Hoàng Song Liêm. Anh vừa cho xuất bản thi phẩm Hoàng Song Liêm, nhà xuất bản Văn Nghệ, đồng thời có riêng một ấn phẩm đặc biệt kèm theo để bạn thơ thưởng thức phần thơ riêng của anh. Tôi vốn thích cái gì riêng biệt không muốn ai đó kiểm duyệt mình nên vội đọc phần này trước.
Thoạt đầu khiến ta chưa dở vội trang thơ trong vì khổ thơ và mẫu bìa vẽ một nàng thơ tuyệt vời màu sắc tươi thắm đậm tình dân tộc. Tôi nghĩ đó là một nét họa của Ðằng Giao. Quả nhiên, khi xem lại thì tranh của Ðằng Giao thật nhưng tôi cứ lớ ngớ tìm hoài không thấy tên họa sĩ, ngoại trừ bức chân dung sắc nét của anh ký tên là Toại 6/29/01 thế thôi. Anh Hoàng Song Liêm tỏ ra rất trân trọng với thơ mình từ việc chọn khổ in thơ, tranh và những trang giấy hoa đẹp vẽ những viền mây bao phủ và làm nền cho thơ bay trên đó.
Tôi xin diễn sơ ngoại cảnh một chút. Tôi từ chỗ cô Nguyễn thị Hàm Anh về, hiện trời mưa như trút, trời đỏ như gạch son, những ngày cuối năm đầy mưa gió lạnh lùng ở Saigon. Cũng chính Hàm Anh trao cho tôi hai bản thơ quý của anh mà từ lâu rồi, tôi chưa thấy ai in thơ đẹp như thế. Tôi ra đóng chặt cửa trên gác lại, mưa ào ạt và sấm động liên hồi. Tôi vốn rất sợ sấm, hồi nhỏ ở quê tôi bị sét đánh hụt một lần, bà ngoại tôi bay chiếc nón lá khi cùng tôi chạy qua cầu sắt Sa Ðéc. Vì thế sau này tôi rất sợ sấm chớp… Ðóng cửa lại, mặc cho mưa gào bên ngoài, trong căn gác vắng tôi ngồi đọc thơ Hoàng Song Liêm.
Ðọc bài “Hoài Vọng” tôi nghe như có một chút gì khắc khoải, u hờn mặc dầu dấu vết thời gian đã đẩy đưa rất nhiều hư ảnh về quá khứ. Ngôn từ Việt, những chữ: đó, nọ, kia, mà… như âm vang của một tiếng đàn cổ reo lên trong thời đại này đem lại rất nhiều hoài cảm thiêng liêng
Lửa của lòng ta nay đã tắt
Thôi nhắc làm chi những lúc xưa
Những chiều mơ mộng rồi hoài vọng
Mà… bóng thời gian đã xóa mờ
Anh nói đến ngọn lửa, dù anh cho là đã tắt nhưng ta cảm thấy nó đang giục nhiều nỗi đời nung nấu trong thâm tâm nhà thơ… dễ gì đã tắt!
Bài “Hẹn” tiếp theo cho thấy một tay thơ đã chín, đã điêu luyện tự bao giờ với nghệ thuật thơ lục bát ngày xưa. Người ta thấy dòng thơ lục bát này đi từ Nguyễn Du, đến Huy Cận, đến Hoàng Trúc Ly, Hoài Khanh… Giòng lưu ly của thơ lục bát đã hòa với giòng sông lớn của thi ca Việt đem đến một tòa hoa gấm bền bỉ và bất tử. Sẽ có những người em tiếp theo đi trên những dòng lục bát sâu xa trường cửu đó mai sau.
Bây giờ hãy đọc:
Mai này… hẹn sẽ về thăm
Ô hay sao vẫn ruột tằm rối tơ?
Biển Ðông vẫn cách đôi bờ
Chân mây đã khuất lối xưa mịt mù
Hạ buồn tóc điểm sương thu
Ðầu non đá dựng bốn mùa miên đông
Mai này… biết có về không
Ðàn mê chợt rớt tiếng đồng lạnh tanh
Mộng thầm, gối mỏng chông chênh
Chân ai bước mỏi nẻo xanh, mai về
Khí thơ êm đềm lạnh đến hư không và miên viễn như một dòng thời gian bất tận khiến ta nhớ đến bài thơ của Lưu Trọng Lư, bài Quay Tơ. Các bạn quý thơ hãy đọc và chia xẻ nỗi ngậm ngùi với Hoàng Song Liêm trong cảnh “tà huân” của cuộc đời! Tuy cảnh tà huân, nhưng anh đã lưu lại cho người đời điệu thơ vừa trữ tình sầu mộng vừa lẫn hương vị siêu hình của luật trời: Sự tuần hoàn của Tạo hóa mà không một ai thoát khỏi kiếp người như thế cả. Tôi cho đấy là một bài thơ tuyệt đẹp, một bài lục bát hiếm hoi trong vườn thơ hiện đại.
Nhưng đâu phải chỉ một nỗi miên man đến chạnh lòng đó. Bài “Tổ quốc xa” đã mang lại một thứ tâm tình viết lịch sử như anh Nguyễn Mạnh Côn, anh Vũ Khắc Khoan độ nào. Nói đến Nguyễn Mạnh Côn tôi mạn phép mở ngoặc một chút về chuyện anh bị bỏ đói khát chết trong trại cải tạo, có người đồn là do Duyên Anh gây ra. Nhưng anh Nguyễn Quốc Ðịnh cũng là bạn văn chương ở chung với Duyên Anh và Nguyễn Mạnh Côn xác định rõ với tôi là việc đó không phải do Duyên Anh tạo ra. Vậy xin ghi vài lời để anh em ngoài cuộc rõ và giải mối oan tình cho Duyên Anh từ lâu nay (?!)
Vẫn niềm hoài cổ,vẫn khắc khoải với nước non – dù tóc đã bạc, gối đã mòn, tâm hồn vẫn còn rất nhiều lửa để hong ấm nỗi niềm nhớ thương về một thời Quốc gia rực rỡ- Thời đại lịch sử đôi khi lúc vơi rồi lại đầy. Lịch sử chân chính bao giờ vẫn tồn tại trong lòng người – Nhà thơ ơi! Không mất đi đâu cả! Cũng như như dòng lục bát của anh vẫn ngân nga trong thời gian đó vậy. Tôi nhớ tới thơ Vũ Hoàng Chuơng.
Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Thời đại này, lịch sử trở mặt, lịch sử của bầy ngạ quỷ chỉ muốn ăn thịt đồng bào, nòi giống còn hơn gấp vạn lần thời của nhà thơ họ Vũ khi xưa.
Simon Veil bảo lịch sử có hai bề mặt. Bề mặt đen tối đang bủa vây khắp nơi khiến cho dù nhà thơ Hoàng Song Liêm đã mệt mỏi trên đường đời vẫn buông lời thơ như Bà Huyện Thanh Quan trong ThăngLong Thành Hoài Cổ. Người có ý thức tự do và yêu nước ai có thể thờ ơ được với nước non này. Vì thế mà trong thơ ông, chúng ta còn nghe rõ tiếng hờn uy linh của sông núi, của những chiến trường xưa và chiến binh anh hùng đã một thời trận mạc để bảo vệ đất nước, giang san trước bọn giặc thù. “Màu xanh” tưởng đâu thanh thoát, nhẹ nhàng, trẻ trung vui sướng. Ai ngờ lại ẩn rất nhiều tiếng vọng của non sông một thời.
Trời xanh xanh biển xanh xanh
Ðỉnh núi che nghiêng bóng cờ thành
Phần phật cờ bay mùi khói tỏa
Nghe rền trống trận thuở đao binh
Thoáng nhìn một bài thơ, ai chớ vì cái tựa mà hiểu lầm. Ðạo ẩn ư tiểu hành. Những ngụ ngôn và phản ngôn của thi ca chứa nhiều trong đó. Màu Xanh!
Dầu sao nhà thơ vẫn còn rất nhiều tình cảm mặn nồng của tuổi thanh xuân đầy những mộng tình tha thiết. “Em” của nhà thơ là ai đây? Là người bạn đời chăn gối, tình nhân hay nàng Thơ. Chúng ta không vội phân tích ý nghĩa và ngôn từ, chỉ nên thưởng thức vần thơ êm đềm, châu ngọc của thi nhân. Mời bạn đọc “Viết cho em” và tự thưởng thức lấy cái hương vị diễm tình của thơ.
Hoàng Song Liêm làm thơ cả một đời mà bắt đầu vào thời của Quách Tấn, của Vũ Hoàng Chương, Phạm Hầu. Ðọc thơ ông phải nghĩ tới linh hồn thơ ấy đi qua rất nhiều chặng đường nghệ thuật từ lãng mạn, tượng trưng đến siêu thực, siêu hình bàng bạc khắp ý thơ – từng trải qua rất nhiều nẻo đường lịch sử văn học của dân tộc Việt. Cũng không khỏi nhớ đến những người anh cả là Hà Thượng Nhân, Cao Tiêu… những người bạn như Tô Kiều Ngân còn ở lại VN.
Rồi thấm thoát bóng dương cũng mờ dần, buổi hoàng hôn lại đến và con người thi sĩ vốn hiện hữu giữa trần gian còn để lại gì? Nào những màu thời gian… của Ðoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, nào những lớp lang lịch sử xô về đưa tất cả vào thái hư tịch mịch. Nhà thơ nói về thời gian vô thường, những hiện tượng của đời vẫn sinh động đẹp đẽ… và thi nhân thay đổi với Vô Cùng nhưng còn mùa Xuân ấm nồng lại đến. Ðông sẽ tàn và Xuân lại sang như Bùi Giáng viết:
Em bảo rằng đừng tuyệt vọng nghe không
Còn trang thơ thấm lại với trời hồng
Tuy nhiên khi đọc thơ ông ta cũng cảm thấy bồi hồi xao xuyến quá! Niềm xao xuyến làm linh hồn ta cũng cảm thấy khắc khoải như thơ ông. Tiếng thơ đẹp, mẫu đẹp của tiếng thời gian, của một đời người với bao nỗi thất bại của con người thiên thu đi về trong hố thẳm của lịch sử và cuộc đời (như Con Lũ Quanh Ta). Còn một điều quan trọng là sự chân tình trong thơ. Ðọc thơ ông, người ta không thấy có sự làm dáng thi sĩ hay trí thức mà là những tiếng thơ từ tâm tình cao rộng, đầy sự cảm thông đối với con người, với lịch sử và cuộc đời.
Với “Hà Nội, đêm giã từ”, những câu thơ đạt tới một nghệ thuật thi ngữ mênh mông với mối tình xa xôi của kẻ giang hồ viễn xứ.
… Phương Nam mù mịt trời phương Bắc
Mây trắng giang hồ mây viễn phương
Có hình ảnh dấn thân trong cõi cát bụi thời gian của một người chứa đựng nhiều lửa, nhiều nhiệt huyết lúc lên đường
Lục bát Hoàng Song Liêm dàn ra một không gian rộng, tiếng thơ đạt đến sự tự nhiên như những thi tài xưa nay. Ông xử dụng thơ trơn tru, ngọt ngào và đậm tình thu bát ngát. Sự điêu luyện đó còn thể hiện trong rất nhiều vần lục bát trong thơ ông. Hoàng Song Liêm không chỉ có thơ bảy chữ, lục bát, ông còn làm nhiều bài thơ xuôi, thơ sáu chữ, thơ tự do với những kỳ tứ rất lạ…
Cuối cùng đến bài thơ “Rồi ngày tháng qua đi” do Ðỗ Nguyên phổ nhạc. Thơ và nhạc giống như đội bạn tình thường hòa quyện với nhau – trong hai thứ nghệ thuật của cuộc đời-
Những dòng viết trên chỉ là viết cho thi bản riêng biệt của nhà thơ Hoàng Song Liêm. Riêng thi phẩm lớn của ông in rất nhiều thơ hay mà tôi chưa có thời gian đọc vì sức khỏe quá kém sút trong những ngày gần đây. Khi hồi phục lại được, tôi sẽ đọc cẩn thận hơn về một tác phẩm và một đời người làm thơ, sống với thơ thật đẹp của ông.
Trần Tuấn Kiệt
12/2005
THÁNG CHẠP BUỒN
Bông hoa đại vàng
Sao nở về đêm
Yêu anh muộn màng
Trong nỗi cuồng điên
Tháng chạp mong chờ
Chúa đến trần gian
Em đi nhà thờ
Van vỉ miên man
Anh ở phương nao
Dấu thương yêu tàn
Trên tầng mây cao
Gió gọi mơ màng
Tháng chạp bâng khuâng
Thánh giá lặng thầm
Trên đỉnh mùa xuân
Em vác mê lầm…
CAO MỴ NHÂN
CUỘC TÌNH NÀY
Ta chôn cuộc tình này
Trong vòng tay người đợi
Người xót xa mời gọi
Trong tĩnh lặng chơi vơi
Mười lăm năm rong chơi
Giữa thiên thu cách trở
Cuộc tình đầy lỡ dở
Có chi mà luyến tiếc
Tháng chạp còn tha thiết
Năm sắp sửa trôi qua
Cánh hạc vàng đang sa
Về mênh mông vô tận
Anh cũng như người hận
Em giống anh u buồn
Đời sắp sửa hoàng hôn
Chân mây tàn ánh lửa…
CAO MỴ NHÂN
Mời độc giả click vào mữi tên bên dưới góc trái để lật trang.


Tạ mẹ cha tình nghĩa thiết tha
Cho con bóng mát đẹp ngôi nhà
Trăng sinh nhật vẫn hoài vương vấn
Tưởng nhớ âm thầm lặng lệ sa
Tạ mái trường thời áo trắng thơ
Thầy Cô dạy dỗ quý hằng giờ
Chiều vương bóng Phượng tô thềm mộng
Nắng lụa đan mềm dệt cõi mơ
Tạ mái Chùa xinh học tập thiền
Kinh trì đuốc tuệ giải thần tiên
Chân nguyên an trú đời thanh tịnh
Bóng Phật hương sen chỉ lối hiền
Tạ lính Cộng Hoà nhọc xác thân
Thương binh, tử sĩ não vô ngần
Hy sinh chiến đấu vì non nước
Tù tội rừng sâu bỏ mạng dần
Tạ nước Hoa Kỳ cứu vớt mang
Quê hương ngoảnh lại khóc điêu tàn
Về miền đất hứa đầy nhân đạo
Cảm tạ vô cùng cuộc sống an
Tạ bạn chân tình sát cánh ơi
Mây trong nắng đục vẫn bên đời
Giòng sông cuốn chảy theo ngày tháng
Gió tủi mưa sầu giải nỗi vơi
Tạ bóng xuân hồng ửng mắt môi
Hạ reo nắng rực gợi bồi hồi
Thu về lá đổ rung thanh nhạc
Đông lạnh mưa gầy gợi cảm thôi
Tạ ánh trăng mờ gối giấc thâu
Trời riêng thổn thức tiếng thơ sầu
Hoa Quỳnh hé nở sương loang loáng
Đợi nét trang đài ẩn chứa sâu
Tạ các Thi Đàn lẫn Bút chương
Chân trời mở rộng bóng yêu thương
Ngõ hoa giẫm bước say hương vị
Mát mộng hồn du khắp nẻo đường
Tạ lễ đất trời được ấm no
Anh em họp mặt hưởng nhiều trò
Gà Tây hiểu nghĩa thêm nguồn gốc
Nước Mỹ ân tình khó sánh so
Minh Thuý Thành Nội
Tháng 11/25/2021
Lễ Thanksgiving
Tạ ơn người cho ta nơi nương tựa
Trời tự do một sức sống an lành
Đón nhân sinh vượt qua bao khổ nạn
Ngọn đuốc nhân quyền bừng sáng long lanh.
Tạ ơn nước Mỹ, đất lành chim đậu
Cho muôn sinh, nương tựa an bình
Tình thương đó, tựa núi cao biển rộng
Vượt Thái Bình Dương bao nỗi hy sinh.
Tạ ơn vùng đất cho ta sống lại
Từ bạo quyền cộng sản lắm tang thương
Vượt đại dương về đây chung sống
Sự sống vươn lên từ những đoạn trường.
Tạ ơn hoa, vì chúng sinh bừng nở
Ơn đất lành nuôi sống những kiếp người
Tạ ơn vòng tay ân tình rộng mở
Đời phong ba mưa gió đã mỉm cười.
Lễ tạ ơn, những chân tình vô lượng!
Chỉ một lần, không đủ nghĩa biết ơn
Người chân chính hãy thành tâm nhận diện
Vùng đất này nơi thay thế giang sơn.
Lê Tuấn
Cảm nhận về ngày lễ Thanksgiving 2021.

Vài Nét Về Nhà Thơ Mặc Khách.
Là một cây bút trong Quân chủng Không Quân nổi tiếng chuyện trị…Thơ! Các trang nhà của KQ, đều có cả một vườn thơ của Mặc Khách, như “Hội Quán Phi Dũng” chẳng hạn…vv…
Mặc Khách chỉ là bút hiệu, tên thật là Trương Lâu, quê Bình Thuận. Là một cựu sinh viên Luật khoa trước khi gia nhập quân đội. Anh là một Sỹ quan của một Quân chủng “đi mây, về gió!” cho đến ngày mất nước.
Sau 75, (tốt nghiệp…tiến sĩ!) Vì đã học 7 năm trong Trại Cải Tạo Cộng Sản, 3 năm quản chế, qua Mỹ theo diện HO.
Đã xuất bản: Tình Thơ & Một Mảnh Đời (2010), Hồn Thơ & Đất Khách (2015) và năm nay, Thư Tình & Giữa Đời Hư Thực (2021) Anh cũng là một thành viên trong Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
Có lẽ VTLV rất có duyên với những cây bút yêu mây trời, lấy Không Gian làm Tổ Quốc, nên các Cánh Chim “Bốn Phương” đã quy tụ về đây! cùng hát vang bài ca “Ta Là Doàn Chim Bay Trên Cao Xanh!”
Xin hân hạnh giới thiệu tác phẩm mới của một Niên Trưởng KQ quý mến của tôi, dù Anh Em chúng tôi đã bị…gẫy cánh, kẻ thù vùi dập bẻ cánh vỡ vụn! Nhưng chẳng ai có thể mang trời xanh, gió mát, mây trắng, ra khỏi trái tim của những người Lính, một thời “tung cánh chim sắt” vùng vẫy, hiên ngang, gìn giữ bầu trời Quê Mẹ cả. Ội không gian bao nhiêu năm, vẫn…hằn nỗi nhớ!
Lê Văn Hải

Văn Thơ Lạc Việt Trân Trọng Giới Thiệu Thi Tập:
*******
TUYỂN TẬP THƠ TÌNH & GIỮA ĐỜI HƯ THỰC
*
“TUYỂN TẬP THƠ TÌNH” mới nở hoa
“GIỮA ĐỜI HƯ THỰC” ánh quang hòa
TRƯƠNG LÂU “Khoa Luật” gìn quê Mẹ
MẶC KHÁCH “Không Quân” giúp nước nhà
Quốc phá, chinh nhân đành biệt xứ
Gia vong, thi sĩ buộc rời nhà
Dồn bao tâm huyết từng trang sách
Chia sẻ cùng người, chớ bỏ qua!
***
Bỏ qua uổng lắm, “TẬP THƠ TÌNH”
MẶC KHÁCH tỏa ngời nét xảo tinh
Từ ngữ mượt mà như Phượng múa
Cú câu uyển chuyển tựa Loan trình
Đường Thi, Lục Bát… tràn phong cảnh
Thơ Mới, Ngũ Ngôn… quyện ảnh hình
LẠC VIỆT mừng vui xin giới thiệu
VĂN THƠ mời đọc “TẬP THƠ TÌNH”
Phương Hoa – BBT VTLV – AUG 3rd 2021
ĐÔI LỜI TỪ TÁC GIẢ:
Kính chào Quý vị Văn Thi Hữu VanThoLacViet
Kính chúc Quy vị và Gia Đình Sức Khỏe – Bình An – Hạnh Phúc.
Lời chia sẻ trong những tháng năm Đại dịch Vu Han (2020….)
Thời gian qua mau, ngày tháng của Thế hệ trẻ – cuối cùng của năm 1975 – càng thu nhỏ và, không xa, sẽ không còn hiên diện nơi đây … – Diện tỵ nạn HO. chúng tôi. Thế hệ cuối, cũng nhiều đau thương, cho dù cuộc sống rất đầy đủ, tại nơi đây. Có lẽ quý vị đã hiểu (tuổi trên dưới 70 t) với những đứa con mới sinh ra 1982…
và giờ đây … đã trở thành chuyện cổ tích cho những cháu trưởng thành của thế hệ @! và cũng xa vắng….
Vâng, cho tôi lưu lại chút dư vị đời tôi xót xa theo vận nước và cũng là hình bóng của những mảnh đời thân phận làm tù binh (cải tạo), đọa đày! Vâng, vì vận nước, vì nhiều nguyên nhân – Không có sự thù hận….nhưng mãi mãi sẽ hằn sâu một lằn ranh vô hình trong tâm hồn của những người Việt ly hương!
Thoảng nghe có sự kỳ thị? Nơi có du học sinh ở hải ngoại, âu chỉ là sự khác nhau về ngôn ngữ, đạo đức, văn hóa, nhân sinh quan hoặc Học Thuyết Hóa. Có gì không đúng kính xin Quý vị chỉ bảo.
Trân trọng
Mặc Khách

Lê Văn Hải xin mời quý vị đọc một bài thơ của Mặc Khách dưới đây:
VINH DANH KHÔNG QUÂN
MẶC KHÁCH
Không gian hỡi! kiêu hùng – hằn nỗi nhớ!
Của một thời lồng lộn giữa không trung
Chí làm trai in đậm nét hào hùng
Không nao núng, anh đi vào lửa đạn
*
Xếp bút nghiên, giang đôi tay đón nhận
Nợ ân tình, nợ đất nước điêu linh
Từng lệnh bay, anh chấp nhận hy sinh
Lòng quả cảm khiến bao người thán phục
*
Dưới đôi cánh, quân thù nghe khiếp đảm
Phòng không Sô Viết tua tủa vút cao
Dương cánh bay gào thét lao vào
Giặc phương Bắc, bao phen hồn run sợ!
*
Giữa thành phố, chiếc áo bay kiêu hãnh
Từng bước đi, khiêm nhượng dáng oai phong
Chí hiên ngang, lửa đạn chẳng sờn lòng
Muôn ánh mắt, ngước nhìn lòng ngưỡng mộ
*
Cảnh giàu sang, danh vọng đời tình ái
Anh lãng quên tung cánh giữa Trời Sao
Xác thân anh làm đuốc ở trên cao
Gương Anh Dũng muôn đời Tổ Quốc nhớ!
MẶC KHÁCH
Lời Chúc Đến Quý Niên Trưởng, Quý Anh Chị Trong Văn Thơ Lạc Việt Nhân Mùa Lễ Tạ Ơn – Happy Thanksgiving 2021
Trong tinh thần Mùa Tạ Ơn, Hải và Gia Đình xin gửi lời cầu chúc tốt đẹp nhất đến tất cả Quý Niên Trưởng, Quý Anh Chị và Gia Quyến:
Một ngày Lễ Tạ Ơn hạnh phúc, an lành, mọi điều may mắn. Xin Cảm tạ Trời, Người, Đời, sau 75, mang thân phận Người Tị Nạn CS, đã cho chúng ta được sống trên Quê Hương thứ hai, nước Mỹ này, với đầy đủ tự do no ấm, dân chủ và quyền làm người.
Không quên nhắc nhở, hoa Tự Do được nở, là do tưới bằng máu của những người Chiến Sĩ Hoa Kỳ đã nằm xuống, xin dâng những bông hồng cảm tạ trong ngày lễ này.
Cũng xin Tạ Ơn tình thương tình mến, của những tấm lòng, trong mục đích chung “bảo vệ và phát huy tiếng Mẹ” để Văn Thơ Lạc Việt vẫn trường tồn và hoạt động mạnh mẽ, hữu hiệu trên 30 năm qua.
Tâm tình Cảm Tạ là giữ truyền thống tốt đẹp:
Khi còn ở Việt Nam, chúng ta mừng Năm Mới với ba ngày Tết, cũng là ba ngày Tạ Ơn. Mồng Một dành để tạ ơn Đất Trời và Cha Mẹ. Mồng Hai dành để tạ ơn Thầy Cô và bà con thân quyến. Và Mồng Ba dành cho Bạn Bè.
Như thế từ thuở còn bé, truyền thống và phong tục nơi quê nhà, đã chỉ cho ta biết tạ ơn Trời, tạ ơn Người và tạ ơn Đời.
Nay trên xứ người, lại còn có ngày Lễ Tạ Ơn, cộng với truyền thống tốt đẹp của Cha Ông, trong tinh thần “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây.” Đặc biệt, xin cám ơn tất cả những giúp đỡ chân tình dành cho Hải trong chức vụ Hội trưởng gần một năm qua, cảm tạ những ân tình đáng quý mến này.
Một lần nữa, xin cầu chúc tất cả Quý Vị và Gia Quyến: Một Lễ Tạ Ơn an bình, tràn ngập tình người, ơn phước từ Trời Cao.
Mừng Lễ Tạ Ơn – Happy Thanksgiving 2021
LVHải
Nhóm Mõ Nhân Ái Mang Không Khí Lễ Tạ Ơn 2021 Sớm Đến Với Người Không Nhà (Homeless)
(San jose) Thứ Năm tuần sau mới đúng là ngày Lễ Tạ Ơn, nhưng Thứ Năm tuần này, ngày 18 tháng 11 năm 2021, lúc 8 giờ 30 sáng, Anh Hải đã diện Nhóm Mõ Nhân Ái, đem chút không khí ngày lễ đến những người không nhà, tại sân cỏ gần thư viện Tully, San jose.
Với 5 hộp quà, cho tiết mục xổ số lấy hên, trên 50 bao lì xì, tiền mặt gấp đôi những ngày bình thường, tặng cho Homeless. Đây là những mục vui, cộng thêm vào Bữa cơm truyền thống mừng lễ Tạ Ơn.
Không khí chợt vui nhộn hẳn lên, một khách không nhà với nụ cười tươi, ôm anh Hải nói lời cám ơn: “Nhờ Quý Anh Chị, chúng tôi đã hưởng được chút không khí thương yêu của ngày lễ. Happy Thanksgiving! Chẳng có Nhóm nào đối xử nặng tình người như Nhóm các anh cả.”
Buổi cơm, phát quà, cộng vào những tiết mục chơi vui, diễn ra trong tình thân mật gia đình, ấm cúng tình người, trong một buổi sáng chớm đông se lạnh.
Một khách không nhà khá trẻ, người VN tâm sự: “Cám ơn Quý Anh Chị Nhóm Mõ Nhân Ái và nhiều ân nhân. Không có sự giúp đỡ của quý vị thời gian qua, nhiều người tụi em sống không nổi! Khổ sở thân xác đau một, cảm giác bị xã hội bỏ rơi, đau đớn hơn nhiều!”
Câu tâm sự này, có lẽ là món quả an ủi quý báu nhất cho những người đã có thiện chí, thiện tâm phụng sự, vì nhận thấy có kết quả giúp đỡ thiết thực.
Nhân đây, trong tinh thần Mùa Tạ Ơn, tôi xin đại diện Nhóm, chân thành gởi lời cảm tạ đến với tất cả Quý Ân nhân đã góp tay trong công tác nhân ái này. Xin Thượng Đế trả công bội hậu cho Quý Vị và Gia Quyến, vì những điều tốt đẹp mà quý vị đã thực hiện nhằm giúp đỡ tha nhân. Phần thưởng đầu tiên quý vị nhận được từ Thượng Đế, đó là niềm vui an bình trong tâm hồn. “Bình an dưới thế cho người thiện tâm!” Cám ơn tất cả! đặc biệt năm dịch bệnh Covid khó khăn vừa qua, vì tấm lòng mà Quý vị yểm trợ, mà chương trình đã đi được đoạn đường dài trên 28 năm!
Vào một buổi sáng, Sai gòn còn chìm trong màn sương mai mỏng, chúng tôi, tất cả gồm 10 người, thuộc SĐ IV và SĐ III KQ tề tựu đông đủ trước phòng Đặc Trách Quan Sát BTLKQ, và được Thiếu Tá Trưởng Phòng hướng dẫn ra bãi đậu Phi Cơ, chiếc DC4 ngoan ngoãn chờ đợi chúng tôi ở đó.
Hoa Tiêu lên mở máy, taxi, rồi cất cánh trực chỉ Nha Trang….Đáp Nha Trang hồi 8 giờ sáng, nửa tiếng sau cất cánh lại, vượt mây mưa và hàng trăm cây số núi rừng lên Pleiku, để nhận thêm mấy Sĩ Quan Liên Lạc KQ, rồi mới bay thẳng ra Đông Hà.
Trên lộ trình cuối cùng này, trần mây thấp và dày đặc, Phi cơ tránh mây, đã phải bay lên cao, lên cao mãi…Tôi đoán chừng cao độ khoảng 15 ngàn bộ! Không khí buốt lạnh, làm chúng tôi ngồi co ro trong những chiếc áo Blouzon và phải hút thuốc lá liên miên. Sau gần một tiếng đồng hồ trôi theo mây gió đường xa, Phi cơ chao nghiêng, chúng tôi nhìn thấy thành phố Quảng Trị hiện ra mờ xa dưới cánh, một Phố Thị mà riêng tôi đã non mười năm bỏ xa biền biệt…
Bây giờ, thì mỗi người thả hồn trôi theo những suy tưởng, những băn khoăn, và niềm lo lắng về sứ mạng sắp phải thi hành, trên Chiến trường khốc liệt, mà chúng tôi ai nấy đã biết ít nhiều qua báo chí, và đài phát thanh.
Phi Trường Ái Tử, hiện ra lờ mờ dưới lớp mây mù, in một vệt đen dài trong màn mưa mỏng, con tàu xà thấp cánh gió, đáp nhẹ và quay đậu, đổ chúng tôi xuống sân đậu.
Cơn mưa buồn và nhẹ hất vào mặt chúng tôi, giữa chốn mênh mông của Phi trường.
Chúng tôi đứng co ro khúm múm, trong cái lạnh buốt giá của mùa mưa xứ này. Sau 15 phút thấp thỏm chờ đợi, thì một chiếc xe Dodge cũ kỹ chạy lại gần, mười mấy khuôn mặt KQ từ trên xe nhảy xuống, chào hỏi qua loa, rồi vội vã phóng lên Phi cơ, như trút bỏ tất cả khó nhọc lại cho trận chiến! Cho chúng tôi! Những ngày tháng rét lạnh, hiểm nguy và vất vả, nhọc nhằn….
Họ là những người hết hạn biệt phái và chúng tôi là lớp người tiếp nối nhiệm vụ của họ…
Chúng tôi lên xe về căn cứ, bảy cây số ngàn đuờng xe, với khung cảnh nhuộm đầy sắc thái Chiến Tranh, âm thanh hỗn loạn của Phi cơ, Trọng Pháo, Xe Tăng, Vận tải, chuyển quân rầm rộ…
Không khí mổi lúc mỗi ngồm ngộp, tạo nên bao nỗi giao động trong tâm hồn mọi người, cơn mưa như tấm màn lưới nhện, đan nhẹ vào không gian giá rét và không khí lạnh lẽo bao trùm rộng lớn.
Chúng tôi đến Biệt Đội VO10, một biệt đội thuộc biệt đoàn Tiền Phương, do Thiếu tá Mạnh làm Biệt Đội Trưởng,
Biệt Đội này gồm các loại máy bay như: HU1, H34, OV2, OV10.
Với nhiệm vụ Đổ Bộ, Tải Thương, yểm trợ Hỏa Lực.
Chúng tôi ở chung với anh em PĐ 110, và PĐ 114, cùng các Sĩ Quan Không Trợ, bay OV2 hướng dẫn C47 và C119 yểm trợ hỏa Lực ban Đêm.
Căn nhà chúng tôi tá túc, chỉ là một kho chứa vật liệu cũ của Hoa Kỳ, vừa chật chội lại vừa thiếu thốn tiện nghi,
Buổi Sáng, buổi Trưa chúng tôi dùng bữa ở Mess hall của Bộ Binh Hoa Kỳ, buổi chiều về nhận Briefing và đi bay, mỗi ngày chúng tôi có khoảng 24 Phi Vụ.
Chúng tôi bay phối hợp với Đồng Minh Hoa Kỳ, trên loại máy bay OV10.
Đây là loại Phi cơ vừa có thể bay bằng hệ thống Phản Lực, vừa có thể bay bằng hệ thống Cánh quạt.Trang bị 8 nòng Minigun và 14 Rockets, hoặc loại 4 nòng Minigun và 28 Rockets. Cũng có thể trang bị Minigun và 02 trái bom 250 lbs, tùy theo tình hình của Chiến trường.
Biệt đội có chừng 20 chiếc OV10, Hoa Tiêu Mỹ biệt phái từ Thái Lan qua.
Chúng tôi bay mỗi ngày 02 Phi vụ, mỗi Phi vụ từ 4 đến 5 tiếng đồng hồ.
Phần nhiều cất cánh dưới Trời mưa, và lên đến 9, 10 ngàn bộ mới lấy hướng, bình phi, và vượt hàng trăm cây số đường núi mới qua Hạ Lào.
Thời tiết vùng Hành quân thường tương đối tốt hơn vùng xuất phát.
Chúng tôi bay 7 hoặc 8 ngàn bộ trên mục tiêu. dưới tầm mắt chúng tôi là một màu xanh rừng núi, điệp điệp trùng trùng, một vùng hoang vu xa lạ, đầy dẫy huyền thoại về rừng thiêng nước độc, khói lửa bốc cháy ngút ngàn, ven sườn đồi, chân núi, triền dốc, lối mòn, chỗ nào cũng lăn lóc, ngổn ngang xe Tăng, vận Tải Bắc Việt.
Hệ thống đường mòn và khe suối ở đây chằng chịt, chi chit.
Đồi 31, một ngọn đồi chiến lược, một cao điểm Quân sự, luôn luôn ở trong tầm mắt, trong liên tưởng thường trực với một trận giao tranh khốc liệt, bây giờ trơ trọi hoang tàn…
Mỗi Phi Xuất của chúng tôi hướng dẫn từ 4 đến 12 Phi tuần Phản lực Hoa Kỳ, U2
Oanh kích phần nhiều là tiếp cận, vì Cộng quân luôn bám sát các cánh quân Dù, Biệt động quân, Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
Phản lực Mỹ gồm có A3, A4, A6, A7, F100, F4C,
F.A.C Việt Nam gồm những KQ ưu tú trong ngành Quan Sát, nên mặc dù hỏa lực của Địch rất mạnh (theo tin tức của Tình Báo thì có chừng 2 ngàn súng Phòng Không của Địch luôn hoạt động) chúng tôi cũng vẫn liên lạc chặt chẽ thường xuyên với Quân Bạn, và hướng dẫn oanh kích thật chính xác mục tiêu, gây nhiều nỗi kinh hoàng cho Địch Quân cũng như những tổn thất trầm trọng cho đối phương.
Thời tiết thường xấu, nhất là tại các vùng hành quân, mây, mưa, gió, đạn Phòng Không vẫn là những đe dọa thiết thực đối với KQ.
Mặc dù vậy, chúng tôi đã tình nguyện gia nhập Quân Chủng Không Quân, làm việc trong đơn vị tác chiến, nên cho dù hiểm nguy cách mấy, chúng tôi vẫn không sờn lòng.
Có lao vào vùng lửa đạn, mới có những cảm giác “không tả”, “vô lường” vì cao xạ phòng không của Địch lúc nào cũng đan từng mảng lưới lửa đạn, và tạo thành từng rừng bông khói trắng từ 8, 10, 12 đến 14 ngàn bộ….Điều đó có nghĩa là: Phi cơ lúc nào cũng bay trong tầm hiệu quả của Phòng Không Địch!
Phương thức “né đạn” là phải bay lượn thường xuyên, nhất là những lúc xạ kích hoặc chỉ điểm, chúng tôi phải rất cảnh giác và khéo léo “Xàng qua, Xàng lại” để tránh đạn của Địch.
Thông thường mọi người vẫn quan niệm “Đạn tránh người” nhưng thực tế ở chiến trận “Hành Quân Hạ Lào” này, thì…”Người phải tránh đạn”!!!
Vì OV10 có thể bay được bằng chong chóng và phản lực, nên rất lợi hại, muốn bay chậm hay bay nhanh đều dễ dàng hành động, cũng vì ưu điểm đó, mà giờ này tôi mới còn có cơ hội ngồi viết bài này!
Mỗi Phi vụ ở Chiến trường Hạ Lào, tưởng chừng như gấp 5, gấp 7 lần so với những Phi vụ ỡ vùng IV hay ở Miên, luôn luôn được ăn “G”, Black out và red out, là chuyện “cơm bữa”.
Ngày mới ra đây, Phi vụ đầu tiên chưa quen, có anh đã “cho chó ăn chè”, phần đông thì cũng rất mệt mỏi và…thần kinh giao động!
Nhưng khi “quen nước quen cái” rồi, thì bổn phận, trách nhiệm đã lấn áp tất cả, có khó khăn, gian nguy, mới nảy sanh lòng quyết thắng, khả năng và kinh nghiệm mới có cơ hội được thể hiện tròn nét,
Vâng, những ngày biệt phái từ vùng IV ra vùng I, để tham dự trận đánh lịch sử Hạ Lào đã qua rồi, nhưng nó vẫn còn mãi với những kỷ niệm vàng son, trong muôn vàn kỷ niệm nối kết của cuộc đời xông pha lửa đạn, mong có một đất nước Việt Nam Hòa Bình Thịnh Trị, muôn người như một, sống chan hòa tình thương đồng loại.
Tưởng cũng nên đan cử ra đây, một vài kỷ niệm, mà chính nó đã tô thành những nét son chói đỏ trong lịch sử chiến tranh Đông Dương, một niềm hãnh diện lớn lao cho Sư Đoàn IV KQ cũng như Phi Đoàn 116 vậy.
Đồi 31 là một cao điểm Quân Sự do Tiểu đoàn 39 Biệt động Quân trấn giữ. Trời hôm đó hơi xấu, trần mây thấp, mà áp lực địch có phần nặng hơn mọi ngày, Địch với súng cối, hỏa tiễn, bắn như mưa bão lên đồi, khói lửa và cát bụi bốc cao mịt mù, đồng thời xe Tăng và Bộ Binh Bắc Việt kéo ào ạt lên đồi, như chốn không người, Đại úy Tôn Thất Tân (PĐ110) và Đại úy Nguyễn viết Trường (PĐ 116) đã cố gắng tập trung các Phi tuần Phản Lực của Hoa Kỳ, để dội những trận mưa bom xuống Địch, hòng đập tan âm mưu dã man của chúng, hàng loạt MK82, BLU27, BLU32, rơi xuống như vũ bão, khiến Địch Quân khựng lại. Nhưng, rất sui, khi đó có một Phi cơ loại F4C bị trúng đạn phòng không, hai Phi Công Hoa Kỳ nhảy dù xuống đất, thế là theo lệnh của trên, tất cả các Phi Công Mỹ được lệnh bỏ Đồi 31, để cấp cứu hai Phi Công bị nạn này,
Đại úy Tân và Đại úy Trường đành nghẹn ngào và uất hận khi chứng kiến Địch quân tràn ngập đồi 31!
Trước đó mấy ngày, Đại úy Nguyễn viết Trường đi bay với một trung uý Mỹ trên loại máy bay VO10, anh được biết có một Phi hành đoàn trực thăng Hoa Kỳ gồm 07 người, đã bị trúng đạn phòng không của địch, họ đã sống trong nỗi kinh hoàng trong 02 ngày 03 đêm, mọi phương tiện cấp cứu của Hoa Kỳ đều thất bại, Phi cơ đến cứu không vào được mục tiêu vì hỏa lực Địch mạnh vô cùng.
Đại úy Nguyễn viết Trường ( PĐ 116) quan sát mục tiêu, khi biết có thể liên lạc trực tiếp với Phi hành đoàn bị nạn, anh đã cho biết với kinh nghiệm bao năm chiến đấu với Cộng Quân, anh có thể cứu được 07 người Mỹ này, và chỉ cần thời gian là nửa ngày mà thôi!
Sau khi được sự chấp thuận của hai phía Việt Nam và Hoa Kỳ, anh bắt đầu tiến hành những phương cách của riêng mình nghĩ ra,
Thoạt tiên, anh đề nghị cho oanh kích dữ dội một mục tiêu cách xa đó, với mục đích đánh lạc hướng suy nghĩ của Địch quân, trong lúc đó anh đề nghị cho “đổ” một toán Hắc Báo cách nơi toán lâm nạn khoảng 10 Km, rồi hướng dẫn họ đến mục tiêu giải cứu 07 quân nhân Hoa Kỳ, để giữ an toàn cho đám Hắc Báo, anh đã cho thả bom theo hình chữ U xung quanh toán Hắc Báo,
Phi Tuần, F.A.C, và toán Hắc Báo đã được phối hợp một cách nhịp nhàng và hữu hiệu, dưới tài điều động của Đại uý Nguyễn viết Trường, kết quả toán Hắc Báo đã đến nơi chỉ định an toàn.
Khi toán Hắc Báo và Phi đoàn thọ nạn liên lạc được nhau, sẵn sàng thực hiện việc giải cứu, Đại uý Trường đề nghị cho thả bom theo hình chữ L và hướng dẫn trực thăng đến “bốc” toàn bộ mọi người về căn cứ Khe Sanh, theo hướng do anh chỉ định.
Thời gian cấp cứu vỏn vẹn đúng nửa ngày, theo như tiên đoán của anh. Thật là một Phi vụ tuyệt vời,
Câu trả lời cho các báo chí ngoại quốc của Đại úy Trường là:
“ Bất cứ một người Việt Nam nào khi gặp trường hợp như anh, đều làm được như anh, có khi còn hay hơn anh nhiều”.
Kết quả, Đại úy Nguyễn Viết Trường được tuyên dương và gắn huy chương tại Bộ Tư lệnh Không Quân, là chiến sĩ xuất sắc, được đi du ngoạn Đài Loan, Hồng Kông, và được báo chí Việt Nam, và báo chí Mỹ đăng hình và phỏng vấn.
Trong một Phi vụ khác, Phi hành đoàn gồm Đại uý Hudges và Đại úy Mai trí Dũng (PĐ116) cùng bay trên OV10, số đuôi 789, cất cánh lúc 16 giờ 15 phút, tại căn cứ Ái Tử, đến vùng hành quân, hướng dẫn 02 Phi cơ A6 oanh kích tiếp cận, cho một vị trí của Dù, tình hình rất nguy khốn, vì Địch quân vây hãm và tấn công dữ dội…
Lúc xuống bắn Rockets để đánh dấu mục tiêu, ở cao độ 5000 bộ, phi cơ trúng một loạt phòng không của Địch, động cơ ngưng hoạt động, khi kéo lên, cũng bị thêm một loạt cao xạ khác, làm nổ tung ổ đạn Minigun bên trái, nhưng cả hai đồng quyết định cố gắng bay về Đà Nẵng đáp, vì có nhảy dù ra ở đây cũng chết vào tay quân thù, rất may mắn, đáp Đà Nẵng an toàn,
Phi hành đoàn quả là gan dạ và “hết xảy”!
Những Phi vụ nêu trên, cho thấy khả năng và lòng can đảm của những người Không Quân chúng tôi có thừa!
Nhưng cuộc chiến Việt Nam với nhửng ràng buộc vào Đồng Minh, đã ít nhiều ảnh hưởng đến tinh thần và lòng yêu nước của chúng tôi!
Đến nay, Lịch sử đã sang trang, những người đáng phải thắng lại thua, những người đáng phải thua lại thắng!
Đất nước Việt Nam còn nhiều trăn trở, lắm đau thương, cho đến nay mấy chục năm Trời đã trôi qua, nhưng những chứng nhân lịch sử vẫn ít nhiều còn tồn tại, họ đã, đang và sẽ nghĩ gì? Hành động gì? Chắc không ai trong chúng ta không biết và không hiểu, hơn nữa có một điều khẳng định được:
Họ đã một thời vì lòng yêu nước, vì chính nghĩa Quốc Gia, đã cống hiến tuổi thanh Xuân cho Quê Hương đọa đầy này!
Thật đáng trân trọng lắm thay!
SA GIANG
(NGUYỄN VĂN ĐỨC PĐ116)
1 câu chuyện có thật
Sinh ra tại Edinburgh (Scotland) nhưng Scott Neeson đã chuyển tới Australia định cư khi mới 5 tuổi. Ông là con trai của một lao công và một quân nhân. Năm 17 tuổi, Scott quyết định bỏ học và sống dựa vào tiền trợ cấp thất nghiệp. Nhờ chương trình hỗ trợ của chính phủ, ông được nhận vào vào một rạp chiếu phim là nhân viên kỹ thuật phòng chiếu.
Câu chuyện nhẽ ra sẽ kết thúc tại đây nếu không phải Scott là người khá tham vọng và tràn đầy nhiệt huyết. Người đàn ông này kiên trì leo lên từng bậc thang trong ngành điện ảnh, từ một nhân viên phát hành phim đến nhân viên kinh doanh phim. Cuối cùng, mọi công sức của Scott cũng được đền đáp khi ông được bổ nhiệm là Giám đốc Chi nhánh Australia của hãng 20th Century Fox (nay là 20th Century Studios thuộc Disney).
Bước ngoặt đến với Scott vào năm 2000 khi ông chuyển tới Los Angeles để tiếp quản vị trí trong mơ – Chủ tịch của 20th Century Fox International. Ông có thu nhập hơn 1,5 triệu USD/năm, sánh vai cùng với những tài tử hạng A của Hollywood trên thảm đỏ.
Chuyến đi định mệnh tới bãi rác nghèo nhất Campuchia
Trong 10 năm tại Fox, Scott đã có một sự nghiệp thành công rực rỡ, giám sát nhiều bộ phim có doanh thu cao nhất thời đại như Titanic, Star Wars, and X-Men. Đối với nhiều người, vị Chủ tịch sở hữu mọi thứ trong tay: một vị trí quyền lực trong ngành phim, những người bạn nổi tiếng, một căn biệt thự nguy nga, siêu xe và du thuyền.
Tuy nhiên, ông vẫn cảm thấy thiếu điều gì đó. “Tôi nghĩ là mình có vấn đề. Càng kiếm được nhiều, tôi càng không hạnh phúc”, ông tâm sự.
Năm 2003, chỉ vài tuần trước khi nhận vị trí mới ở Sony Pictures, Scott tới Phnom Penh (Campuchia) để du lịch. Chuyến đi 6 tuần này đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời ông.
“Tôi muốn xem nơi nghèo nhất đất nước”, Scott nói. “Họ đưa tôi đến Stung Meanchey – một bãi rác sâu hơn 90m và rộng hơn 100.000 m2”.
Tại đây, Scott chứng kiến hơn 1.500 đứa trẻ đang nhặt nhạnh giữa cái nóng hơn 50 độ C, xung quanh là đống rác đang phân hủy đầy và thải khí mê-tan, còn mặt đất như bị nung chảy. Ông còn bị bỏng ở chân do không để ý nơi mình giẫm lên. Khắp nơi nồng nặc mùi hôi thối.
Nhiều đứa trẻ ở đây bị cha mẹ bỏ rơi vì nợ nần, ốm đau, nghiện rượu hoặc tái hôn. Chúng buộc phải tìm phế liệu ở bãi rác này để đam bán, hôm nào may mắn thì được khoảng 1 USD (khoảng 23.000 VNĐ)
Scott muốn giúp những đứa trẻ này, nhưng ông có thành kiến với các tổ chức từ thiện. Cựu Chủ tịch 20th Century Fox sợ tiền không đến tay các em, lại lo “một cây chẳng làm nên non”.
“Lý do thứ ba: Đây vốn không phải là chuyện của tôi”, ông nói. “Tại Mỹ, bạn như đang sống ở bên kia thế giới. Bạn trả tiền thuế và chính phủ có quyền quyết định các khoản viện trợ nước ngoài”.
Tuy nhiên, bản chất lương thiện khiến Scott không thể lờ đi hoàn cảnh của lũ trẻ.
“Tôi biết chúng sẽ không bao giờ rời khỏi bãi rác nà. Chúng sống ở đây, chết cũng ở đây. Chúng có thể trở thành nạn nhân buôn người. Những bà mẹ sẽ sinh con tại đây. Điều này chẳng khác nào tận thế. Thật kinh khủng”, ông nói.
Khi thấy một đứa trẻ 9 tuổi đi ngang qua mình trong bộ dạng rách rưới, Scott đau lòng khôn xiết. Bụi bẩn, rác thải bám đầy người đứa trẻ, khiến ông còn chẳng thể nhận ra em là trai hay gái. Chỉ mất 90 phút và 35 USD tiền phí dịch vụ, Scott đã giúp đứa trẻ đó được tới trường và có tiền trang trải sinh hoạt hàng tháng.
Đây cũng là lúc mọi hoài nghi về từ thiện biến mất trong lòng ông.
“Là một con người, là một sinh vật đang sống trên Trái đất này, đây là nghĩa vụ của tôi. Tôi không ngờ rằng việc thay đổi số phận của đứa trẻ đó lại dễ như vậy”, ông cho biết.
Cuộc sống giằng xé giữa hai thế giới giàu – nghèo
Khi quay về Mỹ để bắt đầu công việc mới, Scott Neeson tự hứa sẽ không để bản thân rơi vào cảnh khủng hoảng tuổi trung niên thường thấy tại Los Angeles.
“Tôi đã làm việc hơn 26 năm trong ngành điện ảnh. Từ một nhân viên kỹ thuật chiếu bóng tại rạp phim lưu động, tôi đã nỗ lực hết mình để có ngày hôm nay. Tôi sẽ không vứt bỏ mọi thứ đi như vậy”, ông thuyết phục chính mình.
Tuy nhiên, khao khát được giúp đỡ lũ trẻ khiến Scott suy nghĩ rất nhiều. Trong một năm sau đó, cựu Chủ tịch 20th Century Fox vừa làm việc tại Hollywood, vừa tới Campuchia để làm thiện nguyện.
Có hai thế giới song song tồn tại trong cuộc sống của ông: Mỗi tháng, ông sẽ dành 3 tuần để giải quyết công việc, ngồi ghế hạng nhất trên máy bay, tham dự giải Oscars, gặp gỡ các ngôi sao điện ảnh, kiếm cả triệu USD/năm. Sau đó, ông sẽ gửi số tiền này đến Campuchia.
“Điều tôi không tính tới là những sang chấn tâm lý do phải liên tục chuyển đổi giữa hai thế giới khác nhau trong vòng 24 tiếng. Một bên là lối sống buông thả và xa hoa, một bên là bãi rác nghèo nàn và tồi tệ – nơi lũ trẻ có thể chết trước mặt bạn chỉ vì thiếu sự chăm sóc y tế cơ bản”, ông nói.
“Tôi không thể sống giữa hai thế giới như vậy được”.
Dù vậy, phải đến khi chứng kiến một khoảnh khắc sinh tử khó quên, Scott Neeson mới hạ quyết tâm buông bỏ tất cả.
Vào thời điểm đó, cựu Chủ tịch 20th Century Fox đang đàm phán với một diễn viên nổi tiếng cho bộ phim sắp công bố. Xong việc, ông bay tới Campuchia, còn ngôi sao kia đến Tokyo (Nhật Bản).
Scott tới thẳng bãi rác và gặp bốn đứa trẻ mồ côi dưới 10 tuổi. Các em đang hấp hối và không ai có thể đưa các em tới bệnh viện. Ông hoảng sợ và không biết mình nên làm gì.
Đúng lúc ấy, nam diễn viên vừa bay tới Tokyo kia gọi điện cho Scott. Anh ta khá bực mình vì công ty ông đã cung cấp sai tiện nghi trên chuyên cơ. “Tôi không nên bị làm khó như vậy”, ngôi sao đó phàn nàn.
“Đó là điều anh ta đã nói với tôi, khi tôi đang đứng trước mặt những đứa trẻ hấp hối”, ông nhớ lại. “Chính giây phút ấy đã thức tỉnh tôi; mọi nỗi lo lắng về việc bỏ Hollywood để tới sống ở Campuchia đều biến mất. Đó là tín hiệu rõ ràng nhất cho thấy tôi đang đi đúng hướng”.
Ngay lập tức, Scott trở về Los Angeles và xin từ chức vào ngày thứ Hai.
Không phải ai cũng nghĩ quyết định của Scott là đúng đắn. “Cả thế giới đều cho rằng tôi bị điên khi từ bỏ công việc trong mơ đó”, cựu Chủ tịch 20th Century Fox nhớ lại. “Nhưng tôi không cần nó nữa”.
Năm 2004, Scott chuyển hẳn tới Campuchia và thành lập Quỹ Trẻ em Campuchia (CCF). Tổ chức này giúp đỡ các cộng đồng nghèo đang sống nhờ bãi rác ở Steung Meanchey, cung cấp các chương trình giáo dục, lãnh đạo, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc trẻ em và hướng nghiệp.
Để có tiền, Scott không ngần ngại từ bỏ mọi thứ mình sở hữu. Ông bán biệt thự sang trọng ở Los Angeles, tổ chức một buổi garage sale (bán đồ cũ) để loại bớt “những thứ vô dụng” trong nhà. Kể cả siêu xe Porsche và du thuyền ông cũng không cần tới.
Vứt bỏ hào quang Hollywood để tới bãi rác làm từ thiện
Khi mới bắt đầu, mục tiêu của Scott chỉ là đưa 80 trẻ em ở bãi rác Stung Meanchey đến trường. Năm 2007, khi con số này lên tới 200 em, CCF đã thành lập một trung tâm cộng đồng, xây dựng các trường học lưu động, cung cấp nước sạch, lương thực và các dịch vụ cơ bản cho người dân nơi đây.
Năm 2009, bãi rác khổng lồ này chính thức đóng cửa. Số học sinh tại CCF cũng đã đạt số lượng 500 em. Tổ chức này mở thêm nhiều phòng khám tại địa phương, cung cấp dịch vụ y tế và tư vấn miễn phí cho người dân ở mọi lứa tuổi.
“Tôi khiến nhân viên phát điên”, Scott nói về 300 cấp dưới của mình, nhiều người trong số họ cũng từng lớn lên ở bãi rác. “Nếu nghĩ ra một kế hoạch nào đó, tôi muốn nó được thực hiện trong vòng 48 tiếng. Bạn không muốn mọi người phải chịu khổ quá lâu”.
Điều khiến Scott ấn tượng nhất về lũ trẻ là dù sống trong cảnh khốn cùng, chúng không bao giờ vòi tiền.
“Mỗi lần tôi đến bãi rác, các em sẽ chạy theo tôi và nói: ‘Som tov rien’ (Xin hãy cho cháu đi học)”, ông nhớ lại. “Thật khó để nói không, bởi đơn giản là chúng chỉ hỏi xin một cơ hội”.
Trong vòng 16 năm qua, Scott Neeson đã thay đổi hoàn toàn số phận của hơn 3.300 mảnh đời bất hạnh ở đây. Sreyoun – cô bé 9 tuổi năm xưa được ông cứu giúp – đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành tài chính và kinh tế vào năm 2019. 80% số trẻ được CCF hỗ trợ đều vào được đại học, theo đuổi các chuyên ngành như luật, kỹ sư xây dựng dân dụng, tâm lý học…
Vị doanh nhân này cũng chia sẻ rằng ông nhớ mặt, nhớ tên của từng đứa trẻ mà mình đã cứu, bởi “mỗi em là một cuộc hành trình”.
Bên cạnh đó, Scott cũng có nhiều đóng góp tích cực trong việc giảm tỷ lệ tử vong ở sản phụ và trẻ sơ sinh tại Stung Meanchey. Ông còn cùng người cao tuổi ở đây khôi phục lại những giá trị truyền thống đã mai một tại Campuchia, để thế hệ trẻ có thể hiểu hơn về văn hóa nước mình.
Giờ đây, Scott Neeson vẫn sống một cuộc đời giản dị ở Phnom Penh, tiếp tục theo đuổi sứ mệnh cứu người của mình. Ông thường mặc áo phông và quần canvas trắng, chân đi đất, nhìn như dân Campuchia thứ thiệt.
Trên bức tường trong văn phòng ông, bên cạnh những chiếc poster phim có chữ ký người nổi tiếng là hàng trăm tấm ảnh trước-và-sau của từng đứa trẻ được cứu giúp.
Sống quá lâu ở Campuchia, Scott Neeson đã thấm nhuần không ít tư tưởng Phật giáo. Ông hiểu rằng mình phải thay đổi bản thân trước khi thay đổi những số phận ngoài kia.
“Bạn phải bỏ đi cái tôi của mình”, ông nói. Đây chính là lý mà vị doanh nhân này cố gắng rèn luyện để vượt qua sự phán xét của chính mình và người khác, kiên trì với lý tưởng của mình.
“Tôi chưa từng cảm thấy vừa không có gì, vừa có tất cả như lúc này”, Scott bày tỏ. “Về mặt vật chất, tôi không còn gì. Nhưng lạ thay, tôi cũng không cần chúng. Đó là một cảm giác tuyệt vời. Nó đem lại sự tự do tuyệt đối”.
“Sống ở Hollywood có nhiều lợi ích – những chiếc xe limo hiện đại, những chuyên cơ đắt tiền, những cô bạn gái xinh đẹp, được tham dự Oscars. Tuy nhiên, đó không còn là lối sống mà tôi theo đuổi nữa, khi tôi có thể thay đổi cuộc sống của hàng trăm đứa trẻ theo hướng tốt hơn”.
Scott Neeson tâm niệm rằng ông chính là người may mắn nhất thế gian này.
“Có những người sống cả một đời mà chưa từng trải qua giây phút giác ngộ như khi tôi gặp lũ trẻ ngày ấy tại bãi rác Stung Meanchey. Tôi cảm thấy thật may mắn”, vị doanh nhân mỉm cười nói
(Theo CCF, Csmonitor, Lion’s Roar)
CAO MỴ NHÂN
Khi còn ở quê hương VN xa vời, tôi thường nhận được những tấm thiệp hoa, cùng hình ảnh người thân, bạn hữu ở Mỹ gởi về, viết là : ” Ngày lễ Tạ Ơn, đang vui sum họp ” .
Bấy giờ tôi chưa hiểu được toàn vẹn danh nghĩa ngày lễ Tạ Ơn ngoài dòng chữ rất đẹp :” Thanksgiving Day ” .
Tất nhiên đó là một ngày lễ Tạ Ơn rồi . Nhưng lịch sử và sinh hoạt nó như thế nào chứ ?
Song cũng không phải là điều bức thiết khiến tôi phải tìm hiểu ngay, giữa chuỗi ngày cứ chất chồng lên nhau :
Sống lam lũ , tối tăm, u uất ở xã hội cộng sản vô thần, vô sản, vô tâm, vô ý thức .
Và mơ ước được sống trong không khí giàu sang, cơm ăn áo mặc dư thừa, tinh thần thoải mái, thanh cao, đức tin chan hoà sùng thượng …
Tất nhiên là thoát khổ, thoát nghèo rồi .
Cho tới một ngày, chương trình HO mở rộng, gia đình tôi đã đến được Hoa Kỳ vào đầu thập niên cuối thế kỷ vừa qua, chúng tôi đã được hưởng một ngày lễ Tạ Ơn của USA bao hàm ý nghĩa …cảm tạ trời đất vv…
Có thể hiểu từ những năm 1621 xa xưa, tới khi tôi biết được sự trù phú lương nông, hoa màu sơ khởi đã trải qua bao thời kỳ khai phá, để hình thành nên một xã hội trù phú, tân tiến như thủa nay, hỏi sao không cám ơn Thượng Đế đã khiến trời đất nở hoa chứ .
Gia đình tôi được sống trong ân sủng của Đấng Tối Cao, Tối Đại vô cùng, kể từ mùa Lễ Tạ Ơn năm 1991 ấy . Chắc đó cũng là dịp chúng tôi cảm tạ tất cả những gì liên hệ tới cuộc sống tôi ở xứ xở lưu vong này .
Không biết quý vị trưởng thượng, cao niên từ nơi quý tộc tới chốn bình dân có khái niệm gì về chú gà tây, chứ tôi xin thú thực rằng hồi ở quê hương ” nghèo nàn lạc hậu ” , chưa bao giờ tôi nghĩ mình có thể xơi một miếng gà tây.
Trước hết cái gì bé nhỏ, vừa phải thôi, thì luôn luôn được ưu ái là ” ta, của ta ” thí dụ gà ta, vẫn thả rong ngoài sân vườn mỗi nhà nếu có.
Cái gì to lớn, lạ lùng hơn là có chữ ” tây ” kèm theo ngay, như ” Gà tây ” chẳng hạn .
Bên cạnh đó thì có : hành tây, tỏi tây, khoai tây …vv…
Thế nên , sự việc làm một con gà tây đã có vẻ kỳ lạ, mà ăn thịt nó thì chu choa, đơn đớn thế nào .
Tôi vẫn xin thưa là theo cách nhìn quê mùa của tôi thôi.
Do đó, cái cảnh ở chợ Mỹ kia, đã đến năm thứ ba, nghe rộn ràng ngày lễ Thanksgiving, tôi vẫn không hề nôn nao chuyện gà tây, gà tồ…
Bà chủ nhà kêu tôi chuẩn bị ra chợ Vons xếp hàng, để được chợ tặng không cho một con gà tây ăn mừng lễ Tạ Ơn .
Nhưng tôi chỉ đi theo Julie cho biết .
Bà ta bảo là cứ nhận con gà tây đã làm sẵn sạch sẽ đó, bà sẽ tặng lại vợ chồng người Mễ nghèo khổ, đông con trong khu nhà tôi đang ở.
Mãi tới 8 giờ sáng, tôi mới ôm được cái thùng carton đựng con gà tây, biểu tượng cho lòng nhiệt thành của người Mỹ Hợp Chủng Quôc , hậu thân của nhiều lớp di cư tự phát từ châu Âu đi tìm đường sinh sống .
Bà Julie tươi cười : ” Không sao, không hầm kiểu văn hoá Mỹ , thì cứ nấu nướng kiểu gà thường VN, có sao đâu. Nấu khéo cũng ngon lắm đấy.”
Cũng dịp đó, tôi đang làm thư ký văn phòng cho trường thẩm mỹ Redondo Beach, không khí trường lớp có vẻ vui tươi, hồn nhiên, có lẽ tâm tính ” gà tây ” vốn cũng vui vẻ, hoan ca như vậy .
Bà Julie lại là một giáo viên dạy Nail tóc cho trường, bà bắt đầu phụ bà giám đốc công việc buổi chiều lẽ Thanksgiving năm đó, 1993 .
Mỗi nhân viên và học viên được tặng một phần quà , gồm một con gà tây đã làm sẵn và một chai rượu vang đỏ bự chát, e phải nặng 2 lít .
Tất nhiên tôi cũng được, và chẳng lẽ không nhận, mất vui .
Bà giám đốc là phu nhân một vị Thiếu tá Quân Cảnh, gốc Võ bị Quốc Gia Đà Lạt.
Vị quan tư Quân Cảnh nêu trên là chỉ huy trưởng Trại Giam Tù binh Cộng Sản Non Nước, thuộc QDI/ QKI của …tôi , nên tôi quen từ trước 30-4-1975, ông bà đã giúp tôi việc làm thư ký trường thẩm mỹ này .
Tôi có vẻ ngần ngừ không muốn nhận quà Thanksgiving rắc rối ấy. Phu nhân Thiếu tá Quân cảnh nói cũng tếu như chúng tôi : ” Anh, là tôi đấy, người Bắc Kỳ quốc xưa cứ hay gọi bạn gái là anh cho thân thiện , có biết từ thủa 1975, tôi, là bà ấy, sang Mỹ, thú thiệt tôi chả hề nấu cái con gà tây này đâu, nhưng hay đi ăn Thanksgiving ở nhà bạn bè ”
Tôi tần ngần : ” Thế thì bà cho tôi làm gì chứ ? ”
Bà cười : ” Để anh thấy ngày lễ của con gà tây, mà này hồi chúng tôi mới sang đây, người Mỹ ở miền đông tôi ở trước , gia đình tôi lại đi nhà thờ nữa, họ welcome lắm, họ bảo mấy người đã đến Đất Hứa, hãy cám ơn Thượng Đế ” .
Rút cuộc tôi cũng mang gà tây và rượu vang đỏ về nhà .
Rượu vang đỏ thì cứ lâu lâu xài nó một lần trong bếp núc .
Còn con gà tây ngồi làm cảnh trong tủ lạnh vài tuần,chẳng ai thèm xin, nên sau thời gian đó, tôi tống tiễn nó vô túi rác, gởi thùng rác cho nó đi xa.
Sau này thì dần dà chuyện gà tây ở Hoa Kỳ trong mùa lễ Tạ Ơn Trời Đất cảnh vật mùa màng lương thực, với những người di dân từ nhiều nơi trên thế giới tới, đã trở nên quen thuộc .
Đôi khi Thanksgiving Day còn như một nét đan thanh của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, các sắc tộc hiện diện khắp USA , như muốn làm dáng thêm cho cuộc sống tha hương thêm phong phú, ý nhị và nhất là hoà đồng, để không còn cảm giác riêng lẻ bơ vơ nơi quê hương mới, nơi Thượng Đế đã dành cho bất cứ ai tìm tới Ngài.
Tức là Thượng Đế đã quan phòng và biết chắc bất cứ ai đó tìm về, chạy tới, muốn được và đã hưởng lẽ sống tự nhiên, bình đẳng của mỗi người ta ở trái đất này.
CAO MỴ NHÂN

Tạ ơn đất nước xa khơi
Một ngày là nghĩa, một đời là ân
Tạ ơn sông núi, tha nhân
Chén cơm quê mẹ, bao năm no đầy
Tạ ơn xứ sở bên này
Đại dương bát ngát hồn say thái bình
Tạ ơn huynh đệ chi binh
Từ đi bỏ lại những hình bóng quen
Tạ ơn cha mẹ anh em
Người thân và cả nhà bên láng giềng
Giờ thì tạm lắng ưu phiền
Tạ ơn chiến hữu khắp miền hành quân
Tạ ơn ngào ngạt hương xuân
Xoá đi tất cả phù vân mơ hồ
Thủa này cho tới muôn thu
Tạ ơn anh ở hồn thơ của mình …
CAO MỴ NHÂN
25 – 11 – 2021
Kiều Mỹ Duyên

Nhớ hay quên đừng lạnh lùng quay gót
Chiến tranh đã qua người lính còn đây
Tóc đã bạc, nỗi đau hờn vong quốc
Rượu ân tình, xin hẹn buổi sum vầy.
Một chút tự hào, lòng thêm đau nhói
Đêm còn mơ, bừng tỉnh cõi hư không
Vết thương xưa hằn sâu trên da thịt
Nhận nỗi buồn mà thẹn với núi sông.
Lê Tuấn
Người lính già chưa giải ngũ