CAO NHÂN

CAO NHÂN – Triết lý quá hay

 ĐÂY MỚI THỰC SỰ LÀ CAO NHÂN 

 Cao nhân chân chính, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại.

 Thế nào gọi là cao nhân?

 Tương truyền, Tả Tông Đường rất thích chơi cờ vây, hơn nữa còn là một cao thủ, gần như không có ai là đối thủ của ông.

 Có một lần, Tả Tông Đường cải trang trước khi xuất chinh đánh trận, trên đường bỗng nhìn thấy một ngôi nhà tranh, trên xà nhà có treo tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ”. Tả Tông Đường thấy thế thì trong lòng không phục, liền đi vào trong để cùng chủ nhân ngôi nhà đánh ba ván cờ.

 Vị chủ nhà đánh ba ván đều thua, Tả Tông Đường cười nói: “Ông nên tháo tấm biển kia xuống đi!”

 Nói xong, Tả Tông Đường tràn đầy tự tin, cao hứng bừng bừng mà rời đi.

 Không lâu sau, Tả Tông Đường thắng trận trở về, lại đi ngang qua ngôi nhà ấy, thấy tấm biển “Thiên hạ đệ nhất kỳ thủ” vẫn chưa được gỡ xuống, Tả Tông Đường tức giận đi vào trong nhà để cùng vị chủ nhân tỷ thí ba ván cờ nữa. Lần này, Tả Tông Đường thua cả ba ván.

 Tả Tông Đường vô cùng kinh ngạc, liền hỏi vị chủ nhân tại sao lại như vậy?

 Vị chủ nhân đáp: “Lần trước, ngài tuy mặc thường phục nhưng ta đã sớm biết ngài là Tả Công, ngài mang trên mình nhiệm vụ đánh giặc, ta không thể dập tắt nhuệ khí chiến đấu của ngài. Lần này, ngài đã chiến thắng trở về, ta đương nhiên toàn lực ứng phó, việc đáng làm thì ắt phải làm, không thể nhượng bộ!”

 Cao thủ chân chính trên thế gian, chính là có thể thắng nhưng không nhất định phải thắng, có thể đánh bại kẻ khác nhưng không nhất định phải đánh bại, ấy là vì có tấm lòng khiêm nhượng, thiện tâm với người.

 Cuộc sống chẳng phải là như vậy sao?

 Thông minh không nhất định là có trí tuệ, thế nhưng trí tuệ thì nhất định bao quát thông minh.

 Người thông minh tâm nặng chuyện được mất, người trí tuệ có thể dũng cảm xả bỏ.

 Tai thính thật sự thì có thể nghe được tiếng lòng, mắt sáng thật sự thì có thể nhìn thấu tâm linh.

 Chứng kiến, không có nghĩa là nhìn thấy.

 Nhìn thấy, không có nghĩa là nhìn rõ.

 Nhìn rõ, không có nghĩa là hiểu được.

 Hiểu được, không có nghĩa là hiểu rõ.

 Hiểu rõ, không có nghĩa là đã thông suốt.

 Chúng ta vẫn thường nghe nói: “Không có văn hóa thì thật đáng sợ!”. Thế nhưng “văn hóa” ấy rốt cuộc là cái gì vậy? Là bằng cấp? Là kinh nghiệm? Hay là sự từng trải?

 Đáp án: Tất cả đều không phải!

 Ngày hôm nay, coi như chúng ta đã được thấy một lời giải thích thuyết phục, “văn hóa” ấy chính là biểu đạt bởi bốn điều sau đây:

 1. Đào sâu vào tu dưỡng nội tâm.

 2. Tự giác không cần nhắc nhở.

 3. Lấy ước thúc làm tiền đề cho tự do.

 4. Suy nghĩ lương thiện vì người khác.

 (bài sưu tầm)




VÌ ĐẢNG ĐỘC TÀI 212

1/212- 

Băm lăm năm xa lìa đất nước,

Để tránh vòng nanh vuốt Cộng nô.

Sống trên đất nước tự do,

Dân quyền đệ nhất chẳng lo nỗi gì.

Lìa quê Mẹ chỉ vì giặc Cộng,

Lũ không tim, xuẩn động vong nô.

Huênh hoang tư tưởng “bác Hồ”,

Miệng Nam Mô, bụng chứa bồ dao găm.

Chúng ra sức gây mầm chia rẽ,

10/212- 

Lại giở trò bánh vẽ mị dân.

Quả là một lũ vô thần,

Hiện thân giống qủy, bạo Tần cũng thua….

Nhớ lại thủa đầu mùa lá uá,

Bày mưu gian gậy múa vườn hoang.

Hô hào  giải phóng quê hương,

Toàn dân sầm sập lên đường chiến chinh.

Khi hết giặc hoà bình chớm nở,

Quê hương mình chúng nỡ chia đôi.

Oán thù gieo rắc khắp nơi,

20/212- 

Kẻ đi, người ở dậy trời khóc than.

Dân Miền Bắc vô vàn khốn kh

Khắp xóm làng đấu tố gắt gao.

Thành phần Trí, Phú, Địa, Hào

Tù đầy, đâm chém xiết bao thảm sầu.

Giới tu sĩ thâm sâu thiện tánh,

Sống cuộc đời đạo hạnh từ bi….

Chân tu hỏi tội tình gì?

Cớ sao đầy ải chỉ vì giác tha ????

Cả dân tộc trẻ già ngơ ngác,

30/212- 

Sống đọa đầy uống nước cầm hơi.

Oan khiên chồng chất ngút trời,

Ruộng đồng đỏ máu, núi đồi trắng xương.

Chúng ngu xuẩn chủ trương hiếu chiến,

Quyết xua quân lấn chiếm Miền Nam.

Nga, Hoa, Anh, Mỹ hội đàm,

Cùng nhau bán đứng Việt Nam Cộng Hòa.

Ôi bằng hữu mù lòa bỏ cuộc,

Tiền bạc không, đạn dược cũng không.

Trung Xô viện trợ chất chồng,

40/212- 

Phi cơ, tăng, pháo, phòng không đổ vào.

Miền Nam chịu lao đao dai dẳng,

Quân Cộng Hoà ngậm đắng lui binh.

Đồng bào thống khổ điêu linh,

Tướng quân họ Nguyễn (1) dứt tình nhường ngôi.

Người kế nhiệm da mồi hốc hác (2)

Sức cỗi mòn tóc bạc, răng long.

Chính trường như mớ bòng bong,

Lại trao ngôi báu cho ông “Phệnh Đường” (3)

Quân chiến đấu kiên cường từng khắc,

50/212- 

Tướng “Phong Lan” (4) gục mặt đầu hàng.

Bao năm dày dạn chiến trường,

Mà nay bó giáo “quy hàng” thảm không ?

Bọn đồ tể Khu, Đồng, Thọ, Duẩn,

Lại bày mưu tối khẩn lừa dân

Dấu đầu lòi cả bốn chân,

Vẫn là bản chất vô thần ác ôn.

Từ thành thị nông thôn rừng núi,

Khắp trẻ già trốn lủi vượt biên.

Đạp lên gian khổ triền miên,

60/212- 

Lênh đênh trời biển tìm Miền Tự Do.

Mặc cướp biển, bão to, sóng lớn,

Mặc kình ngư dữ tợn bủa vây.

Đàn ông, cướp giết phanh thây,

Đàn bà, giặc hiếp chết ngay giữa trời.

Bao trẻ nhỏ đêm thời khát sữa,

Ngày chang chang nắng lửa cào da.

Trăm nghìn người đã thành ma,

Vùi thân đáy biển sót xa não nề.

Bọn Việt cộng hả hê chiến thắng,

70/212- 

Gây vô vàn cay đắng, nhiễu nhương.

Bày trò cải tạo Công, Thương,

Mưu ma, chước qủy thói thường giở ra.

Nào cống hiến cửa nhà, hãng xưởng,

Lại cúng dâng nghìn lượng vàng ròng.

Rằng ai con cháu Lạc Hồng,

Thương nòi thì phải dốc lòng hiến dâng.

Miệng ngọt xớt, tay nâng báng súng,

Ai không ưng mổ bụng,moi gan.

Cô hồn, các đẳng làm càn

80/212- 

Cắn răng dâng hiến, bởi làn cây cong.

Người tiếc của nát lòng, tan dạ,

Đành quyên sinh khỏi họa về sau.

Thương gia sống sót chặt đầu,

Tội rằng bóc lột làm giàu hại dân ??

Bắt già lão, thanh tân cải tạo

Chẳng kể gì vô đạo, phi nhân.

Địa, Hào, Trí, Phú quy phần,

Nếu không phản tỉnh là giần nát xương.

Quân, Cán Chính khôn lường uất hận,

90/212-

Bị tù đầy cam phận lao nô.

Núi rừng cò gáy, khỉ ho,

Sơn lam, chướng khí giày vò xác thân.

Đêm giá buốt không chăn mền ấm,

Ngày oi nồng, cuốc bẫm cầy sâu.

Bữa thường nước mắt chấm rau,

Thay xe chuyển gỗ, thế trâu kéo cầy.

Phải vượt suối chặt mây khốn khổ,

Lại trèo đèo đốn gỗ gian nguy.

Ngổn ngang cây chắn lối đi,

100/212- 

Đồi cao, dốc đứng khôn bề vác cây.

Ngày lam lũ thân gầy hốc hác,

Đêm “tụng” bài Các Mác, Lê Nin.

Ác ôn thay lũ mẹ mìn,

Bùa mê, thuốc lú bôi đen sử vàng.

Miệng xoen xoét nói ngang nói ngược,

Nhận riêng mình yêu nước thương dân.

Trại giam đầy ắp tù nhân,

Khổ sai lao động vô ngần sót xa.

Người yêu nước nếu là chống Cộng,

110/212- 

Gán tội rằng phản động ác ôn.

Tai nghe miệng đã buồn nôn,

Rõ ràng là bọn cáo chồn đần ngu.

Không án lệnh nhốt tù vô hạn,,

Chính quyền này quái đản bất lương.

Mười ba năm trải đoạn trường,

Tấm thân tù rạc trơ xương mới về.

Dân thành thị trăm bề khốn đốn,

Bữa thường ngày ăn độn ngô khoai.

Đêm khuya chúng đuổi ra ngoài,

120/212- 

Lệnh truyền quản lý gia tài “Ngụy quân”

Đồ tế nhuyễn, áo quần, giầy dép,

Hết thảy không được phép mang theo.

Nửa đời vun quén gieo neo,

Tan tành một phút như bèo trôi sông.

Đàn trẻ nhỏ đói lòng ủ rũ,

Không cửa nhà để ngủ qua đêm.

Bao năm cuộc sống ấm êm,

Ngờ đâu “giải phóng” càng thêm khốn cùng.

Lùa dân chúng lên vùng kinh tế

130/212- 

Khai phá rừng triệt để trồng khoai.

Lệnh rằng gương sáng nước ngoài,

Phất cờ sản xuất, gái trai một lòng.

Theo kế hoạch ruộng đồng trù mật,

Kết quả là mùa mất trắng tay.

Bo bo, khoai sắn hàng ngày,

Mồ hôi pha nước mắt đầy bữa ăn.

Khu kinh tế khó khăn chồng chất,

Dân quyết tâm bỏ đất về thành,

Từng đoàn lếch thếch chiếu manh,

140/212- 

Khổ đau cam phận, năm canh ngủ hè.

Ngày lam lũ đạp xe kiếm sống,

Đêm giãi dầu bên cống nằm co.

Não nùng khôn lấy thước đo,

Nhờ ơn “giải phóng”, nỗi lo chất chồng!

Cả sản nghiệp trong vòng một phút,

“Đảng” cướp không còn chút dính tay.

Ớ trời cao ! Ớ đất dày!

Cộng nô đã hiện ra bầy yêu tinh.

Miệng xoen xoét nghĩa tình dân tộc,

150/212- 

Bụng chứa đầy thuốc độc bùa mê.

Mặt trơ trán bóng làm hề,Cá trê chui ống, lời thề quỷ ma.

Chúng tuyên bố nước nhà thống nhất,

Dân ba Miền cờ phất mừng vui.

Bắc, Nam, Trung một giống nòi,

Thương nhau xẻ ngọt, chia bùi cho nhau.

Mới bữa trước nói câu nhân nghĩa,

Đã hôm sau tay chĩa gươm đao.

Công, Thương cải tạo ngọt ngào,

160/212- 

Đổi tiền, cướp bạc, khác nào hổ lang.

Gây thù hận giam hàng Giáo phẩm,

Tạo oan khiên gạt gẫm Thầy Tu.

Khắp nơi san sát trại tù,

Oán than mãn địa, hận thù xung thiên.

Lũ cán bộ võ biền ngu ngốc,

Được cử làm Giám đốc, Thanh tra….

Vàng ròng vơ vét tối đa,

Đất đai cướp đoạt, cửa nhà tịch thu.

Từ tay trắng không xu dính túi,

170/212- 

Nay đã thành tiền núi, bạc sông.

Quốc Gia mặc nỗi tồn vong,

Lòng tham chỉ ngửi hơi đồng là say.

Trung Ương Đảng một bầy qủy sứ,

Ác độc hơn thú dữ rừng hoang….

Gác ngoài Tổ Quốc quê hương,

Tam vô, chuyên chính chủ trương độc tài.

Người yêu nước nằm gai tranh đấu,

Chúng âm mưu thảo khấu giết ngay.

Độc quyền trên dưới múa may,

180/212- 

Buôn dân, bán nước ních đầy túi tham.                                    

Cả dân tộc lầm than tủi hận,

Băm lăm năm đành phận lao nô

Trung Ương Đảng lũ điên rồ,

Tài nguyên qúy hiếm từng lô bán dần.

Chúng như giống thiêu thân gặp lửa,

Tựa hươu non sừng ngứa húc càn.

Mặc cho đất nước nát tan,

Mặc dân tím mật, sôi gan hận thù….

Tiền làm chúng đui mù cặp mắt,

190/212- 

Lao đầu vào trận giặc đô la.                                

Chúng làm nghiêng ngửa sơn hà,

Quê hương xơ xác, quốc gia nghèo hèn,

Cứ giành giật, túi lèn vàng khối,

“Đảng quang vinh” phản bội quê hương.

Hiện tình xã hội tang thương,

Tệ đoan đầy dẫy phố phường, thôn quê.

Chúng vẫn cứ làm hề múa rối,

Miệng ba hoa sớm tối thương dân.

Dối lừa lấy giả làm chân,

200/212- 

Đã rơi mặt nạ vô thần khó coi..

Mưu lấy thúng úp voi qủy quyệt,

Ắt không lâu đào huyệt tự chôn,

Xưa nay bè lũ ác ôn,

Chẳng ai tránh khỏi huyết bồn Diêm Vương.

Nào người Việt bốn phương hải ngoại,

Xiết vòng tay dựng lại quê hương.

Phát huy truyền thống kiên cường,

Chung lưng già trẻ lên đường đấu tranh

Lấy đau khổ biến thành hành động,

210/212- 

Quyết giải trừ Đảng Cộng ác ôn.

Đập tan huyền thoại Cáo Chồn,

212/212

Để cho dân tộc trường tồn quang vinh

TRƯỜNG GIANG




Anh Về Một Chiều Mưa




Vài Cảm Nghĩ Về Cơ Sở “Văn Thơ Lạc Việt”

 

Tôi gia nhập làm hội viên của Văn Thơ Lạc Việt từ cuối năm 2016.

Được biết Văn Thơ Lạc Việt thành lập năm 1992 do các nhà văn, thi sĩ: Hoàng Anh Tuấn, Hà Thượng Nhân, Dương Huệ Anh, Thượng Quân và Chu Toàn Chung. Ban cố vấn gồm có: nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, nhà văn Vũ Văn Lộc, Bình luận Gia Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà thơ Ngô đình Chương và nữ sĩ Trùng Quang.

Có bốn thời gian thay đổi chức vụ chủ tịch, bao gồm:

  • Nhà văn Dương Huệ Anh 1992_ 2000 (Tổng Thư Ký: Thi sĩ Song Linh).
  • Nhà thơ Đông Anh 2001_ 2008 (Tổng thư ký: Chinh Nguyên)
  • Nhà văn Chinh Nguyên 2009_ 2019 (Tổng thư ký: văn thi sĩ Thanh Xuân)
  • Nhà báo Lê văn Hải 2020 (Tổng thư ký: VTS Thanh Xuân)

Khi tôi bắt đầu tham gia thì nhà thơ Chinh Nguyên là Chủ tịch của cơ sở Thơ Văn Lạc Việt. Thời điểm này có tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng (phó ban ngoại vụ), nhà báo Lê văn Hải (phó ban nội vụ), thầy Phạm Thái (lo kỹ thuật phụ trách mục in ấn sách), nhà thơ Lê Tuấn (trưởng ban Media) quay phim làm video, anh Đom Đóm phụ thêm phần chụp hình, nhà thơ Mạc Phương Đình hổ trợ gom hình, quay phim làm phóng sự, anh có trang nhà Mây Bốn Phương cũng như Suối Nguồn Tươi Trẻ giới thiệu thơ văn thêm rộng rãi. Cô Thanh Xuân (tổng thư ký) bàn góp ý tưởng rất hay nhằm tạo sự thân mật trong hội, tổ chức sinh nhật mỗi quý (3 tháng) cho hội viên. Chị Thuý Nga trưởng ban văn nghệ tìm kiếm ca sĩ địa phương giúp phần ca nhạc trong các buổi ra mắt sách hoặc các buổi họp mặt sinh nhật. Anh Hoàng Thưởng lo phần nghi lễ chào cờ Việt Mỹ và tưởng niệm, chưa kể đến cô Tina thường đi vận động tài chánh từ những mạnh thường quân có cơ sở thương mại.

This image has an empty alt attribute; its file name is image-202.png

Kể về anh Nguyễn Hồng Dũng là người tài giỏi, thường hướng dẫn chương trình với lối ăn nói khéo léo tài tình, anh ăn chay trường tâm Phật, ý Phật nên từng lời nói luôn hoà nhã, hiền hoà đầy thiền đạo, bên cạnh đó cô MC Hạnh Thảo tươi đẹp duyên dáng phụ phần giới thiệu.

Hội trưởng Chính Nguyên có nét mặt rất hiền hậu luôn sáng tạo những điều tốt đẹp cho hội viên, cũng như sốt sắng giới thiệu các tác phẩm của văn nhân thi hữu…Làm sao quên được những đêm mùa đông lạnh lẽo, anh Chinh Nguyên đã nhờ Thầy Thái mở lớp dạy Computer cho hội viên, lúc mượn địa điểm nơi này, khi mượn nơi khác. Trời giá lạnh bên ngoài, tuy thầy Thái đi dạy nhiều nơi mệt nhọc, đến giờ cơm tối cũng chưa về nhà, vẫn cố gắng đến chỉ vẽ hướng dẫn cách làm sách và in ấn. Anh Chinh Nguyên luôn có mặt kèm nụ cười thân thiện khuyến khích hội viên. Sau buổi học (9 giờ PM) anh CN mời thầy Thái đi dùng cơm tối vì lo lắng bao tử Thầy đang gào đói, thầy Thái xua tay và cả hai cùng cười trong niềm hân hoan ngầm rằng đã làm điều bổ ích cho đời. Thời gian sau anh Chinh Nguyên đích thân sang sửa lớp học tại nhà, kể thêm nhà thơ Lê Tuấn cũng đem tài năng làm video, quay phim của mình muốn truyền đạt cho hội viên kèm sau giờ học của thầy Thái.

Cựu Hội Trưởng Chinh Nguyên và phu nhân 

Những buổi hội họp, anh Thái NC và chị Thanh (phu nhân hội trưởng Chinh Nguyên) nhận nhiệm vụ đi đưa đón các bậc tiền bối đến dự như bác Trường Giang, bác Dương Huệ Anh, bác Diệu Tần nay đã lớn tuổi. Đối với tôi đây là những người góp công với tấm lòng đầy nhân hậu đáng quý, và cảm kích hơn nữa là hội trưởng Chinh Nguyên luôn quý trọng “ôn cố tri tân” những bậc trưởng bối đi trước. 

Tôi thầm phục thêm tài tổ chức của hội trưởng Chinh Nguyên, ngoài các ban còn có ban xã hội do chị Lê Diễm làm trưởng, rất tình nghĩa đẹp mắt khi thấy ban điều hành gởi vòng hoa cũng như thăm đám nhà Quàn, hay quà bánh trái cây thăm người bệnh lớn tuổi.

Chưa hết… anh Chinh Nguyên còn tìm kiếm xã giao với đài VNA (Vietnamese America Tivi) được đài cho free nửa tiếng vào thứ ba, thứ bảy lúc 9 giờ tối (channel Nam Cali 57.3, Las Vegas 26.9 và San Jose 16.10), mục đích đưa những hình ảnh sinh hoạt của Văn Thơ Lạc Việt, hoặc những buổi phỏng vấn tác giả & tác phẩm thơ văn đến quý độc giả, mọi điều thật may mắn và hữu ích đối với VTLV.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng, Tân Hội Trưởng Lê Văn Hải, cựu Hội Trưởng Chinh Nguyên nhận bằng khen từ Dân Biểu Tiểu Bang David Cortese

 Đầu năm 2021 nhà báo Lê văn Hải (phó ban nội vụ) theo sự bầu báng lên nhận trách nhiệm làm hội trưởng cơ sở Văn Thơ Lạc Việt, vì anh Chinh Nguyên trải qua cơn bệnh không thể điều hành tiếp, dù anh đã lái con thuyền gần 10 năm, nhưng không vì vậy anh lui vào bóng tối, mà anh còn cố vấn cũng như giúp đỡ nhiều mặt sau lưng hội trưởng mới.

Biết anh Hải từ lâu trong cộng đồng tỵ nạn tại miền thung lũng hoa vàng, qua những lần anh tổ chức ngày Thương Phế Binh và ngày Lễ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6, cũng như tổ chức phát quà, phát thức ăn mỗi tháng hai lần cho homeless. Tâm anh rất rộng rãi và tình cảm đầy ắp, anh làm ra tiền nhưng muốn cả làng đều hưởng ké, nên mỗi quý sinh nhật (3 tháng) tổ chức cho hội viên, anh bao thầu đãi nhà hàng, cùng quà cáp tặng thành viên có ngày sinh nhật. Mùa Lễ Giáng Sinh anh làm ông già Noel đứng phát quà và chơi sổ xố. Lúc ra mắt sách anh vẫn muốn tiếp tục đãi nhà hàng nhưng các anh chị cản ngăn thì anh lại tổ chức tại quán cà phê Lover bao nước uống và bánh ngọt. Mùa hè vừa qua anh thấy nhớ hội viên vì Covid ngăn cản đã lâu gần một năm rưỡi, nên muốn họp mặt và đã đãi tiệc trịnh trọng như tiệc cưới tại nhà hàng Phú Lâm. 

QUÂN TỬ 

(Trân kính tặng vị Mạnh Thường Quân ẩn danh của Văn Thơ Lạc Việt)

Thung Lũng Hoa Vàng, chốn địa linh

Cali Miền Bắc, đất ân tình

VĂN THƠ hải ngoại phò thăng tiến

LẠC VIỆT nhà Nam giúp trưởng sinh 

Quân tử hùng tâm bừng rỡ rỡ 

Hiền tài tráng chí tỏa minh minh

Thi ân danh nặc, rời khen tụng

Làm nghĩa không tên, né hiển vinh

Phương Hoa 

Họa 

Văn Thơ Lạc Việt 

Hoa vàng thung lũng đẹp huyền linh 

Buổi tiệc trao nhau đậm nghĩa tình 

Lạc Việt ra công gìn sống tốt 

Thi đàn cố sức giữ tồn sinh 

Văn chương khỏa bút tràn mây rực 

Điệu phú đua ngòi ngập ánh minh

Hai chín năm tròn mùa kỷ niệm 

Người hùng hổ trở chẳng cầu vinh

           Minh Thuý Thành Nội 

Nghĩ nghĩa cử hào phóng rộng rãi của anh Hải làm tôi nhớ thêm nhiều chuyện… Có đêm đi dự tiệc chay tại nhà hàng Phú Lâm do Chùa Thiên Trúc tổ chức gây quỹ, ngồi bàn trong tôi thấy anh đội chiếc mũ lụp xụp đứng nơi quầy, tưởng anh cũng dự tiệc chung, ai dè tôi phải về sớm nhà anh Chinh Nguyên dự họp thì thấy một giàn thức ăn bày trên bàn, mới hiểu anh lo dùm bao tử của hội viên. Chưa hết, một lần trong màn cuối buổi lễ QLVNCH lúc người tham dự còn ở lại đông, anh Hải nhảy lên khán đài mời bà con đến phở Bằng dùng trưa free. Kể thêm chuyện Cộng Đồng…tuy anh Hải yêu cầu giấu tên, nhưng rồi ai ai cũng biết anh là “mạnh thường quân” luôn ủng hộ nhiều hội đoàn hay những nhóm hoạt động thiện nguyện hoặc việc ý nghĩa như thời gian vừa qua.

Tánh tình anh rất khiêm nhường và hoà nhã, đôi khi có tiếng chày tiếng bấc từ đâu đem đến nhưng anh luôn im lặng không muốn hơn thua ai, ngoại trừ nhắc đến Việt Cộng mới nghe anh phát âm hơi mạnh. 

Thời gian anh Chinh Nguyên làm hội trưởng và anh Hải hội phó, cơ sở VTLV đã cho ra đời mỗi năm một tuyển tập thơ văn gồm:

  • Tuyển Tập “Đoàn Kết Và Xây Dựng” (năm 2017)
  • Tuyển Tập “Bảo Tồn Việt Tộc” (năm 2018)
  • Tuyển Tập “Văn Thơ Lạc Việt” chủ đề “Áo Dài” (năm 2019)
  • Tuyển Tập “Quê Hương Và Nỗi Nhớ” (năm 2020)

Gồm bài vở từ những nhà thơ nhà văn tiền bối nổi tiếng cũng như các thân hữu, hội viên của cơ sở Thi Đàn tham gia đóng góp thành tâm thành ý liên tục. Hơn nữa là công lao của ban điều hành tiếp tay góp ý và năng nổ hoạt động cũng như sự hy sinh công sức, hổ trợ về mặt tài chánh để đạt thành quả tốt đẹp.

Điều đặc biệt khi anh Hải lên làm hội trưởng thì cô Tracy Trần giữ chức vụ thủ quỹ, và được sự trợ duyên lớn là thầy Thái làm trưởng Ban Biên Tập cùng chị Phương Hoa làm Phó Ban Biên Tập. Thầy Thái hiền lành ít nói chỉ bày tỏ chân tình qua công việc. Chị Phương Hoa tài năng xuất chúng, thơ một kho và văn một núi, đã từng đoạt nhiều giải nhất từ Văn Thơ Lạc Việt và Việt Báo mục “Viết Về Nước Mỹ”. Đối với người càng già trí óc chất xám càng giảm, nhưng chị Phương Hoa càng lớn tuổi càng thông minh sáng láng, đó là phước báu trời cho dễ mấy ai có được. Thầy trò hợp lực nhanh chóng kêu gọi bạn bè hội viên đóng góp bài vở về chủ đề Xuân, cố công đêm ngày trong thời gian ngắn cho ra đời Đặc San Xuân Tân Sửu 2021 được in bìa và trình bày rất mỹ thuật cùng nội dung phong phú.

     Thầy Phạm Thái và Văn Thi Sĩ Phương Hoa

Giữa năm theo gợi ý thầy Tuấn về đề tài Thiền, ban Biên Tập cũng như Ban Điều Hành và hội viên, nhất là hội trưởng Lê Văn Hải đã ủng hộ hết mình về tài chánh, cổ võ tinh thần mọi người đóng góp bài vở. Anh theo đạo Công Giáo nhưng rất tôn kính về đề tài này …Khi cuộc sống đang gặp nạn Covid hoành hành khắp thế gian, bao nhiêu tai họa đổ ập xuống loài người, mọi sinh hoạt gần như ngưng hoạt động, tâm tư con người đầy lo âu rối loạn, thì đề tài về “Thiền” như dòng suối mát cho ta được ngâm mình dịu vợi theo những áng thơ, những câu văn xoa dịu tinh thần biết bao nhiêu, há chẳng phải là điều lợi lạc hay sao?!!!

Cho nên tuyển tập “Sống Với Tâm Nhàn” được thành hình ra mắt chiều Chủ Nhật ngày 26 tháng 9 năm 2021 tại quán Cà phê Lovers nằm trên đường Aborn thuộc thành phố San Jose, được nhiều văn nhân thi sĩ đóng góp bài vở. Điều biết ơn sâu sắc là nhờ thầy Thái, thầy Tuấn, chị Phương Hoa đã ngày đêm gom bài vở từ mọi nơi, edit và trang trí hình ảnh trang nhã trông thật mát mắt và phẩm lượng đầy giá trị.

Tại đây tôi tìm được thật nhiều niềm vui, được trao đổi thơ văn, được đọc những bài giá trị mở mang kiến thức và học hỏi thêm về thi phú từ các tiền bối. Cuộc sống nơi xứ người trong những ngày tháng lo toan cơm áo gạo tiền, giờ tìm được ngôi nhà đầy ánh nắng ấm áp che chở, những tâm hồn đồng điệu về thi phú cũng như chung chí hướng chống Cộng và giữ gìn nâng niu chữ quốc ngữ thân yêu. Một cơ sở văn học bảo tồn tiếng Việt trên xứ người nhưng đồng thời cũng là một mái ấm tình thương mà các hội viên được đối xử thân tình như trong gia đình. 

Có Những Niềm Vui

Có những niềm vui mát mộng đời 

Lan vào tim mạch khó nhoà vơi

Ân tình một sớm tràn chim hót 

Vạt nắng thu phai đẹp cuối trời 

Có những niềm vui dệt nụ hồng

Hương lùa gió quyện thả mênh mông

Hạt nhân hạnh phúc đường hoa nở

Kết nối yêu thương nghĩa phủ lồng

Có những niềm vui thật nhẹ nhàng 

Như cung nhạc trỗi dậy đàn vang

Chung lòng gắn bó câu đoàn kết 

Hợp sức tài văn bút phú tràn

Có những niềm vui chứa ảnh hình 

Sách, quà sổ số thật xinh xinh 

Màu Lan sắc thắm nồng chan chứa

Hội ngộ tương giao quý mến tình

Có những niềm vui trọn vẹn đầy 

Văn Thơ Lạc Việt lắm trò, Thầy 

Cùng nhau sát cánh gìn ngôn ngữ 

Tiếng mẹ quê mình quyết bảo xây 

                 Minh Thuý Thành Nội

LẠC VIỆT VĂN THƠ (Góp vui cùng MT)

LẠC VIỆT VĂN THƠ giúp đẹp đời

Cho dù năm tháng thể nào vơi

Trời thu man mác tình ngan ngát

Họp mặt niềm vui rực đất trời

LẠC VIỆT VĂN THƠ đẹp sắc hồng

Ảnh hình ghi nắng trải mông mông 

Nâng ly ta chúc lời thân ái

Chào đón PHAN LANG gió quyện lồng

LẠC VIỆT VĂN THƠ bước nhịp nhàng

Thi văn nhạc họa tiếng lành vang 

Bốn mùa muôn sắc hoa đua nở

Năm tháng niềm vui tỏa ngập tràn

LẠC VIỆT VĂN THƠ chốn điển hình

Kỳ hoa dị thảo ngập vườn xinh

Cùng nhau vun bón luôn tươi thắm

Huynh đệ đối nhau rất trọn tình

LẠC VIỆT VĂN THƠ hợp đủ đầy

Thi nhân, văn sĩ, đến cô, thầy

Bảo tồn Quốc Ngữ dân Hồng Lạc

Hải ngoại tình người kết nối xây.

                          Phương Hoa

Từ trái: Anh Chinh Nguyên, chị Thuý Nga (trưởng Ban văn nghệ), nhà thơ Mạc Phương Đình, cô Tina (Vận động Tài Chánh), anh Hồng Dũng và anh Hải.

Từ trái Cựu Chủ Tịch Chinh Nguyên và Phu Nhận, Cô Tổng Thư Ký Thành Xuân và Phu Quân, cô MC Hạnh Thảo và Cô Tuyết Nhung (nhiếp ảnh gia)

Xuân Hạ Thu Đông lần lượt đi qua theo bước thời gian, phút rộn ràng buổi ra mắt sách, phút hân hoan lãnh quà sinh nhật, những buổi chung hưởng niềm vui dự lễ kỷ niệm 28 năm thành lập Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, những năm dự buổi phát giải thưởng sáng tác thi văn tràn hãnh diện, cảm giác luôn đọng mãi, lâng lâng niềm an ủi của đứa con xa quê hương, mồ côi cha mẹ, nhưng tìm được bóng mát nương tựa đầy ấm áp nơi tha phương, tôi chỉ biết nói lời chân thành 

Cám ơn Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt 

Hội Viên 

Minh Thuý Thành Nội 

Tháng 12/202




(thơ song ngữ) SINH NHẬT EM, MÙA NOEL của ĐẶNG LỆ KHÁNH & THANH-THANH




Noel Tuyết Lạnh




Tiếc Thu

    Tiếc Thu
( Trường Thiên Tứ Tuyệt )

Một vùng sương khói sáng hôm nay
Bụi trắng bay như mộng ảo đầy
Tiếc nuối hồn thu còn phảng phất
Sao nghe chất ngất nỗi sầu vây

Ảm đạm đông về nắng ẩn lui
Hàng cây bụi cỏ xác xơ vùi
Màu hoa rũ rượi tàn hương sắc
Chợt thấy nao nao nỗi ngậm ngùi

Cảm xúc bao lần dậy sóng yêu
Thu quay giã biệt tiếc thương nhiều
Tình thơ lãng đãng say say mãi
Trỗi nhịp mơ màng bóng tịch liêu

Thu rời muôn nẻo bước thời gian
Vương vấn mùa thương những lá vàng
Gót mộng đường mây đành khuất lấp
Thôi buồn cúi mặt đợi thu sang
            Minh Thuý Thành Nội
               Tháng 12/10/2021




Hạt Mưa Niềm Nhớ




Lễ Giáng Sinh




Nhà Báo Phạm Đoan Trang




Đọc Thơ Hoàng Song Liêm

Kính thưa quí vị,

Giới thiệu một tác phẩm thơ luôn luôn làm tôi bối rối. Bối rối vì người làm thơ nói lên cảm xúc rất riêng tư của mình  mà người đọc nhiều khi chỉ thấy thoáng qua, nên có thể không giới thiệu tới cái phần xâu xa của tác gỉa.  Khác với chính khách, thi sĩ không đại diện cho đám đông, không nhân danh quần chúng. Người làm thơ chỉ phát biểu cảm xúc của riêng mình, với cảm quan rất cá biệt. Nói như nhà thơ Nguyễn Đức Sơn: “thơ là những gì phức biệt có riêng tôi”. Chính với cái cá biệt đó thi sĩ đã dựng lên một thế giới của riêng mình.  Trong thế giới riêng đó thiên nhiên đột nhiên có sức sống, có mầu sắc, có hương vị riêng mà chỉ thi sĩ nghe thấy nhìn thấy ngửi thấy.  

Với người không làm thơ buồn vui không liên quan tới mưa nắng. Chẳng hạn trời mưa chỉ nghe tiếng mưa rơi, nhưng nơi một người làm thơ như Huy Cận ông thấy cả sức nặng của bầu trời tạo nên cái buồn của mình:

Đêm mưa làm nhớ không gian

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la

Tai nương nước giọt mái nhà

Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn

Ngược lại nơi Xuân Diệu, một tri kỷ của Huy Cận, thì cái buồn nó tới vì thi sĩ thấy trời nhẹ đi:

Hôm nay trời nhẹ lên cao

Tôi buồn không hiểu vì  sao tôi buồn

Cùng là nỗi buồn mà ngừơi thì thấy vì trời nặng, người thì thấy vì trời nhẹ. Hoàn toàn ngược chiều nhau. Thi sĩ là người đã tái tạo thiên nhiên như vậy. Chính cái cảm xúc khác biệt đó đã làm một người viết thành thi sĩ. Thi sĩ thấy và cảm những điều mà chỉ ông ta thấy và cảm mà người khác không thấy, không cảm.

Nhìn mây bay ta có thể nghĩ tới trời nắng hay sắp mưa, nhìn hoa nở ta thấy mùa xuân đang tới, nhưng ở Lý Bạch mấy trăm năm trước thì:

                               Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung

Nghĩa là nhìn mây bay ông nhớ tới xiêm áo tha thướt của nàng, nhìn hoa nở ông nhớ tới khuôn mặt diễm lệ của nàng. Những xúc động đó tới từ môt tâm hồn phong phú mà cũng rất riêng tư. Nhà thơ Joseph Brodsky, trong diễn văn nhận giải Nobel Văn Chương năm 1987 viết là: “Nếu nghệ thuật có dạy một cái gì cho nghệ sĩ thì đó chính là cái tính cách riêng tư của cuộc sống con người.” Ông nhận xét là người ta có thể chia sẻ nhiều thứ như bánh mì, chiếc giường, niềm tin nhưng không thể chia một bài thơ.

Chính vì cái rất đỗi tư riêng đó nhận xét về thơ luôn luôn là môt nghi vấn. May thay dù khởi đi từ cảm xúc riêng, bài thơ thành công luôn luôn truyền đạt đuợc tới người đọc cái cảm xúc của tác gỉa để người đọc cùng cảm cái rung động của tác gỉa. Từ một nỗi niềm tư để hòa vào một cái rất chung. Từ một cái riêng lẻ thành một cái rất tập thể.

Chính nhờ thế mà thơ trở thành phổ biến. Nó chuyên chở cái mà nhiều người cảm thấy nhưng không viết ra: tình yêu, nỗi nhớ nhung, mối hoài cảm v…v…. Băn khoăn, yêu vu vơ ở tuổi 20, dào dạt nỗi nhớ quê ở tuổi trưởng thành, ngậm ngùi với những hoài cảm khi xa quê hương. Thơ Hoàng Song Liêm là như vậy. Trong 100 trang thơ, từ những bài làm vào thập niên 50 tới những bài làm gần đây người đọc thấy tràn ngập tình yêu và nỗi nhớ nhung quê hương mà ông muốn truyền tới người đọc.

Rụt rè như:

Đo đắn phong thư gìn giữ mãi

Mong chờ hẹn dịp để trao đưa

Nhưng rồi e ấp tay dè dặt

Tha thiết bao nhiêu bấy hững hờ

Bâng khuâng như:

Hái bông hoa trong một vườn dị thảo

Ngát hương lòng ta gửi tặng riêng em

Em chẳng nhận cả trời sẩu não

Ta trở về ngồi đợi bóng trăng lên

Tập thơ gồm 46 bài tác gỉa sáng tác từ 1952 tới những năm gần đây. Sinh ra trong một đất nước chiến tranh, và chính ông là một sĩ quan đứng trên một chiến tuyến nhưng thơ ông không hề có dấu vết chiến tranh. Học Chu Van An từ 1948 tới 1954, rồi di cư vào Nam ông đồng hóa vào quân đội, làm trưởng ban biên tập cho Nha Chiến Tranh Tâm Lý. Sau đó chuyển sang Không Quân phục vụ trong ngành cơ khí cho tới 1965 mới chuyển sang Tâm Lý Chiến, làm chủ bút cho báo Lý Tưởng của Không Quân.

Từ khi còn đi học ông đã làm thơ đăng báo. Ông cộng tác với báo Tia Sáng, Giác Ngộ, Hồ Gươm, Giang Sơn khi chưa tới 20 và nhiều bài thơ trong tập thơ ra mắt hôm nay ông đã sáng tác vào thời kỳ trên dưới 20 tuổi.

Chất liệu trong thơ của ông ở thời kỳ này là tâm sự của tuổi 20, có tình yêu, có viễn mơ:

Đò ơi Ta một kẻ phiêu linh

Trọn tuổi hoa mơ mộng viễn trình

Ghé bến đây rung chèo dật sóng

Cho cùng theo với kiếp lênh đênh

Cũng như mọi thanh niên cùng lứa tuổi, ông cũng nghĩ tới chiến tranh đang chờ đợi:

Ngày mai khói lửa ngụt sa trường

Thân dấn vào trong lớp súng gươm

Khí uất căm hờn say bóng nguyệt

Quên tình dứt đứt cả tơ vương

Nhưng những xúc động về chiến tranh chỉ thoáng qua, hầu hết thơ trong thời kỳ này là tình yêu.

Hơn một nửa sau tập thơ là nỗi nhớ:

Nhớ thời bạch diện áo thư sinh

Nhớ thủa hàn vi ước mộng lành

Nhớ thủa mắt trong tình mới chớm

Ngẩn ngơ mầu áo, áo ai xanh

Mặc dù có 20 năm quân ngũ, và trưởng thành trong giai đoạn khốc liệt của chiến tranh, thơ Hoàng Song Liêm không hề mang một dấu vết chiến tranh hay hận thù. Thơ của ông không có bom đạn, không có lửa cháy, không có nước mắt. Có lẽ tình yêu chan chứa đã che đi những vết hằn của chiến tranh.

Nếu đọc thơ là để nghiêng tâm hồn mình xuống với kỷ niệm, đề những hoài cảm xôn xao trở về thì phần 2 trong thơ Hoàng Song Liêm đã đưa người đọc tới những hòai cảm đó.

Khi lưu vong mỗi người có một phản ứng khác nhau, có người chua xót, có người ngậm ngùi. Phần lớn là cay đắng vì đã bị bứt khỏi gốc rễ để đối diện với thử thách mới; xót xa vì bị đẩy khỏi thân quen để vật lộn với xa lạ. Thơ vì thế chua cay, bao phủ bởi những day dứt quê hương. Như thơ Cao Tần:

Mai mốt anh về có thằng túm hỏi

Mày qua bên Mỹ học được củ gì

Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi

Nói mày hay ông thượng đẳng culi

Ông rửa bát chì hơn bà nội trợ

Ông quét nhà sạch hơn em bé ngoan

Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió

Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan

Nhưng dù với những đắng cay chất ngất, lòng nhung nhớ quê hương vẫn trán đầy đâu đó với những hình ành ngọt ngào:

Em hãy tìm về sau căn nhà cũ

Đứng bên rào mà ngó lại vườn xưa

Em nhớ nhé dưới tàn cây trứng cá

Những trái mọng hồng trong ánh nắng sau mưa

Với Hoàng Song Liêm người đọc không thấy cái cay đắng, cái hận thù của kẻ lưu đầy. Tràn ngập trong thơ ông là cái diụ dàng trong hoài niệm. Buồn đấy nhưng không là cái buồn chua xót, nhớ đấy nhưng không là cái nhớ đắng cay. Đó là những xúc động trước cảnh trí nơi quê người làm trạnh nhớ quê hương đất tổ:

Vầng trăng ai xẻ nửa

Chênh chếch mãi non đoài

Mây trời mây viễn xứ

Lòng ai thương nhớ ai?

Cũng như hầu hết những người xa quê hương trong cái lạnh nơi quê người ông nhớ lại những hình ảnh quê xưa,; nhưng những nhung nhớ đó không hằn học, không chua chát mà nhiều tình người:

Bên ấy mùa này đã lạnh chưa

Sầu nghiêng gối lẻ bóng trăng mờ

Tình xa một nửa tim còn thiếu

Thao thức năm canh giấc mộng chờ

Bên ấy giờ này qúa nửa đêm

Phòng riêng nệm ấm giấc mơ chìm

Hành tinh ai cắt làm hai mảnh

Chiều xế bên này bóng nhớ em

Và cùng với thời gian tăng, lòng tha thiết với quê càng tăng thêm, ta thấy thơ ông bàng bạc những cảm xúc về quê hương:

Ôi quê hương gợi nhớ thủa nào xa

Hong tuổi dại nghe lời ru của mẹ

Bài ca dao thuộc nằm lòng tấm bé

Thương cái cò lặn lội mãi bờ ao

Với tuổi thất thập mà vẫn sáng tác thơ, ông đã cho thấy cái tha thiết với thi ca với văn chương Việt Nam. Thông thường cái mất mát lớn trong văn chương khi xa quê hương là người viết mất đi cái sức sáng tạo mà khi trong còn trong nước rất dồi dào. Chúng ta có thề thấy hiện tương này phổ biến trong rất nhiều giới làm văn hoá Việt Nam. Vẽ không như xưa, viết không như xưa, làm nhạc không như xưa. Như cây trồng đất mới, rất ít bén rễ mới.

Sáng tạo và xuất bản trong điều kiện lưu vong là đã nuôi dưỡng dòng văn học Việt không những cho chúng ta, thế hệ ra đi đầu tiên, mà còn cho những thế hệ mai sau. Nước Nhật có một tục lệ là mỗi năm chọn mười bài thơ hay nhất sáng tác trong nước và ngoài nước để chính tác gỉa đọc thơ cho Nhật Hoàng trong một buổi lễ vào dịp Tết. Nhà văn Võ Phiến có nhắc tới Thi Sĩ Minoru Fujita một người sống lưu lạc ngoài nước Nhật từ nhỏ đã được chon. Đó là một trường hợp rất đặc biệt vì ông ta đã sống xa quê hương rất lâu, trở nên xa lạ với sinh hoạt trong nước. Có môt người tìm được một bài thơ ngắn của ông dịch sang tiếng Anh:

I no longer know

What they are saying

In my native land

But I know the flowers

Smell the same

Tạm phóng dịch: Quê hương cho dù biến đổi, và mình cho dù đã xa lạ với vấn đề của xã hội mới, ngôn ngữ mới, nhưng tôi biết nơi đó hoa vẫn tỏa một mùi thơm cũ, mùi hương đó mãi mãi không thay đổi.

Như vậy chừng nào hoa xưa vẫn tỏa mùi thơm cũ nhà thơ vẫn cảm đươc mùi hương xưa, chừng đó nhà thơ vẫn thấy gần gũi với quê hương, vẫn làm thơ với ngôn ngữ quê hương và vẫn được tán thưởng cho dù sống trong hay ngòai nước.

Xin cám ơn qúi vị.

ĐỌC THƠ  HOÀNG  SONG  LIÊM

HÀ  THƯỢNG  NHÂN

Hoàng Song Liêm  là  một  trong  những  con  người  di  tản  tương  đối  thành  công. Anh  là  một  Sĩ  quan  Không  Quân  cấp  Tá.  Cộng Sản  vào  Nam, anh  đã  sớm  đào  thoát  chạy  ra  nước  ngoài.Anh  không  bị  một  ngày  tù  như  phần  đông  những  người  bạn  cùng  trang  lứa với  anh. Sang đến  Hoa  Kỳ,anh  làm  ăn  khá  giả, con  cái  tương  đối  thành  công nhưng  lời  thơ anh  vẫn  u  uất  buồn :

           Tết  lạnh  quê  người  phai  sắc  áo

           Người  đi  nẻo  khuất  vẫn  chưa  về

           Nghiêng  bầu  lại  rót  mùi  cay  đắng

           Gió  lạnh  phòng  không  chẳng  liếp  che  !

 Không  có  liếp  nào  che  cả. Mới  biết  tấm  lòng  thương  quê  nhớ  nước  mãnh  liệt  đến  chừng  nào. Bỏ  nước  ra  đi  vì  anh  không  thể  sống  dưới  một  chế  độ  không  có  Tự  do,Dân  Chủ.Có  tự  do, Dân  chủ  rồi  nhưng  còn  một  cái  gì  đó  anh  không  có. Đó  là  quê hương. Quê  hương  không  phải  chỉ  là  song,là núi, là  mồ mả  ông  cha,là  họ  hang, làng  mạc. Quê  hương  lại  còn  là  những  làn  gió, những  ánh  trăng, những  cơn  mưa  gió  thất  thường, những  con  đường  lầy  lội, những  mái  rơm, mái  rạ, những  con  người  lầm  than, đói  khổ. Nó là  cuộc  đời, là  tuổi  trẻ của  chúng  ta. Là  tiếng  mẹ  ru, là  mùi  thơm  hoa  cau, hoa  bưởi, là  đêm  khuya tiếng  chiếc  mo  cau  rụng  ở  vườn  sau. Ôi  quê  hương !  Là  thứ  chúng  ta  không  thể  diễn  tả  bằng  lời nhưng  nỗi  mất  mát  quê  hương  vẫn  hiện  hữu   trong  chúng  ta  từng  giây, từng  phút.

Toàn  thể  tập  thơ  không  bài  nào  là  không  đề  cập  đến  quê  hương. Quê  hương  và  tuổi  trẻ. Quê  hương  và  thời  gian. Càng  về  già,chúng  ta  càng  quý  tuổi  trẻ,càng  ngậm  ngùi vì  thời  gian  qua  mau.

Dài  tay  năm  ngón  xanh  xao

Sầu mây  tóc  trắng chiêm  bao  nửa  vời.

Dài  tay  mười  ngón  tay  xuôi,

Sầu  đôi  hộc  mắt, môi  cười  ngẩn  ngơ.

Quẩn  quanh  năm  tháng  thừa  dư,

Gai  chông  nhọn  hoắt,chân dò  dẫm  đi.

“Sầu  đôi  hộc  mắt”hai  con  mắt  lõm  xuống  vì  đêm  không  ngủ  được vì sống  ở  đây không  thực  sự  là  sống. Sống  ở  đây  đối  với  người  chỉ  còn  có  nghĩa  là  tồn  tại….

Năm  cửa  ô  xưa  băm  sáu  phố

Xa  quê hương, nhất  là  quê  hương ấy  lại  là  Hà  Nội  thanh  lịch  thì  là  sao những  người  con  của  Hà  Nội  có  thể  quên  được  năm  cửa  ô, quên  được  Hà  Nội  băm  sáu  phố  phường.

Năm  1954, Mai  Thảo  bỏ  miền  Bắc  đã  viết  một  cuốn  truyện  thật  hay:” Đêm  giã  từ  Hà  Nội”. Hay vì  thực, vì  chân  thành. Nghệ  thuật  chỉ  làm  nên  những  bài  thơ, chỉ  tâm  hồn mới  là  thi  sĩ. Câu  nói  đó  của  một  thi  nhân  Pháp  viết  cách  đây  hàng  thế  kỷ  mà  muôn  đời  vẫn  đúng.

Tôi  nhớ  mãi  đến  Hoàng  Song  Liêm  những  ngày  mới  chập  chững  bước  vào  đời.Khi  ấy,chúng  tôi  còn  là  quân  nhân  trong  ngành  Tâm  Lý  Chiến.  Liêm  thì  ngoài  20, còn  tôi  ngoài  3  chục.  Liêm  còn  độc  thân ,  tôi  đã  có  ba  bốn  con. Chúng  tôi  gặp  nhau và  tự  nhiên  thấy  rất  gần  gũi, thân  thiết  với  nhau,vì  chúng  tôi  cùng  làm  thơ  và  cùng  yêu  thơ…

Phương  Nam  mù  mịt  trời  phương  Bắc,

Mây  trắng  giang  hồ , mây  viễn  phưong..

Tôi  biết  tại  sao  Liêm  lại  giao  cho  tôi  viết  mấy  lời  đầu  của  cuốn  sách. Vì  Liêm  cũng  như  tôi, chúng  tôi  thích  sự  chân  thành. Nếu  như  lối  viết  của  Vũ  Hoàng  Chưong, của  Huy  Cận  cổ  rồi  thì  làm  sao  chúng  ta  còn  thưởng  thức  được  Tản  Đà, còn  thưởng  thức  được  ca  dao. Hoá  ra  cuộc  sống  của  thi  ca  còn  ngắn  ngủi  hơn  cả  cuộc  sống  của  con  người  nữa  hay  sao ? Mới  không  phải  là  tìm  ra  lối  diễn  tả  kỳ  cuc. Mới  là  cách  nhìn  sự  vật. Nhiều  người  nhìn  mà  có  thấy  gì  đâu ? hang  nghìn  năm  trước,  Lý  Bạch  nhìn  trăng  và  nói  thế  này :

Nhân   phan  minh  nguyệt  bất  khả  đắc

Nguyệt  hành  khước  dữ  nhân  tương  tuỳ.

(Người  với  lên  trăng  thì  không  được,

(Nhưng người  đi  đâu  thì  trăng  theo  đó )

Hoặc:

Kim  nhân  bất  kiến  cổ  thì  nguyệt,

Kim  nguyệt  tằng  kinh  chiếu  cố  nhân.

Người  ngày  nay  không  thấy  trăng  ngày  xưa

( Nhưng ) trăng  ngày  nay  vẫn  thấy  người  ngày  xưa.

Kiếp  sống  của  con  người  thật  là  phù  du  so  với  cảnh  vật. Lý  Bạch  chỉ  nhìn  và  diễn  tả. Ông  không  cần  biện  luận. Cần  gì  phải  biện  luận. Chúng  ta  chỉ  đọc  cũng  đủ  thấm  thía  cho  cuộc  sống  ngắn  ngủi  của  kiếp  nhân  sinh.

Hoàng  Song  Liêm  năm  mươi  năm  rồi  anh  mới  lại  cho  tôi  đọc  thơ . Thơ anh  vẫn  trẻ  như  ngày  nào. Hình  dáng  chúng  ta  không  còn  như  xưa  nữa  nhưng  tinh  thần  chúng  ta  nào  có  gì  đổi  khác.

Tôi  mừng  cuộc  đời chưa  làm  tôi  mất  một  người  bạn, một  người  thơ.

HÀ  THƯỢNG  NHÂN

ÐỌC THI PHẨM CỦA HOÀNG SONG LIÊM,

MỘT NGƯỜI ANH TRONG LÀNG VĂN NGHỆ

Trần Tuấn Kiệt

          Có những người văn nghệ đã thành danh từ vài thập niên trước, nhưng vì hoàn cảnh lịch sử, cuộc đời họ đã một thời gian im lặng, hay sinh hoạt văn hóa ở một nơi xa xôi nào mà người trong nước không biết, đó là trường hợp anh Hoàng Song Liêm. Anh vừa cho xuất bản thi phẩm Hoàng Song Liêm, nhà xuất bản Văn Nghệ, đồng thời có riêng một ấn phẩm đặc biệt kèm theo để bạn thơ thưởng thức phần thơ riêng của anh. Tôi vốn thích cái gì riêng biệt không muốn ai đó kiểm duyệt mình nên vội đọc phần này trước.

          Thoạt đầu khiến ta chưa dở vội trang thơ trong vì khổ thơ và mẫu bìa vẽ một nàng thơ tuyệt vời màu sắc tươi thắm đậm tình dân tộc. Tôi nghĩ đó là một nét họa của Ðằng Giao. Quả nhiên, khi xem lại thì tranh của Ðằng Giao thật nhưng tôi cứ lớ ngớ tìm hoài không thấy tên họa sĩ, ngoại trừ bức chân dung sắc nét của anh ký tên là Toại 6/29/01 thế thôi. Anh Hoàng Song Liêm tỏ ra rất trân trọng với thơ mình từ việc chọn khổ in thơ, tranh và những trang giấy hoa đẹp vẽ những viền mây bao phủ và làm nền cho thơ bay trên đó.

          Tôi xin diễn sơ ngoại cảnh một chút. Tôi từ chỗ cô Nguyễn thị Hàm Anh về, hiện trời mưa như trút, trời đỏ như gạch son, những ngày cuối năm đầy mưa gió lạnh lùng ở Saigon. Cũng chính Hàm Anh trao cho tôi hai bản thơ quý của anh mà từ lâu rồi, tôi chưa thấy ai in thơ đẹp như thế. Tôi ra đóng chặt cửa trên gác lại, mưa ào ạt và sấm động liên hồi. Tôi vốn rất sợ sấm, hồi nhỏ ở quê tôi bị sét đánh hụt một lần, bà ngoại tôi bay chiếc  nón lá khi cùng tôi chạy qua cầu sắt Sa Ðéc. Vì thế sau này tôi rất sợ sấm chớp… Ðóng cửa lại, mặc cho mưa gào bên ngoài, trong căn gác vắng tôi ngồi đọc thơ Hoàng Song Liêm.

          Ðọc bài “Hoài Vọng” tôi nghe như có một chút gì khắc khoải, u hờn mặc dầu dấu vết thời gian đã đẩy đưa rất nhiều hư ảnh về quá khứ. Ngôn từ Việt, những chữ: đó, nọ, kia, mà… như âm vang của một tiếng đàn cổ reo lên trong thời đại này đem lại rất nhiều hoài  cảm thiêng liêng

          Lửa của lòng ta nay đã tắt

          Thôi nhắc làm chi những lúc xưa

          Những chiều mơ mộng rồi hoài vọng

Mà… bóng thời gian đã xóa mờ

Anh nói đến ngọn lửa, dù anh cho là đã tắt nhưng ta cảm thấy nó đang giục nhiều nỗi đời nung nấu trong thâm tâm nhà thơ… dễ gì đã tắt!

Bài “Hẹn” tiếp theo cho thấy một tay thơ đã chín, đã điêu luyện tự bao giờ với nghệ thuật thơ lục bát ngày xưa. Người ta thấy dòng thơ lục bát này đi từ Nguyễn Du, đến Huy Cận, đến Hoàng Trúc Ly, Hoài Khanh… Giòng lưu ly của thơ lục bát đã hòa với giòng sông lớn của thi ca Việt đem đến một tòa hoa gấm bền bỉ và bất tử. Sẽ có những người em tiếp theo đi trên những dòng lục bát sâu xa trường cửu đó mai sau.

Bây giờ hãy đọc:

Mai này… hẹn sẽ về thăm

Ô hay sao vẫn ruột tằm rối tơ?

Biển Ðông vẫn cách đôi bờ

Chân mây đã khuất lối xưa mịt mù

Hạ buồn tóc điểm sương thu

Ðầu non đá dựng bốn mùa miên đông

Mai này… biết có về không

Ðàn mê chợt rớt tiếng đồng lạnh tanh

Mộng thầm, gối mỏng chông chênh

Chân ai bước mỏi nẻo xanh, mai về

Khí thơ êm đềm lạnh đến hư không và miên viễn như một dòng thời gian bất tận khiến ta nhớ đến bài thơ của Lưu Trọng Lư, bài Quay Tơ. Các bạn quý thơ hãy đọc và chia xẻ nỗi ngậm ngùi với Hoàng Song Liêm trong cảnh “tà huân” của cuộc đời! Tuy cảnh tà huân, nhưng anh đã lưu lại cho người đời điệu thơ vừa trữ tình sầu mộng vừa lẫn hương vị siêu hình của luật trời: Sự tuần hoàn của Tạo hóa mà không một ai thoát khỏi kiếp người như thế cả. Tôi cho đấy là một bài thơ tuyệt đẹp, một bài lục bát hiếm hoi trong vườn thơ hiện đại.

Nhưng đâu phải chỉ một nỗi miên man đến chạnh lòng đó. Bài “Tổ quốc xa” đã mang lại một thứ tâm tình viết lịch sử như anh Nguyễn Mạnh Côn, anh Vũ Khắc Khoan độ nào. Nói đến Nguyễn Mạnh Côn tôi mạn phép mở ngoặc một chút về chuyện anh bị bỏ đói khát chết trong trại cải tạo, có người đồn là do Duyên Anh gây ra. Nhưng anh Nguyễn Quốc Ðịnh cũng là bạn văn chương ở chung với Duyên Anh và Nguyễn Mạnh Côn xác định rõ với tôi là việc đó không phải do Duyên Anh tạo ra. Vậy xin ghi vài lời để anh em ngoài cuộc rõ và giải mối oan tình cho Duyên Anh từ lâu nay (?!)

Vẫn niềm hoài cổ,vẫn khắc khoải với nước non – dù tóc đã bạc, gối đã mòn, tâm hồn vẫn còn rất nhiều lửa để hong ấm nỗi niềm nhớ thương về một thời Quốc gia rực rỡ- Thời đại lịch sử đôi khi lúc vơi rồi lại đầy. Lịch sử chân chính bao giờ vẫn tồn tại trong lòng người – Nhà thơ ơi! Không mất đi đâu cả! Cũng như như dòng lục bát của anh vẫn ngân nga trong thời gian đó vậy. Tôi nhớ tới thơ Vũ Hoàng Chuơng.

Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ

Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh

Thời đại này, lịch sử trở mặt, lịch sử của bầy ngạ quỷ chỉ muốn ăn thịt đồng bào, nòi giống còn hơn gấp vạn lần thời của nhà thơ họ Vũ khi xưa.

Simon Veil bảo lịch sử có hai bề mặt. Bề mặt đen tối đang bủa vây khắp nơi khiến cho dù nhà thơ Hoàng Song Liêm đã mệt mỏi trên đường đời vẫn buông lời thơ như Bà Huyện Thanh Quan trong ThăngLong Thành Hoài Cổ. Người có ý thức tự do và yêu nước ai có thể thờ ơ được với nước non này. Vì thế mà trong thơ ông, chúng ta còn nghe rõ tiếng hờn uy linh của sông núi, của những chiến trường xưa và chiến binh anh hùng đã một thời trận mạc để bảo vệ đất nước, giang san trước bọn giặc thù. “Màu xanh” tưởng đâu thanh thoát, nhẹ nhàng, trẻ trung vui sướng. Ai ngờ lại ẩn rất nhiều tiếng vọng của non sông một thời.

Trời xanh xanh biển xanh xanh

Ðỉnh núi che nghiêng bóng cờ thành

Phần phật cờ bay mùi khói tỏa

Nghe rền trống trận thuở đao binh

Thoáng nhìn một bài thơ, ai chớ vì cái tựa mà hiểu lầm. Ðạo ẩn ư tiểu hành. Những ngụ ngôn và phản ngôn của thi ca chứa nhiều trong đó. Màu Xanh!

Dầu sao nhà thơ vẫn còn rất nhiều tình cảm mặn nồng của tuổi thanh xuân đầy những mộng tình tha thiết. “Em” của nhà thơ là ai đây? Là người bạn đời  chăn gối, tình nhân hay nàng Thơ. Chúng ta không vội  phân tích ý nghĩa và ngôn từ, chỉ nên thưởng thức vần thơ êm đềm, châu ngọc của thi nhân. Mời bạn đọc “Viết cho em” và tự thưởng thức lấy cái hương vị diễm tình của thơ.

Hoàng Song Liêm làm thơ cả một đời mà bắt đầu vào thời của Quách Tấn, của Vũ Hoàng Chương, Phạm Hầu. Ðọc thơ ông phải nghĩ tới linh hồn thơ ấy đi qua rất nhiều chặng đường nghệ thuật từ lãng mạn, tượng trưng đến siêu thực, siêu hình bàng bạc khắp ý thơ – từng trải qua rất nhiều nẻo đường lịch sử văn học của dân tộc Việt. Cũng không khỏi nhớ đến những người anh cả là Hà Thượng Nhân, Cao Tiêu… những người bạn như Tô Kiều Ngân còn ở lại VN.

Rồi thấm thoát bóng dương cũng mờ dần, buổi hoàng hôn lại đến và con người thi sĩ vốn hiện hữu giữa trần gian còn để lại gì? Nào những màu thời gian… của Ðoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, nào những lớp lang lịch sử xô về đưa tất cả vào thái hư tịch mịch. Nhà thơ nói về thời gian vô thường, những hiện tượng của đời vẫn sinh động đẹp đẽ… và thi nhân thay đổi với Vô Cùng nhưng còn mùa Xuân ấm nồng lại đến. Ðông sẽ tàn và Xuân lại sang như Bùi Giáng viết:

Em bảo rằng đừng tuyệt vọng nghe không

Còn trang thơ thấm lại với trời hồng

Tuy nhiên khi đọc thơ ông ta cũng cảm thấy bồi hồi xao xuyến quá! Niềm xao xuyến làm linh hồn ta cũng cảm thấy khắc khoải như thơ ông. Tiếng thơ đẹp, mẫu đẹp của tiếng thời gian, của một đời người với bao nỗi thất bại của con người thiên thu đi về trong hố thẳm của lịch sử và cuộc đời (như Con Lũ Quanh Ta). Còn một điều quan trọng là sự chân tình trong thơ. Ðọc thơ ông, người ta không thấy có sự làm dáng thi sĩ hay trí thức mà là những tiếng thơ từ tâm tình cao rộng, đầy sự cảm thông đối với con người, với lịch sử và cuộc đời.

Với “Hà Nội, đêm giã từ”, những câu thơ đạt tới một nghệ thuật thi ngữ mênh mông với mối tình xa xôi của kẻ giang hồ viễn xứ.

… Phương Nam mù mịt trời phương Bắc

Mây trắng giang hồ mây viễn phương

Có hình ảnh dấn thân trong cõi cát bụi thời gian của một người chứa đựng nhiều lửa, nhiều nhiệt huyết lúc lên đường

Lục bát Hoàng Song Liêm dàn ra một không gian rộng, tiếng thơ đạt đến sự tự nhiên như những thi tài xưa nay. Ông xử dụng thơ trơn tru, ngọt ngào và đậm tình thu bát ngát. Sự điêu luyện đó còn thể hiện trong rất nhiều vần lục bát trong thơ ông. Hoàng Song Liêm không chỉ có thơ bảy chữ, lục bát, ông còn làm nhiều bài thơ xuôi, thơ sáu chữ, thơ tự do với những kỳ tứ rất lạ…

Cuối cùng đến bài thơ “Rồi ngày tháng qua đi” do Ðỗ Nguyên phổ nhạc. Thơ và nhạc giống như đội bạn tình thường hòa quyện với nhau – trong hai thứ nghệ thuật của cuộc đời-

Những dòng viết trên chỉ là viết cho thi bản riêng biệt của nhà thơ Hoàng Song Liêm. Riêng thi phẩm lớn của ông in rất nhiều thơ hay mà tôi chưa có thời gian đọc vì sức khỏe quá kém sút trong những ngày gần đây. Khi hồi phục lại được, tôi sẽ đọc cẩn thận hơn về một tác phẩm và một đời người làm thơ, sống với thơ thật đẹp của ông.

Trần Tuấn Kiệt

12/2005




Minh ơi




Trả lời các câu hỏi của Cô Giáo Trần Thị Lam: THẮC MẮC BIẾT HỎI AI?




Thơ – Tháng Chạp Buồn & Cuộc Tình Này

THÁNG CHẠP BUỒN    

Bông hoa đại vàng

Sao nở về đêm

Yêu anh muộn màng

Trong nỗi cuồng điên 

Tháng chạp mong chờ 

Chúa đến trần gian

Em đi nhà thờ 

Van vỉ miên man

Anh ở phương nao 

Dấu thương yêu tàn 

Trên tầng mây cao

Gió gọi mơ màng

Tháng chạp bâng khuâng

Thánh giá lặng thầm

Trên đỉnh mùa xuân

Em vác mê lầm…

 CAO MỴ NHÂN 

CUỘC TÌNH NÀY  

Ta chôn cuộc tình này

Trong vòng tay người đợi 

Người xót xa mời gọi 

Trong tĩnh lặng chơi vơi

Mười lăm năm rong chơi

Giữa thiên thu cách trở

Cuộc tình đầy lỡ dở

Có chi mà luyến tiếc 

Tháng chạp còn tha thiết

Năm sắp sửa trôi qua

Cánh hạc vàng đang sa 

Về mênh mông vô tận 

Anh cũng như người hận

Em giống anh u buồn

Đời sắp sửa hoàng hôn 

Chân mây tàn ánh lửa…

    CAO MỴ NHÂN




MỘT LÁ CỜ, MỘT NGỌN NẾN, MỘT BÔNG HỒNG VÀ MỘT LỜI CẦU NGUYỆN

Mời độc giả click vào mữi tên bên dưới góc trái để lật trang.




ĐÔI LỜI CẢM TẠ




Tạ Ơn

Tạ mẹ cha tình nghĩa thiết tha
Cho con bóng mát đẹp ngôi nhà
Trăng sinh nhật vẫn hoài vương vấn
Tưởng nhớ âm thầm lặng lệ sa

Tạ mái trường thời áo trắng thơ
Thầy Cô dạy dỗ quý hằng giờ
Chiều vương bóng Phượng tô thềm mộng
Nắng lụa đan mềm dệt cõi mơ

Tạ mái Chùa xinh học tập thiền
Kinh trì đuốc tuệ giải thần tiên
Chân nguyên an trú đời thanh tịnh
Bóng Phật hương sen chỉ lối hiền

Tạ lính Cộng Hoà nhọc xác thân
Thương binh, tử sĩ não vô ngần
Hy sinh chiến đấu vì non nước
Tù tội rừng sâu bỏ mạng dần

Tạ nước Hoa Kỳ cứu vớt mang
Quê hương ngoảnh lại khóc điêu tàn
Về miền đất hứa đầy nhân đạo
Cảm tạ vô cùng cuộc sống an

Tạ bạn chân tình sát cánh ơi
Mây trong nắng đục vẫn bên đời
Giòng sông cuốn chảy theo ngày tháng
Gió tủi mưa sầu giải nỗi vơi

Tạ bóng xuân hồng ửng mắt môi
Hạ reo nắng rực gợi bồi hồi
Thu về lá đổ rung thanh nhạc
Đông lạnh mưa gầy gợi cảm thôi

Tạ ánh trăng mờ gối giấc thâu
Trời riêng thổn thức tiếng thơ sầu
Hoa Quỳnh hé nở sương loang loáng
Đợi nét trang đài ẩn chứa sâu

Tạ các Thi Đàn lẫn Bút chương
Chân trời mở rộng bóng yêu thương
Ngõ hoa giẫm bước say hương vị
Mát mộng hồn du khắp nẻo đường

Tạ lễ đất trời được ấm no
Anh em họp mặt hưởng nhiều trò
Gà Tây hiểu nghĩa thêm nguồn gốc
Nước Mỹ ân tình khó sánh so

          Minh Thuý Thành Nội
               Tháng 11/25/2021
                 Lễ Thanksgiving




Ngày Lễ Tạ Ơn

Tạ ơn người cho ta nơi nương tựa

Trời tự do một sức sống an lành

Đón nhân sinh vượt qua bao khổ nạn

Ngọn đuốc nhân quyền bừng sáng long lanh.

 

Tạ ơn nước Mỹ, đất lành chim đậu

Cho muôn sinh, nương tựa an bình

Tình thương đó, tựa núi cao biển rộng

Vượt Thái Bình Dương bao nỗi hy sinh.

 

Tạ ơn vùng đất cho ta sống lại

Từ bạo quyền cộng sản lắm tang thương

Vượt đại dương về đây chung sống

Sự sống vươn lên từ những đoạn trường.

 

Tạ ơn hoa, vì chúng sinh bừng nở

Ơn đất lành nuôi sống những kiếp người

Tạ ơn vòng tay ân tình rộng mở

Đời phong ba mưa gió đã mỉm cười. 

 

Lễ tạ ơn, những chân tình vô lượng!

Chỉ một lần, không đủ nghĩa biết ơn

Người chân chính hãy thành tâm nhận diện

Vùng đất này nơi thay thế giang sơn.

 

Lê Tuấn

Cảm nhận về ngày lễ Thanksgiving 2021.




Văn Thơ Lạc Việt Trân Trọng Giới Thiệu: Tuyển Tập THƠ TÌNH & Giữa Đời Hư Thực – Mặc Khách

MỜI LẬT VÀO SÁCH BÊN TRÊN ĐỂ ĐỌC

Vài Nét Về Nhà Thơ Mặc Khách.


Là một cây bút trong Quân chủng Không Quân nổi tiếng chuyện trị…Thơ! Các trang nhà của KQ, đều có cả một vườn thơ của Mặc Khách, như “Hội Quán Phi Dũng” chẳng hạn…vv…

Mặc Khách chỉ là bút hiệu, tên thật là Trương Lâu, quê Bình Thuận. Là một cựu sinh viên Luật khoa trước khi gia nhập quân đội. Anh là một Sỹ quan của một Quân chủng “đi mây, về gió!” cho đến ngày mất nước.
Sau 75, (tốt nghiệp…tiến sĩ!) Vì đã học 7 năm trong Trại Cải Tạo Cộng Sản, 3 năm quản chế, qua Mỹ theo diện HO.


Đã xuất bản: Tình Thơ & Một Mảnh Đời (2010), Hồn Thơ & Đất Khách (2015) và năm nay, Thư Tình & Giữa Đời Hư Thực (2021) Anh cũng là một thành viên trong Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.


Có lẽ VTLV rất có duyên với những cây bút yêu mây trời, lấy Không Gian làm Tổ Quốc, nên các Cánh Chim “Bốn Phương” đã quy tụ về đây! cùng hát vang bài ca “Ta Là Doàn Chim Bay Trên Cao Xanh!”


Xin hân hạnh giới thiệu tác phẩm mới của một Niên Trưởng KQ quý mến của tôi, dù Anh Em chúng tôi đã bị…gẫy cánh, kẻ thù vùi dập bẻ cánh vỡ vụn! Nhưng chẳng ai có thể mang trời xanh, gió mát, mây trắng, ra khỏi trái tim của những người Lính, một thời “tung cánh chim sắt” vùng vẫy, hiên ngang, gìn giữ bầu trời Quê Mẹ cả. Ội không gian bao nhiêu năm, vẫn…hằn nỗi nhớ!
Lê Văn Hải

Văn Thơ Lạc Việt Trân Trọng Giới Thiệu Thi Tập:

*******

TUYỂN TẬP THƠ TÌNH & GIỮA ĐỜI HƯ THỰC

*

“TUYỂN TẬP THƠ TÌNH” mới nở hoa

“GIỮA ĐỜI HƯ THỰC” ánh quang hòa

TRƯƠNG LÂU “Khoa Luật” gìn quê Mẹ    

MẶC KHÁCH “Không Quân” giúp nước nhà

Quốc phá, chinh nhân đành biệt xứ

Gia vong, thi sĩ buộc rời nhà

Dồn bao tâm huyết từng trang sách

Chia sẻ cùng người, chớ bỏ qua!

***

Bỏ qua uổng lắm, “TẬP THƠ TÌNH”

MẶC KHÁCH tỏa ngời nét xảo tinh

Từ ngữ mượt mà như Phượng múa

Cú câu uyển chuyển tựa Loan trình

Đường Thi, Lục Bát… tràn phong cảnh

Thơ Mới, Ngũ Ngôn… quyện ảnh hình

LẠC VIỆT mừng vui xin giới thiệu

VĂN THƠ mời đọc “TẬP THƠ TÌNH”

Phương Hoa – BBT VTLV – AUG 3rd 2021

ĐÔI LỜI TỪ TÁC GIẢ:

Kính chào Quý vị Văn Thi Hữu VanThoLacViet

Kính chúc Quy vị và Gia Đình Sức Khỏe – Bình An – Hạnh Phúc.

Lời chia sẻ trong những tháng năm  Đại dịch Vu Han (2020….)
Thời gian qua mau, ngày tháng của Thế hệ trẻ – cuối cùng của năm 1975 – càng thu nhỏ và, không xa, sẽ không còn hiên diện nơi đây …  – Diện tỵ nạn HO. chúng tôi. Thế hệ cuối, cũng nhiều đau thương, cho dù cuộc sống rất đầy đủ, tại nơi đây. Có lẽ quý vị đã hiểu (tuổi trên dưới 70 t) với những đứa con mới sinh ra 1982…
và giờ đây … đã trở thành chuyện cổ tích  cho những  cháu trưởng thành của thế hệ @! và cũng xa vắng….
Vâng, cho tôi lưu lại chút dư vị đời tôi xót xa theo vận nước và cũng là hình bóng của những mảnh đời thân phận làm tù binh (cải tạo), đọa đày! Vâng, vì vận nước, vì nhiều nguyên nhân – Không có sự thù hận….nhưng mãi mãi sẽ hằn sâu một lằn ranh vô hình trong tâm hồn của những người Việt ly hương! 
Thoảng nghe có sự kỳ thị? Nơi có du học sinh ở hải ngoại, âu chỉ là sự khác nhau về ngôn ngữ, đạo đức, văn hóa, nhân sinh quan hoặc Học Thuyết Hóa. Có gì không đúng kính xin Quý vị chỉ bảo.

Trân trọng

Mặc Khách

Lê Văn Hải xin mời quý vị đọc một bài thơ của Mặc Khách dưới đây:

VINH DANH KHÔNG QUÂN

MẶC KHÁCH

Không gian hỡi! kiêu hùng – hằn nỗi nhớ!

Của một thời lồng lộn giữa không trung

Chí làm trai in đậm nét hào hùng

Không nao núng, anh đi vào lửa đạn

*

Xếp bút nghiên, giang đôi tay đón nhận

Nợ ân tình, nợ đất nước điêu linh

Từng lệnh bay, anh chấp nhận hy sinh

Lòng quả cảm khiến bao người thán phục

*

Dưới đôi cánh, quân thù nghe khiếp đảm

Phòng không Sô Viết tua tủa vút cao

Dương cánh bay gào thét lao vào

Giặc phương Bắc, bao phen hồn run sợ!

*

Giữa thành phố, chiếc áo bay kiêu hãnh

Từng bước đi, khiêm nhượng dáng oai phong

Chí hiên ngang, lửa đạn chẳng sờn lòng

Muôn ánh mắt, ngước nhìn lòng ngưỡng mộ

*

Cảnh giàu sang, danh vọng đời tình ái

Anh lãng quên tung cánh giữa Trời Sao

Xác thân anh làm đuốc ở trên cao

Gương Anh Dũng muôn đời Tổ Quốc nhớ!

MẶC KHÁCH




Phải Chi. Nhạc Sĩ Anh Bằng Phổ thơ Mạc Phương Đình




Có Những Ân Tình




Video Đọc Truyện Hồi Ký Đội Đập Đá Trại 6 Phần 3