Ai chống tham nhũng bằng Chu Nguyên Chương?

Ngô Nhân Dụng

Các nhà kinh tế biết rằng nạn tham nhũng làm cho quốc gia chậm phát triển. Tham nhũng là một thứ thuế “phụ thu” làm nản lòng người đầu tư. Tham nhũng là thêm một yếu tố bất trắc khiến người ta ngại làm ăn. Một quốc gia đầy tham nhũng như Congo, Việt Nam, Campuchia, nếu nạn tham nhũng giảm bớt được một nửa thì kinh tế có thể phát triển nhanh thêm được 2 đến 3% một năm.

Nhưng ít có kinh tế gia nào nhìn vào vấn đề tham nhũng mà thấy như Phan Bội Châu: Có bài trừ tham nhũng thì người dân một quốc gia mới phục hồi được lòng liêm sỉ.

Giữa hai mục tiêu “phát triển kinh tế” và “phục hồi liêm sỉ,” bên nào quan trọng hơn? Ðối với một người từng làm nghề nghiên cứu và dậy môn kinh tế học, thì tôi xin trả lời rằng: Phục hồi liêm sĩ quan trọng hơn. Bởi vì dân có liêm sỉ thì kinh tế có triển vọng tiến nhanh hơn; ngược lại, kinh tế tiến bộ chưa chắc đã làm cho người ta có đức liêm sỉ.

Kinh tế thị trường đặt cơ sở trên lòng tin tưởng, tin vào con người và tin vào các định chế xã hội. Những nước kinh tế phát triển cao nhất như Mỹ, Nhật Bản, Ðức Quốc cũng là những nước mà lòng tin cậy giữa con người với nhau trong xã hội cũng cao nhất. Ngược lại, có những nước kinh tế cũng khá cao nhưng xã hội không xây dựng được một niềm tin chung mạnh mẽ thì trình độ phát triển cũng bị giới hạn, sớm muộn sẽ “đụng trần” không lên được nữa. Khi người dân một nước sống không biết liêm sỉ thì chính nền kinh tế của họ sẽ khó phát triển. Không phải các nhà đọa đức nói như thế mà chính các kinh tế gia phải công nhận điều đó.

Cho nên, chúng tôi muốn nhắc lại những ý kiến của Phan Bội Châu viết trước đây hơn một thế kỷ, trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư. Cụ Phan viết, “Phải tuyệt đường hối lộ để khích lệ lòng liêm sỉ.” Năm 1903 khi cụ viết lá thư này, đức liêm sỉ vẫn còn được dùng làm thước đo giá trị trong xã hội, những người liêm sỉ còn rất được kính trọng. Ngày nay, trên báo chí ở nước ta ít người nói đến hai chữ liêm sỉ. Tình trạng tham nhũng hối lộ thời cụ Phan, đầu thế kỷ 20 chắc chắn không rộng, sâu, và những tham quan không trâng tráo ngang ngược chiếm đoạt của công như bây giờ.

Nhưng 100 năm trước hay là bây giờ, vấn đề khó nhất vẫn là: Làm sao để giảm bớt nạn tham nhũng, hối lộ?

Phan Bội Châu thời đó là một nhà Nho lỗi lạc nhưng không sống trong guồng máy chính quyền; thật ra, cả cuộc đời cụ không trải qua kinh nghiệm “làm quan.” Cho nên, ngoài đề nghị giảm bớt thuế cho dân nghèo, những lời kêu gọi “huyết lệ” của cụ thường chỉ nhắm vào mặt đạo đức cá nhân. Cụ khuyến cáo hãy “thắt chặt tình trên dưới (giữa quan và dân), mở rộng đường thẳng ngay… phải lấy công tâm mà làm việc…” vân vân.

Ðó cũng là lối chống tham nhũng, chống hối lộ suốt ngàn năm trong xã hội cổ truyền ở Á Ðông. Trương Ðình Thưởng là một tể tướng thanh liêm vào thế kỷ thứ 8 bên Tầu. Khi nhậm chức, ông ra lệnh cấp dưới phải tra cứu lại một vụ án liên can tới nhân sĩ Vô Cô, một người ông kính trọng. Ông yêu cầu trong 10 ngày phải cho biết kết quả xem vụ án có điều gì sai trái hay không. Ngày thứ hai, ông ra công đường, thấy một mảnh giấy đặt trên bàn viết mấy câu: Xin biếu ngài ba vạn quan tiền. Xin đừng hỏi lại vụ án này nữa. Trương Ðình Thưởng lặng lẽ xé vụn mảnh giấy, không cần hỏi tới. Sang ngày thứ ba, lại thấy một mảnh giấy khác: Xin biếu ngài 5 vạn quan. Trương Ðình Thưởng nổi giận! Bèn rút ngắn thời hạn, ra lệnh các “thanh tra” trong hai ngày phải xét xong vụ án cũ rồi phúc trình đầy đủ. Ðến ngày tư, trên bàn lại có mảnh giấy khác: Xin biếu ông mười vạn.

Lúc đó Thưởng mới giật mình, “Tiền đến 10 vạn là phải có phép thuật quỷ thần! Ta sắp mang họa đến nơi rồi!”

Bèn bỏ không tra cứu vụ án cũ nữa. Câu chuyện trên được Kỳ Ngạn Thần kể, cho biết đã đọc trong cuốn Cổ Vũ U Nhàn của Trương Cố đời Ðường. Không rõ có ai giao số tiền 10 vạn hay không, chúng tôi đoán là không. Một người nắm quyền tể tướng trong sạch và cương quyết như Trương Ðình Thưởng, cuối cùng chịu thua không chống nổi tham nhũng khi biết mình “đụng tới quỷ thần.” Quỷ thần là thứ quyền hành tuyệt đối, cao hơn mạnh hơn guồng máy pháp luật của quốc gia. Ðó là chuyện lịch sử thời Trung Ðường bên Trung Quốc; đến thời Hậu Hồ ở Việt Nam bây giờ lịch sử cũng ghi nhiều chuyện ngưng điều tra khác, kể ra không hết được. Ai đọc truyện đời nay tới đoạn Nguyễn Việt Tiến PMU 18 được phục hồi danh vọng, các nhà báo bị bắt bỏ tù; hoặc nghe vụ Hành Lang Ðông Tây Sài Gòn thấy Huỳnh Ngọc Sỹ bình tĩnh thản nhiên mặc dù công ty PCI Nhật Bản khai đã đưa lót tay ông ta hàng triệu Mỹ kim, cũng có thể suy ra rằng mọi cuộc điều tra, mọi hoạt động của guồng máy tư pháp đều bắt buộc phải ngưng lại. Cũng vì đã “đụng tới quỷ thần” rồi!

Ðời xưa, quỷ thần là do quyền hành tuyệt đối của ông vua mà sinh ra. Vì quyền vua tuyệt đối, không bị giới hạn mà cũng không được định nghĩa rõ ràng, cho nên không ai đoán trước được nó như thế nào. Nên mới sinh ra quỷ thần. Rất nhiều người có thể dựa hơi ông vua mà bỗng nhiên có quyền thế ngất trời. Bố một người đầu bếp giúp vua hài lòng vì ăn ngon miệng; hay em ruột một phi tần được nhà vua sủng ái; hàng trăm hàng ngàn người giống như vậy, người nào cũng có thể có cơ hội xin vua gia ân hoặc giáng họa cho người khác. Dù ông vua muốn làm sạch chế độ của ông ta, nhưng nếu ông tể tướng đụng tới quyền lợi của những người này là sẽ thất bại. Ðúng là đụng tới quỷ thần!

Ngày nay, quyền hành của Ðảng Cộng Sản cũng tuyệt đối không khác gì quyền ông vua đời xưa. Ðảng Cộng Sản nguy hiểm hơn vì nó rất mập mờ bí ẩn, khó nhận diện, và vô trách nhiệm. Không có một ông vua cụ thể nào đứng ra nói “tôi quyết định.” Ai chịu trách nhiệm khi tòa án Nhật Bản truy tố các nhà kinh doanh Nhật hối lộ ở Việt Nam? Không thấy ai trong cái bộ máy tối cao vô hình đó cả. Ðảng Cộng Sản đúng là một thứ quỷ thần vô danh vô tướng.

Ví thử có một ông tổng bí thư cộng sản quyết tâm muốn bài trừ tham nhũng, liệu ông hay bà ta có khả năng làm hay không? Trong cuốn tiểu thuyết Thiên Nộ (Cơn giận của Trời) của Trần Phong, kể chuyện guồng máy tham nhũng tại thành phố Bắc Kinh, một nhân vật nói, “Hoàng đế nhà Minh, Minh Thái tổ, bắt được quan lại tham nhũng thì đem lột da rồi trưng bầy bộ da cho các quan chức coi mà sợ, đừng tham nhũng nữa.” Nhưng anh ta, một cán bộ trong sạch trong guồng máy, nhận xét, “Biện pháp đó không ăn thua gì cả. Tại sao? Vì cả hệ thống cai trị sinh ra tham nhũng. Mà điều quan trọng nhất là: Không có một hệ thống kiểm tra nào của dân, độc lập với nhà nước để theo dõi.” Kết luận: “Chu Nguyên Chương chỉ thi hành các biện pháp chắp vá để chống tham nhũng!” Ngay cả việc lột da các quan ăn hối lộ cũng chỉ là chắp vá! “Muốn thành công chúng ta phải có cách nhìn toàn bộ,” cuốn tiểu thuyết khuyến cáo!

Cách nhìn toàn bộ nào? Phải thay đổi toàn thể hệ thống, nghĩa là phải bãi bỏ tình trạng chuyên chế độc tài của một đảng! Chính cái đảng cầm quyền tuyệt đối, trên đầu không có ai, chính nó là nguồn gốc sinh ra tham nhũng. Dù có thay thế cái đảng đó bằng một đảng khác, dùng toàn những bộ mặt mới, con người mới, nhưng nếu vẫn giữ cơ chế độc quyền và quyền hành tuyệt đối, thì vẫn hỏng. Cơ chế vẫn như cũ, thì làm gì cũng vẫn chỉ là biện pháp chắp vá mà thôi! Chính cơ cấu độc quyền chuyên chế đẻ ra nạn tham nhũng, chứ không phải vì có những con người xấu mà sinh ra tham nhũng. Quyền hành sinh nhũng lạm, quyền hành tuyệt đối thì nhũng lạm tuyệt đối.

Chúng ta sống sau cụ Phan 100 năm, hiểu rõ hơn về xã hội cũng như guồng máy chính trị của loài người, cho nên biết những lời khuyến cáo đạo đức rất quý báu nhưng không đủ. Phải tìm trị căn nguyên của bệnh tham nhũng và hối lộ do các định chế chính trị sinh ra. Chuyên chính là nguồn gốc của tham nhũng, vì nó trao quyền hành tuyệt đối vào tay một nhóm người không chịu trách nhiệm với ai cả. Năm 1958, ngày 28 tháng 1, ông Hồ Chí Minh nói chuyện với các “học sinh” Trường Công An Trung Ương, ông hỏi họ, “Các cô các chú có muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội hay không?” Và ông nhắc đi nhắc lại một khẩu hiệu rất nhiều lần, “Dân Chủ và Chuyên Chính đi đôi với nhau. Muốn dân chủ thật sự phải chuyên chính thật sự… Có chuyên chính thật sự, có dân chủ thật sự thì mới tiến lên chủ nghĩa xã hội được…” (Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 9, trang 29).

Ðó là chủ nghĩa Lê Nin. Muốn chống tham nhũng có hiệu quả, phải gột rửa tư tưởng Lê Nin Nít đó trước hết. Chỉ khi nào trong cơ cấu chính trị quốc gia có phân quyền, có các cơ quan quyền lực ngang hàng để cân bằng và kiểm soát lẫn nhau, chúng ta mới hy vọng bắt đầu chống tham nhũng. Khi nào người dân được tự do nói, tự do hội họp, tự do bầu cử và ứng cử, thì mới thiết lập được các định chế phân quyền. Nếu chưa có các điều kiện đó, nói gì cũng chỉ là nói xạo mà thôi.

Nghe nói xạo mãi, người dân khinh bỉ bọn cầm quyền. Nhưng chính người dân cũng bị tác hại: Nghe nói dối quen, người ta mất cả khái niệm về danh dự, về liêm sỉ. Ngày xưa Phan Bội Châu khuyên dân tộc Việt Nam phải bài trừ tham nhũng để người dân phục hồi đức liêm sỉ. Một thế kỷ sau, điều này còn khẩn cấp hơn thời cụ Phan viết Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư gấp trăm, gấp ngàn lần!
Nguồn:
http://www.nguoi- viet.com/ absolutenm/ anmviewer. asp?a=109682&z=7

 

 

Tuyên Ngôn

Dân Chủ và Nhân Quyền

Kính gửi đồng bào Việt Nam,

Chúng tôi nhân danh người Việt, nạn nhân của chế độ Cộng Sản Việt Nam vì sự khát vọng Tự Do trên nền tảng Dân Chủ và Nhân Quyền. Nay long trọng công bố bản Tuyên Ngôn Dân Chủ và Nhân Quyền đến quốc dân Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.

I. NIỀM TỰ HÀO VÀ KHÁT VỌNG TỰ DO, NHÂN QUYỀN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Kể từ khi dựng nước, dân tộc Việt đã trải qua nhiều thế hệ cứu quốc và kiến quốc. Nước ta nhiều lần bị giặc ngoại bang xâm chiếm và đô hộ. Họ âm mưu đồng hoá người Việt về ngôn ngữ, phong tục tập quán và muốn xoá vĩnh viễn nền văn hoá ngàn xưa của dân tộc Việt. Với tinh thần bất khuất, người Việt đã đánh đuổi giặc ngoại xâm dành lại độc lập, bảo vệ giang sơn, giữ vững nền văn hoá cùng với truyền thống dân tộc và thực thi quyền dân tộc tự quyết mà lịch sử đã vinh danh tinh thần Hội Nghị Diên Hồng. Từ đó khẳng định rằng: dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc khác trên thế giới đều tôn trọng nhân quyền, có khát vọng giống nhau về quyền sống bình đẳng, quyền mưu cầu nguồn sống ấm no hạnh phúc và quyền được hưởng đầy đủ các quyền tự do căn bản của con người. Luôn đề cao giá trị tự do-dân chủ và sự độc lập vẹn toàn lãnh thổ.

– Bản Tuyên Ngôn Độc Lập nǎm 1776 của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, đã minh định: “mọi dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

– Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của cách mạng Pháp Quốc nǎm 1791, khẳng định rằng: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".

– Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ra đời bảo vệ giá trị và nhân phẩm con người sống trên toàn thế giới là bất khả xâm phạm được gọi là Nhân Quyền, đã được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948.

– Ngay trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Chính Phủ Lâm Thời Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, cũng đã nhấn mạnh thêm một lần nữa: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Thế nhưng, đảng Cộng Sản Việt Nam đã bội tín và chà đạp nhân quyền, tước đoạt quyền sống và các quyền tự do căn bản của con người, đồng thời đàn áp khốc liệt bắt người dân Việt phải làm nô lệ cho chủ nghĩa cộng sản. Đây là một sự thật tang thương của dân tộc đã ghi vào lịch sử. Không ai có thể thay đổi sự thật của lịch sử, nhưng người cộng sản đã gian manh uốn nắn và bẻ cong lịch sử để che dấu sự thật nhằm lừa bịp toàn dân Việt Nam.

II. CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN TRÊN THẾ GIỚI CÁO CHUNG.

Vào thập niên cuối thế kỷ 20, Chủ Nghĩa Cộng Sản đã cáo chung. Cái nôi của Chủ Nghĩa Cộng Sản là Liên Xô sụp đổ. Các nước thuộc khối Cộng Sản Đông Âu tan rã. Các quốc gia này nhận thức rõ ràng là chủ nghĩa Cộng Sản đã đi ngược lại khát vọng của nhân loại sống trên quả địa cầu, đã tước đoạt quyền sống bình đẳng và các quyền tự do của con người. Hành trang cách mạng của họ không có một tấc sắt trong tay, mà chỉ có khát vọng Tự Do và lòng mong muốn quyền sống của con người, cùng với sự dũng cảm quyết tâm đoạn tuyệt chủ nghĩa cộng sản phi nhân bản để thoát khỏi sự sợ hãi trước cường quyền có đầy đủ khí giới và phương tiện đàn áp. Cuộc cách mạng đã thành công, chính nghĩa, chân lý và ý dân đã thắng chủ nghĩa cộng sản phi nhân tàn bạo. Họ ý thức được chủ nghĩa Cộng Sản đã tàn phá đất nước, nên cùng quay trở về với cội nguồn dân tộc, xây dựng lại quốc gia tự do-dân chủ, nhân bản và phú cường. Đây chính là một lộ trình tự do-dân chủ thuận theo thiên ý và lòng dân,đã đánh dấu trang sử mới của nhân loại và báo hiệu chủ nghĩa cộng sản trên thế giới cáo chung.

III. THỰC TRẠNG VIỆT NAM KHÔNG CÓ TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN

Kể từ năm 1945, đảng Cộng Sản Việt Nam đã áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản ngoại lai lên miền Bắc nước Việt Nam. Nỗi khốn khổ một cổ bị tròng 2 gông, vừa làm nô lệ cho Quốc Tế Cộng Sản, vừa làm nô lệ cho đảng Cộng Sản Việt Nam, người dân miền Bắc sống trong sự áp bức, bóc lột, đàn áp, nghèo đói, bất công xã hội và hoàn toàn không còn quyền tự do. Một bức tường sắt vô hình cách ly miền Bắc với thế giới bên ngoài, như một nhà tù khổng lồ để che chắn cho đảng Cộng Sản Việt Nam lộng hành, cai trị tàn ác và giết người dã man, mà lịch sử đã lên án mạnh mẽ cuộc cách mạng cải cách ruộng đất ở miền Bắc.

Chính đảng Cộng Sản Việt Nam là thủ phạm gây ra cuộc chiến tranh Bắc Nam tương tàn, nhất quyết xé nát Hiệp Định Geneve 1954 và Hiệp Định Paris 1973, đưa quân cưỡng chiếm miền Nam nước Việt Nam, gây ra biết bao nhiêu cảnh sinh ly tử biệt, nhà cửa hoang tàn đổ nát, dân chúng điêu linh lầm than trong chiến tranh, trong đó lịch sử đã nghiêm khắc lên án cộng quân bất nhân đã thảm sát hàng ngàn đồng bào vào năm 1968 tại Huế đó là biến cố tết Mậu Thân. Kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, đảng Cộng Sản cai trị toàn nước Việt Nam bằng chủ nghĩa Cộng Sản phi nhân bản. Đã giam cầm tra tấn các thành phần dân, quân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hoà. Chiếm đoạt tài sản của ngưòi dân miền Nam qua chính sách cải tạo tư sản. Thực hiện chính sách quản lý hộ khẩu, bắt đi kinh tế mới, ngăn sông cấm chợ … Người dân miền Nam sống trong cảnh lầm than, đói khổ, mọi quyền tự do căn bản đều bị tước đoạt. Từ đó đã dẫn đến những cuộc vượt biên chạy trốn chủ nghĩa Cộng Sản bằng đường bộ hay đường biển để tìm đến thế giới Tự Do. Đã có những cuộc hành trình vượt biên tìm tự do trở thành nạn nhân trong các thảm cảnh kinh hoàng làm chấn động lương tâm nhân loại toàn thế giới. Giá trị Tự Do và khát vọng Tự Do đã được người Việt Nam dùng sinh mạng khắc lên trang sử oai hùng để khẳng định với thế giới rằng: “Tự Do hay là chết”.

Năm 1977, đảng Cộng Sản Việt Nam tiến quân đánh Khmer Đỏ, gọi là “thi hành nghĩa vụ quốc tế”. Bắt thanh niên đi nghĩa vụ quân sự, tập trung tất cả tiềm năng, tiềm lực quốc gia vào chiến tranh, đã làm cho đảng Cộng Sản Việt Nam khủng hoảng chính trị, bị thế giới lên án nên mất uy tín về ngoại giao, kiệt quệ về kinh tế và sa lầy về quân sự. Đến năm 1979, Trung Cộng đem quân tấn công các tỉnh phía bắc Việt Nam gọi là “dạy cho Cộng Sản Việt Nam một bài học”, vì dựa vào Liên Xô xua quân đánh chiếm Cambodia và chống lại Trung Cộng.Vừa bị tiêu hao binh lực ở chiến trường Campuchia, vừa phải dồn binh lực chống Trung Cộng ở phía bắc, nên đảng Cộng Sản Việt Nam đã bị sa lầy và kiệt quệ hoàn toàn. Người dân Việt Nam điêu linh đói khổ và hy sinh xương máu chỉ vì sự tham vọng điên cuồng của đảng Cộng Sản. Sau khi Liên Xô sụp đổ nên bị mất điểm tựa, đảng Cộng Sản Việt Nam tự quay lại van xin thần phục Trung Cộng, để được chấp nhận tiếp tục làm thân nô bộc trung thành với chủ nghĩa Cộng Sản. Còn nỗi nhục nào hơn nỗi nhục làm tay sai, ươn hèn khiếp nhược, cúi đầu nghe sự chỉ dạy của quan thầy Trung Cộng, rồi quay về đè đầu cởi cổ, đàn áp dân ta. Đảng Cộng Sản Việt Nam chính là tập đoàn vong bản, phản dân hại nước, mãi quốc cầu vinh.

IV. CSVN ĐÀN ÁP NHÂN DÂN ĐỂ GIỮ ĐỘC QUYỀN LÃNH ĐẠO

Sau hơn 60 năm cai trị miền Bắc và hơn 30 năm cai trị miền Nam. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tước đoạt hết tất cả quyền tự do căn bản của con người, chiếm đoạt quyền tự quyết của dân tộc, áp đặt bằng bạo lực bắt buộc toàn dân Việt Nam phải đi theo con đường chủ nghĩa Cộng Sản phi nhân tính, làm cho đất nước đói nghèo, lạc hậu, tạo nên nhiều oan nghiệt chất chồng cho người dân. Thanh trừng các đảng viên cộng sản chủ trương xét lại. Bắt giam và trù dập những thành phần cấp tiến hay đảng viên cộng sản phản tỉnh. Đàn áp các nhà đấu tranh dân chủ, có khuynh hướng và chủ trương dân chủ hoá đất nước. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã âm mưu áp đặt và kiên quyết duy trì điều 4 Hiến Pháp để giữ vị thế độc quyền và độc tài lãnh đạo đất nước, khinh thường pháp luật, thực thi chính sách phi dân chủ và chà đạp nhân quyền. Nạn tham nhũng lan tràn bất trị từ trung ương đến địa phương, đã làm băng hoại toàn diện tinh thần dân tộc Việt Nam trên tất cả mọi lãnh vực từ: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục … Đảng Cộng Sản Việt Nam đã trở thành một tập đoàn độc tài phát xít (fascist) hay có thể nói đúng hơn là một đảng cướp. Bằng một lý luận kỳ dị là: “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Chính cái lý luận này đã giúp cho tập toàn độc tài này trở nên những nhà tư bản đỏ, vơ vét tài nguyên và bòn rút tiềm năng kinh tế quốc gia để làm giàu bất chính. Nhà nước Cộng Sản đã tạo ra những món nợ khổng lồ mà toàn dân Việt nghèo khổ phải gánh chịu để trả cho các chủ nợ quốc tế. Cho dù đảng Cộng Sản Việt Nam có sụp đổ trong tương lai thì chính quyền hậu cộng sản cũng phải gánh chịu món nợ khổng lồ này.

V. QUỐC NẠN CỘNG SẢN TÀN PHÁ ĐẤT NƯỚC.

Ngày nay, đảng Cộng Sản Việt Nam đã phạm tội mãi quốc cầu vinh, dâng đất, biển và hải đảo cho Trung Cộng, để mưu cầu được nhận sự bảo hộ nhằm bám víu quyền lực, gây thêm nhiều quốc nạn tang thương cho dân tộc Việt Nam:

Quốc nạn Cộng Sản là một đại hoạ của dân tộc Việt Nam. Đã làm suy yếu tiềm năng, tiềm lực quốc gia, xã hội băng hoại, điều hành đất nước bằng luật pháp bất minh. Gây cảnh quốc phá gia vong, nghèo nàn lạc hậu. Người dân sống trong oan nghiệt lầm than. Nhân phẩm người Việt Nam bị chà đạp một cách tàn nhẫn và thô bạo.

Chính đại nạn Cộng Sản đã sinh ra các quốc nạn khác tàn phá quốc gia.

Quốc nạn tham nhũng đã làm cho luân thường đạo lý bị lộn nhào tan nát, tàn phá kinh tế quốc gia đến lụng bại. Đảng Cộng Sản dùng cường quyền đàn áp người dân từ tinh thần đến thể xác để vơ vét cho đầy túi tham làm giàu bất chính. Tạo ra nhiều cảnh oan ức, ngang trái và tuyệt vọng trong lòng dân tộc.

Quốc nạn lạm phát đã làm cho người dân đói nghèo thêm tuyệt vọng, đời sống lầm than cơ cực nay lại chồng chất thêm khó khăn khốn khổ.

Quốc nạn băng hoại xã hội, tệ nạn xã hội lan tràn khắp mọi miền đất nước, đã hủy diệt sinh lực và luân thường đạo lý của dân tộc Việt Nam.

Quốc nạn cũng là Pháp nạn. Đảng Cộng Sản Việt Nam chủ trương tiêu diệt tôn giáo, tịch thu và quốc hữu hoá tài sản của các tôn giáo, cưỡng đoạt quyền hạn sắc phong các chức sắc tôn giáo. Mọi hoạt động tôn giáo đều bị khống chế, giám sát và theo dõi của Mặt Trận Tổ Quốc, Ban Tôn Giáo và cơ quan An Ninh.

Quốc nạn ô nhiễm môi trường, môi sinh đã tàn phá thiên nhiên, đất nước và con người qua nhiều thế hệ, làm tổn hại đến sức khoẻ và đời sống, trực tiếp ảnh hưởng đến sự tồn vong của giống nòi Việt Nam.

Quốc nạn dân trí lụng bại. Chính sự nghèo đói và tham nhũng đã đẩy trình độ dân trí ngày càng yếu kém, đẩy các thế hệ trẻ xa rời trường học. Cộng Sản thực thi chính sách ngu dân để trị, kìm hãm sự tiếp cận và học hỏi nền văn minh của thế giới. Dân trí lụng bại ảnh hưởng sâu sắc đến vận mạng tương lai dân tộc.

Quốc nạn đạo đức suy đồi. Đây chính là tình nhân loại nghĩa đồng bào. Tình thương nhân loại đã không còn tồn tại từ lãnh vực y tế đến lãnh vực xã hội, văn hoá, giáo dục … Luân thường đạo lý dạy nhân cách làm người từ ngàn xưa của dân tộc Việt Nam đã bị hủy diệt.

Quốc nạn buôn người. Nhân phẩm của người Việt Nam bị chà đạp. Phụ nữ mang thân đi làm dâu, làm lao nô bị hành hạ ở xứ người, bị rao bán như súc vật, bị bán vào con đường mãi dâm. Ngay cả trẻ em Việt Nam cũng bị bán vào chốn phong trần đầy đau thương ngang trái. Nam giới thì đi làm lao nô khắp thế giới bị chủ bóc bột, đày đoạ và đánh đập. Đây là niềm đau thương tột cùng của dân tộc Việt Nam.

VI. MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH

Làm sao diệt trừ quốc nạn để thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam?

Quyền con người không có thì làm sao có quyền công dân?

Quyền tự do không có thì làm sao có quyền dân tộc tự quyết?

“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Chỉ có người Việt cứu lấy đất nước và dân tộc Việt. Không có dân tộc nào có thể giúp, khi người Việt không đoàn kết một lòng quyết tâm đứng lên cứu lấy quốc gia suy vong bởi quốc nạn Cộng Sản. Thể chế chính trị cộng sản chỉ có thay thế bằng thể chế chính trị tự do-dân chủ chứ không thể thay đổi.

Chính vì lẽ đó, khẩn thiết kêu gọi đồng bào trong nước và các cộng đồng người Việt ở hải ngoại thống nhất ý chí và đoàn kết đấu tranh cứu quốc, để đáp ứng sự khát vọng Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền của dân tộc Việt Nam, chủ trương đấu tranh hoà bình, bất bạo động, lấy chính nghĩa quốc gia và ý dân làm nền tảng.

Thiết tha kêu gọi toàn dân Việt Nam trong và ngoài nước cùng đồng tâm đoàn kết tạo thành lực lượng đấu tranh đòi đảng Cộng Sản Việt Nam phải trao trả lại quyền dân tộc tự quyết và các quyền tự do căn bản của con người. Bằng giải pháp đối thoại, kêu gọi đảng Cộng Sản Việt Nam đồng thuận một lộ trình chuyển giao quyền dân tộc tự quyết trong hoà bình. Phải công nhận và trao trả vô điều kiện các quyền tự do căn bản cho người dân Việt Nam như:

·         Quyền tự do tư tưởng.

·         Quyền tự do ngôn luận.

·         Quyền tự do tôn giáo.

·         Quyền tự do lập hội.

·         Quyền tự do hội họp.

·         Quyền tự do cư trú….

Đồng thời khẩn thiết kêu gọi các cộng đồng người Việt ở hải ngoại bằng khả năng và vận dụng mọi phương tiện thuận lợi ngõ hầu tích cực vận động Liên Hiệp Quốc, các cường quốc tự do-dân chủ, các tổ chức nhân quyền quốc tế và các cơ quan tài chính thế giới … tác động mạnh trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế và ngoại giao …để đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử công bằng và các bên phải tôn trọng kết quả của cuộc trưng cầu dân ý. Khi người dân đã có quyền dân tộc tự quyết thì họ có đủ quyền hạn của một công dân Việt Nam dùng lá phiếu để quyết định vận mạng chính trị cho đất nước thông qua phương thức phổ thông đầu phiếu.

Chủ trương và mục tiêu đấu tranh:

Đấu tranh ôn hoà, bất bạo động dành lại quyền dân tộc tự quyết, để thay thế thể chế chính trị cộng sản bằng thể chế chính trị tự do dân chủ.

Xây dựng một nước Việt Nam Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ, Nhân Bản và phú cường trên nền tảng một xã hội dân sự, thượng tôn pháp luật, với cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng và tam quyền phân lập là hành pháp, lập pháp và tư pháp.

Cầu nguyện hồn thiêng sông núi cùng anh linh tiền nhân phù trợ cho toàn dân Việt đoàn kết một lòng để cứu nước và kiến tạo tổ quốc Việt Nam phú cường.

Trân trọng.

Việt Nam, ngày 2 tháng 5 năm 2008.

Người viết Tuyên Ngôn

Kỹ Sư Nguyễn Thanh Nam

http://www.gopetiti on.com/online/ 19199.html.

Kính mong đồng bào trong và ngoài nước đồng thuận

và ủng hộ bản Tuyên Ngôn, bằng cách tiếp tay phổ biến

rộng rãi và tham gia ký tên để bài tỏ lòng khát vọng

Tự Do Dân Chủ của dân tộc Việt Nam.

* Riêng đồng bào trong nước, vì điều kiện an ninh

nên có thể dùng bí danh để ký tên.

Kính mời đồng bào bấm vào cái Link này để ký tên:

http://www.gopetition.com/online/19199.html.

http://www.gopetition.com/online/22622.html

tuyenngondanchunhanquyen@gmail.com

thedeclarationhumanrights@gmail.com

 

 

Chính Phủ Cộng Sản Việt Nam Cho Rằng: Báo Cáo Nhân Quyền Của Hoa Kỳ Không Khách Quan về Tình Hình Việt Nam

19:49 | 12/03/2010

(Chinhphu.vn) – Báo cáo Nhân quyền năm 2009 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại đưa ra những nhận xét không khách quan dựa trên những thông tin sai sự thật về tình hình thực tế ở Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga nói.

Ngày 12/3/2010, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam đối với những nhận xét về tình hình nhân quyền ở Việt Nam nêu trong Báo cáo nhân quyền năm 2009 được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố ngày 11/3/2010, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Lầm Than, Đập Dập Tự Do Hạnh Phúc : Điếm thúi Si-Đa Nguyễn Phương Nga cho biết: “Một lần nữa Báo cáo Nhân quyền năm 2009 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại đưa ra những nhận xét không khách quan dựa trên những thông tin sai sự thật về tình hình thực tế ở Việt Nam".

"Chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền được làm thú vật của toàn dân, để mọi người Việt nam đều được sống dưới sự đàn áp, đè đầu cởi cổ của đảng và nhà nước, để đảng và nhà nước có toàn quyền cai trị toàn dân Việt nam theo luật rừng rú. Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc đàn áp các nhà dân chủ, các nhà bất đồng chính kiến, Nhà nước Việt nam bảo đảm con người Việt nam có quyền sống như heo như chó trong tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Chính người dân Việt Nam là người thụ hưởng và hiểu rõ nhất điều này và cả 87 triệu người Việt trong nước đang dần trở thành một đàn heo đàn chó cả rồi đấy! Cộng đồng quốc tế đã ghi nhận và đánh giá cao những thành tựu độc tài toàn trị và vô cùng man rợ này của đảng và nhà nước Việt Nam.

Đảng cướp cộng sản Việt Nam chúng tôi không bao giờ hợp tác và đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế, trong đó có Hoa Kỳ để bàn bạc bất cứ vấn đề nào liên quan đến dân chủ và nhân quyền cả, đừng có mà ảo tưởng nhé! Cảm ơn"

Phát ngôn viên bộ ngoại giao nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Lầm Than, Đập Dập Tự Do Hạnh Phúc: Điếm Thúi Si Đa Nguyễn Phương Nga

  

Quốc hội Hoa Kỳ: gắn thương mại với dân chủ và nhân quyền

RFA 03.11.2010

Cần quan tâm đến quyền lao động, các giá trị dân chủ, an toàn thực phẩm, cải cách thị trường khi tham gia đàm phán về thương mại xuyên Thái Bình Dương.

Đó là yêu cầu mà giới lập pháp Hoa Kỳ đặt ra trong cuộc gặp với ông Ron Kirk, người đứng đầu bộ phận chuyên trách thương mại của chính quyền Obama, trước khi đại điện chính phủ Hoa Kỳ có cuộc hội đàm với các đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương. Hiện có bảy quốc gia trong nhóm đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương với Hoa Kỳ là: Úc, Brunei, Chile, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam.

Trong bối cảnh tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ đang tăng, Tổng thống Obama dự kiến sẽ tăng gấp đôi lượng hàng hoá xuất khẩu trong năm năm, để tạo ra hai triệu việc làm mới. Giới lãnh đạo Hoa Kỳ hy vọng quan hệ hợp tác xuyên Thái Bình Dương sẽ trở thành sáng kiến thương mại lớn dưới thời ông Obama.

Trong tương lai, có thể sẽ có thêm: Canada, Nhật, Mexico, Hàn Quốc, và Malaysia tham gia các cuộc thảo luận về vấn đề này.

About the author
Leave Comment