THỦY NHƯ – Tùy Bút ÔNG BẢY LẤM.

++

ÔNG BẢY LẤM -Thủy Như

Hôm đó, sân nhà cậu tôi đầy nắng. Cái nắng Quảng nam không phải là “một chiều nắng hiền hoà” như Cung Tiến tả, mà là nắng trắng lóa mắt, khô rang, rớt xuống sân gạch nghe như có tiếng giòn tan. Từ ngoài ngõ bước vô đã nghe mùi khói củi cay cay, mùi nén khử quyện với mùi mỳ tươi mới xắt thơm lừng. Rồi mùi nước mắm gừng, mùi thịt gà luộc, mùi xôi cẩm, xôi vang, mùi lá chuối gói bánh ú. Tất cả quyện vào nhau thành thứ hương vị rất riêng của ngày giỗ ở nhà cậu tôi.

Hôm ấy nhà cậu đông người lắm. Người lớn ngồi ở gian giữa, đàn ông uống trà nói chuyện mùa màng, đàn bà lui cui dưới bếp, còn đám con nít tụi tôi được dọn cho một bàn riêng bên hiên. Cái bàn thấp, phủ tấm ni-lông cũ in hình hoa đỏ đã phai màu. Mỗi đứa một cái chén, một đôi đũa, ngồi chen vai nhau và đứa nào cũng hí hửng. Bữa giỗ là dịp hiếm hoi để được ăn ngon.

Sau năm 75, cái gì cũng thiếu, bữa cơm nhà nào cũng đầy khoai lang khô cõng một vài hột cơm. Cơm trắng là thứ xa xỉ. Thịt cá thì chỉ có trong những bữa giỗ chạp như ngày hôm đó.  Nhưng mẹ tôi và các dì rất khéo.  Chỉ có một ít thịt mỡ heo và một con gà cộng với rau củ quả trong vườn, mẹ, mợ và các dì làm được những bữa giỗ thật thịnh soạn cho mấy chục người ăn.

Xin kể thêm về vài món đặc biệt trong bữa cỗ nhà ngoại.  Trước hết là món chuối chần, một món mà đến bây giờ tôi vẫn thấy nước miếng tứa ra đầy miệng mỗi khi nhớ lại. Đó là những trái chuối hột non được cứa thành những lát thật mỏng nhưng vẫn còn dính nhau bên hông.  Sau đó luộc lên, ép bỏ nước và nắn lại thành hình con tôm.  Rồi bỏ những con tôm chuối ấy rim với tép mỡ.  Ăn vào thì béo béo, bùi bùi, ngọt ngọt, mặn mặn, cay cay. Cứ như là một món hải sản hạng sang vậy. 

Chuối chần

Một món nữa đã làm tôi ngạc nhiên vì tên gọi. Đó là những tô nước rang. Làm sao mà rang được nước chứ? Ấy vậy mà các dì tôi nấu được.  Tôi không biết nấu như thế nào nhưng chỉ nhớ lần  đầu tiên ăn món nước rang ấy. Tô nước rang có vài lát thịt heo nhỏ hình vuông kho màu nước mắm nổi chung với những gốc hành hương nửa xanh nửa trắng. Bỏ vào tô nước rang nóng hổi   một nhúm cải cay xắt ghém với chuối chát kèm theo rau húng. Húp một cái và nhai với rau ghém cải xanh và chuối chát non. Mùi thơm chạm vào mọi khứu giác của tôi. Chao ơi! Sao mà nó ngon thiệt là ngon. Tôi chưa bao giờ nghe người miền nào có món ăn lạ lùng như món nước rang quê tôi. Chẳng biết vì ngày xưa đói nên ăn món gì cũng thấy ngon nhưng đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ hương vị của những món ăn dân dã ấy.

Nước rang

Tôi và mấy anh chị em họ chuẩn bị ngồi vào bàn tiệc dành cho đám con nít thì dì tôi nhìn ra cửa và nói lớn:

“Ông Bảy tới kìa.  Dọn cho ổng một mâm đi.” 

Đám con cậu dì tôi đẩy ghế chạy vụt ra sân.  Tôi cũng đứng lên theo đuôi tụi nó.  Tôi đứng trên hiên nhà nhìn ra ngõ.  Một bóng người mò mẫm bước lên cái sân gạch nhà cậu tôi.  Đó là một ông già ốm, vì ốm nên trông có vẻ cao.  Tóc ông húi cua, một tay mang bị và một tay cầm cây gậy khua khua về phía trước.  Cặp mắt ông nhướng lên giống như để thấy cho rõ hơn nhưng đôi mắt chẳng mở lớn thêm được một chút nào.  

Mấy đứa con nhỏ của cậu dì tôi vơ lấy que củi khõ khõ xuống sân gạch. 

“Đi qua phía ni nề ông Bảy!”

“Không, không, hướng ni.  Chỗ nớ có bụi cây…” 

“Phía bên ni nề, bên nớ có đống củi …” 

Đám con nít í ới chỉ dẫn, khõ những cây củi xuống mặt gạch làm náo loạn cả một góc sân.  Ông già đứng lại, cây gậy quơ quơ trong khoảng không, cái mặt hơi ngước lên, nghiêng nghiêng như lắng nghe phương hướng. Ông trông bình tĩnh chứ không tức giận hay lúng. Ông mím môi, lần từng bước chậm rãi. 

Dì Ba từ trong bếp bước ra, rẽ đám con nít ra và la lớn.

“Nố ni hư quá!  Tụi bây vô nhà ngồi xuống bàn đi.”   

Rồi dì nhẹ nhàng với tay ra cầm cây gậy của ông già và nói:

“Ông Bảy đi theo tui nghe.”  

Đám con nít vừa bước lui vô nhà vừa ngoái lại xem ông già quờ quạng theo dì tôi tiến vào hiên nhà.  Dì dắt ông lên thềm, kê cho ông cái đòn ngồi ở góc hiên, nơi có bóng mát của cây mít đổ xuống. Dì nói:

 “Ông Bảy ngồi đây nghe.  Để tui đi lấy đồ ăn cho ông Bảy.” 

Tôi đứng nép bên cột nhà nhìn ông cách tò mò. Từ trước tới giờ, tôi chưa từng thấy người mù ở gần như vậy. Tôi cứ nghĩ người mù thì không thể đi đâu xa, mà chỉ quanh quẩn trong nhà. Vậy mà ông già mù này lại tự chống gậy đến tận nhà cậu tôi, đúng vào ngày giỗ. 

Tôi hỏi mấy đứa em họ.  

“Ông Bảy là ai rứa?” 

“Ông già mù đi xin ăn.  Ổng không thấy đường mà đi đâu cũng tới hết.”   

Một đứa khác chen vô:

“Ngày mô có đám giỗ là có ổng. Nhà mô trong xã ổng cũng biết.”

Tôi nghe vậy càng thấy lạ. Một người không thấy đường thì làm sao mà biết nhà nào có giỗ? Làm sao mà nhớ được từng lối đi, từng cái cổng, từng bụi tre, từng mô đất? Nhất là cái truông đá nhấp nhô dẫn vô nhà cậu tôi. Tôi đây sáng mắt mà nhiều khi đi còn vấp.  Rồi con đường làng chật hẹp ngày ấy sát bên mép ruộng sâu mà tôi sém trượt chân té xuống mấy lần. Rồi tôi nghe các dì và mợ nói chuyện trong bếp,. 

“Đời ông Bảy rứa mà sướng nghe.  Ngày mô cũng có đồ ăn ngon.”  

Có người cười: 

“Ờ. Mình còn ăn khoai độn cơm, chớ ổng ăn cỗ có cơm trắng quanh năm.” 

Câu nói ấy theo gió bay ra hiên. Tôi nhìn ông Bảy. Ông ngồi rất ngay ngắn và chờ đợi.  Cái bị đặt bên chân, hai bàn tay gầy guộc để trên đầu gối.  Áo ông đã cũ, bạc màu, vá chằng chịt.  Cái quần nâu rộng thùng thình, nhăn nhúm cuộn rút lên gần đến gối.  Bụi đường đen đúa bám trên đôi chân mốc thếch của ông.

Dì Ba bưng ra một mâm cơm mỗi thứ một ít với đầy đủ các món ăn như đã bày trên cái bàn cho đám con nít tụi tôi.  Dì nói với ông già: 

“Đây. Ông Bảy ăn đi.  Còn hai cái bánh ú ni với cục xôi tui bỏ vô giỏ đem về ăn tối nghe.” 

“Cảm ơn cô.” 

Ông già thều thào đáp lại. Giọng ông khàn khàn, như tiếng gió luồn qua rặng tre khô.  Ông nói tiếp: 

“Cô cho tui xin ly nước.” 

Dì Ba hỏi:  

“Ông uống nước lá mùng 5 không?” 

Tôi thấy hình như ông cười. Nụ cười rất nhẹ, chỉ động ở khoé miệng.  

“Nước chi cũng được cô ơi.”  

Nước lá mùng 5 là thứ nước đặc biệt của quê ngoại tôi.  Mỗi năm vào giữa trưa ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch tức là Tết Đoan Ngọ, người dân quê tôi ra nổng hay lên rừng chặt những bụi cây có lá, chặt khúc dài bằng nửa lóng tay. Sau đó đem phơi khô rồi để dành nấu với nước uống thế trà. Người dân quê ngoại tôi nói rằng hái lá cây gì vào ngày Tết Đoan ngọ khi phơi khô xong cũng đều thơm giống như nước chè xanh.  Tôi chưa từng thử nước lá của những ngày khác nhưng đã nếm thử nước lá mùng năm.  Quả là thơm thật.  Chẳng biết vì lá mùng 5 thơm hay tại vùng đất quê ngoại tôi làm cho nước lá thơm như vậy.

Dì Ba đem ra cho ông Bảy một ly nước có khói nóng bay lên.  

“Nước đây bớ ông Bảy.  Coi chừng nóng đó nghe!” 

Ông đưa hai tay ra đỡ lấy ly nước và chậm chậm đưa lên miệng uống từng ngụm nhỏ. Xong vài hớp, ông đặt cái ly xuống cẩn thận, như sợ làm đổ mất lòng tốt của người ta. Từ trong bàn ăn của đám con nít, tôi nghiêng đầu nhìn qua vai của chị họ ráng xem thử ông già ăn uống như thế nào. Tay ông lần mò trên cái mâm, tìm đến tô mỳ bưng lên chậm rãi ăn.  Trông ông không có vẻ của một người ăn xin bị đói bụng mấy ngày.  Dầu đôi tay lọng cọng lùa những sợi mì vào miệng làm những cọng rau vươn vãi trên mặt trên cằm, nhưng ông có vẻ như đang thưởng thức một bữa ăn ngon, biết ơn từng miếng nhỏ. 

Tôi còn nhỏ, chưa hiểu hết cái nghèo.  Tôi chỉ biết mỗi ngày mẹ thường nhường phần ngon cho con, còn mình thì ăn miếng cháy, miếng khoai.  Tôi chỉ biết mỗi lần có thịt cá là tụi tôi mừng như Tết.  Vậy nên nhìn ông Bảy ăn, tôi vừa tò mò, vừa có chút ganh tị ngây thơ. Tôi nghĩ, “Đúng là ông Bảy sướng thiệt.  Ngày nào cũng được ăn các bữa cỗ với các món ăn thật ngon.” 

Chiều hôm đó khi ngồi phụ mẹ gọt khoai sau hè nhà cậu, tôi hỏi mẹ: 

“Mẹ, cậu mời ông Bảy hả mẹ?”  

Mẹ lắc đầu: 

“Không ai mời biểu chi hết nhưng đám giỗ ở đâu ông Bảy cũng tới xin ăn.  Nên nhà mô thấy ổng vô là cũng làm cho ổng một mâm.”  

Tôi hỏi tiếp: 

“Răng mà ổng biết nhà mình có giỗ mà tới?”  

Mẹ trả lời: 

“Ổng nhớ hết ngày giỗ của những người trong làng.  Mà nếu ổng quên thì có người nhắc. Hoặc là khi ổng đi đường, ổng nghe người ta nói thì tìm tới. Trời cho. Người mù thì tai thính và nhớ dai lắm đó con ơi.”  

Rồi mẹ kể thêm là ông Bảy Lấm không vợ, không con, bị làng mắt từ lúc sinh ra.  Khi cha mẹ ông qua đời, ông ở trong căn nhà đó và hàng ngày đi vòng quanh xã tìm đến những nhà có giỗ để xin ăn.  Thì ra dì tôi nói cũng đúng.  Ông Bảy không phải ăn cơm độn khoai như bao nhà thời đó.  Với mấy trăm nóc nhà trong xã, dường như ông được ăn cỗ mỗi ngày.   

Từ đó, trong trí nhớ con nít của tôi, ông Bảy Lấm trở thành một nhân vật vừa tội nghiệp vừa lạ kỳ.  Mỗi lần về quê ngoại ăn giỗ, nghe ngoài ngõ có tiếng gậy khua lộc cộc là tôi lại ra nhìn. Ông không chỉ đến nhà người ta để xin ăn cỗ, nhưng có khi ông ghé vô xin miếng nước.  Nhằm khi trời mưa, áo ông ướt sũng, tóc dính bết vào trán, vậy mà ông vẫn cười khi nghe người ta hỏi: 

“Ông Bảy lạnh không?”

“Lạnh chút rồi khô cô ơi.”

Ông nói câu gì cũng nhẹ như không. Như thể mọi sự trên đời, đói no, mưa nắng, có người thương hay không, đều là chuyện phải đi qua trong một ngày.  

Lớn lên một chút, tôi mới hiểu câu “đời ông Bảy sướng” của người lớn.  Không hẳn là lời khen, cũng không hẳn là mỉa mai. Đó là cách người quê tôi nói cho qua cái nghèo, cái khổ.  Thấy ai bất hạnh quá thì không nỡ nói tội.  Thấy ai nghèo mà còn có miếng ăn thì gọi là sướng. Cái chữ “sướng” ấy nghe nhẹ tênh mà phía sau là cả một đời tối mù, cô độc. 

Học xong lớp 12, tôi rời Tam kỳ, rời cả con đường quê có hàng tre cong duyên dáng, rời mùi nước lá mùng 5, rời những bữa giỗ có tiếng dao thớt trong bếp và tiếng trẻ con cười ngoài sân. Dẫu vậy món chuối chần, nước rang và hình ảnh ông Bảy Lấm vẫn không rời tôi.  Một lần về thăm mẹ và tôi lại hỏi chuyện những người trong làng quê ngoại và dĩ nhiên là có ông Bảy Lấm.  

Mẹ kể ông Bảy Lấm qua đời lặng lẽ trong căn nhà cuối xóm. Người trong làng gom góp làm ma chay và chôn cất ông trong một miếng đất của làng cùng với bao nhiêu nấm mộ khác. Ông không có con cháu đưa tang nhưng nhiều người trong làng đã chung tay đưa ông đến phần mộ. 

Nghe mẹ kể đến đó, tôi nghĩ, “Đời ông Bảy vậy mà cũng trọn.  Lúc sống, ông đi qua hầu hết các nhà trong xã Tam thành và ăn bao nhiêu mâm giỗ. Lúc chết thì làng nước lo cho một đoạn cuối cùng.”  Nhưng câu chuyện về ông Bảy chưa dừng ở đó. 

Mẹ kể tiếp. Một ngày nọ, người trong làng thấy có người dẫn thợ hồ ra nghĩa địa của làng.  Họ chở gạch, xi măng, cát, đá và bắt đầu xây một ngôi mộ tử tế.  Kẻ đi qua, người đi lại, liếc nhìn thắc mắc. Ở làng quê, chuyện xây mộ không phải là lạ, nhưng lạ là ngôi mộ họ xây lại nhằm đúng chỗ mộ ông Bảy Lấm. Có người đứng xa nhìn, xì xầm:

“Ai tốt rứa hè?”

“Chắc bà con chi của ông Bảy ở xa về?”

“Làm chi có.  Bà con ổng mình biết hết mà.” 

Khi ngôi mộ đã xây gần xong, một người trong xóm không nén được tò mò đã đến gần hỏi.

“Cậu xây mộ cho ai đó?” 

 Người đàn ông lau mồ hôi: 

“Dạ con đi làm ăn xa.  Chừ cũng hơi kha khá nên về xây mộ cho ba con.”  

“Cậu là con ông Bảy Lấm hả?”  

“Dạ không phải.”  

“Rứa răng cậu xây mộ cho ông Bảy Lấm?” 

Người đàn ông đứng chết lặng.  Thì ra lâu ngày xa quê, mộ đất giống nhau, người đó đã nhầm mộ ba mình thành mộ ông Bảy Lấm.  Toán thợ xây ngừng tay chờ đợi. Người đàn ông đứng nhìn một hồi lâu rồi thở ra: 

“Thôi, lỡ rồi.  Cứ xây cho xong.  Cũng là người làng mình.” 

Vậy là ông Bảy Lấm, cả đời không vợ không con, không nhà cao cửa rộng, khi chết lại có một ngôi mộ xây tử tế vì một sự nhầm lẫn đầy nhân nghĩa. 

Đây là một câu chuyện có thật ở quê ngoại tôi xã Tam thành, Tam kỳ, Quảng nam, Việt nam. Câu chuyện đời ông Bảy Lấm làm tôi nhớ tới câu Kinh Thánh, “Vậy, chớ lo lắng chi về ngày mai; vì ngày mai sẽ lo về việc ngày mai. Sự khó nhọc ngày nào đủ cho ngày ấy.” Ma-Thi-Ơ 6:34  

Có lẽ ông là người đã sống đúng như vậy.  Ngày nào khó nhọc đủ cho ngày ấy. Ngày nào có đường của ngày ấy.  Ông không lo xa được vì đôi mắt không nhìn thấy phía trước.  Nhưng có lẽ chính vì không nhìn thấy phía trước, ông học cách lắng nghe từng bước chân hiện tại.  Cây gậy chạm đất ở đâu, ông biết mình đang ở đó.  Tiếng người gọi từ đâu, ông quay về hướng đó.  Mùi khói bếp bay từ nhà nào, ông lần theo nhà ấy.  Và giờ đây tên ông đã được nhắc lại trong bài viết này.  Có thể câu chuyện đời ông đã đi xa khỏi xã Tam thành, khỏi Tam kỳ, khỏi Quảng nam, khỏi Việt nam.  

Và biết đâu một ngày nào đó sẽ có người tìm đến mộ ông.  Họ có thể không biết mặt ông.  Họ có thể chưa từng nghe tiếng gậy của ông.  Nhưng họ biết rằng dưới nấm mộ kia là một người đã sống một đời lặng lẽ, nghèo khó, mù loà, mà vẫn được làng quê cưu mang bằng những mâm cơm giỗ và một ngôi mộ xây nhầm. Biết đâu! 

Ở đời, có những điều dường như là tình cờ, nhưng nhìn kỹ lại thấy như có một sự sắp đặt dịu dàng của Thượng đế.  Một người đi xa về xây mộ cho cha, lại xây nhầm cho một ông già không con.  Một ông lão cả đời lần mò trong bóng tối, cuối cùng lại được bước vào ký ức sáng rõ của bao người. Một đứa trẻ năm nào tò mò nhìn ông Bảy Lấm ăn mỳ dưới mái hiên, nhiều năm sau ngồi trên bàn viết bên kia Thái bình dương kể lại câu chuyện của ông.  Biết đâu chính những điều ấy là cách cuộc đời xoa dịu những phận người nhỏ bé. 

Chiều hôm đó, trong ký ức của tôi, ông Bảy đang đi ra khỏi sân nhà cậu tôi.  Cái bị cũ đeo bên vai.  Cây gậy khua lộc cộc. Nắng chói chang đổ trên lưng ông.  Đám con nít đứng im trên hiên nhìn theo ông chậm rãi khuất sau ngõ đá nhà cậu. 

Cộc … cộc… cộc…

Tiếng gậy của ông như tiếng thời gian gõ xuống một miền quê nghèo mà ấm.  Như tiếng một đời người đi qua bóng tối nhưng không đi một mình.  Đời tôi cũng vậy.  Tôi cũng đã nhiều lần tưởng đi một mình qua bóng đêm dày đặc ngỡ như không lối ra.  Nhưng giờ nhìn lại mới thấy rằng luôn có Chúa cạnh bên trong những ngày đen thẳm đó.

Viết thêm 5/2026

Thuỷ Như