Trang Thơ Võ Đại Tôn

46 TẾT LƯU VONG/QUỐC HẬN
(LỜI DÂNG LÊN MẸ VIỆT NAM)

MẸ VIỆT NAM ơi
46 năm rồi
Áo con đã rách.
Còn sợi chỉ nào, từ nguồn thiêng huyết mạch
Cho con xin, vá lại áo Đời.
Con đã đi, đường gai góc mòn hơi
Xuyên rừng núi, mồ hôi pha trộn máu.
Về quê hương, nguyện lòng son chiến đấu
Nửa đường đi thành đêm tối lao tù.
Mười năm ôm hận nghìn thu
Lênh đênh chìm theo vận Nước.
Và hôm nay, vạn nẻo đường xuôi ngược
Con vẫn còn tiếp bước Cha Ông.

*

Bao nhiêu năm – Mẹ đã đau lòng
Nghe con khóc từ trùng dương sóng chuyển.
Huyền sử xưa năm mươi con theo Cha về biển
Giống Rồng Thiêng mở rộng cõi bờ.
Còn hôm nay vì hai tiếng Tự Do
Trăm ngàn thây vùi tan nơi vực thẳm.
Năm mươi con vượt rừng sâu muôn dặm
Theo Mẹ hiền – thơm nửa máu dòng Tiên.
Dựng quê hương hùng sử khắp ba miền
Nay Văn Hiến cằn khô cùng sỏi đá.
Những địa danh chôn xương tù gục ngã
Tên kinh hoàng, tủi nhục đến nghìn năm.
Hoàng Liên Sơn không nấm mộ con nằm
Cổng Trời nghe máu khóc.
Dã thú vờn quanh, xiềng gông, tang tóc,
Nghĩa “Con Người” thua chữ sắn khoai.

*

Bao nhiêu năm – em bán hình hài
Tìm miếng cơm manh áo.
Đại Hàn, Đài Loan, xông xáo
Mua em về làm món đồ chơi.
Năm nghìn năm dù nước lửa dầu sôi
Chưa bao giờ mẹ bán con vì đói.
Bầy trẻ thơ còm cõi
Bươi rác nghèo, rách rưới lang thang.
Nghe quanh mình loa vẫn thét “vinh quang”
Đường Tương Lai đá cũng tan thành lệ.

*

Bao nhiêu năm tưởng chào vui thế hệ
Ngẩng cao đầu, tay vói đến năm Châu.
Nhưng cội nguồn và đạo lý chìm sâu
Lo sáng tạo những đua đòi vật chất.
Mùi kim tiền thơm hơn bánh mật
Giấc mơ vàng : – mong thoát khỏi quê hương.
Thúy Kiều xưa, rơi sóng nước Tiền Đường
Nay viết lại thành Tiền Giang, phản động ! () Lũy tre xanh, cánh tay thần Phù Đổng Bao anh hùng dựng Nước thuở ban khai Còn lại đây hoang phế cả đền đài Tên Hùng Vương đành thua tên Bill Gates. ().
Túi càn khôn đã nghèo, thêm rỗng tuếch,
Văn Hóa này còn lại tiếng “bia ôm” !

*

Bao nhiêu năm – răng hổ đói đỏ ngòm
Luôn gầm thét, xé tươi hồn Dân Tộc.
Từ địa đạo ùn lên bao cơn lốc
Thành “đại gia” chễm chệ một phương trời.
Miệng “vô sản” toàn men rượu nồng hơi,
Tay “chuyên chính” ôm bao đầy châu báu.
Dinh thự nguy nga, dựng lên từ máu
Của nhân dân khổ hạnh một đời.
Người thương binh ngẩng mặt nhìn trời
Nghe tiếng khóc trong tiếng cười vang vọng.
Chiếc xe lăn bánh mòn, gãy gọng
Lê thân tàn về cuối hẻm đơn côi.

*

MẸ VIỆT NAM ơi
46 năm rồi, niềm đau quặn thắt.
Đã có bao người lửa lòng nguội tắt
Dĩ vãng quên rồi, hiu hắt tình Quê ?.
Lớp già nua mơ ước nẻo về
Không nhắm mắt, cuối đời lên tiếng nấc.
Còn tuổi trẻ hồn nhiên hoa mật
Nơi xứ người chấp nhận quê hương.

*

Nhưng một ngày mai :
Đường hoa nở hướng dương
Hành trình thôi cúi mặt.
Sẽ có những đàn con vòng tay siết chặt
Kéo mặt trời về lại phương Đông.
Tổ Quốc sẽ tươi hồng
Giữa hào quang Dân Tộc.
Cây Tự Do sẽ đâm chồi nẩy lộc
Lửa Nhân Quyền bừng sáng nẻo thâm u.
Mái trường vui thay thế chốn lao tù
Cho con học từ cội nguồn Nhân Bản.
Không kẻ nào được quyền mua bán\
Thịt da em, nguồn sống của Rồng Tiên.
Hồn Tổ Quốc linh thiêng
Đài cao về chiếm ngự.
Cuộc hành trình từ quê hương – viễn xứ –
Chuyển xoay thành trẩy hội hoa đăng.
Từ phương Nam tung vút cánh chim Bằng
Thành Rồng thiêng Đông Á.
Từ núi cao nghiêng mình ra biển cả
Rạng ngời soi hai chữ : VIỆT NAM.

*

Lời trần tình bao nhiêu năm
Con viết bằng tim máu.
Từ nỗi đau âm thầm chôn giấu
Kính dâng lên TỔ QUỐC hằng yêu.
Mỗi chữ-vần mong gói trọn một điều :
Từ Tâm Thức xin góp chung Hành Động.
Đại cuộc Toàn Dân ban con Lẽ Sống
Hiến dâng đời cho trọn nghĩa Quê Hương.
MẸ VIỆT NAM ơi
Dù gian lao xin tiếp máu Lên Đường
Cho con về với Mẹ.
Vững chân đi, qua trăm ngàn dâu bể
Được quỳ ôm từng mảnh đất quê Cha.
Phút cuối đời xin biến lệ thành hoa
Giữa triều vui Dân Tộc.
Trong lòng con : – Vĩnh hằng TỔ QUỐC
Huy hoàng Văn Hiến – Tự Do !.

VÕ ĐẠI TÔN.

Ghi chú :

  • Văn Học – Trong kỳ thi tốt nghiệp trung học tại Việt Nam năm 2004, qua đề tài bình luận về truyện Kiều của Nguyễn Du, đã có nhiều thí sinh nộp bài viết : Thúy Kiều vì buồn chuyện gia đình đã tự vận tại sông Tiền Giang, may nhờ một nữ cán bộ cộng sản vớt lên, cải tạo tư tưởng phản động, Thúy Kiều giác ngộ, xin được kết nạp vào dảng.
  • Lịch sử – Trong cuộc thăm dò ý kiến sinh viên các trường đại học ở Việt Nam về các vĩ nhân thế giới và dân tộc, đa số sinh viên đều tuyển chọn Bill Gates làm thần tượng số 1 của giới thanh niên hiện nay trong nước.

HỒN CA TRÊN BIỂN ĐÔNG

(Tưởng niệm Quốc Hận)

Kính dâng lên hương hồn hơn nửa triệu đồng bào đã tử nạn trên biển Đông, mong vượt thoát chế độ cộng sản VN, mưu tìm Tự Do sau cơn Quốc Nạn 30 tháng Tư Đen 1975.

                                   Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

 1.

Hồn ai đó ?

Chập chờn trên khói sóng

Dòng máu tươi theo nước chẳng hòa tan.

Hồn ai đó ?

Vạn tinh cầu chao bóng

Đảo ghềnh xa còn vọng tiếng kêu than.

Hãy về đây – trên sóng nước dâng tràn

Chung tiếng khóc nghẹn đau cùng Dân Tộc.

Hồn ai đó?

Đã lìa xa Tổ Quốc

Vẫn còn ôm sông núi xuống mồ hoang.

Tiếng oan khiên từ đáy vực còn vang

Hay chìm đắm giữa khơi ngàn sóng dữ ?

Mảnh thuyền tan, bập bềnh trôi viễn xứ

Biết về đâu ? Hồn phiêu bạt nơi đâu ?

Thân cá Hồi tan tác đã chìm sâu

Không tìm thấy lối quay về chốn cũ !

Giữa trùng khơi vang tiếng cười dã thú

Hải tặc giằng co thân xác – kinh hoàng.

Tiếng Mẹ kêu, dòng máu chảy đầy khoang

Tay vời níu đàn con run khiếp sợ.

Biển lạnh chiều hoang, trần gian nín thở,

Vòng tai ương kiếp nạn đến vô cùng.

Hồn ai đó ?

Bờ Tự Do bốn hướng, cõi mông lung

Tìm đâu thấy – giữa muôn trùng đen thẳm ?

Tiếng kêu “Trời!” trước phút giây chìm đắm

Biến tan vào giông bão, thét trùng dương.

Vực mồ sâu thịt rã máu còn vương

San hô trắng hay là xương ai trắng ?

Dòng tóc đen bám ghềnh xa hoang vắng

Thành rong rêu sẫm tím một màu tang.

Hồn ai đó ?

Chiếc thuyền Không Gian

Trôi về Vô Tận.

Bánh xe Thời Gian chuyển ngàn uất hận

Chập chờn mấy cõi U Minh.

Lịch Sử nghìn thu trang giấy rợn mình

Ghi chép lại phút kinh hoàng Vượt Biển !

2.

Hồn ai đó ?

Đảo hoang sơ, ai về đây khấn nguyện

Mộ bia tàn, ai thắp nén hương dâng ?

Nơi Ba-Đình vui chuốc rượu Vô Thần

Cười nghiêng ngả mừng reo hò chiến thắng !

Đồng ruộng phơi bày xương trắng

Oan khiên máu lệ thành sông.

Bao thây vùi trong sóng nước biển Đông

Còn sót lại mấy hoang tàn di tích ?

Hồn ai đó ?

Đảo xa xôi mộ phần cô tịch

Giấc ngủ chẳng bình an.

Họ còn theo, cố phá đập tan              

Để tô hồng chế độ :

• “Chủ nghĩa huy hoàng, không ai chối bỏ

Không có người vượt thoát để tồn sinh !!!”      (*CSVN tuyên truyền)

Nhưng bia đời như nắng rọi bình minh

Luôn soi rõ từng vết sâu tội ác

Của loài dã tâm với ngôn từ khoác lác

Đang tôn thờ chủ thuyết lai căng.

Hồn ai đó ?

Từ bao cõi vĩnh hằng

Xin về đây chứng kiến.

Tấm lòng chúng tôi, trọn đời Tâm Nguyện

Chí bền gan, xin vẹn Nghĩa Tình.

Dù ngăn cách Tử Sinh

Giữa hai bờ Nhật Nguyệt.

Dù có ai phá tan mộ huyệt

Đến nghìn sau hồn mãi còn đây.

Nhìn trùng khơi sóng nước dâng đầy

Gửi mơ về cố quốc.

Hồn vẫn sống trong lòng Dân Tộc

Vì hai chữ Tự Do.

Chiều GALANG bão tố sóng to

Hay tĩnh lặng trăng rơi thềm đá.

Sáng PINANG nắng xuyên rừng lá

Hay đêm vờn tiếng hát nhân ngư.

Hồn mãi còn đây, dù bia mộ hoang vu

Không tên tuổi – sá gì tên với tuổi !

Dù xác thân đã hòa chung cát bụi

Biển Đông còn – HỒN MÃI SỐNG THIÊN THU!

                                         VÕ ĐẠI TÔN (HOÀNG PHONG LINH)

CÁC ANH CÒN SỐNG MÃI …

(Viết nhân cuộc biểu tìnhngày Quốc Hận lần thứ 36 tại thủ đô Canberra, Úc Đại Lợi, trước tòa đại sứ cộng sản Việt Nam, do Cộng Đồng Người Việt Tự Do tổ chức. Kể từ năm Quốc Hận đầu tiên 30.4.1975 đến nay, đã có những Anh Hùng Nghĩa Sĩ Phục Quốc  bí mật hoạt động tại quốc nội, hoặc từ hải ngoại trở về,  và đã có những người hy sinh vì Quê Hương Dân Tộc,  trong lao tù, nơi pháp trường, hay trên đường về.  Xin kính dâng lên hương hồn Các Anh, với Tâm Nguyện tiếp nối cuộc hành trình của Các Anh một  thời dang dở…)

Võ Đại Tôn

Các Anh đã lên đường

Mấy mươi năm về trước.

Lòng quặn nhớ Quê Hương

Rừng sâu Anh tiến bước.

36 năm rồi, còn ai lội ngược

Dòng sông đời, tưởng nhớ các Anh đây ?

Sau Quốc Nạn, vượt thoát khỏi trùng vây,

Trên sóng nước mang Hồn Quê viễn xứ.

Đời lưu vong, cội nguồn luôn chiếm ngự

Tháng năm dài thao thức chuyện non sông.

Nhìn mây bay, ôm ấp mộng tang bồng

Hồn tượng đá thi gan cùng tuế nguyệt.

Bỏ lại sau lưng trời xứ người băng tuyết

Hay kinh thành hoa lệ chốn phồn vinh.

Đời tự do, sung túc cõi nhân sinh,

Anh trở lại – cùng Toàn Dân chiến đấu.

Nỗi đau riêng, nhìn đàn con yêu dấu,

Người vợ hiền lạc lỏng cảnh xa quê,

Anh lên đường, xuyên mấy nẻo quay về

Cùng Dân Tộc, mong cứu Người cứu Nước.

Bao triệu người ra đi, còn Các Anh về ngược

Vì Quê Hương, chân xẻ núi băng ngàn.

Niềm cô đơn gói trọn một hành trang

Dâng Tâm Nguyện lên Hồn Thiêng Tổ Quốc.

Rừng Hạ Lào lót đường gai góc

Đêm thâm u mưa lũ ngút ngàn.

Sương lạnh chiều hoang

Trăng mờ biên giới.

Đường Anh đi, nẻo xa vời vợi

Hành trang nghèo nhưng nặng nỗi thương Quê.

  • Phút sa cơ Anh vẫn vẹn câu thề

Xin gửi lại lòng son về Đất Mẹ.

Anh nằm xuống, nơi rừng hoang quạnh quẽ

Máu hoen mờ, cây lá phủ thân Anh.

  • Nơi pháp trường, Anh vẫn ngẩng đầu xanh

Mong Tổ Quốc nhận hồn Anh phút cuối.

  • Chốn tù lao, ngàn đêm ngày tăm tối

Anh âm thầm chôn giấu nỗi cô đơn

Vào đáy lòng, không cần khẩn van lơn,

Nuôi sức sống bằng lửa thiêng Sông Núi.

Chỉ xin nguyện làm Người không tên tuổi

Lót đường đi bao Thế Hệ ngày mai !.

                              *

                            *  *

36 năm dài

Trời Úc Châu hôm nay vào Thu lạnh

Thủ Đô người nắng hồng soi ngợp ánh

Cờ Vàng thiêng Tổ Quốc vẫn tung bay.

Bao người con đất Mẹ tụ về đây

Đòi Lẽ Sống, Nhân Quyền trong Tự Chủ

Cho Quê Hương, bị chìm sâu thác lũ

Mấy mươi năm do chế độ hung tàn.

Trời Trung Đông bừng dậy, vết dầu loang

Đòi nhân phẩm, chung thành cơn bão táp.

Bao triều đại độc tài xuôi tay ngã rạp

Trước cuồng phong uất hận của Lòng Dân.

Trời phương Nam rồi cũng sẽ dự phần

Cùng nhân loại thoát ra vòng sợ hải.

Hoa Cách Mạng dù mang tên đủ loại

Cũng đâu bằng Dân Tộc đóa hồi sinh.

Chúng tôi đây, chuyền ánh lửa bình minh

Về Đất Mẹ, cùng Toàn Dân đứng dậy.

Giữa rừng cờ, hôm nay tôi vẫn thấy

Các Anh về – chung tiếng thét loa vang.

Bước Anh đi từ thuở trước băng ngàn

Máu Anh đổ nơi rừng hoang biên giới.

Tiếng Anh thét trong xà lim tăm tối,

Nơi pháp trường Anh đã đứng hiên ngang.

Đang hiện về, trong ánh rợp Cờ Vàng

Chung góp sức cùng chúng tôi vững tiến.

Tôi đứng đây, khóc mừng trong hãnh diện

Biến đau thương ngày Quốc Hận hôm nay

Cùng triệu lòng xin nối tiếp bàn tay

Vung ngọn đuốc lửa thiêng về Đất Tổ.

Chung Lòng Dân, chuyển tang thương phẩn nộ

Thành cuồng phong phăng gốc rễ tham tàn.

Một mùa Xuân đầy ánh sáng vinh quang

Toàn Dân Tộc viết ngàn trang Sử mới.

Trên đỉnh trời, VIỆT NAM cao vời vợi

 Cùng nhân loài vui hạnh phúc ấm no.

Tạ ơn Anh, trong hàng ngũ Tự Do

Anh vẫn sống cùng thiên thu Tổ Quốc !.

Võ Đại Tôn

Canberra, thủ đô Úc Đại Lợi

CUỐI ĐƯỜNG MẸ ĐI

(Quê hương, những ngày di tản đầy máu và nước mắt,

trong tháng 4, 1975 – QUỐC HẬN)

Võ Đại Tôn

Mẹ già đi từ Cam Lộ

Nước mắt chảy mềm Gio Linh.

Gia tài không đầy đôi rổ,

Mẹ nhìn máu lửa Thần Kinh.

Đá đổ mồ hôi : Thạch Hãn

Chạy dài đến đỉnh Hải Vân.

Leo đèo, Mẹ như mê sảng,

Chân voi : sưng đôi bàn chân.

Mẹ đi giữa trời thiêu đốt

Thây con lớp lớp trải dài

Dọc theo con đường Số Một,

Nằm bên dăm củ sắn khoai.

Tam Kỳ chạy vô Quảng Ngãi

Bầy con đói khát bên đàng.

Biển người xô nhau, quằn quại,

Ngã dần… trong tiếng khóc than.

Mẹ vào Quy Nhơn, Phú Bổn,

Nhìn trời khói lửa Pleiku.

Đoạn đường mang tên Mười Bốn

Thành mồ hoang lạnh, thâm u.

Thây ai quàng manh chiếu rách,

Bàn tay nào vói trời cao ?

Ngập vùng tang thương Darlac,

Chân đi, Mẹ khóc nghẹn ngào.

Máu chảy lan dần mạch đất

Nha Trang chết vạn đàn con.

Vào Nam, sức già lây lất

Về đâu ? – Nẻo sống không còn !

Cần Thơ, Hà Tiên, Rạch Giá,

Mẹ lần đến mũi Quê Hương

Cà Mau nhìn ra biển cả

Tàn hơi, Mẹ chết bên đường !

Mẹ già đi từ Cam Lộ

Cuối đường, chết mũi Cà Mau.

Trọn đời sống trong đau khổ

Chết còn trông thấy khổ đau !…

Võ Đại Tôn (1975).

CON SẼ ĐƯA MẸ VỀ…

(Viết trong một  ngày biểu tình Quốc Hận… Trời mưa.)

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

Cụ bà gần 100 tuổi bên cạnh tác giả trong ngày biểu tình Quốc Hận tại thủ đô Canberra, Úc Đại Lợi. )

Hơn Bốn Mươi  vành khăn tang

Trên đầu tôi quấn chặt.

Lòng lính đau quặn thắt

Rụng xuống mặt trời đen.

Đâu phải kẻ ươn hèn

Sao đành buông súng , – khóc !

Đôi giày xưa bên vệ đường tang tóc

Đạp giấc ngủ từng đêm.

Màu áo trận dường như đã lãng quên

Vẫn bao trùm cơn mê thảng thốt.

Đời lưu vong tôi ôm hình Tổ Quốc

Máu chuyển về Quê, tiếng gọi Lên Đường.

Thủ Đô người, trời buốt lạnh mù sương

Tôi đứng cạnh Mẹ Già, rưng nước mắt.

Mẹ nghe không ? – Tiếng đàn con đang thét

Đòi lại Tư Do, Dân Chủ, Tình Người !

Xin Mẹ cho con, dù chỉ một nụ cười

Con cũng đủ vươn mình lên thẳng đứng.

Cho con ôm Mẹ để lòng con thêm vững

Chí bền gan, xuyên suốt hành trình.

Mẹ thấy không ? Trong gió lạnh run mình

Cờ Đại Nghĩa tay đàn con cao phất !

Mẹ nhìn con, ban thêm dòng hương mật

Chuyển Tình Thương, hơi ấm xuyên lòng.

Tuổi Mẹ già, ánh mắt chẳng còn trong

Nhưng con thấy vẫn nguyên dòng Lịch Sử.

Từ thuở ban khai, xuyên rừng sâu núi dữ

Mẹ dắt Con đi, vạn nẻo thăng trầm.

Cầm tay Con tô đậm nét Từ Tâm

Khuyên dựng Nước , trời Nam luôn Tự Chủ.

Nhưng giờ đây, như cuồng phong thác lũ

Trên quê hương bao tội ác tuôn dòng.

Mẹ lưng còng, đời bóng xế lưu vong

Đang đứng giữa đàn con trên xứ lạ.

Xin Mẹ yên lòng, ngày mai rồi hoa lá

Giữa Mùa Xuân Dân Tộc sẽ bừng hương.

Đàn Con đưa Mẹ về, dựng lại Tình Thương

Quỳ dâng Mẹ tháng ngày tươi sáng mới.

Đàn Con dìu Mẹ đi, nắng Xuân hồng phơi phới,

Mẹ-Con mình vui sống với Quê Hương !

Võ Đại Tôn.

VĂN TẾ TƯỞNG NIỆM HAI BÀ TRƯNG

Hôm nay, nhân ngày Tưởng Niệm Nhị Vị Trưng Vương,

Chúng con xin Thành Tâm Kính Lạy :

ANH LINH NHỊ VỊ TRƯNG NỮ VƯƠNG

CÙNG CÁC DANH THẦN, DƯƠNG TƯỚNG,

LIỆT NỮ, ANH HÙNG THẾ HỆ NHỊ TRƯNG

HIỂN LINH CHỨNG GIÁM

Đạo Sống ngàn đời còn sáng tỏ

Muôn Dân vạn thuở tạc công ơn.

Nhị Trưng vì Nước quên thân ngọc

Một dạ sắt son cùng núi sông.

Đất Nước Trời Nam, kết tụ tinh hoa hiển lộ Anh Thư, ngàn năm vằng vặc gương Liệt Nữ,

Non Sông Hồng Lạc, hun đúc gan vàng lẫy lừng Nhi Nữ, muôn đời sáng chói đức Trưng Vương.

Uy linh còn thắm đượm

Danh tiếng vẫn ngát hương.

Vượt thời gian, ân đức thấm nhuần đến cành cây ngọn cỏ

Ngoài vòng định lượng, công ơn ghi tạc cùng sử sách lưu phương.

Nhớ xưa NHỊ VỊ ĐẠI VƯƠNG

Sinh trưởng chốn nho phong nền nếp, vốn dòng lương tướng,

Chuyên nghề canh cửi nông trang, dáng ngọc thiên hương.

Nhưng không may gặp buổi

Đất nước lâm cơn quốc nạn

Đồng bào thảm họa tai ương.

Phường xâm lược chủ trương hưng Hán diệt Di, ưa đồng ghét dị,

Giặc Bắc phương bày nhiều quỷ kế mưu sâu, thủ đoạn khôn lường.

Khát máu tanh lòng, túi tham không đáy, chúng vơ vét sạch sành sơn trạch,

Lòng lang dạ sói, mạnh được yếu thua, giặc san bằng lãnh thổ biên cương.

Bắt cống nạp sừng tê đá quý

Bày dâng hiến trai ngọc đinh hương.

Hãm hại nhân tài anh kiệt

Dập vùi ân đức hiền lương.

Tàn mạt đến côn trùng cây cỏ

Đảo lộn cả luân lý cương thường.

Căm giặc nước, sôi gan tím mật,

Hận thù nhà, lòng quặn đau thương.

Bởi vậy cho nên NHỊ VỊ phải

Liễu yếu đào tơ ra oai tỳ hổ, giục toàn dân giải thù cho Nước,

Khăn tang mài kiếm tỏ dạ kiên trinh, Chị cùng Em rửa hận cho chồng.

Chiêng trống vang rền, giục giã quân dân tướng sĩ quyết vùng lên trừ bạo,

Tuốt gươm vung dáo, quản bao máu lửa hiểm nguy thề tận diệt bạo cường.

Nhi Nữ mà yên cương rong ruổi, tỏ lộ gan vàng dạ sắt,

Anh Thư song gươm dáo xông pha, phô bày chí khí phi thường.

Sáu mươi ngả tiến quân, đánh tan tành giặc Hán,

Trăm nẻo đường vây kín, hãm thái thú họ Tô.

Trời PHONG CHÂU phất phới ngọn cờ tự chủ

Thành MÊ LINH rạng ngời nền bá nghiệp vương.

Ba năm GIAO CHÂU thịnh trị

Ngàn đời ÂU LẠC lưu phương.

Nào ngờ nước Nam chưa qua vận bể dâu

Giặc Hán chưa buông tham vọng

MÃ VIỆN vội vã lên đường.

Móng nền tự chủ còn non yếu

Khó ngăn bầy lang sói điên cuồng.

Tự cổ kim thịnh suy mấy độ

Trường đấu tranh thắng bại lẽ thường.

Tận trung với Nước, dòng SÔNG HÁT sóng gào, thương tiếc Anh Thư tuẩn tiết,

Hết dạ thương Dân, đất MÊ LINH rung chuyển, thấm ơn Liệt Nữ TRƯNG VƯƠNG.

Hơn một ngàn năm Ngài hằng linh hiển cứu Dân độ Nước,

Trải muôn vạn đời, toàn dân thành kính hương khói miếu đường.

Cột Đồng MÃ VIỆN tịch mịch, vùi sâu trong cát bụi,

Sóng xanh SÔNG HÁT uy linh, tỏa sáng khắp muôn phương.

Nước biếc non xanh phơi phới ân sâu nghĩa nặng,

Trời cao đất rộng lồng lộng uy đức Anh Hùng.

Chúng Con nay

Nhân ngày Thánh hóa

Dâng nén Tâm Hương

Hướng lòng tưởng niệm.

Ghi tạc Công Ơn

Cúi xin phù trợ

Cho Con Dân thoát đọa đày tan tác

Cho Đất Nước sớm Dân Chủ Phú Cường !

Uống nước nhớ nguồn

Nhân ngày Giỗ Thánh

Chúng con kính cẩn

Dâng tấc lòng thành.

THƯỢNG HƯỞNG !

********

                        (Võ Đại Tôn cúi đầu chấp bút)




Tháng Tư Về

phut tuong niem final.jpg

Phút Tưởng Niệm Ba Mươi Tháng Tư!

Hôm Nay:

-Bằng giây phút này, 46 năm về trước, Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, đang thở những phút giây cuối cùng, vĩnh biệt tự do, dân chủ, no ấm trên 20 năm!

-Trước giây phút hấp hối, hành trình đi vào cõi chết, bắt đầu với cuộc Triệt thoái Cao Nguyên, quân dân di tản, kẹt cứng trên Tỉnh Lộ 7B, Cộng Sản pháo kích vào đoàn người di tản, hàng ngàn người chết, Tỉnh Lộ 7B đi vào lịch sử với tên mới: Tỉnh Lộ Máu!

-Bằng giây phút này, các tỉnh Miền Trung đã thất thủ, quân dân chạy về phía Nam, Cộng sản đuổi theo bắn giết, xác phơi như cá hộp trên Đại Lộ Kinh Hoàng, trên Đèo Hải Vân, các cửa biển Miền Trung.

-Bằng giây phút này, hàng trăm người Lính VNCH, dùng súng bắn vào đầu mình, trái tim mình, hay dùng lựu đạn nổ tan thân xác, vì không chịu nổi cái nhục đầu hàng, và Kẻ Ác đã thắng cuộc chiến!

-Bằng giây phút này, hàng trăn ngàn người Con Đất Việt, phải rời nơi “chôn nhau cắt rốn,” bỏ Nước ra đi. Sau đó hàng Triệu người, hàng trăm ngàn người đã lấy đại dương làm mồ chôn, trên đường chạy trốn độc tài Cộng Sản.

Xin cúi đầu, nghiêng mình, thắp nén nhang tưởng niệm, những cái chết trong ngày tang thương, đen tối nhất trong lịch sử của Người Dân Việt.

Ngày nào còn Cộng Sản cai trị trên Quê Hương, mãi mãi vẫn là ngày đau thương, Ngày Quốc Hận!

Có chết cũng không quên!

30/4/2021

LVHải

qyuoc han final copy.jpg
tien biet.jpg



Chia Buồn: Linh Mục Gioan Trần Công Nghị

42c39998b451fa8729d3ac05a4704675.jpg
phan uu final.jpg

Chia Buồn

Nhận được tin buồn:

Linh Mục Gioan Trần Công Nghị

(Sáng lập, Giám đốc VietCatholic Network.

Bút hiệu Đồng Nhân và Thiên Ân)

Vừa được Chúa gọi về,

Ngày 22 tháng 4 năm 2021

Tại Garden Grove, California, Hoa Kỳ.

Hưởng Thọ 76 Tuổi.

(55 năm trong chức vụ Linh Mục)

Xin gởi lởi chia buồn đến Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Hoa Kỳ và Tang Quyến.

Nguyện cầu Chúa chí ái, đón nhận Linh hồn Gioan,

người Môn Đệ yêu dấu của Ngài vào nước Thiên Đàng.

Thành Kính Phân Ưu.

-Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt

-LVHải và Tuần Báo Thằng Mõ.istockphoto-90392412-612x612.jpg

LM Trần Công Nghị, người sáng lập VietCatholic Network, qua đờiDP-Linh-Muc-Tran-Cong-Nghi-1-1536x1152.jpg

GARDEN GROVE, California (NV) – Linh Mục Trần Công Nghị, giám đốc sáng lập VietCatholic Network, vừa qua đời lúc 11 giờ 30 phút sáng Thứ Năm, 22 Tháng Tư, tại nhà riêng ở Garden Grove, hưởng thọ 76 tuổi, trong đó có 50 năm là linh mục, theo trang web VietCatholic cho biết.

Hồi năm 2017, nhân dịp kỷ niệm 20 năm VietCatholic Network, Linh Mục Trần Công Nghị có chia sẻ với nhật báo Người Việt như sau: “Lúc đầu tôi làm trang web VietCatholic Network vì thích thú thôi, chỉ với kỳ vọng đưa cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Việt cho mọi người đọc. Vậy mà thoắt cái đã là 20 năm, kể từ ngày trang web tiên phong và đầu tiên bằng Việt Ngữ trên Internet bắt đầu hoạt động vào ngày Lễ Các Thánh, 1 Tháng Mười Một, 1996.”

“Trong suốt thời gian dài hiện diện, chúng tôi cố gắng mang đến cho giáo dân món ăn tinh thần bổ ích, đó là những tin tức từ Giáo Đô Vatican, từ Giáo Hội Việt Nam, và các sinh hoạt đa diện từ các giáo xứ và cộng đoàn Công Giáo Việt Nam khắp nơi trên thế giới. Để có được như ngày hôm nay, tôi tự mình mò mẫm trong suốt những ngày gian khó. Lúc bấy giờ Internet mới phát triển, nhưng tôi thấy nhu cầu này rất ảnh hưởng, do đó tôi tập tành đưa Tin Mừng của Giáo Hội Công Giáo bằng tiếng Việt lên Internet để phổ biến cho mọi người khắp nơi hiểu sứ điệp như thế nào,” vị linh mục giám đốc chia sẻ tiếp.

Cũng từ năm 2017, VietCatholic Network có thêm chương trình trên YouTube được rất nhiều người xem.

Theo VietCatholic Network, Linh Mục Trần Công Nghị có hai bút hiệu là Đồng Nhân và Thiên Ân, sinh ngày 13 Tháng Ba, 1945 tại tỉnh Ninh Bình, thuộc Giáo Phận Phát Diệm.

Từ năm 1957, linh mục theo học tại Tiểu Chủng Viện Phát Diệm, Phú Nhuận, và Đại Chủng Viện Sài Gòn, trước khi sang Rome, Ý, học tại Đại Học Giáo Hoàng Urbano (Pontifical Urban University) trong bốn năm, từ 1967 đến 1971.

Linh Mục Trần Công Nghị (bìa phải) phát biểu nhân dịp 20 thành lập VietCatholic Network. (Hình: Quốc Dũng/Người Việt)

Từ năm 1971 đến năm 1975, ông học ngành khoa học xã hội tại đại học Fordham University, New York.

Năm 1977, ông quay lại Rome, trở lại đại học cũ và học thêm tại Đại Học Giáo Hoàng Grerogy (Pontifical Gregorian University) để lấy bằng tiến sĩ Thần Học.

Từ năm 1983 đến năm 1984, ông làm giáo sư tại Đại Chủng Viện New Orleans, Louisiana.

Từ năm 1987, ông làm giáo sư Chủng Viện Đức Mẹ Nữ Vương Các Thiên Thần (Our Lady Queen of the Angeles) của Tổng Giáo Phận Los Angeles, cho đến năm 1993.

Khi làn sóng người Việt Nam sang định cư tại Hoa Kỳ sau khi cuộc chiến chấm dứt, ông lần lượt đảm trách các chức vụ tuyên úy trưởng trại tị nạn Fort Chaffee, Arkansas; giám đốc Trung Tâm Mục Vụ Việt Nam, Tổng Giáo Phận New Orleans, Lousiana; giám đốc điều hành Indochinese Center, Washington DC; và giám đốc điều hành Trung Tâm Mục Vụ Đông Nam Á, Tổng Giáo Phận Portland, Oregon.

Ngoài ra, Linh Mục Trần Công Nghị cũng từng là phó chủ tịch Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Hoa Kỳ, chủ tịch Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Miền Tây Bắc Hoa Kỳ, giám đốc Dự Án Nghiên Cứu Nhu Cầu Mục Vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ, do Văn Phòng Mục Vụ thuộc Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ tài trợ, có văn phòng tại Orange County, Nam California.

Ngoài ra, tại Tổng Giáo Phận Los Angeles, Linh Mục Trần Công Nghị từng phục vụ các giáo xứ St. Paul of the Cross (La Mirada), St. Finbar (Burbank), St. John Fisher (Rancho Palos Verdes), Our Lady of the Assumption (Claremont), và St. Catherine of Alexandria (Avalon). (Đ.D.)

TINSELMYTHISTLE-201216113656.jpg

(Lời Chia Buồn này, cũng sẽ được đăng trên Tuần bào Thằng Mõ số tới)

======

THƠ PHÂN ƯU

**

THƠ TIỄN CHA TRẦN CÔNG NGHỊ

Hai năm qua, mệt và buồn,

Thêm lo đại dịch, bạn, còn những ai!?

Máu vẫn đổ, đạn, bom rơi,

Thế Chiến 3, muốn nổ? Trời! Lại nghe…

Cha Trần Công Nghị ra đi….

Đức Chúa Cha mới gọi về thiên cung!

Bẩy sáu tuổi…. đã dầy công

Đem tài, sức…giúp cộng đồng thân thương…

Sống yên, trong đạo lý thường,

Tu, Tề…Nhân, Nghĩa…con đường hòa vui!

Trăm năm, thoáng, sẽ qua thôi,

Lợi, Danh, Quyền… cũng hết…ngoài Tình Yêu!!

A men !!23/4/21     Dương Huệ Anh

**

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

VĂN THƠ phụng tiền cụ Thiên Ân

LẠC VIỆT vinh danh bậc đức nhân

Thương tiếc Cha vừa về nước Chúa

Phân ưu Người mới bỏ hồng trần 

TRẦN CÔNG NGHỊ sáng danh Hồng Lạc

LINH MỤC GIOAN ngời tiếng Giáo dân

CATHOLIC NET buồn, xin kính viếng

Gia đình tang quyến bớt sầu dâng

BBT VTLV 

Phương Hoa – APR 23rd 2021




BỐ THƯƠNG YÊU của LINH & THANH-THANH

Inline image



Tháng Tư Về

            Nhìn lịch giật mình, ngày tháng trôi nhanh quá, mới đó đã đến tháng tư đen. Từ khi bị dịch Vũ Hán tôi không được đi dự ngày buồn 30 tháng Tư năm 2020, năm nay với tình hình này chắc ban tổ chức cũng khó thực hiện. Dù vậy nhưng ký ức tôi sống dậy mãnh liệt những ngày tháng ấy …

   Khắc Khoải      

Đến tháng tư đen nhắc nhở rồi

Gương nhìn quá khứ trở về thôi

Ai đi tù ngục sâu rừng núi

Kẻ trốn ghe thuyền đắm biển khơi

Tê tái chia tay buồn thấm cảnh

Xót xa giã biệt khổ đeo người

Bao nhiêu chuyện tủi sầu non nước

Trăn trở đêm dài thả mộng trôi

                   MTTN

Còn nhớ năm 2019 …Chị Phương Hoa và tôi đi xem cuốn phim “30 Tháng 4 Năm Đó Bác Ở Đâu” do đài Dân Sinh và hội IRC phối hợp tổ chức.

Phim tài liệu ghép lại với các hình ảnh sưu tầm từ những phút cuối tháng Tư năm 1975…Nhìn ngày cuối các anh lính vẫn ôm súng ở nhiều địa phương, chung sức chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, áo rách sờn vai, mặt mày hoang mang như chim lạc tổ… Cảnh chiếu tiếp những người tù lao động trong rừng núi, trong trại, thân hình tiều tuỵ, nét mặt buồn xo khắc khổ…Tiếng thuyết minh nhắc nhở về những vị anh hùng Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Nguyễn Văn Long, Hồ Ngọc Cẩn … Không khí lắng đọng, hình như mọi người đang xúc động tâm tư, đang khóc với hình ảnh đau thương đất nước miền Nam ngày cuối 30 tháng 4 năm 1975.

Sau buổi chiếu phim, nhân chứng sống là Trung uý Lê Ngọc Danh, Tùy viên Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam (Tư lệnh Quân đoàn 4 vùng 4 Chiến thuật), người đã sát cánh bên tướng Nam, lên có đôi lời kể về những giờ phút cuối của vị Tướng anh dũng này. Ông kể trong nỗi xúc động nghẹn ngào…

            Chiều cuối tướng Nam đi vào Quân y viện thăm anh em thương phế binh, các anh em khóc nói “Thiếu Tướng đừng bỏ chúng tôi“.

Ông an ủi vỗ về:

– Tôi không bỏ, tôi ở lại với anh em …

Trở về tư thất, ông thắp 3 nén hương trước bàn Phật, sau đó người Tùy viên nghe tiếng súng nổ……….

Để kết thúc buổi chiếu phim, người xướng ngôn viên nêu lên câu hỏi:

“30 tháng Tư ngày ấy bác, anh ở đâu? chị ở đâu?….

Ra về lòng tôi nặng trĩu… Bốn mấy năm trôi qua, cuộc sống đã thay đổi, nhưng những người dân miền Nam khó thể quên chuyện ngày ấy. Tiếng Trung uý Lê Ngọc Danh kể về vị anh hùng Nguyễn Khoa Nam vẫn vang trong đầu cho đến giờ phút này. Đêm trăn trở, tôi thức dậy tràn nghiên theo thi hoạ:

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam

Thiếu Tướng hiên ngang ở lại thành

Quân hoài quý mến lớp đàn anh

Giờ cùng ước nguyện còn thơm tiếng

Phút chót câu thề mãi sáng danh

Nước mất buồn đau tìm lối tử

Nhà lìa khổ nhục thoát đường sanh

Can trường súng nổ ngàn thu biệt

Họ Nguyễn Khoa Nam sử sách dành

Minh Thuý Thành Nội

            Giờ phút cuối nghe đài thông báo năm nay (2021) buổi tưởng niệm sẽ tổ chức tại khu Century thuộc thành phố San Jose do Bác Sĩ Phạm Đức Vượng đảm trách. Tôi thấy lòng phấn khởi như máu chảy về nguồn, cùng tâm trạng của những kẻ lưu vong tìm về tổ ấm tưởng nhớ đến ngày Quốc Hận cho vơi bớt nỗi niềm buồn tủi.

***

Hôm nay ngày 25 tháng 4 năm 2021. Buổi sáng trời âm u không có nắng, mây đen từng vùng. Đến nơi đã thấy hàng cờ vàng nối dọc ngoài đường story. Các hội đoàn tề tựu chuẩn bị mọi thứ. Đúng 11 giờ buổi lễ bắt đầu, tôi thấy có sự hiện diện của Thị Trưởng thành phố Westminster Tạ Đức Trí và luật sư Nguyễn Quốc Lân từ Nam Cali lên tham dự. Chương trình bắt đầu buổi lễ chào Quốc Kỳ Mỹ, Việt Nam. Mỗi lần được hát bản Quốc Ca VN thì kỷ niệm ùa về những buổi sáng thứ hai trong sân trường, cả lớp được đứng hát trước cột cờ, ngày xưa hát với tâm trạng bình thản vô tư, bây giờ hát nhưng tim đập mạnh…, nửa vui vì được hát và nửa như se thắt con tim. Kế tiếp lễ dâng hương Tổ Quốc và Lễ tưởng niệm các vị anh hùng “Sinh vi Tướng, Tử vi Thần” đã tuẫn tiết trong những ngày mất nước. Đèn hương nghi ngút vinh danh các anh hùng vị quốc vong thân, đúng là “Anh Hùng tử, khí hùng bất tử”.

   Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng

   Bình Long trận đánh diễn oai hùng,

   Quyết dẹp quân thù núp ẩn bưng.

   Nếm mật, bùn dơ cùng rắn rít,

   Nằm gai muỗi độc với sâu rừng.

   Yên bề trở lại dân chào đón,

   Vững bước quay lui vợ tủi mừng.

   Nước loạn, nhà tan thề tuẫn tiết,

   Anh hùng đáng phục Tướng Lê Hưng.

                                               MTTN

Thiếu Tướng Phạm Văn Phú

Tướng Phạm Phú gương đầu

Uống liều thuốc tử mau

Anh hùng lời hậu thế

Dũng khí tiếng đời sau

Tỵ nạn ông tràn hận

Lưu vong bạn ngập sầu

Bàn vong người tuẫn tiết

Tưởng niệm nỗi buồn đau

                MTTN

Chuẩn Tướng Trần Văn Hai

Chiến sự nguy nàn cảnh bỏ đi

Lời mời tổng thống chẳng ngờ nghi

Sư đoàn bảy bộ binh tư lệnh

Chuẩn Tướng Trần Hai vẫn đảm vì

Ngày cuối tháng tư đất nước tan

Hai mươi viên thuốc quyết không hàng

Đồng Tâm căn cứ nơi làm việc

Cái chết uy nghi đã chuẩn dàn

                 MTTN

Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ

Tử thủ vùng Lai Khê phút cuối

Anh Hùng chẳng sợ đuổi đoàn quân

Bữa cơm măng vịt tình thân

Là giờ phút cuối nghĩa ân trọn kề

Viên đạn súng Colt thề quyết giữ

Can trường “Vị Quốc Tử Theo Thành”

Bởi đau đất nước tan tành

Xem thường cái chết sử sanh nhắc hoài

Quốc hận tháng Tư đài tưởng niệm

Bàn di ảnh khói điểm làn hương

Lòng dân đau xót mến thương

Âm thầm giọt lệ kính tương ngày buồn

                              MTTN

        Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn

   Tổ quốc mang ơn lịch sử bù

   Anh Hùng Hồ Ngọc Cẩn bao thu

   Hăng say quyết tử gìn quân đội

   Nhiệt huyết can trường giữ chiến khu

   Ngạo nghễ hiên ngang khi nhốt ngục

   Oai nghi thách thức lúc giam tù

   Bị đem xử bắn không nao núng

   Điểm mặt la to bọn giặc thù

                            MTTN

    Trung Tá Nguyễn Long Cảnh Sát

   Nhớ buổi đau lòng chuyện bảy lăm

   Tháng tư phút cuối phận con tằm

   Anh hùng mạnh dạn nào lo hãi

   Tướng tá can trường khó dọa hăm

    Chẳng đợi quân thù hành đạn súng

    Đâu chờ bọn giặc xử dao găm

    Nguyễn Long Cảnh Sát không nao dạ

    Tuẫn tiết hiên ngang dáng thẳng nằm

                                   MTTN

            Nhìn di ảnh tôi thấy lạnh toàn thân khi nghe đọc tiểu sử các vị đã tìm cách chết hiên ngang quyết không đầu hàng quân giặc. Mọi người đứng yên chờ đến phiên mình để được thắp cây nhan với tất cả lòng thành kính xúc động. Đang lúc làm lễ trời đổ cơn mưa như nhỏ lệ dùm niềm đau của những người con xa xứ, lưu lạc khắp nơi đã về đây,  cùng chung tâm trạng của kẻ mất nước với nỗi buồn dấy động mạnh lên mỗi khi tháng tư về. Tiếp tục chương trình các vị đại diện trong guồng máy chính quyền, đại diện các đoàn thể lên có đôi lời …..về ngày 30 tháng Tư “. 

        Phần văn nghệ với những bài hùng ca như “Việt Nam Tôi Đâu” (Việt Khang), “Đáp Lời Sông Núi” (Trúc Hồ), “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” (Nguyễn Đức Quang) v…v…Đến bài hát “Tấm Thẻ Bài” (Huyền Anh)

Sau cuộc chiến này còn chi không anh?

Còn chi không anh?

Hay chỉ còn lại tấm thẻ bài

Đang lạnh lùng trên tay em

Giọt máu nào là của Mẹ

Niềm tin nào là của em

Ôi trên tấm thẻ bài này

Tấm thẻ bài này, đã từng

Ấp ủ tất cả giấc mộng yêu đương

Mộng yêu đương không bao giờ đến

Không bao giờ đến nữa vì anh

Không còn mang tấm thẻ bài

Trở về bên em ….

Lời nhạc làm hồn tôi miên man hồi tưởng về quá khứ, hình ảnh những anh lính Việt Nam Cộng Hòa hiện rõ, những người lính Thương Phế Binh, những chiếc xe cứu thương chạy vào Quân Y Viện trong Mang Cá hàng ngày trên đường Đinh Bộ Lĩnh, những hình ảnh cô nhi quả phụ đội khăn tang đầy các phố, những thước phim tài liệu chiếu lính đi hành quân ngâm nửa người dưới nước băng rừng lội suối, hay những lúc hành quân trở về với tấm thân tàn ma dại… Tại sao đã có hiệp định Geneva 1954 chia đôi đất nước mà miền Bắc cứ muốn xâm lấn miền Nam? trong khi các anh lính chiến miền Nam chỉ đánh giặc để tự vệ, bảo vệ làng mạc thôn xóm, lo cho người dân an ổn sinh sống trong thanh bình…Càng nghĩ mắt tôi càng mờ dần thấm thía với bản nhạc “Tấm Thẻ Bài”.

Thương Người Chiến Sĩ VNCH

Cộng Hoà anh lính thuở xa xưa

Hình ảnh oai phong kể mấy vừa

Chiến tích quay về ngang ruộng rẫy

Hành quân ngừng nghỉ dưới cây dừa

Chiều thu đã thắm tình chia sẻ

Phố hạ chưa phai cảnh đón đưa

Áo trận sờn vai đời gió bụi

Thương người đội nắng với dầm mưa

                                    MTTN

Buổi lễ kết thúc vào lúc 3 giờ chiều, bước ra xe lòng tôi nhẹ nhõm bớt phần nào sự buồn rầu, vì được gặp gỡ đồng hương, cùng ngồi lại với nhau dưới bóng cờ vàng, những tấm lòng cùng chung cảnh ngộ, cùng đau chung cho vận mệnh của đất nước, tuy không nói nhưng đã được chia sẻ thật nhiều bằng ánh mắt. Nơi đâu có dân tỵ nạn là nơi đó có ngọn Cờ Vàng, cờ chính nghĩa bay phất phới trong gió, cờ trong tim ấp ủ nỗi niềm hy vọng, và cũng sưởi ấm biết bao nhiêu cho những người con đã lưu lạc mất quê hương …

Tháng Tư Tưởng Niệm

Tháng Tư cúi mặt ngậm ngùi

Bao nhiêu ký ức đẩy lùi đau thương

Tỏ lòng kính cẩn nén hương

Anh hùng khí tử nặng vương lòng người

Tháng Tư đã tắt nụ cười

Bởi giặc miền Bắc lấn trời phương Nam

Hung tàn cướp bóc gian tham

Đọa đầy mọi chốn dân oan thảm sầu

Tháng Tư súng bắn vào đầu

Can trường các vị Tướng câu “tử thành”

Lê Hưng, Nguyên Vỹ quyết hành

Khoa Nam, Ngọc Cẩn thanh danh bỏ mình

Tháng Tư Phạm Phú quyên sinh

Trần Văn Hai cũng chọn vinh quyết thề

Nguyễn Long đã chết giờ kề

Trầm ngâm nhớ lại quặn tê nỗi buồn

Tháng Tư máu nóng dâng cuồng

Tháng Tư khắc khoải lệ tuôn mắt mờ

                                    MTTN

Ngày Buồn

Quốc hận tháng Tư nỗi nhục buồn

Dù trời đổ lệ giọt mưa tuôn

Đồng môn hải ngoại lòng đau uất

Bạn hữu lưu vong máu hận cuồng

Tướng dũng khuôn dung, nào khuất phục

Người hùng di ảnh, chẳng hàng buông

Bàn hương khói tỏa người thành kính

Tỵ nạn Cờ Vàng giữ vững luôn

                                    MTTN

Dù bệnh dịch vẫn chưa chấm dứt, mọi người đi dự đều mang khẩu trang, trời mưa gió lạnh nhưng tinh thần người Việt ở hải ngoại thật mạnh mẽ, ban tổ chức chung góp bàn tay chuẩn bị thời gian dài vất vả. Chúng tôi vô cùng biết ơn ban tổ chức của Bắc Cali.

Minh Thúy (Thành Nội)

 Mùa Quốc Hận 2021

                                                                       




Ngày Quốc Hận 30-4-2006: Khánh Thành Bia Đá Vinh Danh VNCH và Đồng Minh tại Hawaii (phần 2)




GS Nguyễn Văn Canh Tâm Tình Nhân Mùa Quốc Hận Lần Thứ 46




TUỔI TRẺ VƯƠN LÊN –

TUỔI TRẺ VƯƠN LÊN

KIỀU MỸ DUYÊN

          Người già nghĩ về quá khứ, còn người trẻ nghĩ đến tương lai. Người trẻ Việt Nam đã có mặt trong chính quyền, làm việc ở phủ Tổng Thống, ở Quốc Hội, là Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ, Chánh Án của liên bang, của tiểu bang, làm Tướng và giữ những chức vụ quan trọng ở Bộ Quốc Phòng. Tuổi trẻ Việt Nam là khoa học gia, là thương gia, là giáo sư đại học. Người trẻ có mặt khắp nơi, ở Mỹ, Úc, Á, Âu Châu. Người trẻ Việt Nam tiến rất nhanh.

          Ngày Quốc Hận năm nay, tôi không viết về quá khứ đau buồn, mà tôi viết về tuổi trẻ với tương lai rực rỡ trước mắt.

          Đi đến quốc gia nào trên thế giới, tôi cũng gặp người Việt Nam với tương lai sáng lạn, tôi đã từng tham dự đại hội giới trẻ thế giới ở Mỹ, Âu Châu, Á Châu, tôi có niềm tin ở người trẻ Việt Nam. Một em trẻ 14 tuổi tham dự đại hội ở Hoa Kỳ, không nói được tiếng Việt, nói bập bẹ như người ngoại quốc nói tiếng Việt, nhưng sau 3 năm tôi gặp lại người trẻ này tại đại hội tổ chức ở Mã Lai, người trẻ này đã nói tiếng Việt thông thạo. Vì sau khi dự đại hội về, em tự học tiếng Việt để 3 năm sau em sẽ nói tiếng Việt thông thạo như các bạn trẻ khác tham dự đại hội. Ông bà, cha mẹ cho con cháu mình dự đại hội để có  cơ hội học hỏi và nói tiếng Việt.

          Hỡi tuổi trẻ Việt Nam hãy hãnh diện mình là người trẻ, người trẻ Việt Nam nói tiếng Việt thông thạo, lúc nào cũng nhớ mình là người có dòng máu Việt Nam, muôn đời cũng phải nói tiếng Việt thông thạo, dù họ sinh ra và lớn lên ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới.

          Người trẻ học giỏi, giỏi toán, giỏi sinh ngữ, giỏi khoa học. Người trẻ làm khoa học gia chế tạo phi thuyền lên cung trăng cũng chưa đủ, hãy hãnh diện mình là người Việt Nam có hơn 4000 năm văn hiến. Ông cha của mình đã đánh đuổi quân Tàu về nước của họ. Người trẻ hãy tranh đấu cho Việt Nam thật sự có Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Bảo Toàn Lãnh Thổ, Lãnh Hải.

          Người trẻ Việt Nam hãy cầu nguyện cho Việt Nam thoát khỏi sự ảnh hưởng của Tàu Cộng, để cho người dân Việt Nam có cơ hội học hỏi không ngừng, phát triển kinh tế mạnh mẽ như các quốc gia trên thế giới.

          Người lớn tuổi hãnh diện về thế hệ trẻ, những ước mơ của thế hệ trước chưa thành thì hy vọng vào thế hệ trẻ nối bước ông cha làm nên sự nghiệp. Người Âu Châu di dân sang Hoa Kỳ thuở khai sơ đâu có ai giàu, nhưng một thời gian sau thì họ rất thành công, giàu cả dòng họ, nắm chánh quyền cả dòng họ, hết đời này đến đời khác. Quý vị nhìn đi dòng họ giàu nhất hiện nay ở Hoa Kỳ từ đâu đến? Họ từ Âu Châu. Họ giàu từ đời này đến đời khác, họ làm chủ ngân hàng, làm chủ đất đai, khu mua sắm và Hollywood, v.v.

          Ở Mỹ, người giàu thì giàu thêm. Ông cha giàu, con cháu giàu và mãi mãi giàu. Người di dân đến từ Âu Châu giàu được thì tại sao người đến từ Việt Nam không giàu chứ? Hiện nay có 9 tỷ phú người Mỹ gốc Việt Nam.  Người Việt Nam giàu vẫn làm từ thiện ở khắp nơi, nhất là ở Việt Nam, giúp người nghèo, trẻ con mồ côi, người cùi, v.v.

          Người Việt Nam giàu hay nghèo vẫn làm việc từ thiện, vẫn đóng góp cho xã hội mà họ đang định cư và giúp cho bà con của họ ở quê nhà đang đói rách. Giúp ai được việc gì thì giúp, người Việt Nam hào phóng thích giúp đỡ người khác, giúp người và giúp đời.

Người trẻ Việt Nam ở Mỹ được tiếp cận với nền tri thức hàng đầu Thế Giới, những tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng trong việc giảng dạy và học tập

          Người trẻ Việt Nam định cư ở hải ngoại sống lạc quan vì may mắn hơn người trẻ trong nước. Ở đây, họ muốn đi đâu thì đi, không sợ hãi, miễn là đừng làm việc gì bất hợp pháp. Muốn nói, muốn viết những gì mình suy nghĩ thì cứ thực hành theo nguyện vọng của mình. Tôi thương những người có lý tưởng ở Việt Nam. Họ viết lên những tâm tư của mình về Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Bảo Toàn Lãnh Thổ, Lãnh Hải thì bị bắt bớ, bị giam cầm, bị hành hạ. Đời sống của tuổi trẻ Việt Nam không có tương lai. Ngay cả những người tốt nghiệp đại học không có công ăn việc làm phải đi lao động ở nước ngoài.

          Những kỷ niệm đáng nhớ của tôi là tham dự hội nghị quốc tế ở các nước Bắc Âu và Á Châu. Khi dự hội nghị ở Á Châu, tôi thường thức rất khuya để nói chuyện với các người trẻ Việt Nam đến từ Việt Nam. Họ đi từ Thái Lan, Singapore, Hồng Kông, Úc, v.v. rồi từ đó mới đến Mã Lai. Nhưng than ơi, khi họ về đến Việt Nam thì bị giữ lại để hỏi cung, và sau này họ không được xuất ngoại nữa.

Kiều Mỹ Duyên trò chuyện với các sinh viên tham d Đại Hội Thanh Niên SinhViên Kỳ VI Mã Lai (6/1/2008)

          Có những người trẻ đi xe đò đến Cambodia, rồi từ đó đi dự hội nghị ở các nước khác. Tôi thương những người trẻ này, họ rất nhiệt huyết, có lòng với đất nước. Họ mong cho đất nước khá hơn.

          Có những người trẻ từ Mỹ đi đến Thượng Hải với phái đoàn từ thiện quốc tế, sau đó đến Việt Nam bằng xe đò, vì qua biên giới không đòi hộ chiếu. Người quyết tâm thì làm gì cũng được, còn là sinh viên bầu nhiệt huyết mạnh mẽ lắm.

          Hỡi tuổi trẻ Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới hãy luôn luôn hướng về Việt Nam, hãy làm việc gì cho một Việt Nam phú cường. Ông cha mình đã từng đánh đuổi quân xâm lược Tàu về nước Tàu thì người trẻ Việt Nam sẽ làm được những gì mà ông cha mình đã làm để giữ vững bờ cõi nước Việt Nam.

Hy vọng nước Việt Nam sẽ phú cường, giàu mạnh, có Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền

          Hỡi hồn thiêng của các chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ Quốc phù hộ cho người trong nước và người hải ngoại đoàn kết, thương yêu nhau, đùm bọc nhau để giữ nước, đừng để kẻ thù xâm chiếm nước ta bằng văn hóa hay bằng kinh tế.

          Hy vọng nước Việt Nam sẽ phú cường, giàu mạnh để đồng bào Việt Nam đừng khốn khổ, đừng đi làm lao động ở xứ người. Mong những người trẻ du học trở về cứu nước và giúp nước.

          Gặp những người trẻ Việt Nam khắp nơi trong các cuộc biểu tình đòi Nhân Quyền cho Việt Nam, trong các cuộc hội thảo quốc tế, trong các buổi cắm trại hè, các em từ 13, 14 tuổi trở lên, tôi có niềm tin người trẻ Việt Nam ở hải ngoại sẽ có chỗ đứng với các quốc gia trên thế giới, vì họ được ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo huấn luyện một cách tận tình để trở thành những nhà lãnh đạo thế giới.

Các sĩ quan người Mỹ gốc Việt trong Quân Lực Hoa Kỳ, gồm cấp Tướng, cấp Tá và cấp Úy, tại đại hội ở Anaheim.

          Ngày xưa khi chúng tôi đến nước Mỹ chưa có các đoàn thể, vì mọi người ở xa nhau. Sau này mới thành lập nhiều đoàn thể, hội đoàn, cộng đoàn sinh hoạt chung với nhau. Tổ chức ngày 30 tháng 4 mấy chục ngàn người tham dự, cờ vàng ba sọc đỏ rực rỡ cả một khu phố. Little Saigon được thành lập. Nhiều chùa của người Việt Nam, các nhà thờ Việt có Linh Mục là người Việt Nam, Thánh Thất Cao Đài, Hòa Hảo, trụ sở Phật Giáo được thành hình. Chợ, quán ăn, cơ sở thương mại được thành lập. Đi khắp nơi đều thấy bảng hiệu cơ sở thương mại bằng tiếng Việt.

          Đồng hương ở khắp nơi, từ những làng quê hẻo lánh đến Orange County thăm Little Saigon. Ở đây, sách cũ sách mới được in thường xuyên, nhạc không thiếu một đĩa nào từ xưa, và những ca sĩ nổi danh đều về Little Saigon để có cơ hội hát cho đồng bào thưởng thức.

20210219_123819 (1).jpg

Kiều Mỹ Duyên bên 2 người trẻ lớn lên ở Mỹ tại võ đường Aikido, Westminster của võ sư Đặng Thông Phong. Các em đủ tài, trí, lực và nhiệt huyết để phát triển cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại

          Tuổi trẻ Việt Nam là tương lai, là hy vọng của cộng đồng, của đất nước. Người già sẽ ra đi, người trẻ tiếp tục thay thế ông cha của mình làm nên đại sự.

          30 tháng 4 năm nay, nhìn về tương lai, tôi có niềm tin tuổi trẻ Việt Nam sẽ làm nên đại sự, sẽ chung tay góp sức để Việt Nam thật sự có Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Bảo Toàn Lãnh Thổ, Lãnh Hải.

          Xin hồn thiêng sông núi và các chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ Quốc phù hộ cho tất cả đồng bào Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại, thương yêu, đùm bọc nhau để thực hiện lý tưởng của mình.

Orange County, 21/4/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)




Ngã Văn: TÙY CẢM HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG – Kiều Mỹ Duyên

Bài của Ngã Văn

Lễ Phục Sinh, Hill, 2021

          Làm người, không có gì hào sảng hơn, là được sinh tử với những gì mình hằng mong sinh tử cùng. Làm phóng viên, không có gì cảm hứng hơn là được thành nhân chứng của những nhân chứng và sự kiện. Cả hai nguyện ước, đời và nghề, đã làm nên một miền hoa cỏ có tên gọi là Kiều Mỹ Duyên. a

          Nói là miền bởi trong các tác phẩm dung dị viết ra như không ấy lại nặng trĩu tình người, tình quê hương, và tình nhân loại như là bản nhiên hiện sinh trong góc nhìn báo chí sôi động như lời của tác giả, “Tôi không viết truyện mơ mộng lên cung trăng, tôi viết về người thật việc thật, viết hoài không hết, cần gì bay lên Trời, hay bay lên cung Trăng thăm chị Hằng. Tôi sống thật, thương thì nói là thương, ghét ai thì im, không nói ghét, vì người nào cũng có điểm dễ thương của họ. Họ không thích mình tại vì mình không khéo léo, thế thôi.” Thế thôi- tối giản nên chứa đựng can trường như kẻ đi vào bát phong thị phi mà chẳng ngại ngần.

          Trong Chinh Chiến Điêu Linh, Kiều Mỹ Duyên tuyên từ, “chiến trận đối với người phóng viên chiến trường cũng tựa như ánh đèn sân khấu đối với người nghệ sĩ.” Đó quả nhiên là duyên khởi của một nghiệp nữ nhưng chí trượng phu vác bút xông pha chinh chiến trên bốn vùng chiến thuật, được sống với cái chết và được chết với đau thương trong tận cùng giới hạn của bi thảm binh lửa. Âu đó cũng là cái phúc can đảm đời người. Người phóng viên, với kỹ năng làm báo và sự may mắn, có thể trở thành ký giả xuất sắc nhưng nếu không duyên trì tự tính, ắt rằng khó có thể được cửa mở ra với mọi tấm lòng dù hao mòn vân tay gõ. Bút lực và nhãn quan tận hiến, Kiều Mỹ Duyên tiếp cận và đối thoại với mọi đối tượng để chuyển tải thông tin và kể lại những câu chuyện chính sự cũng như bên lề để phụng sự độc giả và khán thính giả. Đa dạng nhưng chẳng hề phân tán, Kiều Mỹ Duyên đi sâu khai thác vào bốn đề tài trở thành máu thịt: Hoạt động tôn giáo, Chính trị Việt Nam, Tri ân chiến hữu chiến sĩ, và Tình tương thân, tương ái cộng đồng vô phân biệt trong và ngoài nước.

          Lòng thành, Kiều Mỹ Duyên kết nối mọi tấm tình

          Hoa Cỏ Bên Đường cho người đọc được gặp gỡ với bao nhiêu phẩm hạnh đa dạng từ các vị ngôi trên tôn giáo, nhà chính trị lừng danh thế giới cho đến những thân phận con đỏ, con đen xứ Việt và ngoài xứ Việt. Mọi nhân vật hiện ra, dù khác biệt đức tin hay chính kiến, đều bình đẳng trong con chữ mộc mạc chân thành với những hoài bão về một đất nước Việt Nam hạnh phúc và hòa bình, Dân Chủ và Tự Do, một cộng đồng Việt hải ngoại mạnh mẽ và có tiếng nói trong không gian chính trị, tôn giáo, và văn hóa của Hoa Kỳ nói riêng và thế giới.

          Niềm thiêng ấy hiện ra trong từng con chữ tràn đầy tự hào và khát vọng khi Kiều Mỹ Duyên viết về những vị chức sắc tôn giáo cao hạnh như “hai viên ngọc kim cương của Phật Giáo Việt Nam” là Thiền Sư- Thi sĩ Tuệ Sỹ và Thiền Sư- Triết Gia Lê Mạnh Thát. Kiều Mỹ Duyên duyên phước được gặp và viết về Hòa Thượng Thích Tâm Châu, vị cao tăng “ kiến thức uyên thâm, đi khắp nơi thế giới hoằng pháp” và không ngơi nghỉ tranh đấu cho một Việt Nam tự do lạc phúc. Kiều Mỹ Duyên là nữ “nang-pa- người ở trong” cõi Phật nhưng thiện tính, chị cũng trong lành một tâm hồn dâng Chúa. Kiều Mỹ Duyên dành sự tri ơn với Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, và Linh Mục Anthony Đào Quang Chính. Linh thể phụng sự Chúa, vị cha chánh xứ của nhà thờ Saint Catherine of Alexandria, Temecula, California và Hạt Trưởng hạt Hemet, Giáo Phận San Bernadio, hiếu thảo nhường một phần cơ thể mình để duy trì sự sống của thân phụ. Đạo và đời, tình yêu thương và trí tuệ uyên bác tương giao đã làm nên chân dung Linh Mục Anthony Đào Quang Chính, một vị Linh Mục từ tâm tương liên văn hóa mang trong mình dòng máu Việt.

          Quê hương Việt Nam cồn cào ngòi bút của Kiều Mỹ Duyên.

          Kể cả khi phỏng vấn các nhà chính trị hay học giả phương tây, Kiều Mỹ Duyên trước sau cũng trọng tâm hướng về nước Việt và con người Việt. Trong câu chuyện với cựu tổng tống Liên Bang Xô Viết Mikhail Sergeyvich Gorbachyov, Kiều Mỹ Duyên cũng không quên đặt vấn đề trực diện về Tự Do và Dân Chủ của Việt Nam. “Bao giờ Trung Quốc có Tự Do thì Việt Nam có Tự Do.” Câu trả lời ngắn gọn mà thấu suốt lịch sử thăng trầm của hai nước Việt- Trung nói lên tầm vóc của một chính trị gia- một nhân vật lịch sử góp phần làm tan băng chiến tranh lạnh- thật đáng để cho các sử gia cũng như người Việt suy ngẫm về thế sự dân tộc từ góc nhìn quan hệ quốc tế đa chiều. Tôi mong một ngày nào đó, Kiều Mỹ Duyên sẽ giới thiệu đầy đủ với bạn đọc tất cả những cuộc phỏng vấn của chị bởi đó là tư liệu sử và báo chí đáng quý.

          Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”

          Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam là mảnh đất của máu và nước mắt nhưng cũng là vùng đất thơ mộng và kiêu hùng của những Thiên Thần Mũ Nâu không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng “nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”

          Đó là lời chứng của một con người đi qua cuộc chiến, mang quá khứ vào hiện tại để nuôi nấng tương lai.

          Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam Chinh Chiến Điêu Linh máu và nước mắt không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng với mỗi lần tôi nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”

          Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với những thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”

          Dòng máu giúp người thương đời của bậc phụ mẫu gieo mầm và nảy nở làm nên tâm hồn đa cảm nhưng không thiếu sự quyết liệt dấn thân vào những chuyến đi, những câu chuyện, những thân phận khác lạ những chẳng hề xa lạ trong đời sống như Kiều Mỹ Duyên tâm tình, rằng: Cha Mẹ nào cũng có nhiều đề tài để con cháu viết truyện viết sách. Mẹ tôi cũng vậy, sự mộc mạc chất phác của Mẹ tôi, tình thương người của Mẹ tôi cũng đủ để tôi viết dài dài. Để viết “dài dài” về một biến cố lịch sử không khó nhưng viết dài dài về một “sự mộc mạc” là không hề dễ dàng. Bằng nụ cười hồn nhiên, bằng nước mắt chia sẻ, chị biến bao nhiêu sự mộc mạc thành phẩm hạnh đời sống chị sống cùng và sống trong nó từng hơi thở.

          Mưu sinh thời công nghệ, thời gian dường như ngày càng ngắn lại trong khi con người bận rộn hơn vì vậy tình yêu thương và sự chia sẻ cũng theo đó mà hư hao. Hoa Cỏ Bên Đường, với sự mộc mạc của mình, thức tỉnh lương tâm: “Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm.Thương người, đây là giá trị tinh thần quan trọng lắm… Thương người nên cho họ những gì thuộc về tinh thần: một lời cầu nguyện chân thành, những nụ cười hiền lành, tiếng cười giòn tan.”

          Vậy thì có gì đâu mà chần chừ, 24 giờ dẫu bộn bề, chúng ta hãy cho nhau thời gian, dành chút chia sẻ với những khúc tâm tình Hoa Cỏ Bên Đường của Kiều Mỹ Duyên.

          Bởi, có được một tiếng cười giòn tan đâu phải là niềm hạnh phúc chúng ta dành cho người mà còn cho chính bản thân chúng ta.

Bài của Ngã Văn

Lễ Phục Sinh, Hill, 2021

TÙY CẢ

TÙY CẢM HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG KIỀU MỸ DUYÊN

Bài của Ngã Văn

Lễ Phục Sinh, Hill, 2021

          Làm người, không có gì hào sảng hơn, là được sinh tử với những gì mình hằng mong sinh tử cùng. Làm phóng viên, không có gì cảm hứng hơn là được thành nhân chứng của những nhân chứng và sự kiện. Cả hai nguyện ước, đời và nghề, đã làm nên một miền hoa cỏ có tên gọi là Kiều Mỹ Duyên. a

          Nói là miền bởi trong các tác phẩm dung dị viết ra như không ấy lại nặng trĩu tình người, tình quê hương, và tình nhân loại như là bản nhiên hiện sinh trong góc nhìn báo chí sôi động như lời của tác giả, “Tôi không viết truyện mơ mộng lên cung trăng, tôi viết về người thật việc thật, viết hoài không hết, cần gì bay lên Trời, hay bay lên cung Trăng thăm chị Hằng. Tôi sống thật, thương thì nói là thương, ghét ai thì im, không nói ghét, vì người nào cũng có điểm dễ thương của họ. Họ không thích mình tại vì mình không khéo léo, thế thôi.” Thế thôi- tối giản nên chứa đựng can trường như kẻ đi vào bát phong thị phi mà chẳng ngại ngần.

          Trong Chinh Chiến Điêu Linh, Kiều Mỹ Duyên tuyên từ, “chiến trận đối với người phóng viên chiến trường cũng tựa như ánh đèn sân khấu đối với người nghệ sĩ.” Đó quả nhiên là duyên khởi của một nghiệp nữ nhưng chí trượng phu vác bút xông pha chinh chiến trên bốn vùng chiến thuật, được sống với cái chết và được chết với đau thương trong tận cùng giới hạn của bi thảm binh lửa. Âu đó cũng là cái phúc can đảm đời người. Người phóng viên, với kỹ năng làm báo và sự may mắn, có thể trở thành ký giả xuất sắc nhưng nếu không duyên trì tự tính, ắt rằng khó có thể được cửa mở ra với mọi tấm lòng dù hao mòn vân tay gõ. Bút lực và nhãn quan tận hiến, Kiều Mỹ Duyên tiếp cận và đối thoại với mọi đối tượng để chuyển tải thông tin và kể lại những câu chuyện chính sự cũng như bên lề để phụng sự độc giả và khán thính giả. Đa dạng nhưng chẳng hề phân tán, Kiều Mỹ Duyên đi sâu khai thác vào bốn đề tài trở thành máu thịt: Hoạt động tôn giáo, Chính trị Việt Nam, Tri ân chiến hữu chiến sĩ, và Tình tương thân, tương ái cộng đồng vô phân biệt trong và ngoài nước.

          Lòng thành, Kiều Mỹ Duyên kết nối mọi tấm tình

          Hoa Cỏ Bên Đường cho người đọc được gặp gỡ với bao nhiêu phẩm hạnh đa dạng từ các vị ngôi trên tôn giáo, nhà chính trị lừng danh thế giới cho đến những thân phận con đỏ, con đen xứ Việt và ngoài xứ Việt. Mọi nhân vật hiện ra, dù khác biệt đức tin hay chính kiến, đều bình đẳng trong con chữ mộc mạc chân thành với những hoài bão về một đất nước Việt Nam hạnh phúc và hòa bình, Dân Chủ và Tự Do, một cộng đồng Việt hải ngoại mạnh mẽ và có tiếng nói trong không gian chính trị, tôn giáo, và văn hóa của Hoa Kỳ nói riêng và thế giới.

          Niềm thiêng ấy hiện ra trong từng con chữ tràn đầy tự hào và khát vọng khi Kiều Mỹ Duyên viết về những vị chức sắc tôn giáo cao hạnh như “hai viên ngọc kim cương của Phật Giáo Việt Nam” là Thiền Sư- Thi sĩ Tuệ Sỹ và Thiền Sư- Triết Gia Lê Mạnh Thát. Kiều Mỹ Duyên duyên phước được gặp và viết về Hòa Thượng Thích Tâm Châu, vị cao tăng “ kiến thức uyên thâm, đi khắp nơi thế giới hoằng pháp” và không ngơi nghỉ tranh đấu cho một Việt Nam tự do lạc phúc. Kiều Mỹ Duyên là nữ “nang-pa- người ở trong” cõi Phật nhưng thiện tính, chị cũng trong lành một tâm hồn dâng Chúa. Kiều Mỹ Duyên dành sự tri ơn với Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, và Linh Mục Anthony Đào Quang Chính. Linh thể phụng sự Chúa, vị cha chánh xứ của nhà thờ Saint Catherine of Alexandria, Temecula, California và Hạt Trưởng hạt Hemet, Giáo Phận San Bernadio, hiếu thảo nhường một phần cơ thể mình để duy trì sự sống của thân phụ. Đạo và đời, tình yêu thương và trí tuệ uyên bác tương giao đã làm nên chân dung Linh Mục Anthony Đào Quang Chính, một vị Linh Mục từ tâm tương liên văn hóa mang trong mình dòng máu Việt.

          Quê hương Việt Nam cồn cào ngòi bút của Kiều Mỹ Duyên.

          Kể cả khi phỏng vấn các nhà chính trị hay học giả phương tây, Kiều Mỹ Duyên trước sau cũng trọng tâm hướng về nước Việt và con người Việt. Trong câu chuyện với cựu tổng tống Liên Bang Xô Viết Mikhail Sergeyvich Gorbachyov, Kiều Mỹ Duyên cũng không quên đặt vấn đề trực diện về Tự Do và Dân Chủ của Việt Nam. “Bao giờ Trung Quốc có Tự Do thì Việt Nam có Tự Do.” Câu trả lời ngắn gọn mà thấu suốt lịch sử thăng trầm của hai nước Việt- Trung nói lên tầm vóc của một chính trị gia- một nhân vật lịch sử góp phần làm tan băng chiến tranh lạnh- thật đáng để cho các sử gia cũng như người Việt suy ngẫm về thế sự dân tộc từ góc nhìn quan hệ quốc tế đa chiều. Tôi mong một ngày nào đó, Kiều Mỹ Duyên sẽ giới thiệu đầy đủ với bạn đọc tất cả những cuộc phỏng vấn của chị bởi đó là tư liệu sử và báo chí đáng quý.

          Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”

          Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam là mảnh đất của máu và nước mắt nhưng cũng là vùng đất thơ mộng và kiêu hùng của những Thiên Thần Mũ Nâu không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng “nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”

          Đó là lời chứng của một con người đi qua cuộc chiến, mang quá khứ vào hiện tại để nuôi nấng tương lai.

          Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam Chinh Chiến Điêu Linh máu và nước mắt không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng với mỗi lần tôi nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”

          Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với những thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”

          Dòng máu giúp người thương đời của bậc phụ mẫu gieo mầm và nảy nở làm nên tâm hồn đa cảm nhưng không thiếu sự quyết liệt dấn thân vào những chuyến đi, những câu chuyện, những thân phận khác lạ những chẳng hề xa lạ trong đời sống như Kiều Mỹ Duyên tâm tình, rằng: Cha Mẹ nào cũng có nhiều đề tài để con cháu viết truyện viết sách. Mẹ tôi cũng vậy, sự mộc mạc chất phác của Mẹ tôi, tình thương người của Mẹ tôi cũng đủ để tôi viết dài dài. Để viết “dài dài” về một biến cố lịch sử không khó nhưng viết dài dài về một “sự mộc mạc” là không hề dễ dàng. Bằng nụ cười hồn nhiên, bằng nước mắt chia sẻ, chị biến bao nhiêu sự mộc mạc thành phẩm hạnh đời sống chị sống cùng và sống trong nó từng hơi thở.

          Mưu sinh thời công nghệ, thời gian dường như ngày càng ngắn lại trong khi con người bận rộn hơn vì vậy tình yêu thương và sự chia sẻ cũng theo đó mà hư hao. Hoa Cỏ Bên Đường, với sự mộc mạc của mình, thức tỉnh lương tâm: “Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm.Thương người, đây là giá trị tinh thần quan trọng lắm… Thương người nên cho họ những gì thuộc về tinh thần: một lời cầu nguyện chân thành, những nụ cười hiền lành, tiếng cười giòn tan.”

          Vậy thì có gì đâu mà chần chừ, 24 giờ dẫu bộn bề, chúng ta hãy cho nhau thời gian, dành chút chia sẻ với những khúc tâm tình Hoa Cỏ Bên Đường của Kiều Mỹ Duyên.

          Bởi, có được một tiếng cười giòn tan đâu phải là niềm hạnh phúc chúng ta dành cho người mà còn cho chính bản thân chúng ta.

Bài của Ngã Văn

Lễ Phục Sinh, Hill, 2021

M HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG KIỀU MỸ DUYÊN

Bài của Ngã Văn

Lễ Phục Sinh, Hill, 2021

          Làm người, không có gì hào sảng hơn, là được sinh tử với những gì mình hằng mong sinh tử cùng. Làm phóng viên, không có gì cảm hứng hơn là được thành nhân chứng của những nhân chứng và sự kiện. Cả hai nguyện ước, đời và nghề, đã làm nên một miền hoa cỏ có tên gọi là Kiều Mỹ Duyên. a

          Nói là miền bởi trong các tác phẩm dung dị viết ra như không ấy lại nặng trĩu tình người, tình quê hương, và tình nhân loại như là bản nhiên hiện sinh trong góc nhìn báo chí sôi động như lời của tác giả, “Tôi không viết truyện mơ mộng lên cung trăng, tôi viết về người thật việc thật, viết hoài không hết, cần gì bay lên Trời, hay bay lên cung Trăng thăm chị Hằng. Tôi sống thật, thương thì nói là thương, ghét ai thì im, không nói ghét, vì người nào cũng có điểm dễ thương của họ. Họ không thích mình tại vì mình không khéo léo, thế thôi.” Thế thôi- tối giản nên chứa đựng can trường như kẻ đi vào bát phong thị phi mà chẳng ngại ngần.

          Trong Chinh Chiến Điêu Linh, Kiều Mỹ Duyên tuyên từ, “chiến trận đối với người phóng viên chiến trường cũng tựa như ánh đèn sân khấu đối với người nghệ sĩ.” Đó quả nhiên là duyên khởi của một nghiệp nữ nhưng chí trượng phu vác bút xông pha chinh chiến trên bốn vùng chiến thuật, được sống với cái chết và được chết với đau thương trong tận cùng giới hạn của bi thảm binh lửa. Âu đó cũng là cái phúc can đảm đời người. Người phóng viên, với kỹ năng làm báo và sự may mắn, có thể trở thành ký giả xuất sắc nhưng nếu không duyên trì tự tính, ắt rằng khó có thể được cửa mở ra với mọi tấm lòng dù hao mòn vân tay gõ. Bút lực và nhãn quan tận hiến, Kiều Mỹ Duyên tiếp cận và đối thoại với mọi đối tượng để chuyển tải thông tin và kể lại những câu chuyện chính sự cũng như bên lề để phụng sự độc giả và khán thính giả. Đa dạng nhưng chẳng hề phân tán, Kiều Mỹ Duyên đi sâu khai thác vào bốn đề tài trở thành máu thịt: Hoạt động tôn giáo, Chính trị Việt Nam, Tri ân chiến hữu chiến sĩ, và Tình tương thân, tương ái cộng đồng vô phân biệt trong và ngoài nước.

          Lòng thành, Kiều Mỹ Duyên kết nối mọi tấm tình

          Hoa Cỏ Bên Đường cho người đọc được gặp gỡ với bao nhiêu phẩm hạnh đa dạng từ các vị ngôi trên tôn giáo, nhà chính trị lừng danh thế giới cho đến những thân phận con đỏ, con đen xứ Việt và ngoài xứ Việt. Mọi nhân vật hiện ra, dù khác biệt đức tin hay chính kiến, đều bình đẳng trong con chữ mộc mạc chân thành với những hoài bão về một đất nước Việt Nam hạnh phúc và hòa bình, Dân Chủ và Tự Do, một cộng đồng Việt hải ngoại mạnh mẽ và có tiếng nói trong không gian chính trị, tôn giáo, và văn hóa của Hoa Kỳ nói riêng và thế giới.

          Niềm thiêng ấy hiện ra trong từng con chữ tràn đầy tự hào và khát vọng khi Kiều Mỹ Duyên viết về những vị chức sắc tôn giáo cao hạnh như “hai viên ngọc kim cương của Phật Giáo Việt Nam” là Thiền Sư- Thi sĩ Tuệ Sỹ và Thiền Sư- Triết Gia Lê Mạnh Thát. Kiều Mỹ Duyên duyên phước được gặp và viết về Hòa Thượng Thích Tâm Châu, vị cao tăng “ kiến thức uyên thâm, đi khắp nơi thế giới hoằng pháp” và không ngơi nghỉ tranh đấu cho một Việt Nam tự do lạc phúc. Kiều Mỹ Duyên là nữ “nang-pa- người ở trong” cõi Phật nhưng thiện tính, chị cũng trong lành một tâm hồn dâng Chúa. Kiều Mỹ Duyên dành sự tri ơn với Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, và Linh Mục Anthony Đào Quang Chính. Linh thể phụng sự Chúa, vị cha chánh xứ của nhà thờ Saint Catherine of Alexandria, Temecula, California và Hạt Trưởng hạt Hemet, Giáo Phận San Bernadio, hiếu thảo nhường một phần cơ thể mình để duy trì sự sống của thân phụ. Đạo và đời, tình yêu thương và trí tuệ uyên bác tương giao đã làm nên chân dung Linh Mục Anthony Đào Quang Chính, một vị Linh Mục từ tâm tương liên văn hóa mang trong mình dòng máu Việt.

          Quê hương Việt Nam cồn cào ngòi bút của Kiều Mỹ Duyên.

          Kể cả khi phỏng vấn các nhà chính trị hay học giả phương tây, Kiều Mỹ Duyên trước sau cũng trọng tâm hướng về nước Việt và con người Việt. Trong câu chuyện với cựu tổng tống Liên Bang Xô Viết Mikhail Sergeyvich Gorbachyov, Kiều Mỹ Duyên cũng không quên đặt vấn đề trực diện về Tự Do và Dân Chủ của Việt Nam. “Bao giờ Trung Quốc có Tự Do thì Việt Nam có Tự Do.” Câu trả lời ngắn gọn mà thấu suốt lịch sử thăng trầm của hai nước Việt- Trung nói lên tầm vóc của một chính trị gia- một nhân vật lịch sử góp phần làm tan băng chiến tranh lạnh- thật đáng để cho các sử gia cũng như người Việt suy ngẫm về thế sự dân tộc từ góc nhìn quan hệ quốc tế đa chiều. Tôi mong một ngày nào đó, Kiều Mỹ Duyên sẽ giới thiệu đầy đủ với bạn đọc tất cả những cuộc phỏng vấn của chị bởi đó là tư liệu sử và báo chí đáng quý.

          Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”

          Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam là mảnh đất của máu và nước mắt nhưng cũng là vùng đất thơ mộng và kiêu hùng của những Thiên Thần Mũ Nâu không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng “nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”

          Đó là lời chứng của một con người đi qua cuộc chiến, mang quá khứ vào hiện tại để nuôi nấng tương lai.

          Việt Nam yêu thương, Việt Nam đau thương, Việt Nam Chinh Chiến Điêu Linh máu và nước mắt không bao giờ vơi trong ký ức sống của mỗi người Việt. Mỗi con người là mỗi mảnh đất tha hương nhưng không rời bỏ quê hương. Người đọc có thể nghẹn lòng với mỗi lần tôi nghe tiếng nói đau đớn của các quả phụ tử sĩ, của cô nhi về người thân của họ, là tôi muốn khóc. Không ai quên những người đã chết. Họ vẫn còn sống đây với vợ con, cha mẹ. Họ vẫn còn sống ở đây với chiến hữu, đồng bào. Họ vĩnh viễn sống trong trái tim của những người thương mến họ. Hỡi vong linh các chiến sĩ oai hùng, xin phù hộ cho mọi người, nhất là đoàn hậu duệ, nối gót cha ông.”

          Lòng tự tôn dân tộc, sự tri ân và chia sẻ với những thế hệ đi trước, đặc biệt là với các cựu quân nhân và gia quyến chịu đựng khổ đau trước và sau 1975 là động lực khởi dậy những hoài bão của Kiều Mỹ Duyên về một cộng đồng Việt Nam “có chỗ đứng quan trọng trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị ở khắp nơi trên thế giới. Sự thành công của thế hệ thứ nhất và nhiều thế hệ sau này là niềm hãnh diện của người Việt Nam.”

          Dòng máu giúp người thương đời của bậc phụ mẫu gieo mầm và nảy nở làm nên tâm hồn đa cảm nhưng không thiếu sự quyết liệt dấn thân vào những chuyến đi, những câu chuyện, những thân phận khác lạ những chẳng hề xa lạ trong đời sống như Kiều Mỹ Duyên tâm tình, rằng: Cha Mẹ nào cũng có nhiều đề tài để con cháu viết truyện viết sách. Mẹ tôi cũng vậy, sự mộc mạc chất phác của Mẹ tôi, tình thương người của Mẹ tôi cũng đủ để tôi viết dài dài. Để viết “dài dài” về một biến cố lịch sử không khó nhưng viết dài dài về một “sự mộc mạc” là không hề dễ dàng. Bằng nụ cười hồn nhiên, bằng nước mắt chia sẻ, chị biến bao nhiêu sự mộc mạc thành phẩm hạnh đời sống chị sống cùng và sống trong nó từng hơi thở.

          Mưu sinh thời công nghệ, thời gian dường như ngày càng ngắn lại trong khi con người bận rộn hơn vì vậy tình yêu thương và sự chia sẻ cũng theo đó mà hư hao. Hoa Cỏ Bên Đường, với sự mộc mạc của mình, thức tỉnh lương tâm: “Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm.Thương người, đây là giá trị tinh thần quan trọng lắm… Thương người nên cho họ những gì thuộc về tinh thần: một lời cầu nguyện chân thành, những nụ cười hiền lành, tiếng cười giòn tan.”

          Vậy thì có gì đâu mà chần chừ, 24 giờ dẫu bộn bề, chúng ta hãy cho nhau thời gian, dành chút chia sẻ với những khúc tâm tình Hoa Cỏ Bên Đường của Kiều Mỹ Duyên.

          Bởi, có được một tiếng cười giòn tan đâu phải là niềm hạnh phúc chúng ta dành cho người mà còn cho chính bản thân chúng ta.

Bài của Ngã Văn

Lễ Phục Sinh, Hill, 2021




HÔM NAY: Mừng Ngày Trái Đất! Lê Văn Hải

MỪNG NGÀY TRÁI ĐẤT
(Cảm tác từ bài viết “Hôm Nay: Mừng Ngày Trái Đất!” Của chủ tịch VTLV Lê Văn Hả
i)

*

Mừng ngày TRÁI ĐẤT hôm nay
Hăm Hai Tháng 4, EARTH DAY toàn cầu
Loài người bốn bể năm châu
Cùng nhau bắt một nhịp cầu thương yêu
Giữ gìn trái đất mỹ miều
Ngôi nhà nhân loại thoát điều hiểm nguy
Nếu không bảo vệ duy trì
Nguồn năng lượng sạch lấy gì nuôi ta
Địa cầu sức nóng vượt xa
Khả năng tai họa gây ra ngút trời
“Chiến Dịch Thế Hệ Xanh” mời
Nơi nơi chung sức, người người chung tay
Trồng cây, tiết kiệm nước ngay!
Dùng năng lượng sạch, rác thay “Circle!”
Phá rừng, khai quặng, nhựa thô,
Nilon, túi gói, thay vô giấy thường
Giúp cho trái đất miên trường
Hành tinh xanh đúng thiên đường thế gian
Sống vui, sống thọ, hân hoan 
Vòng quay trái đất vững vàng thiên thu…

Phương Hoa – APR 22nd 2021

trai dat mot final.jpg

Hôm Nay: Mừng Ngày Trái Đất!

Hằng năm, Thứ Năm 22 tháng 4, nhiều nơi trên thế giới dành ngày này để mừng “Earth Day!” (Ngày Trái Đất).

Ý nghĩa “Ngày Trái Đất” 

“Ngày Trái Đất” là ngày được dành ra hằng năm, để nhận thức về môi trường, nơi mà loài người sinh sống. Thứ đến, nhằm nhắc nhở mọi người ý thức bảo vệ và duy trì “ngôi nhà trái đất,” nơi độc nhất cư ngụ của tất cả con người.“Ngày Trái Đất” được cử hành vào 22 tháng Tư hằng năm, trên 40 năm nay. Ý niệm lập ra “Earth Day” do Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ, Gaylord Nelson đề xướng vào năm 1970, với mục đích tiến tới một môi trường sạch, lành mạnh cho cuộc sống.

Từ năm 2000, bước sang thiên niên kỷ mới 21, “Ngày Trái đất” mở thêm chiến dịch rộng rãi, đối phó với hiện tượng địa cầu ấm, hay nóng dần lên, (gây biết bao nhiêu tai họa) và thúc đẩy việc xử dụng năng lượng sạch.Có trên 5000 nhóm hoạt động cho môi trường tham gia, đưa thông điệp tới hàng tỉ người đến 184 quốc gia. Ngày này, càng ngày càng nhiều nước công nhận và tham gia.

Góp tay vào “Chiến Dịch Thế hệ Xanh,” cùng nhau tô mầu cho trái đất xanh trở lại, (trồng cây, không phá rừng) giữ trái đất sạch, tránh xả rác, để trái đất còn có… chỗ thở!

Không chung tay gìn giữ, con người không còn chỗ cư ngụ, trong thời gian chưa kiếm được một hành tinh nào khác, có điều kiện sống như trái đất!Nên tất cả chúng ta đều phải nhận thức rằng: Chung tay giữ trái đất sạch, là trách nhiệm tất cả mọi người!

Quan niệm “kho Trời vô tận!” muôn đời xài không bao giờ hết! không còn thích hợp nữa. SOS! Báo động đỏ, con người đã xài gần hết rồi! Trái đất sắp sửa cạn kiệt!

Nếu con người không biết giữ gìn, bảo vệ, chỉ có 2 nơi con người phải chọn trước mắt để ở mà thôi: Thiên đàng hay Hỏa Ngục!Mừng Ngày Trái Đất mang ý nghĩa “cảnh cáo” dễ sợ, không thể giỡn chơi này.

Happy Eath Day 2021!

Lê Văn Hải

trai dat ba final.jpg




THƠ TÌNH NGHĨA ANH EM – TRƯỜNG GIANG Giới Thiệu

TÌNH NGHĨA ANH EM

*

Bài thơ này do Cụ ĐẶNG VĂN KHÔI (Môn sinh của Tam Nguyên YÊN ĐỔ NGUYỄN KHUYẾN) cũng là Thân Phụ của Nhà Thơ TRƯỜNG GIANG sưu tập chép trong cuốn VẠN BẢO QUỐC ÂM CHÂN KINH truyền lại.

Vì thấy Bài Thơ có giá trị Giáo-dục tốt, Trường Giang xin phổ biến đến Quý Vị khắp nơi để có thêm tài liệu giáo dục cho các thế hệ trẻ tuổi trong tương lai.

Chân thành cảm tạ)

Trường Giang

*

THƠ ĐƯỜNG LUẬT

*

Sau trước cùng nhau khúc ruột già,

Chớ nên nấu thịt mượn nồi da.

Cành Kinh (a)  phải giữ cho xanh lá,

Thước vải (b) yêu nhau lựa đủ tà.

Những lúc ấm êm đành đã vậy,

Còn khi hoạn nạn nghĩ sao a ?

Anh em ăn ở nên hòa thuận,

Chớ để đau lòng đến mẹ cha…

*

THƠ LỤC BÁT

*

01/68- Anh em chính thực chân tay, (1)

Chân tay đau yếu thân nay hẳn là.

Cùng nhau một cửa sinh ra,

Cùng nhau con mẹ con cha khác gì.

Kể từ lúc bé tí ti,

Ăn, nô, chơi, ngủ, đứng, đi một đoàn.

Có khi thong thả thư nhàn,

Anh em sách vở chuyện bàn với nhau.

Có khi chơ quán chơi cầu,

10/68- Giắt tay anh trước, em sau nhạn hàng.(2)

Quý nhau như bạc, như vàng,

Tình thêm thân ái, nghĩa càng thủy chung (3)

Đến khi đông vợ, đủ chồng,

Trách ai sao nỡ đem lòng đảo điên.(4)

Trúc kia khóm đã không liền,

Riêng nơi trưởng dục (5) riêng miền băng nha. (6)

Đến khi cha mẹ về già,

Anh em chẳng những không hòa lại tranh.

Anh rằng ruộng đất của anh,

20/68- Em rằng thóc cót, bạc giành của em.

Em rằng giở chúc thư (7) xem,

Anh rằng mặt chú mà xem được à ?

Nào là hương hỏa (8) phần ta,

Nào ta lo vệc mẹ cha đã nhiều.

Em rằng bác chỉ nói hươu, (9)

Nào đem cái sổ chi tiêu xem nào.

Anh rằng chú nói hay sao,

Này đây ỷ, khám (10) tôi giao chú thờ.

Thóc tiền chú hỏi bây giờ,

30/68- Trưởng nam (11) chú tính còn nhờ nỗi chi.

Em rằng bác nói thế thì,

Mẹ cha dễ chẳng có gì cho tôi.

Thôi thì thôi, thế thì thôi,

Bác nay chớ có trách tôi tệ tình.

Nó thôi em nghĩ bực mình,

Về nhà xui vợ tỏi hành rang ca. (12)

Làm cho anh rất xấu xa,

Rồi đem mảnh giấy đến Nha (13) kêu trình

Than ôi đã đến tụng đình, (14)

40/68- Thế là đoạn nghĩa, tuyệt tình anh em. (15)

41/68- Còn đâu máu chảy ruột mềm,

Còn đâu hạnh phúc ấm êm thuở nào.

Dù cho nước lã đầy ao, (16)

Không bằng một giọt máu đào cùng nôi. (16)

Vì ai máu trắng như vôi,

Gà cùng một mẹ liên hồi đá nhau. (17)

Lời xưa một ngựa ốm đau, (18)

Cả tầu chê cỏ là câu răn đời. (18)

Ghi lòng tạc dạ con ơi !

50/68- Muốn khôn thì phải nhớ lời mẹ cha.

Dẫu không cùng ở chung nhà,

Thương nhau vạn dặm đường xa cũng gần.

Phải nên nhớ chữ tương thân, (19)

Thăm nom khi ốm, đỡ đần lúc đau.

Nghèo thì con cá, lá rau,

Giàu thì yến tiệc cùng nhau chung bàn.

Một nhà thơm nức huệ lan, (20)

Anh trên, em dưới muôn vàn yêu thương.

Lời quê chắp nhặt nên chương,

60/68- Để cùng suy gẫm làm gương sau này.

Ngang trời chớ để ong bay, (21)

Kẻo rồi chuốc lấy đắng cay vào mình.

Chữ rằng đức tự duy hinh.(22)

Nghìn sau để lại cho mình tiếng khen.

Lời xưa gần mực thì đen,

Gần đèn thì rạng, phải nên để lòng..

Cùng chung huyết thống Tổ Tông,

68/68- Rách lành đùm bọc, gia phong (23) lưu truyền.

6/86     TRƯỜNG GIANG SƯU TẬP

GHI CHÚ : (Chỉ dành riêng cho giới trẻ VIỆT NAM sinh trưởng ở nước ngoài, không biết rành tiếng Việt.

(a)CÀNH KINH: Là một mẩu truyện. Truyện nói về anh em họ Điền trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ Đẳng kể rằng: “Cha mẹ để gia tài lại cho hai con. Khi anh em chia nhau đến vật cuối cùng là cây cổ thụ sau vườn thì cây này bị héo rủ. Người anh nghĩ rằng, anh em không đoàn kết với nhau, cũng chẳng khác gì cây cổ thụ bị khô héo trước khi anh em họ Điền chặt đổ để chia nhau. Vì vậy, quyết định không chia gia

tài và cùng ăn ở chung một nhà với nhau.”

(b) THƯỚC VẢI: Là một mẩu truyện Hai anh em mua được một số thước vải để may quần áo. Nếu chỉ may cho một mình anh thì số vải sẽ thừa nhưng số vải thừa này cũng không đủ để may cho em. Người anh quyết định may luôn quần áo cho cả hai anh em. Tuy quần áo bị ngắn nhưng cả hai anh em đều có, chứng tỏ anh em biết chia xẻ tình thương yêu, đùm bọc với nhau.

(1) CHÍNH THỰC CHÂN TAY: Hai chân và hai tay là một trong tứ chi của người ta. Nếu chân tay của anh hoặc em bị sứt mẻ, thương tật thì anh hoặc em cũng cảm thấy như chính mình bị đau đớn.

2) ANH TRƯỚC, EM SAU NHẠN HÀNG: Anh em quây quần bên nhau như đàn chim nhạn bay trên vòm trời, lúc nào cũng có một con đầu đàn hướng dẫn để khỏi lạc đàn. Cũng như anh em ruột thịt trong một gia đình, lúc nào cũng thương yêu, đùm bọc, lẫn nhau.

(3) THỦY là khởi đầu, CHUNG là kết thúc. Ý nói trước sau như một, không lúc nào thay đổi

4) TRÁCH AI SAO NỠ ĐEM LÒNG ĐẢO ĐIÊN: Anh em đang hòa thuận trở thành kình chống đánh lộn nhau. Thay đổi không cần gì đến lẽ phải

5) RIÊNG NƠI TRƯỞNG DỤC: Nơi sinh ra và lớn lên.

(6) RIÊNG MIỀN BĂNG NHA: Nơi được coi là chốn hợp quần của anh em, như răng với môi, đúng như câu tục ngữ của Việt Nam “MÔI HỞ RĂNG LẠNH”. Bỗng nhiên  kình chống nhau, mỗi người đi ở một nơi riêng biệt.

(7) CHÚC THƯ : Cuốn sách ghi chép lời cha mẹ viết trước khi chết để các con phải theo đúng lời trong sách đó mà thưc hiện ý định của người đã chết.

(8) HƯƠNG HỎA : Gia tài, của cải cha mẹ để lại cho con

(9) NÓI HƯƠU: Nói tào lao, nói bậy bạ không đúng sự thật.

(10) Ỷ KHÁM : Cái ngai nhỏ bằng gỗ để trên bàn thờ Tổ tiên.

(11) TRƯỞNG NAM: Con trai đầu lòng

(12) TỎI HÀNH RANG CA: Bêu riếu, làm nhục nhau.

(13) ĐEM MẢNH GIẤY ĐẾN NHA: Đem đơn kiện đến trụ sở nơi làm việc của người đứng đầu một địa phương (Huyện, Tỉnh)

14) TỤNG ĐÌNH: Xét xử việc kiện tụng của dân chúng tại Tòa Án

15) ĐOẠN NGHĨA TUYỆT TÌNH: Chấm dứt tình nghĩa giữa anh và em

16) NƯỚC LÃ ĐẦY AO: Do câu Tục ngữ : “Một giọt máu đào, hơn ao nước lã”. Ý nói tình anh em bao giờ cũng thân thiết hơn người ngoài.

(17) BÔI MẶT ĐÁ NHAU: Do câu Tục ngữ : “Gà nhà bôi mặt đá nhau”. Ý nói anh em cùng cha mẹ mà gây gổ, đánh lộn nhau là trái đạo làm người.

(18+19) MỘT NGỰA ĐÁ NHAU: Do câu Tục ngữ : “Một con ngựa đau, cả tầu chê cỏ”. Trong một lán nuôi ngựa, nếu có một con bị đau ốm thì những con khác cũng cảm thấy đau buồn, không chịu ăn cỏ. Trong tình anh em cũng vậy, nếu một trong các anh em trong nhà bị đau ốm thì những người khác đều cảm thấy đau buồn. Cùng thương yêu nhau.

(20) THƠM NỨC HUỆ LAN: Hoa huệ và hoa lan là hai loại hoa có mùi thơm. Ý nói, anh em thương yêu, đùm bọc nhau gây tiếng tốt cho mọi người noi theo.

(21) CHỚ ĐỂ ONG BAY: Ong là sinh vật nhỏ nhưng bay rất nhanh. Lời nói của người ta, dù xấu hay tốt cũng theo làn gió bay đi rất nhanh như con ong vậy.Ý nói, lời cha mẹ dạy, phải ghi nhớ trong lòng. Không nghe lời cha mẹ cũng chẳng khác gì lời nói bay theo làn gió thoảng.

(22) ĐỨC TỰ DUY HINH: : Đức độ của người ta tự nó tỏa ra mùi thơm. Ý nói người làm việc tốt lành,phúc đức thì mọi người đều biết.

(23) GIA PHONG : Phong cách, lề lối dạy dỗ của mỗi gia đình./.

Trường Giang




THƠ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG – Minh Thúy và Thơ Xướng Họa Cùng Phương Hoa & Thi Hữu

LỄ HÙNG VƯƠNG

(Thể Tam Điệp Thức)

*

Giỗ tổ Hùng Vương, giỗ tổ Hùng

Dưng trời nắng đẹp, đẹp trời dưng

Đền thờ thoả mãn, đền thờ thoả

Lễ hội mừng vui, lễ hội mừng

Nghẹn nhớ nguồn xưa, xưa nhớ nghẹn

Rưng buồn tích cũ, cũ buồn rưng

Tàu tham lấn biển , Tàu tham lấn

Tuổi trẻ ngừng sao, tuổi trẻ ngừng

              Minh Thuý(Thành Nội)

                 Tháng 4/20/2021

*

NHỚ ƠN QUỐC TỔ

(Tam điệp – họa bài Lễ Hùng Vương của Minh Thuý)

*

Quốc Tổ hùng anh, Quốc Tổ Hùng

Mồng Mười dưng lễ, Mồng Mười dưng

Tháng Ba giỗ lớn, tháng Ba giỗ

Tết Sửu mừng to, Tết Sửu mừng

Tâm cảm ái hoài, tâm cảm ái

Dạ sầu rưng tiếc, dạ sầu rưng

Thề noi giữ nước, thề noi giữ

Quyết chẳng ngừng đâu, quyết chẳng ngừng!

Phương Hoa – Ngày giỗ Quốc Tổ – Tháng Ba Âm Lịch, Tân Sửu 2021


GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

( hoạ bài thầy Đỗ chiêu Đức )

*

Lưu truyền xứ Bắc đất Thăng Long

Sử chép Hùng vương biểu tượng rồng

Đuổi giặc bao thời gìn núi, đất

Xua thù một thủa giữ non sông

Oai phong khí thế đồng chung dạ

Dũng cảm hiên ngang hợp góp lòng

Chữ S hình cong toàn nước Việt

Xin đừng để mất biển trời đông

           Minh Thuý (Thành Nội)

Tháng 4/18/2021


NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

        (Nhị khúc liên hoàn)

*

Xuân nồng tươi thắm rực màu hoa

Thời tiết dịu dàng đẹp Tháng Ba

Giỗ Tổ Hùng Vương ngày tụ hội

Mồng Mười Âm Lịch buổi giao thoa

Truyền nhân đất Việt năm châu hợp

Con cháu nhà Nam bốn biển hòa    

Vọng bái Đền Hùng hương một nén

Khẩn xin Quốc Tổ hộ quê nhà

*

Quê nhà xa cách mấy mươi năm

Buồn đọng đầy tim nghẹn khóc thầm

Biệt xứ hồn đau, đau chẳng dứt

Ly hương mắt lệ, lệ khôn cầm

Nhớ cha chất ngất, nào quay lại

Yêu mẹ trùng trùng, khó viếng thăm

Cầu nguyện anh linh dòng Việt Tộc

Vua Hùng Quốc Tổ giúp nhà Nam

Phương Hoa – Tháng Ba Âm Lịch – Tân Sửu 2021

*

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

      (Thể Liên Hoàn – Hoạ thơ Phương Hoa)

*

Âm Lịch Mồng Mười đúng tháng Ba

Mùa Xuân sáng rực nắng chan hoà

Ly hương tỏa ấm tình chung nguyện

Biệt xứ trưng nồng nghĩa hợp thoa

Tưởng nhớ Hùng Vương …vua nước Việt

Ghi ơn sử sách …tổ tiên nhà

Đồng lòng tổ chức tròn nghi lễ

Hải ngoại tay người dệt sắc hoa

*

Sắc hoa nhan khói giỗ hàng năm

Nghĩ cảnh xa quê dạ tủi thầm

Hận lũ Tàu gian không chận được

Thù quân Chệt ác chẳng ngăn cầm

Từng đêm nhớ Mẹ đành phone hỏi

Mỗi tối thương người chỉ điện thăm

Mười tám vua Hùng thiêng cứu độ

Yên bờ đuổi giặc đẹp trời Nam

             Minh Thuý( Thành Nội)

    Tháng Ba Ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương

    Con Hồng Cháu Lạc Rộn Rã Vui Mừng

             (Dĩ đề vi thủ)

THÁNG BA Âm Lịch đúng Mồng Mười

NGÀY GIỖ hoa đào nở thắm tươi

QUỐC TỔ Thánh ơn, ơn dựng nước

HÙNG VƯƠNG Thần đức, đức răn đời

CON HỒNG muôn thuở luôn ghi huấn

CHÁU LẠC nghìn năm mãi nhớ lời

RỘN RÃ trống cờ tung kiệu rước

VUI MỪNG lễ tiệc khắp nơi nơi…

Phương Hoa – Tháng Ba Tân Sửu

*

    NHỚ

(Thủ Nhất Thanh – Hoạ thơ Phương Hoa)

*

NHỚ tháng ba âm lịch chẳn mười

NHỚ mùa hoa lá nở màu tươi

NHỚ công tiên đế gầy nên nghiệp

NHỚ đức rồng vua dựng vững đời

NHỚ mẫu chuẩn kiên cường góp sức

NHỚ khuôn đề quyết liệt chung lời

NHỚ dân nước Việt trông bờ cõi

NHỚ giỗ vua Hùng khắp mọi nơi

            Minh Thuý (Thành Nội)




TẠ TỘI – Hoàng Mai Nhất & Ngày Giỗ Hùng Vương – Lê Tuấn

Ngâm thơ TẠ TỘI trong ngày giỗ Quốc Tổ

TẠ  TỘI

Máu ta đổ cho quê hương ngày ấy
Tuổi trẻ mòn cho đất nước hôm qua
Giờ còn ta nơi xứ người xa lạ
Đường về nhà đã bít lối từ lâu

Tự giận mình kình ngư trên cạn
Sư tử buồn ngoảnh mặt nhớ rừng sâu
Xin tạ tội! Em* yêu ta bỏ lại…
Những đêm dài lặng lẽ cúi đầu!!!

*

Nhưng ta quyết không bao giờ bỏ cuộc
Tìm mọi đường để vực dậy Quê Hương
Không cộng sản bạo tàn trên cố quốc
Lá cờ vàng sẽ mãi mãi tung bay
Trên đất Việt ngàn năm ta yêu quý!!

*
Hôm nay đây trước điện thờ Quốc Tổ
Chúng con là trai Việt phải xa quê
Thắp hương lòng xin Tổ thứ tha cho
Tội không tròn trách nhiệm cứu muôn dân
Cứu đất nước thoát vòng tay cộng đảng
Để bạo tàn ngự trị trên quê hương…
Lòng hổ thẹn trước Tiền Nhân “dựng Nước”
Muôn ngàn lần nhận tội trước “Tổ Tông”
Nén hương này mong Quốc Tổ hiển linh
Độ trì cho nước Việt trường tồn
Thoát cộng sản, thoát vòng nô lệ

Hoàng Mai Nhất

Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương

Người Việt khắp năm châu bốn biển
Nhớ đến ngày Giỗ Tổ, tháng ba
Nhớ ngày truyền thống ông cha
Bốn ngàn năm, tạo sơn hà khắc ghi.

Ngày nước Việt, hào hùng lập quốc
Vua Hùng Vương, các bậc anh tài
Mười tám đời, ngự trên ngai
Khói hương tưởng nhớ, đền đài ghi ơn.

Mẹ Âu Cơ. Con cháu Lạc Hồng
Đánh ngoại xâm, gìn giữ non sông
Ngày nay con cháu một lòng
Hướng về dân tộc, con Rồng cháu Tiên.

Núi sông đã thấm hồng máu đỏ
Máu Việt Nam ghi dấu cội nguồn
Đánh tan lũ giặc điên cuồng
Trống đồng thúc giục, tiếng chuông gọi hồn.

Lê Tuấn

Viết để tưởng nhớ ngày giỗ Tổ Hùng Vương – “song thất lục bát”




Chùm Thơ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

CHÙM THƠ NGÀY GIỖ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

*

1.NỖI LÒNG NGÀY GIỖ QUỐC TỔ

Tháng Ba Âm lịch, phận ly hương

Nhìn lại quê cha nhớ lạ thường

Bút nghẹn tim sầu ngày Quốc Tổ

Đôi dòng mừng kính lễ Hùng Vương

*

Từ buổi điêu tàn mãi đến nay

Lịch rơi đà bốn mấy năm dài

Lòng luôn đau đáu thương nhà cũ

Nhớ cảnh làng xưa nhớ quắt quay

*

Thuở ấy đình làng, trống Tháng Ba

Mồng Mười giỗ Tổ rộn gần xa

Áo quần nô nức theo chân mẹ

Guốc gỗ ôm nghiêng mũ điệu đà

*

Theo sau đám rước kiệu lên đàng

Nhịp trống thùng thùng tim rộn vang

Cờ ngũ sắc ngời trong gió sớm

Rước linh từ miếu nhập đình làng

*

Sắc Thần Vua tứ, tự nghìn xưa

Bô lão hương thân cung kính đưa

Thượng kiệu cúi đầu nghiêm cẩn cẩn

Rước về đình nội, đúng giờ trưa

*

Hương án khói ngời, trống giục ngân

Heo gà rau trái bày đầy sân

Các bà các chị lo xào nấu

Cờ xí xung quanh gió phật phẩn

*

Tiếng xướng đình trên vọng ngút vang

Sớ dâng Chức Sắc, Việc, nghiêm trang

Tiếng hô: “Giai quị,” rồi văn tế…

Ca ngợi Hùng Vương đức ngập tràn

*

Trống xổ lễ thành, tiếp lịnh ban

Hạ màn, thực phẩm dọn ba gian

Chiếu trên, chiếu dưới, ngồi la liệt…

Nong lớn, dành riêng bọn trẻ ngoan

*

Tiệc tàn, mâm cỗ dư ê hề

Chia miếng thịt làng, người hả hê

Câu nói, “Thịt làng, sàng thịt chợ”

Cười vui, tay xách nách mang về

*

Ngày ấy, nơi nơi hưởng thái bình

Vì đâu đất nước phải điêu linh?

Triệu người lưu lạc, xa lìa xứ

Giờ giỗ Hùng Vương, khóc một mình….

Phương Hoa – Tháng Ba Mồng Mười, Tân Sửu, 2021

***

2. NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

(Nhị khúc liên hoàn)

*

Xuân nồng tươi thắm rực màu hoa

Thời tiết dịu dàng đẹp Tháng Ba

Giỗ Tổ Hùng Vương ngày tụ hội

Mồng Mười Âm Lịch buổi giao thoa

Truyền nhân đất Việt năm châu hợp

Con cháu nhà Nam bốn biển hòa     

Vọng bái Đền Hùng hương một nén

Khẩn xin Quốc Tổ hộ quê nhà

*

Quê nhà xa cách mấy mươi năm

Buồn đọng đầy tim nghẹn khóc thầm

Biệt xứ hồn đau, đau chẳng dứt

Ly hương mắt lệ, lệ khôn cầm

Nhớ cha chất ngất, nào quay lại

Yêu mẹ trùng trùng, khó viếng thăm

Cầu nguyện anh linh dòng Việt Tộc

Vua Hùng Quốc Tổ giúp nhà Nam

Phương Hoa – Tháng Ba Âm Lịch – Tân Sửu 2021

***

3.Tháng Ba Ngày Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương

      Con Hồng Cháu Lạc Rộn Rã Vui Mừng

     (Dĩ đề vi thủ)

*

THÁNG BA Âm Lịch đúng Mồng Mười

NGÀY GIỖ hoa đào nở thắm tươi

QUỐC TỔ Thánh ơn, ơn dựng nước

HÙNG VƯƠNG Thần đức, đức răn đời

CON HỒNG muôn thuở luôn ghi huấn

CHÁU LẠC nghìn năm mãi nhớ lời

RỘN RÃ trống cờ tung kiệu rước

VUI MỪNG lễ tiệc khắp nơi nơi…

Phương Hoa – Mồng Mười Tháng Ba – Tân Sửu

***

4.GIỖ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

      (Thủ vỹ ngâm – Thuận nghịch độc)

Thuận độc:

Hồng Lạc xứ tiên cõi đẹp xinh

Đất trời xuân tỏa sáng lung linh

Công ghi Quốc Tổ dày tài sức

Đức trải Hùng Vương đậm nghĩa tình

Bông trái phụng đơm đồng kỉnh bái

Cỗ bàn dâng hiến hiệp cung nghinh

Mong cầu Việt Tộc bình an hưởng

Hồng Lạc xứ tiên cõi đẹp xinh

*

 Nghịch Độc:

Xinh đẹp cõi tiên xứ Lạc Hồng

Hưởng an bình Tộc Việt cầu mong

Nghinh cung hiệp hiến dâng bàn cỗ

Bái kỉnh đồng đơm phụng trái bông

Tình nghĩa đậm vua Hùng trải đức

Sức tài dày Tổ Quốc ghi công

Linh lung sáng tỏa xuân trời đất

Xinh đẹp cõi tiên xứ Lạc Hồng

Phương Hoa – Tháng Ba Tân Sửu – 2021

***

6.THÁNG BA XUÂN

     (Điệp tự)

Tháng Ba Âm Lịch, tháng Ba mừng

Giỗ Tổ Hùng Vương, giỗ Tổ Ân

Mười tám đời Vua, mười tám Đế

Bốn nghìn năm sử, bốn nghìn Xuân

Văn Lang nối gót, Văn Lang tiến

Việt Tộc theo đà, Việt Tộc nâng

Danh tiếng nhà Nam, danh tiếng rạng

Kính tiền Quốc Tổ, kính tiền nhân

 Phương Hoa – Tháng Ba Tân Sửu

***

6.LỊCH SỬ NƯỚC VĂN LANG

(Phóng tác theo: “Truyền Thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ”

Nguồn: https://vietnamesetypography.com/samples/lac-long-quan-au-co/)

*

Đất Lĩnh Nam có chàng Lộc Tục

Kinh Dương Vương thuần thục phép thần

Tài cao sức lạ giống Rồng

Lướt băng mặt nước chẳng cần thuyền ghe

*

Động Đình hồ Xuân hè dạo mát

Gặp Tiên nương đài các khôn lường

Nàng là công chúa Long Vương

Ngọc danh Long Nữ đẹp dường gấm hoa

*

Duyên tần tấn giao hoà giai ngẫu

Kết phụ thê đan dấu sắc cầm

Sinh trai Sùng Lãm anh hùng

Đức tài toàn vẹn vượt tầm phụ thân

*

Người nghĩa khí lòng nhân bát ngát

Nối nghiệp cha hiệu Lạc Long Quân

Cũng đạp nước, cũng phân thân

Tay nâng đá tảng nghìn cân như đùa

*

Đất Lĩnh Nam nhân mùa tiết đẹp

Lạc Long Quân thu hẹp đường dài

Ngao du sơn thủy hôm mai

Biển Đông Nam vượt gặp loài Ngư tinh

*

Chém ba khúc đầu, mình, đuôi, rã

“Cầu Đầu Sơn,” đầu hoá núi này

“Cầu Đầu Thuỷ,” mình ở đây

“Bạch Long Vỹ” đảo, đuôi nay vẫn còn

*

Đến Long Biên – Tản Viên, chồn cáo

Sống nghìn năm đại náo xóm làng

Gái lành hãm hại giết oan

Người dân bỏ đất lang thang chạy dài

*

Lạc Long Quân trổ tài oanh liệt

Chồn chín đuôi đánh diệt tinh hồ

Nước sông Cái lấp hang mồ

“Đầm Xác Cáo” chính Tây Hồ ngày nay

*

Đất Phong Châu dạn dày thân Chúa

Dạy người dân trồng lúa, thổi cơm

Nhà sàn cất ở sớm hôm

Học điều lễ nghĩa cha con, vợ chồng

*

Sau Đế Lai từ đông Bắc tới

Công Chúa yêu tên gọi Âu Cơ

Tuyệt trần nhan sắc ươm thơ

Lạc Long Quân gặp ngẩn ngơ lòng vàng

*

Âu Cơ cũng bàng hoàng lưu luyến

Bậc hùng anh uy tướng bất phàm

Tơ hồng phận đẹp duyên cam

Theo về cung điện kết làm phu thê

*

Nồng hương lửa trọn bề ân ái

Tình đơm bông kết trái rỡ ràng

Âu Cơ sinh bọc nhung vàng

Nở ra trăm trứng huy hoàng trăm con

*

Lớn như thổi, lại toàn nam tử

Giống Tiên Rồng lịch sử phát nguyên

Tổ tiên “Bách Việt” lưu truyền

Long Quân con cháu cội nguồn từ đây

*

Đất Phong Châu trao tay trưởng tử

Hiệu Hùng Vương nước chữ “Văn Lang”

Rồng, Tiên chia biệt đôi đàng

Năm mươi xuống biển, lên ngàn năm mươi

*

Quốc Tổ Hùng là người dựng nước

Mở lòng từ từng bước an dân

Lạc hầu, lạc tướng, võ, văn

Đặt ra luật lệ quân thần nghiêm trang

*

Người Bách Việt sống tràn hạnh phước

Mười tám đời nối bước: Hùng Vương

Văn Lang dân tộc quật cường

Học tiền nhân quyết chống phường ngoại xâm  

*

Việt Nam Bốn Nghìn Năm Văn Hiến

Trải qua nhiều chinh chiến bể dâu

Dẹp Phiên, đánh Pháp, đuổi Tàu

Hùng Vương hậu duệ dám đâu lơ là

*

Nguồn sử Việt nước nhà oanh liệt

Giống Rồng Tiên hào kiệt khắp nơi

Tháng Ba Âm lịch Mồng Mười

Hùng Vương Quốc Tổ người người nhớ ơn….

Phương Hoa – Mồng Mười tháng Ba – Ngày Giỗ Quốc Tổ – Tân Sửu 2021




Vụ Án Nhân Văn Giai Phẩm – VTLV Mạn Đàm Phần 3




Nơi Cây Đa Bến Cũ

thơ Vệ-Trà Huỳnh Kim Anh. Nhạc sỹ Đức Quảng. Trình bày CS Hạnh Nguyên

Nơi cây đa bến cũ 

Rét mướt gió Xuân về

Gió lay từng nhánh lá 

Bờ tre trên đường quê 

Con về thăm làng cũ 

Gốc phượng xưa đã già

Thăm dòng sông bến nước 

Tổ tiên biền biệt xa

Cha cho con đôi cánh

Mẹ dắt con vào đời

Công Cha như núi Thái

Lòng Mẹ tựa biển khơi 

Mồ hôi Cha ướt áo 

Mẹ dãi dầu nắng mưa

Trên dặm trường rong ruổi 

Quên nhọc nhằn sớm trưa

Cha dạy con lối rẽ 

Vững bước trên đường đời 

Giờ Cha không còn nữa 

Ngậm ngùi gọi, Cha ơi !

Cố hương dù vạn dặm 

Xa khuất nẻo đường quê 

Thăm Cha, thăm nguồn cội

Dẫu xót xa lối về 

Dân oan trên khắp nẻo 

Căm hờn nỗi nhà tan

Chân đau trong cùm xích 

Kiếp lao tù nghiệt oan

Nỗi đau còn chồng chất 

Trong tận cùng, Cha ơi ! 

Mẹ sẽ về lần nữa 

Bên Cha cuối cuộc đời…

Nơi cây đa bến cũ

Vẫn sớm nắng chiều mưa

Người đi rồi, đi mãi          

Có còn nhớ bến xưa…?

San Jose, California 02/ 06/ 2021

Vệ-Trà Huỳnh Kim Anh




NỖI LÒNG MẸ THÁNG TƯ

Nhạc: Mai Hoài Thu – Thơ: PhamPhanLang – Ca sĩ: Hoàng Tường



Tuyển Tập Kiều Mỹ Duyên: HOA CỎ BÊN ĐƯỜNG – Việt Hải, Khánh Lan, và Thụỵ Lan

Cách đây khá lâu khi tôi thực hiện tuyển tập Tây Ninh Quê Tôi dịp mỗi năm xuân về, hay ấn hành những đặc san văn hoc như Văn Học Thời Nay và Văn Đàn Đồng Tâm, tác giả Kiều Mỹ Duyên đã gởi bài góp mặt. Tôi thực sự trân quý tấm chân tình yêu văn chương, chữ nghĩa và lối viết hay phong văn bộc bạch chân thật, rõ ràng của bà. Xuyên qua tác phẩm này độc giả sẽ nghiệm ra điều như vậy. Đây là tác phẩm thứ hai sau tác phẩm khá thịnh hành về phóng sự chiến trường Chinh Chiến Điêu Linh của Kiều Mỹ Duyên.

Đọc qua Hoa Cỏ Bên Đường thì sách này gói ghém nhiều câu chuyện đời thường của tác giả khi sinh hoạt trong cộng dồng, dù là truyền thông báo chí, từ thiện xã hội, tôn giáo tâm linh hay địa ốc tài chánh,… của tác giả. Nó tiêu biểu cho những chuyện kể tin tích cực cần chia sẻ như YMCA: Niềm tin và hy vọng cho tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại (trang 157); Cảnh sát là bạn dân (trang 183); Có gan, làm giàu (trang 220); Những nữ tu sĩ dễ thương (trang 358); Hãy cho nhau tiếng cười (trang 429), Cho nhau thì giờ (trang 442) hay Lạc quan yêu ngưới, yêu đời mà sống (trang 452);…; hoặc những chuyện kể tin không vui nhưng chúng ta cần ôn lại nhắc nhớ như tin cộng đồng, những bản tin đồng hương kém may mắn như ở trang 239 tin bà con miền trunng ở quê nhà chịu nạn thiên tai lũ lụt; bài Cứu Người Như Cứu Lửa Cứu Lụt Bà Con Ơi!; bài đi thăm người Việt ở Miên sống khổ cực nơi xứ người; Một Chuyến Đi Ngậm Ngùi (trang 253); Và những bản tin về người quá cố như quý Hoà thượng Thích Tâm Châu, Thích Giác Nhiên, Thích Quảng Thanh, Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, Nhà văn Đỗ Phương Khanh, Phóng viên chiến trường Phan Trần Mai (trang 413). Bài Nhà sách Tú Quỳnh Giã Từ Đồng Hương (trang 401).

Tuyển tập Kiều Mỹ Duyên: Hoa Cỏ Bên Đường gồm có 41 bài viết gom góp lại từ nhiều năm qua. Sách dầy hơn 460 trang, trình bày kỹ thuật ấn loát do GS. Phạm Hồng Thái đảm nhiệm. Bìa sách do Phương Hoa. Cơ sở Văn Thơ Lạc Việt ấn hành. Sau đây ba anh em chúng tôi: Khánh Lan, Thụỵ Lan và Việt Hải thuộc Liên nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian xin đi tiếp về quan điểm nhận định về tác giả Kiều Mỹ Duyên và tác phẩm Hoa Cỏ Bên Đường.

Nhà bào Kiều Mỹ Duyên tên thật là Nguyễn Thị Ẩn. Mặc dù tác giả Kiều Mỹ Duyên nhiều lần minh định bà không là nhà văn, mà bà chỉ viết báo. Trước 1975, bà viết bài cho các tờ Công Luận, Hòa Bình và Trắng Đen. Từ 1964 bà chuyên viết phóng sự về xã hội và chiến trường. Năm 1976, bà vượt biên và định cư tại miền Nam California, Hoa Kỳ. Bà từng du học Úc Châu qua học bổng Colombo Plan vào cuối thập niên 60 về cử nhân ngành báo chí. Qua Mỹ bà theo học tại trường Đại Học Cal State Fullerton, tốt nghiệp cử nhân các khoa Báo Chí, Chính Trị và Địa Ốc vào năm 1982. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, bà chuyên viết những phóng sự chiến trường cùng những mảnh đời xã hội tan thương do chiến cuộc. Bước chân của bà ra mặt trận tiền phương theo những cuộc hành quân và nhiều chiến trường sôi động, khốc liệt nhất của thập niên 1970. Tác phẩm Chinh Chiến Điêu Linh ghi nhận giai đoạn này.

Kiều Mỹ Duyên: nhà văn hay nhà báo ?

Theo 2 bạn văn Thụỵ Lan và Khánh Lan cho là 2 phương vị này đều đúng với bà. Tôi đồng ý như vậy. Hãy tìm hiểu phần vụ của mỗi phương vị.

1/ Nhà văn là người chuyên sáng tác ra các tác phẩm văn học, đã có tác phẩm được công bố ra công chúng và ít nhiều được độc giả thừa nhận giá trị của một số tác phẩm. Kỹ năng của các nhà văn qua việc sử dụng ngôn ngữ để mô tả một ý tưởng, một câu chuyện hay qua bối cảnh, dù đó là do chuyện thực tế hay hư cấu.

2/ Còn nhà báo là người làm công việc đưa tin tức chuyên nghiệp, có nhiệm vụ tìm kiếm các tin tức sau khi phối kiểm tính xác thực của nguồn tin. Nhà báo chịu trách nhiệm bài viết của mình khi đưa tin ra công luận.

Hai tác phẩm của Kiều Mỹ Duyên như sách Chinh Chiến Điêu Linh khiến tác giả vừa là ký giả chiến trường kiêm nhà văn kể chuyện chiến tranh. Tác phẩm Hoa Cỏ Bên Đường lại là thể loại văn tạp ghi hay tạp bút với nhiều chủ đề.

Trên thực tế biên giới giữa nhà văn và nhà báo bị trùng lặp, trùng nhau, bởi vì báo đăng văn, văn đăng trên báo, ví du như Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương (Phan Nhật Nam);  Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng (Ngô Thế Vinh); Bánh Mì Ai Cập, Cá Việt Nam, Khát Vọng Con Người (Trần Trung Đạo); hay Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch (Ngô Thế Vinh); …

Nhà báo viết văn, nhà văn viết báo cũng là chuyện chẳng phải gì lạ cả. Viết báo, viết văn vốn ở thể văn xuôi (prose). Phải chăng văn chương và báo chí vẫn thường được ví như hai anh em chung mái nhà chữ nghĩa. Bên phương trời Tây Âu họ như bên ta. Quý ông “văn kiêm báo” hay “báo kiêm văn” như những Daniel Defoe, Samuel Richardson, Henry Fielding, Lawrence Sterne, … (novelists or journalists), ví dụ như nhà văn nhà báo Jonathan Swift với danh tác Gulliver’s Travels, và nhà văn nhà báo Daniel Defoe với danh tác Robinson Crusoe.

Tác phẩm Chinh Chiến Điêu Linh cho thấy Kiều Mỹ Duyên đóng vai trò nhà báo khá rõ ràng, nhà báo xông pha nơi chiến trường viết tường trình sống động, 100% ta không bàn thảo. Và ở tác phẩm mới Hoa Cỏ Bên Đường nhà văn Khánh Lan (một học trò Văn Hoá Quân Đội của GS. Nguyễn Thị Ẩn, môn Công Dân ngày xưa) đọc bài viết do nhà văn Kiều Mỹ Duyên, dẫn dụ những bài viết mô tả những đặc tính văn chương của Kiều tác giả như sau:

“Buổi sáng thức dậy, tôi vẫn nghe tiếng hát reo vui của những con chim nhỏ vui đùa chuyền từ cành cây này sang cành cây khác. Những trái đào vàng rực rỡ trên cây, những trái ổi óng ả quằn cành cây từng chùm, từng chùm. Ôi, đời sao đẹp quá! Cảnh thiên nhiên dễ thương, vô tư làm cho những nỗi buồn bay xa, bay cao, không còn ở trần gian này nữa.” (trích bài Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng. 24/12/2020. Kiều Mỹ Duyên).

Một ví dụ khác cho thấy sự thi vị của văn chương của nhà văn Kiều Mỹ Duyên trong sự mô tả không gian bối cảnh:

“Hàng tre trúc xanh mướt

Những bạn bè tôi đã đến Tây Ninh, họ có dịp ghé qua và nhớ về một địa danh đã ghi sâu dấu ấn vào âm nhạc, và đó là Tha La Xóm Đạo, nơi có những hàng tre trúc xanh mướt mà tàn cây đan vào nhau như ngày xưa tôi đã chiêm ngưỡng. Ở đây có bóng dáng những cô gái mỹ miều trong chiếc áo dài thiết tha dự lễ tại giáo đường. Hỡi ai còn nhớ câu thơ của Vũ Anh Khanh…

“Đây Tha La Đây Xóm Đạo hoang tàn

Mây trời vây quanh màu tang khói lửa

Bao năm qua, Tha La còn chờ đó

Đoàn người đi giết thù đã hẹn về từ dạo ấy

Lòng viễn khách, bồi hồi như thương tiếc

Mùa thu nắng hanh vàng…”

(Hận Tha La, nhạc và lời Sơn Thảo)”, (Kiều Mỹ Duyên, Đặc san Tây Ninh Quê tôi, Xuân Đinh Hợi 2007, “Tây Ninh: Hẹn Một Ngày Về”).

Thấy chưa nhỉ, văn phong bóng bẩy, mượt mà đáng yêu với những lãng đãng chất văn chương lãng mạn, có khác nào những Mai Thảo, Nguyên Sa, Nhật Tiến, Thạch Lam hay Nguyễn Xuân Hoàng,… theo ý tưởng thiển nghĩ của anh em tôi.

Còn nhà văn Thụy Lan đọc văn chương Kiều Mỹ Duyên, cô chú trọng về nét bao dung, từ tâm của tác giả Hoa Cỏ Bên Đường, trích đoạn sau:

“Người hạnh phúc và vui vẻ thì sống lâu, sức khỏe dồi dào, không đau bệnh. Người lạc quan, cười nhiều sống lâu hơn người hay than thở, chán nản. Ai cũng thích sống với người lạc quan hơn người bi quan. Hàng ngày, chúng tôi gặp nhiều người tươi cười như ngày hội Tết, lúc nào cũng cười, khuôn mặt tươi như hoa, tiếng nói như chim hót mùa Xuân. Những người này làm việc gì cũng thành công. Người thành công là người hạnh phúc, vì hạnh phúc nên thành công. Người lạc quan thì trẻ mãi không già. Sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc, ai cũng mong có đời sống như thế. Nhưng có bao nhiêu người trong chúng ta được đời sống hanh thông như thế?”, (Hạnh Phúc Cho Đi. 04/03/2021, Kiều Mỹ Duyên).

Ví dụ khác: Hãy yêu mình, hãy yêu người xung quanh mình…

“Hãy yêu mình, hãy yêu người xung quanh mình. Yêu người nhưng phải tự trọng, vì yêu người không phải đi xin thứ này, thứ nọ của người đó, nhất là xin thì giờ, xin kiến thức. Kiến thức phải đến trường học và học với nhiều người, nhiều ngành khác nhau, không phải chỉ học với một người. Chúng ta vào trường đại học cùng học với nhiều người chứ không chỉ học với một giáo sư duy nhất.”, (bđd, Hạnh Phúc Cho Đi. 04/03/2021, Kiều Mỹ Duyên).

Ý tưởng chân tâm, vị tha khi ta sống san sẻ, hạnh phúc lạc quan như Mẹ Teresa từng chia sẻ: “Chúng ta hãy luôn mỉm cười gặp nhau, vì nụ cười là khởi đầu của tình yêu.” (Let us always meet each other with smile, for the smile is the beginning of love). Hay như triết gia Ần quốc Debasish Mridha ghi nhận trong danh tác của ông Verses of Happiness: “Cuộc sống đơn giản và ngắn ngủi nhưng tình yêu là vô hạn và vĩnh cửu. Vì vậy, hãy cho đi nhiều nhất có thể được, không cần phải phán xét bất cứ ai ”(Life is simple and short but love is infinite and eternal. So give it away, as much as you can, without judging anyone.).

Phải chăng trong tâm tư nhà văn Kiều Mỹ Duyên chất chứa nét triết lý duy tâm nhẹ nhàng trong phong văn. Đọc Kiều Mỹ Duyên, tôi nghiệm ra rằng bà có quan điểm tựa như GS. y khoa Henri de Mondeville cho là  “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” ( Le rire est la meilleure médecine), hay triết gia Bertrand Russel nhận định là  “Tiếng cười là liều thuốc kỳ diệu rẻ tiền nhất và hiệu quả nhất” (Le rire est le médicament miracle le moins coûteux et le plus efficace); hoặc như văn hào Victor Hugo ghi nhận: “Làm được cho mọi người cười là làm cho mọi người quên thì thật là một ân nhân trên quả đất này, là một nhà phân phối của sự lãng quên!” (Faire rire, c’est faire oublier. Quel bienfaiteur sur la terre qu’un distributeur d’oubli !); hay như nhạc sĩ tài hoa Frédéric Chopin cho cảm nghĩ:  “Những người không bao giờ cười không phải là những người nghiêm túc.” (Les gens qui ne rient jamais ne sont pas des gens sérieux). Kiều Mỹ Duyên chủ trương sống thoải mái, triết lý sống thanh tao, đơn giản và san sẻ, bà nhìn cuộc đời bằng trái tim mở rộng cảm thông, bà lạc quan trong nhân sinh quan của chính mình.

Trong bài viết Cho Nhau Thì Giờ (25/02/2021), Kiều Mỹ Duyên viết: “Vậy thì khi người nào đó nói với bạn rằng tôi không có thì giờ hoặc tôi bận quá, bạn hãy tự hỏi mình người đó thân với bạn như thế nào? Khi một người nói với bạn tôi không có thì giờ thì bạn phải nghĩ rằng người đó không có thì giờ cho bạn, trong con mắt của người đó hoặc trong trái tim của người đó, bạn không phải là người thân. Nếu là người thân thì không bao giờ nói câu tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Thì giờ người nào cũng bằng nhau, 24 giờ một ngày. Với 24 giờ, làm sao sử dụng cho hết: làm việc, ăn, ngủ, chơi, xem tivi, nghe radio, đọc sách, điện thoại, hoặc email cho người này hay người nọ. Nên bạn phải biết mình là ai khi nghe người nào nói rằng tôi có đọc email của bạn hay nhận điện thoại của bạn, nhưng rất tiếc tôi bận quá, tôi không có thì giờ trả lời….  Người nào cũng có việc làm, có bổn phận, trách nhiệm, không phải ai cũng có thì giờ nghĩ đến người khác, có thì giờ quan tâm đến những người xung quanh mình, nhưng nếu biết sắp xếp thì mọi chuyện đều có thể làm được.”

Bài Cho Nhau Thì Giờ có đoạn hay của nó: “Có những chuyện trong cuộc sống xảy ra rất đỗi bình thường nhưng lại có kết thúc bất ngờ. Một cụ bà nằm trong viện dưỡng lão, con cháu không có thì giờ đến thăm, chỉ riêng có cô y tá chăm sóc cho cụ bà hàng ngày. Vào những ngày nghỉ hoặc ngày lễ, cô nhớ cụ bà, cô vào viện thăm cụ. Cụ bà cũng rất thương cô y tá này. Rồi một ngày kia, cụ bà qua đời. Luật sư của cụ bà gọi cô y tá đến văn phòng luật sư để nghe di chúc của cụ bà ở viện dưỡng lão. Cô y tá ngạc nhiên và vô cùng xúc động, không ngờ cụ bà để lại tài sản cho cô thay vì để lại cho con cháu của mình.”

Cũng trong bài viết trên, nụ cười trong cuộc sống được nhà văn Kiều Mỹ Duyên cổ võ, quảng bá ở Nam Cali trên các hệ thống truyền thanh cũng như truyền hình: “Bà con ơi, Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”, tôi vẫn nghe rõ nhự in. Hãy đọc tiếp bà viết: ” Cho nhau tiếng cười, cho nhau một chút thì giờ có gì quá đáng? Hãy tự hỏi mỗi ngày mình bỏ bao nhiêu thì giờ xem tivi, nghe radio, đọc sách báo, nghe nhạc thì tại sao cho người khác một chút thì giờ thì lại phiền? Chỉ có lòng mình chưa đủ để quan tâm đến người bạn của mình mà thôi?

Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Mỗi ngày 24 giờ là nhiều lắm, nếu mình sử dụng hết 24 giờ này ngoài việc ăn, ngủ, làm việc thì còn thì giờ nhiều lắm. Nếu mình quan tâm đến người khác thì xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm…”.

Kiều Mỹ Duyên vốn dĩ vui vẻ, hoạt bát và từ tâm,  Bà ăn chay, tránh sát sinh. Trong bài viết Hãy Cho Nhau Tiếng Cười, xin trích đoạn: “Hãy cho nhau tiếng cười reo vui, đời sống ngắn lắm, sự sống và sự chết gần nhau lắm, như sợi chỉ. Chỉ một cơn mê, chỉ một vài phút không thở, tim ngừng đập là lên đường ra đi mãi mãi, không bao giờ trở lại. Hãy cho nhau nụ cười cho người còn hiện hữu, đừng đợi người ra đi rồi luyến tiếc. Muốn gặp ai thì cứ gặp, đừng chần chờ, vì không biết ngày mai mình còn thức dậy? Gặp người mình muốn gặp vài ba giây cũng đủ, nghe vài tiếng nói cũng đủ. Đâu cần ngồi bên cạnh cả ngày, cả tháng, cả đời? Biết đủ là đủ…”.

Đọc trích đoạn người nữ tu yêu tiếng cười nhân hậu, hiền hoà, “Đời sống quá ư vất vả, ai cũng thích tiếng cười. Tiếng cười đem niềm vui và sức sống cho người xung quanh. Sống lạc quan khi có nụ cười, tiếng cười. Sự linh hoạt của đời sống là sự vui vẻ, yêu đời và lạc quan. Càng lớn tuổi, tôi càng thích tiếng cười. Tôi thích những người đem niềm tin đến cho mình, tôi cũng thích chính mình đem niềm tin đến cho người khác. Đem nỗi buồn làm phiền người khác để làm gì? Thương ai nên đem cho họ nụ cười, tiếng cười. Ngay cả người bệnh nằm trong viện dưỡng lão mà mình đem tiếng cười đến cho họ, nhìn vào mắt của bệnh nhân mình sẽ cảm thấy mắt của họ tươi hơn, khuôn mặt của họ có hồn hơn.

Hãy cho nhau nụ cười, cho nhau tiếng cười. Nếu mình có niềm vui trong lòng thì tiếng cười sẽ reo vui hơn, giòn tan hơn. Yêu người, yêu đời qua tiếng cười. Hãy yêu thương, lòng rộng mở, tiếng cười của mình sẽ hồn nhiên hơn, giòn giã hơn. Tôi yêu tiếng cười của trẻ thơ khắp nơi, nhất là các em trong viện mồ côi. Hãy ôm chặt các em trong tay với trái tim nồng nàn, chúng ta sẽ tìm thấy tình người trong vòng tay ấm áp của mình. Hãy nắm chặt tay người già trong viện dưỡng lão, chúng ta sẽ cảm nhận được người cần người dù trong chốc lát. Có người suốt đời đi tìm nụ cười đã mất, tìm hoài, tìm mãi không được, vì người có nụ cười thân thiện, thương yêu đã không còn nữa, cho nên khi còn hiện hữu, gặp bằng hữu, chúng ta nên cười vui vẻ, tự nhiên mà cười, nếu không ngày mai không còn kịp nữa.

Tôi được may mắn quen nhiều người có tiếng cười reo vui. Catherine bận rộn suốt ngày, làm việc không có ngày nghỉ. Vậy mà lúc nào cũng nở nụ cười trên môi và tiếng cười reo vui….  Catherine đem nụ cười đến với những người nghèo, trẻ em mồ côi. Catherine giúp họ rất tận tình như người mẹ chăm sóc con cái của mình. Những đứa trẻ ở Miên rất thương Catherine…Tiếng cười của bạn tôi vẫn reo vang. Năm nào, bạn tôi cũng gọi cho tôi với tiếng cười lạc quan pha chút nghịch ngợm của trẻ thơ vào ngày đầu năm. Tiếng cười vui vẻ không thay thế được cơm gạo, nhưng tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, của người già vẫn là nhu cầu cần thiết của người nghe, của bằng hữu. Bạn tôi không gọi tôi thường xuyên nhưng mùng 1 Tết năm nào cũng gọi. Trước khi đi xa gọi, trở về gọi, có chuyện vui đều gọi tôi. Bạn tôi rất hồn nhiên, chỉ kể chuyện vui, không bao giờ kể chuyện buồn”.

Đoạn kết của bài viết thì cuộc đời này muôn thuở vẫn cần tiếng cười:

“Mãi đến bây giờ, tôi mới nhận ra một điều quan trọng là chúng ta rất cần nụ cười, cần tiếng cười trong đời sống hàng ngày: tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, nụ cười héo hon của người già gần đất xa trời, giọng cười giòn tan của bạn bè, thân hữu,… Đúng là một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ?

Hạnh phúc thay cho những ai có tiếng cười giòn tan thường đến với mình trong 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Tiếng cười hồn nhiên pha lẫn chút nghịch ngợm của trẻ thơ làm cho người nghe lạc quan, yêu người, yêu đời mà sống, vượt qua những nỗi khó khăn ở hiện tại. Xin cảm ơn những nụ cười, những tiếng cười mà tôi đã được gặp, được nghe trong đời sống hàng ngày, nhất là vào mùa Xuân.

Kiều Mỹ Duyên, Orange County, 15/02/2021″.

Đọc Tuyển tập Kiều Mỹ Duyên qua tác phẩm mới Hoa Cỏ Bên Đường để chúng tôi, ba anh em: Thuỵ Lan, Khánh Lan và Việt Hải chia vui cùng tác giả Kiều Mỹ Duyên. Một nhà báo chuyên nghiệp đã ghi dấu giầy trên chiến trường xưa. Kiều Mỹ Duyên lặn lôi theo các mặt trận Quảng Trị qua danh trấn Mỹ Chánh, Hải Lăng, Đông Hà, La Vang, Gio Linh, cùng Huế như Cổ Thành, thung lũng Ashau, sang Quảng Ngãi với Ba Tơ, Quế Sơn, rồi Cao nguyên sương mù màu khói súng tại Tam Biên, Benhet, Dakto, Tân Cảnh, Pleiku, Kontum, Polei Kleng, Chu Pao, Bình Long, An Lộc,… Ngày hôm nay nếu chúng tôi nhận định Kiều Mỹ Duyên là một nhà báo nghiệp dư vì nhớ nghề xưa, hay một nhà truyền thông tài tử (amateur), hoặc giả là một phóng viên tự do (freelance) sẽ không ngoa. Và bà không làm vì tài chánh. Kiều Mỹ Duyên đã có nguồn cơm gạo từ hai cơ sở kinh doanh là Ana Real Estate và Ana Funding lo cho dạ dày. Hãy nói sự thật để được lòng người nghe. Sự thật hay chân lý là đích điểm đắc nhân tâm, như trường hợp nhà bác học Albert Einstein ghi nhận: “Những lý tưởng luôn luôn tỏa sáng trước mặt tôi và nó khiến tôi đầy ắp niềm vui về cái thiện, cái đẹp và chân lý” (The ideals which have always shone before me and filled me with joy are goodness, beauty, and truth). Tương tự, văn hào Nga Fyodor Dostoevsky cho ý tưởng: “Trên đời này không có gì khó hơn là nói ra sự thật lòng, không có gì dễ hơn là sự xu nịnh” (Nothing in this world is harder than speaking the truth, nothing easier than flattery).

oOo

Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm chuyển tải nội dung những mẫu chuyện về chân thiện mỹ  trong đời sống xã hội. Khi “Gõ Cửa, Cửa Sẽ Mở”, như khi “Mở lòng, lòng thanh thản”; Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm đề cao tiếng cười, bởi vì “Hãy Cho Nhau Tiếng Cười”, cũng bởi vì tiếng cười là nhu cầu, là niềm tin yêu của đời sống; Trong đời sống hãy “Cho Nhau Thì Giờ”, dành thì giờ cho yêu thương nhân đạo, nhân đức; Hoa Cỏ Bên Đường là tác phẩm cho thấy triết lý sống mà tác giả đề nghị về tư tưởng lạc quan. Tuyển tập Kiều Mỹ Duyên nhấn mạnh đặc tính nhân bản với nhân sinh quan hãy “Lạc Quan, Yêu Người, Yêu Đời Mà Sống”, nhũng tâm tư, tâm tình của tác giả chắt chiu từng con chữ, nắn nót từng ý tưởng nội tâm, để rồi Cơ Sở Lạc Việt gom góp in ấn hình thành tác phẩm này.

Đọc một tác phẩm, xin hãy tìm hiểu chiều sâu tâm hồn, những ngõ ngách của trí não qua ngòi bút của nhà văn, hãy truy nguyên sự góp mặt của tác phẩm, và xin hãy rộng mở chào đón tác phẩm như một viên gạch mới tô điểm ngôi nhà văn học Việt Nam hải ngoại. Chúng tôi xin chúc mừng nhà văn Kiều Mỹ Duyên với tác phẩm Hoa Cỏ Bên Đường như tiếng lòng gởi đến mọi người.

Việt Hải – Song Lan, Nam California. Mùa Xuân, 10/04/2021.




Tưởng Nhớ LÝ TỐNG




Một Cõi Nhớ Thương

Sáng tác: Yen Sơn | Ca sĩ: Nguyên Hậu

MỘT CÕI NHỚ THƯƠNG | Sáng tác: Yên Sơn | Ca sĩ: Nguyên Hậu (MP3)

CHIỀU RƠI CÙNG NỖI NHỚ | Sáng tác: Yên Sơn | Ca sĩ: Nguyên Hậu




THƠ LỤC BÁT XƯỚNG HỌA -Dương Huệ Anh & Phương Hoa

NGHE TIẾNG BỔNG TRẦM…

…Cảm ơn thi hữu Phương Hoa

 Vài lời giới thiệu khúc ca “Tình Hồng!”

Năm mươi năm giữ bên lòng,                                                                                                              

Mang mang nỗi nhớ,  trùng trùng nghiệp duyên !  

35 năm, chẳng được tin, 

Dù còn hay mất, chẳng quên lời thề…                                                                                                    

Vàng son, thời đã qua đi,                                                                                                                             

 “Thư trung”*- mộng ngọc , vai kề, giấc mơ!                                                                             

Có, Không…Không, Có? Còn Thơ …                                                                                                               

*Bẩy chín bài… vẫn đợi chờ…ai ngâm!?                                                                                                  

Thiên thu nghe tiếng bổng trầm                                                                                                  

Kiều Loan…ái nữ Hoàng Cầm…gần, xa !!                                                                                                                                                                                                     

*Cổ thi: “ Thư trung hữu nữ nhan như ngọc”                                                                                  

*16/3/21    Dương Huệ Anh

***

TINH HOA LẠC VIỆT

(Kính họa bài Nghe Tiếng Bổng Trầm của thi tiền bối Dương Huệ Anh)

VĂN THƠ chất chứa tinh hoa

LẠC VIỆT gom đủ thi ca vườn hồng 

Hậu sinh, tiền bối, chung lòng

Bảo tồn Việt ngữ muôn trùng phước duyên

Người người giữ vững niềm tin

Dựng xây cố quốc chẳng quên nguyện thề 

Ly hương vẫn hẹn ngày về

Để châu hiệp phố cận kề ước mơ

Trùng trùng điệp điệp tâm thơ

Khơi lòng yêu nước đang chờ được ngâm

Dù cho thế sự thăng trầm

Phút giây hoà hợp sắc cầm không xa

Phương Hoa – APR 4th 2021




Cánh tay của Ban Tôn giáo Chính phủ vừa được nối dài vươn ra hải ngoại

Ban Tôn giáo Chính phủ vừa ký một thỏa thuận liên quan đến hơn năm triệu người Việt hải ngoại.
(Đây là kết quả bầu cử năm 2020, Ông Jose Biden là Tổng Thống thứ 46 Hoa Kỳ).

Cánh tay của Ban Tôn giáo Chính phủ vừa được nối dài vươn ra hải ngoạiBan Tôn giáo Chính phủ vừa ký một thỏa thuận liên quan đến hơn năm triệu người Việt hải ngoại.
(Nguồn: https://www.luatkhoa.org/2021/03/canh-tay-cua-ban-ton-giao-chinh-phu-vua-duoc-noi-dai-vuon-ra-hai-ngoai/)
Published 2 days ago on 31/03/2021By THÁI THANH
Ông Vũ Chiến Thắng (trái), Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ và ông Đặng Minh Khôi, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. Ảnh: Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo Tổ Quốc. Minh họa: Luật Khoa.Ngày 27/11/2020, Ban Tôn giáo Chính phủ đã ký một thỏa thuận hợp tác với Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là một thỏa thuận liên quan đến hơn năm triệu người Việt hải ngoại.
Ban Tôn giáo Chính phủ đã nói về mục đích của sự hợp tác này một cách rất chung chung, như hỗ trợ hoạt động tôn giáo, nghiên cứu, xây dựng chính sách tôn giáo của người Việt hải ngoại.
Tuy nhiên, một vài hoạt động trong năm 2020 của hai cơ quan này có thể cho bạn thấy một góc độ khác.
“Đấu tranh với những thế lực chia rẽ đồng bào”
Trước khi ký thỏa thuận hợp tác, lãnh đạo của hai cơ quan đã thể hiện một cái nhìn chung về tình hình tôn giáo của người Việt hải ngoại.
Vào tháng 5/2020, ông Vũ Chiến Thắng, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ, đã có một bài viết dài đăng trên Tạp chí Cộng sản lên án việc lợi dụng tôn giáo để chống nhà nước.
Vị trưởng ban – đồng thời là một thiếu tướng công an – cáo buộc một số tổ chức người Việt hải ngoại đã lợi dụng các vấn đề tôn giáo ở Việt Nam nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
“Một số thế lực nước ngoài đã ban hành báo cáo, phúc trình, thậm chí là đạo luật, nghị quyết ‘lên án’ tình hình bảo đảm quyền con người của Việt Nam, nhất là trên lĩnh vực tôn giáo”, ông Vũ Chiến Thắng viết.
Ông cho rằng các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo như vậy đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến Việt Nam, và việc đấu tranh với những tổ chức này được xem là một nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc quan trọng.Hơn một tháng sau, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Đặng Minh Khôi đã đích thân đến trụ sở của Ban Tôn giáo Chính phủ.
Trong buổi làm việc với Ban Tôn giáo Chính phủ, ngoài đề cập đến tình hình sinh hoạt tôn giáo của người Việt hải ngoại, Thứ trưởng Khôi phát biểu: “Vẫn tồn tại các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để bôi nhọ, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, gây mất đoàn kết, làm ảnh hưởng tổ chức tôn giáo trong nước”.
Ông Khôi cũng tuyên bố rằng hai cơ quan nên sớm “xây dựng, thông qua quy chế phối hợp công tác”, đặc biệt là hợp tác về “hoạt động của cộng đồng chức sắc, tín đồ người Việt Nam ở nước ngoài”.Năm tháng sau, hai cơ quan này đã ký một chương trình phối hợp công tác kéo dài 5 năm (2020 – 2025) nhắm đến hơn năm triệu người Việt hải ngoại.
Lễ ký kết chương trình hợp tác giữa Ban Tôn giáo Chính phủ và Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, ngày 27/11/2020. Ảnh: Ban Tôn giáo Chính phủ.
Luật Khoa đã trao đổi với ông Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc điều hành và Chủ tịch của tổ chức nhân quyền BPSOS có trụ sở tại Mỹ và là người có thâm niên vận động cho tự do tôn giáo ở Việt Nam. Theo ông Thắng, nhận định của ông trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ cho thấy nhà nước “vẫn chưa xem người dân ra gì”, nhưng lại rất quan tâm đến áp lực quốc tế vì đụng chạm đến lợi ích của mình.
“Khi các tổ chức nước ngoài, nhắc nhở, đốc thúc hoặc đòi hỏi họ thực thi thì họ cáo buộc rằng đó là lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để gây sức ép về ngoại giao lên Việt Nam. Đúng ra, nhà nước Việt Nam cần tự xét và tự sửa; khi đã cam kết với quốc tế rồi thì họ phải lương thiện, phải thực tâm thi hành đúng và đủ các cam kết ấy”, ông Thắng nói với Luật Khoa.
Người dân biết gì về thỏa thuận hợp tác?
Ban Tôn giáo Chính phủ cho biết hiện nay có 5,3 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó khoảng 80% là người có tín ngưỡng, tôn giáo.
Những nhiệm vụ trong chương trình 5 năm này chỉ được Ban Tôn giáo Chính phủ cho biết một cách rất chung chung.
Về mặt luật pháp, việc hợp tác sẽ giúp xây dựng các chủ trương, chính sách, luật pháp liên quan đến tôn giáo của người Việt hải ngoại.
Hai bên cùng thống nhất rằng cần phải đổi mới hơn nữa việc vận động, tuyên truyền chính sách của đảng, nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cho người Việt hải ngoại.
Việc hợp tác giữa Ban Tôn giáo Chính phủ và Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài sẽ thúc đẩy việc xây dựng cơ chế trao đổi thông tin về hoạt động tôn giáo giữa hai cơ quan. Ngoài ra, từ kết quả hợp tác này, các tổ chức tôn giáo dành cho người Việt hải ngoại cũng sẽ được thành lập.
Ban Tôn giáo Chính phủ đã thực hiện một số hoạt động liên quan đến tôn giáo của người Việt Nam ở nước ngoài.
Ví dụ như năm 2018, Ban Điều phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập ở Lào. Lễ thành lập ban điều phối này có sự hiện diện của hai cán bộ Ban Tôn giáo Chính phủ, hai thành viên cấp cao Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một cán bộ thuộc Cục An ninh Nội địa Việt Nam.
Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Ngô Sách Thực tham dự sự kiện ra mắt ban điều phối Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Lào năm 2018. Ảnh: mattran.org
Năm 2019, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng trong chuyến làm việc ở Campuchia đã tuyên bố rằng sẽ xem xét thành lập Ban Điều phối Phật giáo Việt Nam và Thánh thất Cao Đài tại nước này.
Bài viết của ông Vũ Chiến Thắng trên Tạp chí Cộng sản cũng nên là một nguồn thông tin để người Việt Nam chuẩn bị tinh thần cho các hoạt động trong tương lai của cơ quan này ở hải ngoại.
Trong bài viết đó, vị trưởng ban đã đề ra những hoạt động về tôn giáo ở hải ngoại trong tương lai, như tham gia nhiều hơn các diễn đàn quốc tế để tuyên truyền chính sách tôn giáo của Việt Nam, “kịp thời định hướng dư luận” về các vấn đề tôn giáo “nổi cộm”, “đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc”, chủ động tuyên truyền đối ngoại về tôn giáo…
BPSOS: Chính quyền Việt Nam xâm nhập các cộng đồng tôn giáo ở hải ngoại
Hoạt động hợp tác của Ban Tôn giáo Chính phủ và Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài dựa trên một nghị quyết năm 2004 của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.
Ông Nguyễn Đình Thắng cho rằng một trọng tâm của nghị quyết này trong thực tế là xâm nhập các cộng đồng tôn giáo của người Việt hải ngoại.
Ông Thắng nêu một ví dụ liên quan đến đạo Cao Đài ở Mỹ. Năm 2009, Hội thánh Cao Đài Tòa thánh Tây Ninh (còn được gọi là Chi phái 1997) đã công khai thông báo việc một số hội thánh Cao Đài ở thành phố Boston (tiểu bang Massachusetts) và tiểu bang Utah quay về phục tùng Chi phái 1997. Việc này được xem là một thành công của Ban Tôn giáo Chính phủ trong việc thi hành Nghị quyết số 36.
Hội thánh Cao Đài Tòa thánh Tây Ninh được BPSOS cho là một tổ chức tôn giáo quốc doanh. Ảnh: SBS.
Vào năm 2018, BPSOS đã ngăn chặn một hoạt động khác của Chi phái 1997 tại Mỹ mà họ cho là “tinh vi”.
Theo đó, văn phòng đại diện của chi phái này ở Mỹ xin được giấy phép độc quyền sở hữu danh hiệu “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Nếu được cấp phép chính thức thì bất kỳ thánh thất nào ở hải ngoại muốn dùng danh hiệu này đều phải được Chi phái 1997 cho phép. Năm 2019, sau các can thiệp pháp lý của BPSOS, giấy phép tạm thời về sở hữu thương hiệu này cho Chi phái 1997 đã bị chính quyền Hoa Kỳ hủy bỏ.
Giám đốc điều hành của BPSOS cũng nhận định rằng chính quyền Việt Nam còn tận dụng chính sách thị thực cho người hoạt động tôn giáo để gửi các sư sãi Phật giáo vào Hoa Kỳ.
“Cách đưa người xâm nhập vào Hoa Kỳ như sau. Một chùa Phật giáo có thể bảo lãnh dăm người; sau vài năm số người này bỏ ra ngoài, lập chùa mới và mỗi chùa lại bảo lãnh dăm người nữa. Cứ thế tiếp tục. Chắc chắn đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đã không bỏ qua cơ hội này để cài người vào cộng đồng Phật giáo của người Việt ở Hoa Kỳ nhằm thực hiện Nghị quyết số 36”, ông Thắng cho biết.
Việt kiều: Từ phản động trở thành “khúc ruột ngàn dặm”
Hình ảnh những người miền Nam phải rời bỏ đất nước sau 1975 đã thay đổi liên tục trong mắt chính quyền Việt Nam.Sau ngày 30/4/1975, họ được xem là thành phần “phản động”. Không bao lâu sau, chính quyền lại gọi họ là “khúc ruột ngàn dặm”, “một bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết dân tộc”, mời gọi họ trở về đất nước.
Một buổi gặp gỡ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ năm 2015. Ảnh: Tuổi Trẻ.
Các nghiên cứu được trình bày trong một bài viết của Luật Khoa cho thấy chính quyền đã chủ động cởi mở các chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo để kích thích chủ nghĩa dân tộc, kêu gọi người Việt Nam trở về nước từ cuối thập niên 1990.
Theo Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, một nhà nghiên cứu có ảnh hưởng đến các chính sách tôn giáo của Việt Nam, việc thờ cúng tổ tiên đã được cho là có khả năng nuôi dưỡng lòng trung thành với quốc gia. Sau đó, nhà nước thay đổi cách ứng xử với hoạt động thờ cúng tổ tiên, không còn tẩy chay mà biến nó thành truyền thống dân tộc.
Những chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, kích thích tình yêu quê hương đã khiến đông đảo Việt kiều gửi ngoại tệ về cho người thân để làm ăn, cũng như đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.
Theo nghiên cứu của Kate Jellema, lượng kiều hối gửi về nước vào năm 2004 vào khoảng 3,2 tỷ đô-la Mỹ, nhiều hơn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Năm 2005, hai nhân vật nổi tiếng của miền Nam trước năm 1975 là Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, về thăm Việt Nam. Vào lúc này, Thủ tướng Phan Văn Khải đã kêu gọi người Việt hải ngoại gác lại sự khác biệt trong quá khứ để đóng góp cho đất nước.Cộng đồng người Việt ở nước ngoài vẫn được xem là một nguồn nhân lực, nguồn đầu tư kinh tế đáng kể cho Việt Nam. Tuy vậy, chính quyền Việt Nam chỉ chấp nhận đầu tư kinh tế, chứ không chấp nhận sự chỉ trích của cộng đồng này đối với các chính sách tôn giáo khắc nghiệt.