Văn Thơ Lạc Việt chúc thọ Nữ Sĩ Trùng Quang 100 tuổi.

          MỪNG SINH NHẬT               NỮ SĨ TRÙNG QUANG   Kính mừng sinh nhật nữ sĩ Trùng QuangTrải trăm niên kỷ thuở tuổi ngọc vàngVăn thơ phú lục toát lòng trung, hậuTài nhân mỹ đức phước lộc an khang…Danh cụ tỏ rạng như ánh bình minhĐồng điệu quý thương tài, đức,…

Details

20 năm thành lâp và phát giải Văn Thơ Lạc Việt tại Bắc California

XIN KÍNH CHÀO QUÍ VỊ. http://www.vantholacviet.com/news-2539/18/Co-so%CC%89-van-tho-La%CC%A3c-Vie%CC%A3t/Thiep-Moi-20-nam-thanh-lap-va-phat-giai-Van-Tho-Lac-Viet-2012.html Thi đàn Lạc Việt được thành lập năm 1992, sau kỷ niệm 15 năm đổi tên là Văn Thơ Lạc Việt. Năm nay kỷ niệm 20 năm thành lập Lạc Việt, Một hội văn học nghệ thuật sinh hoạt cùng những nhà thơ, nhà văn tại hải ngoại hầu…

Details

Thông Cáo Giải thi Văn Thơ Lạc Việt năm 2013

   ———————————————– THÔNG BÁO   Giải Văn Thơ Lạc Việt 2013   Nhằm mục đích bảo tồn và phát triển văn học dân tộc nơi hải ngọai, đồng thời cũng nhằm khuyến khích tinh thần sáng tác của mọi tầng lớp người Việt yêu thích văn thơ. Cơ sở Văn Thơ Lạc Việt xin trân…

Details

NGÀY HỘI NGỘ VĂN HÓA PHỤ NỮ VIỆT NAM TOÀN CẦU, LONG TRỌNG GHI DẤU 40 NĂM TỊ NẠN.

Tổ Chức Văn Chương Phụ Nữ Việt Nam Toàn Cầu do Cơ Sở Văn Hóa Đông-Phương thành lập từ năm 2005. Tổ Chức có mục đích tương thân tương ái giữa các Phụ Nữ VN sinh hoạt văn học nghệ thuật và truyền thông báo chí. Địa chỉ liên lạc tạm thời tại: P.O.Box 18104…

Details

Lê Văn Hải : Thông Báo ra mắt tác phẩm Hương Hồng Quế.

Hương Hồng Quế
Và Những Cảnh Ngộ Nghiệt Ngã Của Kiếp Người

 

Theo “thổ lộ” của tác giả, truyện Hương Hồng Quế được viết trong một thoáng tình cờ chụp bắt từ một mẩu chuyện bên lề, không chủ ý.

Một lần từ Sài Gòn ra Bắc, tác giả nghe người bạn thuật lại lời nói của một bà già bị bệnh hủi: "Trước khi chết tôi chỉ mong được ngửi mùi hương hồng quế một lần". Ước mơ giản dị đó của một người sắp rời cõi thế xoáy vào suy nghĩ của tác giả: Phải có “cái gì đó” gợi cho người đàn bà bất hạnh kia nhớ tới mùi hương hồng quế và kỷ niệm nào đó trong đời…

Câu nói đơn giản ấy đã làm tác giả rợn người, khiến tác giả nghĩ tới thân phận người trí thức còn sống trong nước. Người trí thức cũng què cụt, cũng đui mù rồi, nhưng ở tận đáy lòng vẫn nuôi dưỡng một niềm mơ ước dù rằng rất nhỏ, gắn với một kỷ niệm chẳng biết đáng gọi là vui, hay buồn, nhưng rất đẹp. Chính vì thế tác giả đã lấy ba chữ Hương Hồng Quế làm tên tập truyện.

Có lẽ ẩn ý này của tác giả khó được người đọc nhận ra, vì đây chỉ là một cảm nghiệm hoàn toàn riêng tư.

 

Nhìn lại suốt dọc dài lịch sử thăng trầm của đất nước, giới sĩ phu luôn luôn giữ vai trò hướng đạo trong mỗi thời kỳ sơn hà biến động, cũng như lúc xã tắc an bình. Giới sĩ phu thời xưa và thành phần trí thức thời nay dù cách xa nhau hàng thế kỷ nhưng thiên chức và vai trò của họ trước vận mệnh dân tộc không có gì thay đổi.

Dưới các triều đại quân chủ, cùng với nhà vua, giai cấp sĩ phu đã từng chủ động và chứng tỏ vai trò ưu thế của mình trong việc an định nước nhà, mưu cầu hạnh phúc cho toàn dân. Nhiều bậc sĩ phu là những nhà nho, ngay từ thời nhà Trần đã xây đắp một nền văn học Việt Nam sáng chói với những văn tài như Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Hồ Quý Ly, Nguyễn Thuyên, Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh, Phạm Ngũ Lão…

Dòng văn học đó tiếp nối theo giòng lịch sử với những danh nhân tên tuổi như Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Đoàn Thị Điểm, Hồ xuân Hương…

Và từ thời cận đại đến cuối thế kỷ 20, một thế hệ cầm bút mới tiếp nối sự nghiệp tiền nhân như  Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường, Phùng Quán, Trần Dần, Phùng Cung v.v.

Dấu mốc lịch sử, Hiệp định Geneve 1954 kết thúc chiến tranh Việt – Pháp, đất nước chia đôi, Văn học Việt Nam rẽ thành hai giòng chảy: vàng đỏ, trong đục khác biệt…

Văn học miền Bắc, như lời thú nhận của những người làm văn học “ăn cơm chúa múa tối ngày” đã viết trên giấy trắng mục đen rằng một trong những “Đặc điểm cơ bản của nền văn học mới” là “một nền văn học thống nhất, có tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng” (1).

Ở một chỗ khác, tương đối kín đáo hơn, những người làm văn học XHCN ở miền Bắc lại viết:

“Mấy chục năm qua, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và được sự lãnh đạo của Đảng, giới nghiên cứu văn học đã tiếp thu một cách chọn lọc những kinh nghiệm và truyền thống của việc nghiên cứu văn học thời trước để tìm hiểu sự phát triển của văn học Việt Nam…” (2)

Trong khi đó, người cầm bút, giới văn nghệ sĩ, nói chung trong 20 năm Văn học miền Nam hoàn toàn được tự do sáng tác, phát hành, phổ biến.

Khỏi cần lý luận dông dài, mọi người đều thấy rõ bản chất của văn học miền Bắc” là một nền Văn học được “soi sáng” bởi chủ nghĩa Mác-Lênin, dưới sự chỉ đạo, kiểm soát và khống chế của đảng CSVN.

Lịch sử nói chung và văn học, nói riêng đã bị nhào nặn, vo tròn bóp méo, cố tình nhận định sai lạc nhằm phục vụ chế độ, theo kiểu “mặt trời chân lý” của Tố Hữu. 

Giới trí thức miền Bắc dưới chế độ Cộng sản trong hàng chục năm qua đã phải thúc thủ trước “bạo lực cách mạng”. Vì cơm áo và sự sống, một số đông đã bị “què cụt, đui mù”, giấu kín trong lòng những ước mơ và kỷ niệm…  – Ước mơ một lần được ngửi mùi hương tự do dân chủ – Một số vẫn kiên cường vung bút đòi hỏi tự do sáng tác, ghi lên sách báo sự thật lịch sử, những hiện tượng và hành vi bất lương của thời đại họ đang sống, chấp nhận mọi hậu quả trả thù ác nghiệt. Đó trường hợp của Nhân Văn Giai Phẩm và các nhà văn, nhà báo, giới trí thức, luật gia hiện nay ở trong nước.

 

**

Tôi nhận bản thảo “Hương Hồng Quế”, đọc từ truyện đầu sách cùng tựa đề, đến truyện thứ 28 cuối sách, mỗi truyện một nội dung, một cảnh ngộ, kết cấu khác nhau nhưng luồng văn có sức thu hút, lôi cuốn người đọc không thể dừng lại sau mỗi truyện, mà phải giở sang trang sau, đọc tiếp truyện khác.

Tập truyện chia làm hai phần.

Phần I gồm 22 truyện ngắn.

Phần II có 6 truyện, là một loại phóng tác, làm mới lại và đưa ra một cái nhìn mới về những huyền thọai dân gian, lịch sử, giả tưởng từ Trương Chi-Mỵ nương, Lưu Thần-Nguyễn Triệu, Hậu Nghệ, đến Từ Hải, Trọng Thủy-Mỵ châu…

Hầu hết các cốt truyện trong phần I là những cảnh ngộ nghiệt ngã của những kiếp người trong một xã hội đã băng hoại đạo lý. “Nạn kỳ thị vẫn độc hơn lưỡi dao giết người”. Hương Hồng Quế giống như cuộc tình mong manh, nhưng dường như nó không chỉ là một thoáng tình, mà còn là niềm khát vọng, sau chuỗi dài cay đắng.

Trong “Bản Hợp đồng”, không phải một Đan Thanh mà có thể hàng chục nghìn, hàng trăm nghìn cô gái bất hạnh khác lênh đênh trong một mảng xã hội lọc lừa sa đọa. Tác giả nói với mình hay nói với mọi người: “Điều nghiệt ngã là trong một thế giới còn bất công, chúng ta có qúa ít sự lựa chọn, bởi thế ranh giới giữa tội phạm và nạn nhân, không phải lúc nào cũng rạch ròi…”

Sự đổi chác giữa hai phái tính nam nữ tưởng là “sòng phẳng, lạnh lùng” nhưng vẫn không thể đẩy nỗi xúc động, xót xa nhân bản ra khỏi trái tim của một con người. “Đan Thanh tồn tại và biến mất giữa một thế giới thừa thãi sự tiến bộ, nhưng thiếu hụt tình người. Cô sống như cỏ cây, như hạt bụi đọng”. (Bản Hợp đồng)

Cảnh bịp lừa, dối trá, chơi đểu lẫn nhau không chỉ ở những mảng xã-hội-đen mà còn khá phổ biến khắp nơi, ở các công sở, xí nghiệp, công ty. Tại một công ty sản xuất lớn, có hàng trăm cán bộ, công nhân, “nghe nói có mấy thằng trong cơ quan muốn chơi anh”. Thế là xếp bỏ tiền ra – chẳng phải tiền của xếp – cho anh kỹ sư thiết kế chiếc máy “tét” nói dối. Và máy phát hiện “xếp ngu như bò”. Anh kỹ sư nghĩ bụng: “ngu như bò hay ngu như lợn thì cũng na ná như nhau, mà có lẽ lợn còn tệ hơn bò một bậc, vừa ngu vừa bẩn…” (Máy Tét). 

Họat cảnh xã hội Việt Nam đương thời dưới ngòi bút của Vũ Lưu Xuân đã phơi bày nhiều tệ trạng, đủ mọi thứ nạn nhân bị xô đẩy, bị vùi dập giữa dòng sống thác loạn. Con người luôn luôn gặp phải trở lực, ngõ cụt, không lối thóat. Ở đó là những mảnh đời, những thân phận, những dằn vặt, vật lộn, giằng xé, những nỗ lực đến tuyệt vọng để được làm người.

“Thảm quá! Tôi bảo thật, chú vô tội, có tội là cái xã hội đã đẩy con người vào bước đường cùng”. (Trắng đen)

Bên cạnh sự thừa thãi phung phí của con cái những nhà giàu của, lắm tiền, quyền cao chức lớn, thì ước mơ nhỏ bé tầm thường của một học sinh con nhà nghèo khó, xin ông già Noel chỉ là quyển vở học trò và bộ quần áo đồng phục: “Con muốn xin ông nhiều thứ lắm. Trước hết con xin bộ đồng phục cho thằng Út, nó khai giảng lớp một hết mấy tháng rồi mà vẫn chưa có đồ mặc. Con cũng xin ông hai cuốn tập trăm trang giấy trắng…” (Quà Giáng Sinh).

Còn nữa, trong những truyện khác, nhiều cảnh ngộ bi đát kiếp sống con người dẫy đầy trên mặt nổi xã hội Việt Nam hiện nay. May thay, tàng ẩn giữa môi trường sống bon chen, giành giựt, trấn lột lẫn nhau, với ngòi bút hướng thượng, nhân bản, tác giả Vũ Lưu Xuân đã không quên nét đẹp tâm hồn của người con gái vùng vẫy vượt lên số phận, như cô bé trong truyện “Từ Trong Bóng Tối Bước Ra”. Hay những con người hy sinh quên mình, nhường cả hạnh phúc lớn lao cho tha nhân như Minh, người điều hành trung tâm người mù đã nhường ca mổ mắt lấy lại ánh sáng cho người khác … 

 

Đọc sang phần II tập truyện, độc giả sẽ không thể không dừng lại nghe Hậu Nghệ tái sinh trình bày:

“Hôm nay Nghệ được lệnh tiếp xúc cùng qúy vị, để chận đứng bàn tay đẫm máu của những kẻ vẫn tự nhận mình là duy nhất đúng… Nghệ đã ngẩng cao đầu, lần lượt bắn rụng chín mặt trời và bị đầy xuống đáy mười tám tầng địa ngục. Bọn đồ tử, đồ tôn của Nghệ đã nhân danh một thứ chân lý tuyệt đối, duy nhất đúng, để tiêu diệt những ai không cùng một quan điểm với mình, chúng đáng bị đầy xuống tầng mười bẩy, tầng này hiện đã quá chật…” (Hậu Nghệ).

Tác giả Vũ Lưu Xuân trong phần Tự bạch có bài thơ Vô Đề, hai câu mở đầu:

Hồn ta đâu là bãi sông đò vắng,

Mà nghe vọng hoài tiếng hát buồn tênh!

 

Bài thơ viết ở tuổi 40 của một con người sinh ra và lớn lên giữa bủa vây của âm thanh bom đạn và khói mù khét lẹt của chiến tranh, để rồi khi đất nước hòa bình, ngỡ ngàng thất vọng truớc một kết cuộc bi thảm phủ trùm khắp mọi đường ngang lối dọc.

Năm 1981, Vũ Lưu Xuân bỏ nghề dạy học, gom toàn bộ sách vở cân ký bán “ve chai”, tự nguyện làm “tên vô học”, nhưng Vũ Lưu Xuân đã không thể buông bút, bỏ chữ nghĩa, nên ông đã làm thơ, dù chỉ có một bài duy nhất – một bài thơ tưởng đã đủ nén vào đó tâm sự cả một đời người – và dần dà từng truyện ngắn lần lượt ra đời, làm món quà tinh thần quý giá cho các thế hệ hôm nay và cho văn học mai sau.

Cơ sở Thi Văn Cội Nguồn hân hạnh là trung gian chuyển tới bạn đọc tác phẩm văn học giá trị này. Và đây là một trong những mục tiêu mà chúng tôi theo đuổi như tôn chỉ đã được đặt ra từ ngày thành lập, muời lăm năm truớc.

 

SONG NHỊ 

20 tháng 7-2009

Ngô Sĩ Hùng : Hội Ái Hữu Đồng Hương Bắc Ninh

Thư Mời Tham Dự Buổi Họp Sơ Bộ

                Kính thưa quý vị,

                Đã từ lâu “Hội Ái Hữu Đồng Hương Bắc Ninh” vùng bắc California tạm ngưng vì lý do một số quý vị trong ban chấp hành cao tuổi

                Sau khi lien lạc và tham khảo, chúng tôi đã được đa số đồng hương hiện đang cư ngụ tại San Jose và các tỉnh phụ cận đã khuyến khích  cũng như đề nghị nên tổ chức một buổi họp sơ bộ và mời những đồng hương trưởng thượng cũng như những vị có nhiệt tâm đến để góp ý kiến cũng như bàn thảo làm sao để tái sinh hoạt “Hội Đồng Hương Bắc Ninh” vùng bắc California

               

Thời gian buổi họp: Vào lúc 10 giờ sang chủ nhật ngày 15 tháng8, năm 2010

                Tại số 480 N. First Street, San Jose, CA 95112 (góc đường Empire)

                Nhóm vận động: L/S Bick Nguyễn  ĐT  (408) 288-9030

                                                                Ông Nguyễn Như Hùng  (408) 241-8078

                                                                Ông Ngô Sĩ Hùng  (408) 926-2438

Kính xin quý vị đồng hương nhiệt tình tham dự và phổ biến rộng rãi thư này đến những người thân, người quen cùng quê hương Kinh Bắc

Chân Trọng

Ngô Sĩ Hùng

————————————————————

Bắc Ninh – Miền quê của những di sản lịch sử, văn hoá tiêu biểu

 

 

► Các địa phương
Nguồn: website Bắc Ninh
Cập nhật: 09/09/2009, 13:36:56
Đến bất cứ đâu trên mảnh đất Bắc Ninh – miền quê địa linh nhân kiệt" – Nơi từ nghìn xưa cho đến hôm nay luôn là phên dậu phía Bắc của kinh thành Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, cũng đầy ắp những kỷ niệm lịch sử được kết tinh trong những di sản văn hoá tiêu biểu ở khắp các làng quê của vùng đất này.

Bên kia sông Đuống, trên đất Thuận Thành, uy nghiêm lăng mộ Kinh Dương Vương, đền thờ Lạc Long Quân – Âu Cơ tại làng Á Lữ – di tích thờ "Nam bang thuỷ tổ" (ông Tổ nước Nam). Thành cổ Luy Lâu ở xã Thanh Khương (Dâu) với các di tích dinh thự, phố chợ, đền đài, chùa tháp nguy nga còn lại của trung tâm chính trị, kinh tế thương mại, trung tâm Phật giáo và Nho giáo của nước ta trong thiên niên kỷ đầu công nguyên.

Thuận Thành còn là miền quê của nghệ thuật dân gian với làng tranh Đông Hồ, làng ca trù Thanh Tương, múa rối nước Bùi Xá, kiến trúc Phật giáo nổi tiếng cổ kính và mỹ lệ như Chùa Dâu, chùa Bút Tháp. Đây còn là quê hương của nhiều thi nhân nổi tiếng như Nguyễn Gia Thiều, Sái Thuận,…

Qua Thuận Thành, tới Gia Bình -Nơi có ngọn Thiên Thai thơ mộng, quê hương của ông trạng khai khoa Lê Văn Thịnh là một địa thắng nổi tiếng nên các vua chúa đời trước đã dựng chùa Đông Lâm, chùa Tĩnh Lự trên đỉnh núi, cung Long Phúc ở sườn non để thường xuyên về đây du ngoạn. Qua Thiên Thai tới Lệ Chi Viên và dấu tích hành cung Đại Lai nơi xẩy ra vụ oan nghiệt với Nguyễn Trãi -người anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá thế giới. Từ Đại Lai sang chùa Đại Bi – quê hương của nhà sư, thi sỹ nổi tiếng Huyền Quang, một trong ba vị tổ của thiền phái Trúc Lâm thời Trần. Xuống cửa Lục Đầu – Bình Than vũ công lẫy lừng, vào thăm đền thờ và lăng mộ Cao Lỗ Vương ở làng Đại Than và Tiểu Than quê hương của nhà quân sự tài ba đã sáng chế ra nấy nỏ và kiến trúc kinh thành Cổ Loa, giúp vua An Dương Vương bảo vệ nhà nước Âu Lạc.

Vượt cầu Hồ hay từ Hà Nội ngược quốc lộ 1A qua sông Hồng, sông Đuống tới đất Từ Sơn xưa, nay là các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong, thị xã Bắc Ninh và huyện Quế Võ. Hơn bất cứ đâu nơi đây đậm đặc di tích lịch sử và sống động truyền thống văn hoá Việt Nam. Làng Đình Bảng, lăng Lý Bát Đế, đền Cổ Pháp-nơi yên nghỉ và tôn thờ các vua Lý những bậc minh quân đã khai mở một triều đại vàng son, xây dựng và phát triển nền văn minh Đại Việt. Vùng đất này là địa bàn chủ yếu để thi triển các chính sách bảo vệ và xây dựng đất nước, phát triển văn hoá Việt Nam của các triều đại với nhiều thành tựu rực rỡ. Chiến tuyến Như Nguyệt, đền Xà, đền Yên Phụ (Yên Phong) còn âm vang lời tuyên ngôn trên dòng sông Cầu lịch sử "Nam quốc sơn hà Nam đế cư…" (sông núi nước Nam vua Nam ở). Các chùa Phật Tích, Tiêu Sơn, Bách Môn, Bách Môn, Cổ Pháp, Lãm Sơn (Dạm), Hàm Long, các đình Đình Bảng, đình Diềm, đền Bà Chúa Kho, đình Hồi Quan, Cổ Mễ, thành cổ Bắc Ninh,…là những danh lam cổ tự và những công trình kiến trúc nghệ thuật vào bậc nhất của nước ta thời Lý-Trần-Lê. Tiêu biểu là Văn Miếu Bắc Ninh, nơi tôn thờ trên 600 tiến sỹ quê hương Kinh Bắc-Bắc Ninh, chiếm 1/3 các vị đại khoa Hán học cả nước, cho thấy Bắc Ninh là vùng đất tiêu biểu của nền văn hiến Việt Nam. Nền văn hiến ấy nẫy nở, bảo tồn và phát triển trước hết ở các làng xã Bắc Ninh. Đa số làng quê ở đất này được tôn vinh là "Mỹ tục khả phong", "địa linh nhân kiệt" bởi có lịch sử lâu đời và trù phú với các hoạt động kinh tế, văn hoá vừa đa dạng vừa sôi động. Nơi đây có các làng tiến sỹ như Kim Đôi, Tam Sơn, Vĩnh Kiều,…các làng buôn nổi tiếng như Phù Lưu, Mai Động, Đình Bảng, Lũng Giang,… và đông đảo các làng thợ; làm giấy gió Đống Cao, chạm khắc gỗ Phù Khê, Kim Thiều, Đồng Kỵ; rèn sắt Đa Hội, sơn mài Đình Bảng, đúc đồng Đại Bái, Quảng Bố, làm gốm Phù Lãng, dệt lụa Cẩm Giang, Tam Sơn, Nội Duệ,…

Bắc Ninh là vương quốc của lễ hội, quê hương của sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc và phát triển tới đỉnh cao. Hầu như làng nào cũng có lễ hội, trong đó có nhiều lễ hội tiêu biểu cả vùng, cả nước như hội xem hoa mẫu đơn chùa Phật Tích, hội rước pháo Đồng Kỵ, hội đền Lý Bát Đế, đền Bà Chúa Kho, hội chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Hàm Long, hội đền Phả Lại, hội giổ tổ Huyền Quang,…Nổi tiếng và thu hút là hội ca hát giao duyên của các làng Quan Họ. Lễ hội và các hoạt động văn hoá của dân tộc Việt Nam trên vùng đất Bắc Ninh ? Kinh Bắc: thông minh, cần cù, tài khéo, năng động và tinh xảo trong hoạt động kinh tế, sáng tạo trong hoạt động văn hoá nghệ thuật và bao trùm là đạo lí sống "uống nước nhớ ng uồn" , quý trọng cái tình , cái nghĩa, sự chung thuỷ trong quan hệ ứng xử giữa người với người "bốn biển một nhà", "tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm", tôn vinh tình yêu thương con người và sự mê say các hoạt động văn hoá nghệ thuật. Vì vậy về với Bắc Ninh là về với quê hương của thi ca, nhạc hoạ, về với cội nguồn dân tộc và văn hoá Việt Nam.

Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, những di sản văn hoá quý giá của quê hương Bắc Ninh ? Kinh Bắc đang được bảo tồn và phát huy, góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hiến Kinh Bắc.

 

 

Cao Sơn : “CƯ AN TƯ NGUY” CỦA LLSQTĐ/QLVNCH THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP

VỚI GẦN 200 NGƯỜI THAM DỰ TIỆC TÂN NIÊN & KỶ NIỆM 08 NĂM HOẠT ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH “CƯ AN TƯ NGUY” CỦA LLSQTĐ/QLVNCH THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP   * Đại diện Hiệp Hội Doanh Gia Việt Mỹ và California Waste Solutions Ông Victor Dương ủng hộ $2,000.00 Mỹ kim   SANJOSE…

Details

Đông Anh:Thư Mời lễ giỗ 100 ngày Cố Thi Sĩ Hà Thượng Nhân.

Sinh Hoạt Văn Học Nghệ Thuật:                            Thứ Sáu Ngày 20 Tháng 1/2012, Lúc 6 Giờ Chiều                            Tại Nhà Thờ Maria Goretti, 2980 Senter Rd.                                                      Thư Mời Tham Dự Lễ Giỗ 100 Ngày                                                       Của Cố Thi Sĩ Hà Thượng Nhân.                                  Hình Ảnh Các Đây 100 Ngày!  (Tổng Hợp)  …

Details