Gs Nguyễn Viết Khánh: ÐỊA BÀN CHỐNG KHỦNG BỐ

Gs Nguyễn Viết Khánh: ÐỊA BÀN CHỐNG KHỦNG BỐ

Vậy bin Laden và bọn al-Qaida có gốc gác như thế nào? Vào cuối năm 1979 Liên Sô đã mở cuộc tấn công đánh chiếm Afghanistan, lập một chính quyền Cộng sản, bị sự phản kháng dữ dội của các nhóm du kích Hồi giáo gọi là “mujahideen”, chủ trương dùng Thánh chiến (jihad) để tiễu trừ bọn ngoại xâm. Ðó là thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ tìm cách giúp du kích Hồi giáo đánh Nga. Với sự yểm trợ của Pakistan, Mỹ cấp vũ khí, giúp cả việc huấn luyện cho du kích chống Cộng ở Afghanistan. Trong số các du kích này có một người trẻ tuổi từ Á Rập Sê-út ở Trung Ðông đến. Tên anh ta là Osama bin Laden. Năm 1989, Liên Sô chịu không thấu, phải ký kết hòa ước rút quân khỏi Afghanistan, để lại một Tổng Thống thân Cộng. Liền sau đó các nhóm du kích Hồi giáo đánh lẫn nhau để tranh cướp chính quyền. Ðến năm 1996 nhóm Taliban phần lớn gồm những thanh niên Hồi giáo chiếm được thủ đô Kabul, thiết lập một chế độ Thần quyền cai trị theo luật Hồi giáo. Ðến năm 1998 nhóm khủng bố có tổ chức xuất hiện ở một vùng núi hiểm trở phía Ðông Afghanistan gần biên giới Pakistan. Người cầm đầu nhóm này chính là Osama bin Laden, vốn là con nhà triệu phú Á-Rập có nhiều tiền đã lập một căn cứ huấn luyện nhóm khủng bố al-Qaida, dưới sự bao che của chính quyền Taliban.

Vậy tại sao bin Laden ra lệnh cho al-Qaida đánh thẳng vào Mỹ vào tháng 9 năm 2001? Rất có thể bin Laden đã có tư tưởng này ngay sau khi quân Liên Sô phải rút khỏi Afghanistan năm 1989. Hắn thấy một siêu cường tương đương với Mỹ vào lúc đó đã phải thất bại trước sức mạnh của “jihad”, vậy tại sao Hồi giáo không đánh luôn cả Mỹ và các nước Âu châu? Ðó là những nước từ lâu vẫn bị tố cáo lợi dụng di sản thời thuộc địa từ hơn hai thế kỷ trước để áp chế và trục lợi kinh tế ở các nước Trung Ðông. Tổ chức khủng bố al-Qaida lợi dụng việc Mỹ đánh Iraq trước hết để bành trướng thế lực ở Trung Ðông và sau ở nhiều nơi khác trên thế giới. Sở dĩ bin Laden cho tấn công Mỹ trước là để dằn mặt Mỹ không cho can thiệp vào việc nội bộ của Trung Ðông. Ngoài ra khủng bố đánh Mỹ mà Mỹ không ngăn chặn nổi cũng là một cách dằn mặt các nước Tây phương. Người ta đã thấy những gì xẩy ra trên hai mặt trận ở Afghanistan có quân Mỹ và quân khối NATO tham dự, và ở Iraq có quân Mỹ và quÐầu tuần này tình hình Iraq thật đáng quan ngại. Hai bom đặt trên xe vận tải đã nổ ở một làng người Hồi hệ phái Shi-a ở gần thành phố Mosul phía Bắc Iraq làm chết 28 nguòi, trong khi tại Baghdad 9 vụ nổ liên tiếp đã làm chết 22 người. Tính từ 3 ngày qua các vụ đánh bom đã giết chết 100 người Shi-a. Các vụ đánh bom đó do nhóm người Hồi Sun-ni nổi loạn hợp tác với al-Qaida (cũng gốc Sun-ni) thực hiện, nhằm gây lại các cuộc xung đột giữa hai hệ phái Sun-ni và Shi-a đã từng diễn ra khốc liệt trong những năm 2006 và 2007, làm chết hàng chục ngàn người. Vậy quân Mỹ có thể rút ra khỏi Iraq dự liệu vào năm 2011 hay không? Thủ tướng al-Maliki (gốc Shi-a) quả quyết nói các lực lượng an ninh của ông có đủ khả năng kiềm chế nạn bạo động trong khi quân đội Mỹ chuyển dần trách nhiệm an ninh cho chính quyền Iraq. Tôi nghĩ sự xung đột giữa hai phe Shi-a và Sun-ni ở Iraq đã có từ mấy chục năm qua, đây là chuyên nội bộ của Iraq, nên để cho dân nước này giải quyết.

Trong khi đó cuộc chiến ở Afghanistan, có nhiều chuyện phức tạp hơn. Ở đây hiện có 101,000 quân NATO và quân Mỹ tham chiến. Trong số này quân Mỹ có 62,000 quân, tức là Mỹ đã tăng gấp đôi số quân. Từ đầu tháng 7 bọn phiến loạn do Taliban cầm đầu đã gia tăng các cuộc tấn công, khiến tháng đó là tháng thiệt hại nhiều nhất cho quân đồng minh: 74 người chết trong đó có 43 quân Mỹ. Người ta e rằng các trận chiến còn gia tăng hơn nữa trước ngày 20/8 là ngày bầu cử nhiệm kỳ mới của Tổng Thống, hiện vẫn do ông Hamid Karzai tại chức. Tình thế đặc biệt là dân nước này nghèo khổ, ít học, chỉ sống bằng nghề trồng nha phiến, và đa số cũng nghiền nha phiến. Quân NATO theo lệnh của LHQ cấm dân trồng nha phiến, nhưng bọn Taliban lại sẵn sàng cho dân trồng để lấy nha phiến bán ra nước ngoài đem tiền về dùng làm chiến phí. Thành ra quân NATO đi đến đâu, dân làng “nghiền” cũng ngấm ngầm báo động Taliban. Ðây là cuộc chiến rất khó khăn cho Mỹ và NATO.

Tôi đã viết dùng quân đổ bộ vào một nước để đánh khủng bố là một sai lầm chiến lược. Ðịa bàn chống khủng bố nhằm chỉ một khu vực rộng lớn gồm đủ mọi nơi trên thế giới, không phải để tổ chức một thế liên minh quân sự, mà để tìm một sự hòa hợp cộng tác trong hòa bình vì lợi ích chung của cả thế giới. Các thế liên minh quân sự đã hết thời. Ở Iraq, quân Anh đã rút khỏi Iraq. Ở Afghanistan quân đồng minh NATO chỉ có danh nghĩa thời chiến tranh lạnh, còn bây giờ tham chiến chống khủng bố là hời hợt, chính vì thế Mỹ đã phải tăng thêm quân. Với chiến lược hòa hợp cộng tác, Mỹ nhằm vào đâu? Âu châu đã hết thời với NATO, các nước Nam Mỹ chỉ lo chuyện địa phương trên lục địa của họ. Phi Châu phần lớn nghèo khổ, chỉ Bắc Phi có các nước mạnh, dân trí cao, bọn khủng bố không bén mảng tới. Ở Á châu có Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á là địa bàn Mỹ có thể nhìn đến để áp dụng chiến lược hòa hợp cộng tác về mặt kinh tế.

Trung Quốc đang phải đối phó với Tân Cương, nhưng không lo người Hồi Trung Á đi theo khủng bố, mà chỉ lo phát triển kinh tế cho 1 tỷ 3 trăm triệu dân khỏi nổi loạn vì nghèo khổ. Trong khi đó ở Nam Á, Ấn Ðộ theo Ấn giáo đã thẳng tay trừng trị bọn Hồi giáo quá khích sau vụ đánh bom ở Mumbai. Ở Ðông Nam Á có khối ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á) là một thế lực kinh tế đang lên mạnh, tạo thành một thế chân vạc với kinh tế Trung Quốc và Nhật Bản. Xét trên toàn cầu, đây là một địa bàn quan trọng nhất. Mỹ nên tăng cường mối quan hệ hòa hợp với địa bàn này. Và khi Mỹ đã thay đổi địa bàn chiến lược, tất nhiên cũng phải thay đổi cả chiến thuật. Mỹ nên đánh khủng bố từ trên cao hay từ biển, thay vì dùng quân đổ bộ ở những nơi không có trận tuyến rõ rệt.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh.

Phan Lạc Phúc : Qua Cơn Mê

Biếm họa Bùi Bá: Năm Tân Mão 2011, con mèo châm ngòi cho nổ banh xác pháo. Câu Đối Tết Con Mèo. Ba Đình tâu với Thiên Đình, thú thật Triều Đình không nói dối. Hà Sĩ Phu (xướng). Ái Quốc bám theo Trung Quốc, e gần Phản Quốc có đâu xa.  Hữu Tình (họa).…

Details

Hình ảnh Sài Gòn theo dòng lịch sử

Tìm Đâu  Niềm thương dù cho xa cách muôn trùng không phai mờ Ngày tháng vấn vương theo áng mây trôi đi bơ vơ Tìm lúc chiều về những phút say mơ Tìm về lối cũ nên thơ Hàng cây im bóng bên hồ Đàn ơi hòa theo tiếng gió mơ màng đi xa vời…

Details

Thế giới thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Thế giới thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam 24/10/2009 Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu hôm qua trình bày công trình nghiên cứu về thềm lục địa biển Đông và hải đảo Việt Nam qua các thời kỳ, tại buổi tọa đàm “Tìm hiểu thềm lục địa biển Đông và hải đảo Việt Nam”…

Details

Khổng Trọng Hinh : Hoa Phù Dung

       Trong quyển tình sử cải lương Cuộc Đời Thanh Nga tác giả Ngành Mai có đề cập đến vở tuồng đầy ắp những thơ này, và có ghi lại câu thơ: “Chính em đã nói với anh, chọn màu áo cưới màu xanh biển nhà…” Và lời ca của Hữu Phước xuống…

Details

Trần Đại Sỹ : Lĩnh Địa Thời vua Trưng

Lĩnh Địa Thời vua Trưng Trần  Đại Sỹ          6.1. Vua Bà của Trung-quốc là vua Trưng, Trong những năm 1978-1979 khi dẫn phái đoàn Ủy-ban y học Pháp-Hoa (CMFC) đi trao đổi tại các tỉnh cực Nam Trung-Quốc như Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-nam, Quý-châu và Tứ-xuyên… tôi thấy khắp các tỉnh này,…

Details

Thế Phong : GẶP LẠI KỊCH- TÁC- GIA HOÀNG NHƯ MAI Ở TUỔI 93.

GẶP LẠI KỊCH- TÁC- GIA  HOÀNG NHƯ MAI Ở TUỔI 93.

Thế Phong
 Phạm công Thiện – Thế Phong – Đinh Cường. Đà Lạt 1963 thời Thiện 22 tuổi viết Ý Thức mới trong văn nghệ và triết học

Phạm công Thiện - Thế Phong - Đinh Cường. Đà Lạt 1963 thời Thiện 22 tuổi
viết Ý Thức mới trong văn nghệ và triết học  

 Bấm chuông nhà số 4…/ F.) Trần Quốc Tuấn, quận Gò Vấp (ngoại vi tp. HCM) – một phụ nữ ra mở cửa.

Cuôc thăm đột ngột , không hẹn, mà trước đó 2 ngày- trong bữa ăn sáng ở Tân Định, một vị nhắc tới Hoàng Như Mai – đại khái lần tới thăm, ông bị ốm , nằm co quắp tại lầu 1, vẫn  nói chuyện tiếp khách  rôm rả. Đó là chị  Y. – nói về Hoàng Như Mai, chị thật có lòng ưu ái, kính trọng” thầy cũ”.

Vào nhà, đứng đợi ở phòng khách  dăm phút,,  chủ nhà “ đi từng bước, bước chẳng đi”   dọc  theo cầu thang, từ lầu 1 xuống.

 (…nhớ lại, tôi đã tới căn biệt thự trệt này 1 lần- đáp lễ –  sau lần tác giả đích thân đem tập kịch mới in xong” Tiếng trống Hà Hồi” (1) đến  nhà tặng. Buổi ấy, ông  mặc bộ” com lê” xám, xúng xính lội bộ từ đầu hẻm đường Trần Khắc Chân vào nhà. Tài xế xe hộp đậu phía ngoài đường chờ,-sau mới biết tác giả   mới nhận  làm hiệu trưởng “ Trung học Tư thục Trương Vĩnh Ký” ở  quận Tân Bình).

Nhìn thấy chúng tôi, ông lại dừng bước ở phân nửa cầu thang, lại  giương đôi mắt lạ lẫm phóng về hai người khách – hình  như chưa từng gặp bao giờ.  Nửa như không muốn tiếp, điều này  cũng  phải thôi- Saigon bây giờ lắm loại’ cướp ngày” đột nhập”- đề phòng là tự bảo vệ  tốt nhất.

 Tự giới thiệu:

”… tôi là Thế Phong, 16, 17 năm trước từng  họp ở 42 Yết Kiêu Hà Nội  cùng anh và  một số nhà văn Pháp ,do Đại sứ quán Pháp tổ chức “ Les Temps des Livres” –  và đây  anh Lữ Quốc  Văn,  bạn tôi – người  từng chụp  chân dung anh  nhiều’ pô”  tuyệt đẹp tại sân bay Tân Sơn Nhất năm nào…

vẫn như gặp khách lần đầu, tôi hơi ngượng, cảm thấy sự tới thăm này không nên có, và không phải” đạo” chút nào.

  Tôi giữ im lặng nghe Hoàng như Mai nói chuyện với bạn tôi.

Riêng tôi nhớ lời chị Y nói:

-….“Thầy M. thật tội, hai con gái  đã lập gia đình rồi bỏ chồng. Hiện ở với  một đứa con :” bố sai đi mua thuốc tây, chìa tay hỏi ”  tiền đâu hở bố” ?!

 

 

Lữ Quốc Văn vào chuyện:

 

-… lần  tôi  về Hà Nội cũng  khá lâu rồi, tôi  từng  gặp  Hữu Loan, Phùng Cung, Hoàng  Cầm, Trương Tửu…( buổi sinh thời, có thơ, sách tặng, nói chuyện văn chương, thế sự thân mật, rôm rả.) Biết tôi từ miền Nam ra, và tin cậy, dù lần đầu gặp, cụ trút tâm sự chuyện thành lập” Nhóm Hàn Thuyên”. Sở dĩ mới Nguyễn Đức Quỳnh, vì người  anh vợ có nhà in , lại không biết làm sao có việc làm, như cần phải mở một  nhà xuất bản  chẳng hạn. Lúc cuối đời, cụ  Trương Tửu  xin cưới môt cô em vợ” -cô ấy đã nuôi cụ Tửu cơm áo, săn sóc bệnh tật -, nhưng không thành , vì con cả ( Nguyễn Bách Khoa) không thuận, ,…. và  vì sợ bị chia gia tài.…

chủ nhân  nghe xong, bày tỏ  :

                      -Sau vụ Nhân văn Giai phẩm ,tôi nhớ ” thầy Trương Tửu ‘về  nhà,nói là dịch sách cho Nxb Giáo dục, ông Trần ĐứcThảo về Nxb Sự thật, ông Đào Duy Anh về Viện Sử học.   Sau này, thầy Trương Tửu bỏ việc,  không nhận công tác, về nhà  châm cứu … Còn thầy Nguyễn Mạnh Tường, thì tôi  là học trò có rất nhiều “kỷ niệm….. “…

                      tôi nhớ ra ngay- một đoạn văn nhắc  chuyện” thầy Hoàng Như Mai “:…

                       ”.. sau 1954,  thầy  Mai” học trò ngỗ nghịch của  thầy Nguyễn Mạnh Tường “ ( Mai Sơn / báo” Văn nghệ Nghệ An “) –

                      ….tới  khi đã làm” thầy” rồi, “ cũng bắt chước thầy Tường , hai tay thọc vào túi quần giảng  bài”… ….(không nhớ rõ nguồn , ai đã kể  ?

                       

                       Giáo sư Hoàng Như  Mai có nhiều thế hệ học trò : giáo sư,  phó giáo sư., tiến sĩ , phó tiến sĩ, nhà văn, nhà báo,  nhà văn học nổi tiếng.

                      Thời đoạn 1958-59 có một học trò xuất sắc  (  Hà Nội không dùng  “ sinh viên” )  tên Lê Phong Sử- và sau trở thành giáo sư Phong Lê: ( còn là tác giả nhiều tác phẩm biên khảo văn học ).

 

                       …. nghe lời giảng của thầy Mai tôi thấy yêu nền văn học mới, và có lẽ đó là một trong các lý do khiến tôi về Viện Văn học…năm  1960….”

 

                       

sau 1975,  một học trò khác lớp sau ,TS Võ  Văn Nhơn ( Trường Đại học KHXHNV tp. HCM) viết:

                      :”…những bài giảng của thầy rất thuyết phục, bởi với tư cách là người trong cuộc, với giọng đọc thơ rung rung truyền cảm.. của Chính Hữu ( Ngày về), Nhà tôi (Yên Thao), Tây Tiến ( Quang Dũng)…, Các nhà văn đồng thời với thầy như Nguyễn  Tuân, Vũ Hoàng Chương … như hiện ra trước mặt tôi bằng xương thit”

                      (  trích từ <Google / search / hoàng như mai > – in chữ đậm- Đ.B.B. )

                       

-…điều này, ‘ cậu thầy con bây giờ ”  bốc” ông thầy lớn khi xưa   hơi” lố”.- bởi  tác giả  Hoàng Như Mai chưa từng  bao giờ được  các nhà phê bình văn học (  trong và ngoài nước )  xếp hạng’” đồng lứa, đồng sáng ” với  Nguyễn Tuân    Vũ Hoàng Chương cả ?!”

 

 -…văn sĩ Nguyễn Tuân     thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã rất nổi tiếng trong làng văn  tiền chiến từ thập niên 40, có nhiều  tác phẩm xuất bản   thì lúc này –   2 “ lính mới  trẻ nhất “mới đầu quân gia nhập  Hàn Thuyên .(1940- 41)..

một, Nguyễn – Trần Huân ( sau này giảng dạy ở Sorbonne ( Pháp) và viết sách  chung  với Maurice M. Durand, in trong” Collection UNESCO” ).

-hai,  Hoàng Như Mai ( đầu  thập niên 1950 mới xuất bản tập kịch ngắn”Tiếng trống Hà Hồi”  – và làm công tác giảng dạy (   hiệu trưởng trường Trung học Phan Thanh, giáo sư trường Đại học Tổng hợp  tp.HCM  vv..)

 ( … Dans la période 1941-45  il ( Hoàng Như Mai) a collaboré au goupe Hàn Thuyên en prenant le nom de plume NHƯ MAI..” (  trang 188  Contribution à la littérature vietnamienne par M.M. Durand & Nguyen Tran-Huan  Paris 1969 .).

 

                       tiếp, lại được nghe Lữ Quốc  Văn nhắc tiếp chuyện Trương Tửu và Nguyễn Đức Quỳnh và nhóm” Hàn Thuyên”….

                       

                      -….. tôi hiểu  ra ngay -Trương Tửu  muốn phủ nhận  vai trò” chủ bút tạp chí Văn Mới ‘,  và chính  N.Đ Quỳnh chủ soái từng kể cho nghe “ Trương Tửu  cũng có một” vị tri ngầm” đáng kể” trong nhóm Hàn  Thuyên. “Chẳng hạn chuyện . Nguyễn Công Tiễu ( anh rể T.Tửu) – bỏ vốn mở nhà in trên phố Tiên Tsin- nhờ  danh và tiếng Nguyễn Đức Quỳnh , thì  Nxb Hàn  Thuyên  mới  chào đời –  nhờ sự tin cậy của  ông trùm  Cousseau” (  đã cho phép , còn cấp” bông giấy báodư in Tạp chí” Văn Mới”, và sách  in của nhà xuất bản . “ Bông  giấy báo “ còn là một” áp lực” đè lên đầu cổ các vị chủ nhiệm,(  ai biết được hợp đồng ngầm giữa chủ báo và nhà đương quyền để thực hiện nhiệm vụ  đặc biệt nào đó.  Tệ lậu “ bông giấy báo”  còn  được kéo dài , từ 1950-1954 ở vùng Báo chí Quốc gia miền Bắc) ,và Việt Nam Cộng Hòa ( từ 1954- 75).

                       Bới thế , Trương Tửu mới nẩy sinh đôi chút đố kỵ chăng, hay tự đặt ý tưởng bon chen trong đầu : “ tại sao đầu tầu HànThuyên không phải ta , mà  là Quỳnh ?” (đây chỉ là giả thiết  người viết).

                       

                      Thời kỳ này   thực dân Pháp bị chia quyền  -giai đoạn từ 1940 trở đi –  Quân đội Phát xít Nhật  đem quân vào Đông dương – giữa khi ấy  thì Cousseau Giám đốc Nha báo chí Tuyên truyển  Bắc việt ,lại  chỉ tin cậy N.Đ. Quỳnh vào vai  lãnh đạo Hàn Thuyên.

                       

                        Cũng thời kỳ này, bộ truyện tiểu thuyết , gồm 3 tập :” Thằng Cu So”,” Thằng Phượng”,” Thằng Kình”, đâu đó trên dưới  1000 trang được xuất bản ( 1941, 1942), gây một  dư luận văn chương, từ tiền đến hậu chiến; mà sau này còn ảnh hưởng mãnh liệt tới một lớp nhà văn trẻ miền Nam sau 1954 Ông không chỉ là một tiểu thuyết gia viết trường thiên, còn là nhà biện luận sắc sảo.

                       

                      Tôi từng tham dự, chứng kiến ông điều hợp một buổi tham luận chính trị, văn nghệ  ở Nhà hàng Thanh Thế Saigon (  tháng 12 / 1954- gồm các” tay tổ chính khách, văn nghệ’ đủ phe phái tham gia. Cuộc tranh luận thật sôi nổi, tưởng chừng chẳng ai chịu nhường ai, đến hồi kết, chỉ cần ”, một tay  lập thuyết” Vượt Mác”

                      ( đăng dở dang trên tuần san “ Đời Mới”- Trần Văn Ân chủ nhiệm”) đã xoa  dịu  tất cả khách tham dự, họ bắt tay nhau trong niềm   hân hoan,  hỉ hả  thật sự  ký vào biên bản cuối cùng..”  Ông  Nguyễn Đức Quỳnh như được” công kênh” trong đám đông buổi họp hôm ấy ! “, một người phát biểu vậy.

                       

                       Sau này, chính khách kiêm chủ báo” Đời Mới Trần Văn Ân tiến cử chủ bút Nguyễn Đức  Quỳnh nhập vai  Cố vấn “bộ ba Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên  hợp nhất-“(  cuối 1954- đầu 1955).  Rồi Bình Xuyên tan rã, chủ nhiệm Trần Văn Ân đi “ ”, vì trực tiếp tham gia  cố vấn  Bình Xuyên. Người tù chính trị ấy sau được bạn thân –Hoài Đồng Vọng  ( Nguyễn Đức Quỳnh) ,tác giả “ ai có qua cầu” dành riêng hàng chữ “ bản riêng  cho Tr.V. ”.

                       

                       Ít lâu sau,  chủ nhiệm tạp chí” Sống  kiêm Trưởng ban chống đảo chính( 1960)- nhờ” cố vấn báo chí  Cung Phúc Chung ( bút hiệu khác Nguyễn Đức Quỳnh)  chuyển  lời   mời ‘ một nhóm  văn nghệ sĩ”từng   tham dự” Đàm trường viễn kiến” vực  tạp chí” Sống  ngoi lên ‘ hạng đầu đàn trong làng báo”. . Hai vị trưởng và phó ban Chống Đảo chính 1960 có tuyên ngôn đăng trên tạp chí” Sống”( Ngô Trọng Hiếu chủ nhiệm).

                      Dẹp loạn” đảo chính 1960” xong –  ông   Phó  Ban  chống Đảo chính, trung tá Nguyễn Văn Châu trở thành chủ nhiệm nhật báo Tiếng dân, trụ sở  đặt tại 2 bis Hồng thập Tự, Saigon ( tiền thân nhật báo “ Tiền tuyếnsau này) .

                        Trưởng ban  chống Đảo chính, ông  Ngô Trọng Hiếu tham chánh nội các  mới Tổng thống Ngô Đình Diệm, với chức vụ Bộ trưởng bộ Công dân vụ, trụ sở đặt tại  272 đường Hiền Vương,  Saigon 3..

                      (cố vấn chính trị  Bộ trưởng vẫn là  chủ soái “Đàm trường viễn kiến:” vẫn là Nguyễn Đức Quỳnh. (điều này đã làm nhức nhối, chút ghen bóng gió  từ Cố vấn Ngô Đình Nhu, bên cạnh Tổng thống Diệm  với Cố vấn Nguyễn Đức Quỳnh, bên cạnh Bộ trưởng Hiếu – chức vụ ngầm”  thế lực hơn cả chức vụ chính thức được bổ nhiệm in trong “Công báo ” ).

                       

                      Cùng đọc  thêm một” phóng sự, tư liệu thuật chuyện  xưa :” Ba anh Trương Tửu, Thượng Sỹ, Nguyễn Đức Quỳnh do anh Nguyễn Hữu Đang hướng dẫn, lên Bắc Bộ phủ để yết kiến cụ Hồ Chủ tịch.’  vào 1945. (2)- để thấy bản lĩnh  chính trị “ tả đối lập” của một Nguyễn Đức Quỳnh ( 36 tuổi) , bày tỏ trước Chủ tịch Chính phủ lâm thời. (2).

 

                      Nguyễn Đức Quỳnh qua đời  vào  6-6-1974, tạp chí Văn số đặc biệt- Trần Phong Giao “chạy xin bài văn hữu  bạn bè có, đệ tử có,  quen, không quen , cũng cónói chung chỉ” phe ta” mà thôi “-  góp mặt bầy tỏ cảm tưởng trước” cái chết lãnh tụ nhóm Hàn Thuyên ( xưa) ,  Đàm trường viễn kiến”( nay).

 

                       

Tưởng niệm chủ soái Nguyễn Đức Quỳnh ;

-. Nguyễn Mạnh Côn :” Ông  Quỳnh mất là chấm dứt một thế hệ người theo đuổi mộng tưởng vĩ đại),

 -Thái Tuấn “Cái chết của anh Quỳnh là một thiệt thòi lớn cho những người mới làm văn nghệ và cho những người làm văn nghệ thất bại.,

-Vũ Hoàng Chương:.Tôi rất xúc động. .Với riêng tôi, anh Quỳnh nằm xuống hơi sớm. Được tin anh đau nặng, tôi đang định đến thăm anh, như năm 1970, anh đã đến thăm tôi trên giường bệnh.. Tôi chưa kịp đi, anh đã vĩnh biệt mọi người  ,

-Phạm Duy : Từ 25 năm nay, vợ chồng chúng tôi lúc nào cũng coi anh Quỳnh như một người anh ruột .Chính anh làm mối chúng tôi lấy nhau. Biết anh đau phải mổ nhiều lần, chờ chết, nên cái chết của anh không làm tôi ngạc nhiên. Chúng ta khó có được một người như Nguyễn đức Quỳnh. Anh có tình với mọi người-người, chịu đựng hết thảy anh em. Anh là chất xúc tác cần thiết( élément catalyseur) để những người văn nghệ gần nhau. Anh  mất, cái đáng tiếc nhất là điểm đó,

 -Mặc Đỗ : mất một người Việtnam có gốc Việt chắc chắn và có kiến thức rộng hơn vòng chân trời, ,

-Vũ Khắc Khoan : đối với tôi hình ảnh Nguyễn Đức Quỳnh cũng là hình ảnh của “ thằng Kình” . Bây giờ thằng Kình đã nằm xuống mà trận đá banh lại vẫn còn tiếp tục .

-Thanh Nam  : Mỗi lần nghĩ tới anh Quỳnh, tôi nhớ lần đầu tiên được gặp anh. Đó là đầu năm 1953” , tại Hà Nội . Hồi đó, anh Quỳnh mới về. Tôi và Nguyễn Minh Lang được anh Nguyễn Văn Hợi, giám đốc nhà xuất bản Thế Giới đưa đến gặp anh Quỳnh.  Nguyễn Minh Lang vừa cho xuất bản cuốn tiểu thuyết “ Tình tuyệt vọng”. Cón tôi, nhà Á Châu  cũng vừa cho phát hành cuốn tiểu thuyết “ Cuộc đời một thiếu nữ”. Khi gặp anh, tôi không hề nghĩ là anh đã đọc văn của mình và cũng không dám nói chuyện văn chương với anh. Nhưng chúng tôi không khỏi sửng sốt khi thấy anh Quỳnh đề cập  tới ( sic)  hai cuốn tiểu thuyết kia và nói tới từng chi tiết một, chứ không phải là nói phớt qua, để lấy lòng 2 đứa đàn em. Anh đưa cuốn sách ra và chỉ cho tôi thấy từng đọan viết sai, viết láo của tôi. Chưa bao giờ tôi thấy xúc động trước một nhà văn đàn anh như lần đó….”

(vv…)

 – .một  chân dung cuối cùng  Nguyễn Đức Quỳnh, do Chóe hí họa khá độc đáo.( vừng trán rộng phẳng lì như cánh đồng không còn lúa,  một mắt sâu hoắm , râu  mép quấn miệng thép, và cây bút sắt có một đầu ngọn đuốc làm đòn gánh đôi thúng văn chương  chữ nghĩa- dưới có hàng chữ” ng.hải chí / 1974).

 

                       – với tôi,   ấn tượng , chân thành,- ngưỡng mộ Nguyễn Đức Quỳnh một cách  tuyệt đối –  vẫn chỉ một Thanh Tâm Tuyền:

                       “…Ngày sau tôi sẽ làm một tên lính… làm tên lính tiên phong, làm tên lính cảm tử ở trong bất cứ nghề gì. Tôi không rõ bao nhiêu người đọc văn Nguyễn Đức Quỳnh và tôi cũng không rõ trong những người đã đọc bao nhiêu đã bị chấn động và đến nay vẫn còn nghe  vang vọng trong lòng. (….) Cùng với Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Thằng Kình là quyển tiểu thuyết quan trọng đối với tôi. Đó là cuốn sách đã vỡ lòng, đã mở mắt, đã đưa tôi vào đời. Tôi đã nếm được mùi sung sướng và vị đắng cay khi đọc quyển sách ấy.  Tôi đã gặp một ngon lửa đốt cháy tôi – ngọn lửa của đời sống..(…)… Tôi không nói yêu, không nói ( mà)  tôi nói ngưỡng mộ…”

                      ( Thanh Tâm Tuyền –  trang 21-22, tạp chí Văn / Saigon 1974).

                       

                      và giờ này-  kịch tác gia Hoàng Như Mai quay sang phía tôi- bình luận :

                       – …sách anh viết về Nguyễn đức Quỳnh, tôi đã đọc, và xếp  riêng trong tủ. Anh Nguyễn Đức Quỳnh  là một …..

                       

                        Hai ý nghĩ lập tức  lóe lên trong tôi :

                       

                      1) nhà văn trẻ Từ Ngọc ( trước năm 1940) và  cây bút trẻ Như Mai  ( sau năm 40) có một điểm giống nhau – họ đều  khởi nghiệp “văn chương ban đầu”-   rồi  nửa đời đứt đoạn, cả hai  lại” thành đạt vẻ vang , đứng hàng  đầu ngành giáo dục Việtnam “( miến Bắc ). (3)

                       

                       2) kịch-tác-gia Hoàng  Như Mai, vừa  học trò cũ giáo sư Quỳnh ở  Trường Pasteur Hanoi  vừa cộng sự viên Hàn Thuyên ( Như Mai), với  nhận xét  khẳng định cuối đời :.” …anh Nguyễn Đức Quỳnh là một kẻ cơ hội đã làm hỏng Hàn Thuyên! “.

                       

                       ( với tôi – chỉ một Hoàng  Như Mai đã hiểu rất đúng –  hay đúng – chưa hiểu đúng mà thôi )

                      [].

                       

                       

Saigon, 7- 9 tháng 3/ 2011-( bài tu chỉnh).

T.P..

—————————————-

                       

                      Chú thích 1 :

                       

                      -“Tiếng trống Hà Hồi” Nxb  Trẻ 2001  ( tp HCM) , tập kịch ngắn, in lần đầu  500 cuốn, khổ  14,5 x 20,5 cm, 168 trang, giấy trắng, không đề giá bán.

                      -Bìa  : họa sĩ Việt Hải.

                      -Phụ lục gồm:

                       -Nguyễn Tường Phượng: ” Thay lời tựa – Tiếng trống Hà , kịch 3 màn của Hoàng Như Mai“ Hoa Quỳnh kịch xã” trình bày( trích báo Tia sáng – Hà Nội”),

                       Thế Phong : “……Tại sao ” Tiếng trống Hà Hồi” là vở kịch tượng trưng đã thành công ?…” ( trích báo” Giáo dục phổ thông”, Saigon 1960 ).

                      – Thương Sỹ : “ Phê bình buổi Đại hội văn nghệ” Tiếng trống Hà Hồi”, kịch 3 màn của Hoàng Như Mai, do” Hoa    Quỳnh Kịch xã” trình  diễn., trích báo” Tia sáng-  Hà Nội 1951).

                       -Maurice. M. Durand &  Nguyen Tran-Huân  với vài hàng tiểu sử  Hoàng Như-Mai ( trích “Dictionnaire Biographique des Auteurs” ( avex Index des noms propres cités dans le texte”trong cuốn” Introduction à la litterature vietnamienne/ Maurice M. Durand & Nguyen Tran-Huan – Collection UNESCO, Paris 1969,trang 188. ( bản  này ghi Hoàng Như Mai sinh 1918).

                      – và  một  bản  tiểu sử khác do chính tác giả viết –  in  ở trang bìa 4 ” Tiếng trống Hà Hồi”:

                       

                       

                                                               HOÀNG NHƯ MAI .

                                                    Sinh năm 1919. Quê quán: Hà Nội

                                             Trước 1945 : học Cao đẳng Luật khoa – dạy học trường tư.

                                             Sau 1945: Viết báo, viết sách ở Hà Nội.

                                              -Tham gia đoàn kịch Độc Lập, đi “Nam tiến”

                                                     Diễn kịch tuyên truyền kháng chiến.

                                             -Tổng thư ký Hội Văn hóa kháng chiến tỉnh Hưng Yên,

                                              hoạt động trong Đoàn kịch. Văn hóa Kháng chiến Khu Ba.

                                                       Từ 1949: Làm công tác giáo dục:

                                              -Hiệu trưởng các trường trung học Phan Thanh ( Thái Bình),

                                                       Sư phạm Việt Bắc, Sư phạm Trung cấp Hà Nội.

                                                       -Giáo sư trường Đại học Tổng hợp tp. HCM.

                                               -Chủ tịch  Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học tp. HCM.

 

                                                         Tác phẩm:

                         -Trần Hữu Trang- soạn giả ca kịch cải lương ( nghiên cứu, 1982)

                        -Nhận định về cải lương ( 198

                        -Giới thiệu sân khấu cải lương ( 1986)

                        -Thơ một thời ( 1989)

                         -Trí thức và nghệ sĩ ( 1989)

                        -Tìm hiểu bản sắc dân tộc trong thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh ( 1998

                                                          Sáng  tác:

                         -Trao cho nhau cuộc đời ( thơ, 1993)

                         -Hồi ức và suy nghĩ về văn hóa giáo dục ( 1998)

                        -Chân dung và tác phẩm ( 1999)

                                   vv..

 

Chú thích 2::

 

“… 5 giờ chiều 7/9/1945, ban quản trị lâm thời đoàn văn hóa Bắc Bộ đang họp tại nhà văn hóa ( hội Khai trí Tiến đức cũ) thì có tin điện thoại của bộ Ngoại giao cho biết rằng cụ Hồ Chí Minh – Chủ tịch chính phủ lâm thời muốn hội đàm với đại biểu đoàn văn hóa khoảng 19 h.

Ba anh Trương Tửu, Thượng Sỹ, Nguyễn Đức Quỳnh do anh Nguyễn Hữu Đang hướng dẫn, lên Bắc Bộ phủ để yết kiến Cụ Hồ Chủ tịch.

 (…) -Thưa Cụ, lời anh Trương Tửu đáp lại, toàn thể anh em trong giới văn hóa chúng tôi, bao lâu nay, vẫn sống trong sự áp bức ngột ngạt của chính sách thực dân.(….)Các ánh sáng tự do cần thiết cho sự phát triển văn hóa mà chúng tôi hằng khao khát đã nhờ sự giải phóng ấy mà  bắt đầu tưng bừng, cho nên đối với chúng tôi, tranh đấu cho nền độc lập của nước nhà trong lúc này cũng là tranh đấu cho sự giải phóng của nền văn hóa Việt Nam.

 

Cụ Hồ Chủ tịch gật đầu tỏ ý bằng lòng.:

-Bổn phận của các ngài là lãnh đạo tư tưởng của quốc dân, tranh đấu cho nền độc lập và kiến thiết một nền văn hóa mới. Cái văn hóa mới này cần phải có tính cách đại chúng thì mới thuận với trào lưu tiến hóa của tư tưởng hiện đại.

 

Cụ nói tới đây thì anh Nguyễn Đức Quỳnh xin phép Cụ trình bày vài ý kiến:

-Thưa Cụ,  lời anh Quỳnh nói, Cụ đã nói đến tính cách khoa học của văn hóa mới, chúng tôi xin đề cập đến ( sic)  sự hợp tác của các nhà kỹ thuật, chuyên môn trong công việc kiến thiết quốc gia. Theo chỗ chúng tôi nhận xét, ít lâu nay các nhà kỹ thuật chuyên môn trong công việc kiến thiết quốc gia hình như vẫn còn chút ít ngần ngại khi muốn hợp tác với Chính phủ đẻ thi thố tài năng của mình.  Họ là những người sống bằng kỹ nghệ và chỉ muốn làm việc cho kỹ thuật.  Họ muốn được quyền đứng ngoài những xu hướng chính trị của đảng phái để phụng sự Tổ quốc.

 

Mắt cụ Hồ sáng hẳn lên. Cụ với tay cầm quản bút ghi trên một giấy để trước mặt Cụ. ( chúng tôi thấy Cụ ghi bằng chữ Hán. Cụ đặt quản bút xuống chậm rãi nói:

 

-Tôi nhờ ngài thanh minh với tất cả anh em trong giới kỹ thuật chuyên môn rằng: Nước Việt Nam không phải của Việt Minh. Nước Việt Nam là của quốc dân Việt Nam.  Chính phủ lâm thời hiện thời này không phải là Việt Minh là của toàn thể quốc dân.(….)

 

( trích theo “  CAND Online / Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hóa Việt Nam trong những ngày đầu các… Page 1 of 3,

với lời mào đầu:

” “Nhân dịp đầu xuân 2011, chúng tôi xin giới thiệu bài tường thuật của Hồ Chủ tịch về văn hóa với đại biểu đoàn văn hóa lâm thời Bắc bộ đã được đăng trên tạp chí Tri Tân số 205, tháng 9/ 1945, trang 4-5).

 

 Chú thích 3:

               

                      Câu chuyện “ đạo văn” giữa người dự thi và người chấm giải  Giải văn chương Tự lực văn đoàn  được tóm tắt như sau.

                       Nhà văn trẻ Từ Ngọc (  giáo sư Nguyễn Lân sau này) gửi bản thảo tiểu thuyết” Ngược giòng” dự giải- thì Khái  Hưng ( một thành viên trong ban Giám khảo)  đã’ thuổng’ cốt truyện này để viết  ngay thành” Thoát ly” cho đăng liên tục trên tạp chí”  Ngày Nay”.( và truyện dự giải của Từ Ngọc vẫn được xếp só).

                       Từ đó, Thiên Hư- Vũ Trọng Phụng  trên báo” Đông dương tạp chí”  viết bài:” Quanh việc nhà văn sĩ Khái Hưng bị buộc tội ăn cắp văn”- vụ án văn chương khởi sự  tạo một dư luận thật ồn ào. Phe bênh Từ Ngọc, phe chống ‘ bọn văn phiệt’ làm náo loạn văn đàn thời ấy.

                       Trương Tửu đứng về phe Vũ Trọng Phụng, viết trên báo” Ích Hữu” bênh vực  Từ Ngọc ,  lên án Khái Hưng, lôi theo cả chuyện Nguyễn Tường Tam ( Nhất Linh) , chỉ vì xin ngài Nguyễn Hữu Bài một chân tri huyện không được đáp ứng; nên  báo” Phong Hóa” bôi nhọ quan trường, bất chấp người tốt, kẻ xấu..

                      Thế Lữ  nghênh ngang  đứng sau vụ  “văn sĩ Khái Hưng đạo văn “,khua chiêng gióng mõ trên văn đàn, bôi nhọ Thiên Hư-Vũ Trọng Phụng- mục đich làm “ át’ đi dư luận lên án vụ án đạo văn khởi xướng từ Thiên Hư trên  báo “Đông dương Tạp chí.”

                      Hồ Hữu  Tường đóng vai” ngư ông” hưởng lợi     ca tụng “Khái Hưng, người thứ nhất muốn làm Nguyên soái văn chương sáng giá”-“ Vậy ,có ai nhắc lại chuyện đạo văn đê tiên của Nguyên soái đầu tiên trong văn chương  sáng giá đâu? Chẳng còn  mấy ai biết chuyện” Ngược giòng” Từ Ngọc” lội” để dòng “ văn chương thoát ly” lai láng tuôn chảy vào lịch sử văn học làm nổi đình đám Khái Hưng hơn lên. Cũng chẳng  ai tìm lục những bài” hai nhà xuất bản Tân Dân và Đời nay”.. và” Quanh Việc Nhà Văn Sĩ Khái Hưng Bị Buộc Tội Là Ăn Cắp Văn”, như một cáo trạng của nhà văn phóng sự kỳ tài Vũ Trọng Phụng ,dưới một bút danh khác viết báo, lên án vụ đạo văn bẩn thỉu ấy !..”.(…)

                       

 trích từ’ Thư viết ở Sài Gòn /Thế Phong (Văn Uyển  xuất bản – , San Jose, California 2000) [].