TÀI LIỆU QUAN TRỌNG- BIẾN CỐ 1-11-1963 (Cựu Tổng Truởng VNCH Tôn Thất Thiện) (phần 2).

                                              

Phần II

Phúc trình của phái bộ Liên Hiệp Quốc thâu tập dữ kiện về vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam.

Tài liệu tham khảo: United Nations, General Assembly, Eighteenth session, Agenda item 77,

THE VIOLATION OF HUMAN RIGHTS IN SOUTH VIET NAM

Report of the United Nations Fact-finding Mission to SouthViet Nam

Document A/5630, 7 December 1963 (323 trương)

Hay:

Report of United Nations Fact-finding Mission to South Viet Nam

Published by the Subcommittee to Investigate the

Administration of the Internal Security and Other Internal Security Laws of the Committee of the Judiciary, United States, U.S. Government Printing Offlce, 1964

Đoạn I.- Hình thành Phái Bộ Liên Hiệp Quốc

1- Nguồn gốc của Phái Bộ.

Ngày 4/9, 1963, đại diện của 14 quốc gia thành viên, thuộc các khối Á, Phi, Nam Mỹ, sau đó thêm Mali và Népal, yêu cầu ghi vào chương trình nghị sự của Đại Hội một mục, số 77, mang tít là "Sự vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam".

 Ngày 9/9 một văn thư được gởi cho tất cả các quốc gia thành viên. . . .

Ngày 13/9 một văn kiện ghi đầy đủ chi tiết về những vi phạm mà Chính Phủ miền Nam Việt Nam bị gán cho được gởi cho tất cả các phái đoàn ở Liên Hiệp Quốc. ]Để làm sáng tỏ rằng đây chỉ là những tội người ta gán cho Chính Phủ Việt Nam Liên Hiệp Quốc dùng danh từ "allegations” để nhấn mạnh điểm này toàn văn bản gán tội này sẽ được chép lại dưới đây để tiện bề so sánh với những phát hiện của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc cho thấy rằng những điều gán trên đây là mơ hồ, không đúng với sự thực. (Xin xem trang 5)]

Ngày 20/9, Đại Hội quyết định ghi mục trên đây vào chương trình nghị sự.

Ngày 7/10, Đại Hội mang mục 77 ra cứu xét. Đại diện của Ceylon, Đại sứ Gunewardene, bạn thân của Đại sứ Lodge, đã kích Chính Phủ Việt Nam một cách rất gay gắt. Đồng thời Chủ Tịch Đại Hội thông báo cho các đại diện là ông có nhận được một bức thư của Đặc sứ Việt Nam ‘ [Giáo Sư Bửu Hội đề ngày 4/10/1963 nhờ ông chuyển lời của Chính Phủ Việt Nam mời Liên Hiệp Quốc gởi một phái bộ sang Việt Nam “đẽ thấy tận mắt những gì thật sự xảy ra giữa Chính Phủ và cộng đồng Phật Giáo ở Việt Nam."

Theo đề nghị của đại diện Costaria, Đại Hội nhận lời mời của Chính Phu Việt Nam, đình việc cứu xét đề nghị lên án Chính Phủ Việt Nam, và cho phép ông Chủ Tịch cử một Phái Bộ đi Việt Nam. Đề nghị này được 80 phiếu thuận, 0 phiếu chống, và 5 phiếu trắng.

Ngày 11/10 ông Chủ Tịch Đại Hội thông báo ông đã cứ một phái bộ gồm đại diện của 7 quốc gia (Afghanistan, Brazil, Ceylon, Costaria, Dahomey, Morocco, Nepal) với mục đích "thăm Cọng Hoà Việt Nam để thấy tận mắt tình hình thế nào về liên hệ giữa Chính Phủ Cọng Hoà Việt Nam và cộng đồng Phật Giáo."

Phái Bộ sẽ đến Sài Gòn ngày 24/10 và dự định rời Sài Gòn ngày 4/11/1963.

Tr­ớc khi Phái Bộ lên đường, Trưởng Phái Bộ (đại diện Afghanistan) ra một thông cáo nhấn mạnh đây là một "Phái Bộ Thâu Tập Dữ Kiện" (Fact Finding Mission) chớ không phải là một "Phái Bộ Điều Tra" (Inquiry Mission). Đây là một điều mà Chính Phủ Việt Nam coi như căn bản, vì phái bộ này do Chính phủ Việt Nam mời, chớ không phải bị áp đặt từ ngoài, và nó không có sứ mạng phán xét, chỉ có sứ mạng thâu tập dữ kiện mà thôi. (tr.7) [Để tránh danh xưng dài, bài này sẽ dùng danh từ "Điều Tra” thay vì "Thâu Tập Dữ Kiện”

2- Đặc điểm về Phái Bộ

Vô tư: Trước khi lên đường, Trưởng Phái Bộ đưa ra một tuyên bố nhấn mạnh tính cách "nhất thời" (ad hoc) của Phái Bộ, và quyết tâm "luôn luôn vô tư". Lúc đến Sài Gòn, trong một tuyêư khi ông lên đường nói rằng Phái Bộ "có ý định điều tra tại chỗ, nghe nhân chứng và nhận kiến nghị". Ông kêu gọi mọi phe tránh biểu tình. Ông nhấn mạnh tính cách vô tư của Phái Bộ. Ông nói:" Chúng tôi sẵn sàng ghi nhận mọi quan điểm và quyết tâm báo cáo dữ kiện". (tr. 9)

Tự do lựa chọn nhân chứng: Ông Trường Phái Bộ cũng nhấn mạnh rằng Phái Bộ hoàn toàn độc lập và họ hoàn toàn tự do trong sự lựa chọn nhân chứng, không cần báo trước cho chính quyền biết. Để chứng minh điều này, ông sẽ đưa cho bộ Trưởng Ngoại Giao một danh sách các nhân chứng mà họ muốn gặp [toàn bộ danh sách này sẽ được ghi lại d­ới đây. (Xin xem trang 6).]

Tự do đi lại: Trong các cuộc tiếp xúc với lãnh đạo cao cấp Việt Nam – Tổng Thống, Cố Vấn Chính Trị, các Bộ Trưởng liên hệ – họ đều yêu cầu được cam đoan là họ sẽ được tự do đi lại, và để giữ tính cách độc lập, họ quyết định trả lấy chi phí của họ.

Sau đây là bản ghi những vi phạm mà các tác giả bản dự thảo nghị quyết ngày 13/9/1968 gán cho Chính Phủ Việt Nam tại Đại Hội Liên Hiệp Quốc. Nó sẽ là căn bản của cuộc điều tra của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc. Phái Bộ sẽ căn cứ trên đó để chất vấn các nhân chứng. Những vi phạm gán (allegations) cho Chính Phủ Việt Nam trong dự thảo quyết nghị của Đại Hội Liên Hiệp Quốc ngày 13/9/1963:

1) Cộng Hoà Việt Nam đã công khai vi phạm nhân quyền khi Chính Phủ Cọng Hoà Việt Nam ngăn cản không cho đa số công dân xử dụng những quyền được ghi trong Điều 18 của Tuyên Ngôn Nhân Quyền…

2) Ghi lại những chi tiết của Điều 18]

3) Tháng 5 năm nay, công dân Việt Nam xứ Huế muốn thực hành quyền được công nhận trong điều nói trên bằng cách làm những lễ thích ứng liên quan đến ngày sinh thứ 2507 của người lập lên tôn giáo mà hơn 70 phần trăm dân Việt Nam đã lựa chọn. Chính Phủ Ngô Đình Diệm đã không cho họ thực hiện quyền này. Thật ra sự từ chối này đã thực hành một cách tàn nhẫn. Chín ng­ời đã thiệt mạng khi quân đội đ­ợc Chính Phủ ra lệnh nổ súng vào công dân. Tai nạn này dẫn đến sự đòi hỏi Chính Phủ phải giải quyết những kêu ca và chấp nhận trách nhiệm của mình về sự chết chóc. Chính Phủ không làm điều nào cả trong hai điều này. Do đó, có sự gia tăng đòi hỏi biện pháp sửa chữa. Sự bất bình đối với Chính phủ về những bất công của Chính Phủ mạnh mẽ đến nỗi năm nhà sư và một ni cô đã tự thiêu, một hành vi bất thường đối với những người theo tôn giáo đó.

4) Chính quyền đã đáp lại kêu gọi của công dân đòi công lý với đe doạ và chế diễu, và tiếp theo đó, sau 12 giờ đêm ngày 20 tháng 8, tán công chùa sùng kính, Chùa Xá Lợi, ngôi chùa chính ở Sài Gòn của những người theo tôn giáo của đa số. Từng bầy cảnh sát được trang bị súng liên thanh và súng các bin xông vào chùa và bắt hàng trăm nhà sư và ni cô mang đi nhà tù sau khi đã gây thương tích cho họ. Hành động này được lặp lại khuya hôm đó ở một số chùa trong toàn xứ. Có ít nhất là 1,000 nhà sư bị giam tù hiện nay. Con số bị tử thương không biết là bao nhiêu.

5) Hàng trăm sinh viên Đại học Sài Gòn biểu tình chống những hành động độc đoán của Chính Phủ bị bắt hôm chủ nhật, 25 tháng 8, 1963. Chính Phủ càng ngày càng tiến về hướng dẹp bỏ các nhân quyền căn bản, như quyến hội họp, tự do ngôn luận, tự do thông thương, v.v… (tr.24)

Và dưới đây là các danh sách những ng­ời nhân chứng mà Phái Bộ thông báo cho Bộ Trưởng Ngoại Giao là họ muốn phỏng vấn.

Nhìn qua những danh sách này, ta thấy rằng đây có thể nói là toàn bộ những cá nhân và phe phái đối lập Chính Phủ Việt Nam, thuộc đủ mọi giới, mọi thành phần chính trị, xã hội, tôn giáo…Tất nhiên, sau khi đã tự do phỏng vấn kín chừng ấy người, Phái Đoàn không thể nói là mình không biết rõ tình hình Việt Nam nữa. Và điếu này cũng là một sự phản bác những luận điệu xuất phát từ các báo Mỹ và viên chức Hoa Kỳ nói rằng Chính Phủ Việt Nam ngăn cản không cho Phái Bộ Liên Hiệp Quốc tiếp xúc với người này người khác vì muốn dấu diếm sự thật.

Danh sách những nhân viên cao cấp của Chính Phủ Việt Nam:

1. Tướng Trần Tử Oai

2. Tổng Thống Ngô Đình Diệm

3. Cố vấn Chính Trị Ngô Đình Nhu

4. Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ

5. Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Bùi Văn Lương

6. Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống Nguyễn Đình Thuần

7. Đại biểu Chính Phủ Trung Phần và Tư Lệnh Quân

Đoàn I, và viên chức khác

8. Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Trương Công Cừu

Danh sách các chức sắc Phật Giáo và nhân chứng khác:

Thành viên ủy Ban Liên Bộ:

1. Nguyễn Đình Thuần

2. Bùi Văn Lương .

3. Thành viên ủy Ban Liên Phái:

4. Thích Thiện Minh (Trưởng Ban)

5. Thích Tám Châu (ủy viên)

6. Thích Thiện Hoa (ủy viên)

7. Thích Huyền Quang (Thơ ký)

8. Thích Đức Nghiệp (Phụ tá Thư ký)

9. Thích Mật Nguyện (Tăng Trưởng Hội Tăng Già Trung Việt)

10. Thích Thiện Siêu.(Chủ Tịch Hội Phật Giáo Thừa Thiên).

11. Ngài Đặng Văn Kat [Cát ?] (sư)

12. Thích Chi Thu [Trí Thủ?] (sư)

13. Thích Quảng Liên (sư) ‘

14. Ngài Pháp Tri

15. Thích Tâm Giao

16: Krich Tang Thay

17. ông Mai Thọ Truyền

18. Diệu Huệ (ni sư)

19. Diệu Không (ni sư)

20. Tướng Phạm Xuân Chiểu (Tham Mưu Trưởng Quân Đội)

21. Trần Văn Đổ (Cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao)

22. Cựu Bộ Trưởng Tư Pháp

23. Bác Sĩ Phan Huy Quát (Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng và Quốc Gia Giáo Dục)

24. Lê Quang Luật (Cựu Bộ Trưởng Thông Tin Tuyên

Truyền)

25. Nguyễn Thái (Cựu Tổng Giám Đốc Việt Tấn xã)

26. Nguyễn Văn Bình (Tổng Giám Mục Sài Gòn)

27. Ông Trần Quốc Bửu (Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động)

28. Tôn Thất Nghiệp (Lãnh tụ sinh viên; Thư ký Hội Phật Giáo Sài Gòn)

29. ông Hồ Hữu Tường (Nhà văn và giáo sư)

30. Giáo Sư Phạm Biểu Tâm (Khoa trường Y khoa Đại học Sài Gòn)

31. ông Nguyễn Xuân Chữ (Nhà báo)

32. Cha mẹ cô gái bị chết trong dịp biểu tình ngày 25 tháng 8

33. Viên chức cao cấp của Hội Luật Sư Sài Gòn

34. Viên chúc cao cáp Liên Đoàn Lao Động (nếu có)

35. Uỷ Ban đề nghị thả các nhà sư.

36. HUẾ

37. Thích Tịnh Khiết (Lãnh đạo tối cao, Chủ tịch của tất cả các Hội Phật Giáo Huế)

38. Phan Binh Dinh (Lãnh tụ sinh viên Phật tử Huế, Thư ký của Hội sinh viên Phật tử Huế)

39. Thích Đôn Hậu (Chủ tịch ủy ban tổ chức Phật Đản)

40. Linh Mục Cao Văn Luận (Viện trưởng Công giáo Đại học Huế

41. Bùi Tường Huân (Khoa trưởng Luật Khoa Huế

42. Bác sĩ Lê Khắc Quyến.

Bản Phụ 1

1. Thích Quảng Độ

2. Các vi sư còn ở trong [các trại giam?]

3. Thích Hộ Giác

4. Thích Giác Đức

5 . Thích Thể Tịnh

6. Thích Thiện Thắng [?]

7. Thich Phạm Quang Thanh [?j

8. Thich Liên Phu [Phú?]

9. Thích Chánh Lạc

10. Nguyễn Thị Lợi (ni cô)

11. Diệu Cát (ni cô)

12. Nieo mu Tinh Bich (ni cô) [?]

Bản Phụ 2

1 . Nguyễn Hữu Đông [Đổng? Đồng?]

2. Nghiêm Xuân Thiện

3. Đức Nhuận

[Tất cả là 60 người, thuộc đủ thành phấn, xu hướng.

Những tên kèm theo dấu [?] là những tên không biết chính xác là gì (tr. 271-273)

Đoạn II. Phỏng vấn các nhân viên Chính Phủ. 

Tướng Trần Tử Oai

Trong một bản tuyên bố dài (12 trương: tr. 27-39) Tướng Trần Tử Oai trình bày vấn đề Phật Giáo. Theo ông, đó là một cuộc khủng khoảng khởi phát từ vụ va chạm ở Huế về vấn đề treo cờ. Lúc đầu nó chỉ là một cuộc va chạm riêng biệt và không quan trọng gì, nhưng sau đó "do sự can thiệp của các phần tứ quá khích" nên nó lại trở thành một phong trào lớn đòi hỏi chống Chính Phủ.

Bản tuyên bố kết thúc như sau: "Nếu ta xét kỹ dữ kiện ta sẽ thấy rằng vụ Phật Giáo chỉ có một khía cạnh tôn giáo giới hạn, và chính trị là phần chính, nhất là ở giai đoạn cuối của nó" (tr.37). Ông nhấn mạnh rằng "một số cơ quan thông tín ngoại quốc, chẳng hiểu gì về vấn đề từ đầu, đã vô tình hay cố ý đầu độc dư luận quốc tể”, và "không hề có ngược đãi hoạc kỳ thị đối với Phật Giáo" (tr.38).

[Tướng Oai không nói gì mới lạ, nhưng điều quan trọng ở đây là: đây là lần đầu mà đại diện các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc được nghe một viên chức của Chính Phủ Việt Nam trình bày tường tận vấn đề với một quan điểm hoàn toàn khác với những quan điểm mà họ đã được biết qua tường thuật bóp méo và cục bộ của báo chí và các nguồn tin khác có ác cảm với Chính Phủ, mà họ đã dùng làm căn bản để thảo bản vi phạm gán cho Chính Phủ Sài Gòn được đưa ra Đại Hội Liên Hiệp Quốc ngày 13 19/1963 (đã được chép lại nguyên văn ở trang 5).

Những tuyên bố của các lãnh tụ cao cấp khác của Chính Phủ được trình bày dưới đây tất nhiên cũng có tác động tương tự, nếu không nói là quan trọng hơn nữa, đặc biệt là những tuyên bố của ông Cố Vấn chính trị Ngô Đình Nhu, và ông Bộ Trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương vì nó tiết lộ nhiều chi tiết mà từ trước ít ai được biết đến].

Tổng Thống Ngô Đình Diệm 

Cuộc tiếp xúc với Tổng Thống Ngô Đình Diệm rất ngắn. Trong bản Phúc Trình của Liên Hiệp Quốc nó chỉ chiếm có một trang. Tổng Thống chỉ nói vắn tắt, và "nhắc lại lời hứa của ông về việc sẵn sàng cung cấp cho Phái Bộ tất cả những dễ dãi để họ làm tròn nhiệm vụ” [trái với những tuyên bố của ông Lodge nói Chính Phủ Việt nam sẽ cản trờ không cho Phái Bộ tìm ra sự thực]. Tổng Thống Diệm chỉ nói ít thôi vì chắc ông biết là các ông Ngô Đình Nhu và Bùi Văn Lương sẽ nói nhiều và đi vào chi tiết của vấn đề.

Ông Cố Vấn Chính Trị Ngô Đình Nhu

Trái với trường hợp Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cuộc tiếp xúc giữa Phái Bộ và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu rất dài (24 trang trong Bản Phúc Trình, tr. 42-56 -). Cùng với những tuyên bố của Bộ Trưởng Nội Vụ Bùi Văn Lương, những tuyên bố của ông Ngô Đình Nhu chiếu rất nhiều ánh sáng vào vấn đề Phật Giáo 1963. Nó tiết lộ rất nhiều chi tiết mà tới nay ít ai biết và hiểu, vì có những khía cạnh lịch sử và xã hội mà họ không biết hoặc không để ý đến. Đây lại chính là những khía cạnh mà ông Nhu đã giải thích rất cặn kẽ cho Phái Bộ Liên Hiệp Quốc.

Trong khung cảnh bài này không thể chép lại toàn vẹn những tuyên bố của ông Nhu. Chỉ có thể trích dịch một số đoạn chứa đựng nhiều tiết lộ quan trọng nhứt.

a. Một khía canh của vấn đề châm tiến: Trong nhãn quan ông Nhu, vấn đề Phật Giáo là một khía cạnh của vấn đề chậm phát triển của Việt Nam. Các phong trào chính trị, xã hội và tôn giáo đã phát triển rất mạnh từ khi nước Việt Nam độc lập. Nhưng, cũng như chính phủ, các phong trào ấy thiếu cán bộ, và sự thiếu cán bộ này đã gây ra nhiều vấn đề.

Ông nói: Tình hình của Phật Giáo cũng như vậy; nó đã phát triển rất mạnh, nhưng nó không đủ cán bộ, và sự kiện này là nguyên do của một số sai lầm, một điều không thế tránh được. Tôi nghĩ rằng ngay cả chính phủ cũng bị một sổ sai lầm… (tr. 42)

b. Khía canh sử hoc và xã hôi hoc.: "Vấn đề Phật Giáo phát khởi từ những ngày chót của chế độ thuộc địa, và ngay từ trước Thế Chiến II. Sự kiện này không áp dụng riêng gì vào Phật Giáo. Các đoàn thể chính trị và tôn giáo khác đặc( biệt là Khổng Giáo cũng như thế. Mỗi đoàn thể đều có vấn đề riêng của mình.

Thời kỳ này là thời kỳ mà tất cả các dân tộc Á Đông đều bị yếu đi, vì chính sách của Nhật, vì Hitler và phát xít… Đồng thời có một sự phục hưng về tôn giáo…Vấn đề của Phật Giáo ngày nay là làm sao vừa đáp ứng được những đòi ỏôi của cuộc tranh đấu chống cọng sản vừa đáp ứng được những đòi hỏi của kỹ nghệ hoá? hoặc làm sao tìm ra một thần thuyết nối liền được Tây với Đông. Phật Giáo có đủ khả năng giải quyết nhiệm tác cấp bách và sinh tồn này không? Sự phục hưng của Phật Giáo đã xảy ra trong bố cảnh này. Những vấn đề này đã có từ năm 1933. . .

Phong trào Phật Giáo là một phong trào lành mạnh của một tồ chức bị bóp nghẹt dưới thời thực dân và đang tìm cách phát triển trong điều kiện thực dân bị giải thể. Nó là một phong trào lành mạnh. Nhưng nó phát triển trong những điều kiện không thuận lợi. Nó bị áp lực của Đông lẫn Tây. Hai ý thức hệ này đều tìm cách lợi dụng nó." (tr.43)

c- Sứ mạng tôn giáo và sai lầm: (trong tất cả các cuộc phục hưng đều có sự trở lại nguồn gốc. Nếu Phật Giáo muốn trở lại nguồn gốc, là sự lựa chọn của vài vị thánh hiền mà sứ mệnh là bảo chúng ta, những người đang phải vừa lo chiến tranh vừa phải lo kỹ nghệ hoá, rằng vật chất không phải là tất cả, của những vị thánh thiện nhắc nhỡ chúng ta, những người tay bùn chân lấm, rằng có một lý tưởng ở trong giá trị tinh thần và tu định, một huyền lực bẻ gãy dây chuyền của vật chất. Đó là sứ mạng của tôn giáo. Nhưng trong bối cảnh lịch sử của Việt Nam, phong trào Phật giáo đã đi lại con đ­ờng của nó. Nó dã tự đặt cho nó những mục tiêu chính trị đến mức nó tham vọng lật đổ chính phủ.

Có nhiều lý do giải thích tâm trạng đã đưa các lãnh tụ Phật Giáo đến sự sai lầm này. Về căn bản, Phật Giáo ở một tình trạng lưỡng nan (nhưng chỉ ở Việt Nam). Nó không thể giữ được tính chất Phật Giáo thuần túy nếu nó thành một lực lượng chính trị. Đó là sự mâu thuẫn căn bản ở Việt Nam. Những người Phật tử đã khổ sở về sự mâu thuẫn này. Họ thấy các phong trào tôn giáo khác bành trướng, và họ đã coi sự kiện này như là một bằng chứng rằng có một cái gì đang chèn ép họ. Các tôn giáo khác Hồi Giáo và Thiện Chúa Giáo có cách giải quyết các vấn đề sinh sống hàng ngày của họ. Phật Giáo thì không thế, nó là một tôn giáo chủ trương hoàn toàn tách rời thế sự. Thấy các tôn giáo khác bành trướng họ kết luận rằng họ đang bị đàn áp (tr.44)

d- Cộng sản, Công Giáo, và Phật Giáo: "Cộng sản đã tổ chức việc cải đạo từng loạt xã thành Công giáo, và đã núp sau các xã này để xâm nhập Việt Nam. Khi Phật tử thấy các xã cải đạo theo Công giáo họ tưởng rằng đó là vì họ bị áp lực của Chính Phủ. Nhưng khi ta đọc các tài liệu ta thấy rõ rằng Chính Phủ cũng lo lắng về những vụ cải đạo ào ạt này, và tuyệt không khuyến khích việc này vì chủ động việc này là cọng sản trá hình. Sự kiện này đã gây nhiều tai hại vào năm 1960, lúc mà cọng sản phát động chiến tranh phá hoại; những làng ấy là những làng chống chúng tôi. Chính Phủ Ngô Đình Diệm đã xung khắc với giới lãnh đạo Công giáo về những vụ cải đạo ào ạt này vì các cơ quan an ninh của chúng tôi canh chừng những xã ấy chặt chẽ hơn các xã khác.

Nưng điều quan trọng hơn cả là Phật tử coi phong trào tị nạn như là bằng chứng rằng Chính Phủ khuyến khích Công giáo nhưng không khuyến khích Phật giáo, vì trong số 1.000.000 tị nạn từ miền Bắc vào Nam có 700.000 Công giáo. Người theo Phật giáo tin rằng đó là vì Tổng Thống là ng­ười theo Công giáo. Họ không hiểu rằng đó chỉ là một vấn đề tổ chức: vì người Công giáo có tổ chức tốt hơn về việc đời, cả giáo khu có thể động viên để ra đi, trong khi người theo Phật giáo tán mát và không có tổ chức." (tr.45)

e- Chính Phủ từ chối không cho Công giáo đặc quyền.

"Chính phủ áp dụng một chính sách chung cho tất cả mọi người. Chính Phủ khuyến khích tất cả các tín ngưỡng để chống lại chủ nghĩa vô thần của cọng sản…Sau 1955 có vấn đề các giáo phái muốn thiết lập những quốc gia trong quốc gia. Năm 1957 người Công giáo muốn được đặc quyền -trường học không có sự giám sát của Chính Phủ và cọng đồng riêng. . . [Họ bất mãn vì không được nhưng] Họ chỉ không bỏ phiếu cho ông Diệm [chớ không biểu tình ồ ạt như ngày nay] " (tr.46)

f- Mỹ và âm mưu chống chính Phủ: “Âm mưu chống Chính Phủ do Ủy Ban Liên Phái tổ chức. Ủy Ban này chỉ đại diện cho một phần của Phật Giáo) Việt Nam. Những phái khác không đồng ý với họ, nhưng bị phiền thoái vì thiện cảm với họ. Cùng một tôn giáo, họ cảm thấy phải liên đới với ng­ười đồng đạo Đây là điều người ngoại quốc lợi dụng. Cuộc âm mưu thành hình vì có những kẻ kích thích, đặc biệt là giới báo chí Mỹ; họ khuấy động dư luận quốc tế chống Chính Phủ. Tất cả các tổ chức đều do Ủy Ban Liên Phái điều khiển (tr.46)

"Tin các ông đến có tác động khuyến khích người ta biểu tình. Chính Phủ thấy trước việc này và đã bắt được tài liệu liên quan đến chuẩn bị biểu tình. Các tài liệu đó xuất phát từ những người Phật tử quá khích, cọng sản và ngoại nhân…Tình hình thật là gay go. Sự hiện diện của các  ông là một dịp tốt để thiêu vài người nhằm gây xúc động. Đối với Tây phương cũng như Đông phương vụ Phật Giáo là một cơ hội như vàng để chia rẽ Việt Nam. Một dịp duy nhứt để lợi dụng cực đoan chống Chính Phủ (tr.47)… âm mưu là khiêu khích dồn Chính Phủ vào thế phải bắt càng nhiều ng­ười càng tốt và gây đổ máu bằng cách bắn vào cảnh sát. (tr.48)

g- Tỷ lệ phật Giáo trong Chính Phủ và Quân đôi ông Gunewardene: "Trong Chính Phủ có bao nhiêu người theo Phật Giáo?"

Ông Cố vấn chính tri: “Ba phần tư [9/13]

Ông Gunewardene: “Và bao nhiêu trong quân đội?"

Ông Cố Vấn Chính Tri: “Trong 17 ông tướng, 14 là người theo đạo Phật…" (tr. 50) 

Phỏng vấn Phó Tổng Thống nguyễn Ngọc Thơ

Cuộc tiếp xúc giữa Phái Bộ và Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ tương đối ngắn (3 trang trong Phúc Trình, tr. 53 56), và Phó Tổng Thống không có nói gì đặc biệt.

Tiếp theo phỏng vấn Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ, cuộc phỏng vấn ông Bộ Trưởng Bùi Văn Lương là một trong hai cuộc phỏng vấn quan trọng nhứt về phía Chính phủ Việt Nam. Do đó, dưới đây nó được trích khá dài.

Bộ Trưởng Nội Vụ Bùi Văn Lương 

Cuộc tiếp xúc của Bộ Trưởng Bùi Văn Lương và Phái Bộ rất dài (11 trang trong Phúc Trình, (tr. 57-68), và đề cập đến nhiều vấn dề. Cùng với những tuyên bố của ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, những tuyên bố của Bộ Trưởng Bùi Văn Lương cung cấp giải thích rất rõ ràng về một số vấn đề lớn về vụ Phật Giáo được nêu ra thời đó và ngay cả ngày nay. Vì vậy dưới đây sẽ trích dài nhiều đoạn của những tuyên bố đó để soi sáng một số khía cạnh then chốt của vấn đề.

a. Về Du Số 10.. Có sự trao đổi giữa ông Trưởng Phái Bộ và ông Bộ Trưởng như sau:

Trưởng Phái Bô: "Thưa Ngài, điều thứ nhứt mà Phái Bộ muốn biết là tại sao Dụ Số 10 không được tu chỉnh tuy rằng trong 8 năm qua có tuyển cử và chính phủ dân chủ được thành lập, và tại sao Chính Phủ có đa số trong Quốc Hội lại không thấy cần tu chỉnh Dụ này. . . ."

Bộ Trưởng: "Về điểm thứ nhứt. Năm 1954 chúng tôi bận rộn về chiến tranh với các Giáo phái cùng nhu cấu định cư các người tỵ nạn. Như quý vị biết, chiến tranh chống các Giáo phái là một cuộc chiến tranh dùng vũ khí, chống ba Giáo phái: Bình Xuyên, Hoà Hảo, và Cao Đài. Năm 1956, chúng tôi có cuộc bầu cử Quốc Hội Lâm Thời. Từ 1956 đến 1959, chúng tôi hơi rãnh tay, và đó là lúc có thể tu chinh hoặc không tu chinh Dụ Số 10. Nhưng tôi phải nói rõ rằng, theo Hiến Pháp, sự tu chinh luật pháp phải do đa số dân biểu Quốc Hội yêu cầu. Trong Quốc Hội thứ nhứt, Phật tử chiếm đa số lớn; trong Quốc Hội được bầu năm 1959 cũng vậy. Nhưng không có yêu cầu tu chỉnh Dụ Số 10. Và vì không có yêu cầu của Quốc Hội, nên vấn đề tu chỉnh Dụ đó không được đặt ra…" (tr. 58)

Trưởng Phái Bô: " Câu hỏi của tôi là: tại sao Chính Phủ lại không tự mình khởi động việc tu chỉnh Dụ đó?"

Bộ Trưởng: "Đó chính là điều mà bây giờ tôi muốn giải thích. Trong thời gian 1956-1959, và cho đến tháng 5, 1963, tư­ớc khi xảy ra vụ Phật Giáo, Chính Phủ không hề được Quốc Hội yêu cầu cứu xét dự thảo luật nào về Dụ Số 10.

Tôi phải nói cho hết về người thứ nhứt có thể tu chỉnh luật pháp: đó là Quốc Hội. Chúng tôi có hai Quốc Hội từ 1956 đến 1959, và đến khi vụ Phật Giáo xảy ra, Chính Phủ không được yêu cầu tu chỉnh gì, không được yêu cầu cứu xét dự thảo tu chỉnh Dụ 10 nào.

Người thứ hai về tu chỉnh là chính Chính Phủ. Để quyết định có tu chỉnh hay không tu chỉnh một Dụ, có hai điều kiện: 1/ chúng tôi phải thấy có nhu cầu như vậy; 2/ phải có yêu cầu như vậy xuất phát từ dân chúng.

Về điểm thứ nhứt, cho đến khi có vụ Phật Giáo, chúng tôi không thấy có nhu cầu tu chỉnh Dụ Số 10 vì, tuy rằng trên giấy tờ những điều kiện trong văn kiện rất gắt gao về sự kiểm soát các hội, Chính Phủ không hề áp dụng các điều kiện đó.

Chúng tôi luôn rất rộng rãi về các vấn đề tôn giáo và đặc biệt trong đối xử với Phật Giáo. Có một số điều khoản trong Dụ, ví dụ điều kiện buộc phải đăng ký với Bộ Nội Vụ tên những thành viên của chùa, ủy ban, hay Hội Phật Giáo, thường đ­ợc bỏ qua, đặc biệt là ở các tỉnh. Cho đến năm 1960, trước khi tôi được cử làm Bộ Trưởng Nội Vụ, đó là thường lệ. Sau khi tôi làm Bộ Trưởng, lệ đó vẫn tiếp tục, và tôi cũng không kiểm tra. Nhưng năm 1963, tôi mở hồ sơ ra xem, thì tôi thấy rằng, từ 1954 cho đến 1963, chúng tôi không hề áp dụng Dụ Số 10, mà cũng chẳng hề khi nào có yêu cầu thơ tín, từ phía dân chúng đòi tu chỉnh Dụ Số 10"

…..

"Tóm lại, tôi thấy cần tuyên bố rằng từ ngày có thoả hiệp ngày 16 tháng 6 với Phái đoàn Phật Giáo, chúng tôi đã đưa vấn đề ra Quốc Hội và Quốc Hội đã cử một ủy ban đặc biệt để nghiên cứu phương thức tu chỉnh Dụ Số 10. Trong khi đó, chúng tôi đã ngưng áp dụng Dụ Số 10." (tr.59) ‘ 

b. Vụ rắc rối ở Huế: trước ngày 8/5/1963..

Trưởng Phái Bô: "…Chúng tôi muốn Ngài cho chúng tôi biết, càng nhiều càng tất, về vấn đề Chính Phủ có bằng chứng tuyệt đối về điểm: các vụ chống đối chính phủ gồm có xúi giục bạo động?"

Bộ Trưởng: "… Nếu tôi nghe đúng, Ngài Trưởng Phái Bộ muốn tôi giải thích tại sao trước ngày 6/5 không có rắc rối mang hình thức của những rắc rối xảy ra sau ngày 6/5. Như Ngài Trưởng Phái Bộ nói, ba khía cạnh liên quan mật thiết với nhau. Cho nên tôi sẽ đề cập đến nhiều điểm.

Sau những rắc rối xảy ra ở Huế, tôi tìm hiểu tại sao lại có bạo động thình lình như thế, và tại sao, lúc tôi có mặt ở Huế ngày trước đó, tôi không có một ý nghĩ gì về việc này. Tôi đã đích thân gặp tất cả các vị sư mà Phái Bộ đã phỏng vấn hôm qua, kể cả Thích Trị Quang (hiện đang ở trong Sứ Quán Hoa Kỳ). Tôi đã nói chuyện với họ. Tôi đã giải thích cho họ ý nghĩa của Thông Tư về việc treo cờ và bàn luận với họ, và họ đã xác quyết với tôi rằng những giải thích của tôi thích đáng và họ hài lòng và rất vừa ý, và như thế tôi có thể yên tâm trở về Sài Gòn. Tôi rất vui và tôi trở về Sài Gòn không hề đoán được rằng ngày sau đó sẽ xảy chuyện rắc rối.

Bây giờ tôi muốn làm sáng tỏ một số vấn đề. Thông tư ngày 6/5 đến Huế ngày 7/5. Tôi đích thân đến Huế ngày 7/5 lúc 10 giờ sáng. Nửa giờ sau tôi gặp những vị sư lãnh đạo yêu cầu được gặp tôi để tôi giải thích cho họ rõ nội dung và lý do tại sao có Thông tư đó. Tôi giải thích cho họ nghe, và tôi chỉ thị cho nhân viên hành chánh sở tại tạm thời đừng thi hành Thông t­ư. Lý do của chỉ thị đó là khi tôi đến Huế , trên đường từ sân bay về thị xã, tôi thấy cờ đã được treo như tr­ớc khi có Thông tư, và trong thời gian một ngày không thể hạ tất cả các cờ đã được treo lên. Các vị sư lãnh đạo rất vui lòng. Họ nghe tôi giải thích, và nói với tôi rằng tôi đã hoàn toàn thõa mãn những ý nguyện của họ. Không thể thay đổi gì theo Thông t­ư mà với tư cách là Bộ Trưởng Nội Vụ tôi đã gởi đi, vì cờ Phật Giáo và cờ Quốc Gia đã được treo ba ngày trước đó.

Sau khi tôi về lại Sài Gòn, tôi nghe nói rằng ngày 8/5 có lộn xộn đổ máu ở Huế. Tôi rất ngạc nhiên và tội lại bay ra Huế. Tôi tự hỏi tại sao những vị sư trưởng đã quả quyết với tôi rằng họ hài lòng, mà nay lại xảy ra vụ lộn xộn. Lúc đó tôi không hiểu tại sao, nhưng sau khi chúng tôi bắt được hai ba người, tôi được một tờ khai của một người công sự viên gần gũi Thích Trí Quang, ông Đặng Ngọc Lựu. Tôi đọc tờ khai đó, và lúc đó tôi mới hiểu. (tr. 61) 

c- Âm mưu cọng sản từ 1960.

Trưởng Phái Đoàn: "ông Lựu này bây giờ ở đâu?

Bộ Trưởng "ở đây với chúng tôi. Chúng tôi đã giữ ông ấy lại và trong lời khai, ông ấy nói rằng âm mưu (và vì vậy danh từ "âm mưu” mới được dùng trong tài liệu) là một âm mưu cọng sản, đã dự tính từ năm 1960, khi đạt thỏa hiệp về hình thức xáo trộn sẽ được gây ra.

Tôi chỉ có thể kết luận rằng Thông tư 6/5 chỉ được dung để làm lý do hữu lý để tạo ra rắc rối, vì âm mưu đã được quyết định ngay từ năm 1960 "

d.Vu rắc rối ở Huế ngày 8/5

1) Thích Trí Quang là người chủ mưu.

"Tôi dã điều tra ngay tại chỗ ngày tiếp theo khi xảy ra vụ rắc rối Huế. Tôi đến một thị xã đang còn rất sôi động; một số nhóm và cá nhân đang còn biểu tình ngoài đường phố. Tôi lại gặp các sư lãnh đạo, đặc biệt là Thích Trí Quang. Lúc đó, tôi chưa biết là ông ta là người cầm đấu vì, theo hệ thống cấp bậc, ông ta nằm dưới vị Hoà Thượng mà các Ngài

  

  còn tiếp

TÀI LIỆU QUAN TRỌNG- BIẾN CỐ 1-11-1963 (Cựu Tổng Truởng VNCH Tôn Thất Thiện).

trích trong
"KỶ NIỆM 100 NĂM (1901-2001)
CHÍ SĨ NGÔ ĐÌNH DIỆM

Một tài liệu căn bản tối quan trọng soi sáng vụ Phật Giáo 1963:

PHÚC TRÌNH CỦA PHÁI BỘ LIÊN HIỆP QUỐC
ĐIỀU TRA VỀ VẤN ĐỀ
VI PHẠM NHÂN QUYỀN Ở NAM VIỆT NAM NĂM 1963

 

Thâu tập vào dịp Lễ Tưởng Niệm
Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm
(1901 – 2001)

Người thâu tập và trích dịch:
Tôn Thất Thiện

 Phần I:

Đại Sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge vận động Quốc Hội Hoa Kỳ lên án Chính Phủ Ngô Đình Diệm và ém nhẹm phúc trình của Liên Hiệp quốc

1 – Lodge vận động Quốc Hội Hoa Kỳ lên án ông Diệm

(trích trong The Year of the Hare [America in Vietnam, January 25, 1963 – February 15, 1964] của Francis X. Winters do The University of Georgia Press, Athens and London, xuất bản nam 1997).

Trong buổi hội kiến với Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngày 26 tháng 8, 1963 "Lodge nói rằng, theo hiến pháp, Quốc Hội Hoa Kỳ nắm quyền chi tiêu" về ngoại giao… Lodge muốn ám chỉ rằng Quốc Hội đòi Saigon phải cải tổ nếu muốn được tiếp tục nhận viện trợ. Thật ra, thì trong Quốc Hội Hoa Kỳ không có sự đòi hỏi đó. Cho nên, chính Lodge phải đích thân khuậy sao cho có sự đòi hỏi đó. Ông ta bèn hỏi Rusk có cách nào khuấy động để Ủy Bang Ngoại Giao của Hạ Viện đưa ra một sự đe dọa như thế không. Bundy và Hilsman thích dùng Thượng Viện làm nơi chính để chống ông Diệm hơn. Họ biết rằng Thượng Nghị Sĩ Frank Church không ưa ông Diêm. Do đó, họ cùng ông này thảo Quyết Nghị tháng 9 lên án ông Diệm "đối xử tàn bạo về tôn giáo. (tr.62)

2.- Lodge, Hilsman, McGeorge Bundy và Church toa rập vu khống ông Diệm

(Trích trong Lodge in Vietnam [A Patriot Abroad] của Anne E. Blair do Yale University Press, New Haven and London xuất bản năm 1995).

"ông Lodge là người nhiều kinh nghiệm về việc vận động Thượng Viện thông qua các dự luật. Do đó, ông hỏi Rusk có thể vận động Ủy Ban Ngoại Giao của Hạ Viện cắt đứt viện trợ cho Chính Phủ Việt Nam không. Ông ta giải thích rằng đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn bị bó tay, nhưng nếu vận động Hạ Viện được như vậy thì viện trợ sẽ tái cấp nếu ông Diệm chịu cải tổ. Hilsman và Mcgeorge làm việc với Thượng Nghị Sĩ Church, người cùng quan điểm với họ, để thảo một quyết nghị thích hợp cho Thượng Viện thông qua. Trong bài diễn văn đưa bản quyết nghị ra trước Thượng Viện vào tháng 9, õng Church nhấn mạnh rằng động lực thúc đẩy ông là "đối xử tàn bạo về tôn giáo". (p. 55)

Ghi chú: Nếu Bản Phúc Trình của Phái Bộ Điều Tra Liên Hiệp Quốc không bị ém nhẹm và được đưa ra trình Liên Hiệp Quốc và dư luận quốc tế, rõ ràng quyết nghị trên đây là một sự vu khống trắng trợn.

3. Lodge và New York Times vu khống Chính Phủ Việt Nam về vụ phái bộ Liên Hiệp Quốc đến Việt Nam điều tra.

(Trích trong A Death in November (America in Vietnam) của Ellen J. Hammer do E.P. Dutton, New York xuất bản năm 198?)

Ngày 24 tháng 10, 1963, một phái bộ của Liên Hiệp Quốc đến Sài Gòn để điều tra về vụ Phật Giáo.

Chính Phủ Việt Nam chưa có hành động gì cả, nhưng Lodge báo cáo với Kennedy như sau:

"Những người Việt có học thức hân hoan chờ đợi Phái Bộ, đồng thời phần đông tín rằng Chính phủ Việt Nam sẽ không để cho Phái Bộ được tự do hành sự’ (p 252)

Bộ Ngoại Giao Mỹ và báo New York Times phụ hoạ Lodge:

"Người Mỹ lúc đầu cho rằng Bà Nhu sẽ là đại diện của chế độ Sài Gòn, và Bà ấy sẽ dùng ngôn ngữ thóa mạ và làm cho dư luận Hoa Kỳ chống đối mà thôi. Nhưng người Mỹ lại được nghe Bà em dâu ông Diệm nói rằng chính phủ Bà hoan nghênh đón tiếp một phái bộ điều tra ùa sẽ chấp nhận những phát hiện của họ. Báo New York Times nói đây chỉ là một mánh khoé của Bà Nhu. Bà dùng mánh khoé này chỉ vì Bà ấy biết rằng sự đề cử một phái bộ điều tra như thế sẽ bị Đại Hội Liên Hiệp Quốc bác bỏ. Đại sứ Lodge đánh điện cho Washington nói rằng theo quan điểm của Toà Đại sứ Chính Phủ Sài Gòn "sẽ chống cự kịch liệt quyết nghị đề nghị cử một đại diện hay một phái bộ Liên Hiệp Quốc đến tận nơi để cứu xét về những vi phạm nhân quyền ở Việt Nam ". (tr. 253) Ghi chú: Trên đây là những hành động lừa gạt dư luận và Chính Phủ Hoa Kỳ của những cơ quan và cá nhân có sứ mạng đưa tin tức chính xác để dân Hoa Kỳ có thể lấy những quyết định đúng và phù hợp với quyền lợi của quốc gia họ. Đấy là những hành động đưa đến sự hy sinh của 58.000 binh sĩ Mỹ trong những năm tới.

Ngày 7 tháng 10, Đại Hội Liên Hiệp Quốc quyết định hoãn cuộc bàn cải về bản thảo quyết nghị kết án Chính Phủ Việt Nam và cử một phái bộ đi Việt Nam điều tra. Nghe tin này,

"Ở Sài Gòn Đại sứ Lodge không hiểu tại sao Phái đoàn Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc lại muốn tránh một cuộc bàn cãi tại Dại Hội và một quyết nghị lên án Chính Phủ Diệm. Ông ta điện cho Washington: Tôi nghĩ rằng sẽ có rất nhiều lo ngại về khả năng bản phúc trình [của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc] sẽ thuận lợi cho Chính Phủ Việt Nam". (tr.258)

"Bửu Hội [Đặc sứ của Chính Phủ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc đã cam đoan với Ngoại Trưởng Rusk là sự mời Liên Hiệp Quốc cử một phái bộ đến Việt Nam không phải là một kế trì hoãn, và phái bộ sẽ được tự do đi bất kỳ nơi nào ờ Việt Nam và gặp bất kỳ ai họ muốn. Nhưng Lodge lại cho rằng phái bộ sẽ ngây thơ nếu họ tin như vậy; theo ông ta Chính Phủ Việt Nam sẽ không khi nào để cho họ thâu được những tin tức bất lợi cho Chính Phủ đó. Ông ta điện cho Kennedy rằng lãnh tụ sinh viên đang bị bắt, và tất cả bằng chứng cho thấy rằng Chính Phủ Việt Nam đang đe dọa đối phương để khép miệng những nhân chứng chống đối và ngăn cản không cho họ đến gặp phái bộ, và phái bộ sẽ được đi một vòng du lịch theo kiểu Cooks " (tr. 259)

4.- Lodge vận động Liên Hiệp Quốc đừng bàn về bản phúc trình của phái bộ Liên Hiệp Quốc điều tra vụ chính phủ Ngô Đình Diệm bị tố cáo vi phạm nhân quyền vì nhận thấy kết quả bất lợi.

(Trích trong Lodge in Vietnam [A Patriot Abroad] của Anne E. Blair do Yale University Press, New Haven and Lon on xuất bản năm 1995).

"Sau cuộc đảo chánh Lodge yên lặng vận động để Bản Phúc Trình của Phái Bộ Điều Tra của Liên Hiệp Quốc đã viếng Việt Nam vào tháng 10 và tháng 11 để điều tra về những sự than phiền của Phật Giáo về nhân quyền bị vi phạm khỏi được đưa ra bàn cãi ở Đại Hội Liên Hiệp Quốc. Viên chức Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc đã cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ biết rằng sự công khai hoá những điều mà Phái Bộ Liên hiệp Quốc phát hiện được sẽ gây lúng túng cho chế độ mới ớ Sài Gòn gồm những người đã phục vụ dưới ông Diệm. Thêm nữa, một cuộc bàn cãi công khai có thể cho thấy rằng chế độ mới này cũng chẳng kém độc tài hơn chế độ cũ và cho Hà Nội và Bắc Kinh thêm một dịp để tố cáo Chính Phủ Hoa Kỳ đã dính líu vào cuộc đảo chính. Lodge am hiểu sự khác biệt về ảnh hưởng của những tố cáo trước một diễn đàn quốc tế, sẽ được báo chí quốc tế quảng cáo rầm rộ, và những bằng chứng cục bộ trong một tờ trình viết được ít người đọc. Nhân một dịp viếng Washington vào tháng 12, ông ta thẳng thừng yêu cầu ông Senerat Gunewardene, đại sứ Ceylon, người dẫn đầu nhóm Liên Hiệp Quốc đã thâu tập dữ kiện về vụ Phật Giáo, đừng có đòi một sự bàn cãi về những gì ông ta đã phát hiện được. Gunewardene nhận làm như Lodge yêu cầu để làm vừa lòng một người bạn lâu năm, vào thời ông Lodge làm đại sứ đại diện Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc. Như nhiều người khác đã có dịp giao dịch với Lodge, Gunewarđene đã bị Lodge quyến rũ và coi ông này như là một người bạn" (tr. 77-78) ‘ .

Bà Blair đã ghi rằng những điều trên đây là do con gái của ông Gunewardene tiết lộ trong một bức thư gởi cho bà ta vào tháng 11, năm 1988, nghĩa là 26 năm sau, vụ toa rập ém nhẹm sự thật này mới được đưa ra ánh sáng. (Xem trích dẫn: Blair, tr.178).

Nhấn chuột vào dưới đây đọc tiếp

Phần II Phúc trình của phái bộ Liên Hiệp Quốc thâu tập dữ kiện về vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam.

Mỹ chủ mưu thanh toán anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Kính thưa Quý Đồng Hương,   Tháng 11 năm 2009 đang đến, chúng tôi xin phép Post lại bài viết "Mỹ chủ mưu thanh toán anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm" để Quý Vị mới tham gia vào các Diễn Đàn chưa có dịp đọc, chúng tôi kính mời Quý Vị thưởng lãm.    Trân trọng,…

Thế giới thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Thế giới thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam 24/10/2009 Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu hôm qua trình bày công trình nghiên cứu về thềm lục địa biển Đông và hải đảo Việt Nam qua các thời kỳ, tại buổi tọa đàm “Tìm hiểu thềm lục địa biển Đông và hải đảo Việt Nam”…

Hồi ký: Câu chuyện về một thời: Cải cách ruộng đất

Hồi ký: Câu chuyện về một thời: Cải cách ruộng đất Ở những nước tư bản, có những chủ nhân, những xí nghiệp, những nhà máy, có giới chủ với người thợ, thì cuộc đấu tranh giữa thợ thuyền và chủ nhân phải đánh đổ giới chủ, để có một lớp người vô sản, để…

Nhã Thanh Sử : NHỮNG NGƯỜI MANG TÊN HỒ CHÍ MINH

SỰ THẬT HỒ CHÍ MINH Nguyễn Ái Quấc – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, những cái tên của những con người bí ẩn trong lịch sử. Viết về những người này, có quá nhiều dữ liệu cần phân tích, cần rất nhiều trang lý luận với nhiều chủ đề khác nhau, việc này…

Đạo mất trước, nước mất sau

Đạo mất trước, nước mất sau newvietart.com  HÀ NỘI 25.09.2009 – Triết gia Việt Nam- Lương Kim Định (1914- 1997) để lại hàng chục cuốn sách giá trị, giúp định hướng cho sự phát triển của dân tộc và nhân loại trong kỷ nguyên mới như: Triết lý Đông- Tây, Gốc rễ triết Việt, Thái…

Minh Triết Việt định hướng cho việc phát triển đất nước

Minh Triết Việt định hướng cho việc phát triển đất nước

VietCatholic News (26 Sep 2009 16:06)

MINH TRIẾT VIỆT ĐỊNH HƯỚNG CHO VIỆC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

(Tổng hợp tư tưởng Kim Định)

I. MIMH TRIẾT LÀ GÌ ?

Minh là làm sáng tỏ. Triết là Triệt, tức là đi đến tận cùng của thiên và địa tức cả trời lẫn đất. Nền tảng của Minh Triết là Âm Dương với cơ cấu Tam Tài thành ra Ngũ Hành, đem áp dụng vào đời sống qua Hồng Phạm Cửu Trù. Không nắm vững hay không hiểu được cơ cấu này thì không hiểu được Minh Triết.

Đọc định nghĩa trên chúng ta thấy rõ Minh Triết chính là nối lại được những gì hoàn toàn khác biệt nhau, làm sao nối được giữa hai đối cực trời và đất, sáng và tối, âm và dương, vợ và chồng, mẹ chồng và nàng dâu, xã hội và cá nhân, con người và thượng đế, hồn và xác, vật chất và tinh thần, tư bản và cộng sản, hữu vi và vô vi, nhà và nước, vuông và tròn và vô cùng tận những cái khác biệt khác.

Minh Triết như vậy chính là ĐẠO tức là đường đi để hướng dẫn con người đến hạnh phúc. Hạnh phúc chính là thoả mãn được, hoà hợp được những cái đối nghịch kia. Việt Nam ta ai cũng thường chúc Mẹ tròn Con vuông hay muốn thành công cũng phải có Thiên thời Địa lợi Nhân hoà là nằm trong ý nghĩa đó. Kinh Dịch đã định nghĩa một cách tổng quát là «Nhất âm nhất dương chi vị Đạo » tức là Đạo phải có cả âm cả dương tức là phải hội nhập được cả hai đầu đối lập. Làm sao nước và lửa ở được với nhau hay vuông tròn, chẵn lẻ hợp lại được. Trong văn hoá Việt khó thế mà làm được như đã mô tả trong huyền sử: Tiên ở trên trời cao chót vót, Rồng dưới đáy biển mà hàng năm vẫn gặp nhau trên cánh đồng TƯƠNG ! Ca dao tục ngữ, huyền thoại của ta đều đã bộc lộ rõ nét đạo sống Việt này.

Ngay trong vật lý, trước Einstein người ta quan niệm vật chất là vật chất, khí năng là khí năng (sức nóng, ánh sáng.. .). Từ 1905 Einstein khám phá ra thuyết tương đối cho rằng vật chất có thể biến đổi ra khí năng và ngược lại. Thí dụ một cái hoả tiễn là một khối sắt khổng lồ nhưng nếu nó bay tới một vận tốc là 300 trăm ngàn cây số một giây thì là ánh sáng. Ngược lại vật sáng đó bay chậm lại thì là một khối vật chất không hơn không kém. Như vậy quan niệm tuyệt đối về vật chất và ánh sáng không còn y nguyên nữa, ý niệm về tinh thần và vật chất cũng phải thay đổi theo. Aristote cho rằng con người có 2 phần hồn và xác. Xác là mồ chôn linh hồn. Platon thì phân ra lý giới và trần giới. Sau Thiên Chúa giáo dùng triết học Platon Aristote thành triết học Kinh Viện là nền tảng thần học của Thiên Chúa Giáo. Thiên Chúa Giáo và các tôn giáo khác cho rằng khi chết là hồn lìa khỏi xác để về thiên đàng với Chúa, Ahla, nhập Niết Bàn hay xuống hoả ngục trầm luân. Ý niệm Thượng Đế và con người cũng là 2 đối kháng thuộc hữu và vô, một chiều, từ đó các tôn giáo làm ra đủ mọi tín điều và luật lệ trói buộc con người với hình phạt thiên đàng địa ngục để khuyến khích người ta sống đạo là sống với niềm tin của tôn giáo mình. Mỗi tôn giáo có niềm tin khác nhau lại dẫn đến chiến tranh tôn giáo như lịch sử chứng minh. Chính vì thế tôn giáo cũng không thể là Minh Triết được.

Nhìn lại lịch sử nhân loại và ngay trong thế giới ngày nay ước vọng sống hạnh phúc là mơ ước của con người mọi nơi và mọi thời. Ước mơ đó không bao giờ đạt được. Nguyên do chính là chỉ có một chiều, bỏ mất chiều kia coi như đối kháng: chọn vuông bỏ tròn, chọn có bỏ không, mạnh được yếu thua. Kẻ mạnh chiếm hết tài sản, người yếu chỉ còn làm nô lệ gây nên một xã hội đầy bất công, tranh chấp. Vậy muốn hội nhập đạo, cần phải đi thêm một bước TÂM TƯ nữa mới có thể đi thẳng đến đúng sự vật mà không qua ý niệm hay chủ thuyết nào, lúc ấy sẽ thấy như Kinh Dịch là « muôn vật đều mang trong mình một trật cả không lẫn có, cả hữu lẫn vô », và chính ở chỗ Vô, mẫu số chung của muôn loài mà cả hai luồng khí trái ngược gặp gỡ. Đó gọi là Đạo, là TRUNG, là VIỆT.

Việt chính nghĩa là siêu việt. về sau đại chúng lấy làm tên cho chủng mình thành Việt tộc. Một số chi trong Việt tộc cũng lấy tên Việt đặt cho chi của mình thành Bách Việt trong đó có Việt Nam gồm Lạc Việt và Việt Thường còn đến 70% Bách Việt ở lại miền bắc Trung Hoa hoà huyết với Mông Cổ để thành người Tàu, người Hán. Sau dần các chi bỏ tên Việt hầu hết còn có Việt Nam kiên trì giữ tên Việt, tính ra trong sử đến 6 lần, nên tên Việt còn đến ngày nay. Phải chăng trời định thế cho dòng Việt có kẻ nối dõi tông đường khói nhang nghi ngút cho triết Việt, đạo Việt, Minh Triết Việt có chỗ phục sinh ?

Việt cũng có nghĩa là không siêu lên một chiều lên hay chiều xuống mà cả lên cả xuống, sau nho gọi là triệt thượng hay « phối thiên » – siêu xuống là triệt hạ hay « phối địa ». Triệt thượng thì biểu thị bằng chim Hồng Hộc cũng gọi là Thiên Nga, ý chỉ bay cao sát trời. Triệt hạ thì chỉ thị bằn
g Rồng lặn sâu tận đáy biển. Ý tưởng thâm sâu đó đã được minh hoạ lại trong CÂY VIỆT. (Cây Việt tìm được ở Đông Sơn, lưỡi cong xéo, có hình trên 2 giao long đang cài tay gọi là hát cài hoa kết hoa, dưới là 3 người đeo lông chim đang múa. Tất cả chìa khoá của nền văn hoá Việt tộc cũng như Việt Nam nằm gọn trong bộ số 2 – 3 này). Đây là một may mắn cực kỳ lớn lao.

II. NỀN TẢNG CỦA MINH TRIẾT

1. Thái hoà (số 2). Thái Hòa là hòa hai cái thái cực, cộng hai cái trái ngược lại với nhau, như đã nói ở trên. Hễ cộng được thì đạt Minh Triết gây hạnh phúc cho mọi người, bằng không thì mọi vấn đề đều bế tắc, và gây muôn trùng khổ lụy. Chúng ta phải tan cửa nát nhà vì từ hai mươi lăm thế kỷ nay chưa một triết gia nào giải quyết được bài toán đố trên. Thế mà tiền nhân ta đã cộng được ngay từ đầu, và để lại cho chúng ta đầy dẫy ấn tích. Rõ nét nhất là trong vật biểu tiên rồng (thăng hoa từ vật tổ chim rắn). Các nước chỉ có một: Nga gấu, Ấn voi, Mỹ ó, Tàu bạch hổ, Đức sư tử, Pháp gà cồ.. Riêng Việt nam là có cả chim trên trời, lẫn rồng dưới nước. Tiếp tới các nghệ tổ như Phục Hi, Nữ Oa,Thần Nông thì đều lưỡng thê (sống cả trên đất lẫn dưới nước) với nhiều truyện đi đôi như ông cồ bà cộc, nước non, sông biển đến độ nhiều nhà nghiên cứu gọi nét lưỡng-nhất, nét gấp đôi (=hai mà một) là nét đặc trưng của ĐNA.

Chứng cớ ở đâu ? Trước hết là không có chế độ nô lệ, mọi người đều được thong dong, bất cứ ai hễ đến tuổi thì được vào hội đồng kỳ mục không có xét giầu nghèo. Xin nhớ nói đến chế độ là phải có luật pháp và là quốc sách, số nô lệ thường quá bán phần trăm vậy mới là chế độ nô lệ, còn nô tì, nô bộc bên ta bất quá vài ba phần trăm, và không có qui chế riêng, nên không là nô lệ. Sau là mọi người đều được chia phần tài sản trong làng trong nước, không hề có kỳ thị nào, hễ đến tuổi thành đinh thì được cấp ruộng. Tuy sự thi hành hơn kém tùy lúc nhưng thể chế thì đã có ngay từ đầu không hề phải đấu tranh giai cấp, vì có giai cấp đâu mà phái đấu tranh. Thay vào là xã hội tình, mọi người xem nhau như đồng bào, dùng những kiểu xưng hô trong gia đình như bà, con, cô, bác, để gọi nhau. Xem trong xã hội lòai người về hai điểm trên, người ta đã phải tranh đấu biết bao nhiêu: máu đổ thịt rơi vô vàn mà vẫn chưa ổn, như nước ta đang nếm thử mùi cay đắng về vụ quân phân tài sản do cộng sản chủ trương. Như vậy kết luận được rằng: quả cha ông ta đã hội nhập được hai đầu thái cực tức đã đạt minh triết, và mưu ích cho toàn dân thật sự.

2. Nhân chủ (số 3) Nhân Chủ là làm cho người ta được tự do cả hàng ngang lẫn hàng dọc. Hàng ngang là trong xã hội không bị nô lệ chủ nào, cũng không bị khống chế theo nguyên lý thống trị. Nhân Chủ thật sư thì không suy phục trời đến độ vong thân, cũng không suy phục đất (= duy địa lợi) đến độ vong bản, mà là đứng tự chủ trong cõi người ta. Đối với trời với đất thì người vẫn độc lập, nhưng không cô lập, vẫn cùng trời đất tham dự, chữ nho gọi là "dữ thiên địa tham" nói vắn tắt là Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân. Tài có nghĩa là Tác, là Hành, là quyền hành. Tam Tài là ba trung tâm quyền lực. quyền hành, ba tác viên. Nói nôm na thì người là một trong ba vua: nếu trời là vua, đất là vua, thì người cũng là vua. Đó là nét đặc trưng trong văn hóa Việt, được diễn tả bằng một thứ huyền thọai đặc biệt, mà triết An Vi gọi là Nhân thoại. Với thần thọai thì thần làm chủ, người là tùy phụ, nhiều khi là nạn nhân. Còn với Nhân thoại thì ngươi làm chủ, như trong truyện Bàn Cổ:

"Hỗn mang chi sơ.
Vị phân thiên điạ.
Bàn cổ thủ xuất.
Thủy phán âm dương."

Không lệ thuộc trời hay đất như được biểu lộ bằng xuất hiện trước cả khi có trời cùng đất. Lớn mỗi ngày 9 trượng, làm việc khó hơn hết là Thái Hòa: "thủy phán âm dương", rồi làm ra sông ngòi mưa gió, rồi làm ra người. Không đâu có được nhiều nhân thọai như chúng ta: có tới 15 truyện và liền tục như đươc trình bày trong Kinh Hùng, đủ biểu lộ nhân chủ tính trong văn hóa Việt. Hậu quả nhân thọai là Nhân Đạo=đạo làm người với bước thực hành là Đạo Hiếu được nối dài bằng tục thờ cúng ông bà, tức là tục thờ người. Trên đã nói nếu trời là vua, đất là vua thì người cũng là vua. Đến đây lại nói trời đáng thờ, đất đáng thờ. thì người cũng đáng thờ.

3. Tâm Linh (số 5 = 2 + 3) Số 5 ở vị trí trung cung hành thổ.

3.1. Tâm linh là vựơt vòng lý trí để nhập vào cõi vô biên linh nghiệm. Như vậy lý trí thuộc cõi Có, Tâm linh thuộc cõi Vô, nhưng khác với duy Có họăc duy vô: Có với Không phân biệt, còn với An Vi th&
igrave; Có đi liền với Không, Không đi liền với Có, do đó có khả năng vẽ ra được cái Không cả đơn và kép, đơn như Thái cực viên đồ (Hình tròn), kép như trong đồ án Ngũ Hành (#). Hành Ngũ ở trung cung biểu thị Vô, nên trong mọi đồ án kép bởi Ngũ Hành thì đều có cái Không đi kèm. Có vậy mới là "chân không diệu hữu", chứ những cái duy Hữu hay duy Vô chỉ là những cái vô giả tạo, một chiều kích và vô hiệu năng. Do việc nối kết đó mà An Vi chủ trương rằng cái linh thiêng cao cả hơn hết không ở đâu xa mà đặt ngay trong con người, nơi có xảy ra biến cố Giao Chỉ, nơi cái Có gặp cái Không. Đó là nơi con người tiếp cận với vũ trụ, để "thành Tính tồn tồn đạo nghĩa chi môn". Bao lâu chưa đạt Lý Thái Cực (chưa thấu vào bản Tính mình) thì lý trí chạy loanh quanh vòng ngoài, bày ra đủ xảo thuật (thất Lý nhi nhập ư thuật như các thứ thuyết hay nghi thức) nhưng chẳng nên việc chi cả, vì tòan một chiều kích, nên hỏng trọn, bởi muôn vật đều có hai chiều kích đi ngược nhau. Người ta đã nhận ra rằng văn minh nay thiếu nền tảng, do đó hiện đang khủng hoảng tự nền móng. Phải thay vào bằng một trời mới đất mới, tức phải có một bộ tiền đề khác thế cho bộ định đề cũ gồm nguyên lý "Đồng Nhất" 1=1, một là một, hai là hai, không thể có trường hợp thứ ba, như một mà hai, hoặc hai mà một. Đó gọi là nguyên lý Triệt Tam (tiers exclu). Nguyên lý thứ ba là Căn Do – quả phải do cây, cây phải có trước quả, không thể có vụ Đồng Thời. Đó là ba nguyên lý quản trị thế giới nay, và hiện nó đang bị lung lay tận gốc rễ.

3.2. Sao vậy? Sai chăng? Thưa không sai, nó rất thật, nhưng chỉ thật cho sự vật im lìm gắn chặt vào vật chất, không cần siêu thóat, không cần có vòng trong tình cảm và ý chí. Chứ như trong cõi người ta thì ngoài là lý,
nhưng trong là tình, mà "tình thâm nhi văn minh",= tình mà được đôn hậu cho đến sâu thẳm thì văn sẽ minh", tức là mối giao thoa giữa hai chỉ đất trời sáng lên, sẽ nhìn ra căn để mọi sự. Người ta gọi đấy là "nhất lý minh, vạn lý thông".và đấy mới là "Cõi người ta" cõi của "hoa đất ngọc nước" nghĩa là cõi người ta (man’s land) kiêm cả trời cùng đất, nói theo tâm lý là cả: Ý, Tình, Chí, tức trội hơn cõi sự vật đến hai chiều kích nữa, thì làm sao bao nổi. Người ta quen nói: lý là lý sự, mà tình là tình người, mà tình mạnh hơn lý gấp mười lần, bên trong lại còn Chí, có chiều kích vũ trụ nữa, thì lý làm sao đương nổi. Đấy là căn do tại sao triết học duy lý không cộng tròn với vuông được, mà vua Tiết Liệu lại giải quyết dễ dàng. Huyền sử nói là ban đệm thần hiện ra mách nước. Theo uyên tâm thì ban đêm chỉ tình cảm vốn âm u, còn thần là tiềm thức cộng thông của muôn thế hệ hợp lực thì truyện gì mà chả xong. Vấn đề mà triết học duy lý không giải quyết nổi, thì ở đây được giải quyết tức khắc với công hiệu vượt bực, thế mà lại rất nhẹ nhàng, linh diệu. Đấy là nghĩa một của chữ linh.

3.3. Nghĩa hai là nó đạt công hiệu vượt xa mọi nguyên lý trên kia, thế mà nó lại đi ngược chiều hẳn.Thay vì một là một thì nó ra một mà hai, thay vì hai là hai thì nó ra hai mà một, quen gọi là lưỡng nhất, tức thay vì nguyên lý Đồng Nhất cũ, thì đây là nguyên lý Thống Nhất. Thay vì cố định thì là biến dịch.Thay vì Triệt Tam thí nó lại nâng ba lên đợt đạo = "Đạo Ba", Ba Vì: Trời, Người, Đất, được chứng tỏ bằng nhiều bộ ba khác như ba đồ rau, bộ ba trầu cau: cô Liên ở giữa hai anh em là Tân và Lang. Oa Hòang ngự giữa Phục Hi và Thần Nông. Thứ ba thay vì nguyên lý Căn Nguyên lệ thuộc vào không gian: đây với đó và thời gian trước với sau, thì đây là Đồng Thời vượt cả không gian lẫn thời gian, không thể đo lường được nữa, nên gọi là thần, là linh (âm dương bất trắc vị chi thần)

3.4. Với ba nguyên lý trên, vua Tiết Liệu đã thành công cộng tròn với vuông, biểu thị bằng bánh giầy đặt trện bánh chưng, tức trời trên đất dưới, thì trời đất được đặt trúng vị trí mình, nhờ đó muôn vật được nuôi dưỡng và giáo dục, như sách nho nói" thiên địa vị yên, vạn vật dục yên" = tức mọi nhu yếu thâm sâu được đáp ứng: "thực, sắc, diện, thiên tính dã" ăn uống, sinh dục, thể diện đều được đáp ứng đầy đủ. Do đó dễ hiểu tại
sao có nét an nhiên tự tại hầu như gắn liền với dân tộc, một dân có tên là Lạc. Vì dân Việt luôn luôn sống an lạc, nên người ta gọi là lạc Việt, với nghĩa là dân Việt quen sống an lạc. Lâu ngày lạc biến thành tên riêng với Lạc viết hoa thành ra Lạc Việt. Người vui thì hay hát múa, do đấy có điều đặc biệt này là Lạc Việt yêu nhạc cách khác thường vì là nước duy nhất có bộ trưởng bộ nhạc. Và chào cờ không chỉ bằng hát, mà còn bằng múa. và ca múa gắn liền với linh thiêng tế tự. Những h&igrave
;nh ảnh múa hát trên mặt trống ta tưởng là cuộc ca múa suông mà thưc ra chính là cuộc tế tự đó. Những ca múa viên chính là những tế tự viên.

3.5 Người ta nhận xét có 5 điểm vắng bóng trong văn hóa Đông Sơn: thì một là không có những khối lựơng khổng lồ. Xem theo lối đối chiếu thì ta biết đó là một dấu đặc trưng, bởi các văn minh khác đều để lại những kiến trúc khổng lồ như Kim Tự Tháp, những Ziggurat, Angkorvat, Boroboudour (Java) Vạn Lý Trường Thành.. . thường được gọi là kỳ quan thế giới. Nhiều người Việt tủi hổ vì tiền nhân không để lại cho con cháu được kỳ công nào để mà hãnh diện. Nhưng xét theo tiêu chuẩn "ChíTrung Hoà" thì tiền nhân có để lại cho nhiều kỳ công đáng hãnh diện hơn vô cùng như ba tiền đề đang được học ở đây, vì nó dẫn đưa nhân loại trong những thế kỷ sắp tới, hoặc những nhân thoại như truyện Bàn Cổ, truyện Nữ Oa thái mẫu, truyện bọc trứng Âu Cơ tổ mẫu, truyện bánh giầy bánh chưng, không thể có truyện nào ơn ích hơn cho con người, vì đó toàn là những việc có tầm vóc vũ trụ mà lại làm ơn ích cho mọi người, nên đáng gọi là tâm linh cao cả, hay là Minh Triết, vì nói đến Minh Triết là phải hiểu có làm ơn ích cho mọi ngươi. Đang khi những khối lựơng khổng lồ kia không làm cho ai sung sướng hết, mà chỉ làm khổ vô vàn người, khổ sở để xây dựng nên chúng. Một khi xây xong chúng sẽ đứng đấy để uy hiếp tinh thần dân chúng khi đến với những vua thần cảm thấy mình hèn mạt cát bụi thì dễ dàng sấp mình thờ lạy hay phục tùng đến độ vong thân toàn triệt. Sung sướng gì cho ai?. Người ta nói rất trúng là những Mỹ thuật khổng lồ đã mọc lên vì ba cái lầm chí tử của con người là thần quyền, đế quyền và quí quyền. Những nơi tôn giáo mạnh như Mesopotamia hay Ấn Độ đầy đền đài cung địện thì cũng là những miền nhiều nô lệ nhất.

Câu nói đúng nhưng chưa sâu đủ, vì đàng sau còn câu hỏi (chưa hỏi chứ đừng nói thưa), đó là tại sao lại có những thứ uy quyền như thế? Thưa vì thiếu ba nguyên lý Thái Hòa, Nhân Chủ, Tâm Linh. Nhất là Tâm linh cho những nghệ thuật đồ sộ. Vì khi không biết đặt chí thiện vào trong tâm hồn thì tất phải tìm bên ngòai, mà bên ngòai là phạm vi của lượng số, muốn cao cả thì cần to lớn đồ sộ, càng vượt xa khỏi tầm kích con ngưới càng hay. Thế là con người bị bó buộc phải kiến tạo gông cùm cho mình: bên trong là những tin tưởng trói buộc; bên ngòai là những kích thước khổng lồ rút hầu hết sinh lực không còn bao nhiêu cho cuộc sống, nên không thể có cuộc sống viên mãn tròn đầy, cuộc sống không có được nhiều múa nhảy như trên mặt trống đồng nữa. Trái lại khi theo nguyên lý Tâm linh thì nghệ thuật bám sát đời sống đại chúng, ẩn ngay trong những đồ đạc thường dùng, như trống đồng phát sinh tự cối giã gạo chày đứng. Thành ra con ngươi không hao phí sinh lực ra ngòai, vì vậy mà còn đủ sinh lực để sống tưng bừng. Các nhà nghiên cứu gọi đó là tính thực dụng. Câu đó phải hiểu rộng hơn nữa là không những chí thiện mà luôn chí mỹ, chí chân đều nằm ngay trong tầm tay của mọi người. Vì thế cả đến mọi điển chương của văn hóa từ Ngũ Hành cho tới Lạc Thư, Thái Thất đều dùng đồ án của Việt tỉnh, nghĩa là giếng nước dùng hằng ngày. Chính trong ý đó mà Cái Đình được dùng làm trung tâm sinh họạt không những cho công việc làng việc nước mà còn để tổ chức cả những cuộc lễ lạy cũng như hội hè, đình đám, như ta thấy hình ảnh trên mặt trống đồng. Đó là hình ảnh một xã hội an bình hạnh phúc.

III. MINH TRIẾT ĐỊNH HƯỚNG CHO VIỆC PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

1. Gần đây Việt Nam đã cho thiết lập Học Viện Khổng Tử

Nên cũng cần nói qua về vấn đề này. Khổng Tử ra đời tại nước Lỗ vào thế kỷ thứ 5 trước Tây Lịch, cùng thời với Platon, Aristote ở Hy Lạp, Phật tổ ở Ấn Độ ở thời kỳ mà Karl Jaspers – tư tưởng gia người Đức – gọi là thời hoàng kim của tư tưởng nhân loại. Thời kỳ này chấm dứt ở sự ra đời của Đức Jesus (thế kỉ thứ 1 tây lịch) với tư tưởng công bằng bác ái. Sau các ngài, cho đến bây giờ không có đại tư tưởng gia nào khác vượt qua các tư tưởng của các ngài.

Trường hợp Khổng Tử, ông tuyên bố tôi chỉ thuật lại tư tưởng của người xưa chứ không sáng tác ra điều gì mới (thuật nhi bất tác). Đệ tử lại hỏi ông: Tìm Đạo ở đâu ? ông trả lời tìm ở phương Nam. Điều này có nghĩa Đạo Làm Người của tổ tiên ta đã được hình thành từ nền văn minh nông nghiệp ngay từ những thời đầu tiên của lịch sử con người mà huyền sử đã tô đậm bằng Tổ Thần Nông ở miền nam Trung Quốc ngày nay.

Khổng Tử không viết sách, các đệ tử sau này thuật lại các lời dạy dỗ của ngài. Cuốn sách được coi là tương đối phản ảnh tư tưởng Khổng Tử hơn hết là Luận Ngữ. Cuốn này được viết sau Khổng cả gần 100 năm. Do vậy sự thay đổi gán ghép tư tưởng của ngà
i để phục vụ chế độ phong kiến của các vua chúa không phải không có. Thí dụ giải thích thế nào về người ta gán cho Nho Giáo nói về trung quân? Lúc thì có chỗ nói “giết một tên vua vô đạo như giết một tên đạo tặc” – lúc thì Khổng Giáo chủ trương “Vua bảo tôi chết, tôi không chết là bất trung”. Muốn biết phân biệt đâu là tư tưởng chính truyền của Khổng, đâu là giả trá phải dựa vào tính nhất quán là sợi chỉ hồng xuyên xuất tất cả tư tưởng của người đó. Thí dụ toàn bộ tư tưởng của Khổng là Nhân Đạo, là Vương Đạo thì không thể nào lại thiếu sự nhất quán được, không thể có sự mâu thuẫn lúc thế này lúc thế kia. Một bậc thánh nhân như Khổng, như Phật.. . từ 2500 năm trước đã có một tư tưởng vĩ đại như thế không thể nào lại mâu thuẫn với chính mình, nói ngược lại những điều mình đã chủ trương.

Nhiều người lẫn lộn triết học Khổng Tử hay triết học Nho Giáo với Đạo Nho – triết học Phật Giáo với Đạo Phật. Học triết học để biết Khổng, Phật sinh ra từ đâu, hoàn cảnh xã hội thời các ngài thế nào, tư tưởng các ngài ảnh hưởng thế nào trong xã hội v.v.. . đó là triết học. Những hiểu biết này cần nhưng chưa đủ. Điều chúng tôi kêu gọi phục hồi Đạo Nho là để phục hồi đạo làm người. Bất cứ ai cũng cần phải làm người trước khi làm tín đồ một tôn giáo, lãnh nhận một nghề nghiệp như kỹ sư, bác sĩ, một ông quan, ông vua, ông cha, người mẹ. Sống và làm – làm sao cho đúng với cái tên mình đã mang. Người mình thường nói Tài và Đức phải đi đôi. Đức đây chính là cái tâm, lòng nhân ái của con người. Đó là Nhân Trí Dũng của Nho – bi hỉ xả của Phật – tin cậy mến của Thiên Chúa Giáo. Học Nho học Phật là để thành Người Chí Nhân, là để thành Phật chứ không phải chỉ học để biết, để có kiến thức suông.

2. Phục hồi Nho Giáo bắt đầu từ đâu?

Vài thí dụ nêu trên chỉ là vài điểm trong triết lý Nho Giáo, là hồn của đạo làm người mà con người mọi nơi, mọi thời đều cần đến. Tây Phương chỉ có luân lý chứ chưa có Đạo Học. Theo dõi các cuộc tranh luận công khai trên truyền thanh, truyền hình, mọi người đều đồng ý là xã hội ngày nay thác loạn dù kỹ thuật đã rất cao, của cải vật chất đã quá dư thừa do kinh tế tư bản đem lại. Họ muốn đem công dân giáo dục vào học đường, nhưng dựa vào đâu đây ? Dựa vào luân lý Thiên Chúa Giáo như ngày xưa thì các tôn giáo khác chống. Dựa vào nền đạo đức thực dụng thì thiếu nền tảng như đạo đức cách mạng của cộng sản thì cũng đã sụp đổ. Đây là thời cơ thuận tiện nhất để xây dựng một xã hội mới hậu công nghệ mà bước đầu tiên cần làm là CẢI TỔ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC để vì lợi ích trăm măm là trồng người trước đã. Việt Nam là bãi chiến trường cho 2 chủ thuyết cộng sản trong thời chiến và tư bản cho thời toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam có làm được chính sách BÌNH SẢN trong kinh tế và ĐẠO HỌC cho giáo dục để đáp ứng vai trò Hội Nghị Quốc Tế ở Honolulu năm 1939 với đại diện 50 quốc gia tham dự đã tôn vinh Khổng Tử làm nhạc trưởng cho việc hoà hợp Đông Tây (Xin xem Charles Moore East West Philosophy, Oxford Press) và Hội Nghị Nho Học tại Việt Nam tháng 17.12. 2004 tại Hà Nội. Chúng tôi xin góp một ý nhỏ về chương trình giáo dục để các bậc thức giả trong nước và hải ngoại góp ý thảo luận.

1. Tam giác ngữ cho giáo dục Việt Nam: Tam giác ngữ là cho học sinh học ngay 3 thứ tiếng cùng một lúc ngay ở tiểu học. Đó là tiếng Việt (mẹ đẻ) tiếng Anh (sinh ngữ) và chữ Hán (tử ngữ) . Thời cơ ở Việt Nam ngày nay đã chín mùi để mạnh dạn đưa vào chương trình giáo dục. Quần chúng đã và đang học tiếng Anh, tiếng Tàu, tiếng Nhật, tiếng Đài Loan để giao tiếp và làm kinh tế. Học tiếng Anh để tiếp xúc với nửa phần nhân loại còn nửa phần nhân loại khác là chữ Tầu, tiếng Tàu (tiếng Phổ thông). Kinh tế, văn hóa thế giới hiện nay do 2 thứ tiếng này thống trị. Phải giải quyết cho xong vấn đề ngôn ngữ ở bậc tiểu học để học sinh đọc thông viết thạo 3 thứ tiếng này rồi lên bậc trung học hãy dồn vào học kiến thức phổ thông rồi Đaị Học học chuyên môn. Điều cần lưu ý là phải học chữ Hán theo lối chân phương để có thể đọc các sách cổ và chữ Nôm của ta. Không học lối viết tắt của Tàu hiện nay vì sẽ cắt đứt mất nguồn tìm về đạo học và văn hóa vốn đã rất liên hệ giữ Tàu và Việt cả hàng mấy ngàn năm nay. Tuổi trẻ rất dễ học sinh ngữ và tử ngữ. Khoa học ngày nay đã chứng minh trẻ rất dễ học, miễn là học lúc còn nhỏ. Nước Anh nay cũng bắt học sinh nay phải học 2 sinh ngữ. Dạy chữ Hán cho các em phải đưa vào các câu có nội dung Đạo Học dù các em không hiểu, sau này lớn lên, tiềm thức sẽ cho các em hiểu và làm theo những gì đã học ngày còn bé. Những câu đó thí dụ như: Tiên học lễ hậu học văn, Công cha nh
ư núi Thái Sơn.. . Chí Thành như Thần – Thiên Lý tại nhân tâm v.v… Ngày nay kỹ thuật tiên tiến với TV và các phương tiện khác, mỗi trường chỉ cần một số thầy cô giáo người nói tiếng Anh, tiếng Hán Phổ Thông chính gốc, không còn khó khăn gì.

2. Lễ Gia Tiên. Trẻ em Việt Nam ngày nay nổi tiếng khắp thế giới vì học giỏi và thành công là nhờ đâu? Người ta đã nghiên cứu và bàn cãi nhiều, tôi chỉ xin nêu một lý do căn bản là nền tảng gia đình. Gia đình càng vững chắc, trẻ em càng học giỏi và thành công. Vậy lấy nền tảng gia đình từ đâu? Đó là LỄ GIA TIÊN hay ĐẠO THỜ ÔNG BÀ. Có người nói rằng đâu phải chỉ có Việt tộc mới có lễ gia tiên, có đạo thờ ông bà? Đúng. Nhưng cái khác biệt của ta là thờ cách nào hay nói khác đi là cách đặt bài vị ra sao, triết lý nằm sâu trong đạo thờ ông bà ở chỗ mô? Thờ ông bà không phải là mong ông bà về ăn của cúng mà là thờ nhân tính con người. Nếu trời đất đáng thờ thì con người cũng phải được thờ vì con người ngang hàng với trời cùng đất, con người là một trong tam tài (thiên địa nhân). Tổ tiên chúng ta lấy việc thờ cúng tổ tiên làm phương tiện giáo dục con cái, đừng làm uế nhục gia tiên, thanh danh gia đình. Con cái làm nên là do phúc đức ông bà để lại. Con cháu phải tiếp thừa và phát huy truyền thống ấy – cho nên lối đặt bài vị trong bàn thờ tổ tiên lấy MÌNH làm gốc. Từ mình tính lên thờ 4 đời là: Nị (cha) Tổ (ông) Tằng (ông Cố – cha của ông) Cao (cha của ông Cố) – tính xuống là thờ 4 đời là: Con, cháu, chắt, chít. Bài vị được xếp theo Ngũ Hành: thủy hỏa kim mộc thổ. Tất cả các hành đều đi qua Thổ trung cung. Thổ nằm ở giữa là MÌNH để tính lên hay tính xuống 4 đời như nói ở trên. Thổ cũng là Văn Tổ tức là vươn lên từ hồn thiêng của cha ông lên đến nhân tính con người. Đạo thờ ông bà cao trọng như vậy nhưng chính MÌNH lại là trung tâm nên mình phải sống làm sao để xứng đáng kế nghiệp truyền thống gia đình của mình. Bởi vậy lễ Cúng Giao Thừa là giây phút thiêng liêng nhất của mỗi gia đình nhằm giáo dục con em.

3. Thiết lập được một nền giáo dục quân bình. Quân bình giữa thành công và thành nhân: Nói theo lối xưa là “Tiên học lễ, hậu học Văn”. Nói cụ thể ra là nền giáo dục Việt nam bây giờ và mai sau là bậc tiểu học phải cho các em học tiếng Việt, tiếng Trung và tiếng Anh là chính. Ngoài tiếng Việt để giữ tiếng mẹ đẻ cần học tiếng Trung để tiếp xúc với nửa phần nhân loại. Mặt khác học sách cổ để trở về nền văn hoá sâu rộng của Lạc Việt, biết cội nguồn sâu thẳm của văn minh Đông Phương, đạo học Việt Nho. Học tiếng Anh để liên hệ với thế giới khoa học văn minh hiện đại. Cần cho các em tiểu học học ngay vào các kinh điển Tứ Thư Ngũ Kinh, dù các em chưa hiểu ở tuổi nhỏ này, nhưng chôn vào đầu óc các em những nguyên tắc dẫn đạo cuộc sống. Bậc tiểu học giải quyết xong sinh ngữ, tử ngữ để lên Trung học dồn vào khoa học kỹ thuật và đến Đại Học đi vào chuyên ngành, đào tạo ra các con người có khả năng kỹ thuật cao trong một tấm lòng nhân ái phục vụ xã hội hết lòng.

4. Xã hội phải đặt trên một nền chính trị chân chính, nhân bản, tôn trọng nhân quyền Vấn đề này đã bàn rất nhiều về những giá trị của nền chính trị hiện nay, đặt trên một xã hội nhân trị, pháp quyền. Một chính thể do dân bầu ra trong một cuộc bầu cử tự do và trong sạch. Hiến pháp có 3 quyền biệt lập: Hành pháp. Lập pháp và Tư pháp v. v…

5. Một nền kinh tế bình sản. Bình sản là không cộng sản cũng không tư bản, hay kinh tế chủ nô như lịch sử cận đại đã chứng minh. Cộng sản đã chết và tư bản cũng đang khủng hoảng trầm trọng. Bình sản đựa trên khuyến khích cá nhân phát triển, làm giầu. Những ai may mắn hơn, thành công hơn, phải chia sẻ cho người kém may mắn, kén hoàn cảnh, thiếu phương tiện. Phương thức thực hiện là thuế lũy tiến. Làm được nhiều, thu được nhiều, lương cao, thì đóng thuế nhiều hơn. Lấy thí dụ bên nuớc Anh hiện nay, lương một người dưới £40,000 một năm đóng 22% thuế (Income Tax) 10% bảo hiểm xã hội (social security). Chủ còn đóng thêm 11% nữa thuế (Employer contribution) Nếu là cơ sở kinh doanh, phải đóng mỗi quí 3 tháng 15% thuế trị giá gia tăng (VAT). Cuối năm tổng kết thu nhập còn đóng thêm 17% Corporation Tax. Tiền lời của công ty cho chủ gọi là Share Capital Dividens khi lấy tiền ra tiêu phải đóng 26% thuế nữa. Nhờ những khoản thuế lũy tiến này chính phủ thu được một số tiền kếch sù để làm những công trình công ích cho xã hội như xây trường học, bệnh viện v.v … (tiền của tax payers). Nền học vấn tiểu học, trung học, đại học đều miễn phí. Riêng mỗi cá nhân khi thất nghiệp hay khi ốm đau bệnh nạn không có thu nhập được xã hội cho lãnh tiền xã hội đủ sống (trợ cấp xã hội cho người thất nghiệp tại Anh hiện nay cho một gia đình có 3 con được khoảng 700 bảng một tháng, tiền nhà, t
iền bệnh viện, tiền bác sĩ v.v… không phải đóng. Riêng tiền bệnh viện dù đi làm cũng được miễn. Người đi làm khi đi khám bệnh được miễn phí nhưng phải trả tiền thuốc). Người già và tàng tật được trợ cấp nhiều hơn. Người bất toại được nhà nước trả tiền cho người chăm sóc. Người già từ 60 được miễn phí khi đi xe bus, xe điện ngầm, giảm giá vé 30% khi đi xe lửa. Các nước Bắc Âu ngày nay là những nước tiêu biểu của nền kinh tế bình sản. Thu nhập cao hơn nữa đóng 40% – 60% thuế theo căn bản nêu trên.

6. Phát triển nông thôn cũng như thành thị – Các nước Bắc Âu như Anh Quốc đã là mẫu mực cho việc phát triển nông thôn và thành thị. Từ đường xá đến nhà cửa, tiện nghi công cộng như trường học, bệnh viện, phương tiện giao thông, ở đâu cũng đẹp đẽ khang trang, thanh bình.

IV. VAI TRÒ CỦA VIỆN MINH TRIẾT

Viện Minh Triết có một vai trò rất quan trọng và khẩn thiết để đưa ra một chủ đạo cho Việt Nam thay thế cho các chủ thuyết ngoại lai vong bản đã lỗi thời làm băng hoại con người và xã hội có thể nói ngay từ những thời Bắc thuộc cho đến ngày nay. Chúng ta đã mất đạo cho nên mất nước. Tìm ra được chủ đạo lại còn cần phải học hỏi nó, từ gia đình đến ngoài xã hội như các tôn giáo đã và đang làm hay trong thời xã hội chủ nghĩa còn mạnh, mọi người từ bà bán cá ngoài chợ, từng em học sinh, từ viên chức nhà nước, trong quân đội cũng phải học và thực hành chủ đạo, minh triết Việt. Chủ đạo còn được coi là căn bản cho Hiến Pháp mới, là nền tảng cho các tổ chức công quyền ở mọi giai tầng xã hội. Có vậy chúng ta mới thiết lập được sự ấm no hạnh phúc cho con người. Ấm no từ tâm hồn đến cơm ăn áo mặc, môi trường sống, trong hân hoan của anh em đồng bào cùng một mẹ Âu Cơ.

Vũ Khánh Thành

Huỳnh Văn Lang : ĐỆ NHỨT CỘNG HÒA

ĐỆ NHỨT CỘNG HÒA    của Miền Nam (1955-1963) Huỳnh Văn Lang      (Bài nói chuyện ở Hội Tác giả  VN Hải ngoại, ngày 08-11-2009)       Nội dung của bài nói chuyện hôm nay là những sự kiện hay những biến cố quan trọng nhứt đã đưa đến sự hình thành ra Đệ nhứt Công hòa của miền…

Huỳnh Văn Lang : Ông Ngô Đình Diệm

Sự Thật Lịch Sử: Ông Ngô Đình Diệm có "soán ngôi" vua Bảo Đại? Ai giết tướng Trinh Minh Thế? —————– ĐỆ NHỨT CỘNG HÒA    của Miền Nam (1955-1963) Huỳnh Văn Lang    (Bài nói chuyện ở Hội Tác giả  VN Hải ngoại, ngày 08-11-2009)     Nội dung của bài nói chuyện hôm nay là những sự kiện hay những…

Quảng Trị mùa hè 72.

BÊN KIA BẾN HẢI GIAO CHỈ, SAN JOSE   Ðây là bài viết thứ 8, trong loạt bài viết về Quảng Trị mùa hè 72. Bài này viết về trận Quảng Trị, nhìn từ phía bên kia. “Mãi mãi tuổi 20” Bên lề tài liệu chính kể trên, tập hồi ký được Hà Nội nhắc nhở…

Tiến trình bị mất đất

Tiến trình bị mất đất VietCatholic News (12 Aug 2009 03:41) Chúng ta nhớ lại, nhân dịp Đại Hội Đảng Toàn Quân từ ngày 3 đến 11.1.2001, Lê Đức Anh đã đứng lên tố Lê Khả Phiêu 10 tội, trong đó có một tội rất quan trọng là “Bán đất, bán biển cho Trung Quốc”…

Ải Nam Quan trong lịch sử (phần 2)

Ải Nam Quan trong lịch sử (phần 2) Tác Giả Quê Hương Mến Yêu Mai Thái Lĩnh View all articles by Mai Thái Lĩnh   II. Biên giới lịch sử và biên giới pháp lý 1) Đường biên giới tại ải Nam Quan dưới thời nhà Nguyễn Vào lúc thực dân Pháp bắt đầu quá trình…