Nguyễn Phan Ngọc An : NHỮNG CƠN BÃO TRONG ĐỜI

NHỮNG CƠN BÃO TRONG ĐỜI                                    Tùy Bút  : Nguyễn Phan Ngọc An Viết tặng hiền huynh John Nguyễn      Rặng phi lao xào xạc…người đàn bà giật mình run rẩy, hơi lạnh từ biển bốc lên, toàn thân nàng co rúm lại với khí trời giá buốt đêm nay. Nàng nhìn đồng…

Nghĩa : Bo Tu Lenh Quan Doan IV Can Tho 30-4-75

Bo Tu Lenh Quan Doan IV Can Tho 30-4-75 Nhân dịp ông loc huong  chuyển lên Net bài viết của ông Phạm Cơ Thần ghi lại chuyện ở QĐ IV trong những giờ phút cuối, tôi xin post lại đoạn hồi ký của một sĩ quan ở cạnh  Tướng Hưng cho đến giờ phút chót, như dưới đây:                                         NGÔI…

Trần Mộng Tú : LỜI CÁM ƠN RIÊNG

LỜI CÁM ƠN RIÊNG                TRẦN MỘNG TÚ Cuối năm 1976, tôi lập gia đình được ba tháng, theo chồng từ nam California về nhà cha mẹ chồng ăn mừng lễ Giáng Sinh, cũng là dịp để cha mẹ chồng tôi giới thiệu cô dâu mới với làng xóm của hai cụ. Một cô…

Nguyễn Phan Ngọc An : Mây Hồng

MÂY HỒNG                      Tâm  bút :  Nguyễn Phan Ngọc An     Trời về khuya, miền biển thường vang vọng những tiếng sóng rì rào như những lời ru  thì thầm thiết tha của biển, những âm thanh vi vút tưởng chừng như lời thánh thót yêu đương của những hàng thông dài thẳng tắp,…

Tiểu Tử : TẤM VẠC GIƯỜNG

TẤM VẠC GIƯỜNG   Tiểu Tử             Hồi đó, tôi làm mướn cho ông Cả Bảy. Mấy ngày đầu, ngày nào cũng chèo xuồng qua bên kia sông để giữ ruộng cho ổng. Hồi ổng kêu tôi làm việc cho ổng, ổng nói : «  Hổng có gì, nhưng có  mặt mầy ở bển tụi nó…

Nguyễn Phan Ngọc An DƯỜNG NHƯ LÀ DUYÊN PHẬN

DƯỜNG NHƯ LÀ DUYÊN PHẬN                                                                                        Truyện ngắn : Nguyễn Phan Ngọc An     Căn nhà mà Quyên share phòng nằm trên con đường lộ lớn, ngày đầu dọn đến nàng đã nghe nhiều ngôn ngữ líu lo không thể hiểu của người Ðài Loan, Hàn Quốc …Bấy nhiêu đó cũng làm nàng vui…

Ngô Thư Sinh : Mùa Ra Trường

Mùa Ra Trường,

 

TNgoài người bạn đời, đứa con thứ hai và thằng út cái vinh dự lớn lao nhất của đời tôi đó là sự có mặt của mẹ tôi, bà ngoại cuả các cháu…

Thật quí hóa vì tất cả mọi ngừơi đều lội bộ đến địa điểm rất sớm và nhà cũng không mấy gần cho lắm.

Đúng 6 giờ chiều.

Buổi lễ bắt đầu bằng

bài Quốc Ca Hoa Kỳ đựơc cất lên bời một ban hợp xướng của nhà trường, tiếng hát vang vọng thanh thóat, mọi người ai nấy nghiêm chỉnh bày tỏ lòng cung kính như chính mính là những kẻ sắp ra trường vậy.

Andre con trai tôi không biết ngồi ở hàng ghế nào vì từ xa những học sinh trông rất giống nhau nhất là các học sinh đều mặc đồng phục.

 

Trong một thoáng nôn nao, dòng ký ức của tôi lại tràn về, cách đây hơn 30 năm tại Sunnyvale high school, tôi cũng ra trường như con của tôi hôm nay, cũng áo mão cân đai đoàng hoàng,

những kỷ niệm hoang mang của một thời xuân sắc, tuổi học trò, nghĩ đến mà thèm .

Andre, con trai yêu quí của mẹ ơi!

Không biết con đang nghĩ gì? con có biết cuộc đời cuả con đang bước sang một khúc quanh , biên giới của trẻ con và người lớn, rồi đây khi bước chân lên ngưỡng cửa đại học, liệu con có đủ tri thức và bản lãnh nối tiếp đoạn đường rèn luyện bản năng và trí tuệ để trở thành một con người hữu ích cho chính bản thân và cho xã hội sau nầy?, vì mẹ biết việc học không phải là chuyện dễ dàng…

Mẹ chỉ có cách là cầu nguyện Trời Phật gia hộ cho con của mẹ mà thôi.

Hãy rán lên con vì tất cả những gì thành đạt của con chính là niềm hãnh diện của mẹ. Con có biết không ? Tre tàn măng mọc, mẹ đã già rồi niềm hy vọng duy nhất của mẹ bây giờ là sự thành công nơi các con…

 

“Andre Lai”, tiếng gọi của người xướng ngôn đã đưa mẹ về hiện thực.

Kìa đứa con trai của mẹ được gọi lên lảnh bằng , mẹ run cả người vừa đứng dậy hướng về sân khấu để được nhìn thấy hình dáng của con, chậm rải bước đi mà nước mắt của mẹ bỗng tuôn trào…Mẹ đã khóc vì quá sung sướng…

“Andre đã tốt nghiệp High School”

 

Cám ơn cuộc đời!!!.

 

Niềm vui chưa trọn với Andre thì sáng hôm sau tôi lại phải khăn gói, quả mướp lên đường đi Nam Cali  để tham dự ngày ra trường 4 năm của Brian, đứa con thứ hai của tôi tại trường đại học IRVINE, miền nam Cali vào ngày thứ 7, tức hai hôm

sau.

 

Brian là đứa con mà tôi tin yêu nhất vì tánh nết thực thà, nhỏ nhẹ mà lại học rất giỏi, khi ở bậc trung học nhà trường đã cho học băng một lớp, khi Brian quyết định chọn trường đại học IRVINE, tôi cảm thấy như hẩng hụt một điều gì đó, phải xa nhà đến 4 năm ròng rả, liệu con tôi có đủ bản lãnh để sống một cách tự túc, tự lập hay không?…

 

Tánh tôi luôn hoài cổ, thích trong mâm cơm phải đầy đủ các con, thích nhìn các con đùa giởn bên nhau, thích nấu ăn cho chúng, có lẻ tôi vẫn còn cổ điển, âu cũng chỉ tại đã trót mang dòng máu Việt Nam, truyền thống của Á Đông.

 

Chúng tôi đến hội trường của đại học IRVINE lúc gần 12giờ, dưới cái nắng gay gắt của một buổi trưa hè, người đông như kiến phải chen chúc lắm mới tìm ra được chỗ ngồi. 

 

 

Brian hơi nhỏ con nên từ xa tôi rất khó nhận diện ra nó.

Hội trường càng lúc càng đông, ước tính độ ba bốn ngàn người vừa sinh viên vừa phụ huynh, tuy nhiên đã có máy điều hoà không khí nên cũng dễ chịu.

 

Đúng 1 giờ, buổi lễ được bắt đầu bằng nghi thức chào cờ, rồi lời mở đầu của Thầy Hiệu Trưởng, kế đó là bài diễn văn của đại diện sinh viên tốt nghiệp, tôi nghe chữ còn chữ mất, chỉ mong sao thấy được Brian lúc lên lãnh bằng…

 

Thế rồi con tôi bệ vệ bước lên sân khấu khi được xướng danh, tôi cố dùng máy chụp hình để ghi lại cái hình ảnh thật đáng yêu của Brian, cậu ba nhưng vì quá xa nên đành chịu vậy.

 

Trong buổi lễ ra trường hôm nay, khoảng cả ngàn sinh viên tốt nghiệp cử nhân nhưng chỉ độ 20 người là tốt nghiệp cao học, môn học của Brian là Khoa Học Xã Hội, đúng là học càng cao càng khó…

 

Đến đây tôi lại liên tưởng đến Henry, đứa con cả của tôi, coi vậy mà sang năm nó lại ra trường Bác Sĩ ngành Y, tôi sung sướng đến muốn khóc, để rồi lại lo cho Daniel, đứa con út, tánh tình lì lợm, ngang bướng, cũng năm tới sẽ tốt nghiệp trung học.

 

 

Tôi tìm một nơi thật yên lặng, ngồi để mà suy gẫm lại chuyện đời…

 

Mới ngày nào đó của 35 năm trứơc, ngày tang thương của đất nước gia đình tôi đã di tản và đã được định cư nơi vùng đất tự do này.

 

Từ ngây thơ đến chững chạc, từ hạnh phúc đến khổ đau, từ những phút giây thực sung sướng đến những âu lo thôi thúc triền miên, nhưng có lẽ hầu hết mảnh đời của tôi chính là những đứa con thân thương của tôi.

Cho dù có lúc chúng làm tôi phật ý trong nếp sống hằng ngày, đứa được đứa không.

Cho dù niềm hân hoan và nỗi lo âu lúc nào cũng luôn canh cánh trong lòng tôi…

Nhưng dẫu sao những đứa con của tôi luôn được xem như là những phần thân thể và tâm tư của chính tôi vậy.

 

Một lần nữa xin cám ơn đời….

 

Viết cho cảm tưởng của một người mẹ…

 

 

 

Sunnyvale, 6/18/2010.

Ngô Thư Sinh  

 

NGUYỄN KHẮP NƠI :NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI.

NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI.

 

NGUYỄN KHẮP NƠI

Viết theo lời kể của một cư dân Quận Dĩ An,

Viết cho ngày 30 tháng Tư đen,

Viết cho những người Lính, Nghĩa Quân, Cảnh Sát, Xây Dựng Nông Thôn và dân chúng của Quận Dĩ An xưa.

Kính tặng  Ông Quận Dĩ An – Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến Sát Cộng – Trung Tá Nguyễn Minh Châu. 

Để tưởng nhớ Chú Ba Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An.

Nói về địa dư, thì quận Dĩ An thuộc về vùng III. Từ Sài Gòn đi Biên Hòa, nếu đi đường trong (đường ngoài là đường xa lộ Saigòn Biên Hòa), chúng ta sẽ tới Thủ Đức rồi tới Dĩ An và cuối cùng là Biên Hòa.

Mặc dù ở khoảng giữa Saigòn Biên Hòa, nhưng người ta biết đến Thủ Đức và Biên Hòa nhiều hơn là biết tới Dĩ An, vì hai nơi kể trên có quá nhiều cảnh đẹp, thức ăn và trái cây ngon, như Suối Tiên, nem Thủ Đức, buởi Biên Hòa . . . .

Dĩ An chỉ là một quận thuộc về . . . miền quê, không có bất cứ một thứ gì đặc sắc, ngoài cái việc ở kế cận Sàigòn.

Đúng vậy, nếu đứng ngay ở quận lỵ Dĩ An, chúng ta sẽ thấy ngôi chợ, bót cảnh sát, ga xe lửa . . . Nhưng qua khỏi ga xe lửa một chút, chừng vài cây số thôi, là chúng ta đã tới miền  quê rồi đó, với những cánh đồng lúa và vườn trái cây xanh mướt thấp thoáng những mái tranh đơn sơ.

Và trong một vài mái tranh đơn sơ đó, có  . . . Việt Cộng.

Sau hiệp định Geneve 1954, phân chia đất nước làm hai miền: Miền Bắc theo Cộng Sản, còn miền Nam theo Tự Do, thuộc Pháp.  Khi Pháp rút về nước, trao chính quyền lại cho Quốc Trưởng Bảo Đại. Sau một cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” Bảo Đại bị truất phế, nhường cho Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống. Bọn Việt Cộng ở miền Nam, một số tập kết về miền Bắc , số còn lại rút gân rút cốt thay hình đổi dạng, nằm vùng chờ cơ hội.

Tổng Thống Ngô lập chính phủ Cộng Hòa, lo vãn hồi an ninh trật tự cho miền Nam Tự Do, ông cho bắt hết đám Việt Cộng nằm vùng, xây dựng nền kinh tế vững mạnh. Cuộc sống người dân trở lại bình thường, dân Dĩ An nhờ đó, cũng sống rất yên lành.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Dĩ An, chứng kiến những sự việc xẩy ra ở đó qua hai đợt di cư của người miền Bắc vào Nam: Năm 1954 và năm 1975.

Dân Di cư miền Bắc, được tập trung sinh sống ở khu Thủ Đức, Hố Nai, Tam Hiệp . . .  gần Biên Hòa, và đương nhiên là gần Dĩ An.

Thời đó, tôi còn rất nhỏ, mới bắt đầu đi học Tiểu Học.

Tới trường, hễ nghe đứa nào nói cái giọng khó nghe, thì hiểu liền, đó là dân “Bắc Kỳ”. Đang đi ngoài đường, hễ nghe ai đó nói:

“Rê Su Ma, nạy chúa tôi”

Là tụi tôi biết liền, đó là dân “Bắc Kỳ”

Ra chợ, hễ thấy bà nào có hàm răng đen bóng, là bọn chúng tôi biết ngay, đó là dân “Bắc Kỳ”

Một vài điều tôi còn nhớ như in vào đầu là, thời đó còn xài tiền giấy xé làm hai: Một đồng xé làm hai thành hai tờ Năm Cắc. Những đứa nhỏ Bắc Kỳ cùng học với chúng tôi, tụi nó hiền lành, chỉ nhìn tụi tôi chơi dỡn chứ không bao giờ dám chọc ghẹo tụi tôi cả. Má tôi và những người chòm xóm bán hàng ngoài chợ thì nói những người Bắc Kỳ chụi khó làm việc và rất nhẫn nhịn, cái gì cũng cười.    

 Tôi được má kể lại là, lâu lâu , chính phủ tổ chức chiếu phim thời sự vào buổi tối, ở đầu chợ Dĩ An, để dân chúng đi xem, đông lắm, vui vẻ lắm, thái bình thịnh trị lắm.

Vào thời gian xẩy ra đảo chánh Ngô Đình Diệm và những cuộc đảo chánh kế tiếp, tôi không biết và không nhớ nhỉều cho lắm, vì lúc đó tôi chỉ là một đứa nhỏ chín mười tuổi mà thôi. Chỉ có một điều làm tôi nhớ: Mỗi lần chiếu bóng,  Việt Cộng thẩy lựu đạn làm đám con nít tụi tôi chết nhiều lắm. Tôi không nhớ năm đó là năm nào, chỉ nhớ rằng, trong lúc đang mải mê xem phim chống bệnh tật: Máu đỏ và máu xanh trong cơ thể chống lại vi trùng xâm nhập vào người, thì nghe một tiếng nổ lớn:

“Đùng”

Nhìn chung quanh, tôi thấy người ta ngã xuống đất, máu chẩy thật nhiều, bọn tôi sợ quá, xúm nhau chạy về nhà. Kể từ đó, ba má tôi cấm đám anh em tụi tôi không được  đi xem hát nữa.   

 Qua một thời gian vài năm không đi  coi hát ở chợ nữa, có một bữa, mấy đứa bạn tôi rủ đi coi hát ở đầu chợ nữa. Tụi nó nói với tôi:

“Có ông Quận mới về, ổng . . . sát cộng lắm, nên tụi nó không dám về thẩy lựu đạn nữa, đi coi hát được rồi.”

Nói thì nói vậy, chứ má tôi đâu có dám cho tụi tôi đi coi nữa. Anh em tụi tôi ham coi hát, lén lén đi từ đứa, mỗi đứa coi một khúc rồi về thế cho đứa khác đi coi. May là không có ai thẩy lựu đạn nữa, nên má tôi không biết chuyện này.

Mấy bữa sau, tụi tôi có chuyện đi ra quận đường. Đang đi, tôi chợt thấy có một chiếc “Xe Díp” chạy trờ tới, có một ông mặc đồ rằn ri nhà binh ngồi trên xe bước xuống, chống cây gậy đi chậm chậm. Dưới cặp mắt con nít của tôi, thì ông rất là oai phong. Tôi đâu có biết ông đó là ai, cứ mở bự con mắt ra mà dòm ông. Những người lớn tuổi đi kế bên tôi lao xao nói chuyện với nhau. Một bác đi kế bên tôi nói lớn ra vẻ thích thú:

-“Đó, ông Quận Dĩ An mới về đó!”

-“Ông Quận đó . . . sát cộng lắm đó! Ổng cho lính đi phá hầm Việt Cộng hoài à, kỳ nào cũng giết được mấy đứa, làm tụi nó sợ lắm, trốn hết trơn rồi.”

-“Ổng là lính “Thủy Quân Lục Chiến” đó, đánh trận ngầu lắm đó!”

-“Ổng tên gì vậy?”

-“Ai biết ổng tên gì! Nghe người ta kêu ổng là “Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến”, vậy thôi, chứ ai mà biết ổng tên gì!”   

Mấy ngày sau, nhân dịp tết Trung Thu, bọn con nít tụi tôi được đi theo thầy giáo tới quận đường để lãnh lồng đèn và bánh trung thu. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi đuợc tới quận đường và được lãnh quà trung thu. Tôi không còn nhớ đã được lãnh lồng đèn kiểu gì? Nhưng còn nhớ rất rõ là được phát một cái bánh dẻo nhỏ bằng ngón tay, ăn có mùi lá dứa.

Nhà tôi ở ngay chợ Dĩ An, mỗi ngày ngoài giờ học và nhưng giờ chạy chơi với bạn bè, tôi đều phụ má bán hàng, nên được nghe nói rất nhiều về “Ông Quận Dĩ An Thủy Quân Lục Chiến.

Có người kể:

“Tối qua, ông Quận cho lính đi phá hầm, giết nhiều du kích lắm, thằng con của Năm Rê (không phải tên thật) hổng dám dề kêu đi đắp mô nữa”

Cũng có người nói:

“Tối bữa trước, thằng Năm con ông Chín Lùa kéo đám trong bưng về chặn đường ông Tám Hó (không phải là tên thật) Hội Đồng Xã đặng giết. May phước, ông Tám có thằng nghĩa quân  xách súng đi theo, bắn trả lại rồi chạy thục mạng ra tới Xã ở luôn đó, mấy bữa rồi cũng không dám về nhà.”

Một ông già bán xạp đã thật là vui vẻ nói lớn:

“Hổm rày quận mình yên lắm rồi! Tụi tui và bà con chòm xóm hết bị mấy cái đám ác ôn tối trời về bắt đi đắp mô rồi. Nhớ lại hồi đó, tối bị lùa đi đắp mô, sáng lại phải đi phá mô, hổng còn sức đâu mà làm ăn!”

Như tôi đã nói ở trên, từ ga xe lửa Dĩ An đi theo đường cái vô sâu chừng vài cây số, tới vùng Nhị Tỳ, Nhà Đèn Dĩ An là tới khu ruộng lúa và những đám rừng âm u (chưa tới Ngã Ba Cây Lơn). Những người đi theo Việt Cộng ban ngày vẫn làm ruộng trồng rau, ban đêm nhập với đám Việt Cộng trong rừng ra, tới từng nhà đòi đóng thuế, hoặc giết những người trong Hội Đồng Xã. Nhà hàng xóm gần nhau, ai theo Việt Cộng, ai theo Quốc Gia, dân chúng có khi biết nhau hết, nhưng không dám nói ra.      

Có một bữa, dân chúng kéo nhau đi coi xác Việt Cộng chết, được ông Quận kéo về để dọc đường rầy xe lửa. Tôi tò mò lén đi coi. Tới nơi, tôi thấy có chừng sáu bẩy cái xác Việt Cộng, đứa thì mặc quần xà lỏn, đứa thì mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn   bị bắn chết, máu chẩy đầy mình. Lính nghĩa quân cầm súng đứng gác kế bên. Người ta đi coi đông lắm, tới tận nơi mà dòm. Tôi thấy xác chết thì sợ quá, không dám tới gần, chỉ đứng lớ xớ phía xa. 

Có người léo xéo nói với nhau: “Xác đó là thằng . . . Tám (không phải là tên thật), con của Sáu Lô đó”

Có người làm gan, tới hỏi anh nghĩa quân đứng gác:

“Việt Cộng bị bắn chết rồi, sao không đem đi chôn, mà lại đem trưng ra đây? Coi dễ sợ quá, hôi hám quá đi”

Anh nghĩa quân trả lời:

“Tụi tôi mới đi phá hầm bí mật của Việt Cộng tối qua đó, ông Quận cho kéo về, chờ làm giấy tờ xong mới đem chôn, cũng để đó đặng cho bà con biết, đừng có đi theo Việt Cộng mà có ngày bị chết thảm như cái đám này đó!”

Tôi lớn lên theo tình hình an ninh của quận Dĩ An. Ông quận Dĩ An vẫn còn làm việc ở quận, tôi không có dịp gặp ông nữa, nhưng nghe dân chúng nói rất nhiều về những điều ông làm. Ông chịu lo lắng cho vấn đề an ninh của dân chúng, chịu hành quân, chịu đi phá hầm, truy lùng Việt Cộng lắm.

Vì thế, dân chúng mới đặt cho ông cái tên:

“Ông Quận Sát Cộng”

Bây giờ thì tôi đã lớn đủ để hiểu Việt Cộng là ai? Và Sát Cộng là gỉ? rồi. Tôi chỉ là một đứa con gái, nhưng tôi cảm thấy phục ông, và lâu lâu vẫn suy nghĩ: Ông đi đứng chống gậy rất khó khăn, vậy làm sao mà ông có thể đi hành quân phá hầm việt cộng hoài hoài như vậy được?

Có một bữa bán hàng, tôi thấy có một đám người lạ mặt mặc quần áo đen, đội nón rộng vành, mang ba lô tới ăn ở quán của nhà tôi. Tôi thấy họ mặc đồ bà ba đen và quấn khăn rằn thì sợ lắm, nhất là nhìn thấy cái nón của họ, hơi giống cái nón tai bèo của đám du kích. Nhưng khi thấy họ mang ba lô thì tôi đỡ sợ, vì tuy không đi lính, nhưng tôi cũng biết chỉ có lính Cộng Hòa mới mang ba lô mà thôi. Khi một chú ăn xong, kêu tính tiền, tôi làm gan, hỏi chú là lính gì mà lại mặt đồ đen.

Chú này cỏn trẻ lắm, nhe răng cười trả lời tôi:

“Tụi tui là lính “Xây Dựng Nông Thôn” mới từ Vũng Tàu về đây”

(Xin gọi tắt là XDNT)

Nghe anh trả lời thì tôi biết vậy thôi, và tôi cũng chỉ gặp họ một lần đó thôi nên cũng quên đi, còn lo bán hàng, lo đi học. Chừng vài tháng sau, tôi nghe dân chợ nói chuyện với nhau:

“Lính XDNT được lắm, họ hổng giống lính Cộng Hòa, họ ở luôn trong ấp của mình đó, mấy ảnh giúp mình đủ chuyện hết, có bữa còn phụ bà Tám Cái (không phải là tên thật) cấy lúa đó!”

“Bàn ngày, đám XDNT này đi vòng vòng giúp bà con, ban đêm họ xách súng đi tìm Việt Cộng mà đánh đó. Tội nghiệp quá, họ làm việc sáng đêm. Tối qua đám này ghé nhà tôi, tía thằng Tâm nói tôi nấu cháu cho mấy chú đó ăn cho no đặng làm việc đó!”

Từ đó tôi mới biết lý do tại sao họ không có mặt ở chợ nữa, vì họ ở luôn ở trong làng, trong xã chung với dân. Theo suy nghĩ nông cạn của tôi, tôi cho rằng: Việt Cộng nằm vùng sống cùng với dân, muốn diệt trừ bọn này, chỉ có cách là cũng sống cùng với dân như những người lính XDNT này thì mới tìm ra chúng mà đánh thôi. Từ đó, tôi lại có thêm cảm tình với lính XDNT và thêm cảm tình với ông Quận Dĩ An.

Tói tuổi thi tú tài, tôi lo học nhưng cũng thích thơ TTK, Hữu Loan, Hồ Zếnh ,và cũng thích đọc “The Exodus” “Chiến Tranh và Hòa Bình”. . .

Một bữa, tôi đang đọc  cuốn “Trại Đầm Đùn” thì một ông khách lạ mặc quần áo Cảnh Sát buớc vào quán kêu đồ ăn, ông trạc tuổi 45 gì đó. Khi tới quầy trả tiền, liếc mắt thấy tên cuốn sách, ông nhìn tôi ngạc nhiên:

“Con gái mà đọc mấy loại sách này làm chi!”

Tôi trả lời ông:

“Cháu đọc cho biết Việt Cộng là như thế nào?”

Lâu lâu ông lại ghé quán của má tôi mà ăn trưa, ăn tối. Tới khi quen rồi ,tôi mới biết ông là Cuộc Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An. Có bữa, tôi cắc cớ hỏi ông:

Chú Ba, có khi nào chú bắt được Việt Cộng, rồi cũng tra tấn người ta giống như bọn VC tra tấn dân, giống như trong . . . Trại Đầm Đùn, hay không?”

Ông đã cười lớn một lúc rồi mới trả lời tôi:

“Bạo tàn không phải là nghề của Cảnh Sát Quốc Gia! Mình làm gì cũng phải có tình người ở trong đó. Hơn nữa, hỏi cung đám VC là do CSĐB hoặc là ANQĐ phụ trách, chứ không phải là nhiệm vụ của chú.”

Từ đó, tôi có cảm tình nhiều hơn đối với ông. Ông kêu tôi là “Con gái” và xưng “Chú” với tôi. Nhà ông ở Sàigòn, ông đi làm bằng xe Vespa (hay Lambretta gì đó, tôi không nhớ rõ), chứ không lái xe Jeep Cảnh Sát. Người ta kêu ông là Chú Ba, thì tôi cũng theo đó mà kêu, chứ không hỏi và cũng không dám hỏi tên thật của ông.

Tháng Tư 1975, ngày đen tối của VNCH đã đến! Mấy ngày trước đó, thấy tình hình nguy ngập, má tôi lo cho tính mạng của anh Hai tôi đang đóng quân ở Bạc Liêu và anh rể tôi làm Cảnh Sát ở Xa Cảng, nhưng đâu có làm gì được hơn. Má chỉ còn cách bảo tôi đi mua gạo trữ phòng khi có biến.

Gần cuối tháng, tôi nghe súng nổ thật gần, nhưng cũng chẳng biết làm gì hơn.

Sáng 30, tôi nghe trên đài phát thanh, Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng Việt Cộng và kêu gọi binh sĩ các cấp gác súng súng chờ bàn giao.

Má tôi lo cho số mạng của người con trai và con rể. Còn tôi, tôi lo cho số mạng của những bạn bè tôi đã đi lính. Dĩ An ở gần phi trường Biên Hòa, gần cả căn cứ Sóng Thần, nên có rất nhiều thanh niên gia nhập Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến, bạn bè tôi ở trong đám này đông lắm. Rồi còn những người lính XDNT nữa, họ còn đang ở chung với bà con trong Xã, Ấp, còn chú Ba Cảnh Sát, còn ông Quận TQLC Sát Cộng nữa, họ sẽ ra sao?

Mẹ tôi lính quýnh đi tới đi lui trong nhà. Tôi cũng lo sợ, lo sợ cho mẹ tôi, cho chính tôi nữa, cuộc đời mình sẽ ra sao?

Ngay lúc đó, chú Ba bước vào, mặt mày đăm chiêu. Điều ngạc nhiên hết sức là chú không mặc bộ quần áo cảnh sát thường ngày, mà chú mặc bộ đồ mầu trắng tươi, đeo lon và huy chương sáng ngời. Chú nói với mẹ tôi:

“Tôi chào chị lần cuối, rồi về nhà. Đầu hàng rồi, nhưng tôi đâu có thua trận đâu mà đầu hàng! Sáng nay, khi nghe tin Tổng Thống Minh đầu hàng, tôi đã tập họp tất cả cảnh sát trong Cuộc lại dể  làm lễ chào quốc kỳ lần cuối cùng, rồi giải tán, ai về nhà nấy. Tôi cũng về đây, thôi, chào chị và cháu gái, hai người ở lại mạnh giỏi.”

Mẹ tôi và tôi chưng hửng nhìn chú. Một lúc sau, mẹ tôi mới nói:

“Đầu hàng rồi, tôi thấy người ta mặc thường phục đi về, sao chú không thay quần áo thường mà lại mặc đại lễ như vầy, lỡ . . . có chuyện gì thì sao? Con trai tôi còn để mấy bộ quần áo ở nhà, tôi nói con Nhung lấy cho chú bận nhe!”

Chú Ba cười chua chát, trả lời:

“Lần cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp của tôi mà chị! Tôi phải mặc đại lễ chứ!”     

Tôi ái ngại nhìn chú, hỏi thêm:

-“Chú Ba đi về cùng với anh em cảnh sát hay về chung với ông Quận? Về chung chắc là an toàn hơn đó”

-“Anh em cảnh sát đa số là dân địa phương, họ tự đi về, còn chú, chú đi bằng xe riêng từ đó tới giờ, nên hôm nay chú cũng về bằng xe riêng. Ông Quận vừa nói chuyện với chú xong, ổng sẽ về sau cùng với những người lính nào ở Sàigòn.”

-“Chú Ba, còn cây cờ của mình, sao chú không gỡ xuống, để . . . người ta xé đi thì tội nghiệp cho lá cờ lắm”

-“Chú Ba chỉ có nhiệm vụ thượng kỳ Việt Nam Cộng Hòa mà thôi. Quân Đội không dậy chú cuốn cờ bỏ đi, và chú cũng không thể làm chuyện đó được. Trước khi về, chú đã đứng nghiêm chào lá cờ lần chót rồi.

Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ VNCH tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”

Rồi chú quay ra, đạp máy xe rồ ga đi thẳng.

Ngoài đường, tôi thoáng thấy những thanh niên mang băng tay đỏ, cầm súng chạy lăng xăng.

Chiều đến, má tôi hốt hoảng nhớ tới bầy cháu ngoại ở Sàigòn, má nói tôi ráng mang gạo cho chị tôi, để mấy đứa nhỏ đói tội nghiệp.

Tôi cảm thấy sợ hãi khi phải đi ra ngoài trong giờ phút này, nhưng cũng chất gạo lên xe Honda chạy ra xa lộ đi về Sàigòn.

Dọc đường, vẫn còn súng nổ, vẫn còn lính ta chạy tới chạy lui, quần áo lính vứt rải rác khắp nơi, và rất nhiều đàn ông mặc thường phục đi bộ về phía Sàigòn. Những chiếc xe tăng cắm cở Xanh dương và đỏ chạy rầm rộ trên đường, chạy qua mặt tôi một cách hung tợn, cũng huớng về Sàigòn. Tôi sợ lắm, bậm gan rồ ga chạy thục mạng.

Bất chợt, tôi nhìn thấy ở vệ đường, một người lính mặc đại lễ mầu trắng với những huy chương đeo đầy trên ngực áo, nắm bất động, mặt đầy máu, quay về phía đường lộ, bên cạnh chiếc xe Vespa lật nghiêng. Tôi thảng thốt kêu lên:

“Chú Ba Cảnh Sát!”

Tôi muốn dừng lại, xem có phải thật sự là chú Ba hay không?

Chú còn sống hay đã bị bắn chết?

Nhưng giòng người xô đẩy, tiếng súng hai bên nổ vang, rồi xe chở lính Việt Cộng chạy tới, xe tăng, thiết giáp bắn nhau qua lại, tôi không thể nào ngừng lại.

Tôi bật khóc, nhìn chú Ba một lần chót rồi rung rẩy chạy xe đi.

Tôi nhớ lại hồi sáng, sau khi chú Ba đi được khoảng một tiếng đồng hồ thì một đám những tên đeo băng tay đỏ, những tên đội nón tai bèo, đã kéo lá cờ VNCH xuống, xé tan nát đi. Tôi vụt chạy ra muốn giựt lại lá cờ, nhưng vừa mới ra tới cửa, đụng phải một đám đá cá lăn dưa cầm súng chĩa tứ phía, làm tôi sợ quá, dội trở lại. Lúc đó, tôi đã giận chú Ba hết sức, tại sao không kéo lá cờ xuống mà cất đi, để nay bị cái đám người này xé nát.

Bây giờ, nhìn chú Ba nằm đó, tôi lại nhớ câu nói cuối cùng của chú:

“Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ VNCH tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”

Tôi không giận chú Ba nữa, và nghĩ rằng, chú Ba đã làm đúng!

Chú Ba ơi, trong đầu óc chú bây giờ, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại, vẫn còn tung bay trong gió, trong vĩnh cửu, phải không chú?

Những ngày sau đó, rất nhiều khuôn mặt xuất hiện. Những khuôn mặt này rất quen thuộc với người dân Dĩ An trước đây, nhưng bây giờ họ đã trở thành khác hẳn:

Họ quấn  khăn rằn, đội nón tai bèo, hiện nguyên hình Việt Cộng.

Bà con đi chợ nói với nhau:

“Cái đám này, hồi đó đã bị Cảnh Sát chìm, bị lính của Ông Quận mình bắt nhốt hết trơn rồi đó đa. Nhưng bị báo chí nói lung tung là bắt dân vô tôi, nên mới phải thả tụi nó ra. Nay thì rõ ràng quá rồi, phải chỉ hồi đó xử tử hết tụi nó đi, đỡ khổ . . .”

Một thời gian ngắn sau đó, những người Bắc Kỳ lại xuất hiện, chúng tôi kêu họ là “Bắc Kỳ 75”. Những Bắc Kỳ này láu cá và hỗn láo vô cùng, khác xa với “Bắc Kỳ 54” xưa. Bắc Kỳ 54 ăn nói nhỏ nhẹ, cái gì cũng cười, thì đám Bắc Kỳ 75 đội nón cối, đ chân đất, luôn miệng chửi thề. Khi nói chuyện, họ xưng ông xưng cha với chúng tôi và sẵn sàng đe dọa:

“Ông báo công an, bắt bỏ cha chúng mày đi bây giờ!”

Mỗi lần ngày 30 tháng Tư trở lại, tôi lại nhớ tới quận Dĩ An, nhớ tới ông Quận TQLC Sát Cộng, nhớ tới Chú Ba Cảnh Sát. Tôi đã kể cho chồng con tôi nghe về những người này, không biết họ còn sống hay đã chết? Chồng tôi hỏi, tôi còn nhớ tên những người hùng này hay không? Lâu quá rồi, hơn nữa, hồi đó, tôi còn quá nhỏ để mà nhớ.

Mỗi lần đi ngang những đài tưởn g niệm chiến sĩ VNCH, tôi đều cầu nguyện cho họ.

Bất chợt, một hôm đọc Việt Luận, đọc bài “Cuộc Đời Đổi Thay” tôi mới biết ông Quận Trưởng Dĩ An , ông Quận TQLC Sát Cộng, Trung Tá Nguyễn Minh Châu, ông còn sống, đang ở bên Mỹ. Tôi mừng qua, kêu chồng tôi:
“Anh ơi, ông “Guậng . . . Ông Guậng Dĩ Ang nè, ổng còn sống, ổng diếc báo nè!

Anh coi hình ổng nè, ổng bận đồ rằng ri, oai hùng lắm nè! Thấy hông, em nói mà!”

Chúc mừng ông Quận được bình yên sau những đổi thay của cuộc đời.

Cám ơn ông Quận, đã gìn giữ an ninh trong quận, đã sát cộng, để những người dân Dĩ An như tôi có một cuộc sống yên ổn, cho tới ngày 30 tháng Tư.

NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY!

NGUYỄN KHẮP NƠI.

Trần Mộng Tú : Công Chúa Mùa Xuân

Trần Mộng Tú

 

                                                      CÔNG CHÚA VÀ MÙA XUÂN

 

 

         Khí trời vẫn còn lạnh lắm, sáng tây bắc Mỹ vẫn mù sương. Chiếc hồ chạy dài trước nhà như có như

không, đứng ở tả ngạn không nhìn thấy hữu ngạn, dốc thấp không nhìn thấy đồi cao, xe sau không nhìn thấy

 xe trước. Bình minh, hai tay vẫn phải giấu kỹ vào trong túi áo khoác khi tản bộ trong xóm, những ngón tay

 thỉnh thoảng lại co vào nhau như hỏi xem có ngón nào đã ấm chưa? Đi vòng mấy con dốc vừa hết một bình

 minh, vẫn không hết lạnh.

 

Thế mà buổi trưa, sương vừa tan từng chỗ như lụa được mang cắt chia nhau từng khúc; đoạn dài may áo,

đoạn ngắn may khăn. Nhìn ra vườn sau, trên sườn đá hai con nai ở mé bìa rừng tây nam đang lững thững vào

 vườn, chúng đi tìm nụ non của mấy bụi hồng dại, chúng đi tìm những cánh hoa báo xuân ( Primroses). Hóa

 ra mùa xuân đã thực sự đến rồi.

Chúng lững thững đến, ngơ ngác nhìn quang cảnh, cúi xuống tìm hoa ăn, xong lại lững thững đi. Người

ở trong cửa kính, nín thở, không dám gây tiếng động, người nhìn nai, nai nhìn người. Cuối cùng, có đến,

phải có đi.

 

Nai tìm về vườn sau, có nghĩa là xuân đang đến. Ai đó hấp tấp chạy ra vườn tìm mùa mới. Hai cây đào ngoài

 kia, một cây bên trái, phía tây nam, cao ngang với mái nhà, hoa cánh đơn phơn phớt hồng, có hương thơm rất

 nhẹ; một cây giữa vườn sau, cây chiết, có hai loại hoa khác nhau, mầu hồng cánh kép, và mầu trắng như hoa

mơ. Cả hai cây, chíu chít nụ, những nụ đã nứt ra một chút ở đầu như báo hiệu sự có mặt sắp đến. Đứng hết

dưới gốc cây này, sang gốc cây kia, nhìn lên những cành nụ vươn ra trong nắng mới; không khí ngọt ngào,

 tinh khiết, khe khẽ lạnh; người ngồi xuống, cúi nhìn đất, tìm những nụ hoa Daffodils (thủy tiên đất), hoa

Tulips (kim hương) đang thi nhau chồi lên khỏi mặt đất. Người biết chỉ còn hai tuần nữa thiên nhiên sẽ cho

 những đóa hoa tuyệt đẹp. Hoa Irish (diên vỹ) và Rhododendron (sơn lựu) hoa Peony (mẫu đơn) cũng đang

 chồi lên, ra nụ. Đây là những đóa hoa sẽ nở vào tháng năm.

Cây Magnolia (mộc liên) sát cửa sổ buồng ăn, sẽ cho những đóa hoa như bông sen trắng với những chiếc

 lá dầy xanh biếc như được cắt ra từ một khối ngọc nào đó, vào tháng sáu.

Chao ôi! Nói về hoa thì làm sao kể tên cho hết. Mỗi mùa một loài hoa nở, ngay cả mùa thu, lá thu cũng khác

 gì những cành hoa gấm trên cây, mùa đông lạnh giá cũng còn có hoa xuyên tuyết (Croquets), và ai kia còn

 nhìn sông nước gọi: “Hoa sóng,” nhìn trời gọi: “Hoa mây”

   Mỗi lần người nghe thiên nhiên cựa mình theo gót chân nai trở về, mang mùa xuân vào vườn, bỗng có câu

 thơ cũng chợt trở về:

 

 Huyền Trân Huyền Trân ơi

 Mùa xuân mùa xuân  rồi

 Ngoài kia chín vạn bông trời nở

 Riêng có tình ta khép lại thôi.(Nguyễn Bính)

 

Mấy câu thơ của Nguyễn Bính tả mối tình huyền hoặc của Huyền Trân và Trần Khắc Chung

Cô công chúa ở tuổi xuân và đẹp như hoa xuân đó có đoạn sử nói cô là người yêu của quan Thượng

Tướng Trần Khắc Chung trước khi cô sang Chiêm quốc.  Huyền sử kể lại rằng: Công chúa ngại đường sông,

 sang Chiêm về nhà chồng bằng đường bộ, quan thượng tướng Trần Khắc Chung đi tháp tùng, khi đến đèo

 Hải Vân, đoàn lữ hành dừng lại nghỉ chân, công chúa đã viết bài thơ “Nước Non Ngàn Dậm Ra Đi” để gửi

tâm tình mình cho người yêu vào đó:

 

Cái tình chi !
Mượn màu son phấn,
Đền nợ Ô Ly,
Xót thay vì,
Đương độ xuân thì,
Độ xuân thì,
Số long đong, hay là duyên nợ gì ?
Má hồng da tuyết,
Quyết liều như hoa tàn, trăng khuyết.
Vàng lộn theo chì.
Khúc ly ca,
Sẽ còn mường tượng nghe gì ?
Thấy chim hồng nhạn bay đi,
Tình lai láng,
Hướng dương hoa Quì
Dặn một lời Mân Quân :
Như chuyện mà như nguyện,
Đặng vài phân,
Vì lợi cho dân,
Tình đem lại mà cân,
Đắng cay trăm phần…

 

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì Trần Khắc Chung có mang lòng yêu  công chúa Huyền Trân. Cứ tưởng

 tượng huyền sử trên là có thật thì mối tình của hai người đẹp và đáng thương biết nhường nào; Nhưng

cũng theo quốc sử Trần Khắc Chung lại là một trong những người đồng ý đem gả công chúa cho vua

Chiêm để đổi lấy hai châu Ô, Ly. Tại sao? Có phải Trần Khắc Chung đặt tình yêu nước lên trên tình riêng

hay không? Ta hy sinh tình yêu của ta cho bờ cõi nước Đại Việt được mở mang. Nào ai biết rõ được tâm

tư ấy!

 

Trong dân gian, người ta thương tiếc một vị công chúa sắc nước hương trời, cành vàng lá ngọc, phải

 đem gả cho Chế Mân (còn được coi là Mán) nên đã có câu đồng dao:

 

 Tiếc thay cây quế giữa rừng

 Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo

 

Khi vua Chiêm mất, Trần Khắc Chung sang cứu công chúa khỏi dàn hỏa và hai người lênh đênh trên

 sông nước một năm mới trở về đến quê nhà. Nhưng sử sách của nước non Chiêm phủ nhận điều đó. Ta

 hãy đọc một đoản tài liệu sử Chàm dưới đây:

 

“Vua Champa Jaya Simhavarman đệ tam (tiếng Việt gọi là Chế Mân) đã dâng hiến cho Ðại Việt vào năm

1306 hai vùng Ô và Ly (lãnh thổ của Huế hôm nay) để được kết hôn với công chúa Huyền Trân của Ðại

Việt. Sự kết hôn này đúng là một vở bi kịch tình sử. Vì rằng chưa đầy một năm chung sống với công

chúa Ðại Việt, Jaya Simhavarma đã tử trận trong một khung cảnh vô cùng mờ ám, để rồi Huyền Trân tìm

cách chạy trốn về Thăng Long với Trần Khắc Chung mà chưa ai hiểu được nguyên nhân nào để giải thích

 cho sự hiện diện của Trần Khắc Chung trong bối cảnh lịch sử này. Nhiều câu hỏi thường được nêu ra

vì cái chết đột ngột của vua Jaya Simhavarma đệ tam. Nguyên nhân nào giải thích cho mưu mô chạy

trốn của công chúa Huyền Trân, trong khi ai cũng biết rằng công chúa Ðại Việt này không thể hội đủ

điều kiện để xin lên giàn hỏa. Nếu theo truyền thống Champa, chỉ có bà hoàng hậu chính thức mới được

 phép để hiến thân trên giàn hỏa với chồng của mình.” ( *)

 

    Cũng theo sử, tuân lệnh di ngôn của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông, khi về đến hoàng cung

(năm 1308), công chúa được gửi vào chùa để tu đến hết đời (Khi sang Chiêm công chúa 19 tuổi, hơn

một năm sau vua Chiêm mất; lúc Trần Khắc Chung đón công chúa mới 20 tuổi) Lênh đênh sông nước

 một năm, ở tuổi 22, công chúa được đầu gia Phật giáo, tu tại núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh), năm

 1311 Công Chúa cùng một thị nữ về tu ở dưới chân núi Hổ (Huyện Thiên Bản, Nam Định) công chúa

 qua đời ở tuổi 53.(1287-1340).Hiện nay ở Huế có điện thờ Công Chúa Huyền Trân.

 

Người thời nay, ngẫm lại, chỉ trong vòng ba năm, cuộc đời của công chúa Huyền Trân

đã qua bao nhiêu thay đổi và thay đổi nào cũng là những đánh dấu ngàn thu.

 

 Công chúa Huyền Trân sang làm vợ vua Chiêm để mang về hai châu Ô, Ly (lãnh thổ Huế ngày nay)

là có thật trong quốc sử, nhưng chung quanh bộ ba: Công chúa Huyền Trân, quan thượng tướng

Trần Khắc Chung, và vua chiêm Chế Mân, có rất nhiều huyền sử.

 

Theo huyền sử kể lại:  Khi sang Chiêm gặp chồng là vua Chế Mân, một vị vua oai phong, trẻ đẹp công

 chúa không hề oán ghét, công chúa sanh cho vua một vị hoàng tử, và bình tâm sống trong địa vị và hoàn

cảnh của một bà hoàng hậu nước Chiêm. Nhưng sang năm thứ hai, Trời mở ra một trang đời khác cho công

 chúa không kém phần ngoạn mục, cho nàng được lênh đênh trên sông nước với người yêu hơn 365 ngày

. Trai tài, gái sắc, tình xưa; chắc chẳng còn gì đẹp bằng!(theo huyền sử). Năm thứ ba Trời lật trang sách

 kế tiếp (theo quốc sử.) Công chúa đi vào sau cánh cổng chùa. Nét mặt còn đẹp như hoa mận, tóc còn

 mướt như liễu xanh. Công chúa qùy xuống, cổng chùa đóng lại. Thật may mắn thay khi trang kinh được

 mở ra, những trang quốc sử, tình sử, huyền sử, được Trời đóng lại như gắp một cuốn sách, để lên kệ.

      

Một bài thơ để lại cho hậu thế về cái giá trị của một trang quốc sắc.

 

 

Công Chúa Huyền Trân

 

Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,
Vốn đà không mất lại thêm lời,
Hai châu Ô, Ly vuông ngàn dặm,
Một gái Huyền Trân của mấy mươi !
Lòng đỏ khá khen lo việc nước,
Môi son phải giống mãi trên đời.
Châu đi rồi lại châu về đó,
Ngơ ngẩn nhẩn nhau mấy đứa Hời. (Hoàng Cao Khải)

 

Chỉ sau ba ngày đầy nắng, mùa xuân thực sự đã về trên những cây hoa đào trong vườn nhà, trên những

 con lộ trong làng, chúng nở tung những chùm hoa kiều diễm. Hoa có biết là những người con gái, không

 phải là hoa nhưng nhan sắc của nàng đã viết lên những trang sử diễm lệ hay không?

 

Tháng Tư/2009

 

    (*) Để Hiểu Thêm Về Lịch Sử Champa- TS Po Dhama.

      Tài liệu: Tự Điển Bách Khoa

Trần Mộng Tú : Trùng Dương Ơi !

 Trần Mộng Tú

                                                    TRÙNG DƯƠNG ƠI!

 

                                                   “Gửi Thái, Thiết, Vân, Frank và mùa Hè ở Bandon.”

 

 

  thở nhẹ nhàng, biển mở mắt ra, biển nhắm mắt lại, biển

 an hòa. Sóng xô như gió thổi nhẹ trên cánh đồng mạ

xanh, sóng mềm như mi mắt người tình, bọt sóng như

 một chuỗi hạt trai dài vô tận.

Tám bàn chân từ xa rủ nhau đến, gọi hai bàn chân bạn.

 Mười bàn chân cùng chạy về phía biển.

 Những bàn chân đi bên cạnh nhau, lúc dang xa, rời rạc,

 riêng tư, lúc chập vào nhau ríu rít. Ngửa mặt, nhìn trời,

mây trắng nõn từng cụm trên nền xanh biếc. Mây uốn

 lượn, thay đổi hình dáng, vẽ bức tranh vân cẩu. Cúi xuống,

 nhìn sóng nước. Chao ơi là đẹp! Biển êm như tấm chăn

 vừa tung ra; sóng nhẹ, đánh lên bãi như sữa đổ; cát mịn như

da thịt thanh xuân. Có tiếng ai hỏi:

 

     Muốn đến Hoàng Sa đi lối nào?

 

     Cứ đi thẳng hướng tây.

 

    Nghĩa là cứ dẫm lên sóng nước, cứ băng qua mầu xanh mênh mông này?

 

     Đúng.

 

    Không phải đâu, đừng nghe, cứ rẽ về tay phải, hướng bắc.

 

Một giọng khác cất lên:

 

          Hay mình rẽ trái, về hướng Nam đúng hơn.

 

          Tốt hơn về nhà, vào Map Quest. Điểm khởi hành là Bandon, Oregon- Mỹ, điểm đến là Hoàng Sa, Việt Nam.

 

 Ngập ngừng một chút, tiếng ai chen vào:

 

          Có chắc không, coi chừng gây lúng túng cho Map Quest, Hòang Sa, bây giờ thuộc Trung Quốc chứ.

 

         Im lặng, chỉ có tiếng sóng đánh nhẹ lên những bàn chân. Một tiếng nói thật khẽ lại cất lên:

          Nhưng vào Map Quest rồi, biết đường rồi, có về tìm lại không?

 

Không thấy ai trả lời. Những bàn chân cứ bước song song với biển và tiếng trả lời cứ giữ trong lòng.

 

 

  Cứ thế mà đi trên bãi, những dấu chân mờ dần trong cát theo buổi chiều đang xuống.

 

Những bàn chân của kẻ xa xứ, đang in dấu trên cát của bên này bờ đại dương, trong cái an vui bè bạn, vẫn có

 cái ngậm ngùi riêng mang. Mỗi hồn vọng ra biển, về phía bên kia bờ, một cách khác nhau.

 

 Đêm về, biển gọi bằng những tiếng còi hu…hu…hu…từ Light House (Nhà hải đăng) suốt đêm. Nằm nghiêng

nghe biển gọi, ôm sóng đầy lòng. Sóng không hiền nên mi mắt không khép lại trong đêm. Trở dậy uống ly nước

 lọc. Chao ôi! Làm sao uống được trùng dương vào lòng.

Ngôi nhà nằm song song với biển, đêm tĩnh lặng, không trăng, dán mắt vào khung kính cũng chỉ nhìn thấy những

mái nhà như những vòm nấm khổng lồ, trải dài phía biển. Đêm như những miếng thạch đen, cắt vụn ra từng miếng.

 

Biển sáng nay thức dậy hung hãn, sóng đổ những tiếng gầm nghe xa như tiếng sấm. Rủ nhau xuống bãi xem mặt

 trời lên. Vừa đi vừa xăm xoi nhìn dấu vết tinh khôi đầu ngày mới in xuống, nào hay, đã có những dấu thức dậy

 sớm hơn mình: Dấu bàn chân trần đủ năm ngón và gót lõm xuống cát, bàn chân là dấu vết bước vào đời nguyên

 thủy mong manh đầu tiên của con người; dấu gót giầy thể thao khỏe mạnh vẽ những vạch uốn lượn, vững chắc;

 dấu chân ngựa tròn cái vết móng sắt in sâu một cách tự tin; dấu lượn vòng của lốp xe đạp, như một trò chơi trên

cát; dấu chân chó to, nhỏ, gần gũi, thân mật; nhưng ngoạn mục nhất, nhiều nhất là dấu chân của bầy chim biển,

chúng thanh mảnh, như những cái tăm. Mới nhìn xuống, tưởng như ai tinh nghịch vừa vứt tung ra một nắm tăm

tre trên bãi. Nhìn một lúc, thấy cũng giống như vết cào xước trên lưng cát. Dấu chân chim nhiều lắm. Sóng chưa

 kịp kéo đi hết, đàn chim lại sà xuống in những dấu chân mới. Biển là thế giới của hải âu. Chúng sống và chết với

sóng, với cát. Suốt dọc dài của biển, thỉnh thoảng lại gặp một xác hải âu, chúng chết thế nào, cách nào, ai biết. Chỉ

 thấy cái chết  của chúng thảm quá! Sóng đánh xác vào tận trong bãi, đã bốc mùi. Cánh rời ra từng chiếc, rải rác

 trên bãi. Nhìn xác chúng, khó hình dung được khi còn sống, những cánh chim bay là là trên mặt nước xanh, nô

đùa với sóng là đề tài cho bao nhiêu bài thơ, bản nhạc, bức hình, tranh vẽ. Những cánh chim đó còn bay vào trong

kỷ niệm của những mối tình.

Rồi những con dã tràng nhỏ xíu, chạy thật nhanh, trốn thật nhanh, khi ẩn, khi hiện, không làm sao bắt kịp chúng.

 Chúng xây lâu đài trên cát như loài người xây mộng  lớn, mộng con trong đời. Cũng mong manh, cũng xụp lở,

cũng tiếp tục xây lại từ đầu.

 Trên bãi còn những thân cây nằm ngang dọc, chúng gẫy đổ ở rừng nào, ai biết được! Chỉ biết chúng trôi dạt ra biển,

sóng kéo vào bờ. Chúng mất gần như hết lớp áo mặc ngoài, chúng bị sóng vùi dập, sóng soi mòn, chúng không còn

 giữ được cái vẻ nguyên thủy của cây nữa. Đôi khi trông chúng giống như một bông hoa biển khổng lồ, đôi khi như

vòng tay âu yếm của người mẹ, hay cái đầu ngơ ngác, thất thần của một con vật không rõ hình, ở quá lâu trong

nước biển.

 

Biển hôm nay không hiền nữa, biển đang nổi cơn giận dữ. Vừa đi song song với biển vừa nghe như một nỗi đe

dọa phủ chụp xuống mình. Nhìn con sóng dâng cao, đứng thẳng, rồi đổ xuống một tiếng rầm, những bàn chân

chùn bước lại. Đứng lui vào trong, tránh sóng tràn lên, để rồi chạy không kịp, vẫn ướt gần qua đầu gối. Nhìn ra

 ngoài khơi, không thấy tỏ đường chân trời. Biển khuất lấp một phần, bởi sương phủ kín từ xa, kéo thẳng một

hàng song song với mặt biển; sóng dâng cao, tới tấp, trắng xóa đánh vào bờ, hóa thành một bức tranh với mầu

 xanh của nước ở giữa, mầu trắng của sương và của sóng cùng ôm hai bên.

 

 Ai đó lại chỉ tay ra biển, lên tiếng:

 

       Tưởng tượng đi, tưởng tượng một chiếc thuyền mong manh, với hai, ba chục người. Già có, trẻ con có,

 đang kêu khóc, vật vã trên đó. Làm sao mà không chìm, làm sao mà bơi qua đầu ngọn sóng, để sống còn.

 

    Có đấy, có người Trời cứu, sống còn. Nhưng họ nói, đến chết không bao giờ dám nhìn biển nữa.

 

Câu thơ của Vũ Hoàng Chương được một người đọc lên:

 

        Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ

        Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh

 

 Rồi một người khác tiếp theo:

 

        Biển vô tận xá gì phương hướng nữa

        Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh.

 

  Lạ thật đấy! Thi sĩ có phải tiên tri đâu mà làm câu thơ cho vận vào cả một dân tộc như vậy.

 

          Dân tộc mình bị vận từ thời trứng nước. Khi không cha mẹ chia tay, người đem con lên núi, người mang

 con xuống biển. Rồi bặt tăm, chẳng quay đầu nhìn lại nhau. Cha mẹ không nhìn nhau, nên con cháu, tàn

sát nhau không thấy động tâm, không thấy rung lòng.

 

Im lặng, chỉ có tiếng sóng trả lời. Những bàn chân vẫn bước song song với biển.

 

Những ngày ở biển, có hôm sóng hiền hòa, có hôm sóng giận giữ. Nhưng bầu trời lúc nào cũng trong xanh và

 mây trắng từng mảng lững thững trôi, những đám mây vô xứ.

Những bàn chân vẫn sáng, chiều, rủ nhau ra bãi. Bước song song với biển, nghe sóng đánh trong lòng. Họ vừa đi

 bên nhau, vừa nói chuyện văn chương, chuyện quê nhà, quê người, chuyện sông, chuyện biển.

 Vừa đi vừa ngửa mặt nhìn trời xanh, mây trắng, rồi lại nhìn đường chân trời giáp với biển, tưởng tượng quê

 hương mình ngay đó, ngay cái ngấn mênh mông trời nước đó.

 

    Chia tay, người ở lại với biển. Sáng, chiều nghe sóng động một mình, đuổi theo mây trắng trên trời một mình.

 

 Người về hồ, lặng đứng nhìn những chiếc thuyền nhỏ đang lũng thững dăng buồm, trôi hiền hòa trong dòng nước

 êm ả không một tiếng động. Câu hát nào từ một cõi xa xăm bỗng vọng về:

 

“ Trùng dương ơi, có xót xa cũng hoài mà thôi!” (*)

 

 

 tmt

 Tháng 9/09

 

(*) Ngày Đó Chúng Mình- Phạm Duy

Nguyễn Tầm Thường : Ngày Lễ Bạc

NGÀY LỄ BẠC

 

Tôi chết được 25 năm rồi.  Hôm nay tôi trở lại tảo mộ lần thứ hai.  Tôi gọi là Ngày Lễ Bạc.

 Tôi tảo mộ lần thứ nhất.  Lần đó tôi kể trong tập sách Cô Ðơn và Sự Tự Do, đoản khúc số 59.  Ngày đó mộ tôi không có hoa.  Không có ai đến mộ tôi cả.  Tôi đứng đó hồi hộp suốt buổi chiều. Mây xuống thấp, xám một hoàng hôn.  Rồi trời tắt nắng phía sau hàng cây.  Tôi còn nhớ rõ hôm ấy trời không gió.  Nghĩa trang im lìm.  Sau ba năm tôi chết, vẫn còn ít người nhớ và cầu nguyện cho tôi.  Nhưng không ai ra nhìn mộ tôi.

 

Tôi biết nếu trở lại vào năm sau thì cũng thế.  Thản nhiên như một cánh chuồn chuồn đậu hờ hững trên một bờ giậu thưa nào đó.  Không có gì hồi hộp nữa nên tôi không trở lại. Ðợi 25 năm sau.  Một kỷ niệm đặc biệt hơn.  Ngày Lễ Bạc.

 

Tôi đang đứng trong nghĩa trang, chỗ tôi đứng lần thứ nhất cách đây hơn 20 năm về trước.

Tên tôi vẫn còn.  Tên được khắc vào mộ đá.  Nhưng rêu lắm rồi, dơ bẩn nữa.  Mộ đá không còn sạch như ba năm sau khi tôi chết.  Bây giờ sần sùi, mốc rêu xanh.  Ngày xưa không có cây cổ thụ ở chỗ này. Họ trồng bao giờ thế?  Cả cái nghĩa trang này bây giờ cũng khác.  Ngôi mộ cạnh tôi không còn.  Họ bốc đem đi hồi nào mà bây giờ có một cái tên lạ hoắc.

 

Trên cành cây già, một loại côn trùng nào đó rỉ rả tiếng kêu cuối mùa.  Hôm nay cũng không có gió như lần trước.  Những chiếc lá lặng lẽ.  Nghĩa trang cũng yên tĩnh như ngày xưa.

 

Tôi đến gần mộ, nhìn xác tôi dưới đất sâu.  Chiếc quan tài gỗ mục từ bao giờ?  Ðất sập kín lẫn với xương.  Ðất dưới đó ẩm ướt.  Có bùn sền sệt.  Nước quanh năm.  Tôi không còn hình hài gì cả.  Có những con trùng trườn qua trườn lại trên khúc xương.  Người ta bảo trắng như xương.  Thật không phải thế, xương lấm dơ đen, rỗ những vết bọ ăn, bùn cắn chặt vào những kẽ nứt.  Bọ ăn làm các xương không còn nhẵn nhụi.  Chiếc sọ đầu còn nguyên vẹn hơn cả.  Hai cuồng mắt rất to.  Tôi nhìn xuống, chiếc sọ cũng giống như trăm nghìn chiếc sọ khác.  Tôi không thể phân biệt được.  Ngày còn sống, tôi băn khoăn về làn da.  Nhìn kìa!  Chỉ tuần lễ sau khi chết.  Nó rữa ra.  Ngày còn sống, tôi chải chuốt mái tóc.  Tôi tìm cách nhuộm cho người ta thấy mình trẻ.  Tôi băn khoăn về cái nhìn.  Tôi muốn chinh phục.  Bây giờ cái sọ trọc, rỗng, nhúc nhích loại giun nào trong đó?  Tôi đứng nhìn tôi, tôi nhìn sang tất cả những xác chung quanh và tôi sợ.  Tôi thấy xa lạ với chính mình.  Hình hài thân xác tôi đấy ư? Tôi đang mừng 25 năm, Lễ Bạc sao?  Còn đâu những lúc băn khoăn mùi nước hoa nào, Chanel số 5 hay 8?

 

Tôi biết chắc là không có ai đến mộ tôi 25 năm sau.  Tôi biết là không có hoa ở mộ.  Tôi không hồi hộp gì cả, tôi không chờ đợi gì cả khi trở về đây.  Kỷ niệm 25 năm ngày tôi chết là của riêng tôi. Hôm nay tôi có thì giờ nhìn ngắm tôi và những gì xảy ra nơi đây.

 

Ở một góc kia, người ta đang khóc.  Một đám tang đang chôn.  Có linh mục mặc áo lễ.  Lại cũng có ca đoàn hát.  Sao mà giống tôi 25 năm về trước thế.  Hoa chung quanh mộ, rồi mấy hôm nữa hoa sẽ rữa, người được thuê làm vệ sinh lại hốt đổ vào thùng rác.

 

Có những mộ bia không còn hình dạng.  Họ ra đi trước tôi lâu rồi.  Có người mới chôn vài năm nay, có người mười năm, có người hai mươi năm, có người cả trăm năm.  Ghê nhất là những người mới chôn.  Ngôi mộ này của một người đàn bà.  Chết đã tháng nay.  Áo quần còn mới, nhưng xác rữa rồi, lúc nhúc dòi bọ.  Chiếc quan tài còn cứng, xác trong đó phồng căng, sình rữa.  Tóc bết lại.  Áo nhung và thịt kết dính chặt lại.  Những con dòi trắng cắn loang lổ nhiều vùng vải lỗ chỗ.  Ðấy cũng là hình hài tôi 25 năm về trước.

 

Ngày còn sống tất cả những người đang nằm đây xum xuê từng ngọn tóc, mà bây giờ thế ư?

Tôi đi tìm xem ai là người trí thức.  Không thấy ai cả.  Chết được vài ngày, tất cả sọ người đều nồng nặc hôi thối.

 

Tôi đi tìm xem ai là người nổi tiếng.  Tất cả chỉ là những mảnh xương dính bùn đen đủi và toàn dòi bọ ở trong.

 

Tôi đi tìm xem ai là người giầu có.  Không thấy ai cả.  Tất cả đều trần trụi không còn manh áo che thân.  Tôi không thấy kim cương, vàng bạc.  Tôi tưởng người thân chôn theo, nhưng không, người ta giữ lại hết.  Người ta chỉ chôn xác thôi.

 

Tôi đi tìm xem ai là người lúc sống họ lên tiếng phải xây dựng Giáo Hội thế này, phải cải tổ Giáo Hội thế kia.  Không thấy ai cả.  Lúc đương thời, họ sống chết, ăn thua đủ với nhau chỉ vì “bảo vệ đức tin.”  Trong cái nghĩa trang này thân xác nào cũng hôi tanh.

 

Tôi lại nhìn tôi dưới ngôi mộ sâu.

Cái sọ kia ngày xưa đã bao nhiêu suy nghĩ.  Những giấc mơ ấy bay về đâu?  Còn dưới đó không?  Trái tim ôm ấp bao nhiêu tình cảm.  Cái mùi tanh hôi nồng lên khi nó rữa ra.

 

Tôi lại nhìn tôi dưới ngôi mộ sâu.

Tôi nghe chung quanh tôi, trăm nghìn tiếng động xèo xèo.  Nhiều xác mới chôn đang rữa. Tiếng những con bọ ăn vào xương.  Những xác chết đang xảy ra giống tôi 25 năm về trước.

 

Ở phía kia, đám tang đã xong.  Nhiều người đứng xa mộ để có thể ra về sớm hơn.  Họ còn nhiều việc phải làm.  Họ rất bận rộn.  Họ không muốn ở đây lâu.  Chiều xuống tối rất mau.  Người ta phải về.  Xác mới chôn nằm đó.  Vài ngày nữa sẽ có ai đó tiếc thương đem hoa ra mộ.  Rồi ba năm sau không còn ai.  Rồi 25 năm sau nếu trở về đây cũng sẽ giống tôi bây giờ.  Lần lượt ra đi theo con đường đó.  Giống nhau.

 

**********************************

Bỏ nghĩa trang, tôi đi tìm lại con đường tôi đi năm xưa.  Phần lớn còn đó nhưng chỗ này mới hơn thì chỗ kia cũ kỹ đi.  Nhiều tòa nhà bỏ trống hoang phế.  Tôi không còn gặp mấy người quen.  Một vài người tôi tìm mãi mới thấy.  Vì họ thay đổi quá nhiều rồi.  Họ chậm chạm, đau yếu.  Họ lẩn thẩn. Cái thế giới 25 năm về trước không còn.  Ðất trời còn đó.  Mặt trăng vẫn thế.  Cả gió biển và mầu xanh của sóng nữa.  Nhưng con người và thế giới lúc họ trẻ hết rồi.  Ðời họ bây giờ ai cũng lầm lũi.  Tôi đứng nhìn họ mà không muốn hỏi chuyện vì bắt họ nhớ lại những tháng ngày quá xa.  Bây giờ họ chỉ muốn thầm lặng sống qua ngày thôi.  Vài người sót lại trong viện dưỡng lão, lặng lẽ.  Người tôi quen ngày xưa, chết hầu hết rồi.

 

Những tờ thư cũ, tấm hình năm xưa sau khi tôi chết, có vài người giữ nó ít năm.  Ðến lúc họ chết thì kẻ sau dọn phòng không biết tôi là ai.  Tất cả vào thùng rác sau khi người đó chết ít ngày. Bây giờ tôi không còn dấu vết là bao.

 

Tôi đi tìm những chữ nghĩa ngày xưa tôi học.  Vất vả toan tính.  Ngày ấy nuôi bao nhiêu mộng mị ở miếng bằng ra trường. Bám vào tên tuổi muốn xã hội tặng ban.  Cần treo tấm bằng ở nơi làm việc. Chụp chung tấm hình với nhân vật tiếng tăm.  Bây giờ chả còn gì.

 

Ðã 25 năm rồi, tất cả đồ dùng của tôi đã biến mất.  Chiếc xe ngày xưa tôi đau buồn vì trầy vết sơn.  Ngày ấy không dám cho người khác mượn, tôi lau chùi thật bóng.  Bây giờ là bụi rác ở đâu?  Tôi đứng đây nhìn lại cuộc đời.  Tất cả qua đi như con gió thoảng mà sao ngày ấy lòng tôi bồn chồn, lo lắng, tiếc nuối những thứ này thế.

 

Tôi đi tìm những công trình tôi để lại.  Người để công trình này, người để công trình kia.  Tôi để lại những bài diễn văn.  Ai còn nhớ?  Họ quên ngay khi tôi rời cái mai-cô-phôn cơ mà.  Ngay khi ra khỏi phòng họp, ngay mấy phút sau.  Vậy mà hôm nay tôi đi tìm nó như một công trình để lại sao? Giật mình.  Tôi thấy mình quá ngớ ngẩn.  Vậy tôi đi tìm gì hôm nay?  Còn gì không?  Ngay cả những người tôi quen biết cũng không còn, thì tôi còn gì?  Ai mà giữ những kỷ niệm của tôi khi họ không biết tôi là ai?

 

Tôi không ngờ ngày lễ bạc này buồn tẻ hơn ngày tảo mộ lần thứ nhất.  Ngày ấy sau có ba năm tôi chết.  Ðứng một mình ngoài nghĩa trang, không có ai ra mộ tôi như hôm người ta chôn tôi.  Nhưng ngày ấy trở về tôi còn nhìn thấy nhiều bóng hình tôi quen.  Tôi còn gặp vài tờ thư tôi viết cho họ.  Có kẻ còn giữ tấm hình tôi.  Lần này hoang vu quá.  Trống trải.  Ngày 25 năm Lễ Bạc mà vắng thật vắng.

Bây giờ tôi hiểu, Ngày Lễ Bạc là của chính mình.  Một mình mình thôi.

 

Nhiều điều chết rồi mới thấy rõ.  Lúc sống sao tôi không nhìn thấy.  Chẳng hạn như tôi băn khoăn làm sao để lại công danh cho đời.  Ðời chả cần gì tôi.  Cần hay không, tiếng kêu của một cánh ve trong chiều hè trống trải mênh mông?  Chẳng hạn như tôi lo lắng ngày mai ra sao, tôi phải tích góp bao nhiêu cho đủ?  Bây giờ thấy quá rõ rồi, ngày mai, tức là bây giờ tôi đang đứng đây.  Trong nghĩa trang người ta không không còn nhan sắc, người ta không cần chỗ ở.

 

Nếu bây giờ sống lại kiếp người, tôi sẽ rong chơi, tôi sẽ ca hát với suối xanh, tôi sẽ với mây trời cho trái tim tôi bao dung.  Nhưng trễ quá rồi.

 

**********************************

Tất cả những gì nhìn thấy đều không mang theo được khi tôi chết.  Son phấn.  Sự nghiệp.  Cũng không phải tất cả những gì thuộc tinh thần là mang theo được đâu.  Những điều thuộc tinh thần như tình yêu, lòng thù ghét, niềm kiêu hãnh, sự ghen tị, giận dữ, bao dung cũng tùy đó.  Chỉ những gì tinh thần mà thuộc về Ðức Kitô mới tồn tại.

 

Như vậy cuộc đời người ta phải bỏ lại tới 98 phần trăm.  Chỉ có hai phần trăm mang theo là tình yêu Chúa và bao dung với người đời.

 

Lúc sống, tôi quá vất vả cho 98 phần trăm cái không mang theo được.  Hôm nay nhìn lại trong ngày kỷ niệm 25 năm tôi chết.  Trở về tìm lại những bến bờ đã đi qua.  Chả còn gì.  Nếu tôi được sống lại, tôi sẽ sống như thế nào?

 

Hỏi mình vậy thôi, chứ tôi biết, quá trễ rồi.

Ðường tôi đi, bây giờ lại vẫn chỉ một mình, mình đi. Tôi lại nhủ lòng: Ðường đi một mình.

 

                                                                                                       Nguyễn Tầm Thường

Buổi Chiều Ở Thị Trấn: SÔNG PHA

Buổi Chiều Ở Thị Trấn: SÔNG PHA  Phạm Thành ChâuMưa càng lúc càng nặng hạt. Thị trấn Sông Pha với hai dãy phố trên quốc lộ 20 như chìm ngập trong mưa. Người đàn ông lom khom chạy, tay che đầu, cổ rụt xuống, tưởng như thế mưa sẽ không đổ xuống người. Khi đến…

NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT

NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT Phan thanh Vân    Năm 1957, sau khi tiếp thu các phi đoàn vận tải của KQ Pháp giao lại (như các phi đoàn Béarn, Franche- Comté và Sénégal đóng tại TSN), với cấp bực Trung úy, anh làm huấn luyện viên phi công vận tải tại Liên Phi đoàn…

Võ Đại Tôn : Chắc Má Tao Mừng Lắm

CHẮC MÁ TAO MỪNG LẮM… Võ Đại Tôn (Indonesia-Singapore)      Chiều trên đảo Galang. Nắng chưa tắt và hơi gió biển từ xa thổi vào lành lạnh, dường như có mùi muối mặn. Chúng tôi trong phái đoàn Văn Khố Thuyền Nhân, mỗi người mang một tâm trạng riêng nhưng cùng chung một tâm…

Võ Thị Tuyết : LÁ THƯ TỪ KBC 4297

Truyện ngắn Võ thị Tuyết                                         LÁ THƯ TỪ KBC 4297   ******Xứ Bưởi một ngày mưa, Nhận được mấy dòng chữ quen thuộc của em sáng nay. Đến bây giờ tôi mới viết mấy dòng nầy cho em đây. Viết cho em thì chẳng cần gì phải rỗi rảnh nhưng tôi không biết rồi…

TRÙNG DƯƠNG ƠI!

   Trần Mộng Tú                                                     TRÙNG DƯƠNG ƠI!                                                      “Gửi Thái, Thiết, Vân, Frank và mùa Hè ở Bandon.”         Nguyên ngày hôm qua biển rất hiền, biển nói khẽ, biển thở nhẹ nhàng, biển mở mắt ra, biển nhắm mắt lại, biển an hòa. Sóng xô như gió thổi nhẹ trên…