Truyện Dài : Sống Và Chết

                                   SỐNG VÀ CHẾT                                          Truyện dài của Hồ Nam Chương 1 Những ly rượu Mao Đài Mùa Đông đang tới với bầu trời sám sịt và mưa phùn rả rích trời  bắt đầu rét  đậm người Hànội co ro trong những cái áo len mỏng manh sau những ngày đói đến lả người, nay lại…

CÁI GÍA PHẢI TRẢ CHO NHỮNG BỨC TRANH

CÁI GÍA PHẢI TRẢ CHO NHỮNG BỨC TRANH

Truyện ngắn của Hồ Nam

  để dành ra mời uống. kẻ lấy xe máy chở đi ăn đặc sản,vào cuối cái ngày tôi sắp phải chia tay Saigon một lần nữa cô bạn gái thân nhất  của tôi nói nhỏ với tôi rằng‘’ tối hôm nay có một việc quan trọng anh phải tham dự‘’ Tôi tò mò hỏi lại

-Việc gi vậy

-Đi dự buổi khai mạc phòng tranh của hoa sĩ Hồ

-Tôi ở xa nhưng cũng đã nghe tin Hồ qua đời lâu rồi và vợ Hồ đã định cư ở Mỹ cũng từ lâu rồi

-Tin đó chính sác đấy ‘’tro’’ hài cốt của Hồ hiện ở chùa  nhưng tranh của Hồ thì Minh vợ Hồ muốn đem triển lãm

-Hồ vẽ tranh hồi nào mà có tranh triển lãm chuyện hơi khó hiểu đấy

-Hình như có thời gian anh học chung với Hồ phải không

-Tôi không học chung với Hồ bao giờ cả nhưng chúng tôi cùng một thế hệ chúng tôi cùng trong đoàn sinh viên Hà nội từng ở chung’’ lều bạt ‘’căng tại nền khám lớn cũ nay là trụ sở thư viện Khoa Học Xã Hội

-Em nghe nói có lúc anh ở chung một trại cải tạo với Hồ phải không

-Đúng nhưng lúc đó nhìn cái bản mặt hơn hớn của Hồ không phải mình tôi mà ai cũng xa lánh Hồ hết.Bọn tôi đã bực và tẩy chay không chơi với Hồ nữa vì đi  cải tạo xa vợ con mà hắn tại sao mặt mũi cứ tỉnh queo nên bọn tôi ai  gặp hắn cũng nhổ nước bọt và quay mặt đi chỗ khác không thèm nhìn

-Anh biết Minh vợ Hồ chứ

-Tôi không những biết mà còn quen , cô ấy học dược trong khi Hồ học sư phạm bọn ho quấn qúit bên nhau như một đôi chim bồ câu mới tập bay, họ  đúng là một cặp tình nhân mới bắt đầu yêu  xuốt ngày không  chịu xa nhau nửa bước

-Hình như anh còn làm báo chung với Hồ nữa phải không

-Đúng Hồ là người vẽ tranh hí hoa và trình bầy báo rất lạ và cũng rất đẹp Hồ là nhân vật có bàn tay bắt được của trời đấy

-Nhưng hình như cuới Minh xong thì Hồ bỏ hết không làm báo không vẽ tranh cắt đứt mọi quan hệ với báo giới cũng như giới làm nghệ thuật chỉ  lo làm giầu và xuốt ngày quanh quẩn bên bà vợ đẹp

-Đúng vậy

-Như thế thì nhất định anh phải đi với em dự buổi khai mạc phòng tranh đầu tiên mà cũng là phòng tranh cuối cùng của Hồ Em tin xem xong tranh của Hồ gặp lại người em của Hồ anh sẽ hiểu Hồ và thương Hồ hơn

X

Đứng trước năm mươi bức tranh của Hồ tôi ngạc nhiên và gần như choáng váng tại sao Hô lại có thể vẽ tuyệt đến như vậy đường nét nào cũng vạm vỡ khoẻ khoắn không thua gì Gauguin còn mầu sắc thì chói chang hơn nhiều .Nhìn những bức tranh của Hồ tôi không còn thấy bóng dáng anh chàng Hồ vào luồn ra cúi xuốt ngày nịnh vợ đâu cả chỉ còn thấy thấp thoáng đâu đó một người cầm cọ ngang tàng ngổ ngáo sống hết mình yêu hết mình và có thể ngồi bên giá vẽ đến quên đói quên khát bỏ ngoài tai ngoài mắt tất cả sự đời

-Anh thấy Hồ vẽ thế nào

-Tuyệt vời, xem những bức tranh này tôi không thể nào tin được đây là những tác phẩm của một người như Hồ. Tại sao Hồ lại có thể vẽ được những bức tranh tuyệt vời đến như thế .Hồ tác gỉa những bức tranh này hoàn toàn là một người khác anh chàng Hồ chồng  cô dược sĩ Minh anh chàng Hồ tôi gặp ở trại cải tạo năm nào

-Anh biết những ngày cuối cùng trên cõi đời này Hồ sống như thế nào không

-Mình chỉ nghe thiên hạ nóiHồ đã bỏ trốn không cùng vợ con vào phòng cách ly khi sửa soạn lên tàu bay sang Mỹ để được tự do uống rượu tự do đánh bài tự do thức khuya tự do đi chơi tự do đàn đúm rồi khi lên cơn suyễn đã bơm thuốc chữa bệnh suyễn quá  liều thành tử vong mãi mấy ngày sau em Hồ tới thăm phải phá cửa mới lôi được sác Hồ  đã sình  rồi đem đi hỏa thiêu lấy tro đưa lên chùa

-Thiên hạ nói chỉ đúng một phần thôi Hồ trốn đi Mỹ không hoàn toàn để tự do uống rượu tự do đánh mà chược mà để vẽ để viết,chứng cớ là những bức tranh anh vừa xem,Muốn hiểu Hồ hơn anh cần phải đọc bức thư tuyệt mệnh Hồ gửi cho vợ và bản sao Hồ cũng gửi cho  bạn bè trong đó có cả anh nữa đấy

x

Minh yêu quí

Anh biết tới nay anh vẫn là người em yêu quí nhât mà cũng oán trách nhất trên cõi đời này nhưng anh hơn bốn mươi tuổi rồi con cái đã trưởng thành  chúng ta đã sống cho nhau cũng quá đủ và đã tới lúc anh phải được sống cho những khát khao của đời anhAnh biết rât rõ tình yêu của em đối với anh một tình yêu lớn phải nói là rất lớn đấy em săn sóc anh còn hơn săn sóc đứa con đầu lòng của chúng ta  khiến cho anh có cảm giác anh đang là  người tù của tình yêu,Vì vậy cho nên cái ngày anh lên đường đi cải tạo anh như chim sổ lồng mặt mũi hớn hở  khiến cho anh vừa bước vô nơi tập trung cải tạo tụi bạn nó nhìn anh đến phẫn nộ và nhổ nước miếng,Thái độ của tụi nó anh rất hiểu bởi vì xa vợ con ai lại như anh  nhưng chúng đâu có hiểu tâm trạng con chim vừa sổ lồng con người vừa thoát được cái nhà tù nhung lụa Anh biết cái đêm đâu tiên được ngủ lúc mình muốn ngủ anh đã ngủ rât say khiến sáng thức dạy  đứa nằm gần đã chửi đổng anh là kẻ vô tâm quân măt trơ trán bóng vô liêm sỉ chỉ biết ăn no ngủ kỹ họ có biết đâu anh vừa mới thoát được sự chăm bẵm của em anh thoải mái như thế nào ai nói gì anh cũng bỏ ngoài tai trước hết anh phải sống cho anh cái đãAnh phải thú thật với em anh có lỗi với em rất nhiều khi ngày ra trại mặt mũi chẳng vui vẻ gi  dù dư biết em đã phải vất vả như thế nào ‘’chung chi ‘’ bao nhiêu là vàng anh mới đuợc về sớm hơn thiên hạ nhưng cứ nghĩ về nhà lại phải ăn đúng ngày ba bữa sáng ăn phở hay bánh cuốn trưa ăn cơm với món ăn quen thuộc phải ăn đủ ba bát ăn cơm xong phải ăn tráng miệng rôi hút thuốc và đi ngủ trưa đúng một giờ thì thức dạyTối chỉ được uống đúng một ly rượu nhỏ và mười gìơ phải vào phòng ngủ đi ăn tiệc phải ngồi cạnh vợ ,em gắp cho món gì  ăn món đó vì sợ anh ăn sai thưc đơn của em lên máu và chỉ được uống đúng một ly bia.Sáng phải dạy đúng giờ tâp thể dục dơ tay dơ chân bao nhiêu cái đi bộ bao nhiêu buớc,uống đúng ấm nước trà em pha Anh buồn là vì vậy đó

Về nhà anh buồn quá đi mua mầu mua giá vẽ căng ‘’toan ‘’ lên định vẽ em la lối om sòm anh kiếm sách đọc em mặt nặng mày nhẹAnh không còn đường nàokháclàphải’’nổiloạn’’. Để chuẩn bi cho cuộc ‘’nổi loạn’’ anh phải đóng kịch ngoan ngoãn trong cái cuộc sống khuôn phép em bày ra nghĩa là không tỏ vẻ miễn cưỡng khi em đưa đi làm hồ sơ xuất cảnh  đoàn tụ với đứa con vượt biển của chúng minh anh đã ngoan đến độ em cũng kinh  ngạc Nhất nhất  anh đều tuân thủ  theo những sắp xếp của emSau buổi phỏng vấn ở sở Ngoại vụ em đã ôm anh hôn và nói ‘’anh tuyệt vời quá’’.anh im lặng vì đã sắp xếp trong đầu từng chi tiết kế hoạch ‘’ đào thoát khỏi cái nhà tù nhung lụa của đời người’’.Anh chờ cho tới khi em và con vào phòng cách ly là anh ôm bụng kêu đau bụng chạy vội vào phòng vệ sinh rôi ba chân  bốn cẳng rời phi trường trở về thành phố vì anh biết chắc đã vào phòng cách ly rồi em và các con không thể bỏ chuyến đi Mỹ trở lại thành phố kiếm anh.Anh trở lại thành phố  cẩn thận đến tá túc nơi thằng bạn nghèo khó nhất của anh đưa nó đi’’ nhậu ‘’khiến nó kinh ngạc đến phát khóc vi cảm động và đêm đó anh ngủ lai nhà nó ,cái nhà ven kinh Tàu Hũ bên quận tám.Ba ngày sau anh đã trở về căn nhà của minh cái nhà mà em đã ủy quyền cho cô em gái kế em để xin ở lại căn phòng nhỏ của anh hầu thực hiện hoài bão  là sống thật với con người thật của anh  và làm công việc mà mình thích làm đó là cầm cọ vẽ những bức tranh  mà anh thai nghén bấy lâu nay nhưng bi em cản không cho vẽ

Anh biết rất rõ cái giá mà anh phải trả khi anh ‘’nổi loạn’’ anh biết tự do giá đắt lắm nhất là tự do để làm nghệ thuật nhưng tới tuổi anh rồi thì phải chấp nhận thôi.Như em biết đó bệnh suyễn của anh không cho phép anh sống được bao nhiêu ngày nữa anh còn rất ít thời gian mà công việc của anh thì chưa đâu vào đâu cả thế mới khổ cái thân anh chứ

Anh xin báo để em biết anh đã làm viêc cật lực và cũng vui chơi thoải mái kết quả thật bất ngờ anh đã hoàn thành được năm mươi bức tranh  nhưng thật ngao ngán vẽ tới bức tranh thứ năm mươi thì anh thấy mình ‘’chững’’ lại không thể nào vẽ tiếp đuợc nữa

Những bức thư em viết cho anh anh đã đọc hết và đọc rất kỹ Hai năm  em có thẻ xanh em sẽ trở về Viet Nam lúc đó chắc em sẽ ngạc nhiên lắm vì em  sẽ cò một tài sản lớn đấy

Hình như còn mấy ngày nữa em ở Mỹ đủ hai năm

Minh ơi thật lạ lúc này anh uống rượu không  còn thấy ngon nữa thì ra phải thèm khát uống rượu mới thấy ngon.Mọi khi đang đánh bài em réo lên đến giờ đi ngủ anh tức lắm nay tha hồ đánh bài thâu đêm xuôt sáng anh lại  thấy hết còn hứng thú đánh bài nữa

Anh thú thật với em anh vừa hoàn thành bức tranh mà anh mê nhất dồn hết tâm trí vào nó anh tưởng cả đời anh cũng không hoàn thành được bức tranh này anh treo nó lên tường say sưa ngắm nóAnh tự thưởng  anh bằng cách ‘’khui’’ chai rươu mà anh quí nhât vẫn để  dành trong tủ rươu để ngắm chứ không dám uống .Anh chọn cái ly pha lê đẹp nhất rót rươu ra rồi say sưa ngắm mãi tới mấy phút mới dám đưa lên miệng uống, thật quỉ quái rươu  ngửi thơm phức nhưng anh uống vô không thấy ngon một chút nào cả anh giận qúa  hất ly rưọu vào tường rồi đập cái lyThật chán ngán  anh phải làm gì cho đến khi trời sáng đây, anh ngắm đi ngắm lại những bức tranh anh vừa treo trên tường,sao trước bức nào mới vẽ xong anh cũng say sưa ngắm và bây giờ thât lạ nhìn chúng anh phát ‘’b ực’’Anh gỡ hêt tranh xuống cả bức cuối cùng mới hoàn thành cũng gỡ luônAnh vừa  gỡ hết tranh trên tường chất thanh một đống thì cơn suyễn bỗng nổi lên anh vội lấy ống thuốc cấp cứu há miệng ra bơm sối xả vô miệng anh ngộp thở anh thua cuộc đời rồi chỉ tiếc là chưa kịp nổi lửa  đốt những bức tranh dấu tích còn lại của cuộc nổi loạn

X

Tôi vừa đọc xong bức thư của Hồ gửi vơ thi em trai Hồ tới mời tôi uống rươu và khoe

-Thật bất ngờ quá anh ơi tranh của anh Hồ bán chạy quá chị Minh  cố tình treo gía rất cao vì nghĩ rằng với giá đó chẳng ai mua tranh của anh Hồ chi Minh sẽ cò dip đem triển lãm tranh anh Hồ đi triển lãm ở Mỹ nào ngờ bức cao gía nhất cũng đã có người mua .Chi Minh nghe tin anh mới về  muốn mời anh tối nay đi ăn với gia đình anh Hồ một bữa cơm thân mật

Nghe em của Hồ  nói mắt tôi bỗng dưng cay sè sao caùi số Hồ noù laïi khốn nạn thế Hồ đđã õphải trả  một caùi giaù  quaù mắc cho  những böùc tranh ñang treo treân tườngYêu chồng kiểu Minh có phải là yêu không nhỉTôi  nói nhỏ vơi em Hồ rằng rất tiếc tôi không còn bụng dạ nào để ăn uống gì cả tôi chỉ muốn lên chùa thắp cho Hồ một nén nhang để chuộc lỗi về những cái nhìn không đúng của tôi đối với Hồ khi gặp Hồ  ở trại cải tạo xin Hồ hoan hỉ tha lỗi cho một kẻ hồ đồ là thằng tôi Tôi cũng nhờ em Hồ nói với Minh  rằng tôi rất quí Minh nhưng tâm trạng tôi lúc này không được tốt tôi  không thể nào lại chào Minh đựoc xin Minh cảm phiền đừng hiểu lầm tôi vì nếu lúc này tôi gặpMinh rất có thể cái tính hay nói thẳng và  ưa bốc đồng  của tôi sẽ làm Minh khó chịu tốt nhât là không nên gặp  nhau vào lúc này

Cô bạn  thân mời tôi đi xem phòng tranh của Hồ nghe tôi nói với em của Hồ như vâỵ đã kéo  tay tôi đi và nói nhỏ

-Em còn một chai vang đỏ vô chai đúng cái năm anh rất ưng hôm nay anh phài đi ăn với em món Cao lầu Hội An và uông chai rưou này .em sẽ đưa anh tới cái qúan gần Tinh xá Trung Tâm thưởng thức đặc sản Hội An anh sẽ quên hết những hệ lụy của cuộc đời

Tôi gật đầu đi theo cô bạn ngoan ngoãn như một đứa trẻ năm tuổi đầu óc muốn quên hêt mọi chuyện ở đời chỉ còn nghĩ tới món Cao Lầu Hội An mà thôi

HỒ NAM

 

 

Những Giọt Lệ Hồng (Diệu Nga)

Những Giọt Lệ Hồng

Bà nói khăng khăng như thế nhưng con gái xuống nước năn nỉ ỉ ôi, bà lại xiêu lòng. Ờ, nó nói cũng phải, mình qua bên ấy giữ cháu ngoại cũng vui, lại đỡ nhớ, khỏi phải chờ mong. Mình ở đây nó phải gửi tiền về cấp dưỡng, tốn kém lắm chớ chẳng không!” Dì tôi cười, nói như lẩy: “Nợ đòi rồi đấy, cứ sang mà trả cho xong!” Nghe mẹ kể lại lời dì, tôi cảm thấy hơi áy náy. Quả thật tôi cần mẹ không chỉ thuần túy vì tình cảm. Tôi cầu cứu bà sang để chăn bầy cháu bốn đứa. Dạo này buôn bán ể ẩm, tôi không kham nỗi tiền giữ trẻ, cũng không thể tiếp tế đều đặn cho mẹ nên rước bà qua là nhứt cử lưỡng tiện…

Căn nhà ba phòng của vợ chồng tôi, bề ngoài trông cũng khang trang với cây cảnh chung quanh và cửa garage tự động nhưng thật ra chỉ rộng 1100 sf. Trừ phòng ngủ chánh tương đối rộng rãi, hai phòng còn lại vuông vức, nhỏ xíu xiu. Đất ở San Francisco là đất vàng. Căn nhà cũ kỷ năm mươi tuổi này trị giá chừng sáu chục ngàn nhưng lô đất 4000 sf của nó giá hơn bốn trăm, dù là nằm ở vùng ngoại ô xa tít. Thành ra cứ rán giữ, rán nắm dù mệt muốn hụt hơi. Cửa tiệm fast food bán cho nhân viên các hãng xưởng gần đây cũng theo đà lay-off mà đi xuống. Đến đầu tháng là chúng tôi điên đầu với đủ thứ tiền phải thanh toán. Tư trang sắm từ những năm phồn thịnh buôn may bán đắt lặng lẽ nuối đuôi nhau đi hết, vào nằm im nơi các tiệm cầm đồ. Chúng tôi không hề nghĩ đến giải pháp bán nhà vì đó là gia tài duy nhất, cũng là mối kinh doanh không sợ lỗ vốn; vả lại bây giờ đi mướn một apartment tồi tàn đủ chỗ chứa sáu người, giá thuê hàng tháng còn mắc hơn số tiền trả góp nhà. Trong tình thế kiệt quệ này, nếu có mẹ tôi lo cho tụi nhỏ, đưa đón đi học, quán xuyến việc nhà, tôi sẽ rảnh rang hơn để đi làm thêm lặt vặt buổi sáng, trưa về phụ tiệm ăn với chồng tôi. Buổi tối chúng tôi sẽ đi clean các tiệm ăn, chợ búa. Chịu khó một thời gian hi vọng kinh tế sẽ phục hồi trở lại. Mọi người đã hăm hở đón chào thiên niên kỷ mới, ai ngờ nó bắt đầu bằng sự xuống dốc! Mẹ sang Mỹ vào mùa Thu. Trời khá lạnh đối với mẹ vì chưa quen nhưng màu xanh của biển trời đã thu hút mẹ. Lũ cháu xúm xít lấy bà vì ngày thường không ai gần gũi chúng cả. Chúng xổ tiếng Anh líu lo, thậm chí cô bé út mới bốn tuổi cũng không rành tiếng Việt. Bà cười dễ dãi: “Sẽ có cuộc trao đổi nhé! Bà dạy các cháu nói tiếng Việt, các cháu dạy cho bà nói tiếng Anh.” Thấy mẹ vui, tôi an lòng. Thế là bên cạnh cái giường hai tầng của hai cô bé gái là tấm nệm của bà ngoại. Ban đêm, ba bà cháu nói chuyện rì rầm; có khi hai cậu trai cũng gõ cửa xin vào để được hưởng không khí đầm ầm bên bà ngoại rất hiền và rất vui. Mẹ như bà tiên có chiếc đũa thần đã biến căn nhà bừa bãi đầy phiền muộn của chúng tôi thành một tổ ấm ngăn nấp, sạch sẽ và đầy tiếng cười. Trước kia, chúng tôi chỉ dùng những thức ăn ế ẩm từ cửa hàng, lắm khi nuốt chẳng trôi. Mẹ bảo cứ bỏ thịt bỏ rau và tủ lạnh cho bà. Thế là mỗi chiều về gia đình tôi được quây quần chung quanh bàn ăn có cơm canh nóng hổi, hương vị ngọt ngào. Chỉ sau và tháng, các con tôi khỏe mạnh ra, lễ phép ra và biết phụ giúp công việc lặt vặt trong nhà. Hai cậu con trai lớn, bà phân công lo vườn tược cây kiểng: “Thằng Hùng mười hai tuổi, lớn rồi, lo chăm sóc các cây lớn, tỉa lá, bón phận, Hậu cũng mười tuổi rồi, thay vì ôm máy chơi game, có thể phụ anh quét sân, tưới nước.” Bà hiền lành nhưng nói gì các cháu cũng nghe. Chúng không còn là những đứa bé “vô tích sự” như thuở trước. Thật ra chúng không đến nỗi tệ nhưng vợ chồng tôi quần quật với công ăn việc làm, không có thì giờ dạy dỗ, chỉ vẽ. Bảo làm chuyện gì, chúng thực hiện qua loa lấy có, rầy mãi phát mệt thành ra không thèm sai biểu nữa, tự mình làm chóng xong mà vừa ý hơn. Con Hoa hãnh diện khoe với mẹ: “Bà dạy con nấu cơm. Con biết lặt rau, rửa chén, lại biết tráng trứng nữa cơ!” Tôi hôn con, thầm cám ơn mẹ đã cho gia đình tôi cơ hội để sống có hạnh phúc thay vì cứ mãi rầy rà, cãi vả, gây ó nhau trong một căn nhà bề bộn, dơ bẩn. Mẹ vốn là một Phật tử thuần thành. Thỉnh thoảng bà giảng dạy cho tôi về đạo lý: “Hạnh phúc không phải là món quà từ đâu đến, không phải tự nhiên mà có, cũng chẳng thể do phúc đức mà được. Mình phải biết cách sống, biết cách hợp tác xây dựng thì mới có hạnh phúc.” Thuở ấy, đầu óc tôi quá dầy đặc với những con số để có thể hiểu lời mẹ khuyên, vả lại cũng không có thì giờ… Thôi thì để mẹ lo giùm. Mỗi chiều về nhìn các con ngoan, được ăn bữa cơm tối ngon, đối với tôi đã là đủ rồi. Tôi bận rộn với nợ nần đến nỗi không mấy khi chú ý đến tâm tình của mẹ. Bây giờ kiểm điểm lại mới nhớ rằng tôi ít hỏi thăm về sự buồn vui của bà. Thay đổi môi trường sống, bà bỏ lại sau lưng biết bao nhiêu thứ: chị em, họ hàng, lối xóm, sư ông, bằng hữu… Đôi khi, mắt mẹ thoáng buồn. Tôi chỉ hỏi qua loa: “Mẹ có mệt không?” Chao ôi, rõ tệ, miệng hỏi mà lòng vái thầm: “Mẹ đừng ngã bệnh, khổ con!” Là con một nên cách suy nghĩ của tôi thường ích kỷ như thế. Cái gì cũng qui về mình, cho mình thôi! Thắm thoát, mẹ ở với chúng tôi đã được một năm rồi. Gia đình thì ổn thỏa nhưng tình trạng tài chánh càng ngày càng bết bát mặc dù vợ chồng tôi bỏ sức lao động gấp đôi. Giao kèo mướn cửa tiệm sắp hết hạn mà chẳng tìm được người san
g lại. Không ký thêm thì mất tiệm, mất luôn năm mươi ngàn bỏ ra sang tiệm trước kia, nhưng tiếp tục thì ngày càng thua lỗ, chẳng kham được nữa. Chuyện gì đến, phải đến. Tháng sau đó, vợ chồng tôi lủi thủi dọn đồ về trả lại cửa hàng cho người ta sau mười năm làm chủ. Bây giờ hóa ra là kẻ làm công, lại làm những nghề linh tinh quét dọn. Tủi thân mà tức số phận mình. Mẹ an ủi: “Thôi, như thế đỡ lo con ạ. Tinh thần căng thẳng quá có khi phát dại, hóa cuồng! Trong cái dở có cái hay là thế!” Chúng tôi lợi dụng thời gian tương đối rảnh rang này để sửa chữa căn nhà hư dột. Anh Thắng chịu khó và khéo tay nên cái gì cũng tự làm được, đỡ tốn tiền mướn thợ. Một hôm anh leo lên mái nhà để lợp lại mấy miếng ngói bể. Sơ ý thế nào chẳng rõ, anh trợt chân té xuống bất tỉnh. Chỉ có mình mẹ ở nhà! Bà bình tĩnh gọi 911, vắn tắt vài câu tiếng Anh: “He falls down from the roof. He stops breathing!” Và rành rọt đọc địa chỉ, số phone nhà cho họ. Ai ngờ bà âm thầm học chữ Anh mau đến thế! Bà đã cứu mạng chồng tôi! Thắng bị gãy chân và dập ống quyển. Phải nằm tại chỗ từ năm đến sáu tháng. Tình cảnh này đưa mẹ tôi vào môi trường mới. Bà tự nguyện thế chỗ cho chồng tôi để quét dọn, lau chùi các cửa tiệm hầu phụ giúp tôi về tài chánh. Mẹ hăng hái trong công việc. Tôi đoán rằng ở nhà mãi mẹ cũng buồn, nay được ra ngoài bà cảm thấy vui hơn. Bà có những người bạn mới: cô thâu ngân vui tính, bà lão phụ trách hàng rau cải, chú “Thoòng” chuyên khuân vác. Mẹ hòa mình với họ, với cuộc sống của những người lao động tay chân. Đâu ai biết rằng trước 1975, mẹ là giáo sự dạy Pháp văn tại một trường công lập lớn ở Sài Gòn. Các con tôi biết hoàn cảnh bi đát của gia đình nên mỗi đứa một tay, cùng nhau lo chuyện nhà. Mẹ tôi hài lòng thấy các cháu tự ý thức được trách nhiệm, biết thương mẹ thương cha. Ngày anh Thắng trở lại công việc, tôi xin mẹ ở nhà nghỉ ngơi.

 Mẹ nói: “Con ơi, ra ngoài cũng vui, lại kiếm được đồng tiền. Từ ngày đi Mỹ đến nay đã gần hai năm, mẹ chưa gửi tiền về giúp các em, các cháu bên ấy. Tụi nó nghèo lắm mà chẳng có cách kiếm ra tiền cho kịp đà leo thang của vật giá. Bên này kiếm tiền dễ hơn. Có tiền, mẹ lại có phương tiện cúng dường, bố thí…” Tôi im lặng nghẹn ngào, chợt nhớ rằng mẹ chưa hề hỏi tôi một đồng xu nào và tôi quên bẵng rằng mẹ cũng có nhu cầu tiêu xài. Trên thế gian này, không có nhân viên nào làm việc cật lực mà không đòi hỏi thù lao như thế! Vô tình, tôi đã “đòi nợ” mẹ tôi một cách tận tình. Dì tôi cũng có lý khi bà mỉa mai tôi. Trong lúc tôi đăm chiêu, mẹ nhẹ nhàng tiếp: “Mẹ đã xin được chân rửa chén trong nhà hàng. Rửa bằng máy chả cực nhọc gì!” “Trời đất ơi, rửa chén, cần sức lực của người đàn ông Mễ mới kham nỗi. Nồi niêu son chảo to như cột đình, nặng như búa tạ, làm sao mẹ nhấc cho nổi!” Tôi xuống giọng tiếp: “Mẹ nhìn lại mẹ xem. Tay mẹ gầy yếu, lưng mẹ đã cong, bước đi không còn nhanh nhẹn. Dù họ cần người, mướn tạm, vài hôm cũng cho nghỉ việc thôi!” Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ mẹ. Bà già thật rồi, cái già đến nhanh quá. So với hồi mới qua, bà như tăng thêm năm, bảy tuổi. Mẹ tôi cúi đầu xuống thấp. Hình như bà cố giấu giọt lệ vừa ứa ra. Tôi nhẹ nâng cầm mẹ lên và nhìn sâu vào đôi cửa sổ tâm hồn ấy. Trời ơi, mắt mẹ đã kéo mây! Đôi mắt bồ câu đen láy ngày nào từng làm điên đảo các chàng trai cùng trang lứa, cột chân ba tôi vào tổ ấm gia đình, giờ đã một phần ngả màu đục lờ như nước gạo vo. Tóc mẹ trắng bơ phờ, đuôi mắt nhăn như rẻ quạt, vầng trán sạm đen vết đồi mồi… Tôi mủi lòng xót xa. Hai mẹ con ôm nhau, nước mắt người này thấm ướt vai áo người kia. Tôi nhỏ nhẹ: “Con không dám trái ý mẹ, nhưng mẹ ráng chờ. Con hứa sẽ tìm công việc nhẹ nhàng hợp với mẹ hơn, mẹ nhé! Vong hồn ba mà biết mẹ cực khổ thế này chắc khó siêu.” Trời cũng thương tình. Đâu chừng một tháng sau thì bà lão làm rau cải xin nghỉ việc về hưu. Mẹ tôi trở thành “bà cụ hàng rau”. Danh xưng và chức vụ gắn liền với mẹ tôi từ đấy. Vậy mà bà vui. Mỗi tháng bà lãnh được hơn ngàn bạc. Phân nửa số tiền, bà gửi về Việt Nam: phần cúng dường, phần bố thí, phần giúp đỡ các em, các cháu. Số còn lại, bà dành dụm mấy kỳ lương, đưa tôi hơn ngàn bạc. “Mẹ thấy người ta dựng phòng trong garage cũng tiện lắm. Nếu chồng con không phiền, con lấy tiền này nhờ nó mua vật liệu, che tạm cho mẹ một căn phòng nhỏ. Con Hoa, con út bắt đầu lớn, tụi nó cần sự riêng tư. Mẹ cũng vậy, có phòng riêng mẹ sẽ dựng kệ thờ Phật, mỗi ngày mẹ có thể lễ bái, tụng kinh, niệm Phật…” Chồng tôi nghe kể lại, vui vẻ đáp: “Chuyện nhỏ! Mẹ muốn gì anh cũng xin vâng, nói chi việc ấy!” Từ đấy, mẹ lộ vẻ hoan hỉ lắm.

Sáng tối hai thời, ít khi nào bà bỏ lỡ công phu. Bà như một người đạt được mục tiêu cho đời mình, không có gì để ưu tư, khắc khoải. Mùa Đông năm ấy, thời tiết hơi khác thường. Ban ngày ấm áp xen kẽ với những đêm buốt giá mà nhiệt độ đôi khi hạ thấp đến không ngờ. Vợ chồng tôi mời mẹ tạm trở về phòng cũ vài ba tháng, ngoài garage lạnh quá dễ sinh bịnh. Mẹ nói: “Ở chỗ này quen rồi, dời đi khó ngủ.” “Mẹ nhớ vặn heat cho đủ ấm nhé!” “Ờ, tao biết mà!” Ngờ đâu mẹ đã không qua khỏi mùa Đông! Buổi sáng chẳng thấy mẹ dậy sửa soạn để đi làm, tôi bảo “đứa nào ra đánh thức bà dậy, nhanh lên kẻo trễ!” Con Hoa quấn mền đẩy cửa bước ra garage miệng kêu léo nhéo. “Ngoại ơi, ngoại à…” Không có tiếng trả lời… Nọ bật đèn, tiến đến cạnh giường: ngoại quấn hai cái mền kín mít, nằm im ỉm. Nó lắc chân ngoại, bà chẳng đáp. Nó lôi cái mền xuống: mặt bà xám xịt, lạnh ngắt, đôi mắt khép hờ… “Mẹ ơi, mẹ! sao kỳ vầy nè!” Cả nhà đổ xô ra. Chồng tôi đạo Chúa, vội làm dấu thánh giá… Tôi xỉu ngay tại chỗ khi loáng thoáng nghe thằng Hùng la lên: “Sao bà không mở heat?” Cuộc điều tra của cảnh sát quấy rầy chúng tôi một thời gian, cuối cùng họ kết luận: “Bà cụ không thường mở heat; cái máy mua hai tháng về trước còn mới tinh chưa hề được sử dụng!” Tôi như người mất hồn trong đám tang của mẹ. Sự hối hận như lưỡi dao có răng, nó cưa xé lòng tôi. Trái tim tôi cơ hồ rỏ máu thành những giọt lệ hồng. Bạn bè khuyên tôi nên đến chùa xin cúng thất, thiết lễ cầu siêu cho bà. Tôi chẳng thể nói năng chi cùng vị sư ở chùa, chỉ biết dập đầu lạy cầu cứu với đôi mắt sưng húp. Chồng tôi bình tĩnh hơn, anh buồn bã kể đầu đuôi tự sự. Câu chuyện khiến thầy thương tâm, thầy thường an ủi, khuyên giải sau những thời lễ cúng. Khi thấy tôi bắt đầu trở lại bình thường, thầy dành cho gia đình chúng tôi một thời pháp thoại. Thầy giảng về lý vô thường, khổ, không. Các con tôi tỏ ra thích thú với sự thật giản dị và sâu sắc này, chúng đòi được học giáo lý đạo Phật thay vì đi nhà thờ với ba. Riêng tôi, tôi nhớ mãi câu kết luận của thầy trong buổi nói chuyện ấy: “Con người ta sở dĩ đau khổ triền miên là tại mình muốn nắm giữ! Cái gì cũng khư khư ôm chặt. Làm sao giữ mãi được vì bản chất của chúng là vô thường, là không. Hãy buông bỏ hết đi, chừng nào bỏ được, chừng ấy mới có chân hạnh phúc!” Phải rồi, nếu chúng tôi không bám chặt vào căn nhà thì mẹ tôi đã không phải vất vả đến thế, không đến nỗi chết cóng ngoài garage. Và gia đình tôi không lụy đến mức này. Tôi thỏ thẻ bàn với chồng: “Anh à, căn nhà này mình không giữ nỗi thì bán nó đi. Em tính rồi, sau khi thanh toán hết nợ nần mình cũng còn vài trăm ngàn. Dọn sang Texas, nhà cửa rẻ hơn, mình có thể tậu căn khác hoặc là giữ làm vốn, tính chuyện làm ăn…” ” Ờ nhỉ, hồi đó sao mình ngu quá, cứ ôm lấy nó mà cắm cổ đi cày trả nợ. Liệu giữ không được thì sớm buông đi… Nhờ ông thầy giảng dạy, mình mới sáng mắt ra!”

Sau khi dọn sang Texas, trước khi bắt tay vào công ăn việc làm, tôi xin phép anh Thắng cho tôi về Việt Nam một chuyến. Tôi về để được quì dưới chân sư ông kể lể hết sự tình, xin sám hối thì lòng tôi mới có thể yên. Sư ông trầm ngâm và yên lặng nghe tôi vừa khóc rấm rức vừa kể về mẹ tôi, đệ tử mà người rất quí mến. Sư ông không hề cắt ngang bằng những câu hỏi. Người không phê phán gì, chỉ để yên cho tôi khóc, khóc oà vỡ như cái đập nước bị ngăn chận, nay có người tháo ra… Mãi một lúc lâu lắm sau đó, sư ông mới dạy: “Người mẹ nào cũng có trái tim Bồ Tát. Mẹ con hành Bồ Tát đạo ngay trong gia đình trước khi mở rộng ra trong cuộc sống với mọi người. Con hãy hãnh diện có bà mẹ như thế! Con sẽ không cảm thấy hối hận ray rứt nữa nếu con biết đi theo hướng đi của mẹ con, biết xả bỏ cái tôi vị kỷ để lo cho người chung quanh.” Tôi sụp xuống đảnh lễ người đã chỉ cho tôi tháo mở cái gút dây kết mối ân hận trong tôi. Tôi trở về Texas với sự bình yên và tâm nguyện cao cả… Nhưng khi mùa Vu Lan về, cầm hoa trắng trên tay, tôi không thể ngăn được những giọt lệ hồng phát xuất từ trái tim tôi… Than ôi! Khi tôi biết nghĩ tới mẹ, biết giá trị của trái tim bồ tát, biết thương mẹ thì bà đã không còn nữa trên đời…

 

Diệu Nga

Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà

Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà       Ta về cúi mái đầu sương điểm Nghe nặng từ tâm lượng đất trờiCám ơn hoa đã vì ta nởThế giới vui từ mỗi lẻ loi(Tô Thùy Yên)   Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi…

Chuyện buồn người vợ tù

Chuyện buồn người vợ tù Ý Cơ Chuyện buồn người vợ tù là một chuyện đã thực sự xẩy ra cho một người phụ nữ sau tháng tư năm 1975, Ý Cơ tin rằng hoàn cảnh ấy không xẩy ra riêng cho mình chị, mà câu chuyện thương tâm, phần nào phảng phất  một nét…

AI ĐEM THUYỀN TÌNH (Phạm THị Thu Hiền)

AI ĐEM THUYỀN TÌNH Truyện ngắn: Phạm thị Thu Hiền            Ngồi bên tôi chị nức nở khóc, nước mắt chan hoà nhoè nhoẹt cả mảng màu son phấn, bộ ngực tròn trịa cứ phập phồng nhô lên hạ xuống trong một sự xúc động và kiềm chế lớn. Có ai ngờ tai hoạ lại…

Cho bõ căm hờn xã hội :Đọc thơ Nguyễn Vỹ:

Đọc thơ Nguyễn Vỹ: "Viết trong lúc say"-  gửi Trương tửu   Trần Khải Thanh Thuỷ     Nguyễn Vĩ sinh năm 1912 tại Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, mất năm 1971, tại Sài Gòn, trong một tai nạn xe hơi, vừa kịp tới tuổi lục thập…  Cả cuộc đời tròm trèm một hoa giáp, ông…

NHỮNG VỊ “ANH HÙNG NHÂN DÂN”

NHỮNG VỊ “ANH HÙNG NHÂN DÂN” Tôi về quê tôi trong một ngày đầu xuân, ngày xuân có gió nhẹ nhàng, có những cành đào tươi nở và có cả lòng người chờ mong thương yêu. Lâu lắm rồi tôi không về, kể từ lần đầu về bây giờ đã 15 năm, con đường vạn…

BA CON CÁO (Nhà văn Bình Nguyên Lộc)

BA CON CÁO Bình Nguyên Lộc   Bắt đầu bằng cái rùng rợn của thế giới người chết. Vậy mà cuối cùng, chính cái thế giới ấy lại tử tế gấp vạn lần thế giới của những kẻ đang sống. Truyện này mang xuống âm phủ mà đọc, chắc dưới đó người ta cũng xếp…

Bà cụ & chiếc xe chó

Bà cụ & chiếc xe chó Một phụ nữ nhà quê. Một con người luôn ném hết nghị lực ra giữa trời đất để sống. Bảy mươi ba tuổi. Tên Cao Thị Mỹ. Mỹ trong nghĩa từ Hán – Việt là “cái đẹp”. Nhưng ít ai gọi cái tên ấy, người ta thường nhắc đến…

Mùa Xuân Trên Đảo Galang(Đoan Phương)

Mùa Xuân Trên Đảo Galang
    Con thuyền tỵ nạn nhỏ bé của chúng tôi cặp bến một hòn đảo nhỏ ở Nam Dương vào lúc chạng vạng tối một buổi chiều cuối năm. Tôi còn nhớ rõ, khi dời tầu để lội bộ vào bờ, 2 đầu gối tôi run rẩy, hai chân châp choạng, lảo đảo muốn té, có lẽ do năm ngày bốn đêm nằm dài trên chiếc ghe chật chội không đủ khoảng trống để co duỗi. Bước chân xuống nước, các vỏ sò, vỏ hến cứa vào hai bàn chân tôi rát buốt. Tuy nhiên, lúc đó tinh thần tôi bay bổng, trái tim tôi ca khúc khải hoàn, reo mừng vì sau một cuộc hành trình đầy gian nguy tôi đã tới miền đất hứa mà tôi hằng mong đợi.
   Sau những thủ tục đơn giản, chúng tôi được chuyển qua các đảo Sedanau, Kuku, rồi về trung tâm Tỵ nạn Galang. Tai đây, cuộc sống được tạm ổn định. Chúng tôi được Cao Ủy Tỵ Nạn nuôi ăn, ở, và đi học các lớp Anh ngữ để chờ ngày đi định cư. Tâm lý con người thực dễ dàng thay đổi. Sau những dồn dập mừng vui, tôi bắt đầu nhớ nhà. Mỗi buổi sáng khi tỉnh dậy, nghe tiếng sóng biển đều đều vỗ vào bờ, tôi lại tha thiết nhớ quê nhà, nhiều khi đến không cầm được nước mắt. Rồi cảm giác nhớ nhà cũng qua đi, tôi bắt đầu lo lắng cho tương lai mịt mù nơi xứ lạ khi đã định cư.
   Galang là một hòn đảo nhỏ, hoang vu của Nam Dương được Cao Uy Tỵ Nạn xây dựng thành Trung Tâm chuyển tiếp cho người Việt Nam chạy trốn chế độ Cộng Sản trước khi được nhận định cư tại một nước thứ ba. Khi tôi lên làm việc tại Bệnh Viện Galang I thì nhân viên người Việt không được hưởng thù lao mà mỗi tháng chỉ được lãnh các nhu yếu phẩm như kem đánh răng, khăn rửa mặt, xà bông, bột giặt v.v.… Phụ cấp tuy không nhiều nhưng cũng phần nào giúp đỡ cho cuộc sống khó khăn trên đảo. Bác sĩ Giam Đốc Bệnh viện, Ông Ivan Jusuff, là một người lịch lãm nên đối xử với nhân viên người Việt hết sức tế nhị. Một ngày, khi tôi đang làm việc thì được BS Evan mời vào văn phòng nói chuyện. Ông Evan cho tôi biết: "Bà Soeur, trưởng phòng Xã Hội của Cao Ủy Tỵ Nạn nhờ ông tìm một người phụ nữ VN để làm "Hội Trưởng hội Phụ Nữ" ở Galang, và ông muốn đề cử tôi". Thực là khó nghĩ, vì trong khoảng thời gian ngắn ngủi ở lại đảo, không ai có nhiều thời gian rảnh rỗi. Những việc nấu ăn, giặt dũ, đi học Anh Văn hầu như đã chiếm hết thời giờ trong ngày. Ngoài ra, còn thêm nhiều việc không tên không tuổi khác như xách nước, lãnh đồ ăn, nghe thông cáo, nhận thư từ .… Tuy nhiên, nếu từ chối thì không tiện vì người ngoại quốc đã làm quá nhiều cho dân tỵ nạn, không lý, là người tỵ nạn lại từ chối làm việc cho cộng đồng tỵ nạn.
   Tôi được đưa vào Galang II để tiếp xúc với Soeur Marie của Cao Uỷ Tỵ Nạn vào buổi sáng hôm sau. Soeur Marie cho tôi biết nếp sống của các phụ nữ trên đảo cần được cải tiến. Bà đã nhận được báo cáo về một số phụ nữ túm năm, tụm ba đánh bài tứ sắc suốt ngày trong Barrack thay vì đi học Anh ngữ. Một số khác, sau giờ giới nghiêm còn bị nhân viên an ninh bắt gặp trong các lùm cây, bụi cỏ với bạn trai. Một vài phụ nữ trẻ đã có những liên hệ tình cảm bất chính với các nhân viên Nam Dương trên đảo để kiếm tiền. Sau cùng bà cũng nói rõ, bà muốn tôi đứng lên tổ chức các lớp dạy làm bánh, đan, may để các phụ nữ học được chút nghề trước khi đi định cư. Soeur Marie còn thúc dục tôi phải bắt tay làm việc ngay và nhấn mạnh là: Chương trình phải phù hợp với hoàn cảnh eo hẹp của ngân quỹ tỵ nạn.
   Tôi trở về, nhờ ban đại diện thông báo trên loa phóng thanh về việc muốn tìm các chị em có tay nghề về "làm bánh, thêu may, đan" để dậy các lớp nữ công gia chánh. Có lẽ không nghe nói tới thù lao, nên qua 1 tuần mà chẳng nghe ai trả lời. Trong khi đó Soeur Marie cứ đôn đốc thúc dục mỗi ngày. Sau cùng, tôi phải tự thăm dò và tìm tới tận Barrack để năn nỉ các chị em bỏ thời gian cộng tác với hội để "trước mua vui, sau làm nghĩa". Tôi thành lập được một staff khoảng 8 người cho đầy đủ các bộ môn làm bánh, đan, và may. Buổi học đầu tiên là lớp dậy làm bánh "lỗ tai heo", nhiên liệu chỉ có bột, mè, đường, và dầu chiên. Buổi khai trương có 20 học viên ghi tên, nhưng có diễn văn khai mạc của Soeur Marie cùng với sự hiện diện của BS Evan và vài nhân viên của Cao Uỷ Tỵ Nạn. Theo sự thỏa thuận, khi lớp học bế mạc, giáo viên có thể chia bánh cho các học viên, và lấy về nhà thưởng thức.
   Thấm thoát đã tới ngày rằm tháng Chạp, Tết nhất đã gần kề, các chị em trong Hội Phụ Nữ, ai cũng bùi ngùi vì trong hoàn cảnh khó khăn này, làm sao có thể "đón ông bà", rồi làm sao để "đón mừng Năm Mới". Tuy nhiên, trong lúc khó khăn, cũng nảy sanh ra nhiều ý kiến kỳ diệu. Một chị đề nghị, kỳ lãnh đồ ăn sắp tới, mọi người góp đậu xanh và đường, nấu chung một nồi chè để ăn đêm liên hoan. Một chị khác đề nghị, kỳ lãnh đồ ăn tới, mỗi người hùn vào 1 hộp đồ ăn, đem bán, mua 1 bao nhang chia cho mỗi người 3 nén để thắp cúng ông bà đêm giao thừa. Tiền còn lại, mua ít đậu phộng để nhâm nhi đêm văn nghệ. Một chị khác có ý kiến, tuần lễ trước đêm liên hoan, cho lớp làm bánh thực tập "bánh trứng nhện" vì rẻ, dễ làm, lại được nhiều. Sau khi làm, bánh sẽ được gom lại, để dành cho đêm liên hoan. Có chị xung phong trang trí không tốn kém cho hội trường bằng những bông hoa dại mọc đầy 2 ven đường ở Galang. Tôi vô cùng thán phục những phụ nữ VN đảm đang và thao vát này. Chúng tôi đồng ý, đêm liên hoan sẽ là ngày 28 Tết, lúc 6 giờ chiều, địa điểm là một lớp học tôi mượn được. Số người tham dự khoảng 25 người gồm gia dình các chị em trong ban chấp hành của hội phụ nữ.
   Gần ngày Tết, tôi cần phải hoàn tất một việc trước khi bước sang năm mới. Danh sách các cô thiếu nữ trẻ được soeur Marie nêu tên, tôi đã gặp được hết, duy chỉ có 1 cô tên Như Tâm khoảng 23 tuổi vẫn cố tình né tránh nên tôi chưa gặp được. Nhiều khi tôi nhắn mời cô tới Barrack của tôi, nhưng cô nhận lời, rồi lại không tới. Nhiều khi tôi lại Barrack của cô thì cô lại vắng mặt. Nhiều người nói nhỏ với tôi rằng, khi thấy tôi tới đầu Barrack thì cô theo cuối barrack lỉnh ra ngoài để tránh mặt tôi. Tôi rất cần nói chuyện với cô này, vì theo Soeur Marie, đêm nào cô cũng gửi đứa con khoảng 6 tháng cho người bạn cùng phòng để đi chơi với các nhân viên Nam Dương cho tới sáng. Soeur Marie còn nhấn mạnh: Qua Tết, nếu hội Phụ Nữ VN không giải quyết được thì Cao Uy sẽ làm việc thẳng với ban an ninh của chính quyền Nam Dương trên đảo.
   Thời giờ chẳng còn xa nữa, tôi suy nghĩ nát óc mới ra một cách. Tôi nhờ một chị bạn, sáng sớm tới chờ cô Như Tâm ở cửa Barrack, khi cô về thì lại mời cô tới tham dự buổi liên hoan của chúng tôi, rồi ráng tìm cách cầm chân cô cho đến khi tôi tới. Buổi sáng hôm ấy, tôi cũng phải dậy sớm. Chỗ tôi ở khá xa với chỗ của cô, lại thêm đường xá ở Galang toàn là đường đất mấp mô, dốc lên dốc xuống nên khi tôi tới nơi thì mệt bở hơi tai. Cô đứng quay lưng về phía tôi nên khi tôi tới gần thì cô sửng sốt, rồi bất chợt bưng mặt khóc. Đây là lần đầu tiên tôi gặp cô, quả là môt người đẹp tuyệt vời như tin đồn, mặc dầu không trang điểm và có nhiều nét mệt mỏi. Thấy mọi người trong Barrack chú ý, tôi nhờ chị bạn bồng đứa con cho cô, rồi rủ cô ra ngoài nói chuyện. Cô bảo tôi: "Chị ơi, em xin lỗi chị bởi vì em đã nhiều lần thất hứa với chị. Em không dám tới gặp chị vì em quá xấu hổ nhưng em thú thực với chị, nếu em không làm vậy thì con gái em sẽ phải chết." Rồi cô thổn thức kể cho tôi: "Vợ chồng em đi vượt biên từ cửa Đại Ngãi, Gò Công. Khi vừa được chuyển từ ghe xuống "cá lớn" thì bị công an phát hiện, em nghe súng bắn tứ tung. Lúc đó chủ tàu vội vã tắt đèn và nổ máy dời bến. Em hoảng sợ kêu tên chồng em lung tung nhưng không nghe anh ấy trả lời. Hôm sau, khi trời sáng thì em mới biết là chồng em không có mặt trên tàu. Đến bây giờ em cũng không biết tình trạng chồng em sống, chết ra sao. Khi lên tới đảo, con em mới có 4 tháng, nó bị tiêu chảy liên miên, lại thêm em tự nhiên bị cạn hết sữa nên không có đủ sữa cho con bú. Em chỉ có một mình trên đảo, lại không có thân nhân ngoại quốc tiếp tế nên không có tiền để mua sữa bò cho cháu. Nhìn con mỗi ngày một tiều tụy, em không cam tâm. Chẳng thà em chịu nhục, hay chết đi còn hơn là nhìn thấy con em chết". Nhìn cô gái trẻ nước mắt chứa chan, tôi cũng mủi lòng. Tôi hứa với cô sẽ cố gắng xin Soeur Marie cấp phát sữa cho cháu bé. Phần cô, cũng cần hứa với tôi phải chấm dứt ngay tức khắc hành động không đẹp này. Cô Như Tâm vô cùng mừng rỡ, nắm chặt lấy tay tôi và quả quyết với tôi rằng: "Nếu chị "cải tử hoàn sinh" được cho mẹ con em thì em cũng xin thề sẽ không tiếp tục làm chuyện xấu hổ này nữa". Trước khi giã từ, tôi ân cần mời cô ra chung vui với chúng tôi vào chiều nay, 28 Tết và dự tính sáng mai, ngày 29 Tết sẽ vào Galang II để gặp Soeur Marie, trình bày hoàn cảnh của cô.
   Buổi "Mừng Xuân" bỏ túi của Hội Phụ Nử chúng tôi được bảo nhau giữ kín trong vòng nội bộ, nhưng không hiểu sao khi chúng tôi tới lớp học thì đã có nhiều người chờ sẵn ngoài cửa. Một bác lớn tuổi bảo tôi: "Chúng tôi là khách không mời mà tới, không muốn làm phiền mấy cô, nhưng đầu năm thấy cô đơn, nhớ nhà quá, mong mấy cô cho đứng ngoài nghe mấy bài ca xuân để đỡ nhớ quê hương." Thế rồi người đem bánh, người đem kẹo, đổ hết ra bàn chung vui. Buổi liên hoan dự tính cho 25 người bây giờ trở nên trên 50, 60 người. Chúng tôi hơi hồi hộp lo sợ vì đông người, khó kiểm soát, có thể xẩy ra điều đáng tiếc. Tuy nhiên, cuộc vui diễn ra trong bầu không khí hết sức thân mật và đầm ấm. Để mở đầu, chúng tôi mời một cụ cao niên lên chúc Tết mọi người, Sau đó, là phần văn nghệ. Có rất nhiều ca sĩ nghiệp dư tình nguyện lên sân khấu. Hết bài hát về "Xuân" là mấy bài nhạc "tình cảm". Tôi còn nhớ một anh thanh niên lên hát bài "Con Thuyền Viễn Xứ" rất truyền cảm. Khán giả im phăng phắc. Tới câu: "… quay lại xóm làng, Đà Giang lệ ướt tràn …" thì tôi nghe nhiều tiếng sụt sịt, trong đám khán giả và chính tôi cũng cảm thấy cay cay ở mắt.
   Tới 9 giờ khuya thì chúng tôi phải chấm dứt buổi liên hoan để dọn dẹp lớp học. Mọi người chia tay ra về. Lúc đó, tôi loáng thoáng thấy cô Như Tâm bồng con đứng ở cuối đám đông. Có lẽ, cô muốn chứng tỏ cho tôi thấy cô đã bắt đầu thay đổi từ hôm nay.
   Tôi rời Galang để đi định cư sau 13 tháng, lưu lại sau lưng biết bao kỷ niệm khó quên. Những ngày tạm cư ở Galang, tôi đã được chứng kiến những hoàn cảnh đau thương của cuộc đời, những phấn đấu can trường để tồn tại, và những tình cảm chân thành của những người cùng cảnh ngộ. Trong cuộc đời định cư, tôi luôn luôn sâu sắc ghi ơn Cao Uỷ Tỵ Nạn và chính quyền Nam Dương đã mở rộng vòng tay nhân đạo để cưu mang chúng tôi trong giai đoạn thập tử nhất sinh của cuộc đời. Hôm nay đây, tôi xin gửi tới Galang, hòn đảo nhỏ bé, thân thương, những tình cảm biết ơn chân thành nhất từ trái tim tôi.
                     Đoan Phương – 1/2009

MỘT NGÀY VỚI NỘI TÂM. (Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)

MỘT NGÀY VỚI NỘI TÂM.      Tôi là nhà văn, nhà báo, một văn nghệ sĩ.  Cả cuộc đời của tôi dành cho một lý tưởng: Bênh vực quyền sống, quyền làm người, quyền được suy tư, quyền được nói lên tiếng nói của mình.   Tự do ngôn luận là một trong những quyền…

ĐỨA CON của RỪNG HẠC

ĐỨA CON của RỪNG HẠC                                                                                                                  Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất          Bao Thành và Kỳ Sơn là hai pháo đài ở phía tây và tây nam của kinh thành để bảo vệ cho kinh đô Kiểu Kinh. Trấn thủ Bao Thành Bao Quýnh và trấn thủ Kỳ Sơn Thiệu Tường…

BÔNG HỒNG NHUNG THỨ TÁM

BÔNG HỒNG NHUNG THỨ TÁM Trần Mộng Tú         Bà Hằng liếc vội vào trong chiếc gương nhỏ, thoa chút má hồng trên má, một mầu son thật nhạt. Bà không dám trang điểm mạnh sợ trông già, bà đã kín đáo ăn mặc trẻ trung hơn số tuổi của mình. Chỉ còn hai…

ĐỒNG CHÍ TƯ LÙ

ĐỒNG CHÍ TƯ LÙ                                                                                                                                                                               Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất        Hoàng đến. Hắn vừa liệng tờ báo Mercury tiếng Việt xuống bàn truớc mặt bạn bè vừa lớn tếng đùa dỡn:   –   Tin nóng hổi! Tin nóng hổi đây!        Thế là bọn chúng tôi ba đứa đã đủ mặt.…

Hồi Âm Giòng Đời

   Anh Duy thân mến,                 Em ngồi viết lá thư này cho anh khi cơn mưa vừa mới tạnh. Cơn giông miền nhiệt đới ào ạt, kéo dài độ chừng hai tiếng đồng hồ, nhưng cũng đã làm cho cái nóng oi bức của Sàigòn dịu bớt. Mưa đã dứt, chỉ còn…