The fall of Sagon : The rise of evil (sự sụp đổ của Sài Gòn : Sự thắng lợi của quỉ sứ.

Lich Sử VN 1945-2008: MỘT WEBSITE VÔ CÙNG QUÝ GIÁ, TỔNG KẾT GẦN NHƯ TOÀN BỘ LỊCH SỬ VN TỪ 1945 ĐẾN NAY. NẾU QUÝ VỊ MUỐN ĐỌC, XEM VIDEO, VA` NGHE CHO HẾT TOÀN BỘ WEBSITE NÀY, TÔI ĐOÁN CHỪNG LÀ PHẢI MẤT ÍT NHẤT LÀ MỘT NĂM, MỖI NGÀY 8 TIẾNG.. THẬT LÀ MỘT…

Details

GS Nguyễn Thùy : Lịch Sử Việt Nam qua dòng Sử Mệnh DânTộc

Sử mệnh VN   Lịch Sử Việt Nam qua dòng Sử Mệnh DânTộc :                                         Cơn ‘Đoạn trường tối hậu’ : -‘Hiểm họa mất nước’ ? ‘Dân tộc không còn sức sống’ ! Việt Nam : Tư tưởng ‘Vô sở trụ’ và ‘miền đất giải hoặc’                                                                                        Nguyễn Thùy                                                                                                          Lời nói đầu : Bài nầy được viết do từ thao thức…

Details

Thế Phong : VŨ HOÀNG CHƯƠNG: ” …THƠ TA CHẲNG VIẾT CHO ĐỜI… “

VŨ HOÀNG CHƯƠNG: ” …THƠ TA CHẲNG VIẾT CHO ĐỜI… “

 Thế Phong

 

Phạm công Thiện - Thế Phong - Đinh Cường. Đà Lạt 1963 thời Thiện 22 tuổi
viết Ý Thức mới trong văn nghệ và triết học

Phạm công Thiện – Thế Phong – Đinh Cường. Đà Lạt 1963 thời Thiện 22 tuổi viết Ý Thức mới trong văn nghệ và triết học

Năm sinh đúng của Vũ Hoàng Chương là 1915; nhưng trong khai sinh đề ngày 5/5/1916 tại Nam Định. Và tính theo âm lịch, ngày 4 tháng 11 năm Ất Mão. Chính quán làng Phù Ửng, tỉnh Hưng Yên.  Đậu Tú tài Pháp xong ra làm Sếp ga.  Tác phẩm xuất bản từ 1940 đến 1975 trên dưới 20 cuốn, có tác phẩm đã dịch ra Pháp, Anh, Đức ngữ.   Về thơ : Thơ Say ( 1940), Mây ( 1943),  Rừng Phong ( Saigon 1954), Hoa Đăng ( Saigon 1959),  Tâm tình người đẹp ( thơ  viết lối “Nhị thập bát tú” ( Saigon 1961),” Trời một phương” ( Saigon 1962 ) … kịch thơ :” Vân Muội” ( 1942),” Trương Chi”, “Hồng Điệp” ( 1944), về văn xuôi: “Loạn trung bút “( Saigon 1970),” Ta đã làm chi dời ta” ( hồi ký , 1974, tái bản  ,  Nxb Hội  Nhà văn / Chi nhánh phía Nam  , Saigon 1993) ,   dịch  sang Pháp, Anh, Đức.. :” Pòemes choisis “( Saigon 1963, tựa Simone Kuhnen d la Coeuillerie ), “Nouveaux Poems “( Saigon 1970), “Communions Poems “( Anh-Mỹ ngữ),” Die achtundzwanzig Sterne “ (Đức ngữ,  Nxb Hamburg, 1966).

 

P.Mérimée, nhà   văn Pháp của thế kỷ trước đã gióng tiếng nói báo hiệu :” Sau đàn bà mới tới văn chương !”. Với Vũ Hoàng Chương, (VHC)  hẳn là  một nàng Kiều Thu nào đó đã cùng nhà thơ chia sẻ hận tình, xảy ra vào 12 tháng 6 – hình ảnh  lãng đãng nàng thơ thiếu phụ kia đã ám ảnh tâm linh Vũ Hoàng Chương trọn đời thi sĩ  thật đậm nét, đến nỗi VHC phải  bật thành thơ:

 

“ Tháng sáu mười hai từ đây nhé

  Chung đôi từ đấy nhé lìa đôi

  Em xa lạ quá còn đâu phải 

Tố của Hoàng xưa Tố của tôi…”

 

hoặc :

 

“..Kiều Thu hề Tố em ơi

  Ta  dương lửa đốt tơi bời mái Tây “.

 

“Mây” ra mắt vào 1943, chứng giám mối tình lỡ chàng thi nhân thất tình,  khiến chàng muốn thiêu hủy tâm can, bật thành thơ, hòng mong  được giải thoát – để rồi nào có thể quên dễ dàng !  Sau này, ở “ Rừng Phong”  sau mười mấy năm hình ảnh:

 

” Tố của Hoàng ơi”

   từ hư không lại trở về  không hư”,

 “ lẽ nào mộng cả thôi ư? “

 

dẫn đến kết cục não lòng:

 

“ Người ơi giọt bể chưa dư tang điền “.

 

Vậy nàng thơ  có phương danh  “ Tố” là ai?

 

 Theo Tạ Tỵ,  kể lại trong một hồi ký” Mười khuôn mặt văn nghệ / Tạ Tỵ/ Nam Chi Tùng thư, Saigon 1970)- thì nàng  Tố có hai chị em đều đẹp cả, nhan sắc dư thừa, và nhà ở trên đường Capitaine Bruisseau, gần Place Négrier.  (Cửa Nam ,Hà Nội bây giờ ) . Và nhà thơ chỉ yêu một nàng, yêu  đơn tư một chiều – còn Tố có yêu lại không, chẳng ai  tiết lộ điều bí ẩn này.  Sau nàng Tố đi lấy chồng, chẳng ai có thể làm khác hơn  !!

Từ tan vỡ một cách rất vô tình, lại rất hợp lý này, sau này VHC  đành  cưới nàng Đinh Thị Thục Oanh làm vợ.   Thục Oanh là chị  ruột Đinh Hùng, hơn Đinh Hùng 1 tuổi, sinh ở Manila ( Phillipimes) khi cha làm công chức cho Pháp đổi sang đây.

Trước 1975, tôi có gặp bà, ấy là vào một buổi ; đó là lần  tôi đưa Vũ Hoàng Chương về nhà, một  căn nhà  nhỏ ở  gần chợ Vườn Chuối ( Saigon 3).  Chẳng là lần ấy, nhà thơ Nhất Tuấn ( Phạm Hậu, giám đốc Nha  Vô tuyến Truyền thanh Saigon ) mời  chúng tôi làm  giám khảo  cuộc thi Thơ Tết của Đài có  VHC hiện diện.

 Sau 1975, gặp lại bà Thục Oanh  nhiều lần, cũng nhờ nữ sĩ Thư Linh dẫn tới giới thiệu – từ đó, tôi cảm nhận được rằng người đàn bà làm vợ nhà thơ ấy thật phi thường , không chỉ có sức chịu đựng dẻo dai vô biên,  cộng với tấm lòng hy sinh   thật cao cả làm vợ một thi sĩ tài hoa , luôn luôn  mặc complet bảnh bao, túi rỗng vì nghiện ngập.  Hãy cùng nghe lời  tán dương Thục Oanh , qua Tạ Tỵ:

 

“…Ôi thật tội nghiệp cho thân phận đàn bà, đúng là: “ Thân em như giọt mưa sa !” Nàng Oanh, một người đàn bà phi thường, có một sức chịu đựng vô biên và có tấm lòng hy sinh cao cả. Trong suốt cuộc đời làm vợ VHC, một người chồng, tuy nổi danh về thi ca nhưng lại nghiện hút, gia đình thường túng thiếu.  Có buổi sáng, tôi đến thăm Chương tại căn nhà ở gần phố

Hàng Da ( Hà Nội- TP.chú thích) . Lúc tôi đến đã hơn 9 giờ sáng, Chương vẫn chưa tỉnh.  Bà Oanh yên lặng như cái bóng, đứng chải đầu bên chiếc cửa sổ nhỏ . (….)

–“ Ngồi chơi anh, đêm qua anh Chương thức khuya quá !”

Tôi( Tạ Tỵ)  tìm không ra chỗ, đành ngồi xuống chiếu. Tôi nhìn Chương nằm trên tấm nệm cũ. Toàn chân Chương như dán xuống mặt nệm.  Da mặt tái mét, đôi mắt mở hé trề xuống như còn muốn hút ….”

 

Người đàn bà mang tên Kiều Thu hoặc Tố- được nhắc nhở thật nhiều lần trong thơ VHC – với nàng thơ mang tên Tố- tác giả yêu  đơn phương, vì vậy rất có thể  chính nàng thơ cũng không thể hay biết VHC yêu mình ?!

 Còn nàng  Thục Oanh, vợ chính thức VHC- thì tác giả chỉ” nhắc nhở  tên nàng Thục Oanh    duy nhất một lần” – trong tập thơ” Hoa Đăng” mà  thôi.

Trước 1950, chính xác hơn 1947- VHC rạt rào tình cảm, dễ rung động nhịp sống “ thời cách mạng” , tác giả viết bài” Nhớ về Hà Nội vàng son “- có  những đoạn thơ thật mượt mà, rung động thật sự :

 

NHỚ VỀ HÀ NỘI VÀNG SON  (*)

 

..” Ôi ngày mười chín  ngày oanh liệt

  Sóng đỏ hoa vàng khắp bốn phương

  Hà Nội tiếng reo hò bất tuyệt

  Vang vang bờ nọ Thái Bình Dương ?

 

  Ba mươi sáu phố ngày hôm ấy

Là những giòng sông đỏ sóng cờ

  Nền thắm nhụy vàng hoa vĩ đại

Năm cánh xòe trên năm cửa ô 

 

(…………………………………….)

 

Ôi ngày mười chin ngày oanh liệt

 Vạn ước mong dồn một ước mong

 Ôi mùa thu ấy, mùa tin tưởng

Một tấm lòng mang vạn tấm lòng …

 

 

 

 

  Lưng chừng thế kỷ thứ hai mươi

Khoảng giữa mùa thu đẹp tuyệt vời

Như thoảng Mê Giang trào sóng thẳm

Hoành  Sơn tân lĩnh kết hoa tươi “.

 

————–

(*) Trích lại từ “ Lược sử văn nghệ Việtnam- Nhà văn tiến chiến 1930-1945/ Thế Phong . Bài thơ này trước đã in trong” Tập văn Cách mạng và Kháng chiến “( Nxb Sư thật 1947)- tôi trích đăng lại ,bị “Sở Phối hợp Nghệ thuật” (  Ban Kiểm duyệt / Bộ Thông tin VNCH) cắt bỏ 2 đoạn. Tôi không còn nhớ đến nữa, tới đầu năm 1999, kịch tác gia Hoàng  Như Mai ( Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân bây giờ ) đọc  cho nghe 2 đoạn thơ thiếu trong bài – nên mới có cơ hội bổ sung. ( 2 đoạn 3 và 4 in chữ đậm).

————

Trở lại cùng người đàn bà mang tên Đinh Thi Thục Oanh – do chính phu quân mô tả , thì:

Khi lập gia đình, chú trể ở luôn bên nhà vợ cùng em vợ tọa lạc tại Ngõ Bò. Nhưng VHV “ chơi chữ’ gọi” Ngõ Bò”   thành “ Hoàng Ngưu hạng”, và tác giả giải nghĩa:

 

” .. nếu dịch chữ nào nghĩa nấy thì đó là” Ngõ Trâu  Vàng “.  Căn nhà 5 gian lợp ngói, cửa bức bàn , hiên rộng tới 3 thước, có thể trải chiếu ngồi, nhìn ra cây ổi và giàn hoa ngoài sân; nếu hội họp để uống rượu ngâm thơ thì 20 người ngồi vẫn còn thừa chỗ.  Chỉ phải cái nhà hơi tối, vì chẳng có một cửa sổ nào , lại ở vào một ngõ không được hưởng tiện nghi điện lực (…) mà người nọ nhìn người kia vẫn mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.  Thục Oanh và Thứ Lang ( Đinh Hùng- TP chú thích)  bất chấp.  Hoàng đến nhập tịch cũng bất chấp luôn …. “.

 

Bạn bè văn chương đến thăm VHC hoặc  Đinh Hùng đều được Thục Oanh  tiếp đãi khách thật chu đáo, nồng hậu, VHC tự kể :

 

“… Nào Chu Ngọc, Vũ Trọng Can, Lê Văn Trương, vv…Nguyễn Bính  thì đi đâu  một dạo, hình như vào Sài Gòn – lúc phản hồi” Kinh đô văn nghệ” là đóng đô  ngay ( tại đây) , nằm lỳ (ở) Ngõ Trâu Vàng đến 1 tháng  là ít ! Phải chịu  Thục Oanh là một người thản nhiên có một.  Bạn của Thứ Lang hay Hoàng đến,  Oanh đối đãi rất thật tình.  Có khi cơm gà cá gỏi,  rượu thịt ê hề

, có khi ăn khoai trừ bữa hay ăn cháo trắng thay cơm. Rất có thể môt hôm nào đó mỗi người – chủ cũng như khách – chỉ được thưởng thức một chén cơm rang, hay một củ khoai, hoặc vừa đúng 3 thìa cháo.  (…) Hoàng ưa nhắc lại ( của VHC) :

          Ăn ít mới ngon ! …. (*)

——————————————————————————————————-

(*) trích từ hồi ký ”Ta đã làm chi đời ta”/ Vũ Hoàng Chương. Ở đây dùng bản in Nxb Hội Nhà văn/ Chi nhánh Phía Nam do Ý Nhi  xuất bản, Sài Gòn 1993).

 

Cái thời’ chữ nghĩa bán ra tiền”  thời tiền chiến rất khác bây giờ – thơ in ra còn bán ra tiền.  Có tiền mới có nhiều bữa ăn thịnh soạn do Thục Oanh đãi khách, có khi kéo dài tới ngày hôm sau. Cho tới lúc” bây giờ tiền hết gạo không” thì cả hai anh em VHC và Đinh Hùng phái “ hạ sơn”  đòi tiền “ mãi văn” từ các báo đã in bài của họ:

 

“…Thường thường chia quân 2 ngả.  Hoàng không biết Thứ Lang đã” bán”  những bài tùy bút nào, nhưng về phía Hoàng thì đã” đi đứt”   vở kịch thơ” Trương Chi”, rồi đến vở “ Hồng Điệp” cũng đi luôn ,cả một phần  tác quyền tập thơ” Mây”. Kể ra văn chương lúc đó cũng còn có giá….”

 

 

 

 

 

 Kể chuyện giai thoại nhà văn, nhà thơ nghèo- có khi thôi –  có điều khi ngẫm vềhọ” như VHC tả lại- thì” vật được tặng trong ngày cưới, ( kiểm lại) chỉ còn thấy đôi giầy cườm của Đỗ quân tặng, rồi tấm lụa mỡ gà óng ánh của Lê Trọng Quỹ cho,  đến chiếc vòng huyền của Lê Thanh.  Nhìn lại, chẳng thứ gì đáng giá ,khi quy ra tiền.  Còn chú rể ( VHC)  thì lại ngắm nghía không chán mắt một tập giấy của Nguyễn Tuân tặng để viết – lại cả bút máy cũ mèm từ tay Chu Ngọc tặng;  mà tất cả quy ra tiền, thật mà nói chẳng có cái gì đáng giá cả. Bởi lẽ, họ  có “ sẵn cái gì thì tặng cái nấy ” cốt ở tấm lòng quý mến nhau là chính “-  đây chẳng phải chuyện bịa, mà chính chú rể, thi sĩ VHC tự kể :

 

“…Giấy của Nguyễn Tuân thì ai còn lạ gì !  Đó là thứ giấy báo in tầm thường, ở chỗ nó được cắt thành khổ vuông, mỗi bề hai gang tay, nghênh ngang ra mặt.  Cách mép giấy chừng một đốt ngón tay, Nguyễn cho in 1 cái khung là những giòng kẻ lờ mờ.  Bên phía dưới khung lại có in 2 chữ” Nguyễn Tuân” –thủ bút của đương sự.  Tất cả đều dùng màu xanh lá mạ, rất hợp với nền vàng….”

 

Trở lại với tập thơ” Mây”  của VHC- đó là 1942, có ghi lại chuyện kể vui vui thế này – anh chị em văn hữu rất sốt ruột đợi thi phẩm ” Mây của VHC ra đời- kể cả một số  văn hữu không mấy thân thiết  với  tá c giả đi nữa – như   “ cặp bài trùng song sinh “Huy Cận và Xuân Diệu “  Có một buổi, gã  Huy Cận và Vũ Hoàng Chương rất tình cờ đụng mặt  nhau ở Cổng Chéo- Hàng Lược.  Chả biết ông Xuân Diệu đề tựa cho  Huy Cận ra sao , tán ma tán mãnh , bi thảm-hóa” nỗi sầu biển lớn, sông dài” bạn  thơ Huy Cận  có nỗi khổ lớn lao  ra sao, thì chỉ một “ Dieu seul le sait”  mà thôi ! (có Trời mới biết!) – còn ngoài đời – chàng kỹ sư nông nghiệp thời Tây nhiều bổng lộc, thì  làm sao Huy Cận có nỗi khổ’ như biển rộng, sông dài” cho được!. Một lần, chàng Huy Cận và Vũ Hoàng Chương tình cờ gặp nhau ở Cổng Chéo (Hàng Lược)  thì cả hai, ai nấy tay bắt mặt mừng. Riêng chàng Huy  Cận lại cười típ mắt,  nổi hứng ngâm   luôn 2 câu thơ:

 

          “ Đã lâu lại gặp Chàng Say :

          “Lửa Thiêng “ xin đốt cho “Mây  “xuống trần.

 

Cứ như  ý diễn từ 2  câu thơ kia , thì “Lửa thiêng / Huy  Cận”  đã chẳng còn giá trị gì, cứ đốt ra tro để chào mừng một thi phẩm tuyệt tác của VHC sắp chào đời vậy.  

 Ngâm xong, thú quá, chàng Huy Cận  lôi xềnh xệc Vũ Hoàng  Chương vào một hiệu phở ở Hàng Đồng, khăng khăng đòi đãi Hoàng một chầu kỳ no mới thôi !( “ Ta đã làm chi đới ta/ Vũ Hoàng  Chương”).

 

 

Bây giờ bàn đến “ thơ  xuân VHC” sau 1954, từ khi chàng “ Say” lên tàu ‘ há mồm”  củaHải quân Hoa Kỳ chở  kìn kìn  gần 1 triệu  di dân vô Nam- từ vỹ tuyến 17 trở ra thuộc  Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa- từ 17 vỹ tuyến  trở vào thuộc quyền  Quốc gia Việt Nam-( theo Hiệp định  Genève 20/7/1954)-  thì thơ xuân VHC  vẫn chỉ  hướng về” mùa xuân dĩ vãng” – khai bút thơ xuân hôm nay  mà chỉ nhắc lại xuân qua.  

Tôi cho trích lại toàn bài “Thơ xuân qua thi ca của vài thi nhân tiền chiến”(  tạp chí” Văn hóa Á châu” ( Saigon 1960, bài của Thế Phong) – trong đó có  bàn đến thơ xuân VHC:

 

 

 

 

 

 

 

“….Tác giả “ Mây” , “ Say”, “ Rừng Phong”, “ Hoa đăng”  vv… thơ vàng son, và kịch thơ “Vân Muội” lại “ ảo huyền”, than thở cùng mây , bay theo gió : “ Em ơi! lửa tắt bình khô rượu / Đời vắng em rồi say với ai !?” hoặc  giải mộng yêu đương cũng chỉ mang sầu, thêm lụy, dầu muốn vượt qua hay từ chối- thỉ chẳng còn  “ neo”  thoát, dù quyết bỏ  phương xa một dặm đường xưa, lối cũ – thì VHC vẫn” yêu một phút để mang  sầu trọn kiếp /  tình mười năm còn lại mấy tờ thư “ mà thôi ! . Thi sĩ đã từng nhìn lại khởi điểm con đường đã đi, trải qua bao năm, tháng, chao ôi, vẫn chỉ là ảo mộng có muốn  trở về ngôi chính vị , chỉ khi nào đã từ bỏ trần giới mà ca lên : “Ta còn để lại gì không ?/ Kìa nón đá lở, này sông cát bồi ! “.

 

Đã có lúc  chán ngán đến đầu đốt tay,  sầu tới đầu lưỡi giai cấp mình- VHC  thử bước sang địa hạt thơ đấu tranh- đi tìm một chân trời mới cho đỡ buồn nản, cũng là cách  ủng hộ đường lối chính trị quốc gia. ( sau này  tác giả được giải thưởng thơ  Tổng thống VNCH, qua  tập” Hoa đăng”)- Những bài thơ viết theo kiểu” Nhớ về Hà Nội vàng son”  ( 1945)  đến “ Hoa đăng” ( sau 1954) , nhưng dễ mấy khi từ bỏ được ngay bản chất,  và thất bại ngay ở đầu sóng  ngọn nước.( “ Xôn xao hành khúc xây đời mới / Trang khúc du dương ngọn quốc kỳ” vẫn là”làm dáng văn chương,  và thật đúng:” Tóc bạc má hồng mê vận hội!” quả  đã muộn màng !

Con đường  dò ,   tìm hiểu khả năng thi phú  tác giả, liệu còn; hoặc đã cạn mà không hay biết ?!  Dẫn chứng đôi câu trong bài  “ Thoát hình”:

 

“…. Kìa mảnh da ngà đang nứt rạn

Cho tròn một kiếp chẳng phân vân

Lòng cây mấy thuở ai người biết ?

Từng khóc từng reo đã mấy lần ?”

 

Tuy vậy vẫn có thể đo được:

 

“Lòng cây mấy thuở ai người biết ?

 

”-  hoặc trong bài “ Công chúa  Paris”:

 

“…Rồi mỗi lần  thu hội ý

Hoa đăng lại vượt Trùng Dương

Tháp lại truyền tin báo hỷ

Cưới nàng công chúa  Tây Phương …”

 

Ba năm trước, thi sĩ còn nhớ: “ bảy màu mây của Tháp Ngà vấn vương”,  hòa đồng biến chuyển đời riêng  với cơn sóng  chính  trị vần vũ: đất nước chia đôi, rời “ kinh đô văn nghệ” , vào miền Nam tìm Tự do :

 

“…Thuyền thơ chở hứng lên cao

  Sóng xuân lại có đêm nào nguyệt hoa

 Bạc trôi từng lớp sao  sa

 Bảy màu mây của Tháp Ngà vấn vương …“

 ( Xuân thanh bình)

 

Thi sĩ còn đủ khả năng tìm Hội để kết”Hoa đăng”? đó là câu hỏi tác gỉa tự đặt cho bản thân từ 3 năm trước :

 

 

 

 “… Thời gain có mỏi cánh chim bằng ?

        Vũ trụ sang mùa tận thế chăng?

        Anh vẫn còn thơ về dâng bút

        Em có còn Hoa đủ kết Hoa đăng ?”

 

                                              ( Tuổi xanh )

 

Thi sĩ còn đủ sức theo một đoàn thám hiểm để mơ  tới đỉnh” Himalaya-Cho-Oyu” –   nhưng thi sĩ đã đạt được ước mộng của mười mấy năm xưa: mơ được viễn du theo người tình  cùng về” Kinh đô Ánh sáng”- thực tế tác giả  mở mắt ra vẩn chỉ thấy  mình – nên  đành ở lại với thực tế :

 

“…Quán rượu liền đêm chuốt đắng cay

     Buồn mưa, trăng lạnh, nắng hoa gầy

     Nắng mưa đã trải tình nhân thế

    Lưu lạc sầu chung một hướng say

 

    Gặp gỡ chừng như chuyện Liêu Trai

    Ra đi chẳng hẹn một ngày mai

    Em ơi ! lửa tắt bình khô rượu

    Đời vắng em rồi say với ai ?

 

 

   Phương Âu mờ mịt lối quê nàng

   Trăng  nước âm thầm vạn dặm tang

   Ghé bến vào đây người hải ngoại

   Chiều sương mặt bể có mơ màng ?

 

  Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không ?

  Mà đáy lòng trắng một mùa đông

  Tương tư đốt thuốc thâu canh đợi

  Thoáng gió trà mi động mấy bông ?[]

 ( Đời vắng em rồi say với ai ?)

 

Mộng Liêu Trai của Bồ Tùng Linh ấp mộng lớn có mục đích” cải tạo xã hội”, kết tinh từ đời sống nguyên hình để thể hiện ước vọng- còn Vũ Hoàng Chương thì” mộng Liêu Trai cá nhân chỉ thấp như ngọn cỏ ,” như vậy sao ? Nhưng   VHC vẫn không nản lòng, nuôi mộng để có ngày toại nguyện, là gặp được giai nhân cùng dệt khúc “ cố nhân kỳ ngộ”:

 

 “…Nàng mang vòng ngọc giai nhân

      Tà áo vòng gai thi sĩ

      Tìm nhau đã mấy trăm lần

       Mới thỏa u hoài vạn kỷ ..” 

 

                                ( Công chúa Paris)

 

 Gọi là” đường thơ mới” của thi sĩ nổi tiếng VHC từ tiền chiến- bởi tôi nhận thấy rằng ít nhất “đường thơ có Công chúa Paris  làm khuây khỏa nhà thơ yêu mến phần nào ẩn ức của bèo giạt bến mê – ít nhất hơn một lần:

 

 

 

 

 

 

 “…Nhổ neo rồi, thuyền ai xin mặc sóng

      Xô về đông hay dạt tới phương Đoài

       Xa mặt đất, giữa vô cùng cao rộng

      Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi !”

     ( Phương xa )

 

Chí tang bồng ấy , đã:

 

   “…Đây người thơ mộng Trang Chu

         Nhẹ cánh tìm mai đỉnh tuyết

         Đưa đường lên ngọn CHO-OYU

        Đã sẵn mùi hương diễm tuyệt !”

 

                                             ( Tuyết hận )

 

Mùa xuân trong đời thơ thi sĩ VHC, hoặc hầu hết các nhà thơ tiền chiến đều tìm nguồn  dĩ vãng. Có nhà thơ nhớ tiếc kỷ niệm quá vãng của mình trong tuổi thanh xuân yêu đương , trẻ trung.  Trường hợp này là VHC.  Tác giả nhớ  lại thuở “Tuổi vàng” hay” Tuổi đá” – một lối gọi “ thời son trẻ”, thời mái đầu xanh có giấc mộng đẹp thuở ban đầu.  Mộng đẹp rồi qua đi theo năm tháng,  bây giờ nhìn lại, dễ mấy ai không luyến tiếc! Chẳng thế mà nhà văn  Pháp nổi danh như Marcel Proust chỉ rặt  tìm dĩ vãng đã mất , qua   tác phẩm coi như tuyệt bút, đó là “ À la recherche du temps perdu” đó sao?  Và ở bên ta là nhà thơ Vũ Hoàng Chương”:

 

TUỔI XANH

 

Trăng dịu từ khi gặp gió lành

Sông lam từ buổi gặp non xanh

Từ hương quen bướm trời quen đất

Em đã yêu rồi, đã của Anh.

 

Thuở ấy tuổi  Vàng hay tuổi Đá ?

Yêu nhau ai tính tuổi bao giờ!

Gối xuân chỉ biết từ nghiêng sóng

Vần điệu trôi dài mãi tuổi thơ.

 

Tuổi dầu Vàng hay  dầu Đá qua

Vàng chưa ai nhạt đá ai nhòa

Trái tim vẫn tuổi Đồng trinh bạch

Thì sắc hương còn vẹn tuổi Hoa

 

Thời gian có mỏi cánh chim bằng?

Vũ trụ sang mùa tận thế chăng ?

Anh vẫn còn thơ về giáng bút

Em còn Hoa đủ kết hoa đăng !

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoa gieo ánh sáng ngập tình yêu

Bút vẽ thành Thơ giấc mộng đầu

Nắng rộng mưa dài thu một nét

Không gian còn lại có bề sâu

 

Lứa đôi tái thế vẫn tương phùng

Nguyên thủy nào đâu khác Cực chung !

Anh muốn dìu Em giờ Hiện tại

Nghe trăng hòa điệu nước lên cung

 

Hòa điệu lên cung trăng nước dậy

Xuyên ngang gió trận dọc mấy thành ?

Tuổi Thơ này với Hoa niên ấy

Muôn  trước ngàn sau thăm thẳm xanh[].

V.H.C.

 

Một bài thơ nữa của VHC. – tôi là đọc giả rất yêu mến  thơ ông-  đó là bài” Nguyện cầu”.

(trong tập thơ” Rừng Phong” ( 1954) – bây giờ ai sẽ là người đọc lại , sau  biến  cố 30/4/1975 – Có thể  cho chính  Vũ Hoàng Chương  chăng? Giả thiết chính tác giả nghe lại , hẳn là  ông  sẽ thấm thía” nỗi- đau -nhục”biết chừng nào ?! Với tôi, đây là một bài thơ tuyệt tác của Vũ Hoàng Chương:

 

NGUYỆN CẦU

 

Ta còn để lại gì không ? 

 Kìa non đá lở, này sông cát bồi

Lang thang  từ độ luân hồi

U minh nẻo trước xa xôi dặm về 

 Trông ra Bến Hoặc Bờ Mê

 Ngàn thu nửa chớp bốn bề một phương 

 Ta van cát bụi trên đường

Dù dơ dù sạch đừng vương gót này 

 Để ta tròn một kiếp say

 Cao xanh liều một cánh tay níu trời

 Thơ ta chẳng viết cho đời 

 Không vang nhịp khóc giây cười nào đâu ?

Tám hương đốt nén linh sầu 

 Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi 

Đêm nào ta trở về Ngôi

Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian !

 Một phen đã nín cung đàn

Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh  âm ! []

 

 

V.H.C.

 

 

 

 

 

Sau biến cố 30/4/ 1975, V.H.C và vợ sống trong một phòng ở 326 Nguyễn  Trọng Tuyển, quận Tân Bình, tp. HCM, do  nữ sĩ  Mộng  Tuyết cho  ở nhờ. Chẳng là trước đó, VHC được Giải thưởng thơ Quốc gia do Tổng thống Diệm trao tặng,  vợ chồng nhà thơ dự định mua căn nhà nhỏ- thì Mộng  Tuyết mời về ở cho tới  ngày 30 tháng 4, 1975- VNCH không còn tên trên bản đồ-  văn nghệ sĩ tiền chiến ngoài Hà Nội vào Nam,  với tư thế kẻ thắng trận, đầu hất ngược, mắt hếch, nhìn văn nghệ sĩ” Ngụy” miền Nam” bằng nửa con ngươi “- thì VHC  là “ thi sĩ tiền chiến di cư vào Nam  chống Cộng điên cuồng, lại được giải thưởng thơ “  Tổng thống Ngô Đình Diệm, thời Đệ I Cộng hòa “- bị ghi  vào “ sổ đen phe đối nghịch ”.

 

 Nữ sĩ Mộng Tuyết  – dù  với tư cách “ “vợ hờ ” Đông Hồ – mời  các nhà thơ VNDCCH tiếp quản miền Nam  (Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận… thì phải ? vv..) đến dự tiệc, hẳn rằng sự có mặt vợ chồng thi sĩ VHC sẽ làm mất ngon bữa tiệc, còn là  một  chướng ngại vật, khó coi , dầu   bà chủ Mộng Tuyết  không thể đuổi ngay VHC  đi cho khuất mắt. Nên, bà chủ Mộng Tuyết bèn lấy   một mảnh giấy nhỏ, viết hàng chũ” CẤM KHÔNG ĐƯỢC LÊN LẦU “  dán ở cầu thang ( phía dưới nơi trú ngụ của VHC) bởi ở lầu 1,  nơi bữa  đại tiệc đang  diễn ra, tiếp đón các nhà văn miền Bắc” thắng trận”. Hình như  tôi viết ở đâu đó câu chuyện này ,  và đã in  trong một cuốn sách đã xuất bản, khiến   tác giả”Nàng Ái cơ trong chậu úp” bất bình . Sau k hi tôi cho xuất bản” T.T.Kh., Nàng là ai?”, bà ta có cơ hội trả lời phỏng vấn báo Thanh Niên,và mạt sát tôi thậm tệ- kể cả một cô bé đàn em của bà trong nhóm Quỳnh Dao  – đó là nữ sĩ Cao Mỵ Nhân  về  “hùa’ viết bài đòi “ trảm” nhà văn cao bồi T.P .-“,tác thiệt” T.T.KH, Nàng là ai?” trên  báo  Saigon Times ( Thái Tú Hạp chủ nhiệm ) . Tôi được biết  tin  này,  từ phóng viên văn học Trần Nhật Th u-  báo “Văn nghệ  tp. HCM” báo lại.

 

 Tiếp theo, tướng tá, sĩ quan ,  cùng  công chức cao cấp chính quyền VNCH  bị đưa đi  tập trung cải tạo dài hạn –    các trại xa Saigon – thì  VHC”  được  đưa  vào Khám  Chí Hòa ,cải tạo dài hạn tại chỗ.   Vì phạm nhân thiếu thuốc phiện,  lâm bệnh, đau ốm quặt quẹo, tựa hồn ma  thoi thóp sống vật vờ, nên ông  được trả tự do rất sớm –  về nhà được   một thời gian ngắn   qua đời năm 1976.

 

 Năm 1999,  Nxb Đồng Nai cấp phép “ Chiêu niệm 4 nhà văn Sài Gòn” : đề cập  Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Tam Lang và Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc” – tại “ Chương I” Vũ Hoàng Chương ( 1915-1976), tôi viết:

 

”…Một trong 12 bài thơ di cảo của Vũ Hoàng  Chương “thâu thập được từ Hoàng  Tấn ( tác giả” Nguyễn Bính, một vì sao sáng”- Nxb Đồng Nai 1999 )cho chép lại.  Cũng theo Hoàng Tấn, tác giả V.H.C làm bài thơ này còn có ý ngầm để tặng  Quách Thị Hồ, người hát ca trù hay nhất Việtnam ( danh hiệu NSND ),  xưa từng là bạn cố tri VHC.

 ( tr. 13-16, sách đã dẫn).

 

 

             CHÚNG TA MẤT HẾT CHỈ CÒN NHAU

 

 

            Sáng chưa tối hẳn tối chưa đành

            Gà lợn om sòm một bức tranh

            Nhạc đã có tai thơ có họa

           Biết chăng ai đó mắt ai xanh ?

 

 

 

           Dấu hỏi xoay quanh một cuộc đời

           Sên bò trong óc máu thắm rơi

           Chiều nay một dấu than buông lửng

           Đanh đóng vào xăng tiếng trẳm lời

          

 

          Chúng ta mất hết cả rồi sao ?

          Cả đến âm thanh một thuở nào

          Da trống tơ đàn ôi trúc phách

          Đều khô  như khúc hát gầy hao (?)

 

         Đàn mang trơ đáy mà không đáy

         Mất hết rồi sao sợi nhớ thương

        Tay phách từ lâu nay lạc phách

        Không còn đựng mãi bến Tầm Dương

 

        Hơi ca nóng đã tan thành tuyết

        Để tiếp vào cho nó đỡ xanh

       Bạc mệnh hỡi ai hoàn mệnh bạc

       Đâu còn ấm nữa rượu tàn canh ?

       

       Hay là đêm ấy Ngưu lìa Chúc

       Xé nát mình ra hoen mắt ai?

       Còn có gì đâu cho mắt trống

       Đập lên hoang vắng đến ghê người !

 

       Âm thanh mất hết còn chi đâu ?

       Gắng gượng cho thêm hồn nhọc đau

       Ba kiếp long đong ngồi chụm lại

       Chúng ta mất hết chỉ còn nhau.

 

                                      Sài  Gòn sau 1975.

                                         V.H.C.

 

 Sau khi sách phát hành, tôi nhận được một bài báo từ Sacramento ( thủ phủ California) gửi về-  do Hoàng  Hương Trang viết, đả kích  người viết sách thậm tệ. Nào là,  người viết không chịu đi sưu tập tài liệu, nhà ở quận I  có xa gì, sao không tới Nhà Làng ( ngã ba  Nguyễn Văn Lạc + Xô  Viết Nghệ Tĩnh ) phường 19 ,  quận  Bình  Thạnh) để gặp vợ V.H.C là Thục Oanh lấy tài liệu có phải chính xác hơn là chép lại từ ” một HồTăng Ấn Việt Cộng thì biết’  mô, tê “gỉ?” (Hồ Tăng Ấn là bút danh Hoàng Tấn – TP chú thích ).

 

 Lối viết” thô bạo” H.H. Trang đã  nổi danh trước 1975 rồi ,  xem ra sự đanh đá chẳng kém gì   “bà chằng Bắc kỳ,  cũng   tung váy,  vỗ đồm độp trung điểm ” số ta” ,  há miệng quác mồm , chửi dổn dập vang khắp ba làng,  bốn tổng, bẩy huyện,  đứa nào  đã cả gan  bắt trộm gà bà..”- y  hệt cuộc tranh luận,” phê bình” văn chương, báo chí ” của  H.H. Trang đối   địch bè   lũ gia nô T.T. Diệm , cụ thể  như  Phạm Việt Tuyền  , chủ nhiệm nhật báo” Tự Do” ,  và H.H. Trang  hung hăng, lồng lộn  đòi “  dùng quần đàn  bà đẻ   chụp vào mặt linh mục – nhà văn biên khảo  Thanh Lãng”.

 Tuy vậy,  tôi vẫn chấp nhận được cách phản kháng của H.H. Trang , bởi lẽ một số nhà báo, nhà  văn, thơ ,  nhà biên khảo vv… thường  cậy mình” đạo  Thiên chúa giáo “ nương cậy, làm càn;   lại mong được chính phủ  Ngô ĐìnhDiệm ( Công giáo)  nâng đỡ  , yểm trợ tối đa .!

 

 

 

Sau đó, tôi lại được  đọc một bài báo khá dài,  đăng trên tập san “T iếng vang”  ( cũng từ Sacto gửi về)   tác giả là  Đinh  Nhật Thịnh, anh  ta lên án tôi viết về VHC, nhất là trích dẫn bài thơ  VHC sáng tác sau 1975 là  sai lạc hoàn toàn, như H.H.  vạch ra.    nếu anh ta  chỉ  dựa vào  tư liệu  duy nhất của H.H. Trang thôi-  thì hẳn  phiến diện là  điều khó tránh – và  bài báo   sẽ chẳng  còn gì   giá trị.! ( xem ở  cuối bài – mục “ Đính chính”).

 

Riêng H.H. Trang,  lại  viết bài  thứ hai tiếp theo  lên án “Thế Phong vô hạnh, ngủ với” đàn bà  đàn chị”  để có“ cơm no bò cưỡi “ –   sau  được Cao Mỵ Nhân tin là “ sự   thật Panurge” – nữ sĩ bèn khai thác rỉ sắt  từ “ chiếc kiếm bẩn H. Hương  Trang “ –   để   viết “ Bão trong tách nước” – hòng “chọc tiết  Thế Phong “ một lần nữa . ( *):

—-

(…).. sau đó, tôi ( Cao Mỵ Nhân ) thấy tờ báo của hội văn nghệ sĩ Viêt Mỹ ở Sacramento đăng 2 bài liên tiếp: một của thi sĩ Hoàng Hương Trang mạt sát Thế Phong là nhà văn vô hạnh, một của nhà văn trẻ sau này ở hải ngoại, Nhật Nguyệt, đã nêu những điều phản phé của Thế Phong, vì 2 lý do mâu thuẫn: ông ta nghĩ thế nào ,khi cứ mà ca tụng cố nhân vừa tôn sùng vợ, là điều không thể chấp nhận được, với người đàn ông tự mãn, cho là hay ho hơn ai..(…)

 Kể lại sự việc Thế Phong đã dựng nên một câu chuyện có tính cách thương mại hơn là văn chương sưu tập.” Vụ án văn chương 57 năm mới kết thúc, T.T.Kh. là ai?”.

Cùng với tên văn sĩ Bắc Việt Trần Nhật Thu, Thế Phong đề tên tác giả tập bài báo trên là Thế Nhật, tức Thế Phong và Trần Nhật Thu cách đây 15 năm làm xôn xao dư luận trong và ngoài nước.  Khiến năm đó, 1995, tôi với tình cảm em út trong đại gia đình Quỳnh Dao, một hội thơ danh tiếng ở Saigon xưa, phải viết bài bênh vực T.T.Kh. hậu chiến vì nhân vật trong tập vụ án văn chương nêu trên, là một bậc nữ lưu, tài tử vượt bực, và cũng là trang quốc sắc ở Thanh hóa ta xưa.  Bà còn là phu nhân tiết hạnh của vị luật sư Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng thời  đệ I Cộng hòa (…….) Với bản tánh Thế Phong háo thắng, nghiệt ngã như vậy, thì trong giới văn nghệ, báo chí đã mặc nhiên, bởi ông ta có hay, hay không hay,( hoặc)  không đúng( đi nữa) ;, thì ông ta ( vẫn phải ) chịu trách nhiệm với dư luận.

 Đằng này, căn cứ vào bài ký giả Thanh Hải (nguyên nữ phóng viên văn học  báo Pháp Luật tp. HCM – TP chú thích )- ( có) một nhà thơ cũng nghĩ quàng, tung lên “Phố Mưa “, cái tin  tác giả “ Chốn Bụi Hồng” : mỗi năm mỗi về VN để rủ Thế Phong đi chơi, làm vợ Thế Phong đau khổ quá !

(…) Có thể là người tung tin trên , căn cứ vào bài phỏng vấn nhà văn Thế Phong của ký giả Thanh Hải báo” Pháp Luật” cách đây 3 năm, để tự khoe cái tài mẫn tiệp của mình; nhưng nghĩ cho cùng, vẫn là cái lối của nhà văn hoang tưởng Thế Phong; mà lâu nay tôi vẫn tự nhủ là một cái Bướu trong cuộc đời viết lách của tôi, không mạnh tay cắt bỏ, như qui vị cắt bỏ một nốt ruồi, một cục chai ở bàn tay cầm bút.

 Từ sau cuộc đổi đời 30-4-1975, tôi hoàn toàn vô sản, có lúc phải chạy gạo hàng ngày, ở VN cũng như ở hải ngoại này, tiền đâu mà mỗi năm về VN để gặp Thế Phong một lần, và Thế Phong cũng vậy,  ông ta và gia đình ông sống thế nào, tôi cũng chẳng quan tâm. (….)

Vị hòa thượng  mỉm cười 🙁  người mà CMN  xin gặp – để  tư vấn cho tác giả CMN có sự quân bình trạng thái tâm hồn, sau lần nữ sĩ  bị hoảng loạn, và giao động cùng cực, vì những hỉ, nộ, ái ố…-TP chú thích )

          Cô cứ an tâm  (…) và như Tây Phương khẳng định;” đó chỉ là trận bão trong tách nước trà !” )

CAO MỴ NHÂN

 

( trích lại  từ : <Google / search /  nhà văn thế phong >

 ( Translate this page).

 SG 1 …Cả nước xưa, trước 1975, đã biết Thế Phong là nhà văn cao bồi.. Cách đây 3 năm tôi đã đọc loạt bài phỏng vấn nhà văn Thế Phong từ phụ bản tờ báo Pháp…..)

 

 Câu chuyện Hoàng Hương Trang mạt sát  Thế Phong có  thật vậy không? một  người hỏi.

– Không, chỉ  là chuyện”  phịa” – ,cô ta ưa vểnh tai trâu ,” nghe hơi nồi trõ, nghe mõ sư ông ” ra cái điều biết nhiều, lại  biết cả cái không biết-  mục đích hạ đo ván đối thủ, bất chấp  phương tiện tốt , xấu, bối cảnh đúng, hay không đúng ?

 

 Sở dĩ nói vậy, vì  tôi có thể kể cho cô ta nghe một chuyện sắp kể ra đây, chuyện thực ” cơm no bò cưỡi” – của tôi vào năm  1957 –  lại chưa hề viết ra – chỉ vì tôi không dám thò mặt về nhà trọ (ở xóm đạo, nằm phía sau Nhà thờ Bắc Hà trên đường Lý Thái Tổ- –    nơi này họa sĩ Đinh Cường   đã từng leo lên căn  gác gỗ để  giúp tôi  đóng sách “ Lược sử văn nghệ Việtnam- Nhà văn hậu chiến 1950-1956,  sách  in rô nê  ô)  .Giờ này, tôi   vẫn còn lang thang, đạp xe trên phố , đầu óc rối tung, nghĩ xem nhà thằng bạn nào  quen, để xin ngủ nhờ. Tôi nhớ đã ngủ 3 đêm liền    gác nhà bạn Hưng, em ruột  luật  sư Thống –  gần cây xăng Ngã 3 Nguyễn Thiện  Thuật-  Saigon 3 – mà  lại tới xin ngủ nhờ đêm thứ tư thì” chuế” quá! Tôi như ngỏ lời với  bạn đường,  chiếc xe đạp cọc cạch  đang cùng tôi  lang thang trong đêm,  nghĩ xem có cách gì qua đêm  ? Chủ  và tớ kẽo kẹt hết đường này sang đường kia, vòng qua Lý Thái Tổ, phố này  còn đèn sáng từ  quán cà phê hắt ra.  .  Bỗng nhìn  thấy  một quán  cà phê nhỏ  đó, rất  vắng khách, nằm  cùng dẩy, gần Phòng khám mạch của  bác sĩ  N.Tuấn Phát. Ghếch xe đạp bên đường, vào quán, gọi ly đen nhỏ.  Chính cô chủ quán bưng ra, trò chuyện vui vẻ :

-“ đi một mình, không có bạn sao? “

-Lắc đầu.

 Vắng khách, cô ngồi  xuống ghế bên cạnh hỏi han.

  Trời đã khuya, ngồi lâu, uống cạn,  tôi đành gọi trả tiền,  nhưng  như vẫn vẫn còn  muốn ngồi nán lại.

 Thấy  vẻ mặt  khách buồn buồn,  kiệm lời bắt chuyện, cô bảo :

-“có chuyện buồn thì nói ra  cho vợi !”.

Tôi” tả oán”:

          đêm nay không biết ngủ ở đâu, giá hàng hiên  phòng mạch bác sĩ Phát  rộng rãi,  thì ngủ nhờ sẽ tốt biết mấy? 

, và sau đành khai thật- không dám về nhà trọ, vì thiếu tiền nhà.

-” chuyện ấy là  thường tình, đêm nay hãy cứ   ngủ cho ngon, mai dậy tìm cách trả tiền thuê nhà  xong, là được chứ gỉ?, cô chủ an ủi.

 Thấy nét mặt khách vẫn  buồn so , lại kiệm lời, cô  bắt chuyện:

          vậy không thể về nhà trọ ngủ đêm nay, thật vậy  sao ?

                       “ Tôi lắc đầu  , buột miệng:

”- giá hàng hiên phòng mạch bác sĩ rộng, thì ngủ đại một đêm rối mai tính “.

-.” Không ngủ được đâu,  cảnh sát đi tuần đêm giờ giới nghiêm, sẽ bị  hốt lên xe cây đấy ?.

– Vậy phải làm sao thì chính tôi cũng không biết nữa ? Giá mà có một chỗ ngủ nhờ , chỉ mấy tiếng đồng hồ nữa là hết giờ giới nghiêm rồi ?”

– Thế có người cho ngủ nhờ đêm nay, thì  sao? ”

– Cô chủ ơi, cô nói thật hay đùa vậy ?

 Bỗng nhiên cô ra lời trước:

– tôi  bằng lòng cho ngủ nhờ, liệu  khách  có đồng ý không , nếu đồng ý,  thì  phải chịu một điều kiện .?

-vậy  đó là điều kiện gì, cô chủ ?

  điều kiện nho nhỏ thôi,   nghĩa là anh  phải chờ….…

   ….. chờ  quán đóng cửa  sau 11 giờ  đêm

……….được không ông khách?

 

Tôi còn nói gì được bằng lời nữa, chỉ còn biết cảm ơn ân nhân,  vội vã   gật đầu- vì  cô chủ quán  có lòng nhân từ thương xót tôi …

– kẻ tội đồ  kẻ khốn cùng trong đêm khuya vắng  !

 

 Khi người khách cuối cùng ra về, cô chủ đưa chiếu, chiếc chăn mỏng , hai cái gối, bảo tôi hãy,  trải chiếu trên sàn nhà   và chỉ cách buông mùng.

Tôi làm xong, cô chủ chỉ tôi hãy nằm xuống đó mà ngủ. .

Tôi thực hiện đúng lời cô chủ,  đầu tôi đặt trên  2 gối  chồng, nằm nghiêng. Giấc ngủ tới sớm khiến  tôi  thiu thỉu  lúc nào không hay ,

  cả không biết đèn tắt từ lúc nào ? !

 Bỗng nhiên,

có người giằng một chiếc gối ra khỏi đầu tôi,

 tiếng động nhẹ làm tôi thức giấc.

  Tôi mở mắt.

          và lại không  thể ngờ-

                       cô chủ  cột lại  mái tóc dài  rồi nằm cạnh.

 

 Cảm ơn Thượng đế  quá chừng chừng ! –   mặc dù   khi ấy, tôi  đâu đã là tín hữu đấng Christ !

 

Cô có dáng người  dỏng  cao, dài cẳng ,bây giờ gọi ”  người  nữ chân dài” , rất tử tế đối xử với  tôi- hệt Natacha , nhân vật nữ trong một truyện viết về mùa thu của Maxime Gorki.  Tôi vẫn thầm đội ơn cô chủ quán cà phê ấy, đến nay , tính ra đã trên 50 năm và không bao giờ còn gặp lại , dầu chỉ một lần!  Hệt Gorki ân hận suốt đời, vì   ông ta  cũng không một lần gặp lại  nữ ân nhân Natacha !

 

   Có một lần, nhà thơ Ý Nhi, Trưởng Chi nhánh Nxb Hội Nhà văn  tại  Phía Nam, nhờ tôi chở đến nhà bà  Thục Oanh , để  trả bản quyền” Ta đã làm chi đời ta” của Vũ Hoàng Chương mà Ý Nhi in –  sẵn dịp, tôi  bèn phỏng vấn  bà Thục Oanh về bài thơ “ Chúng  ta mất hết cả rồi sao?” của chồng bà.  Bà đồng ý ngay, đọc cho chép câu sai .(  xem bài  đính chính.)  Rồi tôi in  thêm  tờ rơi ,  lồng vào sách” Chiêu niệm 4 nhà văn Sài Gòn” trước khi đưa phát hành.

 

                                         ĐÍNH CHÍNH

 

Trong sách “ Chiêu niệm  bốn nhà văn Sài Gòn” có một số chữ sai, ở bài” Một trong 12 bài di cảo của Vũ Hoàng Chương ( tr. 17) đã được ĐinhThị Thục Oanh ( vợ VHC ) đính chính vào ngày 17 tháng 7 năm 1999.  Buổi ấy, tôi cùng nhà thơ nữ Ý Nhi đem sách tặng và thăm vợ nhà thơ quá cố Vũ Hoàng Chương. Chữ in đậm là đúng nguyên tác của  tác giả.

 

 

 

           Sáng chưa sáng hẳn tối chưa đành

           Gà lợn om sòm cả bức tranh

           Rằng vách có tai thơ có họa

           Biết lòng ai đỏ mắt ai xanh

 

 

 

 

           Dấu hỏi xoay quanh trọn kiếp người

           Sên bò nát óc máu thắm rơi

           Chiều nay một dấu than buông dứt

           Đanh đóng vào xăng tiếng trả lời

 

          Chúng ta mất hết cả rồi sao ?

          Cả đến âm thanh một thuở nào !

          Da trống tơ đàn ôi trúc phách

          Đều khổ như khúc hát gầy hao

 

         Đàn mang tiếng đáy mà không đáy

         Mất hết rồi sao sợi nhớ thương

         Tay phách từ lâu nay  lạc phách

         Không còn đựng mãi bến Tầm Dương.

 

        VŨ HOÀNG CHƯƠNG.

 

( trích “ Chiêu niệm 4 nhà văn Sài Gòn”/ Thế Phong, Nxb Đồng Nai 1999- bài viết này có sửa lại.).

 

TỪ ÐẠI LỘ KINH HOÀNG ÐẾN CHIẾN THẮNG QUẢNG TRỊ

QUẢNG TRỊ TỪ ÐẠI LỘ KINH HOÀNG ÐẾN CHIẾN THẮNG QUẢNG TRỊ                                                                                                                                                 – Giao Chỉ – San Jose –                                                                                                                                                                   Tối hôm nay, tôi ngồi trên lầu 2 của văn phòng Viện Bảo Tàng Việt Nam tại San Jose. Trời đã về khuya, giữa công viên Kelly Park hết sức vắng lặng, tôi…

Details

TÀI LIỆU QUAN TRỌNG- BIẾN CỐ 1-11-1963 (Cựu Tổng Truởng VNCH Tôn Thất Thiện).

trích trong
"KỶ NIỆM 100 NĂM (1901-2001)
CHÍ SĨ NGÔ ĐÌNH DIỆM

Một tài liệu căn bản tối quan trọng soi sáng vụ Phật Giáo 1963:

PHÚC TRÌNH CỦA PHÁI BỘ LIÊN HIỆP QUỐC
ĐIỀU TRA VỀ VẤN ĐỀ
VI PHẠM NHÂN QUYỀN Ở NAM VIỆT NAM NĂM 1963

 

Thâu tập vào dịp Lễ Tưởng Niệm
Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm
(1901 – 2001)

Người thâu tập và trích dịch:
Tôn Thất Thiện

 Phần I:

Đại Sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge vận động Quốc Hội Hoa Kỳ lên án Chính Phủ Ngô Đình Diệm và ém nhẹm phúc trình của Liên Hiệp quốc

1 – Lodge vận động Quốc Hội Hoa Kỳ lên án ông Diệm

(trích trong The Year of the Hare [America in Vietnam, January 25, 1963 – February 15, 1964] của Francis X. Winters do The University of Georgia Press, Athens and London, xuất bản nam 1997).

Trong buổi hội kiến với Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngày 26 tháng 8, 1963 "Lodge nói rằng, theo hiến pháp, Quốc Hội Hoa Kỳ nắm quyền chi tiêu" về ngoại giao… Lodge muốn ám chỉ rằng Quốc Hội đòi Saigon phải cải tổ nếu muốn được tiếp tục nhận viện trợ. Thật ra, thì trong Quốc Hội Hoa Kỳ không có sự đòi hỏi đó. Cho nên, chính Lodge phải đích thân khuậy sao cho có sự đòi hỏi đó. Ông ta bèn hỏi Rusk có cách nào khuấy động để Ủy Bang Ngoại Giao của Hạ Viện đưa ra một sự đe dọa như thế không. Bundy và Hilsman thích dùng Thượng Viện làm nơi chính để chống ông Diệm hơn. Họ biết rằng Thượng Nghị Sĩ Frank Church không ưa ông Diêm. Do đó, họ cùng ông này thảo Quyết Nghị tháng 9 lên án ông Diệm "đối xử tàn bạo về tôn giáo. (tr.62)

2.- Lodge, Hilsman, McGeorge Bundy và Church toa rập vu khống ông Diệm

(Trích trong Lodge in Vietnam [A Patriot Abroad] của Anne E. Blair do Yale University Press, New Haven and London xuất bản năm 1995).

"ông Lodge là người nhiều kinh nghiệm về việc vận động Thượng Viện thông qua các dự luật. Do đó, ông hỏi Rusk có thể vận động Ủy Ban Ngoại Giao của Hạ Viện cắt đứt viện trợ cho Chính Phủ Việt Nam không. Ông ta giải thích rằng đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn bị bó tay, nhưng nếu vận động Hạ Viện được như vậy thì viện trợ sẽ tái cấp nếu ông Diệm chịu cải tổ. Hilsman và Mcgeorge làm việc với Thượng Nghị Sĩ Church, người cùng quan điểm với họ, để thảo một quyết nghị thích hợp cho Thượng Viện thông qua. Trong bài diễn văn đưa bản quyết nghị ra trước Thượng Viện vào tháng 9, õng Church nhấn mạnh rằng động lực thúc đẩy ông là "đối xử tàn bạo về tôn giáo". (p. 55)

Ghi chú: Nếu Bản Phúc Trình của Phái Bộ Điều Tra Liên Hiệp Quốc không bị ém nhẹm và được đưa ra trình Liên Hiệp Quốc và dư luận quốc tế, rõ ràng quyết nghị trên đây là một sự vu khống trắng trợn.

3. Lodge và New York Times vu khống Chính Phủ Việt Nam về vụ phái bộ Liên Hiệp Quốc đến Việt Nam điều tra.

(Trích trong A Death in November (America in Vietnam) của Ellen J. Hammer do E.P. Dutton, New York xuất bản năm 198?)

Ngày 24 tháng 10, 1963, một phái bộ của Liên Hiệp Quốc đến Sài Gòn để điều tra về vụ Phật Giáo.

Chính Phủ Việt Nam chưa có hành động gì cả, nhưng Lodge báo cáo với Kennedy như sau:

"Những người Việt có học thức hân hoan chờ đợi Phái Bộ, đồng thời phần đông tín rằng Chính phủ Việt Nam sẽ không để cho Phái Bộ được tự do hành sự’ (p 252)

Bộ Ngoại Giao Mỹ và báo New York Times phụ hoạ Lodge:

"Người Mỹ lúc đầu cho rằng Bà Nhu sẽ là đại diện của chế độ Sài Gòn, và Bà ấy sẽ dùng ngôn ngữ thóa mạ và làm cho dư luận Hoa Kỳ chống đối mà thôi. Nhưng người Mỹ lại được nghe Bà em dâu ông Diệm nói rằng chính phủ Bà hoan nghênh đón tiếp một phái bộ điều tra ùa sẽ chấp nhận những phát hiện của họ. Báo New York Times nói đây chỉ là một mánh khoé của Bà Nhu. Bà dùng mánh khoé này chỉ vì Bà ấy biết rằng sự đề cử một phái bộ điều tra như thế sẽ bị Đại Hội Liên Hiệp Quốc bác bỏ. Đại sứ Lodge đánh điện cho Washington nói rằng theo quan điểm của Toà Đại sứ Chính Phủ Sài Gòn "sẽ chống cự kịch liệt quyết nghị đề nghị cử một đại diện hay một phái bộ Liên Hiệp Quốc đến tận nơi để cứu xét về những vi phạm nhân quyền ở Việt Nam ". (tr. 253) Ghi chú: Trên đây là những hành động lừa gạt dư luận và Chính Phủ Hoa Kỳ của những cơ quan và cá nhân có sứ mạng đưa tin tức chính xác để dân Hoa Kỳ có thể lấy những quyết định đúng và phù hợp với quyền lợi của quốc gia họ. Đấy là những hành động đưa đến sự hy sinh của 58.000 binh sĩ Mỹ trong những năm tới.

Ngày 7 tháng 10, Đại Hội Liên Hiệp Quốc quyết định hoãn cuộc bàn cải về bản thảo quyết nghị kết án Chính Phủ Việt Nam và cử một phái bộ đi Việt Nam điều tra. Nghe tin này,

"Ở Sài Gòn Đại sứ Lodge không hiểu tại sao Phái đoàn Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc lại muốn tránh một cuộc bàn cãi tại Dại Hội và một quyết nghị lên án Chính Phủ Diệm. Ông ta điện cho Washington: Tôi nghĩ rằng sẽ có rất nhiều lo ngại về khả năng bản phúc trình [của Phái Bộ Liên Hiệp Quốc] sẽ thuận lợi cho Chính Phủ Việt Nam". (tr.258)

"Bửu Hội [Đặc sứ của Chính Phủ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc đã cam đoan với Ngoại Trưởng Rusk là sự mời Liên Hiệp Quốc cử một phái bộ đến Việt Nam không phải là một kế trì hoãn, và phái bộ sẽ được tự do đi bất kỳ nơi nào ờ Việt Nam và gặp bất kỳ ai họ muốn. Nhưng Lodge lại cho rằng phái bộ sẽ ngây thơ nếu họ tin như vậy; theo ông ta Chính Phủ Việt Nam sẽ không khi nào để cho họ thâu được những tin tức bất lợi cho Chính Phủ đó. Ông ta điện cho Kennedy rằng lãnh tụ sinh viên đang bị bắt, và tất cả bằng chứng cho thấy rằng Chính Phủ Việt Nam đang đe dọa đối phương để khép miệng những nhân chứng chống đối và ngăn cản không cho họ đến gặp phái bộ, và phái bộ sẽ được đi một vòng du lịch theo kiểu Cooks " (tr. 259)

4.- Lodge vận động Liên Hiệp Quốc đừng bàn về bản phúc trình của phái bộ Liên Hiệp Quốc điều tra vụ chính phủ Ngô Đình Diệm bị tố cáo vi phạm nhân quyền vì nhận thấy kết quả bất lợi.

(Trích trong Lodge in Vietnam [A Patriot Abroad] của Anne E. Blair do Yale University Press, New Haven and Lon on xuất bản năm 1995).

"Sau cuộc đảo chánh Lodge yên lặng vận động để Bản Phúc Trình của Phái Bộ Điều Tra của Liên Hiệp Quốc đã viếng Việt Nam vào tháng 10 và tháng 11 để điều tra về những sự than phiền của Phật Giáo về nhân quyền bị vi phạm khỏi được đưa ra bàn cãi ở Đại Hội Liên Hiệp Quốc. Viên chức Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc đã cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ biết rằng sự công khai hoá những điều mà Phái Bộ Liên hiệp Quốc phát hiện được sẽ gây lúng túng cho chế độ mới ớ Sài Gòn gồm những người đã phục vụ dưới ông Diệm. Thêm nữa, một cuộc bàn cãi công khai có thể cho thấy rằng chế độ mới này cũng chẳng kém độc tài hơn chế độ cũ và cho Hà Nội và Bắc Kinh thêm một dịp để tố cáo Chính Phủ Hoa Kỳ đã dính líu vào cuộc đảo chính. Lodge am hiểu sự khác biệt về ảnh hưởng của những tố cáo trước một diễn đàn quốc tế, sẽ được báo chí quốc tế quảng cáo rầm rộ, và những bằng chứng cục bộ trong một tờ trình viết được ít người đọc. Nhân một dịp viếng Washington vào tháng 12, ông ta thẳng thừng yêu cầu ông Senerat Gunewardene, đại sứ Ceylon, người dẫn đầu nhóm Liên Hiệp Quốc đã thâu tập dữ kiện về vụ Phật Giáo, đừng có đòi một sự bàn cãi về những gì ông ta đã phát hiện được. Gunewardene nhận làm như Lodge yêu cầu để làm vừa lòng một người bạn lâu năm, vào thời ông Lodge làm đại sứ đại diện Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc. Như nhiều người khác đã có dịp giao dịch với Lodge, Gunewarđene đã bị Lodge quyến rũ và coi ông này như là một người bạn" (tr. 77-78) ‘ .

Bà Blair đã ghi rằng những điều trên đây là do con gái của ông Gunewardene tiết lộ trong một bức thư gởi cho bà ta vào tháng 11, năm 1988, nghĩa là 26 năm sau, vụ toa rập ém nhẹm sự thật này mới được đưa ra ánh sáng. (Xem trích dẫn: Blair, tr.178).

Nhấn chuột vào dưới đây đọc tiếp

Phần II Phúc trình của phái bộ Liên Hiệp Quốc thâu tập dữ kiện về vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam.

Tổng thống Nga Medvedev tuyên bố tại Washington: Stalin là tên giết người

Tổng thống Nga Medvedev tuyên bố tại Washington: Stalin là tên giết người

Tháng Tư 17, 2010

Hãng Thông tấn PAP – Lê Diễn Đức dịch
“Các sĩ quan Ba Lan bị sát hại ở Katyn năm 1940, đã bị giết theo lệnh của chính quyền Liên Xô, trong đó có Joseph Stalin” – Tổng thống Nga Dmitry Medvedev cho biết trong một cuộc phỏng vấn của đài truyền hình tiếng Anh, “Russia Today“. Các nhà sử học Ba Lan và các chính trị gia xem tuyên bố này như là một bước tiến tới sự thật về sự kiện cách đây 70 năm.
Cuộc phỏng vấn được ghi âm trong phòng thu của đài truyền hình “Russia Today” tại Washington, nơi Tổng thống Nga Medvedev tham dự Hội nghị thượng đỉnh về an toàn hạt nhân và nội dung của nó cũng đã được đăng trên trang Web của Kremlin.
Stalin – Tên giết người
– “Nếu nói về Stalin và những người làm việc theo chỉ đạo của ông ta, tức là những người lãnh đạo của Liên Xô bấy giờ, thì họ đã thực hiện tội ác giết người. Điều này dễ hiểu và rõ ràng cho tất cả. Họ đã gây tội ác chống lại chính nhân dân của mình trước hết, và trong phạm trù nào đó đối với lịch sử” – Medvedev nói.
Tổng thống Medvedev không đồng ý với ý kiến cho rằng, ở Nga đang có một sự phục hưng chủ nghĩa Stalin. Ngoài ra ông phản đối sự so sánh nước Nga với Liên Xô. – “Có những người thích Stalin và mọi thứ liên đới với ông ta. Thượng đế sẽ phán xét họ. Nhưng trong xã hội trong sự đánh giá Stalin và khoảng thời gian đó, không có sự thay đổi nào được thực hiện” – Tổng thống Nga nhận định.
– “Nga không phải là Liên Xô và đứng đầu nhà nước Nga là những người mà tôi hy vọng, khác hẳn với Stalin và cộng sự của ông ta” – Medvedev nhấn mạnh..
Thảm kịch cho trật tự thế giới
Tổng thống Nga lại một lần nữa tuyên bố rằng, bi kịch tại sân bay Smolensk là “một thảm kịch nghiêm trọng với dân tộc Ba Lan, không những với các gia đình nạn nhân, mà còn là với trật tự thế giới” – “Khi tổng thống chết trong vụ tai nạn, cùng với một phần quan trọng các nhà lãnh đạo, đó là thử thách lớn cho công chúng, cũng như cho quan hệ quốc tế” – Ông nhấn mạnh.
Dmitry Medvedev khẳng định rằng, “chính vì như vậy đã có sự phản ứng của toàn bộ cộng đồng thế giới và của xã hội Nga và đối với thảm kịch này” – “Đây là một tai nạn đau buồn. Có một cái gì đó bí ẩn. Nhưng có những lý do hợp lý, mà phải điều tra và giải thích những gì xảy ra. Vì vậy, nó rất quan trọng” – Ông nói.
Kết thúc chủ nghĩa toàn trị không tên
Theo Giáo sư Ba Lan Jerzy Pomianowski, những lời nói của Tổng thống Nga là “một bước hướng tới sự thật” – “Tuyên bố của Tổng thống Medvedev là một sự phát triển tư tưởng của Thủ tướng Putin, người thừa nhận nhưng đã không đề cập đến tên Stalin, mà nói rằng, tội lỗi về thảm sát Katyn thuộc về Bộ Chính trị Xô viết” – Sử gia cho biết.
– “Những ghi nhận này cho thấy rằng, việc giải trình và làm rõ các tội ác của Stalin và  Liên Xô đối với các vụ thảm sát sĩ quan Ba Lan tại Katyn và những nơi khác mà chúng ta vẫn chưa được biết đến, là sự xác nhận các vụ giết người không phải là của một “chủ nghĩa toàn trị” trừu tượng nào đó, mà cụ thể, Stalin và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô” – Giáo sư Pomianowski nhấn mạnh.
– “Điều này có nghĩa rằng người Nga đang đi xa hơn về hướng giải thích một vấn đề nhạy cảm mà các nhà sử học, chính trị gia và các nhà lãnh đạo của chúng ta đã phải chiến đấu rất lâu dài. Tôi vui mừng, vì những lời của Thủ tướng Putin và Tổng thống Medvedev đã không phải là bước lùi, mà thêm một bước về phía trước, chắc chắn sẽ giúp chúng ta đối thoại trong các vấn đề hết sức quan trọng về kinh tế cũng như chính trị” – Giáo sư kết luận.
Việc chuyển đổi ý thức
– “Các nhà lãnh đạo Nga đã nói bấy nhiêu nhưng sẽ bao nhiêu cho phép chuyển đổi nhận thức của xã hội Nga. Có vẻ như nhận thức này đang chuyển đổi nhanh chóng trước mắt của chúng ta” – Phó Trưởng Ban đối ngoại quốc hội Ba Lan Robert Tyszkiewicz nhận xét.
– “Các nhà chức trách Nga đang chịu áp lực từ công chúng Nga muốn biết sự thật về Katyn. (…) Tôi nghĩ rằng, Medvedev cảm thấy không còn có thể phủ nhận sự thật về Katyn được nữa” – Ông nói.
Theo ông Tyszkiewicz, sự kiện bi thảm gây nên cái chết của Tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski trong tai nạn máy bay gần Smolensk, đã làm vang lên tiếng nói đòi công khai lịch sử về cuộc thảm sát Katyn ở Nga. – “Chắc chắn sự hy sinh của giới ưu tú Ba Lan trong thảm kịch này không phải là vô ích” – Ông kết luận.
Mở khóa bi kịch?
– “Tôi hy vọng rằng, các nhà chức trách Nga sẽ mở khóa thảm kịch lớn này sau tai nạn máy bay của tổng thống gần Smolensk” – Dân biểu quốc hội Ba Lan Karol Karski nói sau khi nghe Medvedev phát biểu.
Khi được hỏi, nên chăng những lời của Tổng thống Nga phải được phát ra từ Thủ tướng Vladimir Putin trong buổi lễ tại Katyn với sự tham dự của Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk (hôm 7/04, hai ngày trước khi tai nạn xảy ra), ông Karski nói: “Chúng ta cần vui mừng trước những điều tốt đẹp và không cần nhấn mạnh tại sao những điều tốt đẹp đó lại không xảy ra sớm hơn”.
Theo ông Karski, Tổng thống Medvedev nói “lớn và rõ ràng” về cái điều mà từ lâu mọi người đã biết và chính quyền Nga và cũng như Liên Xô đã nói tới. – “Thực tế là cuộc thảm sát Katyn được thực hiện bởi Stalin, đã được Liên Xô xác nhận vài tháng trước khi sụp đổ. Tổng thống Nga Boris Yeltsin cũng đã cho biết. Yeltsin đã cung cấp một số tài liệu liên quan đến vụ thảm sát Katyn” – Vị dân biểu nói.
Báo chí Kremlin công bố trong ngày thứ Tư rằng, Tổng thống Dmitry Medvedev sẽ tham dự tang lễ của Tổng thống Lech Kaczynski và Phu nhân Maria vào Chủ nhật.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh : VN Trung tâm nông nghiệp lúa nước, công nghiệp đá xưa nhất thế giới

VN Trung tâm nông nghiệp lúa nước, công nghiệp đá xưa nhất thế giới i kỳ độc lập lâu dài, chắc hẳn chúng ta đã có nhiều tài liệu lịch sử cũng như luật pháp và văn chương. Bằng chứng là Mã Viện đã tâu với vua Quang Võ nhà Ðông Hán là luật của…

Details